Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Image



Lấy Lại Biển Đông Để Thấy Những Chân Trời
Lời : Kỳ Phong
Đọc : Phương Ca

Nhạc nền : Trả ta sông núi (Nguyệt Ánh) - Đến với quê hương tôi (Bùi Đức Thuần)






(Còn lại tim này thương phế
Và mùa xuân nửa địa cầu về trễ)



Lẽ ra những bờ biển quê hương
Phải xanh dài tít tắp
Lẽ ra những hòn đảo quê hương
Phải nườm nượp bóng dừa


Này em, hỡi em
Bao lâu nữa
Thủy triều trỗi sóng tình ca
Này anh, hỡi anh
Bao lâu nữa
Đoàn tàu trực tuyến Hoàng, Trường Sa


Hôm nay mưa mù, trời chớp lệ
Dải mây-thành xám ngoét
Hồn những con tàu váng vất biển đông


Đôi mắt 74, đôi mắt 75
Và bao đôi mắt ngư dân đã không còn thấy sáng
Bữa tiệc máu ngày qua ngày hoang đãng
Trên xác thân những còm cõi biết lê chân


Trắng ởn nanh, biệt thự giữa khung thành
Túi bạc quốc gia rơi riêng vào túi áo


Lẽ ra miền Trung, không ngại lo vì giông bão
Lẽ ra miền Bắc, không có những phố vẫy, phố liều
Lẽ ra miền Nam, dân oan không phải đớn đau kêu
Lẽ ra quân lực Việt Nam phải được vũ trang tối tân, hùng hậu lắm
Và lẽ ra Việt Nam đã là hàng đầu kinh tế


Và nếu tôi, em, không nhỏ lệ
Như mưa mù trời, như gió hôm nay
Ai đánh thức cơn say
Ai dậm chân để ồn ào đất tổ


Một Ngô Quyền bêu đầu Hoằng Thao nơi Bạch Đằng giang thuở đó
Một Nam Quốc Sơn Hà phá Tống bình Chiêm
Một Trần Thủ Độ sát quân Nguyên
Một lời khuyên của Nguyễn Phi Khanh
Mang giấc mộng Linh Quy Hoàn kiếm
Xương nam tiến Mãn Thanh sờ sờ gò Đống
Nhị Hà đỏ máu thiên thu


Hôm nay..
Biển Việt Nam không nhìn được ra xa
Sóng Việt Nam không bao la hải lý
Hơn 2 triệu vua quan lũ-loài bọn ấy
Càn khôn của báu
Vấy máu anh em


Trên ghế bạo quyền lại hò hét dân đen
Đứng đằng sau nghịt ngòm hố thẳm
Lại hô hào, lại gào bừng bừng khí thế
Và có lẽ lại đưa 77 triệu con người làm bia đỡ trên đầu


Đau lòng và mỉa mai thay trí tuệ đỉnh cao
Lặng nhìn lãnh thổ Việt lùi dần từ phương Bắc


Tổ tiên ơi nơi đâu là giặc
Tổ tiên ơi sông núi 4000 năm
Bờ phương đông sóng sẽ vỡ từng đêm
Từng đêm hận, mưa không nhiều bằng nước mắt


Hồn quê hương, tôi, anh, nào thất trách
Đất quê hương, em, nào biết dâng người
Máu Việt rồi sẽ đổ với trùng khơi
Cầm, thú đó xin một lần tan nát


Lập lại hào quang ngược về 200 xuân trước
Bóng cờ đào, áo vải phục Thăng Long
Khúc bình ca man mác dải sông Hồng
Giáp bạc liên hoan khét mùi thuốc súng


Biển đông ơi
Hãy cùng anh lồng lộng
Hãy cùng em giông bão đuổi xâm lăng
Nếu những kẻ tham lam quen hút máu dân
Hiểu được xác thân là tạm bợ
Và tất cả ….
Của quê hương từ viên đạn vỡ
Của quê hương từng giọt mồ hôi rơi


Đừng đảo điên với ý thức hệ giết người
Mọi rợ ấy lỗi thời và không bao giờ tồn tại
Nếu vô thần
Hãy cho hắn biết yêu quê hương là chính đạo
Nếu là dân Công Giáo
Xin Chúa thức tỉnh hắn địa ngục linh hồn
Nếu là con cháu Phật Chí Tôn
Xin vẽ cho hắn nẻo luân hồi nghiệp chướng


Biển đông, đôi mắt Việt Nam nhìn ra muôn hướng
Mười ngón tay dài với đến những chân trời
Đứng lên đi
Nào anh
Nào em
Nào tôi


Những gì của Việt Nam, hãy trả cho Việt Nam lần cuối
Máu sẽ đổ, đâu cần ai kêu gọi
Những gì của quê hương, xin để lại cho quê hương
Xác thân nào mãi mãi trường tồn
Nhưng dân tộc sẽ không bao giờ chết


Lạy mẹ già, một ngày con băng ra biển lớn
Con lạy cha, một buổi sáng chia ly
Kiên cường lên, em nhé người yêu
Gặp khốn khó cắn răng mà chịu đựng


Non sông Việt Nam trùng trùng vạn dặm
Bờ đại dương Việt Nam dải dải không ngơi
Tất cả chúng ta ơi
Lấy lại biển đông
Để thấy những chân trời



12/12/2007 18:08 PM

--------------------------------

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image


Lời Di Chúc của Vua Trần Nhân Tôn :


- "Các người chớ quên, chính nước lớn mới làm những điều bậy bạ, trái đạo. Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo. Cho nên cái họa lâu đời của ta là họa Trung Hoa. Chớ coi thường chuyện vụn vặt xảy ra trên biên ải.


Các việc trên, khiến ta nghĩ tới chuyện khác lớn hơn. Tức là họ không tôn trọng biên giới qui ước. Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp.Không thôn tính được ta, thì gậm nhấm ta.Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích.Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn:


"Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác". Ta cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu."

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Tuổi trẻ Việt Nam, học lịch sử để làm lịch sử
Trần Trung Đạo


Khi đem hai quần đảo vô cùng quan trọng của đất nước về chiến lược quân sự cũng như về tiềm năng kinh tế dâng hiến cho Trung Quốc để gọi là “bảo vệ tổ quốc” thì tổ quốc mà các giới lãnh đạo Đảng cần phải bảo vệ là tổ quốc nào?…”

Tôi còn nhớ rất rõ hình ảnh Sài Gòn những ngày cuối tháng Giêng ba mươi ba năm trước. Sau những trận hải chiến dữ dội chung quanh quần đảo Hoàng Sa để chống lại các lực lượng hải quân Trung Quốc đông hơn và mạnh hơn gấp nhiều lần, chiều 20 tháng 1 năm 1974, các đơn vị hải quân Việt Nam Cộng hoà đã buộc phải triệt thoái khỏi quần đảo Hoàng Sa, nơi tổ tiên chúng ta đã bao đời gìn giữ. Trong vùng biển mẹ thân yêu, từ đó đã nhuộm thêm máu của những người con ruột thịt. Các anh Ngụy Văn Thà, Nguyễn Thành Trí, Vũ Văn Bang, Ngô Chí Thành và nhiều thanh niên Việt Nam khác đã theo dấu chân của bao nhiêu anh hùng dân tộc mà đền nợ nước. Hoàng Sa rơi vào tay Trung Quốc.

Sài Gòn ngày tháng đó buồn như một đám ma. Những cụm mai vàng chào đón xuân sang không làm phai đi màu đen tang chế đang phủ trùm lên cả miền Nam. Những cuộc biểu tình rầm rộ từ Huế, Đà Nẵng, Sài Gòn, Cần Thơ không làm vơi đi nỗi buồn nhược tiểu trong lòng những người đang ưu tư cho vận nước. Những bản hùng ca xen lẫn với những tiếng kèn truy điệu của các chương trình phát thanh quân đội đã làm người dân rơi nước mắt xót thương cho số phận hẩm hiu của tổ quốc mình. Hạm đội thứ bảy hùng hậu của Mỹ khóa súng an toàn nhìn hải quân Trung Quốc đổ bộ Hoàng Sa, hai phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam từ chối lời kêu gọi của phái đoàn Việt Nam Cộng hoà tố cáo Trung Quốc xâm lăng. Đồng minh dửng dưng, đồng bào ngoảnh mặt. Có nỗi xót xa nào lớn hơn nỗi xót xa của số phận một tiền đồn và có vết thương tâm linh nào sâu hơn, đau hơn vết thương của một người mẹ bị bỏ rơi bởi chính những đứa con yêu quý của mình?

Chiều năm đó ngồi trong thư viện tôi có làm một bài thơ và viết một đoản văn. Tôi không còn nhớ bài thơ nhưng đoản văn tôi còn nhớ rất rõ, và sau này khi làm website xuQuang tôi có ghi lại trong phần tưởng niệm Hoàng Sa: “Mỗi người Việt Nam phải ghi khắc trong tim mình: Hoàng Sa là đảo Việt Nam, là biển Việt Nam, là đất Việt Nam. Ðất nước Việt Nam có khi thịnh khi suy, lịch sử Việt Nam có khi hưng khi phế, thế hệ hôm nay không giữ được Hoàng Sa nhưng không phải vì thế mà Hoàng Sa trở thành đất của Trung cộng bá quyền hay của bất cứ một quốc gia nào khác. Dân tộc Việt Nam, các thế hệ Việt Nam mai sau phải nhớ rằng: Bất cứ khi nào các điều kiện kinh tế, chính trị và quân sự cho phép, một trong những việc đầu tiên là phải lấy lại Hoàng Sa.”

Ba mươi ba năm sau. Cũng những ngày cuối năm, ngồi xem hình ảnh các cuộc biểu tình ở Hà Nội, đọc bản tin được viết vội vàng trên đường phố Sài Gòn, đọc danh sách của những người ký tên, trong đó đa số là tuổi trẻ, để phản đối Trung Quốc vi phạm lãnh thổ Việt Nam trên Internet, tôi vui mừng và cảm động. Trung Quốc không phải vì các cuộc biểu tình của các em mà trao trả lại Hoàng Sa, Trường Sa cho Việt Nam, nhưng chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến việc thực thi chính sách bá quyền của họ trên biển Đông. Để duy trì mức phát triển kinh tế hiện nay và chạy đua với các cường quốc kinh tế, Trung Quốc đang cần sự ổn định chính trị và kinh tế hơn bất cứ quốc gia nào khác trong vùng.

Nhìn các em tôi lại nhớ đến chính mình. Đường phố Sài Gòn, nơi các em đang đứng hôm nay cũng là nơi tôi đã đứng đọc từng tên của những người đã ở lại trong lòng biển cả. Khẩu hiệu “Hoàng Sa là của Việt Nam” cũng là khẩu hiệu mà sinh viên chúng tôi đã hô ba mươi ba năm trước. Chúng ta có thể còn vài điểm khác nhau nhưng có chung một tổ quốc. Đó là điều hệ trọng. Lòng yêu nước đã thúc giục các em vượt qua bức tường sợ hãi, bất chấp sự ngăn cản của Đảng, của nhà nước, của ban lãnh đạo trường để cùng xuống đường nói tiếng của một người Việt Nam khi tổ quốc lâm nguy. Lịch sử bao giờ cũng mang tính thời đại, và trang sử Việt Nam hôm nay đang được viết bởi các em, những người Việt Nam đang đứng trước toà đại sứ Trung Quốc ở Hà Nội, trước lãnh sự quán Trung Quốc ở Sài Gòn. Và cũng qua những biến cố lịch sử này, các em sẽ có cơ hội thấy những sự thật đắng cay, những bài học bẽ bàng mà từ trước đến nay đã bị che lấp bởi hệ thống tuyên truyền lừa dối của Đảng. Các em đang học lịch sử và đang làm lịch sử.

Trong các cuộc xung đột về lãnh thổ, bằng chứng và di tích lịch sử thì bên nào cũng có thể có nhưng văn kiện pháp lý được cả hai bên xung đột công nhận thì thường rất hiếm hoi. Tôi nhớ có đọc đâu đó một câu chuyện bên lề các cuộc đàm phán giữa Trung Quốc và Liên Xô về chủ quyền của các đảo Trân Bảo, Ẩn Long và Hắc Hạt Tử trong khu vực sông Ussuri. Theo câu chuyện này, mỗi lần có một cuộc họp giữa hai nước, phái đoàn Trung Quốc thường chở theo cả một toa xe lửa chứa đầy tài liệu và đồ vật để chứng minh chủ quyền Trung Quốc trên các đảo này. Trung Quốc là một nước đông dân, diện tích rộng, có nền văn minh phát triển rất sớm, có chiều dài lịch sử mấy ngàn năm, do đó, việc tổ tiên họ đã từng đến, từng đi đánh cá, từng đặt chân, từng mô tả trong văn chương thơ phú về các hòn đảo đó thì cũng không có gì là đáng ngạc nhiên. Những tài liệu phía Trung Quốc đưa ra hay vật dụng họ góp nhặt được dù bao nhiêu cũng không thuyết phục được Liên Xô về chủ quyền của Trung Quốc trên lãnh thổ đang bị tranh chấp. Sau hơn 20 năm đánh rồi đàm, một hiệp ước biên giới Nga - Hoa đã được ký kết lần đầu vào tháng 10 năm 1995 và lần nữa vào tháng 10 năm 2004. Theo nội dung hiệp ước, phần thắng nghiêng về phía Trung Quốc nhiều hơn. Trung Quốc được kiểm soát cả hai đảo Trân Bảo, Ẩn Long và một nửa Hắc Hạt Tử. Giả thiết hiệp ước này được ký kết vào năm 1969, với nội dung tương tự, có lẽ nhân dân Trung Quốc đã được nghỉ một tuần lễ để ăn mừng chiến thắng và ngày ký đã trở thành ngày lễ lớn của quốc gia. Nhưng hiệp ước ký kết vào tháng 10 năm 2004 trôi qua gần như trong âm thầm. Cả Trung Quốc và Nga đều biết, ngay từ trong căn bản, lý do chính của xung đột không phải là lãnh thổ mà là sự tranh chấp quyền lực, uy thế của hai nước cộng sản đàn anh trong phong trào cộng sản quốc tế. Về phía Nga, sau khi Liên Xô sụp đổ, họ cần sự ổn định để phục hồi nền kinh tế gần như bị phá sản, và do đó sự xung đột chủ quyền trên các đảo vốn không chứng tỏ một tiềm năng kinh tế nào đã không còn lý do để kéo dài thêm.


Việc xung đột lãnh thổ với Việt Nam thì khác. Để chứng minh chủ quyền của Trung Quốc trên Hoàng Sa và Trường Sa, chính quyền Trung Quốc không cần phải chở một toa xe lửa tài liệu hay bằng chứng nào cả. Những lời tuyên bố của phát ngôn viên chính phủ Trung Quốc dù nói vòng vo từ chuyện đời xưa đến đời nay cho có lệ, cuối cùng cũng chỉ rút trong túi ra một văn kiện khá mới mẻ, rất hợp pháp, dài vỏn vẹn 121 chữ tính cả phần chào hỏi nhưng lại đầy thuyết phục, đó là công hàm của Thủ tướng chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Phạm Văn Đồng. Nội dung chính của công hàm: “Thưa đồng chí Tổng lý. Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Chính phủ nước cộng hoà nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc. Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa trên mặt bể. Chúng tôi xin gửi đồng chí Tổng lý lời chào trân trọng”.

Khi đọc bản tuyên bố này lần đầu cách đây khá lâu thú thật tôi không tin đó là văn bản thật mà là tài liệu giả mạo do Trung Quốc viết hay chỉ là sản phẩm tuyên truyền của một tổ chức chống cộng nào đó dựng lên để bêu xấu Đảng. Hai tiếng Hoàng Sa và Trường Sa thân thương quen thuộc từ bao đời là một phần của ngôn ngữ Việt Nam như hai quần đảo vẫn được xem là phần da thịt, máu xương bất khả phân ly của thân thể Việt Nam.

Các chính phủ Trung Quốc, Philippines, Malaysia có quyền không công nhận Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam hay hoàn toàn của Việt Nam. Nhân dân Trung Quốc, Philippines, Malaysia, Đài Loan, Brunei cũng có thể cho rằng Trường Sa là đất của họ. Tình cảm đất nước là một tình cảm thiêng liêng nhưng cũng ít nhiều bảo thủ mà dân tộc nào cũng có. Tình cảm đó cũng cần được xem xét và tôn trọng. Các quốc gia tranh chấp phải giới thiệu các bằng chứng lịch sử, các văn kiện pháp lý trong một hội nghị quốc tế đa phương để thương thảo và tìm một giải pháp phù hợp với công pháp quốc tế cũng như quyền lợi của các nước trong vùng tranh chấp. Những hòn đảo không người ở, những triền đá nhọn nhô lên giữa đại dương mênh mông từ mấy ngàn năm, trong thời đại dầu hoả bỗng trở thành quan trọng, việc xung đột vì thế là điều khó tránh, tuy nhiên, sự kiện một ông thủ tướng Việt Nam nhân danh nước Việt Nam để công nhận hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Quốc mà không cần phải đưa ra trước quốc hội để biểu quyết, không cần tranh luận, hội họp, không cần phải bắn nhau một viên đạn nào, quả là một việc không thể nào tin được và đương nhiên cũng không thể nào chấp nhận được.

Văn bản do ông Phạm Văn Đồng ký là một vết nhơ trong lịch sử dân tộc và tên tuổi ông Phạm Văn Đồng cũng sẽ dơ như chữ ký của ông. Tuy nhiên, thật bất công nếu chỉ đổ tội lên một mình ông Phạm Văn Đồng. Trong cương vị Thủ tướng, ông phải là người ký công hàm gởi cho Chu Ân Lai, Thủ tướng Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, nhưng ông Phạm Văn Đồng không phải là người tự quyết định mà chỉ thừa hành quyết định chung của Bộ Chính trị Trung ương Đảng. Vào thời điểm tháng 9 năm 1958, những người sau đây phải chịu trách nhiệm cho việc triều cống hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc, và danh sách của họ được sắp xếp theo thứ tự trong Bộ Chính trị Đại hội lần II năm 1951 cũng như được bổ túc trong những năm sau đó: Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Chí Thanh, Lê Đức Thọ, Phạm Hùng, Nguyễn Duy Trinh, Lê Thanh Nghị, Hoàng Văn Hoan.

Tại sao họ đã làm như thế? Họ bị áp lực của Trung Quốc? Không. Không có một tối hậu thư nào của nhà cầm quyền Trung Quốc buộc Việt Nam phải thừa nhận Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Trung Quốc, nếu không họ sẽ dùng võ lực để tiến chiếm hai quần đảo, vượt biên giới Lạng Sơn hay đổ bộ lên Hải Phòng. Cho dù có tối hậu thư đi nữa thì cũng không phải lần đầu Việt Nam nhận tối hậu thư của quân xâm lược. Trước đây, các vua Lý, vua Trần đã nhận và mới đây Hoàng Diệu, Nguyễn Tri Phương đã nhận, và các anh hùng dân tộc đã chọn chiến đấu tới cùng và đã chết trên nắm đất của tổ tiên thay vì dâng thành cho giặc.

Trên thế giới chưa có một cuộc phân định biên giới nào giữa hai quốc gia mà không phải trải qua những hội nghị, những cuộc thảo luận, đo đạc cần thiết về các giới hạn trên biển cả cũng như lằn ranh trên đất liền. Trong các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đất là quan trọng nhất. Câu “tấc đất tấc vàng” không chỉ đúng cho trường hợp một nước đất hẹp người đông như Việt Nam mà đúng cho bất cứ quốc gia nào trên thế giới. Hãy lấy trường hợp Bắc Hàn làm ví dụ. Nếu theo dõi các hội nghị về biên giới giữa Trung Quốc và Bắc Hàn chúng ta có thể nghĩ rằng Trung Quốc muốn gì chắc là được nấy, muốn vẽ biên giới đâu thì vẽ. Không. Bắc Hàn tự cô lập khỏi thế giới giới văn minh, trong nhiều năm đã lệ thuộc vào Trung Quốc không những chính trị, ngoại giao mà cả từng chén cơm manh áo, nhưng họ nhất định không nhượng cho Trung Quốc một tấc đất nào qua các hội nghị về đường biên giới dài 1416 kilomét giữa hai nước. Mặc dù cai trị đất nước bằng một lý thuyết ngu dân hoang tưởng, bằng một chính sách độc tài sắt máu bị phần lớn nhân loại rẻ khinh, xa lánh, cha con Kim Nhật Thành ít ra có một điểm đáng khen mà giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam không có, đó là quyết tâm giữ đất của tổ tiên họ để lại.

Nhiệt tình cao độ của giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam chắc đã làm không chỉ Mao mà cả Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc phải ngạc nhiên hết sức. Tôi tin bộ chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc hẳn đã tốn rất nhiều thời gian, tổ chức nhiều phiên họp tìm hiểu, phân tích, đánh giá nội dung công hàm của ông Phạm Văn Đồng để xem phía Việt Nam có ẩn ý gì trong 121 chữ đó không, chẳng lẽ Việt Nam tự nguyện dâng hai quần đảo một cách dễ dàng như thế. Không, không có ẩn ý, âm mưu nào cả ngoài việc chứng tỏ lòng trung thành tuyệt đối của Đảng Cộng sản Việt Nam với Mao Trạch Đông và Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Cấp lãnh đạo Trung ương Đảng thời đó còn lo ngại đàn anh Trung Quốc không tin vào lòng dạ chí thành của mình nên đã cho đăng toàn bộ nội dung công hàm trên báo Nhân dân ngày 22 tháng 9 năm 1958 để toàn Đảng, toàn dân và toàn thế giới biết hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ nay không còn là của Việt Nam nữa. Không giống như hiệp ước biên giới Việt Trung vào các năm 1999 và năm 2000 được ký kết lén lút đến mức ngay cả những ông bà đại biểu quốc hội khi đưa tay phê chuẩn cũng không biết nội dung hiệp ước nói gì, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, qua công hàm 1958, chẳng những “ghi nhận”, “tán thành” mà còn chỉ thị cho các cấp “triệt để tôn trọng” hải phận 12 hải lý kể từ đất liền của lục địa Trung Hoa, có đính kèm luôn bản đồ về đường ranh giới lãnh hải, bao gồm cả Hoàng Sa lẫn Trường Sa.

