Cà Phê...Vịt

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Image

BẢN SONATE CHO MỘT NGƯỜI TỬ TẾ, NGÔ ĐÌNH LỆ QUYÊN
Kim Thanh


Tin dữ chuyển đến tôi sáng nay từ một anh bạn phương xa làm tôi rụng rời, như mỗi lần một người quen, già hay trẻ, tại Portland bất ngờ nằm xuống, không kịp nói lời từ giã. Huống chi Ngô Đình Lệ Quyên rời bỏ dương trần lúc 53 tuổi –còn quá trẻ đối với tôi. Trong một phút giây, tôi mong đó không phải là sự thật. Biết đâu ai đó đã đùa dai tung trễ lên mạng ảo một poisson d’Avril, dù tháng tư sắp hết. Đến khi Luật sư Trương Phú Thứ gọi điện thoại kiểm chứng với Ngô Đình Quỳnh và sau đó tôi lên mạng thế giới và có trong tay bài báo bằng tiếng Ý, thì nỗi hy vọng mong manh thật sự tan vỡ và sự đau buồn trong tôi lên tới tột độ.

Bàng hoàng như mất một người thân thuộc. O mon Dieu, mais pourquoi, pourquoi, pourquoi? Tôi thầm hỏi Thượng Đế và cho riêng tôi như một lời thở than, đột nhiên –như năm xưa khi đọc tin chị cô, Lệ Thủy, người bạn trẻ thuộc Nhóm Thanh Sinh Công, đã chết trong một tai nạn xe hơi cũng thảm khốc, cũng bất ngờ không kém– vang lên từ đáy tiềm thức trước nỗi tuyệt vọng khôn cùng. Mặc dù tôi chưa hề một lần gặp gỡ Lệ Quyên, chưa hề thấy một bức hình nào của cô trước kia, chưa hề một lần nghe nhắc đến tên cô, ngoại trừ trong bản thảo hồi ký của mẹ cô, bà quả phụ Ngô Đình Nhu. Cô rời Việt Nam năm 1963, lúc mới bốn tuổi, một tháng sau khi cha và bác bị thảm sát bởi những bàn tay tanh tưởi mùi máu và mùi đô la, nên những người thuộc thế hệ già chúng tôi không thể biết cô. Chỉ hai hôm nay thôi, tôi mới được biết Lệ Quyên đã nhiều năm đặc trách giúp đỡ những người di dân khắp thế giới trong cơ quan Caritas của thành phố Rome, nơi cô đã sống hơn nửa thế kỷ thầm lặng dấn thân. Và đã chết trong một khoảnh khắc kinh hoàng. Nằm chết cô đơn giữa dòng xe xuôi ngược, giữa dòng đời như thản nhiên đến vô tình. Chết một cách bi thảm, trong vô vàn thương tiếc muộn màng của biết bao người không hiện diện sáng ấy trên đường phố Pontina, Roma.

Chúa ơi, tại sao, tại sao, tại sao? Tôi tự hỏi. Có câu giải đáp nào không cho sự bí ẩn phi lý này? Nếu người bị nạn không phải là con ông Ngô Đình Nhu, cháu Tổng thống Ngô Đình Diệm, em út của Ngô Đình Lệ Thủy sẽ chẳng ai thắc mắc gì. Có người trả lời, bằng cách so sánh dòng họ Ngô Đình với dòng họ Kennedy –cũng chịu nhiều oan trái tương tự. Phần tôi không nghĩ như thế. John F. Kennedy, những đồng lõa Mỹ và tay sai Việt Nam, năm 1963, rõ ràng là thủ phạm trực tiếp hay gián tiếp giết chết ba anh em nhà Ngô, gây ra những xáo trộn, khủng hoảng chính trị, quân sự, để cuối cùng dẫn đến sự sụp đổ của cả Miền Nam, mười hai năm sau. Thủ phạm làm sao có thể đồng hóa với nạn nhân? Rồi nữa, làm sao so sánh ba anh em nhà Kennedy với ba anh em họ Ngô Đình về tư cách và đạo đức cá nhân?

Những người căm ghét chế độ Ngô Đình Diệm, trái lại, ưa trích câu “ác giả ác báo” để giải thích tai nạn xảy ra theo quan niệm tôn giáo, đúng hơn theo thuyết karma (nhân quả) quen thuộc. Tôi cũng không nghĩ như thế. Lệ Thủy, Lệ Quyên, hoặc xa hơn John Kennedy Jr., đã làm gì nên tội, mà bị Trời “phạt” về những lỗi của người lớn, nếu có? Nếu thuyết nhân quả đúng, tại sao Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn, hay Staline, Mao Trạch Đông, Pol Pot v.v..., những tên đại gian, đại ác nổi tiếng, đã giết hại biết bao sinh linh lại được chết già an lành, trong khi hàng trăm ngàn nông dân hiền lành, vô tội bị giết oan, chết thảm? Trời quả có mắt thật không? Gần nhất, những Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân đã nhúng tay sát hại hàng ngàn đồng bào ở Huế mà vẫn còn sống nhơn nhơn. Tại sao?

Mới đây, lần đầu được thấy những bức ảnh của Lệ Quyên, với đôi mắt sâu đen thăm thẳm, nét mặt cương nghị, phảng phất một nỗi buồn xa vắng, tôi chợt nhớ đến dáng vẻ kiêu hãnh và sắc đẹp bi thảm (tragique) tương tự của một nữ tài tử Hy Lạp đóng vai nhân vật Antigone trong phim cùng tên. Antigone (442BC), vở bi kịch bất hủ của nhà soạn kịch Hy Lạp lừng danh, Sophocle, kể những thảm họa phủ xuống Œdipe và gia đình bởi mệnh số khắc nghiệt và độc đoán. Nhân vật Antigone, cũng như Electre, Phèdre của kịch tác gia Euripide, và Hermione, Oreste, Pyrrhus... trong các vở kịch khác nữa mà Racine, thế kỷ XVII văn học Pháp, đã mô phỏng, đều là những nạn nhân của định mệnh nghiệt ngã dành cho con người yếu đuối, bất lực trước thần linh, những thế lực siêu hình, hoặc đam mê tàn bạo. Chỉ có cái chết hóa giải mọi oan nghiệt. “Evil strikes at it down the generations wave after wave, like seas that batter a headland...” (Bất hạnh dập xuống qua các thế hệ theo từng đợt sóng tiếp nối, như biển vỗ vào bờ đất cao...” (Sophocle, Antigone). Trong một bối cảnh khác, thi hào Nguyễn Du há đã chẳng viết cho những hồng nhan bạc phận: “Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen” và về uy quyền tuyệt đối của Trời, thế lực trên cao:

Ngẫm hay muôn sự tại trời,
Trời kia đã bắt làm người có thân.
Bắt phong trần phải phong trần,
Cho thanh cao mới được phần thanh cao.

Người Công giáo xem những bất hạnh trên đời là do sự Quan Phòng của Thiên Chúa toàn năng, là thử thách dành cho những người công chính, như ông Job trong Kinh Thánh đã phải chịu trăm bề đớn đau, tủi nhục.

Dù được cắt nghĩa thế nào, cái chết đột ngột của Lệ Quyên làm tôi vừa cảm thương vừa kính phục cô, vừa thấy hãnh diện về cô. Cảm thương, như Thúy Kiều ngày nào bên mộ Đạm Tiên không quen, khéo dư nước mắt khóc người đời xưa. Hãnh diện, vì cô được báo chí ngoại quốc nhắc đến trong tư cách người Việt Nam đến Ý quốc tỵ nạn chính trị từ bé, sau đó giữ chức vụ quan trọng trong Hội Caritas Roma, đã yêu thương, giúp đỡ tha nhân, và hết lòng thờ phượng Chúa. Kính phục, vì dù có bằng tiến sĩ Luật, mà bởi nhất quyết không chịu vào quốc tịch Ý, cô không được đi dạy đại học, và cô cũng chẳng cần. Kính phục, vì tuy lấy chồng người Ý cô vẫn đặt tên con là Ngô Đình Sơn. Một phụ nữ Việt Nam muốn mãi mãi giữ căn cước và bản chất Việt Nam –xin hiểu VNCH. Còn gì cao đẹp hơn? Cũng như mẹ và hai anh, cô chưa một lần nào trở về thăm cố hương bây giờ đang nằm trong nanh vuốt của Hận Thù, của Dối Trá, của Bất Công, của Tàn Bạo. Và cũng như mẹ cô, chưa một lần nói một lời, viết một câu hằn học kết án cá nhân những kẻ đã sát hại cha, bác, chú của mình. Cô đã quên và tha thứ tất cả.

Và như thế, tôi nghĩ rằng, trong bao năm sống kín đáo, khiêm nhường, lặng lẽ như một bóng mờ –không còn ai nhắc đến– giữa chốn bụi hồng lao xao, cô muốn chống lại, hoặc ít ra xoay đổi, định mệnh khắc nghiệt đè nặng lên gia đình, dòng họ, theo cách riêng của cô. Cũng như Antigone, theo cách riêng, khi đúng trước vua Créon, cãi lại lệnh cấm không được ai chôn xác người anh nổi loạn, Polynice, và qua đó, thách đố mệnh trời đeo đẳng trừng phạt gia đình Œdipe, cha nàng. Bị kết án tử hình, nàng ngẩng cao đầu và kiêu hãnh “xem cái chết như một điều tốt khi con người sống giữa bao nhiêu điều bất hạnh, khổ đau...” Những tưởng Ngô Đình Lệ Quyên, từ nay sẽ được giải thoát khỏi lời nguyền của định mệnh.

Ngờ đâu, định mệnh không buông tha. Và một sáng, đã gục ngã. Đầu hàng. Như một nữ nhân vật đích thực trong những vở bi kịch của một Hy Lạp huyền thoại mà tôi đọc say mê từ ngày còn đi học...

Tôi ca tụng và tiếc thương cô biết bao nhiêu cho vừa. Thôi, cô hãy ngủ giấc bình an ngàn năm, tự do từ đây, hỡi Lệ Quyên, Antigone của lòng tôi.

Portland, 17/4/2012
Kim Thanh

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Thuyền Viễn Xứ

Cám ơn NĐ Martin Đức. Bài viết cho biết lai lịch của bản nhạc nổi tiếng Thuyền Viễn Xứ
và chân dung của co-owner là nữ sị trẻ Huyền Chi thời bấy giờ.
Bài thơ thật hay, thanh thoát đượm nỗi buồn man mác của kẻ giong thuyền ra khơi,
trên sông bao la biết đâu là bến bờ, rộn ràng niềm nhớ cố hương....
Nếu không thì chỉ biết bài hát là của nhạc sĩ Phạm Duy.

H. Thanh

Những bóng hồng trong thơ nhạc

Chiều nay sương khói lên khơi...

Trong những ca khúc đầy tâm trạng hoài hương, mang nỗi buồn man mác như: Làng tôi (Chung Quân), Hướng về Hà Nội (Hoàng Dương), Quê mẹ (Thu Hồ), Làng tôi (Văn Cao), Ngày về (Hoàng Giác)... thì Thuyền viễn xứ của Phạm Duy dù có buồn nhưng giai điệu khác hẳn: lạ hơn, sang trọng hơn...

Bạn thân của tôi, nhà báo Trần Thanh Bình, có một giọng hát khá tốt cho nên trong những lúc ngà ngà cuộc bia thường được đề nghị hát giúp vui (không đề nghị... cũng hát), và hầu như lúc nào anh cũng cất lên: “Chiều nay sương khói lên khơi. Thùy dương rũ bến tơi bời. Làn mây hồng pha ráng trời. Sóng Đà Giang thuyền qua xứ người. Thuyền ơi, viễn xứ xa xưa. Một lần qua dạt bến lau thưa. Hò ơi, giọng hát thiên thu. Suối nguồn xa vắng, chiều mưa ngàn về...”(Thuyền viễn xứ). Giọng hát nghiệp dư của Trần Thanh Bình chỉ cỡ đó, nhưng cũng đủ làm xuyến xao tâm hồn người nghe, nói chi được thưởng thức tiếng hát của những danh ca như Thái Thanh, Sĩ Phú.
Image
Bìa bản nhạc Thuyền viễn xứ - Ảnh: H.Đ.N
Bài thơ của một cô gái

Thế nhưng, nhiều người chỉ biết Thuyền viễn xứ là của Phạm Duy chứ chẳng mấy ai để ý rằng đây là một ca khúc phổ nhạc, dù trên bìa bản nhạc (thời đó, từ đầu thập niên 1940 cho đến 1954 trong toàn quốc, cả Cao Miên, và từ 1954 đến 1975 ở miền Nam, những bản nhạc được xuất bản dưới hình thức in rời bằng giấy cứng khổ lớn in 2 mặt, gấp lại ở giữa), Thuyền viễn xứ được cả hai nhà xuất bản Tinh Hoa và Á Châu ấn hành đều ghi rõ: nhạc: Phạm Duy, thơ: Huyền Chi.

Huyền Chi là bút danh của Hồ Thị Ngọc Bút, sinh năm 1934 tại Từ Sơn (Bắc Ninh), theo gia đình vào Nam từ trước năm 1954. Lúc mới vào Nam (1948-1949), cô ở với chị gái tại Đà Lạt, sau đó về Sài Gòn (1950) vừa đi học vừa phụ mẹ trông nom sạp vải ở chợ Bến Thành. Bài thơ Thuyền viễn xứ là một trong 22 bài thơ nằm trong tập thơ Cởi mở của Huyền Chi xuất bản năm 1952, trong thời gian cô sinh hoạt với một nhóm văn nghệ sĩ trẻ và làm thư ký tòa soạn chuyên trách mục thơ cho Tạp chí Phụ Nữ của bà Nguyễn Thị Lan Phương. Và đây là nguyên văn bài thơ Thuyền viễn xứ, mà tác giả là một cô gái 18 tuổi:
Ra khơi sương khói một chiều
Thùy dương rũ bến tiêu điều ven sông
Lơ thơ rớt nhẹ men lòng
Mây trời pha ráng lụa hồng giăng ngang

Có thuyền viễn xứ Đà Giang
Một lần dạt bến qua ngàn lau thưa
Hò ơi! Câu hát ngàn xưa
Ngân lên trong một chiều mưa xứ người

Đường về cố lý xa xôi
Nhịp sầu lỡ bước, tiếng đời hoang mang
Sau mùa mưa gió phũ phàng
Bến sông quay lại, hướng làng nẻo xa

Lệ nhòa như nước sông Đà
Mái đầu sương tuyết lòng già mong con
Chiều nay trời nhẹ xuống hồn
Bao nhiêu sương khói chập chờn lên khơi

Hai bờ sông cách biệt rồi
Tần Yên đã nổi bốn trời đao binh
Ngàn câu hát buổi quân hành
Dặm trường vó ngựa đăng trình nẻo xưa

Biết bao thương nhớ cho vừa
Gửi về phương ấy mịt mờ quê hương
Chiều nay trên bến muôn phương
Có thuyền viễn xứ lên đường... lại đi...
Image
Nhà thơ Huyền Chi năm 18 tuổi - Ảnh: tư liệu
Duyên văn nghệ

Tuy lời thơ có vẻ... cổ phong (vốn là chuẩn mực vào thời đó) nhưng vẫn toát lên một nỗi buồn man mác. Bố cục bài thơ cũng rất “chắc tay”, hồn thơ tinh tế. Tập thơ vừa in xong tại nhà in Sống Chung trên đường Trần Hưng Đạo thì tình cờ Huyền Chi gặp nhạc sĩ Phạm Duy khi ông đến thăm bà Đào (chủ nhà in). Cô ký tặng nhạc sĩ tập thơ Cởi mở. Cũng nghĩ là chút duyên văn nghệ thế thôi, bởi đó là lần gặp gỡ duy nhất giữa hai người. Vậy mà người được tặng tập thơ đã chọn một bài thơ lục bát rất... truyền thống trong tập thơ ấy để phổ thành ca khúc. Điều đáng nói là nhạc sĩ Phạm Duy đã trổ tài “phù thủy” khiến trong ca khúc phổ thơ của ông, khó ai tìm thấy bóng dáng của thể loại lục bát. Đã vậy, đoạn giữa được chuyển qua âm giai trưởng nghe vừa xa vắng, vừa rạo rực mênh mang: “Nhìn về đường cố lý, cố lý xa xôi. Đời nhịp sầu lỡ bước, Bước hoang mang rồi. Quay lại hướng làng, Đà Giang lệ ướt nồng. Mẹ già ngồi im bóng. Mái tuyết sương mong con bạc lòng...”.

Trong quyển Hồi ký Phạm Duy (tập 3, ấn bản 2008), tác giả viết: “Gần hai năm đã trôi qua kể từ khi tôi bỏ vùng quê vào Hà Nội, rời miền Bắc vào miền Nam, lo ổn định nơi ăn chốn ở và thu xếp công kia việc nọ ở Sài Gòn... Vào thời điểm này (trước cuộc di cư 1954), Huyền Chi, một cô em bán vải ở chợ Bến Thành đưa cho tôi phổ nhạc bài thơ nhan đề Thuyền viễn xứ. Bài thơ này nói lên tâm trạng một người Bắc Việt phải rời bỏ bến Đà Giang để vào sinh sống tại miền Nam. Phổ nhạc xong bài thơ nhớ miền viễn xứ, trong tôi lại nổi dậy sự viễn mơ của bài Bên cầu biên giới năm xưa, tôi bèn soạn bài Viễn du...”.

Huyền Chi lập gia đình với giáo sư Trần Phụng Tường vào năm 1954, và theo chồng ra Phan Thiết, nơi ông đang dạy Pháp văn ở Trường trung học Phan Bội Châu. Ở đây bà mở hiệu sách Bút Hoa và dạy Anh văn.

Nguyễn Phước Thị Liên, một cựu học sinh của Trường trung học Phan Bội Châu, đã “vẽ lại” chân dung của Huyền Chi như sau: “Huyền Chi là một phụ nữ đẹp, tài sắc vẹn toàn. Cô có nước da trắng khỏe, dáng người cao, gương mặt tươi, miệng cười hiền hậu dễ mến, tà áo dài màu thiên thanh đài các trong những chiều lộng gió, khi thầy cô sánh vai giữa thành phố Phan Thiết, đã làm xao xuyến bao tâm hồn nữ sinh lúc bấy giờ...” (Kiến Thức Ngày Nay số 768 tháng 12.2011).

Sau 1975, gia đình bà Huyền Chi chuyển vào Sài Gòn. Bà hiện vẫn còn sống tại đây, còn chồng bà - ông Trần Phụng Tường mất năm 2010. Trong 7 người con của hai ông bà có 4 người hiện ở Việt Nam, 3 người ở nước ngoài. Chắc chắn những người con ở xa quê này cũng sẽ có tâm trạng như mẹ của mình vào hơn nửa thế kỷ trước, khi: “Chiều nay gửi tới quê xưa. Biết là bao thương nhớ cho vừa. Trời cao chìm rơi xuống đời. Biết là bao sầu trên xứ người. Mịt mờ sương khói lên hương. Lũ thùy dương rủ bóng ven sông. Chiều nay trên bến muôn phương. Có thuyền viễn xứ nhổ neo lên đường...” (Thuyền viễn xứ).

