Chiến Sĩ QLVNCH

Post Reply
User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Thơ : Tưởng Nhớ (Ngô Minh Hằng)

Post by linhgia »

TƯỞNG NHỚ
Ngô Minh Hằng


(Nén hương lòng, kính dâng những Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hoà
đã anh dũng hy sinh cho chính nghĩa, cho Tổ Quốc Việt Nam)


Lòng tôi, một nén hương, thành kính
Xin thắp và xin tưởng nhớ Người
Hỡi những Anh Hùng dân tộc Việt
Máu xương Anh hiến dựng xây đời

Vì yêu dân, nước nên Anh nhận
Trách nhiệm người trai buổi nhiễu nhương
Tôi cảm ơn Anh, tôi ngưỡng phục
Tấm lòng son sắt với quê hương!

Anh đem dũng cảm, đem kinh lược
Chiến đấu, Anh ngăn bước giặc thù
Nguy hiểm không sờn, không nhụt chí
Cho dầu gục ngã giữa âm u ...

Dakto, An Lộc hay Rừng Sát
Quảng Trị, Pleime hoặc Hạ Lào
Anh đã hào hùng trong chiến thắng
Hào hùng trong cả bước gian lao!

Từ bờ Bến Hải xuôi Đồng Tháp
Có dấu chân Anh khắp bốn vùng
Xương máu Anh trong từng mạch đất
Trong từng nhịp thở của non sông!

Hồn Anh hoà với hồn sông núi
Dẫu chẳng bia xanh, chẳng sử vàng
Nhưng đã muôn đơì dân tộc Việt
Nhớ ơn bồi đắp, giữ giang san!

Trong từng giọt nước, từng thân cỏ
Phảng phất như Anh đã mỉm cười
Có tháng Tư nào loang máu đỏ
Quê buồn như mắt lệ Anh rơi !!!

Tháng Tư, ôi tháng Tư oan nghiệt
Ai xé mà tan những mảnh đời
Những gói poncho không đất phủ
Những đau buồn muôn kiếp khôn nguôi

Tháng Tư, ôi tháng Tư đau xót
Có những người trai chết vội vàng
Và có những người không sống nhục
Chọn cho mình cái chết vinh quang!

Anh hy sinh thế vì dân, nước
Tôi biết ơn và thương tiếc anh
Anh, đã Anh Hùng dân tộc Việt
Cho dù hoang mộ có VÔ DANH !


Ngô Minh Hằng

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Re: Cụ Trần Văn Hương

Post by linhgia »

Tưởng niệm Trần Văn Hương
nhân sĩ suốt đời giữ tiết tháo
Hứa Hoành


--------------------------------------------------------------------------------

"Tôi xin phép từ chối. Tôi không nhận cái quyền công dân nầy. Dầu gì tôi cũng đã là người lãnh đạo miền Nam, trong khi binh sĩ, nhân viên các cấp, chỉ vì thừa lịnh của chúng tôi, mà giờ đây vẫn còn bị giam cầm trong các trại cải tạo, chưa được trả quyền công dân. Chẳng lý gì, tôi là người trách nhiệm, lại được trả quyền công dân trước..." (Lời cựu Tổng Thống Trần Văn Hương trả lời một cán bộ CS, khi họ đến nhà định làm lễ, quay phim "trả quyền công dân cho ông").

Hàng năm, cứ đến ngày oan trái 30 - 4, tôi lại bâng khuâng nhớ đến các anh hùng liệt sĩ đãbỏ mình vì nước. Làm tướng giữ thành, thành mất, tuẫn tiết theo thành, ngày xưa có Tổng đốc Hoàng Diệu (1828 - 1882), Tổng đốc Nguyễn Tri Phương (1800 - 1873)... Ngày nay có Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, Thiếu tướng Lê Văn Hưng, Thiếu tá quận trưởng Bồng Sơn Hoàng Lê Cương (1972) và hàng trăm ngàn chiến sĩ vô danh khác, đãtự sát để giữ tròn khí tiết, không để lọt vào tay kẻ thù làm nhục. Họ nêu những gương hy sinh cao quý, tiết liệt, lịch sử ghi nhớ muôn đời.

Hai mươi năm chiến tranh, một cuộc chiến tranh vệ quốc sáng ngời chính nghĩa quân dân miền Nam đãhy sinh hàng triệu người, chỉ vì muốn bảo vệ một lý tưởng "Ðộc lập, tự dỏ và không muốn đất nước rơi vào tay CS. Nhưng cuối cùng phải thất bại trong nỗi uất hận, nghẹn ngào.

Năm nay, nhân ngày tang tóc đau thương của toàn thể dân tộc Việt Nam, chúng tôi muốn nhắc lại với thế hệ mới lớn lên, về những cái chết oai hùng. Trong phạm vi bài nầy, chúng tôi kể lại những ngày sau cùng của một chính khách thanh liêm, cương trực, suốt đời giữ được tiết tháo và lòng yêu nước: người đó là cụ Trần Văn Hương, hai lần làm đô trưởng Sàigòn, hai lần làm thủ tướng và Phó Tổng Thống, và cuối cùng là Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa chỉ được 3 ngày. Cụ Hương mất đi không một lời cáo phó. Cụ mất, nhưng gương hi sinh và thái độ sống của người quân tử mà cụ nêu gương không bao giờ mất. Tuy là người đồng hương, vì nhà tôi ở chỉ cách nhà người chị ruột của cụ Trần Văn Hương chừng 300 mét, trên đường Văn Thánh (tức Văn Thánh miếu thờ Ðức Khổng Tử và cụ Phan Thanh Giản) tại Vĩnh Long. Là thế hệ sau, thuộc hàng con cháu, nên tôi không được quen biết với cụ. Tháng Hai năm 1975, tôi là thành viên của một phái đoàn vận động thành lập Viện Ðại học Long Hồ cho 3 tỉnh Vĩnh Long Kiến Phong và Vĩnh Bình, có đến tư thất của cụ ở đường Phan Thanh Giản Sàigòn, để yết kiến và xin cụ giúp đợ Tháng 3 năm 1975, cụ với tư cách là Phó Tổng Thống, có đến tại hội trường thuộc trường Sư Phạm (cao đẳng) Vĩnh Long, để chứng kiến lễ chấp nhận thành lập Viện Ðại Học Long Hồ, do Tổng Trưởng Bộ Quốc Gia Giáo Dục Ngô Khắc Tỉnh ký trước mặt cụ. Mặc dầu rất nhiều lần giữ những địa vị cao trong chính trường miền Nam, nhưng cụ Trần Văn Hương là một người có đời sống giản dị, mẫu mực, thanh liêm không bất cứ một ai có thể mua chuộc được. Khi thôi việc, cụ Hương sống cuộc đời chật vật nhưng vẫn giữ được tư cách.

Cụ Trần Văn Hương sinh năm 1904 tại làng Long Châu, nay thuộc quận Châu Thành Vĩnh Long, trong một gia đình nghèo. Nhờ học giỏi và được sự hy sinh của gia đình, cậu học sinh Trần Văn Hương được ra Hà Nội học trường Cao đẳng Sư Phạm... Sau khi tốt nghiệp, ông giáo Trần Văn Hương được bổ về dạy tại trường Le Myrle de Vilers Mỹ Tho, cũng là ngôi trường cũ mà ông đãtheo học mấy năm trước. Thời gian từ năm 1943 - 1945, ông Hương là giáo sư dạy môn văn chương và luân lý tại trường nầy. Sau đó ông Hương được đổi lên làm Ðốc học tỉnh Tây Ninh.

Năm 1945, Việt Minh nổi dậy cướp chính quyền khắp 3 kỳ, nhóm Việt Minh mới của Trần Văn Giàu (chủ tịch Ủy ban hành chánh Nam bộ) cử cụ làm chủ tịch Ủy ban hành chánh tỉnh Tây Ninh. Làm việc với Việt Minh được mấy tháng, thấy họ không thành thật, và theo con đường bá đạo, nên ông Hương từ chức. Tuy vậy cụ vẫn còn đứng trong hàng ngũ kháng chiến. Khi thấy bộ mặt thật của Việt Minh là CS, tìm cách khủng bố, ám sát thủ tiêu những người yêu nước có tinh thần quốc gia, cụ bỏ về thành. Ban đầu cụ bán thuốc tây cho nhà thuốc của dược sĩ Trần Kim Quan (Pharmacy Kim Quan) ở góc đường Lê Lợi và chợ Bến Thành bây giờ).

Theo tài liệu của tình báo Mỹ, ông Hương có hai người con: Trần Văn Dinh và Trần Văn Doi (Giỏỉ). Hồi còn theo học trường "College de Can Thơ" kháng chiến nổi lên, Doi bỏ học theo kháng chiến. Khi phái đoàn Hồ Chí Minh qua Pháp cùng một lúc với hội nghị Fontainebleau trở về tới Vũng Tàu, ông Doi theo xuống tàu ra Bắc. Từ đó hai cha con không bao giờ gặp nhau nữa. Ông Huỳnh Văn Lang, cựu Tổng giám đốc Viện Hối Ðoái dưới thời Tổng Thống Ngô Ðình Diệm cho biết "Ông Trần Văn Giỏi (không phải Dõi) ở tại Sàigòn, bên cạnh ông Hương như một người cố vấn."

Năm 1964, ông Hương làm Thủ tướng chính phủ, tình báo Mỹ có đem lại một hồ sơ cho biết cụ có người con theo CS. Cụ Hương thẳng thắn nhìn nhận và cho biết từ đó cho đến nay, cụ không còn liên lạc gì với người con đó hết. Khi cụ tham chính, thì nguòi con lớn là Trần Văn Doi ở kế cận đóng vai người cố vấn thân tín.

Tháng 7 - 1967, ông cùng với ông Mai Thọ Truyền, ra ứng cử chức Tổng Thống chỉ được 10% số phiếu, về hạng tư. Tháng 5 - 1986, ông được Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu mời làm Thủ Tướng, thay thế Thủ Tướng Nguyễn Văn Lộc. Trong nhiệm kỳ Tổng Thống 1971 - 75, ông Trần Văn Hương làm phó tổng thống, và khi ông Thiệu từ chức tổng thống giữa lúc tình thế đất nước lâm nguy,ông Hương được đôn lên làm tổng thống dùng theo hiếp pháp.

Các chi tiết về cuộc đời của cụ Trần Văn Hương trong những ngày tháng cuối cùng, được bà Phan Cẩm Anh cùng chồng là bác sĩ, người có dịp gần gũi với cụ Hương kể lại. Tôi được phép chỉ để trích một phần lớn trong bài ấy: "Hương trà năm cũ" trong bài viết để đồng bào, đồng hương có dịp biết thêm về nhiều chi tiết cảm động của một kẻ sĩ thế hệ cũ còn sốt lại. Kính xin anh chị Phan Cẩm Anh thể nhận nơi đây lòng biết ơn của tác giả.

"... Nhiều năm trước, khi tôi học trung học, một buổi tối sau khi dùng cơm, chị tôi dẫn tôi đến phủ "cây tùng" để thăm Mai Hương, một người bạn cùng "khóa I Nữ quân nhân" của chị, bây giờ vừa lập gia đình với đại úy Phan Hữu Chương, cháu ruột cụ Trần Văn Hương. Ba chị em đứng trò chuyện dưới táng cây của phủ phó tổng thống. Thình lình, cụ Hương từ trong nhà bước ra, nhìn về phía chúng tôi, gật đầu, rồi đưa tay ra hiệu bảo Mai Hương theo cụ vào trong phủ. Khi trở ra, Mai Hương lè lưỡi nói với chị tôi:

- Ông cụ vừa mới la.

- La về chuyện gì vậy?

- Ông cụ nói: "Sao không mời bạn bè vào phòng khách nói chuyện đàng hoàng mà để bạn đứng dưới gốc cây. Ông cụ nói tiếp: "Tiếp bạn đến chơi như vậy là không trọng bạn chút nào hết."

Ðó lần đầu tiên tôi thấy cụ Hương, nhưng nghe thuật lại những lời cụ trách, lòng tôi tự nhiên nhen nhúm một cảm tình đầy quý trọng. Sau đó, tôi có dịp trở lại phủ phó tổng thống vài lần lúc Mai Hương sắp vào nhà bảo sanh. Vì lẽ phu quân Mai Hương bận công vụ, nên Mai Hương cho tài xế đến nhờ tôi và em gái tôi giúp đưa Mai Hương vô bịnh viện. Tất cả những lần đó, tôi chẳng có dịp nào giáp mặt cụ Hương.

Thời gian trôi qua, miền Nam sụp đổ, Dương Văn Minh ra lịnh đầu hàng. Ngay buổi sáng sớm ngày đầu mất nước, tại ngôi biệt thự cũ kỹ nằm khuất trong ngõ hẻm ngăn đường Phan Thanh Giản, thân nhân sống trong biệt thự này đã đau đớn đem đặt giữa nhà hai xác người cùng nhau tìm cái chết. Họ vừa chia nhau ống thuốc ngủ đêm qua. Ðó là đại úy Phan Hữu Chương và vợ là cựu trung úy Trần Mai Hương. Họ để lại vỏn vẹn vài lời trăng trối "xin nhờ lòng tha thứ của cụ Hương và gia đình vì không thể sống khi đất nước rơi vào tay kẻ thù." Ðôi vợ chồng trẻ gởi gắm lại ba đứa con trai còn thơ dại, nhờ ông bà nội (em rể cụ Hương) dưỡng nuôi. Cũng trong ngôi biệt thự bao phủ một bầu không khí ảm đạm và im lìm đó, nơi một căn phòng khác trên lầu, cụ Hương đóng cửa, im lặng, trầm mình trong nỗi đau khổ của một người đãtừng lãnh đạo đất nước, bây giờ đành tâm chứng kiến giờ phút suy vong, cảnh nhà tang chế. Nỗi đau khổ của cụ ở mức độ nào, chẳng ai trong nhà được cụ hé môi thổ lộ.

Nhưng ý định cùng chồng đi tìm cái chết của Mai Hương, không được toại nguyện bởi lẽ một người cháu đem Mai Hương đi cấp cứu. Sự sống của Mai Hương đãđược các bác sĩ giành giựt lại từ đường tơ kẻ tóc. Nhờ đó Mai Hương trở thành một chiếc cầu để tôi có cơ hội biết thêm chút ít về cụ Trần Văn Hương trong những ngày cuối cùng của cụ.

Nhiều lần Mai Hương dẫn tôi về lại ngôi biệt thự trên để thăm các con của Mai Hương, hiện đang sống nương nhờ vào ông bà nội. Tôi đãchứng kiến cảnh sống đạm bạc, nếu không muốn nói là thiếu thốn, túng quẩn của gia đình cụ Hương. Cụ Hương luôn luôn sống lặng lẽ một mình trong căn phòng nhỏ ở trên lầu.ăn phòng bày trí thật sơ sài, chẳng có món đồ nào được coi là sang trọng. Ngoài chiếc giường nệm cụ nằm, đồ vật còn lại là hai chiếc ghế bành, một cái tủ đựng quần áo đãcũ, một chiếc bàn con trên đó cụ để một tượng Phật Di Lạc. Căn phòng có một cửa ăn thông ra sân thượng. Hầu cận, săn sóc cụ là người em rể của cụ mà tôi gọi theo như Mai Hương là Dượng. Phía dưới lầu là các gian nhà trệt nhỏ, nằm dọc theo bức tường phía trong của khuôn viên biệt thự, có lẽ trước kia là nhà kho, bây giờ trở thành nơi tá túc qua ngày cho các thân nhân gồm các em và cháu của cụ, vì phải gặp cảnh khó khăn dưới quê, tìm về Sàigòn nương náu trong ngôi biệt thự cũ nát mà tổng thống Thiệu đã cấp từ thời trước.

Ngôi biệt thự nầy, trước khi cấp cho cụ Hương, tổng thống Thiệu đãchỉ thị phải sửa chửa, chỉnh trang lại đàng hoàng, nhưng cụ từ chối viện lẽ cụ già rồi, không làm việc gì ích nước lợi dân được nữa, nên không muốn làm hao tốn công qũy. Do đó, đến khi CS vào, ngôi biệt thự trên chẳng phải là mồi ngon cho cán bộ của họ tranh nhau giành giật chiếm đoạt như các ngôi biệt thự xinh xắn khác. Tường biệt thự nhiều nơi nứt nẻ, nền nhà nhiều chỗ vở bung lên, màu vôi trải qua nhiều năm tháng vàng ố không được trùng tu, sơn quét. Hình ảnh cụ lúc nầy như một con chim đại bàng sa cơ, gãy cánh mà vẫn cố giương đôi cánh mang thương tích của mình để bảo bọc chim non. Tôi được nghe kể lại cứ mỗi lần người nhà bưng cơm lên lầu cho cụ, phần cơm rất đạm bạc, lâu lâu mới có chút cá thịt, thân nhân muốn nhường cho cụ để bổ dưỡng, cụ hỏi xem mọi người trong nhà có được ăn như cụ vậy không. Mặc dầu người nhà thường trả lời "có" cho cụ an tâm, nhưng cụ vẫn hiểu sự thật của chữ "có" nên thường cụ để dành lại thức ăn ngon trên mâm, hầu đem xuống nhà cho con cháu.

Có những lần tôi theo Mai Hương đến thăm ông bà nội các con Mai Hương, lúc trở về, ra tới cánh cổng, tôi quay đầu nhìn lên sân thượng thấy cụ Hương, ngồi yên lặng trên đó. Mình cụ để trần, mái tóc bạc trắng, đôi mắt nhìn thẳng về phía trước không hề di động... Tôi thấy cụ Hương ngồi trên sân thượng như vậy nhiều lần, và những lần như vậy, trên đường đạp xe về nhà, hình ảnh già nua, im lặng và cô độc của cụ cứ lẩn quẩn mãi trong đầu óc tôi.

Một hôm, có lẽ cũng vào dịp gần Tết, Mai Hương đưa một củ sâm Ðài Loan và nói với tôi:

- Bà nội sắp nhỏ biểu chị đem củ sâm nầy đi bán. Ðó là củ sâm người ta tặng cho ông cụ từ lúc ông cụ sang Ðài Loan, còn cất giữ mãi đến bây giờ. Ông nói chắc không dùng đến nó, nên sai đem bán lấy tiền đong gạo cho sắp nhỏ.

Mai Hương mở gói giấy bọc củ sâm ra, củ sâm vỏn vẹn bằng hai phần ba bàn tay, nằm giữa mấy lớp giấy gói đãcũ. Nhìn qua, ai cũng biết củ sâm được gói kỹ lưỡng, và bị lãng quên trong một ngăn tủ nào đó lâu lắm rồi, nay mới được nhớ lại. Tôi nhìn củ sâm nghẹn ngào. Một nhà giáo thanh bạch, một người lãnh đạo quốc gia trong sạch như cụ, chỉ lấy đạo đức bản thân làm tài sản. Cụ đâu có nén vàng nào có thể đem bán lấy tiền đong gạo cho đàn cháu, hay giúp đỡ người thân đang tá túc trong nhà, những người đa ?37;t nhiều liên lụy vì các hoạt động chính trị của cụ.

Khoảng hơn một tuần sau, ông nội các cháu, tức em rể cụ Hương, ghé lại nhà Mai Hương và tôi (lúc này Mai Hương và tôi sống chung với nhau trong một căn nhà nhỏ ở quận Tân Bình) kể cho chúng tôi biết là ông vừa làm theo ý cụ Hương: đem mấy bộ đồ veste còn tốt của cụ ra chợ trời bán. Ðể an ủi người nhà bớt đau lòng, cụ Hương bình thản giải thích:

- Từ đây cũng đâu có dịp nào mặc nó nữa, đem bán đi chớ để làm chi!

Số tiền bán áo trên, chẳng ở trong túi được bao lâu, vì ngay sau đó bà Út đi chợ mua đồ ăn cho sắp nhỏ. Gia đình cụ Hương đa ?#7883;u chung số phận đau khổ và bi đát tột cùng từ tinh thần đến vật chất khi miền Nam rơi vào tay CS. Có một sự kiện làm tôi chảy nước mắt mỗi khi nhớ đến, lòng thêm kính mến và cảm phục cụ Hương: Trước khi chính quyền CS cho tổ chức cuộc bầu cử quốc hội (bịp) đầu tiên, cụ Hương được họ thông báo sẽ có một buổi lễ để chính phủ trả quyền công dân cho cu Sau đó, để có buổi lễ được quay phim tuyên truyền, khi một cán bộ thay mặt chính quyền, đọc "chính sách khoan hồng, rộng lượng" của nhà nước đối với những "thành phần" như cụ, cụ dõng dạc nói:

- Tôi xin phép từ chối. Tôi không nhận cái quyền công dân này. Dù gì tôi cũng là người lãnh đạo miền Nam, trong khi binh sĩ, nhân viên các cấp chỉ vì thừa lịnh của chúng tôi mà giờ đây vẫn còn bị giam cầm trong các trại cải tạo, chưa được trả quyền công dân trước. Tôi sẽ là người sau cùng nhận cái quyền công dân này, sau khi binh sĩ và nhân viên của chúng tôi đã được nhận.

Ðại diện của chính quyền CS không ngờ sự thể xảy ra như vậy. Tức giận, họ ra lịnh cúp máy thu thanh, thu hình. Vài ngày sau cụ nhận được lịnh quản thúc tại gia 3 năm. Cụ Hương nói với người nhà:

- Bọn nó cũng chẳng cần phải quản thúc tao. Tao già và đau yếu như vầy, có khi nào bước chân ra khỏi nhà đâu mà cần phải quản thúc! Vào năm 80 tuổi, mỗi lần theo Mai Hương ghé vào thăm ông bà nội của các cháu, tôi ít thấy cụ Hương ra ngồi ở sân thượng như lúc trước. Tôi được biết sức khỏe của cụ sa sút nhiều. Một hôm, em rể cụ Hương bảo tôi:

- Ông cụ dạo nầy yếu quá. Ông lại dứt khoát không muốn vô nhà thương khám bịnh hay chữa trị gì cả. Chắc Cẩm Anh cũng biết tại sao rồi. Dượng muốn nhờ Cẩm Anh có quen ai là bác sĩ trước 1975, xin họ đến nhà khám bịnh giùm cho ông cụ. Nếu không thì Dượng chẳng yên tâm.

Nghe ông Dượng nói tôi mới nhớ, cách đó không lâu, cụ Hương bị mệt xỉu phải đưa vô nhà thương cấp cứu. Lúc tỉnh dậy, cụ nhứt định đòi người nhà phải đưa cụ về ngay. Cụ một mực từ chối, không chịu để điều trị trong bịnh viện đã thuộc về tay chính quyền CS.

Mặc dầu có quen biết vài bác sĩ, nhưng tôi nghĩ ngay đến nhà tôi, lúc ấy còn là một người bạn, vì trong hoàn cảnh không biết tương lai ra sao, nên chúng tôi chưa nghĩ đến việc lập gia đình. Tôi nhận lời Dượng, hứa tìm một bác sĩ của "chế độ mình" để nhờ khám bịnh cho cụ. Khi nghe tôi trình bày, nhà tôi chẳng chút ngần ngại, vui vẻ nhận lời ngay. Lần đầu tiên nhà tôi đến, cụ bảo nhà tôi lại thật gần để cụ nhìn mặt vì mắt cụ đa ?7901;. Cụ Hương hỏi nhà tôi:

- Con đến đây thăm bịnh cho qua, con có sợ họ làm khó dễ con không?

Nhà tôi trả lời:

- Thưa cụ, cháu chỉ làm bổn phận và công việc của người thầy thuốc, cháu không ngạị

Cụ xúc động, ghé người gần lại, đưa tay ôm lấy đầu nhà tôi. Nhà tôi tiếp:

- Thưa cụ, cháu là bác sĩ trẻ mới ra trường, kinh nghiệm và kiến thức hãy còn ít, chữa bịnh cho cụ, nếu có điều gì không biết, cháu sẽ về đọc sách lại.

Cụ Hương vui vẻ, mỉm cười cảm ơn và nắm lấy tay nhà tôi như để trấn an.

Từ đó nhà tôi lui, tới với cụ thường xuyên để thăm bịnh cụ. Dường như việc trị bịnh đối với cụ chẳng có gì quan trọng, cụ không quan tâm lắm, mặc dầu cụ luôn luôn là một bịnh nhân gương mẫu, theo đúng những lời dặn của bác sĩ. Ðiều làm cho cụ vui và thoải mái hơn có lẽ là có người để cụ nói chuyện. Do đó, nhà tôi thường ngồi lại với cụ một hai giờ sau khi khám bịnh. Cụ nói thuốc men cụ dùng hàng ngày là do bà Trần Văn Văn và bạn bè ở Pháp gởi về tặng cụ. Những thứ thuốc nào không cần dùng, cụ đưa cho người em rể cụ đem ra chợ trời bán, lấy tiền chia đều cho gia đình con cháu đong gạo. Một hôm cụ kể cho nhà tôi nghe một câu chuyện rất cảm động như sau:

- Con biết không, chú có thằng em đến thăm (cụ xưng chú với nhà tôi, khi biết thân phụ nhà tôi lớn hơn cụ vài tuổi) nó đem đến một hộp sữa bò còn tặng chú 5 đồng (lúc mới đổi tiền, 500 đồng tiền cũ ăn 1 đồng tiền mới). Chú thương nó có tình, nhưng nghĩ nó phải đạp xích lô cực khổ để sinh sống, nên chú không nỡ lấy. Nhưng nếu chú không nhận thì "sợ nỏ buồn tội nghiệp", nên chú chỉ nhận có 5 đồng, còn hộp sữa thì bảo nó đem về cho gia đình (lúc ấy sữa rất khó mua). Người mà cụ kể là "thằng em" một cách thân mật chính là thuộc hạ cũ của cụ.

Cụ Hương còn tâm sự với nhà tôi những chuyện lúc cụ còn trẻ. Có một thời gian cụ cùng với một người con trai (Trần Văn Doi) theo hoạt động cho Việt Minh chống Pháp. Nhưng khi nhận ra bộ mặt thật của Việt Minh, cụ dứt khoát trở về lại trong Nam và mất liên lạc với người con trai từ lúc ấy. Người con trai nầy đã ở lại miền Bắc, và phục vụ trong quân đội CS. Sau khi Sàigòn bị chiếm, anh có về thăm cụ với vợ là một bác sĩ VC. Có lẽ sự lui tới của cặp vợ chồng nầy cũng nhằm mục đích theo dõi cụ.

Cụ Hương cũng có một người con khác đang sinh sống tại California. Anh có một đứa con bị bịnh Thalassemia, được đưa sang Mỹ chữa trị trước năm 1975. Ða ? lần anh muốn bảo lãnh cụ ra nước ngoài, nhưng cụ nói với nhà tôi:

- Trước kia đại sứ Martin năn nỉ, yêu cầu chú đi, chú đãtừ chối. Bây giờ đời nào chú lại xin chính quyền CS để được đi.

Những lần đi thăm bịnh sau của nhà tôi, cụ tâm sự nhiều hơn về những vụ buồn trong cuộc đời tham chính của cụ. Cụ luôn nhắc đến tên của những người mà cụ đặc biệt quý mến như bác sĩ Bạch Ðình Minh. Cụ ngậm ngùi kể:

- Bác sĩ Minh là một người mà chú rất quý trọng. Hồi trước chú thấy bác sĩ Minh đi khám bịnh mà không có đồng hồ đeo tay. Chú mua tặng cho bác sĩ Minh một cái, nhưng đeo được vài tuần, bác sĩ Minh đem trả lại chú. Chú thấy bác sĩ Minh phục vụ trong quân đội hết lòng tận tụy và giàu tinh thần trách nhiệm, chú đề nghị lên tổng thống Thiệu tưởng thưởng "Bảo quốc huân chương" cho bác sĩ Minh. Bác sĩ Minh từ chối không nhận viện lẽ ông đang làm việc ở chỗ an toàn, xin dành huy chương ấy cho những người xả thân chiến đấu, hy sinh xương máu cho đất nước. Một lần khác cụ hỏi nhà tôi:

- Con có biết bác sĩ Trần Lữ Y không?

Nhà tôi thưa:

- Bác sĩ Trần Lữ Y dạy con môn Nội Khoa ở trường Y khoa.

Cụ Hương tâm sự:

- Hồi trước bác sĩ Hoa Kỳ sang đây khám bịnh cho chú, họ đề nghị đưa chú sang Hoa Kỳ chữa bịnh. Thằng Trần Lữ Y đi theo chú, xin lỗi con, chú gọi bác sĩ Trần Lữ Y bằng "thằng", vì chú thương nó như con chú vậy. Khi máy bay ghé Manille, suốt mấy hôm chú ăn không nổi đồ ăn của họ, nên bác sĩ Trần Lữ Y phải ra phố kiếm thức ăn mua về cho chú. Gần đây chú nghe có người nói bác sĩ Trần Lữ Y qua đời bên Pháp vì bịnh ung thư, có đúng như vậy không?

Nói tới đây, cụ im lặng hồi lâu như nén sự xúc động. Mấy tuần sau, nhà tôi được tin bác sĩ Trần Lữ Y vẫn còn khỏe mạnh ở bên Pháp và có phòng mạch tư, gần với phòng mạch của bác sĩ Phạm Tu Chính. Nhà tôi vội vàng ghé lại thăm và nói cho cụ Hương biết tin thật về bác sĩ Trần Lữ Ỵ Nghe xong, cụ Hương nắm lấy tay nhà tôi mà chẳng nói gì. Hai giòng nước mắt từ từ lăn trên má cụ.

Mặc dầu sức khỏe cụ Hương lúc đó đa ?sút nhiều, đi đứng khó khăn, dầu chỉ vài bước cũng cần cây gậy. Bên cạnh giường ngủ có gắn một cái chuông điện, trên bàn luôn có một cái chuông nhỏ để khi cần người nhà, cụ lắc bằng tay. Nhà tôi thán phục cụ có trí nhớ đặc biệt. Cụ có thể nhớ nguyên văn câu nói của từng người, ngày tháng, giờ giấc của sự kiện đãxảy ra. Cụ không quên từng chi tiết nhỏ. Có lần cụ chia xẻ với nhà tôi rằng:

- Chú nghĩ người làm chính trị phải có giáo dục và đạo đức. Khi tham chính tất nhiên chú chấp nhận có phe đối lập, nhưng dầu khác lập trường, chú vẫn luôn luôn tôn trọng họ. Có một dân biểu trẻ tên là (xin giấu tên), trong một buổi họp quốc hội, đã đứng lên đập bàn, chỉ vào mặt chú nói những lời vô lễ (xin không ghi lại câu vô lễ nầy)... Vì dân biểu nầy đáng con chú. Chú buồn và tiếc cho người làm dân biểu mà không biết đến chữ "lễ", không tỏ ra có tư cách của người học thức, chớ không buồn về lập trường đối lập của họ.