Tại sao họ đã làm như thế? Họ không rành lịch sử Việt Nam? Chẳng lẽ họ chưa thấm thía câu “Đồng trụ chiết, Giao chỉ diệt” và không cảm thông cho sự chịu đựng vô bờ bến của tổ tiên suốt một ngàn năm qua bốn lần Bắc thuộc, phải xuống biển tìm ngọc trai, lên non tìm sừng tê, ngà voi, bạc vàng châu báu hay sao? Tôi không nghĩ vậy, vì ít nhất trong số 11 ủy viên Bộ Chính trị thời đó cũng có một người đã từng dạy sử. Họ làm thế chỉ vì niềm tin tuyệt đối vào chủ nghĩa cộng sản. Niềm tin mù quáng vào một xã hội đại đồng đã làm giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam nghĩ rằng Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai và những người cộng sản Trung Quốc mà họ đang thần phục là những bậc thánh hiền chứ không phải là giống dân đã hàng ngàn năm đày đoạ tổ tiên Việt Nam. Nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Mạnh Cầm đã thú nhận sự lệ thuộc vào Trung Quốc hay đúng hơn là quan hệ chủ tớ này trong một cuộc họp báo tại Hà Nội ngày 2 tháng 12 năm 1992 và được Thông tấn xã Việt Nam loan ngày 3 tháng 12 năm 1992: “Tình hữu nghị Việt - Trung đang thắm thiết và hai nước hoàn toàn tin cậy lẫn nhau. Việt Nam xem Trung Quốc là một nguồn hỗ trợ to lớn và giá trị. Trong tinh thần đấy thì do tình thế cấp bách, quan điểm của lãnh đạo ta (tức ủng hộ Trung Quốc công bố chủ quyền của họ trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa) là cần thiết vì nó phục vụ cho cuộc chiến bảo vệ tổ quốc.” Cuộc chiến bảo vệ tổ quốc mà ông Nguyễn Mạnh Cầm nhắc trong buổi họp báo nêu trên, tương tự như khi ông Phạm Văn Đồng trả lời báo Far Eastern Economic Review tháng 3, 1979 hay hầu hết các lãnh đạo Đảng khác đã nhiều lần viện dẫn là “cuộc chiến chống Mỹ cứu nước”, thế nhưng, năm 1958, ngoại trừ một số ít nhân viên thuộc Nhóm Cố vấn Quân sự (Military Assistance Advisory Group), làm gì có quân Mỹ để mà chống?

Tại sao họ đã làm như thế? Khi đem hai quần đảo vô cùng quan trọng của đất nước về chiến lược quân sự cũng như về tiềm năng kinh tế dâng hiến cho Trung Quốc để gọi là “bảo vệ tổ quốc” thì tổ quốc mà các giới lãnh đạo Đảng cần phải bảo vệ là tổ quốc nào? Như giải thích trong hầu hết tài liệu học tập, giáo trình trung, đại học tại Việt Nam, người cộng sản không có tổ quốc theo nghĩa thông thường mà chúng ta thường hiểu. Khái niệm tổ quốc đối với giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ đơn thuần là dải giang sơn từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau mà bao nhiêu thế hệ tiền nhân đã dày công gìn giữ, không phải chỉ gồm 40 triệu người ngày đó hay 80 triệu người ngày nay có cùng huyết thống, cùng một ngôn ngữ, cùng một lịch sử, mà phải là tổ quốc xã hội chủ nghĩa, một đất nước bị thống trị trong bàn tay sắt của Đảng Cộng sản. Mục đích của Đảng như đã đề ra trong Đại hội Đảng lần thứ II tại Tuyên Quang bao gồm giai đoạn từ 1951 đến 1960: “Giải phóng hoàn toàn miền Bắc, tạo tiền đề vững chắc để tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam.” Năm 1958, một nửa nước chưa trở thành chủ nghĩa xã hội và do đó mục đích của Đảng chưa hoàn thành. Để thôn tính miền Nam và hoàn thành mục đích cộng sản hóa cả nước, họ cần súng đạn của Liên Xô và Trung Quốc. Hoàng Sa và Trường Sa là giá mà giới lãnh đạo Đảng phải ứng trước để đổi lấy nhiều vạn trái mìn, mấy trăm ngàn khẩu AK, mấy ngàn chiếc tăng đủ loại để đem về cày xéo lên các thành phố miền Nam, đốt cháy thôn làng miền Nam và tàn sát nhiều triệu dân miền Nam vô tội.

Tuổi trẻ phải làm gì?

Đứng trước sự phân hóa, chia rẽ do hậu quả của mấy trăm năm phong kiến, đế quốc thực dân và cộng sản, chọn lựa duy nhất của thế hệ trẻ Việt Nam ngày nay là đoàn kết và vượt qua mọi thử thách để đoàn kết thành một khối đúng như khẩu hiệu “Ta là một” mà các em đang phát động trong nước. Lịch sử như một dòng sông. Dòng sông Việt Nam vẫn chảy dù phải băng qua bao nhiêu ghềnh đá cheo leo. Tương tự, các thế hệ Việt Nam lớn lên và vẫn phải tiếp tục nhận lãnh trách nhiệm lịch sử của thế hệ mình. Tuổi trẻ Việt Nam ngày nay không cần một ngọn hải đăng của bất cứ cường quốc nào để rọi sáng đêm tối trời dân tộc, nhưng ngay từ trong lòng họ đã bùng cháy lên ngọn đèn tự chủ được thắp sáng bằng tâm thức Việt Nam. Tuổi trẻ Việt Nam ngày nay không cần chờ đợi một minh quân ra đời hay một lãnh tụ xuất hiện để dẫn dắt họ trên đường cứu nước bởi vì chính họ sẽ là những minh quân của thời đại và con đường dẫn đến điểm hẹn lịch sử được soi sáng bằng trí tuệ Việt Nam. Tuổi trẻ Việt Nam ngày nay không cần vay mượn một chủ nghĩa, một ý thức hệ, một lý thuyết ngoại lai nào làm kim chỉ nam để giải phóng dân tộc, bởi vì chính họ đã được trang bị bằng các đặc tính dân tộc, nhân bản và khai phóng kết tinh và kế thừa từ hơn bốn ngàn năm lịch sử.

Lãnh đạo Đảng đã, đang và chắc sẽ làm tất cả những gì họ có thể làm để ngăn cản các cuộc biểu tình dù ôn hoà và bất bạo động của tuổi trẻ Việt Nam. Tuần trước họ ra chỉ thị cấm biểu tình, tuần này họ chụp mũ các em chống phá trật tự xã hội, tuần sau họ sẽ đem xe chữa lửa đến đàn áp và tuần sau nữa có thể trục xuất khỏi trường, bắt giam, kết án, tù đày. Tuy nhiên, lịch sử đã nhiều lần chứng minh, khi một chế độ chỉ còn trông cậy vào các phương tiện bạo lực trấn áp để tồn tại, chỉ còn biết sử dụng bộ máy công an kềm kệp để duy trì quyền cai trị, ngày tàn của chế độ đó chỉ là vấn đề thời gian. Hành động tuyệt vọng của Nicolae Ceausescu khi ra lệnh công an bắn vào cuộc biểu tình của nhân dân Rumania sáng ngày 17 tháng 12 năm 1989 chỉ để dẫn đến bản án tử hình dành cho vợ chồng ông ta một tuần sau đó. Lãnh tụ cộng sản Slobodan Milosevic một thời là tổng thống Serbia đầy quyền lực nắm trọn quyền sinh sát trong tay, cuối cùng cũng phải chết trong tù. Erich Honecker hung thần Đông Đức, Idi Amin đao thủ phủ của Uganda hay Mobuto bạo chúa của Uganda đều đã gởi tấm thân tàn trên đất khách, để lại tiếng xấu muôn đời. Nếu giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam còn nghĩ đến tương lai của chính họ và còn biết lo cho tương lai của đất nước, họ phải chọn đứng về phía dân tộc.

Con đường duy nhất để đạt đến một tương lai tự do, dân chủ, nhân bản và thịnh vượng là con đường dân tộc và cũng chỉ có một Việt Nam tự do, dân chủ, nhân bản và thịnh vượng thì các thế hệ Việt Nam mai sau mới có cơ may giành lại được Hoàng Sa và Trường Sa.

Nguồn: © 2007 talawas

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

HỒI CHUÔNG GIÁNG SINH

Trần Thị Lai Hồng
Chuyện có thực xẩy ra năm 1964 tại Ba Lan, quốc gia Trung Âu trong thời kỳ cộng sản Liên Xô thống trị - từ 1952 đến 1989. Nhân dân Ba Lan đã can đảm đứng lên phản đối chế độ hà khắc của xã hội chủ nghĩa, bằng những cuộc đình công đại quy mô do Công đoàn Đoàn kết hướng dẫn. Hơn thế nữa, nhân dân Ba Lan còn bày tỏ chống đối bằng cách bỏ phiếu thầm lặng với những bàn chân di tản – tuy không rầm rộ ào ạt như những đợt di tản hàng triệu người Việt Nam năm 1954 và sau 30 tháng Tư năm 1975 – nhưng âm thầm tiếp nối không dứt, tìm cách vượt thoát vòng vây hàng hàng lớp lớp rào kẽm gai bao quanh biên giới, để lọt sang các quốc gia Tây Âu tìm tự do.

Tuy khung cảnh có khác nhưng tình tiết cũng quen thuộc như xẩy ra đâu đó sau những lũy tre xanh quanh những dòng sông êm đềm làng cũ Bùi Chu Phát Diệm Hố Nai Quỳnh Lưu Diễn Châu …

Hồi Chuông Giáng Sinh gửi đến mọi người tỵ nạn nói chung và đồng bào tỵ nạn Việt Nam nói riêng, những tình cảm sâu đậm cùng những lời chúc lành trong lễ Giáng Sinh và Năm Mới, với ước vọng có ngày sớm được nghe tiếng chuông tự do ngân vang trên khắp quê hương ngàn đời yêu quý.

* * *

Họ lũ lượt kéo nhau đi cả mấy tuần nay. Đoàn lữ hành gồm đủ trẻ già lớn bé. Họ là dân làng Pinsk, một làng nhỏ phía Đông Ba Lan.

Ba Lan vốn là một quốc gia tự do, dân chúng hầu hết là tín đồ Công giáo, chất phác, hiền lành. Khi Liên Xô khởi động cách mạng vô sản, Ba Lan rơi vào bàn tay sắt đá của Cộng sản vô thần, và chịu đàn áp của Nhà Nước bù nhìn do Liên Xô xách động. Chiến tranh thật tàn nhẫn, nhưng hòa bình chẳng mang lại gì hơn ngoài những gọng kìm ngày một siết chặt vào cổ họng dân lành.

Đêm buốt lạnh. Dọc theo quốc lộ, những bụi cây tuyết phủ trắng xóa gập mình như những ông già bà cả tóc trắng oằn người dưới gánh nặng thời gian và trách nhiệm.

Một vì sao bừng sáng xé màn đêm đen. Vì sao sáng lơ lửng cuối đường như dẫn lối. Rồi nhiều vì sao vụt bừng khắp bầu trời. Đoàn lữ hành vẫn cắm cúi còng lưng trên tuyết, không nhìn thấy những vì sao long lanh trên cao. Với họ, những người tìm tự do từng lang thang chịu đựng bao đau khổ nhục nhằn, thì năm tháng, thời gian, mùa màng, thời tiết … chẳng còn có nghĩa gì nữa.

- Còn xa không anh?

Đó là câu hỏi của Kasia. Con bé khoảng sáu tuổi, kéo tay thằng anh khoảng mười lăm. Cả hai đứa ở mãi tít đằng đuôi đoàn người dài ngoằn ngoèo. Kuba nhìn em:

- Không xa lắm. Có một làng gần đây và mình sẽ xin qua đêm ở đó. Ngày mai sẽ đến nơi hẹn.

- Tới Kopernik?

- Ừ, Kopernik. Kasia, cứ nghĩ là sẽ gặp má, ba và anh Jan ở đó đang đợi anh em mình.

- Còn ông nội?

- Ừ, gặp ông nội nữa!

Kuba xoa hai tay, hớn hở:

- Dám ông nội đang kéo chuông đổ hồi tại nhà thờ để mừng Giáng Sinh rồi! Anh nhớ hồi còn ở làng Pinsk, ông nội từng kéo chuông. Thần tình! Tuyệt diệu!

Trong đầu Kuba, hình ảnh ông già hiện ra. Ông nội, người chuyên việc kéo chuông giáo đường. Ông kéo chuông với tất cả say mê thần thánh, say sưa truyền sinh lực sung mãn, đức tin cao cả, lòng tôn kính vô bờ phát xuất từ thể xác, tâm hồn và trái tim. Hai cánh tay ông nâng niu đong đưa sợi giây huyền bí thòng từ vòm gác chuông, nhịp nhàng tuôn chảy những hồi chuông ngân nga vang động từ đầu làng đến cuối thôn. Từ thời còn trai tráng lực lưỡng cho đến nay trở thành một ông già tóc bạc lưng còng, ông sống với những hồi chuông giáo đường trong thời Ba Lan tự do. Những hồi chuông xưa vẫn âm vang trong tâm hồn Kuba.

Khi chúng bắt cha của Kuba đem giam trại cải tạo và mẹ em phải sung vào đoàn lao động công trường mỏ than, chính ông nội là người săn sóc ba đứa cháu. Nhưng khi chúng đến làng Pinsk xua dân đi Siberia, gia đình này ly tán lần nữa. Và lần này ông nội phải lìa đám trẻ.

Ông bị đưa đi hơn hai tháng nay, nhưng đã nhắn lại cho cả gia đình tìm cách vượt thoát đến làng Kopernik sát biên giới, để đoàn tụ và vượt biên.

Gần nửa đêm. Kuba chạy trước, tiến về phía một căn nhà trong làng. Vừa đến gần, Kuba thất vọng quay nhìn em, la lên:

- Kasia! Nhà này sập rồi!

Chạy sang căn kế, mái đổ tường xiêu dưới ánh sao. Căn thứ ba cũng vậy. Tim Kuba thắt lại. Mắt ngấn lệ. Tuy nhiên, nó vẫn cố sục sạo.

Quang cảnh khác hẳn ngày xưa.

Ngày xưa, những khung cửa sổ đó tỏa sáng ánh đèn ấm áp. Bên trong là cảnh gia đình quây quần đoàn tụ, người lớn hớn hở vui cười chuyện trò, trẻ con reo hò đùa bỡn, và chó sủa rân khi có người đến. Ngày nay, những khung cửa sổ đó xiêu vẹo, tối tăm, lạnh lùng.

Nhưng rồi Kuba cũng tìm được một căn nhà xào xạc tiếng người, dù thì thầm. Kuba gọi Kasia. Hai đứa tiến lại gần, Cửa đóng. Bên ngoài lại còn một tấm ván lớn chặn lại, đóng đinh chắc nịch. Kuba nắm tay đập mạnh vào tấm ván, gọi to:

- Có ai trong nhà không?

Không có tiếng trả lời. Những tiếng thì thầm bặt tắt. Kuba lại đập tấm ván lần nữa. Một giọng khô khan gắt gỏng vang ra:

- Hết chỗ rồi! Đi đi!

Bất chấp lời từ chối, Kuba cúi mình lách qua tấm ván, chui vào nhà, tay kéo Kasia:

- Xin các bác làm phước, em cháu lạnh cóng. Xin các bác cho em cháu vào.

- Được rồi! Bây vô đây cho ấm. Nhưng đứng một tí thôi. Không có chỗ cho bây đâu!

Cánh cửa bên trong mở bật. Già trẻ lớn bé chen chúc chật chội, kẻ đứng người ngồi, kẻ nằm người dựa. La liệt. Hỗn độn. Sát sạt .

Cuối phòng có lò sưởi với vài thanh củi đang cháy. Ánh lửa soi rõ những khuôn mặt hốc hác nhăn nheo với những đường cày trên trán, trên má, quanh môi. Những khuôn mặt tiều tụy, héo hắt, mệt nhọc, kiệt quệ vì đói khát và lạnh lẽo. Những khuôn mặt khô cằn khó đăm đăm như không phải là những khuôn mặt của con người nữa. Những vết hằn héo hắt khắc sâu, xóa sạch mọi đường nét biểu lộ tình cảm, và hầu như chỉ để lại một điểm vị kỷ trên mặt.

Ngày lại ngày, kể từ khi Hồng quân Nga tràn vào Ba Lan, đám dân lành trải qua hết đại nạn này đến đại nạn khác, chịu đựng hết đọa đày này đến khổ ải kia, nhục nhằn dưới áp bức này đến tàn bạo nọ. Thời gian qua, họ nay là những người lưu lạc không nhà cửa chẳng của cải. Chỉ có đói khát, rách nát, bệnh tật. Nhân tính hầu như bị những đau khổ thể xác và nhục nhằn tinh thần lấn áp, đè bẹp. Họ trở thành bất nhân, vị kỷ, hầu như tàn nhẫn vì những khao khát dồn nén.



Người đàn ông đã lên tiếng cho hai anh em Kuba vào, đẩy Kasia đến gần lò sưởi:

- Tới sưởi ấm một tí rồi đi. Không còn chỗ cho tụi bây.

Con bé run rẩy bò qua đám người. Mắt chạm phải những tia nhìn vô cảm, lạnh lùng, không chút thương hại. Kuba đứng gần cửa nhìn vào. Trông đám người cùng tiều tụy như nhau, nhưng mỗi người có dáng điệu khác nhau.



Cạnh một lão ăn mày rách rưới là một ông già áo quần khá lành lặn đang bẻ từng mẩu bánh mì khô nhấm nháp. Ông chẳng có ý chia sẻ, dù lão ăn mày cứ thèm thuồng liếc nhìn mẩu bánh. Phía trái lão ăn mày là một bà sồn sồn khoác chiếc áo choàng rộng, trong khi có con bé khoảng bốn tuổi nằm kề, co ro lẩy bẩy trong manh áo cũn cỡn, quần chỉ còn một ống và đôi giày vải đẫm tuyết. Cạnh con bé là một bà đứng tuổi tay nghiêng hộp sữa đặc dốc vào mồm, trong khi cách đó chẳng bao xa có bà mẹ trẻ cố dỗ đứa con nhỏ khóc dằng dặc rúc đầu vào ngực mẹ tìm bú nhưng mẹ chẳng còn sữa cho con. Ngay dưới chân Kuba, một con chó còm cõi trơ xương lông lá tơi tả nằm cuộn tròn, chốc chốc lại rên ư ử.

Tất cả người và vật đều đói và lạnh.



Khi Kasia đã đỡ lạnh, hai anh em ngỏ lời cảm ơn đám người và dẫn nhau đi tìm căn nhà khác. Nơi nào cũng ngập người lưu lạc. Không ai muốn thêm người chen vào. Hai anh

em lang thang trong đêm.

Cuối cùng, chúng lần mò đến một nơi có vẻ là một căn gác cao, đỉnh vuông nổi bật cạnh vì sao sáng trên nền trời.

Len lỏi qua đống gỗ trần nhà sập chồng chất, Kuba hy vọng tìm được nơi tạm trú. Thằng bé lên tiếng nhưng chẳng ai trả lời,

- Kasia! Lại đây! Chắc mình có thể ở qua đêm chỗ này!



Vừa nói, Kuba vừa lục tìm hộp diêm, quẹt lên. Ánh sáng leo lét soi cảnh gác chuông giáo đường nhỏ bỏ hoang. Sát tường là bệ kê bồn nước thánh cạnh những bậc thềm long lở dẫn lối vào bên trong cung thánh, và bên kia là một lối đi nhỏ dẫn lên gác chuông.

May thay. Lò sưởi phía góc kia chưa sụp. Đây hẳn là nơi ngày xưa giáo dân đến sưởi ấm trước giờ xem lễ, sau khi lội quãng đường đầy tuyết lạnh từ nhà. Kuba reo lên:

- Kaisa! Mình có nơi trú đêm rồi! Lại coi! Có vô số gỗ vụn. Anh sẽ đốt lò sưởi.

Kuba nhặt những thanh gỗ chất vào lò, đánh diêm châm. Một ngọn lửa nhỏ bắt cháy, bừng sáng giữa đám khói đen, như mang nguồn sống và niềm tin lại trong lòng thằng bé.



Nó reo lên:

- Kaisa! Lại đây!

Vừa reo, Kuba lùi lại để kéo em. Chân nó bỗng chạm một khối mềm. Cố bước qua khỏi nhưng chân vẫn dẫm lên khối mềm đó. Kuba goi em:

- Kasia! Coi chừng!

Kuba cúi sát trên nền xi măng loang lổ rồi đứng phắt dậy, la lên:

- Kasia! Có người nằm đây nè! Một ông già! Chẳng lẽ … ô, không, ông cụ còn sống! Tại lạnh quá nên ông cụ tê cóng nằm bệt. Lại đây mau lên! Giúp anh kéo ông cụ gần lò sưởi coi!



Kuba cởi áo ngoài trải lên nền nhà, đặt ông già nằm lên. Kasia cũng cởi khăn quàng đắp lên người ông. Hai anh em quỳ xuống hối hả thoa bóp, chà xát tay chân ông già. Kuba chà mạnh lên hai má và hai bên đầu để máu luân lưu. Ông già nằm quay đầu về phía bóng tối, chân duỗi dài gần lò sưởi, bất động. Hẳn ông là một trong đoàn lữ hành tìm đường vượt biên, kiệt lực khi đến nơi này.

- May mà ông cụ ráng tới được căn gác chuông này trước khi gục ngoài kia. Nếu gục dưới tuyết, chắc ông cụ chết rồi còn gì! Em kiếm cái gì đưa ông cụ dùng đi! Chắc ông cụ đói lắm!

Kasia lục tìm được vài mẩu bánh khô, mấy miếng thịt sấy và vài hạt đậu khô. Kuba mở giây nịt tháo chiếc ca nhôm, chạy ra xúc đầy tuyết, cho mấy hạt đậu vào, đặt lên đống lửa đang cháy. Tuyết tan nhanh, và không bao lâu, nước sôi. Những hạt đậu nhào lộn trong ca nước, phút chốc nở bung về hình dáng cũ. Kuba xoa tay:

- Có lửa ấm nè, có ánh sáng nè, lại còn đồ ăn nữa! Mình còn khá hơn mấy người kia nhiều! Chỗ này ngủ lại được quá! Ồ, xem ông cụ ra sao nào!

