Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày

Cho đuổi mèo, mèo rượt chuột, chuột sa chỉnh gạo, gạo tải vô xe... thế rồi... xe cán chó!!!

Moderators: CNN, khieulong

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

Lẽ Nào Ta Cũng Chỉ Như Một Con ếch?
Tác giả: Vô danh



Người ta thí nghiệm ném con ếch vào nồi nước sôi, thì nó sẽ lập tức nhảy vọt ra, bị bỏng một chút nhưng sống sót. Nhưng nếu bỏ nó vào nồi nước lạnh rồi đun nóng dần, con ếch thấy mát, rồi ấm áp dễ chịu nên nằm yên rồi chết trong nồi.

Một cái chết êm dịu chăng?

Chợt nghĩ con người cũng có một thuộc tính như vậy, đó là: Thói quen. Nếu cuộc sống của chúng ta là một nồi nước mát, thì nó cũng không ngừng nóng lên một cách tự nhiên, từ từ, đến nỗi nếu không để ý thì ta cũng chẳng nhận ra. Bởi chẳng nhận ra nên ta cũng chẳng thèm phản ứng hay hành động gì cả, ta chẳng làm gì...

Mỗi ngày đều lặp lại những gì của ngày hôm qua, rồi một ngày trôi qua và ngày hôm sau ta lại thực hiện quy trình cũ... Dù là ở nhà hay ở chỗ làm, ta có thể ngồi quán nước, lướt net, chơi game, đọc báo, xem TV, buôn dưa lê hay vô số những việc không tên khác. Cuộc sống "bình lặng" trôi đi. Rồi từ từ, dần dần, ta có những thói quen, những thói quen đến một độ nào đó cũng giúp ta "nằm yên" trong khi thiên hạ vẫn không ngừng tiến lên thần tốc, trong khi cuộc sống vẫn không ngừng "nóng" lên từng giây.

Ta hầu như chẳng còn muốn động não nữa. Trong công việc cũng như cuộc sống thường ngày, ta chẳng nghĩ ra được cái gì mới mẻ cả! Và rất có thể ta cũng sẽ có một "kết cục dịu êm" như con ếch kia!

Thời gian trôi qua nhanh quá khiến ta không nhận ra, hay vì những thói quen kia khiến ta mất đi cảm giác rằng thời gian đang vút qua? Để đến một lúc nào đó, nhìn lại đoạn đời đã qua, bỗng giật mình: Cùng với thời gian đã mất là tuổi trẻ, bao cơ hội đã bị bỏ lỡ, nhiều thứ vụt khỏi tầm tay, trong đó có những thứ quý giá mãi mãi không bao giờ còn tìm lại được. Cuộc sống liên tục vận động, không ngừng thách thức, cuộc sống tươi đẹp sẽ trở nên đầy những nguy cơ đang đến từ từ đối với tất cả những "chú ếch".

Con người ta đôi khi rất kỳ cục, cũng rất giống… con ếch. Khi nguy cơ không rõ rệt, khi mọi sự chung quanh đều "cảm giác" như không có gì xảy ra thì chẳng bao giờ chịu phản ứng cả. Thế nên, một người từng xuất sắc ở một vị trí nào đó, có thể một ngày sẽ hết xuất sắc và bị thay thế. Một doanh nghiệp "một thời vàng son" nhưng có thể "đột nhiên" (trên thực tế là từ từ nhưng không ai cảm thấy mà thôi) chìm nghỉm. Thế nên mới có chuyện ở đâu đó xảy ra hoả hoạn kinh hoàng rồi người ta mới chịu để ý đến công tác phòng cháy chữa cháy, tai nạn giao thông xảy ra liên tục cho người đi bộ rồi người ta mới nghĩ được đến chuyện xây cầu vượt qua đường...

Và ở đâu đây còn vô số những "nguy cơ" khác đang từ từ lớn lên mà ta không hay biết hay không thèm biết. Có những điều xảy ra vào một ngày không đẹp trời nào đó mà ta vẫn gọi là "bất thình lình", thực ra lại đang được nuôi dưỡng qua từng ngày.

Sớm mai tỉnh giấc chợt tự hỏi mình: Lẽ nào ta cũng chỉ như một con ếch?

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

"Share" Phòng
Tác giả: Nguyễn Thị Hồng Diệp



Báo Time kỳ này có kể chuyện 'share' phòng tại những thành phố lớn, chẳng hạn như New York, Las Vegas hoặc San Jose, nơi mà đất chật người đông, một tấc đất là một tấc vàng.

Hồi qua Nam Cali chơi, tôi đã từng chứng kiến cái cảnh một căn nhà mà có đến mấy gia đình làm chủ. Mỗi gia đình chiếm cứ một căn phòng ngủ, lớn nhỏ tùy khả năng tài chánh. Lẻ dĩ nhiên, vợ chồng chủ nhà luôn làm chủ cái master bedroom, những người “share” thì mỗi người một phòng. Cái bếp, cái phòng khách, phòng gia đình là của chung. Ai có khách cứ việc tiếp ở phòng khách. Còn bếp thì hình như mỗi nhà chia nhau nấu ăn vào một giờ khác nhau. Ðại khái như thế.

Tôi đã đến thăm một người bạn ở 'share' phòng. Tôi không được chứng kiến giang sơn biệt lập của cặp vợ chồng già này, nhưng được tiếp trong cái phòng khách chung đó. Vì là cha chung không ai khóc cho nên nó rất bẩn. Sau khi ở Cali về tôi rất cảm thấy mãn nguyện về cái xứ cao bồi của tôi. Ðất rộng, người thưa, nhà cửa rẻ như bèo. Ai cũng có nhà, mà lại nhà khang trang mới mẻ nữa. Nhưng ai cũng
chê cái khí hậu nóng nung người của xứ tôi. Nhưng mà ở đời chẳng thể nào có tất cả mọi thứ. Ðược cái này thì hỏng cái kia. Tôi rất lấy làm sung sướng, nghiền ngẫm lời khuyên dạy của các cụ nhà mình: sống mỗi người mỗi nhà, già mỗi người mỗi mồ, mà lấy làm chí lý lắm.

Rồi hồi tôi lên New York thăm gia đình em tôi. Ði qua phố Tàu thấy người ta sống mà phát khiếp lên. Những cái - mà dân New York gọi là cái basement - một căn phòng nằm dưới hầm nhà, dưới mặt đất, chỉ có một cái lỗ, rộng chừng bằng hai cuốn vở học trò, có chấn song sắt là thò lên trên mặt đất thôi, gọi là cửa sổ.

Qua cái lỗ thông hơi đó, nước cống và rác rến ngoài phố có thể lọt vào trong nhà như chơi. Xem một vài phóng sự về nhà cửa ở New York, một gia đình gồm bảy người chỉ đủ tiền thuê được một căn phòng bốn thước vuông, kê được hai chiếc giường một người. Người ta chia nhau ra mà ngủ, người này ngủ, người kia đi làm, khi người này dậy đi làm, thì người kia đi làm về, lăn ra trên chiếc giường đó mà ngủ. Thật là khủng khiếp. Chẳng khác gì cảnh mấy người anh em ta sống tại Hà Nội trong thiên đàng Xã Hội Chủ Nghĩa, một gia đình gồm cha mẹ, vợ chồng con cái, chen chúc trong một căn phòng 4 mét vuông. Người sống ở trên giường, súc vật
sống dưới gầm giường. Chẳng hề bỏ phí một tấc đất.

Những tưởng rằng, tình trạng này là độc quyền của những di dân, những dân nhược tiểu, đến từ đệ tam thế giới, cho nên chịu khổ đã quen rồi, chẳng nói làm gì, nhưng ngay dân bản xứ cũng khó lòng có một căn nhà để chui ra chui vào trong những miền đất tư bản này. Một số sinh viên, hoặc các dân ba cọc ba đồng, kiếm được một chỗ trọ là trần ai khoai củ. Vì thế nạn'share' phòng cũng xảy ra trong cộng đồng dân da trắng. Túng thì phải tính thôi.

Một số mấy ông độc thân, có công ăn việc làm tốt, thuộc giới lao động trí thức cao cấp, có nhà ờ những thành phố lớn này. Các ông không vợ, lại còn đèo bòng thêm con chó, chẳng có ai phụng sự giúp đỡ trong công việc nội trợ, mà mướn người làm thì không đủ khả năng, vì thế các ông bèn nghĩ ra cách tìm người 'share' phòng. Các ông không cho thuê để lấy tiền nhà. Nhưng các ông đổi công.

Ông có phòng cho 'share', nhưng ông cần người giúp việc.

Ông đăng báo rao: Cần người nấu ăn, làm việc nhà và trông nom một con chó. Ðể đổi lại, cần biết nấu ăn, dọn dẹp nhà cửa và chăm sóc con chó. Rất nhiều cô sinh viên đáp ứng cái rao vặt này. Tiện lợi cho cả đôi bên. Có ông giao hẹn, chỉ là bạn, chỉ là người 'share' phòng, tuyệt đối không được nhẩy bổ vào đời tư của nhau. Và nhất là cấm ngặt cái vụ giăng mắc ái tình, và tuyệt đối cấm léng phéng sếch siếc là không được.

Một ông tâm sự, cô 'share' của tôi rất tốt, làm việc rất gọn gàng ngăn nắp,
những chỉ một thời gian sau, cô' share' lại nhẩy vào kiểm soát đường đi lối về của tôi và tỏ ra ghen với các bạn gái của tôi. Cô lý luận, cô sống trong nhà của tôi, chăm nom săn sóc tôi như một người tình (?) thì cô có quyền được biết những sinh hoạt, đường đi lối về của tôi. Tôi đành phải cám ơn cô và tìm người khác.

Có ông cẩn thận hơn giao hẹn, cô có thể có bạn, nhưng tuyệt đối không được tiếp bạn trai trong nhà tôi. Thế là ba bảy hai mốt ngày, cô bé dọn ra. Có một cô sinh viên, cô đã se với một ông và đã ở bình yên không tai tiếng suốt thời gian bốn năm đi học. Chả có điều tiếng gì. Cô nói cái deal này rất tốt, tiện lợi cho cả đôi bên miễn là mỗi người biết điều một tí. Nhưng cái chuyện biết điều là một vấn đề nan giải. Thường thường thì chẳng ông sinh tà thì cũng cô sinh tật, cho nên cái sự chung đụng này khó kéo dài.

