Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Nhiếp Ảnh Gia NGUYỄN NGỌC HẠNH
và những hình ảnh bi hùng
của cuộc chiến giữ nước


Huy Phương
Nói tới các văn nghệ sĩ quân đội VNCH, trong bộ môn điêu khắc người ta không thể không nghĩ tới tượng đài Tiếc Thương của Nguyễn Thanh Thu đặt ở Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa, thì với bộ môn nhiếp ảnh, Nguyễn Ngọc Hạnh đã là một tên tuổi sáng giá không những ở miền Nam Việt Nam mà còn ở trong cả giới nhiếp ảnh nghệ thuật của thế giới. Trước năm 1975, Nguyễn Ngọc Hạnh đã để lại cho đời những tác phẩm với hào khí ngất trời như “Dựng Cờ”, “Tấn Công” và bi thương trong cuộc chiến như “Thương Tiếc”, “Mẹ Việt Nam” và sau khi tới định cư tại Hoa Kỳ , Nguyễn Ngọc Hạnh đã không rời chiếc máy ảnh và đã cho ra đời những tác phẩm như “Vá Cờ” hay “Mẹ Việt Nam ơi! Chúng con vẫn còn đây!”

Sinh năm 1927 tại tỉnh Hà Đông Bắc Việt, Nguyễn Ngọc Hạnh vào miền Nam rất sớm và theo học Trường Thiếu Sinh Quân Vũng Tàu, ông được gởi sang Toulouse Pháp để theo học khóa Quân Nhu sửa chữa dù, tốt nghiệp cấp bậc chuẩn úy vào năm 1947. Ông đã theo học nhiếp ảnh trong thời gian ở Pháp và trở thành một nhiếp ảnh gia nhà nghề vào năm 1957 và trong năm này ông đã lập Hội Ảnh KBC, qui tụ nhiều nhà nhiếp ảnh của miền Nam Việt Nam. Khi Quân Đội VNCH được thành lập, ông phục vụ trong ngành Quân Nhu, và sau đó là Tiểu Đoàn 1 cũng như Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù. Năm 1961, Nguyễn Ngọc Hạnh được thuyên chuyển về Phòng 5 Bộ Tổng Tham Mưu, được gởi đi khắp bốn vùng chiến thuật và các quân, binh chủng để thực hiện những tài liệu nhiếp ảnh cho cuốn “Việt Nam Khói Lửa” của Phạm Văn Sơn. Chính nhờ giai đoạn này, Nguyễn Ngọc Hạnh được dịp sống sát với chiến trường, ghi nhận những hình ảnh trung thực của người lính VNCH và tạo nên những tác phẩm giá trị đoạt nhiều huy chương quốc tế. Ông đã sống với những mặt trận lớn như Huế Mậu Thân, Khe Sanh, Tam Quan- Bồng Sơn.... Tác phẩm “Tiếc Thương” được giải thưởng ở Đức, “Cắn Lựu Đạn” đoạt giải ở Pháp. Hai lần ông đoạt giải Danh Dự của Hiệp Hội Nhiếp Ảnh Nghệ Thuật Quốc Tế (Hon EFIAP) ba lần đoạt giải của Hiệp Hội Nhiếp Ảnh Hoàng Gia Anh Quốc (FRPS) và vô số các giải nhiếp ảnh cấp quốc gia ở Ba Lan, Ấn Độ, Pháp, Đức, Mã Lai, Singapore, Hồng Kông.(1) Năm 1970, Nguyễn Ngọc Hạnh đã cho ấn hành cuốn “Việt Nam Khói Lửa” bằng những hình ảnh về cuộc chiến giữ nước và những lời chú thích viết bằng tiếng Anh của các nhà văn trong quân đội, gần 200 trang, ấn loát ở Hông Kông. Tác phẩm này hiện còn rải rác nằm trong các thư viện lớn trên thế giới.

Ông mang cấp bậc Trung Tá vào những ngày cuối cùng trong quân đội, và là Ủy Viên Nhiếp Ảnh của Hội Văn Nghệ Sĩ Quân Đội do Đại Tá Trần Văn Trọng làm Chủ Tịch.

Tháng 5- 1975, cũng như số phận các sĩ quan miền Nam, Nguyễn Ngọc Hạnh bị tập trung đưa ra các trại tù ở Bắc Việt trong tám năm. Những ngày tháng bị kiên giam trong conex, đã cho Nguyễn Ngọc Hạnh thấy rằng người Cộng Sản cũng sợ cái máy ảnh, ngòi bút hơn là súng đạn. Nếu không được cơ quan Amnesty Đức Quốc can thiệp cho ra tù năm 1983, có lẽ người cầm máy chiến đấu như ông sẽ còn ở trong trại tập trung lâu hơn nữa. Nguyễn Ngọc Hạnh đã thất bại nhiều lần trong cố gắng vượt biên ra nước ngoài, cho mãi đến lần thứ tư, mới đến được Thái Lan và năm 1989, ông mới đến định cư tại San José, Bắc California.

Tháng 4 năm 2000, Mặt Trận QGTNGPVN tại Hoa Kỳ đã trao giải thưởng Văn Học & Nghệ Thuật cho tác phẩm nhiếp ảnh “Vá Cờ” của ông, tuy vậy trước đó khi Mật Trận tiếp xúc với ông, Nguyễn Ngọc Hạnh đã đòi hỏi được ra mặt trận để làm phóng sự cũng như để tìm chất liệu cho tác phẩm, nhưng các giới chức cao cấp trong Mặt Trận đã từ chối lời yêu cầu, với lý do là đường sá xa xôi, không bảo đảm an ninh và sức khỏe cho ông.

Năm nay, Nguyễn Ngọc Hạnh đã 78 tuổi, nhưng sức khỏe vẫn còn tốt, có thể vượt suối, băng rừng suối để đi săn ảnh và vẫn tiếp tục tạo nên những tác phẩm bất ngờ có giá trị mặc dầu đề tài và khung cảnh ở Hoa Kỳ rất hạn chế, những người đi trước đã chụp qua rồi. Qua chiến tranh thất lạc, kiểm điểm lại với một cuộc đi tìm lại tác phẩm rất cam go, hiện nay Nguyễn Ngọc Hạnh đã chọn lọc lại hơn 150 tác phẩm nhiếp ảnh (khổ khổ từ 16X20 cho đến 40X60 inches), vừa trong chiến tranh, vừa trong hòa bình, xây dựng mà ông dự định sẽ làm một cuộc triển lãm lưu động đến nơi có cộng đồng nguời Việt đông đảo. Bản thân ông vốn là một người lính và một cựu tù nhân chính trị, điều mà Nguyễn Ngọc Hạnh muốn chia sẻ đến những người bạn chiến đấu và những người đồng cảnh ngộ, là ngọn lửa đấu tranh cho tự do sẽ là một ngọn lửa không bao giờ tắt, và đối với người nghệ sĩ, tác phẩm không thể chết theo tác giả.

Mới đây vào ngày 21 tháng 10 năm 2004, Nhiếp Ảnh Gia Nguyễn Ngọc Hạnh đã được Phân Khoa Lịch Sử của De Anza College (Bắc California) mời cùng với nhà thơ Nguyễn Chí Thiện, ông Vũ Văn Lộc và Giáo Sư Nguyễn Ngọc Bích đến để thuyết trình cho các sinh viên nhà trường về cuộc chiến Việt Nam. Ông phấn khởi đã được trưng bày và giải thích với tuổi trẻ ở Hoa Kỳ những hình ảnh và nói tới ý nghĩa trung thực về cuộc chiến Việt Nam. Chúng ta hy vọng mỗi người lính sẽ có riêng một tác phẩm “Dựng Cờ” của Nguyễn Ngọc Hạnh, như là biểu tượng của niềm hãnh diện của những ngày đấu tranh giữ nước anh hùng của dân quân miền Nam Việt Nam.



HUY PHƯƠNG

(1)Những giải thưởng và tước hiệu của Nguyễn Ngọc Hạnh:


Hon.FPCKBC;
Hon. FVNPS, Hon.Exibitor VNPS;
Hon.EFIAP, FRPS, ****PSA;
FIAP Gold Medal of Exceptional Photographic Achievement, 2003;
One of the Top Ten, Who ‘S Who, PSA, 1968;
FPCKBC, FPSEA, SPSHK, FAPA, SE 35mmm PS;
Hon. FAPA; Hon.FTVPA, Hon. FBSC, Hon.FHKPC, Hon. FHCPS;
Hon. FNPAS, Hon.FPST, Hon.FPSC, Hon.FPSNY, Hon.FPSLA;
Hon. FTVPA, Hon. EYMCAPC, Hon. PSMP, Hon. Border
Hon.NPAS, Hon.35mm PS; Hỏn.PPGL, Hon. OGPh
Hon.FEP, Hon.PSEA, Hon.IKFP, Hon. Omni- Candid
Hon KKL,Membre d’ honneur du Salon de Bordeaux.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Đại nhạc hội liên hoan OIOI FESTIVAL tại Bergen (Na Uy)
23 tháng 5 tới 4 tháng 6, 2007
Một thoáng thành phố Bergen

Thành phố Bergen được thành lập dưới thời vua Olav Kyrre (1066-1093). Với một diện tích 465 Km2 và một dân số 242.000 người, Bergen là thủ đô của xứ Na Uy từ thế kỷ 13 cho tới năm 1830, trên 6 thế kỷ, rất quan trọng về thương mại và hàng hải. Những nhà hàng hải Đức Hanse đã đóng đô tại đây từ mấy trăm năm và đã lập một hải cảng với những ngôi nhà bằng cây đã được UNESCO ban danh hiệu là gia tài thế giới (world heritage of the humanity) năm 1979. Đó là khu Bryggen với những con đường nhỏ hẹp giữa những ngôi nhà bằng cây đã được xây cất lại y như lúc xưa sau một trận hỏa hoạn khổng lồ đã thiêu hủy hoàn toàn khu này vào năm 1702. Nơi đây có nhiều tiệm bán những món quà kỷ niệm cho du khách và những áo len đặc biệt kiểu Na Uy. Có một số nhà hàng ở trong những con đường nhỏ giữa nhừng tòa nhà bằng cây rất ngon và đặc biệt cơm Na Uy. Trong khu này không có nhà hàng Á châu. Du khách nào tới Bergen đều bỏ chút thì giờ viếng khu này để chiêm ngưỡng nơi mà UNESCO ban tặng danh hiệu Gia tài thế giới di tích lịch sử.


Từ khu Bryggen đi bộ một chút là tới ngôi nhà kháng tiết hoàng gia Hakonshallen (www.bymuseet.no) được xây cất từ 1247 tới 1261. Tại khu công viên này có ngọn tháp Rosenkrantztamet do ông sứ quân Erik Rosenkrantz cho xây vào khoảng 1560. Cạnh đó là ngôi nhà thờ Saint Maria (Mariakirken) được cất cách đây 850 năm và được coi là một di tích kiến trúc “normand” xưa nhứt của Na Uy.

Tới Bergen có vài chuyện phải coi và thăm. Đó là viếng viện nuôi cá đủ loại “Aquarium”(www.akvariet.no), viếng chợ cá ngay thành phố là nơi bán cá tươi, tôm, cua, được chở từ các tàu đánh cá tới đây mỗi buổi sáng sớm, leo lên núi Floyen (320m) bằng thang máy treo (funicular) và viếng ngọn núi cao nhất Ulriken trong 7 ngọn núi bao xung quanh thành phố.

Bergen còn được chọn là thành phố văn hóa âu châu (European Cultural City) vào năm 2000. Bergen có 3 nhạc sĩ nổi tiếng thế giới : Edvard GRIEG (1843-1909), Harald Saeverud (1897-1992), và nhạc sĩ đàn vĩ cầm Ole Bull (1810-1880). Cả ba ông đều có nhà trở thành viện bảo tàng cho du khách tới thăm viếng : viện bảo tàng Edvard Grieg – Troldhaugen (www.troldhaugen.com), ngôi nhà Siljustol của nhạc sĩ Harald Saeverud (www.siljustol.no) và ngôi biệt thự của nhạc sĩ Ole Bull trên đảo Lysoen (www.lysoen.no). Tôi có tới đảo Lysoen để một buổi song tấu đàn violin do ông Stephan Barratt-Due đàn và vợ là bà Soon-Mi Chung, gốc Đại Hàn, đàn violin alto. Hai vợ chồng nổi tiếng tại Na Uy và đã đi trình diễn khắp năm châu. Ông Barratt-Due sẽ sang Việt Nam vào tháng 8 trong dự án giúp Việt Nam trong việc gởi giáo sư dạy đàn sang Việt Nam để dạy và nhận nhạc sinh Việt Nam vào trường âm nhạc mà ông là giám đốc ở Oslo. Chương trình nhạc thính phòng tại ngôi nhà của ông nhạc sĩ vĩ cầm Ole Bull trên đảo Lysoen rất đẹp, cất theo kiến trúc ảnh hưởng Ấn độ. Nhà được xây cất gần 150 năm trên một hòn đảo xinh xắn.