Hà Đình Nnguyên

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

May mà có em



Quỳnh lấy vé máy bay về Việt Nam một cách vội vàng, mấy ngày nay nàng ăn, nói, đi, đứng như người mộng du. Tình cờ sang Cali dự đám cưới người cháu, Quỳnh gặp lại Trang, người bạn học thân nhất, ngồi cạnh nhau trong giảng đường Văn Khoa. Trang cho Quỳnh biết mới sang Mỹ được hai tháng. Khi Trang về thăm quê nội ở Trà Vinh, nàng đã tình cờ gặp Tân, thương binh cụt một chân, ngồi bán vé số ngoài vỉa hè độ nhật. Nghe tin Tân còn sống, tim Quỳnh co thắt, toát mồ hôi và xây xẩm cả mặt mày. Quỳnh thì thầm như người mất hồn: “Trời ơi! Tân ơi! Anh còn sống sao? Mấy chục năm rồi, Tân ơi! Anh có biết rằng em tiếc thương anh ngần nào không? Cám ơn trời Phật đã cho Tân còn sống.” Dù hoàn cảnh thế nào Quỳnh cũng phải trở về gặp lại Tân! Gặp lại sự sống của chính nàng.

Theo gia đình, Trang dự lễ mãn Khóa 22 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Ngồi trên khán đài trong Vũ Đình Trường, sau bài diễn văn của Thiếu Tướng Chỉ Huy Trưởng, tiếng loa uy nghi dõng dạc:

- Quỳ xuống, các sinh viên sĩ quan.

Sinh viên sĩ quan thủ khoa nhận kiếm, cung bắn đi bốn hướng tượng trưng chí trai tang bồng hồ thỉ, sau khi hàng ngàn sinh viên khác nhịp nhàng quỳ xuống thẳng hàng để được gắn cấp bậc sĩ quan.

- Đứng lên, các tân sĩ quan.

Chỉ cần hai động tác quỳ xuống, đứng lên với cấp bậc trên cầu vai, họ đã phải bỏ biết bao tháng ngày gian lao, những bữa cơm chan mồ hôi, nước mưa trong rừng cao su... ngoài bãi tập.

Trên hai mươi năm qua rồi, đêm mãn khóa bập bùng kỷ niệm vẫn còn mới nguyên trong tâm hồn Quỳnh, đêm định mệnh để Quỳnh quen Tân do anh trai Trang; người bạn cùng khóa với Tân giới thiệu.

Ngồi trong xe cạnh nhau, hai người chỉ trao đổi những lời thăm hỏi xã giao chừng mực. Ở Tân, Quỳnh thấy người con trai đã được tôi luyện qua gian lao, nắng mưa quân trường, tóc hớt cao, nước da bánh mật sạm nắng, tự dưng với tuổi mười bảy của đứa con gái mới lớn, Quỳnh thấy thương và tội nghiệp Tân quá đi thôi. Tân từ biệt mọi người - sau khi xin địa chỉ Quỳnh- ra bến xe miền Tây về quê thăm mẹ! Tân chỉ có hai mẹ con.

Trước ngày ra đơn vị, Tân chọn binh chủng mũ nâu Biệt Động Quân như lời tâm sự: “Không đi lính thì thôi, đi phải chọn binh chủng xứng đáng và phải đánh đấm ra trò”. Tân có đến thăm Quỳnh đi phố, ăn trưa và trong bóng tối rạp Ciné Lê Lợi, cầm tay Quỳnh, Tân nói lời từ giã:

- Mai anh đi! Quỳnh ở lại vui! Ráng học giỏi.

Tân ra đơn vị, Quỳnh thấy hụt hẫng trong lòng vì tình tiết thương tâm trong cuốn phim “Le temps d’aimer et le temps de mourir” (Một thời để yêu và một thời để chết) mà Quỳnh và Tân đã xem! Suốt thời gian dài sau này Quỳnh cứ tự hỏi: “Tại sao có một thời để yêu lại phải có một thời để chết???”

Chiến trận đã cuốn Tân đi biền biệt! Những địa danh mịt mùng xa xôi: Bình Định, Bồng Sơn, Tam Quan, Sa Huỳnh, Phá Tam Giang... tiếp nối trên đầu mỗi cánh thư đầy ắp yêu thương của Tân gởi về; một thứ hạnh phúc nhỏ nhoi mà nhiều lần Quỳnh đã mang vào giấc ngủ.

Tình yêu qua những cánh thư đã làm Quỳnh trưởng thành, nàng đọc báo, nghe đài phát thanh, tin tức những trận đánh lớn đã khiến nàng bỏ ăn! Đóng cửa nằm yên trong phòng một mình.

Quỳnh thường đi chùa! Một lần nghe có ông thầy ở Thủ Đức rất tài; làm phép trong tờ giấy bạc xếp thành hình tam giác, tránh được lằn tên mũi đạn. Quỳnh vội vàng thỉnh phép bọc bằng vải nhung tím, ép nylon gởi cho Tân và nàng bắt buộc Tân phải đeo bên mình, Tân phải sống để yêu thương nàng.

Lâu lâu, Tân gửi cho nàng gói mè xửng, chiếc nón bài thơ đánh dấu những địa danh chàng đã đi qua. Nhận được quà của Tân gởi về Quỳnh cảm động mừng rơi nước mắt.

Ra trường chưa được hai năm Tân đã được thăng cấp tại mặt trận hai lần và giữ chức vụ đại đội trưởng. Lần này, đơn vị Tân tham dự hành quân vượt biên sang Lào! Lam Sơn 719. Tiểu đoàn Tân vừa được đổ xuống một đỉnh đồi, xe tăng địch đã nằm sẵn từ chân đồi dàn hàng ngang tiến lên! Cái giá phải trả cho một trực thăng của Bộ Tư Lệnh Hành Quân đã bị bắn rớt, và phóng đồ hành quân đã rơi vào tay địch trước đó hai ngày. Sau hai giờ chiến đấu bằng lựu đạn, đơn vị Tân đã bị tràn ngập. Thân nhân gia đình đến hậu cứ đơn vị hỏi thăm tin tức về chồng con họ một cách nhiệt tình, tự nhiên. Thấy Quỳnh đứng rụt rè bỡ ngỡ, người sĩ quan hậu cứ đến hỏi:

- Xin lỗi cô tìm ai?
Quỳnh lí nhí:

- Dạ! Em muốn biết tin tức Trung Úy Tân, Đại đội Trưởng.
- Cô là gì của Trung Úy Tân?
- Dạ! Vợ.

Má Quỳnh ửng đỏ. Người sĩ quan hậu cứ ranh mãnh trả lời nàng:

- Đơn vị đang trong vùng hành quân! Có tin tức gì tôi sẽ thông báo cho bà sau.

Chữ bà đã làm Quỳnh ngượng ngùng làm sao ấy. Nghĩ cho cùng rồi cũng đúng thôi. Quỳnh đã trao đời con gái cho Tân sau lần thăm ở Pleiku, khi Tân đang nằm điều trị ở Quân Y Viện để gắp một mảnh lựu đạn xuyên vào vai. Quỳnh chưa biết đam mê xác thịt, nàng muốn có con với Tân. Nếu lỡ Tân không về nàng còn giữ được giọt máu cho Tân! Cho mẹ Tân có người nối dõi tông đường! Quỳnh không có thời gian chọn lựa trong vòng tay Tân! Tình yêu đếm bằng phút giây với nỗi chết không rời! Tội cho Quỳnh biết bao, khi lỡ có người yêu ngoài mặt trận.

Quỳnh tỉnh dậy trong nhà thương, khi tuần sau lên hậu cứ và được người sĩ quan trực trả lời:

- Xin thành thật chia buồn cùng bà! Trung Úy Tân được báo cáo đã mất tích.
Ba năm trời Quỳnh đi mọi nơi, hỏi không biết bao người đội mũ nâu nhưng nàng không nhận ra được một tin tức nào của Tân.

Những ngày cuối tháng tư năm 1975, Cộng quân đánh vào Xuân Lộc pháo kích dữ dội vào Biên Hoa; gia đình gồm cha, mẹ Quỳnh và đứa em trai di tản, sau đó định cư tại thành phố Montreal, Canada.

Chuyện tình nàng và Tân phút chốc thoáng như mơ mà đã gần ba mươi năm! Một nửa đời người rồi còn gì!!!
Phi cơ ở độ cao, Quỳnh kéo chăn đắp lên ngực và thì thầm với chính mình:

- Tân ơi! Em phải về gặp anh! Dù thế nào em cũng không thể dối lòng mình được, em yêu anh suốt cuộc đời này.
Người tiếp viên thông báo, phi cơ đã vào địa phận Việt Nam.

Trước khi đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhất, phi cơ đảo đi một vòng lớn, qua khung cửa kính Quỳnh vẫn thấy thửa ruộng, mái tranh lụp sụp, sự nghèo đói làm vòng đai rộng lớn bao quanh thành phố Sài Gòn hoa lệ.

Qua báo chí, Quỳnh biết rằng hơn bảy mươi lăm phần trăm dân tộc mình là nông dân, suốt đời úp mặt xuống bùn cũng không kiếm đủ miếng ăn cho gia đình! Cộng thêm sự áp bức, bất công! Giàu sang chỉ dành riêng cho thành phần thiểu số cai trị và tất cả thảm trạng đó điều xuất phát ở cấp lãnh đạo có vầng trán quá thấp! Với vầng trán đó, họ đưa một dân tộc cần cù siêng năng thông minh trở nên nghèo đói nhất thế giới. Sài Gòn bây giờ là ô nhiễm, xe cộ đủ loại chen chúc luồn lách vô trật tự! Sự công xúc tu sỉ xảy ra ở mọi gốc cây, nhiều lần Quỳnh phải quay mặt đi vì hổ thẹn.

Ra xa cảng miền Tây, đón xe tốc hành, Quỳnh về Trà Vinh, thành phố Quỳnh đến lần đầu. Quỳnh xuống xe với hai chiếc va li nặng trĩu. Ngơ ngác cố nhớ lời Trang tả, nàng đi lần về phía đầu chợ; thành phố đã lên đèn.

Hàng chục anh xe lôi, xúm quanh hỏi Quỳnh về đâu? Nàng hỏi thăm Tân, cụt chân bán vé số ở đầu phố chợ. Có người nhanh nhẩu trả lời:

- Trung úy Tân! Biệt động Quân bán vé số! Cô lên xe tôi chở đến nhà ổng cho.
- Tân! Biệt Động Quân! Những tiếng thân thương Quỳnh mừng khôn tả.

Quỳnh đền ơn người chạy xe lôi hậu hĩnh! Trước khi mở cổng bước vào căn nhà ngói ba gian loang lổ gạch vôi nói lên đời sống khó khăn của chủ nhân nó. Quỳnh đưa tay đè lên trái tim, nén xúc động, Quỳnh gõ cửa. Người đàn ông chống nạng bước ra! Nhìn sững nàng! Miệng há hốc kinh ngạc! Đất như sụp dưới chân Quỳnh.

Tân không còn tin ở mắt mình:
- Có phải Quỳnh của anh đây không?
Nàng phóng tới ôm chầm lấy Tân:
- Vâng, em đây! Quỳnh của anh đây.
Ngoài ngõ, hàng xóm và trẻ em thật đông, tò mò nhìn vào. Người đàn bà tóc bạc như cước, từ nhà sau bước ra lắp bắp hỏi Tân:
- Cô này là ai vậy con?
Tân trả lời mẹ trong xúc động:
- Thưa má, Quỳnh bạn con.
Quỳnh chắp tay lễ phép chào bà. Mẹ Tân bước tới ôm tay Quỳnh vừa mếu máo khóc, vừa nói:
- Thằng Tân gặp lại con! Bây giờ có chết bác cũng vui lòng.
Mẹ Tân vén tay áo lau nước mắt. Tân chống nạng phụ Quỳnh mang mấy va li vào nhà.

Quỳnh đi tắm, thay đồ mát và bữa cơm đạm bạc được dọn ra. Ba người cầm đũa, Quỳnh ăn thật ngon miệng! Mấy chục năm ở Canada làm gì có những món này. Tân và mẹ nhìn Quỳnh ăn một cách ái ngại.

Gắp cho Quỳnh bông so đũa luộc, mẹ Tân hỏi Quỳnh:
- Cháu ở đâu về? Lập gia đình được mấy đứa con rồi?
Nàng liếc sang Tân, hình như anh hồi hộp chờ câu trả lời của Quỳnh.
- Thưa Bác, con ở Canada về. Con chưa lập gia đình. Dạ thưa bác, nãy giờ con quên hỏi thăm về vợ con anh Tân.
Tân ngượng ngùng cúi đầu và mẹ Tân cười, niềm vui trong ánh mắt:
- Bác đã tám mươi tuổi rồi! Thèm cháu nội lắm. Thằng Tân nhiều lần tâm sự với bác, thân nó tật nguyền và suốt đời nói chỉ thương mỗi mình con thôi! Có mấy mối được lắm, nết na có học, nhưng nó đều từ chối. Mỗi chiều bán vé số về tắm rửa cơm nước xong, nó nằm trên võng mắt nhìn lên tấm ảnh nó và con chụp chung chưng trên bàn viết đó. Tay đàn, miệng hát tới khuya. Lần nào bác cũng nghe nó hát bản... Em lây cu... lây cưa... gì đó. Nó hát bản đó hoài sao không chán. Nó nói bản nhạc đó là cuộc đời nó.
- Nghe xong, Quỳnh buông đũa, ngưng ăn, nắm chặt tay Tân và Quỳnh quay mặt đi để dấu dòng nước mắt tuôn trào. Hồi lâu, nén xúc động, nghẹn ngào Quỳnh hỏi:
- Anh thương em nhiều đến thế sao Tân?
Tân xoa xoa vai Quỳnh giọng như muốn khóc:
- Quỳnh! Em có biết tình yêu và hình bóng em đã nuôi sống cuộc đời tật nguyền của anh.

Hai người dìu nhau ra ngồi trên băng đá trước hiên nhà. Gió đi lào xào trên tàng cây vú sữa xum xuê trước ngõ, với giọng xúc động, Tân kể lại diễn biến cuộc hành quân sang Lào. Thiết giáp Cộng quân tràn ngập đơn vị, Tân bị đạn đại liên tiện đi mất chân trái. Tân bị bắt làm tù binh, bị giam cầm tại các tỉnh thượng du Bắc Việt, mười ba năm bị giam cầm, cách biệt với thế giới bên ngoài! Mười ba năm ở địa ngục trần gian.

Năm 1985 họ thả anh, về đây sống với đời buồn tủi tật nguyền, hằng ngày anh đi bán vé số. Hai mẹ con sống cuộc đời cháo rau túng thiếu trong căn nhà kỉ niệm của ba anh, người sĩ quan dù đã chết trong trận Điện Biên Phủ.

Quỳnh cũng kể cho Tân nghe, từ năm 1972 sau nhiều lần hỏi thăm, kiếm tìm, đơn vị cho biết Tân đã mất tích.
Tháng 4 năm 1975 gia đình nàng di tản và định cư tại Canada; cha mẹ nàng đã qua đời. Nàng làm việc ở một bệnh viện, em trai nàng đỗ bác sĩ đã lập gia đình được hai con. Riêng Quỳnh vẫn ở vậy.
“Em nghĩ rằng anh đã chết và em sẽ sống với hình bóng anh suốt cuộc đời này. Bây giờ đang ngồi bên anh em cứ nghĩ mình nằm mơ.”
Tân cúi xuống, vén tóc Quỳnh, hai người hôn nhau say đắm. Một nụ hôn của ba mươi năm và dài bằng nửa vòng trái đất.
Buông nhau ra, Quỳnh nũng nịu:
- Em muốn anh đàn và hát cho em nghe.
Tân gật đầu và Quỳnh vào nhà mang đàn ra. Dáng hao gầy, gương mặt nhiều nét kỷ hà học, dạo phiếm và Tân cất tiếng hát. Lời bài hát của một thi sĩ té lầu chết trong một cơn say và Phạm Duy phổ nhạc:

“Phố núi cao phố núi đầy sương
Phố núi cây xanh trời thấp thật buồn
Anh khách lạ đi lên đi xuống
May mà có em, đời còn dễ thương...”

Tân có ngón đàn thật điêu luyện! Giọng hát khàn đục chuyên chở nỗi niềm chia sẻ, xuyên suốt tim Quỳnh; trôi về thành phố núi của những cô gái má đỏ môi hồng, mái tóc ướt mềm. Thành phố đi năm phút đã về chốn cũ và trong khách sạn Bồng Lai, trên chiếc giường ra trắng muốt, nàng đã trao thân cho Tân trong một đêm mưa kéo dài.

Trời thật khuya. Trăng thượng tuần sáng vằng vặc. Quỳnh theo Tân vào phòng. Chiếc giường ngủ trải chiếu bong. Quỳnh ngất ngây trong vòng tay Tân. Mùi đàn ông, mùi nếp non rạ mới đã làm Quỳnh phiêu diêu trong hoan lạc tột cùng. Rõ ràng “đêm nay mới thật là đêm - ai đem trăng sáng trải lên vườn chè”.

Suốt ba tuần lễ ở nhà Tân, Quỳnh và mẹ Tân đi sắm đồ trang trí lại nhà cửa theo sự yêu cầu nhiều lần của nàng. Quỳnh thuê một chiếc xe du lịch đưa mẹ, và Tân ngắm cảnh Ao Bà Ôm. Tân chỉ cho Quỳnh nơi chú Đạt hôn cháu Diễm trong phim Yêu của Chu Tử do tài tử Anh Ngọc và Thanh Lan đóng. Những hàng cổ thụ, rễ dâng cao trên mặt đất! Mặt hồ gió mát! Phong cảnh tuyệt vời. Ba người cũng đi ngắm biển Long Toàn với những đồi cát chập chùng và những bữa ăn cua luộc ngon nhớ đời.

Bên Quỳnh, Tân như trẻ lại, ăn nói hào sảng như ngày nào khoác áo hoa rừng và đội chiếc mũ nâu.
Khỏi phải nói! Mẹ Tân thương quý Quỳnh qua cách đối xử phải đạo của nàng! Nhiều lần bà cảm ơn Quỳnh đã mang về đây niềm vui, hạnh phúc cho Tân, đứa con trai duy nhất và cũng là tài sản của đời bà.