Các cụ Việt Nam xưa đã chả từng tiên đoán là lửa gần rơm lâu ngày cũng bén là gì. Mà hồi đó, một bên là rơm còn một bên là lửa mà lâu lâu lại có những đám cháy bùng lên huống chi bây giờ, ai cũng là rơm mà ai cũng là lửa tránh làm sao được cái cảnh cháy nhà. Nam nữ thụ thụ bất thân mà lị. Chẳng chạy đi đâu được.

Một ông, sau khi cô 'share' dọn cơm cho ông ăn, ông nắm tay cô than thở: “Em nấu ăn cho tôi xong rồi em lại bỏ đi, là thế nào?” Ông này chắc nghĩ mình là anh đồ Tú Uyên, muốn nàng tiên ở trong tranh hiện ra nấu nướng cho anh xong bèn đóng đô ở Mê Linh thì phải. Nhưng cô tiên trong tranh lại lắc đầu: “Xin lỗi anh, chúng ta đã thỏa thuận là tôi chỉ có bổn phận nấu cơm thôi mà, chứ đâu có điều kiện phải ngồi xem ti vi với anh?” Sau đó, vì không muốn mất bức tranh, cô tiên người dọn ra.

Có ông lại than: cô 'share' hoạnh họe tôi đủ thứ. Cô nói “Tôi chăm sóc anh như một người vợ mà anh lại lạnh lùng với tôi như thế, coi sao được.” Thế là ông anh vắt giò lên cổ chạy vì ông vừa mới ly dị xong, ông còn đang tởn cái danh từ vợ còn hơn trẻ con sợ ông kẹ. Ông nói, chỉ vì cái danh từ vợ mà tôi đành gạt lệ chia tay. Cái gì chứ vợ thì không bao giờ tôi dám đèo bòng nữa đâu. Có cô than, đêm hôm, tắt lửa tối đèn, ông chủ than đau lưng đau bụng kêu tôi nhờ đấm bóp, xoa dầu cù là. Nhờ ông tí, tôi đâu phải là y tá hay má của ông. Tôi chả chơi, bộ bản mặt tôi ngu lắm hay sao mà ông hòng đem cái trò khổ nhục kế để dụ tôi vào tròng? Thế là rã đám.

Thành thử cái vụ 'share' phòng này tuy dễ mà lại khó. Ðàn ông đàn bà, trẻ trung, khỏe mạnh, trong người còn tràn đầy nhựa sống, con tim còn đập thình thình, ra vô đụng chạm trong một không gian chật hẹp làm sao làm tránh được rung động tâm hồn, làm cách nào cầm lòng cho đặng trước những cám dỗ? Có ông nói, chỉ vì cái vụ con tim đập trật nhịp mà tôi luôn luôn chọn những cô nào không hấp dẫn cho lắm, để tránh vạ. Thế những ông quên mất một điều, xấu như ma cũng là con gái, rồi thì tối lửa tắt đèn, nhà ngói cũng như nhà tranh hay sao? Vì thế có ông tuyên bố, cứ cái mửng này, muốn yên thân, lần sau tôi sẽ chọn một cô lại cái hay
là một cô vui vẻ, để yên trí lớn, khói lo cái vụ mỡ để miệng mèo.

Sao cái dân này thích lằng nhằng thế nhỉ? Cần người chăm sóc sao không lấy béng ngay một cô vợ có phải đỡ rắc rối cuộc đời không? Nhưng mà tất cả những ai được hỏi câu này đều lắc đầu quầy quậy, cần người giúp đỡ chân tay thật đấy, nhưng phải trả giá bằng một tờ hôn thú thì quá đắt. Làm hôn thú đã tốn kém rồi, xé hôn thú còn vỡ nợ hơn. Cho nên mới trong vòng mấy năm thôi, cái trò 'share' phòng này đã tăng gia từ 10% năm 2000, năm nay đã lên tới 25% rồi đấy.

'Share' phòng rút cục chỉ là một sự vần công, đổi việc. Ông mất của kia, bà chìa của nọ. Tiện đáo để./.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

Thằng Cuội
Từ bé, chúng ta thường nghêu ngao ca hát :

Thằng Cuội ngồi gốc cây đa,
Để trâu ăn lúa, gọi cha ời ời.
Cha còn cắt cỏ trên trời,
Mẹ còn cưỡi ngựa đi mời quan viên.
Ông thời cầm bút cầm nghiên,
Ông thời cầm tiền đi chuộc lá đa.

Rằm tháng tám, năm nào cũng nghe giọng ca nhi đồng hồn nhiên tươi thắm :

Bóng trăng trắng ngà
Có cây đa to
Có thằng Cuội già
Ôm một mối mơ...

Dù Cuội có sống đến già vẫn còn bị gọi là thằng. Người ta khinh thường Cuội quá. Chắc tại Cuội có tật hay nói dối. Tuy vậy cũng có người nổi ghen thấy Cuội được sống gần Hằng Nga. Chả thế mà Tản Đà nổi cơn ngông "Muốn làm thằng Cuội" :

Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi
Trần thế em nay chán nửa rồi
Cung quế đã ai ngồi đó chửa
Cành đa xin chị nhắc lên chơi
Có bầu có bạn can chi tủi
Cùng gió cùng mây thế mới vui
Rồi cứ mỗi năm rằm tháng tám
Tựa nhau trông xuống thế gian cười.

Cuội là ai ?

Các tự điển đều giải thích rằng Cuội là một nhân vật, có sách ghi là một đứa bé con của chuyện cổ tích, ngồi dưới gốc cây đa trên mặt trăng.

Tại sao Cuội đang sống đằng sau lũy tre làng tự dưng lại bay bổng lên tận mặt trăng, sống với chị Hằng như vậy ?

Chuyện kể rằng :

Một hôm Cuội vào đốn củi trong rừng gặp một ổ hổ con. Cuội lấy rìu đập chết. Chợt có tiếng hổ mẹ rống ở đằng xa, Cuội sợ quá leo tót lên một cây ngồi nấp. Hổ mẹ lồng lộn quanh đám hổ con, rồi bỏ đi về phía bờ suối. Cuội tụt xuống theo rình. Hổ mẹ đến cạnh một cây con, đớp ít lá, mang về nhai nát, rịt cho hổ con. Chỉ một lát hổ con tỉnh lại. Mẹ con hổ bỏ khu rừng đi chỗ khác.

Cuội ra bờ suối đào cây con mang về trồng trong vườn. Từ đấy Cuội có món thuốc cải tử hoàn sinh, cứu mọi người. Cuội rất quý cây thuốc, ngày nào cũng dặn vợ phải chăm sóc nó. Cuội cấm vợ không được đái vào gốc cây vì cây sẽ dông lên trời. Nghe dặn nhiều lần, vợ Cuội phát cáu. Đã vậy thì cứ đái xem chuyện gì xảy ra ?

Vợ Cuội vừa đái vào gốc cây xong thì cây bỗng rung động, tróc gốc bay lên trời. Đúng lúc Cuội ở rừng về, chỉ kịp bám rễ cây níu lại. Nhưng cây cứ bay lên, kéo Cuội tới tận mặt trăng.

Từ đó đến giờ Cuội vẫn còn ngồi ở gốc cây, sống bên cạnh chị Hằng.

Ý nghĩa câu chuyện thật là hóm hỉnh. Cuội là đứa chuyên nói dối, lừa ngừa khác. Lần nào cũng dùng mẹo đắc thắng đám cường hào, phú hộ. Đến khi Cuội muốn hoàn lương, ra tay cứu đời, thì lại bị thất bại. Cuội thay đổi bản chất nhưng cuộc đời xung quanh thì không thay đổi. Cuội phải đi sang một thế giới khác tìm đất sống.

Mỗi đêm sáng trăng, từ trời cao Cuội ngạo mạn ngó đám đàn em của mình đang khua môi múa mép, tung hoành nơi quê hương xa vời vợi.

(Theo Nghiêm Toản, Việt Nam văn học sử trích yếu, Khai Trí, Sài Gòn, 1968).

Cuội có mặt ở Việt nam từ lúc nào ? Chắc là đã từ lâu. Đại Nam quốc âm tự vị của Huỳng Tịnh Của (1895) đã nói đến Cuội. Tên Cuội từ đâu ra ?

Lê Ngọc Trụ (Tầm Nguyên tự điển Việt Nam, Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1993) cho rằng chữ Cuội có gốc Hán Việt là chữ "Quải". Chữ Quải (Thiều Chửu) hoặc Quảy(Đào Duy Anh) có nghĩa là lừa dối, dụ dỗ người khác mua hàng, bắt con nít đem bán (mẹ mìn).

Trong dân gian có chuyện thằng Quải và thần mặt trăng :

"Mặt trăng tính nóng nảy, lại hay xà xuống gần dòm ngó hạ giới làm cho dân chúng khốn khổ vì nóng bức. Bấy giờ có thằng Quải định tâm cho thần một vố. Nó nắm cát trèo lên cây cao ngồi đợi. Lúc mặt trăng xà xuống, nó ném cát túi bụi vào mặt thần. Mặt trăng từ đó bị cát làm mờ đi và cũng từ đó thần không dám xuống gần hạ giới, cho nên ở hạ giới đỡ nóng bức." (Đinh Gia Khánh và Chu Xuân Diên, Văn học dân gian tập 2, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội 1973).

Thằng Quải chống lại thần mặt trăng, trong khi thằng Cuội thì lại bay lên sống trên mặt trăng. Nội dung hai chuyện mâu thuẫn nhau. Hay là thằng Quải và thằng Cuội chỉ là hai anh em họ của dòng họ nói dối chứ không phải là cùng một nhân vật ?

Để giải quyết mâu thuẫn, tôi cho rằng chữ Cuội còn có thể là do chữ hán việt "Cuống" mà ra. Cuống nghĩa là nói dối, lừa dối (Thiều Chửu, Đào Duy Anh).