Một hôm đến thăm cụ, nhà tôi thố lộ với cụ rằng "sớm muộn gì con cũng phải ra đi". Chuyện ra đi không biết khi nào mới thành công, nhưng không bao giờ con bỏ ý định đó. Chẳng phải vì miếng cơm manh áo, hay sự cực khổ mà phải bỏ quê hương. Nhưng vì cuộc sống lúc nào cũng thấy bị đe dọa, thiếu an toàn, ngủ một đêm thức dậy có thể bị bắt vì bất cứ một lý do viển vông nào. Nghe nhà tôi nói, cụ Hương trầm ngâm một hồi lâu mà không nói gì. Mãi một lúc sau, cụ thở dài chép miệng:

- Có lẽ chú làm không đúng khi ra lịnh ngăn người ta ra khỏi nước trong những ngày hỗn loạn.

Lúc nhà tôi từ giãcụ ra về, cụ ôm hôn nhà tôi và nói:

- Chú gặp con muộn quá!

Vào tháng 4 - 1981, tôi đạp xe đưa nhà tôi đi vượt biên lần thứ 13. Trước khi đi, nhà tôi có đến thăm cụ lần cuối. Biết cụ rất buồn, nhưng cụ giấu kín tình cảm để người đi bớt vướng víu. Một tháng sau đó, tôi cũng rời Việt Nam đi Mỹ theo diện đoàn tụ gia đình do anh chị tôi bảo lãnh. Một ngày trước khi đi, tôi đạp xe trở lại đường Phan Thanh Giản, đứng một mình bên chiếc cổng sắt. Giữa một niềm vui khi sắp sửa thoát khỏi cảnh đời vô vọng, tăm tối, và một nỗi buồn khi biết rằng mình sẽ mất bao nhiêu gắn bó thân thuộc khi lìa khỏi nơi đây. Cụ Hương vẫn là hình ảnh làm cho lòng tôi se thắt, là một cánh sen nổi trên dòng nước đang giao động của tâm hồn tôi.

Dưới đây là hai mẩu chuyện được nhắc lại như một giai thoại. Hồi tháng 4 năm 1954, khi có sự vụ lịnh của thủ tướng Ngô Ðình Diệm bổ nhiệm cụ Hương làm đô trưởng Sàigòn - Chợlớn, thì cụ đi làm việc hàng ngày bằng chiếc xe đạp Alcyon. Khi vô tòa đô chính nhận việc, người lính gác cổng chận lại và không cho cụ vô. Cụ phải nói thật "Tôi là Ðô Trưởng" họ cũng không tin. Cụ phải trình sự vụ lịnh mới được bổ nhiệm, người lính mới hoảng hồn, định chắp tay lạy cụ, nhưng cụ từ tốn, an ủi mấy câu, rồi dẫn xe đạp vô làm việc. Khi cụ ra Vũng Tàu nghỉ dưỡng bịnh (1964), hàng tháng chính phủ trả phủ cấp thêm 10.000 đồng, nhưng cụ từ chối, gởi trả lại công quỹ, vì cụ nói "không có chuyện gì cần phải xài."

Nhắc lại về thái độ của cụ Trần Văn Hương trong những ngày đen tối của đất nước chúng tôi thấy có hai sự kiện đáng ghi nhớ:

Cuốn hồi ký "Saigon et moi" của cựu đại sứ Pháp tại Việt Nam, ông Mérillon kể lại: "Mãi tới tối 18 - 4 - 1975, đại sứ Hoa Kỳ Martin mới cho ông (Mérillon) hay rằng Hoa Kỳ sẽ buông VN." Ðại sứ Martin nói:

- Từ giờ phút này nước Pháp sẽ đảm nhận vai trò tái lập hòa bình cho VN.

Mérillon chuyển lời nói nầy cho Phó Tổng Thống Trần Văn Hương. Ông Hương nói:

- Ông Ðại sứ à! Tui đâu có ngán Việt Cộng. Nó muốn đánh, tui đánh tới cùng. Tui không muốn lưu vong xứ người. Nếu trời hại nước tui, tui xin thề ở lại và mất theo nước này.

Ðến ngày mất nước, đại sứ Martin còn đến gặp cụ Hương và nói:

- Ngài đi với tôi sang Mỵ Chánh phủ Mỹ sẽ nuôi dưỡng Ngài suốt đời, tôi nhân danh chánh phủ Hoa Kỳ đến mời Tổng Thống ra khỏi nước với bất cứ phương tiện nào mà ngài muốn. Chánh phủ chúng tôi cam kết bảo đảm cho Ngài một đời sống xứng đáng với cương vị tổng thống cho tới ngày Tổng Thống mãn phần.

Cụ Trần Văn Hương mỉm cười, trả lời (tiếng Pháp):

- Thưa ngài đại sứ, tôi biết tình trạng hiện nay rất là nguy hiểm. Ða ?73;ến nỗi như vậy, Mỹ cũng có phần trách nhiệm trong đó. Nay ông Ðại Sứ đến mời tôi ly hương, tôi rất cảm ơn ông Ðại sứ. Nhưng tôi đãsuy nghĩ kỹ và quyết định dứt khoát ở lại nước tôi. Tôi cũng dư biết rằng CS vào được Saigon, thì bao nhiêu đau khổ, nhục nhã sẽ trút xuống đầu dân chúng miền Nam. Tôi là người lãnh đạo đứng hàng đầu của họ, tôi tình nguyện ở lại chia xẻ một phần nào niềm đau đớn tủi nhục, nỗi thống khổ của người dân mất nước. Cám ơn ông Ðại Sứ đãđến thăm tôi.

Tới đây, tôi lại nhớ đến liêm sỉ và tiết tháo của một người lãnh đạo Cam Bốt, một nước láng giềng mà dân ta thường hay có thái độ coi thường. Ðó là ông hoàng Sirik Matak, Phó Thủ Tướng Cam Bốt. Cũng tháng 4 định mệnh ấy (1975) khi quân Khmer đỏ sắp tràn ngập Phnom Penh, Ðại Sứ Mỹ tại đây là John Gunther Dean đến mời hoàng thân Sirik Matak lưu vong qua Mỹ. ông Sirik Matak từ chối và trả lời bằng thư sau:

"Thưa Ngài và bạn thân (Excellence et Cher Ami)

Tôi rất thành thật cám ơn Ngài về cái thơ và đề nghị giúp đỡ của Ngài đưa chúng tôi đến nơi tự do, nhưng tôi không thể ra đi một cách hèn nhát như thế.

Về phần Ngài và quốc gia to lớn của Ngài, tôi không bao giờ ngờ rằng Ngài sẽ bỏ rơi một dân tộc đãchọn tự dọ. Quý Ngài đa ?7915; chối bảo vệ chúng tôi, chúng tôi không làm sao được. Ngài ra đi và tôi chúc cho Ngài và quốc gia của Ngài tìm được hạnh phúc dưới bầu trời của quý ngài.

Nếu tôi chết ở đây trong nước tôi mà tôi yêu, thì thôi mặc, bởi vì tất cả chúng ta đa ?73;ược sanh ra để rồi một ngày nào đó thì chết. Tôi chỉ có làm một lỗi lầm là đa ? nơi Ngài và tin nơi những người Hoa Kỳ

Xin Ngài và bạn thân, nhận nơi đây những cảm tình trung thực và thân ái của tôi.

Sirik Matak,

Theo lời người dịch, thư này sau mấy năm, có lần được đọc trong một phiên họp Quốc hội Hoa Kỳ, và được lưu giữ trong văn khố Quốc Hộị (Trích bài biết của BS Nguyễn Lưu Viên, tập san Y Tế số III, tháng 3 năm 1998).


Hứa Hoành

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Gặp 2 Ông Tướng Thủ Đức tại New York

Post by linhgia »

Gặp hai ông tướng Thủ Ðức tại New York






Trần Hoài Thư



...Như vậy tôi không có một nơi để đốt lại những sợi khói hoài niệm. Nhưng tôi vẫn về cùng Nữu Ước vào những ngày cuối tuần, dù đôi lần, xe tôi phải bị kẹt hàng giờ trên khúc đường Canal dẫn vào khu Phố Tàu, hình như không còn một lối thoát. Tôi đã tự nhủ lòng đừng đi Nữu Ước nữa. Tôi không đủ kiên nhẫn nhích xe từng bước, giữa muôn ngàn âm thanh hỗn lộn từ còi xe đến còi hụ, từ chiếc xe sang lane này, đến chiếc xe sang lane khác. Còn nữa. Còn cả đám người đi băng qua đường như lao vào đầu xe, hay những anh chàng lái tắc xi vàng chạy ẩu. Có một điều gì kỳ bí thôi thúc tôi trở lại. Về lại tiệm sách, bước lại vỉa hè, hòa nhập vào cùng cuộc vui khiêu vũ...

Cho đến một ngày tôi không còn dám bỏ xe đậu đại tại khu Tòa Án nữa. Tấm giấy phút đậu trái phép để nằm trên kính xe. Chiếu luật 45, hay 46 gì đó, tiền nộp phạt 60 đô la. Muốn khiếu nại thì điền đơn gởi về địa chỉ... Tôi chửi thề. Phạt gì mà phạt tàn bạo. Ở quận tôi ở, tiền phạt chỉ tối đa là 10 đồng là cùng. Có lẽ chỉ có một nơi trên quả đất này Nữu Ước cái gì cũng nhất. Từ những building chọc trời, những con đường không bao giờ ngớt xe, những bảo tàng viện nghệ thuật, những vở nhạc kịch được trình diễn từ năm này qua năm khác, đến tội ác và cả tiền phạt...

Thằng bạn làm chung một nhóm đã cười khi nghe tôi kể lại cái số tiền khủng khiếp mà tôi phải trả. Hắn giải thích dùm tôi: " Ông biết tại sao không? Tui đám phạt là đám thầu, chẳng phải cảnh sát như ông tưởng. Chúng nó phạt càng nhiều thì lấy hoa hồng càng nhiều. Nhiều khi không lỗi chúng cũng gắn lên cái windshield cái vé phạt. Ông khiếu nại à? Thì giờ đâu ông đi khiếu nại. Muốn ra toà ông phải bỏ một ngày làm việc. Ðó là không kể tiền ông phải trả cho luật sư..."

Lời giải thích đã làm một tay bất cần như tôi phải chùng lòng.


Tôi kêu Oanh đi cùng. Và chúng tôi thay phiên nhau canh chừng mấy ông mấy bà tuần cảnh. Tôi để nàng đi mua sắm. Sau đó, đợi nàng về, tôi bắt đầu lê la. Dù không còn được dịp ngồi lại đốt thuốc hàng giờ trong quán cà phê mà mơ mộng nữa. Một ngày, tôi gặp hai người đàn ông ở một công viên bên Tòa Án. Một người dáng thấp và nặng nề. Người kia cao hơn với thân hình cân đối. Hai chiếc áo quân đội bạc màu dơ bẩn đủ cho tôi biết họ là những người homeless thường thấy tại các nơi công cộng như bến xe lửa hoặc công viên. Có điều khác biệt với những người tôi hằng gặp - da trắng hoặc da đen- họ là người Á Châu. Có lẽ họ là người Tàu cũng nên. Nhưng còn hai chiếc áo nhà binh ở trên mình họ ? Hai chiếc áo 4 túi của một thời nào mà tôi đã từng khoác gần suốt tám năm trời làm tôi hơi phân vân. Có lẽ họ xin ở đâu đó, từ một cơ quan từ thiện, hoặc cũng có lẽ là những người cựu chiến binh trong chiến tranh Việt Nam nay bị ruồng bỏ. Hoặc cũng có lẽ họ là những tay nghiện rượu và mấy cái túi áo rộng thùng thình là chỗ chứa lý tưởng nhất tránh những cặp mắt của các thầy cảnh sát. Sau đó tôi chẳng còn để ý gì đến hai người ấy nữa. Mắt tôi còn phải láo liên nhìn trước nhìn sau. Cái giấy phạt 60 đô la vẫn còn là ám ảnh.

Chợt một lúc nào đó, tôi thấy hai người đàn ông đứng dậy. Họ cúi đầu cùng đi chung quanh cột cờ giữa công viên. Họ đi thật bình thản, và quá ung dung. Tôi không thể tìm một dấu hiệu gì của một con người không nhà không cửa mà tôi hằng gặp. Tôi lại nhận đôi mắt sưng húp của hai người. Và có cả dấu hiệu quân đoàn IV đen mờ trên cánh tay áo. Có ngọn gió nào làm da thịt tôi phải nổi gai ốc. Hình như tôi đã có lần thấy họ, cũng từng đi cạnh nhau như thế.

...Căn phòng chỉ còn lại một màu tối thẩm bao trùm. Nếu không có tiếng kêu rè rè của những chiếc máy truyền tin, và những ánh đèn chớp xanh đỏ liên hồi cùng chút nắng chiều hắt vào cửa sổ, thì nó chẳng khác gì ngôi nhà mồ. Những tín hiệu cứ tiếp tục đánh về. Những bức công điện màu vàng thi nhau nhả xuống thềm dồn dập những lời kêu cưú, những chờ-lệnh, những tuyệt vọng, những chiến thắng... "Xin thêm máy bay yểm trợ. Xin pháo binh tầm đạn xa... Báo cáo tiểu doàn đã chiếm được mục tiêu... Báo cáo tịch thu súng phòng không..." Bao ngày nay, tôi đã lắng nghe những tín hiệu, mà rưng nước mắt. Là một phóng viên chiến trường tôi đã có dịp gặp nhiều phóng viên ngọai quốc. Họ đều cảnh cáo tôi về những ngày sắp đến. Quốc hội Mỹ đã giảm viện trợ tối đa. Dân chúng Mỹ theo những cuộc trưng cầu dân ý đã bắt đầu không tin chính quyền Mỹ về chiến tranh VN. Mỹ trước sau cũng bỏ rơi Việt Nam. Họ khuyên tôi nên tìm cách mang cả gia đình lên Saigòn hay ra Phú Quốc, để có cơ hội lên máy bay. Lúc ấy cao nguyên đã bị thất thủ. Dù vậy, miền Tây vẫn yên tĩnh, chẳng có dấu hiệu gì cho một cuộc chuyển quân cấp binh đoàn từ bên kia biên giới. Ông Tư Lệnh vẫn bay thị sát mặt trận suốt ngày trên trực thăng. Ðài phát thanh và truyền hình vẫn tiếp tục loan đi những tin tức từ mặt trận, bằng những trận đụng độ lẻ tẻ tại vùng Ðồng tháp Mười, hay biên giới Miên Việt. Quốc lộ 4, quốc lộ huyết mạch mang lúa gạo cung cấp cho Saigòn vẫn an toàn. Sư Ðoàn 7 đã tang viện thêm một trung đoàn về Cái Bè Cai Lậy. Không ai biết được nỗi yên tĩnh này bao lâu. Qua những tín hiệu buồn thảm từ các quân khu khác, người ta nghĩ đến một con bệnh đang hấp hối.



Ngày 20 tháng tư, 1975,

Văn phòng Tư Lệnh gọi qua phòng thông tin và báo chí cho biết ông Tư Lệnh cần gặp các sĩ quan của phòng. Ðiều này làm mọi người kinh ngạc. Bởi vì từ trước đến nay ông chưa bao giờ nhắc nhở gì đến báo chí. Ông cũng chưa bao giờ tiếp kiến bất cứ một phóng viên ngoại quốc nào. Nhiều người cho rằng ông có cái mặc cảm về khoa ăn nói. Nhiều người nghĩ tại ông là một vị tướng lãnh hơn là nhà chính trị. Không ai biết một ngày họ được đứng trước lá cờ hai ngôi sao trắng. Bên cạnh ông là ông Tư Lệnh Phó. Và ông Tư Lệnh nói. Giọng Huế nặng và khó nghe. Ông muốn những người đang ở trước mặt ông phải tìm mọi cách nói lên một miền Tây an toàn. Một miền Tây của niềm hy vọng chớ không phải tuyệt vọng, hấp hối. Nỗi chua xót đã thấy rỏ ở trong đôi mắt. Thì ra ông đã hiểu về cái khốc hại khi người ta mất niềm tin. Ông đặt tin cậy lên chúng tôi, may ra mang niềm tin về lại triệu triệu người tuyệt vọng, trong khi những bản tin bi quan cứ tiếp tục phát thanh từ các đài ngoại quốc. Trong khi vợ con sĩ quan không quân, hải quân được bí mật chuyển đến các khu an toàn. "Các em phải tìm mọi cách để mang niềm tin về lại đồng bào." Ông nói chậm và giọng quá buồn. "Các em cứ vào trung tâm hành quân. Tin tức ở đấy trung thực nhất."

Nhưng con bệnh đã hết thuốc chữa. Dù lời phê bắn bỏ của ông tư lệnh phó trên tấm công điện đánh về trung tâm hành quân quân đoàn báo cáo có một tàu hải quân bỏ chạy ra hướng cửa biển, mà sau này người ta được biết trên tàu gồm tướng Tham mưu trưởng, cũng như Ðại Tá Tỉnh Trưởng. Những báo cáo bị át bởi tiếng thở hổn hển từ người lính truyền tin phải làm việc quá nhiều: Máy bay lạ xuất hiện ở Phong Ðiền, Phụng Hiệp. Máy bay gì, ai cũng hiểu về những chiếc phi cơ hốt hoảng rời khỏi phi đạo. Nhưng cũng giữa muôn ngàn âm thanh ảm đạm ấy, là tin một chiếc phản lực bị bắn rơi trên vùng giáp ranh Ðịnh Tường, Mỷ Tho và những khẩn cầu tiếp viện hay những tin chiến thắng.



30 tháng Tư, 75. Buổi trưa, 3 giờ.


Văn phòng thông tin quân đoàn nhận lệnh đọc thông cáo đầu hàng.


30 Tháng Tư, 75. Buổi chiều.


Ông Tư lệnh lên xe Jeep chạy về quân y viện Phan thanh Giản. Ðằng sau xe chỉ có một người lính gốc Miên đen đúa cầm khẩu M16. Ông đi đến từng giường thăm hỏi thương binh. Người lính cụt một chân, còn băng khúc đùi, rán đưa tay chào ông. Ông dừng lại. Cặp kính đen che đôi mắt, không hiểu ông có khóc hay không.

30 tháng Tư, 75. Hoàng hôn.
Trời vẫn còn đủ sáng để thấy ông Tư Lệnh và Tư Lệnh Phó chắp hai tay sau đít, đi bách bộ quanh cột cờ. Hai vai cúi xuống. Lần này ông Tư Lệnh không còn mang cặp kính đen quen thuộc nữa. Ðôi mắt hai người sưng húp. Tuy nhiên, họ vẫn cười, dáng bình thản lạ lùng.
Cả bộ chỉ huy quân đoàn vắng hoe. Thông cáo đầu hàng đã được đọc trên đài phát thanh và đài truyền hiình. Ngoài đại lộ Hoà Bình, thỉnh thoảng vài chiếc xe quân đội chạy vút qua trên mặt lộ vắng tanh. Người lính Quân cảnh vẫn còn đứng gác ngoài cổng. Người tài xế già và người lính hộ vệ đen đúa vẫn còn ngồi trên bực tam cấp hút thuốc.
...Tôi muốn bỏ xe chạy lại công viên. Rỏ ràng tôi gặp lại hai ông Tướng cũ. Nhưng con mẹ tuần cảnh đã hiện ở đầu đường, cắm cúi ghi ghi chép chép. Tôi rồ lại máy. Ðường lại một chiều. Tôi chỉ biết nối đuôi theo giòng xe cộ. Ðến đầu đường Canal cả đoàn xe bị kẹt. Trăm ngàn xe thi nhau bóp còi. Không còn ai nhường nhịn ai. Rồi chửi thề. Rồi văng tục. Ðầu óc tôi muốn nổ bùng. Từ hình ảnh hai ông tướng cũ. Từ đoàn xe hình như bám cứng không chịu nhúc nhích.
Khi trở lại công viên,thì đèn đường đã sáng. Oanh chờ bên một lô thực phẩm. Tôi thì bỏ mặc nàng nhảy ra khỏi xe, chạy mau vào công viên. Nhưng hai người đàn ông ấy đã không còn ở đấy nữa. Tôi trở lại xe. Oanh hỏi anh có chuyện gì xảy ra mà chạy như ma rượt? Tôi nói. Anh vừa thấy hai ông Tướng Tư Lệnh và Tư Lệnh phó. Rỏ ràng là hai ổng. Mắt hai ổng sưng vù. Có cả huy hiệu Quân Ðoàn 4. Và tôi lấy bàn tay quơ quơ trước mặt tôi. Anh bị ai nhập rồi.
Hôm ấy là ngày thứ bảy. Tôi lại lái xe về Chinatown. Vẫn một chỗ ngồi trong xe để nhìn những con bồ câu rạp cánh trên công viên, những đứa bé nô đùa cùng những người đàn ông đang ngồi bu quanh bàn cờ tướng. Ngoài hàng rào sắt sơn đen là vài người đàn bà Tàu đang ngồi xem bói. Buổi chiều 30 tháng tư, tôi vẫn còn nhớ. Thì hai người cũ lại hiện ra, vẫn cái dáng đi hơi khom xuống đất, vẫn hai chiếc áo cũ màu xanh ô liu, trên vai là huy hiệu QÐ 4. Tôi bỏ xe chạy vào công viên, miệng lập cập nói: Thưa thiếu tướng, thưa chuẩn tướng. Tôi là sĩ quan báo chí của quân đoàn 4. Mắt tôi nhòa nhạt. Ông Tư Lệnh lặng yên nhìn tôi. Gương mặt ông vẫn còn trầm mặc như lúc ông ngồi trên trực thăng, nhìn xuống chiến trường, hay những lần ông ngồi yên lặng trên chiếc ghế bành trong dinh tỉnh trưởng bên chiếc dĩa đựng những trái bắp luộc.


Ông Tư lệnh phó nói:

- Ta nhớ chú em rồi. Ngày xưa chú em cũng đã từng bay chung với ta mà.

- Thưa chuẩn tướng, ở mặt trận Mộc Hóa Kiến Tường. Tôi cũng đã từng bay với Thiếu Tướng Tư Lệnh. Tôi nhớ buổi trưa Thiếu Tướng ghé dinh Tỉnh Trưởng ăn trưa với những trái bắp luộc... Thưa Thiếu Tướng, tôi nhớ chiếc trực thăng Mỹ bay cả buổi trên dinh Tư lệnh.


Bây giờ ông Tư lệnh mới nói:

- Viên lãnh sự Mỹ đã chờ ta. Ông ta dù sao cũng là người tốt. Ông không bỏ ta vào giờ phút cuối. Nhưng ta làm sao mà can đảm bỏ đi. Ta nhắc lại cho chú em. Con người phải sống cho đúng đạo làm người. Ta ở trong quân đội ta phải tuân phục quân đội, nghĩa là thượng cấp. Ta là tướng ta phải làm tròn bổn phận tướng. Ta là tín đồ ta phải làm tròn những điều răn dạy dành cho tín đồ.

- Buổi chiều cuối cùng, tôi thấy thiếu tướng lên xe về quân y viện Phan thanh Giản.

- Phải. Cả cuộc đời ta vui buồn với họ, chết sống với họ, làm sao ta quên được. Ta không biết sau khi ta bỏ họ đi, họ còn nơi nương tựa nữa không. Ta đã đến bên giường họ, họ đã nắm tay ta, khóc với ta. Họ không thể đi được. Nếu họ có thể đi, thì họ đã đi rồi. Chân họ bị cưa chưa lành. Bụng họ bị mổ, vết thương chưa khô. Có người bị mù cả hai mắt không nhận ra ta. Có người vừa nhìn ta vừa mếu máo. Nếu tôi biết Thiếu Tướng kêu gọi đầu hàng, tôi chẳng cần đánh giặc làm gì. Bao nhiêu điều ta gặp, ta nghe trong buổi chiều hôm ấy. Công lao và sự hy sinh của họ, và gia đình họ đã bị phản bội. Chú em không biết, khi trở lại văn phòng, ta nghe lời khẩn cầu của viên lãnh sự trên trực thăng:Chúng tôi chỉ còn 5 phút nữa là bay ra hạm đội. Ta và tướng Tư lệnh Phó nhìn nhau. Ta muốn chú Hưng đi. Chú Hưng muốn ta đi. Cuối cùng ta và tướng Hưng đi ra ngoài sân cờ.


Lần đầu tiên ông Tư Lệnh nói chuyện nhiều với tôi như thế. Tôi chợt nhìn chiếc áo lính cũ của ông. Chiếc áo sờn hai vai. Lưng áo thì vá chùm vá đụp. Nhưng tôi không dám nói lên ý định mua tặng ông một chiếc. Ðôi mắt ông vẫn còn sưng.

- Thiếu tướng, đôi mắt thiếu tướng...

- Ta hiểu điều chú em hỏi ta. Ta không thể nào không đau khổ khi nhớ đến cả một tập thể quân đội bị bội phản. Ta không thể nào không đau khi những người nguyên là cựu quân nhân trở về quê nhà, ung dung hưởng thụ trong khi đồng đội của họ, lính tráng của họ, người bị thương tật, người sống đầu đường xó chợ đang cần năm mười đô la. Bây giờ ta không nhà không cửa, bởi vì miền Nam mất, ta đâu còn nhà còn cửa. Chỉ tội những người như những thương binh ta thăm chiều ngày 30 tháng tư 75...


Ông Tư lệnh phó nói thêm:

- Ta có đọc bài chú em viết về ta. Chú em thắc mắc về chữ Bắn bỏ mà ta phê trên tờ công điện năm xưa phải không?

- Tôi có đọc tờ công điện và lời phê của chuẩn tướng.

- Chúng ta đã đi một nước cờ sai. Chúng ta vẫn tin tưởng mọi người chung một lòng một dạ với đất nước. Chú em hẳn biết trận An Lộc ghê gớm đến như vậy mà ta còn chịu nỗi huống gì quân khu 4, chưa thấy một bóng dáng xe tăng đại pháo của địch ở đâu. Ta không ngờ những người mà ta trông cậy nhất cũng bỏ chạy. Chẳng những họ chạy, họ lại còn gọi máy về đơn vị kêu gọi đồng đội họ tử thủ để họ bình yên chạy. Ta đã ra lệnh bắn bỏ nhưng cũng vô ích. Không thể thay đổi được thế cờ. Ta tiếc là tiếc cái vùng đồng bằng màu mỡ, cái quốc lộ bốn đến ngày cuối cùng vẫn yên tĩnh. Ta thương những người lính đã chiến đấu đến giờ phút cuối cùng. Ta biết họ giận chúng ta. Họ đã nằm xuống ngay vào giờ thứ 25. Có người còn hy sinh sau ngày 30 tháng 4 như Ðại Tá Hồ Ngọc Cẩn...


Bây giờ, ông tư lệnh phó cầm lấy vai tôi. Ông nhìn tôi bằng đôi mắt đầy vẻ uy quyền:

- Bây giờ ta và thiếu tướng phải đi. Chúng ta sẽ trở lại quê nhà, dù sao tình ở đó cũng ấm áp hơn tình xứ Mỹ này. Anh em ở bên đó rất đông, khiến chúng ta đở cô độc hơn. Chú em nhớ hứa đừng cho ai biết có ta và thiếu tướng ở Nữu Uớc này. Thôi chúng ta đi.


Tôi cúi đầu khóc như đứa con nít.

- Tôi xin hứa với thiếu tướng và chuẩn tướng.


...Bây giờ, Oanh đã chạy đến bên tôi. Nàng hớt hải:

- Anh làm gì mà như bị ma nhập. Em từ xa thấy anh cứ làm bộ tịch như thể nói chuyện với ai. Coi kìa, anh lại khóc. Có sao không anh? Coi chừng đất đai thổ thần linh hiển...

User avatar
tuyetlanh
Posts: 42
Joined: Thu Dec 02, 2004 5:06 am

Post by tuyetlanh »

Hồi ký của một Tùy Viên:
Những Giờ Sau Cùng Của Tướng Nguyễn Khoa Nam
Lê Ngọc Danh, cựu Trung úy QLVNCH

(Trích sách "Nguyễn Khoa Nam")


Ông Lê Ngọc Danh, cựu Trung úy QLVNCH, là Tùy viên Tư lệnh QÐIV-QK4 cho đến ngày 1 tháng 5 năm 1975. Ông là người đã trực tiếp chứng kiến cảnh cả hai vị tướng Nguyễn Khoa Nam và Lê Văn Hưng, Tư lệnh và Tư lệnh phó tự sát. Sau đây là chuyện ông kể trong "Hồi Ký Của Một Tuỳ Viên", trích từ sách "Nguyễn Khoa Nam". Sách được ra mắt vào lúc 1 giờ chiều thứ bẩy 28 tháng Tư 2001 tại Hội Quán Little Saigon Radio.

Tháng 4 năm 1975

Tình hình chung vào tháng 3 năm 1975 rất căng thẳng. Vùng 1, vùng 2 đang đánh lớn còn Vùng 3 và 4 vẫn còn nguyên vẹn. Tư lệnh đi họp liên tục ở Tổng Tham Mưu, ở dinh Ðộc Lập gặp Tổng thống, lúc ở dinh phó Tổng thống. Thời gian còn lại, Tư lệnh thường đến các Tiểu khu và Sư đoàn nhưng đến nhiều nhất là tiểu khu Long An, Ðịnh Tường, Kiến Tường và Châu Ðốc. Vào đầu tháng 4, VC tấn công mạnh, nhằm vào quốc lộ 4 thuộc hai tiểu khu Ðịnh Tường và Long An. Sư Ðoàn 7 Bộ Binh chịu trách nhiệm khu vực tiểu khu Ðịnh Tường còn Sư Ðoàn 22 Bộ Binh rút từ Vùng 2 về chịu trách nhiệm khu vực tiểu khu Long An. Vào buổi trưa Tư lệnh đến tiểu khu Long An để biết tình hình địch, VC đã pháo rớt một quả hỏa tiển 122 ly trên giữa cầu Long An nhưng không gây thiệt hại gì. Ðịch càng ngày càng tấn công mạnh vào quốc lộ 4, Tư lệnh ngày đêm đến các đơn vị hay gọi điện thoại khích lệ tinh thần chiến đấu, không để mất vị trí hay bỏ chạy nên VC không chiếm được một vị trí nào cả.

