Cà Phê...Vịt

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Đám cưới hoàng gia đẹp như cổ tích Đứng trên ban công của cung điện Buckingham, Hoàng tử William dịu dàng trao cho nàng công chúa của đời mình nụ hôn ngọt ngào lên môi. Cả hai cùng các thành viên trong gia đình, các phù dâu, phù rể đứng chào mọi người bên dưới.
Image
William trao lên môi vợ nụ hôn ngọt ngào trước sự chứng kiến của đám đông bên dưới. Ảnh: AFP.
Sau khi kết thúc màn nghi lễ kéo dài hơn một giờ tại tu viện Westminster Abbey, vợ chồng William lên cỗ xe ngựa tiến về cung điện Buckingham. Trước khi về tới đó, đoàn rước sẽ đưa vợ chồng Hoàng tử đi qua nhiều địa điểm nổi tiếng để chào mọi người. Nữ công tước Cambridge, tước vị của Kate do Nữ hoàng ban tặng sau khi trở thành vợ Hoàng tử Anh, luôn nở nụ cười hạnh phúc và cùng chồng vẫy chào người dân. Theo sau họ là đoàn xe của phù dâu, phù rể, Nữ hoàng cùng Hoàng thân.
Image
William và Kate đi trên chiếc xe ngựa 'mui trần' tiến về phía cung điện Buckingham. Ảnh: AFP.


Lúc khoảng 17h15 (giờ Hà Nội), trước sự chứng kiến của Tổng giám mục Canterbury cùng tất cả những người có mặt trong tu viện khi đó, Hoàng tử William và Nữ công tước Cambridge cùng thề nguyện Chúa sẽ gắn kết đến trọn đời bên nhau cho dù "giàu hay nghèo, dù khỏe mạnh hay lúc ốm đau". Cả khán phòng lặng đi, giờ chỉ còn nghe thấy giọng của William và Kate thề nguyện. Trong giờ phút thiêng liêng của cuộc đời, Hoàng tử William hồi hộp lồng chiếc nhẫn cưới vào ngón áp út của Kate. Từ giây phút ấy, cả hai chính thức chở thành vợ chồng.

Sau phần làm lễ của Tổng giám mục, vợ chồng William ngồi lắng nghe bài phát biểu của các chức sắc tôn giáo và cùng hòa vào điệu thánh ca. Sau đó, William cầm tay vợ chầm chậm cúi chào các vị khách và bước ra khỏi thánh đường. Vừa bước ra phía ngoài, cả hai cùng dừng lại khi đám đông đợi sẵn đang hò reo đầy phấn khích trước khi bước lên cỗ xe ngựa đã chờ sẵn. Khoảnh khắc cô dâu bước vào nhà thờ làm lễ

Trước đó, trung úy xứ Wales cùng phù rể là Hoàng tử Harry đến tu viện Westminster Abbey bằng xe hơi. Cả William và Harry đều mặc nghi phục hoàng gia. Đi sau xe của hai anh em hoàng tử là đoàn xe sang trọng chở người thân và quan khách. Trong ngày cưới cháu trai, Nữ hoàng Elizabeth mặc váy vàng. Theo lịch trình, Hoàng tử William sẽ cùng phù rể Harry đến nhà thờ trước cô dâu một giờ để đón khách.
Image
William xúc động nắm tay Kate trong giây phút quan trọng của cuộc đời.
Tiếng reo hò của "rừng" người hai bên đường vang lên khi bóng chiếc Rolls-Royce Phantom IV chở cô dâu Kate và phù dâu, em gái Pippa tiến đến. Qua tấm kính cửa sổ ôtô, Kate nở nụ cười xinh đẹp đáp lại sự yêu mến của mọi người. Giây phút Công nương tương lai bước xuống xe trong bộ váy cưới tinh khôi tuyệt đẹp khiến người dân Anh và cả thế giới ngỡ ngàng trước vẻ đẹp của cô. Phù dâu Pippa giúp chị gái nâng váy chuẩn bị tiến vào lễ đường, nơi có Hoàng tử William đang đứng đợi.

Cha Kate, ông Middleton, đã đứng sẵn ở cửa tu viện đợi con gái. Người cha xúc động dẫn con gái xinh đẹp bước trên thảm đỏ tiến vào thánh đường. Hồi hộp và xúc động, Kate cùng cha đi sau cha xứ tiến đến bàn làm lễ.
Image
Victoria Beckhams quý phái đến dự đám cưới Hoàng tử Anh.

Theo The Sun, có khoảng 1.900 người đã được mời tới dự lễ cưới diễn ra lúc 11h (17h chiều giờ Hà Nội) tại nhà thờ. Trước đó, hàng nghìn người đã cắm trại bên ngoài tu viện Westminster Abbey để được tận mắt chứng kiến đám cưới quan trọng này và tại thời điểm đám cưới diễn ra, có hơn một triệu người đứng dọc hai bên đường.

Bình Minh

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Chuyện Về « Mỹ Nhân » Sài Thành Của Một Thời !
Từ thuở lập đất, Sài Gòn trên bến dưới thuyền, phố phường trù phú, con người phóng khoáng, đôn hậu, nhan sắc cũng rộn ràng. Có lẽ vì thế mà ở đâu và thời nào, trong khốn cùng cũng như lúc bình an, giữa loạn lạc hay thái hoà, người ta vẫn nhận diện được những mỹ nhân sắc nước.

Có biết bao nhan sắc đã đi vào huyền thoại. Nhưng, như các cụ thường nói, ở đâu có nhan sắc, ắt ở đó sinh hoạ. Có thể người đẹp là nạn nhân, nhưng cũng không hiếm khi là nguyên nhân.

Image
Mỹ Nhân đầu thế kỷ
Năm 1927, ở Nha Trang có một hotel mà các bậc vương tôn công tử trên toàn cõi An Nam đều biết tới. Đó là khách sạn Terminus. Mọi tiện nghi và cơ sở vật chất đều đạt yêu cầu của thời ấy. Duy chỉ có một thứ mà những địa phương khác muốn có cũng không tài nào sở hữu. Đó chính là cô con gái rượu của ông chủ khách sạn có cái tên hơi lạ : Kỳ Nam ! Cô chính là sức thu hút không thể cưỡng nổi đối với toàn bộ khách hào hoa lui tới.

Năm 1934, một vị hoàng tử đang theo học CĐ Công chánh ở Hà Nội nổi hứng đi nghỉ mát ở vùng cát trắng. Ngay từ ngày đầu tiên, chàng đã bị hớp hồn bởi nhan sắc của Kỳ Nam. Kết cục là một đám cưới Lào-Việt mà sự hoành tráng có lẽ chỉ kém đôi chút so với đám cưới vương giả của hoàng đế An Nam Bảo Đại. Kỳ Nam trở thành phu nhân của vị hoàng tử mà tên tuổi đã gắn liền với Pathet Lào : hoàng thân Suphanouvong !

Nhan sắc của mỹ nhân An Nam theo từng thời gian và quan điểm thẩm mỹ của người đương thời thay đổi dần ... Từ câu chuyện của Kỳ Nam, chúng tôi muốn cùng bạn đọc đi tìm lại những giai nhân một thời trên đất Sài Gòn xưa, những « hoa hậu không vương miện », như một cách lùi xa thời gian và nhớ về những hoài niệm đẹp.

Năm 1932, hãng xà bông Trương Văn Bền được thành lập ở đường Quai de Cambodge (gần chợ Kim Biên, quận 5, Sài Gòn) và nhanh chóng được đón nhận với một sản phẩm trở thành thương hiệu kéo dài cả 5-6 chục năm : Xà Bông Cô Ba. Người phụ nữ đẹp được dùng làm nhãn hiệu cho sản phẩm là một phụ nữ miền Nam. Có người bảo, cô ta vốn là phu nhân của chính ông Trương Văn Bền.

Thực ra, cô là con gái thầy Thông Chánh tỉnh Trà Vinh, đã từng là đề tài của khá nhiều hò-vè xuất hiện ở Nam Kỳ Lục tỉnh vào những năm cuối thế kỷ 19. Nhan sắc của cô đẹp đến nỗi được sử dụng hình ảnh để in tem ! Nhưng sau đó cô lấy chồng và sống một cuộc sống giản dị khiêm tốn đến tận cuối đời, khác xa những người đẹp đăng quang và nhiều tai tiếng của những thế hệ về sau. Cô Ba đã đoạt giải nhất trong cuộc thi Người Đẹp Người Việt tổ chức năm 1865, sau cuộc thi cho Pháp Kiều năm 1864.

Người đẹp được xem là kiểu mẫu nhan sắc của miền Nam thì lại là là một phụ nữ có nguồn gốc xuất thân thế gia vọng tộc : Marie Thérèse Nguyễn Hữu Thị Lan. Là cháu ngoại của ông Lê Phát Đạt tức Huyện Sỹ, người đứng đầu trong tứ đại danh gia : Nhất Sỹ, nhì Phương, tam Xường, tứ Định, cô được dân miền Nam gọi là « đẻ bọc điều ». Năm 1932, sau khi tốt nghiệp tú tài ở Pháp về nước, cô tình cờ quen biết với Vĩnh Thuỵ. Khi Vĩnh Thuỵ đăng cơ trở thành vị vua cuối cùng của triều Nguyễn, cô trở thành Nam Phương Hoàng hậu vào ngày 20/03/1934, và cũng trở thành biểu tượng nhan sắc của cả nước.

Image
Cô Ba Xà Bông.
Thứ đến, ở Sài Gòn xuất hiện một mỹ nữ nức tiếng toàn cõi Nam kỳ : Cô Ba Trà (Yvette Trà). Cô sinh năm 1906, được mệnh anh là « Étoile de Saigon » (ngôi sao Sài Gòn). Với nhan sắc hiếm có của mình, cô lần lượt, thậm chí « đốn ngã » hàng loạt những tay chơi hào hoa giàu có bậc nhất Sài gòn như lưỡng vị Hắc-Bạch công tử, công tử Bích (người dám một lúc tặng cho cô 70 ngàn đồng trong lúc vàng 60 đồng một lượng).