Cùng đi nghe nhạc với tôi có cháu Quỳnh Chi từ Oslo tới Bergen để thăm tôi. Tôi biết cháu Quỳnh Chi từ khi cháu mới sinh ra tại Oslo năm 1981. Hiện nay cháu làm việc cho cơ quan ULTIMA lo về việc âm nhạc có liên hệ tới văn hóa. Tuy sinh tại Na Uy cháu nói tiếng Việt rất trôi chảy và có nhiều dự án giúp Việt Nam trong tương lai về âm nhạc qua cơ quan ULTIMA.

Ngày nay trở thành một nơi mà du khách thường tới thăm viếng và đại nhạc hội liên hoan Bergen dùng làm thành hòa nhạc mỗi năm. Chương trình có hai nhạc phẩm do nhạc sĩ Ole Bull sáng tác. Một bài có âm hưởng Á châu rất hay.

Bergen còn được nổi tiếng với hai đại hội liên hoan âm nhạc lớn nhứt xứ Na Uy : festspillene i Bergen (fib – www.fib.no) vào tháng 5 và tháng 6; và natjazz chuyên về nhạc jazz cũng từ tháng 5 qua tháng 6 mỗi năm. Từ năm 2006 có thêm một đại hội liên hoan âm nhạc mang tên là Oi Oi Festival do Ole Hamre chủ trương với sự giới thiệu nhạc ngoài đường hoàn toàn miễn phí cho dân chúng được nghe và xem.

Thành phố còn được trang bị một nhà hát OPERA, một nơi trình diễn âm nhạc Logen được xây cất từ thế kỷ thứ 19 và một phòng hòa nhạc Grieghallen dành cho nhạc cổ điển tây phương.

Số viện bảo tàng rất nhiều với mấy chục nơi thu hút du khách với những bức tranh giá trị, với những vật liệu nông dân kỹ nghệ của thành phố từ nhiều thế kỷ qua,

Nhà hàng ngoại quốc thì tiệm cơm Tàu nổi tiếng nhất và rộng lớn nhứt (Yang Tse Kiang với hai tiệm ở địa điểm tốt nhứt, China Palace). Ngoài ra có một nhà hàng cơm Mông cổ, vài nhà hàng Nhựt bán món sushi, cơm Thái nhưng do người Tàu và Việt làm. Việt Nam có vài tiệm như Bambus Restaurant, Cyclo, Zen nhưng không có quảng cáo trên báo và chỉ làm trong phạm vi nhỏ hẹp so với tiệm cơm Tàu. Ấn độ cũng có vài nhà hàng bán với giá bình dân nhưng chưa thu hút nhiều thực khách.

Bergen là thành phố có nhiều ngày mưa nhất xứ Na Uy. Mỗi năm có thể nói có trên 200 ngày mưa. Khi được một chút nắng là dân chúng đổ xô ra đường ngồi phơi nắng. Tới tháng 5 gần sang tháng 6 mà thời tiết vẫn còn lạnh và mưa thường xuyên. Tôi bị nhiều trận mưa, gió làm gảy hai cây dù.

Dù thời tiết gây một ít khó khăn, Bergen vẫn là một nơi rất đẹp, với những nơi fjord đẹp nhứt xứ Na Uy, hùng vĩ, uy nga, tráng lệ, và đi thăm Bergen một tuần là có thể giữ một kỷ niệm khó quên.


Một vài tiệm cơm Việt tại Bergen

Tại Bergen, chỉ có vài tiệm cơm Việt. Tiệm CYCLO do một vài thanh niên trẻ đảm trách, nhắm vào thực khách Na Uy. Các thức ăn có phở, các món thịt, tôm, cá xào với rau trình bày trong những tô, dĩa thật to màu trắng, có phần lai cơm Tàu. Bàn ghế theo kiểu Na Uy và khách hàng đa số trẻ. Giá cả tương đối rẻ, thu hút khách vào ăn.

Một tiệm bán cà phê, bia loại cafe/bar với một số thức ăn như bò bún, phở, hủ tiếu, và một số thức ăn căn bản như chả giò, tôm chiên. Chủ tiệm CYCLO có mở thêm một nhà hàng thứ nhì mang tên là RED SUN (Hồng Nhựt) tuy là Việt nhưng chuyên bán các thức ăn loại sushi (Nhựt), Thái, Tàu. Người Na Uy từ những năm gần đây bắt đầu thích ăn cơm Á châu với số người Á châu tới di dân tại Na Uy ngày càng nhiều. Một mặt khác với tổng số 20.000 người Việt sinh sống tại Na Uy, và người Na Uy có dịp tới thăm viếng xứ Việt Nam để tìm hiểu và khám phá xứ Việt Nam mà họ chỉ biết qua sách vở lúc trước và giờ đây họ cần tìm hiểu thêm để có thể hòa mình với người Việt trên đất Na Uy, các quán cơm Việt bắt đầu có mặt ở những thành phố lớn ở Na Uy như Oslo, Bergen, Kristiansand, Arendal, Trondheim,vv.

Một tiệm cơm bình dân khác là ZEN cafe bar do chị Mỹ Linh và anh Hiếu làm chủ, ở Stromgaten 26, 5008 Bergen, đối diện với Grieghallen là phòng hòa nhạc lớn nhứt thành phố Bergen. Nấu cơm giá rẻ chú trọng khách hàng bình dân.

Có bán những món ngon như phở, hủ tiếu, bún bò Huế, bò bún. Mở cửa mỗi ngày từ 14giờ tới 21 giờ. Tôi có tới đây ăn món hủ tiếu Nam Vang rất ngon và món bò bún rất hạp khẩu vị.

Một tiệm khác tên là Zupperia ỏ phía dưới của một viện bảo tàng kỹ nghệ. Nơi đây đầu bếp là mấy cô Việt Nam, chỉ nấu vài món Việt như gà xào rau, bún xào tôm và rau, một vài món Thái và đa số là món Na Uy vì đa số là giới trẻ Na Uy tới ăn. Giá hạ vừa túi tiền sinh viên. Tôi có ăn món bún xào tôm không có gì là Việt Nam lắm. Không khí tiệm không có gì là Việt cả.

Còn một tiệm khác do một cậu trẻ tên Sơn đứng nấu cơm Việt và Na Uy, giá tương đối rẻ nhưng tôi chưa có dịp tới ăn. Nhà hàng ở cạnh nhà thơ công giáo, nơi các tín đồ công giáo Việt thường tới xem lễ ngày chủ nhật và cũng là nơi gặp gỡ người Việt công giáo khi có tổ chức hội hè.

Tôi chưa có dịp gặp người Việt Phật giáo nên không có ý niệm về sinh hoạt của cộng đồng Phật giáo ở Bergen. Sinh hoạt của cộng đồng do em Đỗ Châu Sơn phụ trách với trại hè cho trẻ em Việt được tổ chức hàng năm tại ngoại ô Bergen.

Năm nay Sơn cùng cha Tiến tổ chức trại hè từ ngày 1 tới 3 tháng 6. Tôi được mời tới để xem các em và phụ huynh sinh hoạt với các màn trình diễn rất vui mắt. Các em bé đều nói tiếng Việt rất trôi chảy. Tôi có trình diễn cho các em và phụ huynh một vài màn muỗng, đàn môi và hát đồng song thanh và có đôi lời khuyên bảo các em nên cố gắng gìn giữ tiếng nói Việt và phong tục tập quán của Việt Nam. Sau đó tôi có dịp hàn huyên cùng cha Tiến và các anh chị em để biết thêm về đời sống của những gia đình Việt Nam định cư tại đây. Tôi có gặp lại anh chị Nguyễn Công Hùng (cũng có viết nhạc và hiện về hưu). Chúng tôi ngồi quanh lửa trại, thưởng thức cua nướng, thịt bò khô, uống bia, và được nghe các anh chị em hát những ca khúc công giáo và tân nhạc tạo một bầu không khí vui nhộn.Tiệm cơm hoàn toàn Việt Nam phải nói là tiệm Bambus Restaurant, 34 đường Marken do cặp vợ chồng Toàn và Vân. Vợ người miền Nam đứng bếp. Chồng người Trung coi sóc bên ngoài.


Có một cô dọn bàn tên là Na (tên thật là Trần Như Vân Khánh) sang Na Uy được 4 năm, mặc quần áo cổ truyền với áo tứ thân. Bàn ghế hoàn toàn theo kiểu Việt Nam. Tất cả vật dụng trên bàn như chén dĩa, đồ đựng tiêu muối, đều của Việt Nam. Đũa được đựng vào một ống tre. Bình trà bằng đất để trên một cái lò nhỏ có lửa để hâm nóng thường trực. Tách trà là một chén chung nhỏ xinh xắn.

Thức ăn hoàn toàn Việt Nam không lai Tàu, Thái gì hết. Ngày đầu tiên tôi vào tiệm ăn món phở có đầy đủ mùi vị Việt Nam, với chanh xanh, rau mùi, rau quế, giá tươi, ớt tươi thơm ngon. Ngày hôm sau tôi ăn món thịt bò xào rau. Ngoài ra có món canh chua cá, tôm,

Ngồi vào bàn thấy thoải mái không bị chói mắt với màu mè đỏ vàng của Tàu. Người dọn bàn mặc y phục cổ truyền, di chuyển nhẹ nhàng theo tiếng nhạc cổ truyền không lời với tiếng đàn tranh, nhị, nhạc thính phòng Trung, Nam, Bắc rất nhỏ chứ không ồn ào như đa số nhà hàng Việt mà tôi thường vào ăn ở khắp nơi.

Em Châu Toàn mới lập nhà hàng này vào đầu năm 2004, với sức chứa 22 chỗ ngồi rộng rãi. Tôi đã vào ăn nơi đây cách đây ba năm. Lần này trở lại đây, không có thay đổi từ cách trang trí tới thực đơn. Khách vào ăn thuộc giới trung lưu, trí thức nên không khí trong phòng yên tịnh và thoải mái. Tiệm mở cửa mỗi ngày từ 14 giờ tới 24 giờ. Giờ khách vào ăn nhiều nhất là từ 16 giờ tới 20 giờ. Người Na Uy ăn cơm sớm. Họ ăn cơm tối vào khoảng từ 17giờ 30 tới 19 giờ. Mùa hè ngày dài hơn đêm. Tới 23 giờ vẫn còn ánh sáng mặt trời nên người Na Uy đi nghe hòa nhạc, rồi còn đi dạo phố chơi. Mùa đông thỉ trời bắt đầu tối sầm vào khoảng 15giờ nên giờ giấc ăn uống có phần khác với những quốc gia khác ở Âu châu.

Mỗi ngày trong thời gian tôi ở Bergen để trình diễn, tôi đều tới ăn ở tiệm Bambus (có nghĩa là TRE). Theo tôi nhận xét, đây là một trong một số ít nhà hàng Việt mang màu sắc thuần túy Việt Nam và chú trọng tới văn hóa Việt Nam, từ cách ăn mặc nghiêm túc, tới cách trình bày thức ăn, trang trí phòng ăn và nhứt là rất sạch. Đó là những ưu điểm của sự thành công của nhà hàng này. Trong tuần lễ chót tiệm Bambus có mướn thêm một cô sinh viên mới từ Việt Nam sang được hai tháng tên là Minh. Tuy mới học dọn bàn nhưng có nhiều thiện chí, biết nói tiếng Anh và bập bẹ tiếng Na Uy.

Nơi đây có khoảng 1.100 người Việt, phần đông là người tỵ nạn tới Bergen vào năm 1979. Hầu hết đều an cư lạc nghiệp. Một số người mở nhà hàng, mở tiệm bán chạp phô (có ba tiệm bán thực phẩm Á châu, thành công nhứt là tiệm cùa anh Cát).

Anh Trần Văn Nho sang Na Uy từ năm 1979, trở thành người chuyên dạy tiếng Na Uy cho những người di tản Việt và những sắc dân khác để có thể hội nhập vào xã hội Na Uy. Anh còn là một nhạc sĩ sáng tác một số nhạc phẩm được phổ biến rộng rãi với tên Trần Thụy Minh. Vợ tên Hồng, chuyên về kế toán. Hai vợ chồng có hai con tên là Huy và Khoa đều thành danh có công ăn việc làm ở Oslo. Một anh khác tên là Phạm Phú Minh có nghề tay trái là sáng tác nhạc, có nhạc phẩm được hát nhiều nơi. Ngoài ra có anh Dương Kiền là một nhà văn nổi tiếng trong giới cộng đồng Việt. Anh vừa mới xuất bản một quyển sách «Việt Nam - thế kỷ 20 – biên niên sử» kể lại những biến cố lịch sử xảy ra trong thế kỷ 20 tại Việt Nam do nhà xuất bản Tiếng Quê Hương ở Falls Church(Virginia, Hoa Kỳ) phát hành. Anh Dương Kiền là tên thật và cũng là bút hiệu, sinh năm 1939 tại Huế, gia nhập luật sư đoàn tòa thượng thẩm Saigon năm 1966, làm chủ bút tạp chí Văn Học Saigon từ 1961 tới 1963. Anh đoạt giải thưởng văn chương toàn quốc về kịch năm 1968 và đã xuất bản thơ, kịch, truyện ngắn, truyện dài, biên khảo về luật.

