Cà Phê...Vịt

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
muanuadem
Posts: 461
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:47 pm

Post by muanuadem »

Image

Cái chết

Tác giả: Kahlil Gibran
Dịch giả: Giải Nghiêm



Rồi Almitra mở lời: “Bây giờ chúng tôi xin hỏi về Cái Chết.”

Ngài đáp rằng:

Bạn muốn biết bí mật về sự chết.

Nhưng bạn sẽ tìm nó thế nào - nếu chẳng phải kiếm tìm nó ngay trong lòng sự sống?

Con cú - mà đôi mắt thuộc về ban đêm, mù loà đối với ban ngày - sẽ không thể vén màn bí mật của ánh sáng.

Nếu bạn thật sự muốn ngắm linh hồn cái chết, hãy mở rộng trái tim mình cho hình hài sự sống.

Bởi chết với sống là một, giống như biển và sông là một.

Trong chiều sâu khát vọng của mình - đã chứa đựng cái biết âm thầm về cõi bên kia

Như những hạt mầm ủ mơ dưới lớp tuyết sâu – trái tim bạn mơ về mùa xuân đẹp.

Hãy tin vào những giấc mơ, bởi trong chúng ẩn tàng cánh cửa đi vào vĩnh cửu.

Nỗi sợ chết của bạn chẳng qua chỉ là sự run rẩy của kẻ chăn cừu - khi hắn đứng trước mặt nhà vua để được ngài đặt bàn tay lên phong tặng.

Dưới sự run rẩy của mình, người chăn cừu há chẳng hân hoan - rằng hắn sẽ được mang trên mình dấu ấn của nhà vua?

Tuy nhiên, há hắn lại không để ý thêm hơn sự run rẩy của mình?

Bởi chết là gì - nếu không phải là đứng trơ trụi dưới gió và tan đi dưới mặt trời?

Và ngưng thở là gì - nếu không phải là giải phóng hơi thở khỏi những sóng triều không ngơi nghỉ, để nó được vươn lên, nới rộng và tìm đến Thiêng Liêng vô ngại vô biên?

Chỉ khi nào uống từ dòng sông tịch lặng – khi ấy bạn sẽ thật sự hát ca.

Và khi đã lên tới đỉnh núi rồi – thì bạn sẽ bắt đầu trèo.

Khi đất đòi bạn tứ chi, thì bạn sẽ thực sự nhảy múa.


Chapter 27

Then Almitra spoke, saying, "We would ask now of Death."

And he said:

You would know the secret of death.

But how shall you find it unless you seek it in the heart of life?

The owl whose night-bound eyes are blind unto the day cannot unveil the mystery of light.

If you would indeed behold the spirit of death, open your heart wide unto the body of life.

For life and death are one, even as the river and the sea are one.

In the depth of your hopes and desires lies your silent knowledge of the beyond;

And like seeds dreaming beneath the snow your heart dreams of spring.

Trust the dreams, for in them is hidden the gate to eternity.

Your fear of death is but the trembling of the shepherd when he stands before the king whose hand is to be laid upon him in honor.

Is the sheered not joyful beneath his trembling, that he shall wear the mark of the king?

Yet is he not more mindful of his trembling?

For what is it to die but to stand naked in the wind and to melt into the sun?

And what is to cease breathing, but to free the breath from its restless tides, that it may rise and expand and seek God unencumbered?

Only when you drink form the river of silence shall you indeed sing.

And when you have reached the mountain top, then you shall begin to climb.

And when the earth shall claim your limbs, then shall you truly dance.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

SAIGON MỘT THỜI CỦA MỘT ĐỜI
Có nhiều bài thơ về Sài Gòn. Thành phố ấy, với nhiều người, là thánh địa của kỷ niệm. Với Nguyên Sa, là Tám Phố Sài Gòn, là “Sài Gòn đi rất chậm buổi chiều”, là “Sài Gòn phóng solex rất nhanh” “Sài Gòn ngồi thư viện rất ngoan” là “Sài Gòn tối đi học một mình”, là “Sài Gòn cười đôi môi rất tròn”, là “Sài Gòn gối đầu trên cánh tay”.. Với Quách Thoại buổi sáng, là “sáng nay tôi bước ra giữa thị thành để nghe phố nói nỗi niềm mới lạ tiếng xe tiếng còi tôi nghe đường xá cả âm thanh của cuộc sống mọi người một nụ cười chạy ẩn giữa môi tươi trên tim nóng trong linh hồn tất cả ..” Với Trần Dạ Từ là buổi trưa, về Thị Nghè: “vẫn một mặt trời trên mỗi chúng ta và mỗi chúng ta trên một bóng hình tôi vô giác như mặt đường nhựa ẩm trũng nỗi sầu đau náo nức lưu thông mùa hạ đi qua tựa hồ giấc mộng tôi chạy điên trong một bánh xe tròn và đứa trẻ hít còi người đàn bà bước xuống ôi chiếc cầu , ôi sở thú. ôi giòng sông..” Với Cung Trầm Tưởng, là mưa, là “mưa rơi đêm lạnh Sài Gòn mưa hay trời khóc đêm tròn tuổi tôi mưa hay trời cũng thế thôi đời nay biển lạnh mai bồi đất hoang..” Với Luân Hoán, là ngồi quán, là “ngồi La Pagode ngắm ngườithấy em nhức nhối nói cười lượn qua mini-jupe trắng nõn nà vàng thu gió lộng chiều sa gót giày ngẩn theo tóc, tuyệt vời bay hồn thơ thức mộng trọn ngày bình yên” Với Bùi Chí Vinh, là ngày bãi trường mùa hạ “những chiếc giỏ xe chở đầy hoa phượng em chở mùa hè của tôi đi đâu chùm phượng vĩ là tuổi tôi mười tám tuổi thơ ngây khờ dại mối tình đầu..”..

Và với nhiều thi sĩ khác, Sài Gòn là phố cây xanh, là đêm cúp điện, là chiều mưa giọt, là trưa nắng đỏ. Ôi Sài Gòn, của cõi thơ không cùng, của những chân trời thi ca bao la, của những trái tim lúc nào cũng dồn dập nhịp thở của tháng ngày tuy náo động nhưng chẳng thể nào quên.

Với riêng tôi, Sài Gòn là muôn vàn kỷ niệm. Là những con đường quen thân , nhắc lại một thuở ấu thời. Là ngôi trường Chu văn An, nơi tôi miệt mài suốt bảy năm trung học. Là trường Khoa Học, là trường Luật trước khi vào lính. Là cổng Phi Long vào phi trường Tân Sơm Nhứt khi vừa nhập ngũ. Là những mơ mộng tuổi trẻ, lúc vừa bước vào đời sống quân đội trong một đất nước đang trong tình trạng chiến tranh.

Buổi trưa , nằm dài trên sân cỏ mượt nhìn lên nóc nhà thờ Ngã Sáu , dưới bóng cây dầu cao vút, nghĩ về tương lai nhìn theo những sợi mây bay qua . Nghe xôn xao trong lòng những sợi nắng lung linh. Ôi, thuở còn đi học, mấy ai tiên đoán được số mệnh mình. Mây bay đi, như đời trôi qua.


nằm trên cỏ nhìn trời cao
lung linh sợi nắng thuở nào phai phai
nhìn tượng Chúa dưới tàng cây
giơ vai chĩu nặng tháng ngày chiến tranh
mùa hạ mấy bước đi quanh
cổng trường đóng những đoạn đành thế thôi
ngày mai đi bốn phương trời
mây phiêu lãng chợt thương đời phù du..”


Sài Gòn những mùa thu. Có những con đường xôn xao áo lụa. Có những buổi tan học nhìn tà áo trắng mà mơ ước vu vơ. Để đêm về, trên trang vở học trò, vẽ bâng quơ đôi mắt ai, mái tóc ai:

“Thành phố ấy , xôn xao tà áo trắng
nắng hanh vàng trải lụa những mùa thu
guốc chân sáo để hồn ai ngơ ngẩn
bước mênh mang nghe quẩn sợi sương mù
mây vào áo lồng lộng bay chiều gió
lụa trắng trong e ấp buổi hẹn hò
sợi mi cong tưởng chập chờn ngực thở
tóc ai buông dài xõa những câu thơ.
Thành phố ấy, mấy ngã tư đèn đỏ
Ai chờ ai khi kẻng đánh tan trường
Bài thơ trao còn nguyên trong cuốn vở
Thuở ngại ngùng lần bước đến yêu thương..”
Sài Gòn của một thời mặc áo lính. Khi ở xứ biên trấn xa xôi, nhớ về thành phố với người thương, với phố quen, trên máy bay lượn vòng thành phố , nghe như mình đã trỡ về quê hương mình. Khi đổi về đơn vị ở phi trường Biên Hòa , mỗi buổi sáng tinh sương ghé phở Tàu Bay, ăn tô phở đầu ngày trong cái không khí trong veo buổi sớm , nay nhớ lại còn trong dư vị miếng ăn ngon của một thời tuổi trẻ.

Năm 1968, lệnh tổng động viên nên vào lính nhập khoá với những người cùng trang lứa. Lúc ấy, với hăng hái của người nhập cuộc, hiểu được bổn phận của một công dân thi hành nghĩa vụ quân sự với đất nước. Lúc ấy, mắt trong veo và tâm hồn như tờ giấy trắng:

“Bọn ta ba trăm thằng tuổi trẻ
Chọn không gian tổ quốc mênh mông
Mắt sáng môi tươi như tranh vẽ
Vào lửa binh không chút nao lòng
Chia sẻ với nhau thời bão gió
Đời muôn nhánh rẽ ngược xuôi nguồn
Cánh chim phiêu bạc ngàn cổ độ
Tử sinh ai luận chuyện mất còn?
Ngồi uống cùng nhau các hảo hán
Tưởng ngày xưa rượu tiễn lên đường
Sách vở giảng đường thành dĩ vãng
Những chàng trai dệt mộng muôn phương..”
Rồi , vận nước đến thời , gia đình ly tán, đi vào trại tù , nếm đủ những cay đắng của đời cải tạo . Khi trở về, Sài Gòn, cảnh vẫn cũ nhưng người xưa đã khác . Như Từ Thức về trần , cả một thế thời thay đổi. Người về, từ trại tù nhỏ sang qua nhà giam lớn, vẫn những con mắt công an cú vọ rập rình, vẫn những lý lịch trích dọc, trích ngang đeo đuổi. Tạm trú, tạm ngụ , ở chính ngôi nhà của mình. Nơi sẽ định cư của những người tù cải tạo , là những vùng kinh tế mới xa xăm , những nơi chốn đầy ải của ngày tuyệt lộ. Trở về xóm cũ, làm người lạ mặt:

“Đỏ bầm mặt nhựt cơn mê
lạnh tanh khuôn mắt người về dửng dưng
vào ra lối rẽ ngập ngừng
mấy năm sao lạ , nỗi mừng chợt xa
cầu thang quẩn dấu chân qua
đời như hạt nước mưa sa bóng chiều
từ rừng máu giọt gót xiêu
thảm thương phố cũ nắng thiêu mộng người
đỏ bầm ánh điện đường soi
cây nhân sinh chợt nẩy chồi cuồng điên
nhìn soi mói nụ cười đen
mắt hằn dấu đóng chao nghiêng một ngày.”
Về trình diện công an khu vực , nhìn nụ cườigằn vừa mỉa mai vừa soi mói , nhìn đôi mắt cú đóng dấu vào một ngày thất thế của người bại binh, ôi đau xót cho một đời ngã ngựa.

