Bình Luận Thời Sự
Toả Sáng Niềm Tin
Lm Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh, OFM
Vào lúc các tín hữu Chúa Ki-tô trên khắp cùng thế giới bước vào Tuần Thánh, tưởng niệm Chúa Ki-tô chịu thương khó, chịu chết rồi phục sinh, thì ngay trên đất nước Việt Nam chúng ta, hai Ki-tô hữu đang lôi kéo sự chú ý của các cơ quan truyền thông trên thế giới, cho dù ở trong nước, toàn bộ báo đài đều giả điếc làm ngơ, hai khuôn mặt đang ngời sáng đó là một tín hữu Tin Lành, luật sư Lê Thị Công Nhân, và một linh mục Công Giáo, cha Ta-đê-ô Nguyễn Văn Lý. Luật sư Lê Thị Công Nhân bước vào nhà tù khi mới 28 tuổi, vào lúc bạn bè đồng trang lứa của cô nghĩ đến tương lai, đến tình yêu, đến hạnh phúc, đến sự nghiệp. Nhà tù của chế độ cộng sản Việt Nam đã nuốt trọn 3 năm của quãng thời gian đẹp nhất của một đời người. Còn linh mục Nguyễn Văn Lý, năm nay 64 tuổi, thì tổng cộng đã có 14 năm tù. Dưới cái nhìn của người Ki-tô hữu chúng ta, đó là những người đã đi con đường hy sinh, con đường thánh giá mà chính Đức Giê-su đã đi khi thực hiện công trình cứu độ.
Đức Giê-su không phải là một nhà hùng biện nói thật hay để ta nghe cho sướng tai, không phải là một nhà trí thức siêu đẳng với những pho sách dày cộm làm ta lác mắt, không phải một lý thuyết gia đưa ra những tư tưởng lỗi lạc khiến chúng ta sững sờ. Không, Ngài là Thiên Chúa làm người để cứu độ con người. Và để đạt được mục tiêu đó, Ngài đã chấp nhận trả giá : “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người dám hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13). Đây không phải là một công thức khô khan trừu tượng, nhưng là một nguyên tắc Đức Giê-su đã áp dụng cho chính mình qua cuộc thương khó và cái chết nhục nhằn trên thập giá mà Hội Thánh tưởng niệm một cách đặc biệt long trọng mỗi năm một lần, trong suốt cả Tuần Thánh.
Đường tranh đấu là con đường thánh giá
Sở dĩ tôi dám liên kết những năm tù đày của luật sư Lê Thị Công Nhân và Cha Lý với cuộc thương khó của Chúa Ki-tô là vì cả hai, thay vì đi con đường trơn tru suôn sẻ mà bao người vẫn đi, đã chọn con đường gai góc, con đường đấu tranh, con đường thánh giá. Tốt nghiệp cử nhân luật ở tuổi 22, hai năm sau đã là thành viên luật sư đoàn Hà Nội và luật sư đoàn quốc tế, cô Lê Thị Công Nhân đã có nhiều điều kiện thuận lợi để thành đạt trên đường đời. Nhưng vì lợi ích của Dân Tộc, cô đã chấp nhận quên mình, chấp nhận dấn thân vào con đường tranh đấu cho tự do, dân chủ. Qua điện thoại viễn liên truyền thanh trước đồng bào hải ngoại Nam California ngày 25-02-2007, cô đã tuyên bố : “Tôi xin khẳng định bằng tất cả lương tâm, trách nhiệm và tình cảm của mình đối với đất nước Việt Nam và dân tộc Việt Nam là: tôi sẽ chiến đấu tới cùng cho dù chỉ còn một mình tôi, trước hết là giành lấy nhân quyền cho chính mình và giành lấy nhân quyền, dân chủ và tự do cho người Việt Nam. Và Cộng sản Việt Nam đừng có mong chờ bất cứ một điều gì dù chỉ là thỏa hiệp, chứ đừng nói là đầu hàng về phía tôi. Tôi không thách thức, nhưng Cộng sản Việt Nam nếu đã hạ quyết tâm thực hiện những hành vi tội ác bằng cách chà đạp lên nhân quyền của người dân Việt Nam và muốn tiếp tục dìm đất nước Việt Nam trong một sự tăm tối về mặt chính trị, nghèo nàn về mặt kinh tế, lạc hậu về mặt văn hóa kéo dài cho tới tận đời con cháu của chúng ta cũng như của chính người Cộng sản, thì tùy họ và họ có quyền hành xử với những cái gì họ có. Gia đình tôi đã chuẩn bị cho trường hợp xấu nhất có thể xảy ra, đó là tôi có thể bị khởi tố và có thể đi tù”. Và cô đã đi tù. Đúng 3 năm.
Còn Cha Lý, nếu chấp nhận làm một ông cha xứ ngoan ngoãn : hăng hái thì tham gia sinh hoạt trong Uỷ Ban Đoàn Kết để dễ bề thăng quan tiến chức, không nữa thì ít là đừng chọc phá Nhà Nước, chuyện trên trời thì tha hồ nói, chuyện dưới đất, chuyện xã hội thì hoặc là đừng nói, hay có nói thì chỉ nói cách chung chung, vô thưởng vô phạt. Nếu thế thì giờ này, ít ra cha cũng được một chân Hạt trưởng. Nhưng tội của cha là đã sớm nhận ra khuôn mặt thật của chế độ, rồi công khai bày tỏ ý kiến của mình, lập trường của mình. Với tư cách là thư ký (và nay ta có thể nói là người con tinh thần) của đức cha Phi-líp-phê Nguyễn Kim Điền, Tổng Giám Mục Huế, ngay từ năm 1977, cha đã phổ biến rộng rãi 2 bài phát biểu thời danh của Đức Tổng Điền : “Chưa có tự do tôn giáo tại Việt Nam” và “Người Công Giáo bị xem như công dân hạng nhì.” Thế thì chẳng có gì đáng ngạc nhiên nếu từ năm 1977 cha đã bị cộng sản Việt Nam bắt bỏ tù. Đến nay tổng cộng 4 đợt là 14 năm.
Cha được công luận đặc biệt chú ý từ năm 2000. Biểu ngữ được căng lên trước mặt tiền nhà thờ Nguyệt Biều ngày 14-11-2000 đã nói lên kinh nghiệm xương máu và xác tín sâu xa của Cha : “Tự do tôn giáo hay là chết”. Là vì tự do xây nhà thờ, xây trung tâm mục vụ hay trung tâm hành hương, tự do truyền chức linh mục, tự do tổ chức các cuộc lễ, tự do đi ra nước ngoài, mà không được tự do phục vụ con người : tự do tham gia vào các công tác giáo dục, y tế, xã hội, mặc cho người dân nghèo không còn ruộng cày, không còn đất sống, mặc cho phụ nữ và thậm chí trẻ em bị bán làm nô lệ tình dục, mặc cho hằng triệu thai nhi bị giết mỗi năm, mặc cho xã hội ngày càng mục nát, băng hoại, mặc cho những ai tranh đấu cho tự do dân chủ nối tiếp nhau vào tù, mặc cho đất đai và biển đảo của tổ quốc cứ từ từ lọt vào tay Trung Quốc để dân tộc thêm một lần làm nô lệ, thế thì cái tự do tý tẹo còn lại mà tôn giáo được hưởng kia chỉ biến tôn giáo thành đồ trang trí cho chế độ, thành cái xác không hồn, và cuối cùng thứ tự do đó dẫn tôn giáo đích thực đến chỗ chết. Chính xác tín này đã dẫn Cha Lý từ chỗ tranh đấu cho tự do tôn giáo đến việc tranh đấu cho tự do dân sự : Là vì cuối cùng, tôn giáo chỉ có thể thực sự tự do khi dân tộc được hoàn toàn tự do.
Thép đã tôi
Sau khi ra khỏi tù, qua những lời phát biểu của Cha Lý, ta thấy Cha chẳng có vẻ gì là bận tâm quá đáng đến sức khoẻ, hay tỏ ra ít là nhẹ nhàng cho khỏi làm mất lòng Nhà Nước. Cha đã nói với đài VOA : “Đã chọn con đường tù đày để làm việc thì càng ở tù, tôi càng tỉnh táo và khôn ngoan hơn thôi. Những người đấu tranh bất bạo động thì càng ở tù càng mạnh hơn. Đối phương càng bắt bớ càng yếu hơn. Chuyện tù đày là cái giá phải trả của những người đấu tranh chân chính”.
Còn cô Lê Thị Công Nhân, khi trả lời đài VOA ngày 9-3-2010, cô đã nói : “Mình đã xác định tranh đấu, phải xác định hy sinh. Đó là hệ quả tất yếu, nếu không đừng tranh đấu nữa. Đã xác định hy sinh thì phải hy sinh đến cùng”. Khi được hỏi cô hình dung thế nào về con đường trước mắt, về tương lai, về sự nghiệp, Lê Thị Công Nhân trả lời : “Chắc chắn tôi sẽ vẫn tiếp tục đấu tranh vì lý tưởng của tôi. Tôi cảm thấy vui, thú vị, bay bổng, mạnh mẽ và có ích khi tôi sống theo con đường đó.” Những lời lẽ như thế cho thấy rằng nếu mục đích nhà cầm quyền cộng sản là tiêu diệt ý chí những người đấu tranh, thì họ đã thất bại.
Bí quyết của sức mạnh : niềm tin
Câu hỏi đặt ra là do đâu mà hai nhà tranh đấu chúng ta đang nói tìm được sức mạnh để không chỉ nín thở qua sông, nhưng hiên ngang mạnh mẽ nói lên ý định của mình, xác tín của mình sau khi đã can đảm và kiên trì chịu đựng những năm tháng lao tù. Tôi nghĩ : đó chính là niềm tin.
Trở về Nhà Chung Huế, Cha Lý phải dựa vào xe lăn mới di chuyển được. Khởi hành từ nhà tù lúc 4 giờ sáng, cha cho biết phải thức dậy từ lúc 2 giờ để có thể đọc kinh, dâng lễ. Khi được biết chỉ từ một năm nay thôi, cha mới được phép giữ sách kinh, thì ta hiểu ra : đối với cha, việc đọc kinh dâng lễ quý hoá và quan trọng như thế nào. Và cũng vì thế mà ta dễ dàng hiểu được những điều cha nói khi gặp bà phó đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam hôm 23-03-2010. Cha nói : “Mấy lần bị cán bộ CS bắt giam, tôi đều nói: Các anh sợ mà bắt giam tôi thôi, nhưng đố các anh ghét tôi được ! Tôi có làm chi phương hại, xúc phạm hay nguyền rủa các anh đâu mà các anh ghét. Trái lại tôi chỉ đọc kinh cầu nguyện cho các anh.
Tôi đi tù như vậy là 5 lần, riêng dưới chế độ này là 4 lần. Mỗi lần vừa vào tù, tôi đều quỳ cúi xuống hôn đất mà thầm nói: “Con xin nhận nhiệm sở mới” Nhiệm sở mới này không phải đức Giám mục bổ nhiệm tôi đến mà là Chúa Giêsu Kitô. Vì thế tôi coi ban giám thị, cán bộ trại và mọi tù nhân trong trại đều là giáo hữu mà tôi có bổn phận cầu nguyện và rao giảng Tin Mừng cho. Như mọi chiến sĩ dân chủ hòa bình, tôi có tình thương, sự thật và lẽ phải nên không sợ. Nhưng đằng sau lưng tôi là cả Triều thần Thiên quốc, có Thiên Chúa, có Đức Mẹ, có các thánh, rồi có hàng triệu các thai nhi bị trục giết mỗi năm mà tôi luôn bênh vực. Các em ủng hộ tôi, chuyển cầu cho tôi thì đảng CS làm chi tôi được!” (bản tin ngày 24-03-2010 của nhóm linh mục Nguyễn Kim Điền).
Còn luật sư Lê Thị Công Nhân, nếu ta đặt câu hỏi đâu là lý do khiến cô hy sinh tuổi trẻ, dấn thân vào con đường chông gai, con đường tranh đấu, ta hãy nghe cô trả lời trong cuộc điện thoại viễn liên ngày 25-02-2007 : “chính Đấng tạo hóa -Thượng đế đã sinh tôi ra trên cõi đời này nhờ qua một thể xác đó là mẹ tôi và cha tôi, và tôi đã được sinh ra là một con người thì tôi có đầy đủ những nhân quyền cơ bản mà Thượng đế -Đấng tạo hóa đã ban cho tôi, chứ không phải là người mẹ người cha xác thịt đã sinh ra tôi trên đời. Và tôi đấu tranh vì dân chủ, nhân quyền và tự do cho Việt Nam hoàn toàn xuất phát từ niềm tin, từ lương tâm và trách nhiệm của tôi đối với chính tôi, đối với dân tộc Việt Nam và đối với Đấng tạo hóa đã sinh ra tôi.” Và gần đây, trong cuộc tiếp xúc với anh Nguyễn Hữu Vinh và một nhóm bạn Công Giáo đến thăm nhân ngày 08-03-2010, cô đã cho biết : Trong buồng giam 60 người, chỉ mình cô công khai xưng mình là Ki-tô hữu. Ta hãy nghe cô tâm sự : “Để vượt qua ba năm trong nhà tù, em chỉ có mỗi cuốn Kinh Thánh ; trang cuối cùng em đọc xong lần thứ nhất là đêm trước ngày em ra toà Phúc Thẩm. Ba năm trong tù, Chúa vừa là người bạn, là người Cha, là người Thầy của em, nâng đỡ dìu dắt em vượt qua tất cả”.
Như thế, không còn là chuyện suy diễn, nếu ta khẳng định rằng : Không chỉ có lòng yêu nước, yêu dân tộc, yêu tự do dân chủ, nhưng vượt lên trên tất cả là niềm tin vào Thiên Chúa đã cho các nhà đấu tranh của chúng ta sức mạnh vượt thắng mọi gian khổ của những năm tù đày. Điều này đã được dễ dàng chứng minh qua các biến có Toà Khâm Sứ - Thái Hà hay Tam Toà, Đồng Chiêm. Những người giáo dân bình thường, phần đông trình độ văn hoá không cao, đời sống vật chất trung bình hay thậm chí nghèo túng, nhưng lòng dũng cảm, tính kiên trì đã khiến chính quyền phải sợ. Là vì một lòng tin mạnh mẽ đem lại cho người tín hữu một sức mạnh vô song.
Trả giá để sống niềm tin
Nếu nói rằng : trong công cuộc đấu tranh cho công lý, cho sự thật, cho tự do dân chủ, chính nhờ niềm tin mà người Ki-tô hữu tìm được sức mạnh, thì cũng có thể nói : niềm tin thúc đẩy người Ki-tô hữu dấn thân cho các giá trị vừa nói. Nếu chỉ cần đút tay vào túi quần để hô hoán “Đồng hành với dân tộc”, hay “Sống phúc âm giữa lòng dân tộc”, liệu chúng ta sẽ thuyết phục được ai ? Ai sẽ nghe chúng ta, sẽ tin chúng ta, nếu chúng ta một mặt thì tuyên bố sẵn sàng chết vì đạo, nhưng khi thánh giá Đồng Chiêm bị triệt phá thì đành im thin thít, không dám hé môi ! Thánh Gia-cô-bê đã từng nói : “Bạn thử cho tôi thấy thế nào là tin mà không hành động, còn tôi, tôi sẽ hành động để cho bạn thấy thế nào là tin” (Gc 2,18).
Đối thoại và hợp tác
Sống trong một đất nước tự do như bên Tây bên Mỹ mà nói chuyện đối thoại và hợp tác là chuyện bình thường. Nhưng tại việt Nam, trong một thể chế độc tài toàn trị, mà nói chuyện đối thoại và hợp tác chỉ là mơ chuyện hão huyền. Ngày nay, nhắc đến tên Nguyễn Văn Lý, cả thế giới đều nghĩ đến tấm hình ngài bị bịt miệng ngay tại phiên toà. Đối thoại phải có kẻ nói người nghe. Nếu chỉ nói chuyện trời nắng trời mưa thì không bõ, còn nếu muốn nói những điều nên nói, những điều cần nói, nhưng điều phải nói bằng bất cứ giá nào, thì chỉ cần nhớ lại cảnh Cha Lý bị bịt miệng là ta hiểu ngay mình có được để cho nói hay không.
Kết luận
Một lần nữa, mầu nhiệm Phục Sinh lại nhắc nhở người Ki-tô hữu chúng ta rằng, thánh giá là con đường tất yếu dẫn tới vinh quang phục sinh. Sở dĩ cô Lê Thị Công Nhân và Cha Nguyễn Văn Lý, hai tín hữu Chúa Ki-tô, đang được người Việt khắp nơi yêu mến, kính nể, vì cả hai đã là những người Việt Nam yêu nước nồng nàn, cả hai đã là những chứng nhân của lòng tin. Đúng như lời đức cố giáo hoàng Phao-lô VI đã nói : “Con người thời đại ngày nay không cần những thầy giảng, mà cần những chứng nhân đích thực của Tin Mừng”.
Sài-gòn, ngày 03 tháng 04 năm 2010
Lm Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh, OFM
Lm Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh, OFM
Vào lúc các tín hữu Chúa Ki-tô trên khắp cùng thế giới bước vào Tuần Thánh, tưởng niệm Chúa Ki-tô chịu thương khó, chịu chết rồi phục sinh, thì ngay trên đất nước Việt Nam chúng ta, hai Ki-tô hữu đang lôi kéo sự chú ý của các cơ quan truyền thông trên thế giới, cho dù ở trong nước, toàn bộ báo đài đều giả điếc làm ngơ, hai khuôn mặt đang ngời sáng đó là một tín hữu Tin Lành, luật sư Lê Thị Công Nhân, và một linh mục Công Giáo, cha Ta-đê-ô Nguyễn Văn Lý. Luật sư Lê Thị Công Nhân bước vào nhà tù khi mới 28 tuổi, vào lúc bạn bè đồng trang lứa của cô nghĩ đến tương lai, đến tình yêu, đến hạnh phúc, đến sự nghiệp. Nhà tù của chế độ cộng sản Việt Nam đã nuốt trọn 3 năm của quãng thời gian đẹp nhất của một đời người. Còn linh mục Nguyễn Văn Lý, năm nay 64 tuổi, thì tổng cộng đã có 14 năm tù. Dưới cái nhìn của người Ki-tô hữu chúng ta, đó là những người đã đi con đường hy sinh, con đường thánh giá mà chính Đức Giê-su đã đi khi thực hiện công trình cứu độ.
Đức Giê-su không phải là một nhà hùng biện nói thật hay để ta nghe cho sướng tai, không phải là một nhà trí thức siêu đẳng với những pho sách dày cộm làm ta lác mắt, không phải một lý thuyết gia đưa ra những tư tưởng lỗi lạc khiến chúng ta sững sờ. Không, Ngài là Thiên Chúa làm người để cứu độ con người. Và để đạt được mục tiêu đó, Ngài đã chấp nhận trả giá : “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người dám hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13). Đây không phải là một công thức khô khan trừu tượng, nhưng là một nguyên tắc Đức Giê-su đã áp dụng cho chính mình qua cuộc thương khó và cái chết nhục nhằn trên thập giá mà Hội Thánh tưởng niệm một cách đặc biệt long trọng mỗi năm một lần, trong suốt cả Tuần Thánh.
Đường tranh đấu là con đường thánh giá
Sở dĩ tôi dám liên kết những năm tù đày của luật sư Lê Thị Công Nhân và Cha Lý với cuộc thương khó của Chúa Ki-tô là vì cả hai, thay vì đi con đường trơn tru suôn sẻ mà bao người vẫn đi, đã chọn con đường gai góc, con đường đấu tranh, con đường thánh giá. Tốt nghiệp cử nhân luật ở tuổi 22, hai năm sau đã là thành viên luật sư đoàn Hà Nội và luật sư đoàn quốc tế, cô Lê Thị Công Nhân đã có nhiều điều kiện thuận lợi để thành đạt trên đường đời. Nhưng vì lợi ích của Dân Tộc, cô đã chấp nhận quên mình, chấp nhận dấn thân vào con đường tranh đấu cho tự do, dân chủ. Qua điện thoại viễn liên truyền thanh trước đồng bào hải ngoại Nam California ngày 25-02-2007, cô đã tuyên bố : “Tôi xin khẳng định bằng tất cả lương tâm, trách nhiệm và tình cảm của mình đối với đất nước Việt Nam và dân tộc Việt Nam là: tôi sẽ chiến đấu tới cùng cho dù chỉ còn một mình tôi, trước hết là giành lấy nhân quyền cho chính mình và giành lấy nhân quyền, dân chủ và tự do cho người Việt Nam. Và Cộng sản Việt Nam đừng có mong chờ bất cứ một điều gì dù chỉ là thỏa hiệp, chứ đừng nói là đầu hàng về phía tôi. Tôi không thách thức, nhưng Cộng sản Việt Nam nếu đã hạ quyết tâm thực hiện những hành vi tội ác bằng cách chà đạp lên nhân quyền của người dân Việt Nam và muốn tiếp tục dìm đất nước Việt Nam trong một sự tăm tối về mặt chính trị, nghèo nàn về mặt kinh tế, lạc hậu về mặt văn hóa kéo dài cho tới tận đời con cháu của chúng ta cũng như của chính người Cộng sản, thì tùy họ và họ có quyền hành xử với những cái gì họ có. Gia đình tôi đã chuẩn bị cho trường hợp xấu nhất có thể xảy ra, đó là tôi có thể bị khởi tố và có thể đi tù”. Và cô đã đi tù. Đúng 3 năm.
Còn Cha Lý, nếu chấp nhận làm một ông cha xứ ngoan ngoãn : hăng hái thì tham gia sinh hoạt trong Uỷ Ban Đoàn Kết để dễ bề thăng quan tiến chức, không nữa thì ít là đừng chọc phá Nhà Nước, chuyện trên trời thì tha hồ nói, chuyện dưới đất, chuyện xã hội thì hoặc là đừng nói, hay có nói thì chỉ nói cách chung chung, vô thưởng vô phạt. Nếu thế thì giờ này, ít ra cha cũng được một chân Hạt trưởng. Nhưng tội của cha là đã sớm nhận ra khuôn mặt thật của chế độ, rồi công khai bày tỏ ý kiến của mình, lập trường của mình. Với tư cách là thư ký (và nay ta có thể nói là người con tinh thần) của đức cha Phi-líp-phê Nguyễn Kim Điền, Tổng Giám Mục Huế, ngay từ năm 1977, cha đã phổ biến rộng rãi 2 bài phát biểu thời danh của Đức Tổng Điền : “Chưa có tự do tôn giáo tại Việt Nam” và “Người Công Giáo bị xem như công dân hạng nhì.” Thế thì chẳng có gì đáng ngạc nhiên nếu từ năm 1977 cha đã bị cộng sản Việt Nam bắt bỏ tù. Đến nay tổng cộng 4 đợt là 14 năm.
Cha được công luận đặc biệt chú ý từ năm 2000. Biểu ngữ được căng lên trước mặt tiền nhà thờ Nguyệt Biều ngày 14-11-2000 đã nói lên kinh nghiệm xương máu và xác tín sâu xa của Cha : “Tự do tôn giáo hay là chết”. Là vì tự do xây nhà thờ, xây trung tâm mục vụ hay trung tâm hành hương, tự do truyền chức linh mục, tự do tổ chức các cuộc lễ, tự do đi ra nước ngoài, mà không được tự do phục vụ con người : tự do tham gia vào các công tác giáo dục, y tế, xã hội, mặc cho người dân nghèo không còn ruộng cày, không còn đất sống, mặc cho phụ nữ và thậm chí trẻ em bị bán làm nô lệ tình dục, mặc cho hằng triệu thai nhi bị giết mỗi năm, mặc cho xã hội ngày càng mục nát, băng hoại, mặc cho những ai tranh đấu cho tự do dân chủ nối tiếp nhau vào tù, mặc cho đất đai và biển đảo của tổ quốc cứ từ từ lọt vào tay Trung Quốc để dân tộc thêm một lần làm nô lệ, thế thì cái tự do tý tẹo còn lại mà tôn giáo được hưởng kia chỉ biến tôn giáo thành đồ trang trí cho chế độ, thành cái xác không hồn, và cuối cùng thứ tự do đó dẫn tôn giáo đích thực đến chỗ chết. Chính xác tín này đã dẫn Cha Lý từ chỗ tranh đấu cho tự do tôn giáo đến việc tranh đấu cho tự do dân sự : Là vì cuối cùng, tôn giáo chỉ có thể thực sự tự do khi dân tộc được hoàn toàn tự do.
Thép đã tôi
Sau khi ra khỏi tù, qua những lời phát biểu của Cha Lý, ta thấy Cha chẳng có vẻ gì là bận tâm quá đáng đến sức khoẻ, hay tỏ ra ít là nhẹ nhàng cho khỏi làm mất lòng Nhà Nước. Cha đã nói với đài VOA : “Đã chọn con đường tù đày để làm việc thì càng ở tù, tôi càng tỉnh táo và khôn ngoan hơn thôi. Những người đấu tranh bất bạo động thì càng ở tù càng mạnh hơn. Đối phương càng bắt bớ càng yếu hơn. Chuyện tù đày là cái giá phải trả của những người đấu tranh chân chính”.
Còn cô Lê Thị Công Nhân, khi trả lời đài VOA ngày 9-3-2010, cô đã nói : “Mình đã xác định tranh đấu, phải xác định hy sinh. Đó là hệ quả tất yếu, nếu không đừng tranh đấu nữa. Đã xác định hy sinh thì phải hy sinh đến cùng”. Khi được hỏi cô hình dung thế nào về con đường trước mắt, về tương lai, về sự nghiệp, Lê Thị Công Nhân trả lời : “Chắc chắn tôi sẽ vẫn tiếp tục đấu tranh vì lý tưởng của tôi. Tôi cảm thấy vui, thú vị, bay bổng, mạnh mẽ và có ích khi tôi sống theo con đường đó.” Những lời lẽ như thế cho thấy rằng nếu mục đích nhà cầm quyền cộng sản là tiêu diệt ý chí những người đấu tranh, thì họ đã thất bại.
Bí quyết của sức mạnh : niềm tin
Câu hỏi đặt ra là do đâu mà hai nhà tranh đấu chúng ta đang nói tìm được sức mạnh để không chỉ nín thở qua sông, nhưng hiên ngang mạnh mẽ nói lên ý định của mình, xác tín của mình sau khi đã can đảm và kiên trì chịu đựng những năm tháng lao tù. Tôi nghĩ : đó chính là niềm tin.
Trở về Nhà Chung Huế, Cha Lý phải dựa vào xe lăn mới di chuyển được. Khởi hành từ nhà tù lúc 4 giờ sáng, cha cho biết phải thức dậy từ lúc 2 giờ để có thể đọc kinh, dâng lễ. Khi được biết chỉ từ một năm nay thôi, cha mới được phép giữ sách kinh, thì ta hiểu ra : đối với cha, việc đọc kinh dâng lễ quý hoá và quan trọng như thế nào. Và cũng vì thế mà ta dễ dàng hiểu được những điều cha nói khi gặp bà phó đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam hôm 23-03-2010. Cha nói : “Mấy lần bị cán bộ CS bắt giam, tôi đều nói: Các anh sợ mà bắt giam tôi thôi, nhưng đố các anh ghét tôi được ! Tôi có làm chi phương hại, xúc phạm hay nguyền rủa các anh đâu mà các anh ghét. Trái lại tôi chỉ đọc kinh cầu nguyện cho các anh.
Tôi đi tù như vậy là 5 lần, riêng dưới chế độ này là 4 lần. Mỗi lần vừa vào tù, tôi đều quỳ cúi xuống hôn đất mà thầm nói: “Con xin nhận nhiệm sở mới” Nhiệm sở mới này không phải đức Giám mục bổ nhiệm tôi đến mà là Chúa Giêsu Kitô. Vì thế tôi coi ban giám thị, cán bộ trại và mọi tù nhân trong trại đều là giáo hữu mà tôi có bổn phận cầu nguyện và rao giảng Tin Mừng cho. Như mọi chiến sĩ dân chủ hòa bình, tôi có tình thương, sự thật và lẽ phải nên không sợ. Nhưng đằng sau lưng tôi là cả Triều thần Thiên quốc, có Thiên Chúa, có Đức Mẹ, có các thánh, rồi có hàng triệu các thai nhi bị trục giết mỗi năm mà tôi luôn bênh vực. Các em ủng hộ tôi, chuyển cầu cho tôi thì đảng CS làm chi tôi được!” (bản tin ngày 24-03-2010 của nhóm linh mục Nguyễn Kim Điền).
Còn luật sư Lê Thị Công Nhân, nếu ta đặt câu hỏi đâu là lý do khiến cô hy sinh tuổi trẻ, dấn thân vào con đường chông gai, con đường tranh đấu, ta hãy nghe cô trả lời trong cuộc điện thoại viễn liên ngày 25-02-2007 : “chính Đấng tạo hóa -Thượng đế đã sinh tôi ra trên cõi đời này nhờ qua một thể xác đó là mẹ tôi và cha tôi, và tôi đã được sinh ra là một con người thì tôi có đầy đủ những nhân quyền cơ bản mà Thượng đế -Đấng tạo hóa đã ban cho tôi, chứ không phải là người mẹ người cha xác thịt đã sinh ra tôi trên đời. Và tôi đấu tranh vì dân chủ, nhân quyền và tự do cho Việt Nam hoàn toàn xuất phát từ niềm tin, từ lương tâm và trách nhiệm của tôi đối với chính tôi, đối với dân tộc Việt Nam và đối với Đấng tạo hóa đã sinh ra tôi.” Và gần đây, trong cuộc tiếp xúc với anh Nguyễn Hữu Vinh và một nhóm bạn Công Giáo đến thăm nhân ngày 08-03-2010, cô đã cho biết : Trong buồng giam 60 người, chỉ mình cô công khai xưng mình là Ki-tô hữu. Ta hãy nghe cô tâm sự : “Để vượt qua ba năm trong nhà tù, em chỉ có mỗi cuốn Kinh Thánh ; trang cuối cùng em đọc xong lần thứ nhất là đêm trước ngày em ra toà Phúc Thẩm. Ba năm trong tù, Chúa vừa là người bạn, là người Cha, là người Thầy của em, nâng đỡ dìu dắt em vượt qua tất cả”.
Như thế, không còn là chuyện suy diễn, nếu ta khẳng định rằng : Không chỉ có lòng yêu nước, yêu dân tộc, yêu tự do dân chủ, nhưng vượt lên trên tất cả là niềm tin vào Thiên Chúa đã cho các nhà đấu tranh của chúng ta sức mạnh vượt thắng mọi gian khổ của những năm tù đày. Điều này đã được dễ dàng chứng minh qua các biến có Toà Khâm Sứ - Thái Hà hay Tam Toà, Đồng Chiêm. Những người giáo dân bình thường, phần đông trình độ văn hoá không cao, đời sống vật chất trung bình hay thậm chí nghèo túng, nhưng lòng dũng cảm, tính kiên trì đã khiến chính quyền phải sợ. Là vì một lòng tin mạnh mẽ đem lại cho người tín hữu một sức mạnh vô song.