Từ năm 1979 anh định cư tại Bergen, Na Uy và tiếp tục sáng tác đều đặn. Nhà thơ Đăng Trình có phát hành thơ. Anh Nguyễn Công Hùng cũng là một nhạc sĩ có trình độ khá cao. Anh Lê Vinh thành công trong nghề may, đậu bằng cấp của Na Uy và tạo sự nghiệp trong giới may vá Na Uy.

Tôi có gặp những anh chị này năm 1979, hợp tác trong một chương trình Tết năm 1985. Năm 2004 Bạch Yến và tôi có trở lại Bergen trình diễn trên 100 buổi giới thiệu nhạc Việt cho trẻ em các trường học ở Bergen và vùng phụ cận, tiếp xúc và sinh hoạt với anh chị em nơi đây. Em Nho có tới đón tôi sau khi tôi trình diễn xong chiều thứ sáu 1 tháng 6 để đưa tôi tới một tiệc liên hoan chiêu đãi vợ chồng anh Vũ Hùng trước kia ở Bergen, làm việc ở sở di trú, sau đó di dân sang Úc châu.

Lần này đi nghỉ hè ghé Bergen vài ngày thăm bạn bè cũ Việt và Na Uy. Luôn dịp có mặt của tôi, vợ chồng Nho cùng một số bạn quen với vợ chồng Vũ Hùng như vợ chồng em Trần Văn Đức, anh chị nhà thơ Đăng Trình, nhà văn Dương Kiền, anh chị Nguyễn Công Tiệp, vợ chồng anh Quang, Phát, em Phụng, đã cùng nhau mỗi người làm một món ăn để cùng nhau họp mặt chung vui cho bạn bè có dịp gặp lại nhau. Tôi được mời đến để gặp các anh chị em quen biết, đồng thời biểu diễn vài tiết mục cho bạn bè người Na Uy biết việc làm của tôi tại Bergen trong dịp này. Âu cũng là một điều hay, tạo cơ hội để bạn bè có dịp gặp nhau chứ ai cũng có việc làm, gia đình và bận rộn với con cháu vì ai cũng ngoài ngũ tuần tới thất tuần cả.

Biết thêm về sinh hoạt xã hội, tôn giáo (Công giáo do em Đỗ Châu Sơn, kiến trúc sư phụ trách, Phật giáo). Em Đỗ Châu Sơn, còn trẻ 36 tuổi, hoạt động hăng hái, giúp đỡ công đồng chức trại hè cho trẻ em Việt Nam. Trong thời gian tôi ở Bergen, em Sơn đưa tôi gặp anh Pháp sang Na Uy từ năm 1981, dạy Việt ngữ tại một trường trung học ở Bergen và linh mục Đặng Quang Tiến từ Việt Nam sang để lo về đạo giáo Thiên chúa cho cộng đồng tại Bergen.

Em Sơn thường tới nghe tôi hát từ trên tòa nhà của tòa thị sảnh, rồi sau đó đưa tôi đi thăm ngoại cảnh ở ngoại ô Bergen lúc buổi chiều. Cảnh hoàng hôn với mặt trời còn đỏ chói vào lúc 23 giờ rất đẹp.. Em có nhiều hiểu biết về phong tục xứ Na Uy. Chẳng hạn như tại sao nhà cửa ở Na Uy thường sơn màu đỏ đậm? Lúc xưa người Na Uy đi săn cá ông có rất nhiều máu đỏ. Người Na Uy lấy máu cá ông dùng làm sơn để sơn vách tường bằng cây thông vừa đẹp vừa bảo vệ vách tường cây. Ngày nay không còn dùng máu cá ông nhưng họ vẫn tiếp tục dùng sơn với màu đỏ đậm để sơn nhà. Vì vậy đa số nhà ở Na Uy thường có màu đỏ đậm

Đó là điều tôi không biết vì không có ai giải thích cho tôi cả. Hai màu khác cũng được ưa thích là màu vàng và xanh cây. Tôi nghĩ tới màu lá vàng mùa thu và màu sang cây của các cây thông mọc khắp nơi ở Na Uy.

Dân số xứ Na Uy chỉ có gần 5 triệu người. Xứ Mỹ, tại tiểu bang Minnesota có rất nhiều người gốc Na Uy cư ngụ vì phong thổ rất gần phong thổ và cảnh vật xứ Na Uy. Hiện tại, xứ Mỹ có khoảng 8 triệu người gốc Na Uy, gần bằng hai tổng số dân tại Na Uy.

Ngày 2 tháng 6, em Sơn chở tôi tới trại hè của mấy đứa trẻ Việt Nam ở ngoại ô Bergen, gần phi trường để cho các em có dịp gặp tôi vì có một số em đã từng xem tôi trình diễn ở trường học cách đây mấy năm. Tôi có dịp sinh hoạt với mấy em và rất vui khi thấy mấy em trẻ vẫn còn nói tiếng Việt và duy trì một số phong tục Việt Nam và rất lễ phép theo truyền thống Việt Nam.Tôi dạy mấy em vài bài dân ca Việt Nam và mấy em cùng hát với tôi. Một buổi sinh hoạt vui trong bầu không khí ấm cúng của Việt Nam.

Cộng đồng Việt có tinh thần đoàn kết, làm việc chung với nhau mỗi khi tổ chức Tết. Đó là một hình ảnh đẹp của cộng đồng Việt tại Bergen.

Lần này sang Bergen trong chương trình của đại hội liên hoan OI OI Festival mà tôi là nhạc sĩ Việt Nam duy nhứt, tôi cũng có dịp gặp lại mấy anh chị em trong giới văn nghệ để hàn huyên và thăm hỏi. Nho và Hồng cùng với vợ chồng nhà thơ Đăng Trình có tới xem tôi trình diễn muỗng trước nhà hàng Trond Moi cạnh bờ hồ ngay trung tâm thành phố hôm thứ bảy 26 tháng 5. Ngày 28 tháng 5, Nho và Hồng có mời tôi tới nhà dùng cơm trưa chung với vợ chồng anh Hoa là sui gia với Nho và Hồng. Anh chị Hoa có gặp tôi cách đây trên 20 năm tại tỉnh Drammen khi chúng tôi được mời sang diễn cho cộng đồng Việt. Hồi năm 2006 tôi có gặp lại anh Hoa tại Oslo. Đây là bữa cơm Việt ngon nhất và đặc biệt với món thịt bò lúc lắc thứ to, rồi tới món lẫu tôm, cá, mực, đử các loại rau, ăn với bún. Rượu đỏ thuộc loại thật ngon, đậm đà. Tráng miệng có chuối chưn. Đúng là một bữa cơm thịnh soạn hậu đãi bạn.

Đây là một đại hội liên hoan âm nhạc ngoài đường. Nghệ sĩ có thể là bất cứ ai: một người đi đường, một em bé, một ông cụ, ông thị trưởng, hay ông thủ tướng đều có thể trở thành nghệ sĩ trong khung cảnh của đại hội nhạc liên hoan này. Mỗi ngày ở các con đường trong thành phố Bergen có thể trở nên một sân khấu. Ole Hamre là người điều khiển đại nhạc hội OI OI. OI OI là chữ Na Uy để bày tỏ sự ngạc nhiên, sự thất vọng trước một sự việc, một biến cố. Vì vậy có những tiết mục rất mới lạ.

FOLKOFONEN

Đây là một chương trình dùng máy vi tính thực hiện với 4 màn ảnh nhỏ có thể thay đổi hình tùy theo sự xếp đặt trên các phím đàn synthetizer. Người thực hiện đi thu nhiều loại giọng khác nhau từ giọng đứa trẻ nhỏ từ 3 tới 5 tuổi, tới các em nhỏ 10 tuổi tới 13 tuổi, các phụ nữ thuộc nhiều quốc gia sinh sống trên đất Na Uy, các ông bà cụ già, và ngay cả ông thị trưởng của thành phố Bergen và luôn ông thủ tướng xứ Na Uy. Mỗi người hát một nốt nhạc ở một cao độ lựa chọn. Sau đó người sáng tác nhạc sẽ pha trộn tùy hứng giữa hàng trăm giọng khác nhau tạo thành một bài nhạc rất lạ lùng. Có khi nghe êm tai, có khi nghe chõi tai, có khi rất hài hước tạo những trận cười cho người đứng nghe.

Chương trình này được trình diễn mỗi buổi chiều lúc 20giờ 15 trong tủ kính của một trung tâm thương mại SUNDT lớn nhứt ở Bergen.

HOYSANG - Giọng hát từ các tòa cao ốc xung quanh hồ ngay trung tâm thành phố.

Ole Hamre mời 4 ca sĩ thuộc 4 truyền thống giọng khác nhau để hát từ 4 tòa nhà thật cao tượng trưng bốn hướng Đông Tây Nam Bắc. Ở đây không phải là dùng lời nhạc mà chú trọng nhiều về giọng hát. Tiếng ngân nga kéo dài của giọng Ả rạp, tiếng gọi bò của Na Uy nghe thanh thót, cao vút cũng như tiếng hát Yoik của người Sami dập dìu kế tiếp bằng giọng bồi âm trong như tiếng sáo hay thật trầm rùng rợn của người Mông cổ và Tuva miền Tây Bá lợi á một bầu trời âm thanh vào mỗi buổi chiều từ 18 giờ tới 20 giờ ở ngay trung tâm thành phố được phóng thanh vang khắp cả một khu của thành phố Bergen và vọng tới những nhà ở trên sườn đồi bao quanh thành phố. Đây là một ý kiến rất mới lạ vì không ai thấy người hát đâu cả, chỉ nghe giọng hát phát xuất từ trong không gian rộng lớn. Đó là một sáng tạo mới của đại hội liên hoan nhạc ngoài đường năm 2007.

Tôi không ngờ được mời vào trong chương trình này. Ngày đầu tiên gặp nhau để bàn về việc phối hợp 4 giọng này lại với nhau. Anh Ailus Gaup ở miền cực Bắc xứ Na Uy phải đi xe hơi hơn 200 km mới tới một nơi có phi trường để lấy máy bay. Rồi đi tới Oslo và từ Oslo đi Bergen. Vì không có nhiều chuyến bay nên anh ấy tới Bergen vào lúc 22giờ30. Do đó buổi gặp nhau được tổ chức tại nhà hát Grieghallen vào lúc 23 giờ. Mỗi người cho nghe giọng và kỹ thuật của mình. Anh Ole Hamre đề nghị mỗi người hát 45 giây một mình rồi sau đó hòa chung 4 giọng với nhau.

Sau khi tập dượt thử thì tôi đề nghị là không thể trộn các giọng lại với nhau vì nghe hơi «chướng tai» và không có gì mới lạ. Tập đi tập lại hơn 1 giờ thì tạm xong việc phân chia giọng và trình tự tiếp nối với nhau.

Tôi được mời tham dự chương trình này cùng với 3 ca sĩ khác. Ali Al Badri, người xứ Iraq có giọng hát cao, trong, mạnh để vang lên lời cầu nguyện đọc kinh Coran thường được nghe tại các xứ Trung Đông và tượng trưng miền Nam. Cô Benedichte Mausseth, người Na Uy, dùng giọng nữ thật mạnh và cao vút để gọi các thú vật theo truyền thống Na Uy thời xưa, tượng trưng miền Tây phương. Anh Ailus

Gaup, người xứ Sami, một dân tộc miền Bắc vùng Bắc Âu, sử dụng giọng trong loại hát JOIK đặc biệt của dân tộc này, tượng trưng miền Bắc.

Còn tôi dùng giọng đồng song thanh của Mông cổ / Tuva của Trung Á, đại diện cho vùng Đông phương. Tôi không biết ban tổ chức vì lý do nào để lựa 4 loại giọng này. Kết quả rất thành công vì qua cách phát âm và giọng khác nhau về màu sắc đã làm vang một khung trời thành phố Bergen. Dân chúng đi ngoài đường ngạc nhiên thốt ra «OI» khi nghe âm thanh lạ vang dậy mà không biết từ góc nào của thành phố. Họ ngướng mắt nhìn lên trời như tìm kiếm nơi phát xuất từng loại giọng chỉ kéo dài mỗi giọng có 45 giây tới 1 phút. Rồi tiếp theo một giọng khác.