Có một đêm, địch pháo kích trên 10 hỏa tiển 122 ly vào thành phố Cần Thơ, mục tiêu chính là Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn IV và tư dinh Tư lệnh. Vị trí pháo hướng đông chi khu Bình Minh thuộc tiểu khu Vĩnh Long, bay qua dinh Tư lệnh rớt bên xóm nhà đèn cách dinh độ 300 thước, kết quả tổn thất nhẹ về phía dân chúng.

Tình hình càng ngày càng căng thẳng, dân chúng di tản bằng tàu thủy hay máy bay có nhiều chuyến chở về Quân đoàn IV đổ dân xuống vùng Tri Tôn, Sa Ðéc. Trong lúc này, Tư lệnh rối bời lớp lo phòng thủ, lớp lo thăm viếng an ủi dân đã di tản từ vùng ngoại ô. Thiếu tướng ra lệnh các Tiểu khu ra sức cứu trợ nạn nhân chiến cuộc. Tư lệnh chỉ thị các đơn vị sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Quân đoàn IV và nhất là giữ quốc lộ 4 đừng dd" VC cắt đứt. Tư lệnh đặc biệt đến thăm tiểu khu Châu Ðốc, đi bộ thăm vòng đai phòng thủ quy mô của tiểu khu. Những ngày kế tiếp họp liên tục với các Tiểu khu và Sư đoàn. Trong lúc tình hình hỗn loạn, nhiều máy bay trực thăng từ hướng Sài Gòn lũ lược bay về phi trường Trà Nóc và một số bay ra hướng Phú Quốc.

Sáng ngày 24 tháng 4, Tư lệnh đi họp ở bộ Tổng Tham Mưu, nội dung tôi không rõ. Sáng 25 tháng 4, họp ở tiểu khu Ðịnh Tường, có tướng Trường tham dự. Ngày 27 tháng 4, Tư lệnh ra lệnh giới nghiêm, các đơn vị ở thế sẵn sàng chiến đấu, không được rời vị trí. Sáng 28 tháng 4, cố vấn Mỹ có đến văn phòng Tư lệnh để nói chuyện, nội dung tôi không rõ. Ngày 29, Tư lệnh vẫn đi bay, buổi chiều 29 về họp với tướng Mạch Văn Trường ở Bộ Tư lệnh Sư đoàn 21 Bộ binh ở gần phi trường Trà Nóc. Trên đường về, tôi thấy dân chúng lao sao, nhớn nhác chạy lung tung đi lượm đồ của tòa Tổng Lãnh Sự Mỹ rút đi bỏ lại, giấy liệng đầy mặt đại lộ Hòa Bình, quần áo, lon, ly, đồ hộp lon bia vất tứ tung.

Áp lực địch vẫn nặng ở quốc lộ 4, Tiểu khu trưởng Tiểu khu Long An xin gặp Tư lệnh báo cáo tình hình nguy ngập và xin giật sập cầu Long An. Tư lệnh không cho và ra lệnh các đơn vị tiếp tục phòng thủ. Tư lệnh viết Nhật Lệnh đưa thiếu tá Ðức, Chánh văn phòng chuyển đến phòng Chiến tranh Chính trị để đọc trên đài Phát thanh và Truyền hình để trấn an dân chúng và anh em binh sĩ. Vào buổi chiều, tôi thấy được hình Tư lệnh và kèm theo là Nhật lệnh, nội dung ngắn gọn trấn an dân chúng không được bạo động còn việc tử thủ không được đọc trên đài truyền hình. Sau khi thấy đọc, Tư lệnh buồn buồn chấp tay về phía sau đi tới đi lui trong phòng làm việc ở Bộ Tư lệnh. Sau đó, tướng Hưng, Tư lệnh phó vào gặp Tư lệnh (Nội dung cuộc nói chuyện tôi không rỏ). Về sau, tôi được biết nội dung bản Thông cáo đã bị sửa lại, không chính xác như lời Tư lệnh đã viết.

Ðêm 29, VC tấn công mạnh ở phi trường thuộc tiểu khu Vỉnh Bình. Ðịch đã nhiều lần đánh rát vào phi trường nhưng bị đẩy lui và thiệt hại nặng. Tư lệnh bảo tôi gọi Trung tá Sơn, tiểu khu trưởng tiểu khu Vỉnh Bình để ông nói chuyện. Trong lúc VC tấn công mạnh vào phi trường, tiểu khu xin máy bay yểm trợ nhưng không có máy bay.

Sáng sớm 30 tháng 4, Tư lệnh bay xuống họp ở tiểu khu Ðịnh Tường. Cuộc họp nhanh và xong bay về Cần Thơ. Trở lại Quân đoàn, nói rõ về phòng làm việc của Tư lệnh, phòng làm việc chia hai tầng. Tầng trên có sẵn từ trước, thêm tầng dưới là hầm dưới chân phòng làm việc chính thức. Ở hầm này, rộng và cao, thiết trí giống như phòng làm việc ở tầng trên, có lối đi xuống từ văn phòng Tư lệnh. Hầm làm việc này mới được xây lúc Vùng 1 và 2 đang xảy ra việc đánh lớn.

Tình hình sáng 30 tháng 4 rất vắng vẻ, dân chúng thưa thớt đi lại, xe cộ hạn chế. Về tinh thần binh sĩ vẫn hăng say chiến đấu, các đơn vị không nơi nào bỏ vị trí, không nơi nào bị địch chiếm đóng mặc dù địch tăng cường những cuộc tấn công mạnh.

Vào 10 giờ sáng, tôi được báo cáo là Thiếu tá Chánh văn phòng rời văn phòng bỏ đi cùng với đại tá Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Tiểu khu Phong Dinh cùng một số sĩ quan, lộ trình sông Hậu ra biển. Tôi vội xuống hầm, nơi làm việc mới của Tư lệnh, tôi thấy Tư lệnh đang ngồi và viết ở bàn làm việc. Tư lệnh thấy tôi theo thường lệ kéo lệch cặp mắt kiếng xuống và hỏi:

- Có gì không?

-Trình Thiếu tướng, thiếu tá Chánh văn phòng và đại tá Tỉnh trưởng Phong Dinh đã bỏ đi cùng với một số sĩ quan bằng tàu theo sông Hậu."

Tư lệnh điềm nhiên không giậnvà nói:

- Ði hả! Ði làm chi vậy.

Nói xong, Tư lệnh tiếp tục xem giấy tờ, thái độ trầm tỉnh không la không buồn. Tôi bước lên cầu thang về phòng làm việc của mình, lúc này tôi mở radio 24/24 đi theo dõi tình hình ở Sài Gòn.

Tư lệnh bấm chuông gọi tôi vào và bảo:

- Gọi đại tá Thiên gặp tôi.

- Dạ.

Ðại tá Thiên mới nhận chức vụ Tiểu khu trưởng Tiểu khu Phong Dinh kể từ sáng ngày 30 tháng 4.

Bất chợt, tiếng của tổng thống Dương Văn Minh vang lên trên đài phát thanh. Ông tuyên bố đầu hàng vô điều kiện với VC và nói:

- Tất cả các đơn vị trưởng và anh em binh sĩ ở yên tại chỗ, bàn giao vị trí cho Chính Phủ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.

Tôi vội xô cửa vào phòng làm việc của Tư lệnh và nói:

- Tổng thống Dương Văn Minh đã .....

Tôi nói chưa hết câu, Tư lệnh nhỏ nhẹ cắt ngang lời tôi:

- Qua đã nghe rồi.

Tôi lặng người chầm chậm bước ra. Trong lúc này, nhiều lần Tư lệnh phó liên tục đi vào cửa chánh gặp Tư lệnh. Qua điện thoại, Ðại tá Tiểu khu trưởng Tiểu khu Long An xin gặp gấp Tư lệnh, lần thứ hai, Ðại tá xin giật sập cầu Long An để cắt đường VC chuyển về Vùng 4. Tư lệnh bảo tôi chuyển lời, cầu để yên không được phá sập.

Trưa 30 tháng 4, sau khi đi ăn cơm trưa ở câu lạc bộ Cửu Long về, Tư lệnh đi thẳng vào phòng làm việc. Qua lỗ kiếng nhỏ thông qua phòng làm việc, tôi thấy Tư lệnh đang soạn một số giấy tờ để trên bàn. Tư lệnh nhìn từ trang một, rồi từ từ xé bỏ vào sọt rác. Khoảng 2 giờ chiều, Tư lệnh xuống phòng làm việc dưới hầm. Tôi không biết Tư lệnh làm gì bởi vì phòng làm việc này không có nơi nhìn thấy Tư lệnh được. Tư lệnh bấm loa gọi tôi:

- Danh xuống đây tôi bảo.

Tôi vào phòng trên đi theo cầu thang xuống gặp Tư lệnh. Ông đang ngồi ở sofa nhìn về hướng bản đồ Vùng 4, thấy tôi đến Tư lệnh nói:

- Danh tháo bỏ những ranh giới, những mủi tên trên bản đồ ." (Những đường ranh và những mũi tên làm bằng những băng keo màu xanh đỏ). Tôi từ từ tháo bỏ, nhìn tổng quát, tôi thấy bản đồ chia ra từng ô nhỏ, những mũi tên xanh đỏ châu đầu vào nhau, những răng bừa màu xanh với những mủi tên đỏ chĩa vào (Có thể đây là bản đồ về Hành Quân Mật theo như tin đồn). Tôi tháo gỡ tất cả những băng keo bỏ vào sọt rát, tháo xong tôi nói:

- Trình Thiếu tướng, em đã tháo xong.

- Ðược rồi.

Tư lệnh buồn buồn theo cầu thang lên phòng làm việc tầng trên, tôi chầm chậm bước theo Tư lệnh và ra phòng làm việc của tôi. Ðộ 10 phút sau, Tư lệnh bấm loa gọi tiếp:

- Danh vào tôi bảo.

- Dạ.

Tôi xô cửa đi nhanh vào, Tư lệnh nhìn tôi nói:

- Tháo bỏ những vị trí trên bản đồ này.

- Dạ.

Tôi đang lúi húi tháo và liếc nhìn, tôi thấy Tư lệnh chấp tay về phía sau chầm chậm đi tới, đi lui. Tôi tháo xong:

- Trình Thiếu tướng, em đãtháo xong.

Nói về phòng làm việc của Tư lệnh, trước khi vào phải qua ba vọng gác: Từ ngoài vào, vọng gác 1 ngoài đầu đường trước khi vào phòng chờ đợi. Vọng gác 2 ngay phòng chờ đợi sát cổng Bộ Tư lệnh. Vọng gác 3 lên tam cấp trước cửa vào phòng làm việc của Tư lệnh.

Vào khoảng 4 giờ chiều, Quân cảnh ở phòng chờ đợi (Vọng gác 2) lên gặp tôi nói:

- Có hai ông VC mặc đồ thường phục, trên dưới 50 tuổi xin vào gặp Tư lệnh. Tôi nói:

- Anh bảo họ chờ một chút để tôi trình Tư lệnh."

Tôi gõ cửa vào gặp Tư lệnh và nói:

- Trình Thiếu tướng, có hai VC mặc thường phục xin vào gặp Thiếu tướng.

- Ðược, mời họ vào.

Tôi xuống phòng khách gặp hai VC, tôi thấy hai người đang chờ ở đây, một người cao ốm nước da trắng, tóc hoa râm độ trên 50 tuổi, ăn mặc thường phục giống như thầy giáo, một người hơi thấp, nước da ngâm đen cũng mặc thường phục, họ đi tay không, không mang giấy tờ và vũ khí. Tôi hướng dẫn hai người này lên bậc tam cấp vào phòng làm việc của Tư lệnh. Tư lệnh chào hỏi và mời ngồi sofa, tôi bước nhanh ra phòng làm việc gọi người hạ sĩ quan mang trà vào. Tôi mang vội khẩu súng colt và lấy khẩu AR15 lên đạn và bước nhanh vào phòng làm việc Tư lệnh. Tôi đứng sau hai ông VC này với tư thế sẵn sàng cách khoảng 4 thước, tôi sợ hai ông này ám sát Tư lệnh, tay súng sẵn sàng nếu hai ông này có hành vi lạ là tôi nổ súng bắn liền. Tư lệnh ngồi đối diện với họ, đang nói chuyện rất nhỏ tôi không nghe được. Bất chợt Tư lệnh ngước lên, nhìn tôi và bảo:

- Danh đi ra ngoài đi tôi nói chuyện.

Tôi ấp úng trả lời:

- Dạ ... em ở đây với Thiếu tướng.

- Ðược rồi không sao đâu! Em ra ngoài đi.

- Dạ

Tôi ra lại phòng làm việc, súng vẫn thế thủ, mắt nhìn về hướng theo kẻ hở của cánh cửa đang hé mở. Tôi thấy Tư lệnh với họ vừa uống trà vừa nói chuyện. Cuộc nói chuyện kéo dài trên 10 phút. Tư lệnh và hai người chỉ nói chuyện không đưa ra sổ sách hay giấy tờ gì cả. Hai người đứng dậy giả từ. Tư lệnh bắt tay, rồi hai người theo cửa trước xuống bậc tam cấp ra về.

Tư lệnh ngồi buồn, kế đứng dậy đi tới đi lui như lúc trước, thời gian này rất căng thẳng và ngộp thở. Tôi suy nghĩ lung tung, nếu VC chiếm được Vùng 4 thì Tư lệnh sẽ ra sao? Tại sao Tư lệnh vẫn bình thản như không có chuyện gì xảy ra, bây giờ còn đi ngoại quốc được không? Còn máy bay không? Hay là Thiếu tướng có người thân phía bên kia? Những câu tự hỏi đã vây chặt trong tôi.

Bất chợt tiếng la ó vang dậy ở ngoài đường. Ðoàn người rất đông chạy ngang qua cửa Bộ Tư Lệnh, chạy dài xuống cầu Cái Khế. Họ vừa chạy vừa la hét vui mừng, thì ra đó là những người tù vừa được thoát trại giam, tôi thò đầu ra cửa sổ nhìn ra ngoài đường, tôi thấy bọn tù trên dưới 50 người, quần áo xốc xếch, có người mặc quần cụt, có người cởi trần vừa chạy vừa nhảy lên vừa reo hò vui vẻ nhưng họ không phá phách.

Khoảng 6 giờ chiều, điện thoại có tiếng lạ. Thông thường khi có chuông reo, tôi thường nói: Tôi trung úy Danh, tùy viên Tư lệnh, xin lổi ai đầu dây? Ở đầu dây xưng cấp bậc tên họ chức vụ rồi nói nhu cầu. Ðàng này sau khi tôi nói, bên kia đầu dây đáp:

- A lô ai đó? A lô ai đó?

Và tiếng lạ tôi không quen thuộc, tôi gác máy không trả lời. Còn đường dây Hotline trực tiếp của Tư lệnh tôi không rõ. Như vậy VC đã vào đường dây điện thoại. Trong lúc rối rắm, tôi qua phòng Tư lệnh phó gặp trung úy Nghĩa, tùy viên Tư lệnh phó. Lúc gặp anh Nghĩa, tôi nói tình trạng điện thoại đã bị VC chiếm và tôi đã nghe có tiếng lạ. Tôi đề nghị, nếu Tư lệnh và Tư lệnh phó muốn nói chuyện với nhau mình phải dùng máy PRC25, đồng thời tôi viết một loạt tần số để xử dụng máy PRC25 và đánh số thứ tự A, B, C, D ... để Tư lệnh nói chuyện kín hơn.

Khoảng 6 giờ rưỡi, Tư lệnh sữa soạn về tư dinh, Thiếu tướng nói với tôi:

- Danh chuẩn bị xe đi thăm bệnh viện Phan Thanh Giản.

- Dạ.

Xe chở Tư lệnh từ văn phòng đi thẳng vào bệnh viện. Tư lệnh đến từng giường hỏi thăm thương binh, kẻ nằm người ngồi, băng tay băng đầu, có người mất một chân, chân còn lại quấn dây băng treo lên trên giá. Tư lệnh đến bên thương binh này hỏi:

- Em tên gì?

- Dạ em tên ...

- Em ở đơn vị nào? Có khỏe không?

- Dạ khỏe, em là Ðịa phương quân ở tiểu khu Vỉnh Bình.

Tư lệnh nói tiếp:

- Em nằm nghỉ dưỡng bệnh.

Tư lệnh đi từ đầu phòng đến cuối phòng hỏi thăm từng bệnh nhân, rồi Tư lệnh đi qua dãy kế bên và tiếp tục hơn một giờ buồn tẻ và nặng nề chầm chậm trôi quạ Gần giường một thương binh, anh cụt hai chân, vải băng trắng xóa, máu còn rịn ra lóm đóm đỏ cuối phần chân đã mất. Tư lệnh đứng sát bên và hỏi:

- Vết thương của em đã lành chưa?

- Thưa Thiếu tướng, vết thương mới mấy ngày còn ra máu chưa lành.

Với nét mặt buồn buồn, Tư lệnh nhíu mày lại làm cặp mắt kiếng đen lay động. Tư lệnh chưa kịp nói, anh thương binh này bất chợt chụp tay Tư lệnh mếu máo:

- Thiếu tướng đừng bỏ tụi em nhe Thiếu tướng.

- Qua không bỏ các em đâu! Qua ở lại với các em.

Qua ánh đèn của bệnh viện, tôi thấy Tư lệnh đưa tay nâng sửa cặp mắt kính đen và hai giọt nước mắt từ từ chảy lăn dài trên khuôn mặt đau thương. Tư lệnh nén đau thương, người đã khóc, khóc không thành tiếng và những giọt nước mắt tự nhiên tuôn trào. Tư lệnh vịn vai người thương binh nói trong nghẹn ngào:

- Em cố gắng điều trị .... có qua ở đây.

Tư lệnh bước hơi nhanh ra cửa bệnh viện, ra sân Tư lệnh dừng lại quay mắt nhìn lại bệnh viện. Tư lệnh đứng yên bất động khoảng một phút rồi bước vội ra xe không nói gì cả, sự im lặng quá nặng nề, suốt trên đường về tư dinh, Tư lệnh không nói một lời nào.

Về đến tư dinh, tôi thấy Quân cảnh vẫn còn gác ở cổng, tôi đi một vòng xung quanh, những vọng gác vẫn còn người gác, tuy nhiên tôi thấy ít lính đi tới đi lui như mọi hôm, có lẻ họ đã bỏ đi bớt. Sau khi cất khẩu Colt đeo trên người, tôi xuống nhà bếp gặp trung sĩ Ngộ quản gia xem hôm nay anh nấu món gì vì hôm nay thăm bệnh viện về trễ. Gặp anh Ngộ, tôi nói:

- Anh Ngộ bắt một con gà làm và luộc để Thiếu tướng dùng."

- Dạ con gà nào Trung úy?

- Ðàn gà nòi Thiếu tướng nuôi anh chọn một con.

Lúc này trên 8 giờ tối, phía Cồn Cát cách một con sông phía sau dinh, thỉnh thoảng VC bắn bổng những loạt AK đạn lửa bay đỏ xé màn đêm đen ngịt, càng lúc VC bắn càng nhiều. Con gà, anh Ngộ làm và nấu xong, đích thân tôi ra sau trailer mời Thiếu tướng vào ăn cơm. Tư lệnh ngồi vào bàn ăn và nói:

- Danh ngồi ăn cơm cho vui.

Ði các đơn vị hay tiểu khu, tôi ăn cơm chung với Tư lệnh, còn ở dinh Tư lệnh thường ăn cơm một mình, vừa ăn cơm vừa xem truyền hình rất lâu. Hôm nay, lần đầu tiên Tư lệnh gọi tôi ăn cơm chung ở dinh, tôi thấy có điều gì, hơn nữa sự việc xảy ra tùm lum bụng dạ đâu mà ăn với uống. Tư lệnh thấy thịt gà xé nhỏ, còn nước luộc gà làm canh, Tư lệnh hỏi:

- Thịt gà đâu vậy?

Tôi gượng cười nói:

- Dạ mấy con gà Thiếu tướng nuôi ở sau, em bảo anh Ngộ làm một con đểThiếu tướng dùng.

- Làm thịt chi vậy, ăn như vậy được rồi. Thôi ăn để nguội.

Tư lệnh không ăn cơm, chỉ dùng vài muỗng canh, vài miếng thịt gà. Còn tôi thì no hơi, ăn hết vô, qua loa vài miếng vội buông đũa và nói:

- Dạ em ăn xong, Thiếu tướng dùng tiếp.

Thiếu tướng nói:

- Ăn tiếp, sao Danh ăn ít vậy, thịt còn nhiều.

Vừa nói, Tư lệnh gắp bỏ cho tôi một miếng thịt xé phay dài. Trời! Ăn gì nổi, bình thường ăn thấy ngon bây giờ ăn thịt gà cũng như ăn cây mục, miệng đắng nghét, tôi cố gắng nuốt trôi hết miếng thịt này, xong xin phép Thiếu tướng ra phòng làm việc. Nhìn qua cửa sổ, tôi thấy vắng lạnh, một sự vắng vẻ đáng sợ, một số anh em quân nhân đã bỏ đi, số còn lại một vài người đã mặc thường phục, một số vẫn còn mặc đồ lính. Còn hướng phòng trung úy Hỉ, sĩ quan bảo vệ cũng vắng ngắt, chắc có lẻ anh đã bỏ đi (nhà trung úy Hỉ ở gần phi trường Trà Nóc). Còn trung úy Việt cùng vợ 2 con vẫn còn ở lại nhà cạnh bờ sông. Việt và tôi gặp nhau chỉ biết lắc đầu, rồi Tư lệnh đến bàn làm việc của tôi nói:

- Có liên lạc với tướng Hưng không hè?

- Dạ điện thoại bị mất liên lạc, có tiếng lạ em không dám gọi. Tôi nói tiếp:

- Dạ, Thiếu tướng muốn nói chuyện với Tư lệnh phó?

- Qua muốn nói chuyện.

Tôi nói với Tư lệnh:

- Vào lúc 5 giờ chiều, hệ thống điện thoại có tiếng lạ, em có cho anh Nghĩa, tùy viên Tư lệnh phó một số tần số PRC25 để lúc cần Thiếu tướng nói chuyện, nhưng bây giờ em không liên lạc được.

Tôi nói tiếp:

- Ðể em đi lại dinh Tư lệnh phó nói mở máy PRC25 để Thiếu tướng nói chuyện.

Tư lệnh làm thinh, tôi bảo anh Thông tài xế lấy xe jeep chở đi từ tư dinh đến dinh Tư lệnh phó đối diện dinh Tỉnh trưởng Phong Dinh. Sắp sửa rẽphải vào dinh Tư lệnh phó thì thấy phía bên trái trước dinh tỉnh trưởng có một VC với khẩu AK ở tư thế sẵn sàng, để súng cạnh sườn, mủi súng chỉa lên trời. Anh Thông tài xế kêu tôi và chỉ:

- VC đã vô tới rồi.

Tôi bảo tài xế:

- Quay trở lại đi không ổn rồi.

Tài xế lái nhanh về dinh Tư lệnh và đóng cửa dinh lại. Tôi xuống xe bảo các anh em còn lại kéo khoảng 4-5 vòng kẻm gai rào chặn từ cổng vào hướng cột cờ, rào xong tôi vào trailer báo Tư lệnh:

- Trình Tư lệnh, VC đã vào đến dinh Tỉnh trưởng. Em thấy có một VC cầm súng AK ở trước dinh Tỉnh trưởng.

Tư lệnh làm thinh không nói gì cả, khoảng hai phút sau, tôi nói với Thiếu tướng:

- Em đi lần nữa, đểThiếu tướng nói chuyện với Tư lệnh phó. Tư lệnh nhỏ nhẹ nói:

- Thôi đừng đi coi chừng nó bắt.

- Dạ không sao!

Nói xong, tôi cởi bỏ áo lính, vẫn mặc quần lính mang giày với áo thun vội ra sân gọi anh tài xế:

- Anh Thông đâu đến tôi nhờ một chút.

Tôi la lên, không một tiếng trả lời. Anh Ngộ quản gia nói:

- Em vừa thấy anh Thông ra cổng. Anh đã bỏ đi rồi.

Bất chợt có một anh (tôi quên cấp bậc và tên):

- Trung úy cần gì em giúp.

- Anh muốn đến dinh Tư lệnh phó.

- Ðược rồi để em đưa ông thầy đi.

Anh lính lấy chiếc Honda màu đỏ chạy đến và nói:

- Ði Honda tiện hơn Trung úy.

Rồi anh chở tôi về hướng dinh Tư lệnh phó, rẻ vào dinh anh đậu cách đây khoảng 10 mét bên lề đường.

Dinh Tư lệnh phó, trước và sau có cổng ra vào bằng cửa sắt, xung quanh xây tường cao độ 2 mét. Cửa trước đối diện với dinh Tỉnh trưởng, cửa sau quay ra mặt đường. Cửa trước và sau đều đóng và khóa chặt, từ cửa trước nhìn vào tôi đi sát hông tường bên phải, có một cây ổi mọc từ phía trong xòe nhánh phủ ra bên ngoài. Trong dinh im lặng không một tiếng động, tôi gọi lớn:

- Nghĩa ơi Nghĩa, Phúc ơi Phúc, tao là Danh.

Tôi gọi 4, 5 lần nhưng vẫn thấy im lặng không có tiếng trả lời.

Tôi linh cảm không ổn, tôi gọi tiếp và quay lại định trở về, tôi thầm nói không lẻ mình bỏ cuộc. Tôi nói qua với anh lính đậu bên kia đường:

- Anh ráng chờ tôi một chút.

Bất chợt có tiếng nổ đùng, có tiếng xôn xao, tiếp theo tiếng khóc. Tôi chạy lại vách tường có nhánh cây ổi xòe ra, tôi quyết định đu nhánh ổi này nhảy vào, tay phải níu nhánh ổi, tay trái vịn vào vách tường miệng liên tục la lớn:

- Tôi trung úy Danh đừng bắn, tôi trung úy Danh đừng bắn. Miệng la tay níu kéo leo vào, tôi lên được đỉnh tường theo đà cây ổi tuột xuống đất. Gặp tôi, anh Nghĩa vừa nói vừa khóc:

- Chuẩn tướng tự sát chết rồi Danh.

- Lúc nào?

- Mới đây, chắc có lẽ hồi nảy Danh nghe tiếng súng nổ.

Anh nói tiếp:

- Chuẩn tướng đang ăn cơm, nghe tiếng động, ông bỏ bàn ăn đứng dậy, bà Tướng chạy theo ông ngăn lại. Tư lệnh phó vào đóng cửa lại và bắn vào ngực tự sát.

Tôi đến cửa, thấy cửa phòng hé mở, tôi xô nhẹ cánh cửa bước vào, tôi thấy tướng Hưng nằm bất động trên giường, bà Hưng đang ôm chầm Tư lệnh phó khóc, còn hai đứa con nhỏ đứng kế bên vô tư lự như không có gì xảy ra, kế bên những anh lính đang sụt sùi khóc. Tôi quay ra nói với anh Nghĩa:

- Thôi Danh đi về.

Tôi không nói anh Nghĩa mở tần số máy PRC25 gì nữa, chuẩn tướng đã chết rồi. Tôi tình hình rối ren, bận rộn, tôi không nhờ mở cửa, tôi trèo cây ổi lên đầu tường rồi nhảy ra ngoài. Xuống đến mặt đất, tôi suy nghĩ lung tung: Tại sao Tư lệnh phó tự sát? Nếu Tư lệnh hay được thì ra sao? Hay là lúc tôi la to gọi anh Nghĩa, Phúc, ở đây tưởng VC vào tới nên Chuẩn tướng tự sát hay là ... tôi vừa suy nghĩ vừa cúi đầu bước đi đến anh lính đậu xe Honda lúc nãy. Trời! xe và người biến đâu mất, tôi đảo mắt nhìn quanh vẫn không thấy, chắc anh bỏ đi rồi, tôi không trách anh, anh đã giúp tôi như vậy cũng đủ lắm rồi. Tôi lội bộ từ đây cặp theo lộ Hòa Bình đi thẳng về dinh, trên đường phố vắng hoe không một bóng người lai vãng, chỉ có những mảnh giấy vụn vất bừa bải đầy đường, thỉnh thoảng bay tứ tung theo cơn gió (giấy tờ của tòa Tổng Lãnh Sự Mỹ dân hôi của vất ra đường từ hôm trước).

Tôi đi bộ mất trên 15 phút về đến dinh, anh lính vẹt từng vòng kẽm gai tôi đi vào rồi kéo lại vị trí củ. Tôi đi nhanh về phía sau vào trailer để trình Tư lệnh sự việc đã xảy ra, vừa thấy Tư lệnh tôi vội vả nói:

- Trình Thiếu tướng em đến dinh Tư lệnh phó, đến nơi ông vừa tự sát chết, Tư lệnh phó đã bắn vào ngực.

- Tướng Hưng chết hả? Chết làm chi?

Tư lệnh chỉ nói vậy. Tôi trở ra về nơi làm việc, ngồi trên sofa suy nghĩ liên miên. Tư lệnh phó đã tự sát, chắc Tư lệnh sẽ tự sát theo.Tôi xuống nhà gặp trung úy Việt và nói Tư lệnh phó đã tự sát còn Thiếu tướng không biết thế nào? Hai đứa tôi không tìm ra câu trả lời.

Lúc này khoảng 11 giờ đêm, cứ khoảng 15 hay 20 phút tôi vào trailer một lần. Mổi lần vào liếc nhìn, tôi thấy Tư lệnh nằm nghỉ nhưng giày vẫn còn mang. Lần khác vào, Tư lệnh ngồi dậy đi về hướng tôi và hỏi:

- Có gì không?

- Em vào xem Thiếu tướng có sai bảo gì không?

Tư lệnh nói:

- Sao em không đi ngủ đi! khuya rồi.

Tôi nhỏ nhẹ nói:

- Trình Thiếu tướng, nếu VC vào dinh tụi em đánh không Thiếu tướng?

- Thôi đừng đánh nhau, họ vào để tôi ra nói chuyện.

Tôi rời trailer đi ra ngoài. Khoảng 10 phút sau, Tư lệnh ra phòng làm việc tôi đưa một gói hình chữ nhật dài độ 2 tấc, rộng 1 tấc, dầy 5 phân và nói:

- Danh cất tiền này dành để xài. (Có thể đây là tiền lương của Thiếu tướng không dùng đểdành).

