QUÁN BIÊN THUỲ

langbat
Posts: 259
Joined: Sat Sep 22, 2012 3:50 am

Post by langbat »

Image

Hải Quân VNCH 30/4/1975 - nghiệt ngã & kiên cường

Bài của cựu Hải Quân Nguyễn Văn Phước -
Hạm Trưởng HQ 231


Lời nói đầu

Tôi chưa hề có ý dịnh viết lại cũng như không muốn nhớ tới những ngày cuối cùng của Tháng Tư Đen. Vì đến bây giờ, lịch sử đã phô bày rõ ràng là các nỗ lực chiến đấu của QL/VNCH nói chung và các thành viên trong đó nói riêng, đều vô vọng trong một ván bài đã được định sẵn của các cường quốc. Họ tạo ra một không khí hoảng loạn để các đơn vị QL/VNCH buông súng. Nhưng trong hoàn cảnh tuyệt vọng đó, vẫn có những nỗ lực kiên cường và những quyết tâm đơn độc để duy trì sức chiến đấu cho đơn vị đến tận giây phút cuối cùng trong những ngày của “Tháng Tư gọi là nghiệt ngã” đó.

Ăn cơm xong, tôi cầm túi xách nhỏ, từ biệt mẹ tôi để xuống tàu đi công tác. Bà nói: “Má thấy kỳ nầy nguy hiểm lắm nghe con. Đà Nẵng mất rồi. Má mua mấy bao gạo để dành. Con rán giữ gìn nghen”. Tôi gắt lời với bà cụ: “Má lúc nào cũng lo, làm tụi bán chợ đen có dịp thao túng.” Bà thẫn thờ nhìn tôi rời nhà chiều ngày 30/3/1975. Tàu tôi, HQ 231, đang sửa chữa đại kỳ, theo chương trình đến tháng 5/1975 mới xong. Nhưng vì biến động miền Trung, Bộ Tư Lịnh Hạm Đội [BTL/HD] ra lịnh HQCX sửa chữa gấp để HQ 231 lên đường tham dự chiến trận. Sau đây là những ngày giờ sau cùng của HQ 231.
Tàu tách bến lúc 5 giờ chiều, từ từ chạy qua tượng Đức Trần Hưng Đạo. Tôi đưa tay chào kính Ngài. Tôi thấy Ngài đưa tay chỉ xuống dòng sông và hình như Ngài nói: “Không đuổi được giặc đừng về đây”. Tôi nhận được lịnh hành quân đi Cam Ranh [BTL/ V2DH]. Cảm thấy chuyến đi nầy nhiều bất trắc, tôi ngồi thừ trên đài chỉ huy đến 12 giờkhuya. Lại có công điện thay đổi công tác: “Neo Vũng Tàu chờ lịnh mới”.

Sáng hôm sau, tôi lên trình diện BTL/V3DH tại Cát Lở, để nhận lịnh công tác khác. TMP/HQ là Thiếu tá Lê khánh Dư bảo: “Cam Ranh đang di tản, HQ 231 chưa ra đó được, chờ lịnh mới. Tạm thời đi tuần bảo vệ dàn khoan.” Cầm lịnh hành quân về tàu, tôi chuẩn bị nhổ neo đi công tác thì nhận được lịnh hủy bỏ. Tối hôm đó, tàu nhận được lịnh pháo mấy điểm ở Gành Ráng, mật khu địch quân. Tiếng đại bác 76,2 ly ầm ì, tôi có cảm giác như tiếng gầm rống cuối cùng của con sư tử, chúa tể rừng xanh, trước khi hậm hực bỏ vào rừng mất dạng.

Mấy ngày sau đó, chiến hạm được lịnh tuần tiễu canh chừng các thương thuyền và xà lan chở người di tản từ miền Trung về. Trên đó lúc nhúc đầy người. Các bà mẹ ôm các đứa con gầy rạc, thiểu não dơ lon ra xin nước uống. Tôi nhận được lịnh không được cập vào các xà lan và thương thuyền vì trên đó có bọn cướp giết người, đoạt của. Chúng tôi tận dụng mọi thứ, cái gì đựng nước được là đem ra xử dụng, rồi quăng qua các xà lan, tiếp tế một cách tuyệt vọng cho đồng bào trên đó để chia xẻ một chút tình người. Cảng Vũng Tàu náo động hẳn lên, đầy nghẹt thương thuyền và chiến hạm. Ngoài khơi, 2 chiếc LST của Đài Loan, im lìm đang neo chờ đón kiều bào của họ. Lính TQLC Đài Loan canh gác trên tàu, đứng im như các pho tượng.

Cuối cùng HQ 231 được lịnh đi Cam Ranh. Tàu rời Vũng Tàu cùng lúc với một Tuần Dương Hạm [WHEC] tiến vào. Đại Tá Nguyễn xuân Sơn, TL/HD, đang đứng trên đài chỉ huy của chiếc WHEC. Khi hai chiếc chạy ngang qua, tôi đưa tay chào kính. Tiếng Đại tá Sơn vang vang lên, hòa trong gió biển, vọng xuống: “Rán lên nghe Phước”. Đây là một hãnh diện vì trong bốn, năm chục ông hạm trưởng dưới quyền, ông vẫn nhớ đến tên tôi.

Trên đường đi Cam Ranh, công điện BTL/HD gởi ra tới tấp, dặn các hạm trưởng đích thân giữ chìa khóa kho súng, đề phòng phản loạn. Tôi bình tĩnh, kín đáo dặn riêng trung úy Hiển, sĩ quan trọng pháo, bảo ông giữ chìa khóa thay vì hạm trưởng, xem như tình hình vẫn bình thường. Mỗi sáng có công điện kỹ thuật, báo cáo tình trạng kỹ thuật của chiến hạm, tôi dặn hạm phó, tất cả các mục đều ghi tốt để tỏ thiện chí phục vụ và tránh gây ra ưu phiền cho BTL/HD. Vì vậy mà tàu phục vụ liên tục ngoài khơi gần một tháng.
Chiếc HQ 08 báo cáo hai máy bất khiển dụng, neo khẩn cấp ngoài khơi Phan Rang. Tôi cặp tàu vào, ghé thăm hạm trưởng thiêu tá Nguyễn Trường Yên. Anh là sĩ quan, chuyên nghiệp giỏi nhứt khóa tôi. Tàu đến Cam Ranh, BTL/V2DH đã di tản còn chơ vơ lại chiếc HQ605, hạm trưởng thiếu tá Trịnh như Toàn. Trên tàu có thiếu tá Đặng quang Lạc TMP/HQ/BTLV2DH. Tôi phỏng vấn anh Lạc, tình hình ra làm sao. Anh Lạc, một người năng nổ, đã từng bắt sống VC lúc còn là thiếu úy, bây giờ xuống sắc thấy rõ: “Tình hình kỳ cục lắm. Tao theo Đề Đốc Minh để đổ bộ Qui Nhơn. Đến nơi thì Qui Nhơn mất rồi. Lẹ không thể tưởng tượng được”. Tôi cười cười với anh: “Mất rồi thì lấy lại”. Bây giờ mới thấy là tôi quá ngốc nghếch.

Nha Trang vào tay địch, HQ 605 và HQ231 nhận lịnh án ngữ phòng tuyến phía bắc Cam Ranh, đề phòng tàu địch xâm nhập. Toàn rủ tôi vào vịnh Nha Trang quan sát, nơi mà chúng tôi theo học suốt hai năm, xem bây giờ ra sao.
HQ 605 chạy trước khuất vào trong vịnh giữa Bãi Dài thuộc Cam Ranh và Hòn Lớn. Tôi chuẩn bị quẹo theo anh thì nghe tiếng đại bác rít lên và tiếng Toàn trong máy: “Nó bắn tao Phước ơi”. Còi nhiệm sở tác chiến dồn dập, đại bác 76,2 ly và các khẩu 40 ly chỉa vào Cầu Đá Nha Trang tìm kẻ địch. Chiếc HQ 605 chạy ngược chiều trở ra, vải bố phía sau tàu bị bắn tơi tả. Tôi nhìn ống dòm quan sát, không thấy kẻ địch đâu, chỉ thấy dân chúng đi qua lại trên bờ thong thả. Trong tích tắc tôi quyết định quay ngươc lại trở ra vì tiến vào chỉ đưa đầu cho kẻ địch núp bắn, còn bắn ẩu thì chỉ chết dân.

