QUÁN BIÊN THUỲ

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

Cám Ơn Anh Người Thương Binh VNCH

Chiến tranh đến người lính không muốn bởi vì bản chất dân tộc Việt Nam không hiếu chiến. Chiến tranh đi vào căn nguyên cội nguồn là do sự tham lam của chủ thuyết Cộng Sản, bởi một thiểu số lãnh đạo sống với giấc mơ hoang tưởng ban đầu khi mang ý tưởng quốc hữu hóa cuộc sống người dân để mọi người được bình đẳng, cho một thế giới vô sản, không giai cấp.

Và từ đó qua những nhà lãnh đạo tham lam và cuồng tín tại miền Bắc Việt Nam đã xua quân xâm chiếm Miền Nam. Miền Nam phải tự vệ, người lính Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) mang vai trò bảo vệ từng tất đất quê hương.

Sở dĩ chúng tôi phải nhập đề về vai trò của người lính VNCH là vì Miền Nam đã có chánh nghĩa như thế ngay từ nguyên thủy của vấn đề, tức họ có tư thế tự vệ chính đáng. Trong cuộc chiến tự vệ bảo vệ bờ cõi, khi chúng ta nhìn về những thiệt thòi, những khổ đau của người lính VNCH trải qua trong cuộc chiến và cũng như sau cuộc chiến, chúng ta sẽ phải ngậm ngùi cho những điều phi lý nhất đã theo đuổi, ám ảnh cuộc sống đầy gian truân của họ, đặc biệt là số phận người thương phế binh VNCH. Trong thời chiến, nói về khía cạnh kinh tế đời sống thì mức lương của người lính tác chiến đuợc trả theo thời giá bằng con số phụ cấp 4.500 đồng VNCH cộng thêm vào mức lương căn bản (quân nhân không tác chiến không có phụ cấp này). Lương trung bình một người Binh Nhì khoảng 18,000 đồng, phụ cấp vợ 2,000 đồng, mỗi con 1,000, nếu tác chiến được nhận thêm 4,500 đồng. Nếu tính hối xuất mỹ kim thời đó thì thật sự lương người lính cộng phụ cấp các thứ kế cả tiền gộp lại tất cả không quá 20 mỹ kim một tháng. Người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa dĩ nhiên chấp nhận túng thiếu đến đỗi mức ăn của một chiến sĩ không thể cứ mỗi ngày mua nổi một tô phở như chúng ta đang sống tại Mỹ, Úc hay Canada.

Để các bạn trẻ ra đời khi còn quá nhỏ hay sau cuộc chiến có thể có một ý niệm về sự so sánh đơn giản mức sống nghèo khổ của người lính và gia đình so với thời giá lúc đó, chúng ta định tiêu chuẩn bằng mỹ kim. Nếu là hai vợ chồng người lính chưa có con, thì mỗi ngày họ chỉ được phép “ăn xài” tối đa là 1 mỹ kim cho tất cả các khoản thực phẩm tối thiểu như gạo, muối, đường, nước mắm,... và linh tinh, thông thường ăn rau ăn độn với cơm, vì thường đến thăm những gia đình quân nhân quen chúng tôi thấy họ ăn đạm bạc như rau chấm với nước mắm kho quẹt hay cơm chấm muối mè. Nếu là một gia đình 4 người thì mức tiêu xài là 1,5 mỹ kim. Như vậy với đồng lương 20 mỹ kim một tháng chỉ có thể sống sót được tối đa có 20 ngày, còn 10 ngày cuối cùng kia thì chính người vợ và đàn con phải xông pha ra ngoài chợ đời làm lụng thật vất vả để bù đắp vào. Cuộc đời đen tối cứ thế kéo dài mãi, giá sinh hoạt ngày càng tăng vọt vì nạn lạm phát. Một đô la Mỹ đổi được 500 đồng VN trong những năm cuối cùng của thập niên 1970, nhất là năm 1975 nó đã leo lên đến 1,800 đồng VN. Đó là chưa kể đến những nhu cầu cần thiết khác cho đời sống như thuốc men, quần áo, thuốc hút, nhu cầu cho con cái đi học,… đòi hỏi phải chi tiêu rất nhiều tiền bạc. Người lính sẽ thiếu thốn triền miên. Trong hoàn cảnh khó khăn như vậy mà những người chiến sĩ vô danh khiêm nhường ấy vẫn đánh giặc, vẫn ôm ấp lý tưởng bảo vệ giang san bờ cõi quốc gia, và họ đã đánh thắng những trận thật lớn và thật lừng lẫy, rúng động thế giới và cả quân thù cũng phải khiếp vía run sợ. Những người anh hùng của dân tộc Việt Nam ấy đã câm nín, nhẫn nhục, không kêu ca nề hà, bản thân họ gánh vác trên vai cả một trách nhiệm nặng nề, nhiều khổ ải và triền miên chất chứa trong lòng nhiều nỗi lo lắng khôn cùng cho gia đình ở quê nhà. Họ dũng cảm xông vào những cơn bão lửa tàn khốc nhất của chiến tranh từ Bình Giả, Đồng Xoài đến Mậu Thân, Mùa Hè Đỏ Lửa, và trong cuộc chiến như vậy, chúng ta thấy rằng người lính đã chia một nửa trái tim hiến dâng bảo vệ Tổ Quốc, một nửa trái tim gửi về hậu phương cho gia đình vợ con.

Bài viết này chúng tôi muốn nghĩ đến những anh em thương phế binh (TPB) VNCH, hiện còn ở quê nhà chịu những ngậm ngùi đắng cay nhất sau biến cố đau thương 1975. Những cựu quân nhân bị thương phế còn một chút may mắn đuợc trở về với vợ con hay cha mẹ, sống chuỗi đời còn lại vá víu trong quên lãng của đời nghiệt ngã bằng đủ thứ nghề quá vất vả, nếu được như vậy họ cũng tìm thấy một chút niềm vui của mái ấm gia đình. Nhưng đối với những chiến sĩ thương phế kém may mắn hơn, họ đã chịu những bất hạnh, cô đơn vì gia đình ly tán, xã hội ruồng bỏ và rồi họ không còn nơi để trở về, hoặc không muốn trở về để trở thành gánh nặng cho những người mà họ yêu thương, hoặc bị chính gia đình bỏ rơi. Các anh lính TPB không có niềm vui nào để từ đó gắng gượng sống một cuộc sống lây lất bao phủ bởi những tủi thân, mặc cảm tật nguyền bị lãng quên. Các anh sống hiện tại mà cũng không có, thì nói đến tương lai làm gì? Các anh sống lang thang vất vưởng dưới những mái hiên, gầm cầu, ống cống, bãi tha ma, mái chợ, v.v.. Tiếng hát nấc nghẹn tủi nhục của các anh vang lên trên những chiếc xe đò ầm ĩ lao xao tiếng rao hàng của những người cũng nghèo như các anh, trên những lối chợ sình bùn, trước những quán ăn đông đảo những khuôn mặt mập bóng, đỏ au thừa thãi rượu và thịt, hay trên những đuờng phố nghìn nghịt xe cộ và đầy dẫy màu sắc ăn chơi. Một xã hội vô lý do nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam (CSVN) gây ra và xã hội như vậy, chẳng những bạc đãi chính các anh, mà còn buôn bán cả tương lai vợ con các anh cho ngoại nhân.
Chúng ta còn nhớ trong và sau ngày 30.4.1975, những chiến sĩ mang thương tích hay các thương bệnh binh nằm điều trị trong các quân y viện bị quân giặc xua đuổi đi một cách tàn nhẫn. Xã hội văn minh như trong Thế Chiến Thứ II khi quân Đức Quốc Xã bao vây Quân Đồng Minh, họ tôn trọng qui ước chiến tranh, họ cho tải thương các thương bệnh binh. Còn đối với CSVN như bản chất của sách lược nuôi sự trả thù nhỏ mọn, họ có những hành vi thú tính, man rợ nhất được áp dụng. Có thể nói không ngoa họ không cần biết gì đến hành vi nhân đạo hay đạo lý của tình người, hay tình dân tộc đồng chủng với nhau. Dưới mắt người CSVN, những người ở bên kia chiến tuyến luôn luôn là kẻ thù cần phải bị tiêu diệt. Nếu vì lý do gì đó mà họ chưa hủy diệt được hết một lúc trong thời chiến, thì ngay từ những giây phút ngừng chiến này, họ sẽ tiếp tục giết dần mòn người lính Việt Nam Cộng Hòa, quá khứ cho thấy bằng nhiều phương cách hèn hạ nhất, nhiều cách thức khác nhau. Những tài liệu báo chí quốc tế ghi nhận khi CSVN bắt đầu xâm chiếm Sài Gòn từ các chiến sĩ bị thương tại các quân y viện, không cần biết tình trạng nguy kịch hay không nguy kịch đến tính mạng bệnh nhân, bị thương nhẹ hay thương nặng, các chiến sĩ VNCH bị xua đuổi phải ra khỏi giường bệnh, dắt díu nhau lê la trên các hè phố tìm đuờng về quê nhà. Những chiến sĩ bị thương quá nặng chỉ có thể nằm hấp hối bên vệ đường chờ chết. Những nhân chứng kể lại những túi nylon bọc lấy những mẫu ruột đã đen sậm và đầy bụi đất, hay những vết cắt lở lói ở những cánh tay hay ống chân có thể cho phép người thương phế binh lê về được đến nhà, dù là để chết trong tay vợ con hay trước sự chứng kiến của người thân.

Tôi là người lính Việt không may
Xếp bút nghiên theo cuộc chiến dài
Nào ai đoán biết được ngày mai
Phần số thương binh sau cuộc chiến

Lết cuộc đời lê nẻo tương lai
Ngậm ngùi vợ con sao tan vở?
Ngẩng mặt nhìn đời ngày lại ngày
Ai ơi có thấu lời bi ai?

TPB Cần Đước

Những anh thương phế binh may mắn sống sót sau cơn bão đỏ kinh khiếp này, may mắn được gia đình tìm ra và tiếp cứu kịp lúc đem trở về quê nhà, tiếp tục sống một cuộc sống mờ mịt, hẩm hiu vì không có hiện tại, không cả tương lai. Trước năm 1975, thương phế binh cam chịu sự thờ ơ của người hậu phương. Sau năm 1975, thương phế binh bị ném ra khỏi mọi sinh hoạt xã hội, là thành phần tang thương cùng cực nhất trong hệ thống bậc thang trị giá con người, mà lại là con người trong chế độ cộng sản. Các anh vẫn tiếp tục sống cuộc sống thầm lặng khổ đau trong tối tăm, trong đói rách bao nghịch cảnh ở những chỗ hạ đẳng tận cùng: từ ống cống, gầm cầu, hay đến những bãi tha ma. Niềm mơ ước duy nhất và rất nhỏ bé của các anh, là xin thượng đế nhủ lòng thương cho các anh kiếm đuợc đủ hay xin được thức ăn sống mỗi ngày. Có những anh lê lết những phần thân thể trên mặt đường lâu ngày những phần thân thể bị nhiễm trùng ung mủ lở loét. Nhìn những chiến hữu của chúng ta tang thương như vậy, chúng ta không thể không xót xa đau lòng. Nhưng thân tàn ma dại dó đã lê lết trên quê hương chúng ta, họ sống vô vọng. Những TPB có gia đình khá hơn thì có xe lăn, họ góp được chút vốn thì lăn xe đi bán vé số hay ngồi bán thuốc lá lẻ, đan sọt đan thúng, làm hàng thủ công, hoặc nuôi gà nuôi heo. Ngay cả chuyện nuôi con heo cũng là một mơ ước vô cùng lớn lao, tưởng không thể nào có thể thực hiện nỗi, nếu không có một phép lạ nào đó. Trong những hoàn cảnh cùng cực như vậy mà các anh vẫn cứ đều đặn chống nạng hay lăn xe lên Nghĩa Trang Quân Đội trên xa lộ Biên Hòa để chăm sóc mồ mả của những chiến hữu trong đó. Có còn nghĩa cử nào cao qúi hơn nữa không, để những người còn sống như chúng ta phải cúi đầu chào kính các anh?
Sống cuộc đời tủi cực, làm những người sống ngoài lề xã hội ngay trên đất nước của mình, nhưng những chiến sĩ thương phế Việt Nam Cộng Hòa vẫn an ủi nhau, vẫn nuôi dưỡng một niềm tin. Có nhiều anh chịu không nỗi nhục nhã đã nhảy sông, thắt cổ, hay bất cứ cách nào để chết. Nhưng nhiều anh đã cắn răng khuyên nhau cố gắng sống. Sống để chờ một phép nhiệm mầu nào đó cứu giúp cuộc đời khốn cùng. Thật kỳ diệu, mà cũng thật nghẹn ngào, các anh đã sống vật vờ và nuôi dưỡng niềm tin ấy đến hơn một phần tư thế kỷ. Cái điều được chờ đợi ấy đã bắt đầu hiện đến với các anh, dù mới chỉ là những đóm lửa còn le lói. Những người chiến hữu của các anh bên kia bờ Thái Bình Dương bắt đầu dấy lên những phong trào vận động quyên góp gửi quà và tiền về giúp đỡ cho các anh, dù rằng có người được, người chưa.

Từ những năm 1990 cho đến nay, đã có nhiều hội đoàn cựu quân nhân QLVNCH hay ngay cả nhiều hội đoàn dân sự, cá nhân, truyền thanh, báo chí ở Hoa Kỳ, Canada, Âu châu, Úc châu đã tổ chức những cuộc gây qũy và tích cực cổ động cho việc gửi tiền tương trợ cho các anh thương phế binh ở quê nhà. Những đóm lửa nhỏ này có thể một ngày không xa lắm sẽ bùng lên thành một ánh lửa lớn quy tụ đuợc nhiều tài lực, thêm nhiều phương tiện, từ đó có thể giúp đỡ chiến hữu bên nhà tích cực hơn. Hầu như là các hội đoàn của những quân binh chủng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đều có chương trình tương trợ cho các anh thương phế binh. Các bạn hãy cùng lắng nghe vài đoạn thư của Biệt Cách Dù Nguyễn Chí Linh từ Việt Nam, để thấy được nỗi niềm của những người anh em chúng ta, đẩ cảm nhận được ý nghĩa về việc làm của chúng ta: "... gia đình tôi, vợ và các con vui mừng, đứa nào cũng rơi nước mắt, riêng tôi thì vô cùng xúc động... số tiền quá lớn, tôi mua được hai con heo để nuôi, mỗi con 400.000 đồng Việt Nam. Tôi hy vọng là sau sáu tháng, heo bán sẽ có lời, tôi sẽ mua gà Tam Hoàng nuôi, có thu nhập thêm, chứ đời sống còn thiếu thốn lắm... Thành thật cám ơn Thầy và quí hội đã cùng nhau giúp đỡ cho đứa em còn ở lại Việt Nam nghèo khổ này".
Hội Bạn Của Thương Binh Việt Nam Cộng Hòa tại Pháp do ông Nguyễn Quang Hạnh làm Hội Trưởng cùng một số hội viên trong Ban Chấp Hành đã hoạt động rất tích cực trong công tác tương trợ các anh thương phế binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa từ hơn mười năm qua. Hoạt động của Hội ngày nay đã được biết đến trong cộng đồng người Việt ở châu Âu nhờ Ban Chấp Hành đã cho lưu hành những đặc san NẠNG GỖ để gởi đến đồng bào những bài viết, những hình ảnh tàn phế của những người thương binh ở quê nhà, danh sách thương phế binh xin được giúp đỡ, những lời kêu cứu và hình ảnh thảm thương trong cuộc sống bị vất bên lề xã hội của các anh. Ông Hội Trưởng Nguyễn Quang Hạnh cùng những vị có cùng tấm lòng nhân ái hướng về các anh thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa đã luôn dằn vặt trong lòng nỗi xốn xang:
Khẳng định rằng ngày 30.4.1975 là ngày đại họa, một cái tang lớn phủ trùm xuống đồng bào Miền Nam. Quyền sống của con người không còn nữa, tiếp theo là sự trả thù của chế độ mới tiến hành đối với những người phục vụ cho chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Đau thương và tủi nhục hơn hết, tột cùng đau khổ nhiều hơn hết là những anh em thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa. Đó là những người lính chiến đã từng hy sinh và chịu nhiều gian khổ ngoài chiến trường bởi lý tưởng tự do, vì sự sống an bình cho đồng bào ở hậu phương. Các anh đã không may bị súng đạn cướp mất một phần thân thể, lại bị chế độ kỳ thị, phân biệt đối xử, cuộc sống của các anh bị đặt ra ngoài lề xã hội thực tại. Từ hơn 30 năm qua, đối với gần ba triệu người Việt tị nạn cộng sản ở hải ngoại này, sự kềm kẹp, kiểm soát của CSVN về mọi biện pháp giúp đỡ các anh TPB, và chính vì thiếu sự nhân đạo đã gây khó khăn cho việc giúp đở TPB của VNCH một cách công khai.

Trong tình thế mới khi đảng CSVN càng o bế quốc tế, sự chấp nhận cho giúp đỡ các anh em TPB có phần khá hơn, Hội Bạn Của Thương Binh Việt Nam Cộng Hòa đã kêu gọi và đã nhận được rất nhiều sự hưởng ứng nồng nhiệt của người Việt ở Pháp và nhiều nước châu Âu. Nhờ sự giúp đỡ này, Hội đã có thể gởi về các anh thương binh ở quê nhà những món tiền tình nghĩa, nhiều chiếc xe lăn tay. Những đồng tiền của đồng bào hải ngoại gởi về cho các anh thương phế binh và gia đình đâu đã là nhiều, nhưng khi nó đến đúng lúc thì cũng có thể giúp cho các anh một niềm vui nhỏ và vượt qua được hoàn cảnh thắt ngặt. Thư cảm ơn của các anh gởi sang rất nhiều với những giòng chữ đơn sơ diễn tả những lời chân thành mộc mạc từ tận đáy lòng của các anh. Có còn cảnh ngộ tuyệt vọng tận cùng nào hơn nữa không đối với anh Võ Văn Huề như trong bức thư này:"Tôi ký tên dưới đây là Võ Văn Huề, hiện ở tại số 97, Khối 5. Thị trấn Kiến Đức – Dak Rlăp – Đăk Lak – Việt NamKính gởi: Hội cùng Ân Nhân.Tôi nhận được thư của Hội ngày 21.7.2002, còn tiền vào ngày 27.7.2002. Nay tôi viết thư này để Hội biết lòng biết ơn sâu nặng của tôi. Đối với bản thân, tôi phải khóc, không thể nói hay viết hết lời cho Hội và ân nhân, hội đã hiểu nên tôi không viết thêm. Hiện gia đình tôi có 6 con, đứa đầu đi không vững, nói không rõ, không lớn được và không biết chữ. Còn 5 cháu sau vì đông nên việc học rất khó khăn. Nếu bên đó ai có nhu cầu xin con nuôi, gia đình đồng ý cho không điều kiện, Một lần nữa xin nói lên lòng biết ơn sâu nặng của gia đình tôi đến với Hội và ân nhân đã cho gia đình tôi có sự sống lẫn tinh thần. Xin chúc Hội và ân nhân được nhiều ơn riêng của trời đất. Kính thư. Huề."


Mẹ Việt Nam ơi, đồng bào ruột thịt ta ơi hãy cùng cứu lấy những linh hồn cô đơn bị lãng quên! Anh em chúng tôi viết bài này vì mùa Xuân 2006 những tổ chức khắp nơi Âu châu, Úc và Bắc Mỹ đã gia tăng nỗ lực cứu giúp. Những đoàn thể tại Nam và Bắc Cali đã gây quỹ lạc quyên cho các anh em Thương Phế Binh. Chúng tôi vừa được biết sẽ có một Đại Nhạc Hội tại Nam Cali, ngay thủ đô của người tị nạn Việt Nam, Đại Nhạc Hội mang tên: "CÁM ƠN ANH - NGƯỜI THƯƠNG BINH VNCH".
Image Cầu mong những điều tốt đẹp nhất đến cho các anh Thương Binh VNCH. Đồng bào tại hải ngoại sẽ không quên các anh, chúng ta sẽ gặp nhau một ngày không xa, cầu mong các anh sẽ tiếp tục hiện hữu chứng kiến sự cáo chung của những người đi ngược lại ý nguyện của dân tộc Việt Nam. Sau cùng anh em chúng tôi xin kết thúc bằng bài thơ dành cho các anh:
“Xưa đồng đội như rừng
Gót giầy vang mặt phố
Nay xa cách muôn trùng
Một thân nơi xó chợ

Những người ba mươi năm
Thoảng như cơn mộng dữ
Còn một khúc thân tàn
Vinh danh ngày tháng cũ"

(Trích “Tạ Ơn Anh”, thơ Đỗ Tiến Đức)

Phạm Phong Dinh và Trần Việt Hải
Image
Người Chiến Sĩ VNCH ngày cuối cùng của cuộc chiến

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh kỳ 8 thành công với 520 ngàn USD quyên góp

Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh Kỳ 8 nhằm giúp đỡ Thương Phế Binh Việt Nam Cộng Hòa còn kẹt lại tại quê nhà đã diễn ra vào ngày Chủ Nhật 3 tháng 8, 2014 từ lúc 12 giờ trưa và kết thúc lúc 8 giờ tối tại sân vận động trường trung học Bolsa Grande, Garden Grove, California. Số tiền quyên được tính cho đến 8 giờ tối là 520 ngàn mỹ kim gồm thu tại chỗ và đồng hương khắp nơi gọi điện thoại về để yểm trợ cho chương trình.

Nhạc sĩ Trúc Hồ, Tổng Giám Đốc Đài Truyền Hình SBTN và Trưởng Ban Tổ Chức Đại nhạc hội cho biết hi vọng con số này sẽ tăng thêm trong thời gian tới vì khi đài truyền hình SBTN chiếu lại chương trình này thì khán giả sẽ yểm trợ thêm và theo kinh nghiệm những năm trước thì con số tăng thêm khoảng thêm hai trăm ngàn mỹ kim.

Và như vậy có thể kết luận rằng kết quả tài chánh của Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh Kỳ 8 cũng thành công giống như mấy năm trước.

Đây là một công tác được phối hợp tổ chức giữa Hội HO Cứu Trợ Thương Phế Binh và Quả Phụ Việt Nam Cộng Hòa, đài SBTN, đài truyền hình SET 57.4, Trung Tâm Asia, và Liên Hội Cựu Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa.

Chương trình văn nghệ thật phong phú với sự góp mặt của hơn một trăm ca nhạc sĩ nổi tiếng của cộng đồng văn nghệ hải ngoại, trong đó có nhiều ca sĩ của Trung Tâm Asia cùng các ban nhạc Trung Nghĩa, ban nhạc Trúc Sinh, và ban nhạc Moon Flower.

Tối Thứ Bảy Quận Cam mưa nhẹ, tin thời tiết loan báo có thể mưa nhẹ vào Chủ Nhật làm Ban Tổ Chức lo lắng nhưng trời không mưa và thời tiết mát dịu hơn mấy ngày trước làm cho khán giả thoải mái thưởng thức chương trình văn nghệ phong phú. Chương trình càng về cuối buổi càng đặc sắc.

Cựu Trung Tá Nguyễn Thị Hạnh Nhơn, Hội Trưởng Hội HO Cứu Trợ Thương Phế Binh & Quả Phụ VNCH nói rằng khí thế của Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh Kỳ 8 năm nay hùng mạnh hơn bao giờ hết.

Một số nghệ sĩ trình diễn và một số khán giả đã đến từ San Jose đã phải về sớm vì đường dài sáu trăm cây số bày tỏ sự thích thú được tham dự buổi nhạc hội đầy ý nghĩa này. Năm ngoái 2013, đại nhạc hội Cám Ơn Anh Kỳ 7 đã tổ chức tại San Jose cũng thành công thu được 735 ngàn mỹ kim.

Các ca sĩ sau khi trình diễn đã ôm thùng quyên tiền đến với khán giả để xin ủng hộ và bà con đã nồng nhiệt bỏ vào những tờ giấy đô la đầy tình nghĩa dành cho những người lính Việt Nam Cộng Hòa đã hi sinh một phần thân thể cho tổ quốc.

Hàng ngàn khán giả đến tham dự, ngồi trong căn lều che nắng để thưởng thức chương trình văn nghệ được truyền hình trực tiếp trên đài SBTN và đài SET 57.4 đến với nhiều đồng hương tại các thành phố xa. Cũng không quên một một ban thiện nguyện viên ngồi hàng giờ để nhận điện thoại khán giả khắp nơi gọi về để yểm trợ cho Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh, nhờ vậy mà số tiền thu được cao như vậy.

Ban Tổ Chức vẫn tiếp tục nhận sự ủng hộ của đồng hương dành cho Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh Kỳ 8.

Mọi chi phiếu xin ghi ĐNH CÁM ƠN ANH KỲ 8 và gởi về địa chỉ:

Hội H.O Cứu Trợ TPB&QP/VNCH: PO BOX 25554, Santa Ana, CA 92799

SBTN & TT Asia: PO BOX 127, Garden Grove, CA 92842. (P. Thy)
Image

Image

Image

Image

nguyenthanh
Posts: 859
Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Post by nguyenthanh »



Những Vì Sao Của Một Thời Tuổi Thơ


Phạm Tín An Ninh

Thời học trung học, tôi có người bạn thân, không những tướng tá mà cả cái tên cũng đẹp: Phan Ái Minh. Hai đứa học chung trường. Minh học Ban B và trước tôi một lớp, còn tôi dốt toán nên học Ban C. Vì vậy mà bạn còn là “ông thầy” kèm toán cho tôi. Nhà Minh ở trên Thành (Diên Khánh), cách thành phố Nha Trang, nơi có ngôi trường Võ Tánh của bọn tôi hơn mười cây số. Minh cùng người anh thuê căn nhà nhỏ trong một con hẻm ở gần đình Phương Sài để trọ học. Mỗi chiều Thứ Sáu, sau khi tan trường, hai anh em đạp xe về thăm nhà đến chiều Chủ Nhật lại ca bài đường trường xa trở lại Nha Trang, mang theo thức ăn cho một tuần sau đó. Tôi cũng từ một vùng quê khác vào Nha Trang học, ở nhà ông chú, một tiệm buôn giữa trung tâm thành phố. Để tránh ồn ào và khỏi bị sai vặt, tôi thường đạp xe lên nhà Minh vừa chơi vừa học. Có khi tôi ngủ lại hoặc cuối tuần theo anh em Minh về thăm quê bên kia Cổ Thành Diên Khánh.

Minh luôn hãnh diện khoe với bọn tôi về quê hương “Cổ Thành”. Anh thường gọi đó là “la Citadelle” và gần như thuộc lòng sử tích: “được chúa Nguyễn Phúc Ánh xây từ thế kỷ 17 và lần lượt do các ông Nguyễn Văn Thành và Võ Tánh trấn thủ. Võ Tánh là một dũng tướng bất khuất, sau này đã tự thiêu tuẫn tiết trước khi thành Bình Định lọt vào tay tướng Trần Quang Diệu của Tây Sơn. Có lẽ vì vậy mà ngôi trường trung học lớn nhất miền duyên hải của chúng ta mang tên Võ Tánh, để nêu gương sĩ khí cho đám học trò.” Minh còn đọc đi đọc lại bài thơ của công chúa Ngọc Du khóc phu quân tướng công Võ Tánh, làm bọn tôi thuộc nằm lòng cho đến mãi bây giờ:

Những tưởng ra tay giúp nước nhà
Ai dè binh địa nổi phong ba.
Xót người vị quốc liều thân ngọc,
Khiến thiếp cô phòng ủ mặt hoa.
Gối mộng mơ màng duyên nợ cũ,
Đài mây xiêu lạc phách hồn xa.
Lửa trung đốt đỏ gương hào kiệt,
Nóng ruột thuyền quyên giọt lệ sa!

Có lẽ chính quê hương Cổ Thành và hình ảnh dũng tướng Võ Tánh in rất đậm trong trí óc và tâm hồn Minh từ thuở ấu thơ, đã hun đúc trong Minh một mẫu người lý tưởng sau này.