Chương trình bắt đầu mỗi ngày từ 18 giờ tới 18giờ 06, rồi lặp lại lúc 19giờ và 20 giờ. Dân chúng đi ở ngoài đường xung quanh hồ, hay ngay cả những người ở xung quanh khu đó đều có thể nghe các giọng hát này. Mỗi giọng đều có máy phóng thanh làm vang lớn cả một khu thành phố. Bốn tòa nhà cao được lựa chọn: nhà hát lớn Grieghallen (phòng hòa nhạc lớn nhất thành phố), viện bảo tàng nghệ thuật (Bergen Kunstmuseum), tòa nhà Handelen chuyên về thương mại, và tòa thị sảnh (Bergen Radhus). Tôi đứng ở tầng chót (thứ 14) của tòa thị sảnh, cao 100m, cao nhất thành phố. Nơi đây có thể nhìn thấy phong cảnh của toàn thành phố Bergen.

Người đi đường vào thời điểm ấn định của chương trình bỗng nghe một giọng hát lạ lùng tiếp nối với những giọng hát mà có thể họ chưa nghe bao giờ vang vọng lên giữa bầu trời quang đảng hay u ám (thời tiết ở Bergen rất bất thường, có khi đang nắng bỗng nhiên trời đổ mưa xuống). Việc phối hợp bốn loại giọng này là một sáng tạo của OI OI Nhờ đứng trên cao nên âm thanh vang rất xa tới mấy cây số.


Một hôm vào ngày 29 tháng 5, tôi hát xong thì cô hướng dẫn đi theo giúp tôi có được một giáo sư dạy nhạc ở trường đại học Bergen gọi điện thoại muốn gặp tôi vì ông ấy nghiên cứu về giọng và đặc biệt là về hát đồng song thanh. Tôi cho hẹn vào sáng hôm sau tại khách sạn nơi tôi trú ngụ.

Ông ấy tới đúng giờ hẹn và tự giới thiệu tên là Michael (tôi không biết rõ họ ông ấy). Tôi mời ông lên phòng của tôi và minh họa giọng hát đồng song thanh với máy vi tính có bộ phần mềm cho thấy các bồi âm hiện ra như thế nào. Ông ta vô cùng thán phục và muốn mời tôi tới trường ông dạy để nói chuyện với sinh viên về bộ môn này. Tôi trả lời rằng tôi không thể làm việc khác vì đã ký hợp đồng làm việc với đại hội liên hoan. Nếu ông ta muốn thì có thể mời tôi lần tới do trường đại học bảo trợ. Ông đồng ý và xin hẹn tôi một dịp khác trong tương lai.

Festival OI OI còn có những chương trình với ban hợp xướng trẻ em với hàng trăm đứa trẻ hát những bài hát dân ca hay tân nhạc tại một địa điểm ngay trung tâm thành phố. Tuần lễ thứ nhì của đại hội liên hoan được trời nắng đẹp nên thiên hạ đi cùng đường rất nhộn nhịp. Ngoài ra có một chương trình với 14 chiếc xe hơi bốp kèn đủ cao độ làm thành một bản nhạc hay và lạ. Một chương trình khác là dùng các vật liệu trong nhà bếp như soon, nồi, dao, thớt bầm thịt, vv…cắt rau hòa với tiếng bắp rang trong nồi rất được dân chúng tán thưởng. Những sinh viên của âm nhạc viện của thành phố Bergen tập dượt với các dụng cụ nhà bếp, mặc quần áo nhà bếp gõ nhịp với nhiều tiết tấu tạo thành đa tiết giống như các loại nhạc pop, hip hop.

Khán giả vừa nghe vừa nhún nhảy theo điệu nhạc rất linh động. Tôi biểu diễn, màn gõ muỗng gặt hái những tràn pháo tay nồng nhiệt vì không ai có thể tưởng tượng rằng với một cặp muỗng có thể tạo nhiều âm thanh lạ lùng và linh động như vậy.

Năm nay thành phố Bergen có ba đại hội liên hoan âm nhạc: Nattjazz Festival chuyên về nhạc Jazz từ 23 tháng 5 tới 3 tháng 6, chỉ diễn buổi tối thật khuya từ 23 giờ tới 2 giờ sáng mỗi đêm. Nordiske Impulser / Festspillene i Bergen (FIB) chuyên về nhạc cổ điển Tây phương và OI OI festival chuyên về nhạc và nghệ thuật ngoài đường cho dân chúng xem, đặc biệt là hoàn toàn miễn phí trong khi hai Festivals kia thì phải trả tiền khá mắc.

Mỗi ngày đài phát thanh Radio 1của thành phố Bergen mời nghệ sĩ diễn của ngày hôm đó tói đài để phỏng vấn. Chương trình của chúng tôi với 4 ca sĩ được mời vào ngày thứ năm 24 tháng 5 để phỏng vấn

trực tiếp vào lúc 8giờ30 sáng. Họ phỏng vấn từng người và mời hát một đoạn ngắn. Tới phiên tôi hát đồng song thanh thì họ hỏi nhiều câu hỏi và tôi biểu diễn nhiều loại giọng kéo dài cả 5 phút trong khi những người kia chỉ có 2 phút thôi.

Đài truyền hình quốc gia NRK có hai đài chánh: NRK 1 và NRK 2 chiếu trên toàn quốc. Họ tới Bergen để làm phóng sự và thực hiện phim tài liệu về những đại hội liên hoan âm nhạc để chiếu trong tương lai. Ngoài ra họ làm phóng sự mỗi ngày.

Tôi được mời lên phỏng vấn về hát đồng song thanh vào ngày 28 tháng 5 để chiếu vào ngày hôm sau (29 tháng 5) trên toàn quốc. Tôi biểu diễn màn độc tấu rồi sau đó song tấu tùy hứng với anh Ailu Gaud, người Sami thuộc sắc tộc miền Bắc Âu. Anh ấy vừa hát loại JOIK với trống còn tôi hát đồng song thanh với đàn môi Mông nghe rất huyền bí.Những người làm cho đài truyền hình rất ngạc nhiên và thích thú khi nghe tôi hát đồng song thanh với hai kỹ thuật: một kỹ thuật với giọng bồi âm cao và một kỹ thuật với giọng thật trầm. Người phỏng vấn đặt nhiều câu hỏi để cho tôi giải thích cho khán giả Na Uy biết về loại hát này. Nhiều người Việt Nam bạn của tôi được báo tin và có xem chương trình rất hãnh diện có người Việt Nam tham dự đại hội này. Một số người Na Uy đã gọi cho ban tổ chức ngõ ý muốn gặp tôi. Có một giáo sư đại học của trường đại học Bergen đến gặp tôi tại khách sạn sau đó để hỏi thăm về cách luyện giọng như thế nào vì ông ấy nghiên cứu về giọng và có nghiên cứu hát đồng song thanh nhưng không biết cách hát cho đúng truyền thống. Tôi có mang theo máy vi tính laptop có chương trình đo âm thanh nên tôi có dịp giải thích rõ ràng qua hình ảnh trên máy vi tính.

Chuyến đi này đã lưu lại cho tôi nhiều kỷ niệm khó quên. Ngoài việc trình diễn thành công tại đại hội liên hoan OI OI Festival, tôi còn có dịp gặp gỡ cộng đồng người Việt tại đây, tham gia sinh hoạt của họ và biết thêm sinh hoạt cũng như đời sống ngưòi Việt tại Bergen.

Hy vọng rằng những chuyến đi khác cũng mang lại cho tôi những thành quả như thế.

Trần Quang Hải (mùa hè, 2007)

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

Image

Vương Niệm Kim Cương của Hoàng Hậu Italy làm ra năm 1895 trị giá 800.00 Euro sẽ được mang ra bán đấu giá ở London

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

HẠNH PHÚC TRONG .... BẤT HẠNH
Nam Lộc, Jun 07, 2007
Tin thượng viện Hoa Kỳ đã không đồng nhất để tiếp tục thảo luận những đề nghị cùng các phương án cải tổ hệ thống di trú và tự mình hủy hoại dự luật S. 1348 vào lúc hoàng hôn của ngày thứ Năm mùng 7 tháng Sáu, 2007, đã làm cho cộng đồng người Mỹ gốc tỵ nạn Việt Nam đang và sẽ bảo lãnh gia đình thở phào nhẹ nhõm vì giấc mơ đoàn tụ gặp lại người thân vẫn còn là niềm hy vọng tràn trề trong tâm khảm của họ. Nhưng niềm “hạnh phúc” đó đã bị che phủ bởi nỗi thất vọng và buồn tủi của gần 12 triệu người di dân không giấy tờ hợp lệ. Họ sẽ tiếp tục phải sống trong “bóng tối”, sống bên lề xã hội. Tiếp tục phải chịu những đắng cay của cuộc đời, chịu bị bóc lột sức lao động, chấp nhận phải làm những công việc nghèo hèn, vất vả mà “những công dân Mỹ không ai muốn làm” (nguyên văn lời tổng thống Bush).

Là một nhà vận động lập pháp và cố vấn di trú, tôi một mặt rất vui vì những điều khoản bất công của dự luật sẽ không còn được đem ra áp dụng, điển hình là một đề nghị “bất nhân” khi họ sắp đặt thời điểm áp dụng để loại bỏ quy chế bảo trợ gia đình theo thứ tự ưu tiên là ngày 1 tháng 5, 2005. Và bồi thêm một đòn khá nặng là đã đánh bại tu chính án 1194 của thượng nghị sĩ Robert Menendez (D-NJ), khi ông chỉ xin dời đến ngày 1 tháng Giêng, 2007 mà thôi! Nhưng bên cạnh đó, những “ác tâm” của các nhà làm luật cùng một số viên chức hành pháp có trách nhiệm soạn thảo dự luật cải tổ hệ thống di trú nói trên đã vô tình hay cố ý thể hiện một cách khá rõ ràng qua một số điều khoản sau đây của dự luật:

1. Khi đưa ra điều kiện đòi hỏi đương đơn (người di dân bât hợp lệ) phải chứng minh là có công ăn, việc làm và phải chứng minh là đã đóng thuế lợi tức thì xem như chính phủ cùng quốc hội HK đã mặc nhiên công nhận là có những chủ nhân đang phạm luật vì thuê người bất hợp pháp, nhưng luật pháp cứ “lờ” đi để họ tiếp tục phục vụ cho nền kinh tế Mỹ, dựa vào sức lao động rẻ mạt của những công nhân không có giấy tờ (undocumented alien).

2. Điều kiện đòøi hỏi đương đơn phải đã và đang sống liên tục sống ở HK, bằng cách chứng minh qua biên lai thuê mướn nhà, điều này đã vô tình thừa nhận tính cách “hợp pháp” của việc cư trú “bất hợp pháp”. Vấn đề là cấp cho họ một mảnh giấy tùy thân hợp lệ mà thôi.

3. Qua những lời tuyên bố của tổng thống Bush như: “...đây là công việc mà những công dân Mỹ không ai muốn làm” hoặc “... kẻ nào nghĩ rằng có thể trục xuất 12 triệu di dân bất hợp lệ đang sống cùng một xã hội với chúng ta hiện nay là những người có đầu óc không thực tế!” v..v.., thì xem như ông Bush đã công nhận rằng đây là một vấn nạn, sớm muộn gì cũng phải giải quyết!

Chúng ta hãy đặt mình vào hoàn cảnh bất hạnh của những người di dân xấu số đó để thông cảm hơn khi giao tiếp với họ. Sau gần 20 năm sống trong bóng tối, nay tia hy vọng vừa hé lên ở cuối đường hầm thì lại bị dập tắt một cách tức tưởi. Nếu là người đã từng mang thân phận di dân hay tỵ nạn, thì chắc ai trong chúng ta mà không hiểu rõ hoàn cảnh hoặc tâm trạng này.

Qua hai tuần lễ bàn cãi về dự luật cải tổ hệ thống di trú tại thượng viện, dường như mọi người ai cũng đều nhận ra một điều rằng, tất cả đều là nạn nhân của những thủ đoạn và trò chơi chính trị. Thành tâm của tổng thống Bush đã bị nghi ngờ bởi chính những vị dân cử đồng đảng Cộng Hòa, họ cho rằng ông đang ở cuối nhiệm kỳ nên chẳng có gì phải mất mát! Trong khi đó khối Dân Chủ tuy đa số, nhưng lại quá đòi hỏi và tạo ra nhiều dị biệt, mà theo tôi họ thiếu những nhà lãnh đạo tài giỏi và khéo léo. Mùa bầu cử tổng thống lại sắp đến, người ta đã thấy xuất hiện nhiều chính khách mị dân hơn là lòng yêu nước chân thành.

Tương lai của kế hoạch cải tổ hệ thống di trú mà nhiều người cho là đã quá lỗi thời và hủ lậu của nước Mỹ sẽ đi về đâu? Thượng viện HK vừa bỏ qua một cơ hội lịch sử, liệu hạ viện có màng tới nó nữa hay không? Hay cũng chỉ xem những giọt mồ hôi và nước mắt tủi hờn của 12 triệu người di dân bất hợp lệ tiếp tục đổ xuống như nước chẩy qua cầu.

Nếu bạn có vui, xin hãy ăn mừng hạnh phúc một cách kín đáo, vì bên cạnh chúng ta có hàng chục triệu người đang ... khóc!

