Quán Bên Đường

Thơ non, thơ già, thơ ghẹo, thơ thẩn, thơ thơ. Xin đọc và ôm bụng cười, hay bứt tóc gãi tai tìm nàng ... thơ...

Moderators: CNN, khieulong

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

Kỷ Niệm Ngày Sinh Nhà Thơ Đinh Hùng
Em đi rồi ! Then khóa cả chiêm bao,
Gầy vóc mộng, gói tròn manh áo nhớ...

Đinh Hùng sinh ngày 3 tháng 7 năm 1920 tại làng Phượng Dực tỉnh Hà Đông (nay là Hà Sơn Bình). Ông dùng bút hiệu Thần Đăng khi làm thơ châm biếm, và Hoài Điệp Thứ Lang khi viết tiểu thuyết.

Sau khi đậu xong Cao Đẳng tiểu học, ông bỏ ngang đi viết văn, làm thơ; chịu sự dẫn dắt của Thế Lữ, bắt đầu nổi tiếng nhờ thi phẩm Kỳ Nữ mà Thế Lữ in trong truyện Trại Bồ Tùng Linh.

Đinh Hùng di cư vào Sài Gòn năm 1954, chủ trương nhật báo Tự Dọ Ông mất ngày 24 tháng 8 năm 1967 tại Sài Gòn vì bệnh ung thư ruột.

Từ nhỏ ông đã quen dùng nha phiến làm nguồn kích thích thi hứng. Tác phẩm tiêu biểu: 2 tập thơ Mê Hồn Ca (1954) và Đường Vào Tình Sử (1961 -- Giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc về Thi Ca năm 1962); tiểu thuyết dã sử Cô Gái Gò Ôn Khâu, Người Đao Phủ Thành Đại La...; kịch Cánh Tay Hào Kiệt, Phan Thanh Giản.

Sở trường của Đinh Hùng là thơ Tượng Trưng. Thơ ông trau chuốt, gọt dũa, có nhiều ý hay lạ, nhiều hình ảnh và ngôn từ quái dị, yêu ma. Ông cũng có những tác phẩm đài các, sang trọng đến lạ lùng. Tạ Tỵ gọi Đinh Hùng là nhà thơ với "cơn mê trường dạ". Hoàng Phủ Ngọc Tường thì lại chê thơ Đinh Hùng "lòe loẹt, ghê ghê như son phấn".

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Sự mặc khải của thi ca

I. Thi ca - giấc mơ về tuổi thơ nhân loại

Kinh Thánh không chép được lời của Eva xui Adam ăn trái cấm. Chỉ biết rằng khi đôi môi ma túy của nàng ghé sát vào tai chàng, chợt cơn thèm ăn trái cấm bùng vỡ trong cuống họng chàng, bất chấp lời răn đe chết người của thần linh. Mắt Adam chỉ nhìn thấy trái cấm trong y phục lõa thể của tòa thiên nhiên tuyệt mỹ. Chàng đã hành động chiều theo ý người đẹp, để chia tay sự bất tử, đồng thời nhận lấy tình yêu và cái chết. Có lẽ, lời thì thầm của Eva khuyên Adam ăn trái cấm hôm đó là bài thơ đẹp nhất của nhân loại? Vì vậy người đời đã gọi thi ca bằng cái tên diễm lệ: Nàng Thơ.