Xong Tư lệnh đi vào trailer, tôi hé mở gói này, bên trong toàn bạc 500, tôi đoán chừng trên 400 ngàn đồng và tôi để vào ngăn kéo nơi bàn làm việc. Tôi tiếp tục rón rén vào trailer để quan sát, tôi sợ Tư lệnh tự sát.

Khoảng 12 giờ 30 khuya, Tư lệnh ra gặp tôi nói:

- Sao Danh không đi ngủ? Thức cả đêm à?

- Dạ em ngủ không được.

Tư lệnh móc từ trong túi ra một khẩu súng nhỏ, ngắn hơn gang tay và nói:

- Danh cất khẩu súng này dành để hộ thân.

Tôi nhận khẩu súng bỏ vào ngăn kéo chung với gói tiền lúc nảy. Tôi xuống nói chuyện với anh Việt và anh Ngộ, Thiếu tướng đã cho tôi súng, không hiểu Tư lệnh có ý định gì?

Khoảng sau 1 giờ sáng, anh lính hơ hải chạy vào gặp tôi:

- VC tự động mở cửa vào dinh.

- Anh bảo họ chờ tôi một chút.

Tôi vội vả vào trailer để gặp Tư lệnh, tôi thấy Tư lệnh nằm nghĩ. Tôi trình:

- Trình Thiếu tướng, bọn VC đang vào dinh.

- Bảo họ chờ tôi ra nói chuyện.

Tôi đi nhanh ra trước cổng dinh, lúc bấy giờ tôi vẫn mặc áo thun, quần lính, mang giày. Gần đến cổng dinh, tôi thấy lố nhố 6, 7 người đang vẹt kẻm gai đi vào hướng cửa dinh. Ðến gần, tôi thấy 4 nam, 1 nữ có vấn đầu tóc lũng lẵng phía sau ót và một em bé độ 10 tuổi. Nam trang bị 1 khẩu AK, một người mang khẩu Carbin, một người mang súng lục (súng loại cảnh sát xử dụng) số còn lại tay không, không mang giấy tờ hay máy móc gì cả. Nhóm người này tuổi dưới 40, đến vòng kẻm gai thứ ba từ ngoài vào, còn hai vòng nửa từ cửa dinh ra, tôi vẹt kẻm gai và gặp họ tại đây.ột người trong nhóm quay qua hỏi tôi:

- Anh làm gì ở đây?

Tôi nói:

- Tôi làm quản gia.

Tôi nói trớ, không dám nói là tùy viên sợ bọn chúng bắn. Người mang khẩu AK hỏi tiếp:

- Anh cấp bậc gì?

- Tôi Trung sĩ.

Bất chợt người mang AK lên đạn đưa mủi súng vào phía sườn tôi và nói:

- Ði.

Tôi lúc bấy giờ hồn phi phách tán, chết là cái chắc. Trong nhóm có người nói:

- Ở đây nó làm lớn không hà, tính nó đi.

Bọn chúng từ từ hướng vào cửa dinh, đến gần cột cờ, đứa trẻ con ôm chầm lấy khẩu súng đồng thời Pháp, súng đặt dưới chân cột cờ để làm kiểng, đứa trẻ reo lên:

Súng ngộ và đẹp quá.

Chị bới tóc tiếp theo:

- Nhờ có dịp này mới được vào dinh Tướng.

Tôi nghe và thấy những việc trên cỏi lòng xe lại. Bất chợt, nhóm người này dừng lại, người mang khẩu AK hất mặt ra dấu tôi đi qua hướng nhà bếp, ngang qua phòng ngủ của tôi. Chết rồi, chắc bọn chúng bắn mình ở đây, tôi chầm chậm bước đi, đầu ngoái lại cửa vô dinh. Tôi thấy Tư lệnh bước ra, đẩy nhẹ cánh cửa (cửa luới chắn ruồi trước khi vào phòng làm việc). Bọn người này bảo tôi dừng lại, ba người bước vào phòng (một người tay không, một người mang khẩu P-38, một người mang khẩu Carbin). Số còn lại lảng vảng phía ngoài, người mang AK vẫn hướng súng về phía tôi. Khoảnh khact, trung sĩ Ngộ từ phòng Thiếu tướng đang nói chuyện với VC chạy đến tôi nói:

- Thiếu tướng bảo Trung úy lấy thuốc lá hút.

Có cớ vào gặp Tư lệnh, người mang AK bỏ thỏng súng xuống, tôi lặng lẽ bước đi, nhưng sợ hãi nó đàng sau bắn tới. Vô sự thế là thoát nạn, vào phòng tôi mở ngăn tủ lấy gói thuốc Capstan đầu lọc mời Thiếu tướng một điếu, 3 người mổi người một điếu (Tư lệnh hút thuốc 3 số 555 nhưng thỉnh thoảng hút thuốc Capstan đầu lọc). Tôi thấy Tư lệnh ngồi trên sofa băng dài, người tay không ngồi trên ghế nhỏ đối diện Tư lệnh, người mang khẩu P-38 ngồi dưới sàn nhà, tay cầm khẩu súng để trên đầu gối mủi súng hướng về phía Tư lệnh, còn người mang khẩu carbin đứng ngay cửa phòng tư thế tác chiến.

Xong nhiệm vụ tôi bước ra ngoài, người mang AK vẫn ở thế tác chiến nhưng không để ý đến tôi nữa. Trên dưới mười phút nói chuyện, nhóm người này rời dinh ra về, tôi vào phòng thấy Tư lệnh vừa đứng dậy bước ra ngoài với khuôn mặt buồn buồn, nhìn trên sofa tôi thấy điếu thuốc của Thiếu tướng còn cháy dở dang, mới 1/3 điếu nằm trên sofa bốc khói làm lủng một lổ nhỏ, tôi lấy vất đi. Cuộc nói chuyện này chỉ đơn phương, không có viết giấy tờ hay ký tên gì cả cũng không có máy móc khi hai bên gặp nhau. Tư lệnh vào trailer nằm nghĩ, tôi vào lần nữa thấy Tư lệnh nằm yên, chắc Tư lệnh đã mệt. Trong suốt đêm 30 tháng 4, Tư lệnh và tôi hầu như không ngủ, khoảng 3 giờ sáng, tôi rón rén vào phòng Tư lệnh lần nữa, thấy Tư lệnh đang nằm yên không biết ngủ hay thức vì trong lúc nằm nghĩ vẫn mang cặp kính đen. Tôi cũng quá mệt ra phòng làm việc ngã lưng trên sofa một chút, vang vang bên tai những loạt AK nổ liên hồi, chắc đối phương nổ súng mừng chiến thắng.

Trong lúc nửa tỉnh nửa mê bổng nghe tiếng chuông "boong, boong, boong", tôi bật mình ngồi dậy, nhìn đồng hồ thấy hơn 6 giờ, qua đến bàn Phật, tôi thấy 3 cây nhang Tư lệnh đã đốt và cắm sẵn trên lư hương khói bay nghi ngút. Tư lệnh mặc quân phục hẳn hoi đang nghiêng mình xá Phật. Tôi vội đi nhanh làm vệ sinh cá nhân, xong mặc quân phục vào và đến đứng nghiêm chào Thiếu tướng. Thiếu tướng đưa tay lên cỡ tầm ngực đáp lại và hỏi:

- Ðêm qua, Danh ngủ được không?

- Mệt quá em nằm nghỉ một chút.

Tư lệnh vẫn ngồi trên sofa nơi phòng thờ Phật, tôi đi sang qua phòng làm việc. Một lúc sau, Tư lệnh đến bên tôi hỏi:

- Gặp tướng Trường được không hè?

Lúc này khoảng 6 giờ 30 sáng.

- Dạ ... dạ. Tôi ấp úng trả lời. Hồi chiều tối hôm qua ở trên lầu em thấy tướng Trường chạy xe jeep ngang qua dinh.

Tư lệnh hỏi tiếp:

- Có phải Trường không?

- Em ở trên lầu hơi xa, em thấy giống tướng Trường.

- Thôi đừng đi tìm, kẻo bị chúng bắt.

- Dạ.

Rồi Tư lệnh đi ra sau vào trailer, một lát sau Tư lệnh đi ra hai tay xách hai vali gặp tôi và anh Việt ngay ở cửa ra vào phòng thờ Phật. Tư lệnh đưa cho tôi một cái màu cam, còn trung úy Việt một cái màu đen hay nâu tôi không nhớ rỏ. Tư lệnh buồn buồn nói:

- Danh giữ cái này, Việt giữ cái này.

Tư lệnh chỉ nói ngắn gọn không nói thêm gì, hình như cổ ông nghẹn lại. Tư lệnh vội bước đi, cách vài bước Tư lệnh quay lại nói tiếp:

- À, quên chìa khóa. Rồi Tư lệnh đi thẳng về sau vào trailer, một lúc sau trở ra trao cho tôi hai chìa khóa và nói:

- Cái này của Danh, cái này của Việt.

Tôi linh tính sắp có điều gì sẽ xảy ra. Tư lệnh chầm chậm bước theo nấc thang lên tầng trên, tôi và anh Việt nối bước theo sau. Tư lệnh ra sân thượng, đứng sát bên lan can, mắt nhìn ra lộ Hòa Bình trước cửa dinh, tôi đứng bên tay phải Tư lệnh, anh Việt đứng bên trái. Trước lộ vài xe qua lại, người thưa thớt vắng vẻ như chiều 30 Tết. Bất chợt, Thiếu tướng bật khóc. Tướng cố nén tiếng khóc không bật thành tiếng, những giọt nước mắt cuộn tròn chảy dài trên khuôn mặt đau buồn vì nước mất nhà tan. Tôi cũng khóc theo, anh Việt cũng vậy, ba người đứng ở đây mặc cho nước mắt tự do tuôn chảy. Tôi nghĩ Tư lệnh đi ngoại quốc hết kịp rồi, tới đây VC có bắt Tư lệnh không? Có làm hỗn bắn Tư lệnh không? Nếu sự việc xảy ra thì phải giải quyết làm sao?Tôi đang miên man suy nghĩ, Tư lệnh xoay lưng chầm chậm theo bậc thang xuống tầng dưới.

Tư lệnh sắp tự sát

Từ ngoài nhìn vô bàn Phật, Tư lệnh ngồi trên ghế sofa phía bên phải, đôi mắt đăm chiêu nhìn lên bàn thờ. Anh Việt bước ra cửa về thăm thăm vợ con, còn trung sĩ Ngộ đang thập thò trước cửa. Tư lệnh đứng dậy đến bàn thờ lấy ba cây nhang đốt, xá ba xá cắm vào lư hương, gõ ba tiếng chuông "boong, boong, boong" xong xá 3 xá tiếp, xong Tư lệnh về ngồi nơi cũ, hai tay để trên thành gỗ sofa nhịp nhịp như không có chuyện gì sắp xảy ra. Bất chợt , Tư lệnh xoay qua bảo tôi:

- Danh ra ngoài bảo Việt dẫn vợ con đi đi.

- Dạ.

Tôi tôi thầm nghĩ Tư lệnh và tôi độc thân chắc Tư lệnh nghĩ cách khác.

Tôi đẩy nhẹ cánh cửa bước ra sân hướng về phòng trung úy Việt. Tôi vừa đi khỏi cột cờ một chút nghe tiếng nổ "đùng" phát ra từ hướng bàn thờ Phật, tôi xoay người trở lại chưa kịp bước trung sĩ Ngộ thất thanh chạy la lên:

- Ðại úy ơi! Ðại úy ơi! Thiếu tướng tự sát chết rồi.

Trong lúc sợ hãi, anh Nghộ gọi tôi là Ðại úy. Tôi chạy nhanh vào thấy cảnh tượng hải hùng chưa bao giờ gặp. Tư lệnh ngã ngửa hơi lệch về phía sau sofa, đầu hơi nghiêng về bên trái, khẩu Colt 45 vẫn còn trong tay buông thỏng xuống lòng Tư lệnh nhưng những ngón tay cầm súng đã nới lỏng, đầu đạn xuyên qua màng tang phải qua trái, ngước mắt nhìn lên trần nhà. Tư lệnh chưa chết, nhưng nói không được, giật run rẩy người, miệng há hốc, từ trong cổ họng nấc lên tiếng "khọc, khọc, khọc" từng chập và từ từ nhỏ dần. Anh Ngộ thấy vậy vội nói:

- Thôi mình chở Thiếu tướng đi bệnh viện.

Tôi và anh Ngộ ôm chầm lấy Thiếu tướng vừa khóc vừa nói:

- Chắc trễ rồi, vết thương ở đầu vô phương cứu chữa, hơn nữa Thiếu tướng đã quyết định tự sát. Hèn chi hôm qua Thiếu tướng đi thăm anh em thương binh ở bệnh viện Phan Thanh Giản rất lâu và nói với anh em thương binh qua ở lại với các em.

Anh Ngộ nói tiếp:

- Em đâu dám đến gần Thiếu tướng. Ðứng ở ngoài cửa em chỉ thấy lưng Thiếu tướng. Em thấy Thiếu tướng móc từ trong túi ra, em tưởng Thiếu tướng lấy thuốc hút, nào ngờ Thiếu tướng nổ súng liền em chạy lại đâu kịp.

Vừa nói anh Ngộ khóc nức nở, chúng tôi vẫn ôm choàng lấy Tư lệnh khóc. Trong lúc bối rối và hết hồn, tôi đâu có tâm trí đi xem đồng hồ, khoảng 7 giờ 30 ngày 1 tháng 5 năm 1975.


Lê Ngọc Danh

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Hoc Viện Cảnh Sát Quốc Gia

Post by linhgia »

Các anh,

Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia là Trường Đào Tạo Sĩ Quan Cảnh Sát, Tuấn Cop và tôi đã tốt nghiệp tại đây, hôm xin mời các anh đọc qua bài viết về Trường Mẹ của chúng tôi bên dưới đây:

TLGiang

Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia
Trường Ðào Tạo
Sĩ Quan Cảnh Sát Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa


Toàn Như



Trước nhu cầu phát triển của lực lượng Cảnh Sát Quốc Gia, Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia (CSQG) đã được thành lập kể từ đầu năm 1966 nhằm mục đích đào tạo sĩ quan các cấp Biên Tập Viên (BTV) và Thẩm Sát Viên (TSV) cho ngành Cảnh Sát Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa. Biên Tập Viên và Thẩm Sát Viên là hai ngạch sĩ quan trung cấp của ngành Cảnh Sát Quốc Gia chỉ dưới hai cấp Kiểm Tra/Tổng Kiểm Tra và Quận Trưởng Cảnh Sát. Sau cuộc đảo chánh Tổng Thống Ngô Đình Diệm năm 1963, ngạch sĩ quan cao cấp Kiểm Tra & Tổng Kiểm Tra hầu như không còn ai. Riêng ngạch Quận Trưởng (ngạch sĩ quan cảnh sát có bằng Cử Nhân Luật hoặc tương đương) chỉ có khoảng vài chục người. Vì vậy các sĩ quan cấp Biên Tập Viên và Thẩm Sát Viên đã mặc nhiên trở thành một lực lượng sĩ quan trung cấp nòng cốt của ngành cảnh sát.

Trong những năm đầu thập niên 1960 tình hình chiến sự tại Miền Nam Việt Nam càng ngày càng trở nên sôi động, lực lượng Cảnh Sát Quốc Gia không những chỉ đảm trách nhiệm vụ thi hành luật pháp và giữ gìn an ninh trật tự tại các đô thị, mà còn có nhiệm vụ phối hợp với quân đội và nhiều cơ quan bạn trong công tác bình định tại nông thôn. Do đó để đáp ứng trước tình hình mới, quân số lực lượng Cảnh Sát Quốc Gia cũng được bổ xung lên đến trên 100,000.

Vì vậy người sĩ quan Cảnh Sát Quốc Gia nói riêng và lực lượng Cảnh Sát Quốc Gia nói chung, ngoài kiến thức chuyên môn về luật pháp, còn cần được trang bị thêm những chuyên môn khác trong đó có cả quân sự. Vì vậy chương trình huấn luyện sĩ quan tại Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia cũng bao gồm cả về chuyên môn lẫn quân sự. Chương trình được chia làm hai giai đoạn: Giai đoạn 1 gồm 3 tháng huấn luyện quân sự và thời gian còn lại là giai đoạn 2 hay giai đoạn huấn luyện chuyên môn.

Trên phương diện pháp quy, Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia được chính thức thành lập bởi Nghị Định số 416-NĐ/NV do Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương (chức vụ tương đương Thủ Tướng) ký ngày 12 tháng 3 năm 1966 nhằm mục đích đào tạo số sĩ quan cho lực lượng Cảnh Sát Quốc Gia trước nhu cầu mới đó. Điều kiện để được nhập học: Thẩm Sát Viên phải có bằng Tú Tài 1, Biên Tập Viên phải có bằng Tú Tài 2, tất cả phải qua một kỳ thi tuyển. Thời gian học là 9 tháng cho cấp Biên Tập Viên và 6 tháng cho cấp Thẩm Sát Viên.

Khóa 1 Sĩ Quan đầu tiên của Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia khai giảng chính thức vào ngày 1 tháng 3 năm 1966 dưới sự chủ tọa của Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ, Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương. Nhưng trên thực tế các khóa sinh đã được triệu tập nhập học nhiều đợt sớm hơn từ đầu năm 1966 trong khi chờ đợi văn kiện chính thức thành lập Học Viện ra đời. Vì vậy thời gian thụ huấn dành cho khóa 1 đã phải kéo dài tới 9 tháng cho Thẩm Sát Viên và 1 năm cho Biên Tập Viên, dài hơn qui định gần 3 tháng. Đặc biệt Khóa 1 còn là khóa duy nhất có 50 nữ sinh viên sĩ quan thụ huấn trong cùng thời gian. Tuy nhiên các nữ sinh viên sĩ quan có được giảm bớt phần nào huấn luyện quân sự.

Trong suốt thời gian huấn luyện, các sinh viên sĩ quan Cảnh Sát Quốc Gia, nam cũng như nữ, phải noi theo quy luật nội trú giống như mọi quân trường khác. Kể từ năm 1972 sau khi qui chế mới của lực lượng Cảnh Sát Quốc Gia ra đời và được chính thức áp dụng (trong đó lực lượng Cảnh Sát Quốc Gia mang cấp hiệu giống như quân đội), thời gian huấn luyện các sĩ quan tại Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia đã được điều chỉnh thành 12 tháng và cuối cùng là 18 tháng. Các sĩ quan tốt nghiệp được mang cấp bậc thiếu úy.

Trong những năm đầu thành lập, Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia tạm thời tọa lạc tại trại Lê Văn Duyệt bên trong Biệt Khu Thủ Đô Sàigòn. Viện Trưởng là chức vụ chỉ huy Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia tương đương với chức vụ Giám đốc Nha có nhiều Sở. Phụ Tá cho Viện Trưởng là các Phó Viện Trưởng và một Ban Tham Mưu gồm có Giảng Sư Đoàn, Liên Đoàn Sinh Viên Sĩ Quan, và các Sở Huấn Vụ, Sở Quản Trị, và một số Phòng, Ban Biệt Lập khác đảm trách các phần vụ chuyên môn.

Viện Trưởng Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia đầu tiên là Quận Trưởng Cảnh Sát Đàm Trung Mộc. Ông cũng là một trong những người có công sáng lập ra ngôi trường này. Ông là một trong những cấp chỉ huy ưu tú của ngành Cảnh Sát Quốc Gia nổi tiếng cả về tài năng và đức độ. Những bộ sách giáo khoa nổi tiếng của ông như Hình Sự Tố Tụng, Hình Luật Đặc Biệt, Cảnh Sát Tư Pháp, v.v. không chỉ dành riêng cho ngành cảnh sát mà còn được nhiều giới chức ngành tư pháp, tòa án dùng làm tài liệu tham khảo. Mặc dù từng đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng trong ngành, nhưng ông Ðàm Trung Mộc lúc nào cũng bình dị, tận tụy với công vụ, gần gũi với thuộc cấp và nhất là nổi tiếng thanh liêm. Ông vừa đảm nhiệm chức vụ viện trưởng, vừa là giảng sư kiêm nhiệm các môn luật học và cảnh sát tư pháp.

Tuy chỉ đảm nhận chức vụ Viện Trưởng Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia cho đến năm 1970, nhưng hầu hết các khóa sĩ quan tốt nghiệp tại Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia đều hết lòng kính mến ông và coi ông như một người thầy, người cha hơn là một vị chỉ huy trong ngành. Sau ngày 30 tháng 4/1975, ông bị kẹt lại tại Việt Nam, và cũng như bao quân, cán, chính Việt Nam Cộng Hòa khác, ông cũng phải chịu cảnh tù đày qua nhiều trại tù cộng sản và đã chết tại trại tù Hà Sơn Bình, Bắc Việt, ngày 28 tháng 12 năm 1982, hưởng thọ 65 tuổi. Mới đây, các cựu Sinh Viên Sĩ Quan Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia tại Bắc California đã tổ chức lễ giỗ lần thứ 2 tưởng niệm cố Đại Tá Đàm Trung Mộc rất trọng thể tại San Jose ngày 16-3-2003.

Kể từ đầu năm 1969, Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia được dời về trụ sở mới nằm trên đồi Tăng Nhơn Phú gần Trường Bộ Binh Thủ Đức. Trường sở mới được xây cất theo thiết kế của kiến trúc sư Lê Văn Lắm gồm nhiều tòa nhà cao tầng dùng làm phòng ngủ cho Sinh Viên Sĩ Quan, khu hành chánh, giảng đường, thư viện, phạn xá, xạ trường, cư xá nhân viên, v.v. với đầy đủ mọi tiện nghi tối thiểu. Vị Viện Trưởng kế nhiệm và cuối cùng cho đến ngày đau thương 30 tháng 4/1975 là Đại Tá Trần Minh Công, ông hiện cư ngụ tại Nam California. Ông nguyên là một Quận Trưởng Cảnh Sát trẻ đã kế tục công việc huấn luyện đào tạo các khóa sĩ quan với nhiều cải cách theo mô hình của một trường huấn luyện sĩ quan cảnh sát vừa quân sự vừa hành chánh như các quốc gia tân tiến.

Tính từ ngày thành lập cho đến tháng Tư đen 1975, Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia đã huấn luyện được tổng cộng 6 khóa Biên Tập Viên/Thẩm Sát Viên theo qui chế cũ và 5 khóa đào tạo sĩ quan cấp thiếu úy theo qui chế mới. Tổng cộng Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia đã đào tạo được khoảng 3,300 sĩ quan, chưa kể hàng ngàn sĩ quan và hạ sĩ quan tốt nghiệp những khóa tu nghiệp ngắn hạn và gần một ngàn sinh viên sĩ quan còn đang thụ huấn dang dở.

Trước nhu cầu đòi hỏi, nhiệm vụ của người chiến sĩ cảnh sát không chỉ đơn thuần là duy trì an ninh trật tự xã hội, bảo vệ luật pháp quốc gia mà còn thực sự đóng góp vào công cuộc chiến đấu chung bảo vệ Tổ Quốc nhất là trong các công tác bình định tại nông thôn, việc huấn luyện quân sự cho các sinh viên sĩ quan cũng được nâng cao. Thời gian huấn luyện quân sự đã được tăng lên 6 tháng với sự cố vấn và yểm trợ về mặt kỹ thuật của Trường Bộ Binh Thủ Đức và Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung. Đây cũng là thời gian huấn nhục cho các tân khóa sinh tập làm quen với những chương trình huấn luyện tại Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia.

Sau ba tháng huấn nhục, các khóa sinh sẽ chính thức được làm lễ gắn an-pha để kể từ đó họ mới chính thức được gọi là các tân Sinh Viên Sĩ Quan Cảnh Sát Quốc Gia. Lễ gắn an-pha và lễ mãn khóa là những kỷ niệm đáng ghi nhớ của người Sinh Viên Sĩ Quan. Tại những buổi lễ này, đã nhiều lần các Sinh Viên Sĩ Quan được vinh dự đón tiếp các vị lãnh đạo quốc gia từ Tổng Thống, Thủ Tướng tới vị chỉ huy cao cấp nhất của ngành là Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia đến chủ tọa và ban hiểu thị.

Trong giai đoạn 1 quân sự, các Sinh Viên Sĩ Quan được huấn luyện về vũ khí, tác xạ các loại súng lục, súng trường, tiểu liên, và trung liên. Ngoài ra còn có những bài học về chiến thuật, võ thuật, địa hình, tản thương, cứu thương, v.v. Ngoài những bài học về lý thuyết, các Sinh Viên Sĩ quan còn có những buổi thực tập ngoài các bãi tập của trường bộ binh Thủ Đức, hoặc những buổi tham quan các đơn vị bạn để học hỏi kinh nghiệm hầu ứng dụng sau này.

Sau giai đoạn 1 quân sự là giai đoạn 2 huấn luyện chuyên môn. Thời gian sau này các Sinh Viên Sĩ Quan sẽ được huấn luyện căn bản về tình báo, về các phương pháp điều tra hình sự, điều tra hành chánh, phương pháp giảo nghiệm, các cuộc hành quân cảnh sát, phượng hoàng, trấn áp bạo động (chống biểu tình), v.v. và nhất là những kiến thức chuyên môn về luật pháp như hình sự tố tụng, hình luật đặc biệt, cảnh sát tư pháp. Các giảng sư, giảng viên ngoài một số là những sĩ quan nhiều kinh nghiệm trong ngành còn có những giảng sư thỉnh giảng đang là những giáo sư đại học hoặc là các sĩ quan hoặc viên chức các cơ quan ban ngành bạn có liên quan. Giáo Sư Nguyễn Văn Canh, Tiến Sĩ Trần An Bài đã từng là những giảng sư thỉnh giảng của Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia.

Mặc dù chỉ mới được thành lập chưa tròn mười năm (1966-75) nhưng Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia đã đóng góp một phần đáng kể vào việc xây dựng và phát triển lực lượng Cảnh Sát Quốc Gia VNCH. Các sĩ quan do Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia đào tạo với bầu nhiệt huyết của tuổi trẻ đã mang lại một luồng sinh khí mới cho các đơn vị Cảnh Sát Quốc Gia trên toàn quốc. Họ đã trở thành một lực lượng nòng cốt mang lại hiệu quả cao trong những hoạt động của lực lượng Cảnh Sát Quốc Gia. Họ đã đóng góp một phần không nhỏ trong những chiến công.

Chính vì những thành quả ấy, sau ngày 30 tháng 4/1975 các cựu Sinh Viên Sĩ Quan Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia đã phải trả một giá khá đắt cho những hoạt động của họ trước đó. Hầu hết các cựu sinh viên sĩ quan đều phải trải qua nhiều năm trong những trại tù cải tạo của cộng sản. Có những thiếu úy mới tốt nghiệp mà đã ở tù tới 5, 6 năm, một số lớn các sĩ quan xuất thân từ Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia đã phải chịu một thời gian cải tạo dài hơn thời gian cảnh nghiệp, một số đã ở tù đến mười bảy năm, và một số đã bỏ mình trong những trại tù thật khắc nghiệt nầy.

Ngày nay, ngoài một số còn kẹt tại quê nhà, các cựu Sinh Viên Sĩ Quan Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia hiện lưu lạc định cư rải rác ở khắp nơi trên toàn thế giới cũng vẫn với nhiệt tình của tuổi trẻ như ngày nào, họ đã và đang là những nhân tố tích cực sinh hoạt trong nhiều hội đoàn ái hữu của lực lượng Cảnh Sát Quốc Gia tại hải ngoại.

Toàn Như

User avatar
tuyetlanh
Posts: 42
Joined: Thu Dec 02, 2004 5:06 am

Post by tuyetlanh »

DỰNG CỜ Image
LTS
Viết cho người binh sĩ Tiểu đoàn 3 TQLC về một chiến thắng với hình ảnh sống thực. Xin đóng góp phần nhỏ cho sử liệu về chiến thắng Cổ thành Quảng Trị năm 1972
Giang văn Nhân

Hành quân tìm địch trong rừng Ngày 24 tháng 8
Sau một tháng rưởi nằm bịnh viện Lê hửu Sanh điều trị vết thương với bao kỹ niệm vui buồn của người thương bệnh binh về từ mặt trận Quảng Trị. Nhìn các người bạn đồng đội hiên ngang dũng cảm hôm nào giờ đây có người đã hiến dâng một phần thân thể cho đất nước. Có người mất hẵn ánh sáng cuộc đời, vào một ngày cuối tuần được tin báo cô bạn gái vào thăm đã vội vã nhờ anh bạn ngồi xe lăn hướng dẩn vào ẩn trốn trong phòng vệ sinh. Có người nằm im bất động, chỉ còn đôi mắt tinh anh rực sáng niềm tự hào lẫn chua xót. Có người bị cháy phỏng khắp thân hình, mình được thoa đầy thuốc mở nằm nhúc nhích trên tấm nylon. Ðó là hình ảnh những người lính TQLC tiêu biểu cho một phần nhỏ hình ảnh những người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà vì bảo vệ sự tự do đã chấp nhận sự hy sinh vô bờ bến. Tuổi đời son trẻ phải xa gia đình, xa những người thân yêu, xa phố phường, ngày đêm lặn lội trong rừng sâu, dãy Trường Sơn trùng điệp, hay trong vùng sình lầy, nước phèn làm hoen màu áo trận. Họ quên mạng sống mình để bảo vệ an bình cho tha nhân. Trong hoàn cảnh hiện tại nầy nếu suy nghỉ sâu xa sẽ thấy thương họ thật nhiều.
Là người lính tổng trừ bị, một năm 7 ngày phép thường niên mà bộ tổng tham mưu qui định họ có bao giờ được biết đến. Hành quân gian khổ cận kề với cái chết chỉ mong ngày Tiểu đoàn về hậu cứ có được mấy ngày phép thăm gia đình, nếu còn độc thân thì thoải mái cùng bạn gái khỏi bị mấy ông quân cảnh quấy rầy. Người dân sống an lành nơi thành thị có ai biết rằng chiếc xe cuối cùng chở người lính từ mặt trận trở về vào trong doanh trại, như một thói quen khi cửa vừa đóng lại hiện rõ bảng cấm trại 100% đã được treo lên từ lúc nào. Ðơn vị ứng chiến cho bộ Tổng Tham Mưu. Dù vậy người lính vẫn một lòng chiến đấu có người đã vĩnh viễn ra đi và đồng đội còn lại vẫn tiếp tục chiến đấu cho lý tưởng tự do.