Nam Lộc (June 7, 2007)

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Xin Đồng Bào Khắp Nơi Trên Thế Giới
Đồng Loạt Biểu Tình Ngày 22 Tháng 6
Để Yễm Trợ Tuyến Đầu Hoa Thịnh Đốn...

Thủ đô Hoa Thịnh Đốn chưa bao giờ tưng bừng như những tuần vừa qua, khí thế đấu tranh dâng cao. Tin ghi nhận cho biết, 2 tuyến đầu New York - Hoa Thịnh Đốn đã có một sự phối hợp nhịp nhàng. Trên 120 lực lượng, đoàn thể, đảng phái sẽ chia nhau về 2 chiến tuyến. Từ New York một số đồng hương và lực lượng tất cả trực chỉ Hoa Thịnh Đốn vào ngày 22 tháng 6 trước khi tất cả cùng kéo nhau về dự ngày Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế tại New York ngày 23 tháng 6 năm 2007. Nguyễn Minh Triết sẽ tới, chấp nhận sự đón tiếp lạnh nhạt của Mỹ. Công cuộc chuẩn bị "dàn chào" chủ tịch nhà nước Cộng Sản, đã được đại biểu các cộng đồng cho bật đèn xanh chuyển qua hoạt động.

Ngoài những điễm nóng của biểu tình như New York - Hoa Thịnh Đốn, Nam Bắc California, chúng ta cần có những cuộc biểu tình đồng loạt ở khắp nơi: Âu Châu, Úc Châu, Canada, bất cứ nơi nào có cộng đồng của người Việt chống Cộng, tạo một diện rộng lớn trong cuộc đấu tranh ôn hòa bất bạo động nhưng sức mạnh bao trùm cả thế giới, chưa từng có trong lịch sử. Xin tất cả cộng đồng Người Việt Tị Nạn khắp thế giới Xuống Đường ngày 22 tháng 6 năm 2006 để yễm trợ Hoa Thịnh Đốn. Đẹp biết bao nếu khắp nơi trên đất Úc - Pháp - Hòa Lan - Na Uy - Đông Âu cùng xuống đường đúng 12 giờ trưa - dù khác múi giờ...

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image


Thế giới ngày nay: Các băng hà của Himalaya mà tan hết thì hàng tỉ con người sẽ khốn đốn
Jun 11, 2007


Cali Today News - Bà Thủ Tướng Đức Angela Merkel của nước chủ nhà Hội Nghị G-8 xem vấn đề khí hậu toàn cầu là trọng tâm các cuộc đàm phán của các xứ công nghiệp hàng đầu và tin tức về rặng Himalaya sẽ cho thấy bà có lý ra sao.

Các nhà khoa học cho là các băng hà trên vùng núi rộng hơn 2 triệu km này có thể biến mất trong vòng 50 năm tới và hơn 1 tỉ người sống trong vùng này sẽ bị ảnh hưởng ngay.

Trong vòng 100 năm qua, người ta nhận thấy nhiệt độ bầu khí quyển trong 1 thế kỷ này đã tăng thêm 0.74 độ C. Đó là con số do trung tâm International Centre for Integrated Mountain Development (ICIMOD) loan báo trong một buổi hội thảo về đề tài khí hậu toàn cầu thứ hai này.

Nhưng ICIMOD cũng cho hay do sức ép quá lớn của hiện tượng nóng ấm toàn cầu, trong 30 năm qua, nhiệt độ trung bình của vùng Himalaya đã tăng thêm tới 0.6 độ C. Đó là con số không thể bỏ qua được.

Surendra Shrestha, Giám Đốc khu vực của cơ quan Environment Programme for Asia and the Pacific của Liên Hiệp Quốc, nhận xét: “chuyện này nghiêm trọng lắm đây, nó sẽ thay đổi cách sống của chúng ta đến căn bản đấy!”

Theo Shrestha thì nếu đà tăng của nhiệt độ trung bình của bầu khí quyển Địa Cầu cứ như hiện nay thì trong vòng 50 năm tới, vìng núi hiểm trở Himalaya không còn tuyết.

Hàng ngàn băng hà và băng sơn trong vùng núi hiểm trở này là nguồn cung cấp nước cho 9 dòng sông lớn của Châu Á và bán đảo Aán Độ, các sông này là nguồân nước cho 1,3 tỉ con người từ Pakistan đến Myamar, kể cả một phần Ấn Độ và Trung Quốc nữa.

Theo Andrea Schild, Tổng Gíám Đốc ICIMOD, cho hay sự biến mất các băng hà còn có nghĩa alà khả năng giữ nước của núi non vùng này sẽ bị giảm mạnh. Ngoài ra ông Schild cũng cho hay là các dòng sông sẽ chảy lộn xộn, tứ tung lên.

Nhiều lĩnh vực khác sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng vì băng hà tan như thế. Đầu tiên chắc chắn là hệ sinh thái của vùng này sẽ biến đổi vì không còn nhiều nước. Các nhà máy thủy diện sẽ ngưng hoạt động, các nền công nghiệp và nông nghiệp sẽ khốn đốn và toàn vùng rộng lớn sẽ trở thành vùng đất “nguy hiểm cho sự sống”.

Đó là chưa kể nạn tràn hồ. Viễn tượng này rất đáng sợ. Thường các hồ thiên nhiên chứa nước nhận nước một cách có điều hòa, nhưng khi băng tan ồ ạt, sẽ có thêm rất nhiều hồ được thành lập và các hồ này có thể vỡ nước bất cứ lúc nào và làm lụt lội một vùng rộng lớn phía dưới.

Ông Shrestha nói: “Nếu một trận dộng đất xảy ra thì sao? Chỉ cần 1 trận với cường độ nhỏ thôi, cũng sẽ khiến cho tất cả nước nôi nhào xuống cùng một lúc. Sườn núi vùng này thường gấp, cơn sóng nước sẽ giống như chiếc xe ủi bulldozer khổng lồ quét sạch tất cả!”

Ông nói như thế thì chẳng khác nào một cơn sóng thần Tsunami giết người trong im lặng!

Các viên chức tại cuộc hội thảo nhìn nhận có hơn 3,200 băng hà ở Nepal, trong số này có 14 băng hà đã tạo ra các hồ có nguy cơ vỡ bờ rất cao.

Theo Om Bajracharya, một nhà thủy văn học (hydrologist) hàng đầu của chính phủ Nepal thì khu vực có băng hà Khumbhu trong vùng có ngọn núi Everest lừng danh được nhiều ngàn du khách và các tay trèo núi đến mỗi năm, đã bị giảm diện tích đều đặn và lùi dần đến 30 mét từ năm 1978 đến 1995.

Hồng Quang theo the EpochTimes

KhanhVan
Posts: 800
Joined: Sat Dec 11, 2004 6:11 am

Post by KhanhVan »

Image Matunuska - Glacier - Alaska Những năm gần đây - Nhiệt độ trái đất nóng dần hơn - Đặc biệt năm nay . Những băng sơn trên Alaska đang tan dần ... Do đó mực nước biển dâng lên . Các vùng phụ cận cuả Low MainLand ( Vancouver ) đã được báo động - phòng bị những bao cát chống lụt .


Những hình ảnh thiên nhiên thật vĩ đại và đẹp tuyệt vời .
Alleluia ! Tạ ơn Thiên Chúa .
Con người thật bé nhỏ . Như hạt cát cuả sa mạc .Cuộc đời không có là bao . Hãy YÊU nhau đi . Anh Khiêu Long ơi .....!!!

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

KhanhVan wrote:Image Matunuska - Glacier - Alaska Những năm gần đây - Nhiệt độ trái đất nóng dần hơn - Đặc biệt năm nay . Những băng sơn trên Alaska đang tan dần ... Do đó mực nước biển dâng lên . Các vùng phụ cận cuả Low MainLand ( Vancouver ) đã được báo động - phòng bị những bao cát chống lụt .


Những hình ảnh thiên nhiên thật vĩ đại và đẹp tuyệt vời .
Alleluia ! Tạ ơn Thiên Chúa .
Con người thật bé nhỏ . Như hạt cát cuả sa mạc .Cuộc đời không có là bao . Hãy YÊU nhau đi . Anh Khiêu Long ơi .....!!!
HaHaHa....

Cô em Khánh Vân đi du lịch tứ xứ mãi đến hôm nay mới về há. Nghe ông Thịnh nhà tôi khoe rằng Khánh Vân đã trả hết cho người để mà dung dăng những tháng ngày còn lại , vì cuộc đời có là bao.... phải không? :) :) :)

Còn cái vụ yêu thì yêu vô tư đi chứ ngán gì , Nhưng mà yêu ai bây giờ nhỉ , không lẽ đi yêu cái ông Thịnh râu thì chán và tiêu đời chai già của anh mất thôi Khánh Vân ơi.... :lol: :lol: :lol:

User avatar
tieuvuvi
Posts: 2912
Joined: Sun Nov 26, 2006 1:29 pm
Been thanked: 3 times
Contact:

Post by tieuvuvi »