Ở Sài Gòn những ngày giặc chiếm, vẫn còn âm hưởng của một cuộc chiến chưa tàn . Trên chuyếbn xe bus nội ô, một người lính què dẫn dắt người lính mù hát những bài hát ngày xưa ngày còn chiến đấu dưới cờ. Quân lực VNCH là tập thể của những người lính tin tưởng vào công việc làm của mình. Dù thua trận nhưng họ không muốn làm hèn binh nhục tướng…

“trang lịch sử đã dầy thêm lớp bụi
ngăn kéo đời vùi kín mộ phần riêng
Và lãnh đạm chẳng còn người nhắc đến
Người trở về từ cuộc chiến lãng quên
Đôi mắt đục nhìn mỏi mòn kiếp khác
Dắt dìu nhau khập khiễng chuyến xe đời
Người thua trận phần thịt xương bỏ lại
Trên ruộng đồng sầu quê mẹ rã rời
Chuyến xe vang lời thơ nào năm cũ
Nhắc chặng đường binh lửa thuở xa xưa
khói mịt mù thời chiến tranh bụi phủ
Nghe bàng hoàng giọt nắng hắt giữa trưa
Tiếng thê thiết gọi địa danh quen thuộc
Thuở dọc ngang mê mải ngọn cờ bay
Cuộc thánh chiến gió muộn phiền thổi ngược
Dấu giày buồn còn vết giữa sình lầy
Nghe lời hát tưởng đến người gục ngã
Cả chuyến xe chia sẻ một nỗi niềm
Âm thanh cao xoáy tròn dù gỗ đá
Thức hồn người vào nhịp thở chưa quên
Ơi tiếng hát vinh danh đời lính chiến
Cho máu xương không uổng phí ngày mai
Có sương khói từ mắt thầm cầu nguyện
Cho lỡ làng không chĩu nặng bờ vai
Người thản nhiên những tia nhìn cú vọ
Đây thịt xương còn sót lại một đời
Còn ngôn ngữ của Việt Nam đổ vỡ
Dù rã rời nhưng vẫn thắm nụ cười
Ta nghe rực trong hồn trăm bó đuốc
Mặt trời lên xua tăm tối cho đời..”
Ở Sài Gòn năm 1980, là những ngày tôi cựa quậy trong nan lồng

Nghèo đói, bất công, đe dọa, bắt bớ, đủ thứ khổ nạn đổ lên đầu người dân nhất là những người được thả về từ trại tù. Mỗi ngày trình diện công an, rồi mỗi tuần , mỗi tháng nhưng áp lực thì càng ngày càng tăng. Tạm trú, từng tháng, từng ngày. Không có một chỗ nào ở thành phố cho các anh, người thua trận. Tôi, không có hộ khẩu, ở tạm trong nhà của mình. Rồi tham gia tổ chức vượt biên ở Bến Tre bị công an tỉnh này lên Sai Gòn tìm bắt . May là thoát được nên sau đó là phải sống lang thang đêm ngủ chỗ này tối ở chỗ khác. Những buổi tối trời mưa, đạp xe đi tìm chỗ tạm trú , mới thấy ngậm ngùi cho câu than thở trời đất bao la rộng lớn mà sao ta chẳng có chốn dung thân. Những buổi chiều nắng quái , đi trong thành phố, mới thấy cảm gíac của một kẻ cô đơn như con chuột đang cuống cuồng trong lồng giữa cơn mạt lộ. Thấy đi tới đâu cũng gặp những cặp mắt ngại ngùng của những người thân, từ chối thì không nỡ mà chứa chấp thì bị liên lụy nên tôi phải tìm một phương cách để cho qua đêm dài. Thuê phòng trọ hay khách sạn cực kỳ nguy hiểm , nên chỉ cómột cách là trà trộn vào những người ngủ ngoài đường . Lúc ấy , ở Sài gòn đầy những người ngủ ở hè phố, Họ là những người từ kinh tế mới về chịu không kham sự khổ cực hay những người vượt biên hụt trở về nhà bị chiếm. Mà chỗ an toàn nhất là bến xe Ngã Bảy. Ở đây là đường ranh của nhiều phường nên chỉ có một quãng ngắn, ở chỗ này bố ráp thì chỗ kia vẫn bình thường như không có gì xảy ra. Tôi có xem một video của trung tâm Asia có ghi lại hình ảnh của nhạc sĩ Trúc Phương cũng hoàn cảnh phải ra xa cảng để ngủ qua đêm mà chạnh lòng. Thì ra , ở lúc ấy , có nhiều người chung cảnh ngộ, phải lang thang ngủ đầu đường xó chợ một cách bất đắc dĩ. Bao nhiêu chuyện trái tai gai mắt, công an lộng hành , bắt người không cần lý do , kinh tế thì lụn bại, ngăn sông cấm chợ, cả nước nghèo đói không đủ gạo ăn , kỹ nghệ trì trệ không sản xuất được gì đáng kể. Rồi chính sách phân biệt đối xử , giáo dục thì nhồi sọ , hồng nhiều hơn chuyên, thi cử tuyển chọn theo lý lịch hơn là thực tài, y tế thì thiếu thuốc men phương tiện và y sĩ trình độ kém lại làm việc tắc trách. Thật là một thời tệ mạt nhất trong lịch sử dân tọc ta.

Ngủ ở bến xe Ngã Bảy, mướn cái chiếu 1 đồng , kiếm một chỗ qua đêm , tôi đã chứng kiến nhiều chuyện. Có những bà mẹ góp nhóp tiền bạc đi thăm con ở một trại tù nào đó, chờ xe ba bốn ngày, sống lang thang lếch thếch chờ đợi. Cũng có những người không nhà, nằm la liệt dưới mái hiên, sinh sống ăn ngủ và làm tình một cách thản nhiên như đang sống trong nhà mình. Cũng có những trai tứ chiếng, những gái giang hồ quanh quẩn kiếm ăn. Những anh lơ xe, những chị buôn hàng chuyến, những mối tình, hừng hực xác thịt cứ diễn ra hàng đêm. Rồi những đêm mưa gió, ướt át, những tiếng chửi than trời trách đất cứ dòn dã . Hình như, ở gần nỗi khổ, tâm hồn họ bị chai sạn đi. Công an từ phường này qua phường kia luôn luôn bố ráp nhưng như một trò chơi cút bằt. Áo vàng mũ cối đi qua, chỉ ít lâu sau là đâu vẫn đấy

“ .. hè phố rác lạc loài hoa dại
nở buồn tênh phiến gạch ngậm ngùi
cỏ đớn hèn hạt sầu kết trái
ươm bao năm dầu dãi nụ cười
ngủ chợp mắt đèn khuya vụn vỡ
ho khan ai quằn quại phổi khô
tiếng còi hú nhát đinh vỡ sọ
nghiến xe lăn tim nhịp chày vồ
rưng não tủy bầu trời tháng chạp
cành cỏ khô héo mãi phận mình
ở vu vơ ngỡ ngàng tiếng khóc
đêm bến xe tưởng chốn u minh
đường bảy nhánh chỗ nào phải lối
ngủ nơi đâu còi rúc giới nghiêm
như tiếng cú rúc trong huyệt tối
người lao xao cõi tạm cuồng điên
gío nhọn hoắt ngon lành da thịt
mưa giọt soi mộng dữ chân người
ánh đèn pin mắt ai tội nghiệp
bờ đá xanh lạnh buốt chăn đời..”
Ở một đất nước vào thời kỳ mà cây cột đèn nếu đi được cũng muốn vượt biển , thì còn con đường nào khác hơn là thách đố với định mệnh.

Những lần sửa soạn ra đi , tự nhủ hãy đi một vòng thành phố thân yêu để rồi vĩnh biệt không còn gặp lại. Những khúc sông , những cây cầu , những dãy phố , mỗi mỗi đều nhắc đến kỷ niệm và khi sắp sửa ra đi như mất mát một phần đời sống mình. Có buổi tối , đi trong mưa, để tưởng nhớ lại lúc xa xưa, khi bềnh bồng trong cảm giác lãng mạn của một người đi tìm vần thơ.

Mai ta đi xa. Thôi giã từ thành phố. Lòng đau như cắt trong lúc giã từ "ta thắp nến đọc hoài trang sách kể

Chuyện người tù vượt ngục suốt một đời
Ta hùng hực cánh buồm chờ gió đẩy
Sống một ngày thêm thúc giục khôn nguôi
Đã đắp xóa bao lần cơn mộng biếc
đường phải đi cho đến lúc xuôi tay
sóng loạn cuồng con thuyền trôi biền biệt
giăng buồm lên phương viễn xứ một ngày
Ta cũng biết còn xa vùng đất hứa
Phải đi qua địa ngục chín mươi tầng
Đời hiện tại xích xiềng theu bão lửa
Nỗi niềm riêng còn khóe mắt thương thân
Đã thấm thía ngày qua ngày tù tội
Chim trong lồng mơ vùng vẫy trời cao
Cười khinh mạn những chão thừng buộc trói
Về phương đông nơi bến đỗ tay chào
Mộng ước mãi chiều nao vời cố quận
Chim sẻ ngoan còn ríu rít phố phường
Loài ác điểu vẫn gây căm tạo hận
Bẫy gai chông ngầm phục ở quê hương
Ta tin tưởng có quỉ thần dẫn lối
Dù giặc thù vây bủa cả không trung
Còn một chén nốc ngụm men vời vợi
Gió chuyển rồi thôi đến lúc lên đường
Chuyện sinh tử dỡn chơi thêm ván cuối
cạn láng rồi thử thách với phong ba
ngôi tinh đẩu dẫn ta về bến đợi
đường biển vẽ rối tay lái thẳng lối qua.”
Bây giờ, nhiều người trở lại nói thành phố đã đổi khác. Hết rồi, những con đường cũ, những ngõ hẻm xưa. Hết rồi, những tâm tình thuở nào, của một htời trong một đời người. Tôi, có lúc đọc những bài viết cũ, ngắm lại những hình ảnh xưa, lại nhói đau như vừa đánh mất một điều gì trân quí. Thôi vĩnh biệt sài Gòn, tiếng kêu thảng thốt của người vừa đánh mất một phần đời sống mình…

Nguyễn Mạnh Trinh

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Image

ÔNG GIÀ NÔEL LÀ AI

Thành Patara thơ mộng, một thành phố cổ thuộc miền Tiểu Á, ngày nay nằm ở vùng nam duyên hải Thổ Nhĩ Kỳ. Trên ngọn đồi, Nicholas ngồi bên tảng đá, chàng hết ngắm nhìn biển xanh rồi lại quay nhìn ngôi nhà xinh xắn của chàng. Rất nhiều lần chàng đã ngắm nhìn như thế, nhưng hôm nay chàng mới để ý nhà chàng đẹp và sang trọng nhất thành. Chàng liên tưởng tới song thân đạo hạnh mới lần lượt vĩnh biệt chàng đi vào thế giới vô hình, để lại cho chàng một gia tài kích xù. Chàng nhớ đến những chiếc rương nặng, đầy vàng bạc và châu báu đang khóa kỹ tại kho tàng nhà chàng…..

Nicholas chậm rãi hướng cặp mắt lên bầu trời muôn mầu sắc lúc hoàng hôn, chàng thầm thĩ cầu nguyện:

-Lạy Chúa, Ngài biết rằng con không cần đến mọi của cải đó. Con ước ao phụng sự Ngài. Xin Ngài dậy con phải làm gì!