Ngay lúc đó, Kasia kêu lên:

- Anh ơi! Coi nè!

Giọng con bé run run khác lạ. Kuba nhẩy bổ lại. Hai đứa chụm đầu nhìn. Qua ánh sáng leo lét chiếu hắt từ lò sưởi, hai anh em thấy tuyết bám quanh râu tóc ông già tan ra, khuôn mặt dần lộ vẻ sinh động. Kuba hối hả nâng đầu ông, kéo vạt áo lau râu tóc. Giọng em lạc đi:

- Trông ông cụ giống ông nội quá! Ông sắp tỉnh rồi!

Lửa trong lò bỗng bùng cao. Kasia la to:

- Anh ơi! Coi nè!

Tiếng la đứt nghẹn. Kasia phủ phục quỳ xuống ôm ông già trong hai cánh tay bé nhỏ, vai rung lên, thổn thức, nức nở:

- Ông nội đây mà! Ông nội! Ông nội ơi! Tụi cháu đây nè!

Ông già từ từ hé mắt, hấp háy vì ánh lửa hắt ra, rồi chăm chú nhìn hai khuôn mặt trẻ thơ nghiêng kề mặt ông. Kasia reo mừng:

- Ông nội nhìn ra tụi mình rồi! Ông nội tỉnh rồi!

Con bé lại nức nở bệu bạo vừa khóc vừa mếu máo cười vừa ôm siết đầu ông trong tay:

- Ông nội ơi! Con mừng quá!

Đôi môi ông già run run mấp máy nhưng không phát thành tiếng. Ông thở dốc. Cố hít mạnh vài hơi, ông thều thào:

- Chuông … Chuông …

Ông trở mình, nặng nhọc chống tay ráng ngồi dậy, tay kia run rẩy chỉ lên trần nhà.

Kasia rối rít kéo ông cụ nằm xuống, hôn tới tấp vào đầu vào tóc vào râu vào má:

- Ông nội nói chi tụi cháu không hiểu. Ở đây không có chuông đâu! Không có!

Ông già gật đầu. Mắt hướng lên trần nhà. Ông ráng nói, và lần này bật ra tiếng lớn:

- Chuông! Giáng Sinh!

Hai đứa trẻ ngây người nhìn nhau. Kuba bật lên:

- Lạy Chúa! Kasia! Đúng rồi! Giáng Sinh! Bao nhiêu thứ dồn dập làm mình quên! Giáng Sinh! Giáng Sinh! Đúng rồi! Đêm nay là đêm trước lễ Giáng Sinh!


Hai anh em quay nhìn ông già. Cả hai chợt hiểu, và cùng lúc, lòng dâng lên niềm hân hoan chen nỗi xót xa. Hân hoan vì Giáng Sinh đối với chúng vẫn mang ý nghĩa đầm ấm huy hoàng của gia đình đoàn tụ. Xót xa vì cảnh tan đàn xẻ nghé mỗi người một ngả. Chúng còn xót xa hơn vì biết ông nội vốn là người rất ngoan đạo, luôn luôn mừng Giáng Sinh với những hồi chuông ngân nga vang động do ông điều khiển với tất cả say mê thần thánh. Đối với ông, hồi chuông nửa đêm mừng Chúa giáng sinh không thể thiếu vắng. Ông đã kéo chuông Giáng Sinh suốt đời với tất cả sinh lực trong người, với tất cả tin yêu tôn kính từ trái tim thuần khiết, từ tâm hồn thanh sạch. Không có chuông Giáng Sinh là một sự thiếu vắng, một xúc phạm bất kính đối với Đấng Cứu Thế đã ra đời chuộc tội cho nhân loại, và tội thiếu vắng đó không thể tha thứ được.

Ôi! Những hồi chuông từng ngân nga vang động! Những hồi chuông Giáng Sinh của những năm qua! Ông cụ từng nâng niu đong đưa sợi giây huyền bí thòng từ vòm giáo đường, nhịp nhàng uyển chuyển kéo đẩy đưa hồi chuông ngân nga vang động từ đầu làng đến cuối thôn. Tiếng chuông thánh thót ngân rõ từng giọt nhạc huyền diệu, âm ba chuyển động trong không gian tĩnh lặng giữa đêm Đông tuyết lạnh, loan truyền nguồn tin yêu sưởi ấm lòng người. Ông cụ đã đặt hết tâm hồn vào sợi giây huyền bí, điều động hệ thống giàn chuông trên cao ngân nga bài Through Night’s Dark Shadow/ Xuyên Bóng Đêm Tối, bài thánh ca bất hủ nằm lòng trong hàng chục triệu trái tim nhân dân Ba Lan. Bài thánh ca gây xúc động lòng ngoan đạo của người Ba Lan, không kém gì bản quốc ca khơi động tình yêu nước nung nấu trong tim họ.

Phải nói rằng ông cụ là một tín đồ nghệ sĩ với tài điều động chuông giáo đường. Clang-clang! Clang! Clang-clang! Ngừng. Rồi dồn dập Clang clang clang clang clang …

Ông cụ mấp máy môi, tay chỉ lên trần:

- Chuông! Chuông!

Mắt Kasia sáng rỡ:

- Anh ơi! Chỗ này xưa là nhà thờ phải không?

- Ừ! Sao?

- Nơi nào là nhà thờ thì nơi đó phải có chuông! Ông nội tìm đến đây chỉ vì thế! Vì ông nội muốn kéo chuông! Hồi Chuông Giáng Sinh!

Kuba đứng vùng dậy, nhìn quanh. Đúng! Đây xưa là một tháp chuông. Chắc phải có chuông treo trên đỉnh. May ra chưa bị tháo gỡ phá hủy.

Kuba chạy lại lối dẫn lên gác chuông, hì hục kéo giật những thanh gỗ đóng chặn. Ánh lửa từ lò sưởi không soi thấu, nhưng Kuba hình dung một đầu giây chuông buông thõng trong bóng đêm dày đặc. Tim nó đập mạnh. Ông nội đã cố dùng tàn lực lết tới đây để ráng kéo chuông, thì chính nó phải thay ông, cố thực hiện việc đó cho kỳ được.

Kuba lách mình vào giữa mấy thanh gỗ chặn, cố với tìm đầu giây lơ lửng đâu đó. Nó nhảy lên, quơ tay quờ quạng nhưng không với được đầu giây. Nền gác chuông bằng gỗ ngổn ngang gạch ngói và gỗ vụn rơi rớt từ đỉnh tháp.

Kuba bật diêm nhìn lên. Ánh lửa leo lét không rọi cao. Bóng đêm dày đặc bên trên. Nó nhắm mắt lại cho quen bóng tối rồi mở to nhìn thẳng lên đỉnh tháp. Vẫn tối đen. Bóng đêm dày đặc, nhưng tít trên cao, Kuba thoáng thấy có vật gì chợt lóe lên. Thứ gì phản chiếu ánh lửa? Không! Không phải là thứ gì đó. Kuba cố điều tiết mắt chăm chú nhìn. Nó tin chắc có thứ gì lóe sáng trên đó.

Một tia sáng vụt lóe lên trong óc. Đúng rồi! Mái đỉnh gác chuông thủng, và ánh sao rơi qua khe hở nhỏ. Kuba cảm thấy máu chảy mạnh châu thân, xúc động:

-Ôi! Vì sao sáng dẫn đường đến hang Bethlehem!

Kuba nhận ra được ánh sao vì tia sáng rơi thẳng vào một vật kim loại. Vật gì bằng kim loại trên tháp giáo đường, ngoại trừ quả chuông! Nó reo lên:

- Kasia! Anh thấy rồi! Có chuông treo trên kia! Em thưa ông nội biết là anh sẽ kéo chuông!

Kuba cố tìm cách leo lên với cho được đầu giây lơ lửng đâu đó. Bấu vào những thanh gỗ, nó cố đu mình lên và giơ tay quờ quạng. Tay vừa chạm đúng vào đầu giây thì mấy thanh gỗ mục dưới chân bỗng gẫy ngang. Kuba mất thăng bằng, hụt hẫng. Đầu nó va mạnh vào một kèo gỗ. Đau buốt tận óc, mắt nổ đom đóm, nó choáng váng tưởng sẽ té nhào xuống nhưng gắng gượng chụp được cây kèo. Kuba xây xẩm tưởng sẽ ngã ngất nhưng tự nhủ phải cố không được ngã. Phải cố trèo lên! Phải cố nắm cho được đầu sợi giây chuông!

Kuba dùng cả hai tay bám vào kèo gỗ, đu mình lên, rồi tay phải bám chặt cây kèo, tay trái buông ra cố với nắm đầu giây. Đầu ngón tay nó chỉ chạm được đầu giây. Ráng hết sức rướn mình lên, vùa cố vừa tự nhủ:

- Mong chẳng phải là một quả chuông lớn. Lớn quá mình không đủ sức kéo giật!

Khi Kuba nắm được đầu giây, nó ráng kéo mạnh. Clang! Một tiếng ngân khẽ bỡ ngỡ vang lên. Ngỡ ngàng. Rụt rè. Dò dẫm. Tiếng ngân lạc lõng trong đêm. Tiếng ngân của một quả chuông nhỏ. Kuba mừng rỡ cố giật mạnh lần nữa. Clang-clang- clang!

Những âm thanh ngập ngừng bỡ ngỡ rụt rè lúc bắt đầu, rồi đong đưa, rồi nhịp nhàng, rồi ngân nga, rồi thánh thót đổ hồi …

Kuba nhắm mắt lại, hình dung tới ông nội. Thằng bé từng chiêm ngưỡng ông nội say sưa để hết tâm trí vào việc kéo chuông. Phải kéo vừa đủ mạnh để quả chuông đong đưa nhịp nhàng đập vào thành chuông, nhưng không quá mạnh làm chuông xoay quanh. Phải điều động đầu giây, quấn vào cổ tay khi giật xuống. Và cứ thế, cứ thế. Khéo léo, cẩn trọng, uyển chuyển chuyền sinh lực vào sợi giây huyền bí để đưa đẩy quả chuông ngân nga điệu nhạc thần thánh. Clang-clang! Clang, clang-clang! Ngừng. Rồi Clang! Clang! Clang! Clang! Clang! … Xuyên Bóng Đêm Tối chuông ngân nga vang vang loan truyền nguồn tin yêu …

Trong căn nhà hai anh em Kuba đến đập cửa đầu tiên, người đàn ông đã cho hai đứa trẻ vào đang đứng quay lưng về phía lò sưởi, trầm ngâm, bất động, mắt nhìn vào đám người khốn cùng hỗn độn la liệt khắp phòng.

Một âm thanh bỗng vọng lại. Ông ngẩng đầu. Mắt lần theo những chiếc đòn tay trên trần nhà. Âm thanh vọng lại từ xa, trên cao, phát ra từ một vật kim loại giống như ai gõ vào một thanh sắt. Có thể một ống nước cũ nứt vì lạnh. Không! Âm thanh đó lại vọng đến. Lần này, không phải chỉ một tiếng lạc lõng, mà từng hồi, từng hồi nhịp nhàng. Có lẽ nào … Nhưng đúng là tiếng chuông giáo đường …

Những người khác trong phòng bỗng xôn xao, ngước mắt nhìn lên, sợ hãi …

Trong những năm chiến tranh, những hồi chuông đổ rền là dấu hiệu báo động Hồng quân Nga kéo đến, hoặc để khống chế dân chúng tập trung nghe mệnh lệnh, hoặc là hồi chuông báo tử khi có người bị xử tội chống lại chế độ. Nhưng chiến tranh hết rồi. Liên Xô đã đè bẹp và khống trị Ba Lan. Ba Lan đang quằn quại tủi nhục dưới ách thực dân đỏ.

Hồi chuông này thong thả thánh thót ngân nga, không phải chuông báo động. Vậy, có nghĩa gì đây? Người đàn ông ngẫm nghĩ, suy đoán. Đoàn lữ hành ra đi vào khoảng ngày lễ Thánh Nicolas, tức là ngày 6 tháng Chạp. Họ lang thang tìm đường về miền Tây để tìm cách vượt biên sang thế giới tự do. Từ đó đến nay cũng đã hơn hai tuần, và mùa này là mùa vọng. Đối với nhân dân Ba Lan, mùa vọng là mùa thánh thiện nhất trong năm. Đó là mùa của tin yêu, của trông mong, của hy vọng. Đau khổ nhục nhằn đã làm họ hầu quên lãng thời gian!

Tâm trí ông chợt bừng cơn mê dài. Ông bỗng reo to:

- Giáng Sinh!

Giọng ông vang vang. Ông cao giọng ồm ồm hát theo điệu chuông ngân nga vọng lại:

- Xuyên Bóng Đêm Tối …Chuông ngân nga vang vang loan truyền nguồn tin yêu …

Trái tim chợt đập mạnh. Lòng chợt nao nao xúc động. Ông gọi lớn:

- Bà con cô bác dân Ba Lan ơi! Bà con cô bác quên rồi sao? Hôm nay là ngày trước lễ Giáng Sinh!

Những ngọn lửa vẫn chập chờn trong lò. Gian phòng bỗng lặng phắc. Mọi người sững sờ, bất động. Giáng Sinh! Ai đã nghĩ đến Giáng Sinh lúc này? Giáng Sinh! Đúng vậy sao? Giáng Sinh về, reo vang niềm tin yêu qua âm hưởng bản thánh ca ngân nga từng giọt nhạc chuông thánh thót đổ hồi …

Giáng Sinh! Giáng Sinh lại về. Đám dân Ba Lan quây quần nơi đây với tất cả niềm thống khổ nhục nhằn sau thời gian đày đọa dưới đại nạn cộng sản, nay chen vai thích cánh dành giật, bo bo giữ những thứ còn lại trong tay, không đếm xỉa đến kẻ khác, tàn nhẫn xua đuổi những kẻ cùng lỡ độ đường lưu lạc, không cho họ chia chút hơi ấm bên ngọn lửa hồng. Giáng Sinh! Vậy mà dân Ba Lan vốn nổi tiếng nhất thế giới là những tín đồ Thiên Chúa ngoan đạo nhất, lại tụ tập nơi đây và chỉ lo tranh dành chỗ ngồi, không nhớ đến ai khác trên đời, kể cả Đấng Cứu Rỗi!

Sau phút sững sờ ngỡ ngàng, gian phòng bỗng có nguồn xúc động diệu vợi lan truyền, nhè nhẹ len vào tận đáy những cõi lòng tan nát, dịu dàng tràn dâng lên những ánh mắt mệt mỏi chán chường. Những tiếng rì rầm lan khắp phòng. Giáng Sinh! Ngày lễ vô cùng trọng đại, vô cùng tôn quý của dân tộc Ba Lan suốt bao năm lịch sử kể từ thời lập quốc cách đây cả nghìn năm! Giáng Sinh! Giáng Sinh đến với những tâm hồn rã rời tan nát vì thống khổ nhục nhằn, đúng vào lúc không ai còn lòng dạ nào nhớ đến những tháng ngày êm đềm hạnh phúc ngày nào …

Cơn xúc động qua. Mọi người bỗng cảm thấy thân thiết gần gũi nhau. Không ai bảo ai, từ những đôi môi héo hắt lâu nay vắng nụ cười, bản thánh ca trầm bổng dâng lên, dâng lên, hòa với hồi chuông âm vang ngân nga …

Ông già áo quần còn khá lành lặn đang bẻ mẩu bánh mì khô bỗng đưa nguyên cả miếng bánh lớn cho lão ăn mày rách rưới. Bà sồn sồn vai khoác áo choàng rộng bỗng tung vạt áo trùm lên vai con bé đang co ro run rẩy trong manh áo cũn cỡn và chiếc quần một ống cùng đôi giày vải ướt sũng. Bà đứng tuổi bỗng quay lại đưa hộp sữa cho người mẹ trẻ gầy còm đang cố dỗ đứa nhỏ khóc dằng dặc rúc đầu vào ngực mẹ tìm bú dòng sữa cạn kiệt.

Người này quay sang bắt tay người nọ, mắt long lanh ngấn lệ. Những giọt lệ hân hoan. Những giọt lệ hồi sinh. Hân hoan vì niềm tin yêu trở lại thắp sáng trong lòng. Hồi sinh vì tình người sống lại trong tim, sau cơn thống khổ nhục nhằn tưởng đã mòn mỏi, tiêu tan, tàn lụi. Vài người quỳ xuống nguyện cầu. Những bà già ngồi sát lại ôm nhau, bệu bạo vỗ về nhau. Một thằng bé khẽ huýt sáo gọi con chó ghẻ lại, vỗ vỗ cái đầu xơ xác của nó và dụi vào mõm mẩu xương đã gặm nhẵn.

Từ những đống gạch ngói đổ nát hoang tàn xưa là những căn nhà ấm cúng, bỗng có những tiếng đồng ca vang lên, chen lẫn giọng đàn ông, đàn bà và trẻ con. Quang cảnh hoang sơ tiêu điều như thời hồng hoang, như lần đầu loài người biết mừng lễ Giáng Sinh!

Rồi từng tốp người túa khỏi những đống gạch ngói đổ nát, trên tay mỗi người cầm một thanh gỗ hoặc cành cây cháy dở. Họ đổ xô ra ngoài, dưới bầu trời mờ mờ ánh sao, lên tiếng chúc tụng nhau trong khi những ngọn lửa trên tay vung vẩy, lập lòe. Trong lòng mọi người bừng dậy niềm hân hoan như hồi còn thơ dại chạy quanh nhà này sang nhà nọ với một ngọn đèn lồng hình ngôi sao trong tay.

- Weselych Swiat! Weselych Swiat! Chúc Mừng Giáng Sinh! Chúc Mừng Giáng Sinh!

Kuba vẫn say sưa kéo chuông, đầu tựa lên cây kèo gỗ đã va mạnh làm nó suýt ngất xỉu. Hai cánh tay rời rã, nhưng nó vẫn nhịp nhàng đong đưa điệu thánh ca bất hủ, vang vang lan truyền khắp nơi. Thế giới hầu tan biến. Mọi sự vật hầu không còn. Chỉ có đôi cánh tay điều động sợi giây huyền bí mầu nhiệm. Clang-clang! Clang-clang- clang …

Qua đôi mắt nhắm nghiền, Kuba thấy rõ ngôi nhà cũ, nơi nó ra đời và được nuôi dưỡng, dạy dỗ. Trong nhà đầy tiếng trẻ thơ ca hát vui đùa. Rồi nó lại thấy rõ cảnh làng Rynek, Công trường Vĩ đại, tòa thành Krakow … Rồi từ đỉnh tháp chuông Vương Cung Thánh Đường Panna, những hồi kèn đồng rộn rã trổi vang quyện tiếng đàn đại phong cầm dìu dặt vọng lên từ vòm giáo đường, hòa giọng cùng ban hợp xướng cất cao lời ca thánh.

Những hình ảnh đó cứ ngời lên, ngời lên. Rõ dần, rõ dần. Những tiếng kèn đồng trổi cao hơn, cao hơn. Vút cao. Vút cao cao hơn. Vút cao. Rồi tất cả bỗng bùng vỡ, hào quang tung bay …

Kuba ngã xuống. Tay tuột khỏi sợi giây. Rơi trong bóng tối. Bóng tối phủ đầy mặt sàn gác lạnh lổn nhổn đá gỗ vụn. Nó cảm thấy hình như có một điệu nhạc nhè nhẹ, dịu dàng dâng lên. Êm đềm. Vời vợi. Rồi yên lặng.

Bừng hé mi, mắt Kuba gặp khuôn mặt hiền dịu của mẹ, nét ngây thơ của em, vẻ âu lo của cha, cái nhìn thương cảm của anh. Và phía sau những khuôn mặt thân yêu đó, rõ rệt hơn cả, là gương mặt rạng rỡ của ông nội. Kuba nở một nụ cười tươi hơn hớn như đóa hồng trong đám giây kẽm gai giăng ngang khu giáo đường phủ tuyết trắng. Nguồn vui đoàn tụ bất ngờ dâng tràn sinh lực trong người làm nó ngồi nhỏm vụt ngay như có sức mạnh vô hình đỡ dậy. Kuba hớn hở:

- Tuyệt! Tuyệt! Cả nhà đây rồi!

Cả nhà ôm choàng thằng bé. Kẻ siết tay. Người vò đầu. Kẻ hôn lên má. Người quàng qua vai. Kuba reo lên:

- Má! Ba! Anh Jan! Ba Má và anh Jan từ đâu tới vậy?

Mẹ Kuba từ tốn, dịu dàng:

- Cả nhà đi tìm hai đứa bay. Cả nhà tìm được nơi tạm trú ở làng Kopernik gần đây. Ông nội đi trước, không ai cản ông được. Ông cứ bỏ đi. Mãi khi tới nhà thờ này thì ông nội ở miết lại để tìm cách kéo chuông cho kỳ được. Cũng hay, là ông nội tìm được ngôi nhà thờ này còn tháp chuông để kéo. Nếu không thì ông nội chẳng tìm được hai đứa bay. Ông nội già yếu rồi, hai đầu gối lập cập quá … Ôi, con ngã đau lắm không?

- Không Má ơi! Con không đau. Chỉ khi bị va đầu vào cây kèo gỗ thôi!

Vừa nói đến đây, Kuba nhìn ra cửa, thấy lố nhố người với ánh đuốc chập chùng. Nó há hốc mồm, lắp bắp:

- Ô kìa! Gì thế? Cái gì thế?

Cả nhà kéo những tấm ván chắn, nhìn ra ngoài. Sân nhà thờ đầy người. Có tiếng hỏi to:

- Chúng tôi đến cảm ơn người kéo chuông!