HQ 605 được lịnh về Sài Gòn, HQ 231 ở lại đơn độc thi hành nhiệm vụ. Cam Ranh mất, tôi được lịnh về Phan Rang. Một chiếc tàu buôn Mỹ 20.000 tấn, tiến vào vịnh Phan Rang. Tàu tôi chớp đèn hỏi, nó trả lời, đến để di tản dân chúng. Cần ghi nhận ở đây, lúc đó Phan Rang chưa mất. Lúc đó thì ngạc nhiên, nhưng bây giờ thì thấy chương trình đã xếp đặt sẵn. Chiến hạm đi liên tục ngoài khơi nửa tháng, thức ăn tươi đã hết. Tôi xin cho tàu đi chợ Phan Rang. Chiếc tiểu đỉnh của tàu chở nhân viên đi chợ. Mai tiếng đồng hồ sau trở về. Mặt họ lộ vẻ hoảng hốt: T54 của địch xuất hiện ở chợ Phan Rang. Trên bầu trời, một trực thăng bay vần vũ gần một chiếc WHEC rồi một bóng người nhảy xuống biển. Sau đó mới biết là Thiếu Tướng Trần văn Nhựt TL/SD2BB. Mặt trận Phan Rang tan vỡ. Tàu tôi về trấn ở eo biển Cà Ná, phía nam Phan rang. Trên tàu, ngoài khơi, đặt ống dòm nhìn thấy quốc lộ 1 chạy dài dọc song song với bờ biển. Một làn không khí hăm hở thổi đến khi HQ 11 xuất hiện, hạm trưởng là Trung Tá Phạm đình San, ông là một sĩ quan dũng cảm, đã từng là hạm trưởng PT chở biệt kích ra Bắc.

Ban đêm, quốc lộ 1 sángrực lên, kéo thành một vệt dài như con rắn, uốn khúc theo sườn núi. Quân xa của địch, mở đèn sáng trưng, chạy nườm nượp như vào chỗ không người. Tôi thở dài: Phan Thiết chắc chắn rồi sẽ mất. Nhưng là chiến sĩ là phải chiến đấu đến giờ phút cuối cùng. HQ 11 và HQ 231 tắt đèn tối om, tiến vào bờ và bắn trực xạ vào cái đám lúc nhúc đó. Nghe tiếng đại bác, chúng vội vàng tắt đèn đứng im. Chúng tôi cũng ngừng bắn vì không thấy bọn chúng. Khi chúng mở đèn tiếp tục chạy, chúng tôi lại bắn. Thỉnh thoảng một chiếc xe cháy đõ rực lên là biết trúng đạn của chiến hạm. Địch hoạt động suốt đêm. Chúng tôi cũng bắn phá suốt đêm không biết mệt vì nghỉ đến sự sống còn của đất nước. Chắc có lẽ địch bị thiệt hại nặng và bị ngăn chận không tiến nhanh được.

Sáng tờ mờ đã thấy nhiều chiếc T54 của chúng xuất hiện. Trung Tá San quả thật là một hạm trưởng gan lì và nhiệt huyết. Ông cho tàu tiến gẩn sát bờ đấu súng với T54. Nhưng chiến hạm bị bất lợi vì mục tiêu lồ lộ, còn bọn chúng núp vào khe núi bắn ra. Chúng tôi còn một bất lợi nữa là muốn tác xạ chính xác, chiến hạm phải luôn luôn di chuyển để giữ đúng hướng. Ngừng tại chỗ, gió và sóng biển sẽ làm chiến hạm xoay, không thể bắn chính xác được. Còn nếu tiếp tục chạy đưa mũi tàu vào bờ, đến một lúc nào đó, phải quay ra, lúc đó là mục tiêu cho địch bắn. Cho tàu chạy song song với bờ thì cũng là mục tiêu tốt cho địch.

Chúng tôi chỉ có hai, còn chúng vô số kể. Tàu HQ11 bị bắn trúng pháo tháp 40 ly và hầm máy. Một thượng sĩ đứt đầu chết tại chỗ, vài thủy thủ bị thương nặng. Trong khi đó, một trung đoàn của sư đoàn 2 bộ binh, án ngữ mũi Cà Ná, bị VC tràn ngập, các đơn vị của ta rút xuống biển, Dương vận hạm HQ503, hạm trưởng trung tá Nguyễn văn Lộc, có nhiệm vụ bốc các chiến sĩ của ta lên. Địch quân đặt đại bác trong khe núi bắn ra. Một viên trúng đài chỉ huy, hạm trưởng bị thương nơi đầu bất tỉnh.

Chúng tôi được lịnh rút ra khơi. HQ11 về Sài Gòn còn HQ231 đi Phan thiết. Trên đường đi, một máy bay thám thính không biết từ nơi đâu xà xuống trên đầu chiến hạm, lúc đó đang ở tình trạng ứng chiến. Thủy thủ chưa bao giờ đối phó với không chiến, có vẻ hoảng sợ. Tôi trấn an bằng cách truyền đạt cho thủy đoàn biết: “Can đảm thì có cơ hội sống còn và máy bay địch luôn luôn tìm cách bắn đài chỉ huy trước”. Thủy thủ lên tinh thần. Máy bay đi một vòng xa, quay trở lại lượn trên đầu chúng tôi. Các khẩu pháo chỉa lên trời tua tủa. Máy bay vội vàng lảng xa. Sau đó mới biết là máy bay KQ/VNCH vì trong lúc hoảng loạn, truyền tin không liên lạc lẫn nhau được nên tưởng lầm chúng tôi là Hải Quân Bắc Cộng.

Tàu về Phan Thiết vào buổi chiều, lại nhận lịnh pháo kích núi Tà Cú ở phía nam Phan thiết. Có thể đây là điểm tập trung của Cộng quân. Đo trên hải đồ, tầm xa khoảng 22.000 yards trong khi đó tầm bắn của 76,2 ly là 20.000 yards .Tôi báo cáo cấp trên. Lại nhận lịnh cứ thi hành. Mệt mỏi vì pháo suốt đêm, tôi ngủ gà ngủ gật trên đài chỉ huy. Sáng hôm sau bừng tỉnh dậy, một cảnh tượng thật huy hoàng, khoảng 30 chiến hạm HQ/VNCH đang chỉa mủi tàu vào bờ biển phía nam Phan Thiết, các khẩu đại bác với tư thế sẵn sàng nhả đạn. Cảnh tượng hung vĩ giống như trận đổ bộ của Đồng Minh ở Normandie. Hào khí dâng lên trong lòng tôi. Đang ngất ngây với cảnh tượng đó thì nhận được lịnh về Vũng Tàu nhận tiếp tế nhiên liệu và đạn dược.
Buổi chiều về neo ở Vũng Tàu. Sáng hôm sau, một số đoàn viên lên bờ nghỉ xả hơi vì đi liên tục 20 ngày rồi. Vũng Tàu hơi lao xao nhưng sinh hoạt vẫn bình thường. Tôi và một số sĩ quan vào ăn hủ tiếu ở bồng binh trước chợ gần phòng thông tin. Khi xong, tôi từ giã các sĩ quan đi thăm một người bạn. Bước ra ngoài, có một người chận tôi lại. Anh ăn mặc tươm tất và trông phương phi. Anh nói: “Tôi muốn nói chuyện với hạm trưởng”. Tôi ngạc nhiên hỏi lại: “Làm sao ông biết tôi”. Anh chỉ vào huy hiệu hạm trưởng mà tôi đeo trên nắp túi áo bên trái. À ra thế, tôi cười cười với anh ta: “Như vậy là anh có nghiên cứu trước”. Anh đưa tôi vào tiệm kem kế bên rồi đề cập thẳng: “Miền Nam sẽ mất, tôi là người Hoa kiều buôn bán, tôi không thể sống dưới chế độ cộng sản. Tôi muốn đi Singapore. Ông có phương tiện. Tôi trả tiền ông mỗi đầu người 5 lượng vàng. Qua Singapore, tôi giúp ông kiếm việc làm”. Tôi lại cười cười hỏi: “Bao nhiêu người”. Anh trả lời: “Khoảng 40 người, có thể hơn”. Tôi nhẩm tính: “200 lượng vàng”. Lúc đó tôi không mường tượng được một lượng vàng ra làm sao. Tôi có bao giờ thấy nó đâu, tính là tính vậy thôi. Tôi trả lời cho qua chuyện: “Ông ở chỗ nào, cho tôi biết tôi sẽ liên lạc sau”. Anh đưa tôi một visiting card đề tên phía trước, mặt sau anh viết tay tên khách sạn và số phòng ở tại Vũng Tàu. Tôi từ biệt, anh bịn rịn cứ nhắc: “Nhớ nghe ông hạm trưởng”. Nhưng tôi có nhớ gỉ đâu rồi quên hẳn đi.