Vào những mùa thi, căn nhà trọ khá oi bức và đèn điện không đủ sáng, bọn tôi thường rủ nhau đạp xe xuống bờ biển, nơi có các trụ đèn tỏa sáng, vừa học bài vừa nhìn biển trời mênh mông mà xây mộng tương lai. Có lần Minh bảo“ sau này nhất định tao sẽ chọn binh nghiệp để đọ sức cùng nắng mưa và tha hồ xông pha trận mạc”. Tôi cười đùa: “Mày nói hay như đang hát tuồng Thuyền Ra Cửa Biển!” (lúc ấy gánh hát Thanh Minh Thanh Nga đang diễn vở tuồng này tại rạp Minh Châu - Nha Trang)

Là bạn, nhưng dường như tất cả mọi thứ trên đời ông trời đã dành cho Minh nhiều hơn tôi: đẹp trai hơn, to con hơn, võ nghệ, đàn hát và nhất là học hành cũng giỏi hơn. Chơi đàn và đọc sách là hai món tiêu khiển của Minh. Anh đọc rất nhiều sách, từ truyện Tam Quốc Chí đến Đệ Nhi Thế Chiến, từ các sách nghiên cứu Khoa Học đến Thiên Văn Học. Trí nhớ của Minh rất tốt, anh nhớ từng chi tiết và làm bọn tôi mê mẩn mỗi lần ngồi nghe anh kể lại. Ngoài ra Minh rất tư cách, tính tình bộc trực, thẳng thắn. Một lần có tay “anh chị” ở đầu hẻm hiểu lầm, tưởng tôi làm ngã cái xe gắn máy của y, lớn tiêng ăn hiếp, Minh bênh vực tôi, ôn tồn nói điều phải trái, nhưng gã kia hung hăn ra tay trước, Minh không đánh lại, chỉ đỡ vài đòn mà hắn đã té nhào không đứng lên được. Minh đưa tay kéo hắn lên và phủi bụi đất bám trên mặt hắn. Thấy Minh võ nghệ cao cường, có khí phách và lòng hào hiệp, hắn ta phục, bắt tay xin làm bạn, đãi bọn tôi một chầu phở Hợp Lợi. Sau lần ấy, tôi mới biết bạn tôi “văn võ song toàn”.

Cứ đến mùa Hè, tôi đạp xe lên quê Minh ở chơi một vài tuần. Nhà Minh ở gần con sông chảy uốn khúc qua một vài khu xóm làng và ruộng đồng tĩnh mịch. Ban đêm, tôi theo Minh và đám bạn bè, ra cắm lều, đàn hát, câu cá và ngủ lại bên bờ sông. Khung cảnh êm đềm thơ mộng. Đêm mùa Hè, trời trong vắt, bọn tôi thường đua nhau đếm thử có bao nhiêu vì sao, tìm trong các dải ngân hà, xem nơi nào có cái cầu Ô Thước của Ngưu Lang Chức Nữ. Minh biết tên khá nhiều các ngôi sao, và lúc ấy Minh đã dạy bọn tôi biết cách nhìn sao trời để định hướng và dự đoán cả thời tiết nữa. Minh còn giải thích về các thiên hà, tinh tú trong vũ trụ mênh mông, có những vì sao mang cái tên kèm theo một huyền thoại, rồi kể cho bọn tôi nghe truyện Les Étoiles của nhà văn Alphonse Daudet mà thầy Cung Giũ Nguyên có nói qua trong giờ Văn Học Sử Pháp. Có những vì sao sáng lấp lánh, bọn tôi đua nhau giành lấy. Ai “xí” được ngôi sao nào lóe lên trước nhất sẽ được đặt tên mình và tên một cô bạn học trò đã từng khuấy động trái tim. Trong bọn, Minh là người tìm được cho mình nhiều ngôi sao nhất. Nhưng có một điều lạ, là ngôi sao nào anh giành được và đặt tên mình, đều lóe sáng lên, nhấp nháy vài lần rồi bỗng dưng vụt tắt, biến mất trên bầu trời, giữa hằng hà tinh tú khác. Nằm chờ mãi không thấy hiện lên, Minh bèn phân tích hiện tượng này, nhưng rồi cả anh và bọn tôi đều xuýt xoa nuối tiếc.

Ngày ấy, chúng tôi đều con nhà nghèo lo đi học, chưa có người yêu và cũng không dám mơ tưởng tới chuyện yêu đương, nhưng dường như trong trái tim khờ khạo của đứa nào cũng phảng phất bóng hình một cô bạn học trò cùng lớp hoặc chung trường. Trong những lần tâm tình, hay lúc đặt tên cho những vì sao, Minh cũng thường nhắc tên một cô học trò cùng quê, học sau Minh hai lớp. Cô bé có làn da trắng, đôi môi mọng đỏ, hiền hậu dễ thương, mà bọn tôi đã gặp một đôi lần.

Xong tú tài, đang học ở Đại Học Khoa Học Sài Gòn thì Minh tình nguyện vào Khóa 20 Võ Bị. Con đường võ nghiệp mà Minh đã từng nhiều lần tâm tình với đám bạn bè là anh sẽ chọn, mặc dù với khả năng, anh còn có thể tiến xa trên đường học vấn. Bạn bè có người khuyên Minh vào Trường Hải Quân ở ngay Nha Trang để được gần nhà và sau này trong các chuyến hải hành tha hồ ngắm sao trời mà đặt tên cho người tình trong mộng. Nhưng Minh nhất quyết chọn Trường Võ Bị. Lúc ấy tôi thầm nghĩ, một người có khả năng, phong độ và tư cách như Minh, lại được đào tạo bởi một quân trường danh tiếng, chắc chắn sẽ trở thành một sĩ quan, một cấp chỉ huy đảm lược và mẫu mực sau này.

Đúng vào một ngày Giáng Sinh, đám bạn bè chúng tôi tiễn Minh lên Đà Lạt. Cùng nhập học Khóa 20VB với Minh còn có một số các anh cựu học sinh xuất sắc khác của trường Võ Tánh: Phạm Cang, Hoàng Văn An, Hồ Đắc Tùng, Cao Đình Phú, Quách Giám, Võ Anh Tuấn, Nguyễn Công Lắm vv. Chia tay Minh, bọn tôi cũng mỗi thằng mỗi ngã. Sau đó hơn tám tháng, tôi và hai thằng bạn khác vào quân trường Thủ Đức.

Những ngày đầu năm 1965, khi chúng tôi đang thực tập hành quân tại bãi tập bên bờ sông Đồng Nai, thì nghe các sĩ quan cán bộ và anh em SVSQ bàn tán về trận chiến Bình Giã rất khốc liệt. Tiểu Đoàn 30, 33 BĐQ và nhất là Tiểu Đoàn 4 TQLC bị tổn thất rất nặng nề. Cả tiểu đoàn trưởng, tiểu đoàn phó, y sĩ trưởng và gần 20 sĩ quan khác đã hy sinh. Chúng tôi bàng hoàng khi biết được trong số các sĩ quan tử trận có ba thiếu úy tân khoa vừa mới tốt nhiệp Khóa 19VB Đà Lạt, 1 BĐQ (Nguyễn Thái Quan) và 2 TQLC (Võ Thành Kháng, Nguyễn Văn Hùng). Họ đã hy sinh ngay trong trận đánh đầu đời, chỉ sau hơn hai tuần trình diện đơn vị. Đặc biệt trong số này có vị thủ khoa Võ Thành Kháng. Người sĩ quan tân khoa ưu tú đã bắn bốn mũi tên đi bốn phương trời trong ngày lễ ra trường, và mang theo rất nhiều hào quang cho con đường binh nghiệp. Bọn tôi không ai quen biết anh Võ Thành Kháng cũng như các anh cùng khóa 19 VB vừa tử trận, nhưng tất cả đều ngậm ngùi tiếc thương những sĩ quan rất trẻ, chọn binh nghiệp bảo vệ giang sơn, nhưng vừa được đào tạo văn võ song toàn mà đã hy sinh khi chưa kịp thi thố tài năng, chưa có cơ hội để “đem hết sở tồn làm sở dụng”, mà nếu còn sống chắc chắn sẽ trở thành những cấp chỉ huy tài giỏi sau này. Khi ấy, bỗng dưng tôi nhớ tới Phan Ái Minh, người bạn thân tài hoa của tôi đang theo học Khóa 20 Đà Lạt, và tất nhiên cũng thoáng một chút âu lo cho số phận của chính mình. Cuộc chiến đang có dấu hiệu bắt đầu khốc liệt.

Một sự kiện trùng hợp đặc biệt khác làm tôi không thể nào quên. Người kể cho chúng tôi nghe chi tiết trận Bình Giã và danh tánh các sĩ quan hy sinh trong trận chiến khốc liệt này là anh Dương Văn Chánh, người bạn cùng trung đội SVSQ Thủ Đức với tôi. Nhờ có người thân quen ở TQLC nên anh biết rõ từng chi tiết một. Chánh đang học ở đại học luật khoa thì nhận lệnh động viên. Tướng tá phong trần, nước da sạm đen, giọng nói khàn khàn, đôi mắt sáng, tính tình hiền lành và trầm ngâm, ít nói. Ra trường, anh là một trong số rất ít (hình như chỉ có bốn người) được chọn về binh chủng Nhảy Dù. Sau ngày mãn khóa, khi chúng tôi đã ra đơn vị và tham dự nhiều cuộc hành quân, thì Dương Văn Chánh vẫn còn đang học nhảy dù. Vậy mà đến giữa tháng 6/65, tôi bất ngờ được tin Chánh vừa hy sinh trong trận Đồng Xoài. Có lẽ đó cũng là trận đánh đầu đời của Chánh. Và cũng khi ấy, chúng tôi mới biết Chánh được bổ sung về Tiểu Đoàn 7 thuộc Chiến Đoàn 2 ND mà vị Chiến Đoàn Trưởng, Trung Tá Trương Quang Ân, là anh rể của Chánh. (Ba năm sau ông là Chuẩn Tướng Tư Lệnh Sư Đoàn của tôi).

Là một sĩ quan trừ bị, khi bước chân vào quân trường, Chánh không phải là người chọn binh nghiệp, nhưng với một người có nhiều khả năng và cá tính như Chánh, nhất định phải là một người lính can trường, được hầu hết bạn bè cùng khóa kỳ vọng trở thành một cấp chỉ huy tài giỏi sau này, nhưng anh đã hy sinh quá sớm. Cái chết của Chánh làm tôi lại nhớ đến bầu trời tuổi thơ ngày xưa của bọn tôi ở quê Minh, bên kia Cổ Thành Diên Khánh và mơ hồ như nhìn thấy một vì sao nữa vừa mới lóe lên rồi vụt tắt!

Khi đang hành quân ở Phú Yên, tôi nhận được thư Minh báo tin anh chuẩn bị làm lễ ra trường. Minh bảo sẽ cố gắng để được đi Nhày Dù hay TQLC, còn nếu ra Bộ Binh thì sẽ chọn về Sư Đoàn 23 để được gần tôi cùng một số bạn bè khác cho vui.

Tôi vào quân trường Thủ Đức sau hơn nửa năm nhưng lại ra đơn vị trước Minh. Vì thời gian học ở Võ Bị lúc ấy gấp ba lần ở Thủ Đức. Hơn nữa, đặc biệt so với các khóa trước, Khóa 20 VB, sau khi tốt nghiệp,còn phải theo học khóa Rừng Núi Sình Lầy tại TTHL/ BĐQ Dục Mỹ thêm 42 ngày.

Khoảng đầu tháng 2 năm 1966, hình như ngay sau Tết nguyên đán, tôi rất vui mừng được tin Minh bổ sung về cùng Trung Đoàn với tôi. Minh về Tiểu Đoàn 4, còn tôi đang ở Tiểu Đoàn 3. Lúc ấy, đơn vị tôi đang hành quân ở Di Linh (Lâm Đồng) còn tiểu đoàn của Minh thì hành quân ở Lạc An (Khánh Hòa). Hai đứa hẹn gặp nhau sau cuộc hành quân, uống một chầu mừng cho cuộc trùng phùng. Nhưng rồi cuộc hẹn đã không thành và tôi không bao giờ có cơ hội để được gặp lại Minh, người bạn đa tài mà tôi hằng mến mộ cả một thời đi học.

Cuộc hành quân dài hạn ở Di Linh vừa kết thúc, tiểu đoàn tôi không trở lại Nha Trang như dự trù mà lại nhận lệnh di chuyển đến Phan Thiết, tăng phái cho TK Bình Thuận, phối họp với một đơn vị Thiết Kỵ của Hoa Kỳ, hành quân giải tỏa mật khu Lê Hồng Phong. Một mât khu rộng lớn và địa thế hiểm trở bị Cộng quân chiếm cứ khá lâu. Tại tuyến xuất phát, tôi được anh sĩ quan truyền tin Tiểu Đoàn, cùng quê với Minh, cho biết Phan Ái Minh đã hy sinh tại Lạc An trước đó hai ngày, khi đang điều động trung đội tiến chiếm mục tiêu. Tôi bàng hoàng, xót xa khi vừa mất một người bạn mà mình hằng mến phục, quân đội cũng vừa mất đi một sĩ quan ưu tú, mà nếu còn sống chắc chắn sẽ trở thành một cấp chỉ huy tài giỏi sau này. Tôi mang hình ảnh của Minh theo suốt cuộc hành quân cam go hôm ấy. Cuộc hành quân kết thúc toàn thắng. Tôi nghĩ, có thể hình ảnh của Minh đã tạo thêm sức mạnh cho tôi để đơn vị tôi có được chiến thắng vẻ vang này.

Mấy đêm liền sau đó, tôi nằm trằn trọc nghĩ tới Minh, nhớ lại bao nhiêu kỷ niệm vui buồn. Nhớ những đêm cùng Minh và đám bạn bè nằm bên bờ con sông quê dưới bầu trời lung linh những vì sao, mầu nhiệm. Bỗng tôi giật mình khi nghĩ tới một điều kỳ lạ: các vì sao mà Minh đã chọn để đặt tên mình, tất cả chỉ vừa lóe sáng lên rồi vụt tắt. Và nhớ tới người con gái nào đó, được Minh trầm trồ tha thiết đặt tên, không biết nếu nghe được câu chuyện thơ mộng này lòng cô có nhiều xúc động? Tôi (và chắc có cả Minh nữa) thầm cầu mong cho cô được tròn hạnh phúc sau này.

Khóa 20VB được bổ sung về đơn vị tôi còn có các anh Vũ Phúc Sinh, Hoàng Văn An, Cao Đình Phú, Bùi Hữu Kiệt, Dương Đình Chính, Hồ Đắc Tùng, sau này đều là những cấp chỉ huy giỏi. Anh Vũ Phúc Sinh, người cùng về TĐ 4 với Minh, đã được đặc cách lên trung úy chỉ 9 tháng sau ngày ra đơn vị, Anh Hoàng Văn An là sĩ quan đẹp trai nhất Trung Đoàn, tính tình vui vẻ, cương trực, được mọi người từ quan tới lính yêu thương. Rất tiếc là các anh đã thuyên chuyển, rời khỏi đơn vị khá sớm, sau khi nắm đại đội và đánh thắng vài trận, để lại bao luyến thương và tiếc nuối cho tất cả mọi người. Dương Đình Chính đã tử trận (mất tích) tại chiến trường Kontum đầu năm 1973, khi vừa lên nắm Tiểu Đoàn 1. Bùi Hữu Kiệt thuyên chuyển về TK Ninh Thuận, nắm một tiểu đoàn ĐPQ và hy sinh tại Bình Định cuối năm 1972 khi dắt tiểu đoàn tăng cường cho mặt trận này. Người cuối cùng còn ở lại đơn vị là anh Hồ Đắc Tùng, sau này là một tiểu đoàn trưởng đã đóng góp nhiều chiến công trong chiến thắng Kontum mùa Hè 1972.

Khóa 20 VB đã có rất nhiều cấp chỉ huy lỗi lạc ở các quân, binh chủng, làm rạng danh quân lực. Một số đã thăng tiến rất nhanh, giữ các chức vụ trung đoàn trưởng BB, liên đoàn phó BĐQ. Sau này khi biết được một số trong những tên tuổi của Khóa 20 VB từng nổi danh trên các chiến trường: các anh Hoàng Mão, Lại Thế Thiết, Huỳnh Bá An, Vương Mộng Long, Phạm Cang, Quách Vĩnh Trường, Nguyễn Thái Bửu, Trương Phúc, Đoàn Minh Phương, Trương Dưỡng, Nguyễn Văn Măng, Phạm Văn Tiền…tôi luôn nghĩ đến Phan Ái Minh, người bạn đa tài của tôi, và nhớ tới những vì sao sớm vụt tắt trên bầu trời tuổi thơ của chúng tôi thuở trước.

Phạm Tín An Ninh

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

Nhạc Vinh danh chuẩn tướng Lương xuân Việt



User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Lương Xuân Việt, từ cậu bé tị nạn thành tướng quân đội Mỹ Hà Giang (Người Việt) - Fort Hood, Texas (NV) - Ðại Tá Lương Xuân Việt, phó tư lệnh đặc trách hành quân Sư Ðoàn 1 Thiết Kỵ được vinh thăng Chuẩn Tướng sáng 6 Tháng Tám, 2014, trở thành người gốc Việt đầu tiên được thăng cấp tướng trong lịch sử quân đội Hoa Kỳ.


Giây phút lịch sử


Từ 8 giờ sáng, với sự xuất hiện đông đảo của giới truyền thông báo chí, trong đó, hơn một nửa là người gốc Việt, trung tâm tiếp khách của Fort Hood đông đảo và nhộn nhịp khác thường.


Từ khắp nơi trên nước Mỹ, California, Arizona, Washington D.C, họ tề tựu về đây để chờ được đưa vào Cooper Field, trong khuôn viên Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 1 Thiết Kỵ, đưa tin tức về buổi lễ thăng cấp Chuẩn Tướng cho Ðại Tá Lương Xuân Việt.

Lễ thăng cấp của tân Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt có một ý nghĩa đặc biệt đối với cộng đồng gốc Việt trên khắp Hoa Kỳ. Và cũng là niềm hãnh diện của quân đội trong đó binh sĩ mọi cấp không tuyên thệ trung thành với một lãnh đạo nào, một thể chế nào; họ chỉ có một lý tưởng: Bảo vệ tự do - tự do cho người dân Hoa Kỳ và cho cả thế giới.
Image
Trung Tướng Mark Milley (trái) giúp Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt
cử hành nghi thức lập lại lời tuyên thệ trung thành với lý tưởng tự do,
một thông lệ sau khi thăng cấp của quân đội Hoa Kỳ.
(Hình: Hà Giang/Người Việt)
Ðặc biệt hơn nữa, Sư Ðoàn 1 Thiết Kỵ Hoa Kỳ từng tham chiến tại Việt Nam, với nhiều dấu tích còn được trưng bày tại Bảo Tàng Viện có tên “1st Calvary Division Museum.”

Sinh ra và lớn lên trong chiến tranh, rồi theo gia đình bỏ tất cả để ra đi, tìm tự do từ lúc còn là cậu bé chưa tròn mười tuổi, lý tưởng tự do có lẽ là một trong những nguyên nhân thúc đẩy Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt gia nhập quân đội Hoa Kỳ sau khi ông tốt nghiệp đại học University of Southern California (USC).

Niềm vui và ký ức

Với sự hỗ trợ của cảnh sát thành phố Austin, đúng 8:30 sáng, phòng giao tế của Fort Hood tránh dòng xe cộ đông đúc, đưa được đoàn xe hơn mười chiếc của giới truyền thông vào đến Cooper Field.

Nhộn nhịp, từng bừng hơn những buổi lễ thăng cấp khác, sân khấu lộ thiên của Sư Ðoàn 1 Thiết Kỵ hôm nay chật kín người.

Bên trái khán đài, ở ghế hàng đầu là gia đình vị tân chuẩn tướng, gồm mẹ, vợ, ba người con của ông, cùng bảy chị em gái. Phía sau là rất nhiều cựu quân nhân, sĩ quan của đủ mọi binh chủng trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa, trong đó có cậu, có bác của ông, cũng như một số đồng đội của thân phụ Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt trước đây.
Image
Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt xúc động trong lời cảm tạ
sau nghi lễ thăng cấp tại Fort Hood, Texas. (Hình: Hà Giang/Người Việt)
Bên phải khán đài là không biết bao nhiêu binh sĩ các cấp trong Sư Ðoàn 1 Thiết Kỵ, chen vai thích cánh chứng kiến giây phút quan trọng trong quân nghiệp của bậc chỉ huy mà họ quý mến. Một số sĩ quan cao cấp đã về hưu trong quân đội Hoa Kỳ, trước đây từng làm việc với Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt, cũng có mặt, để chung vui và chứng kiến một sự kiện mang nhiều ý nghĩa. Nhưng cảm động nhất phải kể đến sự hiện diện của một số cựu quân nhân Hoa Kỳ từng phục vụ tại Việt Nam trong chiến tranh Việt Nam.

Xa xa, trên bãi cỏ phía trái, đối mặt với khán đài, các thành viên trong ban quân nhạc hùng hậu của Sư Ðoàn 1 Thiết Kỵ chuẩn bị cho phần trình diễn. Ðối diện ban nhạc, mọi người trong giới truyền thông bận rộn chỉnh lại máy móc dụng cụ, sẵn sàng làm việc. Một đội ngũ đông đảo các binh sĩ có nhiệm vụ lo trật tự được điều phối rải rác khắp nơi, và những viên chức trong phòng giao tế tất bật qua lại lo mọi chi tiết cho buổi lễ.

Niềm hãnh diện tràn trề trên khuôn mặt những người tham dự, đặc biệt là giữa những cựu quân nhân sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hòa (VNCH).

Ông Bùi Quang Thống, từng thuộc Tiểu Ðoàn 9, Sư Ðoàn Nhảy Dù, quân lực VNCH, chia sẻ: “Chúng tôi rất hãnh diện đến đây để hoan nghênh tinh thần của tuổi trẻ.”

Ông Ðinh Thạch On, thuộc binh chủng Không Quân, quân lực VNCH, xúc động bày tỏ: “Tôi đến để mừng ngày vinh thăng Chuẩn Tướng của Ðại Tá Lương Xuân Việt, là người trẻ tôi hằng ngưỡng mộ. Người được nhiều tiếng tốt và tài giỏi trong quân lực Hoa Kỳ. Ông Lương Xuân Việt cũng là người tôi thương mến, vì có tinh thần phục vụ và nhất là muốn noi gương người bố.”

Ông Bùi Ðức Lạc, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 1, Pháo Binh Nhảy Dù, vai bác của Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt, khiêm tốn: “Tôi đến đây với tâm trạng một người Việt Nam mừng cho một người trẻ Việt Nam được lên cấp bậc cao nhất từ trước đến giờ trong quân đội Hoa Kỳ. Chúng tôi rất kỳ vọng vào giới trẻ gốc Việt ở đây, và mong giới trẻ mỗi ngày một tiến hơn. Tôi kỳ vọng vào các cháu.”

Từ San Antonio, Texas, đến dự lễ thăng cấp, đại tá về hưu Michael Kershaw, trước kia là cấp trên của Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt, từng phục vụ bên ông tại Iraq, nói về ông như một người tận tụy với gia đình, có tinh thần thẳng thắn, trung trực, và nhất là tinh thần trách nhiệm với đất nước. Cựu Ðại Tá Michael Kershaw nói: “Tôi lấy làm vinh dự đã được phục vụ với Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt, tôi có thể ngồi đây hàng tuần để kể về những kỷ niệm của mình, nhưng quan trọng nhất là ông là người đã cho tôi những hình ảnh vô cùng đẹp đẽ về một gia đình Việt Nam.”
Image
Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt chụp hình lưu niệm cùng gia đình
sau lễ thăng cấp chuẩn tướng tại Fort Hood, Texas.
(Hình: Hà Giang/Người Việt)
Ông Geary Willis, một cựu chiến binh Việt Nam, nay là giám đốc tổ chức “Society of the Vietnamese Airborne,” một hội ái hữu của những cựu cố vấn Không Quân Hoa Kỳ đã hỗ trợ cho Không Quân Việt Nam trước năm 1975, cho biết ông rất vui dù “lòng đầy xúc động.”

“Thật là tuyệt vời. Thật tuyệt vời. Hơn 50 năm trước, chúng tôi đã chiến đấu cho đất nước Việt Nam; và giờ đây, con em của một người ngày xưa chúng tôi đã giúp đang xả thân làm cho đất nước này mạnh hơn.” Ông Willis xúc động.

“Nhìn những khuôn mặt lớn tuổi trong bộ đồng phục ngày xưa của quân lực VNCH, tôi nhớ lại lòng tử tế và sự can đảm của những người Việt tôi đã gặp khi tôi đóng quân ở Việt Nam vào những năm 69 và 70. Tôi nhớ mình đã buồn hết sức buồn khi Sài Gòn thất thủ, và lo lắng không biết bạn bè người Việt của mình có được an toàn không. Thời đó tôi cũng là một huấn luyện viên cho các phi công Việt Nam, và tôi nhớ nỗi vui của mình khi cách đây hai năm, tôi biết được là người phi công Việt Nam đầu tiên mà tôi huấn luyện đã thoát khỏi Việt Nam, và giờ đây đang sống với gia đình tại Arlington, Texas. Ông ấy đã có 5 người con, người nào cũng tốt nghiệp đại học. Ông ấy cũng giống như Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt, thành công ở đây và đóng góp nhiều cho đất nước này.”

Từ California, Dân Biểu Liên Bang Alan Lowenthal gửi thông điệp: “Tôi rất vui mừng khi nhận được tin về việc thăng cấp của Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt. Là vị tướng gốc Việt đầu tiên trong quân đội Hoa Kỳ, Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt là một hình ảnh nổi bật không chỉ về nét đa dạng trong văn hóa, truyền thống và sắc tộc của nước Mỹ nói chung mà còn trong hàng ngũ các quân nhân nam nữ đang anh dũng phục vụ trong Quân Lực Hoa Kỳ. Tôi xin chúc Chuẩn Tướng Việt những điều tốt đẹp nhất trên con đường phục vụ quốc gia trong danh dự, anh dũng, và lòng can đảm.”

Bảy chị em gái nổi danh như một “huyền thoại” của Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt, mà ai cũng từng nghe nói đến, nhưng chưa bao giờ gặp mặt họ cùng một lúc, hôm nay ngồi theo đúng thứ tự, chị cả ngồi cạnh mẹ, rồi đến chị Hai, chị Ba...

Bà Lương Minh Hạnh, chị thứ ba của Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt, cho biết “rất hãnh diện là Việt đã tạo được dịp cho tất cả mọi người trong gia đình cũng như cộng đồng quây quần, em nghĩ rằng cả cộng đồng chứ không riêng gì gia đình chia sẻ niềm vui và hãnh diện chung.”

Bà Lương Minh Dung, người chị thứ hai của Tướng Lương Xuân Việt cho biết “cảm thấy bị áp đảo vì xúc động” và nhìn thấy các quân nhân Việt Nam ngày xưa mặc mũ đỏ mũ xanh tới đây, rồi các em nhỏ hơn mặc đồng phục quân đội Hoa Kỳ, thì trong lòng “cảm động, và vô cùng nhớ bố.”

Người chị cả Lương Minh Tâm ngậm ngùi: “Hôm nay là một ngày vui cho gia đình mình và cho mọi người trong cộng đồng. Rất tiếc là ngày hôm nay bố chúng tôi không còn sống nữa để thấy người con trai của mình đã chọn con đường và đi đến nơi mà ông đã muốn con mình đến. Bố chúng tôi ngày xưa ấp ủ trong lòng nhiều hoài bão cho Việt, giờ nhìn Việt thì tôi cứ nhớ hình ảnh của bố, chỉ tiếc là bố không còn sống để thấy được ngày hôm nay.”

Cậu bé tị nạn thành vị tướng

Sau nghi thức chào quốc kỳ và bài quốc ca trầm hùng do ban quân nhạc của Sư Ðoàn 1 Thiết Kỵ trình tấu, Trung Tướng Mark Milley, người cử hành nghi lễ, nhắc đến kỷ niệm 40 năm sắp đến của Tháng Tư Ðen, để giới thiệu nguyên nhân tại sao Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt và hơn một triệu đồng hương của ông hôm nay có mặt tại Mỹ.

Trung Tướng Mark Milley hoàn toàn chiếm lấy sự chú ý của cử tọa, nhất là giới truyền thông Hoa Kỳ, khi ông kể lại cuộc đời cậu bé tị nạn Việt Nam 9 tuổi thành vị tướng trong quân đội Mỹ.