Nicholas hiểu rằng Chúa sẽ không trực tiếp trả lời chàng, nhưng chàng tin rằng Ngài sẽ đáp lại lời nguyện cầu của chàng bằng cách này hay cách khác. Vì thế, chàng chờ đợi…

Một hôm, Nicholas cỡi ngựa qua một xóm nghèo. Bọn trẻ quần áo xác xơ, cả lũ ngừng chơi nhìn chằm chặp vào chàng thanh niên đẹp trai cỡi trên lưng con ngựa quí. Lập tức, Nicholas đọc được trong những đôi mắt và trên thân hình gầy gò của chúng sự nghèo túng, đói khát và đáng thương. Đột nhiên chàng nhớ lại lời Chúa Kitô: “Các con làm điều gì cho một kẻ bé mọn nhất trong anh em Ta đây, chính là các con làm cho Ta”. “Những kẻ bé Mọn! Các trẻ nhỏ!” Nicholas tự nghĩ, “ Chúa muốn tôi giúp đỡ các trẻ nhỏ”. Lập tức chàng quay ngựa đi thẳng đến phố chợ. Tại đây, chàng mua sắm những quần áo sặc sỡ, những đôi giầy đủ mầu đủ cỡ, rồi chàng xin những người bán hàng chất các rổ, các thúng với mọi thứ thịt thà, bánh kẹo, hạt giẻ và trái cây. Đồng thời chàng nhờ họ giữ thứ đó cho tới khi chàng trở lại.

Đêm ấy, khi thành phố đã yên giấc, bọn trẻ đã ngủ say, Nicholas bí mật đi từ nhà này sang nhà khác, qua những cửa sổ mở trống, chàng đặt trên sàn nhà từng chiếc rổ, chiếc thúng đầy ắp những bánh quà, thịt thà và quần áo. Chàng không quên bốc những nắm kẹo và hạt giẻ bỏ vào những đôi giầy mới để gây ngạc nhiên cho bọn trẻ.

Cứ thế, từ hôm này qua hôm khác, ban ngày Nicholas đi tìm kiếm kẻ nghèo đói, đêm đến chàng rảo qua các nhà, bí mật bỏ lại những món quà.

Chẳng mấy chốc, người trong thành đã xôn xao bàn tán, họ hỏi nhau:

-Ai là người đã bí mật trao tặng chúng ta những món đồ cần thiết, mà chúng ta không hay biết?

Khi nghe được những lời bàn tán của dân chúng, Nicholas tạm ẩn mặt một thời gian. Chàng chỉ muốn một mình Chúa biết việc chàng làm. Chàng tự nghĩ: “Nếu mình nhận lời cám ơn về việc mình làm, thì ra như đã nhận công thưởng đời này rồi!”

Ngày kia, Nicholas nghe kể về một người bạn của cha chàng, ông ta cũng là người thành Patara, nhưng làm ăn suy xụp. Do sự suy xụp này ông ta không đủ tiền để sắm sửa cho ba cô con gái đã đến tuổi thành hôn. Ông ta dự tính sẽ gửi cả ba đứa con vào làm cho một tửu quán gần nhà, để chúng có thể kiếm tiền lập gia đình. Khi nghe câu truyện, Nicholas tỏ ra rât bực tức, vì cũng như mọi người trong thành, chàng biết rằng người chủ quán là một kẻ tội lỗi. Những nàng con gái làm trong tửu quán đó không khỏi đi theo đàng tội!

Ngay đêm đó, Nicholas bỏ đầy một túi nhỏ những đồng tiền vàng, đi thẳng tới nhà người bạn của cha chàng. Qua cánh cửa sổ đang mở, chàng thẩy túi vàng trên bàn, nơi người con gái lớn đang ngồi. Khi nghe tiếng la sửng sốt của cô con gái vì túi vàng bỗng dưng từ đâu bay tới, Nicholas lanh lẹ trốn mất! Không lâu sau đó, chàng nghe kể cô ta đã lập gia đình trong hạnh phúc. Nhưng hai cô em còn ở lại nhà vì chưa có tiền!

Rồi chẳng bao lâu, Nicholas lại lần mò đến, chàng thẩy một túi vàng khác vào chỗ cô gái kế, và cũng nhờ túi vàng này, người con gái lập được tổ ấm hạnh phúc.

Thời gian kén rể cho cô con gái út đã đến, đêm nào cũng thế, người cha cẩn thận rình mò gần cửa sổ. Ông nói với cô con gái cưng:

-Ba cần phải biết ai đã giúp đỡ chúng ta, để chúng ta còn nói với người một lời cám ơn.

Đêm đó, Nicholas lại bí mật ném túi vàng thứ ba qua cửa sổ. Nhưng bỗng nhiên tay chàng bị nắm lại. Chàng bị bắt quả tang!

-À thì ra anh Nicholas, chính anh là người đã cho chúng tôi những túi vàng! Chúng tôi cần phải biết vị ân nhân của chúng tôi. Xin mời anh vào trong nhà, để chúng tôi còn tỏ lòng biết ơn anh.

-Không! Không! Tôi không muốn việc tôi làm bị bại lộ. Cách tốt nhất ông tỏ lòng biết ơn tôi là xin hứa với tôi, sẽ không bao giờ nói cho ai biết việc tôi đã làm.

Sau đó, Nicholas chẳng những dâng hiến của cải và thời giờ cho Chúa, chàng còn dâng mình để trở thành một linh mục. Rồi một thời gian sau, ngài được chọn làm Giám Mục thành Myra, không xa Patara là bao. Lòng nhân ái và qủang đại đối với người nghèo của Ngài đồn ra khắp nơi.

Người ta kể rằng, một đêm bão tố khủng khiếp tại biển Aegean, Nicholas cứu nguy một chiếc tầu đã hầu chìm đắm nhờ kêu cầu sự trợ giúp của Thiên Chúa. Do câu truyện này, các thủy thủ ở miền đó thường kêu tên Nicholas trước các chuyến hải hành. Họ chúc nhau một cuộc hành trình tốt đẹp khi nói:

-Xin thánh Nicholas cầm lái!

Nhiều huyền thoại xoay quanh cuộc đời Đức Giám Mục Nicholas, Đấng sau này đã được phong thánh. Cùng với thánh Anrê Tông Đồ, Ngài là Quan Thầy nước Nga. Tại Đức, Thụy Sĩ và Hòa Lan người ta tỏ lòng tôn kính thánh Nicholas bằng nhiều tục lệ tốt đẹp. Dần dà, Ngài đd được coi như một vị thánh của trẻ nhỏ.

Trong đêm vọng lễ kính Ngài, ngày 6 tháng 12, trẻ em thuộc nhiều quốc gia đặt giầy của chúng ra ngoài nhà để cho thánh Nicholas bỏ đầy kẹo bánh và đồ chơi. Nếu chúng vẫn tỏ ra ngaon ngỗn, chúng có quyền hy vọng như vậy.

Người Hòa Lan đã đem những tục lệ này vào Mỹ. Thánh Nicholas hay “Saint Klaus” của người Hòa Lan từ đó được biết như “ông già Noel” (Santa Claus). Rồi thay vì đặt giầy ra ngoài nhà vào đêm vọng lễ thánh Nicholas, các trẻ em Mỹ treo những đôi vớ của chúng vào đêm Sinh Nhật để được “ông già Noel” bỏ đầy kẹo bánh và đò chơi.

Thánh Nicholas qua đời tại Myra vào thế kỷ thứ 4. nhiều nhà thờ tại Á Châu và Âu Châu được xây dựng để kính nhớ Ngài. Thế kỷ 17, khi quân Thổ Nhĩ Kỳ tấn công Myra, nước Y.Ù Người ta đã di hài cốt Ngài về táng tại Pari, nước Ývà tại đó hài cốt Ngài vẫn còn tồn tại đến ngày nay.


Tác giả Raymond Thư, Lm, CMC

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Image

Khổng Tử rơi lệ

Ngô Văn
Ngày 9 tháng 12 vừa qua, người ta thấy tượng Khổng Tử tại một số công viên ở Hoa lục bỗng nhiên rơi lệ. Đây chẳng phải là một phép lạ hay điềm gở gì cả, vì những giọt lệ đó được chấm vội bằng mực tàu; ngụ ý Đức Khổng Tử phải rơi lệ vì đang bị những người lãnh đạo đảng Cộng sản Trung Quốc lôi ra làm trò cười cho thế giới, qua việc họ thiết lập giải Hòa Bình Khổng Tử để đối kháng lại với giải Nobel Hòa Bình.

Sau khi dùng đủ trò để phản đối giải Nobel Hoà Bình năm nay được trao cho nhà đấu tranh Lưu Hiểu Ba nhưng đều bị thất bại, vừa giận dữ, vừa xấu hổ, Bắc Kinh gỡ gạc bằng cách lập ra giải thưởng “Hoà Bình Khổng Tử”, mà từ khi lập ra cho đến khi trao giải chỉ vỏn vẹn có ba tuần lễ. Vì giải thưởng thuộc loại “mì ăn liền”, nên lễ trao giải vào hôm thứ năm (trước ngày trao giải Nobel Hoà Bình 1 ngày) cũng như là “đám cưới chạy tang”. Đến nỗi người được chọn nhận giải là ông Liên Chiến (cựu phó tổng thống Trung Hoa Dân Quốc, tức Đài Loan) không hay biết gì cả. Trả lời hàng ngàn cú điện thoại hỏi về việc này, ông Liên Chiến cho biết ông cũng chẳng hề có ý định nhận giải. Thay thế ông Liên Chiến trong buổi lễ phát giải Khổng Tử là một “cháu ngoan bác Mao” mới 6 tuổi. Ban tổ chức cũng chẳng màng giới thiệu cháu gái 6 tuổi này liên hệ với ông Liên Chiến ra sao. Bên cạnh ông Liên Chiến, 5 người khác được nhét tên vào danh sách đề cử nhận giải Khổng Tử cho rậm đám cũng chẳng ai biết gì hơn. Các ông Mandela (cựu Tổng thống Nam Phi), ông Carter (cựu Tổng thống Hoa Kỳ), ông Bill Gates, ông Abbas (Chủ tịch Palestine) và Panchen Lama II (lãnh đạo Phật giáo Tây Tạng do Bắc Kinh đưa lên), là những người được Bắc Kinh lôi vào màn hài kịch “Giải Hoà Bình Khổng Tử” cũng chẳng thèm đả động gì đến cái giải thưởng trị giá 14 ngàn đô la mà Bắc Kinh đã cất công quảng cáo rùm beng là một “giải thưởng vô cùng cao quý”.

Bắc Kinh chọn ông Liên Chiến để trao giải Khổng Tử vì họ cho rằng ông đã cải thiện được mối liên hệ giữa hai bên eo biển Đài Loan (tức liên hệ giữa Đài Loan và Trung Quốc). Về phần Tổng thống Đài Loan, ông Mã Anh Cửu, trong phát biểu nhân ngày Quốc tế Nhân Quyền đã bày tỏ sự vui mừng về việc Ủy ban Nobel Hòa Bình đã chọn ông Lưu Hiểu Ba để trao giải, đồng thời ông Mã Anh Cửu cũng lên tiếng yêu cầu Bắc Kinh trả tự do cho khôi nguyên giải Nobel Hoà Bình năm nay.

Trong khi đó, Chủ tịch Ủy ban Hòa Bình Khổng Tử là ông Đàm Trường Lưu, thuộc viện Tư Tưởng Bắc Kinh, nói với các ký giả nước ngoài rằng, ông tin chắc là ông Liên Chiến sẽ không từ chối nhận giải thưởng. Họ Đàm cũng biện bạch giải Khổng Tử được thành lập không để đối kháng lại với giải Nobel Hòa Bình. Tuy nhiên, trong quyển sách nhỏ (pamphlet) giới thiệu về giải Hòa Bình Khổng Tử có một đoạn so sánh như sau: “Giải Nobel Hòa Bình chỉ do một thiểu số người giới thiệu ứng viên rồi được mấy người trong Ủy ban quyết định. Như vậy khó mà nói giải này là của đa số và không tránh khỏi sự thiên vị và sai lầm. Còn người lãnh giải Hòa Bình Khổng Tử được bầu qua mạng Internet một cách dân chủ.” Liền sau đó, khi trả lời câu hỏi trang mạng nào đã bầu ông Liên Chiến để trao giải Hòa Bình Khổng Tử, thì ông Đàm Trường Lưu thú nhận rằng năm nay không bầu chọn, nhưng năm tới sẽ cho tiến hành.