Trả giá để sống niềm tin
Nếu nói rằng : trong công cuộc đấu tranh cho công lý, cho sự thật, cho tự do dân chủ, chính nhờ niềm tin mà người Ki-tô hữu tìm được sức mạnh, thì cũng có thể nói : niềm tin thúc đẩy người Ki-tô hữu dấn thân cho các giá trị vừa nói. Nếu chỉ cần đút tay vào túi quần để hô hoán “Đồng hành với dân tộc”, hay “Sống phúc âm giữa lòng dân tộc”, liệu chúng ta sẽ thuyết phục được ai ? Ai sẽ nghe chúng ta, sẽ tin chúng ta, nếu chúng ta một mặt thì tuyên bố sẵn sàng chết vì đạo, nhưng khi thánh giá Đồng Chiêm bị triệt phá thì đành im thin thít, không dám hé môi ! Thánh Gia-cô-bê đã từng nói : “Bạn thử cho tôi thấy thế nào là tin mà không hành động, còn tôi, tôi sẽ hành động để cho bạn thấy thế nào là tin” (Gc 2,18).
Đối thoại và hợp tác
Sống trong một đất nước tự do như bên Tây bên Mỹ mà nói chuyện đối thoại và hợp tác là chuyện bình thường. Nhưng tại việt Nam, trong một thể chế độc tài toàn trị, mà nói chuyện đối thoại và hợp tác chỉ là mơ chuyện hão huyền. Ngày nay, nhắc đến tên Nguyễn Văn Lý, cả thế giới đều nghĩ đến tấm hình ngài bị bịt miệng ngay tại phiên toà. Đối thoại phải có kẻ nói người nghe. Nếu chỉ nói chuyện trời nắng trời mưa thì không bõ, còn nếu muốn nói những điều nên nói, những điều cần nói, nhưng điều phải nói bằng bất cứ giá nào, thì chỉ cần nhớ lại cảnh Cha Lý bị bịt miệng là ta hiểu ngay mình có được để cho nói hay không.
Kết luận
Một lần nữa, mầu nhiệm Phục Sinh lại nhắc nhở người Ki-tô hữu chúng ta rằng, thánh giá là con đường tất yếu dẫn tới vinh quang phục sinh. Sở dĩ cô Lê Thị Công Nhân và Cha Nguyễn Văn Lý, hai tín hữu Chúa Ki-tô, đang được người Việt khắp nơi yêu mến, kính nể, vì cả hai đã là những người Việt Nam yêu nước nồng nàn, cả hai đã là những chứng nhân của lòng tin. Đúng như lời đức cố giáo hoàng Phao-lô VI đã nói : “Con người thời đại ngày nay không cần những thầy giảng, mà cần những chứng nhân đích thực của Tin Mừng”.
Sài-gòn, ngày 03 tháng 04 năm 2010
Lm Pascal Nguyễn Ngọc Tỉnh, OFM
Ba Lan: Bỏ Cộng Sản, và thành công
Ngô Nhân Dụng Trong khi dân chúng Ba Lan trải qua một tuần lễ tang tóc thì chúng ta có dịp nhìn lại thành tựu của nước này trong 20 năm qua, sau khi rũ bỏ chế độ cộng sản. Ông Tổng Thống Lech Kaczinsky, ông Thống Ðốc Ngân Hàng Trung Ương Slawomir Skrzypek, mấy vị tướng lãnh và nhiều nhà lãnh đạo tử nạn trong chuyến máy bay oan nghiệt đã ra đi, nhưng họ để lại cho nước Ba Lan những di sản đáng hãnh diện.
Ba Lan hiện đang là một nền kinh tế phát triển tốt nhất ở Âu Châu; năm ngoái đã tăng trưởng 1.7% trong khi GDP trung bình của 28 quốc gia dùng đồng Euro bị giảm hơn 4%, và tất cả các nước khác đều suy thoái. Sự thành công của Ba Lan là nhờ một hệ thống ngân hàng vững chắc không bị lôi cuốn vào cơn khủng hoảng tài chánh thế giới; ngân sách quốc gia chỉ thâm thủng nhẹ trong khi giới đầu tư quốc tế sẵn sàng mang tiền đến cho chính phủ Ba Lan vay. Và điều đáng hãnh diện nhất là 20 năm sau khi tự giải thoát khỏi chế độ cộng sản, các định chế chính trị dân chủ đã bén rễ ngày càng bền chặt, sau một tai nạn thảm khốc khi nhiều nhà lãnh đạo dân sự và quân sự cùng qua đời một lúc, mà guồng máy chính trị của quốc gia tiếp tục điều hành một cách bình thường theo đúng các thủ tục dự trù trong hiến pháp.
Vị chủ tịch Hạ Viện (Sejm) đã nhận xử lý thường vụ chức quốc trưởng và tuyên bố sẽ tổ chức bầu cử sớm để chọn người làm tổng thống. Phó thống đốc Ngân Hàng Trung Ương đã lên làm quyền thống đốc. Mặc dù có mấy vị tướng lãnh tử nạn nhưng quân đội đã chính thức cải chính tin sẽ có những biện pháp đặc biệt vì tình trạng khẩn cấp, hay hoãn thi hành hiến pháp lấy lý do an ninh bị đe dọa. Năm 1922, một thủ tướng Ba Lan, ông Gabriel Narutowicz cũng chết vì một tai nạn máy bay khó hiểu, sau đó quốc gia đã rơi vào hỗn loạn với các cuộc đảo chính, và đưa tới một chế độ quân phiệt.
Cái chết của gần 100 nhân vật ưu tú nước Ba Lan khiến người ta phải nhớ tới cuộc tàn sát 22,000 sĩ quan quân đội Ba Lan tự do ở Katyn vào năm 1940 do lãnh tụ Cộng Sản Stalin chủ mưu. Lực lượng sĩ quan này quy tụ những thành phần trí thức giường cột của nước Ba Lan lúc đó, với hàng chục ngàn nhà trí thức, giáo sư, luật sư, kỹ sư, bác sĩ, vân vân, đã bị động viên trước đó. Stalin đã tiêu diệt những người con ưu tú của nước Ba Lan để mở đường cho đảng Cộng Sản Ba Lan cướp chính quyền sau này và biến quốc gia thành một chư hầu của Nga. Tai nạn tuần qua cũng làm mất của Ba Lan những đứa con ưu tú nhưng đã khiến cả nước đoàn kết với nhau trong tang tóc. Nhiều người Ba Lan tỏ ý nghi ngờ tai nạn này có vẻ một âm mưu ám sát do mật vụ Nga thi hành; nhưng nói chung cả quốc gia đã cư xử một cách đứng đắn, báo chí không ai đổ tội cho chính quyền Nga.
Ðiều gì đã giúp nước Ba Lan tạo được một hình ảnh ổn định và trưởng thành đáng kính như vậy? Ðó chính là do các vận động chính trị và kinh tế của 38 triệu người dân trong 20 năm qua đã tạo nên những nền tảng vững chắc. Các định chế quốc gia đóng đúng vai trò của mình. Các nhà chính trị tôn trọng “luật chơi dân chủ” và những người dân biết bầy tỏ ý kiến qua lá phiếu tự do. Chủ trương kinh tế thị trường không còn dính đến kinh tế cộng sản cũ đã giúp dân giàu nước mạnh thật sự. Ba Lan là một tấm gương cho thấy khi người dân một nước đã quyết tâm từ bỏ chủ nghĩa cộng sản thì họ xây dựng được một quốc gia vững mạnh về kinh tế và chính trị.
Năm 1989, khi một người thuộc Công Ðoàn Ðoàn Kết đứng ra lập chính phủ đầu tiên không cộng sản vào Tháng Tám, đảng Cộng Sản Việt Nam đã tổ chức biểu tình trước tòa đại sứ Ba Lan ở Hà Nội để hô khẩu hiệu ủng hộ đảng Cộng Sản Ba Lan, chống lại vụ “cướp chính quyền” của “lực lượng thù nghịch” tay sai tư bản! Lúc đó, nhân viên tòa đại sứ đã ra yêu cầu nhóm người biểu tình giải tán, giải thích rằng việc chuyển giao quyền hành này là nguyện vọng của nhân dân Ba Lan chứ không có “thế lực thù nghịch” nào tạo ra cả. Tháng Mười Hai năm đó, Quốc Hội Ba Lan cởi trói cho nền kinh tế khỏi chế độ tập thể quốc doanh; xóa bỏ dấu tích cộng sản trong quốc hiệu, đổi tên nước thành Cộng Hòa Ba Lan. Tháng Giêng năm sau, đảng Cộng Sản Ba Lan đã tự ý giải tán, đổi tên thành một đảng Dân Chủ Xã Hội. Sau đó họ còn hóa thân vài lần nữa biến thành một Liên Minh Tả Phái (SLD). Ðảng SLD đã hai lần được các cử tri tín nhiệm đưa lên cầm quyền trong những năm 1993 và 2001, nhưng rồi lại bị người dân bỏ phiếu gạt ra khỏi chính quyền vào những năm 1997 và 2005.
Nhìn vào kết quả các cuộc bầu cử trên (hai lần nghiêng sang tả, hai lần ngả sang hữu) người ta có thể thấy các cử tri Ba Lan rất dễ thay đổi. Có người sẽ “lo lắng” là nền chính trị xứ này “không ổn định” theo lối cộng sản cũ. Nhưng trái lại, chính trị Ba Lan rất ổn định, nhờ người dân đã trưởng thành trong lối sống tự do. Chính vì người dân được tự do chọn lựa người cầm quyền, và sử dụng quyền tự do đó một cách thẳng thắn, không kiêng dè, họ thay đổi chính quyền một các dễ dàng, cho nên chính trị trở thành ổn định. Nhân dân Ba Lan có thể tự mình thí nghiệm với các chương trình trị quốc khác nhau, với các nhóm chính khách thuộc các đảng khác nhau. Năm 2005, đảng Luật Pháp và Công Lý (PiS) với chủ trương khuynh hữu và bài Nga của anh em cố Tổng Thống Kaczinsky thắng thế, vì dân chúng đã chán chính phủ cánh tả SLD tham nhũng. Nhưng hai năm sau đảng PiS lại thua trong cuộc bầu cử Quốc Hội, vì họ thất bại về kinh tế, đảng Diễn Ðàn Công Dân (PO) lên lập chính phủ mới. Nhiệm kỳ của Tổng Thống Kaxzinsky vẫn kéo dài cho hết năm nay, cho nên trong hai năm qua giữa ông tổng thống PiS và Thủ Tướng Donald Tusk thuộc đảng PO luôn luôn xung đột! Ðây lại là một tình trạng bình thường trong một chế độ dân chủ tự do, mọi người đều tôn trọng hiến pháp và luật pháp. Chính sách kinh tế cởi mở và chủ trương ngoại giao hòa hoãn với lân bang của đương kim Thủ Tướng Tusk thành công, cho nên đảng này hy vọng sẽ đưa được người lên thay thế cố Tổng Thống Kaczinsky trong cuộc bầu cử sắp tới, người đó chính là vị quốc trưởng xử lý thường vụ hiện nay.
Kinh nghiệm Ba Lan cho thấy khi người dân một quốc gia quyết tâm từ bỏ cộng sản độc tài để xây dựng dân chủ, người ta đã thành công. Chính nhờ can đảm dứt khoát bỏ chủ nghĩa cộng sản và chế độ chuyên chế do Stalin lập ra mà các lãnh tụ đảng Cộng Sản Ba Lan năm 1989 đã mở đường cho quốc gia họ bước vào một thời kỳ mới. Năm 1988 khi đảng Cộng Sản đưa kinh tế Ba Lan vào bế tắc, các công nhân Ba Lan theo Công Ðoàn Ðoàn Kết tổ chức đình công và biểu tình suốt từ Tháng Tư, đảng Cộng Sản Ba Lan đã cải tổ luật bầu cử thay vì tham quyền cố vị đến cùng. Họ tự tước bỏ độc quyền của đảng cộng sản, cho dân chúng được tự do bầu Thượng Viện và một phần ba Hạ Viện (Sejm). Chính Quốc Hội mới đó đã đưa Tướng Wojciech Jaruzelski lên làm chủ tịch nước vào Tháng Bảy năm 1989. Một tháng sau, ông đã mời một nhà báo, trong nhóm lãnh đạo Công Ðoàn Ðoàn Kết ra lập chính phủ mới. Ðến nay, ông Jaruzelski vẫn còn được nhiều người dân Ba Lan kính trọng, chứ không bị xử tử hình và bị nguyền rủa như lãnh tụ cộng sản ở Rumani.
Bên cạnh một nền chính trị tương đối ổn định, điều đáng ca ngợi ở Ba Lan là nền kinh tế sinh động. Trong lịch sử nước Ba Lan, người dân chưa bao giờ giàu như hiện nay. Sau 40 năm dưới chế độ cộng sản, kinh tế Ba Lan đã đi tới kiệt quệ, từ 20 năm qua các chính quyền đã thay đổi, thí nghiệm nhiều chính sách khác nhau nhưng đều hướng về thị trường hóa tối đa. Mặc dù có những khúc quanh, nhưng sau cùng người ta vẫn tìm ra con đường tốt nhất. Ông Bộ Trưởng Tài Chánh Jacek Rostowski cho biết trong năm 2009, lợi tức theo đầu người của người Ba Lan đã tiến nhanh vượt bực, từ tình trạng bằng một nửa (50%) tiến lên bằng 56% lợi tức bình quân của Liên Hiệp Âu Châu. Ba Lan hiện là nền kinh tế đứng hàng thứ sáu ở Âu Châu. Ðầu năm nay, trong lúc chính phủ Hy Lạp đang lo phá sản và không đi vay nợ được phải nhờ Âu Châu cứu trợ, thì chính phủ Ba Lan vì được tín nhiệm đã vay được ba tỷ Euro, hơn 4 tỷ đô la Mỹ, với lãi suất thấp.
Nhờ vay nợ dễ dàng, Ba Lan đang cải thiện hệ thống đường xa lộ và hỏa xa, thay thế những di sản hạ tầng cơ sở mục nát thời cộng sản để lại, chuẩn bị cùng Ukraine tổ chức Giải Túc Cầu Âu Châu vào năm 2012. Trong các năm qua, Ba Lan đã bước những bước dài cải tổ hệ thống hành chánh, vì các chính quyền dân chủ không sợ dân mà tin tưởng dân, kính trọng dân. Sau khi chế độ hộ khẩu được bãi bỏ, chính sách gia cư thay đổi đã giúp các công nhân di chuyển, đổi chỗ ở và nơi làm việc trong nước một cách dễ dàng hơn. Chính phủ đã giản dị hóa thủ tục, các công dân có quyền làm bản tự khai các giấy tờ của mình (oswiadczenia) thay vì phải đi xin chưởng khế (giống như công an phường) thị thực công chứng (zaswiadczenia). Nhờ lối làm việc mới đó mà đời sống kinh tế của người dân bình thường được khai thông nhanh chóng hơn. Ông Bộ Trưởng Rostowski nói, “Chúng tôi cứ giả thiết là người dân nói sự thật, cho đến khi nào có bằng chứng là họ nói dối. Trong quá khứ, chế độ cộng sản nghĩ theo lối ngược lại.”
Nếu nước Việt Nam thay đổi chế độ, từ bỏ chủ nghĩa cộng sản như dân Ba Lan đã làm, thì trong vòng mười năm đến 20 năm, chúng ta cũng sẽ tiến không kém gì nước Ba Lan. Bởi vì không có lý gì mà người dân Việt Nam lại thua kém dân Ba Lan.
Ngô Nhân Dụng Trong khi dân chúng Ba Lan trải qua một tuần lễ tang tóc thì chúng ta có dịp nhìn lại thành tựu của nước này trong 20 năm qua, sau khi rũ bỏ chế độ cộng sản. Ông Tổng Thống Lech Kaczinsky, ông Thống Ðốc Ngân Hàng Trung Ương Slawomir Skrzypek, mấy vị tướng lãnh và nhiều nhà lãnh đạo tử nạn trong chuyến máy bay oan nghiệt đã ra đi, nhưng họ để lại cho nước Ba Lan những di sản đáng hãnh diện.
Ba Lan hiện đang là một nền kinh tế phát triển tốt nhất ở Âu Châu; năm ngoái đã tăng trưởng 1.7% trong khi GDP trung bình của 28 quốc gia dùng đồng Euro bị giảm hơn 4%, và tất cả các nước khác đều suy thoái. Sự thành công của Ba Lan là nhờ một hệ thống ngân hàng vững chắc không bị lôi cuốn vào cơn khủng hoảng tài chánh thế giới; ngân sách quốc gia chỉ thâm thủng nhẹ trong khi giới đầu tư quốc tế sẵn sàng mang tiền đến cho chính phủ Ba Lan vay. Và điều đáng hãnh diện nhất là 20 năm sau khi tự giải thoát khỏi chế độ cộng sản, các định chế chính trị dân chủ đã bén rễ ngày càng bền chặt, sau một tai nạn thảm khốc khi nhiều nhà lãnh đạo dân sự và quân sự cùng qua đời một lúc, mà guồng máy chính trị của quốc gia tiếp tục điều hành một cách bình thường theo đúng các thủ tục dự trù trong hiến pháp.
Vị chủ tịch Hạ Viện (Sejm) đã nhận xử lý thường vụ chức quốc trưởng và tuyên bố sẽ tổ chức bầu cử sớm để chọn người làm tổng thống. Phó thống đốc Ngân Hàng Trung Ương đã lên làm quyền thống đốc. Mặc dù có mấy vị tướng lãnh tử nạn nhưng quân đội đã chính thức cải chính tin sẽ có những biện pháp đặc biệt vì tình trạng khẩn cấp, hay hoãn thi hành hiến pháp lấy lý do an ninh bị đe dọa. Năm 1922, một thủ tướng Ba Lan, ông Gabriel Narutowicz cũng chết vì một tai nạn máy bay khó hiểu, sau đó quốc gia đã rơi vào hỗn loạn với các cuộc đảo chính, và đưa tới một chế độ quân phiệt.
Cái chết của gần 100 nhân vật ưu tú nước Ba Lan khiến người ta phải nhớ tới cuộc tàn sát 22,000 sĩ quan quân đội Ba Lan tự do ở Katyn vào năm 1940 do lãnh tụ Cộng Sản Stalin chủ mưu. Lực lượng sĩ quan này quy tụ những thành phần trí thức giường cột của nước Ba Lan lúc đó, với hàng chục ngàn nhà trí thức, giáo sư, luật sư, kỹ sư, bác sĩ, vân vân, đã bị động viên trước đó. Stalin đã tiêu diệt những người con ưu tú của nước Ba Lan để mở đường cho đảng Cộng Sản Ba Lan cướp chính quyền sau này và biến quốc gia thành một chư hầu của Nga. Tai nạn tuần qua cũng làm mất của Ba Lan những đứa con ưu tú nhưng đã khiến cả nước đoàn kết với nhau trong tang tóc. Nhiều người Ba Lan tỏ ý nghi ngờ tai nạn này có vẻ một âm mưu ám sát do mật vụ Nga thi hành; nhưng nói chung cả quốc gia đã cư xử một cách đứng đắn, báo chí không ai đổ tội cho chính quyền Nga.
Ðiều gì đã giúp nước Ba Lan tạo được một hình ảnh ổn định và trưởng thành đáng kính như vậy? Ðó chính là do các vận động chính trị và kinh tế của 38 triệu người dân trong 20 năm qua đã tạo nên những nền tảng vững chắc. Các định chế quốc gia đóng đúng vai trò của mình. Các nhà chính trị tôn trọng “luật chơi dân chủ” và những người dân biết bầy tỏ ý kiến qua lá phiếu tự do. Chủ trương kinh tế thị trường không còn dính đến kinh tế cộng sản cũ đã giúp dân giàu nước mạnh thật sự. Ba Lan là một tấm gương cho thấy khi người dân một nước đã quyết tâm từ bỏ chủ nghĩa cộng sản thì họ xây dựng được một quốc gia vững mạnh về kinh tế và chính trị.
Năm 1989, khi một người thuộc Công Ðoàn Ðoàn Kết đứng ra lập chính phủ đầu tiên không cộng sản vào Tháng Tám, đảng Cộng Sản Việt Nam đã tổ chức biểu tình trước tòa đại sứ Ba Lan ở Hà Nội để hô khẩu hiệu ủng hộ đảng Cộng Sản Ba Lan, chống lại vụ “cướp chính quyền” của “lực lượng thù nghịch” tay sai tư bản! Lúc đó, nhân viên tòa đại sứ đã ra yêu cầu nhóm người biểu tình giải tán, giải thích rằng việc chuyển giao quyền hành này là nguyện vọng của nhân dân Ba Lan chứ không có “thế lực thù nghịch” nào tạo ra cả. Tháng Mười Hai năm đó, Quốc Hội Ba Lan cởi trói cho nền kinh tế khỏi chế độ tập thể quốc doanh; xóa bỏ dấu tích cộng sản trong quốc hiệu, đổi tên nước thành Cộng Hòa Ba Lan. Tháng Giêng năm sau, đảng Cộng Sản Ba Lan đã tự ý giải tán, đổi tên thành một đảng Dân Chủ Xã Hội. Sau đó họ còn hóa thân vài lần nữa biến thành một Liên Minh Tả Phái (SLD). Ðảng SLD đã hai lần được các cử tri tín nhiệm đưa lên cầm quyền trong những năm 1993 và 2001, nhưng rồi lại bị người dân bỏ phiếu gạt ra khỏi chính quyền vào những năm 1997 và 2005.
Nhìn vào kết quả các cuộc bầu cử trên (hai lần nghiêng sang tả, hai lần ngả sang hữu) người ta có thể thấy các cử tri Ba Lan rất dễ thay đổi. Có người sẽ “lo lắng” là nền chính trị xứ này “không ổn định” theo lối cộng sản cũ. Nhưng trái lại, chính trị Ba Lan rất ổn định, nhờ người dân đã trưởng thành trong lối sống tự do. Chính vì người dân được tự do chọn lựa người cầm quyền, và sử dụng quyền tự do đó một cách thẳng thắn, không kiêng dè, họ thay đổi chính quyền một các dễ dàng, cho nên chính trị trở thành ổn định. Nhân dân Ba Lan có thể tự mình thí nghiệm với các chương trình trị quốc khác nhau, với các nhóm chính khách thuộc các đảng khác nhau. Năm 2005, đảng Luật Pháp và Công Lý (PiS) với chủ trương khuynh hữu và bài Nga của anh em cố Tổng Thống Kaczinsky thắng thế, vì dân chúng đã chán chính phủ cánh tả SLD tham nhũng. Nhưng hai năm sau đảng PiS lại thua trong cuộc bầu cử Quốc Hội, vì họ thất bại về kinh tế, đảng Diễn Ðàn Công Dân (PO) lên lập chính phủ mới. Nhiệm kỳ của Tổng Thống Kaxzinsky vẫn kéo dài cho hết năm nay, cho nên trong hai năm qua giữa ông tổng thống PiS và Thủ Tướng Donald Tusk thuộc đảng PO luôn luôn xung đột! Ðây lại là một tình trạng bình thường trong một chế độ dân chủ tự do, mọi người đều tôn trọng hiến pháp và luật pháp. Chính sách kinh tế cởi mở và chủ trương ngoại giao hòa hoãn với lân bang của đương kim Thủ Tướng Tusk thành công, cho nên đảng này hy vọng sẽ đưa được người lên thay thế cố Tổng Thống Kaczinsky trong cuộc bầu cử sắp tới, người đó chính là vị quốc trưởng xử lý thường vụ hiện nay.
Kinh nghiệm Ba Lan cho thấy khi người dân một quốc gia quyết tâm từ bỏ cộng sản độc tài để xây dựng dân chủ, người ta đã thành công. Chính nhờ can đảm dứt khoát bỏ chủ nghĩa cộng sản và chế độ chuyên chế do Stalin lập ra mà các lãnh tụ đảng Cộng Sản Ba Lan năm 1989 đã mở đường cho quốc gia họ bước vào một thời kỳ mới. Năm 1988 khi đảng Cộng Sản đưa kinh tế Ba Lan vào bế tắc, các công nhân Ba Lan theo Công Ðoàn Ðoàn Kết tổ chức đình công và biểu tình suốt từ Tháng Tư, đảng Cộng Sản Ba Lan đã cải tổ luật bầu cử thay vì tham quyền cố vị đến cùng. Họ tự tước bỏ độc quyền của đảng cộng sản, cho dân chúng được tự do bầu Thượng Viện và một phần ba Hạ Viện (Sejm). Chính Quốc Hội mới đó đã đưa Tướng Wojciech Jaruzelski lên làm chủ tịch nước vào Tháng Bảy năm 1989. Một tháng sau, ông đã mời một nhà báo, trong nhóm lãnh đạo Công Ðoàn Ðoàn Kết ra lập chính phủ mới. Ðến nay, ông Jaruzelski vẫn còn được nhiều người dân Ba Lan kính trọng, chứ không bị xử tử hình và bị nguyền rủa như lãnh tụ cộng sản ở Rumani.
Bên cạnh một nền chính trị tương đối ổn định, điều đáng ca ngợi ở Ba Lan là nền kinh tế sinh động. Trong lịch sử nước Ba Lan, người dân chưa bao giờ giàu như hiện nay. Sau 40 năm dưới chế độ cộng sản, kinh tế Ba Lan đã đi tới kiệt quệ, từ 20 năm qua các chính quyền đã thay đổi, thí nghiệm nhiều chính sách khác nhau nhưng đều hướng về thị trường hóa tối đa. Mặc dù có những khúc quanh, nhưng sau cùng người ta vẫn tìm ra con đường tốt nhất. Ông Bộ Trưởng Tài Chánh Jacek Rostowski cho biết trong năm 2009, lợi tức theo đầu người của người Ba Lan đã tiến nhanh vượt bực, từ tình trạng bằng một nửa (50%) tiến lên bằng 56% lợi tức bình quân của Liên Hiệp Âu Châu. Ba Lan hiện là nền kinh tế đứng hàng thứ sáu ở Âu Châu. Ðầu năm nay, trong lúc chính phủ Hy Lạp đang lo phá sản và không đi vay nợ được phải nhờ Âu Châu cứu trợ, thì chính phủ Ba Lan vì được tín nhiệm đã vay được ba tỷ Euro, hơn 4 tỷ đô la Mỹ, với lãi suất thấp.
Nhờ vay nợ dễ dàng, Ba Lan đang cải thiện hệ thống đường xa lộ và hỏa xa, thay thế những di sản hạ tầng cơ sở mục nát thời cộng sản để lại, chuẩn bị cùng Ukraine tổ chức Giải Túc Cầu Âu Châu vào năm 2012. Trong các năm qua, Ba Lan đã bước những bước dài cải tổ hệ thống hành chánh, vì các chính quyền dân chủ không sợ dân mà tin tưởng dân, kính trọng dân. Sau khi chế độ hộ khẩu được bãi bỏ, chính sách gia cư thay đổi đã giúp các công nhân di chuyển, đổi chỗ ở và nơi làm việc trong nước một cách dễ dàng hơn. Chính phủ đã giản dị hóa thủ tục, các công dân có quyền làm bản tự khai các giấy tờ của mình (oswiadczenia) thay vì phải đi xin chưởng khế (giống như công an phường) thị thực công chứng (zaswiadczenia). Nhờ lối làm việc mới đó mà đời sống kinh tế của người dân bình thường được khai thông nhanh chóng hơn. Ông Bộ Trưởng Rostowski nói, “Chúng tôi cứ giả thiết là người dân nói sự thật, cho đến khi nào có bằng chứng là họ nói dối. Trong quá khứ, chế độ cộng sản nghĩ theo lối ngược lại.”
Nếu nước Việt Nam thay đổi chế độ, từ bỏ chủ nghĩa cộng sản như dân Ba Lan đã làm, thì trong vòng mười năm đến 20 năm, chúng ta cũng sẽ tiến không kém gì nước Ba Lan. Bởi vì không có lý gì mà người dân Việt Nam lại thua kém dân Ba Lan.
Nhờ đâu bà Tisdale có thể làm việc thiện?
Ngô Nhân Dụng Chúng ta mới có dịp gặp gỡ, trên tờ báo này, những nhân vật đã bị quên lãng trong 35 năm qua, kể từ sau biến cố năm 1975, như em Vũ Tiến Kính và bà Betty Tisdale. Nhiều độc giả Người Việt đã bày tỏ nỗi xúc động sau khi đọc câu chuyện em Kính đi tìm nguồn cội Việt Nam của mình. Nhờ duyên lành được một bác sĩ của trường UCLA chăm sóc em khi mới đến Mỹ, em bé mồ côi Vũ Tiến Kính đã được phóng viên Người Việt đưa về Little Sài Gòn hòa nhập trong cộng đồng người Việt. Vào cuối Tháng Tư này, em sẽ trở lại đây hội ngộ với đồng bào, bao nhiêu cánh tay đang chờ ôm lấy đứa con bị thất lạc suốt 35 năm, đang tìm về cùng cô dì, chú bác, anh chị em.
Ðầu tuần này, cũng trên mặt báo Người Việt, chúng ta lại được nghe Hà Giang kể câu chuyện bà Tisdale, người đã vận động mang được 2 trăm trẻ em mồ côi Việt Nam sang Mỹ vào những ngày cuối Tháng Tư năm đó, mà em Kính là một trong số trẻ may mắn này. Cùng lúc đó, ở Sài Gòn, báo Tuổi Trẻ đã kể câu chuyện cô Trista Goldberg, một trẻ mồ côi được bốc khỏi Sài Gòn vào cuối Tháng Tư 1975, lúc cô mới lên 4 tuổi. Cô Trista đã tìm lại được cha mẹ nuôi cũ hồi cô ở Việt Nam, rồi tìm được cả cha mẹ ruột và anh chị em, sau khi cả hai gia đình đã sang Mỹ sống. Cô Trista dùng mạng lưới Internet liên lạc với trên 50 trẻ em mồ côi khác, cũng ra đi trong những chuyến không vận năm 1975. Cô đã lập một tổ chức giúp họ tìm cha mẹ, thân nhân. Tổ chức tên là Operation Reunite, Chiến dịch Tái Ngộ, dùng Facebook để nói chuyện với nhau, trao đổi tin tức. Dù có người giúp hay không, những đứa trẻ bị quên lãng trong suốt 35 năm qua vẫn muốn về tận nguồn gốc, tìm hiểu tổ tiên và nhận họ hàng.