Cũng nên nói thêm rằng thằng Cuội không dính dáng gì với hòn cuội (sỏi đá) của tiếng Việt.

Mãi đến năm 1937, tự điển Việt-Hoa-Pháp của Gustave Hue vẫn chưa có chữ cuội nghĩa là sỏi đá. Năm 1940 nhà xuất bản Tân Dân cho in "Vang bóng một thời" của Nguyễn Tuân, trong đó có truyện ngắn Hương Cuội, kể chuyện làm kẹo mạch nha bọc cuội. Chữ cuội (tiếng Pháp là galet, calcul) chính thức có mặt trong Dictionnaire vietnamien-chinois-fran�ais của Eugène Gouin (IDEO,
Saigon, 1957) kể từ năm 1957. Đào Đăng Vỹ (Việt Pháp từ điển, Nguyễn Trung, Sài gòn, 1961) dịch chữ cuội là caillou, galet.

Phải chăng chữ cuội (sỏi đá) đã đến từ chữ calcul hoặc caillou của tiếng Pháp ? Và kẹo cuội của Nguyễn Tuân đã được gợi ý từ kẹo cuội (dragée) của Pháp ?

Ngày nay, sỏi và cuội được định nghĩa là "đá nhỏ tròn và nhẵn, thường ở lòng sông, lòng suối" và cuội là hòn sỏi lớn, sạn là hòn sỏi nhỏ (từ điển tiếng Việt, Văn Tân chủ biên, Nxb KHXH, Hà Nội, 1977)

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Image

Về Việt Nam
Tác giả: Huy Phương



Những ngày đau khổ sau Tháng Tư 1975, khi “nếu cột đèn biết đi thì cũng đã ra đi”, nên thiên hạ gặp nhau, câu hỏi thăm trước tiên là: “Trong gia đình có ai đi vượt biên không?” Bây giờ cơm no ấm cật rồi, thì câu hỏi lại có phần xoay chiều 180 độ: “Anh chị về Việt Nam mấy lần rồi”, hèn chi ông Du Tử Lê đã ngâm nga: “Ði với về cùng một nghĩa như nhau!”



Vậy thì người ta về Việt Nam làm gì?


Tết vừa rồi, chính phủ Việt Nam loan báo có hơn 350,000 Việt kiều (phải hiểu là người Việt ở ngoại quốc) về ăn Tết. Ðây là những người đi làm ăn xa (tha phương cầu thực), năm hết Tết tới, khăn gói về quê hương thăm bà con, cha mẹ, mồ mả, thắp nén nhang, sum họp với đại gia đình trong mấy ngày Tết. Xong ba ngày Tết, lại khăn gói trở lại nơi làm việc hay chỗ cư ngụ tạm thời của mình. Chẳng thế mà vào những ngày giáp Tết chúng ta thấy quang cảnh ngập người trên các sân ga lớn ở Việt Nam như Saigon, Hà Nội hay các thành phố lớn bên Tàu, cái cảnh dân chúng chầu chực, ăn ngủ ở các sân ga vì phương tiện hỏa xa vẫn là phương tiện di chuyển rẻ tiền nhất. Tết mà không về quê ăn Tết được, đối với người xa quê hương cũng buồn, vì vậy mà mỗi năm nghe câu hát “Xuân này con không về...” cũng chạnh lòng nhớ cố hương.


Ở ngoại quốc kể cả Mỹ, Úc, Tây ,Gia Nã Ðại, người Việt về quê ăn Tết không đi xe lửa mà chẳng phải đường thủy, tất cả đều dùng máy bay. Vé máy bay đi Việt Nam vào những dịp Tết Nguyên Ðán có khi đắt gấp đôi ngày thường mà người ta vẫn chen chúc và vẫn có tiền đi, mua chậm thì hết vé. Người Việt ở tại các nước phương Tây sau biến cố Tháng Tư 1975 là “định cư”, có hẳn quốc tịch, đã trở thành công dân của các nước này rồi, chứ không phải là người đi làm ăn xa, hay trú ngụ tạm thời như những người Việt trong nước hay những người Tàu về ăn Tết ở ngay quê hương của họ. Nhưng đối người Việt tỵ nạn đã bỏ nước, cứ hai người vượt biển, một vùi thây dưới biển sâu, bỏ cửa bỏ nhà quyết chí ra đi, thì mấy danh từ “về Việt Nam ăn Tết” nghe mỉa mai quá chừng!


Không lấy lý do về Việt Nam ăn Tết thì đi du lịch Việt Nam. Người ta muốn kết hợp một vài tuần nghỉ Hè với việc thăm viếng bà con xem như những ngày nghỉ hằng năm. Nếu tính tổng số người Việt hải ngoại lấy những ngày nghỉ hằng năm của mình để đi du lịch thì có thể nói 75% về Việt Nam với lý do là đi ra nước ngoài trở ngại vì nơi ăn chốn ở, trong khi về Việt Nam lại được nói tiếng nước mình, chi phí mua sắm rẻ và có bà con thân quen. Quý vị cao niên bình thường đi du lịch trong nước Mỹ hay ngoại quốc phải có người hướng dẫn như con cháu hay bạn bè, nhưng nếu về Việt Nam thì con cái có thể đưa hay đón ở phi trường là đủ. Theo quy định của chính phủ Hoa Kỳ hiện nay thì những người hưởng trợ cấp xã hội, gọi nôm na là tiền già, được rời nước Mỹ tối đa là 29 ngày. Quý cụ có thể đi Việt Nam một năm vài cái 29 ngày hay lỡ đi hơn 30 ngày, bị mất trợ cấp, lúc về Mỹ làm đơn xin hưởng lại cũng không thiệt thòi bao nhiêu.


Ở phần trên tôi chỉ nói chuyện ăn Tết và đi du lịch hay thăm thân nhân. Ở nước Úc vì gần với Việt Nam nên số người về ăn Tết rất cao. Ở thành phố Perth, miền Tây nước Úc bay về Saigon chỉ mất bảy tiếng, chỉ bằng số giờ lái xe tà tà từ Phước Lộc Thọ đi San José, nghe mà ham. Không về ăn Tết, không đi du lịch thì cũng có cả nghìn lý do mà biện bạch. Thăm cha mẹ sắp lâm chung, dời mồ dời mả, bán nhà mua đất còn nghe được, nhưng với những lý do xả tang, dự đám cưới con ông chú, bà bác thì thà nói “đi Việt Nam chơi” còn hơn, còn chơi gì thì tùy ý thích của quý vị. Người ta nói con gái Việt Nam bây giờ rất đẹp, “anh hoa” sau bao nhiêu năm chiến tranh, chịu đựng bây giờ mới “phát tiết” ra ngoài. Chẳng thế mà lãnh đạo đã mời mọc Việt kiều về thăm quê hương, nơi có con gái đẹp, cũng như đang cố gắng bỏ bạc triệu để đưa cái “duyên dáng Việt Nam” ra ngoài để câu khách.


Chỉ vì Việt Nam mở cửa, mở toác hoác mà bao gia đình người Việt ở hải ngoại đã đổ vỡ. Có ông bác sĩ vài lần đi nghiên cứu “địa hình địa vật” Việt Nam, sau khi trở về Mỹ, quyết định đóng cửa phòng mạch, chia đôi tài sản, “theo tiếng gọi của tình yêu” và nhấn mạnh đây mới thật là tình yêu. Có nhiều cụ “trâu già” tom góp tiền Mỹ, theo tiếng gọi của “cỏ non”, đã trở lại Hoa Kỳ không phải “trên chiếc băng ca” mà trên chiếc xe lăn, chịu đựng nỗi cay đắng khinh khi của vợ con. Thế mạnh hiện nay của Việt Nam là thân thể của người phụ nữ, thứ này đã xuất cảng khá nhiều với giá rẻ nhưng vẫn còn đủ để có ma lực hấp dẫn với giới nam nhi hải ngoại. Hồi xưa đi ra ngoại quốc chơi bời thì gọi là “trả thù dân tộc”, bây giờ không biết có ông H.O. nào về trả thù Việt Cộng hay không?


Chúng ta đã biểu tình, chúng ta đã chống Cộng, nhưng chúng ta lại thích về Việt Nam, vì lý do này hay lý do nọ, thì Cộng Sản không bao giờ sợ. Ðừng nghĩ là đi biểu tình thì Cộng Sản chụp ảnh, quay phim làm khó dễ khi về Việt Nam, nếu bị bắt hay bị làm khó dễ thì một đồn mười, ai mà dám về Việt Nam nữa. Cộng đồng chúng ta rất dễ giải, “chín bỏ làm mười”, chống thì cứ chống, về thì cứ về. Ca sĩ Việt Nam qua Mỹ trình diễn với trung tâm nào có lập trường chống Cộng, tôn vinh là cờ VNCH thì về nước y như là bị khai trừ, bị chế tài, bị cấm hát, trái lại ca sĩ hải ngoại cũng về Việt Nam hát xướng, tuyên bố khen ngợi nhà nước Cộng Sản bên đó trở lại hải ngoại cũng không ai tẩy chay, vì chúng ta không có “nhà nước hải ngoại” và chúng ta tự do.


Chúng ta có sức mạnh của đô la mà chúng ta chưa sử dụng hết mười phần công lực của nó. Nhà nước Cộng Sản thương yêu gì đồng bào hải ngoại đã bỏ nước ra đi, họ chỉ yêu đồng tiền của chúng ta như thành ngữ “đồng tiền liền khúc ruột”, khúc ruột đó là “khúc ruột ngàn dặm” trong “bài ca con cá”. Chúng ta ủng hộ công cuộc đấu tranh dân chủ, ủng hộ Thái Hà, chống Việt Nam dâng đất dâng biển cho Trung Quốc mà vẫn về Việt Nam nườm nượp, vẫn đi qua các phi trường, kẹp tờ $10 vào trong pass-port, nở một nụ cười “xã giao” với bọn “công an cửa khẩu”.