Kasia nhanh nhẩu hãnh diện chỉ vào Kuba. Hai người đàn ông tiến tới nâng bổng Kuba lên, đưa lên đưa xuống đúng ba lần theo truyền thống Ba Lan thường dùng để biểu lộ lòng ngưỡng mộ cảm phục. Kuba sợ hãi nhìn quanh:

- Cháu có làm gì đâu! Cháu chỉ kéo chuông giúp ông nội cháu …

Người đàn ông đã cho anh em Kuba vào sưởi trong căn nhà đầu tiên, trịnh trọng nói lớn để mọi người cùng nghe:

- Đúng rồi! Cháu đã kéo chuông. Cháu kéo chuông Giáng Sinh cho tất cả mọi người quanh đây, cho tất cả dân tộc Ba Lan. Cháu kéo chuông Giáng Sinh thức tỉnh cả thế giới. Cháu nhớ mới mấy tiếng đồng hồ trước đây gặp những người này bên ngọn lửa ấm trong tâm trạng chán chường tuyệt vọng biết chừng nào. Chính cháu đã thổi luồng sinh khí tin yêu vào cuộc sống héo hắt nhục nhằn, Chính cháu đã mang niềm hy vọng nhen nhúm lại ngọn lửa sinh tồn trong cuộc đời. Chính cháu đã khơi động lại tình người trong lòng người. Con người không thể sống vị kỷ. Đó là lời Chúa. Trong cơn khốn cùng, chúng ta cần thương yêu nhau nhiều hơn. Cháu hãy nhìn xem ý nghĩa phục hồi của Hồi Chuông Giáng Sinh.

Ông trỏ vào đám đông đứng chật sân thánh đường. Họ đứng sát người bên nhau, vai kề vai, say sưa ngước mắt lên trời trong cử chỉ vô cùng chân thành, cùng cất cao lời ca tôn vinh Đấng Cứu Thế ra đời chuộc tội cho nhân loại:

Vinh danh Thiên Chúa trên trời

Bình an dưới thế cho người thiện tâm.




Trần thị LaiHồng

Hoa Bang 2007

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Thêm Một Mùa Giáng Sinh, Nơi Xứ Lạ

HỒ ÐINH
Thế là giáng sinh sắp đến, ngày mai ta lại trở về quê hương mở hội mừng Chúa ra đời. Ôi giấc mơ chiêm bao mộng mị bao mùa, chưa chi đã làm cho cõi hồn người viễn khách bồi hồi trong ngấn lệ, khi chợt nghĩ tới những trang lưu bút ngày xanh, thơ ngây ngọt ngào, nay chỉ còn lại trong men nồng đắng lệ.

Tỉnh nhỏ ngày xưa những trận mưa bay cuối thu, làm cho Phan Thiết đêm mù như cõi mộng. Bài thánh ca "Ðêm Ðông Lạnh Lẽo Chúa Sinh Ra Ðời", thường được em hay hát nho nhỏ, khi hai đứa đứng núp đưới mái hiên mưa, lặng đếm những cánh hoa sao quay tít ở trên đầu, để rồi thở dài trước một mùa đông đã đến.

Tất cả bây giờ chỉ còn trong kỷ niệm, của những ngày thân ái bên nhau trong giáo đường. Tôi, một kẻ ngoại đạo nhưng yêu em, nên cũng hát thánh ca và thường quỳ giữa hai hàng nến trắng. Buổi đó, cuộc đời thật thơm ngát, theo những cánh hoa huệ trắng nở rộ ngọt ngào, trong lòng mọi người. Nhưng dòng đời ai biết được, là trong tiếng nhạc Organ cao vút, không phải chỉ có lời thánh thiện lướt bay như sóng cuộn, mà còn có tiếng pha lê rơi vỡ nát của một cuộc tình. Rồi những mùa Giáng Sinh bất chợt, kẻ viễn khách lại tìm tới các Giáo Ðường xa lạ, lắng nghe tiếng chuông đổ xào xạc trên lầu cao, để tưởng như mình đang hứng những giọt nước mắt ngày xưa, của tôi của em, như hai hàng bạch lạp chảy, trong đêm thánh vô cùng.

Tàn mùa chinh chiến, người lính trận lỡ bước xa nhà, lang thang khắp thôn làng thị trấn nào đó, vào đêm Giáng Sinh mừng Chúa ra đời. Lúc đó chỉ còn có mình ta, bước lẽ loi trong giáo đường xa lạ, nhìn người để thương nhớ cho số phận buồn hiu của cuộc đời, mà phần lớn tuổi trẻ đã đi trên giàn lửa và sống kiếp lang thang mây chiều.

Hạ Uy Di, mấy hôm nay trời bổng trở lạnh theo mùa đông tới. Sau lễ tạ ơn, cuốn lịch treo tường đã thấy mỏng dần, chỉ lật thêm mấy tờ là tới lễ Giang Sinh và Tết Dương Lịch. Các cửa hàng khắp thành phố đã bắt đầu trang hoàng đủ thứ, nào thông xanh, ông già Noel, đèn nến, hoa sao, cũng như mở nhạc giáng sinh, làm cho hồn thêm xao xuyến, chạnh nhớ lại những mùa lễ hội tại quê nhà trước năm 1975. Ở đây, cảnh nhộn nhịp chỉ kéo dài tới chiều ngày 24-12 là chấm dứt. Tất cả hàng chợ đều đóng kín, mọi người ai cũng trở về nhà sum họp vơi gia đình, bè bạn, trong những căn nhà ấm cúng, giữa tiệc rượu vui vẻ, hạnh phúc.

Giáng sinh đang đến gần, tiết trời cũng bớt se lạnh khi trận mưa đông cuối mùa sắp dứt. Nhìn người người nô nức chuẩn bị, khiến lòng hằng mơ ước, mùa yêu thương vĩnh cửu sẽ luôn tới với mọi người, để xin Chúa Hài Ðồng ban bình an thật sự cho nhân loại. Hàng khối quà tặng giữa những tấm thiệp chúc tụng bay như bươm bướm và các tiệc yến linh đình, biến tuần lễ cuối tháng 12 Dương lịch, thành mùa lễ nhộn nhịp và quan trọng nhất trong năm.

Có một sự lạ lùng mà ít người để ý tới. Ðó là khi những cơn gió mùa đông bắt đầu thổi về lành lạnh, chỉ đủ làm ửng hồng những đôi má đẹp hay làm rạng rỡ thêm mấy chiếc áo len hương ấm. Cũng là lúc có một loài hoa, đang âm thầm chuyển mấy cánh lá noãn, từ xanh ra màu đỏ. Mọi người bảo đó là Hoa Giáng Sinh và ngoài kia Hoa cũng đang rực rỡ, báo hiệu một mùa giáng sinh sắp tới.

1-Ði tìm tung tích của các danh từ, liên hệ tới Giáng Sinh :

Xưa nay nhiều người hay lẫn lộn về nguồn gốc của các danh từ ngoại quốc liên hệ tới ngày lễ Giáng sinh như Noel hay Christmas.

Trước hết "Noel" là Pháp ngữ, thoát thai từ tiếng La Tinh "Natalis". , chứ không phải là tiếng Do Thái cổ. Sự lầm lẫn trên, phần lớn là do bản gốc của Kinh Thánh, trong phần Cựu Ước, hoàn toàn được viết bằng chữ Do Thái Cổ. Về sau mới được dịch ra tiếng Hy Lạp và La Tinh. Theo từ nguyên, chữ "Natalis dies" của latin, có nghĩa là Ngày sinh nhật hay Sự ra đời. Về sau, để tiện gọn, các nhà Ngôn ngữ học, đả bỏ bớt chữ "Dies", mà nói tắt là "Natalis", để chỉ ngày sinh. Hình thức nói tắt này, chính là nguồn gốc (Étymon) của danh từ "Noel" mà ta dùng tới ngày nay. Ðây là Luật biến đổi ngữ âm, của văn phạm La Tinh, dùng hoán chuyển các tiếng gốc sang Pháp ngữ ngày xưa, chẳng hạn như Natalis ố Nael ố Noel...

Từ tiếng gốc có nghĩa chung là "Sinh Nhật", dần dần người ta viết hoa chữ Noel, đồng thời bỏ thêm hai chấm trên đầu chữ E, một hình thức phủ nhận chữ e này không thể kết hợp với chữ O đứng trước, để trở thành một Nhi Trùng Âm (Diphtongne), như các chữ thông thường khác. Dụng ý của người xưa là vậy. Từ đó chữ Noel, trên đầu có hai chấm, viết hoa, chỉ dùng để chỉ ngày sinh của Chúa Jesus mà thôi.

Riêng chữ Christmas cũng là một tiếng Anh cổ, được kết hợp bởi hai thành tố : Christ chỉ Chúa Jesus, còn "Mas", qua biến thể của chữ Mass cổ, có nghĩa là Lễ của Nhà Thờ hay Lễ Hội. Hình thức của Mas (mass), một thứ tiếng Anh cổ, cũng có gốc từ chữ Latin là Missa với nghĩa "Lễ nhà thờ". Trong tiếng Pháp, cũng có chữ "Messe", được Việt hoá thành "Misa", cũng có nghĩa là Lễ Nhà Thờ. Cuối cùng là vấn đề biến dạng từ chữ "Christmas "sang "Xmas". Như ta biết, danh từ Christ tuy là tiếng Anh nhưng có từ nguyên là tiếng La Tinh "Christus "mà ra. Nhưng chữ La Tinh này lại được mượn từ tiếng Hy Lạp "Khrislos", có nghĩa là Người được xức dầu thành, chỉ Chúa Jesus. Do các quy luật phức tạp chuyển ngữ các chữ cái, giữa hai ngôn ngữ trên, nên mới có biến thể từ Christmas sang Xmas, nhưng khi đọc, vẫn là Christmas, chứ không bao giờ là Xmas.

Nói chung dù các chữ Noel, Christmas, Xmas xuất phát từ đâu chăng nữa, thì tựu trung đều có nghĩa, chỉ ngày giáng sinh của Chúa Jésus, mà theo truyền thuyết nhằm ngày 25-12 năm 1 tại Bethleem, cách thành phố Jerusalem của Do Thái, độ 9 km. Riêng chữ Advento của La Tinh, mà các tín đồ Thiên Chúa giáo quen gọi là mùa Ắt hay mùa Vọng, một nghi thức truyền thống, cũng được cử hành riêng biệt tuỳ theo tập quán của các nhà thờ. Theo đó qua thánh lễ lâu đời, trước một tháng lễ sinh nhật, có tục đặt bốn cây nến, tượng trưng cho sự trong lành của Thiên Chúa, soi sáng nhân loại. Cũng trong mùa Vọng, giáo đồ không hát kinh GLORIA, cũng như khi cử hành thánh lễ, các linh mục và bốn cây nến mùa vọng, đều mang màu tím, là một biểu tượng của sự sám hối, đối với người theo đạo Ky Tô.

Hiệp định Genève 1954 chia hai VN thành hai nước riêng biệt. Miền Bắc do Hồ Chí Minh cùng đảng Cọng sản đệ tam quốc tế cai trị, mà trước năm 1975 thường được một ít trí thức khoa bảng và số sư cố hám danh mù quáng, gọi là Thiên Ðường Xã Nghĩa. Tại Hà Nội buổi đó có nhiều sứ quán ngoại giao Tây phương lẫn Cọng sản. Ðể lừa bịp bọn da trắng ngu khờ cũng như giúp cho phe ta đang đánh trống thổi kèn, hòa hợp phản chiến, đâm sau lưng quân dân Miền Nam. Hồ và đảng chơi trò hưu chiến cuội ngày Giáng Sinh, đồng thời tự sơn phết nhà thờ Chính Tòa Hà Nội, hằng năm để lấy vải thưa che mắt thánh. Sau đó, Tòa Giám Mục phải è cổ ra trả tiền, cũng như từ năm 1965 về sau, trong các cuộc hưu chiến nhân lễ Giáng Sinh tại VNCH, từ Bến Hải vào tới Cà Mau, đều bị VC lợi dụng tấn công, bất chấp dư luận Quốc tế phỉ nhổ, vì chúng đã có đồng đảng tại Miền Nam chống lưng, khen bợ.

Chuyện cũ làm nhớ tới Sài Gòn mấy năm nay, sau ngày mở cửa. Mặc kệ cho dân chúng cả nước sống nghèo cực tới mức không còn ai nghèo hơn, vì tai trời nạn nước, trước sự bóc lột cùng tận của cán bộ đảng, qua sự cấu kết của thiểu số Việt kiều làm việt gian toa rập. Ðể khoe với thế giới bên ngoài, sự phồn vinh giả tạo tại các thành phố lớn, trong đó có Hà Nội và Sài Gòn. Ðối với VC xưa nay, tôn giáo của chúng là sự mù quáng tin thờ Lê-Mác-Mao-Hồ, ngoài ra tất cả chỉ là dịch vụ trao đổi mua bán. Cho nên sự kiện biến ngày lễ Giáng Sinh thiêng liêng của nhân loại ngàn đời, thành "Mùa Ăn Chơi" tại các khách sạn quốc tế nơi Thành Hồ như Equatorial, cùng với nhiều nhà hàng khách sạn khác, thuộc công ty quốc doanh du lịch dã ngoại Lửa Việt, cũng là điều tất yếu của những con người không còn nhân tính. Vật giá leo thang như mây trời gió cuốn, thời tiết thì nay lụt mai nóng, còn công việc làm ăn, từ nghề biền làm ruộng cho tới bán buôn, đều do cán bộ đảng quyết định. Cho nên ăn chơi mức nào cũng có, kể cả "nhất dạ đế vương", cũng chỉ là chuyện bình thường của tập đoàn tham nhũng VC, nhất nhì trên thế giới hiện nay, đang sống trong biển bạc rừng vàng... Bởi vậy đừng trách tại sao người Việt trong nước ngày nay, tâm tình biến đổi, đến độ nhiều phụ nữ phải bỏ quê hương cha mẹ, người thần để lấy chồng xứ lạ tận Ðài Loan, Hoa Lục, Nam Hàn, Mã Lai. mà thực chất là bán thân để giúp cho gia đình tồn tại. Lừa bịp cả nước trong mọi dich vụ, từ chuyện lúa gạo, cao su, cà phê, nuôi cá, tôm, gà vịt nay lại tới sự may mặc. Tất cả chỉ mang lợi nhuận vĩ đại cho cán đảng, tư bản đỏ cùng một thiểu số Việu Kiều-Việt Gian môi giới bày vẽ mà thôi. Còn cả nước thì gần như sạt nghiệp sập tiệm, và theo các hãng tin trên thế giới, VN nếu không có lượng kiều hối hằng năm gửi về hằng tỉ đô la quân viện, chắc là trong nước dân chúng quá đói khổ lầm than, đã nổi loạn dành sự sống trong tay bọn dảng cướp lâu rồi.

2-Những Tập Tục Trong Ðêm Giáng Sinh :

Trải qua 200 năm đầu của Tây Lịch, theo sử liệu cho biết các nhà thờ lúc đó đang kiểm soát gắt gao đạo Thiên Chúa, đã không tổ chức Lễ Giáng Sinh. Lý do là lúc đó, không có ai biết được một cách chính xác, ngày sinh của Chúa Jésus, ngay cả trong bốn "Sách Tin Mừng", cũng không hề nhắc tới. Do trên các Giáo hôi lúc đó, chỉ để ý tới Cuộc Tử Nạn và Mùa Phục Sinh của Chúa mà thôi.

Từ sau năm 201, mới bắt đầu có tổ chức mừng sinh nhật Chúa Hài Ðồng. Tuy vậy giữa hai Gíao Hội Ky Tô tại La Mã và Ðông Phương, cũng không thống nhất. Nói chung, các nước lúc đó thường tổ chức Lễ Giáng Sinh vào các ngày 6-1, 25-3 và 25-12... tùy theo tập quán lễ hội của quốc gia mình. Phải đợi tới giữa thế kỷ thứ 4, năm 335 sau Tây Lịch, cả hai Giáo Hội Thiên Chúa La Mã và Ðông Phương, mới nhất thống, cử hành Lễ Giáng sinh vào đêm 25-12 hằng năm, cho tới bây giờ.

+ LỄ GIÁNG SINH :

Mùa Giáng Sinh được người Ðức gọi là "Weihnachten", tức là những đêm Thánh vô cùng. Riêng những danh từ "Natale" của Y’, "Noel" của Pháp, "Natividad" Tây Ban Nha hay "Christmas của Anh, Mỹ, Canda... đều có nghĩa là Sinh Nhật Chúa. Ðây là một lễ hội, được gắn liền với nhiều tục lệ cổ truyền, đã có từ ngàn năm trước nhưng tới nay vẫn được chấp nhận. Nhờ đó đã giúp cho lễ Giáng Sinh đầy ý nghĩa và thêm vui nhộn.

Lễ này bắt đầu từ các lễ hội dân gian truyền thống hằng năm của các dân tộc Âu Châu. Năm 335, Hoàng Ðế La Mã là Constantin khởi xướng, lấy ngày 25-12 làm sinh nhật Chúa Jésus và đã trở thành ngày sinh nhật hằng năm của Ðấng Cứu Thế. Thật ra lý do chọn ngày 25-12 rất hợp lý, nhất là đối với các dân tộc sống bên hai bờ Ðịa Trung Hải như Ai Cập, Syrie, Hy Lap, La Mã... vì đây cũng là ngày kỷ niệm Vị Thánh Bổn Mạng của Họ, tức là Vị Thần Mặt Trời Chiến Thắng Sol Invictus. Còn đối với các xứ Bắc Âu, sau khi đã trải qua một mùa đông giá băng lạnh cóng, suốt những ngày thu phân cho tới 25-12. Ðây là thời điểm sắp giao mùa, giữa đông sang xuân, ngày dài đêm ngắn, mà ai cũng thích, nên họ mở hội ăn mừng. Ngay người Ba Tư tận Nam Á, cũng có phong tục mừng sinh nhật của Thần Ánh Sáng Mithras vào đúng vào ngày 25-12 hằng năm. Nhưng lý so chính, khiến cho Hoàng Ðế La Mã Constantin, cũng như nhân loại, đã hân hoan chọn ngày trên làm ngày sinh nhật Chúa, nguyên do vì năm đó, có ngôi sao Bethlehem đầu tiên, đã xuất hiện rực rỡ giữa bầu trời đông băng giá.

+ TỤC KÉO CỦI VÀ ĂN ÐẦU HEO :

Trong đêm Giáng Sinh, người Bắc Âu sẽ cùng nhau kéo một khúc gỗ sồi, được mang từ rừng về, gây nên cảnh tượng rất vui nhộn khi mọi người gặp nhau đều ngả nón hay cười vui chào hỏi. Tại nhà, khúc củi được đốt lên bằng mồi lửa được giữ từ tro than năm ngoái. Khúc lửa này sẽ được chủ nhân giữ trọn năm, vì mọi người đều tin rằng lửa sẽ giữ được cho ngôi nhà của họ quanh năm được ấm cúng hạnh phúc, tránh được tật bệnh thiên tai từ bên ngoài đem tới.

Cũng ở Bắc Âu ngày xưa, người ta tin rằng Vị Thần Ðiều Khiển Ngũ Cốc cư ngụ ở trong đầu heo, nên cứ đến ngày lễ Giáng Sinh, lại có tục giết heo làm thịt ăn, với hy vọng mùa màng thêm trúng. Ngày nay vùng này, trong đêm lễ, chiếc đầu heo thật được thay bằng những ổ bánh hình con heo.

+ HOA GIÁNG SINH :

Tại VN, người ta gọi nó là hoa Trạng Nguyên, theo truyền thuyết từ một câu chuyện cổ tích diễm tình. Ngày xưa có một sĩ tử trên đường vào kinh đô ứng thí, đã nhìn thấy một giống cây lá xanh, mọc tha thướt bên vệ đường. Khoa đó ông đỗ trạng nguyên và trên đường về vinh quy bái tổ, bất chợt gặp lại cây lá xanh bên đường hôm nào. Nhưng hôm đó nó đã biến đổi một cách kỳ diệu, vì những cánh lá xanh nõn nường trên ngọn, nay trở thành màu đỏ thắm, như đang đồng điệu với thế nhân, chúc người thi đổ. Cảm khái, ông đã không ngần ngại ban cho giống hoa tình nghĩa trên một mỹ danh "Hoa Trạng Nguyên" và được lưu giữ tới ngày nay.

Ðây chính là giống cây, mà hằng năm trên thế giới, người ta dùng trang trí trong ngày sinh nhật và họ gọi là Hoa Giáng sinh (Christmas Flower). Ðây là một loại hoa rất đặc biệt, vì hoa cũng là lá và lá cũng là hoa với một cụm lá màu đỏ ở trên đỉnh, được bao quanh bởi đám lá xanh. Ở Ðông phương, giống hoa này cũng rất được yêu thích và được gọi bằng những cái tên khả ái như "Nhất Phẩm Hồng" (Trung Hoa) hay "Tinh Tinh Mộc" (Nhật Bản). Nhưng dù mọc ở đâu hay được gọi bằng một cái tên nào chăng nửa, nó vẫn là biểu tượng của sự cao quý, dịu dàng và mộc mạc, rất phù hợp với tâm lý của người đàn bà VN. Có lẽ vậy, nên ở miền quê, hoa này thường được trồng trước ngõ hay trên rào giậu như dâm bụt, với ngụ ý chào mừng khách quý. Là giống cây thân mềm, lá xanh ẻo lã rất giống các thiên kim tiểu thư và chỉ chuyển đổi màu lá từ xanh sang đỏ, trong thời gian nhất định, giữa tuần lễ từ Giáng Sinh tới Tết Nguyên Ðán mà thôi. Ngoài ra, thời tiết càng lạnh lẻo, thì hoa càng có màu sắc rực rỡ.

Theo truyền thuyết của phương tây, thì hoa này có liên hệ với Chúa Jésus, bởi chúng được tạo thành từ những giọt máu cuối cùng của Ngài, khi bị đóng đinh trên cây thập giá. Chính màu máu tươi đã nhuộm màu lá xanh thành đỏ thắm và chính giữa có những nhụy vàng. Cũng do tính chất thần thánh trên, mà hầu hết các thiệp chúc và bánh giáng sinh, gần như đều có in hình cánh hoa truyền thống này.

+ CÂY GIÁNG SINH :

Trước khi đạo Thiên Chúa vào Âu Châu, thì trong các cuộc lễ hội tại Ý, Tây Ban Nha và nhiều nước khác, người ta dùng hoa để trang hoàng. Nguyên do vì quan niêm của nhà thờ lúc đó, cho rằng thông có liên hệ tới nhiều tôn giáo khác. Còn Thụy Ðiển thì bảo cây thông là biểu tượng của chết chóc và tang tóc. Ngoài ra cũng được coi là cây giáng sinh, còn có cây ô rô cũng thường được dùng để trang trí trong mùa lễ. Sở dĩ nó được chọn như thông, vì những chiếc lá gai gốc của ô rô, rất giống chiếc vòng gai của Ðấng Cứu Thế, còn những quả màu đỏ mọng, lại được coi như những giọt máu tươi chũa Chúa khi bị đóng đinh trên cây thập tự giá.