Tất cả bắt đầu vào Tháng Hai, 1975, Trung Tướng Milley kể, sau khi thân phụ của Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt là ông Lương Xuân Ðương, lúc đó là thiếu tá Thủy Quân Lục Chiến trở về nhà sau khi đi một vòng thanh tra khắp các chiến trường.

Thiếu Tá Lương Xuân Ðương buồn bã báo cho gia đình biết ông nghĩ có lẽ Sài Gòn sẽ thất thủ vào Tháng Tư, và bắt đầu tính đến chuyện tìm cách đưa gia đình rời khỏi Việt Nam.

Nhưng đi bằng cách nào?

Trung Tướng Milley đặt câu hỏi, rồi tự trả lời: “Thoạt đầu ông (Lương Xuân Ðương) nghĩ sẽ đưa cả gia đình cùng đi, rồi lại nghĩ làm sao có thể đưa được gia đình 10 người đi cùng một lúc cho an toàn, chắc ông chỉ có thể mang được hai người con gái và cậu con trai duy nhất. Một lúc nào đó, ông lại nghĩ chắc rút vào rừng một mình để tìm cách thu góp binh sĩ, tạo lực lượng đánh lại cộng sản.”

Rất may, trong những giờ cuối của chiến tranh Việt Nam vào cuối Tháng Tư, cả gia đình Thiếu Tá Lương Xuân Ðương được quân đội Hoa Kỳ giúp đỡ an toàn thoát khỏi Việt Nam.

Những năm sau này, nhớ lại những ngày hoảng loạn cuối Tháng Tư, 1975, Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt thường nhắc đến việc được bố trao cho chiếc samsonite màu nâu và bắt “phải bảo vệ nó bằng tính mạng.” Chiếc samsonite này, “mà giờ này tôi vẫn còn nhớ như in trong óc,” chứa tất cả giấy tờ của gia đình, tài sản duy nhất mà gia đình họ Lương mang đi theo được.

Thắm thoát đã hơn 39 năm

“Việt và bảy chị em của ông giờ đây tự nguyện là công dân Mỹ.” Trung Tướng Mark Milley nói, và khẳng định: “Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt đã phục vụ đất nước vĩ đại này trong danh dự từ nhiều thập niên qua. Ngày hôm nay, không có ai trong bộ quân phục... Không có ai trong bộ quân phục ngày hôm nay có thể là biểu hiện cho những tính cách cần có của một sĩ quan quân đội Hoa Kỳ thích hợp hơn Việt.”

Trong phần phát biểu đầy cảm xúc, Chuẩn Tướng Lương Xuân Việt ngỏ lời cảm ơn gia đình, mẹ, các con, người vợ thân yêu, bảy người chị em “huyền thoại” của mình, và tỏ lòng biết ơn các chiến sĩ trong quân lực VNCH, trong đó nhiều người là đồng đội với thân phụ ông, rằng: “Nếu không có sự hy sinh bảo vệ cho chính nghĩa tự do của quý vị, chúng ta không có ngày hôm nay.”

Về thân phụ, ông nói: “Trong ngày vui này, tôi chỉ biết thầm cám ơn bố tôi. Ông là người đã cho tôi hiểu thế nào là ba chữ Tổ Quốc - Danh Dự - Trách Nhiệm.”

Về câu hỏi của phóng viên nhật báo Người Việt sau buổi lễ, là nếu giờ đây được ngồi trước mặt thân phụ, ông sẽ nói gì với cha, vị tân chuẩn tướng đáp trong nụ cười, dù mắt long lanh xúc động: “Thật sự thì tôi rất gần với Bố tôi. Tất cả những ảnh hưởng về quân sự, về lãnh đạo thì đều của thân phụ tôi, và tôi rất gần với ông. Và tôi nghĩ là nếu bây giờ tôi được gặp bố, thì tôi chỉ muốn được ôm lấy bố một lần.”

Hà Giang

User avatar
phodem
Posts: 229
Joined: Sat Feb 26, 2011 4:00 am

Post by phodem »

Image

Trung Sĩ VŨ TIẾN QUANG

Cái Bóng Của HOÀI VĂN VƯƠNG TRẦN QUỐC TOẢN
hay Truyện Người Lính Nhỏ Mà Chính Khí Lớn VŨ TIẾN QUANG


(Trích trong bộ Lịch Sử Thiếu Sinh Quân Việt Nam)
Vũ Tiến Quang sinh ngày 10 tháng 9 năm 1956 tại Kiên Hưng, tỉnh Chương Thiện. Thân phụ là hạ sĩ địa phương quân Vũ Tiến Đức. Ngày 20 tháng 3 năm 1961, trong một cuộc hành quân an ninh của quận, Hạ Sĩ Đức bị trúng đạn tử thương khi tuổi mới 25. Ông để lại bà vợ trẻ với hai con. Con trai lớn, Vũ Tiến Quang 5 tuổi. Con gái tên Vũ thị Quỳnh Chi mới tròn một năm. Vì có học, lại là quả phụ tử sĩ, bà Đức được thu dụng làm việc tại Chương Thiện, với nhiệm vụ khiêm tốn là thư ký tòa hành chánh. Nhờ đồng lương thư ký, thêm vào tiền tử tuất cô nhi, quả phụ, nên đời sống của bà với hai con không đến nỗi thiếu thốn.

Quang học tại trường tiểu học trong tỉnh. Tuy rất thông minh, nhưng Quang chỉ thích đá banh, thể thao hơn là học. Thành ra Quang là một học sinh trung bình trong lớp. Cuối năm 1967, Quang đỗ tiểu học. Nhân đọc báo Chiến Sĩ Cộng Hoà có đăng bài: “Ngôi sao sa trường: Thượng-sĩ-sữa Trần Minh, Thiên Thần U Minh Hạ”, bài báo thuật lại: Minh xuất thân từ trường Thiếu Sinh Quân Việt Nam. Sau khi ra trường, Minh về phục vụ tại tiểu đoàn Ngạc Thần (tức tiểu đoàn 2 trung đoàn 31, sư đoàn 21 Bộ Binh) mà tiểu đoàn đang đồn trú tại Chương Thiện. Quang nảy ra ý đi tìm người hùng bằng xương bằng thịt. Chú bé lóc cóc 12 tuổi, được Trần Minh ôm hôn, dẫn đi ăn phở, bánh cuốn, rồi thuật cho nghe về cuộc sống vui vẻ tại trường Thiếu Sinh Quân. Quang suýt xoa, ước mơ được vào học trường này. Qua cuộc giao tiếp ban đầu, Minh là một mẫu người anh hùng, trong ước mơ của Quang. Quang nghĩ: “Mình phải như anh Minh”.

Chiều hôm đó Quang thuật cho mẹ nghe cuộc gặp gỡ Trần Minh, rồi xin mẹ nộp đơn cho mình nhập học trường Thiếu Sinh Quân. Bà mẹ Quang không mấy vui vẻ, vì Quang là con một, mà nhập học Thiếu Sinh Quân, rồi sau này trở thành anh hùng như Trần Minh thì…nguy lắm. Bà không đồng ý. Hôm sau bà gặp riêng Trần Minh, khóc thảm thiết xin Minh nói dối Quang rằng, muốn nhập học trường Thiếu Sinh Quân thì cha phải thuộc chủ lực quân, còn cha Quang là địa phương quân thì không được. Minh từ chối:

- Em không muốn nói dối cháu. Cháu là Quốc Gia Nghĩa Tử thì ưu tiên nhập học. Em nghĩ chị nên cho cháu vào trường Thiếu Sinh Quân, thì tương lai của cháu sẽ tốt đẹp hơn ở với gia đình, trong khuôn khổ nhỏ hẹp.

Chiều hôm ấy Quang tìm đến Minh để nghe nói về đời sống trong trường Thiếu Sinh Quân. Đã không giúp bà Đức thì chớ, Minh còn đi cùng Quang tới nhà bà, hướng dẫn bà thủ tục xin cho Quang nhập trường. Thế rồi bà Đức đành phải chiều con. Bà đến phòng 3, tiểu khu Chương Thiện làm thủ tục cho con. Bà gặp may. Trong phòng 3 Tiểu Khu, có Trung Sĩ Nhất Cao Năng Hải, cũng là cựu Thiếu Sinh Quân. Hải lo làm tất cả mọi thủ tục giúp bà. Sợ bà đổi ý, thì mình sẽ mất thằng em dễ thương. Hải lên gặp Thiếu-tá Lê Minh Đảo, Tiểu Khu trưởng trình bầy trường hợp của Quang. Thiếu Tá Đảo soạn một văn thư, đính kèm đơn của bà Đức, xin bộ Tổng Tham Mưu dành ưu tiên cho Quang.

Tháng 8 năm 1968, Quang được giấy gọi nhập học trường Thiếu Sinh Quân, mà không phải thi. Bà Đức thân dẫn con đi Vũng Tàu trình diện. Ngày 2 tháng 9 năm 1969, Quang trở thành một Thiếu Sinh Quân Việt Nam.

Quả thực trường Thiếu Sinh Quân là thiên đường của Quang. Quang có nhiều bạn cùng lứa tuổi, dư thừa chân khí, chạy nhảy vui đùa suốt ngày. Quang thích nhất những giờ huấn luyện tinh thần, những giờ học quân sự. Còn học văn hóa thì Quang lười, học sao đủ trả nợ thầy, không bị phạt là tốt rồi. Quang thích đá banh, và học Anh văn. Trong lớp, môn Anh văn, Quang luôn đứng đầu. Chỉ mới học hết đệ lục, mà Quang đã có thể đọc sách báo bằng tiếng Anh, nói truyện lưu loát với cố vấn Mỹ.

Giáo-sư Việt văn của Quang là thầy Phạm Văn Viết, người mà Quang mượn bóng dáng để thay thế người cha. Có lần thầy Viết giảng đến câu :

“Nhân sinh tự cổ thùy vô tử,
Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh”
(Người ta sinh ra, ai mà không chết.
Cần phải lưu chút lòng son vào thanh sử).

Quang thích hai câu này lắm, luôn miệng ngâm nga, rồi lại viết vào cuốn sổ tay.

Trong giờ học sử, cũng như giờ huấn luyện tinh thần, Quang được giảng chi tiết về các anh hùng : Hoài Văn Vương Trần Quốc Toản, thánh tổ của Thiếu Sinh Quân, giết tươi Toa Đô trong trận Hàm Tử. Quang cực kỳ sùng kính Bảo Nghĩa Vương Trần Bình Trọng, từ chối công danh, chịu chết cho toàn chính khí. Quang cũng khâm phục Nguyễn Biểu, khi đối diện với quân thù, không sợ hãi, lại còn tỏ ra khinh thường chúng. Ba nhân vật này ảnh hưởng vào Quang rất sâu, rất đậm.

Suốt các niên học từ 1969-1974, mỗi kỳ hè, được phép 2 tháng rưỡi về thăm nhà, cậu bé Thiếu Sinh Quân Vũ Tiến Quang tìm đến các đàn anh trấn đóng tại Chương Thiện để trình diện. Quang được các cựu Thiếu Sinh Quân dẫn đi chơi, cho ăn quà, kể truyện chiến trường cho nghe. Một số ông uống thuốc liều, cho Quang theo ra trận. Quang chiến đấu như một con sư tử. Không ngờ mấy ông anh cưng cậu em út quá, mà gây ra một truyện động trời, đến nỗi bộ Tổng Tham Mưu Việt Nam, bộ Tư-lệnh MACV cũng phải rởn da gà! Sau trở thành huyền thoại. Câu chuyện như thế này:

Hè 1972, mà quân sử Việt Nam gọi là Mùa Hè Đỏ Lửa, giữa lúc chiến trường toàn quốc sôi động. Bấy giờ Quang đã đỗ chứng chỉ 1 Bộ Binh. Được phép về thăm nhà, được các đàn anh cho ăn, và giảng những kinh nghiệm chiến trường, kinh nghiệm đời. Quang xin các anh cho theo ra trận. Mấy ông cựu Thiếu Sinh Quân, trăm ông như một, ông nào gan cũng to, mật cũng lớn, lại coi trời bằng vung. Yêu cậu em ngoan ngoãn, các ông chiều…cho Quang ra trận. Cuộc hành quân nào mấy ông cũng dẫn Quang theo.

Trong môt cuộc hành quân cấp sư đoàn, đánh vào vùng Hộ Phòng, thuộc Cà Mau. Đơn vị mà Quang theo là trung đội trinh sát của trung đoàn 31. Trung đội trưởng là một thiếu úy cựu Thiếu Sinh Quân. Hôm ấy, thông dịch viên cho cố vấn bị bệnh, Quang lại giỏi tiếng Anh, nên thiếu úy trung đội trưởng biệt phái Quang làm thông dịch viên cho cố vấn là thiếu úy Hummer. Trực thăng vừa đổ quân xuống thì hiệu thính viên của Hummer trúng đạn chết ngay. Lập tức Quang thay thế anh ta. Nghĩa là mọi liên lạc vô tuyến, Hummer ra lệnh cho Quang, rồi Quang nói lại trong máy.

Trung đội tiến vào trong làng thì lọt trận điạ phục kích của trung đoàn chủ lực miền, tên trung đoàn U Minh. Trung đội bị một tiểu đoàn địch bao vây. Vừa giao tranh được mười phút thì Hummer bị thương. Là người can đảm, Hummer bảo Quang đừng báo cáo về Trung-tâm hành quân. Trận chiến kéo dài sang giờ thứ hai thì Hummer lại bị trúng đạn nữa, anh tử trận, thành ra không có ai liên lạc chỉ huy trực thăng võ trang yểm trợ. Kệ, Quang thay Hummer chỉ huy trực thăng võ trang. Vì được học địa hình, đọc bản đồ rất giỏi, Quang cứ tiếp tục ra lệnh cho trực thăng võ trang nã vào phòng tuyến địch, coi như Hummer còn sống. Bấy giờ quân hai bên gần như lẫn vào nhau, chỉ còn khoảng cách 20-30 thước.

Thông thường, tại các quân trường Hoa-kỳ cũng như Việt Nam, dạy rằng khi gọi pháo binh, không quân yểm trợ, thì chỉ xin bắn vào trận địa địch với khoảng cách quân mình 70 đến 100 thước. Nhưng thời điểm 1965-1975, các cựu Thiếu Sinh Quân trong khu 42 chiến thuật khi họp nhau để ăn uống, siết chặt tình thân hữu, đã đưa ra phương pháp táo bạo là xin bắn vào phòng tuyến địch, dù cách mình 20 thước. Quang đã được học phương pháp đó. Quang chỉ huy trực thăng võ trang nã vào trận địch, nhiều rocket (hoả tiễn nhỏ), đạn 155 ly nổ sát quân mình, làm những binh sĩ non gan kinh hoảng. Nhờ vậy, mà trận địch bị tê liệt.

Sau khi được giải vây, mọi người khám phá ra Quang lĩnh tới bẩy viên đạn mà không chết: trên mũ sắt có bốn vết đạn bắn hõm vào; hai viên khác trúng ngực, may nhờ có áo giáp, bằng không thì Quang đã ô-hô ai-tai rồi. Viên thứ bẩy trúng…chim. Viên đạn chỉ xớt qua, bằng không thì Quang thành thái giám.

Trung-tá J.F. Corter, cố vấn trưởng trung đoàn được trung đội trưởng trinh sát báo cáo Hummer tử trận lúc 11 giờ 15. Ông ngạc nhiên hỏi:

- Hummer chết lúc 11.15 giờ, mà tại sao tôi vẫn thấy y chỉ huy trực thăng, báo cáo cho đến lúc 17 giờ?

Vì được học kỹ về tinh thần trách nhiệm, Quang nói rằng mình là người lạm quyền, giả lệnh Hummer, thay Hummer chỉ huy. Quang xin lỗi Corter. Trung-tá J.F. Corter tưởng Quang là lính người lớn, đề nghị gắn huy chương Hoa Kỳ cho Quang. Bấy giờ mới lòi đuôi chuột ra rằng các ông cựu Thiếu Sinh Quân đã uống thuốc liều, cho thằng em sữa ra trận.

Đúng ra theo quân luật, mấy ông anh bị phạt nặng, Quang bị đưa ra tòa vì “Không có tư cách mà lại chỉ huy”. Nhưng các vị sĩ quan trong sư đoàn 21, trung đoàn 31 cũng như cố vấn đều là những người của chiến trường, tính tình phóng khoáng, nên câu truyện bỏ qua. Quang không được gắn huy chương, mà mấy ông anh cũng không bị phạt. Hết hè, Quang trở về trường mang theo kỷ niệm chiến đấu cực đẹp trong đời cậu bé, mà cũng là kỷ niệm đẹp vô cùng của Thiếu Sinh Quân Việt Nam. Câu truyện này trở thành huyền thoại. Huyền thoại này lan truyền mau lẹ khắp năm tỉnh của khu 42 chiến thuật : Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Chương Thiện. Quang trở thành người hùng lý tưởng của những thiếu nữ tuổi 15-17 !

Năm 1974, sau khi đỗ chứng chỉ 2 Bộ Binh, Quang ra trường, mang cấp bậc trung sĩ. Quang nộp đơn xin về sư đoàn 21 Bộ Binh. Quang được toại nguyện. Sư đoàn phân phối Quang về tiểu đoàn Ngạc Thần tức tiểu đoàn 2 trung đoàn 31, tiểu đoàn của Trần Minh sáu năm trước. Thế là giấc mơ 6 năm trước của Quang đã thành sự thực.

Trung đoàn 31 Bộ Binh đóng tại Chương Thiện. Bấy giờ tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng Chương Thiện là Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn, tham mưu trưởng tiểu khu là Thiếu Tá Nguyễn Văn Thời. Cả hai đều là cựu Thiếu Sinh Quân. Đại-tá Cẩn là cựu Thiếu Sinh Quân cao niên nhất vùng Chương Thiện bấy giờ (36 tuổi). Các cựu Thiếu Sinh Quân trong tiểu đoàn 2-31 dẫn Quang đến trình diện anh hai Cẩn. Sau khi anh em gặp nhau, Cẩn đuổi tất các tùy tùng ra ngoài, để anh em tự do xả xú báp.

Cẩn bẹo tai Quang một cái, Quang đau quá nhăn mặt. Cẩn hỏi:

- Ê ! Quang, nghe nói mày lĩnh bẩy viên đạn mà không chết, thì mày thuộc loại mình đồng da sắt. Thế sao tao bẹo tai mày, mà mày cũng đau à?

- Dạ, đạn Việt-cộng thì không đau. Nhưng vuốt anh cấu thì đau.

- Móng tay tao, đâu phải vuốt?

- Dạ, người ta nói anh là cọp U Minh Thượng…Thì vuốt của anh phải sắc lắm.

- Hồi đó suýt chết, thế bây giờ ra trận mày có sợ không?

- Nếu khi ra trận anh sợ thì em mới sợ. Cái lò Thiếu Sinh Quân có bao giờ nặn ra một thằng nhát gan đâu ?

- Thằng này được. Thế mày đã trình diện anh Thời chưa?

- Dạ anh Thời-thẹo không có nhà.

Thiếu Tá Nguyễn Văn Thời, tham mưu trưởng Tiểu-khu, uy quyền biết mấy, thế mà một trung sĩ 18 tuổi dám gọi cái tên húy thời thơ ấu ra, thì quả là một sự phạm thượng ghê gớm. Nhưng cả Thời lẫn Quang cùng là cựu Thiếu Sinh Quân thì lại là một sự thân mật. Sau đó anh em kéo nhau đi ăn trưa. Lớn, bé cười nói ồn ào, như không biết tới những người xung quanh.

Bấy giờ tin Trần Minh đã đền nợ nước tại giới tuyến miền Trung. Sự ra đi của người đàn anh, của người hùng lý tưởng làm Quang buồn không ít. Nhưng huyền thoại về Trần Minh lưu truyền, càng làm chính khí trong người Quang bừng bừng bốc lên.

Tại sư đoàn 21 Bộ Binh, tất cả các hạ sĩ quan cũng như các Thiếu Sinh Quân mới ra trường, thường chỉ được theo hành quân như một khinh binh. Đợi một vài tháng đã quen với chiến trường, rồi mới được chỉ định làm tiểu đội trưởng. Nhưng vừa trình diện, Quang được cử làm trung đội phó ngay, dù hầu hết các tiểu đội trưởng đều ở cấp trung sĩ, trung sĩ nhất, mà những người này đều vui lòng. Họ tuân lệnh Quang răm rắp!

Sáu tháng sau, đầu năm 1975 nhờ chiến công, Quang được thăng trung sĩ nhất, nhưng chưa đủ một năm thâm niên, nên chưa được gửi đi học sĩ quan. Quang trở thành nổi tiếng trong trận đánh ngày 1-2-1975, tại Thới Lai, Cờ Đỏ. Trong ngày hôm ấy, đơn vị của Quang chạm phải tiểu đoàn Tây Đô. Đây là một tiểu đoàn được thành lập từ năm 1945, do các sĩ quan Nhật Bản không muốn về nước, trốn lại Việt Nam…huấn luyện. Quang đã được Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn giảng về kinh nghiệm chiến trường:

“Tây Đô là tiểu đoàn cơ động của tỉnh Cần Thơ. Tiểu đoàn có truyền thống lâu đời, rất thiện chiến. Khi tác chiến cấp đại đội, tiểu đoàn chúng không hơn các đơn vị khác làm bao. Nhưng tác chiến cấp trung đội, chúng rất giỏi. Chiến thuật thông thường, chúng dàn ba tiểu đội ra, chỉ tiểu đội ở giữa là nổ súng. Nếu thắng thế, thì chúng bắn xối xả để uy hiếp tinh thần ta, rồi hai tiểu đội hai bên xung phong. Nếu yếu thế, thì chúng lui. Ta không biết, đuổi theo, thì sẽ dẫm phải mìn, rồi bị hai tiểu đội hai bên đánh ép. Vì vậy khi đối trận với chúng, phải im lặng không bắn trả, để chúng tưởng ta tê liệt. Khi chúng bắt đầu xung phong, thì dùng vũ khí cộng đồng nã vào giữa, cũng như hai bên. Thấy chúng chạy, thì tấn công hai bên, chứ đừng đuổi theo. Còn như chúng tiếp tục xung phong ta phải đợi chúng tới gần rồi mớí phản công”.


Bây giờ Quang có dịp áp dụng. Sau khi trực thăng vận đổ quân xuống. Cả đại đội của Quang bị địch pháo chụp lên đầu, đại liên bắn xối xả. Không một ai ngóc đầu dậy được. Nhờ pháo binh, trực thăng can thiệp, sau 15 phút đại đội đã tấn công vào trong làng. Vừa tới bìa làng, thiếu úy trung đội trưởng của Quang bị trúng đạn lật ngược. Quang thay thế chỉ huy trung đội. Trung đội dàn ra thành một tuyến dài đến gần trăm mét. Đến đây, thì phi pháo không can thiệp được nữa, vì quân hai bên chỉ cách nhau có 100 mét, gần như lẫn vào nhau. Nhớ lại lời giảng của Cẩn, Quang ra lệnh im lặng, chỉ nổ súng khi thấy địch. Ngược lại ngay trước mặt Quang, khoảng 200 thước là một cái hầm lớn, ngay trước hầm hai khẩu đại liên không ngừng nhả đạn. Quang ghi nhận vị trí hai khẩu đại liên với hai khẩu B40 ra lệnh:

” Lát nữa khi chúng xung phong thì dùng M79 diệt hai khẩu đại liên, B40, rồi hãy bắn trả “.

Sau gần 20 phút, thình lình địch xả súng bắn xối xả như mưa, như gió, rồi tiếng hô xung phong phát ra. Chỉ chờ có thế, M79 của Quang khai pháo. Đại liên, B40 bị bắn tung lên, trong khi địch đang xung phong. Bấy giờ trung đội của Quang mới bắn trả. Chỉ một loạt đạn, toàn bộ phòng tuyến địch bị cắt. Quang ra lệnh xung phong. Tới căn hầm, binh sĩ không dám lại gần, vì bị lựu đạn từ trong ném ra. Quang ra lệnh cho hai khẩu đại liên bắn yểm trợ, rồi cho một khinh binh bò lại gần, tung vào trong một quả lựu đạn cay. Trong khi Quang hô :

- Ra khỏi hầm, dơ tay lên đầu ! Bằng không lựu đạn sẽ ném vào trong.

Cánh cửa hầm mở ra, mười tám người, nam có, nữ có, tay dơ lên đầu, ra khỏi hầm, lựu đạn cay làm nước mắt dàn dụa.

Đến đây trận chiến chấm dứt.

Thì ra 18 người đó là đảng bộ và ủy ban nhân dân của huyện châu thành Cần Thơ. Trong đó có viên huyện ủy và viên chủ tịch ủy ban nhân dân huyện.

Sau trận này Quang được tuyên dương công trạng trước quân đội, được gắn huy chương Anh Dũng Bội Tinh với nhành dương liễu. Trong lễ chiến thắng giản dị, Quang được một nữ sinh trường Đoàn Thị Điểm quàng vòng hoa. Nữ sinh đó tên Nguyễn Hoàng Châu, 15 tuổi, học lớp đệ ngũ. Cho hay, anh hùng với giai nhân xưa nay thường dễ cảm nhau. Quang, Châu yêu nhau từ đấy. Họ viết thư cho nhau hàng ngày. Khi có dịp theo quân qua Cần Thơ, thế nào Quang cũng gặp Châu. Đôi khi Châu táo bạo, xuống Chương Thiện thăm Quang. Mẹ Quang biết truyện, bà lên Cần Thơ gặp cha mẹ Châu. Hai gia đình đính ước với nhau. Họ cùng đồng ý : Đợi năm tới, Quang xin học khóa sĩ quan đặc biệt, Châu 17 tuổi, thì cho cưới nhau.

Nhưng mối tình đó đã đi vào lịch sử…

Tình hình toàn quốc trong tháng 3, tháng 4 năm 1975 biến chuyển mau lẹ. Ban Mê Thuột bị mất, Quân Đoàn 2 rút lui khỏi Cao Nguyên, rồi Quân Đoàn 1 bỏ mất lãnh thổ. Rồi các sĩ quan bộ Tổng Tham Mưu được Hoa Kỳ bốc đi. Ngày 29-4, trung đội của Quang chỉ còn mười người. Tiểu đoàn trưởng, đại đội trưởng bỏ ngũ về lo di tản gia đình. Quang vào bộ chỉ huy tiểu khu Chương Thiện trình diện Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn. Cẩn an ủi :

- Em đem mấy người thuộc quyền vào đây ở với anh.

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, viên tướng mặt bánh đúc, đần độn Dương Văn Minh phát thanh bản văn ra lệnh cho quân đội Việt Nam Cộng-hòa buông súng đầu hàng. Tất cả các đơn vị quân đội miền Nam tuân lệnh, cởi bỏ chiến bào, về sống với gia đình. Một vài đơn vị lẻ lẻ còn cầm cự. Tiếng súng kháng cự của các đơn vị Dù tại Sài-gòn ngừng lúc 9 giờ 7 phút.

Đúng lúc đó tại Chương Thiện, tỉnh trưởng kiêm Tiểu Khu trưởng là Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn. Ông đang chỉ huy các đơn vị thuộc quyền chống lại cuộc tấn công của Cộng quân. Phần thắng đã nằm trong tay ông. Lệnh của Dương Văn Minh truyền đến. Các quận trưởng chán nản ra lệnh buông súng. Chỉ còn tỉnh lỵ là vẫn chiến đấu. Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn ra lệnh:

“Dương Văn Minh lên làm Tổng-thống trái với hiến pháp. Ông ta không có tư cách của vị Tổng Tư Lệnh. Hãy tiếp tục chiến đấu”.

Nhưng đến 12 giờ trưa, các đơn vị dần dần bị tràn ngập, vì quân ít, vì hết đạn vì mất tinh thần. Chỉ còn lại bộ chỉ huy tiểu khu. Trong bộ chỉ huy tiểu khu, có một đại đội địa phương quân cùng nhân viên bộ ham mưu. Đến 13 giờ, lựu đạn, đạn M79 hết. Tới 14 giờ 45, thì đạn hết, làn sóng Cộng quân tràn vào trong bộ chỉ huy. Cuối cùng chỉ còn một ổ kháng cự từ trong một hầm chiến đấu, nơi đó có khẩu đại liên. Một quả lựu đạn cay ném vào trong hầm, tiếng súng im bặt. Quân Cộng Sản vào hầm lôi ra hai người. Một là Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn, tỉnh trưởng, kiêm tiểu khu trưởng và một trung sĩ mớí 19 tuổi. Trung sĩ đó tên là Vũ Tiến Quang.

