Bình Luận Thời Sự
Ôm bám hệ thống độc quyền
Thursday, February 11, 2010
Ngô Nhân Dụng
Việt Nam mới giảm giá đồng tiền so với đô la Mỹ, lần thứ hai kể từ tháng 11 năm ngoái. Kể từ tháng 6, năm 2008, thì đây là lần thứ tư đồng bạc Việt Nam bị phá giá. Ðồng tiền bị áp lực của thị trường chợ đen đẩy xuống, trong khi hối suất chính thức là 17,941 đồng lấy một đô la thì chợ đen trả gần 19,250 đồng. Chính quyền cộng sản muốn thu đô la vào hệ thống ngân hàng; tăng giá Mỹ kim để những người có đô la đem tiền Mỹ tới đổi cho các ngân hàng thương mại, thay vì đem đổi chợ đen được giá lời hơn. Sau khi bị phá giá hai lần trong ba tháng, bây giờ ở các ngân hàng giá chính thức đồng đô la cũng lên tới 19,100 đồng.
Nhưng liệu đảng Cộng Sản có đạt được mục đích gom đô la vào trong các ngân hàng hay không? Tổng giám đốc Ngân hàng Sacombank cho biết trong năm 2009 đã chuyển gần một tỷ đô la (850 triệu) tiền do người Việt ở nước ngoài gửi về, nhưng chỉ có 10% số tiền đó được những người nhận tiền bán lại cho ngân hàng này - tức là 90% những đồng đô la gửi về Việt Nam ra đi theo con đường tìm về chợ đen. Nhà nước cộng sản hoàn toàn bất lực không thể ngăn cấm chợ đen. Không thể đem công an ra đứng chỉ đường bắt đô la Mỹ phải đi theo chỉ đạo của đảng. Những người tổ chức chợ đen mạnh hơn cả công an, họ có thể chính là công an cùng với những kẻ nắm đầu công an!
Việc tăng hối suất của đồng đô la cho bằng giá chợ đen khó thu tiền Mỹ về cho các ngân hàng. Vì khi có những người cần đi mua đô la ở chợ đen vì những lý do riêng, họ sẽ sẵn sàng trả giá cao, thì sẽ có người bán đô la ở chợ đen. Những lý do riêng đó là gì? Có hàng ngàn lý do khác nhau trong một nền kinh tế mờ mờ ảo ảo, đa số những người kiếm nhiều tiền nhất không phải vì họ làm ăn, kinh doanh giỏi, thành công, mà vì những lý do khác! Những người đó có đủ lý do để che giấu những đồng tiền kiếm được, mà một cách giấu rất tiện là đổi lấy đô la Mỹ rồi đem chuyển dần dần ra nước ngoài mà không phải đi qua hệ thống ngân hàng chính thức.
Người ta càng ngần ngại đem tiền Mỹ đến gửi tại ngân hàng, vì lãi suất cho tiền đô la ký thác chỉ có 1%. Khi còn nhu cầu đổi tiền chợ đen thì rất nhiều người sẽ sẵn sàng đóng vai “ngân hàng đen,” tức là giữ đồng đô la, để chờ ngày đem ra đổi, biết thế nào giá cũng sẽ tăng lên. Họ chỉ cần nhìn vào cung cách quản lý nền kinh tế của đảng Cộng Sản Việt Nam là đoán được rằng giá đồng đô la sẽ còn tăng nữa.
Có nhiều lý do khiến đồng bạc Việt Nam xuống giá. Khi mối đe dọa lạm phát vẫn còn treo trên đầu mọi người, thì đứng trước viễn ảnh giá sinh hoạt sẽ tăng tâm lý chung của người dân là có đồng nào đem tiêu xài ngay, kẻo mai mốt tiền sẽ mất giá. Riêng tâm lý lo sợ đó cũng khiến lạm phát trở thành sự thật; vì khi mọi người thi đua đi mua sắm thì giá cả tất phải tăng lên! Hàng nhập cảng vào Việt Nam, dù hàng tiêu thụ hay các nguyên liệu dùng vào việc sản xuất, hầu hết phải trả bằng đô la Mỹ. Dù giá các món hàng đó không thay đổi trong thị trường quốc tế, nhưng khi đô la Mỹ lên giá đối với tiền Việt Nam thì tự nhiên đối với những người dân tiêu dùng tiền Việt các món hàng nhập cảng đều tăng giá hết. Khi nhà nước tăng giá đô la Mỹ, người dân sẽ thấy là mối lo lạm phát của mình có cơ sở vững chắc, họ càng tin tưởng thế nào lạm phát cũng còn lên nữa. Lạm phát ở Việt Nam năm 2007 có lúc đã lên tới 60% một năm, năm 2008 giảm xuống còn 23%; năm ngoái đã giảm được xuống dưới 7%, nhưng các nhà kinh tế tiên đoán năm nay lạm phát sẽ lên trên 7%.
Như vậy thì giảm giá đồng bạc Việt Nam đối với đô la Mỹ để làm gì nếu số đô la thu vào các ngân hàng chưa chắc đã tăng mà mối lo lạm phát càng thêm nặng? Chúng ta khó biết những động cơ nào đưa tới các quyết định kinh tế của một nhà nước cộng sản. Họ thường quyết định trong vòng bí mật, với những lý do bí mật. Có một hồi ở bên Nga người ta làm luật cấm không cho dùng xe với bánh lái bên tay phải (Chỉ ở những nước luật đi đường bắt lái xe phía bên trái, như ở Anh Quốc, Thái Lan, Nhật Bản, thì bánh lái mới đặt bên tay phải; còn ở Việt Nam, Pháp, Mỹ, Nga, vân vân, dân lái xe đi bên phải thì bánh lái đặt bên trái). Sau khi đã làm luật cấm các loại xe bánh lái bên phải một thời gian, thì chính phủ Nga lại đổi luật, cho phép những chiếc xe nhập cảng từ Nhật Bản, Anh Quốc được lưu hành!
Tại sao họ quyết định cấm, rồi lại quyết định tha? Chỉ có thể giải thích rằng có một ông quan nào đó ra lệnh cấm để tất cả những chiếc xe cũ mua từ Nhật Bản đem về bị mất giá. Khi các xe đó xuống giá, ông và đồng đảng đi mua các loại xe đó cất đi. Bao giờ mua đủ, các ông đổi luật, giá xe tăng lên trở lại, một vốn bốn lời trong mấy tháng!
Rất khó tiên đoán được kinh tế các nước cộng sản, vì những quyết định của quan chức không căn cứ vào các quy luật thông thường. Quy luật quan trọng nhất của họ là chỉ quyết định điều gì khi chính bản thân mình, gia đình mình, và các đồng đảng ăn chia đều hưởng lợi.
Tham nhũng bằng cách ép người ta đưa tiền cho mình là loại tham nhũng tép riu, dành cho các chú công an, cảnh sát đứng đầu đường. Ðưa tiền trong bao thư ở văn phòng như trong vụ xa lộ xuyên Sài Gòn cũng là chuyện nhỏ. Hành động tham nhũng làm ra tiền nhiều nhất và chắc chắn nhất là thay đổi thủ tục, luật lệ và đưa ra các quyết định chính sách kinh tế. Ăn tiền kiểu đó hoàn toàn hợp pháp, mà lại chứng tỏ chính quyền “năng động” điều chính chính sách luôn luôn!
Nhưng thay đổi các chính sách nhỏ giọt theo lối cò con đó có ích lợi gì trong việc quản lý kinh tế nước ta hay không? Ông Trần Xuân Giá, một cựu bộ trưởng Kế Hoạch Ðầu Tư mới nói với tờ Thời Báo Kinh Tế rằng nhà nước cộng sản phải thay đổi toàn diện, vì “Cả tư duy và mô hình tăng trưởng hiện nay đã không còn phù hợp.” Ông Giá nhận xét, “GDP tăng chủ yếu dựa vào vốn đầu tư nhưng hiệu quả đầu tư ngày càng kém, năng suất lao động thấp, chi phí sản xuất, tiêu hao năng lượng trên một đơn vị sản phẩm tăng cao,...” Tình trạng phí phạm, mất mát đó là do hệ thống cai trị độc quyền của đảng Cộng Sản, không thể nào sửa được vì sửa là đụng tới toàn thể hệ thống cai trị.
Một mô hình được chế độ cộng sản áp dụng từ thời Phan Văn Khải, Võ Văn Kiệt tới nay, là tập trung tài nguyên quốc dân cho các doanh nghiệp nhà nước sử dụng, với những tổng công ty và các tập đoàn kinh tế mà các đảng viên cộng sản nắm giữ. Ðó là công cụ để đảng Cộng Sản chiếm độc quyền kinh tế thời xưa, nay vẫn còn giữ lại và củng cố cho lớn hơn. Những đại công ty này chỉ tạo được công ăn việc làm cho dưới 20% tổng số người lao động, nhưng được các ngân hàng của nhà nước trao cho 40% đến 45% tổng số vốn cho vay! Còn các xí nghiệp tư nhân, tạo công việc làm cho 80% người lao động thì bị ép khi cần vay vốn. Những người sử dụng vốn kém nhất thì lại được ưu đãi cho vay vốn; còn những người có khả năng, biết đem tiền đầu tư tạo ra nhiều của cải hơn thì phải đúng bên lề. Vì vậy, năng suất của cả nền kinh tế rất thấp, so với các nước khác.
Một chỉ số do năng suất chung của một nền kinh tế là tỷ lệ giữa số tiền cần đầu tư để tạo ra một đơn vị của cải mới. Nếu muốn tạo ra thêm một đồng trong Tổng Sản lượng Nội Ðịa mà anh cần 50 xu đầu tư, thì hiệu năng của anh thấp hơn một người chỉ dùng 10 xu cũng tạo thêm được một đồng trong GDP. Chỉ số 50% hay 10% trên đây gọi tên là ICOR (Incremental Capital Output Ratio); chỉ số này càng thấp chứng tỏ nền kinh tế càng có hiệu năng cao.
Chỉ số ICOR của Việt Nam rất cao, trung bình là 5.2, tức là cần 5.2 xu đầu tư mới tạo thêm được một đồng của cải mới trong GDP. Nam Hàn, vào các thập niên 1960, 70 có chỉ số ICOR là 3, chỉ cần 3 xu đầu tư cũng tăng thêm được một đồng của cải mới. Trong thời gian đó, kinh tế Nam Hàn tăng lên với tỷ số 7, 9% một năm, còn Việt Nam mấy năm nay chỉ tăng với tốc độ 7.7%. Thái Lan trong giai đoạn kinh tế đang lên như vậy cũng tăng nhanh hơn, 8.1% một năm, mà chỉ số ICOR cũng tốt hơn Việt Nam, chỉ có 4.1.
Tại sao kinh tế Việt Nam hiệu năng yếu kém như vậy? Không phải vì người Việt Nam làm việc kém thông mình hay là vốn tính lười biếng. Lý do chính là hệ thống kinh tế độc quyền của đảng Cộng Sản chỉ ăn bám vào nền kinh tế chứ không đóng góp cho Tổng Sản Lượng Nội Ðịa bằng số tài nguyên mà họ rút ra dùng. Trước đây các nước Nga và Ðông Âu sụp đổ cũng vì tình trạng đó. Nhưng nay đảng Cộng Sản Việt Nam không lo, dù kinh tế yếu kém, các cán bộ và lãnh tụ vẫn ăn no và làm giầu. Ai muốn xin cho dân được hưởng thêm chút quyền dân chủ tự do thì bắt bỏ tù!
Ngoài ra, bọn tham quan ô lại khiến cho các nhà kinh doanh tư ai cũng phải đóng thêm những thứ thuế ngoài lề, tức là tiền hối lộ. Tham nhũng, hối lộ là những cản trở nặng nề cho sự phát triển kinh tế.
Tại sao đảng Cộng Sản cứ bám lấy các doanh nghiệp nhà nước và bảo vệ hệ thống thư lại tham nhũng rút ruột kinh tế cả nước? Bởi vì họ không biết một đường nào khác ngoài hệ thống cai trị từ thời Hồ Chí Minh để lại. Rời bỏ hệ thống cai trị độc quyền thì không những các lãnh tụ cộng sản sợ bị mất tiền, mất quyền, mà còn lo mất mạng và con cháu bị mang họa nữa. Cho nên ngay bây giờ đã có phong trào chuyển của cải ra nước ngoài, chuyển cả gia đình, con cháu sang các nước Âu, Mỹ, Úc. Những người Việt làm ăn lương thiện có chút tiền nhìn vào cảnh đó cũng lo đi sang các nước Âu, Mỹ sinh sống. Làm sao chuyển tiền bạc từ Việt Nam ra ngoài? Phải đổi lấy đô la Mỹ. Ðó là lý do chợ đen đô la không thể nào biến mất được. Nó đáp ứng nhu cầu của một chế độ vào lúc xế chiều ai cũng muốn chuyển tiền đi!
Thursday, February 11, 2010
Ngô Nhân Dụng
Việt Nam mới giảm giá đồng tiền so với đô la Mỹ, lần thứ hai kể từ tháng 11 năm ngoái. Kể từ tháng 6, năm 2008, thì đây là lần thứ tư đồng bạc Việt Nam bị phá giá. Ðồng tiền bị áp lực của thị trường chợ đen đẩy xuống, trong khi hối suất chính thức là 17,941 đồng lấy một đô la thì chợ đen trả gần 19,250 đồng. Chính quyền cộng sản muốn thu đô la vào hệ thống ngân hàng; tăng giá Mỹ kim để những người có đô la đem tiền Mỹ tới đổi cho các ngân hàng thương mại, thay vì đem đổi chợ đen được giá lời hơn. Sau khi bị phá giá hai lần trong ba tháng, bây giờ ở các ngân hàng giá chính thức đồng đô la cũng lên tới 19,100 đồng.
Nhưng liệu đảng Cộng Sản có đạt được mục đích gom đô la vào trong các ngân hàng hay không? Tổng giám đốc Ngân hàng Sacombank cho biết trong năm 2009 đã chuyển gần một tỷ đô la (850 triệu) tiền do người Việt ở nước ngoài gửi về, nhưng chỉ có 10% số tiền đó được những người nhận tiền bán lại cho ngân hàng này - tức là 90% những đồng đô la gửi về Việt Nam ra đi theo con đường tìm về chợ đen. Nhà nước cộng sản hoàn toàn bất lực không thể ngăn cấm chợ đen. Không thể đem công an ra đứng chỉ đường bắt đô la Mỹ phải đi theo chỉ đạo của đảng. Những người tổ chức chợ đen mạnh hơn cả công an, họ có thể chính là công an cùng với những kẻ nắm đầu công an!
Việc tăng hối suất của đồng đô la cho bằng giá chợ đen khó thu tiền Mỹ về cho các ngân hàng. Vì khi có những người cần đi mua đô la ở chợ đen vì những lý do riêng, họ sẽ sẵn sàng trả giá cao, thì sẽ có người bán đô la ở chợ đen. Những lý do riêng đó là gì? Có hàng ngàn lý do khác nhau trong một nền kinh tế mờ mờ ảo ảo, đa số những người kiếm nhiều tiền nhất không phải vì họ làm ăn, kinh doanh giỏi, thành công, mà vì những lý do khác! Những người đó có đủ lý do để che giấu những đồng tiền kiếm được, mà một cách giấu rất tiện là đổi lấy đô la Mỹ rồi đem chuyển dần dần ra nước ngoài mà không phải đi qua hệ thống ngân hàng chính thức.
Người ta càng ngần ngại đem tiền Mỹ đến gửi tại ngân hàng, vì lãi suất cho tiền đô la ký thác chỉ có 1%. Khi còn nhu cầu đổi tiền chợ đen thì rất nhiều người sẽ sẵn sàng đóng vai “ngân hàng đen,” tức là giữ đồng đô la, để chờ ngày đem ra đổi, biết thế nào giá cũng sẽ tăng lên. Họ chỉ cần nhìn vào cung cách quản lý nền kinh tế của đảng Cộng Sản Việt Nam là đoán được rằng giá đồng đô la sẽ còn tăng nữa.
Có nhiều lý do khiến đồng bạc Việt Nam xuống giá. Khi mối đe dọa lạm phát vẫn còn treo trên đầu mọi người, thì đứng trước viễn ảnh giá sinh hoạt sẽ tăng tâm lý chung của người dân là có đồng nào đem tiêu xài ngay, kẻo mai mốt tiền sẽ mất giá. Riêng tâm lý lo sợ đó cũng khiến lạm phát trở thành sự thật; vì khi mọi người thi đua đi mua sắm thì giá cả tất phải tăng lên! Hàng nhập cảng vào Việt Nam, dù hàng tiêu thụ hay các nguyên liệu dùng vào việc sản xuất, hầu hết phải trả bằng đô la Mỹ. Dù giá các món hàng đó không thay đổi trong thị trường quốc tế, nhưng khi đô la Mỹ lên giá đối với tiền Việt Nam thì tự nhiên đối với những người dân tiêu dùng tiền Việt các món hàng nhập cảng đều tăng giá hết. Khi nhà nước tăng giá đô la Mỹ, người dân sẽ thấy là mối lo lạm phát của mình có cơ sở vững chắc, họ càng tin tưởng thế nào lạm phát cũng còn lên nữa. Lạm phát ở Việt Nam năm 2007 có lúc đã lên tới 60% một năm, năm 2008 giảm xuống còn 23%; năm ngoái đã giảm được xuống dưới 7%, nhưng các nhà kinh tế tiên đoán năm nay lạm phát sẽ lên trên 7%.
Như vậy thì giảm giá đồng bạc Việt Nam đối với đô la Mỹ để làm gì nếu số đô la thu vào các ngân hàng chưa chắc đã tăng mà mối lo lạm phát càng thêm nặng? Chúng ta khó biết những động cơ nào đưa tới các quyết định kinh tế của một nhà nước cộng sản. Họ thường quyết định trong vòng bí mật, với những lý do bí mật. Có một hồi ở bên Nga người ta làm luật cấm không cho dùng xe với bánh lái bên tay phải (Chỉ ở những nước luật đi đường bắt lái xe phía bên trái, như ở Anh Quốc, Thái Lan, Nhật Bản, thì bánh lái mới đặt bên tay phải; còn ở Việt Nam, Pháp, Mỹ, Nga, vân vân, dân lái xe đi bên phải thì bánh lái đặt bên trái). Sau khi đã làm luật cấm các loại xe bánh lái bên phải một thời gian, thì chính phủ Nga lại đổi luật, cho phép những chiếc xe nhập cảng từ Nhật Bản, Anh Quốc được lưu hành!
Tại sao họ quyết định cấm, rồi lại quyết định tha? Chỉ có thể giải thích rằng có một ông quan nào đó ra lệnh cấm để tất cả những chiếc xe cũ mua từ Nhật Bản đem về bị mất giá. Khi các xe đó xuống giá, ông và đồng đảng đi mua các loại xe đó cất đi. Bao giờ mua đủ, các ông đổi luật, giá xe tăng lên trở lại, một vốn bốn lời trong mấy tháng!
Rất khó tiên đoán được kinh tế các nước cộng sản, vì những quyết định của quan chức không căn cứ vào các quy luật thông thường. Quy luật quan trọng nhất của họ là chỉ quyết định điều gì khi chính bản thân mình, gia đình mình, và các đồng đảng ăn chia đều hưởng lợi.
Tham nhũng bằng cách ép người ta đưa tiền cho mình là loại tham nhũng tép riu, dành cho các chú công an, cảnh sát đứng đầu đường. Ðưa tiền trong bao thư ở văn phòng như trong vụ xa lộ xuyên Sài Gòn cũng là chuyện nhỏ. Hành động tham nhũng làm ra tiền nhiều nhất và chắc chắn nhất là thay đổi thủ tục, luật lệ và đưa ra các quyết định chính sách kinh tế. Ăn tiền kiểu đó hoàn toàn hợp pháp, mà lại chứng tỏ chính quyền “năng động” điều chính chính sách luôn luôn!
Nhưng thay đổi các chính sách nhỏ giọt theo lối cò con đó có ích lợi gì trong việc quản lý kinh tế nước ta hay không? Ông Trần Xuân Giá, một cựu bộ trưởng Kế Hoạch Ðầu Tư mới nói với tờ Thời Báo Kinh Tế rằng nhà nước cộng sản phải thay đổi toàn diện, vì “Cả tư duy và mô hình tăng trưởng hiện nay đã không còn phù hợp.” Ông Giá nhận xét, “GDP tăng chủ yếu dựa vào vốn đầu tư nhưng hiệu quả đầu tư ngày càng kém, năng suất lao động thấp, chi phí sản xuất, tiêu hao năng lượng trên một đơn vị sản phẩm tăng cao,...” Tình trạng phí phạm, mất mát đó là do hệ thống cai trị độc quyền của đảng Cộng Sản, không thể nào sửa được vì sửa là đụng tới toàn thể hệ thống cai trị.
Một mô hình được chế độ cộng sản áp dụng từ thời Phan Văn Khải, Võ Văn Kiệt tới nay, là tập trung tài nguyên quốc dân cho các doanh nghiệp nhà nước sử dụng, với những tổng công ty và các tập đoàn kinh tế mà các đảng viên cộng sản nắm giữ. Ðó là công cụ để đảng Cộng Sản chiếm độc quyền kinh tế thời xưa, nay vẫn còn giữ lại và củng cố cho lớn hơn. Những đại công ty này chỉ tạo được công ăn việc làm cho dưới 20% tổng số người lao động, nhưng được các ngân hàng của nhà nước trao cho 40% đến 45% tổng số vốn cho vay! Còn các xí nghiệp tư nhân, tạo công việc làm cho 80% người lao động thì bị ép khi cần vay vốn. Những người sử dụng vốn kém nhất thì lại được ưu đãi cho vay vốn; còn những người có khả năng, biết đem tiền đầu tư tạo ra nhiều của cải hơn thì phải đúng bên lề. Vì vậy, năng suất của cả nền kinh tế rất thấp, so với các nước khác.
Một chỉ số do năng suất chung của một nền kinh tế là tỷ lệ giữa số tiền cần đầu tư để tạo ra một đơn vị của cải mới. Nếu muốn tạo ra thêm một đồng trong Tổng Sản lượng Nội Ðịa mà anh cần 50 xu đầu tư, thì hiệu năng của anh thấp hơn một người chỉ dùng 10 xu cũng tạo thêm được một đồng trong GDP. Chỉ số 50% hay 10% trên đây gọi tên là ICOR (Incremental Capital Output Ratio); chỉ số này càng thấp chứng tỏ nền kinh tế càng có hiệu năng cao.
Chỉ số ICOR của Việt Nam rất cao, trung bình là 5.2, tức là cần 5.2 xu đầu tư mới tạo thêm được một đồng của cải mới trong GDP. Nam Hàn, vào các thập niên 1960, 70 có chỉ số ICOR là 3, chỉ cần 3 xu đầu tư cũng tăng thêm được một đồng của cải mới. Trong thời gian đó, kinh tế Nam Hàn tăng lên với tỷ số 7, 9% một năm, còn Việt Nam mấy năm nay chỉ tăng với tốc độ 7.7%. Thái Lan trong giai đoạn kinh tế đang lên như vậy cũng tăng nhanh hơn, 8.1% một năm, mà chỉ số ICOR cũng tốt hơn Việt Nam, chỉ có 4.1.
Tại sao kinh tế Việt Nam hiệu năng yếu kém như vậy? Không phải vì người Việt Nam làm việc kém thông mình hay là vốn tính lười biếng. Lý do chính là hệ thống kinh tế độc quyền của đảng Cộng Sản chỉ ăn bám vào nền kinh tế chứ không đóng góp cho Tổng Sản Lượng Nội Ðịa bằng số tài nguyên mà họ rút ra dùng. Trước đây các nước Nga và Ðông Âu sụp đổ cũng vì tình trạng đó. Nhưng nay đảng Cộng Sản Việt Nam không lo, dù kinh tế yếu kém, các cán bộ và lãnh tụ vẫn ăn no và làm giầu. Ai muốn xin cho dân được hưởng thêm chút quyền dân chủ tự do thì bắt bỏ tù!
Ngoài ra, bọn tham quan ô lại khiến cho các nhà kinh doanh tư ai cũng phải đóng thêm những thứ thuế ngoài lề, tức là tiền hối lộ. Tham nhũng, hối lộ là những cản trở nặng nề cho sự phát triển kinh tế.
Tại sao đảng Cộng Sản cứ bám lấy các doanh nghiệp nhà nước và bảo vệ hệ thống thư lại tham nhũng rút ruột kinh tế cả nước? Bởi vì họ không biết một đường nào khác ngoài hệ thống cai trị từ thời Hồ Chí Minh để lại. Rời bỏ hệ thống cai trị độc quyền thì không những các lãnh tụ cộng sản sợ bị mất tiền, mất quyền, mà còn lo mất mạng và con cháu bị mang họa nữa. Cho nên ngay bây giờ đã có phong trào chuyển của cải ra nước ngoài, chuyển cả gia đình, con cháu sang các nước Âu, Mỹ, Úc. Những người Việt làm ăn lương thiện có chút tiền nhìn vào cảnh đó cũng lo đi sang các nước Âu, Mỹ sinh sống. Làm sao chuyển tiền bạc từ Việt Nam ra ngoài? Phải đổi lấy đô la Mỹ. Ðó là lý do chợ đen đô la không thể nào biến mất được. Nó đáp ứng nhu cầu của một chế độ vào lúc xế chiều ai cũng muốn chuyển tiền đi!