Vì nhu cầu cấp thiết của mặt trận mà sư đoàn trách nhiệm, các thương bệnh binh sau khi xuất viện được đưa thẳng về Tiểu đoàn và được bổ sung ra hành quân trong chuyến bay ngay ngày hôm sau.
Chiếc xe jeep Tiểu đoàn đưa Thảo và Ðại úy Anh khoá 21 Trường Võ Bị Ðà Lạt vào cổng Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn lúc đường phố Sàigòn đã lên đèn. Trong sân cờ vừa điểm danh xong số quân nhân bổ sung do các tiểu đoàn gởi đến. Thảo vác ba lô theo chân họ lên phòng thuyết trình trải tấm poncho rồi đặt lưng nằm xuống. Trong phòng có khoảng 70 Chuẩn úy tốt nghiệp từ hai khoá kế cận nhau tại Trường Bộ Binh Thủ Ðức. Thảo hiểu tâm trạng của họ, thật ra đó là tâm tình chung của người lính QLVNCH xuất thân cùng một quân trường hoặc một trung tâm huấn luyện, được về phục vụ cùng Sư đoàn, rồi tạm chia tay về các tiểu đoàn, nay gặp mặt đầy đủ. Chỉ còn một đêm nay thôi, đêm cuối cùng vì sẽ không bao giờ tìm lại được đông đủ như vậy. Ngày mai đây ra chiến trường sôi bỏng, mặt đối mặt cùng kẻ thù, địch quân với hoả lực hùng hậu của cả khối Cộng Sản đưa sang, đạn pháo 130 ly như cơn mưa dai dẳng trút xuống thị xã Quãng Trị biết ai còn ai mất, chuyện tử sinh là lẻ thường tình xảy ra chỉ trong khoảnh khắc không sao tránh khỏi. Họ chuyện trò quên đi giấc ngủ. Những nụ cười vô tư và hồn nhiên khi nhắc lại chuyện quân trường của những người bạn trẻ, chính những người bạn trẻ nầy đã đóng một vai trò rất quan trọng cho cuộc chiến thắng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà trong năm 1972.
Thảo trằn trọc không ngủ được. Thảo nhớ lại những ngày đang ở bịnh viện, đại đội Thảo đã mất mát khá nhiều tại mặt trận Cổ Thành Quãng Trị. Thiếu úy Lê văn Môn hy sinh, Thiếu úy Nguyễn văn Nhái bị thương chờ phân loại, Thiếu úy Nguyễn văn San đang điều trị tại quân y viện. Hạ sĩ quan và binh sĩ thiệt hại 40% sau tuần lễ đầu hoán đổi cho Tiểu đoàn 5 Dù. Thảo nhớ đơn vị, nhớ lại khuôn mặt của những người luôn sát cận với quân đội chính qui Bắc Việt. Thảo đứng dậy ra ngoài hành lang đốt thuốc hút và nhìn bầu trời xanh đầy ánh sao. Thảo bâng khuâng nghĩ đến câu chuyện của Uyên người bạn gái và cũng là người tình về chị Chính, bạn học chung lớp trường Gia Long. Chị Chính có người yêu bị động viên vào trường Hạ sĩ quan. Anh ra trường chiến đấu dũng cảm. Trong trận phãn phục kích ở La Ngà, địch quân dù chủ động nhưng bị thảm bại, hàng chục xác để lại trên trận địa. Bạn bè anh hy sinh khá nhiều, phần chân trái anh bị gảy vụn, bác sĩ đành phải cắt bỏ. Ðám cưới đã kết thúc câu chuyện tình đẹp nhất trong thời chinh chiến nầy
- Nếu là em, em sẽ không làm như thế đâu. Em chỉ chấp nhận nếu đã là vợ chồng. Uyên nói với nụ cười mĩa mai
Thảo chỉ biết im lặng
Khoảng cách giửa hai người như mặt nước hồ bị khuấy động và làn sóng nước càng xa dần ra. Người lính Tổng trừ bị luôn luôn hiện diện tại mặt trận khốc liệt, nào ai biết được ngày mai hình hài mình sẽ ra sao? Thảo không bi quan mà cũng chẳng lạc quan chỉ biết sống tròn trách nhiệm của người đại đội trưởng, an nguy của gần hai trăm sinh mạng thì sá gì cái thân phận tầm thường cỏn con của mình.
Thảo cảm thấy có bàn tay choàng vai mình và một giọng nói thật thân mật
- Chào Trung sĩ,Trung sĩ chắc phục vụ lâu năm ở binh chủng và có nhiều kinh nghiệm chiến trường có thể kể cho anh em chúng tôi để học hỏi thêm.
Thảo quay mặt nhìn người sĩ quan trẻ, chấp nhận cấp bậc mới để cho tự nhiên rồi từ tốn kể cho các bạn trẻ nghe về cuộc chiến đang diễn ra ngoài Quãng Trị. Ðịch đã tạo yếu tố bất ngờ đồng loạt tấn công. Toàn bộ Sư Ðoàn 3 Bộ Binh và Thiết đoàn 11 triệt thoái khỏi vùng hoả tuyến. Tiểu đoàn 3 TQLC cùng thiết đoàn 20 chiến xa đã chận đứng và đẩy lui các cuộc tấn công vũ bão của Sư đoàn 308 cùng 2 trung đoàn chiến xa tại Ðông Hà và trên Quốc Lộ 9 gần Cam Lộ. Chuẩn úy Hải mới ra trường là sĩ quan OJT của Ðại đội 1 đã dùng M.72 bắn thẳng vào chiếc T.54 vừa chồm lên đầu cầu bờ bắc sông Miếu Giang, sau đó các binh sĩ đồng loạt bắn M.72 . Lần đầu tiên bị kháng cự, thiết giáp địch lui lại, vài phút sau đó cầu Ðông Hà được phá hủy.
- Các quan nên nhớ rằng, các quan sẽ là những trung đội trưởng với cấp số thật lý tưởng khoảng 40 người, mọi quyết định của các quan rất quan trọng, chính các quan cũng như những người lính ở tiểu đội, trung đội mới quyết định chiến trường.Các quan mà lui thì người lính sẽ lui theo, và đại đội sẽ bể, các đại đội khác bể theo và tiểu đoàn sẽ rả ra từng mảnh.
- Còn tinh thần anh em binh sĩ ra sao? Những bạn trẻ nầy hỏi
- Anh em rất vửng tâm chiến đấu. Phút đầu tiên đối diện với T.54 có hơi bối rối, nhưng nay không còn nữa. Các trung đội trang bị đầy đủ M.72, ngoài ra đại đội còn có một tiểu đội săn chiến xa với súng 202. Người Mỹ lúc nào cũng viện trợ vũ khí sau khối Cộng Sản, đó là sự thật.
Ngày 25 tháng 8
Thảo thức dậy và rời khỏi phòng thật sớm vì phải đón Ðại úy Anh tận Phú Lâm. Thảo quay mặt để tránh cảnh chia tay của người vợ với con thơ tròn tháng. Thảo lái xe lao vào trong đêm tối. Tất cả đều im lặng, mỗi người đang có tâm sự riêng vì ai biết được ngày mai sẽ ra sao? Vừa vào cổng bộ tư lệnh cũng là lúc đoàn xe đang chuẩn bị lên đường.
Phi vụ C.123 đã đưa toán bổ sung xuống phi trường Phú Bài. Không khí ngột ngạt của chiến tranh như bao trùm thành phố cổ kính. Hậu trạm của các tiểu đoàn đón nhận toán quân nhân bổ sung và đưa về thành nội Huế chuẩn bị hành trang, nhận lảnh áo giáp, mặt nạ, khẩu phần lương khô để rồi nhập vào cuộc chiến. Trên quốc lộ 1, người dân An Lổ vẫn vui vẻ cày cấy, đường vào Sịa vẫn an lành. Vượt qua giòng sông Mỹ Chánh để nhìn thấy cảnh tang thương mà chỉ có những người cộng sản vô thần mới nhẩn tâm bắn giết, tàn sát cả đoàn người chạy loạn. Ðối với họ những ai sống trong vùng quốc gia đều là kẻ thù
Xác người nằm ngổn ngan, trên xe, trên bải cát trắng, có bà mẹ nằm mà tay vẫn còn ôm chặc hai đứa con thơ, tất cả đã rữa nát Trong khung cảnh nầy Thảo không biết tâm trạng của những người sĩ quan trẻ mới ra trường ra sao, nhưng với người lính dầy dạn chiến trường, cái chết là điều phải chấp nhận để tìm cái sống. Ðoạn đường nầy làm sục sôi lòng hận thù, càng nung chí phải chiến đấu để bảo vệ miền Nam, phải tiêu diệt hết người Cộng Sản sắt máu. Nhưng người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà có lòng nhân đạo và tình dân tộc, thà bỏ sót cỏn hơn giết lầm. Người Cộng Sản đã biết và triệt để khai thác tình thương dân của người quân nhân miền Nam để ẩn trốn, trà trộn trong dân, đôi khi lùa dân đi trước đở đạn cho chúng rồi tuyên truyền cho cuộc chiến tranh xâm lược của chúng.
Ðại lộ kinh hoàng năm 1972
Xe chay qua Hải Lăng, thôn Cu Hoan có bờ đê Ruộng Nhi, nơi các binh sĩ trung đội 3 của Thiếu úy Nguyễn văn Nhái bố trí yểm trợ hoả lực cho trung đội 2 của Thiếu úy Lê văn Môn tiến chiếm bờ thôn. Trung đội 1 của Thiếu úy Nguyễn văn San cặp theo bờ đê bên phải đánh vào cạnh sườn. Ðại bác không giật 106 ly trên chi đoàn thiết vận xa M.113 của Ðại úy Nghiệp Thiết Ðoàn 18 cày nát phía sau phòng tuyến. Ðạn M.79 phá tung hầm ẩn núp, tuyến địch bị chọc thủng, Trung đội 3 tràn lên chiếm bờ thôn bên trái, tiêu diệt toán bắn sẽ, giúp Tiểu đoàn 8 TQLC tiến quân ngang bên trái. Ðịch rút chạy hiện rõ trên đồng cát trắng, vào xóm Thuận Nhơn và thôn Lương Chánh. Thảo miên man hồi tưởng những đồng đội giờ đây không còn nữa, sự hy sinh của họ trải dài cho từng bước tiến ra giải thoát Quãng Trị thân yêu.
Thảo vào trình diện Thiếu tá Nguyễn văn Cảnh, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 3 TQLC. Bên ngoài bộ chỉ huy, Thượng sĩ Võ Lách thường vụ đại đội và một số anh em đang chờ đón Thảo. Nhìn gương mặt họ, một niềm thương cảm dâng lên.
- Ðại úy
- Ông thầy
Tiếng gọi thật thân thương, thật ngọt ngào. Kể từ giờ phút nầy, giửa họ và Thảo nối lại mối dây liên kết. Mạng sống và binh nghiệp Thảo nằm trong tay họ, ngược lại Thảo trách nhiệm sư an nguy cho họ, phải suy tính làm sao hoàn thành nhiệm vụ mà giảm thiểu sự thiệt hại. Thảo trò chuyện với anh em để chuẩn bị tinh thần cho cuộc chiến trước mặt.
Ngày 26 tháng 8
Buổi họp thân mật cùng các trung đội trưởng, phân chia nhiệm vụ vào hoán đổi cho Tiểu đoàn 8 TQLC tại mặt trận Cổ Thành sáng ngày mai.

Th/úy Lãm, Th/úy San, Th/úy Phán, Ch/úy Ngôn Thiếu úy Nguyễn văn Lãm Ðại đội phó
Chuẩn úy Trần trung Ngôn Trung đội trưởng trung đội 1
Thiếu úy Nguyễn văn Phán Trung đội trưởng trung đội 2
Chuẩn úy Lê đình Lời Trung đội trưởng trung đội 3
Chuẩn úy Khúc thừa Thế Trung đội trưởng trung đội 4
Chuẩn úy Nguyễn Ðôn OJT với trung đội 2
Chuẩn úy Trần tuấn Dũng OJT tại đại đội.
Thảo luôn luôn nhắc nhở các bạn trẻ về qui luật tại Cổ Thành. Ban ngày canh gát, mở rộng giao thông hào, mọi sinh hoạt trong giao thông hào, thay phiên ngủ lấy sức. Ðịch quân từ trên bờ thành cao, dể quan sát và bắn sẻ, hạn chế tối đa ra khỏi giao thông hào. Ban đêm chuẩn bị tác chiến diệt chốt địch và bung rộng phòng tuyến mà mục tiêu chính là cắm lá quôc kỳ Việt Nam Cộng Hoà.
Ngày 27 tháng 8
Ðại đội 2 đã hoán đổi xong vị trí của Ðại úy Bùi phúc Lộc TÐ 8 TQLC. Pháo binh vẫn đều đặn bắn phá trên bờ thành. Ðại bác 130 ly địch nổ dồn dập chung quanh thị xã, nguời lính nhiều kinh nghiệm đã tránh được sự thiệt hại và an toàn trên phòng tuyến mới. Nửa đêm địch thăm dò phía trung đội 1 nhưng bị đẩy lui bằng lựu đạn.
Ngày 28 tháng 8
Thảo vừa chợp mắt khi hừng đông ló dạng, Các trung đội tuần tự báo cáo tình hình trong đêm
- Nam Giao đây 21, velo solex ( vô sự)
Tựa lưng vào vách hầm chử A, Thảo rít một hơi dài điếu thuốc Ruby và nhấm nháp ly cà phê sửa nóng. Tội cho người lính chiến, trong cảnh nguy hiểm mà vẫn lo được cho ông thầy từng ly từng tí, đôi khi hơn cả người vợ, Thảo chưa có gia đình nhưng chỉ nghe lóm từ các bạn đồng ngủ.
- Thiếu tá, đêm rồi địch thăm dò, nhưng bị phản ứng mạnh. Con cái mới tới chưa ổn định và nhận diện rõ được địch tình
Thảo trình bày cùng Ðệ Ðức, Thiếu tá Tiểu đoàn phó.
- Ði với anh tôi thấy an tâm. Mấy ông chuẩn úy mới nầy coi bộ ngon lành.
Ðệ Ðức vừa nói dứt câu thì có báo cáo của trung đội 2
- Nam Giao đây 22, ông Alpha uống rượu quá độ say hết ngồi dậy rồi.
Chuẩn úy Ðôn vừa leo khỏi giao thông hào bị địch bắn sẽ ngay đầu tử thương. Sự ra đi đột ngột của anh Ðôn làm cả đơn vị phải cẩn thận hơn khi di chuyển ra khỏi giao thông hào.
Ngày 29 tháng 8
Cũng như mọi hôm khi màn đêm buông xuống là cuộc thanh toán được thực hiện, cả hai bên đều đã sẵn sàng. Ánh trăng lưởi liềm làm mờ ảo khung cảnh nồng nặc uế khí, nhà cửa đổ nát, các trụ đèn cong quẹo hoặc gẫy đổ. Xác chết đã rữa chỉ còn là những bộ xương trắng nằm đón sương đêm. Ðạn pháo địch rót vào vị trí như một âm thanh quen thuộc
- Nam Giao đây 21. Ðịch đang bò vào
Thảo chụp ngay lấy ống liên hợp
- 21 đây Nam Giao, tôi nhận rõ, cho con cái xem tivi (vào vị thế tác chiến)
Ðại đội sẵn sàng, đạn đã lên nòng
Thảo trình với Ðệ Ðức xin hoả châu phía sau lưng địch để dể quan sát, bắn pháo binh vào các điểm tiên liệu để đàn áp tinh thần cán binh Cộng sản. Ðạn lướt qua đầu và nổ trên cao. Ánh sáng hoả châu đem lại cái ấm cúng và tự tin cho người chiến sĩ
- Nam Giao đây 21, chúng tôi đã thấy địch rất rõ
- 21 đây Nam Giao, cố gắng tác xạ cho chính xác
Ðạn bắt đầu nổ dòn. Hoả châu liên tục rọi sáng bờ thành. Pháo binh TQLC bắn rất đẹp. Mấy con gà cồ đầu bạc (đại bác 155 ly) của quân đoàn được điều chỉnh gần 10 hoặc 15 thước rất chính xác. Ðại pháo 130 ly của địch cũng tác xạ mãnh liệt vào phía sau chạm tuyến. Có trong hoàn cảnh nầy, người lính mới biết rõ giá trị của giao thông hào. Hầu hết hầm trú ẩn tránh pháo các binh sĩ đã thiết kế chử A. Trận chiến bắt đầu lúc 23 giờ. Giờ phút đó con người sống trong sự réo gọi hỗn loạn của các loại vũ khí, cái chết thoáng hiện thoáng mất , trước mặt những bóng đen gục ngã, lựu đạn và M.79 được xử dụng tối đa. Tiếng càu nhàu giọng miền bắc của Hạ sĩ Nguyễn văn Lợi tiểu đội phó
- Cho chúng mầy về với bác và đảng.
Miệng nói tay làm, Lợi tặng ngay chúng 2 quả lựu đạn M.67 rất nhanh và thành thạo. Hạ sĩ nhất Nguyễn văn Dương tiểu đội trưởng vừa bắn vừa di chuyển đồng thời đôn đốc anh em cố gắng giử phòng tuyến.
Ðịch bắt đầu ném beta, bắn B.40 vào phòng tuyến, và xung phong. Ba cây đại liên M 60 giờ mới được xử dụng, Ðạn M.79 nổ trên những căn nhà đổ nát, tạo nên sự sát hại mãnh liệt hơn. Xạ thủ đại liên và hai khinh binh của trung đội 4 biệt phái bị tử thương, địch tràn vào cắt đứt hai trung đội 1 và 3. Hạ sỉ Nguyễn ngọc Ninh tiểu đội trưởng cùng anh em còn lại rút về phía trung đội 1. Phòng tuyến bị bể. Ðịch tràn lên nhưng bị Trung sĩ nhất Nguyễn tấn Thành trung đội phó trung đội 1 cùng tiểu đội của hạ sĩ nhất Lê văn Hùng chận đứng. Bên phía trung đội 3, Hạ sĩ Nguyễn văn Phúc tiểu đội trưởng dùng lựu đạn tiêu diệt địch quân đang cố gắng tràn vô kẻ hở. Binh nhất Trần văn Voi, người lính mang hai giòng máu Việt Pháp, xạ thủ đại liên xiết mạnh cò, đạn bay là là trên mặt đất, một số địch bị trúng đạn nằm chết trước phòng tuyến. Ðịch quân không làm sao tiến thêm được.
- Nam Giao đây 21. Ðang củng cố phòng tuyến phụ để phản kích.
- 21 đây Nam Giao, cố gắng giử phòng tuyến phụ, tôi thêm kẹo và tiền cho anh.
Thảo tung tiểu đội săn chiến xa của hạ sĩ nhất Ngô văn Ðáo tăng cường cho trung đội 1 và khinh binh tiểu đội súng cối của Hạ sĩ Nông văn Quang tăng cường cho trung đội 3 đồng thời chuyển đạn dược lên phía trước.
Pháo binh được điều chỉnh gần hơn nữa. Hai chục thước. Mười thước. Toán pháo thủ mấy con gà đầu bạc bắn tuyệt diệu. Ðạn lướt qua đầu và nổ tung trước phòng tuyến. Ðệ Ðức báo cáo tình hình cho Chương Thiện (Thiếu tá Nguyễn văn Cảnh Tiểu đoàn trưởng)
- Sao 27 (ám danh của Thảo), còn đủ tiền để đánh bài không? Chương Thiện hỏi qua điện thoại hữu tuyến.
- Trình 909 (ám danh cuả TÐT), tôi vẫn đủ tiền để chơi, xin đèn cầy và phở cho thật nhiều.
- Tôi bắn tối đa, cần tiền thêm cho tôi biết ngay.
- Nhận rõ 909.
Hai tiểu đội của Hùng và Phúc đã khoá chặc không cho địch tràn thêm vào. Alpha Trần trung Ngôn và Lê đình Lời điều động quân vá lại phòng tuyến. Pháo binh rãi đều dọc theo bờ thành, màn đêm nhạt dần. Trên bầu trời hai phi tuần A37 đánh chính xác vào mục tiêu . Sự kết hợp nhịp nhàng của không yễm và pháo binh giúp các toán quân của đại đội 2 tiến lên với hàng rào lựu đạn chiếm lai phòng tuyến
- Nam Giao đây 23, chúng tôi gặp lại nhau tại mái nhà xưa (chiếm lại tuyến củ).
- Nhận rõ. Cho củng cố chổ ở. Gom góp mấy chai rượu (bị thương), sẽ có người mang đi.
Các pháo thủ TQLC
Binh nhất Nguyễn đăng Thâu, y tá đại đội cùng toán biệt kích lên phòng tuyến di tản thương binh về sau nhà thờ Trí Bưu.
Thảo báo cáo về tiểu đoàn. Tất cả thương binh được M.113 chở ngay về Ngô xá. Số quân nhân bổ sung ra thay thế sau đó đuợc đưa lên tuyến đầu.
Trong cuộc chiến, khối bổ sung đã cung cấp kịp thời để thay thế số quân nhân bất khiển dụng, nhờ vậy phòng tuyến lúc nào cũng đầy đủ quân số. Người Ðại đội trưởng rất an tâm để tìm mọi phương cách hoàn thành nhiệm vụ được ủy thác.
- Nam Giao đây 23, ba con chuột nằm bất động, thu 1 B.40, 2 AK 47.
- Nam Giao đây 21, năm trự trong giao thông hào, tịch thu 1 RPD, 2 B.40, 3 AK 47.
Ðại đội có 4 binh sĩ hy sinh và 7 người bị thương, 1 M.60 bị phá hủy cùng một số mặt nạ, áo giáp.
Thảo họp bàn cùng các trung đội trưởng phân tích về trận đánh. Sự thất bại trong cuộc tấn công chứng tỏ lực lượng địch suy yếu, không mở được các cuộc tấn công kế tiếp. Nắm vững vấn đề nầy, đại đội chủ trương sẽ từng bước diệt chốt để tiến sát bờ thành.

Quảng Trị năm 1972 Ðịch rãi mỏng từng chốt nhỏ, bố trí trong các căn nhà đổ nát khó nhận biết. Các chốt nầy được sự yểm trợ của đại bác 82 không giật trên bờ thành. Thảo và các trung đội trưởng thảo luận để đi đến phương thức:
1. Chọc phá để xác định vị trí chốt
2. Tổ chức các toán diệt chốt
3. Ðồng loạt tấn công các vị trí chốt
4. Dùng pháo binh để làm tê liệt các khẩu 82 ly không giật
5. Xử dụng lựu đạn
6. Ðánh vào ban đêm
Ðịch trong Cổ thành đang bị cô lập. Ðường về Triệu Phong bị Tiểu đoàn Trâu Ðiên khoá kín tại đập đá qua chợ Sải. Ðường xuôi thượng nguồn sông Thạch Hãn bị các đơn vị Dù kiểm soát ở Như Lệ. Ðường duy nhất là vượt sông Thạch Hãn đang bị pháo binh và không quân oanh tạc. Nhờ các yếu tố đó, sự kháng cự của địch rất yếu ớt. Lần lượt các chốt bị bứng đi, phòng tuyến được mở rộng. Màn đêm vừa buông xuống là anh em ôm lựu đạn bò đi diệt chốt. Thùng lựu đạn từ tiểu đoàn chuyển lên hàng ngày, đây là món khoái khẩu nhất tặng cán binh Cộng sản.
Ngày 7 tháng 9
Trung úy Nguyễn kim Chung xuất viện về lại tiểu đoàn, anh em đều có thơ đọc và tán gẩu trong giao thông hào, mặc cho đại pháo 130 ly hay đại bác 100 trực xạ từ chiến xa . Cuộc sống của người lính tác chiến thật hào hùng nhưng giờ phút nầy thấy họ hiền lành, ngây thơ như trẻ nhỏ.
- Nhã Ca, uống nữa đi. Ðệ Ðức rót rượu từ chai Hennessy do bà xả gởi ra.
- Cám ơn Thiếu tá, thế là ấm giò rồi. Ly nầy là ly cuối.
- Phải chi có Thạch Sanh thì chai nầy không đủ đó Ðại úy. Chuẩn úy Lý hồng Phát delo pháo binh cũng là em vợ của Nguyễn kim Chung ngỏ lời.
Ngày 9 tháng 9
Phóng đồ hành quân phản công chiếm lại thị xã Quãng Trị bày ra trước mặt. Ðệ Ðức hút thuốc ngồi ngắm . Ánh sáng vàng vọt từ cái bóng đèn chỉ còn là sợi dây tóc đỏ, nó đã mòn mõi cháy suốt đêm.
Ðịch quân bắt đầu pháo dữ dội, cả đại đội sẵn sàng vị thế chiến đấu. Ðạn nổ dòn phía đại đội 1 và đại đội 3. Thảo chỉ nghe tiếng la, tiếng gọi pháo binh của Ðại úy Phạm tuấn Anh. Anh Ðào điều chỉnh pháo thật táo bạo. Bổng dưng đại đội 1 im lặng vô tuyến. Mươi phút sau có tiếng nói
- Chương Thiện đây Thạch Sanh, Anh Ðào say rượu rồi
Ðại úy Anh được tản thương gấp về bịnh viện.
Chiều hôm đó Ðại úy Anh đã vĩnh viễn ra đi để lại người vợ với đưa con tròn tháng mà trong buổi chia tay vẫn còn đậm nét nơi tâm hồn Thảo. Ðời người lính Tổng trừ bị là thế đó!
Ðài phát thanh và báo chí có đề cập đến một đơn vị của Tiểu đoàn 6 đã vào được cổ thành.
Ngày 11 tháng 9
Chi đội chiến xa của thiết đoàn 20 vào tăng phái cho tiểu đoàn. Thiếu úy Quyền khoá 24 Võ Bị danh hiệu Tố Quyên đưa một M.48 lên đại đội 2. Chuẩn úy Khúc thừa Thế trung đội trưởng súng nặng hướng dẩn xe vào vị trí ẩn núp an toàn vào ban đêm.
Ngày 12 tháng 9
Mấy hôm rày cánh quân của Tiểu đoàn 6 bất động. Ðiểm đóng quân của một đơn vị thuộc Tiểu Ðoàn 6 mà ban 3 Tiểu Ðoàn 3 cho Thảo lại là đơn vị Bắc Việt, nơi xuất phát các cuộc đánh phá đơn vị Thào. Sau mấy lần cho các toán nhỏ bò lên dò xét tình hình, đêm nay sẽ tiến lên tiêu diệt, mở rộng đường tiến sát vào cổ thành.
Hai giờ sáng các toán diệt chốt đã bao quanh mục tiêu. Máy vô tuyến thỉnh thoảng sè sè tiếng nói.
- Chương Thiện đây Nhã Ca, Tất cả đã vào vị trí
- Nhã Ca đây Chương Thiện, anh ráng làm sao cho tốt đẹp
- Nhận năm trên năm.
Những người lính nằm chờ đợi trong đêm, tất cả chong mắt thật sáng, tay nắm chặc quả lựu đạn M.67 hay con cóc mìn Claymor. Tuy trời đêm trở lạnh nhưng mồ hôi toát ra. Tiếng quân Cộng sản Bắc Việt đổi gác, tiếng ho và vài câu nói vớ vẩn
Thiết đoàn 20 chiến xa
- Ðồng chí canh gác cẩn thận, đồng chí chánh trị viên cho biết quân Ngụy quyết đánh cổ thành.
Làm sao có thể diển tả được cảm giác của người chiến sĩ trong lúc nầy, vì bảo vệ tự do, chống lại sự xâm lược và bành trướng của chế độ Xã hội chủ nghĩa nên đành phải ra tay.
Cánh quân của trung đội 2 bò về hướng Nam chiếm khu nghĩa địa ngăn chận đơn vị địch đến viện binh cho toán chốt.
Ðịch quân có loại CKC nòng dài, thêm máy nhắm trở thành khí cụ bắn sẽ rất chính xác nên khi trời mờ sáng địch ơ hờ vì biết ta không tấn công vào ban ngày. Pháo đội TQLC bắt đầu bắn vào cổ thành. Delo Lý hồng Phát theo sự điều chỉnh của các Alpha cho gần lại 50 thước đến khi đạn nổ sát bờ thành, pháo đội 20 tràng cày nát các vị trí yểm trợ cho chốt địch. Quả đạn đầu tiên thoát khỏi nòng đại bác trên M.48 nổ trên bờ thành là khẩu lệnh tấn công. Lựu đạn như những nắm cát tung vào mặt kẻ thù. Ðịch trở tay không kịp, hai chốt địch bị tiêu diệt
- Nam Giao đây 21, nhiệm vụ hoàn tất, hạ sát 8 tên tịch thu 2 CKC , 2 B.40 và 3 AK.47. Gia đình có hai nằm (tử thương), ba ngồi (bị thương)
Đơn vị bên nghĩa địa được địch điều sang tiếp viện. Ðạn từ 3 khẩu M.79 nổ mãnh liệt. Vùng đất an nghĩ nầy là mồ chôn xác giặc. Ðịch mất tinh thần, rút chạy vào bên trong cổ thành.
- Nam Giao đây 22. Ðã diệt 20 chuột, thu 12 AK, 3 B40, 2 RPD, 2 SKS. Gia đình có 3 nằm và 5 ngồi.
Thảo báo cáo về Tiểu đoàn
- Nhã ca đây Chương thiện, anh cho thừa thắng xông lên dựng cờ đi.
Ðịch vào Cổ thành cố thủ và chống trả. Lấy vị trí địch làm công sự, các toán quân bố trí và cố gắng lục soát tìm tài liệu.
- Trình Nam Giao, gia đình 21 lấy được bức tranh (bản đồ) của chuột
- Trình Nam Giao, gia đình 22 lục soát tử thi có một tên là chính trị viên.
Không khí tanh mùi máu và thuốc súng như men chiến thắng, anh em cùng cảm thấy ngày dựng cờ chiến thắng đang chờ phía trước
Thảo nhìn chai Hennessy còn nằm đó như một sự thách thức.
Cuộc chiến càng ác liệt thì nhiệm vụ của người y tá đại đội càng cần thiết và nguy hiễm nhiều hơn nữa. Binh nhất Nguyễn đăng Thâu y tá biệt phái cho đại đội lắng nghe trên máy truyền tin, nơi nào có người say rượu là anh phóng đi ngay. Có thể bảo rằng anh Thâu là người duy nhất biết rõ hết các ngả ngách của giao thông hào, và đã đi vòng quanh tuyến đại đội không biết bao nhiêu lần. Ngày nào mà chẳng có người bị thương hoặc chết. Nhìn Thâu, Thảo chợt nghĩ không có một huy chương nào xứng đáng để tưởng thưởng công lao. Mà thật sự điều Thâu ước muốn là anh em thương binh được an lành và trở về. Người chiến sĩ ngoài trận tuyến không bao giờ nghĩ đến cấp bậc, huy chương, và họ cũng không bao giờ để tâm đến mặt trái của cấp bậc, mặt trái của tấm mề đay do xin xõ, bè phái hoặc luồn cuối. Lúc bây giờ, nơi chiến tuyến tình người biểu hiện một cách trọn vẹn, cao quý nhất. Chốt của địch nay trở thành tiền đồn của ta.