Riêng Quỳnh, sau nhiều đêm ngỏ lời muốn Tân lấy nàng, Tân đã hỏi Quỳnh suy nghĩ kỹ chưa khi chọn một người tật nguyền làm chồng, trước khi chấp nhận, Quỳnh chọn căn nhà cũ kỹ, có giếng nước mát lạnh, tàng cây vú sữa cho bóng mát suốt ngày, làm nơi cư trú suốt đời bên tình yêu nồng nàn của Tân.

Quỳnh cùng Tân dạo phố, không một mặc cảm ngại ngùng nào “bên người yêu tật nguyền chai đá”. Trái lại, Quỳnh còn thầm hãnh diện có người chồng đã hy sinh một phần thân thể cho quê hương đất nước.

Trước khi Quỳnh trở lại Canada, gia đình Tân tổ chức một bữa tiệc, mời một ít bà con và một số hàng xóm cạnh nhà để tuyên bố lễ cưới giữa Tân và Quỳnh. Mọi người đều cảm động trước mối tình nồng thắm, cách chia gần ba mươi năm của hai người. Trong tiệc cưới, mẹ Tân đã không cầm được nước mắt khi nhìn thấy hạnh phúc của con trai mình.

Ba tháng sau, trên chuyến bay Cathay Pacific Airline, Quỳnh đã thu xếp mọi việc ổn thỏa để trở về sống suốt đời ở Việt Nam bên cạnh Tân - chồng nàng.

Khách cùng chuyến bay ngưỡng mộ nhìn Quỳnh, tay xách túi nhỏ và vai mang một hộp da như đựng nhạc khí kèn đồng.
Trong quầy khám hành lý, nhân viên hải quan hách dịch hỏi nàng:
- Sao không thấy bà kê khai hộp da bà mang trên vai. Chúng tôi được lệnh khám xét.

Quỳnh mở dây kéo, mọi người đều ồ lên một tiếng ngạc nhiên, khi nhìn vào bên trong lớp lót nỉ đỏ. Không có thứ nhạc cụ nào cả mà là một cái chân giả tuyệt đẹp.

- Bà mang chân giả này về cho ai? Nguyên do nào người này bị tật? Viên hải quan gắt gỏng.
Quỳnh trả lời một cách bình tĩnh:
- Nếu ở phi trường nước khác, tôi sẽ từ chối trả lời câu hỏi này. Nhưng ở đây tôi xin trả lời ông: Tôi mang chân giả này về cho chồng tôi! Anh bị thương trong cuộc hành quân Lam Sơn 719 ở chiến trường Hạ Lào.

Sau một lúc bàn thảo, họ đồng ý cho Quỳnh đi. Đẩy xe hành lý bước nhanh một đỗi, Quỳnh còn nghe rõ câu nói hằn học lớn tiếng sau lưng cuả đám Hải quan. Nàng không thèm để ý, mỉm cười bước nhanh khi nhìn thấy Tân và mẹ vẫy tay chào nàng ngoài khung của kính bên kia đường.

Tường Lam

User avatar
MatVit
Posts: 855
Joined: Fri Sep 02, 2011 9:18 pm

Post by MatVit »

KHÔNG DỄ GÌ QUÊN!

Lê thị Hoài Niệm


Nơi tôi ở, bên này bờ Thái bình dương xa thẳm, một nơi chốn thật yên bình, nơi mà người dân có hoàn toàn tự do từ trong nhà ra tới ngoài xã hội, một nơi rất đông người Việt tị nạn đang sinh sống, nơi có quá nhiều phương tiện truyền thông, báo chí phục vụ “Free” cho đồng hương. Bởi lẽ đó, mỗi năm nhân ngày “quốc hận tháng tư đen” ban chấp hành cộng đồng (có ứng cử-bầu cử đàng hoàng), vẫn tổ chức tưởng niệm ngày đau buồn đó. Nhưng bên cạnh những uất nghẹn thương đau, cần và cần thiết phải thắp những nén hương, ngọn nến ngồi im lặng mà tưởng niệm thì các tổ chức, các hội cựu quân nhân muốn qui tụ đồng hương lại càng đông càng tốt. Muốn vậy, hầu hết phải mướn ca sĩ chuyên nghiệp ở Cali về. Có những ca sĩ hát rất hay, nội dung bài hát nói lên đươc nỗi đau, hay tinh thần bất khuất của những chiến sĩ quân lục VNCH ngày nào, dám hy sinh thân mình để bảo vệ quê hương, đất nước. Nhưng có vài ca sĩ lên sân khấu cũng không biết mình hát cho ngày gì? hát bài gì cho thích hợp với nội dung ngày đau buồn, nên cứ tha hồ… “nhiều đêm chăn gối bên người không quen biết?” hay “lâu đài tình ái” như cô ca sĩ NQ. chẳng hạn. Thật hết ý.

Lại có quá nhiều chương trình trên truyền thanh, truyền hình nhắc nhở nhiều kỷ niệm về tháng tư đen. Người ta kể đến những trận di tản từ miền trung, miền cao nguyên, những con đường kinh hoàng xác chết chồng lên xác chết, những bãi biển xác người trôi lềnh bềnh, phần tấp vô bờ thì ít, mà làm mồi cho cá chắc nhiều hơn. Đã bao nhiêu năm qua rồi, người ta vẫn còn tìm gặp những bộ xương có những tấm thẻ bài còn nguyên vẹn vùi nông nơi bãi cát, (không hiểu anh linh của những chiến sĩ bị hy sinh một cách oan uổng, tức tưởi này có sớm được siêu thăng, hay vẫn còn vất vưởng đâu đó vì một nỗi uất hận chưa vơi? Một nén nhang thắp muộn vẫn là tấm lòng của một nữ thường dân còn nợ ơn Người!).. Người ta kể lại những trận đánh kinh hồn của những chiến sĩ can đảm nhảy dù, điạ phương quân, nghĩa quân…, quyết tâm gìn giữ mảnh đất bao lâu nay đã tốn biết bao mồ hôi nước mắt, bao xương máu, ngay cả thân xác của những người lính đã hy sinh. Cuối cùng thì vẫn phải chạy và chạy!!!!. (?)

Người ta còn “sưu tầm” cả tiếng nói của vị “Tổng Thống cuối cùng” ban lệnh đầu hàng, phát lại cho thính giả nghe, có người nặng lời “chửi bới” quan ngài đã dâng đất cho giặc. Phải chi ngày đó ông đừng có …bàn giao chính thể quốc gia cho cộng sản ? Dù biết rằng ngài đại tướng cũng chẳng làm được gì khi giặc đã vào …sát nách mà đám binh tướng yếu hèn đã cuốn gói chuồn êm. Người ta nhắc và nhắc những kỷ niệm buồn đau, kèm theo những chuyến vượt biên hãi hùng, từ đường bộ đến đường biển, xác người vùi trong rừng sâu Campuchia, xác làm mồi cho cá mập trên biển cả và nhiều trẻ em, phụ nữ đã là nạn nhân của bọn hải tặc Thái lan…, Hằng năm và hằng năm tiếp nối cũng không bao giờ kể hết chuyện.

Người ta hát những bài Nhớ về Sài gòn, Sàigòn niềm nhớ không tên, Sài gòn vĩnh biệt, nghe cũng buồn ray rứt, dù hiện tại người về Sài gòn hằng năm đông như… đi chợ. Nhưng sao người ta cứ vẫn nhớ về Sài gòn nhỉ? Saì gòn làm gì có trọn…tháng tư đen năm ấy ? Nghe nhiều người di tản vào Sài gòn, sau ngày “ mất nước” trở về kể lại rằng cả tháng tư người dân Sài gòn vẫn còn chính phủ VNCH, người dân vẫn tự do đi lại, vẫn hát vẫn hò, vẫn ngồi uống cà phê vỉa hè, vẫn vào rạp REX xem xi-nê, có chộn rộn chăng là vì có một số người “lánh nạn cộng sản” từ các miền đất nước chạy về, khiến những người có thân nhân đang ở nước ngoài, những nhà giàu có, những người làm việc trực tiếp cho người Mỹ phải nôn nao chạy đôn chạy đáo tìm đường thoát ra khỏi nước và họ đã ra đi rất sớm trước ngày Tổng Thống (có quốc hội chuẩn nhuận) tuyên bố đầu hàng!

Và nhiều người còn thấm thía nỗi đau khi nghe được chính giọng nói của một người nhạc sĩ nổi danh, đã tỏ lộ nỗi mừng vui khôn xiết, đã “hồ hởi-phấn khỏi” tuyên bố ăn mừng trên đài phát thanh quốc gia vừa mời bị “tiếp quản”, và kêu gọi mọi người dân đừng bỏ…cộng sản để ra đi , hãy ở lại dựng xây đất nước với bọn chúng, rồi hăng hái hát suông bài “nối vòng tay lớn” của chính tác giả. Tiếc thay! “ Em ra đi nơi này mất hết! ”. Sài gòn và cả nước mất hết, chứ không phải nơi này…vẫn thế mà “ngài nhạc sĩ” đã bênh vực cho chế độ mới và một số ca sĩ vẫn ..lải nhải, tung hê!

Nhưng chắc chắn phải nhắc đến Sài gòn, vì Sài gòn là Thủ đô của cả nước, nơi chính quyền đặt dinh cơ để điều hành guồng máy chính quyền lãnh đạo đất nước, nếu thủ đô mất vào tay giặc, có nghĩa là đất nước, chính thể không còn nữa. Nhưng nếu nhắc đến tháng tư đen ngòm, phải nhắc đến những tỉnh, những vùng đã bị quân cộng sản chiếm trọn tháng tư, như Nha trang thành phố biển thân yêu của chúng tôi, mới thấm thía được cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng của ba chữ “tháng tư đen”.

Ngày đó.

Người di tản tràn đến, từng đoàn người, từng đoàn xe từ Ban mê Thuột, từ Phú bổn, các tỉnh miền Trung đổ về vào những ngày qúa giữa tháng ba. Trường Nam tiểu học, nơi cô trò chúng tôi gặp gỡ hằng ngày, đã không còn bóng dáng học sinh, vì trường đã biến thành “trung tâm tiếp cư”. Các thầy cô giáo chạy đôn chạy đáo tìm thức ăn, gạo muối, quần áo, vật dụng cần thiết vv..vv để phân phối, giúp đỡ những người đang xơ bơ, xấc bấc, lếch thếch, hốt hoảng buồn rầu đang ngồi ủ rủ trong các phòng học làm nơi tạm trú.

Nhiều người đổ dồn về và cũng có lắm kẻ ra đi. Người Nha Trang cũng bắt đầu tìm đường tháo chạy, bằng xe hơi, xe hai bánh và chủ yếu là ghe thuyền đường biển.

Một vài ngày cuối tháng ba, trung tâm tiếp cư đã vơi người, một phần người tị nạn có thân nhân đến đón về, một lớp nữa họ tiếp tục xuôi Nam, những Thầy cô giáo cũng xôn xao nhiều vì người đi kẻ ở,

Từ làn sóng radio phát đi chương trình tiếng Việt BBC Luân đôn, cho tin quân dân miền nam đang …thua xiểng liểng, quá nhiều nơí giặc chưa đến đã không còn người lãnh đạo? cơ sở bỏ tan hoang. Và đường phố Nha trang đã có một lớp người mới đến, họ “hung hăng, dữ tợn” vô cùng. Với súng đạn có sẵn trên tay, họ có quyền cướp xe, bắt phụ nữ… làm nhiều điều xấu, người ta bảo “họ là toán lính TQLC” vừa đổ bộ lên bờ từ tàu hải quân? Chẳng ai dám ra đường nữa, trong số đó có tôi.

Tâm trạng hoang mang giữa đi và ở. Ở lại sẽ như thế nào trước tin đồn quân giặc quá dã man. đàn bà con gái sẽ bị “rút móng tay”, bị bắt đi làm “hộ lý” cho bộ đội, đàn ông con trai sẽ bị bắt đi…. tải đạn, nếu lính tráng bị bắt, mạng sống sẽ không còn …, nhiều tin rất hãi hùng mà người thành phố phải để ý đến. Nhưng đi thì đi về đâu? bằng phương tiện gì, nơi chốn nào để đến, hay cũng lang thang lếch thếch như những đoàn người đang nối đuôi nhau trên quốc lộ số một. Cuối cùng Ba Má tôi chọn giải pháp có chết thì cũng sẽ chết chung ở nhà mình, vì gia đình quá đông người, lại có thêm mấy gia đình bà con ở vùng ngoài chạy vào tị nạn, mặc dù cá nhân tôi đã có người bạn sẵn dành cho phương tiện để ra đi.

Buổi sáng ngày một tháng tư, sau khi đưa người anh trai, nguyên là sĩ quan đang làm việc tại bộ Tổng Tham mưu, là một trong những thành viên của phái đoàn về Nha trang dự họp với tướng P mấy hôm trước. Cuộc họp không đi đến đâu và cuối cùng phải trở lại SG. Quang cảnh phi trường Nha trang hỗn loạn không thể tưởng tượng nổi, cổng đóng, quân cảnh cầm súng lăm lăm, có thể nã đạn vào ai đó bất cứ lúc nào, nếu không tuân thủ mệnh lệnh, người và người chen lấn nhau, người la kẻ khóc, lớp trong lớp ngoài, …, may quá, anh tôi vào được bên trong vì còn “sự vụ lệnh” và đang đi bên cạnh một “ông quan lớn”.

Tôi quay đầu xe trở về nhà mà lòng buồn khôn xiết, dù đã gặp được một người bạn phi công vừa từ Phan Rang hớt ha hớt hải chạy về tìm tôi, “năn nỉ” tôi phải đi di tản theo anh, vì không còn nhiều thời gian nữa. Tôi từ chối! .

Mới tối qua, ngay phòng khách nhà tôi, vài ông Tá cấp cao, vài ông úy cùng ngồi “bàn chiến sự”. Họ “trấn an” ba má và gia đình tôi, rằng: cả nhà đừng có lo, nếu có chuyện xấu xảy ra, thì “Đèo Cả” sẽ là lằn ranh quốc cộng, chia hai phần lãnh thổ như Bến hải ngày xưa. Chúng tôi biết đó là những lời nói…vô thưởng vô phạt, nói để trấn an chứ họ cũng đâu biết gì hơn…,

Buổi xế chiều, một người anh họ đến gõ cửa, anh vô nhà mà cánh tay đang quấn băng trắng dính đầy máu khô. Thì ra, lúc di tản từ ngoài Trung vào, cả đơn vị bị thất lạc hết, anh bị thương nhẹ, tìm đường về nhà tôi. Nhưng chưa ngồi yên chỗ, anh đã nhìn dáo dác và bắt gặp mấy chị em tôi đang ngồi ủ rũ, anh hét toáng lên: sao không tìm đường đi đi, bấy giờ ở dưới phố đang hỗn loạn lắm, cả một đám tù nhân hung dữ vừa phá cửa nhà tù và tràn ra đường cướp phá!

Cả nhà tôi thất kinh, chưa kịp có phản ứng gì, thì một người hàng xóm chạy về la toáng lên: ai có con gái lớn tìm cách trốn đi, cả một đám tù ở quân lao vừa mới tràn ra đường, họ đang tủa ra nhiều đường phố cướp phá đó..

Không còn chần chừ nữa, ba tôi vội vàng dắt dùm chiếc honda 50 phân khối của tôi ra cửa, chiếc xe tôi vừa đưa anh tôi đi buổi sáng, vẫn còn đầy bình xăng, chị lớn tôi chạy đi xúc vài ký gạo, 3 chị em tôi đi bốc vội vài bộ quần áo, cái mền, thế là 3 chị em phóng lên xe chạy vô Suối dầu, nơi ba má tôi có mảnh vườn trồng nhiều cây trái, với căn nhà nhỏ.

Trong cơn hỗn loạn, muốn tìm con đường sống, tiềm năng sức mạnh trong mỗi một con người đã thể hiện, vượt qua những sinh hoạt thường ngày mà không ai ngờ tới. Với cái xe nhỏ xíu, mang đến ba con người, thêm gối mền gạo mắm, vậy mà tôi phóng rất nhanh khi không có vật cản trên xa lộ, rồi len lỏi, luồn lách qua một đoạn đường dài với hằng hà sa số xe cộ từ xe GMC, xe Jeep, xe hàng, xe nhà, xe hai bánh đủ loại..… và một đoàn người gồng gánh, vai mang, gậy chống, võng khiêng… rồng rắn nối đuôi nhau. Họ âm thầm lặng lẽ lách qua đoàn xe đang nghẹt cứng trên đường.

Lách mãi, tôi cũng qua được đoạn đường Thành, đang dáo dác tìm lối lách nữa, thì nghe những tiếng kêu tên. Thì ra, nguyên cả một đoàn xe của Trung tâm huấn luyện Lam sơn cũng trong đoàn người di tản, và đang di chuyển nhích nhích nơi đây.

Chia tay với quí anh, những người đã từng đem mồ hôi và nước bọt để huấn luyện cho những tân binh trước khi ra chiến trường chống địch, giờ này cũng đang tham gia vào cuộc di tản vô trật tự, một cuộc “tháo chạy” mà không biết sẽ ..ra sao ngày sau????

Xe chạy và chen lấn mà chạy, qua ngang cầu Lùng, một cảnh tượng thương tâm xảy ra, một xe Honda 90 phân khối, hình như chở đến 7 con người ta lớn nhỏ(?), người tài xế bị lạc tay lái và ngã cái rầm, người văng tung ra, nhưng chẳng mấy ai chịu dừng lại để giúp đỡ người bị thương, có thể chết không chừng(?), đoàn người cứ tránh qua mà chạy, coi như chẳng thấy gì. Tình nhân loại, lòng nhân ái đã “bị bỏ quên” khi chính mình cũng đang đi tìm lối sống? hoá ra hình ảnh mấy hôm trước trên TV còn chiếu cảnh những người…đạp đầu nhau để tìm một chỗ ngồi trên tàu di tản là chính xác. “Mạnh được yếu thua” đang diễn ra mọi nơi mọi chỗ trên quê hương tôi? Buồn thật!

Cơn mưa chiều hung bạo, xối xả tự nhiên đổ ập xuống, mưa và gió đập rầm rầm vào mấy bức vách của căn nhà nhỏ, nơi chúng tôi vừa đến chẳng bao lâu. Nhìn ra đường, đoàn người vẫn lóp ngóp đi hai bên lề dưới cơn mưa, xe cộ vẫn chen nhau mà chạy, đoạn đường này ngoài những khu vườn trồng cây với căn nhà nhỏ để ở tạm, không có nhà cửa hai bên đường, nên người đi bộ không thể nào có chỗ núp mưa, nên họ cứ lầm lũi mà đi, như những đám ma trơi mùa tháng bảy…(?)