Nỗi Đau

Mũ Đỏ Bùi đức Lạc



Một sự thật... Từ lâu tôi muốn viết về đề tài này, nhưng chưa viết được, vì sự việc chưa ngã ngũ ra sao! Đến nay kể như không còn vớt vát được nữa, nên tôi cảm thấy thanh thản viết, tôi không muốn mang tiếng là phản bội, những em bé tật nguyền của xứ sở tôi, những em bé người ta cho là do ảnh hưởng tác hại của Chất Độc Da Cam?
Bây giờ không còn gì để nói nữa, vì việc ăn vạ không còn phù hợp với thời đại này, khi cần mẫu thử nghiệm, để chứng minh những em bé khốn khổ này bị tác hại vì nguyên do nào? Năm 2000 phái đoàn tìm hiểu sự thật, lúc đầu đã lấy được mẫu thử nghiệm, từ những nạn nhân được cho là bị ảnh hưởng bởi thuốc khai quang (thuốc độc da cam), nhưng khi ra đến phi trường, thì những mẫu thử nghiệm này bị giữ lại và kể từ đó chính nạn nhân cũng (được lệnh) từ khước luôn, không cho lấy mẫu tế bào cần thiết để thử nghiệm nữa, (có lẽ sợ các khoa học gia tìm ra sự thực, hay sợ các khoa học gia đổi mẫu thử nghiệm chăng? Yếu tố chính có lẽ là, sợ các khoa học gia khám phá ra rằng: Những trẻ em này bị tật nguyền là do cha mẹ uống rượu có pha thuốc giết rầy..v..v.. hay sì-ke, ma túy) nên dư luận quần chúng Hoa Kỳ cũng đã bắt đầu nghi ngờ từ đó, vì không có bằng cớ xác thực là những trẻ em vô tội này bị thương tổn vì đâu?
Thời nay không thể ngụy tạo bằng cớ được, nên đành thất bại. Ở các nước văn minh ngụy tạo được tin tức, xào xáo tin tức làm sao cho quần chúng tin tưởng vào tin tức của mình, là chiến thắng trong tầm tay, vì quần chúng có khi lái cả chính quyền theo ý của quần chúng, có khi dư luận quần chúng theo một chiều, không cần biết đúng hay sai!!! Chiến tranh Việt Nam là một dẫn chứng, nhưng khoa học thực nghiệm thì không thể ngụy tạo được! Các mẫu thử nghiệm không thể nào có kết quả khác được, cơ quan khác, quốc gia khác có thể làm lại để kiểm chứng dễ dàng, vì danh dự cá nhân, vì danh dự nghề nghiệp, vì danh dự quốc gia nên không ai cả gan, dám ngụy tạo kết quả trong phòng thí nghiệm.
Mùa Xuân năm nay, mùa Xuân hướng về tương lai dân tộc... Trở lại chuyện ngày xửa ngày xưa một khi cô gái nhà lành nói có bầu với vị thầy tu, lập tức vị thầy tu đó bị kết án ngay, người ta không cần điều tra hư thực, mà chỉ nghe rồi dựa vào lời khai để buộc tội, dựa vào tin đồn để kết án, một lý luận khôi hài do những người có quyền xử án lúc bấy giờ đưa ra; "tại sao cô ta không đổ tội người khác, mà cô ta lại đổ tội cho thầy, như vậy chắc chắn thầy phải có gì đó, không có lửa sao có khói được"; nhưng thời nay vu oan kiểu như vậy, không có thể tồn tại được, việc xác định bào thai đó của ai chỉ cần một cuộc thử nghiệm kết quả có liền trong ngày, việc xác định tội trạng phải có kết quả của khoa học thực nghiệm, không thể u u... mê mê được nữa!
Không biết ai có niềm lo âu về tội lỗi khác hay không? Nhưng đối với tôi thì tội phản bội có lẽ là nặng nhất, phản bội bạn bè, phản bội người yêu, phản bội người thương, phản bội quê hương dân tộc, phản bội lại trẻ thơ... Nói cho cùng đã ghép phải tội phản bội thì là người không đáng chơi nữa... Từ phản bội nó gây ra bao nhiêu tội ác tầy đình; năm đó nếu tôi còn đi học chương trình ở ngoài thì tôi học đệ tứ, vì hoàn cảnh tôi theo học bách nghệ đã được gần hai năm, một buổi sáng đầu hè năm 1953 đang trong giờ học lý thuyết với thầy Tín, nhìn qua cửa sổ ra ngoài thấy dân chúng lũ lượt, đi trên đường ngay trước trường học, đi về phía phố cũ và nhà ga xe lửa, cả thầy lẫn trò ai cũng tò mò nhớn nhác nhìn ra đường, đây là một hiện tượng lạ chưa bao giờ xẩy ra nơi thị xã nhỏ bé này.
Vừa tan lớp chúng tôi ùa ra hỏi thăm, mới biết được là: Dân chúng đi coi "Trăn cuốn người" ngay dưới khu phố cũ; cả lớp ai nghe tin này cũng đều ngạc nhiên như nhau và đặt dấu hỏi tại sao trăn lại có thể về khu phố cũ được, nếu trên phố mới gần rừng thỉnh thoảng còn nghe thú rừng lai vãng, còn phố cũ thì tuyệt nhiên không bao giờ thú rừng có thể về đó được, hỏi những người đã xem rồi đang ra về ai cũng chỉ mỉm cười, các cô gái che mặt thẹn thùng không trả lời, cô nào chịu chơi lắm cũng chỉ trả lời bâng quơ:
- Lại coi thì biết.
Đó chính là yếu tố làm chúng tôi phải "lại coi cho biết" mới được, cả lớp ùn ùn kéo nhau đi về hướng nhà ga theo đoàn người hiếu kỳ, trời nắng chang chang một vài cơn lốc nhẹ nhàng cuốn bụi than dưới đường, làm mọi người phải che mặt, nín thở cho cơn bụi than đen bay qua, tiếng ve sầu từ đồi thông vọng xuống như một ban nhạc lớn hòa vào lòng người nghe "khúc nhạc tương tư, bi ai".
Thế rồi chúng tôi cũng chen chân vào căn nhà chật hẹp, khu nhân công sở than trú ngụ, ôi "trăn cuốn người" còn đó, như một cuộc triển lãm có chủ đề, thân nhân đang chờ sở cẩm đến quyết định tận mắt, tang vật đầy đủ tại hiện trường, ai cũng bàng hoàng không phải trăn cuốn người mà là "chăn cuốn người".
Anh chàng phu mỏ còn rất trẻ, anh chàng xấu số này có cô vợ lẳng lơ, cứ mỗi ngày anh phải thức giấc lúc 4: giờ sáng chuẩn bị mọi thứ để rời nhà sau nửa tiếng sửa soạn, tới bến xe của sở đón nhân công đi Cọc Sáu, cho kịp giờ xe chạy lúc 5. giờ đúng như lịch trình đã định hàng ngày, theo người biết chuyện nói: "Anh chồng ra khỏi nhà mươi phút thôi, tức thì cô vợ mở cửa đón người tình vào nhà, dệt khúc gian phu dâm phụ", anh chàng gian phu này là lính của sở than, chuyên lo canh gác những khu cơ sở "nhà máy" của sở than, dân chúng thường gọi là "lính sở". Người chồng sau khi được cho biết tin chính xác như vậy, anh im lặng không lộ cho vợ biết mình bị mọc sừng, anh tự đặt kế hoạch! Hoạn Thành số một trên thế gian này, "hoạn thư là đàn bà, hoạn thành mới là đàn ông" giờ hành sự đã điểm, nên lúc 4 giờ rưỡi, thay vì ra bến xe của sở, để đón xe đi Cọc Sáu như mọi ngày, thì anh lại cầm cây choòng (xà beng) nhẹ nhàng leo lên mái nhà, xong nằm sấp trên mái ngay chỗ giường hai vợ chồng nằm, anh khoét một lỗ nhỏ nhìn xuống, pha cụp lạc bắt đầu, anh phóng ngay cây choòng bằng thép hình lục lăng dài trên 2 mét rưỡi, nặng khoảng chừng 10 kg đầu mài nhọn hoắt, cây choòng này hằng ngày anh dùng để đâm (đào) than trên sở làm, nó thông dụng như vậy, phu mỏ than đàn ông ai cũng cần nó, cho nên rất dễ mất, hàng ngày anh phải vác choòng đi rồi vác choòng về, nâng niu quí mến cây choòng, vì ngày ngày cây choòng này chính là cần câu cơm của anh, bây giờ anh phải xử dụng nó để thỏa mãn tự ái... Không biết anh chồng điều khiển làm sao mà cây choòng phóng xuống thật chính xác, nó xuyên từ lưng xuống ngực anh chàng lính sở, rồi xuyên qua ngực người vợ lăng loàn, còn sức cây choòng cắm xuống nền nhà bằng đất, sau đó anh chàng xấu số, nhưng thuộc loại ghen tương có tầm vóc này, không chạy trốn mà mở cửa tung ra, để cho mọi người chiêm ngưỡng cái tài dùng choòng của anh, không biết ai cám cảnh đã dùng chăn (mền) phủ lại nhưng chỉ phủ kín được lớp da dơ dáy phần dưới của hai người vì vướng cây choòng cắm sau lưng (giữa ngực) nên phần trên vẫn "trơ gan cùng tuế nguyệt", rồi người ta đồn lên là "trăn cuốn người".
Cái thị xã nhỏ bé dân cư lúc đó khoảng chừng vài chục ngàn người, đa số là dân chúng từ những vùng đang xẩy ra giao tranh thường xuyên, nên chạy lánh loạn về đây an toàn hơn, hoặc nhà cửa tan nát vì bom đạn không nơi trú ngụ, thì đây là nơi đất lành, có người cả làng bị đốt cháy bằng địa nên tha phương cầu thực tới đây kiếm sống qua ngày, cũng có thành phần du thủ du thực trốn tránh cảnh sát về đây sinh sống, đất lành chim tứ xứ về đậu, nên cái thị xã nhỏ bé này rất nhiều chuyện quái đản xẩy ra, ngày đó địa phương không có phương tiện truyền thanh, cho dù là chuyện nhỏ như cái tin "Trăn cuốn người" ấy vậy mà tin đồn loan ra khắp thị xã rất nhanh, ai cũng ùn ùn đi coi, khi coi rồi không ai có thì giờ nói sự thực cho người khác biết, vả lại cũng muốn người khác mắc hợm như mình, tôi lúc đó chỉ thấy người vợ mắt trợn trừng miệng há hốc nằm dưới thân xác anh lính sở, anh này đầu ngọe vào bên trong nên không trông rõ mặt, cả hai đã tắt thở từ lâu! Chiếc choòng còn cắm xuống đất nguyên hiện trường, chưa ai dám rút ra, trông thật ghê rợn, không hiểu sao máu không chảy chan hòa trên mặt đất.
Câu chuyện trăn cuốn người như vậy xẩy ra cách nay trên nửa thế kỷ rồi, không ai hiểu rõ nguồn cơn, cứ thấy người ta đồn thì mình cũng đồn như vậy, thậm chí có người không thấy không biết cũng nhất quyết là "trăn cuốn người", cái tin đồn như vậy rồi ai cũng cứ tin là đúng, thời xưa tin đồn làm hoang mang không phải là ít, nhưng thời nay vì có phương tiện truyền thanh, có các phương tiện khác mau chóng và chính xác, nên không còn là thời "chuẩn" của tin đồn nữa.