Về phía chính quyền Bắc Kinh, chẳng những không cho ông Lưu Hiểu Ba và thân nhân ra khỏi nước, mà ngay cả bạn bè, thân hữu hay bất kỳ một ai từng có quan hệ với những việc làm của ông Lưu Hiểu Ba cũng bị cấm xuất ngoại vào thời điểm này; cho dù phải đi dự hội nghị quốc tế về các lãnh vực chuyên môn như khoa học, kỹ thuật, kinh tế. …Hẳn nhiên ý đồ của sự cấm đoán này là để không có người đại diện cho ông Lưu Hiểu Ba đến nhận giải thưởng. Ngày 28/11/2010, luật sư Lưu Hiểu Nguyên lên đường sang Tokyo tham dự một hội nghị bị chận lại ở phi trường Thượng Hải; ngày 2/12/2010, một chuyên gia kinh tế hàng đầu của Trung Quốc là giáo sư Mao Vu Thức bị tịch thu hộ chiếu tại phi truờng Bắc Kinh khi làm thủ tục xuất cảnh sang Singapore tham dự hội nghị. Cũng trong ngày hôm đó, một chuyến bay đi Hàn Quốc đã cất cánh nhưng chưa bay ra khỏi không phận Trung Quốc đã bị bắt phải hạ cánh khẩn cấp, vì trên chuyến bay này có kiến trúc sư lừng danh thế giới Ngãi Mạt Mạt.

Trước sự cuống cuồng và vô lối như vừa kể, dư luận, đặc biệt là dư luận của thành phần trí thức Trung Quốc ở trong cũng như ngoài nước đều cho rằng, dù Bắc Kinh có ra sức chống phá đến đâu đi nữa thì cũng không làm giảm giá trị của giải Nobel Hòa Bình. Trái lại, còn cho thấy kẻ đánh phá đang lội ngược giòng. Đã có 116 người thuộc giới trí thức, học giả nổi tiếng của Trung Quốc và thế giới ký tên chung trong một bản lên tiếng yêu cầu trả tự do vô điều kiện cho ông Lưu Hiểu Ba, và phải để cho ông, hay thân nhân sang Na Uy nhận giải, đồng thời phải ngưng ngay việc đánh phá giải thưởng Nobel Hòa Bình. Một hành động mà sau này Trung quốc phải trả một giá rất đắt, không thua gì biến cố Thiên An Môn.

Các nhà hoạt động xã hội ở Trung quốc nói rằng, sự ngạo mạn của giới lãnh đạo nước này đã và đang dần dần hủy diệt mọi giá trị đạo đức và tinh thần hiếu hòa của người Trung Quốc. Nguy cơ một nước Trung Quốc hống hách, vô trách nhiệm, coi thường cộng đồng thế giới đang trở thành hiện thực; và rồi đây, người dân Trung Quốc sẽ phải trả một cái giá tương đương như dân Đức đã trả cho sự sai lầm của Hitler.

Việc Trung Quốc tẩy chay giải Nobel Hoà Bình và giam giữ ông Lưu Hiểu Ba khiến người ta nhớ tới một trường hợp tương tự duy nhất trong lịch sử của giải này, khi Đức Quốc Xã bắt nhốt ký giả Carl von Ossietsky vào trại tập trung, vì nhà báo đấu tranh cho hoà bình này được đề cử nhận giải Nobel Hoà Bình năm 1936. Năm 1975, nhà vật lý nguyên tử Andrei Sakharov cũng bị chính quyền Sô Viết ngăn cản rời khỏi nước Nga để nhận giải thưởng Nobel Hoà Bình dành cho ông năm đó. Tuy nhiên, phu nhân của ông là bà Elena Bonner được hiện diện trong lễ trao giải để nhận thay chồng. Năm nay, do những chống phá và cấm cản điên cuồng của Trung Quốc như đã đề cập ở trên, không ai đại diện ông Lưu Hiểu Ba trong lễ trao giải; chiếc ghế danh dự dành cho người đoạt giải (hay người đại diện) bị bỏ trống. Giải Hoà Bình Khổng Tử cũng khiến người ta nhớ đến việc Liên Bang Sô Viết lập ra giải Hòa Bình Staline, nhân ngày sinh nhật lần thứ 70 của nhà lãnh đạo độc tài này vào năm 1949. Đến năm 1956 khi ông Khrushchev hạ bệ Staline thì đổi tên thành giải thưởng Lê-nin Hòa Bình và dến năm 1987 thì bãi bỏ. Hàng năm cũng chọn người để trao giải, nhưng khác với giải Nobel Hoà Bình được cả thế giới biết đến, giải Stalin rồi Lenin Hoà Bình thì phía bên ngoài bức màn sắt chẳng mấy ai biết.

Chuyện giải Hòa Bình Khổng Tử là như thế, nhưng chính quyền CSVN vẫn lên tiếng ca ngợi và về hùa với Trung Quốc để chỉ trích Ủy ban Nobel Hòa Bình, cũng như là một trong mấy nước đầu tiên theo Trung Quốc không tham dự lễ trao giải tại Oslo. Trong ngày Quốc Tế Nhân Quyền, CSVN đã trở nên nổi tiếng thế giới khi được đài CNN nhắc đi nhắc lại đến 4 lần, chẳng phải vì thành tích bảo vệ nhân quyền, mà vì sự tận tuỵ với đàn anh phương bắc như vừa kể của Hà Nội. Cũng qua đó người ta thấy thái độ ngoại giao của Việt Nam được quyết định ở Bắc Kinh chứ không phải tạì Hà Nội. Điều này càng tô đậm thêm bản chất nô lệ của những người lãnh đạo đảng CSVN.

User avatar
muanuadem
Posts: 461
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:47 pm

Post by muanuadem »

Phiếm...

Song Thao



Trong cuốn video chiếu lại một cuộc thi người mẩu ở Cali có phần thi áo tắm. Thi hoa hậu còn phải áo tắm cho dân chúng rỏ ràng hình hài thì thi người mẫu có tí ti áo tắm cũng phải thôi. Cái khác của phần áo tắm trong cuộc thi này là nhà thiết kế đã cho may hoặc cài vào áo tắm những cọng lông chim nhiều màu sắc. Cô MC Thuỳ Dương thấy lạ hỏi nhà vẻ kiểu: Những lông này khi nhúng xuông nước có bị rã ra không? Câu hỏi cũng thường thôi. Gặp tôi tôi cũng hỏi như vậy. Nhưng điều đáng nói là cô MC trẻ trung và duyên dáng đã so vai rụt cổ. cười ngượng ngùng, khi nói tới chử "lông". Tội nghiệp cho cô. Và cũng tội nghiệp cho tôi. Tôi cũng phải ngụy trang bài này bằng chử "mao". Nhưng "mao" nhất định không phải là lông chim mà cô Thùy Dương thắc mắc hỏi. Thứ lông của loài cầm này lại kêu là "vũ". Dĩ nhiên "vũ" chẵng phải chỉ có nghĩa là lông gà lông chim mà còn có nhiều nghĩa khác. Cứ nghe giai thoại về các ông quan đối đáp với nhau khắc biết.

Trong triều đình ngày xưa có ba loại quan: quan văn, quan vỏ và quan thị. Quan vỏ là thứ nhà binh, còn gọi là "vũ", quan thị là thứ quan bị tùng xẻo mất chổ đặc trưng nam nhi để hầu hạ trong nội cung là nơi có các cung tần mỹ nữ. không tịch thu khí giới lỡ các ông ấy ăn vụng trước khi vua...thời thì mần răng! Chữ nghĩa thì phải dành cho quan văn bởi vì đây là nghề của chàng. Nhưng hai ông quan vỏ và quan thị chơi nhau thì việc chi ông quan văn phải nhúng bút...vào Vậy thì một bửa kia ông quan vỏ ghét ông quan thị nên mới đọc một vế đối gây hấn:

Thị vào hẩu, thị đứng thị trông, thị cũng muốn, thị không có (cái) ấy!

Cái độc của vế đối này là, chử thị vừa chỉ quan thị, vừa đưa ra bốn nghĩa của chử "thị". Thị là hầu hạ, thị là trông thấy, thị là muốn, thị là cái...củ từ! Đứng hầu, thấy đấy, cũng "muốn" lắm mà không có...súng! Xót xa chứ! Ông quan thị căm tức, đối lại:

Vũ cậy mạnh, vũ ra vũ múa, vũ gặp mưa, vũ ướt cả lông.

Đối chan chát với vế kia. Chữ vũ vừa chỉ quan vỏ vừa có bốn nghĩa. Vũ là mạnh, vũ là múa, vũ là mưa và vủ là lông. Câu đối thật chỉnh mà lại như chế diểu sự hung hăng con bọ xít của anh quan vũ!

Lông của loài cầm là vũ, các thứ lông khác là mao. Quốc ngữ chử nước ta thì cứ là lông tuốt luốt, chẵng rắc rối như anh chử Nho. Lông là chử nước ta mà tại sao nói tới lông là ngượng miệng? Lỗi là ở chính anh chàng lông. Anh này có thể mọc trên trán như lông mày, trên mắt như lông mi, trong mũi như lông mũi, trong tai như lông tai, trên mặt như lông mặt, hoặc toàn thân như lông tay, lông chân, lông ngực. Vậy thì đâu có sao. Nhưng tại sao anh lại cắc cớ mọc một cách phơi phới dày dặn trên những chổ hiểm, Thế mới kỵ huý!

Nhưng anh chàng lông có thể cãi lại. Lỗi đâu tại tôi. Tôi chỉ như một thứ thiên lôi, ông Trời bảo tôi trấn đóng ởa đâu thì tôi cứ chổ đó mà mọc. Không tin cứ đi hỏi hai ông Mark Leyner và Billy Goldgerg coi. Hai ông này đả cho xuất bản một cuôn sách vào năm 2006 tên là "Why Do Men fall Asleep After Sex?". Tên của cuôn sách thật kỳ cục. Nó làm các người đàn ông có thể đỏ mặt vì...lỗi lầm không thể sửa chữa được của họ. Nhưng tôi lôi cuôn sách này vào đây vì nội dung sách là một loạt câu hỏi móc họng trong đó có câu "Why do we have public hair?". Đồng tác gỉa Billy Goldberg là một bác sĩ nổi tiếng của bệnh viện Bellevue Hospital và NYU Langone Medical Center ở thành phố Nữu Ước nên câu trả lời cho câu hỏi nhạy cảm này rất nặng ký. Sở dỉ co chuyện rậm rạp nơi vùng hẽo lánh tối tăm là vì "mao" ở đây có nhiêm vụ giử mùi hương đặc trưng nơi vùng cấm địa này. Mùi này phát sinh do tuyên mồ hôi tiết vào da một chất nước không màu và vi khuẫn sẽ tác dụng thành mùi hương yêu của mỗi cá nhân. Chính mùi hương này đã khiến cho nam thanh nữ tú, hoặc không còn là nam thanh nữ tú nữa, say sưa tìm tới nhau, miên man một lối đi về.
Tôi vốn có tính...cải cọ nên đọc xong câu trả lời cho câu hỏi nóng bỏng này bèn thắc mắc ngay. Vậy thì những người category bạch bản lấy chi mà giữ lại hương yêu? Bộ họ không có hương yêu hay sao? Câu hỏi của tôi là câu hỏi bá vơ vậy thôi chứ thực sự tôi cũng chẵng có kinh nghiệm chi về cái sự...trong trắng này. Nhưng tình trạng nhẵn nhụi này là có thật và thường hay bị kỳ thị. Chuyện kỳ thị này giới mày râu ai chẵng được bạn bè dạy bảo. Có điều đó là những...kiến thức chẳng ăn nhập gì tới sự thực. Xui xẽo là chuyện trên trời rơi xuống ăn thua chi tới chuyện dưới thế này. nhưng sự...mê tín này nhiều khi mang tới những thảm kịch trong hôn nhân.
Chị Lan ở Hóc Môn là một nạn nhân. Chị là quân bài bạch bản trong trò chơi mạt chược. Chồng chị luôn luôn dằn vặt chị về sự...thiếu sót này. Anh thua lỗ trong chuyện làm ăn buôn bán và đay nghiến chính vì tình trạng...trong veo của chị đã khiên nên nỗi. Sự thực anh không thua lỗ mới là chuyện lạ, bởi vì anh có tật bài bạc. Tiền lời của cữa hàng bán quần áo anh nướng hết vào quân bài lá bạc. Anh bần chứ không phải chị...bần. Các cụ xưa đã phán rồi: cờ bạc là bác thằng bần. Anh đóng tới vai bác thằng bần mà cứ đổ riệt cho cái bần là do chị. Năm năm chồng vợ rồi mà anh vẫn cứ trì chiết khiến chị không biết cách nào khác ngoài việc xin ra tòa ly dị. Chuyện tình gãy đổ chỉ vì cô bé trọc đầu.