Thậm chí những tay trí thức, máu mặt chốn quan trường thời Pháp thuộc cũng đổ gục vì cô : quan toà Trần Văn Tỷ, trạng sư Dương Văn Giáo, bác sĩ Lê Quang Trinh, Nguyễn Văn Áng, chủ sòng bạc Paul Ngọ tức Sáu Ngọ ... Ngay cụ Vương Hồng Sển cũng đem lòng yêu thầm và kể lại rất rõ về cuộc đời cô Ba Trà trong quyển « Sài Gòn tả pí lù ». Những ai được quen biết hay cô hạ cố giao thiệp đều xem đó là một niềm vinh dự để chứng minh đẳng cấp, đủ để hiểu ngoài việc xinh đẹp cô còn là một thương hiệu hiếm có, có lẽ do thông minh và hiểu tâm lý đàn ông !

Một đàn em nối gót theo cô Ba Trà do chính cô đào tạo, nuôi dưỡng cho đến khi thành đối thủ cạnh tranh là Marianne Nhị hay còn gọi là Tư Nhị. Vốn cha Khmer - mẹ Việt nên cô Tư Nhị có nhan sắc đậm đà và hoang dã hơn cô Ba Trà. Từ Phnompênh về Sài Gòn, Tư Nhị trú tại nhà chị Ba Phò ở khu vực chợ Thái Bình.Từ ngày được cô Ba Trà dìu dắt, Tư Nhị lao vào cuộc chơi với giới thượng lưu Sài Gòn và nhanh chóng trở thành tình nhân của Fanchini, một trùm giang hồ gốc đảo Corse chuyên buôn thuốc phiện toàn cõi Đông Dương và tậu được một căn biệt thự khang trang ở đường Verdun.

Với bản tính man dại và chủ trương cạnh tranh với bà chị đỡ đầu Ba Trà, Tư Nhị lao vào các cuộc chơi như một con thiêu thân. Người tình của Tư Nhị thay xoành xoạch và thú hút thuốc phiện đã nhanh chóng đẩy Tư Nhị vào bi kịch. Chỉ sau vài năm, trong lúc cô Ba Trà vẫn còn là một bông hoa đầy hương sắc, Tư Nhị biến mất. Sau nhiều năm, chính cụ Vương Hồng Sển đã bất ngờ gặp lại Tư Nhị trong bộ dạng một bà hành khất !

Image
Thẩm Thuý Hằng
Cùng thời của Ba Trà có một mỹ nhân khác, êm đềm và kín đáo hơn mặc dù nhan sắc có thể xem là số một thời ấy. Đó là bà Nguyễn Thị Huệ, tức Marie Huệ. Xuất thân từ vùng đất Lạc Quần - Bùi Chu, cô Huệ vào Sài Gòn từ những năm 30. Cô hùn vốn với một người Pháp để mở một nơi tụ tập các sĩ quan, viên chức là Pháp kiều sống tại Sài Gòn có tên Đông Pháp Lữ Quán. Sở dĩ người Việt ít biết đến cô Huệ chỉ vì cô chủ trương không qua lại với người bản xứ dẫu đó có là ai, giàu có đến đâu đi nữa. Cô Marie Huệ mất sớm vì bệnh ung thư buồng trứng khi đương độ xuân sắc khiến giới ăn chơi Sài Gòn không khỏi bất ngờ !

Sau thời Ba Trà, Tư Nhị, Marie Huệ ... có thể nhắc đến một người, chúng ta có thể xem là hoa hậu sớm nhất của miền Nam, dù đoạt giải trong một cuộc thi không mang tên là cuộc thi hoa hậu mà lấy tên Concours Elegant Saigon (thi tuyển người thanh lịch Sài Gòn) vào năm 1937. Đó là cô Nguyễn Thị Liễu, sinh năm 1912, quê ở Hóc Môn. Cô lấy chồng năm 17 tuổi nhưng chỉ được 6 tháng thì chồng cô vắn số qua đời. Tình cờ gặp chủ tiệm may Phúc Thịnh, người đỡ đầu cho cuộc thi về trang phục, ông khuyến khích cô Liễu đi thi.

Tại vườn Tao Đàn, với sự chủ toạ của trạng sư Kim và bác sĩ Lê Quang Trinh, 19 cô gái lần lượt khoe nhan sắc. Chưa đầy nửa giờ, tất cả đều chỉ vào cô Liễu mà hoan hô. Cô Liễu trở thành hoa hậu đầu tiên trong một cuộc thi nhan sắc của người Việt (cũng đầu tiên) trên toàn cõi thuộc địa Nam Kỳ ! Sau cuộc thi, con gái ông Lê Trương Biểu mời cô Liễu đi dự thi ở Paris, nhưng cô không dám đi xa nên từ chối. Nếu không, cũng chưa biết chừng Việt Nam có danh hiệu hoa hậu quốc tế đầu tiên từ thập niên 30-40 thế kỷ 20 ...

Nhưng nếu là người đẹp đã từng dự tranh với quốc tế thì đó lại là cô Vũ Thị Thu Minh. Năm 1957, Ngô Đình Diệm tổ chức một cuộc thi hoa hậu với sự tham gia của Ấn Độ, Hồng Kông, Campuchia, Lào ... và 48 người đẹp Việt Nam. Kết quả hoa hậu Việt Nam là cô Vũ Thị Thu Minh và hoa hậu quốc tế là cô Nan, quốc tịch Campuchia. Rất tiếc, tư liệu và hình ảnh của cô Minh, hoa hậu Việt Nam đầu tiên một cách chính thức có quá ít nên chúng ta không thể tìm được gì thêm.

Thẩm Thuý Hằng, một hoa hậu không chính thức nhưng toàn bộ người miền Nam không ai không gọi bà với danh xưng « Người Đẹp Bình Dương ». Bà tên thật là Nguyễn Kim Phụng, sinh năm 1941, nguyên quán ở Hải Phòng. Theo gia đình và lớn lên ở An Giang đến năm 16 tuổi, bà vượt qua 2000 thí sinh trong một cuộc thi tuyển diễn viên điện ảnh do Hãng phim Mỹ Vân tổ chức.

Nghệ danh Thẩm Thuý Hằng cũng là do chủ hãng phim Mỹ Vân đặt cho. Năm 1958, với vai Tam Nương trong bộ phim Người Đẹp Bình Dương, bà được khán giả ái mộ gọi theo tựa phim và gần như trở thành biệt danh. Suốt thời trước năm 1975, có thể nói bà được xem là mẫu của nhan sắc miền Nam và cũng hiếm có phụ nữ xinh đẹp nào đóng phim nhiều hơn bà, đóng một cách xuất sắc hơn là « một bình hoa biết đi » như hiện nay chúng ta thường phải thốt lên khi xem phim !

Năm 1972-1973, một phim do Liên Ảnh công ty thực hiện với vai chính là Hùng Cường - Phương Uyên, đã giới thiệu với khán giả Sài Gòn một mỹ nhân xuất sắc : Phương Uyên. Là một vũ công sexy sau thời nữ hoàng sexy Thu Thuỷ, nhưng cô nhanh chóng trở thành người đẹp nhất Sài Gòn lúc bấy giờ. Thời đó chưa có photoshop và các phương tiện hiện đại để nâng cấp nhan sắc, nhưng tất cả khán giả miền Nam khi nhìn thấy Phương Uyên đều phải trầm trồ theo kiểu « tượng đá cũng đổ mồ hôi ».

Có thể nói vào thời điểm đó, cô vượt xa những Kim Vui, Kiều Trinh và cả Thẩm Thuý Hằng về nhan sắc và sự nổi tiếng. Sau ngày 30/04/1975, bà về sống với con gái và có một cuộc sống khá êm đềm không tai tiếng.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

BÀI VIẾT NHÂN NGÀY MOTHER DAY

Image
Ông Bà Doãn Quốc Sỹ ( đứng giữa )
Nhiều người trong cộng đồng người Việt hải ngoại biết đến nhà văn Doãn Quốc Sỹ. Một đời dạy học, một đời viết văn, hơn mười một năm tù tội, ông đã trở thành một trong những biểu tượng đối kháng của văn nghệ sĩ miền Nam trước bạo quyền cộng sản. Nhưng ít có người biết rằng đằng sau sự tỏa sáng của một người đàn ông Việt Nam thường là cái bóng thầm lặng của một người phụ nữ. Bà Doãn Quốc Sỹ cũng là một trong những trường hợp như vậy

Mời quí độc giả nghe con gái của nhà văn Doãn Quốc Sỹ kể lại cuộc đời thầm lặng của mẹ mình nhân ngày Mother Day…
THẦM LẶNG Một đời thầm lặng mẹ theo bố.

Tháng 9 năm 1954 mẹ theo bố vào Nam. Trước đó bố hoạt động ngang dọc, sáng ngời lý tưởng rồi ê chề thất vọng. Quyết định vào Nam là của bố, mẹ chỉ bế hai con và dắt cô em chồng 17 tuổi theo. Trong Nam, bố tưng bừng thi thố tài năng, tay phấn tay bút. Mẹ thầm lặng ở nhà nuôi dạy con và chăm chút em. Dân số con từ hai tăng thành tám. Tám con tám tính, có lúc hư lúc
ngoan; mẹ theo từng bước, khen chê mắng mỏ. Cô em chồng tốt nghiệp đại học, chuẩn bị lên xe hoa, mẹ lo toan chuyện cưới hỏi. Bố vất vả bên ngoài, về nhà chỉ cần đảo mắt nhìn là thấy mọi sự tươm tất. Ra đường, các con được gọi là “con bố”, em là “em anh”, không ai biết có một nhân vật thầm lặng đã làm nên những con người ấy.

Vào những năm thăng tiến trong cả hai nghề dạy và viết, bố hay mời khách về nhà đãi đằng. Mẹ tiếp khách lịch thiệp, rồi rút về hậu trường trổ tài nấu nướng. Trước khi ra về các bác bao giờ cũng chào “bà chủ” trong tiếng cười
hỉ hả “Cám ơn chị cho một bữa ngon quá.” Thỉnh thoảng có những vị khách nữ, khen thức ăn và khen cả ông chủ. Tôi còn nhớ có người còn nói rất chân tình với mẹ: “Chồng em mà được một phần của anh thì em chết cũng hả.” Hình như mẹ đón nhận lời nói ấy như một sự khen tặng cho chính mình.