Cuối Tháng Tư này, quý vị trong vùng Little Saigon sẽ có cơ hội gặp bà Betty Tisdale, một người xả thân vì việc nghĩa, mà sau khi đọc bài báo của Hà Giang nhiều độc giả đã gọi bà là một vị tiểu bồ tát. Nhưng trong cùng bài báo trên, Hà Giang cho biết chính bà Betty Tisdale đã gọi bà Vũ Thị Ngãi, và Bác Sĩ Tom Dooley là những vị “thánh.” Bà Ngãi là người trông nom cô nhi viện An Lạc ở Sài Gòn trước 30 Tháng Tư, năm 1975, sau khi đã đưa 80 em trẻ mồ côi từ Bắc di cư vào Nam năm 1954. Betty Tisdale đã đọc sách của Bác Sĩ Thomas Dooley nên biết đến bà Ngãi và công cuộc nuôi cô nhi của bà tại Việt Nam. Bác sĩ là người đã khuyên bà Tisdale hãy đi Việt Nam, hãy tới thăm Cô nhi viện An Lạc. Những lời ông khuyên, trên giường bệnh, trước khi ông qua đời vì ung thư khi mới 34 tuổi, đã thay đổi cuộc đời của người phụ nữ này. Bà Tisdale đã gặp các cô nhi, hàng ngàn “đứa con” của bà Vũ Thị Ngãi, từ năm 1961 đến năm 1975. Bà đã dùng cuộc đời sau đó của mình để đi tìm các nguồn tài trợ giúp nuôi các trẻ em mồ côi này, mặc dù bà vẫn sống và làm việc như mọi phụ nữ Mỹ bình thường khác. Và Tháng Tư năm 1975 bà Tisdale đã vận động để đưa được 219 trẻ em mồ côi qua tới Los Angeles, rồi dần dần trao các em cho các gia đình cha mẹ nuôi. Ðã 35 năm qua, năm nay là lần đầu tiên bà Betty Tisdale, nay 87 tuổi, sẽ chính thức “tái ngộ” với cộng đồng người Việt Nam, ở California. Ðể người Việt Nam bày tỏ lòng biết ơn với một con người có tấm lòng từ bi vô lượng và một ý chí phi thường khi muốn làm việc nghĩa.
Trên thế giới không thiếu gì những người giầu lòng từ bi. Cũng trong số báo Người Việt đầu tuần này, quý vị đã đọc chuyện một gia đình người Việt ở Mỹ hàng năm vẫn về làm việc thiện tại một ngôi chùa ở Huế. Phóng viên Trần Tiến Dũng đã chứng kiến cảnh hàng trăm người kém mắt được Ni Sư Minh Tú mời về chùa nhận những món quà do lòng từ thiện của người Việt giúp đỡ người Việt. Có những cụ già 90 tuổi, hoàn toàn mù lòa, tai không còn nghe được nữa; có cả những em mù từ tấm bé, được mẹ ôm tới chùa. Mỗi lần trên báo này kể một câu chuyện thương tâm ở trong nước, rất nhiều độc giả đã viết thư xin địa chỉ các nạn nhân để trực tiếp giúp.
Trong xã hội người Việt, ở ngoại quốc cũng như ở trong nước, có bao nhiêu người muốn làm việc thiện, và rất nhiều người có thể sẵn sàng xả thân vì đạo nghĩa. Một điều khác biệt, là ở những nơi con người được sống tự do thì người ta có thể làm việc thiện hiệu quả hơn. Bởi vì một người làm việc thiện một mình đã là rất tốt, nhưng nếu 10 người, 100 người cùng góp sức, cùng tổ chức chung để làm việc thiện thì kết quả không phải chỉ nhân lên 10 lần hay tăng lên gấp 100 lần, mà có thể tăng lên hàng vạn, hàng triệu lần sức của một cá nhân.
Ðọc câu chuyện về bà Betty Tisdale, chúng ta thấy công việc bà làm đã sử dụng tới nhiều tổ chức trong xã hội công dân ở Việt Nam cũng như ở Mỹ. Bà Tisdale không thể thực hiện được ý nguyện độ sinh của mình dễ dàng, nếu không có bà Vũ Thị Ngãi và những người khác, đã tổ chức ra cô nhi viện An Lạc ở Việt Nam. Chính các tổ chức tư nhân, trong đó có nhiều tôn giáo tham dự, đã lo hàn gắn các “vết thương xã hội” trong thời chiến tranh ở miền Nam. Chính quyền không đủ sức lo tất cả, các công dân tự động đứng ra làm các việc đó. Ðó là ý nghĩa của sự thành hình xã hội công dân. Trong chế độ Việt Nam Cộng Hòa, mọi người dân cũng được tự do làm việc từ thiện, tổ chức các hội thiện nguyện, mà không bị các cán bộ trong một “Mặt trận Tổ quốc” nào theo dõi, kiểm soát tư tưởng chính trị!
Ở nước Mỹ, xã hội công dân còn mạnh hơn nữa. Khi cần giúp các em cô nhi ở Sài Gòn, bà Tisdale trở về Mỹ vận động các hội thiện, các nhà thờ, bệnh viện, để xin thuốc men, tiền bạc, thực phẩm. Các tổ chức tư nhân, tự nguyện này, tạo thành một xã hội công dân Mỹ, hoàn toàn độc lập với chính quyền Mỹ. Ðây là một truyền thống trong xã hội Mỹ từ thời lập quốc, mà các nhà quan sát nước ngoài như Alexis de Tocqueville đã khen ngợi. Xã hội công dân năng động chính là một nền tảng giúp cho chế độ tự do dân chủ ở nước Mỹ được bền chặt, không qua những cảnh thăng trầm như ở Âu Châu.
Bà Tisdale không bao giờ quên một câu Bác Sĩ Tom Dooley khuyên bà, khi ông nằm chờ chết trên giường bệnh, “Ðừng bao giờ quên rằng một người bình thường cũng có thể làm được những việc phi thường.”
Trên thế giới, và trong nước Việt Nam của chúng ta, có biết bao nhiêu người bình thường với tấm lòng từ bi. Họ có thể làm được những việc phi thường, như bà Tisdale, nếu có hoàn cảnh thuận tiện. Chúng ta có thể tạo ra được những hoàn cảnh thuận lợi, bằng cách xây dựng một xã hội trong đó mọi công dân đều được tự do hội họp lại để cùng làm việc công ích, mà không cần phải xin giấy phép, không bị điều tra lý lịch chính trị - chắc chắn không bị điều tra từ ông bà tổ tiên ba đời trước! Mẹ Teresa đáng được phong thánh, dù bà theo bất cứ tôn giáo nào. Nhưng nếu bà Agnès Gonxhe Bojaxhiu sống ở trong một nước thiếu tự do, như tại quê hương bà ở Albanie, thì bà không thể thực hiện được những công trình lớn lao như bà đã làm được tại Ấn Ðộ. May mắn, quê hương thứ hai của bà là một nước tự do dân chủ, cho nên bà mới được tự do dựng trường học, lập nhà thương, khuyến khích mọi người tự động đứng ra tổ chức làm công việc thiện nguyện chung với nhau, mà không bị một chính quyền độc tài nghi ngờ rồi ngăn cản. Năm 1950, Mẹ Teresa lập Hội Truyền Giáo Bác Ái. Năm 1952, bà thành lập Nhà của Những Người Ðang Chết. Nếu Mẹ Teresa không đến Ấn Ðộ mà lại tới Trung Hoa để làm việc thiện, thì chắc chắn sau năm 1949 bà sẽ phải bó tay. Vì Mao Trạch Ðông cũng như Stalin không bao giờ cho phép xã hội công dân được phát triển độc lập ngoài tầm kiểm soát của đảng cộng sản.
Các chế độ độc tài thường ngăn cấm người dân không cho tự do lập hội. Họ có thể cho phép những người bất mãn ngồi quán chửi chế độ mà không ai bị bắt. Nhưng nếu có 3 người, 5 người muốn họp nhau lại làm một việc gì chung, mà chính quyền thấy không kiểm soát được về mặt chính trị là họ sẽ cấm ngay. Trong các chế độ độc tài người ta đặt ra đủ các thứ “giấy phép” để ngăn cấm những hoạt động mà họ nghi ngờ. Mà các chế độ độc tài thì nghi ngờ tất cả mọi người dân. Trong bài trước, mục này đã kể tại Ba Lan chính quyền chấp nhận những lời khai của công dân mà không cần phải thị thực chữ ký, một cách giản dị hóa thủ tục hành chánh đỡ làm mất thời giờ của dân. Ông bộ trưởng Tài Chánh Ba Lan giải thích: Nguyên tắc là hãy tin dân đã; bao giờ có bằng cớ họ nói dối thì sẽ dùng luật pháp trừng phạt. Ở các chế độ độc tài thì ngược lại, chính quyền bao giờ cũng nghi ngờ dân trước đã. Xã hội công dân không phát triển được vì không có quyền tự do hội họp và lập hội. Một cách ngăn cản các quyền tự do của dân là thiết lập những hàng rào giấy phép! Trên mặt kinh tế, hậu quả của chính sách độc tài vẫn còn tác hại. Trong một bài phỏng vấn gần đây trên báo Tiền Phong, Tiến Sĩ Lê Ðăng Doanh nhận xét về nạn giấy phép sinh sôi, “Luật Doanh nghiệp khi ra đời đã xóa bỏ được 180 giấy phép con, chuyển đổi 286 giấy phép khác. Nhưng đến nay, giấy phép đã mọc thêm hơn 400 cái. Những giấy phép này được quy định trong luật, trong nghị định.”
Nhiều vị độc giả Người Việt ở trong nước chắc cũng rất cảm động đọc những câu chuyện các em Vũ Tiến Kính, Trista Goldberg, chuyện bà Tisdale. Năm 1975, bà Tisdale chắc khó lòng tìm được nơi an trú cho 219 trẻ em mồ côi người Việt, nếu không nhờ một tổ chức thiện nguyện là Tressler Lutheran ở tiểu bang Pennsylvania đứng ra giúp các thủ tục giấy tờ tìm cha mẹ nuôi. Ðó là một tổ chức độc lập với chính quyền nước Mỹ, một trong hàng trăm ngàn, hàng triệu tổ chức tư nhân ở Mỹ, giường cột của xã hội Mỹ. Cô Trista cũng không thể thành lập một tổ chức như Operation Reunite quy tục các trẻ em mồ côi 1975, nếu cô không sống trong một nước với xã hội công dân năng động như ở nước Mỹ. Nếu sống ở một nơi mà Facebook bị cấm, Internet bị kiểm duyệt, thì cô làm sao gặp gỡ được 50 người cùng cảnh ngộ? Chính nhờ có tự do, cho phép xã hội công dân phát triển, mà “những người bình thường cũng có thể làm được những việc phi thường.”
Ngô Nhân Dụng Chúng ta mới có dịp gặp gỡ, trên tờ báo này, những nhân vật đã bị quên lãng trong 35 năm qua, kể từ sau biến cố năm 1975, như em Vũ Tiến Kính và bà Betty Tisdale. Nhiều độc giả Người Việt đã bày tỏ nỗi xúc động sau khi đọc câu chuyện em Kính đi tìm nguồn cội Việt Nam của mình. Nhờ duyên lành được một bác sĩ của trường UCLA chăm sóc em khi mới đến Mỹ, em bé mồ côi Vũ Tiến Kính đã được phóng viên Người Việt đưa về Little Sài Gòn hòa nhập trong cộng đồng người Việt. Vào cuối Tháng Tư này, em sẽ trở lại đây hội ngộ với đồng bào, bao nhiêu cánh tay đang chờ ôm lấy đứa con bị thất lạc suốt 35 năm, đang tìm về cùng cô dì, chú bác, anh chị em.
Ðầu tuần này, cũng trên mặt báo Người Việt, chúng ta lại được nghe Hà Giang kể câu chuyện bà Tisdale, người đã vận động mang được 2 trăm trẻ em mồ côi Việt Nam sang Mỹ vào những ngày cuối Tháng Tư năm đó, mà em Kính là một trong số trẻ may mắn này. Cùng lúc đó, ở Sài Gòn, báo Tuổi Trẻ đã kể câu chuyện cô Trista Goldberg, một trẻ mồ côi được bốc khỏi Sài Gòn vào cuối Tháng Tư 1975, lúc cô mới lên 4 tuổi. Cô Trista đã tìm lại được cha mẹ nuôi cũ hồi cô ở Việt Nam, rồi tìm được cả cha mẹ ruột và anh chị em, sau khi cả hai gia đình đã sang Mỹ sống. Cô Trista dùng mạng lưới Internet liên lạc với trên 50 trẻ em mồ côi khác, cũng ra đi trong những chuyến không vận năm 1975. Cô đã lập một tổ chức giúp họ tìm cha mẹ, thân nhân. Tổ chức tên là Operation Reunite, Chiến dịch Tái Ngộ, dùng Facebook để nói chuyện với nhau, trao đổi tin tức. Dù có người giúp hay không, những đứa trẻ bị quên lãng trong suốt 35 năm qua vẫn muốn về tận nguồn gốc, tìm hiểu tổ tiên và nhận họ hàng.
Cuối Tháng Tư này, quý vị trong vùng Little Saigon sẽ có cơ hội gặp bà Betty Tisdale, một người xả thân vì việc nghĩa, mà sau khi đọc bài báo của Hà Giang nhiều độc giả đã gọi bà là một vị tiểu bồ tát. Nhưng trong cùng bài báo trên, Hà Giang cho biết chính bà Betty Tisdale đã gọi bà Vũ Thị Ngãi, và Bác Sĩ Tom Dooley là những vị “thánh.” Bà Ngãi là người trông nom cô nhi viện An Lạc ở Sài Gòn trước 30 Tháng Tư, năm 1975, sau khi đã đưa 80 em trẻ mồ côi từ Bắc di cư vào Nam năm 1954. Betty Tisdale đã đọc sách của Bác Sĩ Thomas Dooley nên biết đến bà Ngãi và công cuộc nuôi cô nhi của bà tại Việt Nam. Bác sĩ là người đã khuyên bà Tisdale hãy đi Việt Nam, hãy tới thăm Cô nhi viện An Lạc. Những lời ông khuyên, trên giường bệnh, trước khi ông qua đời vì ung thư khi mới 34 tuổi, đã thay đổi cuộc đời của người phụ nữ này. Bà Tisdale đã gặp các cô nhi, hàng ngàn “đứa con” của bà Vũ Thị Ngãi, từ năm 1961 đến năm 1975. Bà đã dùng cuộc đời sau đó của mình để đi tìm các nguồn tài trợ giúp nuôi các trẻ em mồ côi này, mặc dù bà vẫn sống và làm việc như mọi phụ nữ Mỹ bình thường khác. Và Tháng Tư năm 1975 bà Tisdale đã vận động để đưa được 219 trẻ em mồ côi qua tới Los Angeles, rồi dần dần trao các em cho các gia đình cha mẹ nuôi. Ðã 35 năm qua, năm nay là lần đầu tiên bà Betty Tisdale, nay 87 tuổi, sẽ chính thức “tái ngộ” với cộng đồng người Việt Nam, ở California. Ðể người Việt Nam bày tỏ lòng biết ơn với một con người có tấm lòng từ bi vô lượng và một ý chí phi thường khi muốn làm việc nghĩa.
Trên thế giới không thiếu gì những người giầu lòng từ bi. Cũng trong số báo Người Việt đầu tuần này, quý vị đã đọc chuyện một gia đình người Việt ở Mỹ hàng năm vẫn về làm việc thiện tại một ngôi chùa ở Huế. Phóng viên Trần Tiến Dũng đã chứng kiến cảnh hàng trăm người kém mắt được Ni Sư Minh Tú mời về chùa nhận những món quà do lòng từ thiện của người Việt giúp đỡ người Việt. Có những cụ già 90 tuổi, hoàn toàn mù lòa, tai không còn nghe được nữa; có cả những em mù từ tấm bé, được mẹ ôm tới chùa. Mỗi lần trên báo này kể một câu chuyện thương tâm ở trong nước, rất nhiều độc giả đã viết thư xin địa chỉ các nạn nhân để trực tiếp giúp.
Trong xã hội người Việt, ở ngoại quốc cũng như ở trong nước, có bao nhiêu người muốn làm việc thiện, và rất nhiều người có thể sẵn sàng xả thân vì đạo nghĩa. Một điều khác biệt, là ở những nơi con người được sống tự do thì người ta có thể làm việc thiện hiệu quả hơn. Bởi vì một người làm việc thiện một mình đã là rất tốt, nhưng nếu 10 người, 100 người cùng góp sức, cùng tổ chức chung để làm việc thiện thì kết quả không phải chỉ nhân lên 10 lần hay tăng lên gấp 100 lần, mà có thể tăng lên hàng vạn, hàng triệu lần sức của một cá nhân.
Ðọc câu chuyện về bà Betty Tisdale, chúng ta thấy công việc bà làm đã sử dụng tới nhiều tổ chức trong xã hội công dân ở Việt Nam cũng như ở Mỹ. Bà Tisdale không thể thực hiện được ý nguyện độ sinh của mình dễ dàng, nếu không có bà Vũ Thị Ngãi và những người khác, đã tổ chức ra cô nhi viện An Lạc ở Việt Nam. Chính các tổ chức tư nhân, trong đó có nhiều tôn giáo tham dự, đã lo hàn gắn các “vết thương xã hội” trong thời chiến tranh ở miền Nam. Chính quyền không đủ sức lo tất cả, các công dân tự động đứng ra làm các việc đó. Ðó là ý nghĩa của sự thành hình xã hội công dân. Trong chế độ Việt Nam Cộng Hòa, mọi người dân cũng được tự do làm việc từ thiện, tổ chức các hội thiện nguyện, mà không bị các cán bộ trong một “Mặt trận Tổ quốc” nào theo dõi, kiểm soát tư tưởng chính trị!
Ở nước Mỹ, xã hội công dân còn mạnh hơn nữa. Khi cần giúp các em cô nhi ở Sài Gòn, bà Tisdale trở về Mỹ vận động các hội thiện, các nhà thờ, bệnh viện, để xin thuốc men, tiền bạc, thực phẩm. Các tổ chức tư nhân, tự nguyện này, tạo thành một xã hội công dân Mỹ, hoàn toàn độc lập với chính quyền Mỹ. Ðây là một truyền thống trong xã hội Mỹ từ thời lập quốc, mà các nhà quan sát nước ngoài như Alexis de Tocqueville đã khen ngợi. Xã hội công dân năng động chính là một nền tảng giúp cho chế độ tự do dân chủ ở nước Mỹ được bền chặt, không qua những cảnh thăng trầm như ở Âu Châu.
Bà Tisdale không bao giờ quên một câu Bác Sĩ Tom Dooley khuyên bà, khi ông nằm chờ chết trên giường bệnh, “Ðừng bao giờ quên rằng một người bình thường cũng có thể làm được những việc phi thường.”
Trên thế giới, và trong nước Việt Nam của chúng ta, có biết bao nhiêu người bình thường với tấm lòng từ bi. Họ có thể làm được những việc phi thường, như bà Tisdale, nếu có hoàn cảnh thuận tiện. Chúng ta có thể tạo ra được những hoàn cảnh thuận lợi, bằng cách xây dựng một xã hội trong đó mọi công dân đều được tự do hội họp lại để cùng làm việc công ích, mà không cần phải xin giấy phép, không bị điều tra lý lịch chính trị - chắc chắn không bị điều tra từ ông bà tổ tiên ba đời trước! Mẹ Teresa đáng được phong thánh, dù bà theo bất cứ tôn giáo nào. Nhưng nếu bà Agnès Gonxhe Bojaxhiu sống ở trong một nước thiếu tự do, như tại quê hương bà ở Albanie, thì bà không thể thực hiện được những công trình lớn lao như bà đã làm được tại Ấn Ðộ. May mắn, quê hương thứ hai của bà là một nước tự do dân chủ, cho nên bà mới được tự do dựng trường học, lập nhà thương, khuyến khích mọi người tự động đứng ra tổ chức làm công việc thiện nguyện chung với nhau, mà không bị một chính quyền độc tài nghi ngờ rồi ngăn cản. Năm 1950, Mẹ Teresa lập Hội Truyền Giáo Bác Ái. Năm 1952, bà thành lập Nhà của Những Người Ðang Chết. Nếu Mẹ Teresa không đến Ấn Ðộ mà lại tới Trung Hoa để làm việc thiện, thì chắc chắn sau năm 1949 bà sẽ phải bó tay. Vì Mao Trạch Ðông cũng như Stalin không bao giờ cho phép xã hội công dân được phát triển độc lập ngoài tầm kiểm soát của đảng cộng sản.
Các chế độ độc tài thường ngăn cấm người dân không cho tự do lập hội. Họ có thể cho phép những người bất mãn ngồi quán chửi chế độ mà không ai bị bắt. Nhưng nếu có 3 người, 5 người muốn họp nhau lại làm một việc gì chung, mà chính quyền thấy không kiểm soát được về mặt chính trị là họ sẽ cấm ngay. Trong các chế độ độc tài người ta đặt ra đủ các thứ “giấy phép” để ngăn cấm những hoạt động mà họ nghi ngờ. Mà các chế độ độc tài thì nghi ngờ tất cả mọi người dân. Trong bài trước, mục này đã kể tại Ba Lan chính quyền chấp nhận những lời khai của công dân mà không cần phải thị thực chữ ký, một cách giản dị hóa thủ tục hành chánh đỡ làm mất thời giờ của dân. Ông bộ trưởng Tài Chánh Ba Lan giải thích: Nguyên tắc là hãy tin dân đã; bao giờ có bằng cớ họ nói dối thì sẽ dùng luật pháp trừng phạt. Ở các chế độ độc tài thì ngược lại, chính quyền bao giờ cũng nghi ngờ dân trước đã. Xã hội công dân không phát triển được vì không có quyền tự do hội họp và lập hội. Một cách ngăn cản các quyền tự do của dân là thiết lập những hàng rào giấy phép! Trên mặt kinh tế, hậu quả của chính sách độc tài vẫn còn tác hại. Trong một bài phỏng vấn gần đây trên báo Tiền Phong, Tiến Sĩ Lê Ðăng Doanh nhận xét về nạn giấy phép sinh sôi, “Luật Doanh nghiệp khi ra đời đã xóa bỏ được 180 giấy phép con, chuyển đổi 286 giấy phép khác. Nhưng đến nay, giấy phép đã mọc thêm hơn 400 cái. Những giấy phép này được quy định trong luật, trong nghị định.”
Nhiều vị độc giả Người Việt ở trong nước chắc cũng rất cảm động đọc những câu chuyện các em Vũ Tiến Kính, Trista Goldberg, chuyện bà Tisdale. Năm 1975, bà Tisdale chắc khó lòng tìm được nơi an trú cho 219 trẻ em mồ côi người Việt, nếu không nhờ một tổ chức thiện nguyện là Tressler Lutheran ở tiểu bang Pennsylvania đứng ra giúp các thủ tục giấy tờ tìm cha mẹ nuôi. Ðó là một tổ chức độc lập với chính quyền nước Mỹ, một trong hàng trăm ngàn, hàng triệu tổ chức tư nhân ở Mỹ, giường cột của xã hội Mỹ. Cô Trista cũng không thể thành lập một tổ chức như Operation Reunite quy tục các trẻ em mồ côi 1975, nếu cô không sống trong một nước với xã hội công dân năng động như ở nước Mỹ. Nếu sống ở một nơi mà Facebook bị cấm, Internet bị kiểm duyệt, thì cô làm sao gặp gỡ được 50 người cùng cảnh ngộ? Chính nhờ có tự do, cho phép xã hội công dân phát triển, mà “những người bình thường cũng có thể làm được những việc phi thường.”
GIÁO HỘI PHÁ SẢN?
Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất
Cách đây mấy bữa, ông lang tây NTC gởi riêng cho người viết một bài bình luận có tiêu đề là “Phá Sản”. Sau đó, người viết lại đọc được trên vài ba website bài “Giáo Hội phá sản”, nội dung không có gì khác. Người viết hiểu rằng đây là một sự việc quan trọng mà ông thầy lang, một tín hữu luôn quan tâm đến các vấn đề của Giáo Hội, muốn lưu ý đặc biệt người viết. Chúng tôi căn cứ vào nội dung bài bình luận, và mượn luôn cái tiêu đề “Giáo Hội Phá Sản” với dấu hỏi (?) kèm theo, tức là câu hỏi Giáo Hội có phá sản không, để làm đề tài cho bài viết này.
Quo Vadis Juse?
Vào thời Giáo Hội sơ khai, trong lúc Nero, hoàng đế La Mã, cấm đạo hết sức gắt gao, tín hữu tại Roma bị giết như ngả rạ, Thánh Phêrô lại bỏ thành để đi lánh nạn nơi khác. Trên đường đi tỵ nạn, Phêrô bất chợt thấy Chúa cũng đang đi tới. Nhận ra Chúa, Phêrô hỏi Ngài: Quo vadis Domine (Lord, where are you going = Thưa Chúa, Ngài đi đâu). Chúa đáp: Khi con bỏ dân ta mà đi thì ta phải trở lại Roma để chịu đóng đinh một lần nữa. Phêrô hiểu ý Chúa, ông trở lại thành, rồi bị bắt, bị đóng đinh ngược, và chết vì đạo
Đức TGM Giuse Ngô Quang Kiệt đi Roma chữa bệnh mới một tháng, bất thình lình ngài trở về Hànội làm ngạc nhiên rất nhiều người. Người viết tưởng tượng có lẽ Đức TGM đã gặp Chúa ở Roma, và Chúa đã hỏi ngài: Giuse, con đi đâu? (Quo vadis Juse). Đức TGM hiểu ý Chúa, nên ngài mới vội vã trở về nhanh như thế. Ý Chúa như thế nào thì bài bình luận nói trên cho biết là: Chúa Thánh Thần ra tay . Sau đây, chúng tôi xin tóm lược việc Chúa Thánh Thần ra tay như thế nào.
Nhà nước VGCS nhất định đẩy Đức TGM Ngô Quang Kiệt ra khỏi Hànội là chuyện rõ như ban ngày, khỏi cần phải tranh cãi. Vấn đề chỉ còn là đẩy bằng cách nào. Đẩy bằng cách dùng quyền lực cưỡng bức thì mất mặt bầu cua lắm. Nếu làm được thì chúng đã làm rồi. Bằng cách nào khác thì đây là cơ hội đã đến. Vào đầu tháng 4-2010, Hội Đồng Giám Mục (HĐGM) VN họp thường niên tại Vũng Tầu để bàn về các vấn đề mục vụ của Giáo Hội. Nghị trình là thư thế, nhưng có một vấn đề còn quan trọng hơn nghị trình là bàn về vấn đề sắp xếp nhân sự trong cơ chế lãnh đạo, để ai lên thay thế Đức TGM Ngô Quang Kiệt tại Hànội, và chuẩn bị người kế vị HY Phạm Minh Mẫn tại Saigon, vì ông cũng sắp sửa về hưu đến nơi rồi. Vấn đề đặt để một giám mục, hồng y trên thượng tầng lãnh đạo trong GH hoàn toàn thuộc thẩm quyền của Đức Giáo Hoàng, và là chuyện mật để tránh việc mua quan bán tước. Chỉ có tại các nước CS, bọn giám mục hồng y quốc doanh mới tự quyền truyền chức và đặt để các giám mục mà thôi. HĐGMVN nay muốn tự ý đặt người thay thế Đức TGM Ngô Quang Kiệt, và chuẩn bị nhân vật kế vị HY Phạm Minh Mẫn là chuyện bất thường, nếu không muốn nói là tiếm quyền.
Bài bình luận cho biết cuộc họp của HĐGM có những màn mặc cả gay gắt và phức tạp. Sự thể cho thấy, HĐGM đã chia rẽ, ít nhất là có hai phe. Sự chia rẽ này phát sinh từ xu hướng chính trị của các giám mục chủ trương đối thoại và thỏa hiệp với VGCS. Cái mồi VGCS thẩy ra để câu các giám mục phe đối thoại, thứ nhất là hứa hẹn các chức vụ và ngôi vị béo bở, và thứ hai là thiết lập bang giao với Tòa Thánh và mời Đức Giáo Hoàng sang thăm VN. Âm mưu đã được sắp sẵn từ trước. Cả VGCS lẫn phe giám mục đối thoại tưởng chắc ăn, nên bọn đầu sỏ Hànội đã chuẩn bị chu đáo cả trong lẫn ngoài. Đối với Tòa Thánh, bài bình luận cho biết: “Tưởng rằng con mồi đã cắn câu, nhà cầm quyền VN bằng con đường bí mật thông báo với Vatican rằng: "Mọi vấn đề đón tiếp Giáo Hoàng không có gì khó khăn với VN, chỉ còn một sự "tắc nghẽn nhỏ" là quan hệ giữa Tòa TGMHN do TGM Ngô Quang Kiệt dẫn đầu và chính quyền Hà Nội. Nếu vấn đề này khai thông được thì Giáo Hoàng có thể đến thăm Việt Nam và được dành cho sự đón tiếp trọng thị". Còn đối với dư luận trong nước, VGCS cũng đã chỉ thị cho báo chí của chúng như sau: “Vì vậy, trong cuộc họp giao ban báo chí sáng thứ 3 hàng tuần vào sáng 6/4/2010 (khi hội nghị bắt đầu khai mạc), Ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương đã chỉ thị cho báo chí "sắp tới khi ông TGMHN Ngô Quang Kiệt thôi chức, báo chí không được đưa tin mà cứ coi đó là việc nội bộ riêng của công giáo.”
Không ai ngờ, đến lúc này thì Chúa Thánh Thần ra tay. Sáng ngày 9-4-2010, Đức TGM Giuse Ngô Quang Kiệt bất ngờ trở về Hanội trước sự ngỡ ngàng của tất cả mọi người, dĩ nhiên là của cả bọn lãnh đạo Hànội và các ông giám mục quốc doanh phe chủ trương đối thoại. Sự trở về bất ngờ của Đức TGM tức khắc làm thất bại cái âm mưu đáng ghê tởm kia. Bài bình luận viết: “Sau khi Đức TGM Giuse về Hà Nội, HĐGMVN đang dự tính cuộc họp bàn về nhân sự sáng 9/4/2010 đã nhận được thông tin và cuộc họp đã không được tiến hành như dự định và việc mời Đức Giáo Hoàng sang thăm Việt Nam cũng đã không được nhắc đến dù HĐGMVN đã có lời mời chính thức.”
Giáo Hội Phá Sản?