Bấy giờ đúng 15 giờ.

Kẻ chiến thắng trói người chiến bại lại. Viên đại tá chính ủy của đơn vị có nhiệm vụ đánh tỉnh Chương Thiện hỏi:

- Đ.M. Tại sao có lệnh đầu hàng, mà chúng mày không chịu tuân lệnh?

Đại Tá Cẩn trả lời bằng nụ cười nhạt.

Trung sĩ Quang chỉ Đại Tá Cẩn:

- Thưa đại tá, tôi không biết có lệnh đầu hàng. Ví dù tôi biết, tôi cũng vẫn chiến đấu. Vì anh ấy là cấp chỉ huy trực tiếp của tôi. Anh ra lệnh chiến đấu, thì tôi không thể cãi lệnh.

Cộng quân thu nhặt xác chết trong, ngoài bộ chỉ huy tiểu khu. Viên chính ủy chỉ những xác chết nói với Đại Tá Cẩn:

- Chúng mày là hai tên ngụy ác ôn nhất. Đ.M. Chúng mày sẽ phải đền tội.

Đại Tá Cẩn vẫn không trả lời, vẫn cười nhạt. Trung sĩ Quang ngang tàng:

- Đại tá có lý tưởng của đại tá, tôi có lý tưởng của tôi. Đại tá theo Karl Marx, theo Lénine; còn tôi, tôi theo vua Hùng, vua Trưng. Tôi tuy bại trận, nhưng tôi vẫn giữ lý tưởng của tôi. Tôi không gọi đại tá là tên Việt Cộng. Tại sao đại tá lại mày tao, văng tục với chúng tôi như bọn ăn cắp gà, phường trộm trâu vậy? Phải chăng đó ngôn ngữ của đảng Cộng-sản ?

Viên đại tá rút súng kề vào đầu Quang:

- Đ.M. Tao hỏi mày, bây giờ thì mày có chính nghĩa hay tao có chính nghĩa?

- Xưa nay súng đạn trong tay ai thì người đó có lý. Nhưng đối với tôi, tôi học trường Thiếu Sinh Quân, súng đạn là đồ chơi của tôi từ bé. Tôi không sợ súng đâu. Đại tá đừng dọa tôi vô ích. Tôi vẫn thấy tôi có chính nghĩa, còn đại tá không có chính nghĩa. Tôi là con cháu Hoài Văn Vương Trần Quốc Toản mà.

- Đ.M. Mày có chịu nhận mày là tên ngụy không?

- Tôi có chính nghĩa thì tôi không thể là ngụy. Còn Cộng quân dùng súng giết dân mới là ngụy, là giặc cướp. Tôi nhất quyết giữ chính khí của tôi như Bảo Nghĩa Vương Trần Bình Trọng, như Nguyễn Biểu.

Quang cười ngạo nghễ:

- Nếu đại tá có chính nghĩa tại sao đại tá lại dùng lời nói thô tục vớí tôi? Ừ! Muốn mày tao thì mày tao. Đ.M. tên Cộng Sản ác ôn! Nếu tao thắng, tao dí súng vào thái dương mày rồi hỏi: Đ.M.Mày có nhận mày là tên Việt Cộng không? Thì mày trả lời sao?

Một tiếng nổ nhỏ, Quang ngã bật ngửa, óc phọt ra khỏi đầu, nhưng trên môi người thiếu niên còn nở nụ cười. Tôi không có mặt tại chỗ, thành ra không mường tượng ý nghĩa nụ cười đó là nụ cười gì? Độc giả của tôi vốn thông minh, thử đoán xem nụ cưòi đó mang ý nghĩa nào? Nụ cười hối hận ? Nụ cười ngạo nghễ? Nụ cười khinh bỉ? Hay nụ cười thỏa mãn?

Ghi chú :

Nhân chứng quan trọng nhất, chứng kiến tận mắt cái chết của Vũ Tiến Quang thuật cho tác giả nghe là cô Vũ Thị Quỳnh Chi. Cô là em ruột của Quang, nhỏ hơn Quang 4 tuổi. Lúc anh cô bị giết, cô mới 15 tuổi (cô sinh năm 1960). Hiện (1999) cô là phu nhân của bác sĩ Jean Marc Bodoret, học trò của tôi, cư trú tại Marseille.


Cái lúc mà Quang ngã xuống, thì trong đám đông dân chúng tò mò đứng xem có tiếng một thiếu nữ thét lên như xé không gian, rồi cô rẽ những người xung quanh tiến ra ôm lấy xác Quang. Thiếu nữ đó là Nguyễn Hoàng Châu. Em gái Quang là Vũ thị Quỳnh Chi đã thuê được chiếc xe ba bánh. Cô cùng Nguyễn Hoàng Châu ôm xác Quang bỏ lên xe, rồi bọc xác Quang bằng cái Poncho, đem chôn.

Chôn Quang xong, Châu từ biệt Quỳnh Chi, trở về Cần Thơ. Nhưng ba ngày sau, vào một buổi sáng sớm Quỳnh-Chi đem vàng hương, thực phẩm ra cúng mộ anh, thì thấy Châu trong bộ y phục trắng của nữ sinh, chết gục bên cạnh. Mặt Châu vẫn tươi, vẫn đẹp như lúc sống. Đích thân Quỳnh Chi dùng mai, đào hố chôn Châu cạnh mộ Quang.


Năm 1998, tôi có dịp công tác y khoa trong đoàn Liên Hiệp các viện bào chế Châu Âu (CEP= Coopérative Européenne Pharmaceutique) , tôi đem J.M Bodoret cùng đi, Quỳnh Chi xin được tháp tùng chồng. Lợi dụng thời gian nghỉ công tác 4 ngày, từ Sài-gòn, chúng tôi thuê xe đi Chương Thiện, tìm lại ngôi mộ Quang-Châu. Ngôi mộ thuộc loại vùi nông một nấm dãi dầu nắng mưa, cỏ hoa trải 22 năm, rất khó mà biết đó là ngôi mộ. Nhưng Quỳnh-Chi có trí nhớ tốt. Cô đã tìm ra. Cô khóc như mưa, như gió, khóc đến sưng mắt. Quỳnh-Chi xin phép cải táng, nhưng bị từ chối. Tuy nhiên, cuối cùng có tiền thì mua tiên cũng được. Giấy phép có. Quỳnh-Chi cải táng mộ Quang-Châu đem về Kiên Hưng, chôn cạnh mộ của ông Vũ Tiến Đức. Quỳnh-Chi muốn bỏ hài cốt Quang, Châu vào hai cái tiểu khác nhau. Tôi là người lãng mạn. Tôi đề nghị xếp hai bộ xương chung với nhau vào trong một cái hòm. Bodoret hoan hô ý kiến của sư phụ.


Ngôi mộ của ông Đức, của Quang-Châu xây xong. Tôi cho khắc trên miếng đồng hàng chữ:

“Nơi đây AET Vũ Tiến Quang, 19 tuổi,
An giấc ngàn thu cùng
Vợ là Nguyễn Hoàng Châu
Nở nụ cười thỏa mãn vì thực hiện được giấc mộng”


Giấc mộng của Quang mà tôi muốn nói, là: được nhập học trường Thiếu Sinh Quân, rồi trở thành anh hùng. Giấc mộng của Châu là được chết, được chôn chung với người yêu. Nhưng người ta có thể hiểu rằng: Quang thỏa mãn nở nụ cười vì mối tình trọn vẹn.

Paris ngày 13 tháng 4 năm 1999.
Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

Đại hội Nhảy Dù Việt Nam lần thứ 34 -

Kỷ niệm 60 năm ngày thành lập
binh chủng Nhảy Dù Việt Nam (1954-2014).

Phương Mai.


Họ là ai! Sống đời dũng cảm
Áo trận giày saut đi trên mây gió ...


Nhiệm vụ sắt son một lòng vì nước, vì dân không hề sờn tấc dạ.
Image Austin, thủ đô của tiểu bang Texas trong những ngày cuối hạ, cái nóng hừng hực đốt cháy da người, không làn gió, không tiếng chim kêu vượn hú của vùng Nam Vương quốc Ai lao, không tiếng pháo nổ của quân thù, đoàn quân Mũ đỏ của một thời ngày xưa đã rộn rập kéo về trước tiền đình Quốc Hội của thủ đô Texas, hân hoan dựng lại lá cờ vàng 3 sọc đỏ, trước sự ngỡ ngàng, rồi đến ngưỡng mộ của dân bản xứ, tất cả đám đông cùng hòa nhịp con tim với đồng bào ruột thịt của chúng ta, cùng tôn vinh lá cờ linh thiêng của Tổ Quốc, cùng nhấp miệng theo lời ca hùng hồn Tiếng Gọi Công Dân, Tất cả cùng một lòng nhớ ơn các Chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa và Ðồng Minh đã hy sinh cho cuộc chiến che chở đồng bào, tôn vinh chính nghĩa Quốc Gia Dân Tộc, giữ gìn giang san gấm vóc mà Tiền Nhân đã dầy công xây dựng và bảo vệ.

Với một nghi thức khai mạc, chào cờ Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa rất long trọng và trang nghiêm lúc 8 giờ 30 sáng thứ Bảy, đã làm ngỡ ngàng, cho biết bao du khách viếng thăm dinh thự của thủ phủ bang Texas. Image

Image

Trong dịp này chúng tôi cũng được biết thêm: Mũ đỏ Chi hội trưởng Austin Nguyễn Thành Thiện đã phải làm việc chặt chẽ và kiên nhẫn với văn phòng Thống đốc và Dân biểu tiểu bang Hilbert Võ; nên kết quả là Thống đốc tiểu bang Texas và Dân biểu Hilbert Võ đã đồng một lòng quí mến, cũng như ca ngợi lòng dũng cảm của các quân nhân phục vụ trong binh chủng Nhảy Dù Việt Nam, đây là một đơn vị, bao gồm những quân nhân xuất sắc và gan dạ chiến đấu trong suốt chiều dài cuộc chiến 21 năm chiến tranh Việt Nam. Nên đã ngưỡng mộ, cùng hân hoan ban hành Nghị quyết:

Chọn ngày 16/8 hằng năm là ngày Nhảy Dù Việt Nam để vinh danh Binh Chủng mà họ đã thương mến.

Sau buổi chào cờ và phát biểu của Ban tổ chức, tất cả trở về hội trường của nhà thờ Holy Vietnamese Martyrs Church, để dự đại hội lần thứ 34 của Gia đình Mũ đỏ Việt Nam, riêng những thân nhân và thân hữu khác ngoài Mũ Ðỏ được đưa đón thăm viếng thắng cảnh vùng thủ đô. Được biết năm nay đại hội lần thứ 34 với nội dung về hiện tình Việt Nam và người lính Nhảy Dù phải làm gì ? trước thảm họa mất nước vào tay Tàu cộng ! Ðồng thời bàn thảo phải xây dựng nền tảng căn bản, giúp thế hệ trẻ chuẩn bị cho tương lai của đất nước.

Image Buổi đại hội diễn ra trong ngày và được chấm dứt lúc 4:00PM, sau đó một nghi lễ tôn giáo tôn vinh vị Thánh Tổ của Binh Chủng Nhảy Dù Việt Nam, đồng thời cũng là thánh tổ Nhảy Dù của nhiều quốc gia tiên tiến: Như Anh, Pháp, Đức, Hoa Kỳ ..v.v... Buổi lễ trang nghiêm này do Linh Mục Tuyên Ủy Vũ Minh đảm trách. Sau đó tất cả được xe Bus đón về nhà hàng Fortune để dự tiệc mừng kỷ niệm 60 năm thành lập binh chủng Nhảy Dù Việt Nam, cũng chính là tiệc liên hoan mừng Đại hội 34 thành công.

Theo chương trình của Ban tổ chức cho biết sẽ khai mạc đúng 7:00PM nhưng 6 giờ PM quan khách đã đông đủ tại nhà hàng. Chúng tôi, nhận thấy ngoài Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam về tham dự từ khắp 5 Châu, đặc biệt có sự hiện diện của Chuẩn tướng Lương Xuân Việt và Phu nhân, tư lệnh phó Sư đoàn 1 Thiết kỵ của Hoa Kỳ, đồn trú tại Fort Hood, đại diện văn phòng Thống đốc Rick Perry và Dân biểu Hilbert Võ, Nghị viên thành phố Haltom ông Trương Minh Ẩn và Phu nhân, Ban chấp hành cộng đồng Austin, Liên hội Chiến sĩ Việt nam Cộng hòa Dallas/Fort Worth, hội Cựu SVSQ Thủ đức Austin, hội Cựu SVSQ Thủ đức Dallas, hội Văn Hóa Khoa Học Austin, hội đồng Mục vụ Giáo xứ Austin, Ủy ban xây dựng tượng đài Dallas/Fort Worth Bác sĩ Đàng Thiện Hưng, Báo Bút Việt News ông Mai Văn Đức, Báo Đoàn Kết ông Trần Đỗ Cẩm và Phu nhân, đài phát thanh DFW 870AM Chí Nhân & Liên Bích Đào, SBTN- Austin, SGN 51.3 đến từ Houston, và nhiều hội đoàn bạn khác về tham dự.

Sau phần nghi lễ chào cờ và phút mặc niệm, chúng tôi lắng nghe tiếng trầm bổng của bài truy điệu các Chiến Sĩ Nhảy Dù đã vị quốc vong thân, nêu danh các Mũ đỏ và các Cố vấn Team 162 đã giả từ anh em trong năm qua.
Image Mũ đỏ Nguyễn Thành Thiện thay mặc ban tổ chức đại hội lần thư 34 và kỷ niệm 60 năm thành lập binh chủng Nhảy Dù Việt Nam. Từ tốn cảm ơn quan khách về tham dự trong tinh thần “ một ngày Mũ đỏ, một đời Mũ đỏ ”, tổ chức nào cũng có khó khăn nhưng sự hiện diện quá đông đủ của quý Niên trưởng, quý anh chị em Mũ Ðỏ và Gia đình về tham dự đã là món quà tinh thần, giúp cho Ban tổ chức quên đi những vất, trong suốt năm qua để chuẩn bị, ngoài ra Mũ Đỏ Thiện còn nhấn mạnh bên cạnh anh còn có những Mũ đỏ khác tuy ở xa xôi nhưng rất năng nổ phụ giúp trên nhiều khía cạnh để đại hội được thành thành công. Đặc biệt lần đầu tiên đại hội Nhảy dù Việt Nam được sự tiếp tay nồng nhiệt của thế hệ trẻ đó là Ban văn nghệ Lưu Gia và bạn trẻ Austin đã sốt sắng, trên nhiều phương diện, nhiều khía cạnh, như trang trí, văn nghệ..v.v... Ðể giúp cho đại hội được diễn ra tốt đẹp. Qủa đúng như vậy, từ những ngày đầu, chúng tôi đã chứng kiến việc làm đầy thiện chí ấy.
Image Nhìn chung, của người tham dự trong kỳ đại hội lần thứ 34 và kỷ niệm 60 năm thành lập binh chủng Nhảy Dù Việt Nam tại Austin thủ đô Texas, mọi người đều nhận thấy trên phương diện tổ chức có những điểm đáng ghi nhận:

- Một lễ chào cờ tại tiền đình Quốc Hội của thủ phủ Texas là một vinh dự lớn lao cho người Việt tỵ nan cộng sản nói chung và Quân lực Việt Nam Cộng hòa nói riêng, đặc biệt binh Chủng Nhảy Dù Việt Nam rất hãnh diện.

- Thống đốc Texas, Rick Perry và Dân Biểu Hilbert Võ đã ra Nghị quyết chọn ngày 16/8 là ngày vinh danh Nhảy Dù Việt Nam, cũng nên nhắc lại ngày này cũng là ngày Tổng Thống Hoa Kỳ đã vinh danh Binh Chủng Nhảy Dù Hoa Kỳ.

- Gạch nối giữa thế hệ trẻ và người lính Việt Nam Cộng Hòa đặc biệt là binh chủng Nhảy Dù Việt Nam đã có được mối tình thân thiện mật thiết giữ hai thế hệ để hiểu rỏ hơn về thân phận người lính VNCH nói chung và Binh Chủng Nhảy Dù Việt Nam nói riêng, trong cuộc chiến vừa qua.

- Đặc biệt có sự hiện diện của Chuẩn tướng Lương Xuân Việt và Phu nhân với những lời ngắn gọn của ông như một con cháu của người lính Việt Nam Cộng Hòa luôn biết ơn những tinh thần can đảm ấy “Tôi không mê nhảy dù nhưng rất mến mộ tinh thần tự nguyện và đức tính dũng cảm của người lính Nhảy Dù Việt Nam vì vậy tôi đã chọn binh chủng Nhảy Dù ...”

Là người Việt nam đã từng sống và trưởng thành trong chiến tranh chắc chắn phải công nhận, quí mến câu thành ngữ “Nhảy Dù Cố gắng” của người lính Nhảy Dù Quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Họ là những Thiên Thần sát Cộng; từ Bến Hải đến Cà Mâu không nơi nào thiếu dấu chân của đoàn quân Mũ Ðỏ.

Ngày xưa nơi tuyến đầu của vùng Trị Thiên, người lính Nhảy dù được đồng bào mến mộ, sau những ngày chiến đấu với quân thù giành từng tấc đất, đến lúc bình an họ còn là những quân nhân giúp đồng bào xây dựng nhà cửa, trường học...... Chăm sóc sức khỏe cho con em, khuyến khích con em cắp sách đến trường. Ngày hôm nay chúng ta phải thừa nhận có khá đông những tên tuổi đã làm nên công danh sự nghiệp nơi quê hương này, đã xuất thân từ khói lửa, chiến tranh Việt Nam.



Cảm ơn người lính Nhảy Dù Việt Nam Cộng Hòa, chúng tôi tuy sinh sau đẻ muộn nhưng lúc nào trong trái tim cũng hướng về các anh, các anh đúng là những Thiên thần. Tổ Quốc, Quê Hương và Ðồng Bào Việt Nam luôn luôn và mãi mãi nhớ ơn các anh ...

Sau đây, hai bản NGHỊ QUYẾT của TIỂU BANG TEXAS :
Image

Image

TuanAnh
Posts: 329
Joined: Sat Jan 30, 2010 3:44 am

Post by TuanAnh »

Địa Phương Quân và Nghĩa Quân QLVNCH

Long Ðiền

Mục đích:

Bài này viết để vinh danh những “Anh Hùng Vô Danh” Ðịa Phương Quân và Nghĩa Quân trong cuộc chiến 1954-1975, họ là những người chịu nhiều đau thương nhất, tổn thất cao nhất so với các binh chủng khác trong QLVNCH, đồng thời họ chịu nhiều sỉ nhục từ phía cộng sản.

Vì chính CSVN xem họ là kẻ thù nguy hiểm nhất qua 2 câu vè tuyên truyền của VC thời đó:

“Ngàn hai bắt được thì tha.
Chín trăm bắt được đem ra chặt đầu”

(1200 đồng là lương hàng tháng của quân dịch Chủ Lực Quân, 900 là lương của Dân Vệ/Nghĩa Quân) thực tế CSVN chỉ tuyên truyền vậy thôi, thời kỳ chiến tranh 1945-1975 chúng bắt được ai thì hầu hết đều bị thủ tiêu chớ làm gì có tha ai đâu.

*Giới thiệu sơ lược:

Ðịa Phương Quân, thời kỳ đầu được gọi là Bảo An Ðoàn, là lực lượng vũ trang địa phương của Quân Lực Việt Nam Cộng hòa trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam.

Bảo An Ðoàn được thành lập năm 1955 trên cơ sở thống nhất các lực lượng Bảo Chính Ðoàn, Nghĩa Dũng Ðoàn, Việt Binh Ðoàn do Pháp bàn giao lại, thu nạp thêm một bộ phận các tín đồ Thiên Chúa giáo Miền Bắc di cư vào Nam năm 1954. Trong thời gian từ năm 1955 đến 1964, lực lượng Bảo An Ðoàn trực thuộc Bộ Nội Vụ Việt Nam Cộng Hòa, làm nhiệm vụ bảo đảm trật tự trị an ở từng địa phương.

Từ 1964, Bảo An Ðoàn được chuyển sang trực thuộc Bộ Quốc Phòng Việt Nam Cộng Hòa và đổi tên thành Ðịa Phương Quân. Ðịa Phương Quân tổ chức thành các đại đội (khoảng 100 người). Trong thời gian từ 1968 đến 1972, lực lượng này phát triển mạnh từ 895 lên 1,823 đại đội, tương ứng với số quân 132,000 lên 301,000. Cuối 1972, một số đại đội Ðịa Phương Quân được gộp lại thành tiểu đoàn. Phần lớn các đồn lớn là của Ðịa Phương Quân do tiểu khu và chi khu điều khiển. Các đồn nhỏ do phân chi khu (xã), giao cho Nghĩa Quân phụ trách. Bộ Chỉ Huy quận hay còn gọi là chi khu thông thường do lực lượng Nghĩa Quân bảo vệ.

Chi khu trưởng và Ban Tham Mưu chi khu là những cấp chỉ huy xuất sắc của Chủ Lực Quân đưa sang nên họ đã huấn luyện, hướng dẫn các đơn vị ÐPQ/NQ những phương thức hữu hiệu để tiêu diệt cộng sản mà họ đã có được kinh nghiệm khi còn chỉ huy các đại đơn vị tinh nhuệ như Nhảy Dù, Biệt Ðộng, Thủy Quân Lục Chiến, v.v... Do đó có nhiều trung đội Nghĩa Quân đánh giặc hữu hiệu không thua gì các đơn vị chủ lực. Chính hai thành phần này mới là những người bám rễ giữ đất, chịu nhiều gian khổ và thương vong nhất trong cuộc chiến bảo vệ lãnh thổ.

Phía cộng sản xem họ là kẻ thù nguy hiểm, nhưng báo chí Miền Nam Việt Nam thời đó cũng tỏ ra có nhiều ngộ nhận không ít về họ. Có báo thì cho là lính ma, lính kiểng, có báo thì cho là binh chủng lạc hậu và đặt tên là “con rùa chậm tiến” chỉ vì họ không được trang bị hiện đại bằng các binh chủng khác, luôn luôn được trang bị chậm và thiếu các loại vũ khí tối tân như M16, M79 phóng lựu và thông thường phương tiện di chuyển hay hành quân họ thảy đều dùng đôi chân của mình chớ không có phương tiện cơ hữu như quân xa, máy bay. Họ đánh giặc theo kiểu nhà nghèo. Lương thì ít ỏi không đủ sống, vì vậy đôi khi NQ còn được trợ cấp thực phẩm, có 2 câu thơ truyền miệng:

“Dân Vệ Ðoàn vì dân trừ bạo
Hai bao gạo một thùng dầu.”
(Chú thích: Gạo của Hoa Kỳ trợ cấp loại 10 ký/bao, dầu là loại dầu ăn hột cải 4 lít.)

Nhận định về người lính ÐPQ/NQ thuộc QLVNCH xin đơn cử một số nhận định sau đây:

1- Quân lực Việt Nam Cộng Hòa 1968-1975 (bài của nhà nghiên cứu về Việt Nam Bill Laurie):

Bill Laurie là sử gia Hoa Kỳ, một trong những chuyên gia nghiên cứu về Việt Nam và nhân chứng được mời trình bày quan điểm trong cuộc hội thảo mang tên “Quân Ðội Việt Nam Cộng Hòa: Suy ngẫm và tái thẩm định sau 30 năm” (ARVN: Reflections and reassessments after 30 years) do Trung Tâm Việt Nam thuộc Ðại Học Texas Tech tổ chức tại Lubbock trong hai ngày 17 và 18 tháng 3 năm 2006.

Trong số nhiều diễn giả Việt Mỹ, ông Laurie là người nêu ra quan điểm trung thực và thẳng thắn nhất của riêng ông về một quân đội mà ông từng sát cánh với cương vị một chuyên viên tình báo cao cấp trong nhiều năm, song song với những ý kiến không quanh co che đậy về giới truyền thông và chính trị Hoa Kỳ trong thời chiến tranh tại Việt Nam. Bài này dịch thuật nguyên văn bài viết của Bill Laurie, mà ông dùng để trình bày lại, vắn tắt hơn, trong buổi hội thảo. Bill Laurie gửi tặng bài viết cho dịch giả, cho phép được dịch và phổ biến trong giới truyền thông Việt ngữ.

Sử gia Bill Laurie đã có nhận định như sau về ÐPQ và NQ:

“Cũng không hề có ai ngụ ý hay nói với tôi rằng có thể là lực lượng Ðịa Phương Quân tỉnh Hậu Nghĩa, là những dân quân của tỉnh, đã làm mất mặt chẳng những một mà tới ba trung đoàn chính quy của quân đội miền Bắc trong chiến dịch tấn công năm 1972 của Hà Nội.

“Họ đã nhai nát và nhổ phun ra nguyên cả lực lượng tấn kích của đối phương, một lực lượng có thể đã làm đổi chiều lịch sử vào thời kỳ đó. Ðịa Phương Quân không được pháo binh và không quân sẵn sàng yểm trợ như lực lượng chính quy VNCH, trong đó kể cả Nhảy Dù, Biệt Ðộng Quân, Thủy Quân Lục Chiến,... Quân địa phương chỉ dựa vào kỹ thuật chiến đấu căn bản bộ binh.”

2- Bài “Xác Ðịnh Giá Trị Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa” của Tiến Sĩ Lewis Sorley (phần nói về ÐPQ/NQ)

Tiến Sĩ Lewis Sorley tốt nghiệp cử nhân năm 1956 tại U.S. Military Academy, West Point; M.A. năm 1963 tại University of Pennsylvania; M.P.A năm 1973 tại Pennsylvania State University; và tiến sĩ (PhD) năm 1979 tại Johns Hopkins University ông đã trình bày về những nhận xét ÐPQ/NQ như sau:

“Ông Thomas J. Barnes trở lại Việt Nam sau ba năm vắng mặt để làm việc trong chương trình bình định vào mùa Thu 1971. Ông nói với Tướng Fred Weyand là ‘Tôi đã ngạc nhiên với ba tiến bộ chính, sự phồn thịnh của nông thôn, Ðịa Phương Quân và Nghĩa Quân giữ vững vị trí và phát triển sự tự trị chính trị kinh tế làng xã. Ta đã giúp làng xã lấy lại tính cách độc lập và tự lực theo tập tục Việt Nam. Ðó là việc tham gia quan trọng nhất của chúng ta trong công việc bình định.’

“Tháng Năm 1967, khi Ðại Tướng Abrams đến Việt Nam thì Quân Lực VNCH gồm có Lục Quân, Hải Quân, Thủy Quân Lục Chiến và Không Quân. Ngoài ra còn có những lực lượng diện địa bao gồm Ðịa Phương Quân (ÐPQ) và Nghĩa Quân (NQ) phụ trách an ninh lãnh thổ. Tỉnh Trưởng chỉ huy Ðịa Phương Quân còn Nghĩa Quân đặt dưới quyền Quận Trưởng. Các lực lượng này trú đóng tại địa phương của họ và thực hiện mục tiêu ‘càn quét và giữ đất’. Vào năm 1970 đã có 550,000 quân số, nghĩa là một nửa QLVNCH.

“ÐPQ và NQ gia tăng khả năng và thành tích của họ và phải được ghi công đầu. Trong buổi thuyết trình WIEU (dự đoán tình báo hàng tuần) cho quan khách Tướng Abrams nói, ‘Ðiều tôi quan tâm nhất là vai trò của ÐPQ và NQ trong chiến cuộc luôn bị quên lãng. Người ta chỉ thường nói đến QLVNCH trong khi đã lâu nay ÐPQ và NQ gánh chịu nhiều tổn thất và đã giáng cho quân địch nhiều đòn chí tử... Tôi nói thẳng, nếu ta muốn nói đến an ninh cho dân thì đây mới là phần việc lớn!’”