Rồi chính sự miền Nam nóng bỏng; ngòi bút bố cũng nóng theo. Các bạn bố đến chơi chỉ bàn chuyện cộng sản và quốc gia. Mẹ không mấy quan tâm đến “chuyện các ông”, nhưng khi bố đi Mỹ du học, mẹ ở nhà điều hành việc bán sách thật tháo vát. Khoảng hai tuần một lần, mẹ đi xích lô đến trung tâm Saigon, rảo một vòng các tiệm sách để xem họ cần thêm sách nào. Sau đó mẹ cột sách thành từng chồng và “đáp” một chuyến xích lô khác để giao sách. Tôi hay mân mê những sợi giây được cột chắc nịch, suýt xoa: “Sao mẹ cột chặt hay thế?”

Thế rồi chính sự miền Nam đến hồi kết thúc. Con người không chính trị của bố lại một lần nữa ê chề. Ngày công an đến bắt bố đi, mẹ con bàng hoàng nhìn nhau. Các con chưa đứa nào đến tuổi kiếm tiền. Mẹ xưa nay thầm lặng
trong vai “nội tướng”, giờ miễn cưỡng ra quân. Tiền dành dụm của gia đình không đáng kể. Có tám miệng để nuôi, có bố nhục nhằn trong lao tù đợi tiếp tế. Mẹ vụng về tìm kế sinh nhai. Thoạt tiên mẹ nấu khoai mì trộn với dừa và
vừng, rồi để vào rổ cùng với một ít lá gói. Tôi băn khoăn hỏi:

“ Mẹ nghĩ có bán được không?”

“Mẹ không biết, cứ mang ra chỗ trường học xem sao.”

Nhìn dáng mẹ lom khom ôm rổ, đầu đội xụp cái nón lá, tôi thương mẹ khôn tả.
Chỉ nửa tiếng sau tôi đã thấy mẹ trở về. Rổ khoai mì vẫn còn nguyên, mẹ ngượng ngập giải thích:

“Hình như hôm nay lễ gì đó, học trò nghỉ con ạ.”

Rồi mẹ lại xoay sang nghề bán thuốc lá. Mẹ mua lại của ai đó một thùng đựng thuốc lá để bầy bán. Mẹ nghe ai mách bảo, chọn một địa điểm khá xa nhà rồi lụi hụi dọn hàng vô, dọn hàng ra mỗi ngày. Nghề này kéo dài được vài tháng.
Mẹ kể cũng có một số khách quen, nhưng toàn mua thuốc lá lẻ. Hôm nào có khách “xộp” mua nguyên bao thì mẹ về khoe ngay. Cũng may thuốc lá không thiu nên khi “giải nghệ” mẹ chỉ lỗ cái thùng bầy hàng.

Mẹ rút về “bản dinh” là căn nhà ở cuối hẻm, tiếp tục nhìn quanh, tìm một lối thoát. Hàng xóm chung quanh phần lớn là những người lao động. Họ như những đàn kiến chăm chỉ cần cù, 4 giờ sáng đã lục đục, người chuẩn bị hàng họ ra chợ, kẻ kéo xe ba bánh hoặc xích lô ra tìm khách. Suốt mười mấy năm qua họ nhìn gia đình chúng tôi, gia đình “ông giáo”, như từ một thế giới khác, kính trọng nhưng xa cách. Nay “ông giáo” đi tù, “bà giáo” hay xuất hiện ngoài ngõ, có lẽ họ cảm thấy gần gủi hơn. Một hôm, chị bán sương xâm ở đối diện nhà qua hỏi thăm “ông giáo”. Thấy cái máy giặt vẫn còn chạy được,
chị trầm trồ: “Giặt máy tiện quá bác há!”, rồi nảy ý “Tụi con ngày nào cũng có cả núi quần áo dơ. Bác bỏ máy giặt dùm, tụi con trả tiền. Bác chịu không?” Lời đề nghị thẳng thừng, không rào đón. Mẹ xăng xái nhận lời. Kể từ
đó, mổi tuần khoảng hai lần, mẹ nhận một thau quần áo cáu bẩn, bốc đủ loại mùi khai, tanh, nồng. Mẹ đích thân xả qua một nước, rồi múc nước từ hồ chứa vào máy giặt, bỏ xà bông và bắt đầu cho chạy máy. Cái máy cổ lỗ sĩ, chạy ì ạch nhưng nhờ nó mà mẹ kí cóp được chút tiền chợ.

Ít lâu sau, cũng chị hàng xóm đó lại sáng thêm một ý nữa:

“Con bé nhà con nay biết bò rồi, con không dám thả nữa. Bác nhận không, con gửi nó mỗi ngày từ sáng tới chiều. Con trả tiền bác.”

Thế là sự nghiệp nhà trẻ của mẹ bắt đầu. Mẹ dọn căn gác gỗ cho quang, có chỗ treo võng, có cửa ngăn ở đầu cầu thang. Cả ngày mẹ loay hoay bận bịu pha sữa, đút ăn, lau chùi những bãi nước đái. Được ít lâu, chị bán trái cây
ở cuối hẻm chạy qua nhà tôi, nói:
“Bác coi thêm con Đào nhà con nha. Con mang cái võng qua mắc cạnh cái võng của của con Thủy.”

Hai võng đong đưa một lúc, cháo sữa đút liền tay hơn, căn gác bừa bộn hơn.
Sau đó lại thêm một thằng cu nữa. Mẹ tay năm tay mười, làm việc thoăn thoắt. Cũng công việc quen thuộc ấy, ngày xưa làm cho con, nay làm kế sinh nhai, nuôi đủ tám con với một chồng. Mẹ không còn thầm lặng nữa. Mẹ lớn
tiếng điều khiển tám quân sĩ, cần roi có roi, cần lời ngọt có lời ngọt.
Riêng chúng tôi vẫn nhớ ơn những người lao động đã giúp chúng tôi sinh sống những ngày khốn khó đó.

Nhưng sau những giờ ban ngày ồn ào náo động là những đêm tối trầm ngâm lo lắng. Nỗi bận tâm không rời của mẹ là chuyện thăm nuôi bố. Mỗi ngày mẹ nghĩ ra một món, làm dần vào buổi tối, nay muối vừng, mai mắm ruốc, mốt bánh mì khô. Mẹ để sẵn một giỏ lớn trong góc bếp và chất dần đồ thăm nuôi trong đó.
Khi giỏ đầy là ngày thăm nuôi sắp tới.

Thuở ấy bố bị giam ở núi đồi Pleiku, muốn lên đến đó phải mất hai ngày đường và nhiều giờ chầu chực xe đò. Mỗi lần thăm nuôi, hoặc mẹ, hoặc một đứa con được chỉ định đi. Con trưởng nữ hay được đi nhất vì nó tháo vát và
nhanh trí, thằng thứ nam cũng đươc nhiều lần “tín nhiệm”; mẹ nói nó nhỏ tuổi nhưng đạo mạo, đỡ đần mẹ được. Con thằng trưởng nam đúng tuổi đi “bộ đội”, mẹ ra lệnh ở nhà. Có lần mẹ đi về, mặt thất thần.

Các con hỏi chuyện thì mẹ chỉ buông hai chữ “biệt giam”. Biệt giam thì bị trừng phạt không được thăm nuôi. Tôi thảng thốt hỏi:

“Đồ thăm nuôi đâu hết rồi mẹ?”

“Mẹ phải năn nỉ. Cuối cùng họ hứa chuyển đồ ăn cho bố.”

“Mẹ nghĩ họ sẽ chuyển không?

“Họ hẳn sẽ ăn bớt, nhưng nếu mẹ mang về thì phần bố đói còn chắc chắn hơn
nữa.”

Mẹ ngày nào thầm lặng, nay thực tế và quyết đoán như thế.

Ngày bố được thả đợt 1, nhà trẻ của “bà giáo” vẫn còn hoạt động. Mẹ hướng dẫn bố đu võng khi các bé ngủ. Mẹ cũng dặn bố thường xuyên lau chùi gác và bỏ giặt tã dơ. Bố một mực nghe lời. Tưởng như cờ đã chuyền sang mẹ một cách êm thắm…

Tuy nhiên, mẹ không thể ngăn được bố lân la cầm lại cây bút. Thời gian này là lúc họ hàng ngoài Bắc vào chơi nhiều. Bên ngoại có cậu tôi làm đến chức thứ trưởng; cậu kể rằng lúc còn sống, ông ngoại (một nhà thơ cách mạng)
phiền lòng vì sự nghiệp văn chương của thằng con rể. Bên nội có chú tôi - một nhạc sĩ cách mạng- chú biết ngòi bút đang thôi thúc bố và đã từng rít lên giữa hai hàm răng:

“Trời ạ! Đã chửi vào mặt người ta, không xin lỗi thì chớ lại cón nhổ thêm một bãi nước bọt! Lần này mà vào tù nữa thì mọt gông.” .

Mấy mẹ con chết lặng trước viễn tượng “mọt gông”. Bố không màng đến điều này, vẫn miệt mài gõ máy đánh chữ. Đêm khuya thanh vắng tiếng gõ càng vang mồn một. Vài lần mẹ can ngăn, có lần mẹ giận dữ buộc tội:
“Ông chỉ biết lý tưởng của mình, không biết thương vợ con.”

Vài tuần sau, chị hàng xóm đối diện nhà chạy sang xì xào với mẹ:

“Công an đặt người ở bên nhà con đó bác, họ theo dõi bác trai.”

Mẹ lại thử can thiệp, nhưng đã quá trễ. Bố bị bắt lần thứ hai năm 1984.