Như trên chúng tôi đã trình bầy, tiêu đề của bài bình luận tôi nhận được từ một người bạn vỏn vẹn chỉ có hai chữ “Phá Sản”. Lên đến các trang web nó biến thành “Giáo Hội Phá Sản”. Nhưng khi truy tìm đến tận ngọn nguồn của bài bình luận thì mới thấy cái tiêu đề thực sự là: Phá Sản Một Âm Mưu “Tự Diễn Biến” của CSVN Đối Với Giáo Hội Việt Nam . Từ chỗ một cái âm mưu của VGCS bị phá sản đến chỗ GHVN bị phá sản là một khoảng cách vạn lý. Rút gọn tiêu đề, nhưng gọn quá mức nên trở thành tai hại. Rõ ràng là sai một ly đi một dặm. Âm mưu đó thế nào thì chúng tôi đã trình bầy ở trên. Từ chuyện dễ ra gây ngộ nhận đó, chúng tôi xin được góp một vài ý kiến thô thiển để làm sáng tỏ vấn đề GHCGVN có bị Phá Sản hay không.
1. Khả Tín hay Bất Khả Tín - Đặt ra vấn đề những tin tức phổ biến trong bài bình luận Phá Sản có đáng tin không là việc phải làm trước, bởi vì nếu đó là những tin tức thất thiệt thì ngay bài viết của chúng tôi đây cũng trở thành ba láp, vô giá trị.
Những ai đọc bài Giáo Hội Phá Sản đều thấy ở cuối bài viết, tác giả ký tên là “Nữ Vương Công Lý.” Chúng tôi dám chắc đây là một cái tên lạ hoắc đối với đa số độc giả trên internet, là một nick name thì đúng hơn. Người không công giáo gặp cái tên này thì cầm chắc sẽ cho rằng đó là một cái tên ma, và cho rằng bài bình luận sẽ không có giá trị. Thực ra, Nữ Vương Công Lý là tên của một Website hình như mới xuất hiện trong cõi “hư vô”. Mặc dù là của ai, có ý xấu muốn đánh phá GHCGVN như có người đặt nghi vấn hay không, nhưng những sự việc được nói đến trong bài bình luận của Nữ Vương Công Lý đều phù hợp với thực tế xẩy ra lâu nay. Tìm vào cái website này, bạn đọc là người công giáo lương thiện, sẽ hiểu khác, và lý giải theo cách khác. Trong GHCGVN, danh hiệu Nữ Vương ( Regina ) chỉ dùng để chỉ Đức Mẹ Maria. Thường đi sau danh hiệu Nữ Vương còn có một từ ngữ nữa như Hòa Bình (Pacis, genitive of Pax) chẳng hạn, nên thành ra là Nữ Vương Hòa Bình (Regina Pacis) v.v. Trong tiếng Anh, người ta không dùng danh hiệu Nữ Vương (Queen) để gọi Đức Maria mà chỉ dùng chữ Lady (Nữ Vương Hòa Bình = Regina Pacis = Lady of Peace). Như vậy khi người công giáo đọc bài nhận định mà thấy tác giả ký tên là Nữ Vương Công Lý thì sẽ hiểu đây là một bài viết hoàn toàn nghiêm chỉnh, vì không có người công giáo nào dám dùng tước hiệu của Đức Maria để viết chuyện xằng bậy, làm điều dối trá. Bài nhận định phải được viết do một người, hay một nhóm người công giáo chân chính, có lòng đạo sâu sắc, có lương tri, và có một mục đích chính đáng.
2. Chữ Phá Sản - Người viết không biết luật, nhưng hiểu sơ rằng phá sản (bankrupt) là một từ ngữ trong luật học. Bankruptcy, sự phá sản, là một phán quyết của tòa án buộc một cá nhân hay một pháp nhân không còn khả năng trả nợ, phải phát mãi tài sản của mình để trả số tiền còn thiếu cho các chủ nợ. Như vậy thì trong luật pháp, phá sản trước hết phải là một quyết định của tòa án. Và thứ hai, phá sản chỉ là biện pháp áp dụng trong lãnh vực tài sản là những của cải vật chất. Có lẽ chưa có luật pháp nước nào qui định thế nào là phá sản tinh thần. Thế nhưng trong bài bình luận trên website Nữ Vương Công Lý, chúng ta thấy toàn đề cập đến những vấn đề phi vật chất. Lại chẳng cần đến ông quan tòa nào ra lệnh cả. Có lẽ lạc quẻ một tí nhưng cũng không sao. Tuy nhiên theo chúng tôi, Nữ Vương Công Lý dùng từ Phá Sản ở đây có lẽ không được chỉnh lắm. Nói: làm phá sản một âm mưu có lẽ không được chỉnh bằng nói: làm thất bại hay phá hỏng một âm mưu. Nhưng làm phá sản một chính sách có vẻ hợp lý hơn là làm thất bại một chính sách.
3. Giáo Hội Phá Sản - Việc đọc bài vội vã, việc quá hấp tấp rút gọn tiêu đề đã đưa đến vấn đề GHCGVN bị phá sản. GHCGVN bị phá sản là chuyện quan trọng thật đấy chứ không chơi. GHCGVN bị khánh kiệt không còn khả năng trả các món nợ tiền bạc nữa thì còn đỡ, vì hy vọng còn có thuốc chữa. Nhưng nếu GH phá sản về các mặt phi vật chất thì quả thật là thầy chạy rồi. Câu hỏi đặt ra là GHCGVN có bị phá sản theo nghĩa thứ hai không? Phá sản toàn diện, hay chỉ phá sản một số mặt trong đời sống?
Đi sâu vào các sinh hoạt của GH hiện nay, chúng tôi dám khẳng định rằng GHCGVN không hề bị phá sản, nhưng, ở tầng lớp lãnh đạo, từ trung ương đến địa phưong, đang có sự phân hóa trầm trọng, lối sống tha hóa, cá nhân vong thân, đưa đến tình trạng mất phương hướng. Tính ham mê tiền bạc và lỏng lẻo kỷ luật của nhiều ông linh mục trở thành cái tẩy cho bọn cán bộ CS địa phương nắm để sai khiến là chuyện nhan nhản khắp nơi. Nhưng chuyện lớn ở tầng lớp lãnh đạo cao mới là đáng nói. Việc chia bè kéo cánh để chia chác chức quyền trong HĐGM mà bài bình luận trên Website Nữ Vương Công Lý đề cấp đến là chuyện đáng xấu hổ. Người giáo dân thực sự không tưởng tượng nổi. Xưa nay họ cứ tưởng những tông đồ của Chúa toàn là những tâm hồn khiêm nhu, bé nhỏ, không bao giờ màng danh lợi. Nhưng sự thể cho thấy mấy ông có khác gì bọn chính khách xôi thịt trong các phòng khách lịch sự và sang trọng. Khi hành xử những công việc thế tục, nhiều ông hồng y, giám mục đã quên đi mình cũng là công dân, có quyền và có bổn phận của người công dân, nhưng lại không có được lòng tự trọng và đức tính can đảm của những người dân oan trên khắp nẻo đường đất nước hiện nay. Các ông đại diện GH để thi hành sứ mệnh của Thiên Chúa, nhưng lại dùng cái mặt nạ “đối thoại” để che dấu thái độ khiếp nhược, lòn cúi lũ cầm quyền bán nước VGCS như những thứ dân cái bang ngoài chợ búa. Hồng y gì mà trong đại lễ kính Lòng Thương Xót Chúa lại ngang nhiên khiêu khích và thách thức một cách cao ngạo sự vâng phục của những con chiên có tâm hồm đạo đức và lòng yêu nuớc hăng say. Kết quả là, lối sống và cung cách hành xử trách nhiệm đối với xã hội của các ông đang có nguy cơ tạo ra những Luther mới trong lòng Giáo Hội VN, biến Đạo Cứu Độ thành tôn giáo chuyên trị cúng bái, làm chậu kiểng cho một thứ quyền bính bất nhân và tàn bạo.
Tình trạng có vẻ thê thảm thật, nhưng không vì thế mà kết luận GHCGVN đã phá sản. Có thể nói, tuyệt đại đa số giáo dân VN, trong cũng như ngoài nước, vẫn luôn luôn là những con chiên trung kiên, vừa ngoan đạo, vừa sắt son yêu Tổ Quốc. Chỉ trên thượng tầng lãnh đạo, một phần nhỏ vong thân và vong bản bán thân cho Việt gian thôi. Đa số vẫn là những chủ chiên hiền lành và mẫu mực, việc đời cũng như việc đạo. Xưa nay, CGVN là một lực lượng luôn đứng đầu sóng ngọn gió trong công cuộc đấu tranh chống lại bạo quyền cộng sản tại VN. Nói thế xin đừng vội kết tội, người viết vốn là một tín hữu công giáo, nhưng chắc chắn không có thói quen mẹ hát con khen hay. Xin cứ lấy công tâm để mắt vào lịch sử đấu tranh chống VGCS từ 60 năm qua (1950-2010), bạn đọc sẽ nhìn thấy sự thật. Tình trạng bi thảm hiện nay đáng ngại, nhưng tuyệt đối không phải là tuyệt vọng. Nhìn vào cuộc cách mạng của Công Đoàn Đoàn Kết Balan có thể học hỏi được nhiều điều tốt. Chỉ cần có chủ chăn lớp thượng tầng lãnh đạo là ánh sáng soi đường. Đàn chiên mới là yếu tố quyết định thành bại. Lãnh đạo cấp trung gian là các linh mục chỉ nên giữ vai trò linh hướng như cố linh mục Jerjy Popueluszko của Balan. Chỉ làm tuyên úy thôi thì sẽ xứng đáng được tôn kính như bậc thánh, nhưng mưu đồ thu tóm quyền hành để trở thành một thứ Lã Bất Vi buôn vua, dùng thủ đoạn để lừa gạt và phản bội đồng chí, nhận tiền của bọn đón gió để bị chúng sai khiến, tin tưởng lũ đầu sỏ Hànội ủng hộ và đi theo mình v.v., nếu không thành quỉ thì cũng sẽ trở thành hồn ma vất vưởng, chứ không thể là thánh được.
Xin Cho Một Lời Cuối
Đang lúc viết dở bài này thì Website Nữ Vương Công Lý lại đưa lên mạng một bản tin nói rằng GM Nguyễn Văn Nhơn có thể sẽ ra Hànội làm TGM phó, và rồi sẽ thay thế Đức TGM Ngô Quang Kiệt trong một thời gian ngắn. Nghĩa là mọi việc sẽ diễn ra theo đúng đòi hỏi của VGCS là Đức TGM Ngô Quang Kiệt phải rời bỏ Hànội, nhưng theo một phương án khác. Vì thế, đáng lẽ bài viết này đã trở thành lỗi thời, nhưng xin cho được có một lời cuối: Dù tình thế có biến đổi thế nào thì cuộc đấu tranh dành lại công lý và công bình cho toàn dân cũng phải được tiến hành. Không có giải pháp nào là giải pháp “đối thoại” cả. Chúng ta phải tự tin vào mình, vào tiền đồ của dân Tộc. Nước Mỹ không làm thay cho chúng ta. Người Mỹ đã một lần phản bội chúng ta. Tòa Thánh không có quyền áp đặt đường lối chính sách vào việc giải quyết vấn đề đất nước của người VN. Cần phân biệt đạo ra đạo, và đời ra đời. Bất cứ kẻ nào vâng lệnh ngoại bang đều là tay sai của ngoại bang. Nuôi dưỡng ý tưởng đối thoại với VGCS là hoang tưởng. Lịch sử đã chứng minh nhiều lắm rồi. Đừng u mê nữa. Kẻ nào tự nguyện công nhận và tùng phục chế độ VGCS phải share chung tội làm Việt gian và tội bán nước với chúng. Bất cứ tội gì lịch sử và nhân dân VN cũng tha thứ được, trừ ra tội bán nước thì không.
Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất
Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất
Cách đây mấy bữa, ông lang tây NTC gởi riêng cho người viết một bài bình luận có tiêu đề là “Phá Sản”. Sau đó, người viết lại đọc được trên vài ba website bài “Giáo Hội phá sản”, nội dung không có gì khác. Người viết hiểu rằng đây là một sự việc quan trọng mà ông thầy lang, một tín hữu luôn quan tâm đến các vấn đề của Giáo Hội, muốn lưu ý đặc biệt người viết. Chúng tôi căn cứ vào nội dung bài bình luận, và mượn luôn cái tiêu đề “Giáo Hội Phá Sản” với dấu hỏi (?) kèm theo, tức là câu hỏi Giáo Hội có phá sản không, để làm đề tài cho bài viết này.
Quo Vadis Juse?
Vào thời Giáo Hội sơ khai, trong lúc Nero, hoàng đế La Mã, cấm đạo hết sức gắt gao, tín hữu tại Roma bị giết như ngả rạ, Thánh Phêrô lại bỏ thành để đi lánh nạn nơi khác. Trên đường đi tỵ nạn, Phêrô bất chợt thấy Chúa cũng đang đi tới. Nhận ra Chúa, Phêrô hỏi Ngài: Quo vadis Domine (Lord, where are you going = Thưa Chúa, Ngài đi đâu). Chúa đáp: Khi con bỏ dân ta mà đi thì ta phải trở lại Roma để chịu đóng đinh một lần nữa. Phêrô hiểu ý Chúa, ông trở lại thành, rồi bị bắt, bị đóng đinh ngược, và chết vì đạo
Đức TGM Giuse Ngô Quang Kiệt đi Roma chữa bệnh mới một tháng, bất thình lình ngài trở về Hànội làm ngạc nhiên rất nhiều người. Người viết tưởng tượng có lẽ Đức TGM đã gặp Chúa ở Roma, và Chúa đã hỏi ngài: Giuse, con đi đâu? (Quo vadis Juse). Đức TGM hiểu ý Chúa, nên ngài mới vội vã trở về nhanh như thế. Ý Chúa như thế nào thì bài bình luận nói trên cho biết là: Chúa Thánh Thần ra tay . Sau đây, chúng tôi xin tóm lược việc Chúa Thánh Thần ra tay như thế nào.
Nhà nước VGCS nhất định đẩy Đức TGM Ngô Quang Kiệt ra khỏi Hànội là chuyện rõ như ban ngày, khỏi cần phải tranh cãi. Vấn đề chỉ còn là đẩy bằng cách nào. Đẩy bằng cách dùng quyền lực cưỡng bức thì mất mặt bầu cua lắm. Nếu làm được thì chúng đã làm rồi. Bằng cách nào khác thì đây là cơ hội đã đến. Vào đầu tháng 4-2010, Hội Đồng Giám Mục (HĐGM) VN họp thường niên tại Vũng Tầu để bàn về các vấn đề mục vụ của Giáo Hội. Nghị trình là thư thế, nhưng có một vấn đề còn quan trọng hơn nghị trình là bàn về vấn đề sắp xếp nhân sự trong cơ chế lãnh đạo, để ai lên thay thế Đức TGM Ngô Quang Kiệt tại Hànội, và chuẩn bị người kế vị HY Phạm Minh Mẫn tại Saigon, vì ông cũng sắp sửa về hưu đến nơi rồi. Vấn đề đặt để một giám mục, hồng y trên thượng tầng lãnh đạo trong GH hoàn toàn thuộc thẩm quyền của Đức Giáo Hoàng, và là chuyện mật để tránh việc mua quan bán tước. Chỉ có tại các nước CS, bọn giám mục hồng y quốc doanh mới tự quyền truyền chức và đặt để các giám mục mà thôi. HĐGMVN nay muốn tự ý đặt người thay thế Đức TGM Ngô Quang Kiệt, và chuẩn bị nhân vật kế vị HY Phạm Minh Mẫn là chuyện bất thường, nếu không muốn nói là tiếm quyền.
Bài bình luận cho biết cuộc họp của HĐGM có những màn mặc cả gay gắt và phức tạp. Sự thể cho thấy, HĐGM đã chia rẽ, ít nhất là có hai phe. Sự chia rẽ này phát sinh từ xu hướng chính trị của các giám mục chủ trương đối thoại và thỏa hiệp với VGCS. Cái mồi VGCS thẩy ra để câu các giám mục phe đối thoại, thứ nhất là hứa hẹn các chức vụ và ngôi vị béo bở, và thứ hai là thiết lập bang giao với Tòa Thánh và mời Đức Giáo Hoàng sang thăm VN. Âm mưu đã được sắp sẵn từ trước. Cả VGCS lẫn phe giám mục đối thoại tưởng chắc ăn, nên bọn đầu sỏ Hànội đã chuẩn bị chu đáo cả trong lẫn ngoài. Đối với Tòa Thánh, bài bình luận cho biết: “Tưởng rằng con mồi đã cắn câu, nhà cầm quyền VN bằng con đường bí mật thông báo với Vatican rằng: "Mọi vấn đề đón tiếp Giáo Hoàng không có gì khó khăn với VN, chỉ còn một sự "tắc nghẽn nhỏ" là quan hệ giữa Tòa TGMHN do TGM Ngô Quang Kiệt dẫn đầu và chính quyền Hà Nội. Nếu vấn đề này khai thông được thì Giáo Hoàng có thể đến thăm Việt Nam và được dành cho sự đón tiếp trọng thị". Còn đối với dư luận trong nước, VGCS cũng đã chỉ thị cho báo chí của chúng như sau: “Vì vậy, trong cuộc họp giao ban báo chí sáng thứ 3 hàng tuần vào sáng 6/4/2010 (khi hội nghị bắt đầu khai mạc), Ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương đã chỉ thị cho báo chí "sắp tới khi ông TGMHN Ngô Quang Kiệt thôi chức, báo chí không được đưa tin mà cứ coi đó là việc nội bộ riêng của công giáo.”
Không ai ngờ, đến lúc này thì Chúa Thánh Thần ra tay. Sáng ngày 9-4-2010, Đức TGM Giuse Ngô Quang Kiệt bất ngờ trở về Hanội trước sự ngỡ ngàng của tất cả mọi người, dĩ nhiên là của cả bọn lãnh đạo Hànội và các ông giám mục quốc doanh phe chủ trương đối thoại. Sự trở về bất ngờ của Đức TGM tức khắc làm thất bại cái âm mưu đáng ghê tởm kia. Bài bình luận viết: “Sau khi Đức TGM Giuse về Hà Nội, HĐGMVN đang dự tính cuộc họp bàn về nhân sự sáng 9/4/2010 đã nhận được thông tin và cuộc họp đã không được tiến hành như dự định và việc mời Đức Giáo Hoàng sang thăm Việt Nam cũng đã không được nhắc đến dù HĐGMVN đã có lời mời chính thức.”
Giáo Hội Phá Sản?
Như trên chúng tôi đã trình bầy, tiêu đề của bài bình luận tôi nhận được từ một người bạn vỏn vẹn chỉ có hai chữ “Phá Sản”. Lên đến các trang web nó biến thành “Giáo Hội Phá Sản”. Nhưng khi truy tìm đến tận ngọn nguồn của bài bình luận thì mới thấy cái tiêu đề thực sự là: Phá Sản Một Âm Mưu “Tự Diễn Biến” của CSVN Đối Với Giáo Hội Việt Nam . Từ chỗ một cái âm mưu của VGCS bị phá sản đến chỗ GHVN bị phá sản là một khoảng cách vạn lý. Rút gọn tiêu đề, nhưng gọn quá mức nên trở thành tai hại. Rõ ràng là sai một ly đi một dặm. Âm mưu đó thế nào thì chúng tôi đã trình bầy ở trên. Từ chuyện dễ ra gây ngộ nhận đó, chúng tôi xin được góp một vài ý kiến thô thiển để làm sáng tỏ vấn đề GHCGVN có bị Phá Sản hay không.
1. Khả Tín hay Bất Khả Tín - Đặt ra vấn đề những tin tức phổ biến trong bài bình luận Phá Sản có đáng tin không là việc phải làm trước, bởi vì nếu đó là những tin tức thất thiệt thì ngay bài viết của chúng tôi đây cũng trở thành ba láp, vô giá trị.
Những ai đọc bài Giáo Hội Phá Sản đều thấy ở cuối bài viết, tác giả ký tên là “Nữ Vương Công Lý.” Chúng tôi dám chắc đây là một cái tên lạ hoắc đối với đa số độc giả trên internet, là một nick name thì đúng hơn. Người không công giáo gặp cái tên này thì cầm chắc sẽ cho rằng đó là một cái tên ma, và cho rằng bài bình luận sẽ không có giá trị. Thực ra, Nữ Vương Công Lý là tên của một Website hình như mới xuất hiện trong cõi “hư vô”. Mặc dù là của ai, có ý xấu muốn đánh phá GHCGVN như có người đặt nghi vấn hay không, nhưng những sự việc được nói đến trong bài bình luận của Nữ Vương Công Lý đều phù hợp với thực tế xẩy ra lâu nay. Tìm vào cái website này, bạn đọc là người công giáo lương thiện, sẽ hiểu khác, và lý giải theo cách khác. Trong GHCGVN, danh hiệu Nữ Vương ( Regina ) chỉ dùng để chỉ Đức Mẹ Maria. Thường đi sau danh hiệu Nữ Vương còn có một từ ngữ nữa như Hòa Bình (Pacis, genitive of Pax) chẳng hạn, nên thành ra là Nữ Vương Hòa Bình (Regina Pacis) v.v. Trong tiếng Anh, người ta không dùng danh hiệu Nữ Vương (Queen) để gọi Đức Maria mà chỉ dùng chữ Lady (Nữ Vương Hòa Bình = Regina Pacis = Lady of Peace). Như vậy khi người công giáo đọc bài nhận định mà thấy tác giả ký tên là Nữ Vương Công Lý thì sẽ hiểu đây là một bài viết hoàn toàn nghiêm chỉnh, vì không có người công giáo nào dám dùng tước hiệu của Đức Maria để viết chuyện xằng bậy, làm điều dối trá. Bài nhận định phải được viết do một người, hay một nhóm người công giáo chân chính, có lòng đạo sâu sắc, có lương tri, và có một mục đích chính đáng.
2. Chữ Phá Sản - Người viết không biết luật, nhưng hiểu sơ rằng phá sản (bankrupt) là một từ ngữ trong luật học. Bankruptcy, sự phá sản, là một phán quyết của tòa án buộc một cá nhân hay một pháp nhân không còn khả năng trả nợ, phải phát mãi tài sản của mình để trả số tiền còn thiếu cho các chủ nợ. Như vậy thì trong luật pháp, phá sản trước hết phải là một quyết định của tòa án. Và thứ hai, phá sản chỉ là biện pháp áp dụng trong lãnh vực tài sản là những của cải vật chất. Có lẽ chưa có luật pháp nước nào qui định thế nào là phá sản tinh thần. Thế nhưng trong bài bình luận trên website Nữ Vương Công Lý, chúng ta thấy toàn đề cập đến những vấn đề phi vật chất. Lại chẳng cần đến ông quan tòa nào ra lệnh cả. Có lẽ lạc quẻ một tí nhưng cũng không sao. Tuy nhiên theo chúng tôi, Nữ Vương Công Lý dùng từ Phá Sản ở đây có lẽ không được chỉnh lắm. Nói: làm phá sản một âm mưu có lẽ không được chỉnh bằng nói: làm thất bại hay phá hỏng một âm mưu. Nhưng làm phá sản một chính sách có vẻ hợp lý hơn là làm thất bại một chính sách.
3. Giáo Hội Phá Sản - Việc đọc bài vội vã, việc quá hấp tấp rút gọn tiêu đề đã đưa đến vấn đề GHCGVN bị phá sản. GHCGVN bị phá sản là chuyện quan trọng thật đấy chứ không chơi. GHCGVN bị khánh kiệt không còn khả năng trả các món nợ tiền bạc nữa thì còn đỡ, vì hy vọng còn có thuốc chữa. Nhưng nếu GH phá sản về các mặt phi vật chất thì quả thật là thầy chạy rồi. Câu hỏi đặt ra là GHCGVN có bị phá sản theo nghĩa thứ hai không? Phá sản toàn diện, hay chỉ phá sản một số mặt trong đời sống?
Đi sâu vào các sinh hoạt của GH hiện nay, chúng tôi dám khẳng định rằng GHCGVN không hề bị phá sản, nhưng, ở tầng lớp lãnh đạo, từ trung ương đến địa phưong, đang có sự phân hóa trầm trọng, lối sống tha hóa, cá nhân vong thân, đưa đến tình trạng mất phương hướng. Tính ham mê tiền bạc và lỏng lẻo kỷ luật của nhiều ông linh mục trở thành cái tẩy cho bọn cán bộ CS địa phương nắm để sai khiến là chuyện nhan nhản khắp nơi. Nhưng chuyện lớn ở tầng lớp lãnh đạo cao mới là đáng nói. Việc chia bè kéo cánh để chia chác chức quyền trong HĐGM mà bài bình luận trên Website Nữ Vương Công Lý đề cấp đến là chuyện đáng xấu hổ. Người giáo dân thực sự không tưởng tượng nổi. Xưa nay họ cứ tưởng những tông đồ của Chúa toàn là những tâm hồn khiêm nhu, bé nhỏ, không bao giờ màng danh lợi. Nhưng sự thể cho thấy mấy ông có khác gì bọn chính khách xôi thịt trong các phòng khách lịch sự và sang trọng. Khi hành xử những công việc thế tục, nhiều ông hồng y, giám mục đã quên đi mình cũng là công dân, có quyền và có bổn phận của người công dân, nhưng lại không có được lòng tự trọng và đức tính can đảm của những người dân oan trên khắp nẻo đường đất nước hiện nay. Các ông đại diện GH để thi hành sứ mệnh của Thiên Chúa, nhưng lại dùng cái mặt nạ “đối thoại” để che dấu thái độ khiếp nhược, lòn cúi lũ cầm quyền bán nước VGCS như những thứ dân cái bang ngoài chợ búa. Hồng y gì mà trong đại lễ kính Lòng Thương Xót Chúa lại ngang nhiên khiêu khích và thách thức một cách cao ngạo sự vâng phục của những con chiên có tâm hồm đạo đức và lòng yêu nuớc hăng say. Kết quả là, lối sống và cung cách hành xử trách nhiệm đối với xã hội của các ông đang có nguy cơ tạo ra những Luther mới trong lòng Giáo Hội VN, biến Đạo Cứu Độ thành tôn giáo chuyên trị cúng bái, làm chậu kiểng cho một thứ quyền bính bất nhân và tàn bạo.
Tình trạng có vẻ thê thảm thật, nhưng không vì thế mà kết luận GHCGVN đã phá sản. Có thể nói, tuyệt đại đa số giáo dân VN, trong cũng như ngoài nước, vẫn luôn luôn là những con chiên trung kiên, vừa ngoan đạo, vừa sắt son yêu Tổ Quốc. Chỉ trên thượng tầng lãnh đạo, một phần nhỏ vong thân và vong bản bán thân cho Việt gian thôi. Đa số vẫn là những chủ chiên hiền lành và mẫu mực, việc đời cũng như việc đạo. Xưa nay, CGVN là một lực lượng luôn đứng đầu sóng ngọn gió trong công cuộc đấu tranh chống lại bạo quyền cộng sản tại VN. Nói thế xin đừng vội kết tội, người viết vốn là một tín hữu công giáo, nhưng chắc chắn không có thói quen mẹ hát con khen hay. Xin cứ lấy công tâm để mắt vào lịch sử đấu tranh chống VGCS từ 60 năm qua (1950-2010), bạn đọc sẽ nhìn thấy sự thật. Tình trạng bi thảm hiện nay đáng ngại, nhưng tuyệt đối không phải là tuyệt vọng. Nhìn vào cuộc cách mạng của Công Đoàn Đoàn Kết Balan có thể học hỏi được nhiều điều tốt. Chỉ cần có chủ chăn lớp thượng tầng lãnh đạo là ánh sáng soi đường. Đàn chiên mới là yếu tố quyết định thành bại. Lãnh đạo cấp trung gian là các linh mục chỉ nên giữ vai trò linh hướng như cố linh mục Jerjy Popueluszko của Balan. Chỉ làm tuyên úy thôi thì sẽ xứng đáng được tôn kính như bậc thánh, nhưng mưu đồ thu tóm quyền hành để trở thành một thứ Lã Bất Vi buôn vua, dùng thủ đoạn để lừa gạt và phản bội đồng chí, nhận tiền của bọn đón gió để bị chúng sai khiến, tin tưởng lũ đầu sỏ Hànội ủng hộ và đi theo mình v.v., nếu không thành quỉ thì cũng sẽ trở thành hồn ma vất vưởng, chứ không thể là thánh được.
Xin Cho Một Lời Cuối
Đang lúc viết dở bài này thì Website Nữ Vương Công Lý lại đưa lên mạng một bản tin nói rằng GM Nguyễn Văn Nhơn có thể sẽ ra Hànội làm TGM phó, và rồi sẽ thay thế Đức TGM Ngô Quang Kiệt trong một thời gian ngắn. Nghĩa là mọi việc sẽ diễn ra theo đúng đòi hỏi của VGCS là Đức TGM Ngô Quang Kiệt phải rời bỏ Hànội, nhưng theo một phương án khác. Vì thế, đáng lẽ bài viết này đã trở thành lỗi thời, nhưng xin cho được có một lời cuối: Dù tình thế có biến đổi thế nào thì cuộc đấu tranh dành lại công lý và công bình cho toàn dân cũng phải được tiến hành. Không có giải pháp nào là giải pháp “đối thoại” cả. Chúng ta phải tự tin vào mình, vào tiền đồ của dân Tộc. Nước Mỹ không làm thay cho chúng ta. Người Mỹ đã một lần phản bội chúng ta. Tòa Thánh không có quyền áp đặt đường lối chính sách vào việc giải quyết vấn đề đất nước của người VN. Cần phân biệt đạo ra đạo, và đời ra đời. Bất cứ kẻ nào vâng lệnh ngoại bang đều là tay sai của ngoại bang. Nuôi dưỡng ý tưởng đối thoại với VGCS là hoang tưởng. Lịch sử đã chứng minh nhiều lắm rồi. Đừng u mê nữa. Kẻ nào tự nguyện công nhận và tùng phục chế độ VGCS phải share chung tội làm Việt gian và tội bán nước với chúng. Bất cứ tội gì lịch sử và nhân dân VN cũng tha thứ được, trừ ra tội bán nước thì không.
Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất
Cắt đất đai tổ quốc trả nợ: Cái họa khôn cùng
Bài viết của Nguyễn Quang Thiều trên Tuần Việt Nam ngày 16 tháng 4, 2010 bị xóa LTS: Nhà thơ, nhà văn, biên kịch, vẽ tranh, dịch giả, nhà báo tự do Nguyễn Quang Thiều, 53 tuổi, đang sống ở Hà Ðông. Ông đã đoạt nhiều giải thưởng văn chương ở Việt Nam. Không những đa tài, nổi tiếng trong ngoài nước, thỉnh thoảng, ông gửi đăng báo những bài tâm cảm, trình bày cái nhìn của ông về các vấn đề thời sự của đất nước. Ông vừa gửi tới “Tuần Việt Nam”, một bộ phận của báo điện tử VietNamNet (cơ quan chủ quản là Bộ Thông Tin Truyền Thông của ông bộ trưởng “lề phải” Lê Doãn Hợp).