Chuyện bà Linh là một trường hợp khác. bà này dân Củ Chi, nay đã 58 tuổi, va đã trãi qua ba cuộc tìng dang dỡ cũng chỉ vì chuyện mấy cái lọng cọng. Người chồng đầu sống với bà được một năm thì hát câu chia lìa. Ông chê bà không có con mà nguyên nhân chính là cái vụ...bần chí tử của bà. Mối tình thứ hai kết thúc ngay khi sự thật của bà bị lộ liễu. Mối tình thứ ba dài hơn. Hai người kết hôn được tới bốn năm thì anh chông buồn tình chê bà không giông mọi người. Cứ như đứa con nít 4 tuổi. Anh nói với bà trước khi ra đi: "Nhìn em anh càng ngày càng không có cảm hứng!". Sau ba lần gãy đỗ, bà cạch tới gìa không chông con chi nữa.

Nhưng xui tận mạng là chị Trinh, người tỉnh Đồng Nai. Chị có một cuộc tình đẹp với một chồng tên Dũng. Hai năm trời quen biết là hai năm hạnh phúc nhất đời chị. Một bữa kia trong vòng tay nhau, chị dâng hiến đời con gái cho tình nhân. Đúng một tuần sau, trong khi đang chạy xe gắn máy trên đường phố, Dũng bất cẩn tông vào một chiếc xe hơi đậu bên đường vả tử vong. Đụng vào chiếc xe hơi đang đậu thì đích thị là lổi tại chàng Dũng. Chối vào đâu được. Vậy mà trong đám tang người yêu, trong khi chị Trinh đang tan nát cõi lòng, gục khóc nức nỡ thì chị bị nhiều người trong gia đình của Dũng nhiếc mắng chính vì sự nhẵn nhụi cũa chị mà Dũng gặp xui xẽo tới mất mạng. làm sao những người này biết được sự riêng tư của chị? Họ đọc cuốn nhật ký của anh chàng Dũng trong đó anh ghi lại chi tiết sự gần gủi lần đầu của hai người. Ngặt một nỗi là sự...sạch sẽ của chị làm anh bối rối không biết nên tiến tới hay bỏ cuộc. Nỗi phân vân của anh mang lại hậu qủa đớn đau cho chị sau khi anh đã năm yên trong mộ huyệt.

Cô bé tên Bé, sinh viên năm thứ tư đại học ở Sài gòn, thấy gương mấy bà chị đâm hỏang. Trách Trời chẵng được, cô thu mình lại. "Nghe mọi người bảo nhau như thế nhiều quá, em chẵng dám tiết lộ sự thật về bản thân và cũng không dám có bạn trai".
Tội nghiệp cô bé suốt đời thơ dại. không hiểu các đáng nam nhi hay...cựu nam nhi đọc tới đây có hối hận về chuyện mê tín của chúng ta hay không. Mấy cái luăn quăn èo uột dứt một cái là nhào này có công lực chi mà mà thay đổi cả một cuôc sống. Vậy mà vì cứ nhăm mắt đưa chân theo niềm mê muội này mà chúng ta giết người không dao. Thực ra đây chỉ là kết qủa của những yếu tố nội tiết, chủng tộc hay đặc tính di truyền. Khoa học ngày nay có thể điều chỉnh và chử trị thành công chứng rối loạn nội tiết. Vậy thì tại sao con người vẫn chìm đắm trong u mê với những tin tưởng nhảm nhí.

Tôi tưởng chỉ có cô MC Thùy dương và tôi ngượng miệng hóa ra các ông nhà thơ cũng vậy. Lông chẵng đi vào thơ được. Làm như cho nó chui vào thì thơ sẽ bị...hắt xì! Nhà thơ nhìn cái chi cũng thơ. Tôi phải dựa vào chử Hán, các ông bà (dĩ nhiên có các cô các bà làm thơ nhưng chắc các nữ thi sĩ chẵng bận tâm về chuyện này) thi sĩ cứ chữ nước ta mà thơ. Đó là cỏ. Ông nào cũng cỏ cả. Cứ chịu khó tìm thì tay ông nào cũng có cả nắm cỏ. Ấy là tôi cứ nói khơi khơi vậy thôi, trúng ai người ấy ráng chịu. Nhưng phần nhiều là trúng. Tôi quơ đại hai ông ở gần tôi nhất. Đó là ông Luân Hoán và ông Hoàng Xuân Sơn. Ông Luân Hoán xem ra say sưa với cỏ hoa hơn. Chẵng thế mà ông có nguyên một tập thơ mang tên "Cỏ Hoa Gối Đầu".

em chưa cởi bỏ lụa là
mà tôi đã thấy cỏ hoa chánh tòa
nếu như em dám hào hoa
tôi càng hiểu rỏ hồn sa cõi nào
quả là một cõi thanh cao
mà thiên hạ vẫn nhôn nhao...ngại nhìn
riêng tôi, tuy chẵng xâm mình
rằng xin thú thật vẫn rình ngắm chơi

Ông Luân Hoán là người thật thà. Ông thú thật nhưng tôi vẫn không tin là ông thú hết sự thật! Ông Hoàng Xuân Sơn chẵng thú thật chi cả nhưng thơ ông lại rõ ngọn ngành. Đâu chỉ có nhìn ngắm!

diễm diễm ngày êm tơ nhung
hồng tươi bông nhu, ngập ngừng, cánh nâng
vườn ngọ hoa cỏ phật phần
rướn sâu chồi biếc, tràn ân sủng đời
mộng nằm khuôn rập đưa thoi
nhịp nghiêng hư ảo, ngoạ đồi trăng mê

Tôi nghỉ là mình sẽ bị cho là chỉ nói tới gà nhà nếu không ngó xa hơn một chút. Ngó xa thì phải gặp ngay ông tác giả "Lá Hoa Cồn". Bùi Giáng tiên sinh nay đã đi xa nhưng cỏ hoa vẫn còn ở lại trong thơ ông. Nghe ra ông cũng một nòi...cõ hoa.

Thiên thu mở gió một hàng
Mỏ trang phai cỏ cho nàng phai phai.
Bước chân sầu đếm đêm dài
Bước chân còn vẫn đi hoài hoài thôi
Bước chân vạn dặm tô bồi
Cõi lang thang với núi đồi vi vu
Cõi phù trầm với phù du
Một hàng mở gió thiên thu hai hàng

Cỡ đồng tuế với tôi thường vẫn có tính ngại ngùng. Chuyện nào ra chuyện ấy, chữ nào ra chữ nấy là một việc tế nhị. Thôi thì đường hoàng đi đứng thẵng băng không tiện, ta cứ len lỏi bên lề mà đi. Nhưng thế hệ trẻ sau này tưởng cứ fanfan la tulipe. Vậy mà không phải. Các ông nhà thơ trẻ cũng vẫn cứ "cỏ" mà thơ. Mà còn cỏ bạo hơn cánh trọng tuổi chúng tôi

tiếng đàn cuối bật thức hiện hữu cung mê
mắt cò xanh
lời cỏ mượt
tâm cỏ hoá thời gian trong suốt
thân vô cực thơm, áo cởi
tháng chạp mưa trên từng dặm sông Ngân
em hiện nguyên hình mùa xuân
không tì vết.
(Vĩnh Phúc)

Mặc kệ các ông thi sĩ với đám cỏ của các ông ấy, tôi quay về với...lông. Nói về lông loài cầm thú hơn loài người là cái chắc. Điều này sờ sờ trước mắt khỏi phải bàn cãi chi. Thú thì xồm xoàm khắp châu thân, trong khi lông trên con người có thứ tự hơn. Cỏ rất lơ thơ trên toàn thân. Và được nhấn mạnh ở những chỗ cần nhấn mạnh. Lông thú là bộ áo của chúng trong khi con người cần phải che đậy bằng lá trong thời ky sơ khai và bằng quần áo trong thời kỳ sau đó. Trong cuốn "Ca Tụng Thân Xác" giao sư Nguyễn Văn Trung đã viết: "Một vị thừa sai trông thấy một người đàn bà da đen không che ngay cả chổ kín, lấy làm chướng và bảo cô phải che bộ phận sinh dục đi; cô nhất định từ chối; nhưng vì bị ép buộc qua, cô chịu che. Sau đó cô chạy trốn ẩn vào bụi cây, vào lều kín, không dám ra trước đám đông nữa vì thẹn. Cô thẹn vì cho rằng da thịt, bộ lông đã che kín những chỗ ấy rồi, bây giờ phải đeo thêm mảnh vải vào thì chẵng khác gì làm cho người ngoài chú ý đến những chổ đó, cho nên miếng vãi không những không che mà lại phô trương, khêu gợi sự chú ý. Chính vi thế mà cô thẹn". Vậy thì lông cũng được việc lắm chứ.

Khi chúng ta còn là bào thai nằm trong bụng mẹ thì thân thể chúng ta có phủ một lớp lông tơ dày, mịn, không chứa sắc tố. Thông thường bào thai khi tới từ 7 đến 8 tháng tuổi thì lớp lông này mới rụng đi. Có người rậm lông, lớp lông tơ này vẫn còn tồn tại nhiều năm sau khi ra đời và thường chỉ rụng đi khi bước vào tuổi trưởng thành. nhưng có những người bị bệnh rậm lông, lông tùm lum trên khắp thân thể. Bạn tôi đừng hoảng hốt, số người có duyên với lông này rất hiếm. Cứ 1 tỷ người mới có một người trúng...lông! Từ thời Trung Cổ tới nay người ta ghi nhận mới có 50 người lông đình đám trên người. Họ là những nạn nhân của sự lơ đãng của tạo hóa. Thường thì tất cả chúng ta đều có những gene của động vật tiền thân của con người. Những gene này vẫn còn ngủ trong bộ gene của con người ngày nay. Trong quá trình tiến hóa chúng chỉ bị khóa lại. Dưới một tác động đột biến nào đó, một gene tiền sử có thể bị đánh thức dậy. Với những người mang bệnh rậm lông, tạo hóa đã quên khóa! Thông thường trong chu trình sinh trưởng của lông, các lổ chân lông có thời kỳ nghỉ để lông rụng rồi có thời kỳ hoạt động để mọc lại. Cái khóa không được khóa nên lổ hân lông không có thời kỳ nghỉ, lông cứ mọc búa xua. Vậy là rậm rạp! Trường hợp rậm rạp nổi tiếng nhất là Julia Pastrana sinh năm 1834 tại Mexico. Trừ lòng bàn tay và lòng bàn chân, còn toàn bộ cơ thể cô bị phủ một lớp lông dài màu đen. Với một hình hài kỳ dị như vậy, từ năm 1854 cô phải cùng người chông hám tiền và gánh xiếc của Theodore Lent đi biểu diễn khắp nơi trên thế giới. Khán gỉa đã khiếp đảm khi thấy người "đàn bà khỉ" ấy, tuy nhiên cô lại là một người rất dịu dàng và thông minh. Cô biết đọc, viết, chơi được guitare và có giọng nữ trung tuyệt vời. Cô qua đời ở tuổi 26, chỉ 5 ngày sau khi hạ sinh được một đứa con cũng bị lông bao phủ khắp người.