Chúng ta sử dụng sức mạnh của chúng ta thử một lần, dù là một lần thôi. Tôi không dám đề nghị đồng hương tỵ nạn Cộng Sản đừng về Việt Nam nữa, về thời gian nào cũng được, mà hiệp sức cùng không về Việt Nam trong một tháng thôi, như một ví dụ, đó là Tháng Tư 2009. Chúng ta đã gọi là “Tháng Tư Ðen” vì sao chúng ta lại về Việt Nam trong tháng đó, chúng ta gọi là “mất nước” thì nước đâu nữa mà về? Nếu trong Tháng Tư 2009, tất cả đồng bào tỵ nạn hải ngoại không về thì chuyện gì sẽ xẩy ra ở Việt Nam? Phi trường vắng vẻ, khách sạn ế khách, hải quan đói meo, hàng quán thưa thớt, mãi lực của Saigon xuống thấp. Ðiều này có thể ảnh hưởng đến quần chúng lao động của các dịch vụ, nhưng đây là lúc đồng bào trong nước chia xẻ tâm tình hải ngoại và họ đang biết hải ngoại đang muốn gì, chống lại điều gì của đảng Cộng Sản trong nước, tùy theo điều mà chúng ta muốn chống hay muốn tỏ thái độ như việc Cộng Sản dâng Hoàng Sa cho Tàu, việc Cộng Sản đàn áp các nhà tranh đấu dân chủ hay đây là dịp bày tỏ biểu đồng tình với đồng bào Thiên Chúa Giáo Thái Hà.


Hải ngoại không có lãnh đạo, hải ngoại có nơi đoàn kết nhưng cũng có nơi cấu xé nhau, hải ngoại nói và làm không đồng nhất, chúng ta có dám nhìn sự thật như vậy không?


Huy Phương

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Liên ơi!
Tuesday, September 23, 2008


Image
Cô Phạm Thanh Nghiên (giữa)

Image

Công an CSVN ngăn chặn, đàn áp biểu tình ngày 16 tháng 12 tại Sài Gòn dù cuộc biểu tình này chỉ nhằm chống Trung Quốc xâm phạm chủ quyền lãnh thổ. (Hình: CLB Nhà báo Tự do)

LTS.- Chiều 18 tháng 9, cô Phạm Thanh Nghiên, một trong những người tham gia tranh đấu đòi tự do, dân chủ ở Việt Nam đã bị công an CSVN bắt tạm giam chỉ vì ngồi tọa kháng trước nhà, giữa hai biểu ngữ có nội dung: “Trường Sa, Hoàng Sa là của Việt Nam” và “Phản đối công hàm bán nước của Phạm Văn Ðồng”.

Từ Việt Nam, nhà văn Trần Khải Thanh Thủy viết và gửi đến chúng tôi tùy bút, ghi lại suy nghĩ của bà về cô Phạm Thanh Nghiên và sự kiện này. Kính mời quý độc giả cùng đọc.


Tùy bút
Ðọc bài viết của em trên mạng, chị mừng vì sự cứng cỏi, bạo liệt của em bao nhiêu thì cũng lo lắng cho sự an nguy của em bấy nhiêu. Sống trong lòng đảng bao năm, chị thừa biết chế độ cộng sản này tàn bạo đến mức nào trước tiếng nói dũng cảm, trung thực như em, đơn giản vì những kẻ dối trá bao giờ cũng sợ sự thật em ạ.

Cuộc tọa kháng của em không những phổ biến trên mạng truyền thông mà cả trong lòng đất mẹ Việt Nam, đặc biệt là khu phố nhỏ bé của em, nơi hàng ngày, hàng giờ, cả nghìn người qua lại ngôi nhà số 17, tổ Phương Lưu 2, Phường Ðông Hải, Quận Hải An, thành phố Hải Phòng - nơi em ở, để nhìn em ngồi tọa kháng. Sự dũng cảm phi thường của em chính là một vũ khí mà cộng sản vô cùng khiếp sợ nên phải ra lệnh bắt em ngay, như kiểu cộng sản vẫn làm từ khi thành lập đến nay: “Bắt một kẻ để cả vạn khiếp lây”... Nếu không, như một vết dầu loang, một hiệu ứng đôminô, nhà nhà căng biển, khẩu hiệu, người người tọa kháng như lời em kêu gọi trong bài viết: Dù là một hành động nhỏ bé, nhưng với tinh thần đất nước là của chung, tôi xin kính khẩn kêu gọi mọi tầng lớp công dân Việt Nam, quý bác, quý chú đã từng hy sinh cuộc đời của mình cho nền độc lập của đất nước, các anh chị và các bạn trẻ đang mong ước đất nước Việt Nam sẽ ngẩng cao đầu với cộng đồng nhân loại, hãy cùng với tôi bày tỏ thái độ và lòng yêu nước của mình ngay tại chính nhà của quý vị, bất cứ ngày nào khởi từ ngày 14 tháng 9 này trở đi, nếu quý vị cũng như chúng tôi bị ngăn cấm, không thể đến được nơi biểu tình ở Hà Nội vào 14/09 trước sứ quán Trung Quốc” thì đảng lấy đâu ra tiền của vật lực, công an, quân đội để đàn áp, trong khi chỉ riêng giáo xứ Thái Hà đã đủ mệt rồi.

Chỉ vì hành động yêu nước ấy em đã vào tù. Trại giam Trần Phú - vốn khét tiếng ở Hải Phòng, không khác gì địa ngục Hỏa Lò ở Hà Nội, ác hơn tất cả mọi chế độ phát xít Hít Le, thực dân đế quốc từ trước tới giờ, nay lại lạnh lùng mở cửa nhốt một người con anh dũng trung thực, quả cảm nhưng hết sức bé nhỏ là em vào để chịu đựng, thử thách.

Liên ơi - cho chị gọi em bằng cái tên thân thương mà tất cả mọi người thân thiết từ chú Nghĩa, cô Nga, má Lệ, em Nhân, bác Quận đến mọi thành viên trong nhà vẫn gọi em một cách tin cậy, trìu mến như thế. Cái tên hết mực hiền lành, giản dị như bông sen mọc giữa bùn lầy, dù bị công an hết lần này đến lần khác khuấy bùn, bôi nhọ, hòng giết chết mùi hương của hoa, bắt những cánh hoa phải rơi lả tả nơi “thiên đường” cộng sản, em vẫn hiên ngang vươn thẳng trên đầm lầy nước đọng, để nở xòe ra những cánh hồng mơn mởn ngan ngát hương thơm như trêu gan chọc tức chúng: “Trong sự ý thức về trách nhiệm của một công dân Việt Nam, trong tinh thần Tổ Quốc trên hết, tôi quyết định sẽ tọa kháng ngay trước nhà của tôi khởi từ ngày 14 tháng 9 năm 2008 trở đi để phản đối hành động bán nước, dâng hiến Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc cách đây 50 năm”.

Thế là để giết chết một mùi hương từ tâm hồn em lan tỏa rạng ngời, chúng đã bắt em vào ngục tối để ngày ngày em không còn làm vướng mắt chúng nữa, để nghìn người qua lại nhà em không đập mắt vào hai tấm biển căng ngang trước cửa: “Trường Sa, Hoàng Sa là của Việt Nam”, và “Phản đối công hàm bán nước của Phạm Văn Ðồng”, để bóng dáng bé nhỏ, kiên cường của em (lọt thỏm giữa hai tấm biển) không đập vào mắt họ, tạo nên bất kỳ một ấn tượng ngạc nhiên, kính phục, yêu quý ngưỡng mộ nào nữa... mà ngược lại, chỉ còn là một sự sợ hãi bao trùm, một nỗi an ủi vu vơ: “ Khổ thân con bé, ai lại dại thế, dám đi chống chính quyền bao giờ”.

Nhưng chúng đã lầm, cánh cổng trại giam chỉ nhốt được em, chứ sao có thể giết được mùi hương đã kết tinh trong tâm hồn em được? Ngược lại càng bắt, nhốt, tra khảo, hương thơm ấy càng kết tinh trong lòng dân tộc cả trong và ngoài nước. Bao nhiêu người biết em bị bắt vì hành động tọa kháng trước nhà, là bấy nhiêu người yêu quý, khâm phục sự dũng cảm của em.

Hành động yêu nước của em, bị đảng Cộng Sản hèn hạ gọi chệch thành: “Cất giữ và tàng trữ tài liệu phản động trái phép trong nhà”. Một việc làm hèn hạ và vô cùng bỉ ổi, đến mức người anh của em, vốn đã phá rất nhiều việc em đi theo con đường dân chủ, cũng phải thốt lên đầy mai mỉa:

- Tàng trữ, cất giấu gì? Nó căng ngay trước cửa, ai đi qua chả nhìn thấy, ai vào mạng đọc chả biết, cần gì phải lục soát 4, 5 tiếng đồng hồ rồi cố tình kết tội “tàng trữ trái phép” cho nó?

Hóa ra trong thời đại cộng sản, làm một người anh hùng thật dễ? Chỉ cần bày tỏ lòng yêu nước chính đáng của mình là hàng chục thằng công an đến đọc lệnh bắt đi trong sự ngỡ ngàng tiếc nuối của mọi người, trong ánh nhìn thán phục bỡ ngỡ của bạn bè, người thân, trong cả sự căm ghét tột cùng của hàng nghìn, triệu người dân sống trong lòng xã hội chủ nghĩa đối với đảng lộng hành, ngu xuẩn của mình.

Thời xưa ra ngõ gặp anh hùng, thì thời nay ra ngõ gặp... công an nổi, công an chìm và muốn gặp anh hùng cứ việc ra tòa... Bác Trần Hùng một cư dân Hải Phòng, người sống cùng thành phố với em, trong lá thư gửi ông giám đốc đài truyền hình Việt Nam, từng viết:

Thưa ông!

Tôi đã già, đã sống gần hết cuộc đời dưới chế độ cộng sản. Tôi nghe đài báo, xem ti vi của chính phủ đã nhiều. Tôi thấy ngày nay dân trí đã cao, thông tin đến với người dân không còn một chiều như trước. Cho nên mỗi thông tin về phương diện chính trị của quý vị luôn đặt ra cho người nghe, người đọc những câu hỏi lớn.