Mưa tạnh bớt, một người nhà vườn bên cạnh chạy sang, họ yêu cầu chúng tôi góp tiền…mua chiếu để chôn hai người vừa bị xe tông chết ở trên đường quốc lộ. Thương thay hai người Lính đèo nhau trên chiếc xe Honda, và đã bị chiếc xe nào đó đụng phải, họ ngã xuống đường và ..chết liền tại chỗ, máu loang đỏ cả mặt đường trộn lẫn nước mưa …. Dù sao hai người Lính này vẫn có được nén nhang cúng bái và nấm mồ dù chỉ đắp bằng đất, và cả tên tuổi ghi rõ bằng những mảnh gỗ đóng trên đầu mộ.

Ngày 3 tháng 4, ba tôi vào gọi các con về lại nhà, và ông hú hồn, vì chúng tôi đã đi thoát đêm đó. Nếu ở lại nhà, không biết chuyện gì sẽ xảy ra, khi mà đám tù nhân hình sự, chuyên cướp của giết người, lẫn những người tù “bất trị” ở quân lao họ túa ra đường phố, đến phá cửa những nhà buôn nào họ nghĩ là có thể …cướp được, nhà nào có con gái họ bắt để ..hãm hiếp, về sau có nhiều người kể lại, các cô gái phải chui trốn ở những nơi dơ bẩn nhất, trên gác xép, dưới gầm giường….Cũng hên là sau khi vơ vét được mớ tiền của thì họ bỏ đi…

Bấy giờ mới thật sự là những ngày hãi hùng của “tháng tư đen” khi bộ đội miền Bắc đã đem xe tăng vào thành phố, những chiếc xe kềnh càng, lù lù chạy ngang chạy dọc, trên xe ngụy trang đầy lá cây xanh, người và xe đều cắm đầy lá như những “cánh rừng “ biết đi. Người dân bình thường đứng nhìn bọn “khỉ rừng xanh” xuất hiện trong lo âu sợ hãi, trong khi những tên nằm vùng xuất đầu lộ diện ăn mừng chiến thắng (?).

Những giọng nói “chanh chua–chát chúa- the thé- sắc lạnh” từ miền Bắc xa xôi nào đó, với “bảy điểm của ủy ban quân quản” cứ làm người nghe rờn rợn, nổi gai ốc cùng mình, nhất là những lúc ra đường gặp phải những bộ đồ màu cứt ngựa, đôi dép râu và cái nón cối. Mặc dù người thành phố đã …cải dạng, quần áo thường ngày đã đem giấu kỹ, chỉ còn những bộ đồ đen đúa hoặc nâu đà, nhưng vẫn bị nhìn với cặp mắt soi mói, ác cảm.

Thành phố bị tắt ngúm đèn điện ban đêm, nhà nhà đóng kín cửa, leo lét ngọn đèn dầu. Tháng tư đen đúng nghĩa. Thành phố hoang lạnh tiêu điều. Mới hôm nào những con đường phố đông vui nhộn nhịp, những bộ quân phục từ các quân trường, từ nhiều đơn vị về đây, trai thanh gái lịch dìu nhau đi trên phố, trên bãi biển những buổi chiều lộng gió, phố xá sáng trưng, sinh hoạt tấp nập….giờ còn lại một thành phố chết, vắng hoe, đã vậy những tiếng súng phòng không được đặt khắp nơi cứ bắn lên nổ rền trời, tiếng súng đại bác bay xé không trung, xé trời và xé cả lòng người. Buồn đau và sợ hãi là tâm trạng của những người dân trong thành phố, dù mọi của cải hiếm quí đã đem dấu cất, phi tang…..

Những tiếng máy bay ầm ĩ bay trở lại thả bom thành phố, nơi đã bị bắt buộc phải treo cờ “Mặt trận giải phóng miền Nam”. Những tiếng nổ long trời lở đất cứ dội lại, rền ra xa, những giấc ngủ chập chờn, khi trên đài phát thanh ra rả loan tin “quân Mỹ Ngụy” càng ngày càng thất trận. Lệnh của “uỷ ban quân quản” ban ra: “cách mạng sẽ khoan hồng nếu quân dân cán chính Mỹ Ngụy ra đầu thú”. Một người anh họ, chỉ là một “cán bộ xây dựng nông thôn” của một xã ngoài Phú yên, chạy vào nhà tôi tạm trú, ba má tôi lo sợ đã bảo trốn đi đi, nhưng vì nghe lời gia đình của vợ bảo ra trình diện, bị “cách mạng dẫn độ” về T.Hoà và “chặt đầu” không chút nương tay, ngày liệm xác phải chờ xin lại.. cái đầu bị chặt để ráp lại cho nguyên vẹn hình hài. Người thanh niên ăn trộm vặt vì đói quá, bị “bộ đội’ bắt đem ra bãi biển “xử tử” để làm gương.

Dù không dám ra đường, nhưng những người như chúng tôi, cứ khoảng hai giờ chiều là leo lên xe đạp, đèo theo chiếc mùng và vắt cơm nguội, đạp xe lên tận trên Thành, hoặc khu Đại điền xin ngủ qua đêm, nhất là những gia đình có “hầm trú ẩn”, vì cha mẹ già sợ bom đạn từ máy bay “Mỹ nguỵ” của đám “giặc lái” trở về thả bom ban đêm, tai bay hoạ gửi chẳng biết đâu mà tránh. Nhiều khi đang ngủ chập chờn, còi báo động rú lên liên hồi, dai dẳng đến rợn người, thế là ba chân bốn cẳng chạy chui vội xuống hầm, ngồi bó gối chờ cho đến sáng, khi biết chắc rằng “máy bay Nguỵ” không còn trở lại thăm viếng tặng bom.

Hỡi ơi! Khi …cuốn gói chạy, những người có thẩm quyền đã không chịu hủy bỏ những gì cần hủy, giờ đã lọt vào tay giặc, họ ra lệnh đem bom về thả chính nơi họ vừa mới bỏ ra đi. Thành phố như đã chết, giờ càng ghi đậm thêm nỗi chết, khi quá nhiều nơi “ăn” bom đạn của chính quân mình, từ ngoài xóm Bóng, đến đường Tô hiến thành, và cả ngôi trường thân thương của chúng tôi cũng lãnh nhiều quả đạn. Gia đình một người “tị nạn” chưa kịp tìm phương tiện trở về lại quê xưa, thì người vợ trẻ và đứa con trong bụng đã chết tức tưởi ngay trong phòng học vì quả đạn trúng sập căn phòng .

Trên đường đi đến trường để dọn xác chết và gạch ngói ngổn ngang, chiếc xe đạp cà tàng của chị bạn bị đứt dây sên, hai chị em vừa dắt xe chạy mà vừa khóc vì đường vắng đến lạnh người, lại phải đi ngang qua khúc quanh trước cửa trường Nữ trung học, nơi có ba xác chết nằm sấp đó thật hôi thối, mà chưa có người dọn dẹp khiêng đi mai táng…..

Thú thật hồi đó cứ mỗi một đống gạch vụn khiêng đi đổ, là khiêng đổ cả mồ hôi và nước mắt, nhưng đã giữ lại trong tôi nỗi đau và sự tức giận đối với những người vừa là bạn, là phe mình mới hôm qua, những quán ăn Thọ Lộc, Hoài Linh còn ấm cái ghế ngồi, chẳng lẽ hôm nay đã trở thành…thù địch?. Thương và giận luôn giằng co theo từng bước chân đi. Bao nhiêu ngày của tháng tư đen, là ngần ấy ngày chúng tôi sống trong lo âu sợ hãi, khủng hoảng tinh thần. “Cách mạng” đưa người đến tận nhà “bắt buộc” các thầy cô phải đến trường, nhưng có lúc chưa đi đến trường đã phải chạy về vì tiếng súng phòng không nổ đụp đụp liên hồi. Mãi đến khi “Mặt trận lâm thời giải phóng miền Nam thông báo là quân dân ta đã chọc thủng chốt cản của Mỹ Ngụy tại phi trường Phan Rang và đang tiến nhanh theo gót bọn chúng đang tháo chạy…” thì không còn nghe tiếng ù ù của “những chuyến bay đêm!. Nhưng ngoài nỗi đau, sự hoang mang sợ hãi giờ mang thêm niềm thất vọng tột cùng.

Ôi tháng tư đen! đời đen như cục than đen bắt đầu từ những ngày tháng đó, cho đến một ngày cả nước cùng nghe chung một tiếng loa của phe thắng trận với “đại thắng mùa Xuân”!. Những ngày ăn cơm độn, bo bo, mì sợi, với mỗi tháng một cái tem phiếu, lên rừng chặt cây lồ ô, đi lao động khổ sai tiếp diễn….., những tháng ngày không thể nào quên, và mãi mãi không dễ gì quên….

Houston 30-4-12

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Image

CHỜ NHAU,
XÓT XA CHỜ NHAU

Trong chương trình 70 năm tình ca, người dẫn chương trình là ông Hoài Nam đã nhắc lại một giai đoạn tình yêu của nhạc sĩ Vũ Thành An. Nhắc đến Vũ Thành An, những người ở lứa tuổi người viết nhớ ngay “Những Bài Không Tên” thật da diết về tình yêu, những khắc khoải rã rời về sự tan vỡ…

Người viết tóm tắt : “ Vào năm 1965 Vũ Thành An viết nhạc và Nguyễn Đình Toàn đặt lời cho bản Tình Khúc Thứ Nhất để kỷ niệm một mối tình. Cuộc tình kéo dài được một năm thì chấm dứt với bản Bài Không Tên Cuối Cùng do chính Vũ Thành An đặt nhạc lẫn lời đánh dấu sự tan vỡ đó…”

Sau Bài Không Tên Cuối Cùng, Vũ Thành An gặp tình yêu khác và rồi lại tan vỡ để những Bài Không Tên khác xuất hiện… không theo một thứ tự nào…! Năm 1969, ông lập gia đình và bài Không Tên Số 5 ra đời như một tin vui…. Tuy nhiên, theo nhiều người thẩm định về mặt nghệ thuật trong dòng nhạc của Vũ Thành An – Bài Không Tên Số 8 là đặc biệt nhất, cung cách thật độc đáo cả về lời, ý, nhạc….

Nói về tình khúc thật khó, có người thích bài này, có người cảm bài kia. Vì thế, ông Huy Phương có lần đã thổ lộ : “ …Mỗi bài hát, của riêng mỗi người đều mang theo những màu sắc, âm thanh của một ngày tháng cũ xa xưa nào đó, cho nên đối với người này bản nhạc có thể có ý nghĩa, quay quắt tuyệt vời, với người kia là tầm thường vô vị. Những ca khúc được hát lên trong một đoạn đời nào đó, sẽ được nhắc lại, vẽ lại bây giờ, đó là giai điệu của một mối tình, một hình ảnh, một tháng, một ngày, một phút giây. Khi tiếng hát được cất lên, chúng ta không nhìn ra người hát, không nhớ tới người viết. Nó là nỗi niềm riêng của mỗi người, là châu báu không thể ban cho ai. Chính những dòng nhạc đó đã tiềm ẩn sẵn đâu đó trong vùng sâu kín của tâm hồn, đang trỗi dậy gọi chúng ta về với những ngày tháng cũ…”

Dư âm của những ngày dành cho những cặp tình nhân đắm đuối nôn nao tìm tặng nhau những thỏi kẹo ngọt, rượu nồng, hoa thơm…Khiến người viết bồi hồi lục lại chồng nhạc xưa :

Đêm nay gió xôn xao
Ngoài kia đã vang lời mưa chào
Chờ mộng ấp hơi nồng
Tình lấp cho đầy hư không

Tìm nhau, thắp đêm tìm nhau
ướp môi tìm nhau, với tay tìm nhau
Chiêm bao mặc áo tình nhân
đội lời nguyền thương thân trót đời

Chờ nhau, xót sa chờ nhau
Hắt hiu chờ nhau, năm vàng ngày héo
Thôi em màu môi cũng nhạt
Chìm theo suối mê thời gian

Đêm mưa lũ tìm về
một cơn lốc xoay đời quên đời
Lời ngày đó ân cần
Tìm đến ôm đèn chong đêm

Nhớ nhau, tìm đến nhau
Nắng mưa ngược xuôi
Đời mình cơn lốc xoáy
Mai mốt rồi thương vay

Nếu yêu nhau, xin nhau
Thương cuộc đời khô héo
Xin dịu dàng dắt dìu
Tìm nhau, thắp đêm tìm nhau
Ướp môi tìm nhau, với tay tìm nhau
Chiêm bao mặc áo tình nhân
Đội lời nguyền thương thân trót đời

Chờ nhau, xót xa chờ nhau
Hắt hiu chờ nhau, năm vàng ngày héo
Thôi em màu môi cũng nhạt
Chìm theo suối mê thời gian.

Theo tôi, không ai hát nhạc của Vũ Thành An hay bằng chính tác giả. Chỉ có những đau khổ và cảm xúc tuyệt vọng tới cùng cực mới có thể khiến ông vừa đệm guitar thùng vừa hát da diết như “rút hết ruột mình ra”, đánh thức những rung động đầu đời của người nghe mà bấy lâu nay họ tưởng chừng cảm giác đó đã ngủ quên trong những năm tháng xa vời hư hao vô nghĩa….

Với tay tìm nhau… tìm nhau và chờ nhau trong hắt hiu cuối đời.

Không phải Bài Không Tên Số 6 làm tôi khóc đây sao ?

thuỵvi
(Hầm Nắng 17/2/2012)

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

Image

Người phụ nữ Việt Nam:
Nguồn thơ của Hồ Dzếnh

Viên Linh

Nhà thơ Hồ Dzếnh (1916-1991), nguồn thơ trong sáng nhất là người phụ nữ Việt Nam.

Nhà thơ Hồ Dzếnh, tên thật Hà Triệu Anh, có mẹ là người Việt, cha là người Trung Hoa. Sau năm 1954 ông kẹt lại miền Bắc như nhiều thi sĩ tiền chiến nổi danh khác, mà sau này còn được người ta nhắc đến vì trong suốt hai mươi năm sống với cộng sản ông đã không vì miếng ăn hay bị lôi cuốn để viết ra nhưng câu thơ phản lại lòng yêu mến của người đọc, mà ông đã tạo dựng được, từ sau những tác phẩm như Quê Ngoại, hay các bài thơ nhan đề Chiều (hay Màu Cây Trong Khói), và nhất là bài Cô Gái Việt Nam. Trong trong các thi sĩ Việt Nam, Hồ Dzếnh là người có những bài thơ ca gợi phụ nữ Việt Nam hay nhất, thật lòng nhất, là đề tài của bài viết nhỏ này.

Thân sinh Hồ Dzếnh là Hà Kiến Huân người Quảng Ðông. Ông Huân qua nước Việt từ cuối thế kỷ XIX, ít lâu sau quen biết và thành hôn với một cô lái đò ở trên sông Ghép, Thanh Hóa, tên là Ðặng Thị Văn. Năm 1916 Hà Triệu Anh ra đời. Những năm thơ ấu ông sống trong môi trường thiên nhiên rừng núi, nhờ người cha làm nghề buôn gỗ ngược xuôi giữa rừng núi và thành phố. Hoàn cảnh đổi thay khi Hà Triệu Anh còn niên thiếu, ông theo mẹ về ở hẳn quê mẹ. Quê mẹ vùng Thanh Hóa và tình mẫu tử của người mẹ Việt tần tảo nuôi con đã in sâu trong tâm hồn ông. Ở Thanh Hóa, theo học ở trường Thiên Chúa Giáo, gọi là Trường Nhà Chung, mà ảnh hưởng đã khiến ông viết bài “Jésus Christ, ý nghĩa đêm Noel,” và các bài thơ có bóng dáng Chúa trong đó như “Hồn Chiều,” “Hiu Quạnh.”

Sống ở Hà Nội, Hồ Dzếnh bắt đầu bước vào làng văn, làng báo trong khoảng 1931, cộng tác với các báo Trung Bắc Chủ Nhật, Tiểu Thuyết Thứ Bảy. Về sự nghiệp văn chương, Hồ Dzếnh đã cho xuất bản các tác phẩm văn, thơ như sau: Chân Trời Cũ (1942), Một Chuyện Tình Mười Lăm Năm Về Trước (1942-ký Lưu Thị Hạnh), Quê Ngoại (1943), Cô Gái Bình Xuyên (1946), Hoa Xuân Ðất Việt (1946), Người Cứu Thương Trung Hoa (1947), Những Vành Khăn Trắng , Dĩ Vãng, Hai Mối Tình (1948), Ðường Kế Mã (1943), Nhà Nhiều Con, Quê Ngoại II, Tiếng Hát Thiên Nga (1993). Thi phẩm Quê Ngoại khi mới xuất bản (1943) đã được tuần báo Tri Tân nhận xét: “Tên tuổi của người Minh Hương ấy, văn học quốc ngữ không nề gì mà chẳng đón tiếp như đã đón tiếp bao nhiêu nhà văn hữu tài.”

Một trong những bài thơ của ông được nhắc nhở đến nhiều nhất là bài Chiều, đã trở thành lời nhạc (nguyên văn) trong một nhạc phẩm cùng tên. Có điều cần ghi nhận là, trong thi ca Việt Nam, Hồ Dzếnh có những lời ngợi ca về phẩm chất người phụ nữ Việt Nam trong khá nhiều bài, điển hình nhất là bài Cô Gái Việt Nam, (đề tặng Hồng Nhật - bài này cũng còn tên khác là Cảm Xúc) với giọng thơ hết sức chân tình, cảm động:


Cô Gái Việt Nam

Cô gái Việt Nam ơi!
Từ thuở sơ sinh lận đận rồi
Tôi biết tình cô u uất lắm
Xa nhau đành chỉ nhớ nhau thôi.
Cô chẳng bao giờ biết bướm hoa
Má hồng mỗi tiết mỗi phôi pha
Khi cô vui thú là khi đã
Bồng bế con thơ đón tuổi già!

Cô gái Việt Nam ơi!
Ngọn gió thời gian đổi hướng rồi
Thế hệ huy hoàng không đủ xóa
Nghìn năm vằng vặc ánh trăng soi.

Tôi đến đây tìm lại bóng cô
Trở về đường cũ hái mơ xưa
Rau sam vẫn mọc chân rào trước
Son sắt lòng cô vẫn đợi chờ.
ải lúa cô trồng nay đã tươi
Gió xuân ý nhị vít bông cười,
Ai hay lòng kẻ từng chăm lúa
Trong một làng con đã héo rồi!

Cô gái Việt Nam ơi!
Nếu chữ hy sinh có ở đời
Tôi muốn nạm vàng muôn khổ cực
Cho lòng cô gái Việt Nam tươi.


Hồ Dzếnh cũng là một trong một số hiếm hoi những nhà thơ làm thơ về người vợ của mình:

Bài thơ tặng vợGửi Nguyễn Thị Hồng Nhật

Mình vừa là chị là em
Tấm lòng người mẹ, trái tim bạn đời
Mai này tới phút chia đôi
Hai ta ai sẽ là người tiễn nhau?
Xót mình đã lắm thương đau
Tôi xin làm kẻ đi sau đỡ mình
Cuộc đời đâu phải phù sinh
Nước non chan chứa nghĩa tình mình ơi!