Tôi đi Cát lở, ghé Duyên Đoàn 32 thăm thiêu tá Nguyễn hữu Thiện CHT/DD. Ở đó bảo anh đi hành quân ở Bình Tuy rồi. Tôi trở về tàu. Buổi chiều tôi vận chuyển tàu cập vào HQ802 để tiếp tế nhiên liệu và nước ngọt. Tôi ở lại tàu vì không quen ai ở HQ802. Một sĩ quan qua chơi về cho tôi biết Tổng Thống Thiệu nói chuyện trước Quốc Hội, trực tiếp truyền hình. Tôi trèo qua HQ802, đến phòng ăn sĩ quan đông nghẹt người. Hình ảnh Tổng Thống Thiệu thấp thoáng, hình như ông ấy khóc. Tôi thẫn thờ, bao nhiêu biến cố dồn dập. Tôi không biết suy nghĩ gì chỉ cảm thấy đất nước đang lâm nguy.

Sáng sớm hôm sau, HQ231 nhổ neo đi Căn Cứ Hải Quân Đồng Tâm trình diện BTL/Lực Lượng Thủy Bộ, cùng lúc với HQ228 đi Cần Thơ (BTL/V4SN ), hạm trưởng là thiếu tá Nguyễn hoàng Be. Gần đến Mỹ Tho, tôi nhận lịnh xuống cù lao An Long (Long Xuyên) biệt phái cho Bộ Chỉ Huy Liên Giang Đoàn ở đó, CHT là thiếu tá Nguyễn Thìn (nhạc sĩ Trường Sa). Tàu vừa neo, một chiếc LCVP chờ sẵn đón tôi qua Cơ xưởng hạm gần đó, CHT là đại úy Phạm văn Bảy. Anh có một bữa cơm nhỏ chờ tôi. Anh cho biết ở đây yên tĩnh, dân xung quanh theo đạo Hòa Hảo, VC không hoạt động được. Tôi cũng cảm thấy thế, không khí thật thanh bình.

Sáng sau, tôi gặp thiếu tá Thìn. Ông ngạc nhiên: “Không biết tại sao họ đưa ông xuống dưới nầy. Tình hình ở đây yên lắm đâu cần tàu ông”. Tôi cũng thắc mắc tình trạng kỳ quái đó. Tình hình chiến sự và chính trị ở đất liền dồn dập hàng ngày. Tôi ở ngoài biển suốt gần một tháng đâu biết gì. Sẵn dịp tôi nói với thiếu tá Thìn: “Nếu không cần, cho tôi về Sài Gòn một, hai ngày, xem sao”. Thiếu tá Thìn nói: “Ờ, ông đi đi. Tôi cấp cho ông một PCF đưa ông về Bắc Mỹ Thuận, từ đó ông đi đường bộ về Sài Gòn cho lẹ”. Ông viết một bức thơ nhờ tôi đưa về gia đình.

Về tàu, tôi dặn Hạm Phó chăm sóc tàu và chọn một sĩ quan đi theo tôi để mang thơ từ của sĩ quan và đoàn viên về Sài Gòn. Tôi đặt chân về nhà xế chiều ngày 26 tháng 4, ăn một bữa cơm gia đình ấm áp. Sáng 27 tôi vào BTL/HQ thì gặp thiếu tá Toàn, hạm trưởng HQ605. Chúng tôi đi ăn sáng, Toàn ra vẻ thạo về chánh trị: “Sẽ có giải pháp chánh trị, mầy yên tâm về tàu đi”. Tôi yên chí, vui vẻ đi thăm người anh ruột làm việc ở sở Hàng Hà. Anh ngây thơ, hiền lành không có suy nghĩ gì chỉ biết làm việc thôi. Tình hình Sài Gòn rất lộn xộn, người nói nầy, kẻ nói khác. Không ai nghĩ rằng người Mỹ sẽ rút bỏ. Riêng tôi cứ cho là chánh phủ sẽ rút về Cần thơ tiếp tục đánh.

Sáng ngày 28, tôi ra bến xe đò Phú Lâm để đi Long Xuyên. Bến xe đầy nghẹt người, không có chiếc nào khởi hành được vì cầu Bến Lức bị VC chận. Tôi trở về Sài Gòn đến hãng HKVN gần chợ Bến Thành xếp hàng mua vé đi Cần Thơ. Đến đúng phiên tôi lại hết vé, cô nữ tiếp viên nhã nhặn xin phép đóng cửa quày. Tôi lại trở ra Phú lâm, cũng không có kết quả. Bỗng nhiên có người nói lớn: “Ngả Gò Công đi được”. Tôi trở về đến bến xe Gò Công ở Ngả Bảy. Người ta chạy tới chạy lui nhộn nhịp. Tôi kiếm một quán nước ngồi xem tình hình. Bỗng có một anh chàng lái xe Honda, phía trước ôm một sac marin. Anh rồ ga rùum ...rùum...rùum, hất hàm hỏi tôi: “Anh đi Gò Công hả”. Tôi gật đầu. Anh bảo: lên đây đi với tôi. Tôi phóng lên ngồi phía sau anh. Sau đó anh cho biết anh là nhân viên quân cảnh, rời đơn vị từ Tây Ninh về đơn vị ở Gò Công, đi một mình lạnh cẳng, anh rủ tôi đi cùng cho vui. Quốc lộ 4 vắng tanh, một vài chiếc xe đò bị giật mìn nằm dọc đường. Anh lái bạt mạng, lạng qua bên nầy, lạng qua bên kia, tôi ôm cứng eo ếch anh. Vậy mà cũng đến được bến phà Gò Công. Anh quân cảnh bỏ tôi ở đó. Tôi qua phà, đến Mỹ Tho trời chạng vạng tối.

Ngủ đêm tại Mỹ Tho, 5 giờ sáng ngày 29, tôi lò mò ra bến xe. Hai bữa rồi không có chiếc nào chạy được, tài xế đói meo. Trời xui đất khiến thế nào, chiếc xe đò tôi mua vé, tài xế quyết định chạy. Quốc lộ 1 vắng tanh, không khí chiến tranh thấy rõ. Không một xe đạp, không một xe gắn máy, không một bòng người, Xe chạy được một đoạn đường lại ngừng, chờ xe đò đi ngược chiều, hỏi thăm có sao không rồi chạy tiếp. Đoạn đường qua Cai Lậy mới là hồi hộp. Cuối cùng tới Bắc Mỹ Thuận, tôi thở phào một cái.