Bài viết ngắn có tựa đề “Cắt đất đai tổ quốc trả nợ: Cái họa khôn cùng” vừa mới được bỏ lên tuanvietnam.net sáng sớm ngày Thứ Sáu 16 tháng 4 năm 2010 thì bị giật xuống ngay. Tác giả không nói gì về chuyện ở Việt Nam, nhưng cái đề tài nhậy cảm này “tuy rằng nói đấy mà đây chạnh lòng”. Vấn đề chủ quyền biển đảo, lãnh thổ và cái họa Bắc thuộc đang là nỗi ám ảnh của người Việt Nam khắp nơi, hiển nhiên gồm cả Nguyễn Quang Thiều.
Từ đầu năm đến nay, ông đã gửi cho TuanVietnam và VietNamNet một số bài. Hồi Tháng 3, khi video clip cô nữ sinh đánh bạn tàn nhẫn ngay trên đường phố trước cái nhìn vô cảm của đám học sinh khác và cả người đi đường. Lại còn được phóng lên youtube cho thiên hạ biết. Ông Thiều bình luận cái chuyện này “là cái tát” cho các người lớn.
Vào dịp Tết vừa qua, ông thấy khổ tâm vì người ta nườm nượp dùng đủ mọi loại xe, cả công xa, lên rừng chặt các cành đào về nhà ở Hà Nội trưng bày ăn Tết, không bao lâu đào rừng sẽ hết vì người thành phố.
Năm 2008, Bộ Chính Trị CSVN công bố chính sách “tam nông” với mục tiêu “thực hiện công bằng xã hội”. Báo Nông Nghiệp Việt Nam viết một loạt bài ca ngợi rằng “Ðảng, nhà nước ta luôn đặc biệt quan tâm đến nông nghiệp-nông dân-nông thôn. Trong đó, coi nông dân là trung tâm của những hoạch định chính sách lâu dài.”
Nhưng giữa năm 2009, ông Nguyễn Quang Thiều viết loạt bài “Thư của đứa con những người nông dân” trên VietNamNet cho thấy sau nửa thế kỷ được “giải phóng” và biết bao chính sách, nông dân ở quê ông, nay là Hà Nội mở rộng, vẫn con trâu, cái cày rồi tới người nông dân bám theo nhau trên cánh đồng. Thu nhập đầu người chỉ có 40,000 đồng một tháng không đủ sống. Chữ nghĩa thì, may ra, qua khỏi nạn mù chữ. Y tế cũng không. Một người cha trong gia đình phải lựa chọn bán ruộng vườn nhà cửa để chữa bệnh (con cái sẽ đi ăn mày) hay chết (để cho con còn cơ hội sống) đã chọn cái chết.
Dưới đây là bài của ông Thiều bày tỏ sự ưu tư về tiền đồ của dân tộc đã bị xóa.
Nguyễn Quang Thiều
http://www.tuanvietnam.net/2010-04-15-c ... khon-cung-

Nhà văn, nhà thơ, nhà báo Nguyễn Quang Thiều. (Hình: lethieunhon.com) Mấy ngày trước, VTV1 đưa tin hai đứa trẻ Hy Lạp đã lấy những đồng tiền tiết kiệm trong lợn nhựa của chúng để đóng góp cho đất nước trả nợ chứ đừng mang một số hòn đảo, đất đai của tổ tiên chúng, gán nợ cho nước ngoài. Rất nhiều người lớn nghe tin đó đã cúi đầu...
Họ cúi đầu kính trọng và xấu hổ. Và như một sự vô tình, hành động của những đứa trẻ đã thổi vào lòng những người lớn trên nhiều quốc gia lòng tự trọng dân tộc và tình yêu tổ quốc.
Nợ là chuyện bình thường của mọi quốc gia. Ngay như nước Mỹ, nước Nhật còn là con nợ lớn của thế giới cơ mà. Vậy là chuyện mà có lẽ người nào trong đời cũng phải vay ít nhất một lần và các quốc gia cũng như vậy. Nhưng vay để làm việc gì và trả nợ như thế nào mới là điều đáng nói? Tôi không biết vì lý do nào mà Hy Lạp nợ nước ngoài và vì lý do gì mà Hy Lạp không có cách nào trả nợ nước ngoài.
Nợ nước ngoài có nhiều cách. Nợ vì vay để đầu tư hồi phục nền kinh tế hoặc xây dựng những công trình chiến lược của đất nước. Không trả nợ được có thể vì những người lãnh đạo không biết điều hành đất nước mà cụ thể không biết sử dụng một cách hiệu quả nhất tiền vay. Không trả nợ được có thể vì nạn tham những ăn vào quá lớn những đồng tiền đi vay ấy.

Nợ đến nỗi phải bán cả một hay nhiều phần đất của tổ quốc đi để trả nợ thì đấy là cái họa khôn cùng.
(Hình: Theo bài viết của Nguyễn Quang Thiều trên TuanVietnam) Nhưng nợ đến mức làm cho các thế hệ sau nối nhau còng lưng trả nợ cho những người đi trước quả là họa lớn cho đất nước. Còn nợ đến nỗi phải bán cả một hay nhiều phần đất của tổ quốc đi để trả nợ thì đấy là cái họa khôn cùng cho đất nước.
Việc cắt đất cho nước ngoài không phải chuyện hi hữu. Lịch sử nhiều quốc gia trên thế giới do nhiều nguyên nhân đã bán đất cho nước ngoài. Bán có thời hạn hoặc bán vĩnh viễn. Cắt đất cho nước ngoài cũng có nhiều nguyên nhân. Có nguyên nhân là vì bại trận trong một cuộc chiến tranh, có nguyên nhân cắt đất để có được những lợi ích khác và cũng có nguyên nhân do hèn nhát trước những đe dọa của nước ngoài mà dâng đất. Và với nhiều trường hợp, cho mượn đất với những lý do nào đó đôi khi cũng là một cách dâng đất của tổ quốc cho người ngoài.
Nhưng sớm hay muộn thì những dân tộc đã bị cắt đất bán hoặc dâng đất cho nước ngoài sẽ đều tìm cách đòi lại lãnh thổ của mình cho dù lãnh thổ đã mất chỉ nhỏ bằng một thửa ruộng của một người nông dân. Lịch sử cũng cho chúng ta thấy nhiều ví dụ về chuyện đòi lại đất như thế.
Trước tòa nhà Quốc Hội Úc có một ngôi nhà dựng lên gọi là “Ðại sứ Thổ dân Úc”. Tôi đã trò chuyện với đại sứ thổ dân trong ngôi nhà này trong chuyến đến Úc năm 1999. Những người thổ dân Úc dựng “tòa đại sứ” này để đòi lại đất của tổ tiên, ông cha họ đã bị những người da trắng cướp cho dù những người thổ dân Úc còn lại không nhiều và họ không có một quân đội nào. Nhưng họ đã chiến đấu cho lẽ phải bằng chính lẽ phải hết đời này đến đời khác buộc chính quyền Úc phải thừa nhận chủ quyền của họ. Cuối cùng, chính quyền Úc đã phải công khai xin lỗi những người thổ dân.
Bây giờ, chính quyền Hy Lạp cắt một số hòn đảo để trả nợ nước ngoài. Có thể sau đó, họ đã xóa được món nợ tiền, nợ vàng nước ngoài thì họ lại mang một món nợ khác. Món nợ này lớn hơn và đau đớn hơn bất kỳ món nợ nào khác. Ðó là món nợ với tổ quốc và nhân dân họ.
Chính vì thế mà cả những đứa trẻ như hai đứa trẻ Hy Lạp cũng phải đứng lên bảo vệ lãnh thổ của tổ quốc chúng bằng cách của những đứa trẻ nhưng ý nghĩa của hành động ấy thật sâu sắc, thật lớn lao và thật xúc động.
Qua hành động của hai đứa trẻ Hy Lạp ấy, tôi nghĩ, những người có lương tâm ở tất cả các quốc gia đã từng bán đất hay dâng đất cho nước ngoài cho với bất kỳ lý do nào và cho dù mảnh đất ấy chỉ đủ trồng một khóm hoa hay một gốc tre cũng đều cảm thấy hổ nhục.
Bài viết của Nguyễn Quang Thiều trên Tuần Việt Nam ngày 16 tháng 4, 2010 bị xóa LTS: Nhà thơ, nhà văn, biên kịch, vẽ tranh, dịch giả, nhà báo tự do Nguyễn Quang Thiều, 53 tuổi, đang sống ở Hà Ðông. Ông đã đoạt nhiều giải thưởng văn chương ở Việt Nam. Không những đa tài, nổi tiếng trong ngoài nước, thỉnh thoảng, ông gửi đăng báo những bài tâm cảm, trình bày cái nhìn của ông về các vấn đề thời sự của đất nước. Ông vừa gửi tới “Tuần Việt Nam”, một bộ phận của báo điện tử VietNamNet (cơ quan chủ quản là Bộ Thông Tin Truyền Thông của ông bộ trưởng “lề phải” Lê Doãn Hợp).
Bài viết ngắn có tựa đề “Cắt đất đai tổ quốc trả nợ: Cái họa khôn cùng” vừa mới được bỏ lên tuanvietnam.net sáng sớm ngày Thứ Sáu 16 tháng 4 năm 2010 thì bị giật xuống ngay. Tác giả không nói gì về chuyện ở Việt Nam, nhưng cái đề tài nhậy cảm này “tuy rằng nói đấy mà đây chạnh lòng”. Vấn đề chủ quyền biển đảo, lãnh thổ và cái họa Bắc thuộc đang là nỗi ám ảnh của người Việt Nam khắp nơi, hiển nhiên gồm cả Nguyễn Quang Thiều.
Từ đầu năm đến nay, ông đã gửi cho TuanVietnam và VietNamNet một số bài. Hồi Tháng 3, khi video clip cô nữ sinh đánh bạn tàn nhẫn ngay trên đường phố trước cái nhìn vô cảm của đám học sinh khác và cả người đi đường. Lại còn được phóng lên youtube cho thiên hạ biết. Ông Thiều bình luận cái chuyện này “là cái tát” cho các người lớn.
Vào dịp Tết vừa qua, ông thấy khổ tâm vì người ta nườm nượp dùng đủ mọi loại xe, cả công xa, lên rừng chặt các cành đào về nhà ở Hà Nội trưng bày ăn Tết, không bao lâu đào rừng sẽ hết vì người thành phố.
Năm 2008, Bộ Chính Trị CSVN công bố chính sách “tam nông” với mục tiêu “thực hiện công bằng xã hội”. Báo Nông Nghiệp Việt Nam viết một loạt bài ca ngợi rằng “Ðảng, nhà nước ta luôn đặc biệt quan tâm đến nông nghiệp-nông dân-nông thôn. Trong đó, coi nông dân là trung tâm của những hoạch định chính sách lâu dài.”
Nhưng giữa năm 2009, ông Nguyễn Quang Thiều viết loạt bài “Thư của đứa con những người nông dân” trên VietNamNet cho thấy sau nửa thế kỷ được “giải phóng” và biết bao chính sách, nông dân ở quê ông, nay là Hà Nội mở rộng, vẫn con trâu, cái cày rồi tới người nông dân bám theo nhau trên cánh đồng. Thu nhập đầu người chỉ có 40,000 đồng một tháng không đủ sống. Chữ nghĩa thì, may ra, qua khỏi nạn mù chữ. Y tế cũng không. Một người cha trong gia đình phải lựa chọn bán ruộng vườn nhà cửa để chữa bệnh (con cái sẽ đi ăn mày) hay chết (để cho con còn cơ hội sống) đã chọn cái chết.
Dưới đây là bài của ông Thiều bày tỏ sự ưu tư về tiền đồ của dân tộc đã bị xóa.
Nguyễn Quang Thiều
http://www.tuanvietnam.net/2010-04-15-c ... khon-cung-

Nhà văn, nhà thơ, nhà báo Nguyễn Quang Thiều. (Hình: lethieunhon.com) Mấy ngày trước, VTV1 đưa tin hai đứa trẻ Hy Lạp đã lấy những đồng tiền tiết kiệm trong lợn nhựa của chúng để đóng góp cho đất nước trả nợ chứ đừng mang một số hòn đảo, đất đai của tổ tiên chúng, gán nợ cho nước ngoài. Rất nhiều người lớn nghe tin đó đã cúi đầu...
Họ cúi đầu kính trọng và xấu hổ. Và như một sự vô tình, hành động của những đứa trẻ đã thổi vào lòng những người lớn trên nhiều quốc gia lòng tự trọng dân tộc và tình yêu tổ quốc.
Nợ là chuyện bình thường của mọi quốc gia. Ngay như nước Mỹ, nước Nhật còn là con nợ lớn của thế giới cơ mà. Vậy là chuyện mà có lẽ người nào trong đời cũng phải vay ít nhất một lần và các quốc gia cũng như vậy. Nhưng vay để làm việc gì và trả nợ như thế nào mới là điều đáng nói? Tôi không biết vì lý do nào mà Hy Lạp nợ nước ngoài và vì lý do gì mà Hy Lạp không có cách nào trả nợ nước ngoài.
Nợ nước ngoài có nhiều cách. Nợ vì vay để đầu tư hồi phục nền kinh tế hoặc xây dựng những công trình chiến lược của đất nước. Không trả nợ được có thể vì những người lãnh đạo không biết điều hành đất nước mà cụ thể không biết sử dụng một cách hiệu quả nhất tiền vay. Không trả nợ được có thể vì nạn tham những ăn vào quá lớn những đồng tiền đi vay ấy.

Nợ đến nỗi phải bán cả một hay nhiều phần đất của tổ quốc đi để trả nợ thì đấy là cái họa khôn cùng.
(Hình: Theo bài viết của Nguyễn Quang Thiều trên TuanVietnam) Nhưng nợ đến mức làm cho các thế hệ sau nối nhau còng lưng trả nợ cho những người đi trước quả là họa lớn cho đất nước. Còn nợ đến nỗi phải bán cả một hay nhiều phần đất của tổ quốc đi để trả nợ thì đấy là cái họa khôn cùng cho đất nước.
Việc cắt đất cho nước ngoài không phải chuyện hi hữu. Lịch sử nhiều quốc gia trên thế giới do nhiều nguyên nhân đã bán đất cho nước ngoài. Bán có thời hạn hoặc bán vĩnh viễn. Cắt đất cho nước ngoài cũng có nhiều nguyên nhân. Có nguyên nhân là vì bại trận trong một cuộc chiến tranh, có nguyên nhân cắt đất để có được những lợi ích khác và cũng có nguyên nhân do hèn nhát trước những đe dọa của nước ngoài mà dâng đất. Và với nhiều trường hợp, cho mượn đất với những lý do nào đó đôi khi cũng là một cách dâng đất của tổ quốc cho người ngoài.
Nhưng sớm hay muộn thì những dân tộc đã bị cắt đất bán hoặc dâng đất cho nước ngoài sẽ đều tìm cách đòi lại lãnh thổ của mình cho dù lãnh thổ đã mất chỉ nhỏ bằng một thửa ruộng của một người nông dân. Lịch sử cũng cho chúng ta thấy nhiều ví dụ về chuyện đòi lại đất như thế.
Trước tòa nhà Quốc Hội Úc có một ngôi nhà dựng lên gọi là “Ðại sứ Thổ dân Úc”. Tôi đã trò chuyện với đại sứ thổ dân trong ngôi nhà này trong chuyến đến Úc năm 1999. Những người thổ dân Úc dựng “tòa đại sứ” này để đòi lại đất của tổ tiên, ông cha họ đã bị những người da trắng cướp cho dù những người thổ dân Úc còn lại không nhiều và họ không có một quân đội nào. Nhưng họ đã chiến đấu cho lẽ phải bằng chính lẽ phải hết đời này đến đời khác buộc chính quyền Úc phải thừa nhận chủ quyền của họ. Cuối cùng, chính quyền Úc đã phải công khai xin lỗi những người thổ dân.
Bây giờ, chính quyền Hy Lạp cắt một số hòn đảo để trả nợ nước ngoài. Có thể sau đó, họ đã xóa được món nợ tiền, nợ vàng nước ngoài thì họ lại mang một món nợ khác. Món nợ này lớn hơn và đau đớn hơn bất kỳ món nợ nào khác. Ðó là món nợ với tổ quốc và nhân dân họ.
Chính vì thế mà cả những đứa trẻ như hai đứa trẻ Hy Lạp cũng phải đứng lên bảo vệ lãnh thổ của tổ quốc chúng bằng cách của những đứa trẻ nhưng ý nghĩa của hành động ấy thật sâu sắc, thật lớn lao và thật xúc động.
Qua hành động của hai đứa trẻ Hy Lạp ấy, tôi nghĩ, những người có lương tâm ở tất cả các quốc gia đã từng bán đất hay dâng đất cho nước ngoài cho với bất kỳ lý do nào và cho dù mảnh đất ấy chỉ đủ trồng một khóm hoa hay một gốc tre cũng đều cảm thấy hổ nhục.
Tâm thư của một thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa
Nhân Trần
Việt Nam ngày... tháng... năm...
Các Anh kính quý,
Thật tình tôi không biết phải xưng hô với các Anh thế nào cho phải đạo, bởi lẽ dù sao đi nữa, các Anh cũng đã có một thời là thượng cấp, là cấp chỉ huy của chúng tôi. Giờ đây, cho dù thời gian có vô tình lặng lẽ đi qua hơn 33 năm, trong lòng chúng tôi vẫn khắc ghi hằng khối những kỷ niệm của một thời binh lửa, thời mà chúng tôi và các Anh còn xông pha giữa lằn tên mũi đạn, thời mà chúng ta còn được vinh dự cầm súng bảo vệ quê hương.
Những trận chiến càng về cuối của năm 1975 càng khốc liệt, người lính chiến chúng tôi đã không nao núng, không rời hàng ngũ mà càng sát cánh hơn với các Anh, không màng nguy hiểm, không sợ cái chết lúc nào cũng sẵn sàng đến với người lính trong thời lửa đạn. Quả tình lúc ấy trong lòng chúng tôi khâm phục các Anh nhiều lắm, các Anh là những người có học thức, được huấn luyện những kiến thức quân sự để trở thành những sĩ quan chỉ huy chiến trường, chỉ huy chúng tôi. Lòng dũng cảm cùng với kiến thức của các Anh đã phát sinh từ trong thâm tâm của chúng tôi một thứ tình đồng đội tình thầy trò trong thời chinh chiến, mặc dù kỷ luật quân đội đã bắt buộc chúng tôi luôn luôn chỉ biết tuân lệnh của các Anh, nhưng trong lòng chúng tôi không hề than oán mà còn cảm thấy thật vui mỗi khi thực hiện được một việc gì cho đơn vị, hay nói đúng hơn là cho các Anh. Chúng tôi là những người lính trơn ít học, nên với những suy nghĩ thật đơn giản lúc bấy giờ: Làm vui lòng các Anh chính là chúng tôi đã làm tròn nợ nước, nhiều lúc tuân hành và thực hiện mệnh lệnh xung phong vào mục tiêu, ôm súng băng mình qua tuyến, chúng tôi chỉ với hai điều tâm niệm: Thắng trận nầy thật nhanh và bảo vệ cho bằng được ... các Anh.
Chúng tôi ít học chưa có ý niệm về quê hương dân tộc, chúng tôi thật tình lúc bấy giờ cũng chưa hiểu được thế nào là lòng yêu nước. Chính các Anh đã dạy cho chúng tôi những điều trọng đại ấy và với đầu óc của chúng tôi, chúng tôi chỉ hiểu nôm na: Bổn phận chúng tôi là những thanh niên Việt Nam, chúng tôi phải cầm súng bảo vệ Tổ Quốc, chấp nhận tất cả những hy sinh gian khổ cùng những hiểm nguy mà chiến trường đã dành riêng cho người lính. Và ... chúng tôi đã cảm thấy vô cùng hãnh diện với việc làm của mình. Cũng chính vì thế, chúng tôi đã lăn xả vào trận địa để trong mặt trận cuối cùng, chính tôi đã để lại chiến trường một phần thân thể. Không kịp nói lên một lời từ giã các Anh khi trực thăng bốc vội tôi về Quân Y viện. Sáu tháng dài ở bệnh viện đủ cho tôi lấy lại được chút hơi tàn mà đủ sức chống nạng khi di chuyển. Tôi rời khỏi quân đội trong một nỗi buồn không tả được, cuộc chiến đã đến giai đoạn sau cùng và tôi vẫn theo dõi tin tức của Miền Nam, nhất là bước tiến quân của đơn vị cũ của mình.
Ngày Miền Nam hoàn toàn sụp đổ làm tôi chết lặng người, bạn bè đồng đội tôi sẽ ra sao? và nhất là các Anh - những cấp chỉ huy của tôi sẽ ra sao?
Mặc dù đã bị cắt phần tiền thương tật, “học tập” ở xã hết 1 tuần, tôi đã phải bán đi cái radio yêu quý đã theo tôi suốt đoạn đường chinh chiến để lấy tiền tìm đến nhà của các Anh mà hỏi thăm tin tức. Chị nhà cho hay Anh đã bị tập trung “cải tạo”. Tôi buồn quá lủi thủi về nhà, lòng vẫn luôn luôn van vái những an lành sẽ đến với các Anh.
Bạn bè đồng ngũ về quê tôi khá đông nhưng không có công việc làm nên càng bi thảm hơn. Thằng vá xe đạp ở cuối phố, thằng khuân vác, thằng chạy xe ôm, chúng tôi không từ chối bất cứ một việc làm gì để kiếm được chút đỉnh tiền vừa để tạm sinh sống no đói qua ngày vừa gom góp lại được vài mươi đồng nhờ Chị nhà có đi thăm nuôi thì mua một ít thức ăn và đồ dùng cần thiết gởi đến Anh. Chúng tôi dù trong nhọc nhằn vẫn thường hay nhắc đến các Anh, ở trong tù dù buồn nhưng nhận được quà của chúng tôi chắc các Anh cũng vui được phần nào vì nghĩ rằng mấy thằng em vẫn còn nhớ đến ông thầy xưa.
Đó ! Chúng tôi chắc chiu những tình cảm trân quý, thủy chung gởi đến các Anh, mỏi mong các Anh một ngày nào đó được tự do mà tính chuyện quang phục lại quê hương mình. Thằng thượng úy trưởng Công an phường lợi dụng việc cấp giấy phép đi thăm nuôi đã hãm hiếp bà Trung Úy Phúc, sự nhục nhã nầy đã khiến Bà Trung Úy Phúc phải treo cổ tự tử. Tôi nghĩ từ trong tù các Anh buồn và hận lắm.
Ngày Anh được ra tù chắc Anh còn nhớ chứ? Chúng tôi đã đón mừng các Anh như đơn vị của mình được tái lập, bao nhiêu vui mừng không kể xiết, mừng đến rơi lệ, mừng vui khi nỗi mong mỏi rửa nhục của chúng ta đã được gần kề.
Rồi các Anh được sang Hoa Kỳ, niềm vui thật sự càng nhân lên gấp bội, ngày chia tay rượu hồng đã pha nước mắt, tiễn các Anh đi mà lòng thầm mong đợi một ngày về trong danh dự của các Anh.
Chúng tôi - những người lính QLVNCH vẫn ấp ủ một niềm tin tưởng vào các Anh như ngày xưa. Sự ra đi của các Anh là điều kiện thuận lợi cho công cuộc đấu tranh với bọn Cộng sản vô thần đang thống trị quê hương.
Các Anh a. ! Bây giờ thì buồn quá ! Các Anh - những sĩ quan hào hùng của QLVNCH ngày nào, những người Anh của chúng tôi, những Đại bàng, những Bắc Đẩu, Hắc Báo của một thời oanh liệt, một thời tung hoành ngang dọc khắp các chiến trường, các Anh đã có một thời vinh quang và một thời nhục nhã, giờ đây sau hơn 33 năm lặng lẽ, các Anh cũng bị nhòa đi hình ảnh của ngày xưa? Các Anh đã quên rồi sao? Quên rồi những chiến sĩ thuộc cấp của các Anh đã nằm xuống vĩnh viễn trên đất Mẹ thiêng liêng, quên đi những đồng đội còn sống sót trong một tấm thân tật nguyền đau khổ, sống lây lất ở đầu đường xó chợ.
Xin cảm ơn các Anh về những đồng Dollars mà các Anh đã gởi về cho chúng tôi trong chương trình giúp đỡ thương phế binh QLVNCH. Những đồng tiền đó dù có giúp cho chúng tôi trong một thời gian ngắn, dù có an ủi cho những đớn đau vật chất được đôi phần nhưng cũng không làm sao giúp chúng tôi quên đi nỗi nhục mất nước. Chúng tôi cần ở các Anh những chuyện khác, các Anh có thấu hiểu cho chúng tôi hay không?
Tôi đã hiểu vì sao thằng khuân vác ở xóm trên, thằng vá xe đạp ở đầu đường, thằng chống nạng đi bán vé số ở cạnh nhà lại ghét cay ghét đắng đám Việt Kiều. Họ là những người lính năm xưa, họ đã từng tuân hành lệnh của Đại bàng, Thần Hổ xông pha nơi trận mạc, họ đã từng chắt chiu từng đồng bạc nghĩa tình chung thủy gởi vào tận chốn tù đày cho các Anh, họ đã từng uống với các Anh chung rượu ân tình ngày đưa tiễn các Anh lên Phi cơ về vùng đất mới, họ đã từng nuôi nấng một hoài vọng, một kỳ vọng trong ngày về vinh quang của QLVNCH. Nhưng chính các Anh đã làm họ oán ghét, oán ghét đến độ khinh bỉ khi các Anh áo gấm về làng, chễm chệ ngồi dựa ngữa ở nhà hàng khách sạn 5 sao, tung tiền ra để chứng tỏ mình là một "Việt Kiều yêu nước” là "Khúc ruột xa ngàn dặm" về thăm "quê hương là chùm khế ngọt". Thậm chí có những Anh còn đú đởn với những đóa hoa biết nói biết cười tuổi đáng con hoặc đáng cháu nội cháu ngoại mình.
Các Anh có biết không? Từ trong sâu thẳm của cuộc đời, những người lính của QLVNCH đang lê lết ở ngoài cửa các nhà hàng mà các Anh đang ăn uống vui chơi, đang nhìn các Anh với một ánh mắt hận thù. Hận thù lớn nhất của người lính là sự bội bạc, là sự phản bội. Không biết khi tôi kết tội các Anh là phản bội có quá đáng hay không, nhưng các Anh tự suy nghĩ một chút sẽ hiểu rõ hơn chúng tôi.
Tôi không tin là tất cả các Anh đã biến thái thành những tên Việt gian, nhưng sự trở về như các Anh trong hiện tại là đồng nghĩa với sự phản bội. Các Anh đã phản bội lại Tổ quốc và rõ ràng nhất các Anh đã phản bội lại chúng tôi. Các Anh chống Cộng mà cứ về Việt Nam hà rằm thì còn chống Cộng gì nữa? Ôi ! không lẽ nỗi nhục nầy đời ta không rửa được?
Các Anh kính quý,
Chúng tôi là những người lính năm xưa của các Anh đây. Toàn thể quân nhân và đồng bào đang tin tưởng vào các Anh. Tin tưởng một ngày về rửa nhục, để Mẹ Việt Nam không còn cất lên tiếng than ai oán, để chúng ta cùng nhau trở lại kiếp làm người, chấm dứt đêm trường u tối đã phủ trùm lên Tổ quốc hơn 33 năm dài.
Người lính chỉ biết tuân hành mệnh lệnh của cấp chỉ huy, nhưng qua bức thư góp ý nầy, mong các Anh thứ lỗi cho những suy nghĩ của chúng tôi.
Các Anh, cho dù đã chậm, nhưng chúng tôi vẫn mong mỏi các Anh ở một ngày về.
Trân trọng,
Nhân Trần
Nhân Trần
Việt Nam ngày... tháng... năm...
Các Anh kính quý,
Thật tình tôi không biết phải xưng hô với các Anh thế nào cho phải đạo, bởi lẽ dù sao đi nữa, các Anh cũng đã có một thời là thượng cấp, là cấp chỉ huy của chúng tôi. Giờ đây, cho dù thời gian có vô tình lặng lẽ đi qua hơn 33 năm, trong lòng chúng tôi vẫn khắc ghi hằng khối những kỷ niệm của một thời binh lửa, thời mà chúng tôi và các Anh còn xông pha giữa lằn tên mũi đạn, thời mà chúng ta còn được vinh dự cầm súng bảo vệ quê hương.
Những trận chiến càng về cuối của năm 1975 càng khốc liệt, người lính chiến chúng tôi đã không nao núng, không rời hàng ngũ mà càng sát cánh hơn với các Anh, không màng nguy hiểm, không sợ cái chết lúc nào cũng sẵn sàng đến với người lính trong thời lửa đạn. Quả tình lúc ấy trong lòng chúng tôi khâm phục các Anh nhiều lắm, các Anh là những người có học thức, được huấn luyện những kiến thức quân sự để trở thành những sĩ quan chỉ huy chiến trường, chỉ huy chúng tôi. Lòng dũng cảm cùng với kiến thức của các Anh đã phát sinh từ trong thâm tâm của chúng tôi một thứ tình đồng đội tình thầy trò trong thời chinh chiến, mặc dù kỷ luật quân đội đã bắt buộc chúng tôi luôn luôn chỉ biết tuân lệnh của các Anh, nhưng trong lòng chúng tôi không hề than oán mà còn cảm thấy thật vui mỗi khi thực hiện được một việc gì cho đơn vị, hay nói đúng hơn là cho các Anh. Chúng tôi là những người lính trơn ít học, nên với những suy nghĩ thật đơn giản lúc bấy giờ: Làm vui lòng các Anh chính là chúng tôi đã làm tròn nợ nước, nhiều lúc tuân hành và thực hiện mệnh lệnh xung phong vào mục tiêu, ôm súng băng mình qua tuyến, chúng tôi chỉ với hai điều tâm niệm: Thắng trận nầy thật nhanh và bảo vệ cho bằng được ... các Anh.