BuiTin'sBlog- Chuyện Quê Hương:
(trên VOA-tiếng Việt)
Hai lão tướng chỉ ra hiểm họa Ngày cuối năm âm lịch, mở mạng Bauxite-info, bên những bông hoa mai vàng và lời chúc Tết đẹp là một bài viết rất "nóng" của 2 lão tướng ở trong nước.
Đó là trung tướng Đồng Sỹ Nguyên và thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh.
Bài viết được mạng Bauxite.info giới thiệu một cách trang trọng.
Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên vốn là phó tổng tham mưu trưởng, từ 1967 đến 1975 là Tư lệnh Binh đoàn Trường Sơn dọc đường "mòn" Hồ Chí Minh, là một binh đoàn tương đương 5 sư đoàn, ngang với 2 quân đoàn, có quân số 42 ngàn quân, gồm vận tải cơ giới, công binh, phòng không, thông tin, ra-đa, bộ binh, cao xạ, kho tàng, ống dẫn dầu, giao liên, thanh niên xung phong ... rải dài hơn 1 ngàn kilômét. Sau chiến tranh ông là phó thủ tướng kiêm bộ trưởng giao thông vận tải, là uỷ viên bộ chính trị trung ương đảng trước khi về hưu năm 1988.
Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh vốn là uỷ viên trung ương đảng, bí thư tỉnh uỷ Thanh hoá, là đại sứ VN tại Trung quốc suốt 15 năm, từ 1974 đến 1989 (trong cuộc chiến Trung-Việt) về hưu năm 1990.
Đặc điểm của 2 tướng này là uy tín lớn trong Quân đội nhân dân, có ảnh hưởng sâu rộng trong cựu chiến binh, tướng Đồng Sỹ Nguyên có 200 ngàn binh sỹ từng dưới quyền, vẫn còn quan hệ với nhau trong "hội " cựu binh Trường Sơn; tướng Nguyễn Trọng Vĩnh nổi tiếng về tính bộc trực ngay thẳng, hiện là phó chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt nam, có hàng triệu hội viên rải khắp nước.
Cần nói thêm 2 tướng này năm 2009 vừa qua đã lên tiếng mạnh mẽ phản đối, ngăn chặn chủ trương khai thác bôxít ở Tây Nguyên của bộ chính trị hiện tại, cũng cùng lên tiếng qua mạng Bauxite.info do nhà văn hoá Nguyễn Huệ Chi chủ trương, nay lại cùng chung bài viết đề ngày 22-1-2010, nhưng chỉ xuất hiện sáng ngày 12-2-2010 trên mạng Bauxite đang bị đánh phá dữ dội. Sự chậm trễ 20 ngày cho thấy bài báo đã bị các báo lớn nhất từ chối, tẩy chay do tệ độc quyền báo chí chà đạp Hiến pháp của bộ chính trị đương quyền.
Lại cũng cần thưa thêm với độc giả trong và ngoài nước rõ, 2 tướng Đồng Sỹ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh, từ năm 2004, cũng có lập trường chung tố cáo mạnh mẽ, công khai vụ án siêu nghiêm trọng Tổng Cục II và T4, vụ án đã được trung ương đảng khoá IX cử ra Ban Kiểm tra Liên ngành điều tra và kết luận, Ban này đã hoàn thành báo cáo, nhưng bộ chính trị do ông Mạnh cầm đầu đã ngang nhiên "khoanh lại" để ỉm đi một cách vô nguyên tắc, nhằm bảo vệ uy tín, che dấu trọng tội của 2 ông Lê Đức Anh và Đỗ Mười. 2 ông này đã được gần như toàn xã hội và đa số đảng viên nhận diện như là "bạn tốt" nhất, "đồng chí tốt" nhất của thế lực bành trướng Bắc Kinh.
Trong bài viết mới này, 2 ông tướng yêu nước, thương dân đã báo động khẩn cấp việc cấp uỷ đảng cùng chính quyền ở 10 tỉnh đã ký kết với 10 doanh nghiệp Trung quốc đóng tại Trung quốc, Hồng kông và Đài Loan, những thoả thuận cho phép họ thuê đất và rừng để kinh doanh trong một thời gian rất dài.
Danh sách các tỉnh đó là : Lạng sơn, Quảng ninh, Cao bằng, Nghệ an, Hà tĩnh, Quảng nam, Bình định, Kon tum và Bình dương.
Diện tích cho thuê tổng cộng là 264.000 hec-ta rừng phần lớn ở đầu nguồn, các tỉnh biên giới (theo báo cáo kín của bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn) .
Các thoả thuận đều có giá trị trong thời gian 50 năm, và sẽ kéo dài hơn sau đó.
Hai viên lão tướng chỉ rõ hiểm họa cực lớn cho đất nước, cho cuộc sống và an ninh của nước ta, cho nền quốc phòng của quốc gia. Tướng Đồng Sỹ Nguyên sinh năm 1923, nay 87 tuổi. Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh sinh năm 1916, 94 tuổi.
Hai viên tướng báo động : họ sẽ tha hồ chặt phá cây rừng từ đầu nguồn, hồ sẽ cạn nước, các nhà máy thuỷ điện sẽ chết, mội trường sẽ bị huỷ hoại.
Hai viên tướng kết luận : đây là một cuộc tự sát của quê hương đất nước.
2 tướng Đồng Sỹ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh đề nghị với đảng, nhà nước và nhân dân : - với những thỏa thuận đã lỡ (!) ký rồi, hãy thuyết phục các công ty nước ngoài khoán cho đồng bào ta ở tại chỗ khai thác đất rừng, đề phòng họ sẽ đưa lao động dân nước họ vào lập thành những làng Trung hoa, làng Hồng kông, làng Đại hàn trên đất nước ta .
- với những thoả thuận đang thương lượng thì đình ngay lại !
Cuối cùng 2 ông yêu cầu đảng và nhà nước thực hiện ngay và rộng khắp việc giao khoán đất rừng cho từng hộ đồng bào ta là dân địa phương tại chỗ.
Tiết lộ và ý kiến của 2 tướng Đồng Sỹ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh là hết sức khẩn cấp và nghiêm trọng.
Vì ông Đồng Sỹ Nguyên khi còn là Phó thủ tướng đã chịu trách nhiệm thực hiện Chương trình 327 của chính phủ là Chương trình Quốc gia Phủ xanh đồi trọc và Bảo vệ rừng.
Bài viết của 2 ông tướng này còn cực nóng vì phơi bày một loạt việc làm chui, khuất tất, ám muội, mang tính hại nước hại dân, có thể xếp vào tội phản quốc,
do chính quyền và đảng uỷ các tỉnh, huyện thực hiện thông đồng với các công ty của thế lực bành trướng với các khoản đút lót, hối lộ béo bở, được một số quan chức trong chính phủ, một số bộ trưởng lớn nhất, có thể trong cả bộ chính trị đỡ đầu, yểm trợ để kiếm phần siêu lợi khổng lồ. Họ sẽ thâm thù 2 ông tướng.
Anh Nguyễn Huệ Chi linh cảm rõ điều ấy. Anh nghĩ họ có thể bóp cho mạng của anh nghẹt thở hẳn do tin tày trời mang bí mật quốc gia cực kỳ nhạy cảm này. Anh thề sẽ hiến cho sự thật, cho nhân dân đến gịot máu cuối cùng của anh, để mạng bauxite ngang nhiên sống khỏe.
Chính vì vậy mà ngày cuối năm 30 Tết tôi cặm cụi gõ bài này và gửi lời chúc chân thành nhất đến nhóm Nguyễn Huệ Chi, Phạm Toàn, Nguyễn Thế Hùng cùng hơn 4.000 anh chị trí thức đã ký kiến nghị Bôxit, cũng như đông đảo bạn yêu nước, yêu tự do trong số gần 20 triệu độc giả quen thuộc của mạng này.
Bùi Tín
Paris đêm 30 Tết Canh Dần (13-2-2010)
(trên VOA-tiếng Việt)
Hai lão tướng chỉ ra hiểm họa Ngày cuối năm âm lịch, mở mạng Bauxite-info, bên những bông hoa mai vàng và lời chúc Tết đẹp là một bài viết rất "nóng" của 2 lão tướng ở trong nước.
Đó là trung tướng Đồng Sỹ Nguyên và thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh.
Bài viết được mạng Bauxite.info giới thiệu một cách trang trọng.
Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên vốn là phó tổng tham mưu trưởng, từ 1967 đến 1975 là Tư lệnh Binh đoàn Trường Sơn dọc đường "mòn" Hồ Chí Minh, là một binh đoàn tương đương 5 sư đoàn, ngang với 2 quân đoàn, có quân số 42 ngàn quân, gồm vận tải cơ giới, công binh, phòng không, thông tin, ra-đa, bộ binh, cao xạ, kho tàng, ống dẫn dầu, giao liên, thanh niên xung phong ... rải dài hơn 1 ngàn kilômét. Sau chiến tranh ông là phó thủ tướng kiêm bộ trưởng giao thông vận tải, là uỷ viên bộ chính trị trung ương đảng trước khi về hưu năm 1988.
Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh vốn là uỷ viên trung ương đảng, bí thư tỉnh uỷ Thanh hoá, là đại sứ VN tại Trung quốc suốt 15 năm, từ 1974 đến 1989 (trong cuộc chiến Trung-Việt) về hưu năm 1990.
Đặc điểm của 2 tướng này là uy tín lớn trong Quân đội nhân dân, có ảnh hưởng sâu rộng trong cựu chiến binh, tướng Đồng Sỹ Nguyên có 200 ngàn binh sỹ từng dưới quyền, vẫn còn quan hệ với nhau trong "hội " cựu binh Trường Sơn; tướng Nguyễn Trọng Vĩnh nổi tiếng về tính bộc trực ngay thẳng, hiện là phó chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt nam, có hàng triệu hội viên rải khắp nước.
Cần nói thêm 2 tướng này năm 2009 vừa qua đã lên tiếng mạnh mẽ phản đối, ngăn chặn chủ trương khai thác bôxít ở Tây Nguyên của bộ chính trị hiện tại, cũng cùng lên tiếng qua mạng Bauxite.info do nhà văn hoá Nguyễn Huệ Chi chủ trương, nay lại cùng chung bài viết đề ngày 22-1-2010, nhưng chỉ xuất hiện sáng ngày 12-2-2010 trên mạng Bauxite đang bị đánh phá dữ dội. Sự chậm trễ 20 ngày cho thấy bài báo đã bị các báo lớn nhất từ chối, tẩy chay do tệ độc quyền báo chí chà đạp Hiến pháp của bộ chính trị đương quyền.
Lại cũng cần thưa thêm với độc giả trong và ngoài nước rõ, 2 tướng Đồng Sỹ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh, từ năm 2004, cũng có lập trường chung tố cáo mạnh mẽ, công khai vụ án siêu nghiêm trọng Tổng Cục II và T4, vụ án đã được trung ương đảng khoá IX cử ra Ban Kiểm tra Liên ngành điều tra và kết luận, Ban này đã hoàn thành báo cáo, nhưng bộ chính trị do ông Mạnh cầm đầu đã ngang nhiên "khoanh lại" để ỉm đi một cách vô nguyên tắc, nhằm bảo vệ uy tín, che dấu trọng tội của 2 ông Lê Đức Anh và Đỗ Mười. 2 ông này đã được gần như toàn xã hội và đa số đảng viên nhận diện như là "bạn tốt" nhất, "đồng chí tốt" nhất của thế lực bành trướng Bắc Kinh.
Trong bài viết mới này, 2 ông tướng yêu nước, thương dân đã báo động khẩn cấp việc cấp uỷ đảng cùng chính quyền ở 10 tỉnh đã ký kết với 10 doanh nghiệp Trung quốc đóng tại Trung quốc, Hồng kông và Đài Loan, những thoả thuận cho phép họ thuê đất và rừng để kinh doanh trong một thời gian rất dài.
Danh sách các tỉnh đó là : Lạng sơn, Quảng ninh, Cao bằng, Nghệ an, Hà tĩnh, Quảng nam, Bình định, Kon tum và Bình dương.
Diện tích cho thuê tổng cộng là 264.000 hec-ta rừng phần lớn ở đầu nguồn, các tỉnh biên giới (theo báo cáo kín của bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn) .
Các thoả thuận đều có giá trị trong thời gian 50 năm, và sẽ kéo dài hơn sau đó.
Hai viên lão tướng chỉ rõ hiểm họa cực lớn cho đất nước, cho cuộc sống và an ninh của nước ta, cho nền quốc phòng của quốc gia. Tướng Đồng Sỹ Nguyên sinh năm 1923, nay 87 tuổi. Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh sinh năm 1916, 94 tuổi.
Hai viên tướng báo động : họ sẽ tha hồ chặt phá cây rừng từ đầu nguồn, hồ sẽ cạn nước, các nhà máy thuỷ điện sẽ chết, mội trường sẽ bị huỷ hoại.
Hai viên tướng kết luận : đây là một cuộc tự sát của quê hương đất nước.
2 tướng Đồng Sỹ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh đề nghị với đảng, nhà nước và nhân dân : - với những thỏa thuận đã lỡ (!) ký rồi, hãy thuyết phục các công ty nước ngoài khoán cho đồng bào ta ở tại chỗ khai thác đất rừng, đề phòng họ sẽ đưa lao động dân nước họ vào lập thành những làng Trung hoa, làng Hồng kông, làng Đại hàn trên đất nước ta .
- với những thoả thuận đang thương lượng thì đình ngay lại !
Cuối cùng 2 ông yêu cầu đảng và nhà nước thực hiện ngay và rộng khắp việc giao khoán đất rừng cho từng hộ đồng bào ta là dân địa phương tại chỗ.
Tiết lộ và ý kiến của 2 tướng Đồng Sỹ Nguyên và Nguyễn Trọng Vĩnh là hết sức khẩn cấp và nghiêm trọng.
Vì ông Đồng Sỹ Nguyên khi còn là Phó thủ tướng đã chịu trách nhiệm thực hiện Chương trình 327 của chính phủ là Chương trình Quốc gia Phủ xanh đồi trọc và Bảo vệ rừng.
Bài viết của 2 ông tướng này còn cực nóng vì phơi bày một loạt việc làm chui, khuất tất, ám muội, mang tính hại nước hại dân, có thể xếp vào tội phản quốc,
do chính quyền và đảng uỷ các tỉnh, huyện thực hiện thông đồng với các công ty của thế lực bành trướng với các khoản đút lót, hối lộ béo bở, được một số quan chức trong chính phủ, một số bộ trưởng lớn nhất, có thể trong cả bộ chính trị đỡ đầu, yểm trợ để kiếm phần siêu lợi khổng lồ. Họ sẽ thâm thù 2 ông tướng.
Anh Nguyễn Huệ Chi linh cảm rõ điều ấy. Anh nghĩ họ có thể bóp cho mạng của anh nghẹt thở hẳn do tin tày trời mang bí mật quốc gia cực kỳ nhạy cảm này. Anh thề sẽ hiến cho sự thật, cho nhân dân đến gịot máu cuối cùng của anh, để mạng bauxite ngang nhiên sống khỏe.
Chính vì vậy mà ngày cuối năm 30 Tết tôi cặm cụi gõ bài này và gửi lời chúc chân thành nhất đến nhóm Nguyễn Huệ Chi, Phạm Toàn, Nguyễn Thế Hùng cùng hơn 4.000 anh chị trí thức đã ký kiến nghị Bôxit, cũng như đông đảo bạn yêu nước, yêu tự do trong số gần 20 triệu độc giả quen thuộc của mạng này.
Bùi Tín
Paris đêm 30 Tết Canh Dần (13-2-2010)
Ngày Tết, Nhớ Cha Nguyễn Văn Lý,
Một Tù Nhân và Bệnh Nhân bất khuất !
"Nếu tôi không may mắn mà chết đi ở trong nhà tù thì xin các bác sĩ hãy mỗ lấy mắt của tôi, trái tim của tôi và hai quả thận của tôi để tặng cho những người nghèo"
Linh Mục Phan văn Lợi Cho biết:
-- Tôi xin được thông báo là Lm Nguyễn Văn Lý, tình hình sức khoẻ bây giờ tương đối thôi, vẫn còn phải chống gậy 4 chân.
Lần này thì bà Hiếu không phải vào phòng khách ở gần cổng trại (tù) nữa, mà được đi sâu vào trong, bởi vì Lm Lý không thể đi ra được.
-- Linh Mục Lý trước đây bị biệt giam, bây giờ người ta phải cho một người dân tộc Tày ở chung với ngài để giúp cho ngài. Nhưng mà Lm Nguyễn Văn Lý vẫn tỏ thái độ bất khuất là không nhận bất cứ loại thuốc nào của nhà tù cả. Chỉ dùng một số thuốc mà trong nhà gởi được ra, gởi cho ngài mà thôi.
-- Lm Nguyễn Văn Lý cho biết là cho tới bây giờ thì vẫn chưa có dấu hiệu gì là thiện chí của nhà cầm quyền cả. Người ta tưởng rằng nhà cầm quyền Việt Nam tỏ ra thiện chí bằng cách cho ngài về hôm 11 tháng 12, khi nguyễn minh triết họp với Đức Giáo Hoàng. Nhưng mà ngày đó, cộng sản đã bày ra cái trò là đưa ngài từ bệnh viện về lại nhà tù.
-- Lm Nguyễn Văn Lý đang ở trong nhà tù với thái độ bất khuất như vậy. Và chúng tôi cũng biết rằng, Lm Nguyễn Văn Lý kể lại với bà Hiếu, ngài đã dự bị rằng nếu mà phải chết ở trong nhà tù, đây là trường hợp ngài phòng sẵn, thì ngài làm một di chúc cho các bác sĩ ở trong nhà tù biết rằng nếu ngài chết trong nhà tù thì ngài xin hiến tặng cho người nghèo: thứ nhất là đôi mắt của ngài, thứ hai là trái tim, và thứ ba là hai quả thận.
-- Ngài nói rằng nếu tôi không may mắn mà chết đi ở trong nhà tù thì xin các bác sĩ hãy mỗ lấy mắt của tôi, trái tim của tôi và hai quả thận của tôi để tặng cho những người nghèo đang cần.
-- Đây là một ý nghĩ rất là cao thượng, và linh mục Lý đã dự phòng trước như vậy. Dĩ nhiên chúng ta không mong điều đó sẽ tới, nhưng mà qua ý tưởng đó, chúng ta đã thấy một tâm hồn hết sức là vĩ đại, và một trái tim có lòng nhân ái, bên cạnh ý chí bất khuất! Chúng ta hãy tiếp tục cầu nguyện cho Lm Nguyễn Văn Lý cuả chúng ta
-- Giờ đây, trong bầu khí của ngày Tết Nguyên đán, chúng tôi cũng xin thay mặt cho nhóm Linh Mục Nguyễn Kim Điền, mạn phép thay mặt Khối 8406 chúc mừng Tết cho tất cả mọi anh chị em, tất cả quý vị và quý bạn trên các Diễn Đàn. Xin chúc cho tất cả mộ một Năm Mới đầy may mắn, nhất là đầy nhiệt huyết, để chúng ta cùng nhau kết hợp để mà giải phóng Quê Hương Đất Nước khỏi cái nạn ngoại xâm và nội thù càng ngày càng bủa vây, dày xéo Đất Nước chúng ta.
Một Tù Nhân và Bệnh Nhân bất khuất !
"Nếu tôi không may mắn mà chết đi ở trong nhà tù thì xin các bác sĩ hãy mỗ lấy mắt của tôi, trái tim của tôi và hai quả thận của tôi để tặng cho những người nghèo"
Linh Mục Phan văn Lợi Cho biết:
-- Tôi xin được thông báo là Lm Nguyễn Văn Lý, tình hình sức khoẻ bây giờ tương đối thôi, vẫn còn phải chống gậy 4 chân.
Lần này thì bà Hiếu không phải vào phòng khách ở gần cổng trại (tù) nữa, mà được đi sâu vào trong, bởi vì Lm Lý không thể đi ra được.
-- Linh Mục Lý trước đây bị biệt giam, bây giờ người ta phải cho một người dân tộc Tày ở chung với ngài để giúp cho ngài. Nhưng mà Lm Nguyễn Văn Lý vẫn tỏ thái độ bất khuất là không nhận bất cứ loại thuốc nào của nhà tù cả. Chỉ dùng một số thuốc mà trong nhà gởi được ra, gởi cho ngài mà thôi.
-- Lm Nguyễn Văn Lý cho biết là cho tới bây giờ thì vẫn chưa có dấu hiệu gì là thiện chí của nhà cầm quyền cả. Người ta tưởng rằng nhà cầm quyền Việt Nam tỏ ra thiện chí bằng cách cho ngài về hôm 11 tháng 12, khi nguyễn minh triết họp với Đức Giáo Hoàng. Nhưng mà ngày đó, cộng sản đã bày ra cái trò là đưa ngài từ bệnh viện về lại nhà tù.
-- Lm Nguyễn Văn Lý đang ở trong nhà tù với thái độ bất khuất như vậy. Và chúng tôi cũng biết rằng, Lm Nguyễn Văn Lý kể lại với bà Hiếu, ngài đã dự bị rằng nếu mà phải chết ở trong nhà tù, đây là trường hợp ngài phòng sẵn, thì ngài làm một di chúc cho các bác sĩ ở trong nhà tù biết rằng nếu ngài chết trong nhà tù thì ngài xin hiến tặng cho người nghèo: thứ nhất là đôi mắt của ngài, thứ hai là trái tim, và thứ ba là hai quả thận.
-- Ngài nói rằng nếu tôi không may mắn mà chết đi ở trong nhà tù thì xin các bác sĩ hãy mỗ lấy mắt của tôi, trái tim của tôi và hai quả thận của tôi để tặng cho những người nghèo đang cần.
-- Đây là một ý nghĩ rất là cao thượng, và linh mục Lý đã dự phòng trước như vậy. Dĩ nhiên chúng ta không mong điều đó sẽ tới, nhưng mà qua ý tưởng đó, chúng ta đã thấy một tâm hồn hết sức là vĩ đại, và một trái tim có lòng nhân ái, bên cạnh ý chí bất khuất! Chúng ta hãy tiếp tục cầu nguyện cho Lm Nguyễn Văn Lý cuả chúng ta
-- Giờ đây, trong bầu khí của ngày Tết Nguyên đán, chúng tôi cũng xin thay mặt cho nhóm Linh Mục Nguyễn Kim Điền, mạn phép thay mặt Khối 8406 chúc mừng Tết cho tất cả mọi anh chị em, tất cả quý vị và quý bạn trên các Diễn Đàn. Xin chúc cho tất cả mộ một Năm Mới đầy may mắn, nhất là đầy nhiệt huyết, để chúng ta cùng nhau kết hợp để mà giải phóng Quê Hương Đất Nước khỏi cái nạn ngoại xâm và nội thù càng ngày càng bủa vây, dày xéo Đất Nước chúng ta.
Phật hay Chúa cũng phải đăng ký
Tuesday, February 16, 2010
Ngô Nhân Dụng
Người ngoại quốc coi bản hiến pháp nước Mỹ có thể ngạc nhiên khi đọc Tu chính án số một. Tu chính án này viết, “Quốc Hội không được phép soạn một đạo luật nào để thiết lập một tôn giáo (chính thức) hoặc ngăn cấm việc hành đạo của tôn giáo; hay ngăn cấm quyền tự do ngôn luận, hay tự do báo chí; hoặc cản trở tự do ngôn luận hoặc tự do báo chí; hay quyền của các công dân được hội họp một cách ôn hòa, và quyền khiếu nại chính phủ để giải quyết những bất công.”
Tại sao các nhà lập pháp Mỹ lại phải soạn thêm tu chính án này (cùng 9 điều khác), gửi cho 13 tiểu bang để xin phê chuẩn?
Hiến Pháp Mỹ giống như một bản hợp đồng hơn là một tuyên ngôn chính trị. Các nhà lập hiến Mỹ chỉ chú trọng tới các phương thức hợp tác, giống như khi làm ăn chung, cho nên họ viết rành rõ về việc phân chia quyền hành và trách nhiệm giữa các ngành lập pháp, hành pháp, tư pháp, và giữa các tiểu bang với nhau. Sau khi bản Hiếp Pháp được 9 trong số 13 tiểu bang chấp thuận, năm 1788, chắc hẳn các đại biểu Quốc Hội bắt đầu lo lắng. Lo là trong tương lai có người nắm quyền lại vi phạm các quyền căn bản của các công dân; họ có thể dùng luật pháp, theo đúng hình thức dân chủ mà tước đoạt tự do của nhiều người. Như chúng ta biết, vào thế kỷ 20, chính quyền Ðức Quốc Xã được bầu lên theo đúng thể thức dân chủ, nhưng vẫn đưa ra những luật lệ tước đọa tự do của rất nhiều người!
Một mối lo của những nhà lập quốc Mỹ là nếu những người chiếm đa số trong dân chúng và nhiều phiếu trong Quốc Hội làm ra những luật lệ giảm bớt hay tước bỏ quyền tự do của những người thiểu số. Thí dụ, nếu các đại biểu của đa số dân theo một tôn giáo làm luật không cho phép các người theo đạo khác thực hành tín ngưỡng của họ thì sao? Quốc gia cần phải bảo đảm cho công dân một số quyền tự do căn bản, không ai được xâm phạm! Và phải ghi vào hiến pháp những điều bảo đảm đó mới được.
Cho nên các nhà lập pháp Mỹ, ngay từ khóa họp Quốc Hội đầu tiên, đã soạn thêm 10 tu chính án, cấm các Quốc Hội sau này không được vi phạm một số quyền căn bản của các công dân, gọi chung 10 tu chính án đó là Luật Dân Quyền (The Bill of Rights).