(1986)

Nhân vật phụ nữ trong thơ Hồ Dzếnh có nhiều vóc dáng, từ một người trong lịch sử (Mỵ Châu, bài Phong Châu), đến cô khách qua đò (Lỡ Ðò), “chị tôi” (bài Quê Hương), Bích Câu (Ðất Mẹ Ngày Xuân), Thúy Kiều (Mối Tình Ðầu).

Bài viết nhỏ này cũng nhờ nhân kỳ trước Trang Thời Sự Nhân Văn nói về các Thi Thần (Muses), hay các Thần tượng Nghệ thuật. Nàng thơ, hay nguồn cảm hứng của một nhà thơ, là ánh sáng thi ca dẫn dắt nhà thơ khi gieo vần, lựa điệu. Với Hồ Dzếnh, đó là người phụ nữ Việt Nam. Trong các thi sĩ Việt Nam cùng thời với tác giả Quê Ngoại, hình như không một người nào đạt tới chỗ trong sáng, chỗ tinh hoa, chỗ thiên thần mà đơn giản trong lành như Hồ Dzếnh khi làm thơ về phụ nữ.

nguyenthanh
Posts: 859
Joined: Fri Jan 06, 2012 5:40 pm

Post by nguyenthanh »

Image

Tháng tư, những giọt mưa

Nguyễn Mạnh Trinh


Ðêm hôm qua. Mưa lớn. Nằm nghe những hạt mưa rơi trên mái, trong cái ẩm lạnh của đất trời tự nhiên không ngủ được. Thức giấc trong cái không gian mênh mông, thấy cuộc đời qua đi với nỗi bàng hoàng khi nhìn về tháng ngày đã trải. Bao nhiêu cơn mưa trong đời. Ở những nơi chốn nào, tuy xa xôi mà gần gũi. Bao nhiêu tháng tư, từ chiều mưa sấm sét cuồng nộ của Sài Gòn ngày tổng thống Dương Văn Minh lên nhậm chức và cũng là lúc tên phi công phản bội Nguyễn Thành Trung đánh bom căn cứ Tân Sơn Nhất. Bao nhiêu những chiều mưa và bao nhiêu những sáng nắng. Làm sao quên buổi chiều hôm đó, khi cơn giông tối thẳm của bầu trời Sài Gòn, khi quốc gia đang trong những ngày bi đát và tôi đứng trong hangar nhìn những chiếc A37 thả bom phi trường. Buổi sáng tôi vừa tiễn mẹ tôi và gia đình ra đi, trong lòng đang hoang mang giữa đi và ở thì bây giờ tưởng như mình đang đứng giữa cơn giông tố cuộc đời. Mưa, những cơn mưa hay là giọt lệ của trời. Gió, hay là những sợi lạnh buốt làm tê điếng làn da….

Tháng tư ở Sài Gòn. Gợi nhớ đến những hạt mưa. Của những ngày lang thang trong thành phố quen xưa nhưng bây giờ xa lạ. Thành phố ấy câm lặng giữa mưa gió buốt rét.

“Giờ ta lạc chốn nào đây
Phố hoang vắng giữa trời đầy bóng mưa.
Chân quen. Thân thế đẩy đưa
Thân ta mộng khép miệng thừa tiếng vui.
Nửa khuya thèm giấc ngủ vùi
Chập chờn bóng ngả ngược xuôi lệ thầm
Nặng vai tù ngục căn phần
Rồi thôi lưu lạc phân vân ngõ đời
ngửa tay xin chút rong chơi
Mưa giăng ngõ hẹp cõi đời xót xa.”


Một bữa trở về nhìn ngôi nhà mình ở bị niêm phong và một đời sống cũ đã bị nhạt nhòa chỉ còn lại những dấu vết của tàn phai. Con ngõ hẹp, hiên nhà xưa, những tối về khuya thuở nào bây giờ nhớ lại chỉ còn buốt xót. Nước mất, nhà tan. Những giọt mưa rơi trong tiềm thức và giọt giọt trong tâm một nỗi ngậm ngùi.

Bây giờ, lại một tháng tư. Tháng tư ở California có những cơn mưa sót mùa. Mưa. Mang theo hơi lạnh và mang theo cả những nỗi buồn man mác. Buồn, cũng như nước giọt bất chợt từ trời cao, có khi chỉ là những nỗi sầu lan man không duyên cớ. Sao ta cứ làm một người cứ mãi bâng khuâng của một người ngóng hoài về quá khứ.

Ðêm mưa, nằm nghe nước giọt bên ngoài, trong nệm êm chăn ấm và da thịt của người thân yêu, dường như có nỗi niềm nào lẩn khuất từ tiếng gió, từ tiếng mưa. Cái giây phút hiện sống sao nó cũng mơ hồ, y như những ngày nào đã qua, hệt như thuở nào đã hết. Tôi mơ màng trong cái cảm giác không biết mình ở nơi đâu, sống chỗ nào. Những ngày tháng cũ trôi qua, từ thuở ấu thơ tắm truồng ở một xóm lao động Sài Gòn đến những cơn mưa trưa bất chợt, đứng trú mưa ở một hàng hiên và nghe lòng xôn xao khi thoảng nghe mùi tóc của một người nữ bên cạnh. Hay những cơn mưa của Pleiku, của xôn xao mật ngọt tình đầu, của những đêm mưa mù mịt đất trời trở về phi trường trong nỗi buồn của một người tưởng như bị biếm vào đất trích…

Những câu thơ trở lại với tôi trong canh khuya. Nguyễn Bính. Một thân lận đận nơi trời xa / nằm nghe mưa rơi trên mái nhà / gió bấc vào thu đầy tiếng lá / đời tàn mộng đẹp tiếc xuân qua. Tôi ở phương xa nhưng đâu có lận đận? Sao vẫn tiếc hoài khi sống lại những cơn mơ.

Có lúc bâng khuâng như đoc lại một bài thơ của một người bạn đã quá cố. Thơ nhắc lại một thời điêu linh. Một bài thơ của Giang Hữu Tuyên, tôi đọc và luôn luôn sau đó bao giờ cũng là những liên tưởng đến thân phận của mình một lúc nào tuy đã hai mươi năm nhưng tưởng như mới hôm qua. Những ngày chập chững gượng lại để bước tới vững vàng cuộc đời mình. Tôi đọc bài thơ ấy nhiều lần và mười lần như một cũng là những chạnh lòng như thế. Bài thơ “Trời mưa đi phát báo” mà nhiều người cũng đọc và đồng cảm như tôi.

“Chiều ngã năm đường năm bảy ngã
Ngã nào cũng ướt giọt mưa rơi
Bao mùa mưa đã im giông bão
Sao nước trường giang vẫn khứ hồi
Mười mấy năm làm tên phát báo
Lòng buồn theo thành quách xa xưa
Những trang tin dội từ quá khứ
Rớt ngập ngừng cùng những hạt mưa
Mưa lót ngót đời loi ngoi mãi
Sáng chưa đi chiều lại mưa về
Mưa ngã năm từ năm bảy ngã
Ngã nào cũng mưa và mưa thôi
Xấp báo trên tay vừa ướt hết
Vậy mà cứ đứng dưới mưa bay
Hình như những mùa mưa thuởtrước
Ðang về làm ướt trái tim ai”


Mưa. Những cơn mưa của con người bơ vơ lưu lạc giữa mù mịt đất trờ. Ðường năm bảy ngã, chiều biết đi về lối ngã nào đây. Chỗ nào cũng mưa và mưa bao phủ. Mưa làm ẩm ướt những trang tin trên báo và cũng ướt luôn trái tim ai đang giây phút chạnh lòng. Ai? Người ấy có thể là thi sĩ nhưng cũng có thể là một người trong chúng ta, lạc giữa đìu hiu của đất trời và giữa đơn điệu thúc bách của áo cơm. Y hệt như cảnh “Xấp báo trong tay vừa ướt hết. Vậy mà cứ đứng giữa mưa bay. Hình như những mùa mưa thuở trước . Ðang về làm ướt trái tim ai?”.

Không còn là hình như, mà, đã là như thực, một cảm giác thực, một chạnh lòng thực. Mưa. Mưa. Vô cùng không gian thơ. Mưa của một người lính cũ còn vương vấn chiến địa xưa. Những hạt mưa thuở nào. Buốt xót. Nghe nợ áo cơm quẩn với hình hài. Ðời sống ngắn lắm và bước chân của con người cũng chẳng dài hơn…

Mưa sao cứ gợi hoài trong ký vãng những cảm giác bềnh bồng bâng khuâng. Một buổi sáng trên xa lộ. Trời mưa. Ðáng lẽ giờ này lười lĩnh trong chăn ấm với giấc ngủ nướng mà phải lặn lội đường xa trong cái hiu hắt của đất trời. Những rặng núi xám phía hướng trước mặt vẫn là nền đen thẳm trong màn mưa mù mịt. Chạy vào lane trong, với tốc độ chậm, vặn nhạc hòa tấu nhẹ nhẹ, tôi miên man trong từng ý nghĩ. Dường như có tiếng gọi nào, của mơ mộng thanh xuân, của thuở nào hăm hở với giấc mộng cho đời, cho người. Mỗi một lúc trong thăng trầm của cuộc đời, mỗi nỗi niềm riêng. Khi rời giảng đường vào lính, giấc mộng chẳng to tát vá trời lấp biển, nhưng cũng là những cảm nhận khá ngây thơ về đường binh nghiệp.

Khi vượt biên, tưởng như mang theo thông điệp của những người còn kẹt lại ở quê nhà, cao giọng cất lên tiếng nói của người yêu tự do dân chủ. Và khi sang định cư ở xứ người, hăm hở bước vào con đường lập nghiệp mới cho bản thân, vừa học vừa làm để tròn trách nhiệm với chính mình và còn mong góp vào những công việc chung của một cộng đồng lập nghiệp ở xứ người vì tìm kiếm những ý nghĩa cho cuộc sống đời xa xứ. Những ước vọng ấy, thôi thúc, có khi thành một ám ảnh và là ray rứt trong cái nhịp sống thúc đẩy đến chóng mặt của xã hội hiện tại.

Hình như tôi có một bài thơ nói về cảm giác ấy. Mưa buổi sáng trên xa lộ phía nam. Bài thơ có những đoạn như muốn thầm thì tâm sự với chính mình trong cái đìu hiu của một cuộc đời đã manh nha nhiều uẩn ức”

“những buổi sáng mưa dài trước mặt
nước ào ạt tung tóe khoảng trời
đèn thắp lên thiên thu đừng tắt
gọi ai người khản tiếng tàn hơi
đường trải ra chuyến xe mỗi nặng
đi về phương bắc hay phương nam
sao tiếng sóng đằng sau còn vẳng
hay là đời nhịp của chia tan
mưa vỗ vỗ nhạt nhòa khung kính
ru ta ru ta mưa thầm thầm
ngọn núi thẳm trước sau vô định
cánh chim bay vào chốn biệt tăm
một tiếng đồng hồ trên xa lộ
nghĩ mãi về đời mãi về mình
với lúc thực hư dường chẳng rõ
thấy mình heo hút giữa lặng thinh
tự giải thích với ngàn câu hỏi
ta hôm nay ta sống làm gì
ngày tiếp ngày không chờ không đợi
chuyến xe sang tiếp nối về đi…
tóc dần phai mộng dần phia nhạt
vui như lá cỏ đọng sương mai
mà buồn như hàng hà hạt cát
ta làm gì làm gì hôm nay..”


Có người đọc thơ cho rằng đây là một khuynh hướng thơ “hội nhập bình thản”. Một kết luận chắc nịch cho bài thơ: vừa lòng với hiện tại, với công việc làm và yên phận. Thực ra cái từ ngữ hội nhập bình thản tự nó đã có những định nghĩa mơ hồ và người đọc thơ đã hiểu một cách nào khác để có những kết luận đầy tính suy diễn. Mà suy diễn thì ít khi có tính chính xác! Bài thơ trên không có chữ nào để nói lên tâm trạng vừa lòng với hiện tại và cũng chẳng có ngôn ngữ nào để chỉ rằng vừa lòng với công việc làm đang có cũng như yên phận với những sự đều đều nhàm chán của cuộc sống.

Trong bài thơ, là cảm giác của một người vừa phải sống đời của một người bình thường đánh vật với cơm áo lại vừa bị ray rứt của những nỗi niềm của một người muốn dấn thân nhưng chưa có dịp thì tuổi già sắp đến. Những ngôn ngữ như “khản tiếng tàn hơi”, như “tiếng sóng đằng sau còn vẳng”,hay hình ảnh như “ngọn núi thẳm trước sau vô định? Cánh chim bay vào cõi biệt tăm”, đều muốn nói lên cái tâm tư của một người tị nạn xứ người nhưng vẫn thầm canh cánh những nỗi niềm ấp ủ từ lúc thanh xuân…

Giải thích một bài thơ, nhiều khi giống như một công việc giết chết thơ. Ðâu có ai mang cảm xúc ra để kể lể, mang tâm sự ra để đối chiếu với thơ. Nhưng, nhiều khi viết với cái tâm cảm của mình mà bị cảm nhận bởi những ý nghĩ sai lạc đến một trăm tám chục độ thì cũng là điều đáng buồn cho người làm thơ…

Thực ra, mỗi người có một lối cảm nhận thơ riêng. Nhất là không thể dùng sự suy diễn từ những yếu tố khác ngoại văn bản để kết luận về một điều này điều nọ. Ðọc thơ và hiểu được thơ, thực cũng hiếm có mấy ai..

Những cơn mưa tháng tư. Những cơn mưa của người vừa qua tuổi sáu mươi để gần tới bảy mươi, sống song hàng giữa thực tế và mơ mộng. Nhưng cũng may, vẫn còn những khoảng trời rộng lãng mạn, vẫn còn văn chương để nghĩ về và viết đến. Nếu không, ôi thôi, đời sống sẽ đơn điệu biết bao. Cái tâm trạng ở Tần nhớ Tấn ấy, hễ là người tị nạn thì ai mà chẳng có. Mỗi khi nghĩ đến lại có điều gì vướng bận trong lòng. Có mấy ai vừa lòng với công việc ở đây, dù là người khoác lác cỡ nào. Lao động, dù cổ xanh hay cổ trắng cũng là đem mồ hôi hay tâm sức để đổi lấy miếng ăn. Ngay cả những người bản xứ da trắng, và ở những cấp vị cao, khi kinh tế trồi sụt, cũng còn thấy được đi làm và có công việc là hạnh phúc. Huống chi , người tị nạn, đòi “hội nhập bình thản” thì có lẽ chỉ là chuyện phong thần…

Mưa tháng tư hình như có hạt nào rơi từ quá khứ. Mới gần đây thôi, những tháng ngày lạ lẫm, những bước đến chập chùng cảm giác. Mưa trên buổi chiều nào gần gũi nhưng lại xa vắng. Mưa trong trí nhớ của tôi

“Mưa đã rơi đã rơi ở thành phố chúng ta
trên góc phố Los Angeles
bảng xe bus lặng thinh
chuyến xe không hành khách trở về
tôi lạnh run đứng ngó.
Mưa ngủ quên giây phút nào
Hạt mưa quá khứ.
Vỡ vụn trên mặt nhựa nâu
Cho anh hơi thở muộn
Mưa đã rơi đã rơi ở thành phố chúng ta
Trên đời sống hôm nay kẻ lạ
Góc phố biển một mình
Con hải âu nhìn trời xanh chết rũ
Từng chiếc lá lạnh buốt
Rơi trong ngày đầu năm vừa qua
Ðâu tóc bạc tuổi già
Tuổi thơ ơi tuổi thơ chúng ta
Là âm bản cơn mưa mù mịt
Mưa đã rơi đã rơi ở thành phố chúng ta
Con phố Bolsa mỗi sáng mỗi chiều
Như Sài Gòn nỗi niềm
Gánh trên vai trí nhớ
Giọt nhạc nào rơi rơi
Như bóng chiều tàn phai nắng rụng
Anh nói nhỏ với thinh không
Vừa chết lặng màu hồng
Khi một trời chập chùng gió tím.
Mưa đã rơi đã rơi từ hư không.”


Làm thơ, có phải là chiêu niệm quá khứ và hướng vọng tương lai. Mưa. Giọt ẩm hơi nước đọng lại trong đời sống trong da thịt những sợi cảm xúc nào của riêng một người hay của chung những hệ lụy cuộc đời. Những giọt mưa tháng hai rơi hoài trong tâm thức một người luôn không bằng lòng với tháng ngaỳ hiện tại hôm nay…

Nguyễn Mạnh Trinh

User avatar
ngayngo
Posts: 1209
Joined: Sat Nov 01, 2008 8:34 pm

Post by ngayngo »

MỘT NGÀY KHÔNG THỂ QUÊN
Truyện của Phương Lan
Hôm nay là ngày quyết định sẽ đưa mẹ vào Viện dưỡng lão. Cả đêm qua thao thức không ngủ được, Phượng trằn trọc xuốt đêm, nghĩ ngợi lan man hết chuyện này sang chuyện khác, lòng rối như tơ vò. Gần sáng nàng mới mệt mỏi thiếp đi, nhưng vừa chợp mắt được một lát, Phượng bỗng choàng tỉnh dậy vì một mùi khét từ nhà bếp xông lên làm nàng tỉnh hẳn ngủ. “ Thôi chết rồi, mẹ lại quên tắt bếp ” Phượng nói thầm như vậy, rồi không kịp xỏ dép, nàng hốt hoảng chạy thật nhanh xuống nhà dưới. Căn bếp mù những khói, hơi khét từ cái nồi đang nấu trên bếp bay tỏa khắp căn phòng, lửa xanh vẫn liếm quanh đáy nồi. Phượng vội vàng tắt bếp gas, bê cái nồi đặt qua một bên, rồi mở tất cả các cửa cho khói bay ra, may quá, nàng xuống kịp, nếu không cả nhà lại bị một phen hoảng vía. Từ khi mẹ bị bệnh lú lẫn, Phượng phải khoá ống gas mỗi khi đi làm, nhưng hôm nay nàng ở nhà nên không khóa, vì có dè đâu bà cụ lò mò xuống bếp sớm thế. Phượng đứng im, định thần một lúc cho tim bớt đập, rồi mới chậm rãi bước ra cửa sau.

Nàng gặp mẹ từ ngoài vườn đi vào, tay cầm một nắm lá gì dài dài, xanh xanh. Thấy con gái, bà Trình mỉm cười vui vẻ:

- Sáng bảnh mắt rồi, giờ này mới ngủ dậy à? May cho cô, tôi là má ruột, nếu là má chồng, thể nào cô cũng bị rầy.