Chúng tôi ít học chưa có ý niệm về quê hương dân tộc, chúng tôi thật tình lúc bấy giờ cũng chưa hiểu được thế nào là lòng yêu nước. Chính các Anh đã dạy cho chúng tôi những điều trọng đại ấy và với đầu óc của chúng tôi, chúng tôi chỉ hiểu nôm na: Bổn phận chúng tôi là những thanh niên Việt Nam, chúng tôi phải cầm súng bảo vệ Tổ Quốc, chấp nhận tất cả những hy sinh gian khổ cùng những hiểm nguy mà chiến trường đã dành riêng cho người lính. Và ... chúng tôi đã cảm thấy vô cùng hãnh diện với việc làm của mình. Cũng chính vì thế, chúng tôi đã lăn xả vào trận địa để trong mặt trận cuối cùng, chính tôi đã để lại chiến trường một phần thân thể. Không kịp nói lên một lời từ giã các Anh khi trực thăng bốc vội tôi về Quân Y viện. Sáu tháng dài ở bệnh viện đủ cho tôi lấy lại được chút hơi tàn mà đủ sức chống nạng khi di chuyển. Tôi rời khỏi quân đội trong một nỗi buồn không tả được, cuộc chiến đã đến giai đoạn sau cùng và tôi vẫn theo dõi tin tức của Miền Nam, nhất là bước tiến quân của đơn vị cũ của mình.
Ngày Miền Nam hoàn toàn sụp đổ làm tôi chết lặng người, bạn bè đồng đội tôi sẽ ra sao? và nhất là các Anh - những cấp chỉ huy của tôi sẽ ra sao?
Mặc dù đã bị cắt phần tiền thương tật, “học tập” ở xã hết 1 tuần, tôi đã phải bán đi cái radio yêu quý đã theo tôi suốt đoạn đường chinh chiến để lấy tiền tìm đến nhà của các Anh mà hỏi thăm tin tức. Chị nhà cho hay Anh đã bị tập trung “cải tạo”. Tôi buồn quá lủi thủi về nhà, lòng vẫn luôn luôn van vái những an lành sẽ đến với các Anh.
Bạn bè đồng ngũ về quê tôi khá đông nhưng không có công việc làm nên càng bi thảm hơn. Thằng vá xe đạp ở cuối phố, thằng khuân vác, thằng chạy xe ôm, chúng tôi không từ chối bất cứ một việc làm gì để kiếm được chút đỉnh tiền vừa để tạm sinh sống no đói qua ngày vừa gom góp lại được vài mươi đồng nhờ Chị nhà có đi thăm nuôi thì mua một ít thức ăn và đồ dùng cần thiết gởi đến Anh. Chúng tôi dù trong nhọc nhằn vẫn thường hay nhắc đến các Anh, ở trong tù dù buồn nhưng nhận được quà của chúng tôi chắc các Anh cũng vui được phần nào vì nghĩ rằng mấy thằng em vẫn còn nhớ đến ông thầy xưa.
Đó ! Chúng tôi chắc chiu những tình cảm trân quý, thủy chung gởi đến các Anh, mỏi mong các Anh một ngày nào đó được tự do mà tính chuyện quang phục lại quê hương mình. Thằng thượng úy trưởng Công an phường lợi dụng việc cấp giấy phép đi thăm nuôi đã hãm hiếp bà Trung Úy Phúc, sự nhục nhã nầy đã khiến Bà Trung Úy Phúc phải treo cổ tự tử. Tôi nghĩ từ trong tù các Anh buồn và hận lắm.
Ngày Anh được ra tù chắc Anh còn nhớ chứ? Chúng tôi đã đón mừng các Anh như đơn vị của mình được tái lập, bao nhiêu vui mừng không kể xiết, mừng đến rơi lệ, mừng vui khi nỗi mong mỏi rửa nhục của chúng ta đã được gần kề.
Rồi các Anh được sang Hoa Kỳ, niềm vui thật sự càng nhân lên gấp bội, ngày chia tay rượu hồng đã pha nước mắt, tiễn các Anh đi mà lòng thầm mong đợi một ngày về trong danh dự của các Anh.
Chúng tôi - những người lính QLVNCH vẫn ấp ủ một niềm tin tưởng vào các Anh như ngày xưa. Sự ra đi của các Anh là điều kiện thuận lợi cho công cuộc đấu tranh với bọn Cộng sản vô thần đang thống trị quê hương.
Các Anh a. ! Bây giờ thì buồn quá ! Các Anh - những sĩ quan hào hùng của QLVNCH ngày nào, những người Anh của chúng tôi, những Đại bàng, những Bắc Đẩu, Hắc Báo của một thời oanh liệt, một thời tung hoành ngang dọc khắp các chiến trường, các Anh đã có một thời vinh quang và một thời nhục nhã, giờ đây sau hơn 33 năm lặng lẽ, các Anh cũng bị nhòa đi hình ảnh của ngày xưa? Các Anh đã quên rồi sao? Quên rồi những chiến sĩ thuộc cấp của các Anh đã nằm xuống vĩnh viễn trên đất Mẹ thiêng liêng, quên đi những đồng đội còn sống sót trong một tấm thân tật nguyền đau khổ, sống lây lất ở đầu đường xó chợ.
Xin cảm ơn các Anh về những đồng Dollars mà các Anh đã gởi về cho chúng tôi trong chương trình giúp đỡ thương phế binh QLVNCH. Những đồng tiền đó dù có giúp cho chúng tôi trong một thời gian ngắn, dù có an ủi cho những đớn đau vật chất được đôi phần nhưng cũng không làm sao giúp chúng tôi quên đi nỗi nhục mất nước. Chúng tôi cần ở các Anh những chuyện khác, các Anh có thấu hiểu cho chúng tôi hay không?
Tôi đã hiểu vì sao thằng khuân vác ở xóm trên, thằng vá xe đạp ở đầu đường, thằng chống nạng đi bán vé số ở cạnh nhà lại ghét cay ghét đắng đám Việt Kiều. Họ là những người lính năm xưa, họ đã từng tuân hành lệnh của Đại bàng, Thần Hổ xông pha nơi trận mạc, họ đã từng chắt chiu từng đồng bạc nghĩa tình chung thủy gởi vào tận chốn tù đày cho các Anh, họ đã từng uống với các Anh chung rượu ân tình ngày đưa tiễn các Anh lên Phi cơ về vùng đất mới, họ đã từng nuôi nấng một hoài vọng, một kỳ vọng trong ngày về vinh quang của QLVNCH. Nhưng chính các Anh đã làm họ oán ghét, oán ghét đến độ khinh bỉ khi các Anh áo gấm về làng, chễm chệ ngồi dựa ngữa ở nhà hàng khách sạn 5 sao, tung tiền ra để chứng tỏ mình là một "Việt Kiều yêu nước” là "Khúc ruột xa ngàn dặm" về thăm "quê hương là chùm khế ngọt". Thậm chí có những Anh còn đú đởn với những đóa hoa biết nói biết cười tuổi đáng con hoặc đáng cháu nội cháu ngoại mình.
Các Anh có biết không? Từ trong sâu thẳm của cuộc đời, những người lính của QLVNCH đang lê lết ở ngoài cửa các nhà hàng mà các Anh đang ăn uống vui chơi, đang nhìn các Anh với một ánh mắt hận thù. Hận thù lớn nhất của người lính là sự bội bạc, là sự phản bội. Không biết khi tôi kết tội các Anh là phản bội có quá đáng hay không, nhưng các Anh tự suy nghĩ một chút sẽ hiểu rõ hơn chúng tôi.
Tôi không tin là tất cả các Anh đã biến thái thành những tên Việt gian, nhưng sự trở về như các Anh trong hiện tại là đồng nghĩa với sự phản bội. Các Anh đã phản bội lại Tổ quốc và rõ ràng nhất các Anh đã phản bội lại chúng tôi. Các Anh chống Cộng mà cứ về Việt Nam hà rằm thì còn chống Cộng gì nữa? Ôi ! không lẽ nỗi nhục nầy đời ta không rửa được?
Các Anh kính quý,
Chúng tôi là những người lính năm xưa của các Anh đây. Toàn thể quân nhân và đồng bào đang tin tưởng vào các Anh. Tin tưởng một ngày về rửa nhục, để Mẹ Việt Nam không còn cất lên tiếng than ai oán, để chúng ta cùng nhau trở lại kiếp làm người, chấm dứt đêm trường u tối đã phủ trùm lên Tổ quốc hơn 33 năm dài.
Người lính chỉ biết tuân hành mệnh lệnh của cấp chỉ huy, nhưng qua bức thư góp ý nầy, mong các Anh thứ lỗi cho những suy nghĩ của chúng tôi.
Các Anh, cho dù đã chậm, nhưng chúng tôi vẫn mong mỏi các Anh ở một ngày về.
Trân trọng,
Nhân Trần
Không nhận tin xấu
Nguyễn Ðạt Thịnh
Bằng văn thư chính thức gửi đi ngày 30 tháng Ba 2010, ngân hàng nhà nước Việt Cộng yêu cầu các ngân hàng ngoại quốc đang có chi nhánh hoạt động tại Việt Nam thôi không cung cấp tin tức về thị trường và về chứng khoán thế giới cho Việt Nam nữa. Ngân hàng Việt Cộng lấy cớ là họ không muốn biết thêm về những diễn biến khủng hoảng và suy thoái của kinh tế toàn cầu.
Việt Cộng nói dối; sự thật là sau trên một năm suy thoái, kinh tế toàn cầu đang lấy lại thăng bằng, bớt nghiêng ngửa vì hậu quả của nền kinh tế bong bóng vài năm trước của Hoa Kỳ.
Nền kinh tế Việt Cộng, ngược lại mỗi ngày một bong bóng hơn, trong cái phồn thịnh bèo bọt trên mặt sinh hoạt nổi của một vài đô thị, 95% người Việt Nam vẫn nghèo, 90% người Việt Nam vẫn đói.
Mới 18 tháng trước, tháng Chín 2008, chính ngân hàng Việt Cộng đã gửi văn thư chính thức (số 8666/ NHNN-CSTT) xin các ngân hàng thế giới cung cấp tin tức về sinh hoạt thị trường và chứng khoán
Truyền thông trong nước trích nguồn Ngân hàng nhà nước Việt Nam nói trong 18 tháng vừa rồi các ngân hàng nước ngoài tỏ ra rất hiệu quả trong việc thực hiện yêu cầu trên.
Ông Hà Huy Thành, cựu Viện trưởng Viện nghiên cứu môi trường và phát triển bền vững từ Hà Nội cho biết các thông tin mà phía nước ngoài cung cấp đã có tác động trực tiếp tới thị trường trong nước.
Ông nói: "Không chỉ cung cấp thông tin về khủng hoảng tài chính quốc tế mà họ còn cung cấp thông tin về các loại thị trường thế giới. Theo tôi biết, việc cung cấp thông tin được thực hiện rất tốt. Sự minh bạch đó đã giúp Việt Nam rất nhiều trong việc điều chỉnh hoạt động ngân hàng và đặc biệt là hoạt động của thị trường chứng khoán."
Ông Thành cũng thừa biết nguyên nhân khiến Việt Cộng thôi không muốn ngân hàng thế giới cung cấp những con số cụ thể về thị trường và về ngân hàng thế giới nữa, là để giới tiêu thụ -quảng đại đa số quần chúng- không còn căn bản nào khác hơn để dựa vào đó mà sinh hoạt, ngoài những thông cáo của chính phủ không chỉ thiếu chính xác, mà còn chuyên chở nhiều gian dối.
Cuộc sống kinh tế Việt Nam sẽ xây dựng trên những con số giả tạo này, và sẽ đột quỵ, như nền kinh tế Hoa Kỳ đã đột ngột xụp đổ vài năm trước.
Việt Cộng đang huyênh hoang tuyên bố là trong quý đầu năm nay Việt Nam đạt mức tăng trưởng kinh tế 5.83%. Tuy nhiên, theo bình luận của hãng tin Reuters thì Việt Nam vẫn là một địa điểm đầu tư đầy rủi ro và ảm đạm.
Kinh tế gia Lê Đăng Doanh tỏ ra ngạc nhiên trước quyết định thôi tiếp nhận thông tin của Ngân hàng nhà nước Việt Nam . "Tôi không rõ Ngân hàng nhà nước giờ đã xây dựng được một hệ thống thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời và đa dạng như thế nào để nhận định về tình hình khủng hoảng kinh tế thế giới." Ông Doanh “không rõ” hay không tin vào hệ thống tin tức ngân hàng và kinh tế mà Việt Cộng sẽ đơn phương cung cấp?
Theo ông Hà Huy Thành, thì mức hiệu quả của các thông tin mà phía nước ngoài cung cấp nằm ở chỗ nó không chỉ được sử dụng trong phạm vi Ngân hàng nhà nước, mà còn được chia sẻ tới các nhà đầu tư.
Lý do không hợp lý mà Ngân hàng nhà nước đưa ra để yêu cầu không gửi thêm thông tin về khủng hoảng toàn cầu, là kinh tế thế giới đang dần phục hồi, ổn định. Ðiều này là nguỵ biện trắng trợn: người Mỹ và công dân mọi nước giầu vẫn đọc tin sinh hoạt kinh tế mỗi ngày, nhiều người còn quan niệm tin kinh tế quan trọng hơn tin chính trị.
Có thể vì đoán được ý đồ của Việt Cộng nên các đại diện ngân hàng thế giới nói họ vẫn để ngỏ cánh cửa thông tin để ngân hàng nhà nước có thể trở lại yêu cầu họ cung cấp tin tức về thị trường tài chính, tiền tệ trong nước và thế giới ".
Kinh tế gia Lê Đăng Doanh đánh giá việc tiếp tục thu thập thông tin là việc nên làm, đặc biệt là khi tình hình kinh tế thế giới hiện nay chưa thể coi là đã ổn định, phát triển như đánh giá của Ngân hàng nhà nước.
Ngày ra quyết định 2330/NHNN-CSTT cũng là ngày cuối cùng các sàn vàng trên cả nước phải tất toán hoạt động, khép lại một thời kỳ kinh doanh sôi động mặt hàng vàng trên thị trường Việt Nam .
Ngân hàng thế giới không ý thức được tội của họ là tội cung cấp bản tin trung thực, cái tội Việt Cộng không thể tha thứ. Việt Cộng không chấp nhận sống chung với sự thật, dù sự thật nằm trên tin tức thị trường, tin sinh hoạt chính trị, hay chỉ là tin về thật giá của một lượng vàng.
Họ không nhận nghe tin xấu, vì họ không kiểm soát được nguồn chuyên chở tin và không kiểm soát được những hậu quả của sự thật được tin tức phổ biến đến quần chúng độc già. Họ muốn tất cả nằm trong tay họ, họ muốn diễn dịch giá trị đồng bạc của họ, diễn dịch giá lên xuống của thị trường lúa gạo của 80 triệu nông dân.
Ðó là lý do họ đang mang mặt nạ đóng vai tin tặc, đang giam giữ anh Ðiếu Cầy, bỏ tù anh Nguyễn Việt Chiến, và bắt toàn bộ ký giả, văn nghệ sĩ, đi theo nhịp đếm bên lề phải của bộ thông tin tuyên truyền.
Họ nhất định làm mọi việc có thế làm để không nhận tin xấu.
Nguyễn Ðạt Thịnh
Nguyễn Ðạt Thịnh
Bằng văn thư chính thức gửi đi ngày 30 tháng Ba 2010, ngân hàng nhà nước Việt Cộng yêu cầu các ngân hàng ngoại quốc đang có chi nhánh hoạt động tại Việt Nam thôi không cung cấp tin tức về thị trường và về chứng khoán thế giới cho Việt Nam nữa. Ngân hàng Việt Cộng lấy cớ là họ không muốn biết thêm về những diễn biến khủng hoảng và suy thoái của kinh tế toàn cầu.
Việt Cộng nói dối; sự thật là sau trên một năm suy thoái, kinh tế toàn cầu đang lấy lại thăng bằng, bớt nghiêng ngửa vì hậu quả của nền kinh tế bong bóng vài năm trước của Hoa Kỳ.
Nền kinh tế Việt Cộng, ngược lại mỗi ngày một bong bóng hơn, trong cái phồn thịnh bèo bọt trên mặt sinh hoạt nổi của một vài đô thị, 95% người Việt Nam vẫn nghèo, 90% người Việt Nam vẫn đói.
Mới 18 tháng trước, tháng Chín 2008, chính ngân hàng Việt Cộng đã gửi văn thư chính thức (số 8666/ NHNN-CSTT) xin các ngân hàng thế giới cung cấp tin tức về sinh hoạt thị trường và chứng khoán
Truyền thông trong nước trích nguồn Ngân hàng nhà nước Việt Nam nói trong 18 tháng vừa rồi các ngân hàng nước ngoài tỏ ra rất hiệu quả trong việc thực hiện yêu cầu trên.
Ông Hà Huy Thành, cựu Viện trưởng Viện nghiên cứu môi trường và phát triển bền vững từ Hà Nội cho biết các thông tin mà phía nước ngoài cung cấp đã có tác động trực tiếp tới thị trường trong nước.
Ông nói: "Không chỉ cung cấp thông tin về khủng hoảng tài chính quốc tế mà họ còn cung cấp thông tin về các loại thị trường thế giới. Theo tôi biết, việc cung cấp thông tin được thực hiện rất tốt. Sự minh bạch đó đã giúp Việt Nam rất nhiều trong việc điều chỉnh hoạt động ngân hàng và đặc biệt là hoạt động của thị trường chứng khoán."
Ông Thành cũng thừa biết nguyên nhân khiến Việt Cộng thôi không muốn ngân hàng thế giới cung cấp những con số cụ thể về thị trường và về ngân hàng thế giới nữa, là để giới tiêu thụ -quảng đại đa số quần chúng- không còn căn bản nào khác hơn để dựa vào đó mà sinh hoạt, ngoài những thông cáo của chính phủ không chỉ thiếu chính xác, mà còn chuyên chở nhiều gian dối.
Cuộc sống kinh tế Việt Nam sẽ xây dựng trên những con số giả tạo này, và sẽ đột quỵ, như nền kinh tế Hoa Kỳ đã đột ngột xụp đổ vài năm trước.
Việt Cộng đang huyênh hoang tuyên bố là trong quý đầu năm nay Việt Nam đạt mức tăng trưởng kinh tế 5.83%. Tuy nhiên, theo bình luận của hãng tin Reuters thì Việt Nam vẫn là một địa điểm đầu tư đầy rủi ro và ảm đạm.
Kinh tế gia Lê Đăng Doanh tỏ ra ngạc nhiên trước quyết định thôi tiếp nhận thông tin của Ngân hàng nhà nước Việt Nam . "Tôi không rõ Ngân hàng nhà nước giờ đã xây dựng được một hệ thống thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời và đa dạng như thế nào để nhận định về tình hình khủng hoảng kinh tế thế giới." Ông Doanh “không rõ” hay không tin vào hệ thống tin tức ngân hàng và kinh tế mà Việt Cộng sẽ đơn phương cung cấp?
Theo ông Hà Huy Thành, thì mức hiệu quả của các thông tin mà phía nước ngoài cung cấp nằm ở chỗ nó không chỉ được sử dụng trong phạm vi Ngân hàng nhà nước, mà còn được chia sẻ tới các nhà đầu tư.
Lý do không hợp lý mà Ngân hàng nhà nước đưa ra để yêu cầu không gửi thêm thông tin về khủng hoảng toàn cầu, là kinh tế thế giới đang dần phục hồi, ổn định. Ðiều này là nguỵ biện trắng trợn: người Mỹ và công dân mọi nước giầu vẫn đọc tin sinh hoạt kinh tế mỗi ngày, nhiều người còn quan niệm tin kinh tế quan trọng hơn tin chính trị.
Có thể vì đoán được ý đồ của Việt Cộng nên các đại diện ngân hàng thế giới nói họ vẫn để ngỏ cánh cửa thông tin để ngân hàng nhà nước có thể trở lại yêu cầu họ cung cấp tin tức về thị trường tài chính, tiền tệ trong nước và thế giới ".
Kinh tế gia Lê Đăng Doanh đánh giá việc tiếp tục thu thập thông tin là việc nên làm, đặc biệt là khi tình hình kinh tế thế giới hiện nay chưa thể coi là đã ổn định, phát triển như đánh giá của Ngân hàng nhà nước.
Ngày ra quyết định 2330/NHNN-CSTT cũng là ngày cuối cùng các sàn vàng trên cả nước phải tất toán hoạt động, khép lại một thời kỳ kinh doanh sôi động mặt hàng vàng trên thị trường Việt Nam .
Ngân hàng thế giới không ý thức được tội của họ là tội cung cấp bản tin trung thực, cái tội Việt Cộng không thể tha thứ. Việt Cộng không chấp nhận sống chung với sự thật, dù sự thật nằm trên tin tức thị trường, tin sinh hoạt chính trị, hay chỉ là tin về thật giá của một lượng vàng.
Họ không nhận nghe tin xấu, vì họ không kiểm soát được nguồn chuyên chở tin và không kiểm soát được những hậu quả của sự thật được tin tức phổ biến đến quần chúng độc già. Họ muốn tất cả nằm trong tay họ, họ muốn diễn dịch giá trị đồng bạc của họ, diễn dịch giá lên xuống của thị trường lúa gạo của 80 triệu nông dân.
Ðó là lý do họ đang mang mặt nạ đóng vai tin tặc, đang giam giữ anh Ðiếu Cầy, bỏ tù anh Nguyễn Việt Chiến, và bắt toàn bộ ký giả, văn nghệ sĩ, đi theo nhịp đếm bên lề phải của bộ thông tin tuyên truyền.
Họ nhất định làm mọi việc có thế làm để không nhận tin xấu.
Nguyễn Ðạt Thịnh
Kiếm hàng tỷ Mỹ kim khi thị trường sụp đổ
Tuesday, April 20, 2010
Ngô Nhân Dụng
Cuối tuần qua, chính phủ Mỹ đã khởi tố Goldman Sachs, một đại công ty tài chánh ở Wall Street, New York, về tội đã “đánh lừa” nhiều người trong khi đó tạo cơ hội cho công ty đầu tư của ông John Paulson thành công. Công ty Paulson kiếm lời khoảng 15 đến 20 tỷ Mỹ kim trong cuộc đánh cá đoán trước (và đoán trúng) cơn khủng hoảng kinh tế hiện nay. Riêng ông John Paulson kiếm được 4 tỷ. Nhưng công ty này không bị truy tố vì họ không làm công việc “cố vấn” cho các nhà tư bản dại dột; việc “đánh lừa” đó lại do Goldman Sachs phụ trách với tư cách một “ngân hàng đầu tư,” tức là làm môi giới và cố vấn cho các nhà tư bản.
Công ty Paulson là một quỹ đối xung (dịch chữ hedge fund, theo lối gọi ở Hồng Kông và Ðài Loan), nhận quản lý tiền đầu tư cho các thân chủ. Năm 2006 quỹ này nhận thấy thị trường địa ốc sắp lung lay. Có quá nhiều món nợ cho vay mua nhà mà tiêu chuẩn người đi vay quá thấp (subprime), chắc chắn sẽ có ngày người vay không trả góp được nữa. Công ty Paulson nghiên cứu thấy có 123 loại trái khoán dựa trên những món nợ địa ốc tiêu chuẩn thấp, mà họ tin rằng thế nào giá trị cũng hạ xuống, khi lãi suất bắt đầu lên và nhiều người vay bị vỡ nợ. Paulson tới đề nghị Goldman Sachs tạo ra những trái phiếu (giấy nợ) mới dùng các món nợ địa ốc tiêu chuẩn thấp này làm thế chấp, tiếng chuyên môn gọi là CDO. Người mua các trái phiếu CDO này, trong đó có những ngân hàng lớn ở Âu Châu, biết các CDO đó được những món nợ địa ốc bảo đảm. Vì thế họ tin rằng sẽ có các khoản tiền đóng góp hàng tháng của người vay mua nhà, để người phát hành trái phiếu CDO có tiền trả cho mình đều đặn. Vì vậy nên Goldman Sachs đã bán được rất nhiều trái phiếu CDO cho các ngân hàng, các công ty đầu tư ở Mỹ và trên thế giới.
Lúc đó, công ty Paulson mới bắt đầu vụ đánh cá là thị trường địa ốc sẽ bị khủng hoảng với các món nợ không trả được, khi đó các giấy nợ CDO thế nào cũng có ngày xuống giá. Ðể “đánh cá,” họ đứng mua những hợp đồng với hình thức giống như các giấy bảo hiểm do chính Goldman Sachs trung gian. Theo những hợp đồng này (gọi là credit default swaps, một thứ “đê ri va ti,” derivatives) thì người đứng “bảo hiểm” (những người bán bản hợp đồng) phải bồi thường cho “thân chủ” mua hợp đồng tức là Paulson, nếu giá trị của các CDO bị giảm xuống. Giá càng xuống nhiều thì thân chủ càng được “bồi thường” nhiều hơn.
Quả nhiên, trong năm 2007 các CDO dựa trên những món nợ địa ốc tiêu chuẩn thấp bắt đầu xuống giá, tới Tháng Giêng năm 2008 thì 99% đã bị mất giá nhiều hay ít. Những người tin lời Goldman Sachs mà đi mua các CDO trên bị mất một tỷ Mỹ kim trong năm 2007, còn công ty Paulson được lời một tỷ Mỹ kim nhờ những đê ri va ti bảo hiểm!
Thứ Sáu vừa qua Cơ quan Chứng khoán Mỹ SEC đã truy tố ngân hàng Goldman Sachs tội thiếu minh bạch, vì không thông báo đầy đủ thông tin cho các người mua CDO của họ. Cũng giống như người bán thực phẩm đóng hộp phải kê khai đầy đủ các vật liệu và gia vị bên trong hộp thịt hay cá, luật pháp buộc các ngân hàng đầu tư phải trình bày đầy đủ các tin tức liên can tới những thứ chứng khoán mà mình giới thiệu cho thân chủ mua. Công ty Goldman Sachs đã chối tội trên, nói rằng họ đã thông báo đầy đủ tin tức về các CDO mà họ bán cho giới đầu tư. Khi ra tòa, luật sư của Goldman Sachs có thể chứng minh rằng công ty làm đúng các thứ luật lệ hiện hành. Khi đó, mọi người sẽ càng thấy rằng các luật lệ hiện hành hoặc đã lỗi thời, hoặc không đầy đủ!
Nhưng cơ quan SEC cho biết các thân chủ của Goldman Sachs không hề được biết là chính công ty này liên hệ với cuộc đánh cá của công ty Paulson. Goldman Sachs đã làm hai việc có lợi ích mâu thuẫn: Một mặt tạo ra các CDO và bán cho người ta; trong lúc đó cũng biết là Paulson góp ý kiến dựng lên các CDO này để đánh cá là chúng sẽ mất giá trị! Ðối với nhiều người thì hành động của Goldman Sachs giống như là lừa đảo. Còn chính công ty Paulson thì không bị truy tố vì họ không dính vào việc rao bán hay khuyến khích ai mua các CDO mà họ đánh cá là sẽ xuống giá, mặc dù chính họ đã giúp tạo ra các CDO đó. Việc rao bán các CDO này do Goldman Sachs phụ trách. Một nhân viên được công ty Paulson thuê, đầu năm 2007 còn đang thất nghiệp, chỉ làm công việc vẽ ra các CDO này và khuyến khích Goldman Sachs hợp tác, đã được trả thù lao 175 triệu Mỹ kim.
Vụ truy tố Goldman Sachs được đưa ra trong lúc Thượng Viện Mỹ đang chuẩn bị thảo luận về dự luật cải tổ hệ thống tài chánh để tránh những vụ khủng hoảng như đang diễn ra. Tháng Mười Hai năm 2009 Hạ Viện Mỹ đã thông qua một dự luật Cải tổ Tài chánh, nhưng quyết định sau cùng sẽ phải chờ Thượng Viện. Với câu chuyện lừa đảo mà Goldman Sachs đang bị truy tố, nhiều người nhớ lại rằng cơn khủng hoảng kinh tế hiện nay bắt nguồn từ các ngân hàng và những công ty tài chánh gây nên, với các món nợ địa ốc tiêu chuẩn thấp.
Các ngân hàng ở Mỹ thường bị kiểm soát rất ngặt nghèo, sau khi người Mỹ rút kinh nghiệm vụ đại khủng hoảng kinh tế thời 1930. Từ thời đó, thị trường chứng khoán cũng bị chính quyền theo dõi chặt chẽ để bảo đảm không xẩy ra lừa đảo, bịp bợm. Nhưng còn rất nhiều loại công ty tài chánh và các loại chứng khoán mới vẫn chưa có luật lệ nào ràng buộc. Trong đó có những món đầu tư gọi là đê ri va ti, và những quỹ đối xung, nằm ngoài tầm kiểm soát của các cơ quan công quyền.
Ở nước Mỹ lúc nào cũng có hai khuynh hướng đối chọi: Nhiều người muốn thị trường càng tự do nhiều càng tốt, chính phủ không nên can thiệp vào. Nhiều người thì nghĩ ngược lại, thấy cần phải có thêm nhiều luật lệ (tức là cũng có thêm các cơ quan chính quyền để thi hành luật) để cho thị trường tránh không gây ra khủng hoảng. Cuộc tranh luận về cải tổ tài chánh trong tháng này là một cơ hội để hai khuynh hướng trên đấu trí với nhau, trên các diễn đàn công luận và trong Quốc Hội Mỹ.
Nước Mỹ vẫn còn chìm trong ảnh hưởng cơn suy thoái kinh tế nặng nề nhất kể từ sau cuộc đại khủng hoảng thời 1930. Hàng triệu gia đình mất nhà ở, hàng chục triệu người mất việc. Các nhà đầu tư, các ngân hàng phải nhờ chính phủ cứu giúp hàng trăm tỷ Mỹ kim. Nguyên nhân gây ra cơn khủng hoảng này là do thị trường tài chánh gây nên. Khi kinh tế khủng hoảng vì cung và cầu hàng hóa thiếu quân bình thì sức phục hồi sẽ nhanh hơn và mạnh hơn. Còn khi cuộc khủng hoảng bắt nguồn từ hệ thống ngân hàng thì việc hồi phục bao giờ cũng chậm chạp và sức lên yếu ớt. Tuy Tổng Sản Lượng Nội Ðịa Mỹ đã bắt đầu tăng lên từ năm ngoái nhưng tỷ lệ thất nghiệp sẽ tiếp tục mấp mé 10% ít nhất trong năm nay. Tất cả mọi người đồng ý phải cải tổ hệ thống tài chánh không cho rơi vào những lầm lẫn của những năm trước 2007. Nhưng cải tổ như thế nào, hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ còn đang tranh cãi trong Quốc Hội Mỹ.
Khi ra trước Quốc Hội điều trần về nguyên nhân cuộc khủng hoảng, năm ngoái ông Alan Greenspan, cựu chủ tịch Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang đã thú nhận rằng chính ông trước đây không ngờ những người lãnh đạo các xí nghiệp và ngân hàng lại không nghĩ biết tự bảo vệ giá trị của công ty mà họ được trao cho quản lý. Các hành động liều lĩnh của các ngân hàng khi cho vay nợ mua nhà đã là đầu mối gây ra cuộc khủng hoảng hiện nay.