Ra tuyên ngôn nói rằng mọi công dân có quyền tự do tôn giáo, tốt lắm nhưng không đủ. Phải ghi rõ trong Hiến Pháp là Quốc Hội không được phép thiết lập một quốc giáo, cũng như không được làm ra luật lệ nào có thể làm cho người dân không sử dụng được quyền tự do tôn giáo của họ.
Lo xa như vậy rất có lý. Chỉ cần nhìn vào sinh hoạt tín ngưỡng ở nước Việt Nam ta cũng thấy. Tuy trong Hiến Pháp ghi đủ thứ thứ quyền tự do tôn giáo, tự do ngôn luận, vân vân, đảng Cộng Sản và tay sai của họ là nhà nước và Quốc Hội đã làm ra những luật lệ khiến cho người dân không thể thi hành được các quyền tự do hiến định của họ. Nếu Việt Nam có một điều ghi trong hiến pháp giống như Tu chính án số một của Mỹ thì người mình sẽ không đến nỗi bị cấm đoán, trong nhiều trường hợp đã bị mất, không được thi hành những quyền tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận!
Hôm nay hãy lấy một ví dụ về tự do tín ngưỡng. Theo một bản tin của đài Á Châu Tự Do, bảy ngày trước Tết Canh Dần 2010, một buổi tối, chính quyền cộng sản trong tỉnh Cần Thơ đã tổ chức khám xét nhà riêng của một tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo, phá hủy nơi thờ phượng của một người tu tập tại gia. Họ đã lấy mất nhiều máy móc sao chép kinh kệ của ông Ðặng Văn Nghĩa ở phường Phước Thới, quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ, tịch thâu những bức chân dung Huỳnh Giáo Chủ và những tấm vải điều mà các tín đồ Phật giáo Hòa Hảo thường trưng trên bàn thờ thay cho hình tượng.
Phóng viên đài Á Châu Tự Do đã phỏng vấn một người chỉ huy công an quận Ô Môn, ông này cho biết chính quyền cộng sản có những hành động đó vì ông Ðặng Văn Nghĩa và các đồng đạo của ông đã thờ Phật “tự phát” ở trong nhà mà không “đăng ký” với Ban Trị Sự Giáo Hội mà nhà nước cộng sản công nhận.
Viên công an cộng sản nói, “Bây giờ ảnh muốn tu thì ảnh phải tuân thủ theo pháp luật. Bây giờ (công an sẽ) hướng dẫn cho ảnh làm thủ tục để hợp thức hóa chuyện tu hành của gia đình ảnh.”
Ðây chính là một hiện tượng có thể cũng diễn ra ở nước Mỹ nếu không có Tu chính án số một. Một chính quyền Mỹ trong hai thế kỷ vừa qua có thể cũng chế tạo ra những thủ tục, luật lệ với mục đích hạn chế và ngăn cản quyền tự do tôn giáo của những người dân không “vừa ý” họ. Tại nước Mỹ vào thời lập quốc cũng có nhiều “ông đạo” tự mình đi giảng Kinh Thánh, quy tụ các tín hữu, đặt ra các giới luật, sáng lập ra các nhà thờ mới. Có những vị đã lập ra các giáo hội còn tồn tại đến ngày nay. Nếu ở nước Mỹ thời đó có một chính quyền nằm trong tay những đại biểu Quốc Hội cùng một một giáo hội lớn, họ có thể nghĩ rằng nên ngăn cấm các “ông đạo tự phát” đó, hoàn toàn vì thiện chí! Họ nêu lý do cần bảo vệ đạo đức, bảo đảm việc học hỏi Kinh Thánh theo đúng quy củ của các giáo hội đã có từ trước. Có thể người ta sẽ làm ra những luật lệ để ngăn cấm các hoạt động tôn giáo “không chính thống”! Nhưng nhờ có Tu chính án số một nên nước Mỹ không rơi vào cảnh đó. Không người Mỹ nào đi truyền giảng Kinh Thánh, hay bất cứ một tôn giáo nào khác, mà phải xin phép các ông ba công an cả!
Ở nước ta, chính quyền đã huy động cả một lực lượng đông đảo đi cản trở ông Ðặng Văn Nghĩa ở quận Ô Môn, không cho ông và các đồng đạo tu hành theo lời dạy của Ðức Thầy. Lực luợng này gồm công an khu vực, công an phường, công an quận và công an thành phố, ngoài ra còn Nội vụ quận, Sở Nội Vụ của thành phố, rồi Y Tế của quận, Y tế của thành phố và cả đại diện Ban Tôn Giáo Chính Phủ nữa! Muốn cho “có ấn tượng,” công an không thèm chờ chủ nhà mở cửa mà phá cửa, bẻ khóa, xông vào nhà giống như Tây đi bắt rượu lậu vậy! Họ bắt buộc ông Nghĩa phải ngưng sinh hoạt tự do, phải xin đăng ký với một Ban Trị Sự, mà ban trị sự đó cũng đã phải đăng ký với nhà nước, được nhà nước công nhận rồi thì mới được tu. Nếu không thì không ai được theo Phật, không ai được theo Thầy cả!
Ông công an lên lớp nhà báo Á Châu Tự Do rằng, “anh vào coi trên trang web của chính phủ Việt Nam, có đăng tải công khai trên Internet đó. Bây giờ tất cả có hết trơn trên đó rồi, Pháp lệnh về Tôn giáo, Nghị định hướng dẫn để thực hiện về tôn giáo tại Việt Nam. Trên đó có hết.”
Ông công an này làm như việc tu hành cũng giống như việc lái xe, cứ vào trong trang web của chính phủ là biết hết luật! Nhưng nếu tất cả những thứ luật lệ đó lại trái ngược với việc thi hành quyền tự do tín ngưỡng thì sao?
Chưa bao giờ ở nước Việt Nam lại có cảnh muốn thờ phượng thì phải vào “hệ thống được đăng ký” như vậy. Nếu thời các vua quan phong kiến ở Ấn Ðộ và La Mã mà chính quyền cũng làm như chế độ cộng sản bây giờ, thì chắc trong lịch sử không có Phật giáo hay Thiên Chúa giáo, mà ở nước ta cũng không có Phật Giáo Hòa Hảo. Ðức Phật Thích Ca, cũng như Chúa Giê Su, đều là những người hành đạo “tự phát” ở ngoài dòng chính và “không đăng ký” cả. Ðức Phật Thầy Tây An ở nước ta vào thế kỷ 19, và Ðức Thầy Huỳnh Giáo Chủ vào thế kỷ 20, vì muốn cho Phật Giáo nhập thế đi sát với thực trạng xã hội Việt Nam vào thời đại của các ngài, đều xướng xuất những cách tu học mới mẻ “không được đăng ký!” Nếu các quan chức Pháp thời thuộc địa cũng kìm kẹp nhân dân Việt Nam như các quan cộng sản bây giờ thì chính Huỳnh Giáo Chủ cũng không được phép giảng đạo! Và chúng ta không được thấy hàng triệu người Việt Nam trong ba bốn thế hệ biết sống trong nền nếp đức hạnh, nhờ các lời giảng dạy của Ðức Thầy!
Ðài Á Châu Tự Do đã tường thuật cuộc phỏng vấn ông Ðặng Văn Nghĩa với một câu hỏi đặt làm tựa đề: “Giữ đức hạnh nên trở thành bất hợp pháp?”
Sau khi xông vào nhà, họ bảo là điều tra dân số, kiểm tra hộ khẩu. Kiểm xong, chính quyền bảo chúng tôi phải dắt đi từng phòng để kiểm tra tiếp. Tôi nói rằng người đã kiểm tra hết rồi, không còn sót người nào nữa nhưng chính quyền một mực bảo chúng tôi phải dắt đi từng phòng.
Tôi mới nói mấy anh mượn cớ điều tra dân số để rồi mấy anh lục xét nhà tôi, mà nếu mấy anh lục xét nhà thì phải có quyết định. Mấy ảnh nói bây giờ làm trước quyết định sau.
Sau khi kiểm soát các phòng thì họ thấy trong phòng chúng tôi ở hàng ngày, nơi chúng tôi thường băng, dĩa, để tài liệu tu học, họ lấy hết băng dĩa và những dụng cụ làm băng dĩa của chúng tôi.
Chính quyền kêu chúng tôi phải ghi nhận để chính quyền chở về cơ quan thì chúng tôi không ghi. Lúc bấy giờ số lượng nhân viên chính quyền quá đông, tụi tôi mới xúm nhau, mười mấy anh em chúng tôi gom lại niệm Phật. Xong xuôi thì chính quyền chở đồ đi hết.
Trân Văn: Rồi họ có tạm giam, tạm giữ ai không?
Ông Ðặng Văn Nghĩa: Dạ có giữ anh Nguyễn Văn Mẫn. Anh này là Việt kiều Mỹ, bởi vì anh về chỗ chúng tôi để phát quà. Phát hiện anh là một Việt kiều cho nên họ tạm giữ và sáng hôm sau, sau khi làm việc xong xuôi thì họ thả ra.
Trân Văn: Thưa anh, những người tổ chức và tham gia cuộc khám xét đó làm việc tại đâu?
Ông Ðặng Văn Nghĩa: Theo những gì tôi thấy thì có khoảng 70 người vào nhà tôi làm việc. Còn đứng ở ngoài hàng rào thì rất đông.
Trong các đồ đạc mà họ lấy thì có 3 máy sang dĩa, 2 máy DVD, 1 cái laptop để tôi học và 2 cái computer, 2 cái máy in. Trên dưới khoảng 10.000 đĩa. Trong đó có những đĩa đã sao chép và đĩa trắng.
Có mấy điều làm chúng tôi rất bức xúc là những khung trần điều của Ðức Huỳnh Giáo Chủ, làm ra để cho tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo thờ. Chúng tôi vừa làm xong 93 bức thì Công an thành phố Cần Thơ chở đi luôn. 40 bức chân dung Ðức Huỳnh Giáo Chủ cũng bị chở đi luôn. Tôi có hỏi rằng mấy anh làm như vậy có quá đáng hay không, chỗ này là chỗ chúng tôi tu học mà mấy anh lấy đồ như thế này? Mấy anh làm thinh và mấy anh làm tới. Vì vậy mà tôi cũng mười mấy anh em đồng đạo mới xúm nhau ngồi niệm Phật. Tự tu học để giữ đức hạnh
Trân Văn: Tôi có nói chuyện với một số viên chức chính quyền, họ bảo rằng, họ làm tất cả những điều đó là bởi vì các anh không đăng ký. Là một người tập tu, anh nghĩ thế nào về chuyện muốn tu phải đăng ký?
Ông Ðặng Văn Nghĩa: Nói về đường lối của Ðức Huỳnh Giáo Chủ thì là tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo phải giữ 8 điều răn cấm.
Mấy anh bảo tôi là phải vô trong Ban Trị Sự. Tôi không vô Ban Trị Sự thì mấy anh cho rằng, tôi là một tín đồ “lậu,” bởi vì Ban Trị Sự không chứng nhận tôi là tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo.
Tôi có nói rằng, dù Ban Trị Sự không chứng nhận tôi là tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo thì tôi cũng vẫn là tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo. Vả lại trong giấy chứng minh nhân dân của chúng tôi, chính quyền đã công nhận tôi là tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo.
Tôi tu là tu theo giáo lý của Ðức Thầy. Tụi tôi không đăng ký với Ban Trị Sự.
Trân Văn: Hồi nãy anh có nhắc đến chuyện giữ 8 điều răn của Ðức Huỳnh Giáo Chủ. Trong 8 điều răn đó có cấm chuyện tham gia vào những tổ chức như Ban Trị Sự? Có điều nào cấm chuyện đó không?
Ông Ðặng Văn Nghĩa: Thưa không. Chỉ cấm uống rượu, cờ bạc, á phiện, chơi bời đàng điếm thôi.
Trân Văn: Vậy tại sao vừa rồi anh đề cập về chuyện để giữ 8 điều răn đó thì anh không tham gia nhóm được chính quyền công nhận? Nhóm được chính quyền công nhận có vướng vào những điều cấm đó không? Họ có làm sai những điều đã bị nghiêm cấm không?
Ông Ðặng Văn Nghĩa: Dạ. Người nào lãnh đạo tôn giáo thì phải giữ 8 điều răn cấm nhưng ở đây thì đối với đức hạnh... Sở dĩ mà tôi không theo Ban Trị Sự là vì có những điểm tôi không phục.
Trân Văn: Song tổ chức đó khác với anh ở chỗ là họ được nhà nước công nhận...
Ông Ðặng Văn Nghĩa: Dạ... Tôi không theo Ban Trị Sự là vì họ chưa giữ tròn 8 điều răn cấm của Ðức Huỳnh Giáo Chủ.
(Copyright © 1998-2010 Radio Free Asia. All righ)
Như đã trình bày nhiều lần trong mục này, tôn giáo chỉ có tự do khi xã hội được tự do. Khi những người nắm quyền ngăn cấm các quyền tự do căn bản, thì bất cứ người theo tôn giáo nào cũng có thể bị ngăn cấm hoặc bị cản trở không được thi hành đạo lý mà họ thờ phượng. Những chuyện xảy ra ở Tam Tòa, Ðồng Chiêm, Thái Hà, ở Tu viện Bát Nhã, hay ở Quận Ô Môn, đều bắt nguồn từ những lý do giống nhau. Ðó là: Các công dân Việt Nam chưa có tự do hội họp, không có tự do cư trú, không được tự do phát biểu. Chính vì thế cho nên họ lúc nào cũng có thể bị cản trở và bị ngăn cấm trong việc thờ phượng theo tôn giáo của họ. Cứ sử dụng các luật lệ về đăng ký, về hộ khẩu của cộng sản thì có thể Phật cũng bị cấm, Chúa cũng bị cấm!
Chính phủ Gorges W. Bush cũng như chính phủ Barack Obama đều chưa nhìn rõ vào các lý do căn bản đó, cho nên vẫn coi là quyền tự do tôn giáo ở Việt Nam có tiến triển tốt trong mấy năm qua. Phải biết rằng nếu người dân trên căn bản không có tự do, thì tôn giáo không thể tự do! Hãy đặt câu hỏi cho các đại biểu Quốc Hội Mỹ: Nếu nước Mỹ không có Tu chính án số một, thì người Mỹ có tự do hay không? Nếu một chính quyền Mỹ làm ra các luật lệ cản trở việc hành đạo của một tôn giáo nhỏ nào đó, thì quý vị có chấp nhận hay không?
RFI Theo hãng tin AFP, nạn thiếu lương thực tại Bắc Triều Tiên dường như rất nghiêm trọng. Nhiều cuộc họp khẩn cấp đã được nhà cầm quyền tổ chức tìm cách đối phó. Bình Nhưỡng thừa nhận có 2,000 người chết đói trong mùa Ðông trong lúc thu hoạch lúa gạo giảm sút theo thẩm định của Bộ Thống nhất Hàn Quốc thì trong năm 2009, sản xuất lúa gạo tại miền Bắc, chỉ được 4,1 triệu tấn, kém hơn năm 2008 đến 200 ngàn tấn. Ðiều này cho thấy Bắc Triều Tiên thiếu đến 1,3 triệu tấn gạo nếu muốn nuôi sống toàn thể 22 triệu dân.
Hôm nay, hiệp hội Good Friends, một tổ chức thiện nguyện Thiên Chúa Giáo có tiếp xúc với Bình Nhưỡng cho biết thêm một cơ quan của đảng Cộng Sản Bắc Triều Tiên thừa nhận có 2.000 người chết đói đã được ghi nhận. Con số thật không biết là bao nhiêu nhưng tình hình khá nghiêm trọng vì giới chức lãnh đạo miền Bắc đã có hai cuộc họp khẩn cấp hồi cuối tháng 1 và đầu tháng 2.
Tuần trước, hãng Asia News trích lời một viên chức Hàn Quốc cho biết, lãnh đạo Bình Nhưỡng đã thừa nhận đất nước bị khủng hoảng lương thực do chính sách sai lầm. Thủ Tướng Kim Yong Il đã lên tiếng “xin lỗi” làm cho đời sống người dân khó khăn thêm qua chính sách đổi tiền hồi cuối tháng 11 năm ngoái. Thủ Tướng Kim Yong Il hứa là sẽ cung cấp thực phẩm đầy đủ cho dân.
Trong bối cảnh này lạm phát, thiếu lương thực và nạn chết đói đã xảy ra, chính quyền miền Bắc vẫn tổ chức trọng thể sinh nhật 68 tuổi cho lãnh đạo số 1 Kim Jong Il và kêu gọi dân chúng tham gia lễ hội. Tuy nhiên lời lẽ của chế độ không còn kiêu ngạo, khiêu khích như trước kia. Qua tuyên bố của nhân vật số hai của chế độ, Kim Yong Nam, Bình Nhưỡng kêu gọi chấm dứt chính sách thù nghịch với Hoa Kỳ và thay thế bằng đối thoại.
Tuesday, February 16, 2010
Ngô Nhân Dụng
Người ngoại quốc coi bản hiến pháp nước Mỹ có thể ngạc nhiên khi đọc Tu chính án số một. Tu chính án này viết, “Quốc Hội không được phép soạn một đạo luật nào để thiết lập một tôn giáo (chính thức) hoặc ngăn cấm việc hành đạo của tôn giáo; hay ngăn cấm quyền tự do ngôn luận, hay tự do báo chí; hoặc cản trở tự do ngôn luận hoặc tự do báo chí; hay quyền của các công dân được hội họp một cách ôn hòa, và quyền khiếu nại chính phủ để giải quyết những bất công.”
Tại sao các nhà lập pháp Mỹ lại phải soạn thêm tu chính án này (cùng 9 điều khác), gửi cho 13 tiểu bang để xin phê chuẩn?
Hiến Pháp Mỹ giống như một bản hợp đồng hơn là một tuyên ngôn chính trị. Các nhà lập hiến Mỹ chỉ chú trọng tới các phương thức hợp tác, giống như khi làm ăn chung, cho nên họ viết rành rõ về việc phân chia quyền hành và trách nhiệm giữa các ngành lập pháp, hành pháp, tư pháp, và giữa các tiểu bang với nhau. Sau khi bản Hiếp Pháp được 9 trong số 13 tiểu bang chấp thuận, năm 1788, chắc hẳn các đại biểu Quốc Hội bắt đầu lo lắng. Lo là trong tương lai có người nắm quyền lại vi phạm các quyền căn bản của các công dân; họ có thể dùng luật pháp, theo đúng hình thức dân chủ mà tước đoạt tự do của nhiều người. Như chúng ta biết, vào thế kỷ 20, chính quyền Ðức Quốc Xã được bầu lên theo đúng thể thức dân chủ, nhưng vẫn đưa ra những luật lệ tước đọa tự do của rất nhiều người!
Một mối lo của những nhà lập quốc Mỹ là nếu những người chiếm đa số trong dân chúng và nhiều phiếu trong Quốc Hội làm ra những luật lệ giảm bớt hay tước bỏ quyền tự do của những người thiểu số. Thí dụ, nếu các đại biểu của đa số dân theo một tôn giáo làm luật không cho phép các người theo đạo khác thực hành tín ngưỡng của họ thì sao? Quốc gia cần phải bảo đảm cho công dân một số quyền tự do căn bản, không ai được xâm phạm! Và phải ghi vào hiến pháp những điều bảo đảm đó mới được.
Cho nên các nhà lập pháp Mỹ, ngay từ khóa họp Quốc Hội đầu tiên, đã soạn thêm 10 tu chính án, cấm các Quốc Hội sau này không được vi phạm một số quyền căn bản của các công dân, gọi chung 10 tu chính án đó là Luật Dân Quyền (The Bill of Rights).
Ra tuyên ngôn nói rằng mọi công dân có quyền tự do tôn giáo, tốt lắm nhưng không đủ. Phải ghi rõ trong Hiến Pháp là Quốc Hội không được phép thiết lập một quốc giáo, cũng như không được làm ra luật lệ nào có thể làm cho người dân không sử dụng được quyền tự do tôn giáo của họ.
Lo xa như vậy rất có lý. Chỉ cần nhìn vào sinh hoạt tín ngưỡng ở nước Việt Nam ta cũng thấy. Tuy trong Hiến Pháp ghi đủ thứ thứ quyền tự do tôn giáo, tự do ngôn luận, vân vân, đảng Cộng Sản và tay sai của họ là nhà nước và Quốc Hội đã làm ra những luật lệ khiến cho người dân không thể thi hành được các quyền tự do hiến định của họ. Nếu Việt Nam có một điều ghi trong hiến pháp giống như Tu chính án số một của Mỹ thì người mình sẽ không đến nỗi bị cấm đoán, trong nhiều trường hợp đã bị mất, không được thi hành những quyền tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận!
Hôm nay hãy lấy một ví dụ về tự do tín ngưỡng. Theo một bản tin của đài Á Châu Tự Do, bảy ngày trước Tết Canh Dần 2010, một buổi tối, chính quyền cộng sản trong tỉnh Cần Thơ đã tổ chức khám xét nhà riêng của một tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo, phá hủy nơi thờ phượng của một người tu tập tại gia. Họ đã lấy mất nhiều máy móc sao chép kinh kệ của ông Ðặng Văn Nghĩa ở phường Phước Thới, quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ, tịch thâu những bức chân dung Huỳnh Giáo Chủ và những tấm vải điều mà các tín đồ Phật giáo Hòa Hảo thường trưng trên bàn thờ thay cho hình tượng.
Phóng viên đài Á Châu Tự Do đã phỏng vấn một người chỉ huy công an quận Ô Môn, ông này cho biết chính quyền cộng sản có những hành động đó vì ông Ðặng Văn Nghĩa và các đồng đạo của ông đã thờ Phật “tự phát” ở trong nhà mà không “đăng ký” với Ban Trị Sự Giáo Hội mà nhà nước cộng sản công nhận.
Viên công an cộng sản nói, “Bây giờ ảnh muốn tu thì ảnh phải tuân thủ theo pháp luật. Bây giờ (công an sẽ) hướng dẫn cho ảnh làm thủ tục để hợp thức hóa chuyện tu hành của gia đình ảnh.”
Ðây chính là một hiện tượng có thể cũng diễn ra ở nước Mỹ nếu không có Tu chính án số một. Một chính quyền Mỹ trong hai thế kỷ vừa qua có thể cũng chế tạo ra những thủ tục, luật lệ với mục đích hạn chế và ngăn cản quyền tự do tôn giáo của những người dân không “vừa ý” họ. Tại nước Mỹ vào thời lập quốc cũng có nhiều “ông đạo” tự mình đi giảng Kinh Thánh, quy tụ các tín hữu, đặt ra các giới luật, sáng lập ra các nhà thờ mới. Có những vị đã lập ra các giáo hội còn tồn tại đến ngày nay. Nếu ở nước Mỹ thời đó có một chính quyền nằm trong tay những đại biểu Quốc Hội cùng một một giáo hội lớn, họ có thể nghĩ rằng nên ngăn cấm các “ông đạo tự phát” đó, hoàn toàn vì thiện chí! Họ nêu lý do cần bảo vệ đạo đức, bảo đảm việc học hỏi Kinh Thánh theo đúng quy củ của các giáo hội đã có từ trước. Có thể người ta sẽ làm ra những luật lệ để ngăn cấm các hoạt động tôn giáo “không chính thống”! Nhưng nhờ có Tu chính án số một nên nước Mỹ không rơi vào cảnh đó. Không người Mỹ nào đi truyền giảng Kinh Thánh, hay bất cứ một tôn giáo nào khác, mà phải xin phép các ông ba công an cả!
Ở nước ta, chính quyền đã huy động cả một lực lượng đông đảo đi cản trở ông Ðặng Văn Nghĩa ở quận Ô Môn, không cho ông và các đồng đạo tu hành theo lời dạy của Ðức Thầy. Lực luợng này gồm công an khu vực, công an phường, công an quận và công an thành phố, ngoài ra còn Nội vụ quận, Sở Nội Vụ của thành phố, rồi Y Tế của quận, Y tế của thành phố và cả đại diện Ban Tôn Giáo Chính Phủ nữa! Muốn cho “có ấn tượng,” công an không thèm chờ chủ nhà mở cửa mà phá cửa, bẻ khóa, xông vào nhà giống như Tây đi bắt rượu lậu vậy! Họ bắt buộc ông Nghĩa phải ngưng sinh hoạt tự do, phải xin đăng ký với một Ban Trị Sự, mà ban trị sự đó cũng đã phải đăng ký với nhà nước, được nhà nước công nhận rồi thì mới được tu. Nếu không thì không ai được theo Phật, không ai được theo Thầy cả!
Ông công an lên lớp nhà báo Á Châu Tự Do rằng, “anh vào coi trên trang web của chính phủ Việt Nam, có đăng tải công khai trên Internet đó. Bây giờ tất cả có hết trơn trên đó rồi, Pháp lệnh về Tôn giáo, Nghị định hướng dẫn để thực hiện về tôn giáo tại Việt Nam. Trên đó có hết.”
Ông công an này làm như việc tu hành cũng giống như việc lái xe, cứ vào trong trang web của chính phủ là biết hết luật! Nhưng nếu tất cả những thứ luật lệ đó lại trái ngược với việc thi hành quyền tự do tín ngưỡng thì sao?