Lần thứ hai bị bắt, bố bình tĩnh đợi công an lục lọi tung nhà. Trước khi bắt đi, họ chụp hình bố với nhiều tang chứng chung quanh. Trong hình bố ngẩng cao đầu trông rất ngạo nghễ. Nhiều năm sau, bố vẫn còn được nhắc tới
với hình ảnh này. Không ai biết đến người đàn bà thầm lặng bị bỏ lại đằng sau. Sau biến cố thứ hai này, mẹ phải đối phó thêm với nhiều khó khăn loại khác, điển hình là những giấy gọi gia đình ra dự phiền tòa xử bố. Gọi rồi
hoãn, rồi lại gọi lại hoãn. Mỗi lần như vậy cả nhà lại bấn loại tâm trí, lo cho mạng sống của bố. Riêng mẹ thì vừa lo vừa soạn thêm một số thức ăn thăm nuôi. Mẹ thực tế là thế đó.

Sau khi bố bị gọi án 10 năm tù, cuộc sống của mẹ không còn những bất ngờ khủng khiếp, chỉ còn những đen tối và tù túng đều đặn. Tưởng là dễ chịu hơn, nhưng thực ra nó gậm nhấm tâm thức, tích lũy buồn bực chỉ đợi cơ hội
bùng nổ. Hết ngày này qua tháng nọ mẹ lầm lũi chuẩn bị đồ thăm nuôi, từng món ăn thức uống, từng vật dụng hằng ngày. Các con lần lượt trưởng thành, đứa nào cũng có bạn bè và những sinh hoạt riêng. Chuyện thăm nuôi bố và lòng thương bố quan trọng lắm, những cũng chỉ là một phần trong những cái quan trọng khác trong đời. Chỉ đối với mẹ, những thứ ấy mới là tất cả, độc tôn choán ngập tâm hồn mẹ. Mẹ hẳn có những lúc thấy tức tưởi và cô đơn mà các con nào hay biết. Có vài lần chúng tôi lỡ một lời nói hoặc cử chỉ không vừa ý mẹ, me òa khóc tu tu, lớn tiếng kể lể, tuôn trào như một giòng lũ không ngăn được. Lúc ấy chúng tôi mới choàng tỉnh.

Ngày mãn hạn tù về, bố bình an như một thiền sư, để lại sau lưng hết cả những thăng trầm của quá khứ. Rồi bố mẹ sang Mỹ ở Houston sống cùng cậu trưởng nam. Mẹ bận bịu với cháu nội, nhưng không quên nhắc ông nội đi tắm và bao giờ cũng nặn kem đánh răng vào bàn chải cho ông mỗi tối. Thỉnh thoảng giao tiếp với họ hàng và bạn bè, mẹ lại phải đỡ lời cho bố, khi bố cứ mỉm cười mà không nói năng chi. Thư viết về cho con cháu ở Việt Nam, ai cũng nói mẹ viết hay hơn ông nhà văn Doãn Quốc Sỹ. Lúc đó chắc mẹ nghĩ thầm rằng: “bởi vì mẹ là con của ông Tú Mỡ mà!”

Như thế được mười năm thì mẹ ngã bệnh. Hôm nay, ở giai đoạn cuối của căn bệnh Alzheimer, mẹ nằm bất động một chỗ và không nói được nữa. Nhưng mẹ vẫn đưa mắt nhìn bố mỗi lần bố ra vào trong phòng. Hôm nào bố vắng nhà vài ngày thì mẹ nhìn con trai, mắt dò hỏi lo lắng. Khi bố về thì mẹ vẫn nhìn bố, ánh mắt yên tâm hơn. Mẹ thầm lặng hơn bao giờ hết. Dưới mắt bố con chúng tôi,sự thầm lặng ấy càng ngày càng tỏa sáng.

Kim Khánh

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

MẸ TÔI
Chủ nhật naỳ là ngày MOTHER'S DAY, đối với tôi, đây là ngày lễ ý nghĩa nhất trong năm cuả Mỹ. Dù đã được làm Mẹ 18 năm nay, tôi vẫn chưa có "thói quen" nghĩ mình là "nhân vật chính" trong ngày này, chưa có thói quen mong đợi những điều đặc biệt từ con cho mình. Tôi vẫn nghĩ nhiều hơn đến vai trò làm con, và luôn phải làm gì đó cho mẹ của mình. Vai trò này mình đã có được 47 năm nay rồi mà !

Mẹ tôi là một người đàn bà đặc biệt (có lẽ trong mắt con, mẹ mình bao giờ cũng đặc biệt cả!!), đặc biệt là ở chỗ Mẹ có được những khả năng, những nghị lực khác thường so với những người đàn bà Việt Nam cùng thế hệ. Mẹ tôi đã 85 tuổi, đã trải qua biết bao nhiêu cuộc chuyển mình của đất nước. Mẹ thuộc lịch sử, thơ văn, ca dao tục ngữ vanh vách, Mẹ hát nhiều bản nhạc tiền chiến, Mẹ hát cả những bài nhạc sinh hoạt hướng đạo học lóm từ các cậu em, Mẹ nói được tiếng Pháp, lõm bõm tiếng Anh (vì mới sang Mỹ sau naỳ). Sau 5 năm sống ở Mỹ, Mẹ đã "hiên ngang" đi thi quốc tịch bằng tiếng Anh, không cần thông dịch viên, và đã pass ngay lần đầu. Mẹ đọc báo, nghe tin tức từ radio, TV, và rất thích thú phân tích, bàn thảo chuyện chính tri, chuyện thời cuộc khắp nơi trên thế giới. Mẹ đã sinh ra, nuôi lớn và vẫn tiếp tục lo lắng cho 12 đứa con, 9 gái, 3 trai. Mẹ đã tròn bổn phận với chồng, với gia đình chồng. Cho đến khi bố tôi qua đời, lúc đó tuy đã ở tuổi 83, Mẹ vẫn là người chăm nom từ miếng ăn, tấm áo cho bố (đã bị stroke, hai chân không đi lại được) dù chính Mẹ cũng không còn khỏe khoắn, nhanh nhẹn như xưa.

Đó là chưa kể những bương chải của Mẹ trong thời gian bố đi học tập cải tạo. Nhờ sự tháo vát và hi sinh của Mẹ, các con vẫn no đủ, sung túc những năm vắng bố sau 1975. Mẹ đã biến chuyện bị đày đi kinh tế mới lao động nhọc nhằn thành một chuyến đi nghỉ mát lí thú cho các con. Năm 1978, khi gia đình tôi bị chính quyền việt cộng kiểm kê tài sản và bị đuổi đi kinh tế mới, Mẹ đã xoay sở mua được một miếng đất ở Long Thành, ngay cây số 76 trên đường Saigon-Vung Tau, và đăng kí đi hồi hương. Thế là muà hè năm đó cả nhà dọn về Long Thành, đối vời dân sinh ra và lớn lên ở SG thì đây đúng là một cuộc nghỉ hè thú vị, mấy chị em tôi được sống trong mái nhà tranh, vách đất, được cuốc đất, trồng khoai, uống nước giếng, thắp đèn dầu. Thú nhất là ban đêm được nhìn trăng sao lấp lánh, đom đóm bay lập lòe, nghe ếch nhái kêu inh ỏi (những thứ này ở SG làm gì có!!). Buồn buồn thì nhảy lên xe đò ra Vũng Tàu tắm biển. Hết một mùa hè, Mẹ lại lo được cho các con trở về mái nhà xưa, đi học trở lại, chứ không bi lam lũ, thất học cả đời. Nhắm tình hình không ổn cho lũ con với cái lí lịch “bố nguỵ, mẹ tư sản”, năm 1979, mẹ lo cho 3 chị tôi đi vượt biên. Sang năm 1980, mẹ cho tôi và em trai theo gia đình chị cả vượt biên. Một lần nữa, trong khi biết bao người gặp gian nan trên biển, nhọc nhằn ở trại tị nạn, thì đối với tôi, đây lại là một mùa hè thú vị khác. Sau 4 ngày đói khát, mệt nhòai nhưng bình an vô sự trên biển, chúng tôi đến Indonesia, sau đó sống ở trại tị nạn Galang đúng 4 tháng . Trong thời gian này, tôi đi dạy anh văn, tham gia sinh hoạt thanh niên, văn nghệ, văn gừng, tắm biển, và thương nhớ những người thân yêu còn kẹt lại. Ngày 17 tháng 8, 1980, tôi đến Mỹ, vừa đủ 2 tuần lễ để chuẩn bị vào niên học mới, không một chút gián đoạn nào. Trong suốt 10 năm sau đó Mẹ ở lại với cô con gái Út, một mình chống chỏi với bọn công an phường khóm tối ngày kiếm chuyện muốn cướp đoạt căn nhà của Mẹ. Một tay Mẹ không những đã lo thăm nuôi, tiếp tế cho chồng và em trai ở …. tù trong (trại cải tạo), mà còn cưu mang 17 người họ hàng thân thích ở …tù ngoài (xã hội Việt Nam).