Cùng một lúc, ông nói rõ ràng về thành tích của các đơn vị này, “Tôi không biết có nên trang bị thêm các đại đội Lục Quân không? Nếu có thêm nhân số thì tôi nghĩ đem đầu tư vào các lực lượng diện địa (ÐPQ/NQ) này có lợi hơn.”

Cuối năm 1969, khi nhìn biểu đồ tình hình trong ba tháng vừa qua ghi rõ ai đã đem lại nhiều thành quả nhất về khí giới, tử vong, Tướng Abrams đã nói: “Thật rõ ràng và đúng. Số địch bị giết, khí giới thu được, hầm bí mật phát hiện, v.v... thì QLVNCH vẫn giữ nguyên tỷ lệ 27/28% trong khi tỷ lệ của Ðồng Minh sút giảm. Sự chênh lệch là do các lực lượng địa phương và đã xẩy ra từ Tháng Tám vừa qua.”

Một người trong cử tọa nói lớn, “Ðó là tính chất của cuộc chiến!”

Tướng Abrams trả lời ngay, “Ðúng lắm! Tôi luôn luôn hỏi lợi nhuận thu được từ 100,000 súng M-16 như thế nào? Như vậy hả? Vâng ta đã bắt đầu thấy kết quả”!

Ông Bill Colby cũng nhận xét rằng trong Tháng Bẩy 1970 lực lượng địa phương cũng bảo vệ được súng của mình. Tỷ lệ khí giới mất đối chiếu với vũ khí thu được là một trên ba, khác hẳn tình trạng năm năm trước đây.

Tướng Abrams nói thêm: “Các lực lượng địa phương, các con sóc ấy tiến tới rất vững vàng. Một tình trạng đã được duy trì lâu nay là ÐPQ và NQ đã gánh chịu phần lớn trách nhiệm chiến tranh.” “NQ đã lần hồi gỡ bỏ mặc cảm của một phụ lực quân để trở thành các binh sĩ chính quy và là một bộ phận chính của bộ máy chiến tranh”!

Các sĩ quan cao cấp Việt Nam cũng nhìn nhận như Trung Tướng Ngô Quang Trưởng:

“Các ÐPQ và NQ tăng tiến về phẩm cũng như lượng và đã được các nhân vật bình luận khắt khe như Tướng Julian Ewell khen tặng: “Họ là mũi nhọn trên chiến trường”!

Ưu điểm:

Sở trường của ÐPQ/NQ là đánh du kích, là triệt tiêu hạ tầng cơ sở địch, trong chiến dịch Phượng Hoàng họ là binh chủng cung cấp tin tức tình báo nhiều nhất, chính xác nhất, đồng thời cũng là đơn vị trực tiếp triển khai hành quân, thanh lọc, phục kích để tiêu diệt du kích Việt Cộng và lực lượng địa phương huyện, xã của địch. Vì sống gần dân (ÐPQ) trong dân (NQ) nên họ nhận được nhiều tin tức tình báo quý giá, những báo cáo về sự thâm nhập của quân CS vào trong xã ấp, những thói quen di chuyển của VC nên các cuộc đột kích, phục kích của ÐPQ/NQ rất dễ thành công.

- Trong thế phòng thủ đôi khi đối đầu với chủ lực CS, các chiến sĩ NQ/ÐPQ cũng đã đánh nhiều trận ngoạn mục bẻ gãy các cuộc tấn công bằng xe tăng có pháo binh yểm trợ của chủ lực CS Bắc Việt.

- Trong công tác Bình Ðịnh Phát Triển họ là thành phần xuất sắc góp phần trong các chính sách của Quốc Gia như rào ấp Chiến Lược, ấp Tân Sinh, Luật Người Cày Có Ruộng, v.v...

- Trong quốc sách Chiêu Hồi mà kết quả trên 200,000 cán binh VC về hồi chánh để trở về với đại gia đình dân tộc thì ÐPQ/NQ là có thành tích cao nhất trong việc kêu gọi cán binh VC trở về với chính nghĩa Quốc Gia.

- Trong công cuộc trường kỳ kháng chiến của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bảo vệ miền Nam chống lại sự xâm lăng ồ ạt của quân chính quy Cộng Sản Bắc Việt cũng như sự phá rối trị an của du kích cộng sản còn gọi là Việt Cộng (VC). Lực lượng Diện Ðịa bao gồm Ðịa Phương Quân (ÐPQ) và Nghĩa Quân (NQ) đảm nhận trọng trách lớn lao là bảo vệ làng, xã, thị xã, tỉnh lỵ, đô thị, trường học, cầu cống, quốc lộ, tỉnh lộ, trục lộ giao thông nông thôn, đường sắt, các công trình quan trọng (như đập thủy điện Ða Nhim, Nhà Ðèn Chợ Quán, v.v...)

Có bảo vệ an toàn nơi tuyến đầu là nông thôn thì chốn hậu phương thành thị mới yên ổn để phát triển và xây dựng, thất bại ở nông thôn là mất hậu cứ căn bản sẽ bị Cộng Sản bao vây và khủng bố. Chúng ta thử nghĩ hậu cứ của các đại đơn vị của QLVNCH tại thủ đô Sài Gòn, Huế, Cần Thơ, v.v... sẽ ra sao nếu không có vành đai nông thôn do lực lượng ÐPQ/NQ bảo vệ an toàn bao bọc.

Ngoài ra hàng ngàn công trình xây dựng của Quốc Gia sẽ ra sao nếu không có sự bảo vệ ngày đêm của lực lượng diện địa ÐPQ/NQ để cho Chủ Lực Quân rảnh tay hành quân lưu động tảo trừ quân chính quy CS xâm nhập miền Nam. Nhưng thật bất công cho họ trước 1975 báo chí VNCH gần như quên lãng họ, báo chí hải ngoại sau 1975 cũng vậy, xem họ như con ghẻ, hay nhẹ hơn là xem họ như những đơn vị thứ yếu trong Quân Lực VNCH!!!

Hãy nghe lời nhận định của Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ, tư lệnh Sư Ðoàn 5 BB/ QLVNCH (lúc đó đang là đại tá trung đoàn trưởng TR.Ð 8/ SÐ5BB) trả lời phỏng vấn của Chuẩn Tướng Haig/ QÐ Hoa Kỳ ngày 24 tháng 1, 1970: “Ông giải thích sự sắp xếp này chỉ cho thấy cần yểm trợ thêm cho NQ/ÐPQ trong các cuộc hành quân của các đơn vị này vì hiện giờ pháo binh của QLVNCH phải yểm trợ cho các đơn vị chính quy và địa phương quân trong vùng hành quân của Trung Ðoàn 8...

...“Chỉnh đốn lại cấu trúc của tất cả các vị trí phòng thủ của NQ/ÐPQ theo tiêu chuẩn của SÐ 1 BB HK để loại bỏ mọi yếu điểm hiện có trong các vị trí này. Rất nhiều vị trí hiện hữu, lô cốt và công sự phòng thủ được thiết kế và xây cất một cách yếu kém và sẽ không chống nổi bất cứ một loại tấn kích nào.”

“Nhưng ông nói nếu NQ/ÐPQ không chu toàn được phận vụ bảo toàn an ninh cho các trung tâm đông dân cư, các đơn vị QLVNCH sẽ buộc phải rút về bảo toàn an ninh cho các vùng đó và rồi các đơn vị QLVNCH trở lui lại vị thế của năm 1966”...

“Cần có yểm trợ pháo binh trực tiếp cho NQ/ÐPQ.”

Nhiệm vụ của ÐPQ/NQ thật nặng nề đó là bảo vệ an ninh cho đồng bào sống an lành trong các thôn ấp, đồng thời bảo vệ các thành thị, tỉnh lỵ, quận lỵ, được an bình và chống lại những vụ pháo kích bừa bãi của Cộng Nô vào các vùng đông dân cư. Trong khi đó thì chủ trương của Cộng Sản Việt Nam là dùng nông thôn bao vây thành thị, phá hoại an ninh tại nông thôn bằng hàng trăm hình thức khủng bố, sát hại, thủ tiêu, bắt cóc, bắt thanh niên từ 14, 15 tuổi trở lên bổ sung cho lực lượng VC, cho các mật khu, du kích và chủ lực tỉnh, huyện. ÐPQ/NQ đã triệt hạ các ý đồ của Cộng Quân là làm cho nông thôn bị mất an ninh để đồng bào chạy về khu thành thị, để từ đó chúng dùng nông thôn bao vây thành thị trong chiến lược thôn tính Miền Nam theo chủ trương của quốc tế cộng sản.

Nhược điểm:

- Một khi đã chấp nhận nhiệm vụ diện địa thì phải có mặt thường xuyên trên địa bàn cố định, đồng thời phải liên tục tuần tiễu xa và gần để bảo vệ cứ điểm như đồn bót, chợ búa v.v... Lực lượng diện địa thường cố định quân số, ví du bảo vệ cầu trên quốc lộ thì từ cấp tiểu đội đến trung đội (từ 10 đến 30 quân nhân). Quân số ít thay đổi do đó dễ bị CS điều nghiên đem lực lượng mạnh gấp 3, 5 lần để tấn công. Quân dụng thiếu thốn, nhất là vật liệu để xây dựng hệ thống phóng thủ, hầm hố rất thiếu thốn so với chủ lực quân nên khó có thể cầm cự khi bị địch ồ ạt tấn công.

- ÐPQ/NQ sống trong quần chúng, nhận nhiều tin tức tình báo từ dân cư địa phương nhưng đồng thời cũng dễ bị rò rỉ thông tin cho cộng sản tấn công, dễ bị cài nội tuyến đánh úp đồn bót.

- Gánh nặng trách nhiệm, huấn thị phối hợp của Bộ Tổng Tham Mưu đã minh định rõ ràng là ÐPQ/NQ lực lượng bảo vệ lãnh thổ (cố định), nhưng lại được trang bị yếu kém so với Chủ Lực Quân.

Ðó là 3 yếu tố căn bản giải thích lý do tại sao lực lượng này chạm địch thường xuyên và chịu tổn thất gấp rưỡi hay gấp 2 lần so với Chủ Lực Quân (bao gồm các sư đoàn Bộ Binh và TQLC, Nhảy Dù, BÐQ cộng lại) theo bảng thống kê tổn thất sinh mạng hàng năm do Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ đúc kết.

- Trong khi đó nhiệm vụ của Chủ Lực Quân là hành quân lưu động lùng và tiêu diệt chủ lực quân của CSVN, nhờ yếu tố di động thường xuyên nên họ ít bị địch tập trung tấn công hơn so với ÐPQ/NQ. Ngoài ra lực lượng Tổng Trừ Bị gồm các sư đoàn Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến thường hành quân lưu động với quân số từ cấp tiểu đoàn, trung đoàn trở lên, đây là các đai đơn vị tinh nhuệ, có hỏa lực không quân và pháo binh cơ hữu cũng như tăng phái yểm trợ tối đa khi lâm chiến nên CSVN thường tránh né các đại đơn vị này mà tìm cách đánh các đơn vị nhỏ của ÐPQ/NQ. Chứng tỏ trong cuộc chiến VN áp lực địch luôn đè nặng lên ÐPQ/NQ. Ngoài ra tấn công vào các vị trí như tỉnh lỵ, đô thị thì CSVN dễ dàng cướp đoạt tài sản dân chúng, chứ tấn công các đơn vị chủ lực thì vừa dễ bị thiệt hại và chẳng có tài sản gì để cướp ngoài vũ khí.

Những trận đánh chưa ai kể đến của ÐPQ/NQ trong cuộc chiến Việt Nam:

Có thể nói rất nhiều kể sao cho hết những chiến công hiển hách của anh em chiến sĩ ÐPQ/NQ trên toàn thể Miền Nam từ 1954-1975, tôi chỉ lược ra đây một số những chiến công của ÐPQ/NQ chưa hề được ai nhắc tới:

- Trần Văn Tựu một chiến sĩ Nghĩa Quân quận Long Ðiền, chức vụ trung đội trưởng, trước kia là một đại đội trưởng du kích huyện Long Ðất, nhưng sau khi trở về với chính nghĩa Quốc Gia, anh đã lập nhiều chiến công hiển hách. Từng hướng dẫn lực lượng Quận vào đột kích mật khu Tam Phước, Minh Ðạm như chỗ không người. Ðánh giặc đối với Tựu là một cái thích thú, không hề than van cực nhọc, được đi hành quân là vui, không thích nhiệm vụ canh gác. Tỉnh Ðội Bà Rịa, huyện đội Long Ðất từng bao lần treo giá anh Nghĩa Quân này còn cao hơn sĩ quan trong Chi Khu. Vì tất cả thói quen, đường đi nước bước của VC trong vùng anh thảy đều thuộc nằm lòng.

Trên đường đột kích mật khu Minh Ðạm năm 1965, xuất phát lúc nửa đêm, trung đội của anh nhận nhiệm vụ dẫn đường, lực lượng quận khoản 4 trung đội NQ theo sau. Anh là trung đội trưởng vừa là khinh binh đi đầu... Còn độ 500 thước nửa đến mật khu. Nhìn dấu chà chôm (chổi bằng cành cây trong rừng) vừa mới quét, anh biết ngay là sắp vào mật khu, ra lệnh cho anh em dừng lại để anh đích thân bò đi đầu tháo gỡ mìn bẫy. Anh đã áp sát và hạ thủ tên du kích canh gác dễ dàng không tiếng động, kế đó 1 tên vừa ra suối đánh răng cũng bị anh hạ thủ nhẹ nhàng. Ra thủ hiệu cho thuộc cấp bò theo, lần lượt mỗi anh NQ đứng kế bên mỗi chiếc võng của kẻ thù, bằng 1 thủ hiệu kế tiếp tiểu đội anh đã đồng loạt thanh toán gọn trên 10 tên VC còn đang ngủ trên võng bằng lưỡi lê mà không hề nổ 1 phát súng. Sau đó cắt người canh gác thay cho VC, lục soát các hầm trú ẩn, xong rồi mới báo cáo cho quận đem quân vào thanh toán phá hủy căn cứ địch.

Có đi bên cạnh anh thì mới biết khả năng tác chiến trong rừng của anh rất cao, đầy khôn khéo. Mỗi hành động đều có tính toán nhanh như sao xẹt, phản ứng rất nhanh và chính xác. Một lần đang đi cùng tiểu đội đi đến điểm phục kích đêm, anh vô tình đi ngang qua một cửa sổ có 1 tên du kích đang về thăm nhà, ngoài ra còn có 2, 3 đồng bọn canh gác ngoài xa. Tên du kích thoáng thấy dáng anh la lên hỏi: “Ai?” Anh bình tĩnh đi chậm lại, không quay đầu, không hấp tấp trả lời: “Mình đây mà!” rồi tiếp tục đi bình thường. Tên du kích mắc lừa tưởng đồng bọn, không nổ súng. Vừa qua khỏi vách nhà, anh xoay ngang trả lời bằng 1 tràng tiểu liên Thompson kết liễu tên VC trong nhà. Bởi vì nếu anh tỏ ra hấp tấp hay chạy thì tên này sẽ nổ súng trước anh và sẽ hạ anh dễ dàng.

Còn hàng trăm chuyện lớn, chuyện nhỏ của anh trong đời lính đẹp như ciné, lính trong quận thi nhau kể về anh như thế! Nhưng hễ có tài thì lại có tật, trong bất kỳ cuộc hành quân nào, dù cấp chỉ huy có ra lịnh, lục soát bi đông của anh cẩn thận đến đâu, hễ đi ngang qua xóm nhà dân thì anh chàng mua bidon rượu đế lúc nào không ai biết, rồi vừa đi vừa lén uống từ từ!

Một lần đi hành quân qua vùng An Ngãi, ta và địch chạm súng bất ngờ, địch khai hỏa trước làm cho ta bị thương 2 NQ, địch có cây cối bao che, bên ta trống trải nên đành nằm bẹp để chịu trận. Quân ta dàn hàng ngang chờ đợi vì địch đang có chướng ngại vật bao che, có gốc cây lớn làm điểm tựa, địch bắn sẻ chứ chưa dám xung phong vì hai bên ngang ngửa. Thình lình anh chàng Tựu nổi nóng vì nãy giờ phải mọp bên bờ ruộng, từ từ cởi súng, đạn ra để 1 bên chỉ đeo dây ba chạc đầy lựu đạn M26, không nói 1 lời, không xin phép cấp chỉ huy. Ðứng dậy vụt chạy cực nhanh thẳng vào vị trí địch, trong khi đồng đội thảy đều bất ngờ.

Anh ta chạy có kỹ thuật chữ chi hẳn hoi, hai tay 2 quả lựu đạn, còn cách khẩu thượng liên 10 mét, tông 2 quả lựu đạn xong rồi nằm chờ. Hai tiếng nổ long trời vừa nổ chưa hết khói là lúc anh ta phóng mình chạy vô lượm súng và thanh toán địch bằng chính AK của địch. Tới đó thì Trung Ðội còn lại mới giật mình mà xung phong theo anh. Trận đụng độ chớp nhoáng này ta hạ sát được 4 tên VC, số còn lại hoảng quá chạy hết. Anh chàng Tựu đứng lên cười ha hả làm cho chúng nó nín thở mà chạy, bỏ lại khẩu thượng liên và 2 khẩu AK. Diễn tả thì dài dòng mà diến tiến ngoài mặt trận thì nhanh như chớp mắt, không ai ngờ anh Tựu lại thanh toán địch nhanh đến như vậy!

Tức mình vì anh này làm càn không xin phép, sĩ quan Chi Khu kêu anh lại quở trách. Anh chàng trả lời tỉnh bơ: “Thiếu úy ơi, em đâu có ngu, em bỏ súng lại, chạy mình không vô tụi nó, chơi cho tụi nó 2 quả, lỡ thời tụi nó bắn giỏi thì cùng lắm là chết mình em, chúng nó đâu lấy được súng em đâu!” Rồi cười hề hề làm sao mà nổi nóng với anh chàng ba gai này được!

Một lần VC phát loa, gần bên hông dinh quận chừng trăm thước, có lẽ tiểu đội du kích bò vô, phát loa tuyên truyền chừng 5, 10 phút rồi sẽ bỏ chạy, trong quận thì chưa biết phản ứng ra sao vì VC đang nấp bên nhà dân, bắn ra thì sợ trúng dân, không bắn thì cũng kẹt. Anh chàng Tựu giơ tay tình nguyện: “Xin ông thầy cho em ra lấy cái loa, đừng bắn ra tui nó, coi chừng trúng em, em hứa bắt gọn lấy cái loa nộp ông thầy mà.”

Với cây tiểu liên bá xếp anh bò ra ngoài bằng cổng hậu rồi lần mò ra tới nơi tên phát loa, đứng dậy bắn 1 phát lấy cái loa chạy vô quận, tụi du kích còn lại bắn theo nhưng không kịp với con sóc nhanh nhẹn này. Diễn tiến chưa đầy 10 phút thì anh đã thanh toán xong mục tiêu! Với kích thước nhỏ con độ chừng 1m55 thôi nhưng anh chàng NQ gan dạ này làm cho bọn VC trong vùng kinh hồn táng đởm.

- Ở chi khu Ðất Ðỏ cũng có vài anh NQ gan cóc tía, y hệt anh Tựu. Anh này tên gì tôi quên rồi, chỉ còn nhớ sự việc như vầy:

Khoảng năm 1967, VC bao vây Chi Khu Ðất Ðỏ ngay giữa ban ngày, vòng vây chưa thắt lại gần, chúng đã xâm nhập vào 2 xã Phước Thạnh và Phước Hòa Long cách BCH Chi Khu độ 2 cây số đường chim bay. Chúng bắn cầm chừng nhưng lực lượng thâm nhập vô Quận lỵ rất đông, có lẽ để chờ đánh lực lượng tiếp viện của tỉnh. Quân số chúng độ khoản trung đoàn. Những toán quân tuần tiễu của ta đụng độ lẻ tẻ với địch nhưng phải rút về chi khu vì quân số địch quá đông.

Ðược tin tình báo của dân và vợ lính cho biết VC đang đóng quân nhiều nơi, trong đó có 1 chỗ đặt Bộ Chỉ Huy gần nhà dân, muốn phối kiểm tin tức để có thể sử dụng pháo binh đánh chính xác địa điểm vì sợ lầm nhà dân, ông chi khu trưởng đích thân tập hợp Trung Ðội NQ Thám Báo Chi Khu để tìm 1 người tình nguyện đi ra ngoài, vào tận nơi để xem xét tình hình. Cuộc đi này muôn vàn nguy hiểm vì vậy ông chi khu trưởng cần 1 người tình nguyện. Trong vòng 5 phút giải thích lý do, có đến 3 anh NQ tình nguyện! Anh chàng được chọn vì anh viện cớ có vợ chưa có con, có gì thì nhờ 2 bạn kia lo giùm vợ con.

Anh giả trang người đi cày vác cuốc, mặc áo bà ba, lận lựu đạn trong người. Lấy cớ đang cày bừa, nghe nổ súng nên chạy về nhà. Anh qua mặt du kích gác dễ dàng, xăm xăm đi vào vùng địch kiểm soát, đi về hướng BCH Trung đoàn địch với cây cuốc trên vai! Qua mấy xóm nhà dân, gần đến BCH thì địch khả nghi, hô đứng lại, anh vụt chạy thẳng vô căn nhà VC đóng BCH nên chúng chưa dám nổ súng sợ trúng cấp chỉ huy. Anh xông tới gần, ném 2 quả lựu đạn rồi chạy ra ngoài sau khi nổ xong, tiêu diệt trọn ổ BCH Việt Cộng. Sau đó anh chạy thoát được ra ngoài vì chúng hoảng loạn, mãi gần 4 giờ đồng hồ sau anh mới về đến được Chi Khu, hoàn thành nhiệm vụ tình báo!!! Nhờ tin tức chính xác, Chi Khu sau đó đã bắn pháo binh vào đúng tọa độ anh NQ này cho, đồng thời lợi dụng lúc địch đang bối rối vì BCH bị thiệt hại nặng, Chi Khu đã nhanh chóng điều động lực lượng ÐPQ phối hợp NQ giải tỏa vòng vây. Ðịch bỏ chạy, rút hết vì đã lộ kế hoạch.

- Ðồn Bờ Ðập thuộc xã Hội Mỹ, quận Ðất Ðỏ, do 1 trung đội thuộc Ðại Ðội 612 ÐPQ đảm trách, tối đi phục kích 2 tiểu đội, còn 1 tiểu đội ở nhà giữ đồn. Vợ lính cũng cắt gác 1 vọng vì thiếu quân số. Ðêm đó (khoảng năm 1967) VC sử dụng 1 tiểu đoàn chính quy, có súng phun lửa, DKZ, B40 cộng thêm dân công ước độ vài trăm người tấn công biển người với cái đồn nhỏ chỉ độ 10 người lính với 15 bà vợ lính, 2 tiểu đội đi phục kích bên ngoài cũng không về tiếp ứng được. Các bà vợ lính đã chiến đấu dũng cảm, con nít thì tiếp tế đạn, lựu đạn, họ đã cầm cự đến sáng Chi Khu mới đưa quân đến tiếp ứng kịp thời, sau đó thu gom xác VC chết chung quanh đồn gần 60 tên, mượn xe pulldozer ủi 1 cái hố chôn chung mấy tên “sinh Bắc tử Nam” này chung 1 hố có cấm bảng lớn ghi rõ ràng: “Mồ chôn Cộng Phỉ.”

Không hiểu sau 75, VC có đào đi cải táng không thì không rõ. Phần này chắc chúng không dám ghi vào quân sử vì tủi hổ quá 10 đánh 1, mà một lại thắng! Mấy bà vợ lính sau đó có được tỉnh tặng bằng khen, có truyền hình từ Sài Gòn đến quay phim làm lại trận giả, quay lại trận đánh để đời này, không rỏ chiếu được mấy lần!

Sau trận này có 1 chi tiết đứng tim. Ðó là khi trên tiểu khu đến nghiên cứu trận liệt có 2, 3 sĩ quan cấp tá đến xem xét, suýt chút nữa là to chuyện, vì có 1 tên VC quá sợ trốn trong bụi cây ôm khẩu AK, trời sáng bét mới giơ khẩu AK đứng lên đầu hàng, làm ai nấy một phen hú hồn vì nó mà còn can đảm quơ 1 băng AK chắc phải có 2, 3 sĩ quan chết vì tên này!

Lính NQ ở các quận nói chung rất gan dạ, chiến đấu trường kỳ không hề than van, họ có ưu điểm sống gần nhà, gần quê quán nên không dám làm gì sai quấy sợ bà con chê cười. Trong khi đó lực lượng chủ lực xa nhà, xa quê, nếu cấp chỉ huy không kiểm soát kỷ dễ có tình trạng kiêu binh làm mất lòng dân. Anh em ÐPQ/NQ rất sợ mất lòng dân nên họ giữ gìn kỷ luật rất giỏi. Ðây chỉ là nhận xét chung chung, không có ý so sánh với các binh chủng đàn anh. Bởi vì các trận đánh lớn binh chủng Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Ðộng Quân, v.v... xứng đáng bậc đàn anh vang lừng trong quân sử còn NQ/ÐPQ chỉ sở trường những trận nhỏ không tên mà thôi.

- Trong trận chiến sau cùng tại Chi Khu Long Thành ngày 24 tháng 4 năm 1975, tôi đã mục kích những người lính Nghĩa Quân Long Thành, bắn cháy 4, 5 chiếc T-54 qua những màn xáp lá cà còn hay hơn phim ảnh Mỹ!!! Ai có dịp đi ngang quốc lộ 15 đoạn quận lỵ Long Thành sau ngày 30 tháng 4, 1975 chắc đã thấy 5, 7 xác T-54 của VC cháy còng queo trước quận lỵ Long Thành, đó là chiến công của Nghĩa Quân Long Thành đánh tăng T-54 bằng M.72 và M.79 chống tăng rất giỏi. Trung Tá Sáu, quận trưởng kiêm chi khu trưởng, đã đánh một trận khiến cho Cộng Quân nhớ đời.

Trung Tá Sáu trong trận đánh đã đi từng vị trí của NQ để động viên binh sĩ, đồng thời ông cầm nón sắt đi xin các binh sĩ nào còn lựu đạn để đính thân ông đem ra cổng chánh cho binh sĩ ném vào các chiến xa địch đang tràn vào. Một chiếc T54 bị đứt xích 1 bên vì trúng M72 quay vòng vòng trước cổng Chi Khu sau đó đã bị 1 chiến sĩ NQ phóng lên thảy 1 trái lựu đạn vào buồng lái kết thúc cuộc đời của “con cua” gãy càng này. Hành động can đảm này của anh NQ đã trả giá bằng chính bàn tay của anh, vì thế Trung Tá Sáu đã xin trực thăng tản thương anh chiến sĩ can trường này trong khi 2 bên còn đang đánh nhau dữ dội! Sau này nghe kể lại còn có 1 Trung Ðội NQ đồn trú trên Quốc lộ 15 gần quận lỵ Long Thành, hết ngày 2 tháng 5, trung đội NQ này vẫn kiên trì chống CS tới viên đạn cuối cùng, vừa bắn nhau vừa kéo chuông nhà thờ kêu gọi quyết tử!!!

Tổng kết:

ÐPQ/NQ là lực lượng “sinh sau đẻ muộn” của QLVNCH, có nhiều sở trường cũng như nhiều sở đoản, nhiệm vụ được giao thì nặng nề, nhưng trang bị, yểm trợ lại yếu kém do đó có nơi thì hoàn thành xuất sắc, có nơi thì chỉ trung bình. Tuy nhiên qua những điều vừa phân tích có nhiều bất công đối với họ, kể cả những bất công chung của QLVNCH bị nhóm truyền thông bất lương bôi bẩn có mục đích thương mại và chính trị, bị đồng minh xem thường và phản bội, vậy phải trả lại “Công Ðạo” cho họ. Họ là những anh hùng vô danh, không có ai cậy nhờ để phục hồi danh dự, nhưng họ cũng không xin xỏ và luôn ngẩng cao đầu mà đi vì xét cho cùng họ đã đóng góp xương máu của mình nhiều nhất cho quốc gia và dân tộc.