Qua Bắc, không khí khác hẳn, cảnh vật thật thanh bình, người dân hình như không biết đến chiến tranh là gì. Rồi đến Long Xuyên, rồi đến Tân châu vào chiều tối. Tôi gặp thiếu tá Ngô như Chương CHT Giang Đoàn Tuần Thám đóng tại đây. Tôi và anh nói chuyện tới 10 giờkhuya rồi anh đưa tôi về tàu. Bước lên tàu, sĩ quan trực đưa mấy công điện “hỏa tốc”, là độ khẩn cao nhứt, bảo nhổ neo về Đồng Tâm, Mỹ Tho. Công điện cuối cùng bảo thi hành ngay và báo cáo. Điểm danh nhân viên, thiếu hạm phó và vài thủy thủ. Tôi quyết định nhổ neo vì nếu chậm trễ trong khi căn cứ Đồng Tâm bị tấn công thì sao”. Cứu binh còn hơn chữa lửa. Vả lại, những người vắng mặt, ngày mai có thể liên lạc với Cơ xưởng hạm tìm biết vị trí của chiến hạm để tìm đường về, nếu họ muốn.

Tàu giang hành ban đêm, tôi thức suốt đêm trên đài chỉ huy. Vào khoảng 2 giờ sáng, gặp một đoàn công voa của Quân Vận đi ngược chiều, dài mấy cây số. Đi sát gần bên, tôi hỏi lớn: “Từ đâu đến, đi về đâu”. Họ trả lời: “Từ Sài Gòn, đi Cần Thơ”. Tôi lại đinh ninh là chánh phủ sẽ di chuyển về Cần Thơ. Tự suy diễn để an tâm chiến đấu.

Sáu giờ sáng, tàu đến Đồng Tâm. Căn cứ Hải Quân Đồng Tâm đồn trú bên một cái hồ rất lớn, thông ra dòng sông cái. Tôi chuẩn bị quẹo tàu vào thì ở trong ùa ra hàng trăm tiểu đỉnh đủ mọi loại: thủy bộ, ngăn chận, LCVP... giống như một đàn cá tuồn qua một cổ chai. Không phải một cuộc di chuyển bình thường mà là một cuộc tháo chạy. Tôi ngạc nhiên quá, cho tàu ngưng máy và thả trôi lềnh bềnh. Một chiếc tiểu đỉnh cặp vào tàu, một viên trung úy đến chào tôi: “Trong căn cứ không còn ai. Một thiếu tá trở cờ, đang khống chế căn cứ. Họ sẽ kêu hạm trưởng vào để bắt giữ chiến hạm. Hạm trưởng ở đây thâm niên nhứt. Chúng tôi đặt dưới quyền chỉ huy của hạm trưởng.”
Tôi mất bình tĩnh, không ngờ sự việc xảy ra diễn tiến như vậy. Giải quyết sao đây. Tôi bảo ông trung úy: “Ông ra lịnh cho các tiểu đỉnh ủi bãi vào cù lao, chờ đó”. Ở đây cần nhấn mạnh đến tinh thần chiến đấu của chiến sĩ Hải Quân, đồn trú ở CCHQ/Đồng Tâm, là bằng chứng hùng hồn lòng kiên cường của binh sỉ QLVNCH.

Tôi bảo phòng vô tuyến liên lạc với BTL/HD. Phòng vô tuyến trả lời, tất cả đều đổi tần số không liên lạc được. BTL/HD là nơi chỉ huy chính gốc của tôi, BTL/LLTB là nơi biệt phái. Một nơi không liên lạc được, một nơi bị khống chế. Làm sao đây. Vào lúc đó CCHQ/DT gọi qua máy âm thoại PRC25: “Yêu cầu HQ231 vào cặp cầu căn cứ để nhận tiếp tế và nhận chỉ thị”. Tôi cầm ống liên hợp hỏi lại: “Cho tôi nói chuyện với ông số 1”. Tiếng trên máy trả lời: “Ông sô 1 đi họp với sư đoàn 7 rồi”. Tôi hỏi tiếp ông số 2 đâu. Trả lời: ông số 2 cũng đi rồi. Tôi hỏi dồn, còn ông số 3. Trên máy trả lời là không có luôn. Như vậy là quá rõ ràng, họ muốn bắt giữ HQ231. Tôi gằn giọng: “Anh là ai, anh không có thẩm quyền chỉ huy tôi”. Tiếng trên máy đổi giọng đe dọa: “Anh không tuân lịnh, tôi kêu mấy con chuồn chuồn bắn anh”. Tôi biết tỏng tòng tong là hắn hù tôi. Trên trời có mấy chiếc trực thăng, nhưng họ cũng lo bấn xúc xích, hơi đâu mà đi bắn đơn vị bạn.

Tôi cười thành tiếng trên máy “Anh lòi đuôi anh ra rồi, anh không phải là sĩ quan Hải Quân chính cống, không biết một tí gì về Hải Quân. Anh không biết hỏa lực con cá tôi mạnh đến mức nào. Hai con chuồn chuồn không ăn thua gì đâu, anh phải kêu 10 con chuồn chuồn mới hạ được tôi”.

Tiếng nói trên máy im bặt, hình như hắn bối rối. Tôi nạp thêm: “Anh cho tôi biết ý định của anh đi, nếu anh còn tiếp tục chiến đấu, tôi sẵn sàng yểm trợ anh. Còn không, anh đừng gọi tôi”. Đến phiên tôi, tôi bối rối khủng khiếp. Bây giờ làm sao đây. Tôi cảm như rơi xuống một vực thẳm tối om, có một lực nào đó lôi tôi tuồn tuột xuống, không bám víu vào đâu được. Các tiểu đỉnh bơ vơ, còn bám lấy tôi. Còn tôi bơ vơ, tôi bám vào đâu”.

Chiến hạm vẫn chạy tới, chạy lui trước Mỹ Tho và căn cứ Đồng Tâm. Một thủy thủ mang một radio lên đài chỉ huy, mở lớn cho tôi nghe. Tiếng Tổng Thống Dương văn Minh làm nghẹn lòng người: yêu cầu QLVNCH buông súng ngừng chiến đấu, ai ở đâu thì ở đó. Lời nói của Tổng Thống Minh như muôn ngàn mũi tên cắm vào thân thể tôi. Tôi như Từ Hải chết ngoài trận tiền. Một làn khí lạnh chạy suốt xương sống. Mồ hôi đổ ra đẵm ướt đầy mình. Tôi ngồi bất động, không biết bao nhiêu lâu, có thể là 5 phút, có thể là 10 phút mà cũng có thể hơn. Hoàn hồn lại, tôi nghĩ ngay là phải cứu con tàu. Biết đâu được, có một lực lượng nào còn chiến đấu thì sao. Sực nhớ tới hàng trăm tiểu đỉnh đang ủi bãi ở cù lao, nhưng Tổng Thống Minh đã tuyên bố đầu hàng rồi, tôi không còn trách nhiệm nữa. Còn sinh mạng họ. Tôi không thể tập họp, hỏi ai đi ai ở. Vì như vậy, cộng quân đủ thời giờ phong tỏa một khúc sông nào đó trên đường tàu ra cửa biển.

Tôi quyết định quay tàu ra cửa biển. Hai máy tiến full, động cơ nổ ầm ầm, nước rẽ sóng hai bên mũi tàu trắng xóa. Tàu đang ở nhiệm sở tác chiến. Khi nghe Tổng Thống Minh tuyên bố đầu hàng, thủy thủ đoàn tự động tan hàng. Họ đứng tụm năm, tụm ba bàn tán, có người mang hành lý ra sân tàu. Tôi biết tình hình bất ổn, không khéo có nổi loạn. Cuối cùng việc gì đến sẽ đến. Họ cử thiếu úy Long lên nói chuyện với tôi. Ông đứng dưới cầu thang nói vọng lên đài chỉ huy, giọng nói to tiếng hơn ngày thường: “Hạm trưởng, quay tàu về Mỹ Tho cho tụi tôi lên bờ”.