Không ảnh thành Ðinh công Tráng nhìn từ Trí Bưu 7 giờ tối Thảo cùng các đại đội trưởng về họp tại bộ chỉ huy Tiểu đoàn, Trung tá Ngyễn xuân Phúc Lữ đoàn phó Lữ đoàn 147 hiện diện và chủ toạ cuộc họp.
Thiếu tá Nguyễn văn Cảnh trình bày vị trí của các đại đội cùng thành quả đã đạt được. Nhiệm vụ của Tiểu đoàn phải chiếm cho bằng được Cổ thành trụớc thời hạn mà vị Nguyên thủ quốc gia đã ra lệnh trong ngày Quân Lực 19 tháng 6 năm 1972 là phài lấy lại các vùng đất đã bị địch kiểm soát trong 3 tháng.
- Các anh cần gì tôi sẽ yểm trợ tối đa để hoàn thành nhiệm vụ. Chúng ta chỉ còn 6 ngày nữa thôi. Thiếu tá Cãnh dứt lời.
Nhìn thẳng các đại đội trưởng, Trung tá Phúc tiếp lời
- Các anh đánh đấm thế nào vậy. Tiểu đoàn 6 đã vào được một toán nhỏ từ lâu rồi, mà các anh vẫn chưa làm được gì cả. Ðây là lệnh, ai không thi hành sẽ trả lời trước toà án quân sự.
Vị Robert lửa người mà báo chí thường ca ngợi cũng như khoá 16 trường Võ bị Ðà Lạt hãnh diện đang ở trước mặt chúng tôi.
Có thể vậy sao!
Thảo chăm chú nhìn vào tấm không ảnh mới nhất mà tự hỏi thầm.
Cổ thành nằm trước mặt, chung quanh là hào nước. Làm sao mà Tiểu đoàn 6 của Trung tá Tùng có đơn vị vào trong đó được. Lại thêm nữa đã được báo chí và đài phát thanh truyền đi khắp nơi thì họ ẩn trốn nơi đâu vì địch sẽ lục soát góc thành dễ dàng. Làm sao nhận tiếp tế lương thực. Ðã chọc thủng vào được, sao trung đội, đại đội không bám theo rồi đánh bung rộng ra. Ðây phải chăng là một hình thức chiền tranh tâm lý với người không am tường quân sự.
Thảo nghĩ đến những người lính đại đội 2 đã hy sinh mở rộng phòng tuyến đẩy lui địch tận sát bờ thành. Thảo mạo muội lên tiếng
- Thưa Trung tá, anh em chúng tôi đã chiến đấu nhiệt tình, thiệt hại cũng khá nhiều. Nếu Tiểu đoàn 6 có đơn vị nằm góc thành, xin cho tôi được phép dẩn đại đội theo đường đó vào ngay trong đêm nay. Câu nói của Thảo đã làm vị Lữ đoàn phó bộc phát vài chử không đẹp ngoài ý muốn và trút cơn giận dữ lên các sĩ quan có mặt trong phòng họp
Rời bộ chỉ huy Tiểu đoàn, Quảng Trị (Trung úy Nguyễn văn Dương ÐÐT đại đội 4) chưởi thề cho vơi cơn bực tức, Thạch Sanh (Ðại úy Nguyễn văn Thạch ÐÐT đại đội 3) nhún vai như chẳng cần đời, Cần Thơ ( Trung úy Nguyễn kim Chung ÐÐT đại đội 1) chỉ mĩm cười gượng gạo, Thảo thì im lặng lầm lũi cùng hai cận vệ chạy trở về vị trí dưới cơn mưa pháo.
Thảo về tới hầm chử A thì nhận công điện mật của Chương Thiện đại đội phải tiếp tục đánh vào Cổ thành đêm nay.
Ngày 14 tháng 9
Hai trung đội 21 và 22 vẫn là nổ lực chính, xuất phát vào lúc 1 giờ sáng. Thiếu úy Lãm điều động 2 trung đội dò dẫm từng bước thật nhẹ nhàng tránh gây tiếng động. Cánh quân vượt qua các tổ tiền đồn và tới sát đường Duy Tân.
Toán tiền sát của trung đội 1 là Hạ sĩ Nguyễn văn Lợi, Binh nhất Nguyễn báu Quí, binh nhất Ngyễn Cân sẽ chiếm cầu vào ngay cửa Hữu. Toán của trung đội 2 là Hạ sĩ Dư minh Chiếu,Binh nhất Thạch Rong, binh nhì Huỳnh ngọc Lanh sẽ lội qua hào nước. Hai toán chạy nhanh qua đường Duy Tân. Ðạn AK nổ rền. Pháo hiệu (Signal) đỏ bay vút lên cao. Ðó là hiệu lệnh báo động của quân phòng thủ. Ðạn từ trên bờ thành rải xuống mặt đường. Lựu đạn nổ dưới hào nước làm mặt đất run chuyển nhẹ. Kế hoạch bị địch phát hiện. Thảo đành cho cánh quân lui về vị trí. Cả ngày mệt mỏi từ mờ sáng chập tối, thêm vào đó hơn nữa tháng thức trắng đêm chống chọi với địch, diệt chốt, mở rộng đường tiến sát mục tiêu. Thảo biết anh em đã thấm mệt, Thảo xin Chương Thiện cho được hoán đổi về cánh A. Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng chấp thuận nhưng Thảo phải để lại hai trung đội tăng cường cho Ðại úy Thạch.
Các trung đội của đại đội 3 bắt đầu thế tuyến cho trung đội 21 và 24. Riêng trung đội 22 và 23 vẫn còn ở lại tăng phái giữ phòng tuyến cùng các toán tiền đồn.
Buổi chiều mưa rét, Thảo về nhà thờ Trí Bưu chỉ là đống gạch đổ nát, chui dưới sàn nhà tâm hồn Thảo cảm thấy yên
Ðại úy Thạch ÐÐT và Trung úy Nguyễn ngọc Trà ÐÐP
yắng khác lạ, có lẽ vơi bớt đi sự lo lắng và tù túng trong căn hầm chử A chật hẹp.
Ngày 15 tháng 9

Binh sĩ ÐÐ2 dựng cờ ngày 16 tháng 9 năm 1972 4 giờ sáng. Máy truyền tin vẫn im lặng, thỉnh thoảng lại vang lên báo cáo của Trung úy Trà đã gìàn quân dọc theo đường Duy Tân (cặp theo các căn nhà đổ). Ðịch báo động từ chập tối bắn vu vơ đang mõi mắt đợi chờ.
5 giờ sáng. Pháo binh bắn quấy rối rỉ rả như mọi đêm để đánh lừa địch. Cùng lúc đó các toán nhỏ lội nhè nhẹ qua hào nước. Cơn bảo Elsie gầm thét, giọt mưa như thác đổ làm bức màn che các toán cảm tử bò lên bờ thành đổ nát. Lựu đạn nổ đồng loạt trên thành, tiếng la xung phong vang dậy trong đêm. Trung úy Trà cùng hai trung đội của Thiếu úy Văn tấn Thạch vá Thiếu úy Vũ duy Hiền như cơn sóng thần ập vào thành. Tiểu đoàn 3 đã phá vở phòng tuyến địch nơi cửa Hữu.
Thảo thức giấc và chăm chú theo dõi từ lúc toán tiền sát bò lên thành. Thảo đã cho cả đại đội sẵn sàng tiếp ứng cho đại đội 3
- Nhả ca đây Ðệ Ðức, cho con cái lên đánh canh bạc chót.
- Nhận Ðệ Ðức năm trên năm.
Thảo truyền lệnh các trung đội tiến lên theo đội hình 22, 23 ban chỉ huy đại đội, 21, 24. Pháo binh 130 ly và đại bác 100 ly trực xạ từ Ái Tử không cản được đoàn quân. Trung đội 22 chiếm cổng chính cửa Tiền đường Lê văn Duyệt. Tinh thần cán binh Cộng Sản đã suy sụp, chống cự yếu ớt và rút về cố thủ ở cửa Tả đường Phan đình Phùng. Chai Hennessy được khui ra và chuyền tay cho các binh sĩ. Bên cánh trái Tiểu đoàn 6 bắt đầu tràn lên thành và tác xạ về phía Tiểu đoàn 3. Ðệ Ðức tức giận gào to trong máy truyền tin
- Chương Thiện bảo mấy đứa con của Thái Dương (Trung tá Tùng TÐT) còn bắn cái con mẹ gì nữa. Sói Biển đầy cả thành rồi. Có mấy đứa say rượu nè. Bố chúng nó.
Ðịch xử dụng tất cả hoả lực còn lại để tàn sát đoàn quân chiên thắng. Tiểu đoàn 7 đã tiến ngang bên dưới đường Lê văn Duyệt, một số cán binh Cộng Sản chui ra đầu hàng.
Ðạn pháo và bóng đêm cũng như sự mệt mõi không làm người chiến sĩ dừng bước, họ chiến đấu liên tục, tiêu diệt
các tàn quân địch còn cố thủ. Sau gần 24 giờ chiến đấu không nghĩ, những người lính đại đội 2 Tiểu đoàn 3 TQLC đã dựng ngọn cờ trên cổng thành cửa Tả vào mờ sáng ngày 16 tháng 9 năm 1972. Trung sĩ Trương văn Hai trung đội phó trung đội 22 đã hy sinh trong giây phút hào hùng nầy.
Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đã chiến thắng, chiếm lại Quảng Trị trước hạn định 3 ngày. Sự thành công nầy là do đóng góp của Sư đoàn Dù (Tích tường, Như Lệ), Biệt Ðộng Quân (Liên đoàn 7 ở chợ Sãi), Không quân, Hãi quân, Liên đoàn 81 Biệt cách Dù, Thiết đoàn 20 chiến xa, Thiết đoàn 18 kỵ binh, Pháo binh 155 ly… và Sư đoàn TQLC là nổ lực chính.
Chiến thắng cổ thành Quãng Trị đã được nhiều người viết do tưởng tượng phong phú hoặc do nghe người khác thuật lại. Tôi là một trong những chứng nhân và cùng các chiến hữu TÐ 3 TQLC tham dự chiến thắng hào hùng nầy. Nhưng sự thật đã bị đão ngược, những trung đội trưởng chạy đặc cách đều bị loại, một số huy chương cấp bậc rơi rớt trên vai trên ngực những người đánh giặc Tâm lý chiến hoặc bè phái. Biết bao nhiêu chiến sĩ vô danh đã hy sinh vì bảo vệ tự do. Sự hy sinh cũa các vị anh hùng đó đem lại bổng lộc vài cá nhân. Ðể phù hợp việc tô bóng một cá nhân, thay đổi tên họ cũng như đơn vị của các anh em binh sĩ trong hình dựng cờ. Việc làm đó lịch sử sẽ phê phán.


Image

Trích hồi ký “ Người lính Tổng trừ bị”

Giang văn Nhân

Guest

Post by Guest »

TƯỞNG NIỆM SÁU LÈO


Sáu Lèo được nhắc tới ở đây không phải Sáu Lèo của TVTS mà là "Sáu Lèo" Nguyễn Ngọc Loan, vị cựu Tư Lệnh Phó Không Quân kiêm Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia của Việt Nam Cộng Hòa trước đây - người vừa qua đời vào ngày 14. 7. 1998 tại Hoa Thịnh Đốn.
(Hỗn danh "Sáu Lèo" là do các nhà báo Sài Gòn đặt cho Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan khi ông nắm giữ chức vụ Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia dưới thời chính phủ Nguyễn Cao Kỳ).


Cho tới nay, mỗi lần nhắc tới thiếu tướng Nguyễn Ngọc Loan (ông giải ngũ với cấp bậc thiếu tướng), người ngoại quốc lại nhớ tấm hình chụp ông đích thân xử tử một tên đặc công VC trên đường phố Sài Gòn hồi Tết Mậu Thân 1968, và vì thế một số không ít đã gọi ông là "bạo tướng" (ruthless general, nhật báo The Age). Nhưng người Việt Nam từng quen biết ông, hay từng làm việc dưới quyền ông, và kể cả một số người ngoại quốc biết rõ, hiểu rõ ông, thì bên cạnh tấm hình đó, còn phải nhớ tới đức tính cương trực, thanh liêm, can đảm, tận tụy của một cấp chỉ huy nơi ông.


Trước thời ông làm Tổng Giám Đốc, lực lượng cảnh sát quốc gia (CSQG) của VNCH còn mang tính cách bán quân sự rõ rệt, với nhiệm vụ, khả năng bảo vể trật tự trị an trong thời bình hơn là thới chiến. Nhưng sau đó, dưới sự lãnh đạo của ông, CSQG đã trở thành một lực lượng đáng kể trong công cuộc bảo vệ miền Nam trước cuộc xâm lược của CSBV, trước những xâu xé, tranh chấp nội bộ nẫy sinh sau cuộc đảo chánh 1963, cũng như tình trạng "vô chánh phủ" trong mọi giới, từ tôn giáo tới đảng phái, từ làng báo tới học đường...


Dĩ nhiên, có người sẽ cho rằng ông Loan được nắm giữ CSQG chỉ vì là người của Nguyễn Cao Kỳ, và sau đó CSQG "nổi" cũng nhờ cái thế của ông Kỳ. Điều đó đúng một phần. Phần còn lại "con người" ông Loan. Trước năm 1975, ở miền Nam không thiếu tướng tá nhờ thời cơ hay phe đảng mà nắm được những chức vụ quan trọng, nhưng sau khi ngồi vào chức vụ đó rồi, họ chỉ làm nổi bật thêm sự bất tài của mình. Ông Loan khác hẳn, xuất thân là phi công phản lực đầu tiên của Không Quân VNCH (ông học bay tại Pháp), đang làm Tư Lệnh Phó Không Quân lại sang nắm CSQG mà không hề bị coi thường, bị "kỳ thị" thì đủ biết tư cách và tài lãnh đạo chỉ huy của ông như thế nào.


Nhưng cũng vì có tài mà lại không cúi đầu thần phục ai, không kiêng nể phe phái nào, ngày ấy ông Loan đã bị khá nhiều người ghét. Ông bị một số "cha" ghét vì đòi bắt "con nuôi tổng thống Diệm" (sẽ nói tới ở đoạn sau), ông bị vài "thầy" ngoài miền Trung ghét vì muốn vào chùa bắt các quân nhân làm loạn, ông bị sinh viên "trâu đánh" ghét vì chủ trương cứng rắn với thành phần này, ông bị nhiều tướng lãnh cùng thời ghét vì cái tật hay chỉ trích, nóng giận, ông bị Mỹ ghét vì không chấp nhận cho những người đồng minh lông lá này làm vương làm tướng ở miền Nam...
Cái "bị ghét" sau cùng ấy đã khiến ông và những người theo ông, hoặc làm việc chung với ông, trở thành mục tiêu của một vụ "bắn lầm" lộ liễu và nham nhở nhất của đồng minh Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam.


***

Hôm ấy là ngày 3 tháng 6, 1968, thời gian mà VC đang ra sức đánh phá miệt Chợ Lớn và các vùng ngoại ô. Để tiện việc quan sát tình hình và điều động các đơn vị, một bộ chỉ huy hỗn hợp gồm các sĩ quan cao cấp của Biệt Khu Thu Đô, Biệt Động Quân, CSQG và An Ninh Quân Đội đã tới đặt vị trí tại một lớp học trên lầu trường tiểu học Phước Đức ở Chợ Lớn.
Bất thần, hai chiếc trực thăng võ trang của Hoa Kỳ có nhiệm vụ tấn công các vị trí của VC, đã bay tới và bắn hỏa tiễn vào lớp học này. Bắn vào một vị trí đã được chỉ điểm, lại có đủ thì giờ "nhắm" mục tiêu nên các phi công Mỹ đạt mức chính xác tuyệt đối: Các hỏa tiễn chui qua cửa sổ và nổ tung trong lớp học.

Kết quả, 6 sĩ quan cao cấp sau đây bị chết thảm:
-Trung tá Nguyễn Văn Luận, Giám đốc Nha Cảnh Sát Đô Thành
- Trung tá Lê Ngọc Truï, Trưởng ty Cảnh Sát Quận 5
- Trung tá Đào Bá Phước, chỉ huy trưởng Liên Đoàn 5 Biệt Động Quân
- Trung tá Phó Quốc Trụ, Giám Đốc Thương Cảng Sài Gòn
- Thiếu tá Nguyễn Ngọc Sinh, phó giám đốc Nha Cảnh Sát Đô Thành
- Thiếu tá Nguyễn Bảo Thùy (bào đệ của Trung Tướng Nguyễn Bảo Trị), Chánh sở An Ninh Đô Thành.
Ba sĩ quan cao cấp bị thương là:
- Đại tá Vănn Văn Của, Đô trưởng Sài Gòn
- Đại Tá Nguyễn Văn Giám, Tư lệnh Biệt Khu Thủ Đô
- Đại tá Nguyễn Văn Phấn, bị nặng nhất (cụt chân)

Riêng Chuẩn tướng Nguyễn Ngọc Loan thoát chết nhờ... Việt cộng. Số là bốn tuần lễ trước đó, ngày 5. 5. 1968, trong lúc đích thân chỉ huy cuộc phản công VC tại đường Tự Đức (gần cầu Phan Thanh Giản), ông bị thương nặng (gẫy cả hai chân). Vì thế, ông đã không có mặt tại trường tiểu học Phước Đức để phải chết vì hỏa tiễn bắn từ trực thăng Hoa Kỳ.

Người Sài Gòn ngày ấy không ai tin lời giải thích "bắn lầm" do phía Hoa Kỳ đưa ra. Ai cũng biết đa số các sĩ quan bị giết, bị thương là người của ông Loan, tức phe ủng hộ ông Kỳ. Ông kỳ lúc đó tuy đã ép bụng chấp nhận là Phó tổng thống cho ông Thiệu (vốn là "gà" của Mỹ) nhưng người Mỹ cũng thừa biết ông Kỳ chưa chịu an phận, nên họ phải tìm cách tiêu diệt nhóm ông Loan để ông Kỳ "cụt tay chân, mất vây cánh". Thành thử, việc tất cả các sĩ quan cao cấp nói trên tụ họp tại một phòng học trống phải được coi là cơ hội ngàn năm một thuở cho đại Sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam, "Ông già tủ lạnh" Ellsworth Bunker.

Cũng cần phải nói thêm, tuy cùng xuất thân từ Không Quân nhưng chưa hẳn ông Loan đã thích, đã phục ông Kỳ. Ông chỉ phục vụ chính nghĩa và lợi ích của đất nước, dân tộc. Ai từng biết ông Loan, không thể phủ nhận điều đó.

* * *


Nói về sự cương trực của ông Loan, có lẽ không gì bằng nhắc lại vụ loại trừ Phạm Ngọc Thảo, một người mà tới nay đã có đủ bằng chứng để kết luận là người của cộng sản.

Phạm Ngọc Thảo nguyên là Việt Cộng hồi chánh, được tổng thống Diệm tin dùng và nhận làm "con nuôi". Đối với một số không ít người công giáo, ông Ngô Đình Diệm được coi là một vị "thánh". Mà thần thánh thì không bao giờ lầm. Chính vì thế, trong thời kỳ hỗn loạn sau cuộc đảo chánh 1963, khi Phạm Ngọc Thảo (lúc ấy mang cấp bậc đại tá) âm mưu "làm loạn" thì không ít nhà lãnh đạo và tín đồ công giáo đã ra mặt ủng hộ, vì cho rằng Phạm Ngọc Thảo đang trả thù cho cái chết của hai anh em ông Diệm. chứ có đâu có ngờ rằng viên cựu sĩ quan VC này đang âm mưu phá rối chính trường miền Nam.

Bản thân ông Nguyễn Ngọc Loan là một người công giáo, xuất thân từ một gia đình có người "đi tu", nhưng ông không để cho niềm tin vào tôn giáo ảnh hưởng tới suy nghĩ và hành động của mình. Ông cương quyết đặt quyền lợi (chính đáng) của Tổ Quốc lên trên hết.

Những ai theo dõi cuộc binh biến, các diễn tiến chính trị tại miền Nam thới ấy hẳn còn nhớ việc Phạm Ngọc Thảo sau khi bị thương đã tới "tÿ nạn" tại một nhà xứ nọ ở vùng ngoại ô Biên Hòa.

Vào cái thời hỗn loạn của miền Nam mà báo chí Sài Gòn đã mỉa mai là "nhất đĩ, nhì sư, tam cha, tứ tướng" ấy, các xứ đạo được coi là "bất khả xâm phạm". Nhiều cha có "nghĩa quân", có "dân quân tự vệ", có "lực lượng Lam Sơn" riêng với đầy đủ vũ khí!... Nhưng cuối cùng, trước thái độ cương quyết và đòi hỏi hợp lý của ông Loan, "cha" đã phải chấp nhận "thượng tôn pháp luật", trao Phạm Ngọc Thảo cho lực lượng chính phủ.

***

Về đức tính thanh liêm của ông Loan, những ai đã đọc cuốn Bốn tướng Đà Lạt của Lê Tử Hùng hẳn còn nhớ vụ ông Loan trả lại nhẫn kim cương cho Hoa kiều Hoa Hồng Hỏa là một trong những thương gia gốc Hoa lương thiện trở thành nạn nhân của các tướng lãnh sau cuộc đảo chánh 1963.

Ông ta bị vu oan và biệt thự của ông ở Đà Lạt bị tướng Trần Văn Đôn chiếm. Tới thời ông Loan coi CSQG, họ Hoa được minh oan và tiếp tục làm ăn. Khi ông Loan đã "hết thời" và phải ra ngoại quốc chữa chân (hai chân ông bị VC bắn gẫy tại cầu Phan Thanh Giản trong Tết Mậu Thân sau này vẫn không lành hẳn), biết ông là người thanh liêm, gia cảnh thanh bạch, lại không thân nhân ở ngoại quốc, Hoa Hồng Hỏa đã trả ơn bằng cách tặng ông một cái nhẫn kim cương, theo lời ông kể lại sau này, ông không biết chữa trị sẽ kéo dài bao lâu và cuộc sống ở ngoại quốc khó khăn ra sau.
Nhưng cuối cùng mọi việc cũng đâu vào đó và ông cũng không phải bán cái nhẫn. Ngày ông trở về Việt Nam và trả nó lại cho chủ nhân, vợ chồng Hoa Hồng Hỏa đã khóc và lạy ông là "thánh"!...

***

Nhưng nếu đã là "thánh", tại sao ông Loan lại nhẫn tâm cầm súng bắn vào đầu một tên Việt Cộng (đã bị bắt trói) giữa đường phố Sài Gòn, để rồi bị cả phương tây lên án và tạo cơ hội tuyên truyền cho cộng sản và bọn phản chiến?

Muốn có câu trả lời, phải tìm nhìn rõ bàn tay nhuốm máu của tên sĩ quan đặc công Việt Cộng này.

Hồi Tết Mậu Thân 1968, có lẽ không một người dân Sài Gòn nào lại không biết, không nghe tới vụ VC tàn sát gia đình Trung tà Nguyễn Tuấn (Thiết Giáp), gồm 8 người trong đó có bà mẹ già 80 tuổi. Thủ phạm không ai khác hơn chính là tên thượng úy đặc công nói trên...

Vào lúc 4 giờ 30 sáng mùng hai Tết, một đơn vị đặc công Việt Cộng do tên sĩ quan này chỉ huy, cùng với các tài xế xe tăng của Tiểu Đoàn 2 Cơ Giới Việt Cộng, đã đột nhập vào trại Phù Đổng của binh chủng Thiết Giáp ở Gò Vấp. Mục đích của chúng là chiếm lấy các xe tăng của quân ta để tấn cống Sài Gòn. Không ngờ đa số xe tăng trước đó đã di chuyển đi nơi khác, chì còn một số nhỏ và 40 quân nhân ở lại trại, trong đó có trung tá Nguyễn Tuấn và gia đình. Sau khi bọn đặc công làm chủ được tình hình trong trại, bọn tài xế VC leo lên các chiến xa để lái đi nhưng chúng không thể nổ máy (vì có một bộ phận bí mật đã khóa máy xe lại).

Lúc đó toàn bộ gia đình trung tá Nguyễn Tuấn đã bị VC bắt giữ. Tên thượng úy đặc công VC ra lệnh cho trung tá chỉ dẫn cách nổ máy xe tăng, nhưng ông từ chối. Tên VC thực hiện lời hăm dọa bằng cách đâm chết bà mẹ già 80 tuổi. Nhưng trung tá Tuấn vẫn không chịu khuất phục. Thế là lần lượt các người con, vợ ông và sau cùng tới bản thân ông đã bị chúng đâm chết. Chỉ còn một đứa bé trai 10 tuổi được cứu sống.

Mấy ngày sau, khi được tin tình báo cho biết rõ khu nhà dân mà tên thượng úy nói trên và đồng bọn đang chiếm đóng, chuẩn tướng Nguyễn Ngọc Loan đã đích thân tới tận nơi chỉ huy cuộc vây hãm. Mặc cho quân ta kêu gọi đầu hàng nhiều lần, tên thượng úy vẫn ngoan cố núp trong nhà dân, tiếp tục bắn ra. Sau khi bị thương ở chân, y vẫn không chịu ra đầu hàng. Cuối cùng, ông Loan hết kiên nhẫn, ra lệnh cho các binh sĩ và cảnh sát liều chết xông vào. Cuối cùng các chiến sĩ Thủy Quân Lục Chiến đã bắt sống được y.

Trong cuốn "In The Frontline" của mình, phóng viên chiến trường Úc Neil Davids (chết cách đây mấy năm tại Căm Bốt) - người đã ở Việt Nam từ năm 1964 tới năm 1975, từng theo quân đội VNCH hành quân, từng vào thăm mật khu VC, đã bênh vực ông Loan về hành động xử tử tên VC tại chỗ, thay vì bắt làm tù binh. Tên VC mặc áo dân sự, tức là không phải "quân nhân địch" như đã quy định trong Quy ước Genève về tù binh, tội ác của y (giết cả gia đình trung tá Nguyễn Tuấn) đã quá rõ ràng, lại ngoan cố không chịu đầu hàng thì ông Loan có gọi là "phiến loạn" để xử bắn theo "thiết quân luật", cũng chẳng có gì quá đáng.

Neil Davids đã đi tới kết luận: khi lên án các hành động tàn bạo trong cuộc chiến VN, việc làm "sai nguyên tắc" của ông Loan phải được miễn trừ, bởi vì ông có những lý do mà người hiểu chuyện cho là chính đáng.
Nhưng không phải ai cũng "hiểu chuyện".

Nhất là các nhà báo chỉ thích loan tin giật gân, khai thác hình ảnh khủng khiếp. Nhất là các thế lực phản chiến ở Mỹ và ở Tây Âu. Với các thành phần này, tấm hình của Eddie Adams chụp ông Loan bắn tên đặc công VC đã thành một bằng chứng vô giá trong việc thổi phồng những cái mà họ gọi là "hành động tàn bạo" của Hoa Kỳ và VNCH trong cuộc chiến.

Khách quan nhận xét, có cả một số người ngoại quốc không phải "phản chiến" cũng bất bình về việc làm của ông Loan. Và như vậy, số người bất bình, lên án ông chắc chắn đông hơn số người hiểu và bênh vực ông.

Nỗi đau khổ, niềm uất ức của ông Loan nói riêng và các quân nhân VNCH nói chung là trước đây phóng viên ngoại quốc đã được tư do (có khi còn được dành mọi sự ưu tiên, cung cấp phương tiện) trong việc theo sát các đơn vị QLVNCH và đồng minh để "nghe tận tai, thấy tận mắt".

Trong khi đó, đã không có phóng viên nào chứng kiến và ghi nhận được hành động cực kỳ tàn bạo của Việt Cộng. Như bắn giết và quăng vào đống lửa hơn 500 đàn bà trẻ con ở trại biệt kích Thượng Dakson (tỉnh Sông Bé), chôn sống hơn hàng ngàn người dân vô tội ở Huế trong Tết Mậu Thân, đâm chết mấy chục tuyên úy tại trường đại học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt, pháo kích vào trường tiểu học Cai Lậy sau hiệp định Paris 1973 giết bao nhiêu học trò cùng cô giáo, hoặc xử tử thiếu tá Nguyễn Du ngay sau khi anh nhảy dù xuống đất, và hàng trăm, hàng ngàn vụ khác...
Bên cạnh đó, chúng ta cũng phải quy một phần trách nhiệm cho bộ máy tuyên truyền (quá tệ) của miền Nam trước năm 1975. Vụ thảm sát ở Huế với những hố chôn người tập thể rành rành ra đó mà hầu như chẳng một người ngoại quốc nào biết tới. Ngày nay, khi chính viên tướng VC, tư lệnh phó Mặt Trận Huế (ngày ấy) công khai lên tiếng xác nhận (trên tạp chí Cửa Việt) là đã vụ thảm sát này, và tự biện hộ là do "lầm lẫn không tránh khỏi khi rút quân vội vã", thì miền Nam đã "oong poăng phi nan", chẳng còn người ngoại quốc nào quan tâm tới chuyện cũ nữa!

Riêng ông Loan thì dù muốn hay không, trước mắt nhiều người cũng mang tiếng "tàn bạo". Chúng ta không thể ngăn cấm họ lên án ông. Nhưng ít ra chúng ta cũng phải giải thích cho bạn bè, cho con cháu chúng ta hiểu rõ những nguyên nhân chính đáng nào đã khiến ông có hành động ấy.

Chính phóng viên nhiếp ảnh Eddie Adams đã phải ân hận trước những hậu quả mà tấm hình của mình gây ra cho ông Loan. Ngày ông còn sống, Eddie đã từng xin lỗi ông và gia đình. Nay khi được tin ông chết, Eddie lại lên tiếng kêu gọi nước Mỹ hãy khóc thương:

"The guy was a hero. America should be crying. I hate to see him go this way, without people knowing anything about him."