***

Năm 1971 chúng tôi tham dự cuộc hành quân Lam Sơn 719, qua Hạ Lào bằng đường bộ, rồi chúng tôi lui quân khỏi Bản Đông nam Lào cũng bằng đường bộ, đơn vị tôi kéo 18 cây súng đại bác 105 ly kiểu M102 đầy đủ trở về (xin vui lòng xem cuốn Cơn Uất Hạ Lào), ra tới Đông Hà ngày 27 tháng 3 năm 1971, tôi nằm quỵ xuống không dậy nổi, đi đứng phải có người dìu thật cám cảnh, ảnh hưởng bởi thuốc trị bệnh bao tử do tôi cho toa, rồi tự mình hốt thuốc, suốt 45 ngày trong Hạ Lào, lúc đó thuốc trị đau bao tử của quân đội không hiệu nghiệm một chút nào, suốt cuộc chiến liên tục ngày đêm phải suy nghĩ, làm sao để làm tròn nhiệm vụ của mình, trong lúc các đơn vị bên ngoài nổ súng có kết quả, nên cơn đau hành hạ tôi không ngừng nghỉ, đau đến dõa mồ hôi hột, đau đến nằm lăn lộn cũng vẫn đau, đau như thắt ruột, sau vì đau quá cứ ôm bụng rũ người mà chịu trận, thầy lang tây (Tính văn Trần hiện đang ở Houston, Texas) nhất mực đòi tản thương ra khỏi trận địa, đó không phải là phương pháp tốt nhất, tôi mới có một phương pháp (có nghiên cứu đàng hoàng), mỗi khi lên cơn đau... Một ly rượu "cô nhác" êm ngay lập tức, quả thật tôi phục tài trị bệnh của tôi quá, mỗi khi uống thuốc đau bao tử kiểu này đầu óc sáng suốt vô cùng, tôi nói cách trị bệnh của tôi cho mấy ông lang tây nghe, các ông ấy còn phục tôi hơn nữa! Tuy gục như vậy nhưng chỉ sau ba ngày uống thuốc có liều lượng (theo săn sóc ân cần của các thầy lang tây), ăn uống điều hòa tôi thấy cuộc đời thơ thới hân hoan trở lại, tôi sang nhận tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 2 pháo binh, cả đơn vị từ Hạ Lào ra không có về hậu cứ Sài Gòn nghỉ ngơi, chúng tôi đáp xuống phi trường Pleiku, vào căn cứ hỏa lực số 6 thuộc Tân Cảnh, Kontum tham dự "Trận Chiến 13 Ngày", sau khi thử lửa thấy sắt thép cũng còn khả quan chúng tôi về hậu cứ, lần này được nghỉ đàng hoàng, ngủ chưa quen giường là chúng tôi lên đường giải tỏa quốc lộ 22 từ Tây Ninh qua Thiện Ngôn tới Dambe của xứ Chùa Tháp và bây giờ là điều mà tôi thật sự muốn trình bầy cùng quí vị những điều tôi muốn nói một "Nỗi Đau" ray rứt tôi suốt hai mươi năm qua, mà làm sao viết cho đành, tôi muốn tâm sự với những người cần tìm hiểu về thuốc "Độc Hại Khai Quang Mầu Da Cam", tôi không giám trình bầy trong thuốc có những chất hóa học gì (công thức có ngay trước mặt đây) nếu viết vào cũng chỉ là (nghe hơi nồi chõ) xin dành phần này cho các vị khác có thẩm quyền hơn, nỗi đau còn hay không còn mới là điều đáng nói?
Tòa án liên bang Hoa Kỳ đã tuyên án, tôi nghĩ dù có kháng cáo cũng không đi đến đâu nữa, bên nguyên đơn đưa ra bằng cớ, trưng bầy đầy đủ hình ảnh các nhân chứng cho rằng nỗi đau của trẻ thơ do ảnh hưởng của chất độc da cam, nếu thời của "tin đồn" thì thắng là cái chắc, nhưng ngày nay cần mẫu thử nghiệm (cũng như phương pháp DNA vậy), những em bé tật nguyền có đó, nhưng lấy gì để chứng minh những em bé sống không ra người này, là do chất độc da cam gây ra! Người cha tự xưng là ông bị nhiễm thuốc độc Da Cam, nhân chứng xác nhận như vậy, loại nhân chứng này có hàng trăm người (thiếu gì chạy đầy đường). Quên rằng người khác cũng có thể nói, những em bé này bị tàn tật như vậy là do kết quả của các thứ độc hại khác gây ra! Dân tộc tôi ôi sao lắm nực cười! Thời này không còn áp dụng luật pháp, hay lý lẽ theo thời tin đồn nữa! Trẻ thơ bị tật nguyền đúng quá đi thôi, đầy rẫy khắp quê hương, một Nỗi Đau bất tận cần tìm phương pháp xoa dịu, hầu như phương pháp giáo dục cho cha mẹ nạn nhân chưa có, một phụ huynh cho biết "chị chưa nhận được một lời khuyên nên làm gì cho đứa con sau!"... Do đó Nỗi Đau có thể còn thêm nhiều nữa và do nhiều nguyên nhân gây ra mà lỗi là: Do cha mẹ khinh xuất, do thiếu thuốc men, do thiếu giáo dục, do thiếu nhà thương điều trị, do bệnh hoạn khác ảnh hưởng đến thai nhi, ngay cả do người mẹ bị hành hạ lúc mang thai, do di truyền và trăm nghìn nguyên do khác..v..v.. Những nước không chiến tranh không có rải thuốc khai quang, trẻ thơ vẫn bị tật nguyền và còn tệ hại hơn thế nữa, nếu quí vị đi du lịch sang nước khác kể cả các nước văn minh Âu Mỹ, không nói tới các nước Châu Phi vì các nước này không có chương trình giáo dục y tế rộng rãi cho dân chúng, nếu có lòng từ tâm xin mời vào các nhà thương nhi đồng dành cho các em bé đáng thương, quí vị cũng đã hoặc sẽ thấy nhiều trẻ thơ tật nguyền còn thê thảm hơn, nhưng có thử nghiệm và phân tích từng trường hợp và có kết luận, chẳng hạn như có em bị là do hậu quả của cha mẹ ghiền xì ke ma túy, có em tật nguyền do cha mẹ uống rượu quá nhiều, hay do ảnh hưởng bệnh hoạn về tình dục và rất nhiều nguyên do khác, đa phần do lỗi của cha mẹ, hoặc do di truyền..v..v.. Tôi được xem hình những cô gái Trung Quốc tật nguyền vì bó chân cho nhỏ lại, nhưng thời kỳ phát triển... Xương vẫn mọc ra "không theo ý người" làm thành tật nguyền không đi được nữa. Đặc biệt dân tộc tôi thời điểm này thì tật nguyền đều là do thuốc độc da cam cả!!! Cái mấu chốt của vần đề là không cho lấy mẫu "tế bào của chính nạn nhân" để thử nghiệm, hầu tìm ra nguyên do, các em xấu số này bị tật nguyền vì căn nguyên nào, mẫu thử nghiệm phải do chuyên viên thử nghiệm đến tận nơi lấy, không thể do bấy cứ ai cung cấp được, có chấp nhận như vậy mới là trò chơi văn minh, dù cho không may số phận ngắn ngủi nạn nhân vừa qua đời, thì cũng cần được giảo nghiệm để xác định nạn nhân do đâu mà phải chịu như vậy? Không thể tin vào lý luận của tin đồn được, càng không tin vào những nhân chứng, vì nhân chứng có hiểu gì đâu? Trong trường hợp bệnh hoạn như thế này tin vào nhân chứng được sao!? Người làm nhà thương Lao chắc gì mắc bệnh Lao, nếu họ phòng ngừa cho đúng lời khuyên (giáo dục), người làm nhà thương Điên có thể mắc bệnh Điên hay không?
Trung tuần tháng 7 năm 1971 nguyên một Lữ Đoàn Nhảy Dù tham dự hành quân, chúng tôi có mặt dọc theo quốc lộ 22 chạy từ Tây Ninh sang Campuchia. Bộ Chỉ Huy đóng ngay bên ngoài căn cứ Thiện Ngôn, Tây Ninh. Đây là lần thứ hai chúng tôi nhìn thấy rõ ràng thuốc khai quang trải bằng máy bay C123. Tôi xin thứ tự trình bầy hai lần này: Máy bay chỉ trải thuốc khai quang ở hai bên trục lộ, chiều ngang mỗi bên đường bị trải thuốc khai quang rộng khoảng từ hai cho đến ba trăm thước tây, không trải vào sâu trong rừng, chúng tôi vào mật khu được gọi là "bất khả xâm phạm" không thấy có dấu hiệu thuốc khai quang, nhưng nhiều mật khu khác có dấu hiệu có thuốc khai quang.
Nói một cách rõ ràng, bất cứ mật khu nào, hay bất cứ một nơi nào, muốn rải thuốc khai quang đều phải có quân ta ở dưới, tại sao như vậy? Tôi xin được trình bầy ở đoạn sau... Hai lần này thuốc khai quang đều làm chúng tôi phải ướt nhẹ trên áo, giống như quí vị phải đi dưới mưa phùn vậy.
Đây là lần quan trọng nhất, rõ ràng nhất vì chúng tôi "bợ nguyên mâm" là lần nguyên Lữ Đoàn Nhảy Dù với quân số trên hai ngàn người đều phải uống nước có thuốc khai quang trong đó, Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù ngay bên cạnh căn cứ Hưng Đạo tức là giữa Thiện Ngôn và Trại Bí, Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù giữa căn cứ Phù Đổng (Peace) và căn cứ Thiện Ngôn, Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù tại căn cứ Phù Đổng (biên giới Miên Việt) nhưng quân trải dài đến gần ngã ba vào Dambe, vì là hành quân giải tỏa quốc lộ 22, nên tất cả các đơn vị chỉ trải quân dọc theo hai bên quốc lộ này, chúng tôi làm đầu cầu an toàn cho Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù, Lữ Đoàn 3 trong đó có Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù (anh Nguyễn đình Bảo làm tiểu đoàn trưởng), hợp cùng thiết giáp tấn công vào Dambe, vấn đề nước uống chúng ta phải tự túc không như quân đội đồng minh, quân ta gặp đâu có nước là uống, vì vậy nguyên Lữ Đoàn mở đường phải uống nước có chứa sẵn tại các hố bom, đã được (mưa) thuốc khai quang xuống những hố nước này, nên ai cũng đều ăn uống cả tháng trời bằng nước có chất khai quang (chất độc da cam), tôi không hiểu người dùng chữ bị ảnh hưỡng bởi chất độc da cam là như thế nào? Như thế nào mới là ảnh hưởng? Còn chúng tôi phải hít thở khi chất độc da cam đang bay trên trời, chất độc da cam ngấm vào áo quần, thấm vào thân thể, ngoại trừ đầu đội nón sắt, phải uống nước có chất độc da cam trong nước, phải ngủ nằm trên mặt đất có chất độc da cam, không biết như vậy có là ảnh hưởng hay chưa?
Còn một lần khác nó xẩy ra từ năm trước, lần này là lần đầu tiên nhưng nhẹ nhàng thứ yếu, chúng tôi cũng bị thưởng thức chất độc da cam tương tự, tức là vào khoảng trung tuần tháng 6 năm 1970 (có thể sai một vài tháng), chúng tôi Lữ Đoàn 3 phải đi bằng đường bộ từ Tây Ninh (núi Bà Đen) qua cứ điểm Barbara đến Kà Tum để chuẩn bị tấn công vào Trung Ương Cục Miền Nam, con đường này mìn bẫy tương tự như Cầu Kè ở Vĩnh Bình, hay như con đường dọc theo bờ Phá Tam Giang, mà chúng tôi đã được nghe ai đặt cho mỹ từ rất thơ mộng "Dẫy Phố Buồn Hiu" thuộc Phong Điền và Quảng Điền, Thừa Thiên. Trong lúc đang tiến quân thì thuốc khai quang cũng rải trên đầu tương tự, nhưng không có đơn vị nào của Việt Nam đi hai bên đường, lúc đó đơn vị chịu trách nhiệm đi hai bên đường là Lữ Đoàn 1 Không Kỵ Hoa Kỳ, sở dĩ như vậy vì Quân Đội Hoa Kỳ không được tiến quân qua Campuchia, (quốc hội Mỹ đang trong tay Đảng Dân Chủ làm áp lực nặng nề với chính quyền Đảng Cộng Hòa, không cho quân đội Hoa Kỳ vượt biên) nên quân đội Hoa Kỳ trách nhiệm giữ an ninh nội địa, chỉ có chúng tôi tiến quân qua Campuchia, nhưng Bộ Chỉ Huy của LĐ3ND và TĐ1PBND thì bị lãnh đủ vì thuốc khai quang, trong lúc đang di chuyển đến Kà Tum, lần này chỉ bị ướt và hít thở phải thuốc độc da cam, nhưng không phải bị uống nước, cũng như không phải nằm ngủ trên thuốc độc da cam. Khi rải chất độc da cam, máy bay phải bay ở cao độ rất thấp "nhìn rất rõ phi công" vì sợ thuốc bay không đúng ý nên không phải lúc nào muốn bay thì bay, muốn rải lúc nào thì rải, nếu đi rải thuốc như vậy, phải bay chậm và thấp, mà có Bộ Đội ở dưới chỉ cần một viên đạn của súng cá nhân thôi (AK 47) là máy bay bị tiêu tùng ngay.
Cho nên khi rải thuốc khai quang máy bay, phải bay rất thấp, để thuốc rớt đúng nơi mong muốn, nếu bay cao gió thổi bay thuốc đi nơi khác; đó là lý do dưới đất phải có quân bảo vệ, vì bay theo trục lộ mà bay thấp là dễ dàng bị hạ; theo tôi nghĩ bộ đội Cộng Sản nếu có bị ảnh hưởng cũng chỉ bị ít mà thôi, vì máy bay rải thuốc chỉ hoạt động khi có quân ta ở dưới giữ an ninh cho họ, bộ đội không giám đóng quân sát đường, họ thường ẩn núp sâu trong rừng, họ chỉ xuất hiện bên các trục giao thông khi chuẩn bị một chiến trường mới và ở đó không quá một ngày là rút ngay, (chiến lược, chiến thuật Tứ Khoái Nhất Mãn của Mao Trạch Đông, được họ coi là sách chỉ đạo chiến tranh của bộ đội miền bắc mà) chỉ có QLVNCH và quân đội Đồng Minh mới chịu trận, thuốc khai quang lâu ngày mà thôi! Chúng tôi không quả quyết thuốc khai quang vô hại, nhưng chúng tôi chưa thấy ai bị thương tổn vì loại thuốc này, cũng như con cháu chúng tôi không thấy bị ảnh hưởng, nếu có chắc vài đời sau nữa! Còn Bộ Đội Cộng Sản Việt Nam trong mật khu, có thể cũng có va chạm với thuốc khai quang khi thuốc đã trải xong, và thuốc đã nằm im dưới đất.
Sang đây niên trưởng Trần Quốc Lịch lúc đó chỉ huy LĐ2ND, anh Nguyễn Chí Hiếu lúc đó là chỉ huy TĐ5ND, anh La Trịnh Tường lúc đó chỉ huy TĐ1ND và tôi lúc đó chỉ huy TĐ1PBND, chúng tôi đều đang sống tại Califotnia, chúng tôi đều trên dưới 70 tuổi, vẫn khỏe mạnh đánh quần vợt còn khả quan, riêng cố Đại Tá Trần Văn Sơn lúc đó chỉ huy TĐ3ND đã hy sinh tại chiến trường miền trung vào thời điểm gần cuối tháng 4 năm 1975, tôi viết bài này muốn cho những ai cần tìm hiểu, biết rằng thuốc độc da cam có tệ hại chăng nữa thì cũng không ghê gớm như tin đồn, bài này viết sau hơn một năm khi đã có phán quyết của tòa án liên bang Hoa Kỳ, tôi không còn bị mặc cảm là phản bội dân tộc, phản bội quê hương, phản bội các em bé tật nguyền đang nằm ăn vạ, vì cuộc chơi "tin đồn" đã qua, nếu chúng ta muốn kháng cáo cho có kết quả chúng ta phải chấp nhận luật chơi văn minh, phải có tế bào của các người mắc bệnh để thử nghiệm, có khi còn phải lấy mẫu thử nghiệm đến vài ba lần mới có kết luận vững chắc được, thanh niên Việt Nam ở vùng do bộ đội Cộng Sản kiểm soát trước năm 1975, và toàn nước Việt Nam sau năm 1975 đã uống biết bao nhiêu loại rượu sản xuất bằng các môi tác "thuốc giết côn trùng, thuốc giết chuột, và các chất độc khác như (bột hàn gió đá) chẳng hạn" mà các ổ rượu lậu này đều được đỡ đầu nghiêm chỉnh, sự tác hại của các loại rượu này cũng chưa ai nhắc đến, nếu chúng ta cương quyết nhận định rằng các em thiếu nhi bị tàn tật là do "chất độc da cam", thì chúng ta phải chấp nhận luật chơi văn minh, phải đồng ý cho chuyên viên đến lấy mẫu tế bào nạn nhân tại chỗ, cứ yên tâm không ai đổi mẫu tế bào này đâu! Đâu phải trò đùa, còn quốc tế nhắm vào nữa! (Hiện nay Trung Hoa Cộng Sản cũng có khả năng làm thử nghiệm này, tại sao không làm?). Sở dĩ phái đoàn thử nghiệm họ không thử nghiệm tại chỗ được vì không đủ phương tiện, nên phải mang mẫu thí nghiệm này về phòng thí nghiệm có đầy đủ phương tiện; các phòng thí nghiệm này đôi khi là của tư nhân chứ không phải của chính quyền, nên không có chuyện gian dối đâu ạ! Ở ngoại quốc lâu có thể hơi chủ quan chăng? Tôi chưa hề thấy các chuyên viên này gian lận như tin đồn, mong rằng "Nỗi Đau" sẽ được chấm dứt và bạch hóa cho dân tộc chúng ta, để các nạn nhân được chữa trị không nằm ăn vạ nữa "chờ vạ thì má đã sưng" ĐAU LẮM quí vị ạ, "nỗi đau" ngoài da còn chưa trị, biết bao nhiêu "nỗi đau" khác cứ luẩn quẩn chung quanh, cứ nói quanh co thì hay lắm, nhưng thực tế vẫn phũ phàng, chúng ta hãy gãi lưng chúng ta thử xem có làm được trọn vẹn hay chưa.
Làm sao bắt tay nhau đây, khi suy nghĩ và ăn nói vẫn khác nhau một trời một vực, những thương bệnh binh trong hàng ngũ QLVNCH hiện nay bị đối xử thua thiệt, khác xa với những thương bệnh binh của bộ đội Cộng Sản Việt Nam, nếu không muốn nói là đang bị kỳ thị, miệt thị; ngay cung cách đối xử với người chết cũng vẫn còn đòn phép, không cho vào thăm mộ các tử sĩ của miền Nam, không lẽ nghĩa trang (của đối phương) cũng là khu bí mật quân sự hay sao? Hay sợ dân chúng căm thù vào phá nghĩa trang theo thời tin đồn? Chúng ta có quyền nghi ngờ trong nghĩa trang đã có những trò trả thù nhơ nhớp, những trò trả thù của thời tin đồn có thể vẫn còn đang diễn ra trong Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa, "ngày nay thuộc về Thủ Đầu Một" những trò gian dối chỉ nên áp dụng cho thời "tin đồn" mà thôi, thời nay nếu muốn cùng nhau xây dựng quê hương, chúng ta phải tập thành thật với nhau! Phải công bằng với nhau cho các anh em thương phế binh được đối xử nghiêm túc.
Sau cuộc nội chiến tại Hoa Kỳ, quân đội đôi bên người còn sống, kẻ bị thương đều được đối xử ngang hàng với nhau, không có bị tù đầy, khổ sai, cải tạo; người tử trận đôi bên đều có thể được chôn chung nghĩa trang quốc gia Arlington. Nhờ cách đối xử đó, nước Mỹ sau chiến tranh còn nguyên chất xám, nước Mỹ mới hùng mạnh như ngày hôm nay, nhờ người thua không cảm thấy bị lép vế, kẻ thắng không trên chân, cùng nắm tay nhau xây dựng lại quê hương đổ nát vì chiến tranh, cùng sánh vai nhau tiến bước theo kịp đà văn minh của nhân loại. Nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam nên mở mắt nhìn cao hơn (chiếc ghế đang ngồi), mánh lới (thời tin đồn) chỉ có thể đạt được chiến thắng nhất thời, muốn xây dựng quê hương phải thành thật với nhau, đầu óc phải mở rộng, lớp trẻ đầy nhiệt huyết đang sẵn sàng xây dựng quê hương, và chúng tôi lớp người già, đang muốn xoa dịu lại vết thương cho dân tộc Việt Nam thân yêu của chúng ta, chúng ta phải tỏ tình thân bằng hành động, không bằng lời nói điêu ngoa được...