Thi ca và tình yêu do đó đã được sinh ra đồng thời với niềm xúc cảm tuyệt vời của ngôn từ, thông qua tiếng nói linh thiêng của Eva, đánh thức trái tim gỗ đá Adam, khiến nó phát lộ đam mê cùng tận. Nếu phẩm hạnh của triết học là hoài nghi, của tôn giáo là đức tin, thì phẩm hạnh của thi ca là rung cảm và mơ mộng. Thi ca và tình yêu đều được phát nguyên từ cội nguồn trái tim con người, thông qua hình tượng và ngôn ngữ. Chừng như sự xuất hiện tiếng nói trong vườn Eden còn quan trọng hơn sự hiện diện của Thượng Đế. Bởi vì trong buổi bình minh của nhân lọai, tiếng nói cũng được đồng nghĩa với thần linh. Eva và Adam cùng dắt tay nhau, một bàn tay nàng vịn vào tình yêu, một bàn tay chàng vịn vào thi ca, trả lại Thượng Đế sự bất tử để đi về phía mồ hôi, nỗi thống khổ, khoái lạc và cái chết có tên là trần thế. Từ đó, thi ca là giấc mơ của con người luôn luôn khao khát tìm về thời ấu thơ của mình trong vườn địa đàng ký ức. Nơi đó, con người sống chung với thần linh trong gia đình vũ trụ. Nơi đó, như kinh Veda mô tả, con người không thể và không muốn phân biệt mình với một đám mây, con bò hay thần thánh. Tất cả là nhất nguyên đơn sơ mà kỳ lạ, lắng đọng mà riêng rẽ, hài hòa mà phân thân.

Kinh Cựu Ước nói rằng Thượng Đế đã sáng tạo ra con người theo hình ảnh của mình. Điều này phải nói ngược lại mới chính xác. Sự sáng tạo ra khái niệm Thượng Đế là sự sáng tạo vĩ đại nhất của con người để tháo bỏ cái lốt cuối cùng của dã thú, sau khi tiếng nói và tư duy xuất hiện. Chính ý thức đã ném con người vào vũ trụ cô đơn, khiến nó sợ hãi vô cùng trước hư vô và cõi chết. Để có một cứu cánh, một nơi bấu víu cuối cùng vào thế giới trơn tuột này, con người đã rất thông minh khi sáng tạo ra người bạn vĩ đại toàn năng theo hình ảnh của mình, như cái phao trên biển cả để vượt thoát nỗi cô đơn và cái chết. Người bạn đó, cái phao cứu hộ đó có tên là thần linh. Thiêng liêng hóa hình ảnh của mình là bước tiến nhân bản nhất của khởi nguồn nhân loại. Có thể nói, thần linh đã được sinh ra trong cảm hứng thi ca, trong rung cảm cô đơn tột cùng của con người. Ngay cả khi con người đã thoát khỏi đa thần giáo, Thượng Đế của các tôn giáo hầu như đều là đứa con sinh đôi đồng thời với thi ca.

Apollon, vị thần thi ca uy quyền vào loại bậc nhất trong thần thoại Hy Lạp là hứng khởi của chiến thắng trừ cha mình là thần Zeus. Apollon có mặt trong hầu hết sự sáng tạo nơi đỉnh Olempo, tham dự vào mọi xúc cảm của vũ trụ và con người. Chừng như chính Apollon đã hóa thân vào Homère để sáng tạo ra thiên anh hùng ca Iliade và Odyssée ? Thi ca hay là sự huyền ảo của tuổi thơ nhân loại, một lần nữa, đã được một người trần mắt thịt là Homère đưa trở lại vườn Eden Hy Lạp. Ở đó, nhờ thi ca, thần linh được sống kiếp con người với tất cả bản năng nguyên thủy, với vẻ đẹp của đam mê, khoái lạc và tội lỗi. Có thể ngày nay thần linh đã rời bỏ đỉnh Olempo huyền thoại, nhưng thi ca đã không rời bỏ con người. Thi ca đã hóa thân thành nàng Pelenop, luôn luôn biết cách đợi chờ niềm thi hứng của con người, như đã từng đợi chờ chàng Odyssée trở về từ cuộc lãng du thần thoại. Từ độ con người chia tay với Thượng Đế, đi theo tiếng gọi của tình yêu và nỗi chết trong cuộc trưởng thành thống khổ của nhân loại, nó luôn tìm cách trở lại tuổi thơ của mình, trở lại vườn địa đàng tìm lại trái cấm thuở ban đầu ngon ngọt. Cuộc hành hương mơ mộng ấy có tên là Thi Ca.