Bắt nguồn từ cây Sapin ở Bắc Âu, cây thông đã được người Thủy Ðiển mang vào nước Ðức, trong cuôc chiến 30 năm (Gueere de Trente Ans). Theo sử liệu của Ðức, thì cây thông chính thức được nhắc tới năm 1605. Tuy nhiên thực tế trước đó, người Ðúc vùng Elsass và Hắc Lâm, theo đạo Thiên Chúa Cải Cách của Mục Sư Martin Luther (1483-1546), đã dùng cây thông để trang trí trong ngày lễ giáng sinh. Chính Luther là người đầu tiên đặt những ngọn nến lên cây giáng sinh và gọi đó là những biểu tượng của các vì sao trong đêm sinh nhật. Ngoài ra cây thông còn là biểu tượng của dân Ðức chống lại Nã Phá Luân.

Ðến thế kỷ thứ XIX, thông theo đoàn quân viễn chinh của Phổ, vượt biển Manche vào quần đảo Anh Cát Lợi và Ái Nhĩ Lan. Thông sau đó lại được công chúa nước Anh là Mercklembourg, khi thành hôn với công tước Orléans, đã mang thông vào nước Pháp. Cũng từ đó, thông chính thức được thay thế các loại hoa, để trang trí vào dịp lễ giáng sinh. Cũng theo sử liệu, thì việc trang trí bánh kẹo trên cây giáng sinh tại nước Anh, bắt đầu từ thời Nữ Hoàng Victoria. Năm 1880, hãng Wooworld của Mỹ, lần đầu tiên khởi xướng đầu tiên việc bán các đồ vật treo trên cây giang sinh. Năm 1882 bóng điện được thay nến để trang trí. Tai Mỹ, Calvin Loolidge là vị tổng thống đầu tiên, thắp sáng cây thông trồng phía ngoài Tòa Bạch Ốc vào năm 1923.

Thông hiện nay là một biểu tượng của mùa giáng sinh, được trưng bày hầu hết mọi nơi, từ công sở, chốn công cộng, các cửa hiệu cho tới trong gia đình. Tại Hoa Kỳ vào dịp lễ giáng sinh, , dân chúng tiêu thụ khoảng 20 triệu cành hay nguyên cây thông. Với chiều cao 67, 4m cây thông được coi là cao nhất thế giới, được dựng tại Northgate Shopping Center, thành phố Seatle, Tiểu bang Washington. Ðài Loan và Nam Triều Tiên, hiện là hai quốc gia Á Châu sản xuất nhiều thông giả nhất thế giới, trong khi các Tiểu bang North Carolina, California, Pennsylvania, Wiscosine, Michigan, Oregan... trồng nhiều thông nhất Liên Bang, để cung cấp cho dân Mỹ trong mùa lễ giáng sinh.

+ ÔNG GIÀ NOEL VÀ TỤC TẶNG QUÀ GIÁNG SINH :

Ðó là một người có thật, sau trở thành Thánh Nicholas sống vào thế kỷ thứ 4 sau TL. Ông tên thật là Santa, sinh tại Patara thuộc miền Lycya những sống tại Myra, nay thuộc Thổ Nhỉ Kỳ. Theo sử liệu, ông là người có tính tình vị tha nhân ái, thường lấy tài sản của mình, để phân phối cho người nghèo, trẻ em. Vào mùa lễ giáng sinh, ông thả những túi đựng tiền vàng, xuống ống khói lò sưởi hay ném qua cửa sổ, những bít tất dài trong đó dựng đầy quà, dành cho trẻ em nghèo. Năm 325 ông được phong chức giám mục tại Nicaca nhưng lúc qua đời thì chôn tại nhà thờ Myra và được phong thánh. Cũng từ đó, trong mùa lễ phục sinh, tòa Thánh La Mã đã phối họp mừng chung với thánh Nicholas. Năm 1087, người ta đánh cắp thi hài của ông, đem về chôn tại nhà thờ Bari của nước Ý. Sự kiện trên càng làm tăng thêm mức khả tín của người Âu Châu đối với nhân vật huyền thoại Santa. Do đó ông trở thành vị Thánh bổn mạng của Hy Lạp và Nga. Nhiều thành phố lớn như Fribourg (Thụy Sĩ), Mạc Tư Khoa (Nga)... đều tôn vinh Santa như vị cha già. Uy tín to lớn của ông đến nỗi, ngay từ tời Hoàng Ðế La Mã Jutinta 1, trị vì thế kỷ thứ VI, cũng đã cho xây nhà thờ tại Constantinople. Từ đó về sau, khắp thế giới, đã có hằng ngàn nhà thờ lớn nhỏ, mang tên ông.

Nhưng từ khi đạo Tin Lành ra đời tại Âu Châu, thnh Nicholas bị xem là người của đạo Thiên Chúa, nên không còn được tôn trọng, trừ Hòa Lan. Từ đó, lại có các ông già Noel khác ra đời như Weihnachtsmann (Ðức), Pere Noel (Pháp), Father Christmas (Anh), Santa Claust hay Saint Nick (Hoa Kỳ)... Tuy nhiên dù được mang một tên gì chằng nửa, thì củng chỉ một hình thức biến dạng từ chữ gốc Saint Nicholas mà thành. Tại New York, những người Mỹ gốc Hòa Lan, được coi là dân tộc đầu tiên mang ông già Noel từ Âu Châu vào Bắc Mỹ. Họ gọi thánh Nicholas là San Nicholaas, sau đó là Sant Klaus và cuối cùng trở thành Santa Claus tời ngày nay.

Ngoài đời ông xuất hiện như một người bình thường. Ðó là ông già béo tốt, râu tóc bạc phơ nhưng đôi má lại đỏ au, luôn mặc bộ quần áo đỏ, tượng trưng cho hạng người vui vẻ, độ lượng và chân thành. Vì xuất phát từ miền bắc cực, đúng vào mùa đông, nên thường ngự trên một chiêc xe tuyết do bốn hay sáu con hươu kéo đưa ông dạo chơi khắp nơi. Ðặc biệt trên vai ông lúc nào cũng vác một chiếc bị lớn đựng quà bánh và đồ chơi cho các trẻ em.

Cũng liên quan tới ông già Noel, có tục tặng quà trong mùa lễ giáng sinh. Ðây cũng là một tập quán lâu đời của người La Mã cổ, với thói quen hay tặng quà cho nhau, trong các dịp lễ hội hay Tết Dương Lịch. Ngoài ra theo truyền thuyết ghi trong kinh thánh, sau khi Chúa sinh ra đời được 12 ngày, thì ba Vua mới mang lễ vật tới chúc mừng. Vì vậy ngày nay, tại các nước Ý, Tây Ban Nha và nhiều nước theo Ky Tô giáo, trẻ em nhận được quà sau khi giáng sinh, đã qua 12 ngày.

Tại Hoa Kỳ, năm 1822 thi sĩ Clement Moore đã viết bài thơ "Ðêm Trước Giáng Sinh "đưa thêm uy tín của Thánh Nicholas lên đỉnh yêu thương của mọi người, còn họa sĩ nổi tiếng Nast, qua các bức hí họa, làm cho hình ảnh của ông già Noel, càng đi sâu vào tâm hồn của người trần thế.

+ BÍ ẨN VỀ NGÔI SAO BETHLEHEM :

Theo thánh kinh, Bethlehem là ngôi sao lớn và sáng nhất giữa bầu trời, trong đêm Chúa sinh ra đời. Vì vậy qua các tranh ảnh vẽ hình Chùa Jésus, bao giờ cũng có một ngôi sao chiếu sáng rực rỡ. Chính nó đã dẫn đường Ba Vua tìm tới được hang lừa, nơi Chúa ra đời trong một đêm đông lạnh lẽo.

Ðể tìm hiểu vị trí của ngôi sao Bethlehem, các nhà thiên văn học trên thế giới đã dày công nghiên cứu, hiện tượng Supermova, tức ngôi sao mới sớm nở tối tàn. Ðối với bậc thông thái như Ba Vu, thì họ chẳng cần tới ngôi sao Bethlehem dẫn đường mới tới được Jérusalem, vì họ là những nhà tiên tri biết được chuyện vị lai quá khứ.

Tháng 5 năm thứ 5 trước TL, thiên văn học Trung Hoa lúc ấy đã ghi nhận được, sự xuất hiện của một ngôi sao chổi đặc biệt, đang quét trên bầu trời Nam Dương, trong suốt 70 ngày. Ðây cũng có thể là thời gian Ba Vua đang trên đường tới hang đá ở Bethlehem ? Tất cả đều là sự bí ẩn, vì không ai biết được chính xác ngày sinh của Chúa Jésus. Nhưng năm 1604, nhà toán học Johannes Keeper, đã tính được vị trí của các hành tinh thời Chúa ra đời. Ngoài ra đối với các tín đồ Thiên Chúa Giáo xưa, thì sao Vệ Nữ còn được gọi là Sao Hôm, mọc trước bình minh, được coi như là một biểu tượng của đấng cứu thế. Có lẽ ngôi sao Bethlehem, chẳng qua chỉ là sự hội ngộ của hai ngôí sao sáng nhất trong Thái dương hệ. Ðây là một giả thuyết hợp lý nhất, chứng minh sự hiện hữu của ngôi sao Bethlehem, chỉ có trong huyền thoại.

Nhưng dù có hay không, ngôi sao Bethlehem cũng vẫn là hình ảnh đặc biệt, trong dịp lễ giáng sinh. Ðã có nhiều cuộc thi trên thế giới, qua đề tài tìm hiểu về nguồn gốc của ngôi sao trên. Tại Palmerlake ở Tiểu bang Colorado vào năm 1934, đã dựng một ngôi sao Hòa Bình, trên một khu vực rộng tới 500 bộ, trên sườn núi Sandance Deak. Tại thành phố Bethlehem thuộc Tiểu bang Pennsylvania, cũng có dựng một ngôi sao lớn, trên công viên Zinzendorf, từ ngày 4/12 tới 2/1 năm tới, mới bị dẹp.

+ BÀI THÁNH CA BẤT HỦ :

Tiếng Anh gọi các bài hát giáng sinh là Carol, tiếng Pháp là Noels, còn Ý là Pastorelles, người Ðức thì gọi Kristlieder... Nhưng dù có gọi bằng thứ ngôn ngữ gì chăng nửa, thì nguồn gốc vẫn từ các nhà thờ xưa, nơi thường diễn các vở kịch để nhớ về ngày sinh và cuộc đời Chúa Jésus, có kèm theo những bài hát vui tươi. Ngày nay có rất nhiều Thánh Ca nổi tiếng như The First Nowell, God Red Ye Merry, Gentlemant... và trong số này, bài "Silent Night, Holy Night" muôn đời vẫn được thế giới xưng tụng là bài thánh ca bất hủ.

Tại Âu Châu ngày nay, đêm giáng sinh ngồi quanh ánh lửa bập bùng chờ lễ. Các cụ thường kể cho con cháu nghe xuất xứ của bài thánh ca nổi tiếng. Trong lúc đó, khắp mọi nơi trên thế giới, từ các miền băng giá tuyết phủ, cho tới những khu rừng nhiệt đới âm u. Từ các đô thành phố thị muôn sắc muôn màu, cho tới hải đảo cô thôn tịch mịch. Ðâu đâu nhân loại qua ngàn vạn ngôn ngữ khác nhau, cũng đều cất cao giọng hát, bài thánh ca bất hủ "Tille Nacht, Heilige Nacth, Silent Night, Holi Night, Douce Nuit, Sainte Nuit... hay Ðêm đông lạnh lẽo Chúa ra đời. Lời ca thánh thoát, lôi cuốn kỳ diệu, cuồn cuộn ra muôn vạn ý thơ, không khác gì hoa tuyết đang là bay lả chả, trên những mái nhà cũ kỹ, của vùng quê miền Savoice nước Áo, vào mỗi độ giáng sinh về.

Năm 1818 tại ngôi làng nhỏ Oberndorf, thuộc Tyrol (Áo). Ở đây, quanh năm tuyết phủ trắng xóa. Tại ngôi nhà thờ nhỏ trong làng, đêm giáng sinh năm đó, vì cây đàn duy nhất của nhà thờ bi hư, nên cha Joseph Mohr đã viết bài ca thay thế, bằng sáu câu thơ giản dị. Bài hát được Franz Gruber, một thầy giáo già cùng làng phổ nhạc. Sau đó bài hát được phổ biến quanh vùng, rồi lan khắp nước Áo cùng các xứ lân cận. Tuy nhiên chẳng có ai truy nguyên xuất xứ, vì họ nghĩ rằng, đây chỉ là một bài dân ca xưa.

Mãi tới năm 1830, bài hát tình cờ lọt vào mắt Vua Nước Saxe. Ngài cũng là một nhạc sĩ tài danh thuở đó, nên sau khi nghe được bản nhạc, đã quyết định lập một Ủy Ban Ðặc Biệt, đi khắp nơi để truy tìm xuất xứ. Vì vậy mới tìm được tác giả trong ngôi làng nhỏ nghèo là Oberndorf.

+ MÁNG CỎ VÀ HANG ÐÁ :

Qua bao nhiêu thế kỷ, mỗi năm cứ vào mùa giáng sinh, các tín đồ đạo Thiên Chúa đều dựng lại khung cảnh Chúa ra đời, trong máng cỏ. Nhưng tuy cùng một tín ngưỡng, người Nhật dựng máng cỏ qua một đám rước, do các Samourai thực hiện, gần giống như người Esquimo ở miền bắc Canada, tạc tượng Chúa Hài Ðồng bằng băng, rồi đặt nằm trên một chiếc xe trượt tuyết. Riêng Giáo Hội Ðông Phương vì ảnh hưởng nghệ thuật Byzantin, nên đặt Chúa nằm trong một hang đá chứ không trong chuồng bò tại Palestine. Ngoài ra tượng Mẹ Maria thì đặt nằm trên một cái nệm, qua trạng thái mệt mỏi yếu duối của một sản phụ, vừa mới sinh xong.

Theo truyền thuyết, Thánh Francois là người đầu tiên, đã sang tạo ra Máng cỏ vào năm 1223 tại làng Greccio, vào đêm giáng sinh. Nhưng phải đợi tới thời Vua Charles III của thành Naples, Máng cỏ mới đạt tới thời hoàng kim, suốt thế kỷ XVIII. Vì được triều đình chú trong và nâng đỡ, việc làm Máng cỏ trong mùa giang sinh, không những được phổ biến trong cung nội, dinh thự văn võ bá quan, mà còn bành trướng ra ngoài xã hội, từ giới sang giàu trí thực, xuống tận người nghèo bình dân, trở thành một mốt thời thượng cho hạng lắm của nhiều tiền.

Phong trào dựng Máng cỏ trong đêm giáng sinh, từ đó lan tràn khắp các nước Âu Châu, khién cho dân thành Naples phải kéo nhau đi làm công, khắp các thành phố lơn như Aix En, Provence (Ý), Olot (Tây Ban Nha), Oberammergau (Ðức)... Hằng năm, tại khu vực Canabière, trong thành phố Marseille của Pháp, đều có tổ chức "Hội Chợ Máng cỏ", từ tháng chạp tới giàng sinh. Hiện nay trong Viện Bảo Tàng Naples và trên Ðảo Sicile (Ý), Munich (Ðức), còn lưu trữ nhiều bộ sưu tập "Máng cỏ" được hình thành qua nhiều thời đại tuyệt đẹp. Thang 12/1996 tại phi trường Orly, danh họa Salvador người Tây Ban Nha, đã triển lãm một máng cỏ giống như tai người khổng lồ, trong đó chứa toàn bộ những nhân vật huyền thoại của già đình Chúa Jésus. Tóm lại dù củ hay mới, hình ảnh máng cỏ cũng gợi cho chúng ta, sự trong sáng của tâm hồn giữa cảnh nhiễu nhương và man trá.

Năm 1975 có một nhóm thợ lặn ở làng Laveno thuộc miền Bắc Ý, đã đặt một tượng Chúa dưới đáy hồ Majeux, sâu 23m, trong vùng Lombardie, sát biên giới Ý-Thụy Sĩ. Từ đó mỗi năm tới đêm giang sinh, các thợ lặn lại đem thêm tượng Chúa xuống đặt dưới đáy hồ. Năm 1978 cũng nhóm thợ lặn trên, đã đặt dưới đáy hồ sâu 3m gần bờ, một máng cỏ trong đó có ba tượng Joseph, Maria và Chúa Jésus. Tính tới nay, số tượng Chúa dưới đáy ho Majeux đã có 42 tượng và nhiều máng cỏ. Những tượng này được tạc bằng đá trắng Vicence ở Bắc Ý, nặng trên 15 tấn. Lễ hội hằng năm tại dây vào đêm 24 -12, thu hút hằng trăm ngàn du khách và tín đồ. Trong lúc trên bờ tiếng chuông nhà thờ đổ dồn dập, thì dưới làn nước sâu lạnh lẻo, máng cỏ Noel ân hiện chập chờn, lung linh huyền ảo theo từng cơn gió thoảng.

+ KINH THÁNH VÀ CHỮ THẬP :

Theo từ nguyên của danh từ "Bibble" của Hy Lạp, thì kinh thánh có nghĩa là những cuốn sách nhỏ. Theo truyền thuyết, thì kinh thánh được liên tục viết trong 1600 năm, khởi đầu từ năm 1513 trước TL, cho tới năm 98 sau TL. Hiện nay còn truyền được 66 cuốn, mà quyển đầu tiên là kinh"Sáng Thế Kỷ". Kinh này thuật lại câu chuyện mất vườn địa đàng, do sự phản nghịch của ông Adam và bà Eva. Còn cuốn cuối cùng là kinh "Khải Huyền", trình bày địa cầu sẽ trở lại cảnh địa đàng, qua sự chăm sóc của Chúa. Thật ra câu chuyện vườn địa đàng là ám ảnh và nổi bưc xúc của nhân loại hơn 2000 năm qua, và họ cứ mãi miết đi tìm, từ những ốc đảo, rừng rậm cho tới miền núi đồi băng giá. Cuối cùng khắp các nơi chốn đi qua, con người lại mang thêm niềm nhớ muôn thu, khi cảm nhận được sự lầm lẫn đã đánh mất cõi thiên đàng.

Cho tới thế kỷ thứ 16 sau TL, vẫn chưa có ai thắc mắc về sự việc liên quan tới vườn Eden trong kinh Sáng Thế Kỷ, trái lại người ta càng ra sức tô bồi thêm thắt câu chuyên cho phong phú diễm tình. Nhà tiên tri Ezechiep đã viết "trong vườn địa đàng, ở hai bên bờ dòng thac, mọc lên mọi thứ cây ăn quả, không bao giờ héo úa, cạn kiệt, năm tháng đều có thu hoạch mới...". Chính những lời tiên tri đó, thúc đẩy con người thực hiện những giấc mộng đi tìm thiên đàng, trong nổi mơ hồ lãng mạng cho tới hôm nay, vẫn còn chưa hề nao núng, dù thực tại vẫn là ảo vọng.

Trong 66 cuốn kinh thánh, 39 cuốn đầu tiên viết bằng tiếng Hebrew, một phần nhỏ khác dùng chữ Aram. Còn 27 cuốn cùng mới dùng chữ Hy Lạp. Năm 280 trước TL, kinh thánh được dịch toàn bộ ra chữ Hy Lạp, gọi là bản Septuagint. Sau cùng lại được dịch ra chữ LaTinh. Ngày nay kinh thánh được dịch ra 1700 thứ tiếng, với số ấn bản hằng tỷ cuốn, lưu hành khắp thế giới. Tóm lại kinh thánh co 31. 102 câu, 1189 chương, chia thành 66 tập, chương ngắn nhất là chương thanh thi 117 và chương 119 dài nhất.

Riêng chữ thập được coi như một biểu tượng phong phú nhất của con người. Chính truyền thống Thiên Chúa Giáo đả làm giàu ý nghĩa của chữ thập. Trong các tranh ảnh nói về đạo Ky Tô, chữ thập diễn tả nhục hình cũng như nổi thống khổ của đấng cứu thế. Hiện nay trên thế giới có 4 loại thánh giá và mỗi thứ mang riêng một ý nghĩa. Thánh giá có hình chữ T, tượng trưng cho con rắn bị đóng trên một cây cọc, nói về sự tử vong. Thánh giá có một thanh ngang, hiện được lưu dùng khắp thế giới, đó là thánh giá của phúc âm, tượng trưng cho 4 yếu tố căn bản của con người và sự bành trướng của đạo thiên chúa khắp 4 hướng. Chân thánh giá chôn dưới đất là nền tảng của đạo, nhánh trên là hy vọng hướng về thiên chúa, thanh ngang là tình yêu vươn lên với kẻ thù, còn bề dài nói về sự bền chí. Loại thánh giá có hai thanh ngang, thanh trên có ghi dòng chữ của Ponce Pilate "Jésus thành Nazareth, vua Do Thái", còn thanh dưới là chỗ tựa tay của Chúa trước khi chết. Thánh giá này còn được gọi là Anjou hay Lorraine, một biểu tượng của nước Pháp từ năm 1473. Trong thế chiến 2, lực lượng liên minh tự do kháng chiến của De Gaulle cũng dùng quân hiệu với màu đỏ, đối nghịch với quân Pháp đã đầu hàng Hitler, dùng phù hiệu chữ vạn ngược màu đen. Cuối cùng là thánh giá có ba thanh ngang, tượng trưng cho kỷ cương của đạo, tương xứng với ba vòng mủ của Giáo Hòang, Hồng Y và Giám mục. Từ thế kỷ thứ XV về sau, theo luật của Tòa Thánh La Mã, theo đó chỉ có Giáo Hoàng được đeo thánh giá ba thanh ngang, Hồng Y đeo thánh giá hai thanh ngang và Giám Mục trở xuống đeo thánh giá một thanh ngang. Tuy nhiên cũng tùy theo địa phương, với giáo hội La Mã thì thánh giá gồm một một dài một ngắn. Giáo hội Phương Ðông có hai thanh bằng nhau. Ðặc biệt tín đồ thiên chúa giáo vùng Saint André, mang thánh giá hình chữ X.