Cuộc đời Mẹ đã trải qua 5 cái đại tang. Năm 19 tuổi, vừa sanh xong con trai đầu lòng, Mẹ đã ốm liệt giường vì ông bà ngoại đã theo nhau từ giã cõi đời trong vòng vài tháng . Năm 1965, khi gần đến ngày sanh đưa con thứ 11, mẹ phải vác bụng chửa thật to đưa bà nội tôi về nơi an nghỉ cuối cùng. Năm 2007, anh cả cuả tôi ra đi đột ngột vì bệnh tim. Tôi là người đầu tiên biết tin dữ này và đã không dám báo tin qua điện thoại cho Mẹ, phải nhờ các anh chị ở gần đến tận nơi lưa lời nói cho Mẹ biết. Nỗi đau cuả người tóc bạc đưa người tóc xanh đã khiến Mẹ tôi lịm cả nguòi, nhưng Mẹ đã chấp nhận sự mất mát này một cách hết sức kiên cường. Một năm trôi qua, sau mấy ngày vui tết Nguyên Đán với con cháu đầy đàn, bố tôi đã bình thản ngủ một giấc ngủ dài … bất tận. Lần này thì Mẹ thật sự… chới với. Người bạn đời chung sống 65 năm đã lìa xa mẹ. Mẹ cảm thấy cô đơn, hụt hẫng . Mẹ khóc, Mẹ than, Mẹ kể lại bao nhiêu kỷ niệm, Mẹ vuốt ve, âu yếm bố (lúc bố còn sống, thì Mẹ lại… mắc cỡ, chúng tôi chưa hề thấy Mẹ âu yếm bố như vậy bao giờ). Có lẽ vì bổn phận phải chăm sóc cho chồng, Mẹ đã cố gắng cầm cự suốt bao nhiêu năm qua . Có mệt cũng vẫng ráng, có mỏi cũng vẫn nhịn. Bố ra vào nhà thương , mổ xẻ khắp người, trong khi Mẹ tuy đã già yếu vẫn lo cho bố được . Thời gian đầu khi bố mới ra đi, sức khỏe Mẹ có phần lung lay, Mẹ bắt đầu nếm mùi nhà thương, ra vào phòng cấp cứu cuả bệnh viện vài lần. Lúc đó tôi rất lo là mất bố, Mẹ cũng mất đi động cơ để sống khỏe như xưa . Thế nhưng may quá, sau một thời gian ngắn, với nghị lực phi thường, Mẹ đã trỗi dậy, Mẹ lo chăm sóc bản thân mình, và Mẹ đã khoẻ lại… hơn xưa. Mẹ cứ nói đùa :”chiếc xe cũ kĩ này tuy caí xác xe đã rục tùng nhưng bộ máy còn chạy rất ngon lành”. Thật vậy, chân tay cuả Mẹ rất yếu vì bị rỗng xương, không đi đứng được, nhưng Mẹ vẫn còn vô cùng minh mẫn . Hàng ngày Mẹ tụng kinh niệm Phật, thắp hương cho ông bà và cho bố. Tới bữa ăn, mẹ vẫn để những món bố thích ăn lên bàn thờ để bố cùng dùng bữa với Mẹ . Tôi trước khi đi ngủ Mẹ lại đứng trước bàn thờ nói chuyện với bố một lúc. Thế mới biết Mẹ tôi yêu bố biết bao nhiêu .

Từ trước đến nay, tôi luôn cảm tạ thượng đế đã cho mình một cuộc đơì quá sức bình an. Tôi luôn biết mình may mắn hơn nhiều ngươì khác, và luôn cảm nhận được hạnh phúc cuả mình. Nhưng hôm nay, tôi thấy rõ ràng hơn, tất cả những gì mình có được đều do bàn tay, tấm lòng, quả tim và sự hi sinh cuả Mẹ mà ra.

Phải nói điều mà tôi thấy mình may mắn nhất là những bài học vô giá mà tôi học được từ Mẹ (tình yêu cuả mẹ thì hầu như ai cũng có rồi, phải không?). Từ khi bắt đầu biết nghe, biết nhớ, Mẹ đã không ngừng rót vào tai các con đủ mọi câu chuyện. Từ những kỉ niệm đẹp thời thơ ấu của Mẹ, những gian truân chạy loạn thời Tây, những tháng ngày Mẹ sống ở Hà Nội, cuộc di tản năm 54... Rồi thì cuộc đời làm dâu của Mẹ, cuộc sống mồ côi cuả các cậu vì ông bà ngoại mất sớm... Cho đến từng bước trưởng thành của các anh chị, và nhất là những đắng cay Mẹ phải trải qua sau năm 1975 khi bố phải đi tù cải tạo, gia đình li tán...Tôi còn nhớ mãi những ngày mới bước vào tuổi "teen', đêm nào Mẹ cũng mò vào giường thỏ thẻ những điều "cấm kị" , những điều phải "đề phòng", v.v... Qua những câu chuyện của Mẹ, tôi cũng thuộc lòng lịch sử đất nước, rất nhiều ca dao, tục ngữ. Tôi hiểu được vai trò, vị trí của mình, và nhất là có được một phong cách sống để không bao giờ phải hối tiếc vì mình đã vô tình để thời gian qua đi một cách vô ý nghĩa. Mẹ tôi là phật tử thuần thành, tuy không hay đến chuà, nhưng ngày nào Mẹ cũng thắp hương niệm Phật, quan niêm sống cuả mẹ là : khi cho tức là mình đã nhận được rất nhiều. Mẹ luôn luôn nhắc nhở con gái phải biết yêu thương, nhường nhịn chồng, phải hiếu thảo, chăm nom cha mẹ chồng, nhưng phải biết tự lập, để cuộc đời không hoàn toàn lệ thuộc vào ai. Phải tích phúc, để đức cho con cái sau naỳ

Bây giờ Mẹ đã già, "mắt mờ, chân chậm", "tóc bạc, da mồi", "chân yếu, tay mếm", "răng long, đầu bạc", gần đất xa trời"... tất cả những thứ này Mẹ đều có đủ. Người già sống ở Mỹ thường bị cô đơn vì cả ngày ra vào chỉ lủi thủi một mình, chiều tối về may ra mới có thêm người, vì thế, mỗi lần gặp con cháu về thăm, các cụ được dịp kể đủ thứ chuyện , nấu đủ thứ món ăn... Tôi xa Mẹ từ năm 16 tuổi, lúc gặp lại thì tôi đã có gia đình riêng, Mẹ ở miền Bắc CA, tôi ở miền Nam. Mỗi năm tôi chỉ găp Mẹ khoảng 3 lần, có nhiều lần cũng hơi "ớn" vì bị nghe và bị ăn nhiều quá. Từ giờ trở đi, tôi tư nhủ với lòng, sẽ hoan hỉ nghe tất cả những gì Mẹ muốn kể, và ăn tất cả những gì Mẹ nấu cho, bởi vì, tôi bắt đầu cảm thấy "sợ" rằng mình sẽ không còn nhiều cơ hội nưã.


Thiên Hương
Con gaí thứ 10 của Mẹ

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Phim ngắn Bữa trưa trên thiên đường của sinh viên người Trung Quốc Liu Xiaoyu
đã gây xúc động hàng triệu người xem đầu năm 2011
và là lời cảnh tỉnh cho những đứa con vô tâm, không biết đến những khó khăn và sự hy sinh của mẹ.


Ngày Lễ Mẹ chúng ta cùng xem một clip về tình mẹ con....
(Clik vào tựa đề dưới đây )
Bữa Trưa Trên Thiên Đường

User avatar
thuyduong
Posts: 447
Joined: Fri Dec 04, 2009 6:41 pm

Post by thuyduong »

Bắc Kỳ

Nguyễn Tài Ngọc


Trong những buổi nói chuyện với bạn bè, nếu người nào nói chuyện gì có vẻ khó tin và rào trước đón sau cao hơn cả bức tường Đông Bá Linh, tôi thường hay nói giễu cợt là họ nói chuyện như người Bắc Kỳ Hà Nội. Bấy lâu nay tôi tưởng đó chỉ là một bình phẩm vô bổ, thế nhưng gần đây vài người email “phê bình xây dựng” là tôi không nên nói xấu người Bắc thường nhật vì không phải người Bắc nào cũng như thế. Là người có tinh thần hoà giải luôn có đầu óc cầu tiến, thấy sai thì nhận thức mình đúng ngay lập tức để sửa đổi, tôi hoàn toàn đồng ý không phải tất cả người Bắc nào cũng vẽ hươu vẽ vượn; thế nhưng sự thật là phần đông tính tình người Bắc giống nhau. Mở quyển tự điển Việt Nam của hai tác giả Nguyễn Tài Đức và Nguyễn Tài Tình (hai người này đều là bà con ruột thịt của tôi) tra khảo chữ “khách sáo”, lời giải thích sẽ là: một người sinh truởng hay có máu mủ liên hệ trực thuộc ở miền Bắc.

Trước khi độc giả cực lực phản đối cho tôi lên đoạn đầu đài là tôi nói xấu người Bắc, tôi xin khẳng định rất tỏ tường tôi không phải là điệp viên nằm vùng quê em miền Tây Ninh trà trộn vào hàng ngũ người miền Bắc làm mật thám: tôi cũng là người miền Bắc. Bố mẹ tôi sinh ở làng Bách Cốc, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Tuy rằng tôi sinh trưởng trong Sàigòn ở nhà thương Đức Chính đường Cao Thắng, đối diện rạp Đại Đồng gần chợ Bàn Cờ, cái văn hóa giáo dục tôi thấm nhuần là từ bố mẹ tôi người miền Bắc, hoàn toàn không có một chút pha loãng hay ảnh hưởng một tí nào của người miền Nam. Thật sự là văn hóa miền Bắc ghi khắc quá sâu đậm trong tôi đến nỗi khi tôi vừa mới lên lên ba tuổi, bố mẹ tôi đã tốn rất nhiều tiền cho tôi vào trường học sửa giọng để tôi nói “lấy cái chổi”chứ không phải “nấy cái chủi”, “lái xe” thay vì “nái xe”.

Hạn chế chỉ tiếp xúc với người trong gia đình nên hành động và cư xử của tôi như người miền Bắc từ lúc bé, tôi chỉ phát hiện sự khác biệt giữa Bắc Kỳ và Nam kỳ khi vào học tiểu học. Trước khi đi học, bố tôi đã dậy tôi tập đọc ở nhà, lối dậy đánh vần của bố tôi khác với ở trường cô giáo người miền Nam dậy. Chẳng hạn như chữ “tam”, bố tôi dậy đọc là “te^-a-ta-em-tam”, trong khi cô giáo dậy : “a-em-am, tờ-am-tam”. Chữ “đàn”, bố tôi đọc là “đê-a-đa-en-đan-huyền-đàn”, trong khi cô giáo dậy “a-en-an-huyền-àn, đờ-àn-đàn”. Ban đầu tôi hơi ngớ ngẩn một tí nhưng khám phá ra ngay là tuy khác lối đánh vần, chữ đọc cuối cùng cũng giống nhau. Có một lần khi cãi nhau, tôi nói với người bạn là: “Đồ mặt dầy”. Nó đứng thộn mặt ra, hỏi tôi mặt dầy là mặt gì, tôi cũng không biết làm sao mà giải thích được cho nó hiểu nên cuộc cãi cọ chấm dứt. Làm sao cãi cọ khi hai bên không hiểu nhau? Rồi có những lúc đám bạn Nam Kỳ chọc tôi, hát: “Bắc Kỳ ăn cá rô cây, Ăn nhằm lựu đạn chết cha Bắc Kỳ”, thì tôi biết chắc là tôi không phải là người Nam.