II. Thi ca hay là sự cứu rỗi của cái Đẹp

Trong cuốn "Thi Pháp", Aristote đã gọi khoa học, nghệ thuật, trong đó hàm chứa cả khái niệm nguyên thủy linh hồn và Thượng Đế bằng một cái tên rất khải thị là Thi Ca. Chừng như khái niệm Thi Ca của Aristote có nét gì đó hao hao với khái niệm Đạo của Lão Tử, mặc dù chữ Đạo của Lão có phần căn nguyên và rốt ráo hơn. Triết học, nói cho cùng đã được giáng sinh trong máng cỏ ấm nồng của niềm hứng khởi thi ca. Vũ trụ được gói trong một chữ Dịch của Khổng Tử hay một chữ Đạo của Lão chỉ có thể đi vào tâm trí con người bằng niềm xao xuyến thi ca. Ngay cả thế giới ý niệm duy tâm của Platon cũng phải thông qua hình ảnh ngôn từ, trong nỗi xúc cảm dù thoáng gợn lăn tăn của thi ca. Có thể mượn lời của Socrate nói về mình để nói về thi ca: "Mẹ tôi đỡ đẻ cho những sản phụ, tôi đỡ đẻ cho những bộ óc".

Thi ca - bà đỡ kỳ diệu của triết học, đã tìm ra phép cắt rốn cho niềm siêu hình tăm tối, khiến cái tưởng như già cỗi nhất, khô cằn nhất biết cất lên tiếng khóc non tơ chào đời trong ánh sáng của suy tưởng và xúc cảm. Vì vậy, chúng ta dễ giải thích vì sao nền văn minh Trung Hoa được khởi nguồn bằng bộ Kinh Thi vĩ đại. Hầu hết các nền văn minh đều được sinh thành từ nguồn sữa Thi Ca. Văn minh Hy Lạp bắt đầu từ thần thoại của thần thi ca Apollon và nữ thần Athena, vị thần của văn học và điêu khắc. Văn minh Do Thái khởi phát từ các chương Thi Thiên trong Cựu Ước. Trường ca Veda là nền tảng cho nền văn minh bí ẩn Ấn Độ.

Đức Phật, Chúa Jésus hay tiên tri Mahomed... nói cho cùng đều là những nhà thơ lớn vào bậc nhất nhân loại. Khởi nguồn, thông qua sự mặc khải thi ca, tôn giáo đã tìm đến con người với đôi tay bè bạn, với tiếng nói của tình nhân, với niềm an ủi sẻ chia hơn là niềm cứu rỗi. Tôn giáo mượn con đường thi ca để con người tìm ra đối trọng trước hư vô, đặng hoá giải cái chết, mang đến cho cái chết xiêm y trần gian xúng xính và một bộ mặt đầy thiên giới, do đó cũng đầy nhân tính hơn. Tôn giáo đã dùng thi ca làm đôi cánh để đưa con người bay qua vực thẳm cô đơn, giúp con người có thêm người bạn đồng hành Thượng Đế. Người bạn siêu phàm kia cũng chính là sự hoá thân của con người thông qua xúc cảm thi ca đầây mộng mơ và lãng mạn.

Nếu triết học đi tìm sự khôn ngoan, tôn giáo đi tìm thần linh thì thi ca đi tìm cái Đẹp. Chiến tranh, cuồng tín, dịch bệnh, thiên tai...hàng mấy nghìn năm qua đã đe dọa cái Đẹp của con người bằng sự dung tục hóa, bằng lòng tham và thù hận, nhưng không tước đọat được niềm mộng mơ đầy thi vị của nhân loại. Bởi vì thi ca chính là hài nhi trong máng cỏ loài người, là sự hồn nhiên nhất của tuổi thơ nhân loại còn sót lại. Nếu đứa trẻ con ấy không còn, thì đôi mắt ngây thơ của loài người cũng biến mất, đồng thời cái Đẹp cũng biến mất. Nếu triết học là sự già giặn, là ông lão của con người thì thi ca càng cần phải giữ lấy tính trẻ con của nhân loại. Người Trung Hoa đã nhìn ra điều đó nên gọi Tạo Hóa là hóa nhi. Vì mãi giữ được sự trẻ con như vậy, nên Tạo Hóa chính là nhà thơ vĩ đại nhất đã sáng tạo ra vũ trụ và con người trong niềm thi hứng vĩnh cửu, rồi truyền cho con người xúc cảm thi ca khởi nguồn mọi sáng tạo ấy. Chính vì vậy, cái Đẹp đã được thi ca cứu chuộc trên cây thập tự của xúc cảm ngôn từ.