Phượng nhìn lên bầu trời trắng đục, vừng đông chưa ló dạng, bóng đêm còn lảng vảng, cô khoan khoái hít một hơi thật sâu làn không khí mát mẻ của buổi ban mai, rồi quay sang mẹ, hỏi:

- Má ra vườn chi sớm thế?

- Má ra hái ít hành ngò để bỏ vô nồi cháo…

Vừa nói bà vừa đưa nắm lá lên khoe, Phượng suýt bật cười, nhận ra đó chỉ là một nhúm cỏ, nàng thở ra một hơi dài:

- Má lại quên tắt bếp, mà má định nấu món gì vậy?

- Má nấu cháo gà. Lâu lâu cũng nên đổi món, sáng nào cũng ăn bánh mì hoài, khô khan quá.

Phượng nhìn vô trong nồi, chỉ thấy lổn nhổn một ít gạo sống, và hai con gà bằng nhựa, đồ chơi của mấy đứa nhỏ, mẹ nàng đã bỏ tất cả vô một cái nồi với một chút nước, và bật bếp… Bây giờ tất cả đều cháy thành than, nhưng còn nhận diện ra được, Phượng nhăn mặt:

- Sao má để lửa lớn thế?

- Má muốn nấu cho lẹ để ba ăn xong còn kịp đi làm. Thôi, con lên lầu đánh thức ổng đi, má ở dưới đây pha cho ba ly cà phê.

Thấy Phượng vẫn đứng im, bà dục:

- Sao không đi đi, còn đứng đó? trễ giờ rồi.

Phượng đau xót nhìn mẹ:

- Má, nhớ lại đi! ba đi xa rồi mà, ba đâu có nhà?

- Thiệt à? ba đi xa thiệt à?

Bà mẹ lập lại một cách ngớ ngẩn, nét mặt chùng xuống, rất buồn. Một cơn gió lạnh lọt qua song cửa, làm lay nhẹ mấy tấm rèm, bà rùng mình, ngẩng nhìn ra bên ngoài, hàng cây maple bên kia đường đã rụng hết lá, vậy là mùa đông sắp tới rồi. Tim bà se lại, ông ra đi vào một ngày chớm đông, ông đi không bao giờ về nữa… Từ đó, bà sợ mùa đông, tuyết rơi chỉ gợi đến sự chia ly, màu tuyết trắng quá, trắng lạnh như màu áo tang, tuyết rơi phủ ngập khắp nơi, giá băng cũng phủ ngập đời bà. Xa nhau đã mấy đông rồi, bà chẳng còn nhớ, nhưng bà vẫn đợi, những đêm không ngủ, nằm nghe tiếng gió gọi, bà tưởng như tiếng thì thầm của người xưa. Ông đang ở đâu? đêm dài lạnh lẽo, ông có thấy cô đơn không ông? ở nơi xa xăm nào đó, chắc ông cũng đang nhớ đến tôi, sao ông không về? ông ơi…

Bà cố nhớ lại, trong ký ức đã phai mờ của bà, những hình ảnh cũ vẫn hiện ra, nhưng lộn xộn, không theo một thứ tự nào hết. Bà nhớ hôm đó không biết là ngày gì mà nhà bà đông người lắm, khách khứa ra vô tấp nập, đủ mặt bà con họ hàng và cả những người bạn bè. Gia đình hai đứa con trai lớn của bà từ hai tiểu bang khác cũng về họp mặt đông đủ. Lũ cháu nội, con của Sơn, Hải hiệp cùng hai đứa cháu ngoại con của vợ chồng Phượng thành một đám giặc, rượt đuổi nhau lung tung khắp nhà, làm bà chóng cả mặt. Nhưng bố mẹ chúng trái lại, rất khẽ khàng, họ chỉ thì thầm bàn tán, người nào cũng có vẻ mặt quan trọng, người nào cũng mặc quần áo trắng lùng thùng, trông chẳng ra làm sao. Phượng cũng đưa cho bà một bộ quần áo trắng bằng vải sô, và biểu bà mặc vô. Bà hỏi chi vậy? nó nói mặc áo vô để đi tiễn ba. A! bà hiểu rồi, đây là lúc tiễn ông lên đường, vì ông sắp phải đi xa… Bà nhớ mấy hôm trước, bệnh ông có mòi thuyên giảm, không thấy ông rên rỉ, những cơn đau hình như cũng rút lui, không còn hành hạ ông như mọi ngày. Bà ngồi bên giường, canh cho ông ngủ. Ông nằm im lìm, mắt nhắm nghiền, một cái mền mỏng đắp lên tới ngực, che thân hình ốm nhom chỉ còn da bọc xương thấy tội quá, căn bệnh ung thư quái ác đã lấy đi của ông hết da thịt. Ông ngủ không yên, lúc tỉnh, lúc mơ, thỉnh thoảng lại ú ớ… Nhưng đến trưa, thì ông hoàn toàn tỉnh táo, ông cầm tay bà dặn dò:

- Tôi sắp phải đi xa, bà đừng khóc nhé? Hãy can đảm lên…

Ông còn nói nhiều nữa, nhưng bà nghe tiếng được, tiếng mất, vì ông nói không rõ, ông chỉ thều thào… Bà tưởng ông nói sảng, chứ đang đau mà đi đâu? vợ chồng chưa bao giờ xa nhau, lần nào đi xa, ông cũng cùng đi với bà, chẳng lẽ cuộc hành trình lần này, ông lại đơn độc một mình? Bà khuyên ông nằm nghỉ, không nên nói nhiều, ông nhìn bà lờ đờ, rồi ông thở ra một hơi dài, nhắm mắt lại. Sau bà, đến lượt các con xúm quanh giường nghe ông dặn dò, đứa nào mắt cũng đỏ hoe. Rồi ông thôi không nói nữa, ông nằm im, từ từ chìm sâu vào giấc ngủ, giấc ngủ cuối cùng của đời người, mắt ông khép kín, nét mặt thanh thản không chút ưu phiền. Các con lặng lẽ rút kui, để mẹ riêng tư với cha. Bà nghĩ chắc ông mệt nên ngủ say lắm, không thấy ông trở mình. Bà sờ thử, thấy tay chân ông lạnh ngắt, bà vội vàng lấy thêm mền đắp cho ông, trời mùa đông rét mướt, những người già thật khổ, nhất là ông lại đang bệnh… Bà chờ ông tỉnh dậy, để nghe ông xác nhận rằng ông chỉ nói chơi thôi, nhưng ông cứ ngủ hoài. Bà rón rén, không dám cử động mạnh, sợ phá giấc ngủ của chồng, chả mấy khi ông ngủ được yên giấc. Bà muốn ngồi đây hoài, không muốn rời ông, để khi ông tỉnh, trông thấy bà, ông yên tâm. Tội nghiệp, từ dạo đau nặng, ông đổi tánh giống như con nít, hay hốt hoảng, sợ hãi, hơi một tí là giận hờn… Bà ngồi bên ông không biết bao lâu, cho tới khi một đứa con kéo bà đứng lên, nói:

- Má ơi! gần tối rồi, má phải đi ăn, từ sáng tới giờ má chưa ăn gì cả.

Bà đâu có thiết ăn? bữa cơm không có ông mới buồn làm sao, bà nói:

- Tụi bay và mấy đứa nhỏ cứ ăn trước đi, đừng để phần cho má. Má không thấy đói, má muốn ngồi đây với ba thêm một lúc nữa.

Nhưng chúng nó cương quyết kéo bà ra khỏi phòng, nói ba mệt để cho ba nghỉ. Thằng Sơn còn kéo cái mền phủ kín cả mặt ba nó, cái thằng thiệt vô ý, vô tứ quá, trùm kín thế làm sao ông thở được?

- Trời ơi! có bỏ ra không? ba bây ngộp mất thôi.

Bà la lên phản đối, bắt Sơn phải kéo cái mền xuống như cũ, bà mới chịu ra khỏi phòng. Từ lúc đó, tụi nó thay phiên nhau canh gác, không cho bà vô với ông nữa, nói đã có tụi con… Bà vẫn không tin rằng ông sẽ đi xa, vậy mà ông đi thiệt mới lạ chứ? sự thật mà cứ ngỡ như trong một giấc mơ… Cuộc tiễn đưa khá long trọng, có cả kèn trống. Bà và các con mặc áo trắng tiễn ông đi. Trời mưa sụt sùi, các con đi cạnh bà cũng sụt sùi, bà không bằng lòng, gắt:

- Ba không bao giờ bỏ má đâu, ổng đi rồi ổng lại về, tụi bây khóc lóc chi vậy? để ba bây nóng ruột.

Thiệt tình bà không trông thấy lúc ông đi, và ông cũng chẳng bao giờ thơ từ về nhà. Nhưng bà biết ở một nơi xa xăm nào đó, ông vẫn hướng về bà, vẫn nhớ đến bà, vợ chồng đầu gối, tay ấp mấy chục năm trường, đi xa sao khỏi vấn vương? Bà kiên nhẫn đợi ông về, chỗ ngồi của ông trên bàn ăn, bữa nào bà cũng bầy chén, đũa, để ông nhớ rằng ông vẫn còn chỗ trong gia đình này.

Nhưng sao ông đi đâu mà lâu quá? Bà ngậm ngùi nói với con gái:

- Dạo ba con ở nhà, sáng nào ba cũng chở thằng Thái đi học, còn má ở nhà coi con Uyên…

Rồi sực nhớ ra điều gì, bà hối:

- Con lên coi tụi nhỏ dậy chưa? bồng con Uyên xuống đây cho má thay tã.

Phượng nhìn mẹ thương xót, Uyên đã chín tuổi rồi, mà sáng nào bà cũng đòi bồng đi thay tã, trí nhớ của bà dừng lại ở ngày ông vĩnh viễn ra đi. Phượng ôm vai mẹ đi vô trong nhà, nàng bật TV lên rồi nói:

- Chắc cháu Uyên còn ngủ. Má ngồi đây coi chương trình truyền hình Việt Nam, đừng xuống bếp nữa nghe má? để con lên lầu coi tụi nhỏ ra sao.

Bà Trình gật đầu, vơ lấy cuộn len và cái áo đan dở lên ngắm nghía:

- Được, con đi đi! má vừa coi TV vừa đan nốt cái áo cho ba. Mùa đông sắp tới, ba cần có áo ấm, mà mấy cái kia đã cũ cả rồi.

Tánh bà tham công tiếc việc, chẳng muốn ở không, bà coi việc chăm lo miếng ngon, áo ấm cho chồng, cho con, cháu là bổn phận và cũng là một thú vui của bà. Ông mất đã tám năm, mà ngày nào bà cũng đan áo cho ông, đan gần xong, rồi lại tháo ra đan lại, như vậy cả mấy chục lần.

Phượng lên lầu, vào buồng mẹ, kiểm soát lại một lần chót cái va li lát nữa sẽ đem theo. Va li đựng toàn quần áo và những vật dụng cá nhân của bà Trình. Khi biết chắc không còn quên món gì, Phượng đóng nắp lại, ngồi thừ người rất lâu. Lúc soạn cái va li này, nàng đã không cầm được nước mắt, mỗi món đồ của mẹ đều gợi lại những kỷ niệm. Nhìn chiếc ghế đu mẹ vẫn thường ngồi, Phượng tưởng như được nghe tiếng ru của mẹ. Trên cái ghế ấy, bà đã ru cháu, lúc còn bé thơ, Thái và Uyên không chịu ngủ nếu không có tiếng ru của bà. Ngày xưa, cũng những tiếng ru “ ầu ơ, ví dầu” đó đã đưa Phượng vào giấc ngủ êm đềm, bây giờ thì đến các cháu…

Những buổi sáng tinh mơ, khi các con cháu còn nằm trong chăn ấm, bà đã thức dậy, lui cui nấu nướng, lo bữa sáng ngon lành cho cả nhà. Những buổi tối mùa đông rét mướt, bà thức rất khuya, ngồi bên lò sưởi đan áo ấm. Những khi trái nắng, trở trời, bà không quản ngại thức suốt đêm, trông chừng, dỗ cho cháu ngủ yên giấc… Bà đã nuôi con, nuôi cháu lớn lên bằng tất cả tình thương của bà. Tình mẹ bao la như một dòng sông, nước chảy miên man, vô tận. Qua bao nhiêu thăng trầm của cuộc sống, mẹ lúc nào cũng sát cánh bên đàn con, tận tụy hy sinh, bảo vệ, che chở, giúp đỡ... Gia đình lúc nào cũng đầm ấm, yên vui, mọi người quây quần đông đủ dưới một mái nhà, thế mà lúc cuối đời, mẹ lại phải đơn độc một mình. Ôi chặng đường cuối cùng, bao giờ cũng là một chặng đường buồn thảm. Phượng rơi nước mắt, nghĩ đến phút chia tay lát nữa.

Con về mẹ ở lại đây
Chia tay là đứt lìa dây mẫu từ
Ngàn năm biết có bao giờ
Có dòng ước mắt ngược bờ chảy lên?

Phượng hiểu nỗi cô đơn của mẹ trong những ngày sắp tới, nàng thấy lòng xót xa. Ý định đưa mẹ vô viện dưỡng lão thật ra đã manh nha có từ lâu, kể từ khi bà Trình có triệu chứng lú lẫn và có những hành động có thể gây nguy hiểm. Nhưng Phượng còn nấn ná chưa chịu thi hành, tại thương mẹ nên không nỡ. Cho tới mấy tháng gần đây, tình trạng trở nên tồi tệ, khi bà Trình hay mặc quần áo ngủ đi lang thang ra phố một mình và không biết đường về, hàng xóm phải đi tìm dùm. Một lần, bà suýt bị đụng xe lúc băng qua đường, may người tài xế thắng xe lại kịp, bà chỉ bị trầy trụa sơ sài. Bà mỉm cười ngu ngơ lúc được cảnh sát đưa về, mọi người hỏi bà đi đâu? bà nói bà đi đón ông. Tội nghiệp, ngày nào bà cũng đi đón ông, nhiều lần bà thức dậy từ hai, ba giờ sáng, vô phòng đánh thức mấy đứa cháu, biểu sửa soạn đi đón ông ngoại. Từ đó, sợ các con mất ngủ, mỗi buổi tối, sau khi đưa mẹ vô phòng riêng, Phượng phải khoá cửa lại. Có đêm nàng nghe tiếng đập cửa thình thình, mẹ đòi mở cửa cho bà đi chợ…

Bà Trình thích nấu nướng lắm, phải công nhận ngày trước, bà nấu ăn rất ngon, nhưng từ dạo bị mất trí nhớ, bà chẳng bao giờ tắt bếp. Mấy lần, bà suýt làm cháy nhà vì cái tật hay quên đó, vì vậy, trước khi đi làm, Phượng đã phải tắt ống gas và khoá cửa, sợ mẹ ra ngoài rồi gặp nạn. Như vẫn chưa yên tâm, nàng khoá cả ống dẫn nước vì mẹ hay mở vòi nước mà không tắt, làm nước chảy lênh láng khắp nhà, ướt cả thảm, may sao bà chưa trợt chân té ngã. Phượng đi làm mà trong bụng cứ phập phồng, không yên...

Tình trạng này không thể kéo dài, không thể để bà cụ ở nhà một mình được nũa. Một cuộc họp gia đình đã diễn ra giữa Phượng và hai người em trai ở tiểu bang khác. Vì sinh kế, không ai có thể bỏ việc để ở nhà săn sóc mẹ, nên tất cả đều đi đến quyết định là phải cho mẹ vào nhà dưỡng lão, nơi đó bà cụ sẽ được chăm sóc tử tế. Phượng đã đi thăm dò nhiều nơi, sau cùng nàng chọn cho mẹ một nhà dưỡng lão có người Việt Nam để mẹ đỡ cô đơn. Cuộc hẹn đưa mẹ vô viện sẽ là 11 giờ sáng nay.

Phượng vô phòng đánh thức hai đứa con để chúng ăn sáng và sửa soạn đi học, xong nàng bước vô phòng ngủ của hai vợ chồng. Dũng đã thức và đang cạo râu, chàng nhìn vợ qua gương và hỏi:

- Nãy giờ em ở dưới nhà à?

Phượng gật đầu, kể cho chồng nghe về nồi cháo, và nói má đòi thay tã cho con Uyên, khiến Dũng bật lên cười. Thường ngày Phượng không bao giờ cảm thấy khó chịu vì những tiếng cười vô tư của chồng khi chứng kiến những hành động ngây ngô, nhiều khi rất con nít của mẹ, nàng biết chồng không có ý châm biếm, chàng cười chỉ vì buồn cười mà thôi. Dũng mồ côi mẹ từ thuở nhỏ, chàng thiếu tình mẫu tử nên rất quí mẹ vợ. Phượng cho là mình may mắn, và vẫn thầm cám ơn chồng, nhưng không hiểu sao hôm nay Phượng lại thấy bực mình vì tiếng cười vô tư của chồng, mà nàng thấy là không đúng lúc, Phượng có cảm tưởng như chàng là người ngoại cuộc, nàng cau mày trách:

- Anh có im đi không? em đang rối ruột đây!

Dũng ngạc nhiên ngó vợ, nhưng rồi chợt nhớ ra hôm nay là ngày gì, chàng lập tức ngưng ngay tiếng cười vô ý thức của mình. Im lặng một lúc, chàng mới nói, giọng băn khoăn:

- Hôm nay anh không thể nghỉ làm để đưa má đi được.

- Không sao, tự em sẽ đưa má đi, như vậy tốt hơn. Anh đưa hai đứa nhỏ tới trường và đón về dùm em, vì không biết em sẽ phải ở lại với má bao lâu…

- Được, được, em cứ thong thả lo cho má. Xong việc, nhớ điện thoại vào sở ngay cho anh, cho biết tình hình ra sao.

Phượng đứng trên đầu cầu thang, nhìn hai đứa nhỏ ôm hôn bà ngoại trước khi đi học, có cảm tưởng như đó là những cái hôn vĩnh biệt, lòng nàng đau như dao cắt. Đợi cho chồng và hai con đã ra khỏi nhà, Phượng mới xuống bếp sửa soạn bữa ăn sáng cho mẹ. Ý nghĩ đây là bữa ăn cuối cùng của mẹ ở nhà, khiến Phượng thấy tim se lại, nàng nhớ tới một đoạn phim được xem đã lâu, nói về bữa ăn cuối cùng của người tử tội, nàng bỗng thấy lòng rưng rưng. Phượng tự nhủ thôi đừng nghĩ đến chuyện ấy nữa, cứ để việc gì phải tới, sẽ tới. Vừa làm nàng vừa hát nho nhỏ, cố tìm hiểu ý nghĩa của lời ca, nhưng không thể. Dọn bàn xong, nàng mời mẹ ra ăn. Bà Trình nhìn mặt bàn ê hề những thức ăn, hỏi con:

- Sao con làm nhiều đồ ăn thế?

Phượng nhìn đi chỗ khác, nói:

- Má ăn đi, thay cho bữa trưa luôn thể.

- Con cũng cùng ăn với má chứ?