Tôi kể chuyện vòng vo tam quốc như thế để xác định chính tôi cũng là Bắc kỳ, do đó nếu có chỉ trích người Bắc thì tôi là người tay trong, có đầy đủ thẩm quyền và kinh nghiệm để phân tích và phê bình.

Nước Việt Nam cấu tạo bằng ba miền, Bắc Trung Nam. Vì lịch sử và địa thế, cách phát âm và cá tính của người ba miền khác nhau. Người Việt bắt đầu từ miền Bắc rồi đi dần vào miền Trung và miền Nam. Các vua nhà Trần thôn tính nước Chiêm Thành từ Quảng Bình đến Phú Yên vào thế kỷ thứ Mười Lăm, và vua Quang Trung Nguyễn Huệ xâm chiếm miền Nam của người Khmer vào thế kỷ Mười Bẩy. Người ở miền Trung do đó phát âm tiếng Việt với âm hoà lẫn của người Chiêm Thành, và người miền Nam phát âm tiếng Việt hoà lẫn với âm tiếng Khmer. Cộng thêm ảnh hưởng văn hóa, cá tính của người miền Trung và Nam có đặc thù rõ rệt so với người miền Bắc.

Người miền Bắc ảnh hưởng sâu đậm của đạo giáo Khổng Tử, vua ra vua , tôi ra tôi, kẻ sĩ là kẻ sĩ. Lễ là một đức tính quan trọng trong năm đức tính nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Hơn nghìn năm bị người Tầu đô hộ sáng nào cũng ăn đim-sâm làm người miền Bắc ngao ngán luôn mang ý tưởng nổi dậy đánh đuổi người Trung Hoa dành lại độc lập để có cơ hội ăn lại được bát phở. Người miền Nam ảnh hưởng Phật Giáo, của nền văn minh Khmer, ruộng lúa phì nhiêu vì nằm trong đồng bằng sông Cửu Long, thức ăn đầy dẫy với tôm cá, lúa gạo nên dân tình phè phỡn. Cá tính của người miền Bắc do đó khác hẳn người miền Nam: Người miền Bắc tiết kiệm, cần cù, siêng năng, khoe khoang, tài giỏi, khéo ăn nói, khách sáo, trong khi người miền Nam hiền từ, chất phác, thành thật, đơn giản, thoải mái trong đời sống, suy nghĩ, thẳng thắn có sao nói vậy.

Tôi lấy vợ người Nam, có bạn cả người Nam lẫn người Bắc nên am tường cả hai nền văn hóa. Trước 75 khi từ ngoài Bắc di cư vào Nam, chúng tôi không gọi ba má là bố mẹ mà gọi là Thầy U thì đủ biết là tôi hấp thụ nền văn hóa Bắc Kỳ mức thượng thừa đến chừng nào. Người Bắc lúc nào cũng lịch sự, khi nói chuyện với bạn của người thân trong gia đình vai vế nhỏ hơn mình thì luôn luôn hạ danh xưng mình bằng người thấp hơn. Tôi còn nhớ khi còn học tiểu học, một cậu bé đến nhà rủ tôi đi học chung. Lúc ấy tôi đang tắm, bố tôi ngồi trong nhà mới nói với cậu bé:

-Em còn đang tắm, anh vào nhà ngồi chơi một chốc đợi em nó xong thì sẽ ra đi với anh.

Thằng nhỏ người Nam mặt non choẹt, chỉ mới có mười tuổi thấy ông già râu tóc bạc phơ ngồi trên ghế sa-lông gọi mình là anh nên sợ vãi đái ra cả quần không dám đứng đợi tôi, bỏ ù chạy mất.

Sự khách sáo về lễ nghi không phải một sớm một chiều một người có thể thu hoạch được. Nó giống như bí quyết kiếm hiệp huyền bí Tịch Tà Kiếm Phổ trong Lục Mạch Thần Kiếm phải tu luyện trên núi Bảo Long ba mươi năm mới trở nên cao thủ võ lâm. Bố mẹ dậy ngày đêm hết năm này sang năm khác, bị chửi te tua “Dậy con như nước đổ lá khoai!”, “Cái thằng tối như đêm, dầy như đất!”, “Nói con như nói van nói lậy!” thì mới trở nên điêu luyện trong việc khách sáo.

Một lần lễ lộc nhà nấu xôi chè, sau khi cúng kiếng và gia đình đã ăn xong, mẹ tôi sới xôi và chè ra hai bát nhỏ –xôi chè vẫn còn rất nhiều ở trong nồi- và bảo anh tôi, lúc bấy giờ khoảng chừng sáu tuổi, mang sang biếu nhà bà Bác ở xóm kế bên.

Anh tôi khệ nệ bưng hai bát xôi chè sang nhà bà Bác và trở về nhà mười lăm phút sau với bộ mặt tươi rói, báo cáo với bố tôi là sứ mạng đã hoàn thành:

-Thưa Thầy con đã mang chè sang biếu Bác.
-Con giỏi lắm. Bác có nhà không con?
-Vâng, Bác có nhà. Bác ăn chè ngay vì Bác nói Bác đang đói bụng.
-Thế Bác có nói gì không?
-Bác bảo về nói với U là U nấu chè ngon, và cảm ơn Thầy U.
-Con mang sang cho Bác, có nói gì với Bác không?
-Dạ, con nói với Bác là nhà cháu ăn thừa mang sang biếu Bác...

Bố tôi nghe đến đây thì nổi ngay lên một cơn nhồi máu cơ tim:
-Ối giời ơi cái thằng chết tiệt! Ai bảo con lại nói thế? Cái thằng tối như đêm, dầy như đất!

Bố tôi giận dữ vì quá hiển nhên là anh tôi trình độ khách sáo vẫn còn quá sơ đẳng, thấy sao nói vậy người ơi. Nhưng nhận thức ra lỗi này không phải là lỗi của anh tôi mà là là lỗi chính mình chưa rèn luyện chín chắn cho con nên bố tôi phải dành ra vài phút thì giờ huấn luyện anh tôi lại cho thấu đáo nền văn hóa Bắc Kỳ:

-Bận sau con không nên nói như thế. Khi mang biếu cho Bà hay bất cứ ai, con phải nói là U cháu trước khi nấu món này cả tháng trước đó chỉ nghĩ đến Bác. Đêm qua U cháu trước khi nấu đã trằn trọc cả đêm vì cứ hình dung là Bác ăn bát chè sẽ thấy ngon miệng vì U cháu nấu chỉ quyết ý dành riêng cho Bác....

Khách sáo có nghĩa là có tính chất xã giao, lịch sự bên ngoài, không thật lòng. Vì vậy mà tuy rằng gia đình nghèo rớt mồng tơi, các con đứa nào cũng được bố dặn dò kỹ lưỡng là ai cho gì cũng không lấy, có đói đến đâu, đến nhà người khác được mời ăn thì cũng phải từ chối. Mang cái chỉ thị tối cao như vậy nên ngày xưa tôi chỉ thích đến nhà bạn người Nam vì nếu ba má chúng nó mời ăn uống, tôi không bao giờ trả lời không; trong khi đó nếu đến nhà bạn Bắc Kỳ, lúc nào cũng vậy, chưa đến mà tôi đã no tuy rằng trong bụng thì đói meo khi được bố mẹ bạn mời: “Dạ, cháu mới ăn ở nhà”, “Không cháu không uống”.

Chữ khách sáo bao hàm ý nghĩ không thật lòng nên nói chuyện với người Bắc một người lúc nào cũng nên đề cao cảnh giác như ngày xưa lính Việt Nam Cộng Hòa đứng gác sông Bến Hải vĩ tuyến thứ 17 vì không biết đâu là hư, đâu là thực. Chỉ có người Bắc uyên thâm có bằng Tiến Sĩ, Thạc Sĩ, đầu óc mới thông suốt để đoán biết lúc nào người Bắc nói thật, lúc nào ý của họ ngược lại 180 độ. Một cô bạn vợ tôi ngưởi Nam lấy chồng người Bắc, nhà ở California, sang thăm mẹ chồng ở Ohio. Máy bay đến khuya, sáng 7:30 bà mẹ chồng đã đến gõ cửa phòng hỏi dậy chưa. Cô ta trả lời vẫn còn ngái ngủ. Bà mẹ chồng trả lời: “Thế thì con cứ ngủ tiếp đi nhé, chừng nào dậy cũng được”. Cô bạn người Nam của vợ tôi không có kinh nghiệm chiến trường giao thiệp với người Bắc nên tưởng bà ấy nói thật, ngủ luôn một mạch cho đến 11 giờ. Trong thời gian này thì bà mẹ chồng đã nấu điểm tâm cho thằng con trai ăn sáng, rồi bắt đầu chuẩn bị cho buổi ăn trưa. Về nhà sau này anh chồng kể bị bà mẹ dũa thê thảm là lấy con vợ không có ý tứ, sáng không biết dậy sớm lo điểm tâm cho chồng hay cho bố mẹ chồng. Cô bạn vợ tôi nói : “Chính bả nói mình cứ ngủ, mình nghe lời bả ngủ tiếp mà bả lại chửi mình!”