... Với chúng tôi, những nhà đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền là những vị anh hùng. Họ đã nhận ra con đường phải đi của dân tộc sớm hơn chúng tôi, họ dũng cảm hơn chúng tôi. Chúng tôi kính phục họ. Chủ nghĩa cộng sản độc tài toàn trị đẻ ra các vị thì lý tưởng dân chủ pháp quyền phải đẻ ra họ. Các vị là hiện tại đen tối của dân tộc. Họ là tương lai của đất nước...

Chính vì vậy, mọi trò bắt bớ của công an đảng ta đã trở thành trò hề trong mắt nhân dân. Bắt vì sợ, vì đớn hèn, bạc nhược, vì lương tâm thiếp ngủ trong nỗi nhục nỗi đau muôn đời của dân tộc.

50 năm qua rồi, chúng vẫn ngủ yên trên ngai vàng quyền lực, xẻ từng miếng đất, mét biển của cha ông dâng hiến cho ngoại bang như một thứ tội đồ dân tộc. Từ kho vũ khí Long Bình, tới thềm lục địa, đất biên giới, lãnh thổ, lãnh hải xẻ đi... Lời chị Dương Thu Hương nói không sai: “Chỉ có đám lãnh đạo hèn mạt , dốt nát, tham tàn bạo ngược mới bán đất đai và tài nguyên thiên nhiên của tổ tiên cho ngoại bang... Kể từ năm 1958, phần cho quan thầy Trung Hoa để được hỗ trợ về quân trang quân dụng, phần nhường anh cả Liên Xô để lấy vũ khí đánh Mỹ... Sự chịu đựng của con người cũng như đất nước chỉ có giới hạn. Vậy mà lòng tham và sự ngu xuẩn của lũ quỷ đỏ này thì thật không bút nào kể xiết, không chỉ đơn thuần như Nguyễn Trãi kể tội quân xâm lược: ‘Tát cạn nước đông hải không rửa sạch tanh hôi, chặt hết trúc Lam Sơn khó ghi tầy tội ác’ mà tát cạn hết cả nước của các dòng sông, con suối trong các đại dương khắp bốn bể, năm châu trên thế gian này cũng không rửa sách tội ác của bọn lãnh đạo Việt Nam trong thời đại đồ đểu Hồ Chí Minh. Chặt cả nghìn cánh rừng, làm ra cả vạn tấn giấy, chép lại cả triệu trang sách cũng không ghi hết được sự ác độc ươn hèn lừa dân tộc, phản đạo lý của bọn chúng suốt 78 năm qua.

Một trong những tội ác mà lịch sử phải ghi nhận là chúng đã bắt em khi đang tọa kháng trong nhà.

Em đã hành động như một người anh hùng, em đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền vì biết rõ ở Việt Nam dưới chế độ cộng sản dốt nát, đui mù, người dân không hề có quyền hành gì mà ngược lại, tất cả phải chịu đựng sự phán xét của đảng, đảng cho sống thì được sống, muốn chết thì tìm mọi cách để bịt miệng thủ tiêu. Nếu may mắn sống sót thì người cũng không còn là người nữa, mà đã trở thành công cụ trong tay lũ lãnh đạo duy vật vô thần, vô lương tâm và cả vô văn hóa .Ðiều này đã được chứng minh qua hàng nghìn thực tiễn đau lòng của Việt Nam, đặc biệt là cải cách ruộng đất: Ðảng bảo sai là sai, bảo đấu tố là phải đấu tố, bất kể người đó là láng giềng thân hữu hay bố, mẹ, vợ, chồng mình, nhất nhất tất cả phải theo đảng... Bỏ tù cũng đảng, xử án cũng là đảng, bảo có tội là có tội, việc xét xử chỉ là trò hề đốn mạt rẻ tiền của một lũ quỷ đỏ chuyên ăn xương, uống máu đồng bào mà thôi. 78 năm lãnh đạo, đảng chỉ dạy các “thần dân” của mình sự xảo trá, lừa lọc và không còn biết lương tri là gì nữa.

32 tuổi, em đã nhận ra con đường phải đi của dân tộc, đã dũng cảm ngồi tại nhà để phản kháng công hàm bán nước của ngài “tưởng thú” - đồng phạm với “cha già đốn mạt”: “Tôi không còn lựa chọn nào khác trừ phương thức đấu tranh tọa kháng ngay tại nhà để thể hiện quyền bày tỏ thái độ của tôi, một quyền mà chính hiến pháp nhà nước trong điều khoản 69 cũng đã ghi rõ. Và lần này, nếu nhà nước đàn áp, sách nhiễu hay sử dụng bạo lực với tôi, thậm chí bỏ tù tôi, thì ít ra tôi cũng đã thể hiện qua chính sự an nguy của mình cho cả thế giới được biết sự thật của đất nước này là không hề có tự do ngôn luận, cho dù là ngay tại chính nhà mình sở hữu”.

Liên ơi, em xứng đáng được mọi người kính phục. Chủ nghĩa cộng sản độc tài toàn trị đẻ ra đám lãnh đạo thối nát, đê hèn thì lý tưởng dân chủ pháp quyền, lý tưởng thời đại đẻ ra em. Lũ lãnh đạo dốt nát ươn hèn là hiện tại đen tối của dân tộc, còn em và tất cả các nhà dân chủ cùng hàng triệu bà con dân oan, giáo dân đang đứng lên mỗi ngày sẽ là tương lai của đất nước, em ạ. Hãy vững tin điều ấy Liên ơi. Cả thế giới đang hướng về em, về một người con gái nhỏ bé chưa đầy 40 kg trọng lượng nhưng từ lời nói đến việc làm đã khiến cả bộ chính trị chao đảo. Bão động đầy trời rồi em ạ. Nhất định đóa sen hồng của em sẽ được nở tung cánh dưới ánh đỏ, cờ vàng của dân tộc nay mai...

Hang Ðá, 22 tháng 9 năm 2008

Trần Khải Thanh Thủy - Hội viên Hội Văn Bút Quốc Tế

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Em Còn Nhớ
Tác giả: Vĩnh Ninh




Hơn ba mươi năm qua, thời gian đằng đẳng trôi, lớp bụi thời gian có thể xóa mờ một số ký ức xa xưa, nhưng cũng có những sự kiện vẫn không thể quên. Trái lại theo từng tờ lịch rơi, tâm tư nhiều người ngày thêm khắc khoải: Quê Hương, niềm ưu tư bất tận, Đất Mẹ, nỗi ray rức khôn nguôi, ngày nào Việt Nam sẽ thực sự thanh bình? Ba mươi tháng tư lại trở về, toàn dân Việt vẫn ngậm nhấm nỗi buồn mất nước. Những ngày tháng kinh hoàng ngày xưa, anh có còn nhớ? Riêng em, cơn ác mộng, hơn lúc nào hết lại trở về trĩu nặng tâm tư.


Chuyện xưa, tưởng mới chỉ hôm qua và nỗi đau vẫn âm ỉ trong tâm khảm.


Ba mươi tháng tư năm1975, lệnh đầu hàng của người tổng thống không cho dân bầu: Dương Văn Minh đã đưa cả nước Việt Nam vào một ngã rẽ mới. Khi đoàn quân bộ đội với nét hung hãn trên những khuôn mặt non choẹt tiến vào Sàigòn là lúc guồng máy khủng bố Cộng Sản công khai hoạt động trên miền Nam tự do và người dân bắt đầu biết khiếp sợ. Nhưng cũng đồng lúc, những người cán bộ miền Bắc vào Nam , ngỡ ngàng nhìn cảnh tráng lệ của Sàigòn và nhận thức rằng mình đã bị lừa, trong sự bàng hoàng tột bực nhà văn Dương Thu Hương đã bật khóc ngay trên vỉa hè. Cả dân tộc đã bị lừa.


Người phụ nữ Việt Nam từ ngày tháng đó đã thay đổi hẳn. Để che dấu bớt vẻ kiêu sa, họ che nón lá trên đầu, móng tay cắt gọn và không còn mặc những bộ đồ thời trang. Dầu có ẩn mình tránh né, tai ương vẫn liên tiếp phủ xuống cuộc sống mới. Bao nhiêu người mẹ, người vợ, người thiếu nữ đã ngậm ngùi tiễn đưa con, chồng hoặc người cha thân yêu vào trại tù cải tạo.. Nước mắt tiễn chồng chưa khô, người phụ nữ Việt Nam lại bị đe dọa trong viễn ảnh mất con khi lệnh bắt Thanh Niên Xung Phong xua đuổi những thanh thiếu niên ra khỏi băng ghế học đường và ngưỡng cửa gia đình để làm những công tác thủy lợi và sản xuất theo lệnh Đảng, một hình thức bóc lột không công.


Nhưng thảm kịch không ngừng ở đó mà nó còn đè nặng lên cuộc sống của người phụ nữ khi lệnh bắt thanh niên đi nghĩa vụ quân sự làm bia đỡ đạn cho chủ nghĩa Mác Lê. Quân Khmer đỏ do Trung Cộng chủ trương, phe Việt Nam do quan thầy Liên Xô xúi giục, họ thí quân ở một bãi chiến trường, nơi mà nạn diệt chủng của Cam Bốt gần kề. Cũng giống như nạn đấu tố cải cách ruộng đất tại Việt Nam năm 1945, Trung Cộng đã ra lệnh cho Khmer đỏ giết hơn một triệu người trên tổng số dân chúng chưa đầy 6 triệu. Qua chiến dịch thí người này, một số không ít thanh niên vô tội bị hy sinh oan uổng và người phụ nữ Việt Nam lại khóc cho con, cho người chồng và những vành khăn tang lại quấn vội trên đầu người thiếu phụ Việt Nam.