Cỏ mịt mờ như vậy trông không giống ai. Nhưng nếu chúng ta tinh mắt, cứ nhin trên khắp người, xem có lu bù lông chăng. Khóa khiếc cẩn thận, lổ chân lông khi nghỉ làm việc, đúng theo bài bản của con tạo, vậy mà chỗ nào trên người chúng ta cũng lông. Chỗ ngắn chỗ dài. Chỗ thì lông thiệt, chỗ thì lông măng. Đâu là cỏ, đâu là lông, cần chi phải biết tới. Có điều các ông bạn tôi nhiều khi cặp mắt bắt gặp một đám lông măng mềm như nhung thên cánh tay, mặt bỗng đờ đẫn hẳn ra, đôi mắt lim dim như đang lạc vào vùng mơ tưởng xa xôi nào đó.

Song Thao

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Bí mật ngôi làng giàu nhất Trung Quốc

Làm thế nào một ngôi làng im lìm bỗng nhiên lại trở thành một nơi đáng hâm mộ.
Tại làng này, mỗi gia đình đều có ít nhất 1 ngôi nhà, hai chiếc ô tô và 250.000 USD trong ngân hàng.

Image

Những năm 1950, làng Huaxi ở tỉnh Giang Tô là một ngôi làng im lìm chỉ với 576 dân.
Tuy nhiên, hiện giờ ngôi làng này giàu tới mức một doanh nhân không phải người địa phương sẵn sàng hiến tặng những nhà máy
trị giá hàng triệu USD để mua đặc quyền dân địa phương.
Trong 5 năm qua, doanh thu của ngôi làng này là 229,6 tỷ NDT. Ngôi làng giàu có này hiện gồm 36.000 dân, mỗi gia đình có ít nhất 1 ngôi nhà, hai chiếc ôtô và 250.000 USD trong ngân hàng. Kể từ những năm 1980, Huaxi đã trở thành niềm kiêu hãnh của một trong số những ngôi làng hàng đầu của Trung Quốc. Đặc biệt, Huaxi là làng đầu tiên mà mọi gia đình đều có điều hòa nhiệt độ, villa và ô tô.

Thép, dệt may và du lịch là những ngành công nghiệp then chốt, và Huaxi là ngôi làng đầu tiên tạo ra GDP là 10 tỷ NDT vào năm 2003.

Các công nhân trong làng làm việc 7 ngày một tuần tại các nhà máy, đổi lại họ được ở nhà đẹp, đi xe đắt tiền với các thương hiệu nổi tiếng như Mercedes, Cadillac và BMW, quần áo đẹp, chăm sóc sức khỏe, giáo dục và thậm chí là dầu ăn đều được miễn phí.

Theo một báo cáo của địa phương, làng Huaxi có hơn 800 ô tô cũng như một đội xe chuyên để ngắm cảnh để khách du lịch và cư dân tùy ý sử dụng. Ngoài ra, Huaxi còn có kế hoạch mua 20 máy bay trong 5 năm tới, đào tạo 100 người làm phi công. Hiện, làng này đang có 2 chiếc trực thăng với 2 phi công chuyên trách thử nghiệm các chuyến bay du lịch. Hiện thời, mỗi năm, Huaxi đón hơn 2 triệu khách cả trong lẫn ngoài nước tới thăm mỗi năm.

Các báo cho biết, sự trỗi dậy đáng kinh ngạc của ngôi làng đều là công lao của một người: Ông Wu Renbao, người đã kết hợp thành công các nguyên tắc cộng sản truyền thống với kinh tế thị trường tự do. Làm bí thư đảng ủy địa phương gần 50 năm, ông Wu đã đưa ra hàng loạt chính sách để biến Huaxi từ một ngôi làng nhỏ làm nghề nông trở thành một cộng đồng công nghiệp hùng mạnh.

Năm 1998, Huaxi trở thành ngôi làng đầu tiên được niêm yết trên thị trường chứng khoán với tài sản cố định hiện nay có giá trị tới 2,1 tỷ NDT.

Trong khi cư dân có thể tận hưởng mọi lợi ích trong khi sinh sống ở Huaxi thì khi rời bỏ ngôi làng này, họ sẽ mất tất cả. Tuy nhiên, các dân làng cho rằng, một khi đã sống trong ngôi làng tuyệt nhất ở Trung Quốc rồi thì tại sao bạn phải rời bỏ nó?

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Trần Hoài Thư, 'hiệp sĩ lẻ loi' của văn chương miền Nam

Ðỗ Dzũng/Người Việt

WESTMINSTER - Có lẽ không ai yêu và quý văn học miền Nam Việt Nam bằng Trần Hoài Thư, một người sống ở hải ngoại, không có nhiều phương tiện,
nhưng đã bỏ ra hàng ngàn giờ để nghiên cứu, sao chép, và đóng thành sách những tác phẩm không còn xuất bản nữa.

Image
“Nhà xuất bản” Trần Hoài Thư cắt sách. (Hình: Trần Hoài Thư cung cấp)

Một công trình, chỉ để “tặng bạn hữu khắp nơi.”

“Tôi may mắn sống 'gần' thư viện đại học Cornell University, yêu sách, tự học đóng sách, và cứ thế mà tôi làm ngày này qua tháng nọ,” nhà văn Trần Hoài Thư kể về chuyện ông tự tay đóng hàng trăm cuốn sách, ghi chép lại các tác phẩm văn học của miền Nam Việt Nam trước 1975.

Cho đến nay, Trần Hoài Thư đã “xuất bản” hơn 100 cuốn sách, của các tác giả, như Bùi Nghi Trang, Hạc Thành Hoa, Từ Thế Mộng, Nguyễn Bắc Sơn, Trần Hiền Ân, Cao Thoại Châu, Lữ Kiều, Lê Ký Thương... và một số tuyển tập, như “Thơ miền Nam trong thời chiến,” “Thơ tình miền Nam,” “Văn miền Nam,” “Một thời lục bát miền Nam...”
Image
Nhà văn Trần Hoài Thư. (Hình: Ðỗ Dzũng/Người Việt)



“Ban đầu cũng thất bại, không có tiền xuất bản, chỉ cặm cụi làm, nhờ có kinh nghiệm điện toán, nhưng chỉ để tặng bạn bè. Dần dần có người biết, đặt làm, và coi công việc như niềm vui sau khi về hưu,” ông chia sẻ.

Nói là sống “gần,” nhưng thực ra lái xe từ Plainfield, New Jersey, nơi nhà văn Trần Hoài Thư cư ngụ, đến đại học Cornell University ở Ithaca, New York, cũng phải mất năm giờ đồng hồ lái xe.

Ông Trần Hoài Thư kể: “Ban đầu, một người bạn, nhà thơ Thành Tôn, đề nghị tôi nên lập tài liệu sưu tầm văn học miền Nam Việt Nam. Tôi liền vào Internet tìm kiếm, thấy đại học Cornell University có một kho tàng sách in tại miền Nam Việt Nam trước năm 1975 rất đồ sộ. Thế là tôi rủ vợ lái xe lên đó, vào thư viện tìm tòi, quả đúng thật như vậy.”
Image
Những cuốn sách do Trần Hoài Thư “xuất bản” bằng tay. (Hình: Ðỗ Dzũng/Người Việt)



“Mỗi lần đi phải thức dậy từ 3 giờ sáng, lái năm tiếng đồng hồ mới đến nơi, chiều lái năm tiếng về nhà, hai vợ chồng thay phiên nhau lái, cứ thế mà đi. Có ngày trời tuyết cũng đi, vì không thể ngồi nhà. Thấy kho sách ở Cornell không thể ngồi yên được,” ông kể tiếp.

Ban đầu, ông photocopy từng trang sách, 25 cent mỗi bản, mang về nhà đóng lại thành sách, riết rồi không chịu nổi, ông phải tìm cách khác.

Nhà thơ Trần Hoài Thư kể: “Cứ tính đi, 25 cent mỗi tờ, tiền nào chịu cho thấu. Thế là tôi mua chiếc máy scan. Mỗi lần đến thư viện, tôi và vợ cùng nhau scan những trang sách, lưu vào máy điện toán mang về. Ban đầu đóng và cắt bằng tay, riết rồi chịu cũng không xuể. Thế là tôi tự chế máy đóng sách dã chiến. Dần dần rồi quen. Còn khâu đóng sách thì vẫn làm bằng tay.”
Image
Nhà văn Trần Hoài Thư nghiên cứu văn học miền Nam Việt Nam trong thư viện đại học Cornell University. (Hình: Trần Hoài Thư cung cấp)



Việc làm của ông Trần Hoài Thư có thể nói không khác một chuyên viên lưu trữ văn khố cho văn học miền Nam.

“Ðối với tôi, những tác giả trong thời chiến là thiệt thòi nhất. Họ đâu có ở Sài Gòn, họ phải ra mặt trận, vừa đánh trận vừa viết, không có cơ hội để xuất bản. Thỉnh thoảng có một bài đăng báo là vui rồi. Rồi họ bị bức tử năm 1975, không ai đếm xỉa đến văn chương của họ. Tôi muốn lấy lại danh dự cho họ. Và công việc này vẫn chưa kết thúc,” nhà văn Trần Hoài Thư tâm sự.

Càng đóng sách, ông... càng mê.

“Có đêm ngủ không được vì sách chưa đóng xong, tôi lò mò xuống garage, đóng tiếp. Khi xong rồi, cầm cuốn sách trên tay, sung sướng làm sao.”

Ông nói tiếp: “Tự đánh máy, tự layout, tự khâu, rồi tự in bằng tay, chẳng dễ dàng gì. Có điều, đó là tấm lòng của mình, nên cố gắng làm. Nếu không thì ai làm đây? Khi làm, tôi cảm thấy mình có hai phần thưởng. Thứ nhất là an ủi tấm lòng và tinh thần của mình. Thứ hai là làm để cho con cháu mình sau này thấy văn chương miền Nam là vậy đó, tình người vậy đó, nhân bản vậy đó và cao cả vậy đó. Nếu mình không làm thì rất uổng.”
Image
“Máy” ép sách tự chế của Trần Hoài Thư. (Hình: Trần Hoài Thư cung cấp)



Ngoài việc “xuất bản” sách cũ, nhà văn Trần Hoài Thư còn chủ trương tập san không định kỳ tên là Thư Quán Bản Thảo cùng với Phạm Văn Nhàn, Trần Bang Thạch, Cao Vỵ Khanh, đã cho ra mắt một số tác phẩm, như “Thơ Vũ Hữu Ðịnh (tặng),” “Văn số 125 tháng 3 năm 1969, chủ đề Ðầu Xuân lộc mới (in lại, tặng),” “Một mình như cánh lá, thơ Hạc Thành Hoa (tặng),” “Quanh quẩn bên đời, tập truyện của Trần Bang Thạch,” “Hương sắc mong manh (thơ Hoài Khanh, tặng)...