Vợ tôi là người miền Nam, khi lấy tôi đã học xong đại học Văn Khoa ở Việt Nam, đang học dở chừng đại học bên Paris, sang đây học tiếp đại học Mỹ nên đầu óc tương đối thông suốt: chỉ trong vòng vài tháng đầu là nàng đã tiếp thụ được lối nói chuyện vòng vo tam quốc của người Bắc gia đình chúng tôi thay vì đi vào thẳng vấn đề. Mỗi lần nàng xuống bếp, chỉ cần nàng nói: “Cái bếp hôm nay sao bẩn quá” là tôi tự khắc hiểu ý nàng nói ngay là “Anh Ngọc đi lau cái bếp!”, tôi phải nhanh chân đi lau bếp; hay hôm nào đi làm về nàng nói: “Hôm nay sao Loan thấy hơi nhức đầu”, là tôi hiểu ngay ý nàng nói “Tối nay Loan không nấu cơm”, tôi tự động chèo thuyền ra sông Đồng Nai câu cá về chiên ăn một mình. Nói thế nhưng không có nghĩa lúc nào tôi cũng hiểu ý nàng. Có một lần đứng trong phòng khách, nàng nói “Nhà mình sơn mầu khác chắc đẹp”, tôi dịch nghĩa ngay là: “Anh Ngọc, sơn nhà bên trong mầu khác!”. Phòng có nhiều đến đâu, cực đến đâu đi nữa tôi cũng có khả năng sơn lại cả căn nhà, thế nhưng phòng khách nhà tôi khoảng khoát, trần nhà cao hai tầng không cách gì tôi sơn được ngoại trừ mướn thợ với cầu thang chuyên môn có thể với tuốt tận trên cao để sơn trần nhà. Khảo giá thì thợ nói sơn lại cả bên trong nhà khoảng $2,000 làm tôi bệnh mấy ngày liền vì nếu tôi sơn thì chỉ tốn $500 là cao lắm. Lo lắng vài tuần mất ăn mất ngủ, tội sụt cân vài pounds. Nàng hỏi lý do thì tôi thú thật trả lời. Lúc ấy nàng mới cho tôi biết là nàng không có ý muốn tôi sơn lại nhà, chỉ nói một câu bâng quơ vậy thôi!

Khi mình nói chuyện có tính chất bên ngoài không thật lòng thì từ điểm đó đến điểm nói chuyện phóng đại tô mầu Eastmancolor cũng không xa nhau là mấy. Ở điểm này, người Bắc cũng bỏ xa người miền Nam, đặc biệt là người sinh sống ở miền Bắc .

Tôi có một người chị cùng cha khác mẹ ở Nam Định tên là chị Hiền. Sau khi bố tôi di cư vào Nam thì khoảng năm 1960 mọi liên lạc thư từ bị miền Bắc cắt đứt nên hai bên không biết tin tức nhau. Đến năm 1995 khi tôi về Sàigòn lần đầu tiên, thăm một gia đình họ hàng xa ở Vũng Tầu, những người này vẫn còn liên lạc với gia đình người chị tôi ở ngoài Bắc nên họ dẫn tôi ra bưu điện để gọi điện thoại ra Nam Định để nói chuyện với chị ấy:

-Thưa chị, em là Ngọc, con thứ năm của Thầy U. U và cả gia đình sang định cư bên Mỹ từ năm 1975, hiện tất cả bình yên. Em là người đầu tiên trong gia đình về lại Sàigòn thăm nhà. Lúc Thầy U vào Nam thì em chưa sinh...
-Giời ơi, Ngọc đã về quê hương đấy à. Chị tôi khóc nức nở rồi nói tiếp:
-Lúc em sinh ở Sàigòn chị có biết vì Thầy U có biên thư cho chị.
-Anh chị không bận thì vào Sàigòn thăm em, em có một tí quà biếu anh chị.
-Chị yếu lắm, đi tầu hoả 40 giờ vào trong Nam chị rất là ngại. Em đã đi xa xôi vạn dăm từ Mỹ về Việt Nam mà sao em không đi nốt ra Bắc thăm chị?

Rời Việt Nam tháng 4 năm 1975, trở về Sàigòn lần đầu tiên hai mươi năm sau nơi căn nhà cũ và những đường phố quen thuộc từng sinh sống mà tôi còn lo sợ không yên lòng, huống gì nói chuyện đi ra Bắc? Đã thế người nhà họ hàng tôi ở Vũng Tầu ai cũng một lòng ngăn cản tôi không nên đi: “Chú đi ra ngoài Bắc thì thế nào họ cũng thịt chú. Cướp bóc nhiều lắm!”. Vì thế, dù rằng tôi rất ước ao gặp lại người chị cùng máu mủ từ bố tôi nhưng tôi không dám ra Bắc mà muốn chị ấy vào Nam để chị em gặp nhau.

-Em ngại ra Bắc...
-Thôi em nói chuyện với anh Lễ nhé. Anh Lễ là chồng của chị tôi, chị trao máy cho anh Lễ:
-Cậu Ngọc đã về Việt Nam rồi đấy à?
-Thưa vâng.
-Từ ngày miền Nam được giải phóng, anh chị đã tưởng gặp lại Thầy U và các em, thế nhưng chỉ trong một thời gian ngắn cháu Vinh và Toàn tập kết vào Nam báo tin cho anh chị hay là Thầy đã mất từ năm 1970, còn U và các em đã đi đâu mất làm anh chị khóc cả mấy ngày đêm. Sau này biết U và các em định cư ở Mỹ anh chị cũng mừng. Giờ thì em đã về lại quê hương, giòng máu mủ duy nhất của Thầy mà em lại không ra Bắc thăm anh chị...
-Em sợ lắm. Em nhất định không đi.
-Nếu thế thì anh và cháu Tuấn đi xe hoả vào thành phố đón cậu ra đây. Nhà ta có chú Biên trong quân đội, sẽ ra đón cậu ở nhà ga, cậu không phải sợ gì cả.

Sau khi anh ấy nài nỉ đến bao nhiêu lần, cuối cùng tôi cũng xiêu lòng theo lời đề nghị, chờ anh ấy và cậu con trai vào Nam rồi tháp tùng tôi ra Bắc.

Tôi xuống nhà ga Nam Định sau khi ngồi trong chuyến tầu hoả kinh hoàng gần 44 giờ, và đúng như anh Lễ nói, anh Biên, đại gia đình vợ chồng anh Lễ chị Hiền cùng con , cháu , chắt, và bao nhiêu là người lạ đã đến đón vợ chồng chúng tôi. Từ nhà ga đi bộ về nhà khoảng chừng hai cây số. Nhận thấy chúng tôi là người ở ngoại quốc về, những người khác ở trong làng túa ra đi bộ với chúng tôi càng ngày càng đông, cho đến khi về đến nhà thì tôi không còn biết ai là ai vì số người đứng vây quanh tôi đông vô số kể. Trong bao nhiêu tiếng xì xầm bàn tán về tôi, tôi bỗng nghe tiếng đàm thoại rất rõ của hai đứa nhỏ nói chuyện đứng ngay kế bên tôi:

-Ai đấy? Một thằng bé người lạ hỏi.
-Ông tao đấy. Ông tao ở Mỹ mới về.

Chị của tôi năm nay 70 tuổi, đã có con lẫn cháu chắt, nên tôi là vai ông với những đứa cháu chắt này. Tôi nghĩ thằng bé đang nói là một trong những đứa cháu chắt của chị ấy đang nói về tôi.

-Thế ông mày nói tiếng gì?
-Ông tao đấy hả? Gớm, ông tao nói tiếng Mỹ, tiếng Tây, tiếng Tầu..,. tiếng gì cũng được cả.

Tôi nghe thằng bé nói mà trố mắt nhìn xem mặt mày nó ra như thế nào. Nó non choẹt, chỉ độ chừng bẩy tuổi là cùng, chưa bao giờ gặp tôi, tôi cũng chưa bao giờ biết nó. Thế mà nó đã khoe xoen xoét ông của nó – là tôi- với thằng bạn nó là tôi nói đủ thứ tiếng!

Chị tôi mừng vô hạn khi gặp lại tôi. Hai bàn tay gầy guộc dơ xương của chị ấy cứ bấu chặt vào tay và vai của tôi trong khi nước mắt chị khóc ròng.

-Thầy mất chị không đươc gặp Thầy nhưng bây giờ gặp được em, xem như là chị cũng mãn nguyện rồi. Em giống Thầy như đúc...

Tuy mừng gặp lại người chị cùng cha khác mẹ, tôi vẫn còn mối quan tâm trong lòng về tình trạng an ninh ở ngoài Bắc mà người thân trong Nam đã nói cho tôi biết. Có lẽ biết được nỗi lo sợ của tôi, anh Lễ xen vào:

-Cậu có thấy là ở đây bình yên vô sự làm gì có cướp bóc phải không? Người ở trong Nam họ nói láo, hăm dọa cậu không muốn cậu ra Bắc, cố tình ngăn chận tình ruột thịt của anh chị em mình chứ ngoài Bắc làm gì có cướp bóc, cậu thấy không? Tất cả mọi sự đều bình thản vô tư.

Đêm hôm ấy ngủ trên gác nhà chị Hiền mà tôi trọc trằn ngủ không yên tuy rằng đã được anh Lễ trấn an ngoài Bắc không có chuyện cướp bóc. Giữa đêm tôi xuống dưới nhà vì cần đi toilette. Căn nhà này bước vào là phòng khách, dài khoảng bẩy thước , rồi có một gian trống khoảng bốn thuớc không có nóc nhà nhìn thẳng lên trời chị tôi dùng làm nhà bếp. Sau gian trống này là một gian nhỏ toilette và chỗ để tắm. Từ phòng khách muốn đi toilette phải mở cửa đi vào nhà bếp trước. Ban đêm trời tối đen như mực không thấy gì ở phía truớc, tôi mò mẫm vịn thành thang gác xuống lầu rồi chậm chạp tiến về cửa hướng ra nhà bếp. Sờ soạng được mặt cửa, tôi mò tay xuống quả đấm, xoay đẩy cửa ra ngoài thì tiếng soong chảo khoảng dưới cánh cửa rớt đổ vang ầm trong đêm tối, to còn hơn bom nguyên tử nổ ở Nagasaki . Tôi bàng hoàng, chưa đoán biết sự gì đã xẩy ra thì cái đèn vàng héo hắt trong nhà ai đã bật lên. Nhìn kỹ lại tôi thấy anh Lễ đang ngủ ở giường kế bên cửa đã bật ngồi dậy và với tay vào công-tắc bật đèn lên vì tiếng động khua anh ấy dậy. Qua ánh đèn, bây giờ tôi mới biết tại sao có tiếng soong chảo rớt đổ: Nhà nghèo cửa mở ra sau nhà bếp không có khóa nên anh Lễ ban đêm sợ ăn trộm vào nhà nên để vài nồi niêu soong chảo ngay dưới bực cửa. Ai mở cửa ra là nồi sẽ rớt xuống đất, tạo ra một hệ thống báo động ăn trộm cực kỳ tinh vi không tốn một đồng xu nào.