III. Thi ca trong đời sống tâm linh người Việt

Trong lịch sử thi ca thế giới, hiếm thấy tác phẩm nào đi sâu vào đời sống tâm linh con người như Truyện Kiều của Nguyễn Du đối với dân tộc Việt Nam. Hiện tượng bói Kiều của người bình dân đã chứng tỏ vai trò của thi ca trong đời sống xã hội thật to lớn, mặc dù Truyện Kiều mới xuất hiện trên hai trăm năm nay. Chừng như Thi Ca đã mượn Nguyễn Du để cài vào mỗi câu, mỗi trang Kiều toàn bộ bí ẩn của đời sống với sự mặc khải về một tôn giáo mới - tôn giáo của cái đẹp. Trong hố thẳm tuyệt vọng, thi ca đã để sẵn một bàn tay dìu dắt. Trong trái cây đau khổ, thi ca là cái nhân cựa quậy một niềm vui rón rén nảy mầm. Bằng hai bàn tay may rủi, con người tìm cách bấu víu vào mỗi câu Kiều như bấu víu vào ánh lửa le lói trong chính tâm hồn mình, đặng nhờ thi ca mách bảo những điều mà thần linh không thể mách bảo. Thi ca tìm đến với con người không phải bằng nỗi sợ hãi thần thánh của tôn giáo mà bằng niềm tri âm tri kỷ rất tình nhân, an ủi mà không thương hại, trìu mến mà không ban phát, say đắm mà không cuồng dại. Cái đẹp nơi Truyện Kiều không chỉ cần được giải mã bằng tiếng kêu thương, bằng niềm khắc khoải, mà còn cần được giải mã bằng đức tin và niềm hy vọng.

Người ta chắp tay để: "Lạy ông Từ Hải, lạy vãi Giác Duyên, lạy tiên Thúy Kiều..." như là để lạy chính nỗi thống khổ của kiếp người, lạy sự chịu đựng, sự hy sinh, thậm chí yếu đuối thiệt thòi của cái thiện, lạy cái phần bị đày ải nhất của nhân sinh. Ở nơi đó là "thập loại chúng sinh", cái gốc của cái đẹp nâu sồng mà mimh triết, giản dị mà bền vững. Do vậy, chúng ta hiểu vì sao thi ca có lúc đã biến thành kinh kệ trong đền chùa miếu mạo như trường hợp "văn tế thập loại chúng sinh" của Nguyễn Du và của một số nhà thơ khác.