Nghĩ cho cùng, cách cư xử và lời nói của thiếu úy Long hoàn toàn đúng. Quân đội tan hàng rồi, thủy thủ có quyền đòi hỏi trở về với gia đình. Mục đích của tôi là muốn gìn giữ con tàu. Nếu tàu cặp bến Mỹ Tho, thủy thủ rời tàu, lập tức HQ231 sẽ là đống sắt vụn. Mục đích thứ hai là tôi thầm mong được tiếp tục chiến đấu, dại gì nộp con tàu cho kẻ địch. Làm theo lời thiếu úy Long là không được mà cứng rắn với thủy thủ đoàn lại càng không xong. Phải dùng tình cảm thôi.

Tôi nghiêm sắc mặt nói với thiếu úy Long: “Mặc dù chúng ta ở tình hình như thế này, nhưng truyền thống của Hải Quân, một sĩ quan đàn em nói với đàn anh như vậy sao”. Bình thường thiếu úy Long là một sĩ quan năng nổ, làm việc chăm chỉ và rất kỷ luật. Ông đã trui rèn hai năm ở quân trường, thấm nhuần truyền thống của Hải Quân, vì vậy ông thấm ý lời tôi nói. Ông đứng im. Tôi nói tiếp: “Thôi ông tập họp nhân viên cho tôi nói chuyện”.

Quân số thủy thủ đoàn vào khoảng 80 người. Họ đứng im phăng phắc, gương mặt rất nghiêm trọng. Chỉ có mình tôi là còn mặc áo giáp, đội nón sắt. Bỗng nhiên hôm đó, tôi nói rất hùng hồn. Đại khái: “Mọi người thấy rõ, tôi làm việc cho con tàu, cho Hải Quân, cho Quân Đội. Thủy thủ đoàn ở dưới tàu được chăm sóc đầy đủ quyền lợi. Tôi quyết định ra biển có 2 lý do: thứ nhứt là gìn giữ con tàu. Quay trở lại cặp bến, người ta sẽ phá con tàu, đây là tài sản của quốc gia. Thứ hai là bảo vệ sinh mạng các anh. Mặc dù quân đội tan hàng rồi, tôi vẫn còn trách nhiệm. Trong lúc tranh sáng, tranh tối các anh lên bờ có thể bị giết. Tôi hứa với các anh là, khi ra biển rồi, tình hình bình yên, ai muốn về tôi cho về. Phương tiện ghe đánh cá nhiều lắm. Tôi hứa”.

Tôi biết, phần đông các cuộc loạn trên tàu là do hạm trưởng hoặc thuyền trưởng o ép quá đáng. Tôi muốn làm cho rõ trắng đen để mọi người đều hả dạ. Nhưng để lái theo ý mình, phải khôn khéo một tí xíu cộng thêm một tí tình cảm. Tôi quyết định trưng cầu dân ý. Tôi nói: “Bây giờ, tôi lấy ý kiến các anh, bên nào đa số tôi làm theo. Tôi đặt ra 2 câu hỏi, thứ nhứt, ai muốn quay lại Mỹ Tho lên bờ, thứ nhì, ai theo tôi ra biển rồi sau đó muốn về thì về”. Tôi biết cái gì đưa ra đầu tiên, người ta bỡ ngỡ, ngập ngừng, ngại quyết định. Tôi nắm tâm lý đó. Vả lại, ý kiến thứ hai hấp dẫn hơn, đi thì cứ đi rồi sau đó muốn về thì về. Tôi biết chắc là tôi sẽ thắng. Nhưng để chắc ăn, tôi nêu câu thứ nhứt trước: “Ai muốn quay tàu lại Mỹ Tho”. Không ai đưa tay lên. Tôi lập lại lần thứ nhì rồi lần thứ ba. Không có người nào đưa tay. Tôi mừng thầm trong bụng vì biết là mình thắng rồi.

Tôi nói tiếp: “Bây giờ tôi sang câu thứ hai, ai theo tôi ra biển rồi muốn về thì về”. Một người đưa tay, hai người rồi ba rồi cả tàu. Một chiến thắng tuyệt đối. Nhấn mạnh ở đây là không có cò mồi. Tôi vẫn trầm tĩnh, nhẹ nhàng: “Như vậy là các anh đồng ý với tôi hết rồi, phải không” Các anh tiếp tục làm việc. Nhớ là ai muốn vào bờ cứ gặp tôi. Thôi tan hàng”. Mọi người vui vẻ mà tôi không bận tâm nữa.

Chiến hạm ra cửa biển bằng cửa Tiểu vào buổi chiều. Nhạc sĩ Trường Sa bập bềnh sóng nước trên chiếc Coast Guard. Ông gọi tôi, tôi ngừng lại để ông lên tàu. Tối hôm đó, bắt được tần số của Hạm Đội, tất cả tàu đang tập trung tại Côn Sơn. Trên đường đi, tôi gặp HQ228, hạm trưởng thiếu tá Vương thế Tuấn, cũng lạc loài bơ vơ như tôi. Chúng tôi ngừng lại cứu hai chiếc LCM, chết máy thả trôi lềnh bềnh, từ cửa Định An đi ra. Mỗi chiếc khoảng hai trăm người. Chúng tôi đến Côn Sơn rồi theo đoàn tàu qua Subic. Đến Subic, tôi là người cuối cùng rời tàu.

Một viên đại úy bộ binh, trong đám người di tản trên chiếc LCM, cố chờ tôi trên bờ, đến bắt tay tôi: “Tôi di tản từ miền Trung về, chưa thấy tàu nào có kỷ luật như tàu của ông”. Tôi cầm tay ông siết nhè nhẹ. Tôi thẫn thờ không nói được lời nào. Tôi muốn chia xẻ tình chiến hữu với ông. Nhưng trong lòng trăm mối ngổn ngang. Tình nước, tình nhà còn đó. Nhưng từ đây tất cả bỏ lại sau lưng. Bỏ lại quê hương yêu dấu, bỏ lại Hải Quân, bỏ lại biển xanh lồng lộng, bỏ lại Mẹ già và bỏ lại con tàu thân yêu.

Nguyễn Văn Phước

hoangphong
Posts: 423
Joined: Tue Feb 12, 2019 7:20 am

Post by hoangphong »

Image

NHỮNG ĐIỀU TÔI BIẾT VỀ LÝ TỐNG.