Chưa bao giờ ở nước Việt Nam lại có cảnh muốn thờ phượng thì phải vào “hệ thống được đăng ký” như vậy. Nếu thời các vua quan phong kiến ở Ấn Ðộ và La Mã mà chính quyền cũng làm như chế độ cộng sản bây giờ, thì chắc trong lịch sử không có Phật giáo hay Thiên Chúa giáo, mà ở nước ta cũng không có Phật Giáo Hòa Hảo. Ðức Phật Thích Ca, cũng như Chúa Giê Su, đều là những người hành đạo “tự phát” ở ngoài dòng chính và “không đăng ký” cả. Ðức Phật Thầy Tây An ở nước ta vào thế kỷ 19, và Ðức Thầy Huỳnh Giáo Chủ vào thế kỷ 20, vì muốn cho Phật Giáo nhập thế đi sát với thực trạng xã hội Việt Nam vào thời đại của các ngài, đều xướng xuất những cách tu học mới mẻ “không được đăng ký!” Nếu các quan chức Pháp thời thuộc địa cũng kìm kẹp nhân dân Việt Nam như các quan cộng sản bây giờ thì chính Huỳnh Giáo Chủ cũng không được phép giảng đạo! Và chúng ta không được thấy hàng triệu người Việt Nam trong ba bốn thế hệ biết sống trong nền nếp đức hạnh, nhờ các lời giảng dạy của Ðức Thầy!
Ðài Á Châu Tự Do đã tường thuật cuộc phỏng vấn ông Ðặng Văn Nghĩa với một câu hỏi đặt làm tựa đề: “Giữ đức hạnh nên trở thành bất hợp pháp?”
Sau khi xông vào nhà, họ bảo là điều tra dân số, kiểm tra hộ khẩu. Kiểm xong, chính quyền bảo chúng tôi phải dắt đi từng phòng để kiểm tra tiếp. Tôi nói rằng người đã kiểm tra hết rồi, không còn sót người nào nữa nhưng chính quyền một mực bảo chúng tôi phải dắt đi từng phòng.
Tôi mới nói mấy anh mượn cớ điều tra dân số để rồi mấy anh lục xét nhà tôi, mà nếu mấy anh lục xét nhà thì phải có quyết định. Mấy ảnh nói bây giờ làm trước quyết định sau.
Sau khi kiểm soát các phòng thì họ thấy trong phòng chúng tôi ở hàng ngày, nơi chúng tôi thường băng, dĩa, để tài liệu tu học, họ lấy hết băng dĩa và những dụng cụ làm băng dĩa của chúng tôi.
Chính quyền kêu chúng tôi phải ghi nhận để chính quyền chở về cơ quan thì chúng tôi không ghi. Lúc bấy giờ số lượng nhân viên chính quyền quá đông, tụi tôi mới xúm nhau, mười mấy anh em chúng tôi gom lại niệm Phật. Xong xuôi thì chính quyền chở đồ đi hết.
Trân Văn: Rồi họ có tạm giam, tạm giữ ai không?
Ông Ðặng Văn Nghĩa: Dạ có giữ anh Nguyễn Văn Mẫn. Anh này là Việt kiều Mỹ, bởi vì anh về chỗ chúng tôi để phát quà. Phát hiện anh là một Việt kiều cho nên họ tạm giữ và sáng hôm sau, sau khi làm việc xong xuôi thì họ thả ra.
Trân Văn: Thưa anh, những người tổ chức và tham gia cuộc khám xét đó làm việc tại đâu?
Ông Ðặng Văn Nghĩa: Theo những gì tôi thấy thì có khoảng 70 người vào nhà tôi làm việc. Còn đứng ở ngoài hàng rào thì rất đông.
Trong các đồ đạc mà họ lấy thì có 3 máy sang dĩa, 2 máy DVD, 1 cái laptop để tôi học và 2 cái computer, 2 cái máy in. Trên dưới khoảng 10.000 đĩa. Trong đó có những đĩa đã sao chép và đĩa trắng.
Có mấy điều làm chúng tôi rất bức xúc là những khung trần điều của Ðức Huỳnh Giáo Chủ, làm ra để cho tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo thờ. Chúng tôi vừa làm xong 93 bức thì Công an thành phố Cần Thơ chở đi luôn. 40 bức chân dung Ðức Huỳnh Giáo Chủ cũng bị chở đi luôn. Tôi có hỏi rằng mấy anh làm như vậy có quá đáng hay không, chỗ này là chỗ chúng tôi tu học mà mấy anh lấy đồ như thế này? Mấy anh làm thinh và mấy anh làm tới. Vì vậy mà tôi cũng mười mấy anh em đồng đạo mới xúm nhau ngồi niệm Phật. Tự tu học để giữ đức hạnh
Trân Văn: Tôi có nói chuyện với một số viên chức chính quyền, họ bảo rằng, họ làm tất cả những điều đó là bởi vì các anh không đăng ký. Là một người tập tu, anh nghĩ thế nào về chuyện muốn tu phải đăng ký?
Ông Ðặng Văn Nghĩa: Nói về đường lối của Ðức Huỳnh Giáo Chủ thì là tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo phải giữ 8 điều răn cấm.
Mấy anh bảo tôi là phải vô trong Ban Trị Sự. Tôi không vô Ban Trị Sự thì mấy anh cho rằng, tôi là một tín đồ “lậu,” bởi vì Ban Trị Sự không chứng nhận tôi là tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo.
Tôi có nói rằng, dù Ban Trị Sự không chứng nhận tôi là tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo thì tôi cũng vẫn là tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo. Vả lại trong giấy chứng minh nhân dân của chúng tôi, chính quyền đã công nhận tôi là tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo.
Tôi tu là tu theo giáo lý của Ðức Thầy. Tụi tôi không đăng ký với Ban Trị Sự.
Trân Văn: Hồi nãy anh có nhắc đến chuyện giữ 8 điều răn của Ðức Huỳnh Giáo Chủ. Trong 8 điều răn đó có cấm chuyện tham gia vào những tổ chức như Ban Trị Sự? Có điều nào cấm chuyện đó không?
Ông Ðặng Văn Nghĩa: Thưa không. Chỉ cấm uống rượu, cờ bạc, á phiện, chơi bời đàng điếm thôi.
Trân Văn: Vậy tại sao vừa rồi anh đề cập về chuyện để giữ 8 điều răn đó thì anh không tham gia nhóm được chính quyền công nhận? Nhóm được chính quyền công nhận có vướng vào những điều cấm đó không? Họ có làm sai những điều đã bị nghiêm cấm không?
Ông Ðặng Văn Nghĩa: Dạ. Người nào lãnh đạo tôn giáo thì phải giữ 8 điều răn cấm nhưng ở đây thì đối với đức hạnh... Sở dĩ mà tôi không theo Ban Trị Sự là vì có những điểm tôi không phục.
Trân Văn: Song tổ chức đó khác với anh ở chỗ là họ được nhà nước công nhận...
Ông Ðặng Văn Nghĩa: Dạ... Tôi không theo Ban Trị Sự là vì họ chưa giữ tròn 8 điều răn cấm của Ðức Huỳnh Giáo Chủ.
(Copyright © 1998-2010 Radio Free Asia. All righ)
Như đã trình bày nhiều lần trong mục này, tôn giáo chỉ có tự do khi xã hội được tự do. Khi những người nắm quyền ngăn cấm các quyền tự do căn bản, thì bất cứ người theo tôn giáo nào cũng có thể bị ngăn cấm hoặc bị cản trở không được thi hành đạo lý mà họ thờ phượng. Những chuyện xảy ra ở Tam Tòa, Ðồng Chiêm, Thái Hà, ở Tu viện Bát Nhã, hay ở Quận Ô Môn, đều bắt nguồn từ những lý do giống nhau. Ðó là: Các công dân Việt Nam chưa có tự do hội họp, không có tự do cư trú, không được tự do phát biểu. Chính vì thế cho nên họ lúc nào cũng có thể bị cản trở và bị ngăn cấm trong việc thờ phượng theo tôn giáo của họ. Cứ sử dụng các luật lệ về đăng ký, về hộ khẩu của cộng sản thì có thể Phật cũng bị cấm, Chúa cũng bị cấm!
Chính phủ Gorges W. Bush cũng như chính phủ Barack Obama đều chưa nhìn rõ vào các lý do căn bản đó, cho nên vẫn coi là quyền tự do tôn giáo ở Việt Nam có tiến triển tốt trong mấy năm qua. Phải biết rằng nếu người dân trên căn bản không có tự do, thì tôn giáo không thể tự do! Hãy đặt câu hỏi cho các đại biểu Quốc Hội Mỹ: Nếu nước Mỹ không có Tu chính án số một, thì người Mỹ có tự do hay không? Nếu một chính quyền Mỹ làm ra các luật lệ cản trở việc hành đạo của một tôn giáo nhỏ nào đó, thì quý vị có chấp nhận hay không?
RFI Theo hãng tin AFP, nạn thiếu lương thực tại Bắc Triều Tiên dường như rất nghiêm trọng. Nhiều cuộc họp khẩn cấp đã được nhà cầm quyền tổ chức tìm cách đối phó. Bình Nhưỡng thừa nhận có 2,000 người chết đói trong mùa Ðông trong lúc thu hoạch lúa gạo giảm sút theo thẩm định của Bộ Thống nhất Hàn Quốc thì trong năm 2009, sản xuất lúa gạo tại miền Bắc, chỉ được 4,1 triệu tấn, kém hơn năm 2008 đến 200 ngàn tấn. Ðiều này cho thấy Bắc Triều Tiên thiếu đến 1,3 triệu tấn gạo nếu muốn nuôi sống toàn thể 22 triệu dân.
Hôm nay, hiệp hội Good Friends, một tổ chức thiện nguyện Thiên Chúa Giáo có tiếp xúc với Bình Nhưỡng cho biết thêm một cơ quan của đảng Cộng Sản Bắc Triều Tiên thừa nhận có 2.000 người chết đói đã được ghi nhận. Con số thật không biết là bao nhiêu nhưng tình hình khá nghiêm trọng vì giới chức lãnh đạo miền Bắc đã có hai cuộc họp khẩn cấp hồi cuối tháng 1 và đầu tháng 2.
Tuần trước, hãng Asia News trích lời một viên chức Hàn Quốc cho biết, lãnh đạo Bình Nhưỡng đã thừa nhận đất nước bị khủng hoảng lương thực do chính sách sai lầm. Thủ Tướng Kim Yong Il đã lên tiếng “xin lỗi” làm cho đời sống người dân khó khăn thêm qua chính sách đổi tiền hồi cuối tháng 11 năm ngoái. Thủ Tướng Kim Yong Il hứa là sẽ cung cấp thực phẩm đầy đủ cho dân.
Trong bối cảnh này lạm phát, thiếu lương thực và nạn chết đói đã xảy ra, chính quyền miền Bắc vẫn tổ chức trọng thể sinh nhật 68 tuổi cho lãnh đạo số 1 Kim Jong Il và kêu gọi dân chúng tham gia lễ hội. Tuy nhiên lời lẽ của chế độ không còn kiêu ngạo, khiêu khích như trước kia. Qua tuyên bố của nhân vật số hai của chế độ, Kim Yong Nam, Bình Nhưỡng kêu gọi chấm dứt chính sách thù nghịch với Hoa Kỳ và thay thế bằng đối thoại.

Cuộc Bắc Thuộc Bắt Đầu !
Người Việt Nam hãy cùng đoàn kết đứng lên cứu Nước Kính chuyển tiếp đến toàn thể Quý Vị.
Hãy cùng lắng nghe nội dung bài hát trong link: ở dưới đây:
"Việt Nam Trung Hoa,
núi liền núi, sông liền sông,
chung một biển đông
mối tình hữu nghị sáng như rạng đông.
Đêm sông nối cùng một giòng,
tôi nhìn sang đấy, anh nhìn sang đây,
chúng ta sống chung nghe tiếng gà gáy cùng.
Chung một ý, chung một lòng,
đường ta đi hồng màu cờ thắng lợị
Nhân dân ta ca muôn năm ****, Mao Trạch Đông"
và xin Quý Vị hãy phổ biến rộng rãi đến toàn Dân Việt trên toàn thế giới; ở Hải Ngoại cũng như Quốc Nội.
Nước Việt Nam ta sắp mất vào tay bọn bá quyền Trung Quốc thật rồi. Đồng Bào ơi ! Hãy cùng nhau đoàn kết đứng lên cứu Nước!
Thân ái kính chào đoàn kết chống Trung Quốc xâm lăng Việt Nam.
Joseph Duy-Tâm 18-02-2010
ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
CÒN NỢ ĐẤT NƯỚC MỘT LỜI XIN LỖI
Trích Nguyễn Hưng Quốc Đảng Cộng sản đã vấp phải vô số sai lầm. Nhiều sai lầm đã trở thành tội ác.
Trước hết là tội giết chết hàng chục ngàn người và đày đoạ hàng trăm ngàn người khác một cách thảm khốc và oan ức trong vụ cải cách ruộng đất trong nửa đầu thập niên 1950. Sau đó, tội trấn áp văn nghệ và trí thức trong vụ Nhân Văn Giai Phẩm trong nửa sau thập niên 1950. Rồi tội tước đoạt tài sản của dân chúng miền Nam trong cái gọi là chiến dịch đánh tư sản mại bản; tội bắt bớ cả hàng trăm ngàn cựu quân nhân và công chức miền Nam đày vào các trại học tập cải tạo có khi kéo dài cả chục năm; tội ban bố các chính sách bao cấp độc đoán làm kiệt quệ nền kinh tế vốn đã què quặt sau chiến tranh. Cuối cùng, như là hậu quả của tất cả các tội ác vừa kể, đảng Cộng sản đã đẩy hàng triệu người phải bỏ nước ra đi, trong đó, có cả hàng trăm ngàn người phải bỏ xác trên đường vượt biển.
Sự khốn cùng và lạc hậu kéo dài của đất nước sau 1975 là tội của đảng lãnh đạo. Thảm cảnh vượt biên của dân chúng cũng là tội của đảng lãnh đạo.
Cần nói ngay, đó không phải là một luận điệu của những người chống cộng. Chính đảng Cộng sản cũng ít nhiều thừa nhận những sai lầm đã thành tội ác của họ. Thừa nhận, nên mới tiến hành hết đợt sửa sai này đến đợt sửa sai khác. Sớm nhất là sửa sai sau cuộc cải cách ruộng đất với việc Trường Chinh bị mất chức Tổng bí thư, Hoàng Quốc Việt và Lê Văn Lương bị loại khỏi Bộ chính trị và Hồ Viết Thắng bị loại khỏi Ban chấp hành Trung ương đảng.
Thừa nhận, nên họ mới tung ra chính sách đổi mới từ giữa thập niên 1980, qua đó, công nhận quyền tư hữu và kinh tế tư nhân. Thừa nhận, nên họ mới phục hồi hộ tịch, sau đó, trao giải thưởng cho một số cây bút thuộc nhóm Nhân Văn Giai Phẩm như Trần Dần, Hoàng Cầm và Lê Đạt. Thừa nhận, nên gần đây, họ hay nói đến vấn đề hoà giải này nọ với cộng đồng người Việt Nam lưu vong.
Nhưng họ chỉ thừa nhận một cách mặc nhiên, chung chung, như lỗi của một ai khác. Ai khác đó là ai? Nói theo chữ của Phạm Thị Hoài, trong bài “Về tư cách của trí thức Việt Nam”, đó là “thằng khách quan” và “thằng lịch sử”.
Nhưng cái gọi là “thằng khách quan” và “thằng lịch sử” ấy chỉ là một lối nói nguỵ biện nhằm trốn tránh trách nhiệm. Những sai lầm và tội ác ấy xuất phát từ chính sách mà chính sách là do con người, do những người đứng đầu đảng và chính phủ đưa ra chứ không phải từ “thằng khách quan” hay “thằng lịch sử” nào cả. Những điều kiện khách quan của lịch sử chỉ có thể tạo nên những hạn chế làm giảm tính hiệu quả của các chính sách đúng đắn nhưng không thể là nguyên nhân của những chính sách sai lầm gây tai hoạ cho cả dân tộc hay cho một bộ phận quần chúng đông đảo.
Đảng Cộng sản và chính phủ Việt Nam không thể chạy trốn trách nhiệm bằng cách đổ lỗi cho một cái gì khác. Cũng không thể chạy trốn trách nhiệm bằng cách lẳng lặng sửa sai bằng những biện pháp chắp vá dối giá nửa vời.
Những sai lầm và tội ác công khai tác động đến sinh mệnh của cả hàng triệu người, thậm chí, của cả dân tộc, không thể chuộc bằng sự tảng lờ hay lấp liếm.
Đảng Cộng sản và chính phủ Việt Nam thỉnh thoảng hay lên tiếng kêu gọi gạt bỏ những hận thù trong quá khứ để hoà hợp và hoà giải. Nhưng một sự hoà hợp, hoà giải thực sự chỉ có thể được tiến hành khi những người gây tội ác phải nhìn nhận và công khai xin lỗi về những tội ác của mình.
Đó là việc làm bình thường của các chính phủ văn minh trên thế giới.
Nhớ, vào ngày 13 tháng 2, 2008, Thủ tướng Úc Kevin Rudd đã công khai xin lỗi các thổ dân Úc về những chính sách sai lầm của Úc trong quá khứ, trong đó, quan trọng nhất là, để tiến hành chính sách đồng hoá người thổ dân, chính phủ Úc, cách đây cả một thế kỷ, cách ly trẻ em thổ dân khỏi gia đình bằng cách bắt các em ở riêng hoặc làm con nuôi của các gia đình người da trắng. Biện pháp đồng hoá thô bạo ấy đã làm tan nát tâm hồn bao nhiêu ông bố, bà mẹ và trẻ em. Nó trở thành một vết nhơ trong lương tâm nhiều người Úc. Sau này, để chuộc lại lỗi lầm ấy, các chính phủ Úc đã tăng cường các nguồn trợ cấp xã hội dành cho người thổ dân, giúp họ được học hành, giúp họ kiếm công ăn việc làm và xây dựng nhà cửa, v.v…
Nhưng, chưa đủ.
Đại đa số người thổ dân vẫn thấy chưa đủ: Họ cảm thấy chính phủ còn nợ họ một lời xin lỗi công khai. Đại đa số người dân Úc bình thường, không phải thổ dân, cũng cảm thấy không đủ: Họ cảm thấy họ còn nợ các nạn nhân một lời xin lỗi chính thức.
Hiểu được điều đó, chính phủ Lao Động, dưới sự lãnh đạo của Thủ tướng Úc, đã nhân danh quốc gia, đứng ra xin lỗi người thổ dân một cách long trọng tại nhà Quốc Hội Úc ở Canberra. Nghe lời xin lỗi ấy, nhiều người, thổ dân và không phải thổ dân, ràn rụa nước mắt vì mừng. Với thổ dân, nỗi đau nhiều thế hệ của họ được khuây khoả; với người da trắng, sự xấu hổ âm thầm được lắng dịu.
Ai cũng thấy một lời xin lỗi chính thức và công khai như vậy là ý nghĩa. Nó không phải là một sự yếu đuối. Nó là sức mạnh của một thế hệ dám nhận lãnh trách nhiệm về những sai lầm trong quá khứ. Dù là những sai lầm do cha anh họ gây ra. Và ở một thời nào xa lắc.
Đảng Cộng sản và chính phủ Việt Nam cũng nên có một hành động can đảm và sáng suốt như vậy nếu họ thực sự thành tâm muốn xây dựng một đất nước thống nhất và vững mạnh.
Trích Nguyễn Hưng Quốc
CÒN NỢ ĐẤT NƯỚC MỘT LỜI XIN LỖI
Trích Nguyễn Hưng Quốc Đảng Cộng sản đã vấp phải vô số sai lầm. Nhiều sai lầm đã trở thành tội ác.
Trước hết là tội giết chết hàng chục ngàn người và đày đoạ hàng trăm ngàn người khác một cách thảm khốc và oan ức trong vụ cải cách ruộng đất trong nửa đầu thập niên 1950. Sau đó, tội trấn áp văn nghệ và trí thức trong vụ Nhân Văn Giai Phẩm trong nửa sau thập niên 1950. Rồi tội tước đoạt tài sản của dân chúng miền Nam trong cái gọi là chiến dịch đánh tư sản mại bản; tội bắt bớ cả hàng trăm ngàn cựu quân nhân và công chức miền Nam đày vào các trại học tập cải tạo có khi kéo dài cả chục năm; tội ban bố các chính sách bao cấp độc đoán làm kiệt quệ nền kinh tế vốn đã què quặt sau chiến tranh. Cuối cùng, như là hậu quả của tất cả các tội ác vừa kể, đảng Cộng sản đã đẩy hàng triệu người phải bỏ nước ra đi, trong đó, có cả hàng trăm ngàn người phải bỏ xác trên đường vượt biển.
Sự khốn cùng và lạc hậu kéo dài của đất nước sau 1975 là tội của đảng lãnh đạo. Thảm cảnh vượt biên của dân chúng cũng là tội của đảng lãnh đạo.
Cần nói ngay, đó không phải là một luận điệu của những người chống cộng. Chính đảng Cộng sản cũng ít nhiều thừa nhận những sai lầm đã thành tội ác của họ. Thừa nhận, nên mới tiến hành hết đợt sửa sai này đến đợt sửa sai khác. Sớm nhất là sửa sai sau cuộc cải cách ruộng đất với việc Trường Chinh bị mất chức Tổng bí thư, Hoàng Quốc Việt và Lê Văn Lương bị loại khỏi Bộ chính trị và Hồ Viết Thắng bị loại khỏi Ban chấp hành Trung ương đảng.
Thừa nhận, nên họ mới tung ra chính sách đổi mới từ giữa thập niên 1980, qua đó, công nhận quyền tư hữu và kinh tế tư nhân. Thừa nhận, nên họ mới phục hồi hộ tịch, sau đó, trao giải thưởng cho một số cây bút thuộc nhóm Nhân Văn Giai Phẩm như Trần Dần, Hoàng Cầm và Lê Đạt. Thừa nhận, nên gần đây, họ hay nói đến vấn đề hoà giải này nọ với cộng đồng người Việt Nam lưu vong.
Nhưng họ chỉ thừa nhận một cách mặc nhiên, chung chung, như lỗi của một ai khác. Ai khác đó là ai? Nói theo chữ của Phạm Thị Hoài, trong bài “Về tư cách của trí thức Việt Nam”, đó là “thằng khách quan” và “thằng lịch sử”.
Nhưng cái gọi là “thằng khách quan” và “thằng lịch sử” ấy chỉ là một lối nói nguỵ biện nhằm trốn tránh trách nhiệm. Những sai lầm và tội ác ấy xuất phát từ chính sách mà chính sách là do con người, do những người đứng đầu đảng và chính phủ đưa ra chứ không phải từ “thằng khách quan” hay “thằng lịch sử” nào cả. Những điều kiện khách quan của lịch sử chỉ có thể tạo nên những hạn chế làm giảm tính hiệu quả của các chính sách đúng đắn nhưng không thể là nguyên nhân của những chính sách sai lầm gây tai hoạ cho cả dân tộc hay cho một bộ phận quần chúng đông đảo.
Đảng Cộng sản và chính phủ Việt Nam không thể chạy trốn trách nhiệm bằng cách đổ lỗi cho một cái gì khác. Cũng không thể chạy trốn trách nhiệm bằng cách lẳng lặng sửa sai bằng những biện pháp chắp vá dối giá nửa vời.
Những sai lầm và tội ác công khai tác động đến sinh mệnh của cả hàng triệu người, thậm chí, của cả dân tộc, không thể chuộc bằng sự tảng lờ hay lấp liếm.
Đảng Cộng sản và chính phủ Việt Nam thỉnh thoảng hay lên tiếng kêu gọi gạt bỏ những hận thù trong quá khứ để hoà hợp và hoà giải. Nhưng một sự hoà hợp, hoà giải thực sự chỉ có thể được tiến hành khi những người gây tội ác phải nhìn nhận và công khai xin lỗi về những tội ác của mình.
Đó là việc làm bình thường của các chính phủ văn minh trên thế giới.
Nhớ, vào ngày 13 tháng 2, 2008, Thủ tướng Úc Kevin Rudd đã công khai xin lỗi các thổ dân Úc về những chính sách sai lầm của Úc trong quá khứ, trong đó, quan trọng nhất là, để tiến hành chính sách đồng hoá người thổ dân, chính phủ Úc, cách đây cả một thế kỷ, cách ly trẻ em thổ dân khỏi gia đình bằng cách bắt các em ở riêng hoặc làm con nuôi của các gia đình người da trắng. Biện pháp đồng hoá thô bạo ấy đã làm tan nát tâm hồn bao nhiêu ông bố, bà mẹ và trẻ em. Nó trở thành một vết nhơ trong lương tâm nhiều người Úc. Sau này, để chuộc lại lỗi lầm ấy, các chính phủ Úc đã tăng cường các nguồn trợ cấp xã hội dành cho người thổ dân, giúp họ được học hành, giúp họ kiếm công ăn việc làm và xây dựng nhà cửa, v.v…
Nhưng, chưa đủ.
Đại đa số người thổ dân vẫn thấy chưa đủ: Họ cảm thấy chính phủ còn nợ họ một lời xin lỗi công khai. Đại đa số người dân Úc bình thường, không phải thổ dân, cũng cảm thấy không đủ: Họ cảm thấy họ còn nợ các nạn nhân một lời xin lỗi chính thức.
Hiểu được điều đó, chính phủ Lao Động, dưới sự lãnh đạo của Thủ tướng Úc, đã nhân danh quốc gia, đứng ra xin lỗi người thổ dân một cách long trọng tại nhà Quốc Hội Úc ở Canberra. Nghe lời xin lỗi ấy, nhiều người, thổ dân và không phải thổ dân, ràn rụa nước mắt vì mừng. Với thổ dân, nỗi đau nhiều thế hệ của họ được khuây khoả; với người da trắng, sự xấu hổ âm thầm được lắng dịu.