Ông Greenspan đã nhầm khi tin rằng những người lãnh đạo các ngân hàng đều lo cho cổ đông, tức là chủ nhân của họ. Trong thực tế, lúc nào cũng có xung khắc quyền lợi giữa các cổ đông (những người ủy nhiệm, principal) và các quản đốc (agent, được ủy nhiệm). Khi hai nhà quản đốc đại công ty ngân hàng và tài chánh Citigroup ra điều trần trước Quốc Hội, người ta mới được nghe rằng cả hai đều được thù lao trọng hậu trong khi ngân hàng của họ thua lỗ. Ông Charles Prince được thù lao 120 triệu Mỹ kim trong 4 năm làm việc, cùng thời gian đó giá trị các cổ phần của ngân hàng Citi bị giảm mất 64 tỷ Mỹ kim. Trong 10 năm ông Bob Rubin làm cho Citi, ông lãnh 115 triệu Mỹ kim, chưa kể các cổ phần được mua với giá rẻ, nhưng đến năm 2008 ngân hàng Citi phải được chính phủ cứu cấp với 45 tỷ Mỹ kim, và sau đó lên 300 tỷ, gần như chính phủ phải đứng ra làm chủ ngân hàng này. Khi quyền lợi của những người quản đốc các công ty tài chánh và ngân hàng lại xung khắc với chính các cổ đông thì đồng thời quyền lợi của họ cũng có thể trái ngược với quyền lợi chung của cả xã hội. Chính vì vậy, xã hội phải đặt ra luật lệ kiểm soát các hoạt động trong thị trường tài chánh. Một lãnh vực mà Quốc Hội Mỹ sẽ tấn công ráo riết là thị trường các “đê ri va ti” (derivatives) tức là những chứng khoán có dạng những hợp đồng có tính cách đánh cá để chia sẻ bớt may rủi. Những đê ri va ti rất cần thiết cho thị trường tài chánh (ở Thượng Hải, Thẩm Quyến trong lục địa cũng đã thành lập các thị trường đê ri va ti, người Trung Hoa gọi đê ri va ti là Diễn Sinh), nhưng khi một công ty như AIG đánh cá trên các đê ri va ti rồi thất bại khiến chính phủ Mỹ phải bỏ ra hàng trăm tỷ Mỹ kim để cứu, thì xã hội có quyền kiểm soát loại sản phẩm tài chánh này để ngăn ngừa không cho quản đốc các công ty làm liều rồi khi thất bại thì chính phủ phải cứu, để tránh họa cho cả xã hội.
Những người như ông John Paulson biết đánh cá đúng đã làm giàu một cách hợp pháp và lương thiện. Trong thị trường tài chánh, thường vẫn có những người mất hàng tỷ Mỹ kim và những người khác lời bạc tỷ, điều đó không liên can gì đến người ngoài phố, đến xã hội. Nhưng xã hội sẽ thấy phải can thiệp khi có những người lừa đảo hoặc bịp bợm, làm giàu nhờ lợi dụng tình trạng thiếu hiểu biết hoặc yếu thế của người khác. Khi đó, xã hội phải đặt ra luật lệ để bảo đảm sự công bằng. Ðồng thời, xã hội cũng cần ngăn cấm những hành động đánh cá bằng tiền của bách tính, theo lối “được thì tôi ăn, thua thì đã có chính phủ chịu” - tức là người dân đóng thuế phải chịu! Giữ đạo công bằng và bảo đảm an toàn cũng là giữ tín nhiệm cho cả hệ thống kinh tế, bảo đảm sự tồn tại của các thị trường. Vì chỉ có thị trường hữu hiệu khi nào người ta có lòng tin tưởng
Tuesday, April 20, 2010
Ngô Nhân Dụng
Cuối tuần qua, chính phủ Mỹ đã khởi tố Goldman Sachs, một đại công ty tài chánh ở Wall Street, New York, về tội đã “đánh lừa” nhiều người trong khi đó tạo cơ hội cho công ty đầu tư của ông John Paulson thành công. Công ty Paulson kiếm lời khoảng 15 đến 20 tỷ Mỹ kim trong cuộc đánh cá đoán trước (và đoán trúng) cơn khủng hoảng kinh tế hiện nay. Riêng ông John Paulson kiếm được 4 tỷ. Nhưng công ty này không bị truy tố vì họ không làm công việc “cố vấn” cho các nhà tư bản dại dột; việc “đánh lừa” đó lại do Goldman Sachs phụ trách với tư cách một “ngân hàng đầu tư,” tức là làm môi giới và cố vấn cho các nhà tư bản.
Công ty Paulson là một quỹ đối xung (dịch chữ hedge fund, theo lối gọi ở Hồng Kông và Ðài Loan), nhận quản lý tiền đầu tư cho các thân chủ. Năm 2006 quỹ này nhận thấy thị trường địa ốc sắp lung lay. Có quá nhiều món nợ cho vay mua nhà mà tiêu chuẩn người đi vay quá thấp (subprime), chắc chắn sẽ có ngày người vay không trả góp được nữa. Công ty Paulson nghiên cứu thấy có 123 loại trái khoán dựa trên những món nợ địa ốc tiêu chuẩn thấp, mà họ tin rằng thế nào giá trị cũng hạ xuống, khi lãi suất bắt đầu lên và nhiều người vay bị vỡ nợ. Paulson tới đề nghị Goldman Sachs tạo ra những trái phiếu (giấy nợ) mới dùng các món nợ địa ốc tiêu chuẩn thấp này làm thế chấp, tiếng chuyên môn gọi là CDO. Người mua các trái phiếu CDO này, trong đó có những ngân hàng lớn ở Âu Châu, biết các CDO đó được những món nợ địa ốc bảo đảm. Vì thế họ tin rằng sẽ có các khoản tiền đóng góp hàng tháng của người vay mua nhà, để người phát hành trái phiếu CDO có tiền trả cho mình đều đặn. Vì vậy nên Goldman Sachs đã bán được rất nhiều trái phiếu CDO cho các ngân hàng, các công ty đầu tư ở Mỹ và trên thế giới.
Lúc đó, công ty Paulson mới bắt đầu vụ đánh cá là thị trường địa ốc sẽ bị khủng hoảng với các món nợ không trả được, khi đó các giấy nợ CDO thế nào cũng có ngày xuống giá. Ðể “đánh cá,” họ đứng mua những hợp đồng với hình thức giống như các giấy bảo hiểm do chính Goldman Sachs trung gian. Theo những hợp đồng này (gọi là credit default swaps, một thứ “đê ri va ti,” derivatives) thì người đứng “bảo hiểm” (những người bán bản hợp đồng) phải bồi thường cho “thân chủ” mua hợp đồng tức là Paulson, nếu giá trị của các CDO bị giảm xuống. Giá càng xuống nhiều thì thân chủ càng được “bồi thường” nhiều hơn.
Quả nhiên, trong năm 2007 các CDO dựa trên những món nợ địa ốc tiêu chuẩn thấp bắt đầu xuống giá, tới Tháng Giêng năm 2008 thì 99% đã bị mất giá nhiều hay ít. Những người tin lời Goldman Sachs mà đi mua các CDO trên bị mất một tỷ Mỹ kim trong năm 2007, còn công ty Paulson được lời một tỷ Mỹ kim nhờ những đê ri va ti bảo hiểm!
Thứ Sáu vừa qua Cơ quan Chứng khoán Mỹ SEC đã truy tố ngân hàng Goldman Sachs tội thiếu minh bạch, vì không thông báo đầy đủ thông tin cho các người mua CDO của họ. Cũng giống như người bán thực phẩm đóng hộp phải kê khai đầy đủ các vật liệu và gia vị bên trong hộp thịt hay cá, luật pháp buộc các ngân hàng đầu tư phải trình bày đầy đủ các tin tức liên can tới những thứ chứng khoán mà mình giới thiệu cho thân chủ mua. Công ty Goldman Sachs đã chối tội trên, nói rằng họ đã thông báo đầy đủ tin tức về các CDO mà họ bán cho giới đầu tư. Khi ra tòa, luật sư của Goldman Sachs có thể chứng minh rằng công ty làm đúng các thứ luật lệ hiện hành. Khi đó, mọi người sẽ càng thấy rằng các luật lệ hiện hành hoặc đã lỗi thời, hoặc không đầy đủ!
Nhưng cơ quan SEC cho biết các thân chủ của Goldman Sachs không hề được biết là chính công ty này liên hệ với cuộc đánh cá của công ty Paulson. Goldman Sachs đã làm hai việc có lợi ích mâu thuẫn: Một mặt tạo ra các CDO và bán cho người ta; trong lúc đó cũng biết là Paulson góp ý kiến dựng lên các CDO này để đánh cá là chúng sẽ mất giá trị! Ðối với nhiều người thì hành động của Goldman Sachs giống như là lừa đảo. Còn chính công ty Paulson thì không bị truy tố vì họ không dính vào việc rao bán hay khuyến khích ai mua các CDO mà họ đánh cá là sẽ xuống giá, mặc dù chính họ đã giúp tạo ra các CDO đó. Việc rao bán các CDO này do Goldman Sachs phụ trách. Một nhân viên được công ty Paulson thuê, đầu năm 2007 còn đang thất nghiệp, chỉ làm công việc vẽ ra các CDO này và khuyến khích Goldman Sachs hợp tác, đã được trả thù lao 175 triệu Mỹ kim.
Vụ truy tố Goldman Sachs được đưa ra trong lúc Thượng Viện Mỹ đang chuẩn bị thảo luận về dự luật cải tổ hệ thống tài chánh để tránh những vụ khủng hoảng như đang diễn ra. Tháng Mười Hai năm 2009 Hạ Viện Mỹ đã thông qua một dự luật Cải tổ Tài chánh, nhưng quyết định sau cùng sẽ phải chờ Thượng Viện. Với câu chuyện lừa đảo mà Goldman Sachs đang bị truy tố, nhiều người nhớ lại rằng cơn khủng hoảng kinh tế hiện nay bắt nguồn từ các ngân hàng và những công ty tài chánh gây nên, với các món nợ địa ốc tiêu chuẩn thấp.
Các ngân hàng ở Mỹ thường bị kiểm soát rất ngặt nghèo, sau khi người Mỹ rút kinh nghiệm vụ đại khủng hoảng kinh tế thời 1930. Từ thời đó, thị trường chứng khoán cũng bị chính quyền theo dõi chặt chẽ để bảo đảm không xẩy ra lừa đảo, bịp bợm. Nhưng còn rất nhiều loại công ty tài chánh và các loại chứng khoán mới vẫn chưa có luật lệ nào ràng buộc. Trong đó có những món đầu tư gọi là đê ri va ti, và những quỹ đối xung, nằm ngoài tầm kiểm soát của các cơ quan công quyền.
Ở nước Mỹ lúc nào cũng có hai khuynh hướng đối chọi: Nhiều người muốn thị trường càng tự do nhiều càng tốt, chính phủ không nên can thiệp vào. Nhiều người thì nghĩ ngược lại, thấy cần phải có thêm nhiều luật lệ (tức là cũng có thêm các cơ quan chính quyền để thi hành luật) để cho thị trường tránh không gây ra khủng hoảng. Cuộc tranh luận về cải tổ tài chánh trong tháng này là một cơ hội để hai khuynh hướng trên đấu trí với nhau, trên các diễn đàn công luận và trong Quốc Hội Mỹ.
Nước Mỹ vẫn còn chìm trong ảnh hưởng cơn suy thoái kinh tế nặng nề nhất kể từ sau cuộc đại khủng hoảng thời 1930. Hàng triệu gia đình mất nhà ở, hàng chục triệu người mất việc. Các nhà đầu tư, các ngân hàng phải nhờ chính phủ cứu giúp hàng trăm tỷ Mỹ kim. Nguyên nhân gây ra cơn khủng hoảng này là do thị trường tài chánh gây nên. Khi kinh tế khủng hoảng vì cung và cầu hàng hóa thiếu quân bình thì sức phục hồi sẽ nhanh hơn và mạnh hơn. Còn khi cuộc khủng hoảng bắt nguồn từ hệ thống ngân hàng thì việc hồi phục bao giờ cũng chậm chạp và sức lên yếu ớt. Tuy Tổng Sản Lượng Nội Ðịa Mỹ đã bắt đầu tăng lên từ năm ngoái nhưng tỷ lệ thất nghiệp sẽ tiếp tục mấp mé 10% ít nhất trong năm nay. Tất cả mọi người đồng ý phải cải tổ hệ thống tài chánh không cho rơi vào những lầm lẫn của những năm trước 2007. Nhưng cải tổ như thế nào, hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ còn đang tranh cãi trong Quốc Hội Mỹ.
Khi ra trước Quốc Hội điều trần về nguyên nhân cuộc khủng hoảng, năm ngoái ông Alan Greenspan, cựu chủ tịch Hệ Thống Dự Trữ Liên Bang đã thú nhận rằng chính ông trước đây không ngờ những người lãnh đạo các xí nghiệp và ngân hàng lại không nghĩ biết tự bảo vệ giá trị của công ty mà họ được trao cho quản lý. Các hành động liều lĩnh của các ngân hàng khi cho vay nợ mua nhà đã là đầu mối gây ra cuộc khủng hoảng hiện nay.
Ông Greenspan đã nhầm khi tin rằng những người lãnh đạo các ngân hàng đều lo cho cổ đông, tức là chủ nhân của họ. Trong thực tế, lúc nào cũng có xung khắc quyền lợi giữa các cổ đông (những người ủy nhiệm, principal) và các quản đốc (agent, được ủy nhiệm). Khi hai nhà quản đốc đại công ty ngân hàng và tài chánh Citigroup ra điều trần trước Quốc Hội, người ta mới được nghe rằng cả hai đều được thù lao trọng hậu trong khi ngân hàng của họ thua lỗ. Ông Charles Prince được thù lao 120 triệu Mỹ kim trong 4 năm làm việc, cùng thời gian đó giá trị các cổ phần của ngân hàng Citi bị giảm mất 64 tỷ Mỹ kim. Trong 10 năm ông Bob Rubin làm cho Citi, ông lãnh 115 triệu Mỹ kim, chưa kể các cổ phần được mua với giá rẻ, nhưng đến năm 2008 ngân hàng Citi phải được chính phủ cứu cấp với 45 tỷ Mỹ kim, và sau đó lên 300 tỷ, gần như chính phủ phải đứng ra làm chủ ngân hàng này. Khi quyền lợi của những người quản đốc các công ty tài chánh và ngân hàng lại xung khắc với chính các cổ đông thì đồng thời quyền lợi của họ cũng có thể trái ngược với quyền lợi chung của cả xã hội. Chính vì vậy, xã hội phải đặt ra luật lệ kiểm soát các hoạt động trong thị trường tài chánh. Một lãnh vực mà Quốc Hội Mỹ sẽ tấn công ráo riết là thị trường các “đê ri va ti” (derivatives) tức là những chứng khoán có dạng những hợp đồng có tính cách đánh cá để chia sẻ bớt may rủi. Những đê ri va ti rất cần thiết cho thị trường tài chánh (ở Thượng Hải, Thẩm Quyến trong lục địa cũng đã thành lập các thị trường đê ri va ti, người Trung Hoa gọi đê ri va ti là Diễn Sinh), nhưng khi một công ty như AIG đánh cá trên các đê ri va ti rồi thất bại khiến chính phủ Mỹ phải bỏ ra hàng trăm tỷ Mỹ kim để cứu, thì xã hội có quyền kiểm soát loại sản phẩm tài chánh này để ngăn ngừa không cho quản đốc các công ty làm liều rồi khi thất bại thì chính phủ phải cứu, để tránh họa cho cả xã hội.
Những người như ông John Paulson biết đánh cá đúng đã làm giàu một cách hợp pháp và lương thiện. Trong thị trường tài chánh, thường vẫn có những người mất hàng tỷ Mỹ kim và những người khác lời bạc tỷ, điều đó không liên can gì đến người ngoài phố, đến xã hội. Nhưng xã hội sẽ thấy phải can thiệp khi có những người lừa đảo hoặc bịp bợm, làm giàu nhờ lợi dụng tình trạng thiếu hiểu biết hoặc yếu thế của người khác. Khi đó, xã hội phải đặt ra luật lệ để bảo đảm sự công bằng. Ðồng thời, xã hội cũng cần ngăn cấm những hành động đánh cá bằng tiền của bách tính, theo lối “được thì tôi ăn, thua thì đã có chính phủ chịu” - tức là người dân đóng thuế phải chịu! Giữ đạo công bằng và bảo đảm an toàn cũng là giữ tín nhiệm cho cả hệ thống kinh tế, bảo đảm sự tồn tại của các thị trường. Vì chỉ có thị trường hữu hiệu khi nào người ta có lòng tin tưởng
Thời buổi ‘31 Tháng Tư’ của Vương Hồng Sển
Ngô Nhân Dụng
Nhà văn Vương Hồng Sển không hay bàn chuyện chính trị. Cụ thường kể chuyện Sài Gòn năm xưa, rỉ rả về thú chơi đồ cổ, tự chế nhạo mình sống “Hơn Nửa Ðời Hư.” Năm 1993, đã ngoài 90 tuổi, cụ vẫn gắng sức ngồi viết kể tiếp những chuyện mình đã từng trải qua cuốn “Nửa Ðời Còn Lại” (Văn Nghệ xuất bản, California, 1996). Trong sách này, có hai chỗ Vương Hồng Sển nhắc đến ngày 31 (sic) Tháng Tư năm 1975! Lần đầu, ở trang 285, cụ viết: “...tôi xin được lẩn thẩn lấy theo sức học đáy giếng mà luận việc trên cao để được tỏ chút nỗi lòng một dân Nam thấp hèn buổi 31-4-1975.” Nhắc lại: một dân Nam thấp hèn buổi 31 Tháng Tư 1975!
Ai cũng biết Tháng Tư chỉ có 30 ngày. Riêng cái ngày 30 Tháng Tư năm 1975 là một ngày mà người dân Việt Nam thuộc thế hệ trên 40 tuổi không thể nào nhớ lộn, không thể nào lầm lẫn được. Cụ còn viết một lần nữa, trang 291: “...tôi đây đã trải cảnh chịu đựng sau ngày 31-4-1975 ở Sài Gòn, làm tôi bắt nhớ Nguyễn Du năm 1802,...”
Có phải cụ Vương Hồng Sển tuổi già viết lộn hay người đánh máy bấm lộn một nút? Giả thiết tác giả đã lẫn, viết sai 2 lần, khó tin. Vì đọc cả cuốn hồi ký, tự sự này, chúng ta thấy ông còn rất minh mẫn. Ông nhắc lại những chuyện thời 1922, 1946, vẫn nhớ và ghi lại từng chi tiết. Vương Hồng Sển nổi tiếng là người có thói quen ky cóp cất giữ các kỷ vật, ghi chép các biến cố trong đời mình rất cẩn thận. Ông còn giữ cái toa thuốc của Bác Sĩ Nguyễn Văn Thinh viết ngày 17 Septembre 1924. Còn người đánh máy, nếu ngón tay bấm sai thì chỉ lộn zero sang số 9 chứ không phải số 1, vì trên bàn máy hai số zero và số một rất xa nhau.
Cho nên, có thể đoán khi cụ Vương viết hai lần ngày 30 ra 31 như vậy, chắc là cố ý. Ðó là một cách phát biểu ý kiến về chính trị. Cuốn sách vẫn theo lối văn “rất Vương Hồng Sển!” Tức là cụ kể chuyện miên man, chuyện nọ xọ chuyện kia, lối văn “cà rỡn, cà tửng” theo phong thái miệt Vườn hay nhái giọng Triều Châu. Lâu lâu, tác giả “đánh du kích” một câu thấm thía, đó là lúc bàn xéo về chính trị! Viết 30 thành 31 là một lối cà tửng rỡn chơi, gửi một thông điệp cho người hiểu văn mình!
Hai lần “cố ý” viết ngày 30 ra ngày 31, là hai lần tác giả Sài Gòn Năm Xưa viết với tấm lòng đầy cảm khái, kể tâm tình như đang muốn trút ra những “nỗi riêng lớp lớp sóng vùi.” Lần thứ nhất, cụ nói đến thân phận “một dân Nam thấp hèn buổi 31-4-1975!” Tự nhận mình thấp hèn như ốc ngồi “đáy giếng” đòi bàn luận việc “trên cao,” dù chỉ bàn một chuyện văn học, người miền Bắc gọi là “nói kháy.” Lần viết lộn thứ hai là đoạn Vương Hồng Sển tự so sánh mình với kiếp “hàng thần lơ láo phận mình ra đâu” của Nguyễn Du khi phải về làm tôi triều Nguyễn. Vương Hồng Sển đã viết rất dài về tâm sự Nguyễn Du trong thời gian đầu thế kỷ 19, để biện luận rằng trong thân phận “hàng thần” đó Tố Như không thể bình tâm mà sáng tác truyện Kiều được. Ðó là ngẫm mình mà suy ra tâm trạng người xưa. Còn lần thứ ba, ở trang 333 khi chỉ mô tả khách quan quang cảnh một khu phố Sài Gòn thay đổi, thì Vương Hồng Sển viết đúng, “...từ ngày 30-4-1975 và hiện nay đã trở nên phố xá tấp nập lớp buôn bán, lớp làm cửa hàng to...” Ba lần viết đến ngày 30 Tháng Tư, hai lần viết lộn. Phải nghi là nhà văn cố ý.
Cố ý, nhưng là ý gì? Hàng chữ “buổi 31-4-1975” của Vương Hồng Sển đã tóm gọn tất cả những năm tháng sau ngày 30 Tháng Tư năm cũ, sau cuộc đổi đời! Bây giờ đọc cụ Sển, độc giả vẫn chia sẻ được nỗi niềm của người dân miền Nam, đặc biệt là người Sài Gòn, ngậm ngùi nghĩ tới “buổi sau ngày 30 Tháng Tư!” Vương Hồng Sển là một nhân chứng, một nhà viết sử dân gian của thành phố Sài Gòn với 70 năm bao kinh nghiệm biển dâu. Với con mắt tinh tế, ngòi bút hóm hỉnh, mặc dù nhất định không bàn chuyện chính trị, tìm cách tránh né lưỡi kéo kiểm duyệt của các nhà xuất bản, cụ Vương vẫn ghi cho chúng ta những nét chấm phá về thế cuộc để các sử gia sau này phải tinh ý chăm chú mà gạn lọc.
Vương Hồng Sển không bị rơi vào cảnh tù cải tạo, nhưng đã nhắc đến thời đoàn quân của Nguyễn Ánh ra chiếm Bắc Hà, chỉ có hai người trong giới sĩ phu của Nhà Lê và Nhà Tây Sơn bị chế độ mới hành hạ, là Phan Huy Ích bị bỏ tù và Cống Chỉnh bị đánh đến chết vì thù riêng. Nhắc chuyện cũ, chính là để so sánh với chính sách lừa bắt hàng trăm ngàn người đi tù mút mùa gọi là “cải tạo”!
Thân phận người trí thức miền Nam có những nỗi đau đớn vì mất tự do. Có đoạn đang bàn chuyện Phạm Quỳnh, cụ Vương đánh một câu: “trong nầy (tức là trong miền Nam) ngày nay (tức là khác trước 1975) có miệng mà khó nói nên lời, có tay cầm viết mà khó ghi lời nào khỏi bị sửa chữa, cắt xén - vả lại tôi là người gì mà được phép nói...” (trang 267). Tôi là người gì mà dám nói? Cụ Vương có lúc bỗng trở nên nồng nhiệt, dầu vẫn rụt rè nhưng nhất quyết phải nói, khi cụ lên tiếng bênh vực Phan Thanh Giản, một danh nhân miền Nam vẫn bị đảng Cộng Sản buộc tội và bêu riếu một cách thô bạo, bất công. Sau khi biện luận để phục hồi danh dự Phan Thanh Giản, Vương Hồng Sển viết: “...người đời nay học thuyết mới, tư tưởng theo mới, quên ơn kẻ trồng cây, quên ơn sanh thành đào tạo,...” Ý nói: Người đời nay theo Mác xít, quên cả ơn cha mẹ, quên cả ơn thầy!
Mặc dù tự nhận thân phận thấp hèn của một người dân miền Nam trước đoàn quân chiếm đóng, nhưng khí phách miền Nam vẫn không để phai mờ. Chống lại cả guồng máy “tuyên giáo” của đảng Cộng Sản, nhưng vẫn đứng lên bênh vực Phan Thanh Giản! Ai cũng biết, sau ngày 30 Tháng Tư 75, lẫn trong đám các nhà văn, nhà thơ và học giả miền Bắc vào Sài Gòn, có nhiều người mang thái độ kiêu ngạo của đoàn quân thắng trận, lên mặt “dạy dỗ, cải tạo” giới văn nghệ và học thuật miền Nam theo đúng đường lối đảng, cùng với bọn văn nghệ cách mạng 30 nhi nhô đóng cai chỉ điểm. Cảnh tiếp xúc hai miền Nam Bắc lúc đó, Vũ Hoàng Chương đã diễn tả qua hai câu: “Rằng vách có tai, thơ có họa - Biết lòng ai đỏ, mắt ai xanh!” Những người trí thức Sài Gòn như Vương Hồng Sển (hoặc Nguyễn Hiến Lê, Dương Nghiễm Mậu,...) chọn sống ẩn dật chứ không chịu ra làm tay sai cho bọn vua quan mới. Cụ Vương viết: “Tôi dư biết cho thân, thà làm dế sống trong hang, có lẽ được yên thân hơn là múa gáy cho trẻ nhỏ nó biết chỗ trốn, chúng đổ nước ngập hang, bắt dế về nuôi trong hộp diêm, hộp quẹt, thỉnh thoảng bắt ra đá độ, gãy càng queo râu toi mạng.” (trang 84)
Sống trong một xã hội đầy những “vách có tai, thơ có họa” nhìn chung quanh không “biết lòng ai đỏ, mắt ai xanh,” Vương Hồng Sển không dám nói thẳng mà chỉ dùng mật ngữ. Có lúc cụ kể chuyện Sài Gòn đời xưa từ 1867, qua trào Tây, trào Nhật, quay qua nói chuyện vua Napoleon III bên Pháp, rồi chợt cảm khái: “Trở lại người dân đất Sài Gòn, như tôi đã nói, dám chắc không dân nào trí lanh tay xảo hơn. Khi bỏ áo giáp, tuột giầy trận, chịu đi đày, bán từ bàn thờ tổ tiên, bán ván gõ để nằm dưới gạch, căn đầy kiếp đọa, tiếc đã muộn...” (trang 55). Trong mấy dòng này là những ám hiệu chỉ cốt cho “dân Sài Gòn” hiểu với nhau thôi! Những nét chấm phá độc đáo: Kẻ thì “bỏ áo giáp, tuột giầy trận, chịu đi đày;” người ở lại nhà thì “bán bàn thờ tổ tiên, căn đầy kiếp đọa!” Và tất cả đều “tiếc đã muộn!”
Tiếc đã muộn! Chỉ ba chữ, ba chữ gói ghém bao nhiêu nỗi đoạn trường của cái thời buổi “31 Tháng Tư!”
Chỉ mấy trang tiếp, sau khi kể chuyện cà kê Kép Tư Út hát bài Anh Khóa đời xưa, tiếp đến chuyện ngôi nhà Tổng Ðốc Phương bị tháo gỡ bán qua Ðài Loan bây giờ, bỗng nhiên Vương Hồng Sển lại viết: “Dân Sài Gòn tự khoe tiến bộ ký quỹ, gửi tiền nhà băng, Giải Phóng vào, hốt sạch sành sanh, thua xa dân Thổ Trà Vinh, Sóc Trăng... bán lúa mùa nầy xong, chôn bạc giữa lẫm rồi đổ lúa mới lên trên...” (trang 57). Nhắc lại phương cách cất giấu tiền của dân Thổ đời xưa, để so sánh với dân Sài Gòn thời 1975, chỉ cốt viết một câu kết án: “Giải phóng vào, hốt sạch sành sanh!” Trong 7 chữ, Vương Hồng Sển cực tả một vụ cướp bóc đại quy mô, bây giờ còn gọi là “ăn cướp hoành tráng.” Hốt sạch sành sanh! Như vậy gọi là “giải phóng” đó! Ai đọc tới câu này mà không nghĩ ra, là phụ lòng Vương Hồng Sển!
Vào cái buổi 31 Tháng Tư, người miền Nam sống ra sao? Có lúc cụ Vương đang kể miên man những chuyện lẩm cẩm ở Sài Gòn từ thời Tây qua thời Nhật, bỗng tóm gọn một câu: “Kẻ trí đi ra nước ngoài, người ở lại phải giả dại qua ải” (trang 58). Phải sống “giả dại qua ải” nhưng Vương Hồng Sển cũng sống đủ lâu, được chứng kiến bản lãnh dân miền Nam vẫn vững vàng. Cụ viết: “Nói chi thì nói, phải nhìn nhận dân Sài Gòn vẫn có bản lĩnh - nước dưới sông thấy đó mà chặt không đứt, dứt không rời...” (trang 80). Dân Sài Gòn, và người dân miền Nam nói chung, quả thật có bản lãnh “chặt không đứt, dứt không rời,” cho nên “trải mấy trào liên tiếp mà dân vẫn là dân, cảnh có đổi mà dân không đổi...” Thơ Ðỗ Phủ viết: “Quốc phá, sơn hà tại,” chế độ vỡ, núi sông vẫn còn. Vương Hồng Sển không quan tâm đến núi sông, mà chú ý tới bản lãnh dân Sài Gon bền bỉ, vững chãi!
Ai cũng biết rằng sau năm 1975, vào cái “buổi 31 Tháng Tư” thì xã hội miền Nam đã thay đổi vì chịu ảnh hưởng của lối sống do chế độ mới tạo ra. Ai cũng có thể so sánh cách sống của dân Sài Gòn “trước ngày 30” và sau “buổi 31 Tháng Tư.”
Trước ngày 30 Tháng Tư năm 1975, trẻ em miền Nam có những lời nói, cử chỉ kính trọng các thầy cô giáo hơn bây giờ. Mà các thầy cô hồi đó cũng nhiều người giữ được tư cách đạo đức hơn buổi 31 Tháng Tư.
Trước ngày 30 Tháng Tư 75 ở miền Nam trai thiếu gái thừa, nhưng chưa có người mẹ nào bán con đi lấy những người chồng ngoại quốc không hề quen biết, với giá mấy trăm đô la Mỹ. Không có những cô gái xếp hàng trưng bày cho đàn ông ngoại quốc chọn. Không có người mẹ nào đem con gái bán cho các mụ Tú Bà. Bây giờ phong cảnh đã khác.