Năm 1975, sĩ quan còn ở lại đều phải vào “tù” hay cải tạo, sở dĩ tôi phải đề hai chữ cải tạo và tù vì cũng trên diễn đàn này, cách đây vài năm tôi đã tranh cãi về hai chữ này, và sau đó, một đề tài đăng trên biệt động đã đồng quan điểm với tôi,
vì vậy tôi viết chữ cải tạo trong những điều tôi biết về Lý Tống, như một người có một thời cải tạo tại tổng trại 6, tổng trại 5 và trại A 30.
Tôi không biết Lý Tống trước nắm 1975, sau năm 1975,
khi vào tổng trại 6 tại trung tâm huấn luyện Lam Sơn, tôi cũng chưa biết Lý Tống là ai.
Tổng trại 6 chia làm nhiều trại, trại cấp tá hay những thành phần cộng sản cho là đối tượng quan trọng vào trại 1, sau đó kế tiếp là 2, 3, 4, 5.
Lý Tống ở trại 4 hay 5,
tôi không chính xác.
Các trại nằm dọc theo đường từ cổng trung tâm huấn luyên Lam Sơn, chạy dài hơn cây số. Mấy tháng đầu bọn cai trại cho thoải mái, hàng ngày lao động nhẹ, chặt củi, chặt lá kè,
lợp nhà, đào giếng nước… hàng ngày, buổi trưa, tới chiều ai có người nhà đều được thăm, tại khu thăm nuôi.
Bỗng có tin từ trại 4, có Lý Tống vượt trại, trong thời kỳ này, thật ra nếu ai muốn đi,
cũng không khó khăn lắm vì việt cộng còn lơi là, nghe tin từ dưới trại 4, tôi biết Lý Tống là pilot A 37, bị bắn rơi tại Phan Rang.
Lý Tống đã lợi dụng lơi lỏng trong quản lý, Tống không biết móc nối hay làm sao mà chui nằm dưới bụng chiếc xe tải, thật ra chỉ nghe nói,
không hình dung Tống nằm như thế nào. Xe chạy ngược lên Ban Mê Thuột, tại đèo Phượng Hoàng, Việt cộng bắt Tống, giải giao về trại 4,
khi biết Tống trốn trại.
Tại trại 4, bọn quản chế, bắt Lý Tống quì xuống đất,
Tống không thi hành, và banh ngực ra, nói các anh muốn bắn, cứ bắn, không chịu quì,
câu chuyện này nổi lên và từ đó ai cũng nghe tên Lý Tống, sau này tại trại tôi, cùng tổng trại với Lý Tống, có hai thiếu tá bị tên Sơn Khói gài rủ vượt trại và bị bắn chết, sở dĩ biết bị gài vì 3 người vượt trại, bọn bảo vệ bắn chết 2, và mang tên Sơn khói, làm bộ nhốt nhà cùm nhưng được ăn uống đầy đủ, và được cho thuốc lá,
nhiều người bị nhốt đều trông thấy.
Khi tên Sơn khói được thả,
về làm đội trưởng đội cấp tá cho tới khi trại này chuyển lên Củng Sôn, Tuy Hòa, Sơn khói vẫn làm đội trưởng.
Khi tổng trại 6 di chuyển lên tổng trại 5 tại Sơn Hòa, Củng Sơn, Lý Tống cũng đi theo và ở trại 54.
Tôi theo trại cấp tá, ỡ trong rừng, là trại 53.
Tại đây cải tạo viên vẫn đi làm, nhưng một hôm nghe anh em trại 54, khi ra ngoài chặt cây gặp những người trại 53, Lý Tống không chịu học tập và chống đối, bị cùm, biệt giam. Tống bị nhốt tại một dãy nhà cùm, nằm ngoài vòng đai của trại 54, nhưng có mấy vọng gác của cảnh vệ.
Một hôm, vào khỏng 5 giờ sáng, anh em tại trại 54 la rất lớn:
“các anh em ơi, tụi việt cộng muốn giết tôi”,
người nghe kể lại, buổi sáng nên ai cũng nghe rất rõ,
nhưng không ai làm gì được, trong khi đó Lý Tống vẫn tiếp tục la cho tới sáng, mọi người đều thức dậy, nhưng không nghe tiếng súng, ai cũng hy vọng Lý Tống không bị đánh chết.
Thật ra sau này Lý Tống kể chuyện cho anh em trại 53
(trại tôi) nghe, đêm hôm đó,
trời còn tối, hai tên cảnh vệ,
tới nhà cùm, nói, anh Tống,
trại tha anh rồi, ra khỏi nhà cùm theo tụi tôi về với anh em cải tạo viên,
Lý Tống biết, đây chỉ là bọn cảnh vệ dụ Tống ra khỏi nhà cùm là bắn, rồi đổ tội Lý Tống cố tình trốn nhà cùm, buổi tối và bắn bỏ.
Lý Tống không ra, và nói với hai tên cảnh vệ, các anh thả tôi,
chờ trời sáng, trại viên ngủ dậy, mọi người đầu biết, tôi sẽ theo ra, còn bây giờ, tôi không ra khỏi nhà cùm này.
Nói xong, Tống nằm và la làng, Tống nói bị mấy báng súng nhưng vẫn không ra, càng la to.
Mấy ngày sau, Lý Tống bị chuyển trại, lên trại 53, trại cấp tá và thành phần thuộc đối tượng nguy hiểm nhất,
trong đó có đại tá Lương,
lữ đoàn trưởng Dù, và Thành khóa 19, tiểu đoàn trưởng Dù, cùng chung trại.
Tôi biết Tống từ đó, vì chung trại 53, nhưng tôi và Tống không cùng chung lán, tuy vậy hàng ngày nhiều khi đi làm chung,
tôi biết thêm về Tống, Tống nói chung, cao ráo, đẹp trai, trắng và hơi thư sinh, khi nói chuyện,
hay khôi hài, nhưng không có gì là khác với anh em, tôi hỏi Tống, hồi làm sao mày bị bắt năm 75,
Tống cười, máy bay tao bị bắn, nhảy dù rơi trên một rẫy mía ngút ngàn, tao cuộn dù, dấu trong đám mía, tính theo đám mía chờ tối là đi, không ngờ tụi chăn bò, thấy từ trên trời, tao đi đâu,
tụi chăn bò theo đó,
cuối cùng du kích tới bắt.
Tại trại 53, Tống không có ai thăm nuôi, con bà sơ 100/100, những người khác 3 tháng được thăm một lần, thỉnh thỏang, anh em cũng chia chút đường, chút bánh cho Tống.
Tống ăn rất mạnh, ăn hết phần mì của mình, ăn thêm mì của anh em, nó để một cái nón nhựa,
buổi sáng ai thấy mình dư mì,
cứ để vào đó, Tống cặm cụi lấy chày nhào quết thành một trái banh nhỏ và ăn lần.
Qua trại 53, Tống bắt đầu học thổi sáo, ai đã từng nghe tiếng sáo của người mới tập thổi,
thì mới thấy khó chịu ghê gớm,
cứ trưa hè mà nghe tiếng sáo Tống thổi là muốn điên, ai nói sao thì nói, Tống không giận hờn và tiếp tục…
Vào dịp Tết, mọi người được thăm nuôi, đội nào cũng đi làm, nhưng khi có người nhà,
cảnh vệ sẽ gọi tên cho thăm,
Lý Tống được kêu tên,
người thăm, nghe nói là anh ruột của Tống, dạy đại học ở Hà Nội, bọn cán bộ trại biết như vậy nên rất sốt sắng, cho người kêu Tống,
Tống nói:
“tôi không có bà con, anh em gì hết, làm sao ai thăm tôi được. Trại cho tên quản giáo gọi Tống, Tống nhất định không đi,
cuối cùng đành chịu, và anh Lý Tống phải về. Tống có một đặc điểm, không bao giờ đi dép cao su do trại phát mà chỉ đi chân đất, đôi dép quàng trên cổ tòn ten, phải nói, không dễ gì, khi đi rừng, khiêng súc, chặt tre mà không có dép.
Hỏi Tống, sao mày không mang dép Tống, nó trả lời gọn:
“Da Chân mòn thì còn mọc da khác, dép mòn ai phát dép mới mà đi “,
Tống là người nổi danh với câu nói:
“Con gì nhúc nhích là ăn hết”, cóc nhái, ễnh ương, rắn rít mà gặp Tống, coi như xong, nó lột da cóc, giã thịt cho thật nát,
cho chút muối, nướng ăn ngon lành.
Đặc biệt Tống ít nói về trốn trại hay ý định gì, vì vậy không ai biết Trong đầu Tống nghĩ gì,
Tống không có bạn thân,
nhưng không có người ghét,
một người bề ngoài, không khác ai trong anh em cải tạo.
Trại 53 khi giao lại cho Công An, được di chuyển về Tuy Hòa,
nằm trên một đồng bằng chung quanh là lúa và rẫy, thuộc ấp Thạch Thành, trại A 30.
Về A 30, tôi khác lán với Tống, nhưng đều bị trong trại, ra vào trại đều phải qua nhà gác của công an, chung quanh hàng rào trại có chòi canh,
và hàng rào kẽm gai, những đội mộc, đội rau, đội văn nghệ,
gọi là đội tự giác, ở ngoài,
hàng ngày vào trại lảnh cơm và nước.
Đội tôi và đội Lý Tống, làm ruộng, sáng phải ra ruộng, chiều tối,
tắm rửa, đếm số, vào trại.
Tuy không chung đội nhưng gặp nhau vẫn chào hỏi, như đã nói, Tống không có bạn Thân.
Hai đội làm ruộng gần nhau,
Tống vẫn không có thăm nuôi, nhưng nghe nói, khi Tống làm đội xay sát gạo, có một cô trong đội văn nghệ rất thích Tống, ai cũng nói đầu dây mối nhợ là do người này báo cho Tống, tôi không tin, vì tuy hai đội văn nghệ và xay sát gạo gần nhau, nhưng không được tự do nói chuyện.
Một hôm, vào năm 1980,
tôi nấu nước cho đội tôi,
sau giờ trưa, anh em nghỉ trưa,
ra ruộng làm buổi chiều, tôi bắt đầu đi lấy củi để nấu nước cho anh em cải tạo ngày hôm sau,
tôi đi khá xa, vào các rẫy lấy củi, nhờ vậy mà tôi quen nhiều người làm rẫy, trồng mía,
tới mùa làm đường, tôi mang hai ba loong gô theo, nhiều cô làm mai xin tiếp đường cho tôi đường non mang về, tôi chia cho mấy bạn thân cùng lán ăn thoải mái, ngày mai xin tiếp (phải nói, lúc này dân chúng thấy rõ cộng sản rồi, nên rất cảm tình với người cải tạo), mới có dịp ăn đường non mệt nghỉ.
Mấy cô làm mía, tiếc gì một loong gô đường.
Đây nói chuyện Tống, một hôm tôi đi ngang qua mấy bụi chuối trồng theo bìa ruộng, lúc đó anh em đã ra ruộng lúa hết,
tôi thấy Tống, mặc bộ đồ tù sọc đỏ, nằm ngay gốc chuối,
tôi tưởng Tống ngủ quên,
tôi lấy chân lay Tống dậy, nói:
-Tống “Đội mày đi làm hết trơn rồi, sao mày nằm đây”,
Tống vẫn nằm, trả lời:
Tao đau đầu quá, tao xin ông Lía (cán bộ quản giáo) đội 9,
nghỉ buổi chiều nay, ngủ chút xíu cho đỡ đau đầu ,
rồi nó hỏi tôi, mày đi lấy củi hả, tôi ừ, rồi nói với Tống, thôi mày nghỉ cho khỏe, tao đi đấy”.
Hôm đó, nếu không lầm là thứ sáu, ngày hôm sau nghỉ lao động.
Hôm sau, theo lệ thường,
ngày nghỉ, thường ai có thăm nuôi thì nấu ăn, không có gì thì chạy qua mấy lán, gặp bạn bè, nói chuyện, ai có cà phê thì rủ nhau, mấy thằng một ly cà phê, nhâm nhi, nói chuyện đời,
A 30 cho thăm nuôi xả láng, không hạn định bao nhiêu quà bánh, gạo, đường đều được mang, nhiều nhà khá giả mang cả gánh thăm nuôi.
Tụi tôi đang, mỗi người một nơi, trong hàng rào dây thép,
thì khoảng 10 giờ trưa,
nghe tiếng kẻng tập họp, ai về nhà nấy, điểm danh. Số là, thường ngày nghỉ, 10 giờ mọi người đều lãnh cơm, cơm do người trực của đội gánh từ nhà bếp, tới từng lán chia.
Thường ai không có mặt thì nhờ bạn nằm gần lãnh dùm, hôm đó, lán của Lý Tống, khi chia cơm, người chia cơm thấy không có đồ lãnh cơm của Tống, nên kêu inh ỏi, Lý Tống đâu rồi, không lãnh cơm, người chia cơm, hỏi Tống có nhờ ai lãnh cơm không?, kêu hoài kêu hủy, người đội trưởng Tù, báo cáo cho chòi canh ngoài cổng, cảnh vệ bèn đánh kẻng kêu tập họp điểm danh từng nhà, ai cũng có mặt, chỉ thiếu Lý Tống, cảnh vệ báo lên trại, lệnh truy nã tù trốn trại bắt đầu. Ai trong anh em, cũng mong cho Tống đừng bị bắt,
và trốn được, và quả thật cả tuần, cả tháng, và cả năm, không bao giờ bắt được Tống.
Năm 1981, khi tôi ra khỏi A 30,
tôi vẫn mang một câu hỏi trong đầu, Tống ra khỏi trại bằng cách nào, và đi ra sao?
Tôi không là bạn thân của Tống, nhưng cùng chung trại mấy năm, tôi phục Tống khi nghe và thấy những hành động của Tống, Tống là một người vượt trại giỏi, nhưng tiếc thay, Tống không kết hợp được nhiều người, trước sau vẫn hành động đơn độc, sau này khi nghe, đọc một bài báo Mỹ nói về Tống, tôi thấy Tống phi thường, nếu có bạn nào đi Mã Lai, mỗi chiều thứ Sáu, rời khỏi trại huấn luyện JWS “Jungle Warfare School”, tại Johore bahru, Malaysia, qua chiếc cầu thật dài giữa eo biển Malaysia và Singapore, các bạn mới cảm phục Lý Tống,
không những về ý chí, mà phải thán phục vì sức khỏe của Tống, khi Tống bơi qua eo biền này, dưới dòng nước xanh, sóng mạnh,
Tống đã tới tòa đại sứ Mỹ tại Singapore, bằng một câu tiếng anh trôi chảy:
“Tôi xin gặp đại sứ Mỹ”, tôi là một sĩ quan không quân VNCH, đã đi từ VN qua nhiều nước,
và vừa bơi qua eo biển Mã Lai tới đây.
Lý Tống được lệnh từ Mỹ, ra khỏi singapore chỉ sau vài tiếng đồng hồ...