Vì tôi chỉ quanh quẩn trong vùng III Chiến Thuật nên chỉ mục kích những sự việc trong khu vực, nhưng chắc chắn còn nhiều, nhiều lắm những tấm gương can đảm, những trận đánh để đời của binh chủng khiêm nhường này. Người viết được biết trong các vùng chiến thuật, các tiểu khu, các chi khu còn rất nhiều đơn vị ÐPQ/NQ xuất sắc nhưng chưa được ai biết đến. Kính mong quý chiến hữu viết nhiều bài về các đơn vị ÐPQ/NQ anh hùng để mai sau lịch sử còn biết đến các đơn vị vô danh đã góp nhiều máu xương trong công cuộc bảo vệ Miền Nam Việt Nam trong suốt 20 năm trường chiến đấu gian khổ.

Trong thời điểm từ 1972 đến 1975, sự sai lầm về chiến lược trong việc sử dụng các sư đoàn Bộ Binh và các sư đoàn Tổng Trừ Bị vào nhiệm vụ bảo vệ lãnh thổ, thay vì sử dụng lực lượng ÐPQ/NQ là nỗ lực chánh trong phòng thủ diện địa để các sư đoàn Bộ Binh và các lực lượng tổng trừ bị Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến rảnh tay hoàn toàn lưu động 100% để tiếp ứng chiến trường bất cứ nơi nào cần. Khốn thay cuối năm 1974 và đầu năm 1975 chúng ta đã không còn lực lượng tổng trừ bị nào cả khi Cộng Sản dốc toàn lực tấn công!

Nhưng trận chiến 1975 chưa phải là trận chiến sau cùng. Những người chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa và toàn dân Việt Nam kiêu hùng sẽ dành lại quyền tự quyết, lật đổ bạo quyền để xây dựng lại quê hương và bảo vệ biên cương trước mưu đồ xâm lược của kẻ thù truyền kiếp từ phương Bắc và thái độ hèn hạ dâng đất, dâng biển cho Tàu Cộng của bè lũ Cộng Sản Việt Gian.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Vai Trò Thông dịch viên Quân Đội VNCH với Đồng Minh
Đào Tiến Tứ

Cuộc chiến tranh VN là một cuộc chiến tranh tốn kém nhất trong lịch sử của nhân loại, Hoa kỳ đã viện trợ ồ ạt cho chính phủ VNCH cũng như gởi quân trực tiếp tham chiến, hoạch định và điều khiển các chiến lược chiến tranh. Tổng số kinh phí lên tới 686 tỷ Mỹ kim với khoảng 2,7 triệu người tham chiến trong các đơn vị của VNCH, Mỹ và Đồng Minh. Năm (5) nước Đồng Minh gởi quân sang VN tham chiến là Úc, Tân Tây Lan, Nam Hàn, Thái Lan và Phi luật Tân. Phía Hoa Kỳ đã có 58,220 người thiệt mạng, 305,000 người bị thương trong đó có 153,330 bị tàn phế vĩnh viễn. Quân Đồng Minh tử thương khoảng 6,000 người. QLVNCH có 316,000 người tử trận. Quân Cộng Sản có 800,000 chết, 300,000 người mất tích bị thương khoảng 600,000 người.

Lữ Đoàn 9 TQLC Hoa Kỳ đến Đà Nẵng ngày 8 tháng 3/1965 là đơn vi bộ chiến của Mỹ đầu tiên tham chiến tại Nam VN. Vì nhu cầu của chiến trường, ngành Thông Dịch Viên (TDV) QLVNCH được thành lập với quân số khoảng 4,000 người. Các TDV đều là các thanh niên tình nguyện tuổi từ 18 đến 30, có học lực từ trung học đệ nhất cấp trở lên, tuy nhiên có một số (không nhỏ) TDV có bằng tú tài hay đại học, vì không muốn đi học các lớp sĩ quan, đã tham gia ngành TDV Quân Đội.
Image Các ứng viên phải qua kỳ khám sức khỏe tổng quát do các bác sĩ quân y giám định, sau đó phải qua một cuộc thi Anh văn do Sĩ quan Việt Nam của Trương Sinh Ngữ Quân Đội và cố vấn Mỹ khảo hạch. Nếu thi đậu trên 80 điểm trở lên sẽ được mang cấp bậc và qui chế lương Trung sĩ Đồng Hóa tương đương với lương của 1 Chuẩn úy vì có bằng CC 1 Anh ngữ (phụ khoản chuyên môn 3). Sau đó các tân TDV được gởi sang trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung học căn bản quân sự 3 tuần (sau này 3 thán)g và về Trường Sinh Ngữ Quân Đội tại Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH, Sài Gòn học Anh Văn các danh từ quân sự. Tùy theo khả năng Anh văn các TDV được chia vào các lớp Anh Ngữ khác nhau.

Mỗi khóa học Anh Văn kéo dài khoảng 3 tháng. Tháng 5 năm 1968 tôi tốt nghiệp khóa 5/68 TDV, khóa này có tới 144 TDV ra trường được bổ xung về các đơn vị Mỹ, Đồng Minh, các toán cố vấn Tỉnh, Quận, các sư đoàn của VNCH trên 4 Vùng Chiến Thuật. Trong thời gian này Trung tá Phan thông Tràng là Chỉ Huy Trưởng, Đại Úy Gẫm là Sĩ Quan An Ninh Trường Sinh Ngữ Quân Đội. Tùy theo số điểm thi ra trường các tân TDV theo thứ tự được chọn đơn vị mình thích.

Nhóm chúng tôi gồm 10 TDV chọn về Tiểu Đoàn 6 Tâm lý Chiến HK. Bộ chỉ huy trú đóng tại thành phố Biên Hòa. Vì không có Sĩ quan Liên lạc, do đó chúng tôi về trình diện Đại Đội Tổng Hành Dinh Quân Đoàn III tại Biên Hòa để làm thủ tục quân bạ và sổ lương, sau đó Mỹ cho xe đến đón về đơn vị. Các đơn vị lớn của Hoa Kỳ như TQLC, các sư đoàn Bộ binh, Nhảy dù, Phi Luật Tân Úc, Đại Hàn, Tân tây Lan, Thái, đều có các Phòng Liên lạc cho TDV, do các sĩ quan VN biệt phái điều hành.
Image Riêng các TDV chọn về đặt quyền xử dụng của Quân Đoàn I,II,III,IV sẽ về trình diện các Bộ chỉ huy Quân Đoàn tại Đà Nẵng, Pleiku, Biên Hòa, Cần Thơ, sau đó sẽ được bổ nhiệm về các toán MACV tỉnh, các toán cố vấn của các Sư Đoàn QLVNCH.
Việt Nam Hóa Chiến Tranh (1968-1972) là chiến lược của Hoa Kỳ vào thời Tổng Thống Richard Nixson trong chiến tranh VN. Hoa Kỳ rút quân dần khỏi VN, gíúp VNCH xây dựng quân đội theo kiểu Mỹ với vũ khí tối tân và các cơ sở tiếp liệu chiến tranh mà quân đội Mỹ đã xử dụng. Hoa Kỳ giúp hỏa lực không quân tối đa cho QLVNCH trong các trận giao tranh với VC.
Image Sau trận Mậu Thân 1968, quân VC bị thiệt hại nặng chưa phục hồi, đã hạn chế không mở những trận đánh lớn nhằm mục đích thúc đẩy việc rút quân của Mỹ, sự yên lặng của chiến trường đã tạo điều kiện dễ dàng cho Mỹ rút quân mà không gây ảnh hưởng xấu nào đối với dân chúng Hoa Kỳ. Ngày 31 tháng 8 năm 1969, 2 Lữ Đoàn của Sư Đoàn 9 Bộ binh là đơn vị Mỹ đầu tiên rời VN. Ngày 28 tháng 3 năm 1973, các đon vị Quân Cảnh và Quân Báo của MACV là những quân nhân Mỹ cuối cùng rời VN.

QLVNCH được trang bị hiện đại hơn tỏ ra tự tin và nắm quyền chủ động trên phần lớn chiến trường. Các lực lượng cơ động như Nhảy Dù, Biệt Động Quân, TQLC thường xuyên mở những cuộc hành quân đánh phá các căn cứ, hệ thống tiếp vận của VC. Các lực lượng lãnh thổ làm nhiệm vụ bảo đảm an ninh nội địa, bình định xây dựng nông thôn.

Cuối năm 1972 quân số của QLVNCH tăng gần 1.050.000 người. Các đơn vị chủ lực được bổ xung thêm quân số, sư đoàn bộ binh có 12 tiểu đoàn, một trung đoàn có 4 tiểu đoàn. Các trại Biệt kích Quân (CIDG) do Mỹ thành lập đóng cửa được chuyển thành 37 tiểu đoàn Biệt Động Quân Biên Phòng VNCH.

Trong 3 năm, QLVNCH được trang bị thêm 700,000 súng tiểu liên M-16 hiện đại nhất của quân đội Mỹ, tăng thếm 1,300 khẩu pháo binh, 10,000 súng cối đủ loại, 30,000 súng phóng lựu M-79, 10,000 súng đại liên đủ loại. Thiết giáp tăng từ 1,037 năm 1968 lên tới 1879 chiếc năm 1972. Nhảy Dù và TQLC năm 1968 chỉ có 50 tiểu đoàn năm 1970 tăng lên tới 90 tiểu đoàn. Hải quân đến năm 1972 có 39,000 quân với 1,611 tàu đủ loại. Không Quân năm 1968 có 35,000 người, năm 1971 tăng lên tới 50,000 người với tổng cộng 1,500 phi cơ đủ loại chia thành 6 Sư Đoàn, 1 Phi đoàn Vận tải, 5 Phi đoàn Trực thăng, 3 Phi đoàn Khu trục, 1 Phi đoàn Phản lực.

Chương trình phát triển và bình định nông thôn được phát triển mạnh mẽ và tốt đẹp. Năm 1968 có 2,192 các cuộc hành quân càn quét, năm 1970 tăng lên 23,758 vụ. VNCH dần dần kiểm soát hầu hết lãnh thổ. Ngoài ra, Chương Trình Phượng Hoàng do CIA Mỹ tài trợ đã tiêu diệt một số lớn cán bộ VC nằm vùng và phá hủy nhiều cơ sở hạ tầng của VC tại địa phương.

Sau đây là lịch trình rút quân của của quân đội HK và Đồng Minh khỏi Miền Nam Việt Nam kể từ tháng 8 năm 1969 đến tháng 3 năm 1973:
Image - Sư Đoàn 9 Bộ Binh HK (9th Infantry Division): Quân số 16,153 người, đến VN ngày 18 tháng 12 năm 1966, hành quân vùng Long thành, Biên Hòa ,Đồng Tâm, Mỹ Tho cùng với các đơn vị Người Nhái Navy SEAL của Hải Quân HK, TQLC VNCH và Sư Đoàn 7 VNCH tại các vùng sình lầy vùng III và IV Chiến Thuật. Trong trận chiến Tết Mậu Thân, Sư Đoàn 9 hành quân tảo thanh VC tại các vùng ven đô Sài Gòn, sau đó dời BCH Sư Đoàn về Căn Cứ Đồng Tâm, Mỹ Tho. Ngày 27 tháng 8 năm 1969 hai Lữ đoàn 1 và 2 rời VN. Lữ đoàn 3, Sư đoàn 9 rời VN ngày 1 tháng 11 năm 1970.

- Lữ Đoàn 3, Sư Đoàn 82 Nhảy Dù HK (3rd Brigade 82nd Airborne Division) quân số 3,659 người, gồm 3 tiểu đoàn: 1/505, 2/505 và 1/508, đến Chu Lai, VN ngày 16 tháng 2 năm 1968 không vận bằng 133 máy bay C-141 và 6 C-130, rời VN ngày 11 tháng 12 năm 1969. Hành quân vùng Chu Lai, Huế chung với Sư đoàn 101 Nhảy Dù HK, di chuyển về vùng III Chiến Thuật tháng 9 năm 1968 để bảo vệ thành Phố Sài Gòn chống VC tấn công và pháo kích các vùng ven đô Sàigon.

- Đoàn Dân sự vụ Phi Luật Tân (1st Philippine Civic Action Group,Vietnam) đến VN ngày 14 tháng 9 năm 1966 rời VN ngày 13 tháng 12 năm 1969. Quân số gồm khoảng 4 tiểu đoàn: 1 tiểu đoàn Bộ binh, 1 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn Công binh và 1 tiểu đoàn Quân y, hoạt động vùng Tây Ninh, căn cứ chính tại Trảng Lớn, quận Thanh Điền.

- Sư Đoàn 1 Bộ Binh HK (1st Infantry Division) quân số 17,339 người, gồm 3 Lữ đoàn 1, 2 và 3 đến VN ngày 2 tháng 10 năm 1965, rời VN ngày 15 tháng 4 năm 1970. Bộ Chỉ Huy đóng tại Biên Hòa, Dĩ An, Lai Khê, hành quân vùng Chiến Khu D, Bình Long và Phước Long.

- Lữ Đoàn 199 Khinh Binh HK (199th Light Infantry Brigade) quân số 4,215 người gồm 4 tiểu đoàn: 2/3, 3/7, 4/12 và 5/12, đến VN ngày 10 tháng 12 năm 1966 rời VN ngày 11 tháng 10 năm 1970. Bộ Chỉ Huy đóng tại Long Bình. Hành quân vùng Biên Hòa, Gia Rai, Long Khánh. Trong trận đánh Tết Mậu Thân, ngày 31 tháng 1 năm 1969 tiểu đoàn 3/7 được trực thăng vận về Saigon tảo thanh VC vùng Chợ Lớn.
Image - Sư Đoàn 25 Bộ Binh HK (25th Infantry Division) quân số 17,666 người gồm 3 lữ đoàn: 1,2 và 3, đến VN ngày 28 tháng 3 năm 1966, rời VN ngày 8 tháng 12 năm 1970. BCH Sư đoàn đóng tại Củ Chi tỉnh Hậu nghĩa, hành quân vùng Tây Ninh, Đức Hòa, Đức Huệ. Tháng 1 năm 1967 Sư Đoàn 25 tấn công vào Chiến Khu C và vùng Tam Giác Sắt của Quân Khu 4 VC tại tỉnh Tây Ninh. Tham dự các trận đánh chống VC trong trận Tết Mậu Thân và tháng 4 năm 1970 một số đơn vị của Sư đoàn 25 tấn công sang Cam Bốt tiêu diệt một số lớn căn cứ “hậu cần” của VC tại Miên.

- Sư Đoàn 4 Bộ Binh Mỹ (4th Infantry Division) quân số 19,042 người gồm 3 lữ đoàn 1,2 và 3 đến VN ngày 25 tháng 9 năm 1966 rời VN ngày 7 tháng 12 năm 1970. Bộ Chỉ Huy đóng tại Pleiku, hành quân vùng Pleiku, Kontum. Từ ngày 14 tháng 9 năm 1966 đến ngày 24 tháng 11 năm 1966. Một số đơn vị của Sư đoàn phối hợp với Sư đoàn 25 Bộ Binh HK hành quân tấn công vào Chiến khu C của VC, tại tỉnh Tây Ninh. Tháng 6 năm 1970 Sư đoàn 4 tấn công vào các căn cứ “hậu cần” của VC tại Miên gần vùng 3 biên giới Việt-Miên-Lào.

- Trung Đoàn 11 Kỵ Binh HK (11th Armored Calvary Reg) quân số 4331 người đến VN ngày 7 tháng 9 năm 1966, rời VN tháng 2/1971. BCH đóng tại căn cứ Long Giao, cách thị xã Xuân Lộc, tỉnh Long Khánh khoảng 6 cây số. Tham dự các cuộc hành quân Cedar Falls tại vùng Tam Giác Sắt, Junction City, Quick Silver, Operatin Fargo tại các tỉnh Tây Ninh, Bình Long. Trong trận đánh Tết Mậu Thân Lữ Đoàn 11 có nhiệm vụ bảo vệ căn cứ Long Bình và Bộ chỉ huy Quân Đoàn III tại Biên Hòa. Từ ngày 26 tháng 3 năm 1970 đến cuối tháng 6 năm 1970 Lữ Đoàn 11 phối hợp với các đơn vị của Sư đoàn 1 Không Kỵ HK tấn công sang thị trấn Snoul, Cam Bốt theo ngã Quốc lộ 13, Lộc Ninh, tỉnh Bình Long. Image - Thủy Quân Lục Chiến HK (III Marines Aphibious Forces) hoạt động vùng I Chiến Thuật VNCH gồm Sư Đoàn 3 TQLC, Sư Đoàn 1 TQLC và Không Đoàn 1, TQLC (1st Marines Aicraft Wing).

- Sư Đoàn 3 TQLC HK (3rd Marines Division) đến Đà Nẵng, VN ngày 6 tháng 5 năm 1965 rời VN ngày 30 tháng 11 năm 1969, là đơn vị bộ chiến HK đến VN đầu tiên gồm 3 trung đoàn 3,4 và 9. Tháng 10 năm 1967 BCH Sư Đoàn dời ra Đông Hà, Quảng Trị thành lập các căn cứ Carroll, Rockpine, Ca Lu, Khe Sanh. Sư đoàn 3 TQLC hành quân vùng giới tuyến, nhiều lần đụng độ với các đơn vị của Sư đoàn 320 và 324B của quân Bắc Việt. Ngày 14 tháng 11 năm 1967 Thiếu tướng Bruno Hochmuth, Tư lệnh Sư đoàn 3 TQLC, HK tử trận khi trực thăng của ông bị quân Bắc Việt bắn hạ gần Huế. Image - Sư Đoàn 1 TQLC HK (1st Marines Division) đến Chu Lai, Quảng Ngãi, VN ngày 23 tháng 2 năm 1966, rời VN ngày 14 tháng 4 năm 1971, gồm 3 lữ đoàn: 1, 5 và 7 cộng thêm Lữ đoàn 26 và 27 của Sư đoàn 5 TQLC. Tháng 6 năm 1966 Sư đoàn 1 TQLC di chuyển về Quảng Trị, từ tháng 10 năm 1966 đến tháng 7 năm 1967 Sư đoàn 1 TQLC đã tham dự 44 cuộc hành quân tại vùng Quảng Trị. Tết Mậu Thân Sư đoàn 1 TQLC tham dự các trân đánh với quân VC tại thị xã Huế. Tháng 4 năm 1971 Sư đoàn 1 rút về HK trú đóng tại Camp Pendleton, miền Nam California và sau biến cố 30 tháng 4 năm 1975, Camp Pendleton đã mở cửa cung cấp lương thực, chỗ ở tạm trú cho một số đông đồng bào tỵ nạn VN di tản sang Mỹ.

- Lữ Đoàn 9 Xung Kích TQLC HK (9th Amphibious Marines Brigade). Lợi dụng một số lớn đơn vị chiến đấu của Mỹ đã rút quân khỏi VN và muốn đo lường sức mạnh của QLNVCH trong chương trình Việt Nam hóa chiến tranh, ngày 30 tháng 3 năm 1972 quân BV đã tràn qua vĩ tuyến 17 tấn công QLVNCH vùng Quảng Trị. Do đó lữ đoàn 9 TQLC, HK đang có mặt tại Đệ thất Hạm Đội Mỹ ngoài khơi VN được tái phối trí với quân số 5,200 người và 50 trực thăng chờ ngoài khơi nhưng chỉ có 893 TQLC Mỹ đã đổ bộ vào đất liền với nhiệm vụ bảo vệ an ninh cho các tòa Đại Sứ và phòng vệ các phi trường lớn như Đà Nẵng, Nha trang Biên Hòa. Ngày 31 tháng 7 năm 1972 các đơn vị TQLC này rút quân trở về Đệ Thất Hạm Đội Mỹ.

- Lực Lượng I Dã Chiến (I Field Forces, Vietnam) đến VN ngày 15 tháng 3 năm 1966, rời VN ngày 30 tháng 4 năm 1971. Có nhiệm vụ chỉ huy các đơn vị Mỹ và cố vấn các dơn vị VNCH tại quân Khu II. Bộ Chỉ Huy đóng tại Nha Trang gồm các đơn vị: Tiểu Đoàn 8 Tâm Lý Chiến, Pháo Đội 1 Pháo Binh, Tiểu Đoàn 54 Truyền Tin, Đại đội 41 Dân sự Vụ, Đại đội 272 Quân Cảnh, Đại đội 297 Quân Vận, Đại đội 55 Quân Báo.

- Lực Lượng II Dã Chiến HK (II Field Forces, Vietnam) đến VN ngày 15 tháng 3 năm 1966, rời VN ngày 2 tháng 5 năm 1971. Có nhiệm vụ chỉ huy các đơn vị Mỹ và cố vấn các đơn vị VNCH tại Quân Khu III. Bộ Chỉ Huy đóng tại căn cứ Long Bình, Biên Hòa gồm các đơn vị: Pháo Đội II Pháo Binh, Tiểu Đoàn 6 Tâm Lý Chiến, Tiểu đoàn 53 Truyền Tin, Đại đội 552 Quân Cảnh, Đại đội 9 vận tải, Đại đội 219 Quân báo.
Image - Lữ Đoàn 173 Nhảy Dù, HK (173rd Airborne Brigade ) quân số 5,513 người đến VN ngày 7 tháng 5 năm 1965, rời VN ngày 25 tháng 8 năm 1971 gồm 4 tiểu đoàn: 1/503, 2/503, 3/503, 4/503 và tiểu đoàn 3/319 Pháo Binh. Từ tháng 5 năm 1965 đến tháng 10 năm 1967 hành quân tại vùng Biên Hòa, Bình Dương thuộc Quân Khu III trong các chiến dịch Junction City tại Chiến khu C và chiến dịch Attleboro. Tháng 11/67 di chuyển về Quân Khu II, hành quân vùng An Khê, Pleiku và tỉnh Bình Định.

- Lữ Đoàn 1, Sư Đoàn 5 Bộ Binh Cơ Giới HK (1st Brigade, 5th Infantry Division (Mecnanized ).Đến VN ngày 25 tháng 7/1968 rời VN ngày 27 tháng 8/1971 gồm; Tiểu đoàn 1/77 Xe tăng, Tiểu đoàn 1/11 Cơ giới, Tiểu đoàn 1/61 Cơ giới và Tiểu đoàn 5/4 Pháo binh 155 ly . Hoạt động vùng Khe Sanh, Đông Hà, Quảng Trị, tham dự cuộc hành quân Lam Sơn 719 tháng 1 năm 1971. Image - Liên Đoàn 4 Tâm lý Chiến HK (4th Psyops Group) đến VN ngày 01 tháng 12 năm 1967 rời VN ngày 01 tháng 10 năm 1971, gồm 4 tiểu đoàn: tiểu đoàn 6 TLC trú đóng tại thành phố Biên Hòa hoạt động tại vùng III Chiến Thuật. Tiểu đoàn 7 TLC, trú đóng tại Nha Trang hoạt động trong vùng II Chiến Thuật. Tiểu đoàn 8 TLC trú đóng tại Đà Nẵng, hoạt động tại vùng I Chiến Thuật. Tiểu đoàn 10 TLC trú đóng tại Cần Thơ hoạt động trong vùng IV Chiến Thuật. Liên đoàn 4 TLC có nhiệm vụ cung cấp các toán TLC cho các đơn vị Mỹ và Đồng Minh trên toàn 4 Vùng Chiến Thuật, phóng thanh Chiêu Hồi, rải truyền đơn bằng trực thăng, in các loại truyền đơn.

- Sư Đoàn 23 Bộ Binh HK (23rd Infantry, AMERICAL Division quân số 15,825 người gồm 3 Lữ đoàn: 11, 196 và 198. Đến VN ngày 25 tháng 9 năm 1967 rời VN ngày 29 tháng 11 năm 1971. Sư Đoàn AMERICAL hành quân vùng Quảng Nam và Quảng Ngãi, BCH trú đóng tại căn cứ Chu Lai.
Image - Lực Lượng Đặc Biệt Quân Đội HK (U.S Army Special Forces) .Một số ít các Cố vấn LLĐB Mỹ đã có mặt tại VN từ 24 tháng 6 năm 1957 với mục đích huấn luyện các toán biệt kích VNCH tại Nha Trang và thành lập các trại Biệt Kích (Civilian Irregular Defense Group). Trại Biệt Kích Mỹ tại Ban Mê Thuộc là trại đầu tiên được thành lập trong năm 1961. Đã có 99 trại Biệt kích được thành lâp dọc theo biên giới Việt-Miên-Lào nhằm mục đích thám sát, hành quân và tảo thanh các đơn vị Bắc Việt xâm nhập từ Bắc vào Nam theo ngã đường mòn HCM. Các trại Biệt kích do CIA và LLĐB Mỹ tổ chức và điều hành, tháng 10 năm 1964 chỉ có 951 lính LLĐB Mỹ và 19,000 lính CIDG địa phương tháng 10 năm 1969 số cố vấn Mỹ tăng 3581 người và khoảng 45.000 lính CIDG tổng số này bao gồm các lính CIDG tại các trại Biệt kích, các toán Thám sát cùa Quận, Tỉnh (Region Forces RF,PF và các tóan Xung kích Mobile Strike Forces). Đa số các lính CIDG địa phương đều là các sắc dân thiểu số như Bahna, Bru, Cham, Cua, Halang, Hre, Hroi, Jarai, Jeh, Katu, Khmer, Koho, Ma, Mèo, M'nong, Mường, Nùng, Raghei, Rengao, Rhade, Sedang, Steng và một số thanh niên VN. Các lính Biệt kích được CIA Mỹ trả lương, cung cấp ẩm thực, quân trang vũ khí tối tân hơn các đơn vị Bộ binh VNCH do đó khả năng chiến đấu của họ rất cao. Liên Đoàn 5 LLĐB HK đến VN ngày 1 tháng 10 năm 1964 rút quân khỏi VN ngày 3 tháng 11 năm 1971 và nắm quyền điều hành tổ chức các trại Biệt kích. Tháng 12 năm 1971 các trại Biệt kích đóng cửa chỉ giữ lại 39 căn cứ thành lập thành các Tiểu đoàn Biệt Động Quân Biên Phòng do Quân Lực VNCH điều hành.

- Quân Đội Thái Lan: Trung Đoàn Mãng Xà (Royal Thai Army Regiment-Queen's Cobras ) đến VN ngày 19 tháng 9 năm 1967 rời VN ngày 15 tháng 8 năm 1968 hoạt động vùng Long Bình, Biên Hòa. Sư Đoàn Hắc Báo (Royal Thai Army Expeditionary Division- Black Panthers) đến VN ngày 25 tháng 7 năm 1968 rời VN ngày 2 tháng 3 năm 1972 gồm 3 lữ đoàn Bộ binh, 4 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn công binh và truyền tin. Bộ chỉ huy tại Saigon nhưng căn cứ chính tại Bearcat, Long Thành.
Image - Sư Đoàn 101 Nhảy Dù HK (101st Airborne Division) quân số 15,222 người, đến VN ngày 19 tháng 07 năm 1965 rời VN ngày 10 tháng 3 năm 1972, gồm 3 lữ đoàn với các tiểu đoàn Bộ binh: 3/187, 1/327, 2/327, 1/501, 1/502, 2/502, 1/506, 2/506, 3/506 cộng thêm 7 tiểu đoàn pháo và 4 tiểu đoàn trực thăng. Lữ đoàn 1 đến VN tháng 7 năm 1965 hành quân vùng Phú Yên, Kontum. Lữ đoàn 2 và 3 đến VN tháng 12 năm 1967 hành quân vùng III Chiến Thuật. Tháng 3 năm 1968 toàn bộ Sư Đoàn 101 Nhảy Dù di chuyển về vùng I Chiến Thuật, hành quân vùng Huế và Quảng Trị. Trong cuộc hành quân Lam Sơn 719 tòan bộ các tiểu đoàn trực thăng của Sư Đoàn 101 yểm trợ tực thăng vận cho các đơn vị của Sư Đoàn Bộ Binh VNCH tấn công sang Lào.