Ba mươi tháng tư lại về trên quê hương, em vẫn còn nhớ và chắc anh vẫn chưa quên.Khi anh còn tù tội nơi khu rừng thiêng nước độc, em vẫn kiên trinh đợi chờ. Từ đây, em phải thay chồng dậy dỗ con thơ, phụng dưỡng cha mẹ già, lam lũ kiếm tiền độ nhật trong một xã hội giao thời đầy nhiễu nhương của một chế độ bất lương chỉ biết hút máu dân lành. Rồi những đêm về, đã bao nhiêu đêm không ngủ trong nỗi cô đơn, em vòn võ nhớ thương anh. Ai có thấu tâm tư của người thiếu phụ tuổi chưa tròn 30, cái tuổi mộng mơ hạnh phúc, mái ấm gia đình đã bị cướp đi. Chỉ còn lại cho chúng em những lo toan, căng thẳng trước những biến đổi kinh tế không ngừng. Đôi vai gầy của người phụ nữ Việt Nam đã phải gánh chịu nhiều thảm cảnh của chế độ với những vụ “đổi tiền”, đánh “Tư Bản Mai Sản” (những mỹ từ để che dấu những hành động cướp bóc ti tiện của nhà cầm quyền Cộng Sản). Qua những thủ đoạn trên, bao nhiêu gia đình đã bị trắng tay, toàn bộ cơ nghiệp do mồ hôi nước mắt nhiều đời dồn lại đã bị sang đoạt một sớm một chiều. Sự phẫn uất, tuyệt vọng tột độ đã đưa nhiều gia đình đến bước đường cùng, họ chọn cái chết ngay tại thiên đường Cộng Sản. Đã biết bao lần chán nản, lo sợ nhưng em vẫn gắng gượng bương trải mong đợi tin anh. Rồi những lần nhận được giấy báo thăm nuôi, em đã bán đi những gì có thể bán được để có tiền mua thực phẩm tiếp tế cho anh. Đau xót thay, chúng ta chỉ là một trong hàng trăm ngàn nạn nhân của một guồng máy cai trị vô nhân.


Băng rừng, vượt suối thăm anh, nhìn các anh gầy gò lê bước trong những bộ quần áo nhàu nát, bạc màu sau những hàng rào ngăn cách, lòng em quặn đau. Nhưng khi đối diện, nhìn cặp mắt trong sáng không hận thù, nghe giọng nói ngày xưa, vẫn nhỏ nhẹ nhưng đầy gang thép, em an tâm và hãnh diện. Vì em biết trong anh vẫn tiềm tàng nét kiêu hùng của chàng trai nước Việt đang đợi thời cơ.


Em đã làm theo lời anh dặn, gởi đứa con trai yêu quý của chúng ta theo đoàn tàu vượt biên với hy vọng đứa bé sẽ đem theo ý chí của Cha và ước nguyện của toàn dân: con sẽ cố gắng học hành để đóng góp phần mình cho dân tộc. Và cuối cùng, anh cũng đã được thả về khi sức lực đã cạn kiệt. Và vì không thể sống dưới một chế độ luôn ngược đãi trả thù và tước đoạt quyền căn bản làm người, em lại một lần nữa hy sinh để nhìn anh ra đi vượt biên tìm nguồn sống mới cho anh và cho dân tộc.


Hơn ba mươi năm trôi qua, những người phụ nữ Việt Nam đã trở thành những bà mẹ mòn mõi đợi chờ. Họ cố gắng tìm lại hình ảnh các anh qua màn ảnh TV, Internet với những thành quả mà các anh đã và đang làm. Họ chăm chú tìm diện mạo người thân trong đoàn người đấu tranh, trong rừng cờ vàng. Anh có biết niềm kiêu hãnh vô ngần nơi em khi nhìn thấy bóng hình anh . Anh thấy đó đất đai của tổ tiên đã co nhỏ lại, ruộng vườn điền thổ của người dân thì bị chiếm đoạt, thanh niên thiếu nữ phải đi làm lao nô tại khắp nơi trên thế giới hoặc đi làm nô lệ tình dục khắp năm châu, khi được trở về quê mẹ thì thể xác và tinh thần đã vô cùng suy nhược đôi khi lại mang những chứng bệnh trầm kha. Và anh cũng thấy đó nền luân lý, đạo đức dân tộc không ngừng bị băng hoại trong một xã hội tham ô chỉ biết lấy tiền tài vật chất làm căn bản. Cũng may là con cái của chúng ta không nằm trong số hơn một trăm ngàn học sinh bỏ học hàng năm. Và cũng may mắn cho giòng họ là chưa có đứa nào tham gia vào guồng máy gian tham đục khoét đất nước.


Em, những người phụ nữ Việt Nam đã hân hoan không thấy anh trong đoàn người áo gấm về làng và cũng không trong đoàn người hồi hương để hành lạc ngay trên xứ sở của mình. Bà Mẹ Việt Nam sẽ vô cùng hãnh diện và mãn nguyện nếu không có những đứa con trở về làm đau thương đất Mẹ. Và Mẹ cầu mong cho những đứa con ở xa luôn hướng về quê nhà, không ngoảnh mặt làm ngơ trước những điêu linh của dân tộc.


Em, người phụ nữ Việt Nam cố gắng sống để chờ anh. Chúng em cùng ấp ủ khát vọng Tự Do, Dân Chủ như tiếng kêu của liệt nữ Lê Thị Công Nhân nơi ngục tù tăm tối trong những đêm trừ tịch với một hy vọng nhỏ nhoi: em vẫn còn nhớ và chắc anh vẫn không thể quên.

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image

“Ăn cơm Tàu, ở nhà Tây...”

Tạp ghi Huy Phương

Không biết ngày xưa có ai đó nhiều kinh nghiệm về chuyện ăn ở để có thể phát biểu về ba cái nhất trên đời này là “ăn cơm Tàu, ở nhà Tây, lấy vợ Nhật”. Người Việt Nam mình đã hưởng được hai cái sướng nhất là là ăn cơm Tàu, ở nhà Tây. Trước hết, một nghìn năm bị giặc Tàu đô hộ, may mà chưa bị đồng hóa nhiều, người Việt vẫn còn giữ được ngôn ngữ, phong tục của riêng mình, nhưng cái vụ ăn cơm Tàu thì vào hẳn trong máu huyết khó có thể bỏ được. Nhưng cái gì đã có hằng ngày rồi thì hẳn trở thành bình thường, không còn cái sướng nữa.

Ðồng bào mình nhất là ở hải ngoại, lại ở vào cái vùng như quận Cam này, thì cơm Tàu đã thành chuyện thường, nhiều khi người ăn quên mình đang ăn món ăn của ngoại quốc. Ðồng hương Việt Nam vào những ngày cuối tuần, vẫn sáng “tỉm sấm Hồng Kông”, trưa “xủi cảo Quảng Ðông” tối đi dự tiệc cưới, nào xúp vi cá, vịt Bắc Kinh, cơm chiên Dương Châu, chan chát những địa danh của “Trung Quốc vĩ đại”, tuy đầy dầu mỡ, lắm cholesterol nhưng cũng không dứt ra được. Bằng chứng là đến nay, chưa cô dâu chú rể nào dám làm một cuộc cách mạng đãi khách ăn tại một nhà hàng với thức ăn Việt, hiện nay có 80% tiệc cưới là Tàu, 20% còn lại là Tây hay Mỹ. Các cụ ông, cụ bà được mời đi ăn cưới ở nhà hàng Tây, đều kêu là ăn không no, không hợp khẩu, nhưng nếu được đãi tiệc cưới bằng chả giò, chạo tôm hay bánh canh thuần túy Việt Nam thì hẳn khách ăn lại chê cái nhà mời cưới này thuộc loại bủn xỉn, hà tiện. Cuối cùng ngày lành tháng tốt gì cũng do mấy ông chủ nhà hàng Tàu lo tiệc cưới quyết định, cha mẹ được đặt đâu phải ngồi đó. “Ăn cơm Tàu” đâu còn sướng nữa, ví như bạn được mời liên tiếp luôn hai cái tiệc cưới vào một cuối tuần thì đây là một cực hình không hơn không kém.

Chúng ta lại có một trăm năm bị đô hộ bởi giặc Tây, không phải ai cũng có cơ hội được “ở nhà Tây”, nhưng quả thật nhà Tây thua xa nhà Mỹ. Ngay trong thời Tây đô hộ thì cái nhà cầu cũng phải ngồi xổm, mà vị trí cái nhà cầu phải cách xa nhà ở hàng trăm thước. Ai đã qua thủ đô của Tây mới thấy “ở nhà Tây” không sướng gì. Chúng tôi chưa đến dinh cơ của bậc giàu sang, trưởng giả nhưng nhà cửa của bậc trung lưu thì quá chật hẹp, phải chăng vì nơi thủ đô đất hẹp người đông. Trở về với những ngôi nhà Mỹ rồi mới thấy cái tiện nghi và việc sinh sống trong một ngôi nhà Mỹ phải là cái sướng nhất về “ở”. Bây giờ nhà Tây không bằng nhà Mỹ, mà chúng ta lại được ở nhà Mỹ, trước đó lại được ăn cơm Tàu, trong ba cái sướng chúng ta đã có được hai rồi.

Chuyện còn lại là chuyện “lấy vợ Nhật”, lấy vợ Nhật có sướng không? Nếu bạn quan niệm rằng “chồng là chúa vợ là tôi” thì bạn nên tạo ra một cơ hội để làm chồng thử một người phụ nữ Nhật. Tôi chỉ ghi lại thời điểm khoảng thập niên 1960, 1970, còn về sau này, phụ nữ Nhật không còn là “tôi” nữa, nhưng phải còn tranh đấu dài dài may ra mới thoát được cảnh chèn ép, coi rẻ phụ nữ của người đàn ông Nhật. Bằng chứng là ông tân Thủ Tướng Nhật Taro Aso, ngày 24 Tháng Chín mới đây đã trình diện nội các của ông với một cái bộ mới nghe qua thấy rất kỳ quái, rất coi thường phụ nữ, đó là Bộ “Nam Nữ Bình Quyền” do cô hay bà Yuko Obuchi làm bộ trưởng. Ðiều đó đã xác nhận là hiện nay tại nước Nhật, đàn bà vẫn còn đi sau đàn ông một hai bước như những hình ảnh mà chúng ta thấy trên đường ở Nhật thuở trước, vì đàn bà đi sau đàn ông mới là con nhà giòng giõi, có danh giá.