Ai cũng thấy một lời xin lỗi chính thức và công khai như vậy là ý nghĩa. Nó không phải là một sự yếu đuối. Nó là sức mạnh của một thế hệ dám nhận lãnh trách nhiệm về những sai lầm trong quá khứ. Dù là những sai lầm do cha anh họ gây ra. Và ở một thời nào xa lắc.
Đảng Cộng sản và chính phủ Việt Nam cũng nên có một hành động can đảm và sáng suốt như vậy nếu họ thực sự thành tâm muốn xây dựng một đất nước thống nhất và vững mạnh.
Trích Nguyễn Hưng Quốc
Mỹ có sợ Trung Quốc không?
Ngô Nhân Dụng
Tuần trước, chính phủ Bắc Kinh đã lên tiếng yêu cầu Tổng Tống Barack Obama bãi bỏ cuộc gặp gỡ với Ðức Ðạt Lai Lạt Ma. Chính phủ Mỹ tiết lộ ông Obama đã báo trước cho ông Hồ Cẩm Ðào, chủ tịch Trung Quốc biết là sẽ tiếp đón vị lãnh đạo tinh thần của dân tộc Tây Tạng. Cả bà Ngoại Trưởng Hillary Clinton cũng sẽ gặp Ðức Ðạt Lai Lạt Ma.
Thế nào Bắc Kinh cũng phải bày tỏ thái độ bằng một lời nói hay hành động để phản kháng. Giống như tháng trước khi cả thế giới nghe tin Mỹ sắp bán một số vũ khí mới cho Ðài Loan trị giá 6.4 tỷ Mỹ kim, Bắc Kinh đã cực lực lên án và dọa sẽ “trừng phạt” các công ty Mỹ bán máy bay hoặc tầu ngầm cho Ðài Bắc. Nhưng liệu các công ty hàng không Trung Quốc có ngưng không dùng máy bay Boeing nữa hay không? Không chắc lời đe dọa này sẽ thành hiện thực.
Tất cả các ông tổng thống Mỹ từ hai chục năm nay, ông nào cũng tiếp Ðức Ðạt Lai Lạt Ma ít nhất một lần tại Toà Bạch Ốc. Và lần nào Bắc Kinh cũng tỏ ý bất bình. Không còn ai ngạc nhiên nữa. Trung Quốc đối xử với Mỹ có vẻ “nhân nhượng” hơn đối với các nước khác. Năm 2008, họ tỏ ý phẫn nộ bỏ không tham dự một cuộc họp thượng đỉnh với các nước trong Liên Hiệp Âu Châu vì Tổng Thống Pháp Nicolas Sarkozy tiếp kiến Ðức Ðạt Lai Lạt Ma. Ðối với Mỹ, phản ứng của Bắc Kinh mềm mỏng hơn nhiều. Năm 2007, họ đã không cho phép chíến hạm USS Kitty Hawk cập bến Hồng Kông sau khi Tổng Thống George W. Bush gặp Ðức Ðạt Lai Lạt Ma. Sau đó, họ lại cho phép, nhưng chiếc tàu Mỹ đã đi mất rồi. Năm nay, trong lúc hai nhà lãnh đạo Mỹ và Tây Tạng gặp nhau, mẫu hạm USS Nimitz và 4 chiến hạm khác của Mỹ đang đậu ở bến tàu Hương Cảng, và 5,000 thủy thủ được phép lên bờ tiêu xài thỏa thích.
Nếu phản ứng của Bắc Kinh có vẻ mềm mỏng hơn, điều đó cũng dễ hiểu. Trung Quốc không muốn gây sự trong lúc này. Họ đang lo chính phủ Obama sẽ đòi hỏi Bắc Kinh phải nhượng bộ thêm trên lãnh vực hối suất và luật lệ nhập cảng, nhưng đòi hỏi mà lâu lâu các chính phủ Mỹ lại nêu ra để làm món hàng mặc cả. Vì hiện nay chính quyền Washington đang bị áp lực của giới kinh doanh Mỹ trong các vấn đề hối suất và luật lệ này. Mà ông tổng thống cũng như đảng Dân Chủ trong Quốc Hội có thể chiều theo ý giới kinh doanh, đồng thời dùng món võ ngoại giao “Chống Trung Quốc” để hấp dẫn cử tri trong mùa bầu cử năm nay, trong lúc người dân bắt đầu chán không thấy những chương trình quốc nội của họ hấp dẫn nữa!
Hai nước Mỹ và Trung Quốc đang gắn bó keo sơn về kinh tế, nhưng nói rằng vì thế mà Mỹ sợ Trung Quốc thì sai! Hai bên lúc nào cũng vừa bắt tay buôn bán, vừa to tiếng cãi nhau. Gần đây, chính quyền Obama đã lên tiếng than phiền, một lần nữa, là chính phủ Bắc Kinh cố ép giá đồng nhân dân tệ quá thấp so với Mỹ kim, để hàng Trung Quốc dễ bán sang Mỹ và dễ cạnh tranh với hàng Mỹ trong thị trường thế giới. Hậu quả là nhiều công nhân Mỹ sẽ mất việc làm chỉ vì đồng tiền Trung Quốc được định giá quá thấp! Trong lúc tỷ lệ thất nghiệp ở Mỹ lên tới 10%, đây là một lý luận rất mạnh, không phải chỉ là một lời đe dọa suông.
Gần đây, các công ty đa quốc của Mỹ đã than phiền về hối suất của đồng Nguyên, tiền Trung Quốc, và về những luật lệ hạn chế nhập cảng. Các công ty này tố cáo một khuynh hướng “bảo hộ mậu dịch” đang lan rộng trong guồng máy chính quyền Trung Quốc khiến họ làm khó dễ hàng nhập cảng. Trong Tháng Giêng năm nay, 19 tổ chức kinh tế Mỹ, trong đó có Phòng Thương Mại Toàn Quốc và Hội Các Nhà Sản Xuất đã gửi thư cho chính phủ Obama tố cáo những biện pháp của chính phủ Trung Quốc gây hậu quả “ngăn chặn nhiều mặt hàng xuất cảng của Mỹ vào một thị trường tối quan trọng cho việc phát triển tương lai và tạo công việc làm ở trong nước Mỹ.” Lá thư yêu cầu chính phủ Mỹ phải đặt ưu tiên giải quyết vấn đề này. Sau khi nhận lá thư đó, các viên chức chính phủ Mỹ đã gặp gỡ các viên chức Trung Quốc để chính thức nêu lên các vấn đề trên, một điều mà trước đây các giới ngoại giao không làm. Chính phủ Bắc Kinh không thể coi đó là những lời đe dọa suông, trong khi họ vẫn đang cần xuất cảng nhiều hơn!
Năm ngoái, sau khi chính phủ Obama tăng thuế trên các bánh xe hơi nhập cảng từ Tầu, Bắc Kinh đã trả đũa đánh thuế thêm trên thịt gà nhập cảng từ Mỹ. Cuộc chiến mậu dịch không phát ra nhờ cả hai bên tự kiềm chế. Nhưng trong một năm bầu cử, chính phủ Mỹ có thể sẽ cứng rắn hơn. Các nhà chính trị rất dễ ngả sang các chính sách mị dân bằng cách hô khẩu hiệu chống nước ngoài, mà hiện nay ở Mỹ thì Bắc Kinh có rất nhiều người ghét và ít thấy ai bênh vực.
Một mối lo của người Mỹ là cán cân thương mại nghiêng về phía Bắc Kinh, trong năm 2009 Mỹ thâm thủng 227 tỷ đô la. Con số đó tuy nhỏ hơn năm trước, nhưng chỉ vì kinh tế Mỹ suy thoái chứ không phải vì Bắc Kinh đã can thiệp. Nếu đồng tiền Trung Quốc tăng giá, như các chính phủ Mỹ vẫn đòi hỏi, thì người Mỹ sẽ bớt mua hàng Trung Quốc và ngược lại sẽ bán được sang Trung Quốc nhiều hơn! Hiện nay, giá một đồng Nguyên so với đô la Mỹ có thể tăng thêm 20% đến 25% thì mới quân bình. Trong những tháng sắp tới, chính quyền Washington sẽ còn nêu lên vấn đề này nhiều lần để tạo thêm áp lực mới.
Trung Quốc có một món võ để đối phó với Mỹ, là sử dụng vai trò chủ nợ của họ. Ai cũng biết hiện nay Trung Quốc là chủ nợ lớn nhất của chính phủ Mỹ, qua mặt Nhật Bản. Với gần 800 tỷ đô la cho chính phủ Mỹ vay bằng cách mua công trái, họ có thể ngưng cho vay va đem bán các trái khoán của chính phủ Mỹ để tạo áp lực. Nhưng điều này nói thì dễ còn làm rất khó.
Những món tiền Trung Quốc cho chính phủ Mỹ vay chính là tiền họ thu được nhờ xuất cảng hàng hóa sang Mỹ với giá rẻ. Từ 10 năm nay, số tiền Bắc Kinh cho Washington vay đã tăng gấp 10 lần, từ gần 72 tỷ vào năm 2000 lên tới 755 tỷ trong Tháng Mười Hai năm 2009. Vào Tháng Năm, Thủ Tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo đã công khai tỏ ý lo ngại rằng các trái phiếu công của Mỹ đang mất giá trị vì đồng đô la xuống giá. Tiếp theo, ông chủ tịch Ngân Hàng Nhân Dân ở Bắc Kinh lại đề nghị dùng một thứ tiền mới thay thế đồng đô la Mỹ trong quỹ dự trữ ngoại tệ các nước, để thế giới bớt lệ thuộc vào đồng tiền của một quốc gia, nếu quốc gia đó lâm khủng hoảng thì tất cả đều bị thiệt thòi.
Những lời tuyên bố trên đều có tác dụng tạo áp lực trên chính phủ Mỹ. Nhưng trong thực tế, các lời nói và hành động của chính phủ Trung Quốc không đem lại kết quả mà họ mong muốn.
Không thấy cường quốc kinh tế nào lên tiếng ủng hộ việc hạ bệ đồng đô la Mỹ trong giao dịch thế giới. Các nước Âu Châu không thiết tha dùng đồng Euro, nhất là trong lúc chính đồng tiền này đang bị đe dọa với nguy cơ phá sản của Hy Lạp, một quốc gia trong khối dùng Euro. Trung Quốc cũng không muốn đồng Yen của Nhật Bản đóng vai trò cao hơn. Còn đồng tiền tượng trưng SDR của Quỹ Tiền tệ Quốc tế, chỉ là một đơn vị kế toán trong sổ sách chứ không ai muốn đem dùng như tiền thật.
Tóm lại, những lời đe dọa của Bắc Kinh về việc hạ bệ đồng đô la Mỹ không tạo được hậu quả nào đáng kể. Bắc Kinh đã hành động. Ngân Hàng Trung Ương Trung Quốc đã bắt đầu giảm bớt số trái phiếu chính phủ Mỹ mà họ đang giữ, bằng cách bán bớt hoặc không mua trái phiếu mới khi các giấy nợ cũ đáo hạn. Người ta có thể đoán rằng khi một chủ nợ quan trọng như Trung Quốc ngưng cho vay thì các chủ nợ khác cũng sẽ rút để đòi lãi suất cao hơn, nhưng sự thật lại không.
Số tiền chính phủ Mỹ nợ Ngân hàng Trung Ương Trung Quốc đã giảm xuống đáng kể trong nửa năm qua. Vào Tháng Năm, năm 2009, chính phủ Mỹ nợ Trung Quốc hơn 801 tỷ đô la, đến Tháng Mười Hai chỉ còn nợ hơn 755 tỷ. Nhưng các hành động này không có tác động nào trên việc chính phủ Mỹ vay nợ. Thay vì bán các công trái Mỹ hoặc ngưng cho Mỹ vay, người ta lại thấy tổng số nợ mà người ngoại quốc cho chính phủ Mỹ vay vẫn tăng lên 70 tỷ trong thời gian đó. Một hệ quả là lãi suất mà chính phủ Mỹ phải trả trên các món nợ công này vào ngày 16 Tháng Hai, năm 2010, đã giảm bớt 0.03%, chỉ còn 3.66% cho những công trái 10 năm.
Bắc Kinh không thể sử dụng món võ chủ nợ ngưng cho vay hoặc bán các giấy nợ một cách ào ạt, vì làm như vậy sẽ tai hại cho cả thế giới mà chính Trung Quốc và các nước Á Châu đang bán hàng cho Mỹ bị thiệt hại nặng nhất. Tình trạng giống như Ngân Hàng Trung Ương Trung Quốc đang phát cho chính phủ Mỹ một cái thẻ tín dụng, giống như loại thẻ của các cửa hàng Sears hay Macy vậy. Thân chủ Mỹ tha hồ xài thẻ đó đi mua hàng Trung Quốc, và món nợ trên thẻ tín dụng cứ thế tăng lên gấp 10 lần trong 10 năm qua. Không thể thu hồi cái thẻ đó được, vì thiếu nó thì khách sẽ không mua thêm hàng. Không thể bắt khách phải trả hết nợ trên thẻ được, vì họ không có tiền trả. Cách tốt nhất cho ngân hàng là cứ tiếp tục cho khách dùng thẻ, vừa để bán hàng, vừa để lấy tiền lãi.
Ngược lại, nếu Bắc Kinh chịu làm theo áp lực Mỹ mà tăng hối suất của đồng Nguyên thì sẽ có lợi cho cả người Trung Hoa lẫn nước Mỹ. Khi nhân dân tệ lên giá, người Trung Hoa trong lục địa sẽ được mua hàng ngoại quốc với giá rẻ hơn. Mối đe dọa lạm phát ở Trung Quốc sẽ bớt đi, sau khi bị đẩy lên quá cao vì các món tiền khổng lồ kích thích kinh tế qua hệ thống ngân hàng. Trong khi có, người Mỹ sẽ bớt mua hàng Trung Quốc vì giá cao hơn, cán cân thương mại Mỹ bớt khiếm hụt, chính phủ Mỹ bị bắt buộc phải thắt lưng buộc bụng vì lãi suất lên cao, ngân sách Mỹ sẽ cân bằng sớm hơn.
Cho nên, sau khi ông Obama tiễn chân Ðức Ðạt Lai Lạt Ma để ngài đi California làm lễ, trong những ngày tới chính phủ Mỹ sẽ còn tiếp tục tạo áp lực với Trung Quốc về việc tăng giá đồng nhân dân tệ. Ông Obama sẽ không mất gì hết, mà còn được tiếng là bảo vệ công việc làm cho giới lao động Mỹ, một điều rất có lợi trong một năm bầu cử!
Ngô Nhân Dụng
Tuần trước, chính phủ Bắc Kinh đã lên tiếng yêu cầu Tổng Tống Barack Obama bãi bỏ cuộc gặp gỡ với Ðức Ðạt Lai Lạt Ma. Chính phủ Mỹ tiết lộ ông Obama đã báo trước cho ông Hồ Cẩm Ðào, chủ tịch Trung Quốc biết là sẽ tiếp đón vị lãnh đạo tinh thần của dân tộc Tây Tạng. Cả bà Ngoại Trưởng Hillary Clinton cũng sẽ gặp Ðức Ðạt Lai Lạt Ma.
Thế nào Bắc Kinh cũng phải bày tỏ thái độ bằng một lời nói hay hành động để phản kháng. Giống như tháng trước khi cả thế giới nghe tin Mỹ sắp bán một số vũ khí mới cho Ðài Loan trị giá 6.4 tỷ Mỹ kim, Bắc Kinh đã cực lực lên án và dọa sẽ “trừng phạt” các công ty Mỹ bán máy bay hoặc tầu ngầm cho Ðài Bắc. Nhưng liệu các công ty hàng không Trung Quốc có ngưng không dùng máy bay Boeing nữa hay không? Không chắc lời đe dọa này sẽ thành hiện thực.
Tất cả các ông tổng thống Mỹ từ hai chục năm nay, ông nào cũng tiếp Ðức Ðạt Lai Lạt Ma ít nhất một lần tại Toà Bạch Ốc. Và lần nào Bắc Kinh cũng tỏ ý bất bình. Không còn ai ngạc nhiên nữa. Trung Quốc đối xử với Mỹ có vẻ “nhân nhượng” hơn đối với các nước khác. Năm 2008, họ tỏ ý phẫn nộ bỏ không tham dự một cuộc họp thượng đỉnh với các nước trong Liên Hiệp Âu Châu vì Tổng Thống Pháp Nicolas Sarkozy tiếp kiến Ðức Ðạt Lai Lạt Ma. Ðối với Mỹ, phản ứng của Bắc Kinh mềm mỏng hơn nhiều. Năm 2007, họ đã không cho phép chíến hạm USS Kitty Hawk cập bến Hồng Kông sau khi Tổng Thống George W. Bush gặp Ðức Ðạt Lai Lạt Ma. Sau đó, họ lại cho phép, nhưng chiếc tàu Mỹ đã đi mất rồi. Năm nay, trong lúc hai nhà lãnh đạo Mỹ và Tây Tạng gặp nhau, mẫu hạm USS Nimitz và 4 chiến hạm khác của Mỹ đang đậu ở bến tàu Hương Cảng, và 5,000 thủy thủ được phép lên bờ tiêu xài thỏa thích.
Nếu phản ứng của Bắc Kinh có vẻ mềm mỏng hơn, điều đó cũng dễ hiểu. Trung Quốc không muốn gây sự trong lúc này. Họ đang lo chính phủ Obama sẽ đòi hỏi Bắc Kinh phải nhượng bộ thêm trên lãnh vực hối suất và luật lệ nhập cảng, nhưng đòi hỏi mà lâu lâu các chính phủ Mỹ lại nêu ra để làm món hàng mặc cả. Vì hiện nay chính quyền Washington đang bị áp lực của giới kinh doanh Mỹ trong các vấn đề hối suất và luật lệ này. Mà ông tổng thống cũng như đảng Dân Chủ trong Quốc Hội có thể chiều theo ý giới kinh doanh, đồng thời dùng món võ ngoại giao “Chống Trung Quốc” để hấp dẫn cử tri trong mùa bầu cử năm nay, trong lúc người dân bắt đầu chán không thấy những chương trình quốc nội của họ hấp dẫn nữa!
Hai nước Mỹ và Trung Quốc đang gắn bó keo sơn về kinh tế, nhưng nói rằng vì thế mà Mỹ sợ Trung Quốc thì sai! Hai bên lúc nào cũng vừa bắt tay buôn bán, vừa to tiếng cãi nhau. Gần đây, chính quyền Obama đã lên tiếng than phiền, một lần nữa, là chính phủ Bắc Kinh cố ép giá đồng nhân dân tệ quá thấp so với Mỹ kim, để hàng Trung Quốc dễ bán sang Mỹ và dễ cạnh tranh với hàng Mỹ trong thị trường thế giới. Hậu quả là nhiều công nhân Mỹ sẽ mất việc làm chỉ vì đồng tiền Trung Quốc được định giá quá thấp! Trong lúc tỷ lệ thất nghiệp ở Mỹ lên tới 10%, đây là một lý luận rất mạnh, không phải chỉ là một lời đe dọa suông.
Gần đây, các công ty đa quốc của Mỹ đã than phiền về hối suất của đồng Nguyên, tiền Trung Quốc, và về những luật lệ hạn chế nhập cảng. Các công ty này tố cáo một khuynh hướng “bảo hộ mậu dịch” đang lan rộng trong guồng máy chính quyền Trung Quốc khiến họ làm khó dễ hàng nhập cảng. Trong Tháng Giêng năm nay, 19 tổ chức kinh tế Mỹ, trong đó có Phòng Thương Mại Toàn Quốc và Hội Các Nhà Sản Xuất đã gửi thư cho chính phủ Obama tố cáo những biện pháp của chính phủ Trung Quốc gây hậu quả “ngăn chặn nhiều mặt hàng xuất cảng của Mỹ vào một thị trường tối quan trọng cho việc phát triển tương lai và tạo công việc làm ở trong nước Mỹ.” Lá thư yêu cầu chính phủ Mỹ phải đặt ưu tiên giải quyết vấn đề này. Sau khi nhận lá thư đó, các viên chức chính phủ Mỹ đã gặp gỡ các viên chức Trung Quốc để chính thức nêu lên các vấn đề trên, một điều mà trước đây các giới ngoại giao không làm. Chính phủ Bắc Kinh không thể coi đó là những lời đe dọa suông, trong khi họ vẫn đang cần xuất cảng nhiều hơn!
Năm ngoái, sau khi chính phủ Obama tăng thuế trên các bánh xe hơi nhập cảng từ Tầu, Bắc Kinh đã trả đũa đánh thuế thêm trên thịt gà nhập cảng từ Mỹ. Cuộc chiến mậu dịch không phát ra nhờ cả hai bên tự kiềm chế. Nhưng trong một năm bầu cử, chính phủ Mỹ có thể sẽ cứng rắn hơn. Các nhà chính trị rất dễ ngả sang các chính sách mị dân bằng cách hô khẩu hiệu chống nước ngoài, mà hiện nay ở Mỹ thì Bắc Kinh có rất nhiều người ghét và ít thấy ai bênh vực.
Một mối lo của người Mỹ là cán cân thương mại nghiêng về phía Bắc Kinh, trong năm 2009 Mỹ thâm thủng 227 tỷ đô la. Con số đó tuy nhỏ hơn năm trước, nhưng chỉ vì kinh tế Mỹ suy thoái chứ không phải vì Bắc Kinh đã can thiệp. Nếu đồng tiền Trung Quốc tăng giá, như các chính phủ Mỹ vẫn đòi hỏi, thì người Mỹ sẽ bớt mua hàng Trung Quốc và ngược lại sẽ bán được sang Trung Quốc nhiều hơn! Hiện nay, giá một đồng Nguyên so với đô la Mỹ có thể tăng thêm 20% đến 25% thì mới quân bình. Trong những tháng sắp tới, chính quyền Washington sẽ còn nêu lên vấn đề này nhiều lần để tạo thêm áp lực mới.
Trung Quốc có một món võ để đối phó với Mỹ, là sử dụng vai trò chủ nợ của họ. Ai cũng biết hiện nay Trung Quốc là chủ nợ lớn nhất của chính phủ Mỹ, qua mặt Nhật Bản. Với gần 800 tỷ đô la cho chính phủ Mỹ vay bằng cách mua công trái, họ có thể ngưng cho vay va đem bán các trái khoán của chính phủ Mỹ để tạo áp lực. Nhưng điều này nói thì dễ còn làm rất khó.
Những món tiền Trung Quốc cho chính phủ Mỹ vay chính là tiền họ thu được nhờ xuất cảng hàng hóa sang Mỹ với giá rẻ. Từ 10 năm nay, số tiền Bắc Kinh cho Washington vay đã tăng gấp 10 lần, từ gần 72 tỷ vào năm 2000 lên tới 755 tỷ trong Tháng Mười Hai năm 2009. Vào Tháng Năm, Thủ Tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo đã công khai tỏ ý lo ngại rằng các trái phiếu công của Mỹ đang mất giá trị vì đồng đô la xuống giá. Tiếp theo, ông chủ tịch Ngân Hàng Nhân Dân ở Bắc Kinh lại đề nghị dùng một thứ tiền mới thay thế đồng đô la Mỹ trong quỹ dự trữ ngoại tệ các nước, để thế giới bớt lệ thuộc vào đồng tiền của một quốc gia, nếu quốc gia đó lâm khủng hoảng thì tất cả đều bị thiệt thòi.
Những lời tuyên bố trên đều có tác dụng tạo áp lực trên chính phủ Mỹ. Nhưng trong thực tế, các lời nói và hành động của chính phủ Trung Quốc không đem lại kết quả mà họ mong muốn.
Không thấy cường quốc kinh tế nào lên tiếng ủng hộ việc hạ bệ đồng đô la Mỹ trong giao dịch thế giới. Các nước Âu Châu không thiết tha dùng đồng Euro, nhất là trong lúc chính đồng tiền này đang bị đe dọa với nguy cơ phá sản của Hy Lạp, một quốc gia trong khối dùng Euro. Trung Quốc cũng không muốn đồng Yen của Nhật Bản đóng vai trò cao hơn. Còn đồng tiền tượng trưng SDR của Quỹ Tiền tệ Quốc tế, chỉ là một đơn vị kế toán trong sổ sách chứ không ai muốn đem dùng như tiền thật.
Tóm lại, những lời đe dọa của Bắc Kinh về việc hạ bệ đồng đô la Mỹ không tạo được hậu quả nào đáng kể. Bắc Kinh đã hành động. Ngân Hàng Trung Ương Trung Quốc đã bắt đầu giảm bớt số trái phiếu chính phủ Mỹ mà họ đang giữ, bằng cách bán bớt hoặc không mua trái phiếu mới khi các giấy nợ cũ đáo hạn. Người ta có thể đoán rằng khi một chủ nợ quan trọng như Trung Quốc ngưng cho vay thì các chủ nợ khác cũng sẽ rút để đòi lãi suất cao hơn, nhưng sự thật lại không.
Số tiền chính phủ Mỹ nợ Ngân hàng Trung Ương Trung Quốc đã giảm xuống đáng kể trong nửa năm qua. Vào Tháng Năm, năm 2009, chính phủ Mỹ nợ Trung Quốc hơn 801 tỷ đô la, đến Tháng Mười Hai chỉ còn nợ hơn 755 tỷ. Nhưng các hành động này không có tác động nào trên việc chính phủ Mỹ vay nợ. Thay vì bán các công trái Mỹ hoặc ngưng cho Mỹ vay, người ta lại thấy tổng số nợ mà người ngoại quốc cho chính phủ Mỹ vay vẫn tăng lên 70 tỷ trong thời gian đó. Một hệ quả là lãi suất mà chính phủ Mỹ phải trả trên các món nợ công này vào ngày 16 Tháng Hai, năm 2010, đã giảm bớt 0.03%, chỉ còn 3.66% cho những công trái 10 năm.