Trước khi tam giáo được truyền vào Việt Nam, thi ca đã xuất hiện cùng với tuổi bình minh của dân tộc. Nền văn chương truyền miệng với ca dao tục ngữ đã làm nên dấu ấn tâm hồn Việt Nam, tạo nên bản sắc thẩm mỹ của đời sống tinh thần dân tộc. Trong chừng mực nào đó, thi ca với gương mặt ca dao tục ngữ là nơi ký gởi ký ức và kinh nghiệm nhân sinh của cộng đồng, đồng thời thi ca còn đóng vai trò như những câu kinh trong tôn giáo, giúp con người có cơ hội tìm lại hình ảnh mình trong đời sống tâm linh, thông qua nỗi xúc cảm và vẻ đẹp của thế giới trong tư duy, trong ngôn từ. Sự sáng tạo ra thể thơ lục bát trong ca dao phải chăng là sự sáng tạo kỳ vĩ nhất của thi ca dân tộc, là nhịp đưa nôi của tuổi thơ Lạc Việt, là tiếng ầu ơ của của mẹ Âu Cơ, của biển ru bờ. Nhịp thơ sáu tám dường như cũng đưa đẩy, gập ghềnh, trầm bổng theo vận nước nổi trôi, theo dáng hình tia chớp của một đất nước mà lịch sử luôn giành cho những con đường khúc khuỷu, cam go. Cái hồn nước đã được thi ca gởi gắm trong lục bát ca dao, may mắn thay thế hệ chúng ta vẫn còn giữ được, mặc những hò hét hiện đại chủ nghĩa, mặc những dòng thơ lai căng tây hoá giả cầy. Cái hồn lục bát ca dao mới mẻ mãi mãi kia chính là của ăn đường, là vốn liếng của hành trình thi ca dân tộc. Nó được lời thêm, giàu thêm bởi Nguyễn Du, Nguyễn Bính, Huy Cận...Nó rung động ngay cả niềm tin tôn giáo của dân chúng trong điệu hát chầu văn nơi đình chùa lễ hội, khơi dậy niềm vui sống trong làn điệu chèo, quan họ, ví dặm hoặc hát đúm. Lục bát như sợi dây lạt buộc lời giao duyên, buộc liền anh vào liền chị, buộc bộ tộc Lạc Việt vào mảnh đất hình chữ S này trong niềm đa cảm của nền văn minh lúa nước.

Dân tộc chúng ta đã tiếp nhận Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo thông qua đôi mắt hồn nhiên, mơ mộng, thông qua một tâm hồn thi sĩ. Tôn giáo được truyền vào nước ta không chỉ có niềm tin siêu hình, mà còn cả nét tinh hoa của văn hoá Trung Hoa và Ấn Độ. Phật giáo được kết hợp với triết học đầy thi hứng của Lão Trang truyền qua nước ta sau khi đã được truyền trực tiếp từ Ấn Độ. Từ thiền phái của nhà sư Tây Trúc Ti-ni-đa-lưu-chi đến thiền phái của nhà sư Trung Hoa Vô Ngôn Thông đã tạo ra thiền tông Trúc Lâm Trần Nhân Tông, Tuệ Trung Thượng Sỹ chính là công cuộc Việt hóa thiền tông trong cảm xúc thi ca bí ẩn của đời sống tâm linh dân tộc. Thiền, hay chính là thi ca được cô tịch trong tột cùng im lặng? Cuộc đi tìm Niết Bàn trong mỗi tâm hồn con người hoá ra lại thông qua niềm hứng khởi thi ca, thông qua xúc cảm về cái đẹp hằng sống trần gian hơn là đi tìm chỗ bấu víu trong hư không thăm thẳm. Hầu hết các nhà sư thời Lý đều là những nhà thơ thiền như Không Lộ thiền sư, Mãn Giác thiền sư... Phật giáo thông qua đôi mắt ngơ ngác huyền ảo Lão Trang tạo tiền đề cho Thiền xuất hiện, được truyền qua Việt Nam trong tinh thần thực tiễn thâm sâu Nho giáo, kết hợp với cái mộc mạc hồn nhiên, dân dã, giản dị và chân thành Giao Châu, tạo ra hàng loạt nhà thơ, những người hướng dẫn tinh thần dân tộc như: Pháp Thuận, Ngô Chân Lưu, Vạn Hạnh, Lý Công Uẩn, Lã Đinh Hương, Lý Phật Mã... Thi ca đã biết cách cư trú nơi chùa chiền miếu mạo không phải trong vai trò tín đồ hay sư sãi, mà là biểu hiện của cái Đẹp, là nét xao xuyến trần gian ngay trong lòng siêu hình hư tưởng.