Ở Nhật, phụ nữ luôn luôn nhường nhịn nam giới. Trong trường học nam sinh bao giờ cũng có vẻ lấn lướt trong khi nữ sinh luôn luôn chịu phần thiệt, không bao giờ tranh cãi để thắng thế, thói quen này đã ảnh hưởng đến cuộc sống gia đình khi các em lớn lên. Ở công sở, thì ngay những người đàn ông có chức vụ thấp như lao công, tài xế cũng không có vẻ gì là nhún nhường, lễ phép đối với người thiếu nữ đã tốt nghiệp đại học, giữ những chức vụ cao hơn. Trong cuộc sống gia đình, chỉ những người đàn ông sợ vợ mới về nhà sau giờ bãi sở, còn những đấng trượng phụ khác thì đi thẳng ra quán rượu, nhậu nhẹt say sưa, có khi gần nửa đêm mới về đến nhà. Ở nhà người đàn bà đã lo cơm nước cho con cái, cho con đi ngủ. Người vợ chờ chồng về, cúi đầu chào thật sâu, quỳ gối lo cởi giày lột vớ cho chồng, dìu chồng vào phòng tắm, trong khi áo quần mới để thay đã sẵn sàng. Nếu ông chồng có ói mửa thì đã sẵn sàng xô chậu, lo lau chùi. Trong gia đình thường vợ con ăn trước, chồng dùng bữa sau. Khi có tiệc tùng thì mâm đàn ông, đàn bà riêng, mâm đàn ông lúc nào thức ăn cũng nhiều, tốt hơn lại có rượu kèm theo.

Có lẽ cũng như ngày xưa ở nước ta, người vợ lo hết việc trong gia đình, người đàn ông ra ngoài làm việc, đem tiền về và phát tiền chợ mỗi ngày cho vợ. Người vợ không biết lương chồng bao nhiêu và không bao giờ đặt câu hỏi về tiền bạc với chồng.

Nếu nhìn người vợ Nhật theo lối này, thì hiện nay người đàn bà Việt cũng không kém gì về cung cách và số phận. Bây giờ, cũng như bên Nhật thời trước, chỉ có đàn ông sợ vợ mới mò về nhà sau giờ tan sở, còn như các bậc “hảo hán”, “anh hùng” thì phải theo bạn bè ra quán nhậu, do đó ngày nay kỹ nghệ nhậu nhẹt trên hè phố, trong trà đình, tửu quán trở nên tưng bừng “trăm hoa đua nở”, không phải chỉ ở Saigon mà nở rộ khắp các làng xóm xa xôi. Vợ có thể buôn thúng bán bưng, đầu chợ cuối xóm, nhưng ông chồng vẫn là khách hàng quen của những quán nhậu, thanh lâu, ít quan tâm đến việc gia đình hay con cái. Do vậy, trong một cái quảng cáo “bán gái” ra ngoại quốc trước đây, người ta đã nêu lên khuyết điểm của người đàn ông Việt Nam lười biếng, không biết lo cho gia đình, lâu lâu còn “thượng cẳng tay, hạ cẳng chân” với vợ nhà.

Trong khi ở Mỹ, đàn ông chỉ được xếp sau chó mèo, thỉnh thoảng phải rửa chén bát, hút bụi, làm vườn, thì ở Việt Nam ngay cả “thời mở cửa”, đàn ông đi làm về nằm đọc báo, hay xem truyền hình hay ở ngoài quán nhậu. Do đó, nhiều đấng mày râu ở Mỹ cảm thấy bị thiệt thòi, trong khi không có điều kiện làm chủ một đóa hoa anh đào thì tạm thời sở hữu một bông bụp, về lấy vợ Việt Nam, ít ra thì trong tuần trăng mật cũng được dạ thưa, rượu có người rót, ăn thậm chí cũng có người đút, được làm “chúa” một thời gian.

Chỉ tiếc là ở Nhật đã có Bộ “Nam Nữ Bình Quyền” để đòi cho đàn bà lên ngang tầm với đàn ông, nhưng ở Việt Nam vẫn chưa ai có sáng kiến lập ra một cái bộ nào để tranh đấu cho đàn bà khỏi bị điếm nhục, khỏi bị bán ra nước ngoài làm điếm hay làm vợ người ta. Chẳng qua là vì nước Nhật ngày xưa coi rẻ đàn bà nhưng không hề coi rẻ danh dự của dân tộc và tổ quốc. Một chuyến tàu đổ, một chiếc cầu gãy cũng đòi hỏi sự ra đi trong trách nhiệm của những viên chức liên hệ, không phải có những việc tổn hại tày trời cho quốc gia mà bọn khốn nạn vẫn nham nhở nói nói, cười cười bám lấy cái ghế.

Cái bộ mang tên “Nam Nữ Bình Quyền” trong tân chính phủ Nhật có thể làm cho chúng ta bật cười với ý nghĩ xem thường, nhưng đồng thời chúng ta cũng nhận thấy sự can đảm và lương thiện của người Nhật, truyền thống coi rẻ đàn bà từ đời ông cha, chưa sửa đổi được trong thành kiến của con người, đang được cố gắng sửa đổi bằng những biện pháp hành chánh, đó là công việc của cái bộ mới, có vẻ lạ thường này.

Còn người Việt chúng ta ngày xưa cho việc “lấy vợ Nhật” là sung sướng hẳn họ quan niệm lấy vợ Nhật thì được hầu hạ, được phục vụ hết mình. Họ không bao giờ thấy được vợ là người bạn đường, là người chia ngọt xẻ bùi, cùng xây dựng mái ấm gia đình và nuôi dạy con cái. Người ta ca tụng việc “lấy vợ Nhật” chẳng qua là nói đến thân phận nô lệ, phục tùng của người đàn bà, vừa là nô tỳ, vừa là để giải quyết sinh lý cho người đàn ông, vừa là cái máy đẻ sản xuất ra những đứa con nối dõi. Trong khi đó người đàn ông lại hãnh diện là ông “chủ”, ông “chúa” có quyền sử dụng, sinh sát mà người vợ là kẻ tôi đòi. Tục lệ “lấy hầu” của người Việt Nam ngày xưa đã đưa bao nhiêu người đàn bà, tưởng là có một tấm chồng, nhưng thân phận họ không khác gì một kẻ tôi tớ, vừa phục vụ gia nương, vừa hầu hạ chồng và “nàng hầu” đối với người vợ cả trong nhà cũng chẳng khác chi một “con ở”.

Có lẽ trên đời này đi tìm một người vợ theo đúng nghĩa của nó khó, còn đi tìm một kẻ tôi đòi là chuyện dễ. Người xưa lại cho rằng “tìm tri kỷ nơi bạn bè là điều dễ, tìm tri kỷ nơi vợ chồng là điều khó kiếm, tìm tri kỷ nơi vua tôi là điều không tưởng...” Những ai tìm được sự tri kỷ nơi người vợ xem như là người chồng đạt được hạnh phúc.

Một triết gia đông phương cho rằng người vợ hoàn hảo là người vợ biết: lúc thì đóng vai một người mẹ, lúc thì chị, lúc thì em, lúc thì bạn và lúc thì là kẻ tôi tớ. Cái thời của những bạo chúa đã qua, quan niệm “chồng Chúa vợ tôi” cũng đã lạc hậu. Thôi thì cứ ăn cơm Tàu, ở nhà Mỹ cho sung sướng tấm thân, nhưng có lẽ nên gột rửa cái tư tưởng “lấy vợ Nhật”. Mới cách đây vài chục năm thôi, có những người đàn bà Việt Nam đã quỳ gối cởi giày, lột vớ cho chồng, cho như vậy là người vợ nhu mì, đảm đang, không khác gì cung cách của người vợ Nhật. Sự ích kỷ, trịch thượng, chỉ biết yêu bản thân đã làm cho những ông “chủ” chồng hành xử không khác gì kẻ thất phu.

Chuyện “nam nữ bình quyền” coi vậy mà không phải dễ thực hiện.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

Ðảng và Mỹ

Ngày đi Ðảng gọi 'Việt gian'
Ngày về Ðảng lại chuyển sang 'Việt kiều'

Chưa đi: phản động trăm chiều
Ði rồi: thành khúc ruột yêu ngàn trùng

Trốn đi Ðảng bắt đến cùng
Trở về mời gọi, săn lùng đô la

Ðảng ta ân đức bao la
Làm cụ thằng đểu, làm cha thằng lừa

Ngày xưa chửi Mỹ hơn người
Ngày nay nịnh Mỹ hơn mười lần xưa

Ngày xưa đánh Mỹ không chừa
Ngày nay con cái lại lùa sang đây

Ngày xưa Mỹ xấu, Ðảng hay
Ngày nay Ðảng ngửa hai tay xin tiền !'


Trần Khải Thanh Thủy

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Image


Giọt mưa thu
Phan
Trời vào thu se lạnh. Bà Lưu cứ bặm môi, híp mắt chịu đựng sự nhức nhối từ những khớp xương đã tới hồi nó loãng. Ông Trần cố gắng xoa bóp bao nhiêu cũng chỉ đỡ được phần nào tâm lý thì đúng hơn là trị liệu. Làm sao chia sẻ được hậu qủa những lần vượt cạn của vợ ông, những nhọc nhằn năm tháng cưu mang cả một gia đình.