Bắc Kinh không thể sử dụng món võ chủ nợ ngưng cho vay hoặc bán các giấy nợ một cách ào ạt, vì làm như vậy sẽ tai hại cho cả thế giới mà chính Trung Quốc và các nước Á Châu đang bán hàng cho Mỹ bị thiệt hại nặng nhất. Tình trạng giống như Ngân Hàng Trung Ương Trung Quốc đang phát cho chính phủ Mỹ một cái thẻ tín dụng, giống như loại thẻ của các cửa hàng Sears hay Macy vậy. Thân chủ Mỹ tha hồ xài thẻ đó đi mua hàng Trung Quốc, và món nợ trên thẻ tín dụng cứ thế tăng lên gấp 10 lần trong 10 năm qua. Không thể thu hồi cái thẻ đó được, vì thiếu nó thì khách sẽ không mua thêm hàng. Không thể bắt khách phải trả hết nợ trên thẻ được, vì họ không có tiền trả. Cách tốt nhất cho ngân hàng là cứ tiếp tục cho khách dùng thẻ, vừa để bán hàng, vừa để lấy tiền lãi.
Ngược lại, nếu Bắc Kinh chịu làm theo áp lực Mỹ mà tăng hối suất của đồng Nguyên thì sẽ có lợi cho cả người Trung Hoa lẫn nước Mỹ. Khi nhân dân tệ lên giá, người Trung Hoa trong lục địa sẽ được mua hàng ngoại quốc với giá rẻ hơn. Mối đe dọa lạm phát ở Trung Quốc sẽ bớt đi, sau khi bị đẩy lên quá cao vì các món tiền khổng lồ kích thích kinh tế qua hệ thống ngân hàng. Trong khi có, người Mỹ sẽ bớt mua hàng Trung Quốc vì giá cao hơn, cán cân thương mại Mỹ bớt khiếm hụt, chính phủ Mỹ bị bắt buộc phải thắt lưng buộc bụng vì lãi suất lên cao, ngân sách Mỹ sẽ cân bằng sớm hơn.
Cho nên, sau khi ông Obama tiễn chân Ðức Ðạt Lai Lạt Ma để ngài đi California làm lễ, trong những ngày tới chính phủ Mỹ sẽ còn tiếp tục tạo áp lực với Trung Quốc về việc tăng giá đồng nhân dân tệ. Ông Obama sẽ không mất gì hết, mà còn được tiếng là bảo vệ công việc làm cho giới lao động Mỹ, một điều rất có lợi trong một năm bầu cử!
Khủng Bố Tiền Đại Hội
Vi Anh CS vẫn là CS. Như mọi người còn nhớ, thời chiến tranh, mỗi lần CS có lễ lớn như sinh nhựt Hồ chí Minh, thì CS đào đường, đắp lộ, pháo kích vào thành thị để khủng bố người dân ở các vùng CS gọi là " tạm chiếm". Còn bây giờ, CS Hà nội đã gồm thâu cả nước, trước cuộc đại hội Đảng, họ mở cuộc càn quét để khủng bố dân chúng để CS tự tung tự tác. Nên không có gì đáng ngạc nhiên khi thấy từ tháng Ba năm 2009, CS Hà nội mở một cuộc tảo thanh lớn và rộng. Khủng bố mạnh, đàn áp những bắt bớ, giam cầm, kêu án nặng những người đi tu, những người bất đồng chính kiến,chỉa mũi dùi vào những tăng thân dính líu với tăng thân Làng Mai ở Pháp, những luật sư từng du học Aâu Mỹ, những bloggers chánh trị dám đặt chủ quyền đất nước trước cuộc xâm lấn của TC.
Khủng bố là thuật ngữ chánh trị xã hội chỉ hành động gây hoảng sợ để đạt mục tiêu chánh trị. Khủng bố không chỉ do các tổ chức nhỏ ngoài vòng pháp luật như Al Qaeda làm, mà nhà nước lớn cũng làm như chế độ độc quân phiệt Iraq, Miến điện, giáo phiệt Iran, đảng phiệt như CS khủng bố để làm cho người dân sợ không dám chống chế độ.
Năm 2010 là năm Đảng Nhà Nước CS Hà nội dự trù trước lấy làm năm kỷ niệm 1 000 năm Thăng Long. Và Trung Cộng chơi xỏ đề nghị CS Hà nội lấy làm năm kỷ niệm 60 năm hữu nghị Việt - Trung. Đầu năm 2011 lại là Đại Hội Đảng CS lần thứ 11. Hai xôi nhồi một chỏ, CS Hà nội vừa sợ bị phong trào vận động tư do, dân chủ, nhân quyền của những nhà trí thức trẻ trong nước "diễn biến hòa bình", hay "chuyển hóa" đại biểu đại hội Đảng do đảng bộ địa phương chọn, lại vừa sợ phong trào nhân dân chống Trung Cộng xâm chiếm đất, biển, đảo làm Anh Cả Đỏ tức giận. Nên theo thói quen biến thành bản chất thứ hai, CS Hà nội muốn tảo thanh bằng cách khủng bố trước Đại Hội Đảng và Kỷ niệm 60 hữu nghị Việt Trung do CS Bắc Kinh "đề nghị" - theo thuật ngữ CS "dề nghị" có nghĩa là ra lịnh phải làm.
Vấn dề dặt ra là thử phân tích cuộc khủng bố nhà nước đó của CS Hà nội có răng đe được phong trào của người dân Việt đang chống Cộng sản hay không. Và đường lối của Mỹ mở rộng du học để những người này về chuyễn hóa chánh trị thành hay bại.
Một, nhiều sư kiện cho thấy cuộc khủng bố của CS Hà nội không răn đe được người trong nước nhưng bị mang tai mang tiếng xấu ở ngoại quốc. CS Hà nội chẳng những dùng công an, cảnh sát, tòa án để khủng bố, mà còn dùng cả côn đồ nữa. Đưa ra những cái tội nghe mà lạnh xương sống, tù chung thân, dến tử hình như "tuyên truyền chống phá nhà nước", "xâm phạm an ninh quốc gia", thậm chí "hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân". Nhưng từ một cựu sĩ quan bộ đội CS Bắc Việt thức tình là Trung tá Trần Anh Kim đến những ngưởi trí thức tốt nghiệp đại học, được Pháp, Mỹ cấp học bổng đi tu nghiệp luật, có tâm huyết với đất nước, chẳng ai nao núng cả. Trần Huỳnh Duy Thức và Lê Thăng Long vẫn hiên ngang dù phải trả cái giá rất đắt là 16 năm tù.
Tâm huyết, lý tưởng và niềm tin vào chánh nghĩa là một cái gì thế quyền và cương quyền không thể khuất phục được. Vào tù ra khám là cái nghiệp của sự dấn thân. Cái nghiệp phải trả như nhà tu tin không trả trước phải trả sau thôi. Với những người đã "ngộ" như vậy thì không bạo lực nào lay chuyển được. Nhứt là dân tộc Việt dược lịch sử rèn luyện một tinh thần bất khuất, lịch sư 4000 năm, mà chống quân Tàu cả ngàn năm vẫn chống. Tiếng gọi của lương tâm Việt, của lịch sử Việt, của dức công bằng và đạo lý thấm thía, vang vọng, sâu thẩm hơn tiếng của mấy người đảng viên kêu án bỏ túi do Đảng CS tiền chế trước các phiên tòa.
Trái lại cuộc khủng bố của CS nói lên nỗi sợ không rời của Đảng CS, cụ thể là của 15 người ngồi trong bộ Chánh trị. Họ sợ lập trường thân Mỹ, thân Trung Cộng của đảng viên sẽ đưa đến cuộc đấu đá nội bộ làm chia rẽ Đảng trong dại hội 11 vào đầu năm 2011. Họ sợ giá trị tư do, dân chủ, nhân quyền diễn biến hòa bình, "chuyển hóa' làm đảng viên "tự diễn biến" trong các cuộc đề cử dại biểu đại hội Đảng ở địa phương và tự diễn biến trong tâm tư đại biểu. Họ sợ nên họ khủng bố các nhà dân chủ dể răn đe đảng viên có khuynh hướng cải cách luôn.
Nhiều dư luận báo chí ngoại quốc cho thấy cuộc khủng bố làm cho chế độ CS Hà nội bị mang tai mang tiếng xấu ở ngoại quốc. Báo Wall Street Journal của Mỹ, tờ báo gối đầu giường của giới lý tài Mỹ và thế giới khẳng định "Hà Nội đàn áp nhân quyền.” Một bất lợi lớn cho CS Hà nội, họ mất yếu tố ổn định là một trong hai yếu tố dể ngoại quốc đầu tư bên cạnh công nhân rẻ. Tạp chí Economist của Anh, cũng là tờ báo của giới lý tài thế giới cũng nói ''Đàn áp tại Việt Nam".
Human Rights Watch nói huỵch toẹt CS Hà nội gia tăng đàn áp các nhà dân chủ để chuẩn bị cho Đại hội Đảng lần thứ 11. Báo Times ở Luân Đôn trích dẫn lời ông Brad Adams, Giám đốc Á Châu của tổ chức này ở New York lưu ý rằng "thái độ thù nghịch đối với tự do bày tỏ cảm tưởng và bất đồng chính kiến ôn hòa ngày càng trở nên trắng trợn trong giai đọan trước khi có đại hội đảng vào năm tới". Tổ chức Ân Xá Quốc Tế trụ sở tại Luân Đôn, Anh Quốc ra một thông cáo báo chí, trích dẫn lời ông Brittis Edman, chuyên gia nghiên cứu về VN của Tổ chức Ân Xá Quốc Tế lưu ý rằng "Vụ xử này là một hình thức hoàn toàn chế giễu công lý, bất chấp những nhân quyền căn bản..." Tổ chức Ký Giả Không Biên Giới trụ sở tại Paris, Pháp lưu ý rằng "Làn sóng bắt bớ đó sẽ không chấm dứt được cuộc tranh luận về tương lai đất nước (VN)". Theo tổ chức này thì những nhà bất đống chính kiến bị tù tội "...đã trở thành biểu tượng thúc đẩy cuộc đấu tranh cho tự do tư tưởng tại VN và hải ngoại". và "cộng đồng thế giới phải lên án những bản án nặng nề và áp lực chính phủ (VN) trả tự do cho những nhà hoạt động dân chủ".
Giáo hội Công Giáo Ba Lan, lấy ngày thứ năm, 04/02/2010, làm " Ngày toàn quốc Ba Lan cầu nguyện cho Giáo hội tại Việt Nam bị đàn áp". "Sự kiện chính quyền Việt Nam dùng " bom mìn " để " triệt hạ thánh giá tại Đồng Chiêm đã làm cho người công giáo Ba Lan và tín hữu Chính Thống Giáo sững sờ " và xem đây là một "thách thức lương tâm ".Giáo hội Ba Lan "không thể im lặng mãi trước nỗi đau của người công giáo Việt Nam".
Hai, chủ trương của Mỹ mở rộng du học để những người này về chuyễn hóa chánh trị thất bại thấy rõ trong cuộc khủng bố này của CS Hà nội. Người Mỹ tiêu biểu là Đại sứ Michael Michalak "nhiệt liệt cổ võ" du học. Nhưng Oâng đại sứ bình an, vô sự trong chức vụ sang cả, béo bở của mình. Chỉ tội nghiệp cho nhưng người tin vào chủ trương du học về để chuyên hóa chánh trị CS nay lại phải tù CS. Một thạc sĩ Nguyễn Tiến Trung du học Pháp, được TT Mỹ Bush tiếp kiến. Một Luật sư Lê Công Định được học bổng Fulbright học ở Mỹ, về nước làm việc cho nhánh tại Việt Nam của văn phòng luật sư New York, White & Case, cố vấn cho Việt nam về luật chống bán phá giá của Mỹ. Một Giáo sư giáo sư Nguyễn Huệ Chi, từng có một thời gian du hành quan sát ở tại Đại Học Mỹ Massachusetts vào năm 2000. Hai trí thức du học đầu bị công an bắt, họp báo, đưa lên truyền hình bêu rếu trước khi xử và xử tù 5 năm. Còn vị giáo sư sau bị phá trang mạng, sách nhiễu, gây khó dễ đủ điều, hầu như ngày nào cũng bị công an mời lên thẩm vấn. Một Phạm Thanh Nghiên, từng được Human Right Watch (Tổ chức Quan sát Nhân quyền Quốc tế), trao tặng giải Hellman Hammett hồi năm ngoái, đã bị tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt 4 năm tù kèm 3 năm quản chế, sau khi thi hành xong hình phạt tù.
Để kết luận, cuộc khủng bố nhà nước (state terrorism) của CS Hà nội không hiệu quả, gây nhiều phản tác dụng bất lợi cho Đảng Nhà Nước trong cũng như ngoài nước.
VI ANH
Vi Anh CS vẫn là CS. Như mọi người còn nhớ, thời chiến tranh, mỗi lần CS có lễ lớn như sinh nhựt Hồ chí Minh, thì CS đào đường, đắp lộ, pháo kích vào thành thị để khủng bố người dân ở các vùng CS gọi là " tạm chiếm". Còn bây giờ, CS Hà nội đã gồm thâu cả nước, trước cuộc đại hội Đảng, họ mở cuộc càn quét để khủng bố dân chúng để CS tự tung tự tác. Nên không có gì đáng ngạc nhiên khi thấy từ tháng Ba năm 2009, CS Hà nội mở một cuộc tảo thanh lớn và rộng. Khủng bố mạnh, đàn áp những bắt bớ, giam cầm, kêu án nặng những người đi tu, những người bất đồng chính kiến,chỉa mũi dùi vào những tăng thân dính líu với tăng thân Làng Mai ở Pháp, những luật sư từng du học Aâu Mỹ, những bloggers chánh trị dám đặt chủ quyền đất nước trước cuộc xâm lấn của TC.
Khủng bố là thuật ngữ chánh trị xã hội chỉ hành động gây hoảng sợ để đạt mục tiêu chánh trị. Khủng bố không chỉ do các tổ chức nhỏ ngoài vòng pháp luật như Al Qaeda làm, mà nhà nước lớn cũng làm như chế độ độc quân phiệt Iraq, Miến điện, giáo phiệt Iran, đảng phiệt như CS khủng bố để làm cho người dân sợ không dám chống chế độ.
Năm 2010 là năm Đảng Nhà Nước CS Hà nội dự trù trước lấy làm năm kỷ niệm 1 000 năm Thăng Long. Và Trung Cộng chơi xỏ đề nghị CS Hà nội lấy làm năm kỷ niệm 60 năm hữu nghị Việt - Trung. Đầu năm 2011 lại là Đại Hội Đảng CS lần thứ 11. Hai xôi nhồi một chỏ, CS Hà nội vừa sợ bị phong trào vận động tư do, dân chủ, nhân quyền của những nhà trí thức trẻ trong nước "diễn biến hòa bình", hay "chuyển hóa" đại biểu đại hội Đảng do đảng bộ địa phương chọn, lại vừa sợ phong trào nhân dân chống Trung Cộng xâm chiếm đất, biển, đảo làm Anh Cả Đỏ tức giận. Nên theo thói quen biến thành bản chất thứ hai, CS Hà nội muốn tảo thanh bằng cách khủng bố trước Đại Hội Đảng và Kỷ niệm 60 hữu nghị Việt Trung do CS Bắc Kinh "đề nghị" - theo thuật ngữ CS "dề nghị" có nghĩa là ra lịnh phải làm.
Vấn dề dặt ra là thử phân tích cuộc khủng bố nhà nước đó của CS Hà nội có răng đe được phong trào của người dân Việt đang chống Cộng sản hay không. Và đường lối của Mỹ mở rộng du học để những người này về chuyễn hóa chánh trị thành hay bại.
Một, nhiều sư kiện cho thấy cuộc khủng bố của CS Hà nội không răn đe được người trong nước nhưng bị mang tai mang tiếng xấu ở ngoại quốc. CS Hà nội chẳng những dùng công an, cảnh sát, tòa án để khủng bố, mà còn dùng cả côn đồ nữa. Đưa ra những cái tội nghe mà lạnh xương sống, tù chung thân, dến tử hình như "tuyên truyền chống phá nhà nước", "xâm phạm an ninh quốc gia", thậm chí "hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân". Nhưng từ một cựu sĩ quan bộ đội CS Bắc Việt thức tình là Trung tá Trần Anh Kim đến những ngưởi trí thức tốt nghiệp đại học, được Pháp, Mỹ cấp học bổng đi tu nghiệp luật, có tâm huyết với đất nước, chẳng ai nao núng cả. Trần Huỳnh Duy Thức và Lê Thăng Long vẫn hiên ngang dù phải trả cái giá rất đắt là 16 năm tù.
Tâm huyết, lý tưởng và niềm tin vào chánh nghĩa là một cái gì thế quyền và cương quyền không thể khuất phục được. Vào tù ra khám là cái nghiệp của sự dấn thân. Cái nghiệp phải trả như nhà tu tin không trả trước phải trả sau thôi. Với những người đã "ngộ" như vậy thì không bạo lực nào lay chuyển được. Nhứt là dân tộc Việt dược lịch sử rèn luyện một tinh thần bất khuất, lịch sư 4000 năm, mà chống quân Tàu cả ngàn năm vẫn chống. Tiếng gọi của lương tâm Việt, của lịch sử Việt, của dức công bằng và đạo lý thấm thía, vang vọng, sâu thẩm hơn tiếng của mấy người đảng viên kêu án bỏ túi do Đảng CS tiền chế trước các phiên tòa.
Trái lại cuộc khủng bố của CS nói lên nỗi sợ không rời của Đảng CS, cụ thể là của 15 người ngồi trong bộ Chánh trị. Họ sợ lập trường thân Mỹ, thân Trung Cộng của đảng viên sẽ đưa đến cuộc đấu đá nội bộ làm chia rẽ Đảng trong dại hội 11 vào đầu năm 2011. Họ sợ giá trị tư do, dân chủ, nhân quyền diễn biến hòa bình, "chuyển hóa' làm đảng viên "tự diễn biến" trong các cuộc đề cử dại biểu đại hội Đảng ở địa phương và tự diễn biến trong tâm tư đại biểu. Họ sợ nên họ khủng bố các nhà dân chủ dể răn đe đảng viên có khuynh hướng cải cách luôn.
Nhiều dư luận báo chí ngoại quốc cho thấy cuộc khủng bố làm cho chế độ CS Hà nội bị mang tai mang tiếng xấu ở ngoại quốc. Báo Wall Street Journal của Mỹ, tờ báo gối đầu giường của giới lý tài Mỹ và thế giới khẳng định "Hà Nội đàn áp nhân quyền.” Một bất lợi lớn cho CS Hà nội, họ mất yếu tố ổn định là một trong hai yếu tố dể ngoại quốc đầu tư bên cạnh công nhân rẻ. Tạp chí Economist của Anh, cũng là tờ báo của giới lý tài thế giới cũng nói ''Đàn áp tại Việt Nam".
Human Rights Watch nói huỵch toẹt CS Hà nội gia tăng đàn áp các nhà dân chủ để chuẩn bị cho Đại hội Đảng lần thứ 11. Báo Times ở Luân Đôn trích dẫn lời ông Brad Adams, Giám đốc Á Châu của tổ chức này ở New York lưu ý rằng "thái độ thù nghịch đối với tự do bày tỏ cảm tưởng và bất đồng chính kiến ôn hòa ngày càng trở nên trắng trợn trong giai đọan trước khi có đại hội đảng vào năm tới". Tổ chức Ân Xá Quốc Tế trụ sở tại Luân Đôn, Anh Quốc ra một thông cáo báo chí, trích dẫn lời ông Brittis Edman, chuyên gia nghiên cứu về VN của Tổ chức Ân Xá Quốc Tế lưu ý rằng "Vụ xử này là một hình thức hoàn toàn chế giễu công lý, bất chấp những nhân quyền căn bản..." Tổ chức Ký Giả Không Biên Giới trụ sở tại Paris, Pháp lưu ý rằng "Làn sóng bắt bớ đó sẽ không chấm dứt được cuộc tranh luận về tương lai đất nước (VN)". Theo tổ chức này thì những nhà bất đống chính kiến bị tù tội "...đã trở thành biểu tượng thúc đẩy cuộc đấu tranh cho tự do tư tưởng tại VN và hải ngoại". và "cộng đồng thế giới phải lên án những bản án nặng nề và áp lực chính phủ (VN) trả tự do cho những nhà hoạt động dân chủ".
Giáo hội Công Giáo Ba Lan, lấy ngày thứ năm, 04/02/2010, làm " Ngày toàn quốc Ba Lan cầu nguyện cho Giáo hội tại Việt Nam bị đàn áp". "Sự kiện chính quyền Việt Nam dùng " bom mìn " để " triệt hạ thánh giá tại Đồng Chiêm đã làm cho người công giáo Ba Lan và tín hữu Chính Thống Giáo sững sờ " và xem đây là một "thách thức lương tâm ".Giáo hội Ba Lan "không thể im lặng mãi trước nỗi đau của người công giáo Việt Nam".
Hai, chủ trương của Mỹ mở rộng du học để những người này về chuyễn hóa chánh trị thất bại thấy rõ trong cuộc khủng bố này của CS Hà nội. Người Mỹ tiêu biểu là Đại sứ Michael Michalak "nhiệt liệt cổ võ" du học. Nhưng Oâng đại sứ bình an, vô sự trong chức vụ sang cả, béo bở của mình. Chỉ tội nghiệp cho nhưng người tin vào chủ trương du học về để chuyên hóa chánh trị CS nay lại phải tù CS. Một thạc sĩ Nguyễn Tiến Trung du học Pháp, được TT Mỹ Bush tiếp kiến. Một Luật sư Lê Công Định được học bổng Fulbright học ở Mỹ, về nước làm việc cho nhánh tại Việt Nam của văn phòng luật sư New York, White & Case, cố vấn cho Việt nam về luật chống bán phá giá của Mỹ. Một Giáo sư giáo sư Nguyễn Huệ Chi, từng có một thời gian du hành quan sát ở tại Đại Học Mỹ Massachusetts vào năm 2000. Hai trí thức du học đầu bị công an bắt, họp báo, đưa lên truyền hình bêu rếu trước khi xử và xử tù 5 năm. Còn vị giáo sư sau bị phá trang mạng, sách nhiễu, gây khó dễ đủ điều, hầu như ngày nào cũng bị công an mời lên thẩm vấn. Một Phạm Thanh Nghiên, từng được Human Right Watch (Tổ chức Quan sát Nhân quyền Quốc tế), trao tặng giải Hellman Hammett hồi năm ngoái, đã bị tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt 4 năm tù kèm 3 năm quản chế, sau khi thi hành xong hình phạt tù.
Để kết luận, cuộc khủng bố nhà nước (state terrorism) của CS Hà nội không hiệu quả, gây nhiều phản tác dụng bất lợi cho Đảng Nhà Nước trong cũng như ngoài nước.
VI ANH
Kỷ Niệm 80 Năm Tổng Khởi Nghĩa Yên Bái 10-2-1930
Nguyễn Hồng Dũng, Ph. D, Feb 17, 2010 Cali Today News - Nói đến Việt Nam Quốc Dân Đảng, một Đảng cách mạng tiền phong của dân tộc Việt Nam thì ai cũng biết đến cuộc Tổng Khởi Nghĩa Yên Bái năm 1930 và linh hồn của mốc thời gian in đậm nét tinh anh trang lịch sử chính là sinh viên Nguyễn Thái Học, một lãnh tụ trẻ tuổi nhưng thể hiện tấm lòng thiết tha để tranh đấu cho nước nhà không còn bị ách thực dân Pháp cai trị.
Với tấm lòng ấy người thanh niên Nguyễn Thái Học đã cùng với những người đồng chí hướng thành lập Việt Nam Quốc Dân Đảng vào ngày 25 tháng 12 năm 1927 trong mục tiêu tranh đấu cho dân tộc độc lập, dân quyền tự do và dân sinh hạnh phúc.
Ngược dòng thời gian về bối cảnh nước Việt khi triều đình vua Tự Đức ký Hòa ước ngày 5 tháng 6 năm Nhâm Tuất (1862) tại Sài Gòn giữa chánh sứ Phan Thanh Giản, phó sứ Lâm Duy Hiệp với đại diện Pháp và Tây Ban Nha là Sir Bonard và Guttiere lúc bị mất ba tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Định Tường mở đầu sự đô hộ của Pháp tại Việt Nam. Chiếu theo tinh thần Hòa ước này thì Huế giao cho Pháp ba tỉnh miền Đông Nam kỳ và đảo Côn Lôn, Tây Ban Nha được tự do truyền giáo và buôn bán ở Đà Nẵng, Ba Lạt, Quảng Yên. Dân chúng Việt Nam lúc bấy giờ vô cùng bất mãn trước sự nhu nhược của triều đình nên khắp nơi có các phong trào tự phát đứng ra chiêu nạp nghĩa quân chống Pháp. Tuy tinh thần cao độ nhưng vũ khí, phương tiện của nghĩa quân thô sơ nên hầu như bị Pháp đàn áp một cách dã man.