Thi ca - con đường sương khói dẫn đến đời sống tâm linh con người, là con thuyền chở Đạo, đồng thời cũng biết cách biến mình thành phương tiện tự vệ khi cộng đồng lâm nguy. Huyền thoại về bài thơ "Thần" của Lý Thường Kiệt trên phòng tuyến sông Như Nguyệt đã chứng tỏ vai trò, sức mạnh của thi ca trong cuộc đánh bại quân xâm lược quả là to lớn. Suốt hành trình lịch sử, khi có giặc, thi ca đã thành vũ khí, thành tiếng kèn xung trận. Khi hòa bình, thi ca tham gia vào đời sống đạo hạnh, gìn giữ thuần phong mỹ tục khi Nguyễn Trãi soạn "Gia huấn ca", Lê Thánh Tông tức cảnh sinh tình, mượn thi ca mà an dân trị quốc...Thi ca tham gia vào mọi hoạt động của đời sống xã hội, gia đình và cá thể. Cuộc sống dù cực nhọc chừng nào cũng phải giữ lấy chất thơ của nó, như giữ lấy cốt cách mộng mơ dân tộc.

Cũng như bao đất nước khác trên hành tinh, đất nước chúng ta bao giờ cũng vẫn là một đất nước thi sỹ. Thi ca đã xuất hiện đồng thời với tiếng Việt, đã song hành với mọi thăng trầm lịch sử, đã góp phần to lớn trong sự hình thành bản sắc văn hóa và nền tảng tinh thần dân tộc. Nhiều người lo sợ cho sự tồn tại của thi ca trước sự xâm lăng toàn diện của chủ nghĩa thực dụng thời kinh tế thị trường khắc nghiệt này. Không, thi ca vẫn là dòng nước ngầm nuôi dưỡng sự xanh tươi trong đôi mắt hồn nhiên ngơ ngác của dân tộc. Thiếu đôi mắt hồn nhiên kia, thi ca có thể sẽ ra đi cùng với sự ra đi của ngôn ngữ. Nhưng thảm hoạ ấy sẽ không bao giờ xảy ra, khi thi ca mãi mãi giữ lại cho chúng ta cái tuổi thơ huyền nhiệm của dân tộc và nhân loại. Ở đó, trong đời sống tâm linh con người, thi ca bao giờ cũng là niềm mặc khải của Chân Thiện Mỹ, hoài niệm và tiên cảm cho chúng ta về một thế giới mãi mãi tồn tại trong nỗi xúc động ban đầu..:

Trần Mạnh Hảo

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image


MƯA

Như nước căng phồng giữa lớp mây.
Em buồn?!-Sao chẳng trở về đây?
Đón Em,Anh nói lời thân ái….
Dòng chảy lưng trời tỏa xuống cây.

Trong khoảng không gian có một mình,
Một mình! Sao đủ sức lung linh?
Gió trăng chưa kết thành duyên nợ.
Nếu thiếu cơ may,thiếu chữ tình!

Em sẽ cô đơn nếu thiếu Anh.
Thiếu mầu thiếu ý khó thành tranh.
Nỗi tương tư Ta đang nếm trải.
Biết bao giờ có được mối manh?!

Thác đổ trăm nơi cũng về nguồn.
Chuyện đời đâu dễ đắp thành khuôn?
Mối tơ duyên sinh ra từ đấy.
Ai nỡ đang tâm ghép tiếng buồn?!

Thôi hãy về,nối lại tình xưa.
Có trách than cũng chỉ bằng thừa.
Khu vườn hoang hóa, ai chăm bón?
Sẽ chịu điêu tàn nếu thiếu…..MƯA!


TrungDung.
Last edited by khieulong on Sun Oct 24, 2010 9:30 pm, edited 1 time in total.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Về đi thôi gió

Về đi thôi gió đừng chờ,
Chẳng còn chi nữa mắt mờ tìm nhau.
Về đi thôi gió bay mau,
Chẳng còn em vẫn một màu phố xưa.

Về đi thôi gió đừng mơ,
Xa bàn tay ấy bất ngờ nỗi đau.
Về đi thôi gió chớ sầu,
Ngày mai xa lắm còn đâu sợi buồn.