Trần Hoài Thư tên thật là Trần Quý Sách, sinh năm 1942 tại Ðà Lạt, từng theo học Quốc Học Huế, Ðại Học Sài Gòn, làm giáo sư toán trường trung học Trần Cao Vân, tỉnh Quảng Tín từ 1964-1966. Ông nhập ngũ khóa 24 SQTB Thủ Ðức, rồi sau này làm phóng viên chiến trường.

Năm 1980, ông định cư tại Mỹ, học điện toán tại Pennsylvania, làm cho công ty điện thoại AT&T cho tới khi về hưu.

Ông khởi sự viết văn và làm thơ từ năm 1964. Truyện ngắn đầu tay “Nước mắt tuổi thơ” của ông đăng trên tạp chí Bách Khoa Sài Gòn. Trước 1975, ông cộng tác với Bách Khoa, Văn Học, Ðời, Bộ Binh, Thời Tập, Vấn Ðề, Khởi Hành, Ý Thức. Sau 1975, có truyện đăng trên Nhân Văn, Hồn Việt, Dân Quyền, Diễn Ðàn, Sóng, Văn Học, Quê Mẹ, Ðời Mới.

Từ sau năm 1988 đến nay, ông cho ra mắt “Biển gọi thầm” (tập truyện, 1995), “Ban Mê Thuột ngày đầu ngày cuối” (tập truyện, 1997), “Về hướng mặt trời lặn” (tập truyện, 1998), “Thơ Trần Hoài Thư (1998),” “Mặc niệm chiến tranh” (tùy bút), “Thủ Ðức gọi ta về” (hồi ức).

Và dù cuộc sống có thay đổi, Trần Hoài Thư vẫn đi về giữa Plainfield và Ithaca, scan từng trang sách, đóng lại, và tiếp tục viết những gì ông suy nghĩ về cuộc đời.

Những ai yêu thích sách “xuất bản bằng tay” của Trần Hoài Thư có thể email cho ông tại tranhoaithu@yahoo.com.

TuanAnh
Posts: 329
Joined: Sat Jan 30, 2010 3:44 am

Post by TuanAnh »

THẰNG KHÙNG
(Thanh Ngang Trên Thập Tự Giá)
(Phùng Quán viết lại theo lời kể của nhà thơ Nguyễn Tuân - không phải là nhà văn có cùng tên - khi cùng ở trong tù)

"… Anh ta vào trại trước mình khá lâu, bị trừng phạt vì tội gì, mình không rõ. Người thì bảo anh ta phạm tội hình sự, người lại bảo mắc tội chính trị. Nhưng cả hai tội mình đều thấy khó tin. Anh ta không có dáng dấp của kẻ cướp bóc, sát nhân, và cũng không có phong độ của người làm chính trị. Bộ dạng anh ta ngu ngơ, dở dại dở khùng. Mình có cảm giác anh ta là một khúc củi rều, do một trận lũ cuốn từ một xó rừng nào về, trôi ngang qua trại, bị vướng vào hàng rào của trại rồi mắc kẹt luôn ở đó. Nhìn anh ta, rất khó đoán tuổi, có thể ba mươi, mà cũng có thể năm mươi. Gương mặt anh ta gầy choắt, rúm ró, tàn tạ, như một cái bị cói rách, lăn lóc ở các đống rác. Người anh ta cao lòng khòng, tay chân thẳng đuồn đuỗn, đen cháy, chỉ toàn da, gân với xương.

Trên người, tứ thời một mớ giẻ rách thay cho quần áo. Lúc đầu mình cứ tưởng anh ta bị câm vì suốt ngày ít khi thấy anh ta mở miệng dù là chỉ để nhếch mép cười. Thật ra anh ta chỉ là người quá ít lời. Gặp ai trong trại, cả cán bộ quản giáo lẫn phạm nhân, anh ta đều cúi chào cung kính, nhưng không chuyện trò với bất cứ ai. Nhưng không hiểu sao, ở con người anh ta có một cái gì đó làm mình đặc biệt chú ý, cứ muốn làm quen… Nhiều lần mình định bắt chuyện, nhưng anh ta nhìn mình với ánh mắt rất lạ, rồi lảng tránh sau khi đã cúi chào cung kính.

Hầu như tất cả các trại viên, kể cả những tay hung dữ nhất, cũng đều thương anh ta. Những trại viên được gia đình tiếp tế người để dành cho anh ta viên kẹo, miếng bánh, người cho điếu thuốc.

Ở trại, anh ta có một đặc quyền không ai tranh được, và cũng không ai muốn tranh. Đó là khâm liệm tù chết. Mỗi lần có tù chết, giám thị trại đều cho gọi "thằng khùng" (tên họ đặt cho anh ta) và giao cho việc khâm liệm. Với bất cứ trại viên chết nào, kể cả những trại viên đã từng đánh đập anh ta, anh ta đều khâm liệm chu đáo giống nhau. Anh ta nấu nước lá rừng, tắm rửa cho người chết, kỳ cọ ghét trên cái cơ thể lạnh ngắt cứng queo, với hai bàn tay của người mẹ tắm rửa cho đứa con nhỏ.

Lúc tắm rửa, kỳ cọ, miệng anh ta cứ mấp máy nói cái gì đó không ai nghe rõ. Anh ta rút trong túi áo một mẩu lược gãy, chải tóc cho người chết, nếu người chết có tóc. Anh ta chọn bộ áo quần lành lặn nhất của người tù, mặc vào rồi nhẹ nhàng nâng xác đặt vào áo quan được đóng bằng gỗ tạp sơ sài.

Anh ta cuộn những bộ áo quần khác thành cái gói vuông vắn, đặt làm gối cho người chết. Nếu người tù không có áo xống gì, anh ta đẽo gọt một khúc cây làm gối. Khi đã hoàn tất những việc trên, anh ta quỳ xuống bên áo quan, cúi hôn lên trán người tù chết, và bật khóc.

Anh ta khóc đau đớn và thống thiết đến nỗi mọi người đều có cảm giác người nằm trong áo quan là anh em máu mủ ruột thịt của anh ta. Với bất cứ người tù nào anh ta cũng khóc như vậy. Một lần giám thị trại gọi anh ta lên:
- Thằng tù chết ấy là cái gì với mày mà mày khóc như cha chết vậy?
Anh ta chấp tay khúm núm thưa:
- Thưa cán bộ, tôi khóc vờ ấy mà. Người chết mà không có tiếng khóc tống tiễn thì vong hồn cứ lẩn quẩn trong trại. Có thể nó tìm cách làm hại cán bộ. Lúc hắn còn sống, cán bộ có thể trừng trị hắn, nhưng đây là vong hồn hắn, cán bộ muốn xích cổ, cũng không xích được.

Thằng khùng nói có lý. Giám thị trại mặc, cho nó muốn khóc bao nhiêu thì khóc. Nhưng mình không tin là anh ta khóc vờ. Lúc khóc, cả gương mặt vàng úa, nhăn nhúm của anh ta chan hòa nước mắt. Cả thân hình gầy guộc của anh ta run rẩy. Mình có cảm giác cả cái mớ giẻ rách khoác trên người anh ta cũng khóc… Trong tiếng khóc và nước mắt của anh ta chan chứa một niềm thương xót khôn tả. Nghe anh ta khóc, cả những trại viên khét tiếng lỳ lợm, chai sạn, "đầu chày, đít thớt, mặt bù loong" cũng phải rơm rớm nước mắt. Chỉ có nỗi đau đớn chân thật mới có khả năng xuyên thẳng vào trái tim người. Mình thường nghĩ ngợi rất nhiều về anh ta. Con người này là ai vậy? Một thằng khùng hay người có mối từ tâm lớn lao của bậc đại hiền?…

Thế rồi, một lần, mình và anh ta cùng đi lùa trâu xuống con sông gần trại cho dầm nước. Trời nóng như dội lửa. Bãi sông đầy cát và sỏi bị nóng rang bỏng như than đỏ. Trên bãi sông mọc độc một cây mủng già gốc sần sùi tán lá xác xơ trải một mảng bóng râm bằng chiếc chiếu cá nhân xuống cát và sỏi. Người lính gác ngồi trên bờ sông dốc đứng, ôm súng trú nắng dưới một lùm cây. Anh ta và mình phải ngồi trú nắng dưới gốc cây mủng, canh đàn trâu ngụp lặn dưới sông. Vì mảng bóng râm quá hẹp nên hai người gần sát lưng nhau. Anh ta bỗng lên tiếng trước, hỏi mà đầu không quay lại:
- Anh Tuân này - không rõ anh ta biết tên mình lúc nào - sống ở đây anh thèm cái gì nhất?
- Thèm được đọc sách - mình buột miệng trả lời, và chợt nghĩ, có lẽ anh ta chưa thấy một cuốn sách bao giờ, có thể anh ta cũng không biết đọc biết viết cũng nên.
- Nếu bây giờ có sách thì anh thích đọc ai? - anh ta hỏi.
- Voltaire! - một lần nữa mình lại buột miệng. Và lại nghĩ: Nói với anh ta về Voltaire thì cũng chẳng khác gì nói với gốc cây mủng mà mình đang ngồi dựa lưng. Nhưng nhu cầu được chuyện trò bộc bạch với con người nó cũng lớn như nhu cầu được ăn, được uống… Nhiều lúc chẳng cần biết có ai nghe mình, hiểu mình hay không. Đó chính là tâm trạng của anh công chức nát rượu Marmeladov bất chợt nói to lên những điều tủi hổ nung nấu trong lòng với những người vớ vẩn trong một quán rượu tồi tàn, mà Dostoievsky miêu tả trong “Tội ác và Trừng phạt”.

Anh ta ngồi bó gối, mắt không rời mặt sông loá nắng, hỏi lại:
- Trong các tác phẩm của Voltaire, anh thích nhất tác phẩm nào?
Mình sửng sốt nhìn anh ta, và tự nhiên trong đầu nảy ra một ý nghĩ kỳ lạ: một người nào khác đã ngồi thay vào chỗ anh ta… Mình lại liên tưởng đến một cậu làm việc cùng phòng hồi còn ở Đài phát thanh, tốt nghiệp đại học hẳn hoi, đọc tên nhạc sĩ Chopin (Sôpanh) là Cho Pin.
Mình trả lời anh ta:
- Tôi thích nhất là Candide.
- Anh có thích đọc Candide ngay bây giờ không?
Không đợi mình trả lời, anh ta nói tiếp:
- Không phải đọc mà nghe… Tôi sẽ đọc cho anh nghe ngay bây giờ.

Rồi anh ta cất giọng đều đều đọc nguyên bản Candide. Anh đọc chậm rãi, phát âm chuẩn và hay như mấy cha cố người Pháp, thầy dạy mình ở trường Providence. Mình trân trân nhìn cái miệng rúm ró, răng vàng khè đầy bựa của anh ta như nhìn phép lạ. Còn anh ta, mắt vẫn không rời dòng sông loá nắng, tưởng chừng như anh ta đang đọc thiên truyện Candide nguyên bản được chép lên mặt sông…



Anh đọc đến câu cuối cùng thì kẻng ở trại cũng vang lên từng hồi, báo đến giờ lùa trâu về trại. Người lính gác trên bờ cao nói vọng xuống: "Hai đứa xuống lùa trâu, nhanh lên!".
- Chúng mình lùa trâu lên bờ đi! - anh nói.
Lội ra đến giữa sông, mình hỏi anh ta:
- Anh là ai vậy?
Anh ta cỡi lên lưng một con trâu, vừa vung roi xua những con trâu khác, trả lời:
- Tôi là cái thanh ngang trên cây thập tự đóng đinh Chúa.
Rồi anh ta tiếp:
- Đừng nói với bất cứ ai chuyện vừa rồi…
Giáp mặt người lính canh, bộ mặt anh ta thay đổi hẳn - ngu ngơ, đần độn như thường ngày.