*Phạm Văn Lương K20

User avatar
bichphuong
Posts: 654
Joined: Mon Apr 25, 2016 12:10 am
Been thanked: 1 time

Post by bichphuong »

Image

KHU TRỤC BỌC THÂY
Trường Sơn Lê Xuân Nhị
Để tưởng nhớ cố Trung úy phi công khu trục Hoàng Phi Hùng, thứ nam Bác Sĩ Hoàng Văn Đức, đã “về với đất…” tại chiến trường An Lộc năm 1972.

Đồng thời, xin thân tặng các phi công Thái Dương phi đoàn 530 khu trục, Pleiku, những “đao phủ thủ lừng danh” của vòm trời Tam Biên với những định mệnh nghiệt ngã và đau đớn cuối cùng …

Người sĩ quan ban 3 thuyết trình xong, phòng họp hành quân của sư đoàn trở nên im lặng lạ thường. Người ta nghe rõ được tiếng tíc tắc của chiếc đồng hồ treo cuối phòng. Bỗng trung tá trung đoàn trưởng đứng dậy, tiến lên bục thuyết trình. Ông là một sĩ quan trẻ, mới về nắm trung đoàn chưa tới ba tháng. Áo quần ông nhăn nhúm, mắt ông ngầu đỏ, tóc ông rối bời.

Đứng trên bục, ông đưa mắt nhìn xuống phòng họp, đặc biệt ở dãy bàn có lố nhố mấy chiếc áo bay. Cái nhìn của ông thật khó hiểu. Người sĩ quan trung đoàn trưởng bộ binh trẻ tuổi đứng lặng yên như vậy một lúc. Mấy ông phi công của sư đoàn VI Không Quân tự nhiên thấy mình được để ý, liền sửa thế ngồi, ngoan ngoãn nhìn lên.