Lời tuyên bố của Adams tuy không thể đền bù tất cả mọi bất công mà lúc còn sống ông Loan đã phải hứng chịu, nhưng ít ra cũng đủ để người chết được ngậm cười, đủ để con cháu ông được ngẩng mặt.
Riêng LNĐ, dù không có những lời bênh vực của Neil Davids, không có câu thương tiếc của Eddie Adams, những tình cảm trân trọng đối với "Sáu Lèo" Nguyễn Ngọc Loan vẫn còn, và sẽ mãi mãi còn nguyên vẹn.


Lão Ngoan Đồng (TVTS 643)

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Giờ thứ 25: Tự sát dưới chân cờ

Post by phu_de »

.
TỰ SÁT DƯỚI CHÂN CỜ
NGƯỜI QUÂN CẢNH CUỐI CÙNG CHẾT TẠI TỔNG THAM MƯU

Lời giới thiệu: Giờ thứ 25 của ngày 30 tháng 4-1975, có một hạ sĩ quan quân cảnh của đại đội 1 tại Tổng Tham Mưu đã tự sát dưới chân cột cờ trước tòa lầu chính. Một quân cảnh còn sống đến hôm nay sẽ kể lại câu chuyện. Nhưng trước đó xin quý vị nghe qua về cuộc đời của chính tác giả: Anh Huỳnh Hồng Hiệp gốc Kiến Hòa, sinh sống tại Sài Gòn đã đầu quân vào binh chủng quân cảnh từ cấp binh nhì. Sau đó anh lên binh nhất rồi đi học lớp hạ sĩ quan căn bản, trải qua lớp chuyên môn binh chủng rồi phục vụ tại Phú Quốc. Hàng ngày những hạ sĩ quan quân cảnh VNCH phải đối diện với 40,000 chiến binh cộng sản trong các trại giam. Ðây là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn phức tạp và hiểm nghèo. Sau khi hiệp định Paris ký kết, trại tù binh giải tán, các tiểu đoàn quân cảnh của Phú Quốc trở về đất liền tham dự các buổi hành quân tảo thanh và bình định. Chiến dịch chấm dứt. Một số tiểu đoàn giải tán, binh sĩ chuyển qua biệt động quân. Các hạ sĩ quan quân cảnh trong đó có thanh niên Kiến Hòa Huỳnh Hồng Hiệp phải vào Dục Mỹ huấn nhục. Vừa vất vả, vừa bị các quân nhân đơn vị bạn ghét quân cảnh nên kỳ thị phá phách. Nhưng rồi mọi thứ cũng trôi qua và ở trong câu chuyện cuối tháng Tư sau đây, xin mời quý vị theo chân người hạ sĩ quan quân cảnh gian truân của chúng ta trên đường từ Dục Mỹ về Sài Gòn cho đến ngày cuối tại Bộ Tổng Tham Mưu.

Sau cơn hồng thủy 75, anh Huỳnh đã ở lại Sài Gòn rồi sau này mới vượt biên. Vì năm 75 chợt thấy mình yêu nước nên ở lại. Chuyến vượt biên những năm sau là thảm kịch gia đình. Nhưng đây lại là một câu chuyện khác. Hôm nay chúng ta chỉ nghe câu chuyện chấm dứt dưới chân cờ.

Riêng đối với các quân nhân Việt Nam Cộng Hòa đã chạy được qua ngả Tân Sơn Nhất vào tuần lễ cuối cùng. Nếu đi ngang qua cổng trại Trần Hưng Ðạo của Bộ Tổng Tham Mưu thì sẽ thấy trung sĩ Huỳnh đứng giữ trật tự. Suốt tuần lễ dài như cả trăm năm, anh vẫn đứng gác cho đến giờ phút cuối để các cấp trên di tản theo hệ thống quân giai. Bởi vì người trai Kiến Hòa đã không biết tại sao trong những giờ phút đó, anh lại chợt thấy mình yêu nước, yêu quân đội. Mà quân đội đối xử với anh có đẹp đẽ gì đâu?

Giới thiệu của Giao Chỉ San Jose.




Vào khoảng 8 giờ sáng, ngày 29 tháng 3-1975, tôi với một vài người bạn ra chợ Dục Mỹ để uống cà phê và cũng để nghe ngóng tình hình chiến sự. Tin tức từ những quân nhân hướng Khánh Dương chạy về cho biết là tuyến phòng tuyến này do các chiến sĩ nhảy dù ngăn chận cộng quân đã đổ vỡ.

Chúng tôi lập tức trở về TTHL Dục Mỹ thì quang cảnh quân trường đã thay đổi hẳn. Các khóa sinh và cơ hữu của trung tâm ra các giao thông hào trong tư thế sẵn sàng tác chiến. Biến động này làm cho nhóm 17 khóa sinh gốc quân cảnh chúng tôi lại thêm hoang mang. Số là nhóm chúng tôi đã thụ huấn xong khóa cuối Rừng Núi Sình Lầy và có danh sách được trở về binh chủng quân cảnh. Khóa học đã mãn hơn 10 ngày rồi mà chưa có sự vụ lệnh để trình diện đơn vị.

Chúng tôi cử một đại diện có cấp bậc cao nhất trong nhóm là thượng sĩ lên trình diện đại tá CHT/TTHL Dục Mỹ sau khi đã qua các văn phòng theo hệ thống quân giai. Ðại tá Ðại rất bận rộn nhưng ông vẫn cho gặp. Ông ngạc nhiên về trường hợp chậm trễ. Tuy nhiên sau cùng, ông lục ở ngăn kéo nơi làm việc tìm ra được sự vụ lệnh mà ông đã ký rồi và đưa ra trao cho trưởng toán chúng tôi.

Khi nhận được sự vụ lệnh thì quân trường Dục Mỹ không thể cung cấp phương tiện đến Nha Trang. Chúng tôi đành tự túc mạnh ai nấy đi. Ðến chiều khoảng 1 giờ, chúng tôi gặp nhau tại ở Nha Trang với hy vọng tìm được máy bay về Sài Gòn. Tôi và vài bạn nữa đi ngang qua Bộ Tư Lệnh QÐ II thì lá cờ tướng đã hạ xuống, quân cảnh gác cổng không còn. Ði qua Bộ chỉ huy BÐQ QK II thì cũng vườn hoang nhà trống. Súng M16 cả đống nên mỗi anh em nhặt một cây để phòng thân.

Không có phương tiện của quân đội nên chúng tôi mạnh ai nấy đi bằng cách đổ ra ngã Ba Thành và leo xe nhà binh tìm đường xuôi Nam. Lúc bấy giờ có quân cảnh Hiệp, người lớn tuổi hơn tôi nên bạn bè gọi là Hiệp già. Anh có một vợ 5 con, đơn vị gốc là Tiểu đoàn 8 Quân Cảnh, cùng học chung với tôi mấy khóa ở Trường quân cảnh và Trường HSQ Ðồng Ðế.

Suốt đêm hôm đó và đến khoảng 3 giờ chiều hôm sau, đoàn xe di tản đến thị xã Phan Thiết. Khi xe ra khỏi Phan Thiết một đỗi chúng tôi gặp một số quân nhân chạy ngược lại, được biết Việt cộng phục kích và có giao tranh ở ngã ba Bình Tuy (Rừng Lá).

Tin này làm chúng tôi chùn chân vì tôi biết chắc với đám quân không có chỉ huy nếu gặp Việt cộng thì chỉ có chết. Sở dĩ tôi nghĩ như thế là vì suốt từ nhiều ngày qua đã có lúc giành mấy củ khoai ở cổng Ba Làng Cam Ranh mà bắn nhau chết. Thị xã Phan Thiết đang yên lành thì bị cướp, bị phá cửa sắt lấy bia, nước đá, thực phẩm tạo ra sự giành giựt rồi giết nhau. Ðiều này ai có đi khoảng thời gian đó đều biết. Với máu quân cảnh trong người, tôi rất bất mãn nhưng không thể làm gì được.

Sau cùng, tôi bàn với anh Hiệp già là nên trở lại Phan Thiết tìm ghe hoặc tàu bè về Vũng Tàu chắc ăn hơn. Anh Hiệp không đồng ý nên chúng tôi chia tay.

Sau cùng tôi cũng tìm đường thủy về Sài Gòn qua ngã Vũng Tàu. Trình diện ở trại đường Tô Hiến Thành xong, được lệnh trả tôi về binh chủng. Tôi bắt thăm trúng được Tiểu đoàn 5 Quân Cảnh. Nỗi vui mừng thật lớn, coi như thoát được nạn trong mấy ngày vừa qua. Hơn sáu năm đi lính, lần đầu tiên bắt thăm được trúng đơn vị ở gần nhà. Biết bao là mừng vui. Tại Ban nhân viên tiểu đoàn tôi được lệnh tăng phái cho Ðại đội 1 Quân Cảnh tại Bộ TTM. Thật tình mà nói, tôi chỉ được nghe tên vị tiểu đoàn trưởng là thiếu tá Hưng hay trung tá Hưng (không rõ), còn các đại đội trưởng và trung đội trưởng của tôi tôi chưa kịp gặp mặt, hoàn toàn không biết là ai. Cứ nhận lệnh đi tăng phái đã.

Tôi không nhớ chính xác bao nhiêu quân nhân từ Tiểu đoàn 5 Quân Cảnh tới tăng cường cho Ðại đội 1 Quân Cảnh, hình như khoảng 15 anh em gì đó. Nhiệm vụ chúng tôi đứng các nút chặn ngã ba Chú Ía, ngã tư Võ Duy Nguy - Võ Tánh, Võ Tánh gần Bệnh Viện III Dã Chiến Hoa Kỳ, và Võ Tánh gần ngã ba Trương Quốc Dung.

Có một ngày, vào khoảng 15 tháng 4-1975, tôi gặp lại một bạn quân cảnh cùng chạy ở Dục Mỹ hỏi thăm anh Hiệp già và được biết anh bị một viên đạn bắn sẻ của Việt cộng trúng ngay giữa tam tinh gần ngã ba Rừng Lá. Tôi bần thần về tin này cả tuần.

Trong thời gian tăng phái cho TTM, ngày đứng đường, đêm về các điểm phòng thủ trong Tổng Tham Mưu. Có một đêm tôi nằm dưới thềm Tổng Cục Tiếp Vận coi TV thấy tổng thống Thiệu đọc diễn văn chửi Mỹ. Mắt coi TV, tai nghe đạn pháo kích lòng dạ sao xuyến tan nát. Cường độ pháo của cộng quân càng tăng. Trước 3 trái thì 2 trái vô Tân Sơn Nhất còn trái vô TTM. Sau 2 trái thì 1 trái vô Tân Sơn Nhất và 1 trái vô TTM. Nghe quen, tôi cũng bắt chước số anh em khác mà đoán tầm gần xa, lúc nào sắp nổ. Tôi vẫn ở TTM nhưng phạm vi hoạt động rút lại gần hơn và chịu pháo nhiều hơn.

Trong thời gian này, bên gia đình vợ tôi có đường chạy ra ngoại quốc. Nếu muốn đi thì chắc chắn chúng tôi sẽ ra đi bình yên. Tôi là hạ sĩ quan với sắc phục quân cảnh. Ði đâu cũng gặp toàn bạn bè cùng binh chủng. Không những đi dễ dàng mà còn lo cho được cả gia đình họ hàng. Nhưng không biết tại sao vào những giây phút đó tôi lại thấy mình yêu nước. Bỏ đi không đành. Ðó là tấm lòng thành thực, nghĩ sao thì nói vậy. Sau này vợ tôi cứ nói mãi về vụ di tản. Bây giờ bả không còn nữa nhưng tôi vẫn còn nghe như tiếng nói than thở bên tai.

Sáng ngày 30 tháng 4-1975:

Tôi được lệnh tăng cường cho cổng 1 TTM. Lúc bấy giờ cộng quân gia tăng cường độ pháo kích dữ dội. Các quân cảnh cơ hữu của Ðại đội 1 Quân Cảnh rất bận rộn. Có tin cổng 4 có một số sĩ quan TTM phá rào chui ra đến nỗi quân cảnh Ðại đội 1 TTM phải dùng hàng rào người mà cản lại. Cũng có một số sĩ quan cấp trung và đại tá tự ký sự vụ lệnh ra cổng. Chưa đến nỗi hỗn loạn nhưng quân cảnh khá mệt nhọc vất vả mới giữa được trật tự.

Lệnh tướng Hạnh là nội bất xuất, ngoại bất nhập. Chúng tôi thì chỉ có nhiệm vụ yểm trợ cho Ðại đội 1 Quân Cảnh mà thôi. Tôi quan sát tại điếm canh cổng số 1 có anh quân cảnh làm việc thật tích cực và hiệu quả. Nhìn kỹ ra là anh Minh người cao lớn. Tôi thật tình quên mất họ của Minh là Trần hay Nguyễn. Nhưng có thể là Trần Văn Minh. Minh cùng chung một khóa với tôi ở Trường HSQ Ðồng Ðế. Ðó là khóa 1/71 Ðặc biệt HSQ hiện dịch, lúc đó tướng Linh Quang Viên làm chỉ huy trưởng. Sau đó chúng tôi gặp lại nhau tại Trường Quân Cảnh một hai lần nữa. Giờ đây, rõ ràng là Minh đang ở Ðại đội 1 Quân Cảnh TTM. Giơ tay chào nhau, nói vài câu, rồi ai làm việc nấy. Lúc đó tôi ở cổng chánh khoảng 100 mét về hướng tòa nhà chánh.

11 giờ 30 ngày 30 tháng 4-1975:

Lúc 11 giờ 30, từ cổng 1 TTM tôi nghe súng nổ dữ dội ở phía Bệnh Viện Dã Chiến Hoa Kỳ, thì ra các anh em LÐ 81 BCND đang bắn xe tăng Việt cộng. Khi chiếc xe T54 của Việt cộng có treo cờ GPMN hướng về cổng 1 TTM thì tất cả chúng tôi lái xe Jeep rút về văn phòng Ðại đội 1 Quân Cảnh vì xe cộ đồ đạc tất cả đều để đây. Khi xe ngừng, Minh bước xuống và nước mắt đã đầm đìa. Tôi nhìn Minh mà lo cho thân mình nên vội vàng cột ba lô mang súng ống, rồ xe Mobylette phóng chạy. Cái cảnh lúc đó thật là hoảng loạn, mạnh ai nấy lo, giành đường thoát ra.

11 giờ 40 ngày 30 tháng 4-1975:

Sau lưng tôi, Minh khóc và nói một mình “Thôi rồi, mất nước rồi.” Nói xong anh Minh bước tới gần cột cờ, nghiêm chỉnh đưa tay lên, chào xong móc khẩu Colt 45 bên hông kê lên màng tang. Một tiếng nổ đơn độc vang lên. Tôi chắc tiếng nổ đó đã hòa tan trong tiếng máy của hàng trăm chiếc xe Honda, Vespa, Suzuki. Minh ngã xuống. Trung sĩ I Trần Văn Minh đã trả xong nợ nước vào giờ thứ hai mươi lăm. Tôi là một người sợ chết nên nhìn Minh một lần chót, nén xúc động và chạy thoát thân với hàng đoàn người kia.

Giờ đây Minh họ Nguyễn hay Trần tôi không biết chắc. Anh đã chết thật hay chỉ bị thương cũng không biết chắc. Có điều Minh đã làm một việc thật là đáng để tôi quỳ xuống mà lạy anh. Tất cả các đoạn trên tôi viết dông dài chỉ nhằm mục đích kể lại đoạn cuối về cái chết của một quân cảnh tại Bộ Tổng Tham Mưu. Chúng tôi là binh chủng lo về quân kỷ của quân đội. Xin các anh em chiến hữu hiểu rằng chúng tôi cũng sống chết với quân đội như anh em. Và trong hàng ngũ hạ sĩ quan chúng tôi cũng có người tự vẫn dưới ngọn cờ Tổng Tham Mưu vào giờ thứ 25.

Gần 30 năm qua, ngồi cố nhớ mà viết lại chắc có nhiều chi tiết thiếu sót, ước mong các chiến hữu bổ khuyết giùm cho.

Quân cảnh Huỳnh Hồng Hiệp, San Jose

Ghi chú đặc biệt: Các bài viết của Giao Chỉ và do Giao Chỉ giới thiệu đều tập trung trong các tác phẩm: Cõi Tự Do, 16 Ngàn Tử Sĩ Ở Lại Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa, Dự Án Bảo Tàng Viện v.v... Muốn có các tác phẩm miễn phí, xin liên lạc bằng thư về IRCC, Inc. 420-422 Park Ave., San Jose, CA 95110. Fax: (408) 971-7882. E-mail: ircc@irccsj.com Sẵn sàng gửi biếu các độc giả khắp thế giới, nếu được giới thiệu.

.

Toan_Paris
Posts: 198
Joined: Tue Dec 14, 2004 1:31 am

Post by Toan_Paris »

Chào các anh: Khiêu Long, Linhgia, Phú De, Tuyết Lạnh:
Cám ơn các anh post những bài "vinh danh quân lực VNCH" nhân dịp
30 tháng Tư. Tôi có cơ hội được đọc:
happy Easter tới các anh:
Thân ái,
Toàn Paris

User avatar
tuyetlanh
Posts: 42
Joined: Thu Dec 02, 2004 5:06 am

Post by tuyetlanh »

NGƯỜI LÍNH CHƯA QUA SÔNG


Nguyễn Phúc Sông Hương
Tiểu Ðoàn Trưởng. Sư Ðoàn 18 Bộ Binh. Tù cải tạo. Hiện sống lưu vong ở Hoa Kỳ.

Trích Tuyển tập "Những Trận Ðánh Không Tên Trong Quân Sử" sẽ ra mắt tại Nam Cali ngày 08/02/2003 và Bắc Cali ngày 15/02/2003. Sách dày 420 trang bìa 4 màu, gồm 21 tác giả với 34 truyện/ký. Giá bán mỗi cuốn 25US ; sẽ trích ra 5US/cuốn để giúp đỡ anh em TPB/VNCH. Liên lạc: nsvietnam@yahoo.com .

* * *
(Cho cháu Trúc Vy khi cháu khôn lớn để cháu hiểu và thương ngày xưa của ông ngoại)