+ NHỮNG BỨC TRANH VÔ GIÁ VẼ MẸ MARIA VÀ CHÚA JÉSUS :

Ngoài người Ai Cập, La Mã và Trung Hoa, dân tộc Hy Lạp cũng mang tính nghệ sĩ độc đáo qua mọi thời đại và đã đạt tới đỉnh cao của nghệ thuật ngay từ thế kỷ thứ 5 trước TL. Nhưnng từ khi Ky Tô giáo từ vùng cận đông du nhập vào Âu Châu, đã làm có nhiều thay đổi quan trọng trong nghệ thuật, suót thời trung cổ, kéo dài từ thế kỷ thứ V ố XV sau TL. Ðây cũng là giai đoạn các nhà nghệ sĩ đã chuyển từ chủ nghĩa Duy Nhiên sang vẽ Bích và Minh Họa các vị Thánh, đạt tới mức hoàn mỹ.

Tuy nhiên vì các đề tài đều do đơn đặt hàng của Tòa Thánh hay nhà thờ, cho nên hầu hết đều mang tính ước lệ, kiểu mẫu từ hình thức cho tới nội dung.

Sau thời trung cổ, nhờ các họa sư người Ý như Giotto, Leonard de Vinci, Raphael Santi... đã có công lớn trong việc làm sống đọng nghệ thuật Ky Tô giáo, từ thời phục hưng cho tới ngày nay, qua các họa phẩm về Mẹ Maria, Chúa Jésus, bằng cách mượn ngay hình ảnh của người bình thường, để làm mẫu vẽ. Với Leonard de Vinci, ông đã thành công tuyệt mỹ, qua bức tranh "Ðức Mẹ Thành Benoir", khi mượn hình ảnh hiền dịu khả ái của một thiếu phụ trẻ, đang mỉm cười nhìn cánh hoa đang hé nở trong tay đứa bé. Toàn bộ bức tranh thật linh hoạt sống đọng, qua hình ảnh người thiếu phụ tượng trưng cho mẹ Maria. Nhưng ý nghĩa nhất vẫn là đôi mắt của Chúa Hài Ðồng, lúc chăm chú nhìn vào cánh hoa, đồng thời đưa một ngón tay khẻ chạm vào nó, như sợ vuôt mắt niềm tin quý báu. Bức tranh này về sau được gọi "Tranh Ðức Mẹ Với Cành Hoa", khác biệt với những tranh mẫu trước thời phục hưng. Ngoài ra Vinci còn sáng tạo nhiều tuyệt tác phẩm khác như "Ðức Mẹ Lita, Ðức Mẹ và Thánh Ana", tới nay cũng vẫn còn là đỉnh cao của nghệ thuật.

Ðồng thời với Vinci, còn có họa sư Raphael Santi, cũng là người Ý và cũng sáng tạo chung một đề tài về Ðức Mẹ và Chúa Jésus. Tuy nhiên phong thái của hai người hoàn toàn khac biệt, do tính chất nghệ sĩ cá nhân của mỗi người. Trong lúc Vinci sống nơi phố phường đô hội, trái lại Raphael thì sinh và trưởng thành tại Urbino, một miền quê thơ mộng và xinh đẹp của miền Bắc Ý. Vì vậy sau này dù ở tại các thành phố lớn như Florence hay Rome, ông vẫn lấy khung cảnh đồng quê để hoàn thành các tuyệt tác phẩm như Ðức Mẹ Cadatempi, Ðức Mẹ với Hài Nhi, , Cậu Bé Jean Baptist và Người Mẹ Elizabeth... Bức họa nào cũng tuyệt đẹp và thơ mộng, qua cảnh vườn cây bãi cỏ xanh mượt, chen lẫn giữa muôn hoa. Nhưng nổi bật hơn hết, vẫn là hình ảnh của tháp chuông nhà thờ cao vòi vọi, đứng im lìm soi bóng trên mặt hồ phẳng lặng. Năm 37 tuổi sắp qua đời, ông lại hoàn thành một tác phẩm vĩ đại lưu danh thiên cổ, đó là "Ðức Mẹ Ở Sixtine". Ðây là một nghệ thuật độc đáo, đã dung hòa được tinh thần nhân văn, thời phục hưng và truyền thống cổ.

3-Ðêm Thánh Vô Cùng Khắp Thế Giới :

Theo sử liệu, cách đây hơn 2000 năm, vào một đêm đông lạnh lẻo, Chúa Jésus đã được sinh trong một máng cỏ, nơi cánh đồng cô quạnh. Nguyên do là bà Maria tuy sắp tới ngày sinh đẻ nhưng vì có lệnh kiểm tra dân số của chính quyền La Mã, nên phải rời thành phố đang ở là Nazareth, về quê hương tận Bethlehem, vì vậy đã sinh Chúa giữa đồng. Tuy nhiên tới năm 350 sau TL, nhân loại mới thống nhất được 25-12 là ngày lễ giáng sinh chung, tuy rằng mỗi nước mỗi địa phương đều có những tục lệ khác biệt, theo tập quán phong tục riêng của họ.

Từ thời trung cổ về sau, nhất là tại Âu Châu, lễ giáng sinh được tổ chức rất long trọng và vĩ dại. Trong mùa lễ, khắp nơi đều có lập những sân khấu lộ thiên, để các đoàn văn nghệ của giáo hội, trình diễn các tiết mục của thánh kinh. Nhờ vậy, nghệ thuật diễn tuồng, kịch của Âu Châu được phát huy và quảng bá rộng rải. Tinh thần Noel trên kéo dài tới cuối thế kỷ XVIII mới bị bãi bỏ. Dù vậy tới nay vẫn còn nhiều phong tục xa xưa được chấp nhận như niềm tin rằng, trong đêm giáng sinh, ma quỷ và các phù thuỷ không thể nào hãm hại được ai, ví đó là đêm bình an, hoan lạc của thế nhân. Ngoài ra nếu đêm giáng sinh trúng vào mùa trăng non, thì năm tới dân chúng làm ăn phát đạt trúng mùa. Ngày giáng sinh gặp nắng ráo thì cả năm tới mưa thuận gío hòa. Trong đêm giáng sinh, nam nữ rủ nhau đi hái lộc non của các cây nguyệt quế, trường xuân, đào kim chướng, chùm gởi... qua niềm tin lộc sẽ mang tới hạnh phúc cho họ.

Trong lúc đó thì mọi nhà, kể cả kẻ ngoại đạo, đều có tiệc tùng rất vui vẻ. Từ sau đệ nhị thế chiến, bánh Buche de Noel, đã trở thành một thực đơn quen thuộc, không thể thiếu trong bữa tiệc của đêm giáng sinh. Riêng lý do bánh có hình khúc củi, cũng từ tập tục có từ thời trung cổ truyền lại, để con cháu nhớ lại thuở xưa khắp Âu Châu, mọi người đều phải dùng củi để đốt lò sưởi, trong dịp sinh nhật Chúa. Ðây cũng là thời kỳ lạnh nhất trong năm, nên mọi ngưòi vừa đốt củi để sưởi, vừa ngồi quanh lửa hồng để cầu xin ơn trên ban phước lành. Ngoài ra còn phải kể tới món Gà lôi hay Gà tây, được mang từ Tân Thế Giới về Tây Ban Nha, từ thế kỷ thứ XVI, và theo thời gian đã trở thành món ăn quen thuôc hằng ngày nhưng cũng là đặc sản trong đêm sinh nhật Chúa.

Tuy cũng thuộc Âu Châu nhưng nước Nga với lãnh thổ rộng nhất hoàn cầu, chạy dài từ Âu sang Á, nên khí hậu có tính cách đại lục. Mùa đông ở đây cũng khác biệt với những lớp tuyết trắng phủ đầy, từ mặt đất lên cả mái nhà, còn mắt trời thì giống như ngái ngủ, làm cho cả cảnh vật khắp nơi buồn hiu quạnh quẻ. Trước đây người Nga theo Chính thống giáo và lịch riêng của mình, nên hằng năm đón giàng sinh vào ngày 6-7/1. Hiện Liên Bang Nga đã xài lịch Gregorian, nên đón giáng sinh cũng như các nước khác... Theo truyền thống, người Nga có tục kiêng cữ ăn uống trước đêm giáng sinh, trong đó có rượu Vodka và đường bị cấm tuyệt. Thời gian này, mọi người chỉ ăn bánh Sochniki làm bằng đậu, được chiên bằng dầu thảo mộc và uống nước lạnh. Rồi vào lúc 7 giờ tối đêm giáng sinh, khi mà khắp nước Nga, mọi người nhìn thấy một ngôi sao nhỏ, xuất hiện trên bầu trời xám đục, lập tức mọi người cầu nguyện. Sau đó quay quần bên bữa tiệc giáng sinh, sau kỳ ăn kiêng, mà người Nga coi như một biểu tượng của 40 năm, Moses đã dẫn dân Do Thái đi trong sa mạc mịt mù. Thời kỳ này, người Nga nào cũng đều làm việc từ thiện. Tại Canada thời tiết cũng lạnh lẽo như bên Nga nhưng tuyết có rơi cũng chỉ là lất phất vừa đủ rắc một vài lớp đá mỏng lên trên vạn vật, rồi dần tan ngay khi có ánh nắng mặt trời. Bởi vậy khách du phương khi tới đây gặp mùa giáng sinh, bổng thấy mình vô tình lạc vào cõi thần tiên, giữa rừng cây hằng xanh, của các pho truyện cổ tích, mà các nghệ sĩ Âu Mỹ thường ca tụng là Pine, holly, mitlatoe.

Tại đây đâu đâu cũng tràn ngập hàng hóa dành cho ngày giáng sinh, tất cả đều rạng rỡ dưới màu sắc của mọi màu. Ðêm giáng sinh tại đây thật an bình, mọi người sau khi dự lễ nhà thờ về, đều quay quần bên bàn tiệc với gia đình, bè bạn, trong ánh lửa bập bùng của lò sưởi và các đèn màu mờ ảo từ các cánh thông nơi góc nhà. Ai cũng vui vẻ hạnh phúc, nâng ly chúc tụng lẫn nhau, mặc cho ngoài trời giá lạnh căm căm và tuyết rơi như mưa bụi, nhưng vẫn có những kẻ không nhà hay lỡ bước lang thang.

Thánh địa của Thiên Chúa giáo là vương quốc Vatican, tuy lãnh thổ nằm trong kinh đô Rome của Ý Ðại Lợi nhưng từ năm 1929, đã đã được Musolini ký lênh công nhận là một quốc gia độc lập, bất khả xâm phạm. Tại đây, từ đầu thế kỷ thứ IV sau TL, tòa thánh La Mã đã xây Ðại giáo dường ST. Peter giữa kinh thành Rome và quảng trường Thánh Phêrô, có sức chứa hằng trăm ngàn người. Tất cả đều uy nghi tráng lệ và vĩ đại, không nơi nào có thể sánh kịp, từ trước tới nay. Trong đêm giáng sinh, người Ý cũng như các tín đồ hành hương ngoại quốc, đều tụ tập về đây. Lễ hội kéo dài suốt đêm, mọi người vừa hành lễ, vừa vui mừng chúc tụng, ăn uống, nhảy múa ca hát. Ðồng thời với nhiều chương trình ca nhạc được diễn ra khắp nơi tại Via, đồi Aventine, nhà nguyện Sixtine, quảng trường Campitelli... với các ban nhạc trứ danh bất hủ của Villa Lobos, Beethoven, Brahms, Ravel, Janacer và Stravinsky.

Tại Hoa Kỳ, những người di dân Anh đầu tiên đã mang lễ hội giáng sinh vào đây và được tổ chức lần đầu vào năm 1686 tại Boston nhưng tới năm 1856 mới được quốc hội công nhận là quốc lễ. Tuy nhiên tất cả các kỷ lục liên quan tới lễ giáng sinh đều phát hiện tại Mỹ, cũng như là nước đứng đầu sử dụng cành thông trong mùa lễ. Nữu Ước chẳng những là trung tâm kinh tế số 1 của Mỹ, mà còn là kho hàng bách hóa khổng lồ, đường phố cửa tiệm buôn bán suót ngày đêm, với sản phẩm mới, hàng thời trang và đồ chơi trẻ con tràn ngập thị trường. Trong lúc đó các chương trình hòa tấu, văn nghệ dành cho mùa Noel được trình diễn liên tục, khắp các trung tâm buôn bán Rockefeller, Radio Music Hall, Carnegie Hall... Ở đây đêm giáng sinh cũng như giao thừa, mọi người tụ tập tại các nơi công cộng như đại lộ Madison, đường số 5, các đại vũ trường trong khách sạn Plaza, Rockerfeller, Waldorf, Astoria, Time Square... dễ ăn uống, nhậu nhẹt, khiêu vũ ca hát suốt đêm.

Ở Anh hầu hết các chuyến tàu điện, tàu điện ngầm, các loại xe chuyên chở công cộng, đều luôn đầy nghẹt người suốt ngày đêm 24/12, vì ai cũng hối hả về đoàn tụ với gia đình trong đêm giáng sinh, một lễ hội quan trọng nhất trong năm, hơn cả ngày tết dương lịch. Theo tập quán lâu đời tại Anh, thì ngày chủ nhật trước lễ giáng sinh, mọi người tụ tập tại các nhà thờ để hát thánh ca. Trong lúc đó có nhiều người đi hát dạo trên đường phố cũng như ở nhà quê, để quyên tuyền giúp cho các cơ quan từ thiện. Trong nhà, ngoài phố nơi nào cũng trang hoàng cây giáng sinh với những gói quà tặng. Ở Á Châu, Nhật là quốc gia tuy 90 % theo Phật giáo nhưng lại hưởng ứng nồng nhiệt lễ giáng sinh. Với các gia đình theo đạo Thiên Chúa, bữa tiệc nửa đêm được tổ chúc rất long trọng, ngaòi món gà tây nhồi thịt, còn có sò và ngỗng, uống với rượu Ské hâm nóng.

Gợi lại những hình ảnh củ mới của mùa giáng sinh, đang nở rộ khắp vạn nẻo đường thế giới, bổng xót xa nghĩ nhớ những mùa giáng sinh năm xưa ở quê nhà, trước ngày 30-4-1975. Buổi đó, mọi người vì tin đạo, yêu đời và tâm hồn vị tha phóng khoáng theo truyền thống muôn đời của dân tộc, nên ai cũng cố quên sự chết chóc đang rình rập, để đón mừng đêm Chúa ra đời. Phó mặc cho pháo kích, lựu đạn của VC lúc nào cũng lợi dụng hưu chiến, gây nỗi tang tóc đau khổ cho mọi người.

Rồi những ngày mở cửa rước tư bản vào cứu đảng. Cứ mỗi lần giáng sinh tới, Vc lại đóng kịch tự do tôn giáo, vừa che mắt thánh, lại có dịp tổ chức ăn chơi thu tiên đô của việt kiều và du khách. Nhưng dân chúng cả nước thì mặc kệ thiệt hay giả, đêm giáng sinh năm nào cũng đón mừng vui vẻ, theo tiêu chuẩn là vui được phút nào thì cứ vui, chứ sống trong thiên đường xã nghĩa, biết đâu mà mò chuyện ngày mai sắp tới.

Xứ người mấy chục năm qua, đêm giáng sinh nào cũng nghe lại được những bài hát Ðêm Ðông, Ðêm Thánh Vô Cùng, Mừng Chúa Giáng Sinh... khiến cho hồn thêm bâng khuâng cô quạnh, rồi tự hỏi :

"những người năm xưa ấy
giờ lưu lạc phương nào... ?"

Ðêm nay giáng sinh lại về, ta kẻ ngoại đạo một mình lang thang trên phố vắng người. Trên lầu cao, nhà ai tràn ngập ánh đèn màu và chập chùng tiếng nhạc giáng sinh thánh thoát, quyện theo gió xa đưa mùi hương huệ trắng thơm ngát ngào ngạt. Ôi đêm thánh vô cùng khắp trần gian, ta đón mừng với giọt nước mắt ly hương, lầm lũi trong đêm lạnh:

"Ta đã khóc dù hồn đâu có muốn
nhìn dòng đời hờ hững nhớ quê hương..."

Xóm Cồn
Mùa Giáng Sinh 2007
HỒ ÐINH

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Giấy Chứng Nhận
Lượm lặt


Trên tàu hỏa, một nữ soát vé xinh đẹp đang nhìn chằm chằm người đàn ông trung niên có dáng vẻ như người làm thuê, nói như quát: “Soát vé”. Người trung niên tìm khắp người, cuối cùng cũng tìm được vé, nắm chắc trong tay, như không muốn đưa.

Người soát vé nhìn theo tay người trung niên, cười tinh quái, nói: “Đây là vé trẻ em”.

Người trung niên đỏ mặt, ấp úng nói: “Chẳng phải giá vé trẻ em cũng như giá vé người tàn tật sao?”….

Vé trẻ em và vé người tàn tật bằng tiền nhau, dĩ nhiên người soát vé hiểu đươc điều đó. Cô ta nhìn người trung niên vẻ dò xét, hỏi: “Ồng là người tàn tật à?”.

“Vâng, tôi là người tàn tật”.

“Vậy đưa giấy chứng nhận cho tôi xem”.

Người trung niên vội nói ngay: “Tôi … không có giấy chứng nhận. Khi mua vé, người bán vé đòi cho xem giấy chứng nhận, không còn cách nào khác, tôi đành phải mua vé trẻ em”.

Người soát vé cười khẩy nói: “Không có giấy chứng nhận tàn tật, làm sao chứng minh được ông là người tàn tật?”.

Người trung niên không nói năng gì, chỉ nhẹ nhàng vén quần lên – ông ta chỉ còn nửa bàn chân.

Người soát vé nghiêng đầu nhín, nói: “Cái tôi cần xem là giấy chứng nhận, là tờ giấy có đóng dấu nổi của cơ quan thương tật”.

Người trung niên đau khổ giải thích: “Tôi không có hộ khẩu ở đây, nên người ta không làm giấy chứng nhận cho tôi. Hơn nữa, khi tôi làm thuê cho một chủ tư nhân, sau khi xảy ra tai nạn, ông chủ đã bỏ chạy, tôi không có tiền đi giám định…”

Biết tin, trưởng toa đến hỏi tình hình.

Người trung niên lại một lần nữa trình bầy, mình là người tàn tật, mua một chiếc vé có giá tiền như người tàn tật…

Trưởng toa lại hỏi: “Giấy chứng nhận tàn tật của ông đâu?”

Người trung niên nói mình không có giấy chứng nhận, rồi cho trưởng toa xem nửa bàn chân còn lại.

Trưởng toa cũng chẳng thèm nhìn, vẻ khó chịu nói: “Tôi chỉ cần giấy chứng nhận, không cần nhìn người! Có giấy chứng nhận mới được ưu tiên mua vé tàn tật. Ông nhanh chóng mua vé bổ sung đi”.

Người trung niên nét mặt ỉu xìu, chẳng biết nói năng gì.
Ông ta tìm bới các túi và hành lý mang theo, chỉ có vài đồng bạc, không đủ tiền mua vé bổ sung. Ông khóc lóc nói với trưởng toa: “Sau khi tôi bị máy cắt mất nửa bàn chân, không còn làm ăn gì được nữa. Không có tiền, ngay cả quê cũng không dám về, tiền mua chiếc vé này cũng do bà con gom góp lại. Mong ông nới tay làm phúc, bỏ qua cho tôi!”.

Trưởng toa kiên quyết: “Không được”.

Người nữ soát vé cũng nhân cơ hội này nói với trưởng toa: “Đưa ông ta đến toa than ở đầu tầu làm lao động nghĩa vụ”.

Trưởng toa nghĩ một lát rồi nói: “Thế cũng được”.

Một người lạ mặt ngồi đối diện với người trung niên, bỗng dưng đứng đậy, trừng mắt nhiìn trưởng toa, nói: “Ông có phải là đàn ông không?”

“Đương nhiên tôi là đàn ông rồi!”

“Ông lấy gì để chứng minh mình là đàn ông? Ông hãy cho mọi người xem giấy chứng nhận mình là đàn ông”

Mọi người xung quanh cười ầm lên.

Trưởng toa ngẩn người ra, nói: “Tôi là thằng đàn ông đứng lù lù ở đây, làm sao mà giả được?”

Người lạ mặt lắc đầu, nói: “Tôi cũng như ông, chỉ cần giấy chứng nhận chứ không cần nhìn người, có giấy chứng nhận đàn ông mới là đàn ông, không có giấy chứng nhận không phải là đàn ông”.

Trưởng toa bí quá, không t́ìm được câu trả lời.

Người nữ soát vé đứng lên gỡ thế bí cho trưởng toa, nói với người lạ mặt: “Tôi không phải đàn ông, ông có điều gí nói với tôi không nào?”

Người lạ mặt chỉ vào mũi cô ta và nói: “Về cơ bản, cô không phải là người”

Người nữ soát vé lồng lộn lên, giọng the thé: “Ông có độc mồm không đấy, tôi không phải là người thì là cái gí?”

Người lạ mặt bình tĩnh, cười và nói: “Cô là người à? Vậy thì tốt rồi, hãy cho tôi xem giấy chứng nhận cô là người…”

Mọi người xung quanh lại được một trận cười khoái chí.