Về đi thôi gió mưa tuôn,
Tóc nhòa bóng nước. cội nguồn là em.
Về đi thôi gió là đêm,
Mình ta nhớ những êm đềm thời gian.

Về đi thôi gió nồng nàn,
Heo may thuở ấy đầy tràn trong nhau.



Lê Huy Quang
Last edited by khieulong on Sun Oct 24, 2010 9:31 pm, edited 2 times in total.

DaHuong
Posts: 124
Joined: Sat Dec 11, 2004 6:04 am

Post by DaHuong »

khieulong wrote:Về đi thôi gió

Về đi. thôi gió. đừng chờ,
Chẳng còn chi nữa. mắt mờ tìm nhau.
Về đi. thôi gió. bay mau,
Chẳng còn em. vẫn một màu phố xưa.

Về đi. thôi gió. đừng mơ,
Xa bàn tay ấy. bất ngờ nỗi đau.
Về đi. thôi gió. chớ sầu,
Ngày mai xa lắm. còn đâu sợi buồn.

Về đi. thôi gió. mưa tuôn,
Tóc nhòa bóng nước. cội nguồn là em.
Về đi. thôi gió. là đêm,
Mình ta nhớ những êm đềm thời gian.

Về đi. thôi gió. nồng nàn,
Heo may. thuở ấy. đầy tràn trong nhau.



Lê Huy Quang

Bài thơ hay wa' anh Long ơi ! Nhưng sao toàn là dấu chấm không dzị? :shock:





:wink:

User avatar
Vivi
Posts: 177
Joined: Thu Jul 06, 2006 7:38 pm

Post by Vivi »

Chùa CSVN dựng lên để
Thờ Hồ Chí Minh cùng với Phật
tại Bình Dương năm 2006.



Hồ-Đảng-Tu


Ba mươi năm lẻ nhiễu nhương
Đảng hồ tạo kiếp tai ương quê nhà
Trong chùa dựng phật Hồ già
Sư tăng quì lạy như là Thích Ca

Qua bao đời Tổ Tiên ta
Xây chùa thờ Phật - Cà Sa tu hành
Bây giờ Việc Cộng lưu manh
Tôn tên chúa Đảng như danh Phật thờ

Đời mạt pháp, Phật bơ vơ
Ngồi bên Hồ đỏ, bẩn dơ áo vàng
Khói hương phản phất lang thang
Đau lòng kinh mõ tiếng than ngất trời

Nghĩ ra lòng dạ tơi bời
Chân tu mà phải rối bời đường tu


Vivi
Norway.01.04.2006


Quán bên đường đẹp wá xin nghỉ chút nha...
Ba mươi hai năm quá rõ
Em còn lầm nữa sao em?!

User avatar
Vivi
Posts: 177
Joined: Thu Jul 06, 2006 7:38 pm

Post by Vivi »

Khoản 200 Sư QD Tụng
Chùa Bình Dương (27.3.06)


Sư Sư Tu Tu


Ba mươi năm lẻ cuồng điên
Đỉnh cao Hà Nội đột nhiên xuất hình
Dựng tượng Hồ ngồi chình ình
Trước bàn Phật Tổ, mõ kinh ê hề

Ba mươi năm lẻ não nề
Sư tăng nổi dậy tụ về chùa tu
Kinh cáo Hồ, tụng lu bù
Cầu cho đảng Cộng mãi cùm lương dân

Ba mươi năm lẻ hóa thân
Từ tên vấy máu sát nhân li bì
Tôn vinh như Phật từ bi
Xây chùa thờ phụng, linh đình Cà Sa

Ba mươi năm lẻ manh nha
Ba mươi năm lẻ tà ma đội mồ
Ba mươi năm lẻ đảng Hồ
Cuồng điên điên đảo mưu mô điên khùng !


Vivi
Nw. 02.04.06
Ba mươi hai năm quá rõ
Em còn lầm nữa sao em?!