Phượng gật đầu, nàng ngồi vào bàn, nhưng không tài nào nuốt được. Nhìn mẹ ăn ngon lành, nàng có mặc cảm phạm tội vì đang đánh lừa mẹ. Đợi bà ăn xong bữa, Phượng ngập ngừng mãi, mới mở miệng nói dối:

- Má có muốn đi phố một lúc không? vô phòng thay đồ đi, con chở má đi chơi.

- Đi chơi thiệt sao? thích quá.

Mắt bà mẹ sáng lên với vẻ vui mừng, được đi ra ngoài, bà sung suớng lắm. Thường ngày cứ bị nhốt ở nhà, bà thấy bực bội, năm thì mười hoạ mới được con chở đi chơi, những dịp ấy đối với bà vui như một ngày hội. Thấy Phượng xách theo va li, bà hỏi:

- Đi du lịch à?

Vừa nói bà vừa nhìn quanh khắp căn nhà, như để kiểm soát một lần cuối cùng, theo thói quen trước khi đi xa. Không hiểu sao Phượng có cảm tưởng những tia nhìn của mẹ có vẻ lưu luyến rất tội nghiệp, chắc bà có linh cảm sẽ không được trở về đây nữa? Không muốn kéo dài giây phút đau lòng, nàng vội vã đưa mẹ ra xe. Phượng ngồi vào tay lái, tâm trạng bất an nên Phượng lái xe mà đầu óc để tận đâu đâu, mấy lần bị xe khác bấm còi inh ỏi. Bà mẹ bất chợt lên tiếng:

- Dũng lái xe giỏi hơn con, sao không để cho nó lái?

Rồi như chợt nhớ ra điều gì, bà hỏi giọng lo lắng:

- Đi du lịch mà sao không có Dũng và hai đứa nhỏ?

Phượng ậm ừ, tránh không trả lời, nàng cho xe ra khỏi xa lộ và tìm hướng vào thành phố. Viện dưỡng lão kia rồi, từ xa đã thấy một toà nhà đồ sộ sơn màu vàng nhạt, trông như một cái bệnh viện. Khi quẹo xe vô cổng, Phượng nhìn đồng hồ, 11 giờ 15, trễ mất mười lăm phút. Nàng hoảng lên, trời! làm thế nào nếu họ không tiếp và cho một cái hẹn khác? chắc nàng không có can đảm… Đậu xe xong, Phượng kéo mẹ đi như chạy tới phòng hướng dẫn, nơi đó người ta chỉ cho nàng phải đi lối nào. Viện dưỡng lão có ba dãy nhà bao quanh một khu vườn rộng có trồng hoa, và nhiều cây lớn cho bóng mát. Nơi đây có nhiều cụ già chống gậy đi thơ thẩn một mình, hoặc túm năm tụm ba ngồi trò chuyện trên những băng đá, đó là các cụ tương đối còn mạnh khoẻ. Cũng có những cụ già ngồi trên xe lăn, đang được những người khán hộ đẩy đi quanh vườn để sưởi nắng. Khi hai mẹ con sắp bước tới cái cửa tự động để vô tòa buyn đinh chính giữa, bà mẹ bỗng chùn lại không chịu đi nữa, bà hỏi với một giọng lo lắng:

- Đây là đâu? trông không có giống khách sạn tí nào. Má không muốn vô, con đưa má về đi, má không muốn đi du lịch nữa.

Phượng dỗ:

- Vô một chút thôi má, vô làm giấy tờ xong rồi về.

Tới phòng nhận bệnh, Phượng trình giấy tờ và được mời vào, cửa được đóng lại ngay sau lưng. Bà y tá người da trắng, trông có vẻ hiền lành tử tế, mời hai mẹ con ngồi, rồi tự giới thiệu:

- Tôi là Ingrid, y tá trưởng ở đây. Còn đây là…

Phượng vội đỡ lời:

- Bà Nguyễn Thị Trình, mẹ tôi. Xin lỗi cô Ingrid, mẹ tôi không nói được tiếng Anh…

- Không sao cả, ở đây có bốn y tá là người Việt và cũng có một số bệnh nhân là Việt Nam, mẹ cô sẽ không cô đơn đâu.

- Được vậy tôi rất mừng.

Sau khi chờ cho Phượng điền một lô những giấy tờ liên quan đến bảo hiểm y tế, tên tuổi, tình trạng sức khoẻ, bệnh tật và những thuốc men mẹ nàng đang dùng, cô Ingrid cầm xem sơ qua một lượt rồi nói:

- Sáng mai chúng tôi sẽ đưa bà cụ đi khám bác sĩ để lập hồ sơ bệnh lý. Bây giờ tôi cho người đưa bà cụ đi nhận phòng.

Nói xong, cô Ingrid bấm chuông, và một người tá mới xuất hiện, Phượng gật đầu chào và hỏi:

- Tôi đi theo được chứ?

- Dĩ nhiên! mời hai người theo tôi.

Cô y tá đi trước dẫn đường, hai mẹ con lúp xúp theo sau, bà mẹ đi sát vào con gái như tìm sự che chở, bà chỉ yên tâm khi có con ở bên cạnh. Họ đi thang máy lên lầu hai, tới trước căn phòng sơn màu xanh, có đề bảng số 204 B, cô y tá dừng lại, gõ nhẹ vào cửa hai tiếng, rồi mở toang cửa phòng:

- Đây là phòng của mẹ cô, ở chung với một bà cụ cũng người Việt Nam.

Rồi cô quay đi, sau khi chỉ cho Phượng chỗ để quần áo, cô ghé sát vào tận tai nàng thì thầm:

- Hai mẹ con từ giã nhau đi nhé, lát nữa tôi sẽ quay lại.

Phượng thấy tim nhói lên một cái, nàng đưa mắt nhìn mẹ, bà Trình đang nhìn theo cô y tá với một vẻ sợ sệt. Đợi cô ta đi khỏi, Phượng mới đưa mắt quan sát, căn phòng tương đối sáng sủa, tường sơn màu xanh dịu mắt, có một cái cửa sổ trông xuống vườn hoa. Ngoài một cái TV ở chính giữa, treo ở trên cao, và một cái bàn hình vuông có bốn cái ghế kê ở cuối phòng - chắc dùng làm chỗ tiếp khách - những đồ đạc còn lại, thứ nào cũng có hai cái: hai tủ đựng quần áo, hai bàn đêm và hai cái giường, một cái để trống dành cho mẹ nàng, và trên cái giường kia có một bà cụ đang nằm xây mặt vào tường. Nghe có tiếng động, bà ta quay lại, nở một nụ cười méo mó:

- Người mới hả? ở đây tụi tui kêu là… con so. Tui tên Năm, ở đây trên ba năm rồi. Không sao đâu bà cụ! vô đây làm bạn với tui cho vui, nằm một mình buồn lắm. Cái giường kia bỏ trống cả tháng nay, người nằm đó chết rồi, chết vì chứng ung thư máu…

Bà Trình rùng mình, kéo tay con gái:

- Ở đây toàn người bịnh, sợ quá, má muốn về nhà. Đi về lẹ lên đi con! mình ở đây khá lâu rồi đó, đã tới giờ con đi rước mấy đứa nhỏ, còn má phải sửa soạn bữa cơm chiều…

Phượng thở dài, lòng cô chùng xuống, tội nghiệp mẹ luôn luôn nhớ bữa cơm chiều… Đối với mẹ, bữa cơm chiều là quan trọng nhất, vì là giờ phút xum họp của tất cả mọi người trong gia đình trở về nhà, sau một ngày làm việc mệt nhọc. Bằng tất cả thương yêu, trìu mến, mẹ chăm sóc miếng ngon cho cả nhà, hạnh phúc của mẹ là được nhìn thấy các con cháu sung sướng.
Nếu mẹ biết sẽ chẳng bao giờ còn có những bữa cơm gia đình, sẽ chẳng bao giờ mẹ còn được tựa cửa ngóng trông con, cháu trở về? Phượng thấy lòng bất nhẫn quá, nhưng nàng biết sẽ phải cuơng quyết, nếu không, sẽ không còn cơ hội nào nữa. Tim đập nhanh trong lồng ngực, Phượng dìu mẹ ngồi xuống giường… Đây là giây phút quan trọng nhất, Phượng ngập ngừng mãi, không biết phải mở đầu như thế nào. Sau cùng, nàng hít vô một hơi thật sâu để lấy thêm can đảm, rồi bằng tất cả cố gắng, nàng nắm lấy tay mẹ, giọng run run:

- Má nghe con nói! Đây là phòng của má, má hãy ở đây đêm nay, ngày mai con và Dũng sẽ đưa mấy đứa nhỏ vô thăm má…

- Ồ không… con ơi! Mẹ nàng kêu lên thảng thốt, vùng ôm chặt lấy con gái như sợ cô chạy mất, má không muốn ở đây, má chỉ thích cái phòng riêng của má, cái giường của má. Má nhớ hai đứa nhỏ, nhớ cái bàn thờ có hình của ba con…

Phượng ứa nước mắt, nàng cũng ôm mẹ thật chặt:

- Má hiểu cho con, con cũng đâu có muốn xa má. Nhưng tình thế bắt buộc, má cần người săn sóc, mà con thì không thể… Má ở đây con yên tâm hơn, vì luôn luôn có các bác sĩ, y tá thường trực ngày đêm, chăm lo sức khoẻ cho má, cũng như tất cả mọi người.

Bà mẹ vừa khóc vừa nói:

- Má không cần bác sĩ, má chỉ cần các con cháu. Giọng bà bỗng dưng tỉnh táo một cách lạ lùng, má biết dạo này má già cả, lẫn cẫn, không còn giúp ích gì cho mọi người, má vô dụng rồi. Chắc con giận má hay sơ ý, mấy lần suýt làm cháy nhà? Má cũng ân hận lắm, hãy cho má thêm một cơ hội nữa, má hứa sẽ không gây phiền phức cho con nữa đâu. Má hứa sẽ nhớ tắt bếp, má cũng sẽ không đi lang thang ra đường một mình, má sẽ ở nhà suốt ngày đợi con, cháu về…

Tới đây thì Phượng không thể chịu đựng nổi nữa, nàng cũng bật khóc lên thành tiếng, nước mắt chảy ròng ròng:

- Ồ không phải vậy đâu má, nhưng mà…

Phượng nghẹn ngào, không biết sẽ phải tiếp tục ra sao, hai mẹ con ôm nhau, cùng nức nở... Bỗng cánh cửa bật mở, cô y tá hồi nãy trở lại, thấy cảnh đó thì thở dài, làm việc ở đây đã lâu, những cảnh này đối với cô quen thuộc quá, nhưng mỗi khi phải chứng kiến, lòng cô không khỏi se lại. Chờ cho hai mẹ con bịn rịn thêm một lúc nữa, cô mới nhẹ nhàng an ủi:

- Mới đầu thì ai cũng vậy, nhưng chỉ dăm bữa, nửa tháng nữa thôi, mọi việc rồi sẽ đâu vào đấy cả.

Rồi cô quay qua, nói riêng với Phượng:

- Sáng mai sẽ có y tá người Việt Nam, hy vọng bà cụ sẽ thấy thoải mái. Cô yên tâm, chúng tôi sẽ săn sóc mẹ cô tử tế. Bây giờ cô nên về đi, như thế sẽ dễ cho chúng tôi hơn.

Bà cụ nằm giường bên bỗng lên tiếng:

- Dùng dằng mãi cũng chỉ đến thế, chẳng ích gì. Cô cứ về đi, không sao đâu, tôi sẽ an ủi mẹ cô dùm cho.

- Vâng cháu xin nhờ cụ.

Bà mẹ nghe thấy thế, thì vội vàng níu chặt lấy áo con gái. Phượng nhẹ nhàng gỡ tay mẹ ra, dỗ dành:

- Má thấy chưa? bác Năm tốt lắm, các cô y tá cũng vậy, ở đây ai cũng chỉ muốn giúp đỡ má thôi mà. Má yên tâm đi, chẳng việc gì phải sợ hãi cả. Bây giờ con phải về đón mấy đứa nhỏ nghen má.

- Thế con có trở lại không?

- Có chứ, nếu má đừng gây lộn xộn, chiều mai con sẽ đưa các cháu vô thăm má.

Phượng dịu dàng đặt một cái hôn lên trán mẹ, nàng ôm xiết mẹ một lúc rồi buông ra:

- Má! con phải đi, mai con sẽ trở lại.

- Con sẽ không bỏ má ở lại đây một mình chứ?

- Con sẽ vô thăm má thường xuyên mà. Phượng nói với mẹ mà như một lời nhắc nhở với chính mình, con hứa mỗi cuối tuần sẽ đến đón má về. Thôi bây giờ má đi nghỉ đi, con phải về lo cho các cháu.

Nói xong, Phượng đứng dậy, cô y tá lẹ làng đứng chen vào giữa hai mẹ con, và đẩy nhẹ lưng Phượng:

- Cô đi ngay đi, lẹ lên!

Cô ta nắm lấy cánh tay bà mẹ, nhưng bà dằng ra, run rẩy chạy theo con ra cửa:

- Con ơi! đừng bỏ má, van con đừng bỏ má!

Phượng ngập ngừng, quay lại, nhưng cánh cửa đã được khép lại sau lưng nàng, như một bức tường ngăn cách giữa hai mẹ con, ngăn cách những con người già nua, bệnh tật khốn khổ đang chờ chết ở bên trong, với thế giới vui tươi, sinh động ở bên ngoài. Phượng nghe tiếng mẹ gào lớn:

- Con ơi! con ơi…

Phượng rùng mình, có cảm tưởng như vừa nghe tiếng kêu cứu của người tử tội trước khi bị lên máy chém. Nàng bịt tai lại, vùng bỏ chạy, nhưng những tiếng gọi của mẹ vẫn đuổi theo. Phượng biết suốt đời nàng sẽ không bao giờ quên được tiếng gọi “ con ơi ” ai oán của mẹ.

Truyện này được trích trong tác phẩm Lấy chồng xa của Phương Lan

User avatar
phodem
Posts: 229
Joined: Sat Feb 26, 2011 4:00 am

Post by phodem »

Nhà văn Chu Thiên (1913-1992)
Những ông thầy thời niên thiếu


Viên Linh

Tháng 5, 1954. Thầy Chu Thiên, hiệu trưởng trường Trung học Phủ Lý hỏi học trò: “Em có thể chở thầy lên Hà Nội không?”...
“Bao giờ em vào Nam?” “Dạ? “Mẹ em có tính đi Nam không? Về nói với mẹ em coi chừng kẻo trễ.”

Image
Nhà văn Chu Thiên (1913-1992). (Hình: Từ Ðiển Văn Học, Hà Nội)

Chu Thiên là tác giả những cuốn tiểu thuyết nổi danh như Bút Nghiên, Nhà Nho, mà Vũ Ngọc Phan trong Nhà Văn Hiện Ðại (1942) đã xếp vào chương các nhà văn viết tiểu thuyết phóng sự. Với toàn bộ sự nghiệp của ông cho tới khi từ trần năm 1992, ông xứng đáng là một tiểu thuyết gia lịch sử. Người viết những dòng này là học trò ông trong ba tháng hè ở Trung học Phủ Lý, 1954, những ngày xao động phân ly nhất của tuổi trẻ đất nước, khi những chữ “hội nghị Geneve,” “vô Nam hay ở lại” được mọi người nhắc nhở, bàn tán từ đồng quê tới phố phường, từ Hà Nội tới các tỉnh thành khác của Việt Nam.

Trước khi về Phủ Lý học khóa hè, những tháng cuối cùng của năm đệ lục ở Chu Văn An Hà Nội, tôi đã chứng kiến một kinh thành nhớn nhác qua đôi mắt của một cậu học trò trọ học. Mẹ và chị em còn ở hậu phương, song gia đình họ Nguyễn chúng tôi phần lớn đã ở Hà Nội. Lúc ấy, nghe mấy chữ Ðiện Biên Phủ ai cũng hiểu đó là nơi chiến tranh Pháp Việt đang xảy ra vô cùng ác liệt.

“Cuộc chiến đấu của quân đồn trú ở Ðiện Biên Phủ tiếp tục, và các hoạt động tiếp vận từ Hà Nội yểm trợ cho căn cứ vẫn được tiến hành. Ðêm 5 rạng 6 tháng 5 [1954], vào lúc 04:12 giờ chừng 10 chiếc máy bay vận tải C47 vượt lưới lửa phòng không thả thêm được 91 quân dù xuống Ðiện Biên Phủ. Ðây là đêm thứ tư thả các đơn vị của tiểu đoàn Nhảy Dù thuộc-địa số 1, và trong bốn đêm liền mới chỉ có 383 trong số 876 người của tiểu đoàn này chạm đất...” “...Ngày 7 tháng 5, vào lúc 10:00 giờ Tướng De Castries liên lạc về Hà Nội báo cáo với Tướng Cogny ÐBP đang trong tình trạng hấp hối. Khoảng 3:00 giờ chiều ở Bộ Chỉ Huy căn cứ ÐBP đã có một buổi hội chỉ huy lần chót... Họ đề nghị ngưng bắn vào lúc 17:30 giờ và thông báo cho đối phương biết.” “ÐBP thất thủ hôm trước thì hôm sau tức là ngày 8 tháng 5, 1954, chín đoàn đại biểu của Pháp, Quốc Gia Việt Nam, Miên Lào, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Anh Quốc, Liên Xô, Trung Cộng và Hoa Kỳ bắt đầu các cuộc thương thuyết nhằm chấm dứt cuộc chiến tranh Việt Nam trong khuôn khổ Hội Nghị Viễn Ðông đã khai mạc ngày 26 tháng 4, 1954 tại Giơ-ne, [Geneve] Thụy Sĩ.” (Bạch Hạc Trần Ðức Minh, Một Thời Nhiễu Nhương, 1945-1975, tr. 363-364.)

Quê quán Ðồng Văn của chúng tôi gồm có Phố Ga Ðồng Văn, một thị trấn chạy dài gần hai cây số trên Quốc lộ số 1, và thôn Ðồng Văn, chỉ cách Quốc lộ 1 bằng một con sông đào. Từ nhà đi Hà Nội cách 47 cây số ở hướng Bắc, đi Phủ Lý cách 11 cây số, ở hướng Nam. Ba tháng hè về quê, tôi đi Phủ Lý học, đi về bằng xe đạp mỗi lượt chỉ mất vài chục phút, nếu đường không bị đào xới, cắt khúc, chất chướng ngại vật. Hai bên đường đầy tăng-xê, cắt sâu vào mặt đường theo kiểu chữ chi (Z), đan nhau bằng cách không để xe hơi chạy nhanh được. Xe phải lượn ngoằn ngoèo tránh những khoảng lõm ăn sâu vào xương sống con đường. Lúc ấy tôi có một chiếc xe đạp Peugeot dura, loại nhẹ, chỉ cần cầm một tay giơ cao khỏi đầu được. Nhờ nó, tôi di chuyển dễ dàng, từ nhà tới Phủ Lý học đã đành, lại còn chạy chơi bên bờ sông Châu Giang, hay đôi khi cùng một người bạn trốn nhà phóng lên Hà Nội vào buổi trưa, đến tối đã có mặt ở nhà, có khi không ai biết.