Ngày thứ mười hai của trận chiến, từ khi lên Bộ Tư Lệnh họp và nhận lệnh trở về, Tiểu Ðoàn Trưởng luôn trầm tư. Nhiều lần Tiểu Ðoàn Trưởng nhìn Tiểu Ðoàn Phó như muốn nói gì đó nhưng rồi lại lắc đầu, yên lặng. Qua vô tuyến, các đại đội báo cáo vẫn tiếp tục hoạt động lục soát trong khu vực trách nhiệm và tìm thấy rất nhiều xác lính CS và các loại vũ khí của họ trong rừng cao su hướng Tây Nam thị xã. Tiểu Ðoàn Trưởng cho lệnh các Ðại đội trưởng: "không cần thiết phải thu lượm chiến lợi phẩm." Ðến sáu giờ chiều, Tiểu Ðoàn trưởng họp các đại đội trưởng cho lệnh chuẩn bị di chuyển lúc sáu giờ ba muơi phút. Im lặng vô tuyến kể từ giờ phút này. Bảy giờ kém mười lăm, khi Tiểu Ðoàn vừa đến điểm tập trung tại ngã ba Tân Phong sát quận đường Xuân Lộc, Tiểu Ðoàn Phó và các đại đội trưởng mới biết lệnh bỏ Xuân Lộc. Mọi người tái mặt nhưng không ai nói gì. Tiểu Ðoàn Truởng nhìn sâu vào mắt Tiểu Ðoàn Phó Nguyễn Mạnh Tông như muốn san sẻ nổi buồn và sự lo lắng của bạn mình. Nguyễn Mạnh Tông có vợ và mẹ vợ đang ở Xuân Lộc. Bây giờ quân rút, số phận người thân ở lại sẽ ra sao khi quân lính CS tràn vào phòng tuyến trống nội ngày mai. Nguyễn Mạnh Tông nhìn Tiểu Ðoàn Trưởng gật đầu và nói trong xúc động: - Không chỉ riêng gia đình tôi mà còn rất nhiều gia đình vợ con binh sĩ Sư Ðoàn phải chịu ở lại. Buồn và lo thật nhưng đành chịu. Nếu Thiếu Tá có cho tôi biết trước, tôi cũng sẽ không về từ biệt gia đình. Mọi người ai cũng biết đến bài học rút quân đầy cay đắng của quân dân vùng Cao nguyên vừa mới tháng trước đây thôi. Gia đình kéo theo, lính không còn lòng dạ nào để chiến đấu...
Rút bỏ Xuân Lộc theo tình hình biến chuyển của chiến trường, và tình hình chung của đất nước, nhưng dù sao đi nữa, lòng người lính Sư Ðoàn cũng vô cùng đau xót khi phải bỏ vùng đất nhà quen thuộc. Và còn nữa: sự liên hệ mật thiết với người ở lại, ra đi chẳng khác gì ruột cắt làm đôi. Ðêm đó trên đường hành quân, anh em binh sĩ nhận ra được Tư Lệnh Sư đoàn kiêm Tư lệnh mặt trận Xuân Lộc, Thiếu Tướng Lê Minh Ðảo, cùng di chuyển đường bộ với họ... Tại sao Tư Lệnh không xử dụng trực thăng riêng của ông? Buổi trưa họp ở BTL, Tiểu Ðoàn Trưởng nhận thấy Tư Lệnh không được khoẻ, gương mặt hốc hác với đôi mắt sâu và thâm quần của một người mất ngủ. Thế mà đêm nay rút quân ông lại không xử dụng trực thăng riêng của mình để được khoẻ thân và an toàn như nhiều cấp Tướng lãnh chỉ huy khác? Thêm một lần nữa, vị Tướng trẻ chứng tỏ tinh thần sát cánh chiến đấu cùng với thuộc cấp, trong mọi hoàn cảnh, nhất là trong những giờ phút sinh tử. Với một cấp chỉ huy như vậy thì anh em binh sĩ làm sao mà không hăng say chiến đấu... Nhìn lại, ba năm giữ chức vụ Tiểu Ðoàn Trưởng dưới quyền ông, vỏn vẹn chỉ có ba chai Martel mình tặng ông trong dịp Tết. Ðáp lại khi Tiểu đoàn về trú đóng gần bộ Tư Lệnh Sư đoàn, ông đã ưu ái tổ chức tiệc, dạ vũ cho tất cả sĩ quan Tiểu đoàn và chính ông cùng tham dự, lên sân khấu đàn và hát cho anh em binh sĩ nghe.
Sư đoàn 18 rút khỏi Xuân Lộc, xe tăng và bộ binh càn qua chốt địch chận trên đường 22 mà đi, về đến Bình Giả vào sáng hôm sau gần như toàn vẹn. Chỉ riêng anh em chiến sĩ Lữ Ðoàn Dù tăng cường cho mặt trận Xuân Lộc rút sau, trách nhiệm đoạn hậu nặng nề đã chạm súng với quân CS bám theo. Trở về căn cứ Long Bình vài ngày để bổ sung vũ khí. Ngày 25 tháng Tư, Tiểu đoàn theo Trung đoàn lên lập phòng tuyến tại vùng Trãng Bom, ranh giới Biên Hòa, Long khánh. Cùng với một Chi đoàn M113 thuộc Thiết Ðoàn 5 do Ðại Úy Nguyễn Sơn chỉ huy, Tiểu đoàn dàn quân bên này hào sâu cắt ngang Quốc Lộ 1. Quân số Tiểu Ðoàn sau trận Xuân Lộc còn lại trên 300. Một điều khiến các cấp chỉ huy Tiểu đoàn rất vui là không một người lính nào đào ngủ dù mấy ngày ở Long Bình, Biên Hòa, nơi anh em có nhiều cơ hội để bỏ về Sài Gòn, nơi có gia đình đang trông đợi. Tất cả anh em không đành lòng bỏ lại bạn bè, cấp chỉ huy, tất cả cùng chấp nhận đồng lao cộng khổ cho đến giờ phút cuối cùng. Sáng ngày 27 tháng Tư, xe tăng địch bò đến phía bên kia phòng tuyến. Hai chiếc M41 của Thiết Ðoàn 5 nguỵ trang chực sẳn bắn đại bác 90 ly trúng một tăng địch. Nhưng, từ hai mặt phải trái cách quốc lộ 1 khoảng trên 100 mét, cùng một lúc lính bộ binh và xe tăng địch xuất hiện. Thì ra lực lượng địch biết không thể băng qua hào sâu nên len lỏi trong rừng, bọc vòng tạo thành thế gọng kềm để kẹp chặt Trung đoàn 48. Qua vô tuyến, lúc đó mới biết rằng Bộ Chỉ Huy Trung Ðoàn và Tiểu Ðoàn 1 đóng trong đồn điền cao su Trãng Bom đã rút về hướng Nam từ lúc tờ mờ sáng. Như vậy tại tuyến đầu chỉ còn lại Tiểu đoàn 3 và một Chi Ðoàn M113 trong lúc xe tăng và bộ binh địch ào ào tràn ra từ ba hướng. Sau lưng không còn lực để dựa thì còn đánh đấm gì được nữa!.Nếu không nhanh chân thì chắc chắn sẽ bị quân CS bao vây cắt đường rút và diệt gọn. Tiểu Ðoàn Trưởng lệnh cho các đứa em phân tán, rút nhanh ra đường. Tội nghiệp chi đoàn M113 của Ðại úy Sơn phải tức tốc phân tán để đón những người bạn bộ binh trong lúc tăng địch bắn phá dữ dội. Nếu thiếu tinh thần chiến đấu và đồng đội thì anh em thiết giáp đã bỏ bạn bè bộ binh, vì thật ra M113 đâu phải là đối thủ của tăng T54 CS. Ngay cả M41 của mình cũng đã quá già nua yếu ớt đối với T54. Nhưng nếu M113 mà bỏ chạy thì đâu còn là chiến sĩ Thiết Giáp Quân lực VNCH. Hơn nữa, Tiểu đoàn 3/48 với Chi đoàn 3 Thiết Ðoàn 5 đã quá quen biết giao tình qua bao cuộc hành quân chung khắp vùng 3 chiến thuật và bên kia biên giới Campuchea trong năm 1970. Chi đoàn M113 của Ðại úy Sơn vốn đã quen địa hình nên sau khi đã gom được bộ binh liền rút rất nhanh. T54 địch đuổi theo, nhưng không làm được gì. Ðây thật sự là một cuộc rút chạy. Ðáng buồn thật. Ðáng buồn vì phải bỏ lại hai chiếc M41 anh hùng ở tuyến đầu, đáng buồn vì đơn vị chưa nổ một phát súng đã tìm đường thoát thân. Nhớ lại đêm nào ở mặt trận Bến Cát Bình Dương năm 1973, lính Tiểu Ðoàn đuổi tăng địch, bắn cháy tăng địch, và mới hai tuần trước đây thôi lúc còn ở mặt trận Xuân Lộc, tăng địch là miếng mồi ngon cho M72. Ðáng buồn khi nghĩ đến anh em chiến sĩ Ðịa Phương quân ở căn cứ Bầu Cá chiến đấu trong tuyệt vọng. Tội nghiệp cho những chiến sĩ và gia đình con bị bỏ lại trong căn cứ Bầu Cá nhỏ bé, cô đơn. Ngày 28 tháng tư, Tiểu đoàn đặt dưới quyền chỉ huy của Trung tá Nguyễn Văn Nô, Thiết Ðoàn Trưởng Thiết Ðoàn 5 làm tuyến án ngữ mặt bắc căn cứ Long Bình. Ngày hôm đó, chỉ có tăng của hai bên bắn nhau, còn bộ binh ngồi chơi, la hét cổ vỏ mỗi lần tăng địch bị trúng đại bác 90 ly của M41. Lúc này mà có M48 lâm trận thì T54 của địch chắc phải cháy như cây đuốc nhiều hơn nữa. Từ đồi cao nhìn xuống Quốc lộ, người lính Sư đoàn hết sức khâm phục những người bạn Nghĩa quân Hố Nai, chỉ với súng carbin và M16 trong tay cũng bố trí chận đánh bộ binh địch nếu địch dám xâm phạm vào vùng đất xóm làng thân thương của họ. Ngày 29 tháng tư, lúc 5 giờ chiều, Tư Lệnh gọi Trung Tá Thiết đoàn trưởng Thiết Ðoàn 5 và Tiểu đoàn trưởng 3/48 đến BTL trong căn cứ Long Bình để họp cùng Tướng lê Minh Ðảo, Trung Tá Nguyễn Văn Nô và Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 3/48. Khi đang họp thì chuông điện thoại reo vang . Tướng tư Lệnh nhấc ống nghe. Một phút sau ông bỏ máy với vẻ chán nản và nói: - Tổng Thống Dương Văn Minh hỏi chúng ta có giữ được Long Bình Biên Hòa để chờ thương thuyết không? Ông nhìn thẳng hai thuộc cấp rồi chậm rải từng tiếng một: - Phải giữ bằng mọi giá, đây là vòng đai cuối cùng để bảo vệ Sài Gòn! Ông nhướng đôi mắt sáng lên: - Thiết Ðoàn của Trung Tá Nô chưa suy xuyển bao nhiêu phải không? Còn em, quân số Tiểu đoàn còn được bao nhiêu ? - Thưa Thiếu Tướng, còn đủ, chưa mất mát người nào từ khi rời khỏi Xuân Lộc! Nhìn hai anh em chúng tôi, Thiếu Tướng nói với giọng cương quyết: - Các em phải chiến đấu toàn lực, không được để mất thêm một tấc đất nào!
Trên tấm bản đồ hành quân vùng 3 Chiến thuật, đầy ký hiệu màu đỏ chỉ các đại đơn vị địch: Quân đoàn 1 từ hướng Bắc theo QL 13, QÐ2 và 4 từ hướng Ðông Bắc đang áp sát Biên Hòa, QÐ 3 từ Tây Bắc theo QL 1 gần Củ Chi, các Sư đoàn, Trung đoàn, tổng cộng gần 16 Sư đoàn quân CS với những mũi tên đỏ cùng chỉ hướng Sài Gòn. Trung Tá Nô lắc đầu khi nhìn khuôn mặt hốc hác vì thiếu ngủ và lo âu của vị Tư Lệnh. Mình cũng vậy thôi phải không Trung Tá, nhưng dù sao thì chúng ta ngày quần thảo với địch quá mỏi mệt, đêm nằm xuống đầu không kịp suy nghĩ đã bị hơi đất xông lên kéo giấc ngủ đến rất mau. Những giấc ngủ mệt nhưng có còn hơn không. Tư Lệnh thì chắc không ngủ được bởi cái đầu chứa đầy hình ảnh những mũi tên đỏ chỉ về Thủ đô. Ngày mai sẽ có giải pháp, Tổng Thống Dương Văn Minh vừa nói như vậy. Giải pháp như thế nào. Giải pháp gì khi chúng ta đang ở trong thế yếu? Nhượng bộ và nhượng bộ mà thôi. Lời nói của Tổng Thống khi ông nhậm chức ngày hôm kia rỏ ràng đã tỏ ra quá nhiều nhân nhượng và sợ hải kẻ thù, làm mất tinh thần toàn quân. Ông dùng hai chữ "anh em" để chỉ kẻ xâm lược như một đòn tình cảm, nhưng chắc chắn ông chẳng bao giờ được phe bên kia đáp ứng trong "tinh thần anh em" đó. Khoảng 11 giờ đêm 29 tháng Tư, đài phát thanh Sài Gòn phát lời huấn lệnh của Tướng ba sao Vĩnh Lộc, quyền Tổng Tham Mưu trưởng QLVNCH: - Các cùi cố gắng giúp Tổng Thống hoàn thành nhiệm vụ lịch sử! Có phải chăng đây là lời giả biệt của vị Tướng ba sao? Linh cảm cho anh em chiến sĩ biết rằng lại thêm một cấp chỉ huy cao cấp đào ngủ, bỏ nước ra đi. Có một chút gì cay đắng, buồn bực và khinh thường trong lòng những người chiến binh. Không! Chúng tôi không bỏ hàng ngủ! Vẫn còn những người lính Bộ Binh và Thiết Giáp đầy gian khổ nguy nan này, vẫn còn rất nhiều đơn vị trên các trận tuyến chung quanh Thủ đô yêu quý. Sư đoàn 5 ở Lai Khê của Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ, Sư Ðoàn 25 ở Củ Chi của Chuẩn Tướng Lý Tòng Bá, và hàng hàng lớp lớp chiến sĩ anh hùng các đại đơn vị Tổng trừ bị Dù, Thủy Quân Lục chiến, Biệt Ðộng Quân. Những cánh chim đại bàng của không quân VNCH vẫn còn bay, những hạm đội của Hải quân vẫn còn trên sông ngòi, mặt biển Tổ quốc.
Ðêm đó, pháo địch từ mọi hướng rót xuống Long Bình như không ngừng nghỉ. Khoảng 3 giờ sáng toàn thể các đơn vị được lệnh rút khỏi Long Bình kéo về bờ Nam sông Ðồng Nai làm phòng tuyến. Lúc qua thành phố Biên Hòa, thật ngạc nhiên khi nhìn thấy rất nhiều xe tăng tối tân M48 bố trí khắp nơi trong thành phố. M48 nằm đây để chờ T54 của địch vào thành phố rồi mới nổ súng hay sao ? Biết còn có cơ hội nổ súng hay không? Sao Tư Lệnh Quân đoàn Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn không tăng cường M48 cho chiến tuyến Trãng Bom mà giao trách nhiệm nặng nề cho những chiếc 41 có từ Ðệ Nhị thế chiến? Tiểu đoàn Trưởng nuốt nước bọt đắng khô cổ nhưng nước mắt thì như muốn ứa ra đầy uất ức. Người ta quý những chiếc tăng 48 này hơn những mạng người. Một chiếc tăng M48 giá mấy triệu Mỹ kim trong lúc giá một người lính bằng 12 tháng tiền tử tuất. Thôi đi, đừng suy nghĩ vẩn vơ, ngươi chỉ là một sĩ quan chỉ huy nhỏ, cầm Tiểu đoàn còn chưa xong, biết gì mà vội trách móc các cấp chỉ huy cao cấp của mình! Ngày 30 tháng Tư lúc trời vừa hừng sáng, đơn vị vừa xuống xe đang bố trí gần khu Nghĩa trang Biên Hòa thì quân CS với xe tăng treo cờ MTGP dẩn đầu đoàn Molotova theo xa lộ hướng về Sài Gòn. Họ đi một cách ngang nhiên như đoàn xe diễn hành. Mấy chiếc tăng dẩn đầu, thỉnh thoảng còn nổ súng bắn vu vơ vào hai bên đường, còn bộ binh trên xe Molotova vẫn ngồi yên. Hỏa lực từ vài chiếc M113 trên đồi Nghĩa trang bắn theo nhưng đoàn xe CS vẫn tiếp tục theo hướng đã định. Lúc này thì Bộ Binh đã tách rời Thiết Giáp. Không biết Thiết Ðoàn 5 sau đó về đâu, còn Bộ Binh gồm Bộ Chỉ Huy Trung Ðoàn 48 với Trung đoàn trưởng Trung Tá Nguyễn Chí Công và toàn bộ Tiểu đoàn 3 cùng băng đồng tìm cách về Sài Gòn. Trung Ðoàn phó là Trung Tá Khôi đi cùng Tiểu đoàn 1/48 cũng trực chỉ hướng Thủ Ðô. Người lính lúc này sốt ruột lắm. Phải di chuyển cho nhanh về tiếp tay với các lực lượng bạn ở Sài Gòn để giữ cho được Thủ đô yêu quý của người miền Nam. VC từ trong các làng, sau các lùm tre bắn đuổi theo, anh em cũng không cần bắn trả lại. Thỉnh thoảng nghe những tiếng nổ lớn từ hướng Sài Gòn, và nhìn những cụm khói đen bốc cao từ lòng Thủ đô, bước chân người lính như muốn bốc lên khỏi những cánh đồng đất bùn đang làm chậm bước. Thấy lính Sư Ðoàn, anh em Ðịa Phương Quân bỏ đồn bót, xách súng đạn chạy theo để cùng về Sài Gòn chiến đấu. Ðồn bót làm gì nữa khi Sài Gòn sắp mất. Nhưng!!!... Lúc đó khoảng mười giờ, cái thời gian lạ hoắc và đáng nguyền rủa. Bàng hoàng, sửng sốt, tuyệt vọng bỗng ào đến giữ chặt cứng những bước chân, làm mắt hoa lên và tim như nghẹt thở khi tiếng nói của một người xa lạ vang lên từ chiếc radio nhỏ người lính mang theo bên mình. Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu Hạnh, ông là ai? Chắc ông không phải là Nguyễn Hữu Hạnh, con cọp Ba Ðầu Rằng nổi tiếng, từng khiến Cộng Sản kinh sợ ở Biệt Khu 41 Phước Bình Thành? Nguyễn Hữu Hạnh này là Nguyễn Hữu Hạnh xa lạ vừa được Tổng Thống hai ngày phong chức Tham Mưu trưởng QLVNCH. Chúng tôi nghi ngờ ông không phải là một vị Tướng lãnh của QLVNCH, bởi vì nếu thật ông là Tuớng từng cầm quân trận mạc thì chắc ông đã không quên ý chí kiêu hùng của người lính VNCH. Chúng tôi, những con xe đã ủi hết cuộc đời, những con tốt đã liều lĩnh qua sông, những con mã chạy không kịp thở, những con pháo tự nổ tung xác để làm gì trong bao nhiêu năm tháng qua, để bây giờ phải lắng nghe, tuân thủ cái lệnh buông súng đầu hàng nhục nhã!? Quý vị không thấy nhưng chúng tôi thấy những bạn bè đã hy sinh đang sống lại, khóc lóc và nguyền rủa... Ngay cả những oan hồn người lính CS chết trên đường vào Nam cũng đang cười vào đầu óc ngây thơ của quý vị đang ngồi trong dinh Ðộc Lập, trong bộ Tổng Tham Mưu!! Ðầu hàng! Thật quá dể. Chúng tôi có thể làm được điều đó ngoài mặt trận, nhưng những người lính trực diện vơi súng đạn đã không làm vì còn danh dự, trách nhiệm đối với Quân Lực và Tổ Quốc. Không bao giờ chúng tôi nghĩ đến ngày QLVNCH phải đầu hàng. Thực tế tại các chiến trường trong nhiều năm chiến đấu đã cho chúng tôi niềm tin rằng QLVNCH mạnh hơn quân CS Bắc Việt trên mọi mặt. Chúng ta yếu kém hơn họ trên mặt trận tuyên truyền láo khoét mà thôi. Chao ơi, nào ai muốn chiến tranh huynh đệ tương tàn. Nhưng có ai nhận chúng ta là huynh đệ không? Và họ có nghĩ gì đến tổ quốc Việt Nam hay là chỉ phục vụ cho tổ quốc Cộng sản bạo tàn? Chúng ta không muốn chiến tranh, chúng ta chỉ là kẻ tự vệ. Kẻ tự vệ bao giờ cũng sáng ngời lý tưởng, huống gì lý tưởng chiến đấu của chúng ta là hai chữ Tự Do. Này, các "người anh em", hãy đến đây nhận lấy vũ khí, rồi trả thù, hành hạ, đánh đập, tù ngục chúng tôi. Khi buông súng là mặc nhiên chấp nhận tất cả. Và để rồi xem ý nghĩa hai chữ "anh em" mà thượng cấp chúng tôi dùng sẽ như thế nào! Anh em đồng đội của tôi ơi, cho đến giờ phút này, tuy lòng đau đớn nhưng chúng ta thật bình thản, không hề mảy may sợ hãi, bởi vì chúng ta đã cầm súng để tự bảo vệ mình. Chúng ta chiến đấu trong tinh thần dân tộc máu đỏ, da vàng, không thẹn với lương tâm bởi tinh thần mã thượng và nhân đạo của con nguời đối với con người nơi trận tuyến. Chúng ta quý mạng sống kẻ thù như mạng sống của mình. Chưa, chưa bao giờ chúng ta nhẫn tâm ném một trái lựu đạn xuống hầm VC vì tiếng khóc của bà mẹ, của người vợ van xin cho đứa con, cho người chồng lầm đường. Chưa bao giờ chúng ta căm thù, hành hạ kẻ vừa bắn ngã đồng đội anh em mình bởi vì chúng ta hiểu đó là quy luật của chiến trường. Những người lính hai bên ai cũng muốn mình chiến thắng. Người lính miền Nam chúng ta nổ súng không có thù hận đem theo. Và đó cũng là một nguyên nhân mà chúng ta thành kẻ chiến bại ngày hôm nay.
* * *
Lúc này là 11 giờ 30, mặt trời và mặt đất như chưa bao giờ biết nhau như những người lính chưa bao giờ phải buông súng đầu hàng. Gần ba trăm tay súng, bỗng chốc tự mình làm cho mình còn lại tay không. Tay không trong hiện tại đớn đau và tay không trong tương lai khốn cùng. Ba trăm con người sắp hàng bước đi trước họng súng của mười du kích CS. Có lẻ trong giây phút này đây quý vị trong Dinh Tổng Thống cũng không hơn gì chúng tôi. Nơi đây, những du kích này còn lo sợ chúng tôi phản ứng còn quý vị thì đang ngoan ngoãn vâng lời dạ thưa tôi xin bàn giao, tôi xin đầu hàng. Trong Dinh tổng Thống không có mẹ già khóc, không có những em nhỏ nhìn theo mến thương, trước đám đông, nhiều đồng bào còn hoan hô các anh chiến sĩ QLVNCH. Ðây là đồng bào thuộc xã Long Thạnh Mỹ, Thủ Ðức, những con dân miền Nam nhân ái , yêu chuộng tự do. Họ đang đứng thành hàng hai bên đường, không phải để đón tiếp kẻ cầm vũ khí trong tay mà đón tiếp những người vừa bị lột trần giày, nón. Những nụ cười rất quen thuộc, thân thương mà kẻ chiến thắng cũng như quý vị cao chạy xa bay, đầu hàng không bao giờ được trao tặng. Cởi dày, cởi áo phải chăng là khúc cuối của vở bi kịch? Phải, chính là bi kịch, nhưng đoạn cuối thì chưa đến. Vì là bi kịch nên cha, mẹ, anh chị, em đứng hai bên đường rơi nước mắt. Tất cả mọi người đều sợ chiến tranh, giờ đây chiến tranh đã chấm dứt mà sao đồng bào nơi đây không cảm thấy có niềm vui. Phải chăng khi đã thật sự thấy tận mắt những gương mặt hốc hác, những nụ cười không lành lặn, trọn vẹn, những áo bạc màu rách vai, những đôi dày vẹt đế đầy bùn đất... đồng bào mới hiểu được có những chịu đựng tận cùng của con người nơi các chiến sĩ miền Nam của họ. Và chính đó là tình thương chân thật . Mừng cho các con còn sống! Mừng cho các anh yên lành! Chúng con nghe mẹ nói, muốn cầm tay mẹ và thì thầm mẹ ơi, chúng con đang chết từ giây phút này, một cái chết dưới thấp hơn tất cả cái chết trên đời thưa mẹ. Các anh muốn nói với em rằng có những vết thương đang hằn sâu, sâu hơn những vết thương các anh nhận từ chiến
trận .
* * *
Một tên xã đội trưởng du kích hỏi: - Ai là cấp chỉ huy ở đây? Mọi người chờ đợi. Tiểu Ðoàn Trưởng trả lời: - Tôi! - Anh tập họp tất cả binh lính! Xã đội trưởng nói, giọng không được tự chủ khi đối diện với mấy trăm con người mắt nhìn hắn như trêu ghẹo... Lúc đó trong sân chùa Long Thạnh Mỹ, những người lính ngồi bệt xuống đất, cởi những chiếc vớ nhà binh rồi đưa lên mũi ngửi, mỉm cười nhìn nhau. Phải không bạn, chúng mình mang những đôi vớ này đã mấy ngày từ hôm rút khỏi Trãng Bom mà không có thì giờ để thay chiếc khác. Cởi những đôi vớ ra, bàn chân thật thoải mái nhưng tâm hồn sao lại u uất. Mùi hôi của vớ không nặng bằng mùi phiền muộn. Khi thấy anh em binh sĩ cởi giày, nhiều bà con chạy về nhà lấy dép ra cho. Lính và dân trao đổi giày nhà binh và dép nhẹ với những nụ cười như muốn nói với nhau: "Cám ơn em đã cho anh đôi dép, đôi dép khiến đôi bàn chân anh nhẹ nhàng. Cám ơn anh đã nhường cho em đôi giày lính, đôi giày này sẽ tiện lợi cho em trong những tháng ngày tương lai." Thấy đồng bào vui mừng khi nhận đôi bốt mòn đế, người lính ngạc nhiên nhưng rồi chợt hiểu. Phải, chính từ giờ phút này đây, những cuộc đời sẽ thay đổi, những khốn khó đang chực chờ. Tội nghiệp các em đang độ tuổi lớn khôn, chỉ mới ngày đầu mà đã thấy ra con đường tương lai đen tối! Khoảng hai giờ chiều thì đồng bào đem thức ăn đến sân chùa Long Thạnh Mỹ. - Các con ăn cơm cho đở đói! - Các chú ăn cho thật no nghe!. - Các anh cứ tự nhiên như ăn cơm của mình!Ðồng bào trong xã mời các anh, thương các anh lắm! Ðã lâu lắm rồi, đây là bữa cơm thịnh soạn nhất mà người lính chiến đấu được hưởng. Cơm gạo trắng, thịt heo kho măng thơm phức. Nhiều đồng bào đứng xem lính ăn, cười mãn nguyện. - "Trưa nay ăn thịt kho, chiều nay ăn cá lóc kho nghe các con!" Mẹ nói. - "Ra giếng chùa tắm cho mát rồi đi nghĩ cho khoẻ nghe các con!" Cha bảo. Tội nghiệp vị sư già gần 70 tuổi, không quen mùi thức ăn sinh vật, nhưng cũng đi từ nhóm này đến nhóm khác thăm hỏi như là một người cha sau bao ngày xa xách con mình. Hầu hết anh em binh sĩ đều ăn uống tự nhiên, rất ngon lành. Những sĩ quan chỉ huy thì không bình yên như vậy. Có người không nuốt nổi vì nước mắt lưng tròng. Khóc vì tủi nhục và cũng vì sung sướng. Nếu chiến đấu không có lý tưởng, không vì tự do hạnh phúc của dân tộc thì sao có được bữa cơm đầy tình nghĩa đáp đền hôm nay. Buổi chiều sân chùa vắng lặng vì anh em binh sĩ vào chơi trong làng. Trung Ðoàn Trưởng, Tiểu Ðoàn Trưởng và vài sĩ quan ở lại nghe vị sư già nói chuyện. Trước đây, sư đã từng có chức vụ trong ủyban kháng chiến Liên khu 5 ở miền Trung, nhưng sư bỏ trốn vào Nam khi nhận rõ bản chất của người CS. Sư nói: - Quân Ðội miền Nam có lý tưởng nhưng không tinh nhuần lý tưởng, lại thiếu khôn ngoan xảo quyệt, nhân nghĩa giả như Cộng Sản. Khi được hỏi về tương lai của miền Nam thì vị sư lắc đầu: - Thầy e rằng rồi đây ngay những chiếc áo tu nâu sồng nghèo khó cũng khó được mặc! Ðôi mắt vị sư buồn nhìn về xa xôi: - Từ khi cuộc chiến bùng nổ lớn, mất miền Trung, đồng bào hàng hàng lớp lớp chết vì chạy giặc, kinh kệ không vào trong đầu óc thầy nữa! Ðôi mắt sư nhìn sâu vào mắt mọi người với tiếng thở dài. Giọng một người run run: -- Vì đau khổ của chúng sanh mà tâm thầy không an, đôi mắt thầy hướng ra ngoài cửa Phật, còn chúng con hôm nay có được giây phút an lạc hiếm hoi trong cuộc đời. Chỉ sợ mai đây khi bước ra khỏi bóng chùa... Sư chắp tay hướng lên bàn thờ Phật: - Mô Phật! Bây giờ thì mọi chuyện đã xong, chỉ mong rằng họ sẽ khôn ngoan giải quyết trong tình nghĩa huynh đệ, đồng bào ruột thịt thì mới mong oán oán không chất chồng! Lời Sư trầm hẳn xuống: - Các con rồi đây phải cố gắng nhẩn nhục chịu đựng, chấp nhận tất cả. Thầy tin rằng đồng bào mình không ai không thương các con. Hãy tạm quên lý tưởng mà luôn luôn nghĩ đến sự tồn tại thực tế của gia đình mình! Khi nghe Sư hỏi thăm gia cảnh mình, tự nhiên mọi người đều ứa nước mắt. Nước mắt sư cũng ứa ra. Vì thương nhớ quê nhà, lo âu cho đạo pháp hay biết trước số phận sắp tới của những con người còn trẻ đang quây quần trước mặt mà thầy khóc? Có lúc nào đó, lòng chợt nhớ đến mẹ. Không biết mẹ còn ở Huế hay lạc bước đến phương nào từ khi Huế mất. - Ðêm nay thầy không thỉnh kinh, các con vào chánh điện mà nghỉ! Sư nói, rồi nhẹ nhàng đứng dậy. Anh em cũng đứng dậy chào người. Sư bước đi, dáng gầy xiêu xiêu. Màu nắng chiều tháng Tư nhạt nhòa trên vai áo nâu sồng, màu nắng loang lổ trên bậc thềm chùa như những mảnh vá của tâm hồn những người tạm nương nhờ cửa Phật đêm nay. Buổi tối anh em binh sĩ về sân chùa đầy đủ. Dưới ánh trăng mờ mọi người nằm la liệt, có người ngủ say bất động như xác chết. Một vài tiếng ho, ú ớ từ đâu đó vang lên. Không ngủ được, Nguyễn Mạnh Tông ngồi dậy nói : - Anh Ba ơi, anh em mình đi một vòng trong sân thử xem!* Trần Văn Minh ÐÐT Ðại Ðội Chỉ huy, nghe nói cũng ngồi dậy: - Em đi với anh Ba và anh Tư! Tông hỏi: - Có cần đếm thử xem anh em còn đủ không? - Thôi khỏi cần. Chắc không có anh em nào bỏ đi đâu! Tiểu Ðoàn Trưởng nghĩ thầm: "Anh em ai bỏ đi lúc này cũng được nhưng chắc không ai nỡ, anh em biết rằng nếu có người bỏ đi thì ngày mai các sĩ quan chỉ huy sẽ bị làm khó dể. Anh em ở lại để tỏ rỏ tình huynh đệ và tính kỷ luật của đơn vị một lần cuối. Cám ơn các em. Chúng ta chỉ còn với nhau ở nơi yên tỉnh này một đêm thôi. Rồi ngày mai... "
* * *
Mọi người ngước mắt nhìn bầu trời phương xa đang treo lơ lửng một vài trái sáng. Chắc chắn đâu đó, quanh Sài Gòn và ngay trong lòng Sài Gòn giờ phút này vẫn còn có những người vẫn tiếp tục chiến đấu. Còn vùng 4 chiến thuật nữa. Vùng bốn không đầu hàng CS. Tướng Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng là những danh tướng, quý vị sẽ không tuân lệnh tổng thống Dương Văn Minh. Vùng bốn dân đông, kinh tế phồn thịnh sẽ là nơi quy tụ những anh hùng. Khi ba người trở lại chỗ cũ thì thấy mấy anh em thuộc Trung đội Quân báo của thượng sĩ Bé đang ngồi nhìn dáo dác chung quanh. Bé nói: - Em giật mình thức dậy không thấy Thiếu Tá và hai Ðại Úy nên gọi anh em dậy đi tìm! Tiểu Ðoàn Trưởng cám ơn rồi bảo mọi người đi ngủ. Tình cảm anh em vẫn còn gắn bó quá, thật không có gì thay đổi dù Tiểu Ðoàn Trưởng bây giờ không còn là Tiểu Ðoàn Trưởng, sĩ quan không còn là sĩ quan... Ðặt lưng nằm xuống, nhưng ba người vẫn không ngủ được. Giờ phút này, thật sự chỉ có giờ phút này mới nghĩ đến gia đình vợ con, mấy ngày qua chỉ nghĩ đến sự an nguy của đơn vị. Chỉ có những người lính chiến đấu mới biết rõ điều này hơn ai hết. Một đêm yên lành, thể xác bềnh bồng trôi qua đêm. Sáng 1 tháng 5, nắng đã lên ngoài sân chùa. - Mời Trung Tá, Thiếu Tá uống trà! Nguyễn Toàn, nguyên là người phụ trách cơm nước cho Tiểu Ðoàn Trưởng, pha trà và mời. -Thôi anh Toàn, đừng gọi Trung Tá, Thiếu tá, Ðại Úy gì nữa, mọi người đều như nhau, cùng một hoàn cảnh cả! - Dạ, nhưng tụi em vẫn xem như không có gì thay đổi! Tiểu Ðoàn Trưởng quay qua người lính quân báo bên cạnh, hỏi nhỏ: - Cây súng nhỏ của tôi cậu còn giữ không? Người lính nỡ nụ cười: - Em xin lỗi, em cố giữ như lời Thiếu Tá dặn, nhưng mấy anh em khuyên em ném nó đi, coi chừng Thiếu Tá nóng nảy làm bậy, khổ cho gia đình. Tụi em thấy mấy người du kích có vẻ nể nang chúng ta, họ không dám làm nhục Thiếu Tá và các vị sĩ quan đâu. Loạng quạng tụi em bẻ họng tụi nó hết! Khoảng 11 giờ trưa, xã đội trưởng xuống gặp Tiểu Ðoàn Trưởng, yêu cầu tập trung binh sĩ để nhận giấy chứng nhận cho ra về. Theo lời Tiểu Ðoàn Trưởng, mọi người kéo nhau xuống tập họp tại sân xã. Tiểu Ðoàn Trưởng và các Sĩ Quan nhận giấy rồi phát lại cho anh em binh sĩ . Ðứng trước anh em đang tập họp, Xã đội trưởng VC nghiêm sắc mặt rồi nói: - Chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam khoan hồng cho tất cả các binh sĩ nguỵ về với gia đình. Yêu cầu khi về địa phương phải đến trình diện chính quyền Cách Mạng. Các sĩ quan cấp úy cũng sẽ được ra về nội trong chiều nay. Riêng sĩ quan cấp Tá sẽ được chuyển lên Ủy Ban Quận quyết định. Ai nhận giấy tờ xong bây giờ có thể ra về! Xã Ðội Trưởng dứt lời, đưa mắt nhìn anh em binh sĩ. Anh em vẫn đứng yên, mắt hướng về những người chỉ huy cũ chờ đợi. Tiểu Ðoàn Trưởng bước đến trước anh em nhưng miệng như không thốt ra được lời nào. Một phút rồi hai phút, bỗng trong hàng quân có tiếng khóc. Tiểu Ðoàn Trưởng ứa nước mắt. Anh em ứa nước mắt. Tiểu đoàn trưởng nói và chớp chớp đôi mắt để làm khô nhanh hạt lệ đang ứa ra. - Ô kìa, sao lại... Anh em! Từ trước đến nay tôi chưa bao giờ thấy một anh em nào khóc, ngay cả khi chứng kiến sự hy sinh của bạn mình. Bây giờ hết chiến tranh rồi, hết chết chóc rồi, anh em sẽ ra về xây dựng cuộc đời mới, sống hạnh phúc với gia đình vợ con thì tại sao lại làm như đàn bà thế, phải vui cười lên chứ. Cười như tôi đây này! Tiểu Ðoàn Trưởng nói và cố mỉm cười. Cái mỉm cười lạ lùng nhất mà mọi người chưa bao giờ thấy. Anh em mỉm cười theo, có người cười thành tiếng nhưng vẫn có người còn sụt sùi. "TÐ 3/48 chưa bao giờ bại trận, ngay cả bây giờ cũng vậy, không được tỏ ra yếu đuối trước họ, không thể để họ xem thường tinh thần người lính miền Nam". Tiểu Ðoàn Trưởng nói thầm với mình rồi quét đôi mắt sáng đầy cương quyết nhìn mọi người. Tiểu Ðoàn Phó Nguyễn Mạnh Tông gật đầu nhận hiểu. Anh em nhận hiểu như đã nhiều lần nhận hiểu khi nghe cấp chỉ huy mình nói trước giờ xuất quân . - Bây giờ anh em có thể ra về, nhưng hãy trả lời tôi trước khi chúng ta chia tay! Tiểu Ðoàn Trưởng chống hai tay vào hông, một cử chỉ quen thuộc mỗi lần đứng trước hàng quân. -Tất cả! Ngồi... - Xuống! - Ðứng... - Dậy! Cả ba trăm người trả lời cùng với động tác ngồi xuống và đứng dậy một lượt, âm thanh hùng hồn vang động làm rung rinh tâm hồn những cán binh VC và đồng bào có mặt khiến họ đều nhất loạt vỗ tay. Khi mọi người bắt tay nhau từ giả, Tiểu Ðoàn Trưởng quay qua hỏi trung sĩ Lê Văn Tạo:
- Ngoài anh Tạo biết gia đình Sơn, còn có ai biết nữa không?
- Chỉ một mình em biết thôi, em đã chuẩn bị tất cả rồi, xác Sơn đã được đưa lên xe lam, chốc nữa em sẽ đưa Sơn về nhà cho gia đình Sơn!
Giọng Tạo thật buồn và anh nói tiếp:
- Nó cố giữ cái máy truyền tin nên bị hụt cẳng khi qua sông, em kêu nó buông cái máy ra mà nó không chịu nghe... Ðánh nhau không chết bây giờ lại chết, may mà sáng nay xác nỗi lên còn không thì ... - Có mấy trăm đây, em lấy mà trả tiền xe! - Thưa Thiếu Tá không, người chủ xe lam không lấy tiền! Sơn ơi! Cái chết của em đau lòng mọi người lắm, nhưng em sẽ bất tử trong lòng anh em bởi vì tất cả chúng ta không ai quên được những giờ phút Tiểu Ðoàn lội qua sông để mong đến với Sài Gòn đang kêu cứu.
* * *
Gã tù binh đứng như trời trồng giữa buổi trưa ngày cuối tháng tư nắng gắt. Gã nhắm mắt lại, tai nghe lao xao những lời từ giả. Tay gã muốn cử động khi có bàn tay ai nắm chặt nhưng bàn tay gã như khô đi và cứng ngắt. Gã đứng đó và thấy một dòng sông đang chảy xiết với hình ảnh những người lính vội vã lội qua sông. "Sơn ơi! Sao em không chịu buông cái máy truyền tin, còn giữ nó làm chi trong giờ phút sau cùng khi không còn gọi được một ai, không nghe ai gọi mình!" Hởi con sông đang chảy xiết và sẽ chảy mãi trong trái tim đau đớn của ta! Ta làm sao quên dòng chảy ào ạt của ngươi đã nhận chìm, cuốn trôi đôi tay người lính đang nâng chiếc máy truyền tin lên cao, lên cao. Hởi người lính muốn qua sông về với Sài Gòn mà chưa qua được! Anh vẫn thấy đôi mắt em hướng về Thủ Ðô buổi sáng 30 tháng Tư. "Ngày xưa khi anh mở mắt chào đời, Mẹ yêu, theo gương người trước chọn lời,... đặt tên cho người nặng tình yêu nước vào nôi ( Phạm Duy). Không biết con sẽ hát bài ca này bao nhiêu lần trong cuộc đời lưu lạc Mẹ ơi!...
Nguyễn phúc Sông Hương
* (Các danh xưng anh Ba, anh Tư, anh Năm ... mà Sĩ quan Tiểu đoàn 3 dùng từ khi thiếu Tá Phương (anh hai) còn làm Tiểu Ðoàn Trưởng năm 1972, lúc đó Tiểu Ðoàn Trưởng hiện tại là Tiểu đoàn Phó, là anh ba)
Ghi chú của nhóm chủ trương:
Sau khi SÐ18 được lệnh bỏ trống mặt trận Long Khánh và rút về ven biên Sài Gòn, không có một tin tức, văn bản hay báo chí nào nói đến cuộc chiến đấu bi hùng và tuyệt vọng của những người lính VNCH trong những ngày hấp hối sau cùng của miền Nam. Ðọc "Người Lính Chưa Qua Sông", chúng ta như sống lại những ngày bi tráng và đau thương của quân lực. Nó là truyện thực, là vết tích của lịch sử bị bỏ quên, và nó đã sống lại trong tập truyện này.

Post Reply