- Quân Đoàn XXIV (XXIV Corps). BCH đóng tại Phú Bài (1968), sau 1970 dời về Đà Nẵng. đến VN ngày 15 tháng 8 năm 1968 rời VN ngày 30 tháng 6 năm 1972. Chỉ huy các đơn vị HK tại Vùng I Chiến Thuật. Các đơn vị trực thuộc gồm: Pháo đội XXIV, Tiểu đoàn 7 TLC, Biệt đội 204 Quân Báo, Đại đội 29 Dân Sự Vụ, Đại đội A, 504 Quân Cảnh, Đại đội 108 Vận chuyển, Đại đội 62 Không Hành.
Image - Sư Đoàn 1 Không Kỵ HK (1st Calvary Division) quân số 18,336 người đến VN ngày 11 tháng 9 năm 1965, rời VN ngày 26 tháng 6 năm 1972, gồm 3 lữ đoàn 1,2 và 3 với các tiểu đoàn bộ binh không kỵ như; 1/5, 2/5, 1/7, 2/7, 5/7,1/8, 2/8, 1/12, 2/12 cộng với 3 tiểu đoàn trực thăng và 6 tiểu đoàn pháo binh. Sư đoàn 1 KK là đơn vị chiến đấu cơ động hành quân khắp 4 Vùng CT.Từ tháng 9 năm 1965 đến tháng 1 năm 1966, BCH của Sư đoàn 1 KK trú đóng tại căn cứ Radcliff, An Khê, Pleiku. Từ ngày 14 tháng 11 năm 1965 đến ngày 18 tháng 11 năm 1965, Tiểu đoàn 1/7 KK với quân số 450 người bị 2000 quân chính qui BV thuộc Sư đoàn 304, Quân Khu 3 VC tấn công dữ dội tại LZ X-Ray vùng Ia Drang, không xa với trại Biệt Kích Pleime, cách thành phố Pleiku khoảng 35 cây số. Đây là trận chiến đầu tiên giữa quân Mỹ và quân chính qui BV tại Nam Việt Nam. Từ tháng 2 năm 66 đến tháng 1 năm 1968 Sư đoàn 1 KK hành quân vùng tỉnh Bình Định, phối hợp với Lực Lượng Nam Hàn và QLVNCH chống lại Sư đoàn 610 VC tại vùng này. Tháng 1 năm 1968 toàn bộ Sư đoàn 1 KK dời về Quân Khu I tham chiến trận Tết Mậu Thân tại Huế.

Từ tháng 4 năm 1968 đến tháng 5 năm 1968 hành quân vùng Khe Sanh với các đơn vị TQLC Mỹ. Tháng 10 năm 1968 toàn bộ Sư đoàn 1 KK di chuyển về vùng III Chiến Thuật. BCH Sư đoàn đóng tại căn cứ Phước Vĩnh, tỉnh Bình Dương, hành quân các tỉnh Biên Hòa,Tây Ninh, Bình Long, Phước Long và Long Khánh. Ngoài ra một số đơn vị của Sư đoàn 1 KK tăng phái về vùng IV Chiên Thuật hành quân với các giang đoàn của Hải Quân HK trong các Chiến Dịch Thủy Không Vận (NAV-CAL Operations).

Tháng 5 năm 1970 Sư đoàn 1 KK tấn công các căn cứ của VC tại Miên qua ngả Lộc Ninh và Phước Long và vào sâu trong đất Miên khoảng 30 cây số. Ngày 26 tháng 4 năm 1971 Lữ đoàn 1 và 2 rút quân về nước. Chỉ còn Lữ đoàn 3 ở lại trong Chiến dịch Garry Owen. Lữ Đoàn 3 gồm có các tiểu đoàn 2/5,1/7, 2/8,1/12 cộng thêm tiểu đoàn 229 trực thăng và 2 tiểu đoàn Pháo Binh. BCH Lữ đoàn đóng tại Biên Hòa, tiếp tục hành quân tại Quân Khu III và rút về Mỹ ngày 26 tháng 6 năm 1972.
Image - Quân Đội Tân Tây Lan (New Zealand "V" Forces) cấp số 3890 người khoàng 2 tiểu đoàn, đến VN ngày 21 tháng 7/1965, rời VN ngày 2 tháng 6/1972. Hành quân vùng Phước Tuy.

- Quân Đội Úc (Australia Army Forces, Vietnam): Tháng 5 năm 1962 chính Phủ Úc gởi 30 quân nhân Úc sang VN với nhiệm vụ cố vấn và huấn luyện. Ngày 31 tháng 1 năm 1973 quân đội Úc hoàn toàn rút khỏi VN. Trong suốt hơn 10 năm tham chiến tại VN đã có gần 60,000 quân nhân Úc thay phiên phục vụ tại VN với khoảng 9 tiểu đoàn bộ binh, 1 trung đoàn pháo binh, 2 trung đoàn thiết giáp cơ giới và nhiều đơn vị không, hải quân yểm trợ. Khác với quân đội Mỹ với sở trường yểm trợ phi pháo tối đa và tổ chức các cuộc hành quân lớn, quân đội Úc chuyên đánh du kích và phòng thủ, do đó số tổn thương ít hơn, chỉ có 521 quân nhân Úc tử trận, 3,128 bị thương và 6 mất tích. Quân Úc hành quân vùng Biên Hòa, Phước Tuy, căn cứ chính tại Núi Đất, tỉnh Phước Tuy còn Bộ Chỉ Huy chính tại Sài Gòn.

- Quân Đội Nam Hàn (Republic of Korean Force,Vietnam): đến VN ngày 29 tháng 9 năm 1965 rời VN ngày 17 tháng 3 năm 1973. Quân số khoảng 58,282 người, đã có 5,099 quân nhân Nam Hàn tử trận,11,232 bị thương, 4 mất tích. Quân Nam Hàn gồm các đơn vị:

- Sư Đoàn Mãnh Hổ Đại Hàn (Republic of Korean Capital Division, Tigers): đến VN ngày 29 tháng 9/1965, rời VN ngày 10 tháng năm 1973, quân số gồm 1 trung đoàn không kỵ, 2 trung đoàn bộ binh 4 tiểu đoàn pháo binh. Hành quân vùng tỉnh Bình Định.
Image -Sư đoàn Bạch Mã Đại Hàn (Republic of Korean 9th Infantry Division, White Horses) với 3 trung đoàn bộ binh (28,29,30 ) và 4 tiểu đoàn pháo binh, đến VN ngày 27 tháng 9 năm 1966 rời VN ngày 16 tháng 3 năm 1973.

- Lữ Đoàn Thanh Long TQLC Đại Hàn (Republic of Korean 2nd Marines Corps Brigade- Blue Dragons), đến VN ngày 19 tháng 19 năm 1965 rời VN tháng 2 năm 1972 với 4 tiểu đoàn bộ binh (1,2,3 và 5 ) và 1 tiểu đoàn pháo binh.

- Liên Đoàn 525 Quân Báo, HK (525th Millitary Intelligence Group), đến VN ngày 28 tháng 11/1965, rời VN ngày 3 tháng 3 năm 1973, gồm 8 Tiểu đoàn Quân báo: Tiểu đoàn 1 (1st MI Bn, Provisional), đến Đà nẵng từ 20 tháng 11 năm 1967 đến tháng 3 năm 1972, Tiểu đoàn 2 (2nd MI Bn, Provisional) đến Nha trang từ ngày 1 tháng 12 năm 1967, rời tháng 3 năm 1972, Tiểu đoàn 3 (3rd MI Bn, Provisional) đến Biên Hòa từ ngày 1 tháng 12 năm 1967 rời tháng 3 năm 1972, Tiểu đoàn 4 (4th MI Bn, Provisional) đến Cần Thơ từ ngày 1 tháng 12 năm 1967 rời tháng 3 năm 1972, Tiểu đoàn 5 (5th MI Bn, Provisional) đến Sai Gòn từ ngày 1 tháng 12 năm 1967, rời tháng 2 năm 1972, Tiểu đoàn 6 (6th MI Bn, Provisional) Tân Sơn Nhứt, đến Saigon từ ngày 1 tháng 12 năm 1967, rời 15 tháng 1 năm 1969, Tiểu đoàn 1 Không ảnh (1st MI Bn Air Reconnaissance Support) đến Saigon ngày 23 tháng 12 năm 1965, rời 19 tháng 4 năm 1971 và Tiểu đoàn 519 (519th MI Bn Consolidated) Saigon từ ngày 23 tháng 10/1965 đến ngày 3 tháng 3 năm 1973. Tiểu đoàn 519 điều hành các Trung Tâm Quân Báo Hỗn Hợp Việt- Mỹ(Combined Intelligence Center,Vietnam), Thẩm vấn Hỗn hợp (Combined Millitary Interrogation Center, Vietnam) Tài liệu (Combined Document Exploitation Center, Vietnam), Quân dụng (Combined Material Exploitation Center, Vietnam).



- Lữ Đoàn 1 Không Vận HK (1st Aviation Brigade), đến VN tháng 4 năm 1965. Liên Đoàn 12 Không Vận (12th Aviation Group) với 4 tiểu đoàn 13, 14, 52 và 145 đến VN. Vì nhu cầu của chiến trường Lữ đoàn 1 Không Vận HK được thành lập ngày 25 tháng 3 năm 1966 với quân số khoảng 23,000 người gồm 641 máy bay cánh quạt đủ loại, 441 trực thăng võ trang Cobra, 311 CH-47, 635 OH-6A, 2202 trực thăng UH-1. Lữ đoàn 1 Không vận có nhiệm vụ cung cấp tất cả phương tiện di chuyển, tiếp tế bằng máy bay và trực thăng cho các đơn vị Mỹ và Đồng Minh trên khắp chiến trường Miền Nam Vietnam. Từ năm 1965-1966 BCH đóng tại Phi trường Tân Sơn Nhất, từ năm 1967-1972, BCH dời ra căn cứ Long Bình sau đó 1973 di chuyển lại Tân Sơn Nhất. Lữ đoàn 1 Không Vận có 7 Liên đoàn Không Vận như sau: Liên đoàn 11(11th Aviation Group) với 3 tiểu đoàn 227,228 và 229 biệt phái cho Sư đoàn 1 Không Kỵ HK đến VN tháng 8 năm 1965 rời VN ngày 14 tháng 3 năm 1973. Liên đoàn 12 (12th Aviation Group) trú đóng tại Tân Sơn Nhất phục vụ vùng III và IV Chiến Thuật đến VN ngày 28 tháng 8 năm 1965, rời VN ngày 16 tháng 3 năm 1973. Liên đoàn 16 (16th Aviation Group) hoạt động tại vùng I Chiến Thuật trú đóng tại Đà Nẵng, đến VN ngày 20 tháng 12 năm 1967, rời VN ngày 13 tháng 11 năm 1971. Liên đoàn 17 (17th Aviation Group) trú đóng tại Tuy Hòa, Nha Trang hành quân vùng II Chiến Thuật đến VN ngày 15 tháng 12 năm 1965, rời VN ngày 16 tháng 3 năm 1973.

Liên đoàn 160 (160th Aviation Group) trú đóng tại Biên Hòa và Phú Bài, đến VN
ngày 1 tháng 7 năm 1968, biệt phái cho Sư đoàn 101 Nhảy Dù HK , ngày 25 tháng 6 năm 1969 Lữ đoàn 160 đổi tên thành Liên đoàn 101 (101st Aviation Group) hành quân tại Vùng I Chiến Thuật, rời VN ngày 18 tháng 1 năm 1972. Liên Đoàn 164 (164th Aviation Group) trú đóng tại Cần Thơ hành quân Vùng IV Chiến Thuật, đến VN ngày 20 tháng 12 năm 1967, rời VN ngày 14 tháng 3/1973. Liên Đoàn 165(165th Aviation Group) trú đóng tại căn cứ Long Bình đến VN ngày 17 tháng 2 năm 1969, rời VN ngày 30 tháng 1 năm 1972 hành quân vùng III Chiến Thuật.

- Lữ Đoàn 18 Quân cảnh HK (18th Military Police Brigade ), đến VN ngày 8 tháng 9 năm 1966, rời VN ngày 29 tháng 3 năm 1973, phục vụ khắp 4 vùng Chiến Thuật gồm các tiểu đòan Quân Cảnh: 8,16,89,92,93,95,97,504,716 và 720.
Image - Phái Bộ Viện Trợ Quân Sự ( MACV Military Assitance Command, VN)
Ngày 17 tháng 9 năm 1950 Phái Bộ Phái Bộ Viện Trợ HK tại Đông Dương (MAGG, Indochina) đến VN ngày 31 tháng 10 năm 1955. Ngày 1 tháng 11 năm 1955 Cơ Quan Military Assitance Advisor Group,Vietnam (MAAG,VN) được thành lập để cố vấn huấn luyện QLVNCH. Ngày 6 tháng 2 năm 1962 Cơ quan MACV chính thức được thành lập và được coi như Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Hoa Kỳ tại VN. Cơ Quan MACV trực tiếp điều hành các đơn vị Mỹ và Đồng Minh, U.S Naval Forces, Vietnam, Seven U.S Air Forces, các toán cố vấn tại các đơn vị tác chiến VNCH, các toán cố vấn Tỉnh, Quận trên toàn cõi Miền Nam Việt Nam, Chương Trình Bình Định Phát Triển Nông Thôn (CORDS, Civil Operation and Rural Development Supports) và các toán MACV-SOG (các toán này có nhiệm vụ rải các toán biệt kích tại Bắc Việt, Lào, Cam bốt, đường mòn HCM. Giải cứu các tù binh Mỹ và các phi công Mỹ bị rớt máy bay. Thiết lập các đài phát thanh phản tuyên truyền). Cơ quan MACV rời VN ngày 29 tháng 3 năm 1973.

Cuối tháng 3 năm 1973, các đơn vị HK hoàn toàn rút khỏi VN, cơ quan DAO (Defense Attáche Office) trực thuộc Tòa Đại sứ HK được thành lập thay thế cơ quan MACV điều hành bởi 50 quân nhân HK, 1200 nhân viên dân sự HK và khoảng 16,000 nhân viên dân chính người Việt Nam. Cơ quan DAO chỉ có những văn phòng chính tại Đà Nẵng, Huế, Pleiku, Qui Nhơn, Nha trang, Biên Hòa, Cần Thơ. Do đó nhu cầu của ngành Thông dịch viên Quân đội không còn cần nữa, các TDV được thuyên chuyển về các đơn vị của QLVNCH. Đợt đầu vào khoảng cuối năm 1970, một số đông TDV được thuyên chuyển về Hải Quân QLVNCH, đa số được thăng cấp Thượng sĩ giữ chức vụ quản kho, tiếp liệu. Lần lượt các TDV được chuyển ngành về các ngành như: Truyền tin, Quân y,Quân cụ, Quân báo, Pháo binh và một số theo học các khóa Sĩ quan Trừ Bị. Một số ít TDV được biệt phái ngoại ngạch về Bộ Giáo Dục dạy học, Nha quan thuế, Quốc Gia Hành Chánh, Phủ Thủ Tướng, Phủ Tổng Thống, Cơ Quan DAO… Số tử vong của TDV rất thấp so sánh với các ngành khác theo thống kê chỉ trên dưới 100 người.

Sau 30 tháng 4 năm 1975 một số ít TDV may mắn được di tản, vượt biên hay đoàn tụ gia đình theo diện ODP nhưng còn một số lớn HSQ TDV vẫn còn kẹt tại VN. Họ không may mắn được chính phủ HK chấp nhận di dân sang Mỹ như các cựu nhân viên dân chính của cơ sở Mỹ.

Đào Tiến Tứ (6th Psyop Bn.)

Lake Forest, California.
Jan 23, 2013

nguyenthanh
Posts: 859
Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Post by nguyenthanh »

Nhớ về đồng đội cũ

Bảo Tuấn
Tôi là một quân nhân hiện dịch. Tôi yêu quân đội và chọn quân đội làm binh nghiệp. Tôi gia nhập quân đội lúc tuổi đời còn rất trẻ. Tôi rời xa bạn bè, mái trường, thầy cô rất sớm nên học vấn chẳng bằng ai. Tôi là người hiếu động, thích không khí sôi động nơi chiến trường. Công việc an nhàn ở văn phòng, bộ tham mưu không thích hợp với tôi. Thuở còn bé, tôi thích xem phim chiến tranh. Ước ao khi lớn lên sẽ là một tướng lãnh anh hùng, điều khiển ba quân ngoài mặt trận. Thần tượng của tôi lúc ấy là Vua Quang Trung Nguyễn Huệ, Hoàng đế Nã Phá Luân. Nã Phá Luân vốn là sĩ quan Pháo Binh lúc trẻ sau này trở thành một danh tướng làm rúng động cả trời Âu.

Giữa năm 1960, sau khi tốt nghiệp khóa Pháo Binh Trung Cấp ở trường Pháo Binh và Hỏa Tiễn Hoa Kỳ (Fort Sill- Oklahoma), một lần nữa tôi được thuyên chuyển ra miền Trung! Hầu hết người miền Nam như tôi rất ngại ra Trung, vì ở đó không tìm đâu ra ánh đèn màu ở các vũ trường hay các phòng trà ca nhạc về đêm. Tôi bất hạnh sinh ra trong một gia đình nghèo, thuộc loại “bần cố nông,” vả lại cũng không phải là một thanh niên ham vui, bay bướm, nên tôi bất cần các chuyện lặt vặt đó.

Vả lại tôi nghĩ đã là một quân nhân, nhất là một quân nhân hiện dịch như tôi, thì bổn phận chính là phục vụ cho quân đội, còn địa phương là vấn đề thứ yếu.

Tôi được điều động về đơn vị Pháo Dã Chiến, đồn trú nơi địa danh lịch sử, Cổ Thành Quảng Trị. Tôi nhấn mạnh đến từ “lịch sử,” vì nơi đó chúng ta và Cộng Sản đã đổ biết bao máu xương trong hai lần lấn chiếm và tái chiếm khiến Cỗ Thành Quảng Trị hoang tàn, không còn hình dạng như xưa, đầy rẫy hố bom, đạn! Và từ đó, địa danh Cỗ Thành Quảng Trị đã đi vào lịch sử. Nơi đó cũng là lịch sử của đời tôi, vì ngày thành hôn năm 1961, vợ chồng tôi thết đãi tiệc cưới cho các sĩ quan trong đơn vị, nơi câu lạc bộ sĩ quan cũng tại địa danh này.


Tôi sinh ra thuộc “cung” khổ cho nên những cuộc hành quân nào nguy hiểm và vất vả, tôi đều được chỉ định đảm trách. Thuở ấy tôi mới lập gia đình, bỏ vợ mới cưới đi hành quân hoài, để nàng ngủ một mình, sợ ma! Tội nghiệp đêm đêm nàng phải nhờ cháu bé con của sĩ quan trong cư xá qua nhà ngủ chung cho đỡ cô đơn! Ðôi lúc cũng bực, nhưng kỷ luật nghiêm minh của quân đội đã ấn định rõ “thi hành trước, khiếu nại sau.” Nhiều khi tôi cũng tự an ủi, mình được cấp chỉ huy tín nhiệm là một vinh dự được giao cho những công tác khó khăn, nhưng tội nghiệp cho các thuộc cấp của tôi, họ cũng khổ lây theo tôi.

Suốt cuộc đời binh nghiệp, trải dài hơn 20 năm chiến đấu không ngừng, tôi đã nhiều lần đối diện với cái chết. Cái chết đến đột ngột với các chiến binh ngoài mặt trận. Sự sống và sự chết chỉ cách nhau một tích tắc đồng hồ, may thì thoát, không may thì vĩnh viễn nằm xuống trở về với cát bụi!

Tôi xin lược kể ra đây vài trường hợp thoát chết mà tôi đã đối diện.


* * * *


Thoạt đầu, tôi được đề cử làm Pháo Ðội Trưởng một Pháo Ðội tác xạ đại bác 105 ly. Thời gian đó, Pháo Binh QLVNCH chưa phát triển. Mỗi Sư Ðoàn Bộ Binh có một Tiểu Ðoàn Pháo Binh đại bác 105 ly và một Tiểu Ðoàn Súng Cối 106 ly cơ hữu. Mỗi Pháo Ðội tác xạ 105 ly có 4 khẩu đại bác. Nhiệm vụ chiến thuật của Pháo Ðội tôi lúc ấy là yểm trợ trực tiếp cho Trung Ðoàn 3 Sư Ðoàn 1 Bộ Binh. Thời gian ấy Trung Ðoàn 3 BB đang hành quân tại thung lũng Ashau - Alưới. Thung lũng này nằm dưới chân dãy Trường Sơn sát biên giới Lào. Thung lũng này là con đường xâm nhập thuận tiện nhất của quân Cộng Sản từ Bắc vào Nam.

Pháo Ðội tôi được chia đôi: 2 khẩu đóng ở Ashau và 2 khẩu đóng ở Alưới. Khoảng cách giữa Ashau và Alưới quá xa, không yểm trợ hỗ tương được cho nhau, cho nên Bộ Tư Lệnh SÐ 1 thiết lập một căn cứ phụ, nhỏ hơn nằm ở giữa. Ðó là căn cứ Tà Bạt. Căn cứ này được yểm trợ bởi một khẩu pháo 25 pounder - loại pháo cỗ của Pháp để lại trước khi rút về nước. Như thế cả ba căn cứ đều có pháo binh hiện diện, có thể yểm trợ hỗ tương lẫn nhau.

Hè năm 1962, thời tiết thuận tiện, ít mưa và ít sương mù nên BTL Sư Ðoàn mở cuộc hành quân ở vùng Cokawa. Ðịa danh này nằm ở Bắc Alưới. Vì Trung Ðoàn 3 BB án ngữ tại thung lũng Ashau - Alưới nên địch không hoạt động được, đành phải rút lên Cokawa để thiết lập mật khu.

Trung Ðoàn 3 BB đảm nhiệm hành quân càn quét mật khu này và di chuyển toàn bộ BCH lên sát vùng hành quân để dễ chỉ huy. Tại căn cứ Ashau lúc bấy giờ tôi là người có cấp bậc cao nhất, dù là pháo thủ, tôi cũng bị Ðại Tá Ðỗ Cao Trí lúc bấy giờ là Tư Lệnh Sư Ðoàn 1 Bộ Binh, chỉ định làm Chỉ Huy Trưởng căn cứ! Dưới quyền tôi lúc bấy giờ ngoài quân số của bán Pháo Ðội tác xạ còn có quân số của 1 Ðại Ðội Trọng Pháo Trung Ðoàn 3 BB, 1 Trung Ðội Bộ Binh phụ trách canh gác và giữ an ninh phi trường, 1 Tiểu Ðội Bộ Binh hàng ngày hoạt động bên ngoài để phát hiện sự hiện diện của địch. Tình hình tổng quát tại Ashau lúc ấy cũng không căng thẳng lắm, chỉ có hoạt động du kích lẻ tẻ. Thỉnh thoảng, BTL/ SÐ biệt phái cho tôi một phi cơ L.19 để sử dụng bay quan sát khu vực chung quanh căn cứ để phát hiện hoạt động địch.

Vào những dịp thuận tiện, tôi cũng đi thăm các anh em pháo thủ bên Alưới và Tà Bạt, kiểm soát huấn luyện và trao dồi kỹ thuật. Một hôm tôi theo chuyến bay tiếp tế Caribou - loại phi cơ có khả năng đáp và cất cánh trên phi đạo ngắn - để thanh tra anh em bên căn cứ Tà Bạt.

Tà Bạt cách Ashau trong tầm pháo 105 ly, chừng 5 phút bay. Khi đến vùng trời Tà Bạt, phi cơ lượn vài vòng để xem hướng gió. Trong khi phi công cho hạ thấp cao độ chuẩn bị đáp thì một chú du kích hay thượng cộng nào đó tác xạ một phát vu vơ nhắm vào phi cơ. Hậu quả của phát đạn đó lại gây một tai họa. Thay vì phi công giảm bớt tốc độ và cao độ, điều khiển phi cơ đáp từ đầu phi đạo, phi công lại liều lĩnh đáp ở giữa phi đạo! Vì lẽ căn cứ nhỏ, phi đạo ngắn, Caribou không làm sao dừng lại ở cuối phi đạo được. Kết quả phi cơ đâm thẳng vào mép rừng cuối phi đạo, bốc cháy! Phi công trưởng và phụ tử nạn.

Tôi với tính cẩn thận khi lên phi cơ đã gài nịt an toàn, chỉ bị shock trặc xương sống và sây sát hai tay, kịp thoát ra ngoài, vô sự!

Lần thứ hai gặp nạn cũng trên một chuyến bay hành quân. Ðầu Xuân 1971, trong cuộc hành quân Lam Sơn 719 đánh vào Hạ Lào, Trung Ðoàn 1 và Trung Ðoàn 3/ SÐ1BB được lệnh tấn công song hành.
Trung Ðoàn 1 BB thiết lập căn cứ Hỏa Lực Alpha cách biên giới Lào khoảng 20 cây số và Trung Ðoàn 3 BB thiết lập căn cứ hỏa lực Delta xa hơn, nằm giữa Tchepone và Khe Sanh. Mục tiêu của Sư Ðoàn là sử dụng các đơn vị cơ hữu luân phiên (alternate) tiến công chiếm cho được Tchepone là mục tiêu tối hậu.

Những ngày đầu của cuộc hành quân, địch chưa tập trung kịp nên lực lượng ta đã phá vỡ nhiều căn cứ hậu cần và ống dẫn dầu của địch, thu nhiều chiến lợi phẩm.
Sau đó thì Tiểu Ðoàn 2/3 Sư Ðoàn 1 BB do Thiếu Tá Hoàng Mão chỉ huy chạm địch nặng, gần như bị bao vây, đạn dược gần hết! Xin cần nói thêm là trong cuộc hành quân này, lực lượng bộ chiến Hoa Kỳ không tham dự, cũng không có cố vấn Mỹ đi theo do lệnh cấm của Ngũ Giác Ðài. Mỹ chỉ yểm trợ trên không như tiếp tế, tản thương, trực thăng vận, yểm trợ tiếp cận với những phi vụ từ Ðệ Thất Hạm Ðội và phi vụ chiến lược B.52 theo yêu cầu.

Hôm đó tôi bay trên trực thăng chỉ huy C+C (Command and Control) với Ðại Tá Trung Ðoàn Trưởng Trung Ðoàn 3 BB, tìm cách cứu TÐ 2/3 ra khỏi vùng hành quân. Phi công trực thăng là Không Ðoàn Trưởng Không Ðoàn Trực Thăng Hoa Kỳ.

Ðến khu vực TÐ 2/3 BB, chúng tôi yêu cầu ở dưới đánh dấu vị trí. Khói màu vàng được nhận thấy từ trực thăng của chúng tôi. Phi công trưởng dọ dẫm thăm dò cho hạ thấp cao độ, lướt nhẹ trên vị trí khói vàng. Trên trực thăng nhìn xuống, tôi thấy nhiều quả đạn súng cối nổ gần vị trí đánh dấu đồng thời một loạt AK cũng bắn theo trực thăng. Tôi nghe rõ tiếng đạn lướt qua ngang đầu và phi công điều khiển trực thăng vọt nhanh lên cao, lấy lại cao độ. Rồi thì đèn báo động đỏ trên trực thăng chớp liên hồi, báo hiệu hệ thống cánh quạt bị trúng đạn, trực thăng sắp rớt.

Phi công khẩn cấp rời vùng hành quân, đồng thời báo cáo về Khe Sanh. Nơi đây liền gửi toán tiếp cứu (rescue) thuộc Ðại Ðội Hắc Báo với thang dây, kẹp theo sát chúng tôi. Còn ở bên này biên giới Lào, trực thăng phải đáp khẩn cấp bất chấp hiểm nguy! Rồi một trực thăng khác đến kịp thời, thay thế chiếc hỏng. Chúng tôi lại tiếp tục bay, tìm cách để trực thăng vận cứu nguy cho TÐ 2/3 BB. Cuối cùng thì TÐ 2/3 BB dưới tài chỉ huy xuất sắc của Thiếu Tá Hoàng Mão cũng thoát được vòng vây, di chuyển bộ về căn cứ hỏa lực Delta. Ông ta là niên đệ cùng trường Võ Bị Quốc Gia Ðà Lạt (khóa 20?) với tôi.