Thái độ hà khắc, bóc lột của thực dân Pháp đối với dân Việt càng ngày càng cay độc khiến sự thôi thúc về nền tự do, độc lập của nước nhà càng được dịp phát huy dù ý niệm nhân quyền và dân chủ chưa phổ quát lắm. Cuối thập niên hai mươi của thế kỷ XX sinh viên Nguyễn Thái Học thuộc trường Cao đẳng thương mãi Hà Nội cùng nhiều tầng lớp công, nông dân, sĩ phu trí thức, sinh viên học sinh đồng lòng thành lập Đảng cách mạng tiên phong và sinh viên Nguyễn Thái Học được tin tưởng bầu vào chức chủ tịch.
Để phong trào được nâng cao nên nhu cầu một cuộc tổng khởi nghĩa toàn dân tham gia phải được thực thi, điều đáng khâm phục là chỉ trong vòng vài ba năm mà hàng ngàn chi bộ Việt Nam Quốc Dân Đảng đã được tổ chức xây dựng ở cả hai miền Bắc và Trung kỳ cũng như hàng trăm chi bộ trong hàng ngũ quân đội thuộc địa. Về mặt nhân sự thì Việt Nam Quốc Dân Đảng có khá đông người ủng hộ, nhưng phương tiện chiến đấu thì thật thô sơ, súng ống và đạn được phải mua lại từ kho phế thải, hoặc nghĩa quân tự túc trui rèn khí cụ như gươm, giáo, cung tên. Ngày 26 tháng 1 năm 1930 Ban Chấp Hành Trung Ương Viêt Nam Quốc Dân Đảng triệu tập đại hội tại làng Võng La quyết định ngày khởi nghĩa, dùng vũ trang tự tạo chiến đấu bởi lẽ một số cơ xuởng làm súng bị phát hiện và sự phản bội của tên Việt gian là Đội Dương tố cáo với mật thám Pháp nên không cho phép nghĩa quân đứng truớc cơ nguy chần chừ chờ chết.
Cuối cùng cuộc tổng khởi nghĩa đã tiến hành như quy định vào ngày 10 tháng 2 năm 1930 nhưng rất tiếc do tin tức bại lộ giúp thực dân chuẩn bị đối phó khiến nghĩa quân giao động, dẫn đến cuộc thảm bại với nhiều sinh mạng đảng viên hy sinh, tù đày. Mặc dù thất bại nhưng vầng hào quang khởi nghĩa đã tác động đến tâm tư người dân Việt quyết định chống thực dân Pháp đến hơi thở cuối cùng. Các chiến sĩ nghĩa quân đã tạo dựng khí thế ái quốc cùng khắp nên thời gian ấy đã khơi dậy tiềm lực chống ngoại xâm trong giới thanh niên cao độ.
Sự yếu kém về mặt vật chất đã không làm nao núng tinh thần dâng trào về một quốc gia độc lập khiến quân Pháp vô cùng lúng túng trước những phản ứng mãnh liệt. Nghĩa quân Việt Quốc đã chiếm cứ thị xã Yên Bái nhiều ngày đêm nơi tọa lạc đồn Pháp kiên cố làm thiệt hại quân binh thực dân là trọng điểm giữa cuộc khởi nghĩa lừng danh này, ngoài ra các tỉnh Sơn Tây, Phú Thọ, Hải Phòng, Lâm Thao, Bắc Ninh, Hưng Hóa, Kiến An, Phả Lại đều cùng nhau đồng loạt làm cuộc khởi nghĩa tấn công đến nỗi Pháp phải dùng phi cơ thả bom gây thương vong cho nghĩa quân Việt Quốc tại làng Cổ Am mà ngày nay vẫn còn di tích.
Câu hỏi thường được đặt ra là làm sao Đảng trưởng Nguyễn Thái Học và các đồng chí của Người trong thời gian ngắn mà huy động được số lượng nghĩa quân nhất tề hưởng ứng?. Có lẽ phát xuất từ tấm lòng yêu nước nồng nàn của giới thanh niên có uy tín, đứng đắn và đoàn kết để chống lại kẻ xâm lược, sự lãnh đạo đầy mưu trí và can đảm đặt quyền lợi của tổ quốc lên hàng đầu là chìa khóa “nhất hô bá ứng”. Khi cuộc khởi nghĩa thất bại, giới lãnh đạo Việt quốc có khả năng sang Trung Hoa hay Thái Lan ẩn núp, nhưng Đảng trưởng Nguyễn Thái Học và hàng trăm đồng chí thân cận của Người đã sát cánh bên các toán nghĩa quân để hổ trợ chiến đấu, chỉ huy binh pháp hoặc giải vây đồng đội đến giây phút đưa định mạng của họ về nơi Tiên cảnh. Lòng can đảm đã thể hiện trong từng con tim của mỗi cá nhân khi gia nhập đảng Cách mạng cứu quốc mà khi bị phát hiện thì đầu có thể rơi, nhà cửa gia đình tan nát và nhẹ nhất cũng bị đày đến các vùng Côn Sơn, Lao Bảo, Sơn La chịu hình phạt chung thân khổ sai. Nhưng tất cả những đe dọa đó không áp đảo lại lòng kiên định cho một tổ quốc độc lập, tự do; việc nhân, việc dũng, việc thiện của nghĩa quân đáng trân trọng lên trang sử oanh liệt vì dù có gì đi nữa thì quan điểm rõ ràng của chàng thanh niên nước Việt hai mươi bảy tuổi đời đã gởi một thông điệp phản ánh nhân cách sống của lớp thanh niên bất khuất là “Không Thành Công Thì Cũng Thành Nhân” khiến dư luận trên thế giới vang dội, thách thức Đế quốc thực dân Pháp đứng trước nguy cơ của các thuộc địa nhỏ nhưng tinh thần hy sinh đòi độc lập bằng xương máu thì lúc nào cũng quyết tâm to tác. Phản ứng của những phe nhóm chủ hòa có cơ hội xét lại phương cách đấu tranh và từ đó tiếng vang về cuộc khởi nghĩa Yên Bái đã thức tỉnh bao tâm hồn đang say ngủ trước thời cuộc. Chính việc khởi nghĩa thất bại này đã kích động lòng yêu nước nồng nàn của tầng lớp thanh niên khắp nước đứng lên đòi thực dân Pháp rút quân về nước trong các cuộc biểu tình đó đây.
Ngày nay Cộng sản thường xuyên tạc lịch sử để thay đen đổi trắng, nhưng về lòng yêu nước của Đảng trưởng cũng như các đồng chí của Người đều phản ảnh đúng đắn và cuộc Khởi Nghĩa Yên Bái lúc nào cũng được ca tụng. Hãy bỏ qua sự kiện nhà đương quyền Cộng Sản muốn dùng đó như sự “Hoà Giải Hòa Hợp Dân Tộc” thì ít ra lịch sử Việt Nam Quốc Dân Đảng gắn liền cùng vận mạng quốc gia bất khả phân.
Dân tộc Việt nam đã bị mất đi những người con ưu tú của đất nước, nhưng bù lại lịch sử cận đại chói lòa ánh sáng nhân bản của các anh hùng vị quốc vong thân. Ngày nay khi nói về Việt Nam chúng ta lại quặn tấc lòng vì tưởng rằng xua đuổi thực dân phong kiến sẽ đem lại nền độc lập, tự do cho quê hương, ai ngờ đảng Cộng Sản thống trị từ năm 1975 đến nay mang bao bất công, nghèo nàn, tham nhũng và sa đọa còn hơn thời thực dân, phong kiến. Nhất là nền văn hóa Lạc Hồng bị mai một sau bao năm thực hiện chủ thuyết Xã hội Macxit trên quê hương. Hàng triệu con dân rời xa tổ quốc, hàng vạn phụ nữ bị cưỡng bức làm thê thiếp xứ người, hàng ức vạn thanh niên bán sức lao động ở mọi quốc gia chỉ để cho ngày hai bữa cơm rau đạm bạc. Tuy thế, nỗi nhục nhằn đó chưa thấm vào đâu khi so sánh với sự đớn hèn của đám lãnh đạo Hà Nội cúi đầu trước phương bắc, chấp nhận thấy đất tổ tiên bị thôn tính vẫn bình thân như vại, ngư dân của mình bị Tàu Cộng bắt cóc, bắn giết mà vẫn ngu ngơ, phản ứng lấy lệ, đất Tây nguyên đã bị khai thác mà hậu quả nghiêm trọng về môi sinh không ai ngó ngàng; ngược lại người dân lên tiếng phản đối, treo khẩu hiệu “Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam” liền bị cầm tù và bức hại.
Ôi thôi, càng nói càng đau, càng viết càng cay. Nhân ngày kỷ niệm 80 năm Tổng Khởi Nghĩa Yên Bái, kẻ viết bài này thành kính đốt nén hương tưởng niệm lên chư anh hùng, liệt nữ, hồn thiêng sông núi xui khiến sao cho tim óc những đám chóp bu Hà Nội có được chút “nhân tính” thường tình để đối xử với đồng bào như con dân cùng một quốc gia. Xin ơn trên gieo chút “Nhân” liêm sỉ, nhân tư cách, nhân bảo vệ đất tổ…thì thế nào mai sau cũng có kết quả cho quê hương không còn bao bất công, tham nhũng và nô lệ.
Các đồng chí hậu duệ của anh hùng Nguyễn Thái Học đã thừa hưởng cái “nhân” can đảm, bất khuất và trung kiên vô cùng quý hiếm, giống như gã cùng tử trong kinh Pháp Hoa đeo ngọc trong chéo áo mà chẳng lấy xài thì uổn phí vô cùng. Do đó, bằng hành động cụ thể trong cách ngồi lại thành tâm tưởng niệm đại lễ Tổng Khởi Nghĩa hôm nay thì cái “quả” dời non lấp bể mới mong đạt an dân lạc quốc, nhược bằng “đèn nhà ai nhà ấy rạng” thì thật là phụ công của Đảng trưởng Nguyễn Thái Học và mười hai đồng chí của người hơn một lần hiên ngang ngửa mặt trước lúc lên pháp trường ngày 17 tháng 6 năm 1930.
Nguyễn Hồng Dũng 10-Feb-2010
Tham Khảo: -Việt Nam Quốc Dân Đảng: Hoàng văn Đào -Hoa Cành Nam Ban Tuyên Nghiên huấn VNQDĐ/TN -Website: Vietnamquocdandang.net -Tác giả phỏng vấn: Cụ Phan Như Toản cựu chủ tịch VNQDĐ/TN/HN@truyenhinhvietnam.TV [/b]
Nguyễn Hồng Dũng, Ph. D, Feb 17, 2010 Cali Today News - Nói đến Việt Nam Quốc Dân Đảng, một Đảng cách mạng tiền phong của dân tộc Việt Nam thì ai cũng biết đến cuộc Tổng Khởi Nghĩa Yên Bái năm 1930 và linh hồn của mốc thời gian in đậm nét tinh anh trang lịch sử chính là sinh viên Nguyễn Thái Học, một lãnh tụ trẻ tuổi nhưng thể hiện tấm lòng thiết tha để tranh đấu cho nước nhà không còn bị ách thực dân Pháp cai trị.
Với tấm lòng ấy người thanh niên Nguyễn Thái Học đã cùng với những người đồng chí hướng thành lập Việt Nam Quốc Dân Đảng vào ngày 25 tháng 12 năm 1927 trong mục tiêu tranh đấu cho dân tộc độc lập, dân quyền tự do và dân sinh hạnh phúc.
Ngược dòng thời gian về bối cảnh nước Việt khi triều đình vua Tự Đức ký Hòa ước ngày 5 tháng 6 năm Nhâm Tuất (1862) tại Sài Gòn giữa chánh sứ Phan Thanh Giản, phó sứ Lâm Duy Hiệp với đại diện Pháp và Tây Ban Nha là Sir Bonard và Guttiere lúc bị mất ba tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Định Tường mở đầu sự đô hộ của Pháp tại Việt Nam. Chiếu theo tinh thần Hòa ước này thì Huế giao cho Pháp ba tỉnh miền Đông Nam kỳ và đảo Côn Lôn, Tây Ban Nha được tự do truyền giáo và buôn bán ở Đà Nẵng, Ba Lạt, Quảng Yên. Dân chúng Việt Nam lúc bấy giờ vô cùng bất mãn trước sự nhu nhược của triều đình nên khắp nơi có các phong trào tự phát đứng ra chiêu nạp nghĩa quân chống Pháp. Tuy tinh thần cao độ nhưng vũ khí, phương tiện của nghĩa quân thô sơ nên hầu như bị Pháp đàn áp một cách dã man.
Thái độ hà khắc, bóc lột của thực dân Pháp đối với dân Việt càng ngày càng cay độc khiến sự thôi thúc về nền tự do, độc lập của nước nhà càng được dịp phát huy dù ý niệm nhân quyền và dân chủ chưa phổ quát lắm. Cuối thập niên hai mươi của thế kỷ XX sinh viên Nguyễn Thái Học thuộc trường Cao đẳng thương mãi Hà Nội cùng nhiều tầng lớp công, nông dân, sĩ phu trí thức, sinh viên học sinh đồng lòng thành lập Đảng cách mạng tiên phong và sinh viên Nguyễn Thái Học được tin tưởng bầu vào chức chủ tịch.
Để phong trào được nâng cao nên nhu cầu một cuộc tổng khởi nghĩa toàn dân tham gia phải được thực thi, điều đáng khâm phục là chỉ trong vòng vài ba năm mà hàng ngàn chi bộ Việt Nam Quốc Dân Đảng đã được tổ chức xây dựng ở cả hai miền Bắc và Trung kỳ cũng như hàng trăm chi bộ trong hàng ngũ quân đội thuộc địa. Về mặt nhân sự thì Việt Nam Quốc Dân Đảng có khá đông người ủng hộ, nhưng phương tiện chiến đấu thì thật thô sơ, súng ống và đạn được phải mua lại từ kho phế thải, hoặc nghĩa quân tự túc trui rèn khí cụ như gươm, giáo, cung tên. Ngày 26 tháng 1 năm 1930 Ban Chấp Hành Trung Ương Viêt Nam Quốc Dân Đảng triệu tập đại hội tại làng Võng La quyết định ngày khởi nghĩa, dùng vũ trang tự tạo chiến đấu bởi lẽ một số cơ xuởng làm súng bị phát hiện và sự phản bội của tên Việt gian là Đội Dương tố cáo với mật thám Pháp nên không cho phép nghĩa quân đứng truớc cơ nguy chần chừ chờ chết.
Cuối cùng cuộc tổng khởi nghĩa đã tiến hành như quy định vào ngày 10 tháng 2 năm 1930 nhưng rất tiếc do tin tức bại lộ giúp thực dân chuẩn bị đối phó khiến nghĩa quân giao động, dẫn đến cuộc thảm bại với nhiều sinh mạng đảng viên hy sinh, tù đày. Mặc dù thất bại nhưng vầng hào quang khởi nghĩa đã tác động đến tâm tư người dân Việt quyết định chống thực dân Pháp đến hơi thở cuối cùng. Các chiến sĩ nghĩa quân đã tạo dựng khí thế ái quốc cùng khắp nên thời gian ấy đã khơi dậy tiềm lực chống ngoại xâm trong giới thanh niên cao độ.
Sự yếu kém về mặt vật chất đã không làm nao núng tinh thần dâng trào về một quốc gia độc lập khiến quân Pháp vô cùng lúng túng trước những phản ứng mãnh liệt. Nghĩa quân Việt Quốc đã chiếm cứ thị xã Yên Bái nhiều ngày đêm nơi tọa lạc đồn Pháp kiên cố làm thiệt hại quân binh thực dân là trọng điểm giữa cuộc khởi nghĩa lừng danh này, ngoài ra các tỉnh Sơn Tây, Phú Thọ, Hải Phòng, Lâm Thao, Bắc Ninh, Hưng Hóa, Kiến An, Phả Lại đều cùng nhau đồng loạt làm cuộc khởi nghĩa tấn công đến nỗi Pháp phải dùng phi cơ thả bom gây thương vong cho nghĩa quân Việt Quốc tại làng Cổ Am mà ngày nay vẫn còn di tích.
Câu hỏi thường được đặt ra là làm sao Đảng trưởng Nguyễn Thái Học và các đồng chí của Người trong thời gian ngắn mà huy động được số lượng nghĩa quân nhất tề hưởng ứng?. Có lẽ phát xuất từ tấm lòng yêu nước nồng nàn của giới thanh niên có uy tín, đứng đắn và đoàn kết để chống lại kẻ xâm lược, sự lãnh đạo đầy mưu trí và can đảm đặt quyền lợi của tổ quốc lên hàng đầu là chìa khóa “nhất hô bá ứng”. Khi cuộc khởi nghĩa thất bại, giới lãnh đạo Việt quốc có khả năng sang Trung Hoa hay Thái Lan ẩn núp, nhưng Đảng trưởng Nguyễn Thái Học và hàng trăm đồng chí thân cận của Người đã sát cánh bên các toán nghĩa quân để hổ trợ chiến đấu, chỉ huy binh pháp hoặc giải vây đồng đội đến giây phút đưa định mạng của họ về nơi Tiên cảnh. Lòng can đảm đã thể hiện trong từng con tim của mỗi cá nhân khi gia nhập đảng Cách mạng cứu quốc mà khi bị phát hiện thì đầu có thể rơi, nhà cửa gia đình tan nát và nhẹ nhất cũng bị đày đến các vùng Côn Sơn, Lao Bảo, Sơn La chịu hình phạt chung thân khổ sai. Nhưng tất cả những đe dọa đó không áp đảo lại lòng kiên định cho một tổ quốc độc lập, tự do; việc nhân, việc dũng, việc thiện của nghĩa quân đáng trân trọng lên trang sử oanh liệt vì dù có gì đi nữa thì quan điểm rõ ràng của chàng thanh niên nước Việt hai mươi bảy tuổi đời đã gởi một thông điệp phản ánh nhân cách sống của lớp thanh niên bất khuất là “Không Thành Công Thì Cũng Thành Nhân” khiến dư luận trên thế giới vang dội, thách thức Đế quốc thực dân Pháp đứng trước nguy cơ của các thuộc địa nhỏ nhưng tinh thần hy sinh đòi độc lập bằng xương máu thì lúc nào cũng quyết tâm to tác. Phản ứng của những phe nhóm chủ hòa có cơ hội xét lại phương cách đấu tranh và từ đó tiếng vang về cuộc khởi nghĩa Yên Bái đã thức tỉnh bao tâm hồn đang say ngủ trước thời cuộc. Chính việc khởi nghĩa thất bại này đã kích động lòng yêu nước nồng nàn của tầng lớp thanh niên khắp nước đứng lên đòi thực dân Pháp rút quân về nước trong các cuộc biểu tình đó đây.
Ngày nay Cộng sản thường xuyên tạc lịch sử để thay đen đổi trắng, nhưng về lòng yêu nước của Đảng trưởng cũng như các đồng chí của Người đều phản ảnh đúng đắn và cuộc Khởi Nghĩa Yên Bái lúc nào cũng được ca tụng. Hãy bỏ qua sự kiện nhà đương quyền Cộng Sản muốn dùng đó như sự “Hoà Giải Hòa Hợp Dân Tộc” thì ít ra lịch sử Việt Nam Quốc Dân Đảng gắn liền cùng vận mạng quốc gia bất khả phân.
Dân tộc Việt nam đã bị mất đi những người con ưu tú của đất nước, nhưng bù lại lịch sử cận đại chói lòa ánh sáng nhân bản của các anh hùng vị quốc vong thân. Ngày nay khi nói về Việt Nam chúng ta lại quặn tấc lòng vì tưởng rằng xua đuổi thực dân phong kiến sẽ đem lại nền độc lập, tự do cho quê hương, ai ngờ đảng Cộng Sản thống trị từ năm 1975 đến nay mang bao bất công, nghèo nàn, tham nhũng và sa đọa còn hơn thời thực dân, phong kiến. Nhất là nền văn hóa Lạc Hồng bị mai một sau bao năm thực hiện chủ thuyết Xã hội Macxit trên quê hương. Hàng triệu con dân rời xa tổ quốc, hàng vạn phụ nữ bị cưỡng bức làm thê thiếp xứ người, hàng ức vạn thanh niên bán sức lao động ở mọi quốc gia chỉ để cho ngày hai bữa cơm rau đạm bạc. Tuy thế, nỗi nhục nhằn đó chưa thấm vào đâu khi so sánh với sự đớn hèn của đám lãnh đạo Hà Nội cúi đầu trước phương bắc, chấp nhận thấy đất tổ tiên bị thôn tính vẫn bình thân như vại, ngư dân của mình bị Tàu Cộng bắt cóc, bắn giết mà vẫn ngu ngơ, phản ứng lấy lệ, đất Tây nguyên đã bị khai thác mà hậu quả nghiêm trọng về môi sinh không ai ngó ngàng; ngược lại người dân lên tiếng phản đối, treo khẩu hiệu “Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam” liền bị cầm tù và bức hại.
Ôi thôi, càng nói càng đau, càng viết càng cay. Nhân ngày kỷ niệm 80 năm Tổng Khởi Nghĩa Yên Bái, kẻ viết bài này thành kính đốt nén hương tưởng niệm lên chư anh hùng, liệt nữ, hồn thiêng sông núi xui khiến sao cho tim óc những đám chóp bu Hà Nội có được chút “nhân tính” thường tình để đối xử với đồng bào như con dân cùng một quốc gia. Xin ơn trên gieo chút “Nhân” liêm sỉ, nhân tư cách, nhân bảo vệ đất tổ…thì thế nào mai sau cũng có kết quả cho quê hương không còn bao bất công, tham nhũng và nô lệ.
Các đồng chí hậu duệ của anh hùng Nguyễn Thái Học đã thừa hưởng cái “nhân” can đảm, bất khuất và trung kiên vô cùng quý hiếm, giống như gã cùng tử trong kinh Pháp Hoa đeo ngọc trong chéo áo mà chẳng lấy xài thì uổn phí vô cùng. Do đó, bằng hành động cụ thể trong cách ngồi lại thành tâm tưởng niệm đại lễ Tổng Khởi Nghĩa hôm nay thì cái “quả” dời non lấp bể mới mong đạt an dân lạc quốc, nhược bằng “đèn nhà ai nhà ấy rạng” thì thật là phụ công của Đảng trưởng Nguyễn Thái Học và mười hai đồng chí của người hơn một lần hiên ngang ngửa mặt trước lúc lên pháp trường ngày 17 tháng 6 năm 1930.
Nguyễn Hồng Dũng 10-Feb-2010
Tham Khảo: -Việt Nam Quốc Dân Đảng: Hoàng văn Đào -Hoa Cành Nam Ban Tuyên Nghiên huấn VNQDĐ/TN -Website: Vietnamquocdandang.net -Tác giả phỏng vấn: Cụ Phan Như Toản cựu chủ tịch VNQDĐ/TN/HN@truyenhinhvietnam.TV [/b]
Vô hiệu hóa Tầu Tuần Tra Ngư Chính (TTNC)
Nguyễn Ðạt Thịnh Tầu “tuần tra ngư chính” là một thứ vũ khí vô cùng lợi hại trên cả hai bình diện chiến thuật và chiến lược. Trên địa hạt chiến thuật nó đắc dụng trong cuộc hải chiến với ngư dân Việt Nam, nên vừa hoàn tất cuộc chiếm đóng vùng biển Hoàng Sa, và đang quay mũi tầu tiến về tấn công ngư dân Việt Nam trên vùng biển Trường Sa để giữ độc quyền ngư trường này cho ngư dân Trung Hoa.Và trên địa hạt chiến lược tầu “tuần tra ngư chính” đang vô hiệu hóa Ðệ Thất Hạm Ðội chực sẵn ngoài Thái Bình Dương để chờ can thiệp vào Biển Ðông nếu chiến tranh xẩy ra tại đó.
Ðã chứng minh cái lợi hại của nó, tầu “tuần tra ngư chính” đáng được mệnh danh là TTNC để ghi vào cuốn “từ điển quân sự” trong mục vũ khí; đại loại như súng không giật được ghi trong từ điển bằng 3 chữ SKZ, hay khẩu súng trường lính Mỹ sử dụng trong thời Thế Chiến II, được thự danh dưới cái tên M1.
Khẩu súng này là một hình ảnh khó quên đối với quân nhân Việt Nam, vì những đặc tính cười ra nước mắt: nó dài thước mốt, nặng 5.3 ký mà Hoa Kỳ lấy trong kho vũ khí phế thải ra, võ trang cho người lính Việt Nam cao thước rưỡi, nặng 53 kí.
Họ kéo lê khẩu súng vừa quá dài, vừa quá nặng trong những cuộc hành quân lê thê tháng này sang tháng khác.
Nếu khẩu AK ngày truớc đã là lợi khí giúp Việt Cộng thắng thế khi quân nhân VNCH còn trang bị bằng M1, thì hôm nay TTNC là thứ lợi khí đang giúp Trung Cộng thực hiện cuộc tấn chiếm Biển Ðông vô cùng êm ả, thành tích mà hàng không mẫu hạm hay khu trục hạm không làm nổi.
Chứng minh điển hình: nếu một chiến hạm Trung Cộng đụng đắm, hay bắn chìm một ngư thuyền Việt Nam thì diễn biến này đã vô cùng ồn ào, đã bị thế giới lên án, bị hội ngư dân Việt Nam đưa ra tòa án quốc tế đòi bồi thường, và hy vọng Việt Cộng dám đứng ra bênh vực ngư dân Việt Nam bằng những khí cụ quân sự như tầu chiến, phản lực cơ, biến Biển Ðông thành chiến trường mà Hoa Kỳ có môi trường để nhẩy vào can thiệp khi hải lực Trung Cộng chưa theo kịp hải lực Hoa Kỳ.