Đêm nay mưa rơi, trời trở lạnh càng thấu buốt bộ xương già của bà, ông xoa bóp ngoài da xoa đến trong lòng. Ông Trần cảm hứng từ giọt mưa bên song cửa, ngẫu hứng ôm cây đàn thùng hát khúc tình ca cũ rích. Ông ca không hay, ông đàn nghe cũng dở, nhưng hình như tiếng đàn nó biết chuyên chở đến những khớp xương sưng đỏ kia một tình nghĩa thủy chung. Giọng hát khàn thiên phú lại còn chau chuốt thêm thời gian bi hài của cuộc đời không may mắn nghe buồn như giọt mưa thu. Bà Lưu cuộn mình trong chăn như con sâu làm tổ, ông Trần hát: “Ngoài hiên giọt mưa thu thánh thót rơi - Trời lắng u sầu, mây hắt hiu ngừng trôi. Nghe gió thoảng mơ hồ trong hơi thu…” Bà Lưu chìm vào giấc ngủ ngọt ngào như giọt mưa trên lá, bỏ lại không gian giai điệu muộn phiền của bài mưa ca rỉ rả. Tiếng đàn, những nốt nhạc buồn rười rượi của cố nhạc sĩ Đặng thế Phong…

Tiếng đàn thôi không cần nữa, ông Trần đi tự thưởng cho mình một ly vang. Đứa con trai út của ông đứng chựng ngoài cửa phòng tự bao giờ, cửa phòng ông đã không khép tự bao giờ! Gương mặt nó không còn búng ra sữa như vài năm trước, thấp thoáng nét thanh tú của mẹ. Ông Trần thầm mong ước cho đời nó đừng ngang dọc nhiều đến nỗi ngang tàng như Trần Đại Hải này. Ba mươi năm trước, nó cũng đứng chựng như thế! Ông mừng con mình sắp biết đi, rồi ông đi tù. Những vấp ngã tuổi thơ, nó đã tự đứng dậy. Sự kiên cường bởi hoàn cảnh bắt buộc để sinh tồn đã giết chết tiếng cười khanh khách của tuổi thơ con ông. Bây giờ nó đứng chựng trong thầm lặng ông lại đâm lo lắng. Lâu rồi, nó không cần tiền bạc cũng không xin ân huệ gì từ ông. Hình như nó chỉ đứng để nghe những lời lẽ, nhìn xử sự của người đàn ông mà nhiều năm qua nó kêu bằng bố vì phong tục hơn là thấu hiểu hay khâm phục. Nó bước đến bên ông, đưa tay đón lấy cây đàn, tay kia xoa đầu bố theo kiểu Mỹ.



Thời gian trôi đi, bốn mùa như gió, bốn mùa như mây. Một trưa hè, nó đưa về nhà cô bạn Mỹ. Vợ chồng ông Trần đang ăn cơm trưa, may mà hôm ấy không có món mắm nào trên bàn ăn. Ông bảo bọn nó cùng ăn cho vui. Nó đi làm hai dĩa cơm sườn sả, đưa lên phòng khách ăn với bạn. Ông Trần mới gặp cô bạn nó lần đầu, còn bà Lưu thì đã vài lần. Thậm chí bà có cả lý lịch trích ngang của người ta.

Bữa cơm xong, bà Lưu vào phòng. Hình như không vui khi thấy con trai bà dọn dẹp. Ông Trần ra garage là phòng điều nghiên của ông những khi cần yên tĩnh. Ông thật muốn nhấm nháp một chút cho ấm lòng già. Nhớ tới lão bác sĩ gia đình mà giận run, người chỉ biết nói những lời khuyên luôn luôn lầm đối tượng mà cứ tưởng là mình cứu nhân độ thế. Đời ông Trần đã nát bét tuổi thanh niên, mười năm áo lính, cũng lót ngót ngần ấy năm áo tù. Phần đời còn lại đi giao báo nửa đêm để khỏi phải nói tiếng người. Răng ông không rụng mà mòn vì nghiến hoài, may mà lũ con ông không đứa nào làm bác sĩ, điều duy nhất giúp ông tin có thánh thần trong phần đời còn lại vừa monh manh, vừa tị hiềm… rất thiếu lòng tin trong tình người nhân bản thì không ai nghĩ đến một lời khuyên.

Ông trở vào nhà, thấy con trai ông ôm cây đàn, đang hát khúc nhạc country lời Mỹ cũng hay hay. Hình như người đàn ông nào cũng đầu tiên là ôm cây đàn, sau đó ôm cả vũ trụ vào lòng, đến khi nhận thức được cái gì không phải của mình thì đã già. Điều ấy chỉ có thể trải nghiệm bằng chính cuộc đời chứ thật khó lòng tin người khác dù là cha hay mẹ. Sau khi đã đi giáp vòng thiên địa, nếm đủ chua cay lẫn ngọt bùi… lại về ôm cây đàn gởi gấm hết tâm tư, tình cảm của một người từng trải theo những cung bậc muộn phiền, lời ca, tiếng đàn khàn đục như một vết lăn trầm lăn qua vùng ăn năn… lăn vào lòng đất mà nhiều khi còn chưa hiểu thế nào là một tình yêu.

Cô gái Mỹ nửa ngồi, nửa nằm trên sofa. Mắt lim dim muốn ngủ. Ông Trần nghe cô ấy nói với con trai ông: “Mày để yên cho tao ngủ chút được không?” Tiếng đàn im bặt. Con trai ông ra garage xin bố chai bia. Nó nuốt một ngụm quá hớp, tràn ra cả áo. Sau đó khà một tiếng như sư tử con. Không biết có khà ra được một phần ngàn những ưu phiền của tuổi trẻ hải ngoại? Ông Trần thật hết sức muốn nói với con: “Ta về ta tắm ao ta/ dù trong, dù đục ao nhà vẫn hơn.” May là còn chưa nhả lời kỳ thị khi suy nghĩ lại! Nhà đã mất ba mươi năm thì làm gì còn ao mà gọi con về tắm. Ông cũng có một phần trách nhiệm trong chuyện nước mất, nhà tan.



Ông Trần kể cho tôi nghe như vậy. Và kìa, giọt mưa thu cay sè trong mắt ông. Tôi tin là tôi đã thấy như vậy. Tôi rót cho ông ly vang nữa. Hy vọng chia sẻ được chút gì qua vị chua chát của rượu vang với những người muôn năm cũ.

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Image

Thói hư tật xấu của người Việt: trống rỗng, dễ dãi, chê bai bừa, thô lỗ

Vương Trí Nhàn


Đời sống tinh thần suy đồi trống rỗng

(Vũ Văn Hiền, Thanh nghị số đặc biệt,
vài vấn đề Đông Dương, năm 1945)
Ở các làng quê đâu đâu cũng thấy một sự mê muội bướng bỉnh gian dối, đâu đâu cũng thấy những thói rượu chè cờ bạc khao vọng ma chay kiện cáo. Sự nghèo nàn về tinh thần và từ khi nền học cũ đã tàn, sự thiếu thốn về luân lý đổ thêm vào sự đói rét và ốm đau để làm cho người dân quê Việt Nam cực kỳ khổ sở.

Sở dĩ mọi cải cách thất bại vì dựa trên nguyên tắc không hợp thời "các làng xã cần được hoàn toàn tự trị". Khi giao việc cai trị trong làng cho những người sống trong làng (tức mỗi làng là một đơn vị tự túc về cai trị) các làng càng trở nên cô lập, không chung sống với lân bang, mỗi làng thường không đủ năng lực làm việc gì cho to tát.

Các chức vụ chỉ để thỏa mãn lòng khát khao danh vọng của dân quê. Thật ít khi người ta thấy nhiều người lãng phí thời giờ và nghị lực vào những công việc hão huyền như trong một làng Việt Nam. Và thật khó lòng tìm ở một nơi nào khác nhiều bộ phận vô ích như làng xứ ta.
Dễ dãi trong quan hệ
(Phan Khôi, cái quyền sở hữu trung lập, Sài Gòn, năm 1930)
Người An Nam mình có tính hay xều xào(1) ra chỗ đồng tiền phân bạc thế nào xong thì thôi không có nè nóc(2) gì cho lắm. Cái tính ấy ở đời nay là tính xấu. Vì khi xều xào của mình chẳng nói làm chi, cón khi mà xều xào đến của người ta thì họ không có nể đâu, nói ngay trước mặt mình rằng chú là đồ ăn cắp.

(1) Làm ra vui vẻ, không quản thiệt hơn.
(2) Chưa rõ nghĩa. Có thể hiểu là suy bì hơn thiệt (?)

Chê bai bừa bãi, sinh nghi kỵ nhau
(Phan Khôi, cái ảnh hưởng của Khổng giáo
ở nước ta, Thần chung, Sài Gòn, năm 1930)

Phủ huyện nào cũng đều có hội Văn chỉ, các hội ấy làm giêng mối chủ trương dư luận cả xã hội, người ta quen gọi là cái nền danh giáo hay ca quan thanh nghị(1). Chẳng những người trong hội cho đến người thường ở ngoài, nếu có làm việc gì nhắm tới luân lý trái với đạo đức thì không thể nào tránh khỏi sự công kích của hội.

Người An Nam mình kém học ít nghe cạn nghĩ lại thêm không biết phán đoán, mà cái lòng ghét điều ác quá nồng nàn, bao biếm(2) nhiều khi thất thiệt, bị người ta lợi dụng mà gieo điều nghi kỵ, thành ra ngờ vực nhau chia rẽ nhau.

(1) Bàn bạc, xét đoán, đánh giá người đời.
(2) Khen chê.
Lớp trẻ hỗn xược, thô lỗ
(Nguyễn Văn Huyên, Vấn đề
nông dân Việt Nam ở Bắc Kỳ, năm 1939)

Song song với vấn đề nghèo khổ, còn phải giải quyết vấn đề giáo dục. Khi ta tò mò đi vào các làng xóm ngày nay, ta bị sửng sốt vì vẻ hỗn xược vì thô lỗ của trẻ con nông thôn. Xưa kia hầu như nơi nào cũng có một ông thầy đồ. Xung quanh chiếc sập của ông, lũ trẻ dù không học được bao nhiêu chữ cũng đều nom thấy chiếc roi mây dài treo trên vách và nghe đi nghe lại câu răn dạy của đạo nho "Tiên học lê hậu học văn".

Ngày xưa, thầy và bạn học bao quanh lũ trẻ và ngăn chúng làm điều xấu. Ngày nay chẳng ai chú ý đến chúng. Trong vòng mười năm nữa, sẽ rất khó dắt dẫn các dân tộc lúc đó đã mất hết đạo lý. Một trào lưu cá nhân chủ nghĩa đã phát huy hết hiệu quả của nó trong một số môi trường.

Post Reply