Trên đây là hai lần tôi may mắn thoát chết, thoát trong đường tơ kẽ tóc. Và trong cuộc đời binh nghiệp của tôi, tôi cũng chứng kiến những cái chết đau lòng của anh em thuộc cấp, những người không may mắn như tôi, đã vĩnh viễn nằm xuống vì chính nghĩa Quốc Gia. Tôi xin kể lại dưới đây những trường hợp mà tôi còn nhớ rõ.
* * * * *

Ba Lòng là một quận lỵ nằm trong thung lũng dưới chân dãy Trường Sơn. Ðất phì nhiêu dân cư thưa thớt, nhưng Ba Lòng là một vị trí chiến lược. Nếu không chiếm giữ Ba Lòng, thì từ đây địch sẽ thiết lập căn cứ địa, gây bất ổn cho Quảng Trị và Ðông Hà. Vì là một vùng xa xôi, hiểm trở, nên có thời các chiến sĩ Ðại Việt đã thiết lập chiến khu nơi này để chống lại chính quyền Ngô Ðình Diệm.

Trước đó, quận lỵ Ba Lòng đã hai lần bị địch tràn ngập và cả hai lần Pháo Ðội tôi được trực thăng vận vào yểm trợ cho lực lượng giải tỏa. Vì không có đường giao thông và thuở ấy chưa có trực thăng Chinook - loại trực thăng khổng lồ có khả năng câu được cả đại bác 155 ly - nên trực thăng vận Pháo Binh lúc ấy rất nhiêu khê phiền phức! Một khẩu pháo được tháo rời thành 5 bộ phận: nòng, liên hệ đàn hồi, giàn súng (gun assembly), 2 bánh, 2 càng. Từng bộ phận được câu bằng trực thăng “quả chuối” H.21, đến vị trí hành quân mới ráp lại.

Ba Lòng nằm ở vị trí không tiếp viện bằng đường bộ được, ngoài tầm yểm trợ pháo binh nên BTL/SÐ quyết định thiết lập một căn cứ quân sự tại đây. Lúc ấy thì dân chúng không còn một ai, một số thì về Quảng Trị, một số thì về Cam Lộ, Ðông Hà sinh sống.

Căn cứ được thiết lập theo hình tam giác để dễ yểm trợ lẫn nhau. Pháo Ðội của tôi được tách ra hai khẩu yểm trợ cho một Tiểu Ðoàn BB trong thời gian thiết lập căn cứ.

Thiếu Úy Nguyễn Văn Tố, Khóa 8 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Ðức, chỉ huy hai khẩu trên. Thời gian đó không có chức vụ Trung Ðội Trưởng. Trường hợp Pháo Ðội chia đôi như vậy, thì Pháo Ðội Trưởng chỉ huy hai khẩu và Sĩ Quan Tác Xạ phụ trách hai khẩu. Vì là một vị trí “yết hầu” gây trở ngại, ngăn cản địch, không cho địch mở rộng hoạt động xuống đồng bằng Quảng Trị và Ðông Hà nên địch quyết định nhổ cái gai ấy với bất cứ giá nào.

Căn cứ được thiết lập gần xong thì địch mở cuộc tấn công, một cuộc tấn công được thiết kế và phối hợp rất tỉ mỉ. Ðịch dùng một bộ phận tấn công cầm chân Ðại Ðội tiền đồn cách căn cứ khoảng một cây số, không cho tiếp viện, một bộ phận khác tấn công quấy rối vị trí Pháo Ðội 155 ly đóng ở vị trí hành quân Bao Căng để bịt pháo. Lực lượng tấn công chính vào Ba Lòng là lực lượng đặc công tinh nhuệ.


Mặc dù chung quanh căn cứ có rào mìn phòng thủ nhưng địch điều nghiên, biết rõ cách thức đặt mìn của Công Binh. Thông thường giữa các dãy mìn đều có khe hở (gap) ở mỗi góc cạnh. Ðịch cho đặc công điều nghiên kỹ cách bố trí phòng thủ vào những đêm trước cuộc tấn công. Vào thời điểm tấn công, lợi dụng sương mù và đêm tối vùng rừng núi ban đêm, chúng cho toán đặc công kinh nghiệm bò sát, len lỏi vào khe hở (gap) bãi mìn, tên đi trước kéo theo một băng vải trắng đánh dấu lối xâm nhập, các tên đi sau cứ lần mò hàng một theo tên đi trước. Ðến khi toán đầu xâm nhập vào được căn cứ thì chúng dùng lựu đạn và bộc phá, hiệu quả hơn là vũ khí cá nhân.

Khi lính gác phát hiện được một số địch đã lọt vào căn cứ, Thiếu Úy Tố liền rời Ðài Tác Xạ, chạy từ khẩu đội này đến khẩu đội kia thúc đẩy các khẩu đội tác xạ cận phòng với yếu tố nạp 1, thỏi nổ 1.5 giây. Vì trách nhiệm và quá hăng say với nhiệm vụ, không ngại hiểm nguy, Thiếu Úy Tố bị một tên đặc công sát hại trên bờ giao thông hào!

Gần sáng, không thắng được, địch rút lui, để lại một số chết trong căn cứ, một số trong bãi mìn, chết hàng một vì đạn đại liên bắn xâu táo, và nhiều vết máu với băng cứu thương vì đạn pháo binh cận phòng.

Sáng hôm đó tôi theo trực thăng tản thương, đem một số nhân viên lên để chấn chỉnh lại Trung Ðội. Nhân viên tác xạ khiêng xác Thiếu úy Tố trên cáng tản thương ra trực thăng để chuyển về hậu cứ ở La Vang. Tôi ra dấu anh em dừng lại, ngậm ngùi nhìn thân xác lạnh của anh, trìu mến vuốt má anh lần cuối.

Phải chi anh ở trong đài tác xạ lúc bị tấn công thì anh đã không chết!

Ba hôm sau tôi trở về Huế dự lễ truy thăng cho anh. Ðám tang nào mà không có nước mắt? Ngoài nước mắt sụt sùi của người vợ trẻ, tôi cảm thương cho đứa con gái của anh. Mặt cháu bé kháu khỉnh, đôi mắt tròn, đầu đội khăn tang, ngơ ngác vì số người đông đúc trong lễ truy thăng. Cháu sinh ra hơn tuần thì Tố theo Trung Ðội lên Ba Lòng. Chắc Tố cũng không có dịp hôn con nhiều trước khi xa con.

Ôi chiến tranh! Chiến tranh đã cướp đi biết bao thanh niên ưu tú, đã biến biết bao người đàn bà thành quả phụ và bao trẻ thơ bỗng dưng mồ côi cha! Tôi không nén được xúc động quay mặt đi chỗ khác, nước mắt lưng tròng trong lúc thượng cấp làm lễ truy thăng Trung Úy cho anh.

* * * *

Căn cứ Gio Linh nằm trên đồi cao so với địa thế chung quanh. Trên đài quan sát Gio Linh, bằng ống nhòm ta cũng nhìn thấy rõ Cầu Hiền Lương bắc ngang sông Bến Hải. Về phía Tây là đồi Cồn Thiên nằm ở phía bắc quân lỵ Cam Lộ. Trên đỉnh đồi này cũng có đài quan sát pháo binh để theo dõi địch bên kia sông Bến Hải. Nơi đây cũng xảy ra những trận chiến đẫm máu giữa Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ và quân Cộng Sản sau này.

Thiếu Úy Nguyễn Văn Hòe thuộc Khóa 7 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Ðức thuyên chuyển về Tiểu Ðoàn 1 Pháo Binh và làm Sĩ Quan Tác Xạ cho Pháo Ðội tôi. Ðược một thời gian thì tôi được thăng cấp Ðại Úy sau cuộc đảo chánh 1 tháng 11, 1963, sau hơn 7 năm ở cấp bậc Trung Úy thực thụ. Và cũng từ ngày ấy, tôi rời chức vụ Pháo Ðội Trưởng để giữ chức vụ cao hơn.

Không ai biết rõ lai lịch của anh Hòe. Nghe phong thanh cha anh chết lúc anh còn bé, mẹ anh tái giá và không còn liên lạc với anh. Anh nhờ bà con bên nội nuôi ăn học cho đến khi khôn lớn, do đó anh không được hưởng tình mẫu tử! Như tôi trình bày ở phần trên, khi Pháo Ðội tách ra làm đôi thì Sĩ Quan Tác Xạ cũng là Trung Ðội Trưởng và Hòe lúc đó chỉ huy Trung Ðội Pháo Binh đóng ở Gio Linh.

Trong thời gian đơn vị đồn trú ở La Vang, anh có quen một cô nữ sinh trường Trung Học Nguyễn Hoàng ở thành phố Quảng Trị. Quen nhau một thời gian thì anh xin phép cưới.

Trong ngày hợp hôn của anh, mẹ và bên cha anh không ai có mặt. Anh nhờ vợ chồng tôi thay mặt họ nhà trai làm chủ hôn. Thật là một lễ cưới đơn giản trong thời chiến. Chú rể không có được một bộ đồ suit, chỉ có một áo sơ mi trắng với một cà vạt không lòe loẹt, phai màu! Một đám cưới không có dâu phụ, rể phụ! Và như trong bài thơ “Màu Tím Hoa Sim” của Hữu Loan, có câu “cưới nhau xong là đi,” rất trùng hợp với đám cưới của anh.

Tiểu Ðoàn cấp cho anh 7 ngày phép để cưới vợ! Nào có tuần trăng mật gì đâu, chỉ lẩn quẩn trong thành phố Quảng Trị nhỏ bé trong thời gian đó. Hết 7 ngày phép, chưa hưởng hết hương vị ái ân với người vợ mới cưới thì anh trở lại Gio Linh. Tạo hóa quá ác nghiệt! Một tuần sau, căn cứ Gio Linh bị địch tràn ngập! Cũng như Tố, anh chết ở giao thông hào trong lúc thúc đẩy anh em kháng cự cuộc tấn công.

Tội nghiệp người vợ trẻ của anh, mới tháng trước đây còn là cô nữ sinh ngây thơ, bỗng nay trở thành góa phụ!

Thân xác anh được chôn trên đồi La Vang trước ngôi chùa Phật Giáo địa phương. Ngày đưa tiễn thân xác anh ra phần mộ, chỉ có tiếng khóc nức nở của người vợ trẻ mới cưới với sự bùi ngùi của các sĩ quan trong đơn vị. Ngày hợp hôn của anh đơn giản bao nhiêu thì ngày mà thân xác anh ra nghĩa địa cũng đơn giản bấy nhiêu. Không có người thân hay họ hàng bên anh đưa tiễn!

Chiến trận ngày thêm khốc liệt, mộ anh thiếu khói hương, không người thăm viếng. Không biết ngày nay xương cốt anh có còn nguyên dưới huyệt mộ lúc chôn hay cũng bị bom đạn cày nát như Cỗ Thành Quảng Trị. Luôn luôn tôi vẫn nhớ đến anh, thương cho phần số nghiệt ngã của anh và ngậm ngùi gửi đến anh hai chữ “Tiếc Thương.”

Tượng Thương Tiếc trước Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa trước và sau ngày Quốc Hận 30 tháng 4, 1975 đã bị Việt Cộng kéo đổ tiêu hủy.

* * * *

T-bone là một căn cứ hỏa lực kiểu mẫu nằm về phía Tây thành phố Huế, bên trái Quốc Lộ 1, hướng về phương Bắc, khoảng giữa cây số 17 và Huế. Tbone là tên của quân đội Hoa Kỳ đặt cho căn cứ này, vì hình thể của nó trên không nhìn xuống không khác gì lát thịt bò T-bone. Căn cứ có hai Pháo Ðội, một Pháo Ðội 155 ly và một Pháo Ðội 105 ly chiếm vị trí ở hai nhánh triền đồi. Sau này căn cứ được đổi tên Việt với địa danh là An Ðô. Vì là căn cứ kiểu mẫu nên hàng ngày những phái đoàn quan trọng từ Mỹ cũng như từ Sài Gòn ra Huế đều được hướng dẫn đến viếng thăm.

Thời tiết mùa Hè ở miền Trung rất nóng và oi bức, lại thêm cơn gió Lào -bắt nguồn từ Lào thổi qua- gió mạnh từng cơn, cuốn bụi và cát bay mù trời! Vào khoảng thời gian này, ăn cơm toàn trộn chung với cát!

Một buổi chiều sau khi dùng cơm xong, tôi ra đứng trước Ðài Phối Hợp Hỏa Lực đặt cạnh BCH Trung Ðoàn 3 BB vu vơ nhìn về hướng Ashau Alưới, nơi tôi đã từng ở đó một thời gian với núi non trùng điệp.

Bỗng tôi thấy bốn luồng khói xanh nhạt nối đuôi nhau, tiếp theo 4 tiếng nổ khởi hành (depart) của hỏa tiễn ở một đường thông thủy, cách căn cứ khoảng 3 cây số. Ðịch sử dụng hỏa tiễn 122 ly không phải pháo kích chúng tôi mà lại pháo kích về hậu cứ của Trung Ðoàn 3 BB và hậu cứ Tiểu Ðoàn chúng tôi. Phản ứng tự nhiên, tôi chạy vụt qua Pháo Ðội 105 ly, thúc đẩy anh em tác xạ, dập pháo địch. Vì vị trí hỏa tiễn để lộ quá rõ, nên các Khẩu Trưởng Pháo Binh 105 ly và 155 ly tự động chỉ huy trực xạ.

Kinh nghiệm chiến trận có thừa, anh em thi hành trực xạ rất chính xác. Khói súng đại bác bay mù trời, cộng với tiếng nổ khởi hành trực xạ của hai Pháo Ðội gây nên một náo động kinh khủng! Bỗng nhiên tôi thấy một quả súng cối nổ cách Pháo Ðội 105ly chừng 200 thước, sau đó quả thứ hai gần hơn, 100 thước và quả thứ ba sát gần hơn nữa. Nhận định mình đang bị súng cối điều chỉnh, tôi quát to “Vào hầm núp.” Lệnh của tôi không ai nghe được vì quá náo động lúc bấy giờ và quả cối sau cùng rơi ngay vào vị trí khẩu 6-105 ly. Kết quả Khẩu Trưởng và Xạ Thủ chết ngay tại chỗ, số còn lại bị thương. Ðại Úy Ðải (Khóa 8 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Ðức) người nhỏ, thấp, bị một mảnh đạn súng cối xước qua đầu, tôi cao hơn đứng trước ông ấy lại may mắn an toàn!

Lúc đó tôi mới nhận biết địch dùng hỏa tiễn đặt một nơi, lừa chúng tôi ra phản pháo đoạn dùng súng cối đặt ở một nơi khác pháo kích chúng tôi dễ đạt được kết quả hơn. Phải nhìn nhận địch thành công với mưu chước này.

Sau quả cối rơi ngay vào vị trí khẩu 6 thì địch cũng ngừng pháo kích vì vị trí của chúng cũng bị phát hiện. Anh em khiêng những pháo thủ bị thương vào Ðài Tác Xạ để y tá săn sóc.

Tôi bước qua mình một pháo thủ bị thương đang nằm dài trên nền Ðài Tác Xạ pháo đội, cầm điện thoại định báo cáo về Pháo Binh Sư Ðoàn. Tôi nghe một giọng nói nhỏ nhẹ: “Trung Tá cứu em với!” Tôi quay người lại, quỳ thấp xuống, vỗ nhẹ vào má anh như dỗ dành và an ủi: “Không nặng lắm đâu, đừng sợ, em.” Ðó là Ðính, cấp bậc Hạ Sĩ Nhất, nhắm viên khẩu 6. Dáng người anh vạm vỡ, da sạm đen, bắp thịt rắn chắc, chắc đã trải qua nhiều mưa nắng với đồng ruộng trước khi nhập ngũ. Nhìn bề ngoài cũng đủ biết anh là người có thừa can đảm. Anh bị thương ở bụng, một mảnh súng cối cắt đứt ruột!

Tôi biết anh đau đớn lắm nhưng can đảm chịu đựng, không rên rỉ! Chắc anh cũng linh cảm điều không may sẽ đến với anh, khó thoát khỏi cái chết nên tha thiết khẩn nài: “Trung Tá cứu em với! ”

Trực thăng tản thương đến kịp thời. Ðính và vài người bạn trong khẩu đội được tản thương về Quân Y Viện Nguyễn Tri Phương trong thành nội Huế. Ðêm đó tôi cầu nguyện cho Ðính thoát khỏi tay tử thần. Sáng hôm sau, tôi chỉ thị cho Sĩ Quan Trợ Y Tiểu Ðoàn vào bệnh viện theo dõi tình trạng của Ðính thì được báo cáo là Ðính đã chết khi chưa đến bệnh viện!

Anh Ðính ơi! Tôi đã giã từ vũ khí trên 33 năm, nay tuổi cũng đã xế chiều, may mắn thoát chết mấy lần, còn sống ở thế giới bên này, còn anh ở thế giới bên kia! Tuy chúng ta ở hai thế giới cách biệt, nhưng hình ảnh của anh trước giờ anh chết và ba tiếng ngắn ngủi “Cứu em với!” vẫn sống mãi trong tim tôi cho đến tận ngày hôm nay. Tôi khẳng định không sợ sai lầm, đó là những lời nói cuối cùng với cấp chỉ huy trực tiếp của anh là tôi trước khi anh vĩnh viễn rời xa thế giới bên này để qua thế giới bên kia. Tôi cảm thương anh, một thuộc cấp của tôi, chỉ nói được vài lời ngắn ngủi trước khi chết với cấp chỉ huy của mình. Anh đâu có dịp nói những lời trăng trối cuối cùng với vợ con anh, với cha mẹ anh, phải không?

Ðời chiến binh sống đó rồi chết đó! Chiến tranh thật ác nghiệt!

* * * *

Sau cuộc hành quân Lam Sơn 719, lực lượng Sư Ðoàn 1 BB rút về để chỉnh trang.

Thừa dịp đó địch ồ ạt chuyển quân và tiếp liệu phẩm theo đường mòn Hồ Chí Minh xuống thung lũng Ashau Alưới. Gọi là đường mòn chứ ở vào thời điểm này không còn là đường mòn nữa mà là đường đất rộng rãi chạy được hai chiều. Ban đêm từng đoàn convoy với đèn sáng rực thong dong chạy tự do. Pháo Ðài Bay chiến lược B.52 từ căn cứ Utapao (Thái Lan) và Guam hoạt động thưa thớt(?).

Giai đoạn đầu năm 1972, Hoa Kỳ thử nghiệm Việt Nam hóa chiến tranh. Các căn cứ Mỹ ở cận dãy Trường Sơn được rút bỏ. Thung lũng Ashau Alưới bỏ ngỏ. Ðịch gia tăng áp lực phía Tây Huế để chuẩn bị cho chiến dịch Hè 1972. Nhận định tình hình cộng thêm tin tức tình báo chiến thuật, BTL/SÐ 1 BB tổ chức hành quân Lam Sơn 729 để giải tỏa áp lực địch.

Bãi đổ quân trực thăng vận được chọn là Ðộng A Tây. Ðịa điểm này là một núi trọc, cao độ 500 thước, cách lăng vua Minh Mạng về hướng Tây khoảng 20 cây số.
Sáng sớm hôm đó, sau khi họp phối hợp hành quân với lực lượng Hoa Kỳ ở căn cứ hỏa lực Birmingham, tôi, Trung Tá Nguyễn Bùi Quang, Trung Ðoàn Trưởng Trung Ðoàn 3 BB và Trung Tá Cố Vấn Trưởng Trung Ðoàn tiến về trực thăng chỉ huy (C&C) đang chờ để khởi đầu cuộc đổ quân. Chúng tôi lướt nhanh qua toán quân đang đứng chờ trực thăng vận. Thiếu Úy Bằng, Tiền Sát Viên Tiểu Ðoàn, biệt phái cho đơn vị BB và ba pháo thủ trong toán đứng nghiêm chào tôi. Tôi chào trả lại theo quân kỷ và vắn tắt nói, “Cố gắng nhe.” Bằng cũng lễ phép đáp “Dạ.”

Bằng với tên họ là Lê Văn Bằng, xuất thân khóa 7/68 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Ðức. Anh là người miền Nam, ăn nói nhỏ nhẹ, rất đẹp trai; mà đẹp trai thì thường hay đa tình! Nhiều cô gái đẹp thành phố Huế chết mê chết mệt vì anh. Cũng vì anh mà nhiều cô mất tình bạn vì ghen tị!

Tôi là một người rất nhiều tình cảm nhưng bề ngoài tôi rất khô khan, lạnh lùng. Tôi không bao giờ bắt tay nhân viên dưới quyền kể cả Sĩ Quan Phụ Tá. Tôi quan niệm như vậy để giữ cái “uy” của cấp chỉ huy, để cấp dưới khỏi “giỡn mặt, khó làm việc.” Tôi đối với Bằng cũng không ngoài thông lệ đó, chỉ vắn tắt nhắn nhủ và khuyến khích: “Cố gắng nhé.”

Trực thăng chỉ huy cất cánh trước, rời căn cứ hỏa lực Birmingham. Trực thăng lượn vài vòng trên bãi đổ quân, thỉnh thoảng hạ thấp cao độ để thăm dò. Cũng may, khoảng thời gian đó, địch chưa có hỏa tiễn cầm tay Ðịa Ðối Không SA 7, nên phi công hơi liều.

Ðúng thời điểm ấn định, L.19 phóng một hỏa tiễn khói trắng đánh dấu bãi đổ quân. Rồi từng chiếc, từng chiếc trực thăng vũ trang (gunship) nối tiếp oanh kích bãi đáp bằng hỏa tiễn. Dứt đợt oanh kích của trực thăng vũ trang, tôi liền điều khiển tác xạ tập trung nổ đồng thời (time on target) với Pháo Ðội B cơ hữu đóng ở căn cứ Bastogne và Pháo Ðội 155 ly của Hoa Kỳ đóng ở căn cứ Birmingham. Dứt loạt đạn pháo binh cuối cùng, tiếp theo là từng chiếc trực thăng chuyển quân tuần tự đáp xuống bãi đáp.

Trung Ðội bộ binh đầu đáp an toàn. Bỗng Phi Công Trưởng báo cho chúng tôi biết là “bãi đáp nóng” (hot landing zone) và cuộc chuyển quân tạm dừng. Trên trực thăng chỉ huy nhìn xuống, tôi thấy một chiếc trực thăng thay vì lấy cao độ vòng lại điểm khởi hành như các trực thăng khác, lại lảo đảo như người say, lết sát theo một đường thông thủy, đâm vào sườn núi bốc cháy!

Tôi mục kích sự kiện xảy ra rất rõ ràng, từ đấu đến cuối. Ðau đớn thay, khi biết được trên chiếc trực thăng định mệnh đó có Ðại Ðội Trưởng Bộ Binh và Bằng, Tiền Sát Viên của đơn vị. Tôi sững sờ, tim nhói đau, tự nhiên đôi dòng nước mắt lăn tròn trên má! Nào ai ngờ tôi vừa nói mấy lời vắn tắt với anh cách đây chừng nửa tiếng, thì bây giờ anh đã chết thê thảm, chết không toàn thây!

Trên trực thăng chỉ huy, không ai biết tại sao trực thăng lại lâm nạn như vậy. Giả thuyết có thể là phi công thiếu bình tĩnh, hoảng hốt, cho trực thăng cất cánh khi vòng quay của cách quạt chưa đủ tua (turn) nên trực thăng không thể cất cao lên khỏi mặt đất. Cũng có thể phi công bị thương khi có vài tên địch còn sót lại bắn sẻ nên không còn đủ khả năng điều khiển.


Bằng chết quá đột ngột và tôi là người duy nhất trong đơn vị, cấp chỉ huy trực tiếp mà anh còn nhìn được lần cuối cùng trước khi vĩnh viễn rời bỏ anh em!
Tôi rất ân hận là tại sao khi anh chào tôi, tôi lại không đến siết chặt tay anh dù không biết được là anh sẽ chết. Ðiều này làm tôi ray rứt mãi đến tận hôm nay.
Khoảng một tuần sau khi Bằng chết mất xác, người yêu của Bằng có ra hậu cứ, khẩn khoản xin phép được xem những di sản lặt vặt của Bằng còn để lại, và tìm một di vật để lưu giữ làm kỷ niệm của mối tình đầu.

Tôi bận hành quân, không có mặt ở hậu cứ, nhưng nghe anh em kể lại, nàng xin giữ một áo lót của Bằng. Nàng đưa áo lót lên mặt, hôn khẻ, như để tìm lại hơi hướm của người yêu còn sót lại đâu đây và khóc nức nở.

Thời gian sau, tôi nghe tin nàng rời xứ Huế lên Ðà Lạt và tu ở một tu viện kín nào đó. Tôi không rõ bây giờ nàng có còn giữ kỹ áo lót của Bằng, một kỷ vật của người yêu vắn số để đêm đêm đem ra nhìn, nhớ lại kỷ niệm xưa hay không?

Tôi kính trọng sự đau khổ của nàng với mối tình đầu dang dở. Mong nàng chóng quên chuyện tình ngày xưa, chuyện tình buồn của thời con gái. Chúc nàng sớm thực hiện được trọn vẹn ước nguyện, quên hẳn những nghiệt ngã, đắng cay, phong ba bão táp trên cuộc đời ô trọc này, và hiến dâng hết cuộc đời còn lại cho Chúa!

* * * * *

Chiến tranh nào mà không có chết chóc, tang thương! Hậu quả chiến tranh đã để lại biết bao nhiêu người đàn bà bỗng chốc trở thành góa bụa. Chiến tranh đã biến những trẻ thơ bỗng mồ côi cha. Chiến tranh đã để lại những vết thương lòng không sao hàn gắn được của mối tình đầu, để cuối cùng hiến dâng cuộc đời còn lại trong tu viện, dưới bóng thánh giá của giáo đường. Chiến tranh đã cướp mất đi một mạng người biết mình gần kề với cái chết nên khẩn nài trong tuyệt vọng “Cứu em với.”
Những trường hợp trên vẫn ám ảnh tôi cho đến tận ngày hôm nay. Thỉnh thoảng trong cơn ác mộng, tôi vẫn gặp lại hình ảnh của các bạn đồng ngũ ngày xưa đã vĩnh viễn nằm xuống!

Tôi không oán trách những người đã cấm súng giết những người bạn của tôi, vì châm ngôn của một chiến binh khi xung trận là “giết hoặc bị giết”!

Khách quan mà nói thì những người nằm xuống ở bên kia chiến tuyến cũng là những anh hùng, nhưng... rất tiếc, “những anh hùng không cùng lý tưởng.” Các người đã bị lừa gạt quá nhiều, nào cách mạng, nào giải phóng, nào giành độc lập, nào chống đô hộ ngoại bang v.v... những từ ngữ rất kêu.

Sau Thế Chiến Thứ Hai, chế độ thực dân thuộc địa đã lỗi thời. Nhìn vào các nước láng giềng chung quanh như Nam Dương, Mã Lai, Tân Gia Ba, Phi Luật Tân và cả Ấn Ðộ khổng lồ khi Bangladesh và Pakistan chưa tách ra; các quốc gia này có tốn một giọt máu nào đâu mà cũng lần lượt được trao trả độc lập. Thậm chí các hòn đảo tí hon mà sau này tôi mới nghe và biết được, cũng được độc lập nốt.

Thánh Gandhi chỉ tranh đấu ôn hòa, bất bạo động mà nước Anh cũng khiếp sợ, trao trả độc lập cho Ấn.

Thánh người ta thì khôn ngoan, còn “thánh Hồ” (sic) sao lại quá ngu si, bị Cộng Sản quốc tế xúi dại chơi trò “chiến tranh giải phóng.” Hết chiến tranh “chống Pháp” ( sic), rồi lại “chống Mỹ” ( sic), chiến tranh triền miên cho đến năm 1975 mới chấm dứt.

Hậu quả là đất nước hoang tàn, trên 3 triệu người chết ở cả hai miền Nam Bắc; với một nền kinh tế kiệt quệ, dân gần như phải cạp đất mà sống!

Khách quan mà nhận xét, không có Hồ Chí Minh thì Việt Nam cũng độc lập và thống nhất từ lâu, không phải đợi đến năm 1975!

Do đó, tôi kết luận Hồ Chí Minh có tội rất lớn với tổ quốc và nhân dân Việt Nam. Tội của Hồ Chí Minh ngập trời! Khi ông ta đi theo Karl Marx, trong lúc oan hồn của 3 triệu người chết vì chiến tranh chưa kịp kết tội và kéo ông ta xuống địa ngục thì bọn trâu, bò, chó ngựa ở dương gian đã đúc tượng xây lăng ướp xác. Rõ đồ khỉ!

Post Reply