Chỉ có một người không cười, đó là người trung niên mất nửa bàn chân. Ông nhìn chằm chằm mọi người và không biết từ khi nào, nước mắt lã chã tuôn rơi, không biết là ấm ức hay cảm kích…
Thế thì người Cộng sản cần phải trình giấy chứng minh nào mình là người Cộng sản chuyên chính?
Trình thẻ đảng viên Cộng sản?
- Dạ thưa không?
Trình giấy liệt sĩ?
- Dạ thưa không?
….
Dạ thưa, trình tờ biên nhận do Tàu Cộng cấp đã “Bán Nước Buôn Dân”



December 25, 2007

http://www.tamthucviet.com/articleview. ... %80%baN%19

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Lá bên hàng xóm lá bay sang…

Phan
Địa chỉ nhà tôi có chữ CT (Court) sau tên đường, tức là trong vòng lẩn quẩn của mươi căn nhà, tạo thành một vòng tròn đồng tâm là cái công viên nhỏ nhỏ cho trẻ con vui chơi; người lớn tản bộ trên những lối đi quanh co bằng xi măng (sidewalk) rất sạch và đẹp; người già ngồi hóng mát trên những ghế đá công viên… Người tiếc phải đóng $20 hụi chết mỗi tháng cho công việc cắt cỏ, thay bao rác ngoài vườn tao ngộ, thì cứ bán nhà rồi dọn đi vì phép vua thua lệ làng nơi đây là thế! Tôi tính ra cái giá nhập gia tùy tục của mình ($20/ tháng) cũng không mắc. Có chỗ cho con chơi không sợ xe; vợ ngồi đọc sách, nói điện thoại với bạn bè trong không gian thoáng đãng nên chắc không “tố” mình nhiều. Bản thân tôi xài cái park này cho công việc đi bộ buổi sáng rất tốt… Tôi vui lòng đóng $20 mỗi tháng/ đóng một lần cho nguyên năm thì được bớt 20%. Tôi tính đóng tiền một lần cho 10 năm để đừng đua đòi chuyện nhà cửa nữa! Mình đã mua nhà đúng location như ý! Tôi thích cái thiên đàng trù phú chuyện vui nơi đây - cái park nhỏ - nhưng rất nhiều chuyện lớn. Nhưng thành phố không nhận tiền 10 năm vì cho tôi là… khùng. Cũng lại là phép vua thua lệ làng Country Creek. Tôi thích hàng xóm quanh đây toàn quân nhân về hưu hay FBI còn đang tại nhiệm; tôi thích những gì tôi viết từ đây - cái park này.

Một mẩu chuyện con trong Giáng sinh này, thế mà tôi cũng tốn hết $20 nhân cho 5 năm. Năm năm trước, có đôi vợ chồng Mỹ trắng dọn đến căn nhà mà họ mới mua trong vòng lẩn quẩn của khu nhà này. Nhìn đôi vợ chồng cỡ ba mươi tuổi xây đắp cho tổ ấm của họ thật dễ thương. Anh chồng cao ráo, vạm vỡ, gương mặt hơi xấu xí vì cái mũi Nixon. Mà cứ hễ đàn ông càng xấu xí bao nhiêu thì vợ đẹp bấy nhiêu - luật bù trừ của Tạo hoá rất đáng khen. Cô vợ anh ta lúp lúp có mang, hai người trồng hoa thơm cỏ lạ phía trước nhà, giăng mắc dây đèn trang trí Lễ hội theo mùa… thật êm đềm, hạnh phúc. Tôi thích nhìn lén người ta hôn nhau lúc đang lao động, tôi nghĩ chẳng có gì xấu xa cho kẻ nhìn vì nhìn hai người hôn nhau giữa thanh thiên bạch nhật để có ba người tin rằng hạnh phúc là có thật trên cõi đời ô trọc này. Tôi bắt chước họ khi tôi cắt cỏ, cũng gọi bà chủ nhà trọ cuộc đời tôi ra! Cho anh xin ly nước uống, hay ra giúp một tay đi cưng… Sau đó, cảm ơn em đã giúp bằng cái hôn như anh hàng xóm hôn vợ anh ta rất ngọt ngào, tự nhiên… nhưng tôi thì không như nguyện! Tại sao? Tại người Mỹ hôn nhau ngoài ngõ, cãi nhau trong nhà. Người Mít hôn nhau trong nhà, cãi nhau ngoài chợ. Bà chủ nhà trọ cuộc đời tôi giải thích thế thì tôi biết thế!

Tôi còn hân hạnh được nghe nhiều lần những đôi vợ chồng Mít chửi nhau ngoài chợ nữa kìa! Kể ra đây không khéo thành người vạch áo cho người xem lưng! Nên tin bà chủ nhà trọ của tôi không nói ngoa; còn nhìn người Mỹ hôn nhau nơi thanh thiên bạch nhật; nơi công cộng thì đã nhàm. Tôi hội nhập vào đời sống Mỹ tự bao giờ thì chính tôi cũng không nhớ nữa. Chỉ biết mình không còn ngượng khi ôm một bà Mỹ quen mà lâu ngày không gặp; hay những bà Mỹ không tiếc cái hôn lên gò má tôi mà tôi thì tiếc cái gò má mình là khoản chưa hội nhập! Từ từ tôi mới nhập gia tùy tục được chứ. Tôi đã biết thích những người đẹp hôn tôi, rồi đó! Không tin, cứ thử đi.

Trở lại với đôi vợ chồng hàng xóm trẻ trung, tôi thấy người nữ có mang từ hồi họ mới về đây, không chừng tôi biết trước cả anh chồng ngu ngơ của thị vì đàn ông mới lấy vợ lần đầu dốt lắm, chẳng có kinh nghiệm gì đâu! Rồi một bé gái ra đời. Tôi nghĩ là họ bận bịu con thơ nên không còn thời giờ chăm lo nhà cửa như trước nữa. Bây giờ, hoa thơm đã tàn; cỏ lạ thành cỏ dại; giấy quảng cáo, báo chí… dầy lên ngoài cửa trước mà vợ chồng họ thì đi cửa sau đã từ lâu. Thỉnh thoảng, thành phố dán giấy yêu cầu cắt cỏ vì cỏ nhà họ đã quá cao. Tôi lại bị thấy anh chồng miễn cưỡng đẩy cái máy cắt cỏ cho khỏi bị phạt, anh không còn cái hăng hái của ngày đầu đến đây là quét dọn sau khi cắt cỏ. Cuộc sống của họ đã âm thầm đến phiền lòng hàng xóm là cỏ bị cắt sẽ khô đi và bay tứ tung. Nhớ lại, mới hai mùa cỏ chứ nhiêu! Nhanh vậy sao?

Mùa cỏ thứ ba, tôi đã thấy đoàn quân cắt cỏ thuê dừng xe nơi nhà họ. Những người Mễ lành nghề làm việc mắc mê, không tới ba mươi phút là xong một căn nhà tù lu thành sạch đẹp. Nhìn lại, chỉ thấy người đàn bà trẻ với con bé mới biết đi. Chiều chiều, hai mẹ con ra công viên chơi như những gia đình khác. Có khi mẹ đẩy hay kéo con trên cái xe bốn bánh như trailer giành cho con nít. Bóng chiều tà, họ lặng lẽ trở về căn nhà đã vắng tiếng đàn ông. Tôi nghĩ nhiều về đứa bé chưa kịp có trí nhớ để nhớ gương mặt người cha đã sinh ra nó. Mỗi cuối tuần, nhìn nó lớn nhanh trong thiên đàng trẻ thơ là đất Mỹ nhưng đằng sau cuộc sống đủ đầy của nó, chắc chắn là một khoảng trống mà vật chất không bù đắp nổi là hình ảnh người cha như những đứa trẻ khác, có.

Tôi lại nhìn hình ảnh người nữ, mới hôm nào cười tươi như hoa để làm mẫu cho những cụm hoa cô vừa trồng xuống, sẽ nở hoa như nụ cười hạnh phúc của cô. Nay, hoa đã tàn và nụ cười đã tắt. Hạnh phúc ngắn ngủi dữ vậy sao?

Xin nhắc lại: Tôi vẫn trả $20 một tháng tiền cắt cỏ, thay bao rác ngoài công viên nên tôi phải nhìn gỡ vốn. Tới hôm thu về năm trước, tôi thấy mình có lời rồi! Nhìn gái một con trông mòn con mắt… hí. Bà chủ trọ của tôi nói thế thì tôi tin thế. Tôi nhìn bằng mắt hí bẩm sinh hay nhìn bằng tấm lòng cửa biển thì tôi biết tôi thôi! Tôi nhìn hình ảnh… Gió mùa thu mẹ ru con ngủ/ công viên buồn… mẹ ngủ trước nha con! Cô ấy ngủ gục tới lọt quyển sách trên tay còn không hay, con bé chạy băng băng ra đường xe chạy... thế là tôi được dịp làm Lục Vân Tôi, cứu Kiều-Nguyệt-con. Tôi thoả mãn được nhu cầu làm quen cất giữ đã lâu trong tấm lòng cửa biển.

Khơi khơi xuất hiện thằng hàng xóm mắc dịch ưa tới tán chuyện với Kiều mẹ, chẳng nể mặt tôi gì hết! Tôi cũng không thèm nói gì vì nó bự con quá! Một hôm tình cờ tôi thấy cảnh lâm nguy! (Kiều con bảo Kiều mẹ ngồi vô trailer cho Kiều con kéo. Kiều mẹ không over weight nhưng cái trailer nhỏ quá nên khi ngồi xuống thì không đứng lên được. Kiều nữ ngồi bó gối và kẹt cứng trong trailer.) Gặp tôi, cứu người trước rồi đền ơn đáp nghĩa sau. Nhưng thằng mắc toi này là xăng pha nhớt! Nó la bai bải… khoan khoan ngồi đó chớ ra/ nàng là phận gái ta là… pê đê. Nó bảo đợi nó vô nhà lấy điện thoại để kêu 911. Thế là tôi phỏng tay trên nó - cái cơ hội ngàn năm một thuở! Tôi đẩy trailer đến một cành cây cao ngang đầu tôi, bảo thằng mắc dịch giúp một tay, khiêng nguyên cái trailer lên cho người đẹp nắm hai tay vô cành cây, tôi lắc lắc cái trailer rơi xuống đất! Dễ vậy mà thằng xăng pha nhớt nghĩ không ra. Còn hỏi tôi: “Nếu chỉ có một mình mày ngoài park thì mày làm sao?” Tôi nói: “Tao lật cái trailer ngang ra, cho cô ta nằm trên cỏ thì tao cũng lấy được cái trailer ra vì người đã kẹt thì phải nghĩ tới chuyện phá cái trailer chứ có ôm người kéo lên thì cái trailer cũng theo lên…” Nó hơi quê trước mặt người đẹp vì cái tội… ngu. Tôi thì hỉnh cái mũi thông minh dù hơi… tẹt. Kiều cảm ơn tôi bao nhiêu lời… tôi nhớ tới trong mơ.

Mùa đông về không gặp vì ai nấy co ro trong nhà, sang xuân bừng dậy dáng Kiều thơm… hạ tàn trên mí mắt giai nhân đi về lẻ bóng. Thu đến âm thầm cho bước khẽ mênh mang hai buổi đi về mà người hàng xóm còn nghe cô đơn.


* * *


Bỗng sáng thu nay! Có người lính trẻ sát bên nhà Kiều, mới về phép chăng? Tôi đi bộ buổi sáng quanh công viên như thường nhật. Tôi chào anh lính phong phanh áo ba lỗ, quần rằn ri, chân giày saut mà mắc cỡ với mình trong hai lớp áo. Anh đang thổi lá nhà anh và cả nhà cô hàng xóm chưa quen. Tôi đi thêm một vòng công viên nữa, vòng nữa… hai sân nhà đã sạch lá thu bay. Lính làm việc có khác! Nhanh, gọn, lẹ. Một hàng bao giấy recycle có chữ Home Depot nằm dọc theo lề đường để cho xe rác lấy. Tôi đã tâm phục khẩu phục nên dừng chân khen ngợi anh ta.

“Anh đúng là lính, làm việc nhanh gọn lẹ như lính.”

“Tôi lười như lính thì đúng hơn. Nhưng cha tôi cứ đổ lỗi cho nhà bên thổi lá sang sân nhà tôi. Chiều hôm qua, tôi đứng nhìn một lát thì rõ do chiều gió thổi táp vào sân nhà tôi chứ ai lại thổi lá qua nhà hàng xóm bao giờ! Cha tôi già rồi nên khó tính. Sáng nay, ông bảo tôi thổi lá bay sang nhà bên chứ không phải lá nhà mình thì không phải hốt. Tôi không làm thế được nên tôi hốt hết lá vào bao rác thì hết chuyện. Anh đồng ý không?”

“Tôi có cách nào để không đồng ý với anh! Thật ra, nhà tôi cách đây vài căn, tôi đi bộ exercise mỗi sáng trước khi đi làm ở công viên này đã 10 năm. Mùa thu nào cũng thấy cha anh thổi lá trở lại gốc cây của nó. Nhưng khi ông cụ cuốn dây điện, cất máy thổi cỏ vào thì chỉ một luồng gió… lại đưa đám lá sang sân nhà ông. Tôi, nhiều lần muốn nói nhưng nghĩ kỹ thì không nên… vì tôi cho công việc thổi lá mỗi sáng sẽ tốt cho sức khoẻ của cha anh. Coi như ông cụ tập thể dục buổi sáng…”

Chúng tôi cười nói vui vẻ với nhau, anh lính cho hay: Anh đi lính từ 18 tuổi, 20 năm quân ngũ trên khắp những căn cứ Mỹ ở nước ngoài và trong nước. Hai lần bị thương nhưng không đáng giải ngũ. Lần này, anh không về phép đôi ngày rồi lại đi mà anh về luôn vì đã giải ngũ. Anh tính đi xin việc làm để có hai đầu lương (lương đi làm và lương hưu của lính). Anh sẽ lập gia đình và bắt đầu một đời sống dân sự…

Tôi chào tạm biệt anh để về nhà tắm rửa và đi làm. Đầu óc tôi còm mang mang hình ảnh người lính Mỹ. Sao mà tương lai rộng mở, đẹp đẽ dữ vậy ta? Anh ăn lương hưu sau 20 năm phục vụ quân đội - đã đủ sống. Anh đi làm thì chẳng Hãng xưởng nào không welcome lính vì tôi đã thấy lính Mỹ về hưu đi làm Hãng xưởng thường được trọng vọng - giao chức vụ cao bởi tính kỷ luật và tinh thần trách nhiệm của họ. Hồi mới qua Mỹ, tôi đi làm hãng và cũng có ông Supervice là lính giải ngũ. Oâng nghiêm khắc với công nhân về giờ giấc, tinh thần trách nhiệm rất cao trong công việc và hơn “xếp” dân sự là đấu tranh cho quyền lợi của thuộc cấp rất “tới”. Hình như “xếp” gốc lính thì không biết sợ “Boss”. Đó là hình ảnh người lính Mỹ sau khi giải ngũ. Nhớ đến những người lính VNCH tàn chiến cuộc thì thật là mất hứng.

Tối đó, tôi đi làm về muộn vì sáng đi muộn. Thói quen nhìn ngắm xóm mình một vòng trước khi vô nhà đã làm tôi ngơ ngác trước màn hai cảnh một. Nhà cô Kiều sáng đèn hơn mọi hôm, tiệc tùng hay chỉ tiếp khách vãng lai gì cũng được! Miễn không khí âm u của căn nhà cũng như gia chủ tan đi là vui rồi! Và kìa! Cô tiễn khách ra cửa trước, hai người họ hôn nhau - thơm lừng một tối thu-đông se lạnh. Tôi không thấy rõ gương mặt người đàn ông vì lưng quay ra đường.

Còn hai tuần nữa là Giáng sinh tới rồi, tôi đi exercise buổi sáng trong hai, ba lớp áo. Anh lính phong phanh đang cắt cỏ hai nhà. Thật ra, anh dùng máy cắt cỏ nhưng để hút lá khô dưới cỏ cho sạch đẹp chứ cỏ đâu mà cắt. Sau đó, anh giăng đèn Giáng sinh bên nhà hàng xóm mới biết lính Mỹ cũng biết hát câu: “Anh là lính đa tình”. Cô Kiều bưng ra cho anh ly gì không biết, chỉ thấy bốc khói. Nụ hôn nhẹ lên gò má người phụ nữ trẻ thay lời cảm ơn làm chim chóc bay đi… con bò rừng châu Á cũng làm lơ cho họ siết nhau một phát tê lòng.

Tôi vẫn đi làm về đêm như mọi ngày, tiết trời lạnh giá vào đông, cành trơ trụi lá dưới trăng mờ… Cửa sổ nhà cô Kiều sáng đèn, nhìn lén vào trong có hai bóng người ngồi đối ẩm. Chắc họ không biết người hàng xóm da vàng, mũi tẹt về nhà mình nhưng cũng rót ly vang và chúc mừng họ thật nhiều hạnh phúc trong đêm đông lạnh lùng. Tình yêu đẹp quá! Thiên Chúa đã để giành dáng Kiều thơm cho anh lính dễ thương, thương người và vị tha nhân ái.


* * *


Đêm Giáng sinh trong gia đình Phật giáo của tôi cũng mâm cao cỗ đầy mừng Chúa sinh ra đời. Tôi có chân trong “Hội Bám Sát Con Chiên Tóc Thề Của Chúa” từ ngày biết yêu. Nhưng họ bỏ tôi vì tiền tài danh vọng của những người hơn tôi chứ Chúa đã bỏ tôi bao giờ? Chả phải, Ngài vẫn cho tôi được thấy những tình yêu cao đẹp làm nên cuộc sống đáng yêu. Tôi cầm lòng không đặng với quyết định qua mời anh lính sang nhà tôi nhậu chơi, nhưng ra ngõ để qua mời anh thì lại ngại văn hoá đông-tây trong đêm Giáng sinh không khéo mất vui. Cuối cùng, tôi nhập tiệc với thân nhân trong gia đình trong đêm Chúa sinh ra đời. Nhìn ra cửa xa xa, bên kia công viên có tiên giáng trần, thiên thần xuống với trần gian trong đôi cánh yêu thương loài người. Thiên đàng chỉ cách tôi một cái công viên, nơi của những người sống có niềm tin, sống vị tha và yêu nhau trong tình người hụt hẫng thời bây giờ. Anh lính tôi yêu trong bộ đồ lớn như Ngài Tư lệnh, bên anh là một thiếu phụ yêu kiều, lộng lẫy kiêu sa, một tiểu thư tung tăng vạt áo đầm như con thiên nga bé bỏng… Họ đưa nhau đi Lễ Nhà thờ. Dưng dưng, tôi chắp tay nguyện cầu Chúa hãy ban cho họ một đêm Giáng sinh tuyệt vời. Và Chúa nghe người ngoại đạo nguyện cầu bằng tiếng nước tôi.

Khi tôi tiễn chị tôi ra cửa, sau bữa tiệc gia đình trong đêm Giáng sinh. Anh lính đã về, tay anh ẵm con thiên nga bé bỏng đã ngủ gục. Kiều nữ tôi yêu tra chìa khoá vào cánh cửa nhà cô ấy, giày cao gót sẵn rồi mà còn nhón thêm lên để đặt cái hôn tình tứ lên môi người lính trận. Tôi dảu má mình ra mà chỉ có gió lạnh vì hạnh phúc không phải là ngồi chờ sung rụng. Họ khuất vào trong nhà, cánh cửa khép lại. Tôi chờ xem nụ hôn tạm biệt đêm Giáng sinh của tình yêu mà Thiên Chúa hằng ban xuống trần gian. Nhưng Chúa tắt đèn nhà cô Kiều nữ. Tôi, Tạ Ơn Chúa.

Phan

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Phải đợi CSVN cho phép
chúng ta mới dám đấu tranh sao?


Gửi các Bạn thanh niên, sinh viên, học sinh

Trước nạn xâm lăng của quân Nguyên thế kỷ 13,

vua quan nhà Trần quyết tâm cùng toàn dân chống xâm lăng.

Vua Trần Nhân Tông đã triệu tập Hội Nghị Diên Hồng

để kêu gọi toàn dân cùng tham gia chống giặc.

Nay tình trạng nước nhà bị xâm lăng lại xảy ra:

Trung Quốc xâm lăng Việt Nam.

Nhưng nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam

chẳng những không triệu tập toàn dân chống giặc,

mà người dân nào đứng lên chống xâm lăng

thì bị họ ra tay đàn áp, ngăn cản.

Họ cấm sinh viên, học sinh biểu tình chống Trung Quốc,

Tại sao?

Vì chính họ là kẻ mở cửa đất nước

cho Trung Quốc vào xâm chiếm lãnh thổ lãnh hải,

qua những công hàm và hiệp định bán nước.

Hiện nay, giặc ngoại xâm Trung Quốc

và giặc nội xâm CSVN đang cấu kết với nhau.

Trước tình trạng bi đát này,

giới thanh niên, sinh viên, học sinh,

rường cột của đất nước,

phải làm gì?

Chẳng lẽ phải đợi họ cho phép

chúng ta mới dám tranh đấu?

Nếu họ chính là kẻ mở cửa cho Trung Quốc vào xâm lăng,

thì ngu gì họ cho phép?

Khối 8406, Liên Minh Dân Chủ Nhân Quyền Việt Nam

và nhiều tổ chức khác như đảng Thăng Tiến, Đảng Dân Chủ Việt Nam,

Hiệp Hội Đoàn Kết Công Nông,

Ủy ban Nhân Quyền Việt Nam, báo Tự Do Ngôn Luận…

có chờ họ cho phép mới thành lập không?

Bất chấp bị đàn áp và ngăn cản,

Khối 8406 và nhiều tổ chức đấu tranh cho tự do dân chủ khác

vẫn ra đời, vẫn tồn tại

vẫn tranh đấu và hoạt động cho đến hôm nay…

Dẫu biết trước:

tranh đấu… là sẽ bị vùi dập, bị vào tù,

nhưng có phải vì thế

mà Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân

đành khoanh tay câm lặng không?

Những tổ chức đấu tranh trên gồm rất nhiều người

tương đối đã lớn tuổi, có nhiều vị đã đến tuổi “cổ lai hy”,

nhưng cũng không thiếu những người còn trẻ

như Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân

– chỉ ra trường trước các bạn mấy năm thôi –

đã từng tỏ ra thật can cường…

Họ đang là những con người làm nên lịch sử.

Thế còn tuổi trẻ của các bạn?

Các bạn đành chịu thua trí, dũng và lòng yêu nước

của bậc đàn anh sao?

Bọn tay sai tiếp tay cho xâm lược mới chỉ hù dọa

mà các bạn đành chấp nhận bỏ cuộc sao?

Thế thì…

tương lai đất nước sẽ đi về đâu?

Tuổi trẻ mà hèn yếu như thế

thì dân tộc mình chắc là còn phải tiếp tục

chấp nhận sống kiếp nô lệ mãi thôi…

Nhưng cả dân tộc đang hy vọng nơi các bạn,

những người trẻ đã ý thức được

trách nhiệm đối với quốc gia dân tộc…

Các bậc đàn anh đi trước

và cả dân tộc đau khổ này

đang kỳ vọng vào các bạn,

kỳ vọng rất nhiều!