Nhà chị tôi nghèo, chả có gì đáng ăn cắp mà anh tôi còn “gắn” hệ thống báo động ăn trộm soong chảo, thế mà vào lúc ban ngày anh ấy nói với tôi là ngoài Bắc không có cướp, tôi cứ thoải mái vô tư! Đúng là chỉ có người Bắc chúng tôi mới ba hoa chích chòe đến thế!

Cái tật vẽ hươu vẽ vượn của người Bắc nó đã tồn tại từ cả nghìn năm nay. Lịch sử Việt Nam chúng ta có nhiều bằng chứng cụ thể : Phù Đổng Thiên Vương lên ba không biết nói cười nhưng khi có giặc Ân tràn xuống thì vươn vai thành người ba trượng cỡi ngựa đánh tan quân giặc, Lý Thuờng Kiệt giả cho người vào đền thờ ngâm thơ bài Nam Quốc Sơn Hà Nam Đế Cư trong đêm để vận đông tinh thần binh sĩ đánh bại quân nhà Tống. Một thói quen hay tật xấu thường hay khó thay đổi. Trường hợp tôi cũng là thí dụ điển hình. Cho dù tôi có óc sửa sai đến đâu để cải tiến, có nhận thấy người Bắc có nhiều khuyết điểm sai lầm đến đâu để sửa đồi, mà vợ tôi người Nam cứ khen người Bắc phát âm chính xác, nói năng bặt thiệp lưu loát thì chắc chắn đến Tết Congo người Bắc chúng tôi sẽ không bao giờ có sự thay đổi!

User avatar
muanuadem
Posts: 461
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:47 pm

Post by muanuadem »

Image

Học Làm Người
-Học để biết chúng ta không thể làm cho bất cứ ai yêu mến chúng ta, những gì mà chúng ta có thể làm là hãy để bản thân mình được thương yêu.
- Học để biết rằng những gì giá trị nhất trên cõi đời này không phải là của cải vật chất chúng ta sở hữu mà là trong cuộc sống của chúng ta có những ai.
- Học để biết rằng đừng nên so sánh bản thân chúng ta với người khác, vì tất cả mọi người sẽ được phán đoán riêng rẽ dựa trên nhân cách của chính họ.
- Học để biết rằng một người giàu có không phải là người có tất cả, mà chỉ là người cần tối thiểu mà thôi.
- Học để biết rằng chúng ta chỉ mất vài giây để khơi dậy vết đau trong lòng của những người khác, nhưng sẽ mất rất nhiều năm để hàn gắn.
- Học để biết tha thứ bằng cách thực hành hạnh khoan dung.
- Học để biết rằng có những người thương yêu chúng ta tha thiết, nhưng lại không biết làm cách nào để biểu lộ hay bày tỏ những cảm tình của họ.
- Học để biết rằng tiền bạc có thể mua được mọi thứ, nhưng chưa chắc đã mua được hạnh phúc.
- Học để biết rằng hai người có thể cùng nhìn vào một vật nhưng lại thấy hoàn toàn khác nhau.
- Học để biết rằng không phải lúc nào người khác tha thứ cho chúng ta là đủ mà chúng ta phải biết thứ tha cho bản thân chúng ta nữa.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Khi loài thú được thuần hóa với đời sống của con người, chúng rất đáng yêu.


Image

Sự biết ơn của loài thú. Người phụ nữ trong đoạn băng nầy đã tìm thấy con sư tử nầy trong rừng , bị thương và đang chết dần .
Bà đã mang nó về và săn sóc cho tới khi nó khoẻ lại .
Khi con sư tử được khoẻ hẳn, bà thu xếp với một vườn thú để gởi nó vào , cho nó có một nơi ở mới và tốt hơn
.Đoạn băng nầy được ghi lại khi bà đến sở thú thăm nó .Bạn hãy xem nó mừng thế nào khi được gặp lại bà.


User avatar
thuyduong
Posts: 447
Joined: Fri Dec 04, 2009 6:41 pm

Post by thuyduong »

Nhạc sĩ Từ Công Phụng đã khỏe hẳn

Ðức Tuấn

PORTLAND, Oregon (NV) - Sau một năm vắng bóng vì phải chữa trị bệnh ung thư gan, ngày nay nhạc sĩ Từ Công Phụng đã có thể ăn ngủ,
đi đứng gần như bình thường trở lại.

Image
Nhạc sĩ Từ Công Phụng tại Little Saigon (Hình: Dan Huynh/Nguoi Viet)

Nhạc sĩ Từ Công Phụng nhớ lại, cách đây đúng một năm khi bác sĩ khám tổng quát, ông được chẩn đoán trong gan của ông xuất hiện bướu, nhưng không biết là như thế nào. Sau chuyến đi San Jose để dự chương trình nhạc thính phòng trở về Oregon, ông đi thẳng vào bệnh viện để làm Biopsi gan. Kết quả là ông bị ung thư giai đoạn 4 và bác sĩ nói ông chỉ còn sống được khoảng 3 tháng nữa thôi.

Ông nói: “Lúc ấy, không hiểu sao tôi lại rất bình tĩnh, sẵn sàng tiếp nhận hóa trị ngay sau đó.”

Theo vợ ông, bà Janine Laurent, cho đến nay, nhạc sĩ Từ Công Phụng đã chịu hóa trị tất cả 12 lần, tình trạng của ông hiện rất khả quan, phần ung thư trong gan của ông đã thu nhỏ lại gần 80%. Ông bắt đầu ăn uống, ngủ khá tốt.

“Nói chung sức khỏe của ông đang trên đà hồi phục khoảng 70% đến 80%,” vợ ông nói.

Hiện ông không còn tiếp nhận hóa trị được 3 tháng này, tóc bắt đầu mọc nhiều, ăn uống bình thường trở lại nhưng dĩ nhiên là ăn theo chế độ kiêng để tránh tạo cơ hội cho ung thư sinh trưởng.

Nhạc sĩ họ Từ cho biết lúc sức khỏe và tinh thần của ông xuống thấp là lúc ông hiểu được tình yêu của vợ và các con đã hỗ trợ ông nhiều đến chừng nào.

Ông nói: “Nếu như bề trên an bài, tôi phải ra đi sớm, tôi chấp nhận điều đó.”

Bây giờ sức khỏe nhạc sĩ đang hồi phục, và ông mong chờ ngày trở lại với bạn bè, bằng hữu, trở lại với sân khấu, ánh đèn, khán giả.

Ðiều đó sẽ xảy ra vào ngày 4 Tháng Chín sắp tới, ngày các con của ông sẽ tổ chức một chương trình tại Quận Cam, kỷ niệm 50 năm sáng tác và ca hát của ông.

Chắc chắn đây sẽ là một chương trình hay với nhiều sự ủng hộ của giới thưởng ngoạn.

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Một toa thuốc rất hay cả về tinh thần lẫn thể xác I. Sức khỏe:
Tổ chức Y Tế Thế Giới (WHO) định nghĩa: “Sức khỏe là một tình trạng thoải mái hoàn toàn về thể chất và hoàn cảnh, chứ không phải là một tình trạng không có bệnh tật hay tàn tật”..

II. Bí quyết trường thọ:
1. Chấp nhận với những gì mình đang có
2. Thích nghi với hoàn cảnh của mình
3. Điều chỉnh để đạt được điều mong muốn.

III. Phòng ngừa bệnh tật:
1. Không vui quá hại tim
2. Không buồn quá hại phổi
3. Không tức quá hại gan
4. Không sợ quá hại thần kinh
5. Không suy nghĩ quá hại tỳ
6. Xua tan hoài niệm cay đắng bằng tha thứ và lãng quên
7. Với người cao tuổi tránh tranh luận hơn thua.

IV. Thức ăn & uống trong ngày:
Một củ hành: chống ung thư
Một quả cà chua: chống tăng huyết áp
Một lát gừng: chống viêm nhiễm
Một củ khoai tây: chống sơ vữa động mạch
Một trái chuối: làm phấn chấn thần kinh, bớt lo âu, chống táo bón, giảm được béo
Một quả trứng hay ít thịt nạc: chống suy dinh dưỡng
Uống 1 đến 2 lít nước mỗi ngày: giải độc cơ thể.

V. Triết lý của người Trung Hoa hiện đại:
1. Một Trung Tâm là sức khỏe
2. Hai Tí: Một tí thoải mái – Một tí nhiệt tình
3. Ba Quên: Quên tuổi tác – Quên bệnh tật – Quên hận thù
4. Bốn Có: Có nhà ở – Có bạn đời – Có bạn tri âm – Có lòng vị tha.
5. Năm Phải: Phải vận động
Phải biết cười
Phải lịch sự hòa nhã
Phải biết nói chuyện và
Phải coi mình là người bình thường..

VI. Bảo Sinh Thái Ất Chân Nhân:
1. Ít nói năng để dưỡng Nội Khí
2. Kiêng sắc dục để dưỡng Tinh Khí
3. Bớt ăn hăng mạnh để dưỡng Huyết Khí
4. Đừng nhổ nước bọt để dưỡng Tạng Khí
5. Chớ giận hờn để dưỡng Can Khí
6. Chớ ăn quá độ để dưỡng Vị Khí
7. Ít lo lắng để dưỡng Tâm Khí
8. Tránh tà tâm để dưỡng Thần Khí.

VII. Hãy Dành Thì Giờ - Mẹ Thêrêsa Calcutta:
Hãy dành thì giờ để suy nghĩ Đó là nguồn sức mạnh.
Hãy dành thì giờ để cầu nguyện Đó là sức mạnh toàn năng.
Hãy dành thì giờ cất tiếng cười Đó là tiếng nhạc của tâm hồn.
Hãy dành thì giờ chơi đùa Đó là bí mật trẻ mãi không già.
Hãy dành thì giờ để yêu và được yêu Ưu tiên Thiên Chúa ban.
Hãy dành thì giờ để cho đi Một ngày quá ngắn để sống ích kỷ.
Hãy dành thì giờ đọc sách Đó là nguồn mạch minh triết.
Hãy dành thì giờ để thân thiện Đó là đường dẫn tới hạnh phúc.
Hãy dành thì giờ để làm việc Đó là giá của thành công.

Hãy dành thì giờ cho bác ái Đó là chìa khóa cửa thiên đàng.

Post Reply