Trường Chu Văn An ở Hà Nội và ngôi trường trung học ở Phủ Lý là hai chỗ không thể so sánh được. Nhưng mặt khác, hai ngôi trường đó đã cho tôi ba vị thầy không bao giờ cậu thiếu niên học trò có thể lãng quên, nhất là những ngày ngồi viết những dòng chữ này ở ngoài đất nước.

Ở Phủ Lý, tôi ngồi trong lớp đệ lục, thầy dạy Quốc Văn là thầy Chu Thiên. Thầy cũng dạy Việt Sử nữa. Tôi thấy thầy ở ngoài lớp, không nghĩ ngợi gì, mà tự dưng thấy băn khoăn. Hình ảnh còn nhớ tới bây giờ là một người đàn ông hom hem, mặc quần áo kaki bạc màu, áo cũng như quần, đều một màu vàng nhạt, bạc thếch, thầy đứng tựa lưng vào tường, lẫn vào màu vôi vàng nhạt cũng bạc thếch của ngôi trường đâu chỉ có hai hay ba căn. Thầy Chu Thiên ở Trung Học Phủ Lý không giống bất cứ ông thầy nào ở Chu Văn An. Thầy quá gầy yếu, đã đứng tựa vào tường mà còn không đứng thẳng. Hơi xiêu xiêu, hay thầy trùng một chân xuống, khuỵu một gối xuống, chỉ cho sức nặng của thân thể trì trên một chân. Thầy sẽ đổi chân, chuyển sức nặng qua trái hay phải tùy theo từng lúc. Thoáng thấy lần đầu, thầy đang ăn một khúc sắn trắng muốt. Tôi không biết ông sẽ là thầy tôi, cho đến một hai hôm sau. Hôm sau đó, vẫn hình ảnh ấy, chỉ khác là thầy không ăn sắn, mà ăn chuối. Thế rồi thầy lên lớp, bấy giờ tôi mới biết đó là thầy Chu Thiên, vừa là giáo sư, vừa là hiệu trưởng.

Chỉ trong khoảng vài tuần, tôi thương thầy. Và cứ từ thân xác mình suy ra, tôi đoán chừng thầy nặng khoảng 40 cân. Biết ông thầy gầy yếu, nhưng tôi không suy nghĩ gì, cũng chẳng tìm hiểu làm gì, cho đến một hôm thầy Chu Thiên tới gần tôi trong giờ chuyển lớp chuyển môn. Thầy hỏi: “Em có thể chở thầy lên Hà Nội không. Hay chỉ cần chở thầy lên Ðồng Văn cũng được. Thầy cũng có thể chỉ đến Ðồng Văn, rồi tìm cách đi Chợ Ðại hay Cống Thần, rồi đi Hà Nội sau.” Khi thầy ngồi lên cái khung ngang của chiếc xe đạp rồi, tôi đạp xe đi, mỗi tay một bên ghi-đông, mà không thấy thầy chạm vào tay tôi.

Tôi không còn nhớ những chuyện gì đã nói, song nhớ rất rõ thầy hỏi về gia cảnh của học trò. Tôi kể thành thật, kể hết, không giấu diếm gì. Tôi cũng cho thầy biết - vì thầy hỏi - về họ hàng chú bác, tất cả ở Hà Nội.

-Bao giờ em vào Nam?

-Dạ?

-Mẹ em có tính đi Nam không? Chú bác họ hàng ở Hà Nội chắc là đi Nam cả?

-Vâng.

Tới nhà tôi, Phúc Hưng Ðường, là ngôi nhà gạch nằm trấn trên ngã ba Phố Ga, cách mặt đường vài chục thước. Trước mặt là một con dốc mà dân nhiều làng phía châu thổ Sông Hồng sẽ phải đi qua để đáp tàu hỏa lên Hà Nội, các tỉnh phía Tây Bắc, hay xuôi Nam, vào Huế, hay Sài Gòn. Tôi chỉ ngôi nhà cho thầy biết. Sinh tiền, đó là tiệm thuốc Bắc của Bố tôi. Ðịa thế của nó hồi 1944 đã bị Nhật chiếm làm trụ sở.

Thầy đòi xuống, nói sẽ đi Hà Nội sau. Tôi gặng hỏi để chở thầy đi luôn, nhưng thầy nhất định thoái thác. Khi chia tay, thầy nhìn sâu vào mắt tôi:

-Về nói với mẹ em coi chừng kẻo trễ.

Ðó là tất cả những gì tôi nhớ về thầy khi còn niên thiếu; sau này mới đọc và tìm hiểu thêm về ông thầy nhà văn nổi tiếng.


Chú thích:

Chu Thiên tên khai sinh là Hoàng Minh Giám, sinh ngày 2 tháng 9, 1913, quê ở huyện Ý Yên, Nam Ðịnh, dòng dõi nhà Nho. Năm 1938 ông ở Hà Nội, bắt đầu bước chân vào làng văn, viết bài cho các báo thời ấy, như trên tờ Tri Tân ông viết rất nhiều, nghiêng về các đề tài lịch sử, tiểu thuyết lịch sử xoay quanh các nhân vật như Lê Thái Tổ (1941), Bà Quận Mỹ (1942), Bút Nghiên (1942), Nhà Nho (1943), Tuyết Giang Phu Tử (1945), Khí Tiết (1946). Trong thời kháng chiến, ông chuyên về dạy học, từng làm hiệu trưởng Trung Học Phủ Lý, sau năm 1954 về Hà Nội, ông dạy Ðại Học Tổng Hợp. Năm 1970 Chu Thiên nổi tiếng một lần nữa với tiểu thuyết Bóng Nước Hồ Gươm, gồm hai tập, viết về giai đoạn biến động của đất nước từ khi Pháp đánh chiếm Nam Kỳ và Hà Nội từ thế kỷ thứ XIX. Ðây là một tác phẩm đồ sộ cuối đời của ông. Ông từ trần năm 1992.

User avatar
thuyduong
Posts: 447
Joined: Fri Dec 04, 2009 6:41 pm

Post by thuyduong »

DU TỬ LÊ
Nỗi ám ảnh phố phường


Ngô Kinh Luân

Dầu có muốn hay không, thì vẫn phải thừa nhận, Du Tử Lê là một tên tuổi. Tôi thích đọc Du Tử Lê, những bài thơ mang đậm nét đèn vàng phố thị hay hiu hắt tóc xánh. Hầu như trong giới viết lách ở Sài Gòn, ít nhiều đều thuộc vài câu thơ của Du Tử Lê. Thế nên, khi nghe nhà văn, nhà báo Đoàn Thạch Hãn buộc miệng “Tôi với Lê thân lắm”. Vội vã gửi lời nhờ, “Khi nào chú Lê có dịp về lại Việt Nam, chú cho con gặp với”. Hạnh ngộ, chỉ có bấy nhiêu.

1. Tháng trước, đang tối mặt với công việc, thì chú Đoàn Thạch Hãn gọi. Mỏi mệt, tôi từ chối “Con sẽ gọi lại cho chú sau”. Chú Hãn vội vã nói với “Du Tử Lê về, muốn gặp con”. Chiều hôm sau, chú Hãn gọi lại. Bảo, chú đang ngồi với Du Tử Lê ở quán cà phê cóc trên đường Cao Thắng. Ban đầu, tôi mời Du Tử Lê ở quán cà phê xập xình kế bên. Đến quán, thấy cạnh quán xập xình và góc cà phê cóc, Du Tử Lê đã chọn quán cóc ấy.

Du Tử Lê ngồi trên ghế đẩu, áo sơ mi đóng thùng, ủi phẳng phiu, dáng người nhỏ, ngón tay thon dài… nhìn rất lành. Gặp Du Tử Lê, tôi vui, miệng nói nhanh như tép nhảy, nói ào ào, nói bạt mạng. Nói đến mức về sau biết Du Tử Lê có vấn đề về thính giác, tự dưng nghĩ lại bỗng đỏ mặt.

Du Tử Lê có giọng nói nhỏ nhẹ, cách diễn đạt chậm rãi. Tôi đọc tiểu sử của Du Tử Lê thấy ghi, ngày mới sinh, Du Tử Lê có 6 ngón tay. Do mặc cảm nên sinh ra nhút nhát, lại sống với mẹ và vú nuôi, nên có xu hướng nữ tính. Không biết, điều này có đúng không. Tôi hỏi, chú về được mấy ngày. Du Tử Lê trả lời, có mười ngày thôi. “Ít vậy hả chú?”, tôi ngạc nhiên. “Ừ, công việc cô (vợ của Du Tử Lê) bận quá”, lại từ tốn. Bà xã của Du Tử Lê đang công tác tại tờ Người Việt ở Cali.

Du Tử Lê, chú Đoàn Thạch Hãn và tôi nói nhiều về không khí văn chương trước và sau 1975. Cả làng báo ở trong nước và tại cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Có nhiều điểm khác biệt, có đôi nét tương đồng. Nhìn chung, cũng đều theo nghề chữ nghĩa, cá tính có thể khác nhau, nhìn nhận có thể riêng biệt nhưng chung lại đều có lý tưởng. Dẫu rằng, mỗi cá nhân có lý tưởng của chính mình.

Du Tử Lê bảo, Du Tử Lê thích những góc quán ở Sài Gòn. Những góc quán ám ảnh Du Tử Lê suốt trong những đêm nằm trên đất Mỹ. Du Tử Lê về lần này, có vài tờ báo muốn trò chuyện cùng ông, nhưng ông ngại. Không phải ngại chuyện bên này, mà ngại về phía bên kia. Tôi có thưa, chuyện cũ qua lâu rồi, hậm hực với nhau mà làm gì, đều có tuổi cả. Du Tử Lê im lặng, ánh mắt thấp thoáng sự ý nhị. Du Tử Lê nói, ông thích những người trẻ, như tôi. Tôi mỉm cười, bạo gan đọc “Tóc mới xanh thôi, nhưng lòng đã bạc nhiều”. Lý ra, câu chuẩn của Du Tử Lê là “Tóc đương xanh nhưng lòng đã bạc nhiều – Chân bé nhỏ đi trong sầu bão lớn”. Nhưng không sao, tôi thích đọc Du Tử Lê theo kiểu dị bản của tôi hơn. Nhớ chú Đoàn Thạch Hãn có góp chuyện “Lê thấy không, đó là hạnh phúc của một người làm thơ”. Tôi hỏi Du Tử Lê về căn nguyên cái chết của nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên, ông giải thích cặn kẽ, có đôi chỗ khác so với giai thoại. Gặp nhau vài mươi phút rồi thôi, vì có nhà thơ nào đó mời Du Tử Lê ăn tối. Trước khi chia tay, ông có bảo ông vẫn duy trì việc sáng tác ở Mỹ. Vài năm trở lại đây, ông còn vẽ tranh.

Lần gặp thứ hai, tôi mời Du Tử Lê đi ăn trưa. Ông trả lời thích ăn các món Bắc. Tôi nhờ nhạc sĩ Hà Quang Minh chọn quán, vì ăn trưa tại Sài Gòn, tôi không rành lắm. Quán ấm cúng, nằm trong con hẻm nhỏ trên đường Trần Cao Vân, quận 1. Trước sân, có cây mít trĩu qua. Bữa ăn trưa có chú Đoàn Thạch Hãn, vợ chồng Du Tử Lê, nhà thơ Lê Thiếu Nhơn, Hà Quang Minh và tôi.

Vẫn chỉ là chuyện văn chương. Lê Thiếu Nhơn kể nhiều về các lời đồn đoán trong giới văn nghệ sĩ hải ngoại. Du Tử Lê ngồi nghe Lê Thiếu Nhơn nói như hát hay. Tôi không biết khi đó, ông nghĩ gì. Hình như giữa Du Tử Lê và Hà Quang Minh có ngồi bàn tính với nhau về phương ngữ giữa hai miền Nam – Bắc. Tôi ngóng tai nghe, lòng không hứng thú lắm. Chú Đoàn Thạch Hãn lên cơn mệt, mặt đỏ gay như gà chọi. Lâu lâu, tôi chen miệng vào một câu liên quan đến… chân dài, rất không liên quan.

Tàn trưa, Hà Quang Minh mời tất cả đi bộ sang quán cà phê trên đường Hai Bà Trưng gần đấy để hàn huyên. Du Tử Lê đi bộ dọc theo hè phố đến quán. Vừa đến, đã ngồi thở dốc. Tuổi tác đè nặng trên vai… Ngồi một lúc lâu, nhà thơ Phan Vũ mang cả “Em ơi – Hà Nội phố” đến. Nhà thơ Phan Vũ vừa vào quán, đã sang sảng đọc. Đọc hết một đoạn rất dài trong “Em ơi – Hà Nội phố”, lại đọc sang các bài thơ khác. Đọc xong, thì kể chuyện, từ chuyện xa xưa cho đến chuyện gần đây.

Đọc xong, lại cẩn thận ký tặng Du Tử Lê bản thảo đánh máy một đoạn trong “Em ơi – Hà Nội phố”. Du Tử Lê đón nhận trân trọng, “Tôi nói thật, tôi chưa thấy ai viết về Hà Nội hay như anh”. Nhà thơ Phan Vũ cười khà khà, tay vân vê tẩu thuốc “Giá mà có thời gian hơn, tôi còn viết ra nhiều hơn để tặng ông”. Suốt buổi, Du Tử Lê cứ lặp đi lăp lại lời khen với nhà thơ Phan Vũ “Tôi chưa thấy ai viết về Hà Nội hay như anh”. Đang vui, nhà thơ Phan Vũ kể “Năm nay tôi 73 tuổi, vợ tôi thì… 37. Vợ tôi mê nhất là thơ của Du Tử Lê, mê từ cái hồi còn đi học”.
Du Tử Lê đáp “Còn tôi, mê nhất là vì sao anh 73 tuổi còn lấy được vợ 37 tuổi. Giả năm tôi 81 tuổi, có cách nào lấy vợ 18 tuổi hay không?’.
Đó là lần hiếm hoi, tôi thấy Du Tử Lê

2. Du Tử Lê có mời tôi, tối trước khi Du Tử Lê về Mỹ, cố gắng sang quán trên đường Trần Quốc Thảo ngồi uống rượu, nghe nhạc… Hà Quang Minh sẽ mời vài ca sĩ thân đến đàn hát cho vui. Tôi không từ chối, cũng không nhận lời, chỉ im lặng, Về sau, tôi không đến. Cho đến giờ, vẫn còn ân hận. Sau này, nghe chú Đoàn Thạch Hãn kể lại, trên đường từ khách sạn ra phi trường Tân Sơn Nhất, Du Tử Lê có đọc bài viết mới nhất của tôi, dường như là bài “Nỗi đau tiết hạnh” in trên Chuyên đề ANTG Tuần, viết về nỗi đau của cô dâu bị nhà chồng trả về vì nghi ngờ mất trinh ở Cần Thơ, khen tôi rất nhiều. Trước khi lên máy bay, Du Tử Lê có lấy điện thoại di động của chú Hãn để gọi chào tạm biệt tôi, tiếc là tôi không nhấc máy.

Đoàn Thạch Hãn còn bảo, Du Tử Lê có nói, lần này về Việt Nam mười ngày, Du Tử Lê gặp nhiều bạn bè cũ. Thích nhất là gặp được những người trẻ như Lê Thiếu Nhơn, Hà Quang Minh và tôi. Tôi có thưa là tính tôi quan niệm dân viết lách phải bổ bã, hảo hán gặp nhau phải uống ly rượu lớn, nói cười như không. Du Tử Lê đằm tính quá, nhiều lúc không có cảm giác thân mật. Chú Đoàn Thạch Hãn phân trần, cái tính Du Tử Lê vậy. Giận hờn ít biểu lộ ra mặt. Với lại, Du Tử Lê cũng ngại những điều tiếng từ phía bên kia. Chứ nếu không thân ái với tôi, chắc chắn là Du Tử Lê không nhờ chú Đoàn Thạch Hãn gọi tôi ra cà phê trò chuyện. Tôi nghe vậy, biết vậy.

Có hứa với Du Tử Lê rằng, sẽ biếu Du Tử Lê cuốn sách của tác gia Trần Trọng Kim, quyển Việt Nam Sử Lược. Một trong những cuốn sách tôi cực kỳ yêu thích. Bỏ cả buổi trời, lang thang khắp các nhà sách tìm mua cho ông mà không thấy. Tặng ông quyển sách đang có ở nhà thì tiếc, cứ lần lữa mãi cho đến khi ông đi. Tự nhủ, vài hôm nữa sẽ xin địa chỉ của ông ở Mỹ để gửi sang, chứ không thất hứa thì ngại quá.

Lần về Việt Nam này, Du Tử Lê không mang theo tác phẩm của ông. Ông ngại, khâu kiểm duyệt hay những phiền phức có thể gặp phải. Hơn một lần, tôi định nói với ông là ông quan trọng hóa một vấn đề đơn giản. Nhưng nghĩ tới nghĩ lui, lại thôi. Nhiều năm trôi qua rồi, vết thương cũng bắt đầu khép miệng rồi, ký ức khi nhớ khi quên rồi… mọi thứ có còn nặng nề như trước đây nữa đâu mà băn khoăn cho thêm phiền lòng.

Quý nhau vì một câu thơ hay, nên tìm đến với nhau hơn là tìm đến một giai thoại. Vốn dĩ, tôi không tin vào giai thoại. Bởi giai thoại là thứ đơn giản nhất người ta có thể tự nghĩ ra để lừa nhau, chỉ có chữ nghĩa là không thể giấu diếm.

“….Người về như bụi, vàng trang sách xưa, người về như mưa, soi tìm dấu cũ. Tôi buồn như cỏ, một đời héo khô, tôi buồn như gió, ngang qua thềm nhà, thấy ai ngồi đợi, bóng hình chia đôi, sầu tôi lụ khụ. Người về như sóng, buồn tôi quanh năm, người về như đêm, mơ hồ cõi chết, tình tôi phập phều, những tăm phụ bạc…”. Một trong những đoạn thơ của Du Tử Lê mà tôi cực thích.

Tôi nhớ là, ở lần gặp đầu tiên, tôi có hỏi Du Tử Lê rằng “Chú ạ, đời sống văn nghệ bên đó có vui không?”. Du Tử Lê không đáp, mắt hướng nhìn lá vàng rơi đang lúc gió, tràn cả mặt phố… Có khi, đó cũng là một cách trả lời. Bởi mãi về sau, ông mới chậm rãi bảo, ông yêu Sài Gòn vô cùng…

Post Reply