Cuối mùa đông năm đó, anh ta ngã bệnh. Nghe các trại viên kháo nhau mình mới biết.
Thằng chuyên gia khâm liệm e đi đong. Thế là nếu bọn mình ngoẻo, sẽ không còn được khâm liệm tử tế và chẳng có ai khóc tống tiễn vong hồn… - những người tù nói, giọng buồn.
Mình gặp giám thị trại, xin được thăm anh ta.
Giám thị hỏi:
- Trước kia anh có quen biết gì thằng này không?
Mình nói:
- Thưa cán bộ, không. Chúng tôi hay đi lùa trâu với nhau nên quen nhau thôi.
Giám thị đồng ý cho mình đến thăm, có lính đi kèm. Anh ta nằm cách ly trong gian lán dành cho người ốm nặng. Anh ta nằm như dán người xuống sạp nằm, hai hốc mắt sâu trũng, nhắm nghiền, chốc chốc lại lên cơn co giật…


Mình cúi xuống sát người anh ta, gọi hai ba lần, anh ta mới mở mắt, chăm chăm nhìn mình. Trên khoé môi rúm ró như thoáng một nét cười. Nước mắt mình tự nhiên trào ra rơi lã chã xuống mặt anh ta. Anh ta thè luỡi liếm mấy giọt nước mắt rớt trúng vành môi. Anh ta thều thào nói:
- Tuân ở lại, mình đi đây… Đưa bàn tay đây cho mình…


Anh ta nắm chặt bàn tay mình hồi lâu. Một tay anh ta rờ rẫm mớ giẻ rách khoác trên người, lấy ra một viên than củi, được mài tròn nhẵn như viên phấn viết. Với một sức cố gắng phi thường, anh ta dùng viên than viết vào lòng bàn tay mình một chữ nho. Chữ NHẪN.
Viết xong, anh ta hoàn toàn kiệt sức, đánh rớt viên than, và lên cơn co giật.


Người lính canh dẫn mình lên giám thị trại với bàn tay có viết chữ Nhẫn ngửa ra. Người lính canh ngờ rằng đó là một ám hiệu.
Giám thị hỏi:
- Cái hình nguệch ngoạc này có ý nghĩa gì? Anh mà không thành khẩn khai báo, tôi tống cổ anh ngay lập tức vào biệt giam.
Mình nói:
- Thưa cán bộ, thật tình tôi không rõ. Anh ta chỉ nói: tôi vẽ tặng cậu một đạo bùa để xua đuổi bệnh tật và tà khí.
Nghe ra cũng có lý, giám thị trại tha cho mình về lán…

Phùng Quán

Ghi Chú: (*)

THẰNG KHÙNG trong tù này là Cha Chính Vinh, tức là Linh mục Gioan Lasan NGUYỄN VĂN VINH (1912-1971), của Nhà thờ lớn Hà Nội. Bài viết của Phùng Quán đã kể lại chuyện thật những năm, những ngày cuối trong ngục tù của Ngài.

Xin mời đọc thêm (bài kèm theo dưới đây) tiểu sử của Cha Vinh để chúng ta biết thêm nhiều chi tiết về cuộc đời Ngài; và cũng để hiểu thêm gương phụng sự Chúa của Ngài….

Linh mục Gioan Lasan NGUYỄN VĂN VINH,
Cha chính Hà Nội, (1912 – 1971).
Tấm gương can trường.

User avatar
muanuadem
Posts: 461
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:47 pm

Post by muanuadem »

Tôn sư trọng đạo - nghĩ xưa và nay

Image
Tôn sư trọng đạo là đạo đức của cư dân Việt không phải từ khi có Văn Miếu thờ Thầy Khổng và Thầy Chu Văn An mà xa xưa hơn nữa. Thiên Cổ miếu, hay còn gọi là Đền Thầy, trong cụm Di tích Đền Hùng thờ Thầy Vũ Thế Lang, tương truyền được xây dựng từ thơi Hùng Vương chứng tỏ điều đó.

Lớp lớp các thế hệ Nho sinh trùng tu, tôn tạo hương khói nên đến bây giờ vẫn giữ được nét cổ kính trang nghiêm. Thầy Vũ Thế Lang không phải là người bản xứ, nhân dân đã đón thầy về để dạy đạo làm người cho con em mình. Để thầy và gia quyến an cư lạc nghiệp, dân nơi đây đã dựng nhà, cấp ruộng cho vợ con thầy. Ruộng cấp cho thầy được gọi là học điền, được chọn nơi ruộng tốt,dễ canh tác và không phải nộp thuế. Thì ra việc toàn dân chăm lo sự nghiệp giáo dục không phải bây giờ mới có. Cảm động trước nghĩa tình của người dân, thầy Lang hết lòng chăm sóc cho lớp trẻ nơi đây học chữ, học lễ, học nghĩa. Học trò thầy nhiều người thành danh đỗ đạt. Khi thầy mất học trò thầykhắp các nơi kéo nhau về chịu tang. Căn nhà thầy, vừa là học đường, vừa là tư thất về sau trở thành Đền Thầy, quanh năm được học trò hương khói. Thầy sống thanh bạch nên khi mấtrất linh thiêng, trước khi đi thi sĩ tử khắp nơi đến đây thắp hương lễ thầy đều đỗ đạt cao. Mùa thi đến đền Thầy ngào ngạt khói hương là vậy.

Trong xã hội phong kiến, vị thế của người thầy được xếp rất cao. Sau vua chúa, không phải quan lại mà là người Thầy. Công dưỡng dục còn đặt cao hơn cả công sinh thành. Cách xếp Quân – Sư ­– Phụ cho thấy vị thế của người thầy trong xã hội được tôn vinh như thế nào. Trong dân gian cũng vậy, “Muốn sang thì bắc cầu kiều, muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy” hoặc “ Không thầy đố mày làm nên”…

Tết nguyên đán hàng năm là dịp để con cháu bày tỏ lòng hiếu thảo với cha mẹ và thầy giáo. “Mồng một tết cha, mồng hai tết mẹ, mồng ba tết thầy”.

Truyền thống tôn sư trọng đạo đó đã được các thế hệ cháu con tiếp thu bồi đắp và trở thành một nét đẹp nhân văn giữa đời thường vừa gần gũi vừa thiêng liêng. Chính đây là nguồn cổ vũ to lớn để đội ngũ thầy giáo yêu người và yêu nghề. Dẫu giặc dã triền miên, dẫu đói cơm nhạt muối, chúng ta vẫn cho ra đời nhiều thế hệ nhân tài cho đất nước. Càng khó khăn gian khổ tình nghĩa thầy trò càng sâu nặng...

Ấy vậy nhưng hai chữ tôn sư thiêng liêng ấy đang bị một số bộ phậnthầy cô biến thành một thứ hàng hóa tầm thường và dung tục. Chạy trường, mua điểm, huyên náo trường thi, học giả bằng thật, ăn bớt khẩu phần trẻ nhỏ, mua đầu vào, bán đầu ra, làm nhục nhân phẩm học sinh...đang trở thành một tệ nạn khó khắc phục. Chấtlượng giáo dục ngày càng đáng báo động. Có hàng trăm trường Đại học nhưng không có trường nào được nằm trong tốp 10 hay tốp 20 trường Đại học danh tiếng của khu vực… Nguy hại nhất là nó đang dần làm xói mòn một truyền thống đạo đức nhân văn của dân tộc – truyền thống tôn sư trọng đạo.

Tuy nhiên, “kinh tế tự mở đường mà đi”(Eng-ghen), giáo dục cũng vậy. Sự tốt đẹp và nhân văn, cuối cùng bao giờ cũng chiến thắng./.

Mai Hồng

User avatar
muanuadem
Posts: 461
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:47 pm

Post by muanuadem »

Hang Đá Bê Lem - Nhà Thờ Giáng Sinh Grotto of Bethlehem - The Church of Nativity
Tọa lạc cách thành phố Jerusalem 8 km về hướng Nam, nhà thờ Giáng Sinh ở Bêlem là một trong những nhà thờ cổ nhất trên thế giới có sinh hoạt liên tục từ lúc xây dựng vào thế kỷ thứ tư đến nay.

Nhà thờ được xây cất ngay trên hang đá Bê lem. Chứng cứ đầu tiên về hang Bê lem được tìm thấy trong quyển sách của ông Justin Martyr viết vào khoảng năm 160.
Năm 327 thánh nữ Helène, mẹ của hoàng đế Constantin I cho xây cất nhà thờ Giáng Sinh.

Năm 529 nhà thờ bị đốt cháy trong cuộc nỗi dậy Samaritan.

Năm 565 hoàng đế Justinian I cho xây dựng lại và tồn tại đến nay.

Khi Bê lem bị người Ba Tư xâm chiếm vào năm 614, viên chỉ huy Shahrbaraz đã không ra lệnh tiêu hủy nhà thờ này vì nhìn thấy hình ba vị Vua phương Đông với trang phục của dân Ba Tư.

Trong các lần chiến tranh với Hồi giáo, nhà thờ đã ngụy trang bằng cách làm cổng vào nhỏ lại và mặt tiền không có vẽ là nhà thờ. Đó là lý do tại sao ngày nay nhà thờ Giáng Sinh không có chút gì uy nghi cao cả.

Có lẽ nhờ thế, nhà thờ Giáng Sinh đã giữ được tinh thần đơn sơ khó nghèo như lúc Chúa sinh ra cách nay 2000 năm!

Image
Khu nhà thờ Giáng Sinh nhìn từ quảng trường Máng Cỏ (Manger Square)

Image
Phải lại gần hơn mới thấy cổng vào nhà thờ

Image
Và phải cúi mình xuống mới vào được

Image
Chánh điện bên trong nhà thờ - Trên nền nhà là nơi khai quật...

Image
các nhà khảo cổ đã tìm được nền nhà thờ cũ từ năm 327

Image
Tới gần bàn thờ - chú ý phía bên phải nơi có người đứng là cổng xuống hang đá Bê Lem

Image
Bên trái bàn thờ có hình Đức Mẹ và Chúa Hài Đồng với nến cháy lung linh

Image
Và khi tắt nến

Image
Cổng bước vào hang đá Bê Lem

Image
Hành lang nhỏ dẫn tới hang đá Bê Lem

Image
Bước xuống các bậc thang là nơi Con Chúa Ra Đời
Bên phải: nơi Chúa sinh ra – Bên trái: máng cỏ

Image
Máng cỏ nơi Chúa nằm sau khi sinh ra

Image
Nơi Chúa Giêsu sinh ra được đánh dấu với ngôi sao 14 cánh


Image
Các chữ vòng quanh bên trong ngôi sao: Hicde Virgine Maria Jesus Christus Natus Est
Có nghĩa là: Nơi đây Trinh Nữ Maria đã hạ sinh Đức Giêsu Kitô

Image
Chính diện hang đá Bê Lem

Image
Các hàng cột bên trong nhà thờ

Image
Xen kẻ các bình đèn

Image
Theo kiểu Chính Thống Giáo

Image
Tạm biệt hang đá Bê Lem

Image
Tạm biệt nhà thờ Giáng Sinh

Image
Phía trước Nhà Thờ Giáng Sinh là Quảng Trường Máng Cỏ với đền thờ Hồi giáo.

Post Reply