=END=
Image

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

NGÀY LỄ TỪ PHỤ, NGHĨ VỀ NHỮNG NGƯỜI CHA CÔ ĐƠN.


Chu tất Tiến., Jun 12, 2007


Trên một tờ báo điện tử, người ta đọc thấy một câu chuyện xúc cảm đầy nước mắt, tuy không hề nghe thấy một tiếng khóc. Một nhân viên người Việt còn trong giai đoạn tập sự tại một tỉnh trên miền Bắc xa khuất, nhận lời đến giúp một nhà hưu dưỡng hẻo lánh ít người thăm nom. Con đường đi vào căn nhà hưu dưỡng này quanh co và khúc khuỷu, chỉ có tiếng than van rền rĩ của rặng thông già âm u và cằn cỗi. Khi anh thanh niên này đến nơi và bắt tay vào việc, anh nhận ra có một ông già cứ ngồi trên xe lăn mà quay lưng vào trong, với một thái độ im lặng buồn bã. Anh đã đến gần và nhận ra đó là một người Việt Nam đã bước vào tuổi lão niên. Nhận ra anh là người Việt, ông già đó mừng rỡ lắm. Có lẽ không có sự mừng rỡ nào lớn hơn nữa, vì bao nhiêu năm, ông cụ không có dịp nói chuyện với ai. Cụ không rành tiếng Anh, mà chung quanh cả chục dặm cũng không có một người Việt nào lui tới. Sau khi hàn huyên và làm quen nhau, anh thanh niên hứa hẹn sẽ đến thăm cụ hoài. Anh đã giữ lời hứa trong một thời gian dài. Từ đó, anh mới biết tâm sự của cụ là một người cha đã hy sinh trọn cuộc đời cho một đứa con trai duy nhất.

Khi bà vợ đã khuất núi, cụ ở với đứa con trai và bao nhiêu thương yêu, cụ đã dành cho con hết cả. May mắn, cụ đã dựng được một cơ nghiệp đàng hoàng trên xứ Mỹ, có nhà đẹp, có xe tốt và có cả một tương lai thênh thang, hạnh phúc, không thiếu thốn điều chi. Hai cha con êm ấm sống chung với nhau cho đến khi cậu con trai đòi di chuyển đến thành phố lớn để theo đuổi việc học ở một trường danh tiếng hơn. Suy đi nghĩ lại mãi, cụ ông quyết định chiều ý con, mà bán hết cơ ngơi sự nghiệp của mình để đi theo cậu đến một nơi xa lạ. Ở đấy, vì không quen chỗ, cụ cứ phải từ từ tiêu dần tài sản dành dụm của mình cho sự học của cậu con mà không có cơ hội làm lại cuộc đời chi nữa, những mong cho con học thành tài là cụ vui sướng rồi. Điều cụ mong muốn đã đến. Sau nhiều năm học hành, cậu con ra trường, có việc làm tốt. Nhưng chỉ một thời gian ngắn, cậu đi theo tiếng gọi của con tim, bỏ cụ lại một mình, bỏ lại người cha hy sinh suốt đời cho con, bỏ lại bao kỷ niệm buồn vui giữa hai cha con, những ngày tháng xưa cũ đó. Cụ đau buốt tâm can. Nhất là tin tức của cậu dần dần biệt tăm. Quá đau khổ, cụ đã té ngã và bị liệt. Người ta đưa cụ vào nơi hẻo lánh này để chờ chết. Từ đó đến khi anh thanh niên tập sự kia gặp cụ, cũng đã mười năm…

Mười năm cô đơn, mười năm không có dịp nói tiếng quê hương, mười năm không thân nhân, thăm hỏi, mười năm đợi chờ trong tuyệt vọng... Mười năm hay mười thế kỷ?

Thời gian đằng đẵng trôi qua, mọi thứ hy vọng đã tàn lụi, cụ chỉ có một thèm khát duy nhất là một bát bún riêu nóng hổi. Chiều ý cụ, anh thanh niên kia đã lui cui tìm mọi cách để mang đến cho cụ một bát bún riêu theo như ý cụ mong muốn. Cụ đã vui mừng chầm chậm cho một tí mắm tôm vào tô bún, chầm chậm thưởng thức hương vị của bát bún riêu, như thưởng thức một phần đời người đang chết dở mà được sống lại.

Anh thanh niên không quen biết kia đã trở lại vài lần rồi vì công việc mới phải đi xa, nhưng anh hứa sẽ đến thăm cụ bất cứ khi nào tiện dịp. Rồi một ngày, anh nhận được tin báo của nhà hưu dưỡng: ông cụ đã qua đời, đúng ra là đã may mắn chấm dứt được cuộc sống đau khổ, buồn bã, cô đơn mà cụ đã phải gánh chịu nhọc nhằn trong nhiều năm qua. Thằng con trai của cụ, không biết lúc ấy ở đâu, nếu có vợ con, thì đứa bé cũng trên mười tuổi, và mỗi khi đến ngày Từ Phụ, chắc thằng con bất hiếu bất mục, vô ơn, khốn nạn ấy, lại nâng ly rượu đầy ắp, cười đùa vui vẻ khi nghe đứa bé nào đó chúc mừng “Happy Father Day, Dad!”

Hình ảnh người cha bất hạnh không phải là thiếu ở đâu đây. Hãy đến nhà hưu dưỡng ở Garden Grove, gần Trung Tâm Thủ Đô Tị Nạn này, sẽ thấy ngay một cụ ông trên 70 tuổi, còn nhanh miệng lắm, nhưng ngồi trên xe lăn mà nếu thấy ai có lòng, thì thế nào cũng nhờ “Ông ơi! Ông đẩy xe tôi ra bến xe Cần Thơ đi ông! Thằng con tôi nó đang đợi ở đó!” Rồi ông cụ giục “Nhanh lên! Nhanh lên! Kẻo nó không chờ nữa!” Và sau khi được đẩy ra tới cửa, thì ông cụ giơ tay, ngừng lại. “Đây rồi! Bến xe Cần Thơ đây rồi! Ông chờ tôi một tí nhé!” Người đẩy xe thế nào cũng nghẹn ngào, nghe nước mắt trong lòng đang chẩy xuống lặng lẽ. Con của cụ đâu cả rồi? Những đứa trẻ ngày xưa mà ông bồng bế, xi ỉa, tắm rửa, lau mặt, dậy cho nó đánh răng, dậy cho ngồi bô, ngồi cầu tiêu, dắt tay đi học… Những đứa trẻ hớn hở nhìn những quần áo mới mà bố chúng mới mua cho, ngày lễ, ngày Tết, bố con tung tăng trên đường phố Cần Thơ, hay ra bến Ninh Kiều hóng gió, mua cho con một quả bong bóng, một cây kem… Những đứa trẻ mà khi vượt biên còn đỏ hỏn, hay đã bắt đầu lớn, nhưng sợ hãi lo lắng thì nhiều, chỉ biết bám vào tay bố như một chỗ tựa nương duy nhất trong đời. Chúng nó bây giờ ở đâu? Bố chúng vẫn đợi chúng ở bến xe Cần Thơ ngay tại thủ đô tị nạn đấy…

Hãy vào trong nhà già này, thấy một cụ già ngồi trên xe lăn, không còn nói được, chỉ còn ánh mắt và hai bàn tay xếp những chữ A, B,C thành câu: “Ông bà đến chơi, tôi vui lắm!”

Cụ ông ngày xưa cũng đã một thời thanh niên bay nhẩy tung tăng, đi học, đi chơi với đào, rồi lấy vợ vui vẻ, hạnh phúc, nhìn những đứa con lớn lên với tất cả sự thoả mãn của một người cha trọn vẹn hy sinh. Giờ đây, những đứa con ấy ở đâu? Phương trời xa xôi nào? Có một lần nhớ đến người cha đã từng ẵm bồng chúng không?

Hãy đi thêm một bước nữa, để gặp một cụ chưa tới 80, nhưng chiều nào cũng thế, nhờ người đẩy xe lăn ra cửa, ngồi đó nhìn ra ngoài đường cho đến khi mặt trời lặn sau những mái nhà trước mặt, bóng tối phủ xuống âm u rồi mới chịu cho người đẩy xe vào phòng, nơi những kỷ niệm không bóng không hình chìm chìm ngập ngập, lãng đãng xa gần, những bóng hình thân yêu, người vợ tận tuỵ, mấy đứa con tung tăng chạy nhẩy, đấm đá um nhà…

Hãy đi khắp các nhà hưu dưỡng hay “nhà già” này để thấy đâu đâu cũng có những người cha cô đơn, những tâm hồn kiệt quệ, mà nỗi chết gần kề không đáng sợ bằng ngày tắt hơi không người thân vuốt mắt, không có tiếng khóc nức nở nỉ non, chỉ có âm thầm vài người áo trắng, lăng xăng thu dọn cho lẹ, cho nhanh, gói ghém phủ liệm chỉ trong giây phút, rồi tống ra dàn thiêu…

Thế là hết những người cha, đã có một thời oanh liệt, hoặc thương gia, hoặc quân đội.

Có thể họ đã từng xông pha mũi tên hòn đạn, đã từng gào lên hai tiếng “xung phong!” rồi băng mình về phía trước. Có thế họ đã là những thầy giáo, đứng trên bục giảng, hướng dẫn tương lai cho lớp trẻ lên đường. Có thể họ là những người thợ máy, công nhân, ngày ngày đi làm đổ mồ hôi, chỉ mong về đến nhà trông thấy thằng cu Tý, cu Tèo đùa đùa giỡn giỡn, tung con lên cao và nở những nụ cười hạnh phúc…

Giờ đây, chúng đang ở nơi nào? Trong những căn phòng ấm cúng, có thể chúng cũng lặp lại y hệt những cử chỉ của cha chúng ngày xưa, cũng tung con lên, đùa đùa giỡn giỡn..

Hỡi những người con còn có trái tim, hãy đi và hãy đến những nơi gọi là “nhà già”, nơi chỉ có cặp mắt là sáng còn mọi vật đều tối đen…

Ngày Từ Phụ đang đến.

Chu tất Tiến.



===

Post Reply