Nhưng TTNC êm re đụng chìm ngư thuyền Việt Nam, khủng bố ngư phủ Việt Nam, khiến họ khiếp sợ không dám vào ngư trường Hoàng Sa đánh bắt nữa mà không tạo ra một phản ứng quân sự nào cả. Cái lợi hại của TTNC là ở chỗ đó.
Hôm thứ Ba mùng 9 tháng Hai TTNC mở kỷ nguyên mới cho cuộc Nam Tiến của Tầu, và tạo ra nỗi khổ riêng cho ngư phủ Việt Nam và nỗi nhục chung cho dân tộc Việt Nam.
Kỷ nguyên khổ nhục mới được tên tầu phù Ngưu Thuấn, thứ trưởng bộ Nông Nghiệp Trung Cộng mở màn bằng câu tuyên bố Trung Cộng sẽ tăng cường TTNC để "bảo vệ nghề cá" tại Trường Sa.
Nỗi khổ riêng của ngư phủ là mất thêm ngư trường. Thuấn nói đưa thêm TTNC đến Trường Sa “bảo vệ nghề cá”; 4 chữ nghe hiền lành, và mang tính che chở này đang làm vài chục ngàn ngư dân Việt Nam lo lắng, khiếp sợ: họ đã từng biết Trung Cộng “bảo vệ nghề cá” bằng cách bắn giết, bắt bớ, bóp cổ, đánh đập, giam giữ ngư dân Việt Nam, phá hủy, tịch thu ngư thuyền, ngư cụ, và đòi vợ con, thân nhân ngư dân chạy tiền chuộc chồng, chuộc ghe về.
Và nỗi nhục chung của dân tộc Việt Nam là trong lúc TTNC tiến chiếm vùng biển Việt Nam, báo chí Việt Nam, nhà nước Việt Cộng vẫn hớn hở ca tụng quan thầy Trung Cộng.
Từ hơn một năm nay TTNC Trung Cộng quần quanh Hoàng Sa mà không gặp một sức kháng cự nào; giờ này, sau khi xua đuổi ngư dân Việt Nam tránh né vùng biển Hoàng Sa, Trung Cộng đưa TTNC xuống xa hơn nữa về phía Nam để tranh dành ngư trường Trường Sa, cấm không cho ngư dân Việt Nam đánh bắt tại đó nữa.
Đài Phát thanh Trung Cộng (CRI) loan báo hôm thứ Ba 02/09 là Ngưu Thuấn nói sẽ "kịp thời điều chỉnh tư duy về khai thác và quản lý nghề cá" ở khu vực Trường Sa, quần đảo mà Trung Cộng gọi là Nam Sa.
Ngưu nói "căn cứ theo tình hình mới, cần tăng cường TTNC bảo vệ nghề cá trên vùng biển Nam Sa, giữ gìn lợi ích biển quốc gia". Dĩ nhiên hai chữ “quốc gia” của Ngưu là để chỉ quốc gia Tầu.
Dù bị trói trong “tình thân” Hoa-Việt, báo quốc nội không dám phân biệt Tầu, Việt; nhưng VietnamNet vẫn phải viết là lời tuyên bố của Ngưu chắc chắn sẽ gây quan ngại cho các quốc gia đã cùng Trung Cộng tuyên bố chủ quyền và khai thác nguồn lợi hải sản tại Trường Sa như Việt Nam và Philippines; nhận xét này nghe khách quan như chuyện mất thêm biển vì TTNC chỉ liên quan đến người nước ngoài.
Ðài Trung Cộng tường thuật việc Ngưu Thuấn tham dự lễ kỷ niệm 15 năm "xây dựng và bảo vệ" bãi Mỹ Tế ở Nam Sa hôm 09/02; lợi dụng dịp này hắn nói, “Vùng biển Nam Sa là ngư trường truyền thống của ngư dân Trung Quốc, rất nhiều ngư dân Hải Nàm, Quảng Đông và Quảng Tây đã đời đời kiếp kiếp đánh bắt cá tại đây; sở Ngư chính Hải Nam canh giữ bãi Mỹ Tế và tuần tiễu thi hành pháp luật tại Nam Sa đã phát huy vai trò nổi bật trong việc giữ gìn quyền lợi biển quốc gia và trật tự sản xuất nghề cá, bảo vệ môi trường tài nguyên nghề cá ở Nam Sa và quyền lợi hợp pháp của ngư dân.”
Tôi hoàn toàn không hiểu lý do khiến giọng điệu của VietnamNet nghe “hồ hởi” vui mừng về việc Trung Cộng chiếm thêm vùng biển Trường Sa. Câu văn của tờ báo Việt Nam thiếu một chữ “TẦU” để trở thành “… bảo vệ môi trường tài nguyên nghề cá ở Nam Sa và quyền lợi hợp pháp của ngư phủ TẦU.” Thiếu chữ TẦU là đánh mất Việt Nam ngay tại Hà Nội.
VietnamNet còn viết, “Đúng 15 năm trước, tháng Hai năm 1995, Trung Quốc đã cho xây cơ sở nhà sàn trên bãi Mỹ Tế (Mischief Reef, tiếng Việt là Đá Vành khăn), bắt đầu chiếm bãi đá này cho dù có phản đối từ Philippines là nước giữ kiểm soát bãi đá này từ trước.
Không xa, cũng tại Trường Sa, có đảo đá Gạc Ma (Johnson South Reef) mà Trung Quốc chiếm từ tay Việt Nam sau trận hải chiến ngày 14/03/1988 làm 70 lính hải quân Việt Nam thiệt mạng.”
Lời văn vẫn vô tư như việc 70 người lính hải quân bị Tầu giết là lính nước khác.
Dù đuổi ngư phủ Việt Nam ra khỏi Hoàng Sa từ một năm nay, và sắp đuổi chúng ta ra khỏi Trường Sa, nhưng Tầu vẫn nói không bắt nạt nước nhỏ, người phát ngôn Tầu, Mã Triều Húc tuyên bố, “Trung Quốc không bao giờ bắt nạt người khác, không bao giờ can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác, hiện nay không xưng bá, sau này phát triển cũng mãi mãi không xưng bá,” chỉ cấm ngư dân Việt Nam đánh, bắt cá trong vùng biển Việt Nam thôi.
Chúng nhũn nhặn không xưng bá, nhưng chúng vẫn được bọn trùm Việt Cộng coi chúng như bá phụ. Việt Cộng tùng phục đến mức việc “cai trị” Việt Nam không còn là bận tâm của Hồ Cẩm Ðào hay những quan chức lớn của Tầu nữa, mà chỉ là việc của thứ trưởng Ngưu Thuấn, và của thái thú Quốc Tường. Ngưu Thuấn chỉ cần tuyên bố một câu là ranh giới lãnh hải thay đổi, ngư dân Việt Nam chết đói.
Thuấn bô bô nói: năm nay - 2010 - được Trung Cộng công bố là năm hữu nghị Hoa-Việt; trong lúc Mã Húc vuốt ve bảo Hà Nội cứ yên tâm, vì “Logic cường quyền chính trị bị Trung Cộng coi là vô lý, thiếu căn bản.”
Húc cứ nói, Thuấn cứ nói, Hà Nội cứ nín; và ngư dân Việt Nam cứ tiếp tục bị thủy thủ Tầu trên TTNC bắt, đánh, bóp cổ, giam giữ.
Trở lại với lợi khí TTNC để thử bàn về một thứ vũ khí khắc kỵ, chế ngự được TTNC, không cho chúng làm bá chủ Biển Ðông nữa.
Thiết tưởng việc này cũng không khó đến mức không làm được: luật biển của Liên Hiệp Quốc ấn định cho Việt Nam có một vùng lãnh hải quanh lãnh thổ, và một vùng kinh tế hải phận rộng đến 200 hải lý cách bờ biển. Trung Cộng cũng đang áp dụng luật đó, sử dụng TTNC như một thứ cảnh sát kinh tế trong hải phận kinh tế mà chúng nói là của chúng.

Tàu CSB-9001 vừa được bàn giao cho lực lượng Cảnh sát biển VN. Ảnh: HC
Việt Cộng cũng có quyền dùng cảnh sát biển, như Hoa Kỳ dùng Coast Guard để bảo vệ vùng biển của họ; công tác đầu tiên của CSB (Cảnh sát biển) là bắt những ngư thuyền Trung Cộng đang hành nghề chỉ cách bờ biển Việt Nam 40 hải lý, như nhiều lần ngư phủ Việt Nam đã tố cáo.
CSB cũng lại là những chiến hạm sơn trắng như TTNC; hơn thế nữa Việt Cộng có thể trang bị cho CSB thêm những dụng cụ quay phim, những ăng ten truyền hình để trực tiếp truyền đi khắp thế giới hình ảnh CSB bắt bớ ngư phủ Trung Hoa hành nghề trong hải phận Việt Nam. Ði xa hơn nữa, Việt Cộng còn có thể mời phóng viên ngoại quốc cùng đi trên tầu CSB để họ chứng kiến việc làm hợp pháp của CSB.
Lực lượng biên phòng của những tỉnh Quảng Ngãi, Thừa Thiên thường xuyên báo động là hàng trăm ngư thuyền Trung Cộng đánh bắt chỉ cách bờ biển Việt Nam vài chục hải lý, thì việc bắt giữ 100 ngư thuyền Trung Cộng phạm pháp có thể làm trong một ngày.
Những ngư phủ Trung Cộng bị bắt cũng sẽ bị giam, bị đưa ra tòa xử phạt, và toàn bộ diễn tiến sẽ diễn ra công khai với sự quan sát của truyền thông quốc tế.
Phản ứng này sẽ đưa Trung Cộng vào thế há miệng mắc quai, vì Việt Cộng, theo đúng ám số chuyên nghiệp, chỉ làm những việc Trung Cộng đã làm; và cái thế không thể phản đối này sẽ đưa Trung Cộng vào bàn hội nghị để phải chấp nhận tình trạng “dễ người, dễ ta; khó người, khó ta”.
Sơn trắng một chục chiếc tiểu hạm là việc Việt Cộng biết làm, trang bị máy quay phim, máy truyền hình cho những tầu CSB Việt Cộng cũng biết làm, mời phóng viên ngoại quốc tháp tùng tầu CSB cũng vẫn không phải là việc làm quá sức Việt Cộng.
Ðiều chúng không làm được là thiếu tự chủ, giữ cho tay thôi bắt chuồn chuồn, miệng thôi không đánh bồ cạp vì run nữa.
Thế võ “gậy ông đập lưng ông” không hề là sáng kiến của kẻ viết bài này, nó chỉ là một trang của bí kíp Kim Dung, mà kẻ cầm bút đã luợm mót trong võ tầu. Nhưng xin bảo đảm công dụng của nó: nếu hôm nay Việt Cộng cả gan công bố việc sơn trắng một loạt tiểu hạm để thành lập đội CSB, thì chỉ ngày mai TTNC sẽ ngưng hoạt động.
Vác toàn bộ sức nặng của quả đất không phải là việc khó, có khó chăng là tìm chỗ đặt chân xuống để đứng vững hầu sử dụng hai tay nâng quả đất lên. Ðất đứng của Việt Cộng hầu giải quyết thế thua thiệt ngoài Biển Ðông là quảng trường Diên Hồng, nhưng chúng lại không biết quảng trường này nằm ở đâu.
Chúng đang đứng giữa quảng trường Thiên An Môn, và đó là nguyên nhân không vô hiệu hóa TTNC được.
Nguyễn Ðạt Thịnh
Nguyễn Ðạt Thịnh Tầu “tuần tra ngư chính” là một thứ vũ khí vô cùng lợi hại trên cả hai bình diện chiến thuật và chiến lược. Trên địa hạt chiến thuật nó đắc dụng trong cuộc hải chiến với ngư dân Việt Nam, nên vừa hoàn tất cuộc chiếm đóng vùng biển Hoàng Sa, và đang quay mũi tầu tiến về tấn công ngư dân Việt Nam trên vùng biển Trường Sa để giữ độc quyền ngư trường này cho ngư dân Trung Hoa.Và trên địa hạt chiến lược tầu “tuần tra ngư chính” đang vô hiệu hóa Ðệ Thất Hạm Ðội chực sẵn ngoài Thái Bình Dương để chờ can thiệp vào Biển Ðông nếu chiến tranh xẩy ra tại đó.
Ðã chứng minh cái lợi hại của nó, tầu “tuần tra ngư chính” đáng được mệnh danh là TTNC để ghi vào cuốn “từ điển quân sự” trong mục vũ khí; đại loại như súng không giật được ghi trong từ điển bằng 3 chữ SKZ, hay khẩu súng trường lính Mỹ sử dụng trong thời Thế Chiến II, được thự danh dưới cái tên M1.
Khẩu súng này là một hình ảnh khó quên đối với quân nhân Việt Nam, vì những đặc tính cười ra nước mắt: nó dài thước mốt, nặng 5.3 ký mà Hoa Kỳ lấy trong kho vũ khí phế thải ra, võ trang cho người lính Việt Nam cao thước rưỡi, nặng 53 kí.
Họ kéo lê khẩu súng vừa quá dài, vừa quá nặng trong những cuộc hành quân lê thê tháng này sang tháng khác.
Nếu khẩu AK ngày truớc đã là lợi khí giúp Việt Cộng thắng thế khi quân nhân VNCH còn trang bị bằng M1, thì hôm nay TTNC là thứ lợi khí đang giúp Trung Cộng thực hiện cuộc tấn chiếm Biển Ðông vô cùng êm ả, thành tích mà hàng không mẫu hạm hay khu trục hạm không làm nổi.
Chứng minh điển hình: nếu một chiến hạm Trung Cộng đụng đắm, hay bắn chìm một ngư thuyền Việt Nam thì diễn biến này đã vô cùng ồn ào, đã bị thế giới lên án, bị hội ngư dân Việt Nam đưa ra tòa án quốc tế đòi bồi thường, và hy vọng Việt Cộng dám đứng ra bênh vực ngư dân Việt Nam bằng những khí cụ quân sự như tầu chiến, phản lực cơ, biến Biển Ðông thành chiến trường mà Hoa Kỳ có môi trường để nhẩy vào can thiệp khi hải lực Trung Cộng chưa theo kịp hải lực Hoa Kỳ.
Nhưng TTNC êm re đụng chìm ngư thuyền Việt Nam, khủng bố ngư phủ Việt Nam, khiến họ khiếp sợ không dám vào ngư trường Hoàng Sa đánh bắt nữa mà không tạo ra một phản ứng quân sự nào cả. Cái lợi hại của TTNC là ở chỗ đó.
Hôm thứ Ba mùng 9 tháng Hai TTNC mở kỷ nguyên mới cho cuộc Nam Tiến của Tầu, và tạo ra nỗi khổ riêng cho ngư phủ Việt Nam và nỗi nhục chung cho dân tộc Việt Nam.
Kỷ nguyên khổ nhục mới được tên tầu phù Ngưu Thuấn, thứ trưởng bộ Nông Nghiệp Trung Cộng mở màn bằng câu tuyên bố Trung Cộng sẽ tăng cường TTNC để "bảo vệ nghề cá" tại Trường Sa.
Nỗi khổ riêng của ngư phủ là mất thêm ngư trường. Thuấn nói đưa thêm TTNC đến Trường Sa “bảo vệ nghề cá”; 4 chữ nghe hiền lành, và mang tính che chở này đang làm vài chục ngàn ngư dân Việt Nam lo lắng, khiếp sợ: họ đã từng biết Trung Cộng “bảo vệ nghề cá” bằng cách bắn giết, bắt bớ, bóp cổ, đánh đập, giam giữ ngư dân Việt Nam, phá hủy, tịch thu ngư thuyền, ngư cụ, và đòi vợ con, thân nhân ngư dân chạy tiền chuộc chồng, chuộc ghe về.
Và nỗi nhục chung của dân tộc Việt Nam là trong lúc TTNC tiến chiếm vùng biển Việt Nam, báo chí Việt Nam, nhà nước Việt Cộng vẫn hớn hở ca tụng quan thầy Trung Cộng.
Từ hơn một năm nay TTNC Trung Cộng quần quanh Hoàng Sa mà không gặp một sức kháng cự nào; giờ này, sau khi xua đuổi ngư dân Việt Nam tránh né vùng biển Hoàng Sa, Trung Cộng đưa TTNC xuống xa hơn nữa về phía Nam để tranh dành ngư trường Trường Sa, cấm không cho ngư dân Việt Nam đánh bắt tại đó nữa.
Đài Phát thanh Trung Cộng (CRI) loan báo hôm thứ Ba 02/09 là Ngưu Thuấn nói sẽ "kịp thời điều chỉnh tư duy về khai thác và quản lý nghề cá" ở khu vực Trường Sa, quần đảo mà Trung Cộng gọi là Nam Sa.
Ngưu nói "căn cứ theo tình hình mới, cần tăng cường TTNC bảo vệ nghề cá trên vùng biển Nam Sa, giữ gìn lợi ích biển quốc gia". Dĩ nhiên hai chữ “quốc gia” của Ngưu là để chỉ quốc gia Tầu.
Dù bị trói trong “tình thân” Hoa-Việt, báo quốc nội không dám phân biệt Tầu, Việt; nhưng VietnamNet vẫn phải viết là lời tuyên bố của Ngưu chắc chắn sẽ gây quan ngại cho các quốc gia đã cùng Trung Cộng tuyên bố chủ quyền và khai thác nguồn lợi hải sản tại Trường Sa như Việt Nam và Philippines; nhận xét này nghe khách quan như chuyện mất thêm biển vì TTNC chỉ liên quan đến người nước ngoài.
Ðài Trung Cộng tường thuật việc Ngưu Thuấn tham dự lễ kỷ niệm 15 năm "xây dựng và bảo vệ" bãi Mỹ Tế ở Nam Sa hôm 09/02; lợi dụng dịp này hắn nói, “Vùng biển Nam Sa là ngư trường truyền thống của ngư dân Trung Quốc, rất nhiều ngư dân Hải Nàm, Quảng Đông và Quảng Tây đã đời đời kiếp kiếp đánh bắt cá tại đây; sở Ngư chính Hải Nam canh giữ bãi Mỹ Tế và tuần tiễu thi hành pháp luật tại Nam Sa đã phát huy vai trò nổi bật trong việc giữ gìn quyền lợi biển quốc gia và trật tự sản xuất nghề cá, bảo vệ môi trường tài nguyên nghề cá ở Nam Sa và quyền lợi hợp pháp của ngư dân.”
Tôi hoàn toàn không hiểu lý do khiến giọng điệu của VietnamNet nghe “hồ hởi” vui mừng về việc Trung Cộng chiếm thêm vùng biển Trường Sa. Câu văn của tờ báo Việt Nam thiếu một chữ “TẦU” để trở thành “… bảo vệ môi trường tài nguyên nghề cá ở Nam Sa và quyền lợi hợp pháp của ngư phủ TẦU.” Thiếu chữ TẦU là đánh mất Việt Nam ngay tại Hà Nội.
VietnamNet còn viết, “Đúng 15 năm trước, tháng Hai năm 1995, Trung Quốc đã cho xây cơ sở nhà sàn trên bãi Mỹ Tế (Mischief Reef, tiếng Việt là Đá Vành khăn), bắt đầu chiếm bãi đá này cho dù có phản đối từ Philippines là nước giữ kiểm soát bãi đá này từ trước.
Không xa, cũng tại Trường Sa, có đảo đá Gạc Ma (Johnson South Reef) mà Trung Quốc chiếm từ tay Việt Nam sau trận hải chiến ngày 14/03/1988 làm 70 lính hải quân Việt Nam thiệt mạng.”
Lời văn vẫn vô tư như việc 70 người lính hải quân bị Tầu giết là lính nước khác.
Dù đuổi ngư phủ Việt Nam ra khỏi Hoàng Sa từ một năm nay, và sắp đuổi chúng ta ra khỏi Trường Sa, nhưng Tầu vẫn nói không bắt nạt nước nhỏ, người phát ngôn Tầu, Mã Triều Húc tuyên bố, “Trung Quốc không bao giờ bắt nạt người khác, không bao giờ can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác, hiện nay không xưng bá, sau này phát triển cũng mãi mãi không xưng bá,” chỉ cấm ngư dân Việt Nam đánh, bắt cá trong vùng biển Việt Nam thôi.
Chúng nhũn nhặn không xưng bá, nhưng chúng vẫn được bọn trùm Việt Cộng coi chúng như bá phụ. Việt Cộng tùng phục đến mức việc “cai trị” Việt Nam không còn là bận tâm của Hồ Cẩm Ðào hay những quan chức lớn của Tầu nữa, mà chỉ là việc của thứ trưởng Ngưu Thuấn, và của thái thú Quốc Tường. Ngưu Thuấn chỉ cần tuyên bố một câu là ranh giới lãnh hải thay đổi, ngư dân Việt Nam chết đói.
Thuấn bô bô nói: năm nay - 2010 - được Trung Cộng công bố là năm hữu nghị Hoa-Việt; trong lúc Mã Húc vuốt ve bảo Hà Nội cứ yên tâm, vì “Logic cường quyền chính trị bị Trung Cộng coi là vô lý, thiếu căn bản.”
Húc cứ nói, Thuấn cứ nói, Hà Nội cứ nín; và ngư dân Việt Nam cứ tiếp tục bị thủy thủ Tầu trên TTNC bắt, đánh, bóp cổ, giam giữ.
Trở lại với lợi khí TTNC để thử bàn về một thứ vũ khí khắc kỵ, chế ngự được TTNC, không cho chúng làm bá chủ Biển Ðông nữa.
Thiết tưởng việc này cũng không khó đến mức không làm được: luật biển của Liên Hiệp Quốc ấn định cho Việt Nam có một vùng lãnh hải quanh lãnh thổ, và một vùng kinh tế hải phận rộng đến 200 hải lý cách bờ biển. Trung Cộng cũng đang áp dụng luật đó, sử dụng TTNC như một thứ cảnh sát kinh tế trong hải phận kinh tế mà chúng nói là của chúng.

Tàu CSB-9001 vừa được bàn giao cho lực lượng Cảnh sát biển VN. Ảnh: HC
Việt Cộng cũng có quyền dùng cảnh sát biển, như Hoa Kỳ dùng Coast Guard để bảo vệ vùng biển của họ; công tác đầu tiên của CSB (Cảnh sát biển) là bắt những ngư thuyền Trung Cộng đang hành nghề chỉ cách bờ biển Việt Nam 40 hải lý, như nhiều lần ngư phủ Việt Nam đã tố cáo.
CSB cũng lại là những chiến hạm sơn trắng như TTNC; hơn thế nữa Việt Cộng có thể trang bị cho CSB thêm những dụng cụ quay phim, những ăng ten truyền hình để trực tiếp truyền đi khắp thế giới hình ảnh CSB bắt bớ ngư phủ Trung Hoa hành nghề trong hải phận Việt Nam. Ði xa hơn nữa, Việt Cộng còn có thể mời phóng viên ngoại quốc cùng đi trên tầu CSB để họ chứng kiến việc làm hợp pháp của CSB.
Lực lượng biên phòng của những tỉnh Quảng Ngãi, Thừa Thiên thường xuyên báo động là hàng trăm ngư thuyền Trung Cộng đánh bắt chỉ cách bờ biển Việt Nam vài chục hải lý, thì việc bắt giữ 100 ngư thuyền Trung Cộng phạm pháp có thể làm trong một ngày.
Những ngư phủ Trung Cộng bị bắt cũng sẽ bị giam, bị đưa ra tòa xử phạt, và toàn bộ diễn tiến sẽ diễn ra công khai với sự quan sát của truyền thông quốc tế.
Phản ứng này sẽ đưa Trung Cộng vào thế há miệng mắc quai, vì Việt Cộng, theo đúng ám số chuyên nghiệp, chỉ làm những việc Trung Cộng đã làm; và cái thế không thể phản đối này sẽ đưa Trung Cộng vào bàn hội nghị để phải chấp nhận tình trạng “dễ người, dễ ta; khó người, khó ta”.
Sơn trắng một chục chiếc tiểu hạm là việc Việt Cộng biết làm, trang bị máy quay phim, máy truyền hình cho những tầu CSB Việt Cộng cũng biết làm, mời phóng viên ngoại quốc tháp tùng tầu CSB cũng vẫn không phải là việc làm quá sức Việt Cộng.
Ðiều chúng không làm được là thiếu tự chủ, giữ cho tay thôi bắt chuồn chuồn, miệng thôi không đánh bồ cạp vì run nữa.
Thế võ “gậy ông đập lưng ông” không hề là sáng kiến của kẻ viết bài này, nó chỉ là một trang của bí kíp Kim Dung, mà kẻ cầm bút đã luợm mót trong võ tầu. Nhưng xin bảo đảm công dụng của nó: nếu hôm nay Việt Cộng cả gan công bố việc sơn trắng một loạt tiểu hạm để thành lập đội CSB, thì chỉ ngày mai TTNC sẽ ngưng hoạt động.
Vác toàn bộ sức nặng của quả đất không phải là việc khó, có khó chăng là tìm chỗ đặt chân xuống để đứng vững hầu sử dụng hai tay nâng quả đất lên. Ðất đứng của Việt Cộng hầu giải quyết thế thua thiệt ngoài Biển Ðông là quảng trường Diên Hồng, nhưng chúng lại không biết quảng trường này nằm ở đâu.
Chúng đang đứng giữa quảng trường Thiên An Môn, và đó là nguyên nhân không vô hiệu hóa TTNC được.
Nguyễn Ðạt Thịnh