Các bậc đàn anh ấy như lá vàng sẽ tàn héo…

nhưng trước khi tàn, họ hy vọng có các bạn,

một thế hệ lá xanh khác sẽ mọc ra tiếp nối họ

bảo vệ giang sơn và xây dựng đất nước

cho hùng mạnh và phồn thịnh…

Họ hy vọng các bạn… sẽ anh hùng hơn họ…

Vì con hơn cha, em hơn anh… là nhà có phúc!

Các bạn có anh hùng hơn họ,

thì dân tộc mình mới đúng là có phúc!

Tuy nhiên,

Chỉ có thể là anh hùng

nếu quyết vượt thắng trở ngại…!

Thật vậy:

Ví phỏng đường đời bằng phẳng cả,
Anh hùng hào kiệt có

(Nguyễn Công Trứ)

Cũng vậy:

Ví phỏng tranh đấu mà được phép
Cần chi đến tuổi trẻ anh hùng?

Ví phỏng biểu tình không đàn áp
Tuổi trẻ lấy chi tỏ anh hùng?

Càng bị đàn áp,

lòng yêu nước và chí khí anh hùng của các bạn

càng được tỏ lộ…

khiến giặc ngoại xâm và nội xâm phải e dè!

Anh hùng cũng cần phải liên đới với nhau

để tồn tại và tiến tới.

Một người lên tiếng, kẻ đàn áp sẽ dập tắt dễ dàng!

Hai người lên tiếng, chúng dập tắt khó hơn!

Ba người lên tiếng, chúng bắt đầu sợ!

Trăm, ngàn, vạn, ức, triệu… người lên tiếng,

Chúng đành phải thua thôi!

Một cây làm chẳng nên non,
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao…

Hãy xác tín rằng:

Bạn có chính nghĩa

khi biểu tình chống ngoại bang xâm lăng!

Chính nghĩa thuộc về các bạn!

Kẻ cản trở các bạn

là kẻ cố tình tiếp tay cho bọn giặc xâm lăng

Họ không có chính nghĩa… họ là những kẻ phản quốc!

Họ có tội trước quốc dân đồng bào!

Chính nghĩa bao giờ cũng sẽ thắng!

Bạn ạ!

Gửi các bạn công an, bộ đội

còn tấm lòng đối với tổ quốc,

Chắc chắn các bạn biết rất rõ

đất nước mình đang bị Trung Quốc xâm lăng

mà kẻ tiếp tay “cõng rắn cắn gà nhà”

chính là đảng Cộng Sản Việt Nam!

Các bạn không cảm thấy nhục nhã xấu hổ

với lương tâm, với gia đình, với bạn bè, với tổ quốc

khi chấp nhận cúi đầu vâng lệnh đảng phản quốc này

đàn áp những thanh niên sinh viên học sinh yêu nước

đang biểu tình để bảo vệ giang sơn sao?

Bạn đành chấp nhận đồng lõa tội phản quốc với họ

để cùng với họ phản bội nhân dân sao?

Bạn không cảm thấy lương tâm cắn rứt sao?

Nếu các thanh niên, sinh viên, học sinh

tỏ chí khí anh hùng,

tỏ lòng yêu đất nước,

muốn bảo vệ giang sơn,

thì lẽ ra bạn phải tiếp tay với họ,

phải ủng hộ họ mới đúng…

Sao bạn lại dập tắt hào khí của họ?

Bạn chưa dám tỏ hào khí của bạn,

thì ít ra bạn hãy để cho họ

được tự do bày tỏ hào khí của họ chứ!

Bạn NHÁT, không sao cả!

nhưng bạn đừng chấp nhận HÈN,

bạn nhé!


Việt Nam, ngày 27/12/2007

Nguyễn Chính Kết

Thành viên Khối 8406, và
Liên Minh Dân Chủ Nhân Quyền Việt Nam

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Xin chớ nhập nhằng giữa lá cờ Vàng và cờ Đỏ.



(Cảnh giác trước một loại truyên truyền xám của Việt Cộng: Hoà hợp để chống Ngoại Xâm)

Đỗ Văn Phúc




Chúng tôi thực không muốn cứ lặp đi lặp lại những điều đã viết rất nhiều lần trong mấy năm qua, và cũng đã được nhiều nhà bình luận nói đến trên nhiều báo chí, diễn đàn…

Nhưng mới đây, nhân vụ Trung Cộng chiếm đóng hai đảo Hoàng sa và Trường Sa, mà đã nổ ra những cuộc biểu tình chống đối của thanh niên trong nước và đồng bào hải ngoại, đã có vài tờ báo hải ngoại đăng những bài đặt vấn đề:

Trước hiểm họa ngoại xâm, người Việt phải đoàn kết, vì nợ nước mà quên thù nhà. Cũng có tờ báo đưa ra trưng cầu độc giả: Nếu có sinh viên du học VN biểu tình với lá cờ đỏ, chúng ta có tham gia không? Nhiều vị lưu tâm đến chính trị cũng gửì điện thư, điện thoại hỏi ý kiến chúng tôi về vụ cờ vàng, cờ đỏ…

Chúng tôi đã đọc trên báo nhiều bài phản ứng hợp tình hợp lý, nhưng vẫn thấy chưa đủ. Vì ngoài cái họa ngoại xâm của Trung Cộng, người Việt hải ngoại còn đang đối phó gắt gao với cái họa xâm nhập của Cộng Sản Việt Nam; người Việt trong nước cũng gọi Cộng sản là Nội xâm. Quân dân ta trước đây, khi bị Bắc Việt xâm lăng, đã ở trong thế thụ động và đã thất bại không bảo vệ được miền Nam. Chúng ta đã đổ lỗi cho bạn đồng minh Hoa Kỳ. Ngày nay, tại những miền đất tự do, hơn ba triệu người Việt tị nạn cũng đang ở thế thụ động trước các đợt xâm lăng kinh tế, văn hoá, tuyên vận của Cộng Sản. Mà lần này thì không thể đổ tôi cho ai, nếu không can đảm tự nhận những sai lầm của mình trong hầu hết các lãnh vực. Ngoài ra cũng phải kể đến bọn nội tuyến, bọn đón gió trở cờ, bọn Việt gian hám lợi đang thập thò khắp mọi xó xỉnh, tìm cơ hội phá hoại chúng ta.





Mơ màng, hoặc ngây thơ, hoặc giả bộ ngây thơ, người ta đã đưa ra luận cứ: Quên thù nhà để lo việc nước

Đúng thế, khi có những cơ nguy to lớn có thể làm sụp đổ vận mệnh nước nhà, người Việt ta thường đoàn kết, hy sinh thù nhà, những dị biệt cá nhân, đoàn thể để cùng chung sức đối phó với ngoại nhân. Mối hận sâu sắc giữa Trần Thủ Độ và Trần Hưng Đạo sau vụ âm mưu của Trần Thủ Độ cưỡng duyên Thuận Thiên Công chuá (vợ Trần Liễu) cho vua Trần Thái Tôn đã gây mối hận sâu sắc giữa hai gia đinh Vua và gia đình Trần Hưng Đạo. Nhưng trước thế tiến công của quân Nguyên Mông, Đại Vương Trần Hưng Đạo đã dẹp mối thù nhà qua một bên để dốc lòng chiến đấu, ba lần chiến thắng quân Nguyên, giữ vững cõi bờ nước Nam.

Nhưng tấm gương quên thù nhà đó - vốn phát xuất từ truyền thống yêu nước của dân tộc - không thể đem ra áp dụng vào hoàn cảnh hiện nay giữa người Quốc gia và phe Cộng sản. Làm như thế là nhập nhằng đánh lận con đen, một thứ tuyên truyền xám nhằm cổ vũ sự hoà hợp giữa hai thế lực đối nghịch hoàn toàn từ bản chất đến cương lĩnh hành động. Người cổ vũ cho việc “quên thù nhà” đó hẳn không đến nỗi ngây thơ mà không hiểu rằng người Việt Quốc gia không chống lại đảng Cộng sản vì oán thù và quyền lợi cá nhân. Nội dung chính yếu của sự nghiệp đấu tranh chống Cộng sản là đem lại Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền cho toàn dân. Những người quốc gia chắc chắn có những mất mát đau thương do đảng Cộng sản gây ra hàng chục năm trước đây. Nhưng những mất mát đau thương đó có nghĩa lý gì với những khổ đau mà đồng bào Việt Nam hiện nay phải gánh chịu trong nước; những mất mát đau thương đó có đáng gì so với nguy cơ của tiền đồ dân tộc mỗi ngày một suy thoái, phá sản do chính sách bạo tàn, phản động của tập đoàn lãnh đạo Cộng Sản.

Vì thế, trong phạm trù hai chữ yêu nước hiện nay là phải bao gồm cả việc bảo vệ giang sơn tổ quốc đồng thời với việc vãn hồi dân chủ tự do. Hai việc này không thể thành công một khi đất nuớc còn trong tay đảng Cộng sản.





Thanh niên tại quốc nội đã ý thức hiểm họa mất nước mà đứng lên. Họ đã liên tục biểu tình lên án Trung Quốc và đòi nhà cầm quyền Cộng Sản thức tỉnh. Dĩ nhiên họ có những hạn chế về khả năng và nhận thức, họ cũng không có sự lựa chọn nào khác ngoài phải việc phải đi dưới lá cờ đỏ sao vàng mà họ ngộ nhận là cờ Tổ quốc Việt Nam. Họ đã sinh ra, lớn lên dưới ngọn cờ đó; mà thông tin Cộng sản đã bưng bít những sự kiện lịch sử để họ biết rằng đã có một lá cờ Vàng biểu trưng của nuớc Việt Nam và đã trở nên chính thức trước cộng đồng thế giới từ năm 1949. Ngay cả những cuộc biểu tình yêu nước đó cũng bị nhà cẩm quyền Cộng Sản đàn áp.





Những ai còn tin tưởng sẽ thỏa hiệp được với Cộng sản, xin nhớ rằng những người Cộng sản đã bao lần tráo trở:


1.- Khi Hồ Chí Minh còn bôn ba bên Thương Hải, Trung Hoa, ông đã nhận sự giúp đỡ của cụ Phan Bội Châu để hoạt động. Sau đó, Hồ đã bán cụ Phan cho mật thám Pháp để lấy tiền hoạt động riêng cho đảng Cộng sản.

2.- Trong kháng chiến chống Pháp, Cộng sản còn yếu kém, không có uy tìn với quốc dân, Hồ đã lập ra Mặt Trận Việt Minh và quy tụ nhiều thành phần, đảng phái quốc gia. Nhờ đó, kháng chiến mới thắng lợi. Rồi ngay trong ngày cướp chính quyền 19-8-1945, Hồ đã cho công an truy lùng thủ tiêu những thành viên các đảng Quốc gia; họ cũng thủ tiêu luôn những người Cộng sản mà theo họ có ý kiến bất đồng.

3.- Khi sắp kết thúc chiến tranh, Hồ đã phát động phong trào cải cách ruộng đất, triệt hạ các tầng lớp địa chủ, trung nông, là những nguời đã theo và ủng hộ cho kháng chiến tích cực.

4.- Chưa đầy một năm sau ngày chiếm trọn miền Nam, đảng Cộng sản đã vội vàng xoá sổ Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam để đảng Cộng Sản toàn quyền độc tôn trên khắp lãnh thổ đã thống nhất.

Phạm vi của bài viết này không cho phép dẫn chứng hết các chi tiết. Quý vị có thể tìm thấy nhan nhản trên các trang báo, trang web.





Những ai còn tin rằng Cộng Sản yêu nước, xin hãy nhớ: Cộng Sản vốn không có tinh thần dân tộc. Họ theo chủ nghĩa quốc tế.


Đảng Cộng sản là một đảng mang tính quốc tế (Vô sản toàn thế giới, đoàn kết lại!, Quốc Tế Cộng Sản). Chính Hồ Chí Minh đã từng tuyên bố: “Đảng CSVN là một bộ phận không tách rời được của khối Đệ Tam Quốc Tế.” Vì thế, tổ quốc đối với họ là thứ tổ quốc xã hội chủ nghĩa do Nga Sô và Trung Hoa lãnh đạo. Trước và trong chiến tranh Việt Nam, họ phục vụ quyền lợi của Đệ Tam Quốc Tế để bành trướng chủ nghĩa Cộng Sản xuống khu vực Đông Nam Á.

Do đó, họ sẵn sàng làm tay sai cho bất cứ quyền lực nào giúp họ đạt được mục tiêu chính trị. Hồ Chí Minh đã từng kêu gọi “Đế Quốc Tư Bản Mỹ” giúp đỡ khi phải đương đầu với Pháp (Thư gửi Tổng thống Hoa Kỳ Truman). Cũng Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng đã ký tuyên bố thừa nhận chủ quyền của Trung Cộng trên hai đảo Hoàng Sa và Trường Sa năm 1958. Mục đích là đổi lấy vũ khí, quân dụng phục vụ chiến tranh xâm lược miền Nam. Khi quan thầy Nga Sô sụp đổ, họ phải trở lại thần phục Bắc Kinh, đảng Cộng Sản đã nhượng nhiều đất biên giới và lãnh hải cho Trung Quốc.





Vì thế, để khôi phục lãnh thổ, không phải chỉ có việc đối phó với Trung Quốc là đủ. Người Việt Nam còn phải giành lấy quyền làm chủ trên quê hương. Có như thế, mới đủ khả năng động viên toàn nhân vật lực cho một cuộc chiến đấu mà sẽ rất cam go với tên khổng lồ Trung Quốc (nếu xảy ra khi các biện pháp ngoại giao, chính trị thất bại).

Các bản tuyên cáo của các đoàn thể đảng phái Quốc Gia gần đây đều nhấn mạnh hàng đầu việc lên án ngụy quyền Cộng Sản bán nước – là nguyên nhân chính dẫn đến việc Trung Cộng xâm chiếm đất đai. Đó là việc làm rất đúng.

Trong thời gian chiến dịch cờ Vàng, chúng ta đã chứng minh cờ Vàng là Quốc Kỳ của nước Việt Nam, trong khi cờ Đỏ sao vàng là cờ của đảng Cộng Sản. Cờ Vàng đại diện cho nguyện vọng tha thiết về Dân chủ Tự do của dân tộc Việt; còn cờ đỏ biểu trưng cho bạo tàn, khủng bố, gian manh, nô lệ…

Nếu chúng ta chấp nhận rằng giữa Thiện và Ác không thể có sự nhân nhượng, Thiện và Ác không thể song hành; thì việc giương lá cờ Vàng chính nghĩa đi bên lá cờ Đỏ gian tà là điều hoàn toàn mâu thuẫn, không thể chấp nhận được.

Du học sinh Việt Nam có thể giuơng lá cờ đỏ biểu tình trước toà Đại sứ hay Lãnh sự Trung Cộng ở các nước. Chúng ta buộc phải tôn trọng quyền của họ. Nhưng chúng ta không hùa theo trong dòng người cờ đỏ đó. Chúng ta đã và sẽ làm theo lối chúng ta: giương lá Cờ Vàng và những khẩu hiệu vừa lên án Cộng sản Việt Nam vừa chống đối Trung Cộng.





Đỗ Văn Phúc.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Nghĩ về một tập thơ
Nguyễn Mạnh Trinh
Một buổi tối chủ nhật, sau một ngày lăng quăng chơi đùa, giở cuốn sách tìm giấc ngủ. Chợt nhớ đến cái cười tít cả mắt của Cao Bá Minh khi đưa tập thơ của Nguyễn Đức Liêm buổi sáng, tôi cầm lên và... đọc. Tập thơ có cái bìa khá lạ. Một chữ S lớn làm nền và hàng chữ viết thảo bay bướm : “Chàng Liêm mái tóc điểm sương mới về” và góc dưới chữ S là hàng chữ in nghiêm trang : Nguyễn Đức Liêm.

Vào trang trong là :

Ở lại vì chót tin
Ra đi vì tuyệt vọng
Trở về vì lạc lõng
Vong thân...

Và thế là tôi đã bước vào một thế giới mà thi sĩ gọi là “thơ tùy bút”. Thơ hay tùy bút là chính, tôi tự hỏi. Thơ? Tùy bút? Nhưng rồi ý tưởng ấy nhạt đi. Tôi nhớ lõm bõm, trong cuốn “Conversations with Czeslaw Milosz”, người phỏng vấn đã có cả một chương sách hơn bốn chục trang để hỏi về sự phân biệt giữa tản văn và thơ văn xuôi. Và, câu trả lời có cái biên giới khá mơ hồ với những yếu tố trừu tượng khó phân định. Thì bây giờ, phân biệt làm gì giữa tùy bút và thơ, nhất là với thơ Nguyễn Đức Liêm…

Vui thôi mà! Tôi nhớ đến câu nói của thi sĩ Bùi Giáng khi làm thơ. Và bây giờ tôi cũng bắt chước để kêu như thế khi đọc thơ Nguyễn Đức Liêm. Thơ của ông có ngôn ngữ và hình ảnh của sự pha trộn, từ đời sống thường, có lúc nghiêm trang có lúc bỡn cợt. Thơ, đối với ông là những mạch suy nghĩ cứ nối tiếp nhau theo dòng. Ẩn náu ở trong đó, là một tâm trạng khá đặc biệt của một người sống trong cơn đồng thiếp.

“Chàng Liêm mái tóc điểm sương mới về” đích thực có căn nguyên từ một du ký. Hay là một cuộc trở về thì đúng hơn. Nơi về là Hà Nội, với cảnh với người.

Cảnh, là ba mươi sáu phố phường của ngày xưa lúc chưa di cư, của kỷ niệm và của Hà nội bây giờ, của thành phố ồn ào bụi bậm bây giờ. Cảnh của quá khứ và hiện tại trộn lẫn biểu hiện bằng ngôn ngữ lúc thì thời thượng, lúc thì ngang ngang, nhiều ngoại ngữ chen lẫn và nhiều ý tưởng bất ngờ chen vào. Như:

Ư đê Yên Phụ không còn
Người nêm Quảng Bá xe ôm Nghi Tàm
Hồ Tây bóng cậu mênh mang
Đồng cô Trúc Bạch ngỡ ngàng nông sâu
Cổ Ngư nằm giữa thương đau
Thanh Niên sao nỡ bắt nhau về vườn…

Người, là những nhân dáng của sĩ phu Bắc Hà, được nhìn ngắm bằng những câu lục bát phá thể, nghe tếu tếu vui vui:

Này cô em mắt lưng tròng
Kìa ông anh kẻ lưu vong mới về
Ôm nhau cải táng sơn khê
Hương linh bố cái mô tê đất trời
Bao nhiêu sự cố lôi thôi
Trên con sông đó đầy đời dân đen

Một nửa Bùi Giáng, một nửa... Bút Tre, có phải? Phân vân khi tôi đọc :

Bàn tay Xuân Diệu đi tuần
Trên lưng Huy Cận phân vân hay Cù
Chúng chê Tú Mỡ vụng tu
Sao không phản ánh đòn thù “anh Tam”
Tiến sang tây quát lên vang
Ngậm tăm Quang Dũng phi tang đôi bờ
Hữu Loan trợn mắt ngu ngơ
Đẩy xe ba gác treo cờ hoa sim
Sống nhồi tim chết đứng tim
Cục u lịch sử gọng kìm trung ương
“Le mal du siècle khẩn trương
liên danh Đức Thảo Mạnh Tường cân phân
phủi tay công quả nhân dân
người người lớp lớp Trần Dần truân chuyên
bõ công O chuột cửa quyền
Nghĩa Đô lên giọng Nguyễn Sen Tô Hoai
“Đàn anh” Tố Hữu đăng cai
trăm năm trong cõi quan tài Stalin
Điêu tàn biến Chế Lan Viên
trường thơ loạn đỏ máu miền Chiêm nương
Nam Cao viết lại điển chương
Vượn ơi mày chỉ đoạn trường theo tao
vang lừng trên sóng Văn cao
thoái âm ba tiến đào nguyên tươi
Hoàng Cầm kiếm lá lôi thôi
Diêu bông đối đãi cung trời làng Sen
Bóng Lê Đạt chữ mon men
Trường ca bác chú bõ bèn gì chăng
Mặc cho họ mất thăng bằng
Nguyễn Hữu Đang đứng thẳng băng trời trồng…

Và, còn nhiều khuôn dáng nữa Nguyễn Huy Thiệp, Dương Thu Hương, Phùng Quán, Nguyễn Chí Thiện, Phùng Cung của Hà Nôi sĩ phu Bắc Hà, Cũng như của người thanh niên tử sĩ hy sinh trong cuộc chiến tương tàn:

Riêng tôi ngồi chết lẻ loi
Trong “tăng” xích sắt cột lòi xương chân
Dám xin thưa trước nhân dân
Số lùi được báo không cần cho “tăng”
Số lùi bị phá rối “tăng”
Chỉ còn số trúng cỗ săng chiến trường…

Đọc tới đoạn thơ “tùy bút “kể lại câu chuyện chàng chơi gái ở khách sạn bị lừa, có mấy ai không cười mỉm. Tưởng là một nữ nhân mặt hoa da phấn dè đâu là một chàng đực rựa giả hình. Quái lạ, thơ mà sao như chuyện tiếu lâm. Nhưng, lại thấy mường tượng một đời sống mà ở đó giả thực trộn lẫn, cũ mới bất phân. Ở đó, thơ hay ngôn ngữ đời thường là một. Ở đó, tâm tư bùi ngùi hay bỡn cợt là một. Đọc thơ, có khi như nhai lại một món ăn hiện thực bằng đời sống. Có cay của ớt và có chua của giấm…

Đọc xong tập thơ, trong tôi là một điều gì lẫn lộn khó tả. Thơ? không phải thơ? nói? Mà không phải nói? Cười? mà không phải cười? Đùa? mà không bỡn cợt? Trang nghiêm? Đùa chơi?…Thiệt là lơ lửng …Thiệt là phân vân. Nhưng lại bật cười xòa. Khi nhớ lại câu nói của thi sĩ “thứ thiệt” Bùi Giáng khi làm thơ “Vui thôi mà!”. Có phải tôi đang đi lạc trong một cái nhếch cười?

Nguyễn Mạnh Trinh

Post Reply