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Người Hành Khất Việt Nam



Tôi không xin cả cuộc đời
Chỉ mong một chút tình người Việt Nam
Đời tôi nắng dãi mưa dầm
Ôm thương nhớ đứng gọi thầm tên nhau
Con tôi lưu lạc phương nào
Đứa ra miền Bắc, đứa vào miền Nam
Đứa về theo núi theo sông
Chết trong Trại Cấm, chết lòng biển sâu
Nhà tôi dột nát đã lâu
Bốn nghìn năm để một màu khăn tang
Tôi người hành khất Việt Nam
Ngồi nghe máu nhỏ xuống bàn tay khô
Tôi không giành giựt cơ đồ
Chỉ xin một chút tự do làm người.



Trần Trung Ðạo

[ram]http://www.hnclvd.com/nhac/viet/NguoiHanhKhat_VN.mp3[/ram]

.

User avatar
Vivi
Posts: 177
Joined: Thu Jul 06, 2006 7:38 pm

Post by Vivi »

Hạt Lệ Thương Phế Binh
VNCH


Ba mươi năm lẻ đau thương
Cuộc đời tàn tật đoạn trường phế binh
Cùm trong chế độ cực hình
Độc tài, ích kỷ, khinh khi, căm thù

Ba mươi năm lẻ đảng tru
Lên thân tàn phế âm u lệ tràn
Đói cơm, thiếu thuốc, lang thang
Góc đường xó chợ, cơ hàn xin ăn

Ba mươi năm lẻ lộn lăn
Từng cơn đau nhức, dòi rằn lông đen
Trở trời nổi chứng ho hen
Nằm co một chỗ, rữa mềm thịt da

Ba mươi năm lẻ lệ nhoà
Người sống như thể thây ma hoàn hồn
Chìm sâu giữa bóng hoàng hôn
Nấm mồ Cộng sẵn chờ chôn trả thù

Ba mươi năm lẻ âm u
Tiếng oan che bỡi mây mù Cờ Sao
Bỡi vì đâu, tội tình nào ?
Thương Binh thân phận, nghẹn ngào bi ai

Ba mươi năm lẻ ươn tai
Ba mươi năm lẻ hình hài tả tơi
Ba mươi năm lẻ mòn đời
Ba mươi năm lẻ ai ơi thấu tình !!!

Vivi
Nw.12.4.06
Ba mươi hai năm quá rõ
Em còn lầm nữa sao em?!

User avatar
Vivi
Posts: 177
Joined: Thu Jul 06, 2006 7:38 pm

Post by Vivi »

Gửi Giáp

Giáp ơi ! Ông đã già rồi
Tiếc chi hạt máu làm tôi Nga Tàu
Cái lon đại tướng nát nhàu
Đêm nằm vắt tráng mà đau cõi lòng !

Mấy chục năm, máu dân đong
Da thịt ông đỏ, còn mong nỗi gì
Bây giờ đến lúc phải chi
Lấy máu rửa sạch, hành vi đảng tà !

Xác Hồ như một con ma
Vứt đi đỡ tốn thịt da dân lành
Đảng quyền độc ác tranh dành
Đê hèn dâng đất mua danh giặc Tàu !

Cái lon đại tướng đỏ au
Hãy đem cống hiến lúc này biên cương
Ải Nam Quang thảm sầu vươn
Tiền nhân xây đắp máu xương chất chồng !

Anh hùng sao lại ngồi trông
Mất đất mất biển, lòng không căm thù
Quân hùng tướng mạnh tối mù
Biên cương chẳng giữ, dập trù dân lương !

Thân danh tướng, phải kính thương
Tình dân Tổ Quốc, đường đường hiên ngang
Phải không hỡi Giáp ? Tím gan
Thờ Hồ,Mao, Max, ai mà kính tôn !!!

Vivi
Nw 4.06
Ba mươi hai năm quá rõ
Em còn lầm nữa sao em?!

Post Reply