Trước ngày 30 Tháng Tư 75, mặc dù đang có chiến tranh dân miền Nam vẫn dám biểu tình phản đối chính phủ, không thua gì dân Nam Hàn, Ðài Loan cùng thời gian đó. Sinh viên Sài Gòn biểu tình đòi giáo sư Y khoa phải dạy bằng tiếng Việt, ký giả biểu tình phản đối Bộ Thông Tin đóng cửa báo, các công nhân đình công, bãi thị, các học sinh bãi khóa. Tinh thần độc lập, tự chủ của người dân rất cao, chính quyền không dám tiêu diệt xã hội công dân. Ngày nay những người như Ðiếu Cầy chỉ cần viết cho nhau bằng Internet, nói chuyện tự do dân chủ, chống Trung Cộng xâm chiếm Hoàng Sa, cũng bị ghép tội rồi bỏ tù.
Nhưng chúng ta có thể tin tưởng như Vương Hồng Sển, là dân Việt Nam rất có bản lãnh. Dân vẫn là dân, các chế độ đi qua rồi sẽ biến mất. Chính Vương Hồng Sển cũng có lúc tỏ ý lạc quan. Ðọc lại cuốn Hơn Nửa Ðời Hư in ở Sài Gòn, cụ đã cải chính mấy đoạn bị nhà xuất bản trong nước cắt xén. Nhân dịp đó, cụ còn tỏ ý tha thứ và hy vọng: “...tự xét tuổi gần đất xa trời, cũng nên hỉ xả họa may nối thêm được một ít lâu để chờ xem mãn cuộc... cuộc gì cũng chưa dám nói và nên hiểu ngầm...” (trang 277). Mãn cuộc gì, ai cũng hiểu! Cụ đã qua đời, không “nối thêm được ít lâu.” Cụ chưa được thấy hồi “mãn cuộc.” Nhưng cũng sắp tới rồi! Cái buổi 31 Tháng Tư sẽ đến hồi kết thúc, người Việt Nam có ngày lại trở về làm người Việt Nam, giống như “trước 30 Tháng Tư!”
Ngô Nhân Dụng
Nhà văn Vương Hồng Sển không hay bàn chuyện chính trị. Cụ thường kể chuyện Sài Gòn năm xưa, rỉ rả về thú chơi đồ cổ, tự chế nhạo mình sống “Hơn Nửa Ðời Hư.” Năm 1993, đã ngoài 90 tuổi, cụ vẫn gắng sức ngồi viết kể tiếp những chuyện mình đã từng trải qua cuốn “Nửa Ðời Còn Lại” (Văn Nghệ xuất bản, California, 1996). Trong sách này, có hai chỗ Vương Hồng Sển nhắc đến ngày 31 (sic) Tháng Tư năm 1975! Lần đầu, ở trang 285, cụ viết: “...tôi xin được lẩn thẩn lấy theo sức học đáy giếng mà luận việc trên cao để được tỏ chút nỗi lòng một dân Nam thấp hèn buổi 31-4-1975.” Nhắc lại: một dân Nam thấp hèn buổi 31 Tháng Tư 1975!
Ai cũng biết Tháng Tư chỉ có 30 ngày. Riêng cái ngày 30 Tháng Tư năm 1975 là một ngày mà người dân Việt Nam thuộc thế hệ trên 40 tuổi không thể nào nhớ lộn, không thể nào lầm lẫn được. Cụ còn viết một lần nữa, trang 291: “...tôi đây đã trải cảnh chịu đựng sau ngày 31-4-1975 ở Sài Gòn, làm tôi bắt nhớ Nguyễn Du năm 1802,...”
Có phải cụ Vương Hồng Sển tuổi già viết lộn hay người đánh máy bấm lộn một nút? Giả thiết tác giả đã lẫn, viết sai 2 lần, khó tin. Vì đọc cả cuốn hồi ký, tự sự này, chúng ta thấy ông còn rất minh mẫn. Ông nhắc lại những chuyện thời 1922, 1946, vẫn nhớ và ghi lại từng chi tiết. Vương Hồng Sển nổi tiếng là người có thói quen ky cóp cất giữ các kỷ vật, ghi chép các biến cố trong đời mình rất cẩn thận. Ông còn giữ cái toa thuốc của Bác Sĩ Nguyễn Văn Thinh viết ngày 17 Septembre 1924. Còn người đánh máy, nếu ngón tay bấm sai thì chỉ lộn zero sang số 9 chứ không phải số 1, vì trên bàn máy hai số zero và số một rất xa nhau.
Cho nên, có thể đoán khi cụ Vương viết hai lần ngày 30 ra 31 như vậy, chắc là cố ý. Ðó là một cách phát biểu ý kiến về chính trị. Cuốn sách vẫn theo lối văn “rất Vương Hồng Sển!” Tức là cụ kể chuyện miên man, chuyện nọ xọ chuyện kia, lối văn “cà rỡn, cà tửng” theo phong thái miệt Vườn hay nhái giọng Triều Châu. Lâu lâu, tác giả “đánh du kích” một câu thấm thía, đó là lúc bàn xéo về chính trị! Viết 30 thành 31 là một lối cà tửng rỡn chơi, gửi một thông điệp cho người hiểu văn mình!
Hai lần “cố ý” viết ngày 30 ra ngày 31, là hai lần tác giả Sài Gòn Năm Xưa viết với tấm lòng đầy cảm khái, kể tâm tình như đang muốn trút ra những “nỗi riêng lớp lớp sóng vùi.” Lần thứ nhất, cụ nói đến thân phận “một dân Nam thấp hèn buổi 31-4-1975!” Tự nhận mình thấp hèn như ốc ngồi “đáy giếng” đòi bàn luận việc “trên cao,” dù chỉ bàn một chuyện văn học, người miền Bắc gọi là “nói kháy.” Lần viết lộn thứ hai là đoạn Vương Hồng Sển tự so sánh mình với kiếp “hàng thần lơ láo phận mình ra đâu” của Nguyễn Du khi phải về làm tôi triều Nguyễn. Vương Hồng Sển đã viết rất dài về tâm sự Nguyễn Du trong thời gian đầu thế kỷ 19, để biện luận rằng trong thân phận “hàng thần” đó Tố Như không thể bình tâm mà sáng tác truyện Kiều được. Ðó là ngẫm mình mà suy ra tâm trạng người xưa. Còn lần thứ ba, ở trang 333 khi chỉ mô tả khách quan quang cảnh một khu phố Sài Gòn thay đổi, thì Vương Hồng Sển viết đúng, “...từ ngày 30-4-1975 và hiện nay đã trở nên phố xá tấp nập lớp buôn bán, lớp làm cửa hàng to...” Ba lần viết đến ngày 30 Tháng Tư, hai lần viết lộn. Phải nghi là nhà văn cố ý.
Cố ý, nhưng là ý gì? Hàng chữ “buổi 31-4-1975” của Vương Hồng Sển đã tóm gọn tất cả những năm tháng sau ngày 30 Tháng Tư năm cũ, sau cuộc đổi đời! Bây giờ đọc cụ Sển, độc giả vẫn chia sẻ được nỗi niềm của người dân miền Nam, đặc biệt là người Sài Gòn, ngậm ngùi nghĩ tới “buổi sau ngày 30 Tháng Tư!” Vương Hồng Sển là một nhân chứng, một nhà viết sử dân gian của thành phố Sài Gòn với 70 năm bao kinh nghiệm biển dâu. Với con mắt tinh tế, ngòi bút hóm hỉnh, mặc dù nhất định không bàn chuyện chính trị, tìm cách tránh né lưỡi kéo kiểm duyệt của các nhà xuất bản, cụ Vương vẫn ghi cho chúng ta những nét chấm phá về thế cuộc để các sử gia sau này phải tinh ý chăm chú mà gạn lọc.
Vương Hồng Sển không bị rơi vào cảnh tù cải tạo, nhưng đã nhắc đến thời đoàn quân của Nguyễn Ánh ra chiếm Bắc Hà, chỉ có hai người trong giới sĩ phu của Nhà Lê và Nhà Tây Sơn bị chế độ mới hành hạ, là Phan Huy Ích bị bỏ tù và Cống Chỉnh bị đánh đến chết vì thù riêng. Nhắc chuyện cũ, chính là để so sánh với chính sách lừa bắt hàng trăm ngàn người đi tù mút mùa gọi là “cải tạo”!
Thân phận người trí thức miền Nam có những nỗi đau đớn vì mất tự do. Có đoạn đang bàn chuyện Phạm Quỳnh, cụ Vương đánh một câu: “trong nầy (tức là trong miền Nam) ngày nay (tức là khác trước 1975) có miệng mà khó nói nên lời, có tay cầm viết mà khó ghi lời nào khỏi bị sửa chữa, cắt xén - vả lại tôi là người gì mà được phép nói...” (trang 267). Tôi là người gì mà dám nói? Cụ Vương có lúc bỗng trở nên nồng nhiệt, dầu vẫn rụt rè nhưng nhất quyết phải nói, khi cụ lên tiếng bênh vực Phan Thanh Giản, một danh nhân miền Nam vẫn bị đảng Cộng Sản buộc tội và bêu riếu một cách thô bạo, bất công. Sau khi biện luận để phục hồi danh dự Phan Thanh Giản, Vương Hồng Sển viết: “...người đời nay học thuyết mới, tư tưởng theo mới, quên ơn kẻ trồng cây, quên ơn sanh thành đào tạo,...” Ý nói: Người đời nay theo Mác xít, quên cả ơn cha mẹ, quên cả ơn thầy!
Mặc dù tự nhận thân phận thấp hèn của một người dân miền Nam trước đoàn quân chiếm đóng, nhưng khí phách miền Nam vẫn không để phai mờ. Chống lại cả guồng máy “tuyên giáo” của đảng Cộng Sản, nhưng vẫn đứng lên bênh vực Phan Thanh Giản! Ai cũng biết, sau ngày 30 Tháng Tư 75, lẫn trong đám các nhà văn, nhà thơ và học giả miền Bắc vào Sài Gòn, có nhiều người mang thái độ kiêu ngạo của đoàn quân thắng trận, lên mặt “dạy dỗ, cải tạo” giới văn nghệ và học thuật miền Nam theo đúng đường lối đảng, cùng với bọn văn nghệ cách mạng 30 nhi nhô đóng cai chỉ điểm. Cảnh tiếp xúc hai miền Nam Bắc lúc đó, Vũ Hoàng Chương đã diễn tả qua hai câu: “Rằng vách có tai, thơ có họa - Biết lòng ai đỏ, mắt ai xanh!” Những người trí thức Sài Gòn như Vương Hồng Sển (hoặc Nguyễn Hiến Lê, Dương Nghiễm Mậu,...) chọn sống ẩn dật chứ không chịu ra làm tay sai cho bọn vua quan mới. Cụ Vương viết: “Tôi dư biết cho thân, thà làm dế sống trong hang, có lẽ được yên thân hơn là múa gáy cho trẻ nhỏ nó biết chỗ trốn, chúng đổ nước ngập hang, bắt dế về nuôi trong hộp diêm, hộp quẹt, thỉnh thoảng bắt ra đá độ, gãy càng queo râu toi mạng.” (trang 84)
Sống trong một xã hội đầy những “vách có tai, thơ có họa” nhìn chung quanh không “biết lòng ai đỏ, mắt ai xanh,” Vương Hồng Sển không dám nói thẳng mà chỉ dùng mật ngữ. Có lúc cụ kể chuyện Sài Gòn đời xưa từ 1867, qua trào Tây, trào Nhật, quay qua nói chuyện vua Napoleon III bên Pháp, rồi chợt cảm khái: “Trở lại người dân đất Sài Gòn, như tôi đã nói, dám chắc không dân nào trí lanh tay xảo hơn. Khi bỏ áo giáp, tuột giầy trận, chịu đi đày, bán từ bàn thờ tổ tiên, bán ván gõ để nằm dưới gạch, căn đầy kiếp đọa, tiếc đã muộn...” (trang 55). Trong mấy dòng này là những ám hiệu chỉ cốt cho “dân Sài Gòn” hiểu với nhau thôi! Những nét chấm phá độc đáo: Kẻ thì “bỏ áo giáp, tuột giầy trận, chịu đi đày;” người ở lại nhà thì “bán bàn thờ tổ tiên, căn đầy kiếp đọa!” Và tất cả đều “tiếc đã muộn!”
Tiếc đã muộn! Chỉ ba chữ, ba chữ gói ghém bao nhiêu nỗi đoạn trường của cái thời buổi “31 Tháng Tư!”
Chỉ mấy trang tiếp, sau khi kể chuyện cà kê Kép Tư Út hát bài Anh Khóa đời xưa, tiếp đến chuyện ngôi nhà Tổng Ðốc Phương bị tháo gỡ bán qua Ðài Loan bây giờ, bỗng nhiên Vương Hồng Sển lại viết: “Dân Sài Gòn tự khoe tiến bộ ký quỹ, gửi tiền nhà băng, Giải Phóng vào, hốt sạch sành sanh, thua xa dân Thổ Trà Vinh, Sóc Trăng... bán lúa mùa nầy xong, chôn bạc giữa lẫm rồi đổ lúa mới lên trên...” (trang 57). Nhắc lại phương cách cất giấu tiền của dân Thổ đời xưa, để so sánh với dân Sài Gòn thời 1975, chỉ cốt viết một câu kết án: “Giải phóng vào, hốt sạch sành sanh!” Trong 7 chữ, Vương Hồng Sển cực tả một vụ cướp bóc đại quy mô, bây giờ còn gọi là “ăn cướp hoành tráng.” Hốt sạch sành sanh! Như vậy gọi là “giải phóng” đó! Ai đọc tới câu này mà không nghĩ ra, là phụ lòng Vương Hồng Sển!
Vào cái buổi 31 Tháng Tư, người miền Nam sống ra sao? Có lúc cụ Vương đang kể miên man những chuyện lẩm cẩm ở Sài Gòn từ thời Tây qua thời Nhật, bỗng tóm gọn một câu: “Kẻ trí đi ra nước ngoài, người ở lại phải giả dại qua ải” (trang 58). Phải sống “giả dại qua ải” nhưng Vương Hồng Sển cũng sống đủ lâu, được chứng kiến bản lãnh dân miền Nam vẫn vững vàng. Cụ viết: “Nói chi thì nói, phải nhìn nhận dân Sài Gòn vẫn có bản lĩnh - nước dưới sông thấy đó mà chặt không đứt, dứt không rời...” (trang 80). Dân Sài Gòn, và người dân miền Nam nói chung, quả thật có bản lãnh “chặt không đứt, dứt không rời,” cho nên “trải mấy trào liên tiếp mà dân vẫn là dân, cảnh có đổi mà dân không đổi...” Thơ Ðỗ Phủ viết: “Quốc phá, sơn hà tại,” chế độ vỡ, núi sông vẫn còn. Vương Hồng Sển không quan tâm đến núi sông, mà chú ý tới bản lãnh dân Sài Gon bền bỉ, vững chãi!
Ai cũng biết rằng sau năm 1975, vào cái “buổi 31 Tháng Tư” thì xã hội miền Nam đã thay đổi vì chịu ảnh hưởng của lối sống do chế độ mới tạo ra. Ai cũng có thể so sánh cách sống của dân Sài Gòn “trước ngày 30” và sau “buổi 31 Tháng Tư.”
Trước ngày 30 Tháng Tư năm 1975, trẻ em miền Nam có những lời nói, cử chỉ kính trọng các thầy cô giáo hơn bây giờ. Mà các thầy cô hồi đó cũng nhiều người giữ được tư cách đạo đức hơn buổi 31 Tháng Tư.
Trước ngày 30 Tháng Tư 75 ở miền Nam trai thiếu gái thừa, nhưng chưa có người mẹ nào bán con đi lấy những người chồng ngoại quốc không hề quen biết, với giá mấy trăm đô la Mỹ. Không có những cô gái xếp hàng trưng bày cho đàn ông ngoại quốc chọn. Không có người mẹ nào đem con gái bán cho các mụ Tú Bà. Bây giờ phong cảnh đã khác.
Trước ngày 30 Tháng Tư 75, mặc dù đang có chiến tranh dân miền Nam vẫn dám biểu tình phản đối chính phủ, không thua gì dân Nam Hàn, Ðài Loan cùng thời gian đó. Sinh viên Sài Gòn biểu tình đòi giáo sư Y khoa phải dạy bằng tiếng Việt, ký giả biểu tình phản đối Bộ Thông Tin đóng cửa báo, các công nhân đình công, bãi thị, các học sinh bãi khóa. Tinh thần độc lập, tự chủ của người dân rất cao, chính quyền không dám tiêu diệt xã hội công dân. Ngày nay những người như Ðiếu Cầy chỉ cần viết cho nhau bằng Internet, nói chuyện tự do dân chủ, chống Trung Cộng xâm chiếm Hoàng Sa, cũng bị ghép tội rồi bỏ tù.
Nhưng chúng ta có thể tin tưởng như Vương Hồng Sển, là dân Việt Nam rất có bản lãnh. Dân vẫn là dân, các chế độ đi qua rồi sẽ biến mất. Chính Vương Hồng Sển cũng có lúc tỏ ý lạc quan. Ðọc lại cuốn Hơn Nửa Ðời Hư in ở Sài Gòn, cụ đã cải chính mấy đoạn bị nhà xuất bản trong nước cắt xén. Nhân dịp đó, cụ còn tỏ ý tha thứ và hy vọng: “...tự xét tuổi gần đất xa trời, cũng nên hỉ xả họa may nối thêm được một ít lâu để chờ xem mãn cuộc... cuộc gì cũng chưa dám nói và nên hiểu ngầm...” (trang 277). Mãn cuộc gì, ai cũng hiểu! Cụ đã qua đời, không “nối thêm được ít lâu.” Cụ chưa được thấy hồi “mãn cuộc.” Nhưng cũng sắp tới rồi! Cái buổi 31 Tháng Tư sẽ đến hồi kết thúc, người Việt Nam có ngày lại trở về làm người Việt Nam, giống như “trước 30 Tháng Tư!”
Những chuyện khó lường khi Đức TGM Ngô Quang Kiệt bị thay thế
Vatican có thể hối không kịp.
HĐGMVN có thể khóc hết nước mắt.
Chỉ có CSVN là cười cợt ngạo nghễ!
Ít lâu nay, tin tức loan truyền quanh sự việc Đức TGM Ngô Quang Kiệt có bị thuyên chuyển khỏi Hà Nội theo yêu sách của Cộng Sản Việt Nam (CSVN) hay không đã được tranh luận khá gay gắt.
Tựu trung có hai nhận định: Một là trước sau gì Satan (Đảng CSVN) cũng thắng thế gian, vì sau bao nhiêu năm trồng cấy Giám Mục VN, nay là thời gian đâm hoa kết trái để CSVN hưởng lộc. Những Giám Mục VN thiên Cộng dần dần lộ dạng và đang toa rập theo mệnh lệnh của CSVN để bứng Đức TGM Kiệt ra khỏi Hà Nội bằng bất cứ giá nào. Không những thế, cả một kế hoạch khuynh đảo Giáo Hội Việt Nam quy mô đã được giàn dựng: Hà Nội sẽ có GM Nguyễn Văn Nhơn từ Đà Lạt ra trụ trì, thay thế Đức TGM Kiệt cáo bệnh. Saigon sẽ có GM. Bùi Văn Đọc từ Mỹ Tho lên thay thế, khi Đức HY Mẫn đến tuổi về hưu. Thành tích của hai chức sắc mới này qua hành động và các lời tuyên bố trong thời gian gần đây có vẻ được CSVN tâm đắc.
Ngược lại, ý kiến thứ hai chủ trương rằng việc bổ nhiệm và thuyên chuyển các giám mục trên thế giới thuộc quyền chuyên biệt của Tòa Thánh La Mã, không một HĐGM nào có thể đem ra bàn bạc công khai. Toà Thánh làm việc hoàn toàn kín đáo, ngay đến các đương sự được bổ nhiệm cũng không thể biết trước được. Do đó, nhận định thứ nhất chỉ là một loại tin vịt, không đáng tin.
Theo ý kiến chúng tôi, điều không thể chối cãi được là truyền thống bổ nhiệm và thuyên chuyển hàng giám mục hoàn toàn thuộc quyền Đức Giáo Hoàng, nên rất kín đáo. Nhưng thủ tục này chỉ được áp dụng tại các quốc gia thuộc thế giới tự do. Còn tại các nước Cộng Sản, như Trung quốc và Việt Nam hiện nay, thủ tục có khác. Điểm khác này quan trọng hay không tùy nhãn quan mỗi người. Đó là trước khi bổ nhiệm chức vị Giám Mục, Tòa Thánh phải gửi danh sách các ứng viên mà Tòa Thánh đã chọn cho Nhà Nước Cộng Sản để "xin ý kiến" hoặc nói cụ thể hơn là "xin sự phê chuẩn". Hiển nhiên, Nhà Nước bác bỏ ai thì Toà Thánh cũng không thể nào dám bổ nhiệm người đó. Thủ tục này không có dưới thời VNCH, nhưng vẫn được áp dụng kể từ ngày CSVN thống trị đất nước. Người bênh Toà Thánh thì coi thủ tục này chẳng quan trọng gì. Nhưng ý kiến trái ngược thì cho rằng Satan đang điều khiển Giáo Hội bằng thủ tục này.
Trở về trường hợp Đức TGM Ngô Quang Kiệt, vấn đề mang tính cách hết sức đặc biệt, vượt ra khỏi các thủ tục thường lệ. Sau khi Đức TGM Kiệt cùng với giáo dân Hà Nội đứng lên đòi Hoà Bình và Công Lý thì các viên chức cao cấp của CSVN lồng lộn, phẫn nộ và dõng dạc công khai đòi Giáo Hội phải thuyên chuyển ngài ra khỏi chức vụ cai quản Tổng Giáo Phận Hà Nội ngay tức khắc. Mặc dù ai cũng biết HĐGMVN không có quyền hạn gì trong việc này, nhưng điều đó không có nghĩa rằng Toà Thánh không tham khảo ý kiến "mật" với tất cả hay một số Giám Mục VN. Và chính từ điểm "bí mật" này mà sự thật lại được "bật mí". Tức là có một số Giám Mục VN đã hỗ trợ lập trường của CSVN là phải thuyên chuyển Đức TGM Kiệt. Chính ở điểm này mà nguồn tin thứ nhất lại có cơ sở đáng tin.
Trước một tình huống bị anh em đồng hội đồng thuyền bỏ rơi, lại còn bị Toà Thánh hạch hỏi, bị Nhà Nước cho côn đồ quậy phá, Đức Tổng Kiệt đáng lẽ phải ngã bệnh nặng, có thể chết đi được, may mà ngài mới chỉ bị mất ngủ thôi.
Trong hai quan điểm trên, cái nào đúng, cái nào sai? Khi Giáo Hội làm việc bằng "chính đạo" thì lập trường hai là đúng. Nhưng khi Giáo Hội đã chia sẻ quyền lực với "bá đạo" rồi thì lập trường một không phải là không có lý. Giáo Hội khi để Satan lấn át thì việc "mua chuộc, đổi chác" có xảy ra cũng là lẽ thường tình, vì đó là chuyện "thế gian". Thế thì phải gian. Chuyện "vương đạo" rất dễ giữ kín, nhưng chuyện "bá đạo" đương nhiên phải có sự mặc cả, đổi chác và đi đêm. Đó là lý do tính cách bí mật không còn giữ được nữa.
Chẳng lẽ chuyện bang giao giữa Vatican và VN quan trọng đến nỗi Vatican để cho HĐGMVN rơi vào hoàn cảnh chia rẽ, tan nát thế này sao? Vatican hẳn phải tiên liệu những lộn xộn khó lường khi GM Nguyễn Văn Nhơn đặt chân đến Toà Giám Mục Hà Nội chứ. Chẳng lẽ bước chân của Đức Giáo Hoàng quá thần linh đến nỗi ngài đặt chân tới VN là lập tức VN có ngay tự do, dân chủ, để phải hy sinh Đức TGM Kiệt, khiến cho Giáo Hội VN bị mang tiếng với lịch sử là "lọt bẫy CS" hay sao?
Không ai muốn tin như vậy. Nhưng tin tức vẫn là tin tức. Thực tế vẫn là thực tế.
Hãy chờ những gì sắp xảy ra tại khuôn viên nhà thờ Hà Nội và Saigon trong những ngày sắp tới. Vatican có thể hối không kịp. HĐGMVN có thể khóc hết nước mắt. Chỉ có CSVN là cười cợt ngạo nghễ!
Ts. Trần An Bài
Vatican có thể hối không kịp.
HĐGMVN có thể khóc hết nước mắt.
Chỉ có CSVN là cười cợt ngạo nghễ!
Ít lâu nay, tin tức loan truyền quanh sự việc Đức TGM Ngô Quang Kiệt có bị thuyên chuyển khỏi Hà Nội theo yêu sách của Cộng Sản Việt Nam (CSVN) hay không đã được tranh luận khá gay gắt.
Tựu trung có hai nhận định: Một là trước sau gì Satan (Đảng CSVN) cũng thắng thế gian, vì sau bao nhiêu năm trồng cấy Giám Mục VN, nay là thời gian đâm hoa kết trái để CSVN hưởng lộc. Những Giám Mục VN thiên Cộng dần dần lộ dạng và đang toa rập theo mệnh lệnh của CSVN để bứng Đức TGM Kiệt ra khỏi Hà Nội bằng bất cứ giá nào. Không những thế, cả một kế hoạch khuynh đảo Giáo Hội Việt Nam quy mô đã được giàn dựng: Hà Nội sẽ có GM Nguyễn Văn Nhơn từ Đà Lạt ra trụ trì, thay thế Đức TGM Kiệt cáo bệnh. Saigon sẽ có GM. Bùi Văn Đọc từ Mỹ Tho lên thay thế, khi Đức HY Mẫn đến tuổi về hưu. Thành tích của hai chức sắc mới này qua hành động và các lời tuyên bố trong thời gian gần đây có vẻ được CSVN tâm đắc.
Ngược lại, ý kiến thứ hai chủ trương rằng việc bổ nhiệm và thuyên chuyển các giám mục trên thế giới thuộc quyền chuyên biệt của Tòa Thánh La Mã, không một HĐGM nào có thể đem ra bàn bạc công khai. Toà Thánh làm việc hoàn toàn kín đáo, ngay đến các đương sự được bổ nhiệm cũng không thể biết trước được. Do đó, nhận định thứ nhất chỉ là một loại tin vịt, không đáng tin.
Theo ý kiến chúng tôi, điều không thể chối cãi được là truyền thống bổ nhiệm và thuyên chuyển hàng giám mục hoàn toàn thuộc quyền Đức Giáo Hoàng, nên rất kín đáo. Nhưng thủ tục này chỉ được áp dụng tại các quốc gia thuộc thế giới tự do. Còn tại các nước Cộng Sản, như Trung quốc và Việt Nam hiện nay, thủ tục có khác. Điểm khác này quan trọng hay không tùy nhãn quan mỗi người. Đó là trước khi bổ nhiệm chức vị Giám Mục, Tòa Thánh phải gửi danh sách các ứng viên mà Tòa Thánh đã chọn cho Nhà Nước Cộng Sản để "xin ý kiến" hoặc nói cụ thể hơn là "xin sự phê chuẩn". Hiển nhiên, Nhà Nước bác bỏ ai thì Toà Thánh cũng không thể nào dám bổ nhiệm người đó. Thủ tục này không có dưới thời VNCH, nhưng vẫn được áp dụng kể từ ngày CSVN thống trị đất nước. Người bênh Toà Thánh thì coi thủ tục này chẳng quan trọng gì. Nhưng ý kiến trái ngược thì cho rằng Satan đang điều khiển Giáo Hội bằng thủ tục này.
Trở về trường hợp Đức TGM Ngô Quang Kiệt, vấn đề mang tính cách hết sức đặc biệt, vượt ra khỏi các thủ tục thường lệ. Sau khi Đức TGM Kiệt cùng với giáo dân Hà Nội đứng lên đòi Hoà Bình và Công Lý thì các viên chức cao cấp của CSVN lồng lộn, phẫn nộ và dõng dạc công khai đòi Giáo Hội phải thuyên chuyển ngài ra khỏi chức vụ cai quản Tổng Giáo Phận Hà Nội ngay tức khắc. Mặc dù ai cũng biết HĐGMVN không có quyền hạn gì trong việc này, nhưng điều đó không có nghĩa rằng Toà Thánh không tham khảo ý kiến "mật" với tất cả hay một số Giám Mục VN. Và chính từ điểm "bí mật" này mà sự thật lại được "bật mí". Tức là có một số Giám Mục VN đã hỗ trợ lập trường của CSVN là phải thuyên chuyển Đức TGM Kiệt. Chính ở điểm này mà nguồn tin thứ nhất lại có cơ sở đáng tin.
Trước một tình huống bị anh em đồng hội đồng thuyền bỏ rơi, lại còn bị Toà Thánh hạch hỏi, bị Nhà Nước cho côn đồ quậy phá, Đức Tổng Kiệt đáng lẽ phải ngã bệnh nặng, có thể chết đi được, may mà ngài mới chỉ bị mất ngủ thôi.
Trong hai quan điểm trên, cái nào đúng, cái nào sai? Khi Giáo Hội làm việc bằng "chính đạo" thì lập trường hai là đúng. Nhưng khi Giáo Hội đã chia sẻ quyền lực với "bá đạo" rồi thì lập trường một không phải là không có lý. Giáo Hội khi để Satan lấn át thì việc "mua chuộc, đổi chác" có xảy ra cũng là lẽ thường tình, vì đó là chuyện "thế gian". Thế thì phải gian. Chuyện "vương đạo" rất dễ giữ kín, nhưng chuyện "bá đạo" đương nhiên phải có sự mặc cả, đổi chác và đi đêm. Đó là lý do tính cách bí mật không còn giữ được nữa.
Chẳng lẽ chuyện bang giao giữa Vatican và VN quan trọng đến nỗi Vatican để cho HĐGMVN rơi vào hoàn cảnh chia rẽ, tan nát thế này sao? Vatican hẳn phải tiên liệu những lộn xộn khó lường khi GM Nguyễn Văn Nhơn đặt chân đến Toà Giám Mục Hà Nội chứ. Chẳng lẽ bước chân của Đức Giáo Hoàng quá thần linh đến nỗi ngài đặt chân tới VN là lập tức VN có ngay tự do, dân chủ, để phải hy sinh Đức TGM Kiệt, khiến cho Giáo Hội VN bị mang tiếng với lịch sử là "lọt bẫy CS" hay sao?
Không ai muốn tin như vậy. Nhưng tin tức vẫn là tin tức. Thực tế vẫn là thực tế.
Hãy chờ những gì sắp xảy ra tại khuôn viên nhà thờ Hà Nội và Saigon trong những ngày sắp tới. Vatican có thể hối không kịp. HĐGMVN có thể khóc hết nước mắt. Chỉ có CSVN là cười cợt ngạo nghễ!
Ts. Trần An Bài