Ông trung tá lên tiếng:

-Các ông tiểu đoàn trưởng của tôi chắc biết hai ngày sắp tới sẽ quan trọng như thế nào rồi, khỏi cần phải nói…

Rồi ông mỉm cười. Nụ cười chẳng ai mong đợi nở lên lúc này không làm giảm bớt được bầu không khí căng thẳng của phòng họp. Ông nói liền như sợ mất đi cái giá trị của nụ cười mình vừa biểu diễn:

-Thuyết trình xong, tôi sẽ có vào lời tâm tình với mấy anh em Không Quân một chút…

Mấy người mặc áo bay phía sau nghe tới đó lại …sửa thêm thế ngồi một lần nữa, mặt mày ai nấy đều cố gắng làm ra vẻ nghiêm trọng. Một trong những người mặc áo bay đó là đại uý Trần anh Trí, trẻ măng, phi tuần trưởng sáng giá nhất của Không Lực Việt Nam vùng II chiến thuật, người vang danh là “đệ nhất đao phủ thủ” của phi đoàn khu trục 530.

-Các anh em biết, cách đây vài ngày, tổng thống ta vừa tuyên bố một câu rất …giật gân là chúng ta phải “đánh giặc theo lối con nhà nghèo”…

Đây không phải là lần đầu tiên Trí đi họp hành quân với bộ binh. Thông thường những buổi họp này rất giống nhau. Mới đầu, sĩ quan ban 3 của trung đoàn hay sư đoàn lên thuyết trình. Đại khái ông sẽ trình bày một lô tin tình báo như: Sư đoàn sao vàng sư đoàn sao đỏ hay gì đó đã xâm nhập, trang bị những vũ khí nặng đủ cỡ với những cái tên mà Trí không thể nào nhớ hết. Tiếp đến là ý đồ “thâm độc” của địch, âm mưu cắt khúc này, đánh chỗ nọ. Phần thứ ba là quân ta đang mở một cuộc hành quân tại tọa độ … Mục đích của mọi cuộc hành quân, dĩ nhiên là để tiêu diệt và bao vây địch, là “đánh chết mẹ nó ra”. Hào hứng nhứt là phần hội thảo và kế hoạch. Sau đó, thông thường là một vị cấp bậc cao nhất trong phòng họp lên cho chỉ thị hay phương thức tấn công và cuối cùng, trước khi chấm dứt buổi họp thì thế nào cũng có màn yêu cầu khu trục yểm trợ tối đa, hay trực thăng bốc cho thật đẹp v.v…

Hôm nay, Trí thấy phòng họp có không khí lạ vì ông trung đoàn trưởng này mới tinh. Gặp lần đầu là thấy chịu liền. Trí nhận xét ông ta có khẩu khí hoàn toàn khác hẳn những ông trước. Sĩ quan trẻ xuất thân từ lò Đà Lạt ra có khác. Dám chê tổng thống là ăn nói giật gân thì ắt phải là “nhân tài.” Mà ông ta muốn tâm tình gì với anh em khu trục đây, Trí thắc mắc.

-Anh em biết, tổng thống nói đúng, nhưng chỉ đúng …một phần. Thứ nhất, trên chiến trường không có vấn đề giàu nghèo mà chỉ có thắng bại, sống hay chết, tủi nhục hay vinh quang. Nhưng, anh em cũng như tôi, chúng ta đều biết rằng từ ngày hiệp ước ngưng bắn ký xong, chính phủ Hoa kỳ cúp bớt viện trợ cho chúng ta rất nhiều…

Ông dừng lại một chút như chờ cho mọi người thấm ý câu nói rồi tiếp tục:

-Tôi không ngu đến độ không biết những gì đang xảy ra trên đất nước mình. Tiếp tế và tiếp liệu của chúng ta càng ngày càng cạn đi. Ngay cả chiếc xe díp của tôi, thiếu cái bình điện mà còm măng cả tháng chưa có, phải lấy xe của người khác đi… Nói như vậy để anh em hiểu tình hình bi đát như thế nào. Ngày xưa chúng ta đánh giặc kiểu Mỹ, bây giờ, tôi không muốn nói chúng ta phải đánh giặc kiểu con nhà nghèo, nhưng chúng ta phải đánh giặc kiểu Việt Nam. Đúng. Tôi nhấn mạnh, đánh kiểu Việt Nam. Ý tôi muốn nói là mình phải “Suy nghĩ ba lần trước khi bắn một trái pháo, suy nghĩ bẩy lần trước khi thả một trái bom…”

Thật là một câu “châm ngôn” nghe rất tới nhưng không kém đau thương. Trí nhớ lại câu tục ngữ của người Pháp: “Uốn lưỡi bẩy lần trước khi nói” mà thuở xa xưa có lần thầy giáo đã bắt chàng chép 500 lần vì tội ăn nói bậy bạ trong lớp.

Rồi ông trung tá trẻ tuổi xoay người, cầm lấy cây thước, chỉ vào một cao độ trên tấm bản đồ treo phía sau. Khỏi cần nhìn Trí cũng biết cái “hột lạc” mà ông ta nhắc đến là ngọn đồi chiến lược 982 nằm ở phía bắc Kontum, nơi chàng đã đánh xuống không biết nhiêu là trái bom suốt mấy năm qua. Ngọn đồi chiến lược này là “con mắt” của thành phố Kon Tum. Ai đứng trên này có thể nhìn thấy hết được thành phố. Ngày xưa ngọn đồi này được một đơn vị LLĐB Hoa Kỳ trấn đóng, nhưng sau khi Mỹ rút đi thì ta và giặc thay phiên nhau làm chủ ngọn đồi này.

-Trước khi đi vào chi tiết, anh em cho tôi bắt đầu bằng câu này: Bằng mọi giá, vào lúc 1800 giờ ngày mốt, anh em phải …”đem nó về cho tôi.” Để tôi lập lại một lần nữa lệnh của tôi cho quí vị tiểu đoàn trưởng nghe rõ: Trễ lắm là 1800 giờ ngày mốt, chúng ta phải chiếm được ngọn đồi này.

Ông đưa mắt nhìn xuống cuối phòng, nơi có treo cái đồng hồ:

-Bây giờ là 17 giờ 45 phút. Các anh có 48 giờ 15 phút đúng để “đem” ngọn đồi đó về cho tôi.

Một “dàn” bốn ông tiểu đoàn trưởng và mấy ông tá khác đen đủi sạm nắng trong bộ đồ nhà binh bạc màu ngồi ở bàn đầu im lìm nhìn lên. Cũng như Trí, mấy ông tiểu đoàn trưởng này đâu có lạ gì với cao điểm 982. Giày họ đã vẹt gót khắp “giang sơn” của vùng hai chiến thuật, nhiều người bạn đồng đội của họ đã nằm xuống, hoặc đã bị tàn phế để gìn giữ những địa danh vô nghĩa như tên của ngọn đồi máu này.

-Sĩ quan ban 3 vừa trình bày cho các anh biết tình hình địch. Với quân số 3 tiểu đoàn của ta tấn công 1 tiểu đoàn của chúng, theo binh pháp thì quá ít. Con số lý tưởng là 7-1 chứ không phải 3-1. Anh em thấy chốt nó nằm dài dài bắt đầu từ dưới chân đồi lên tới trên đỉnh. Mấy hôm nay bay trực thăng quan sát chiến trường, tôi đã đi đến một kế hoạch tấn công như thế này…

Ông lật tấm bản đồ thứ hai. Trí nhìn lên thấy toàn những ô vuông đánh dấu vị trí của quân bạn và địch.

-Trước khi tiếp tục, tôi xin giới thiệu với anh em một nhân vật quan trọng của cuộc hành quân này.

Ông đưa tay ra, hướng về phía một người sĩ quan bộ binh nãy giờ ngồi im lặng trong một góc phòng:

-Mời Trung úy An đứng dậy.

Một ông trung uý bộ binh trẻ tuổi, nhỏ người đứng lên dơ tay chào mọi người. Tất cả đều quay nhìn nhân vật được giới thiệu. Trí cũng nhìn sang và thoáng giật mình vì khuôn mặt của người này thấy hơi quen quen. Chắc chắn Trí đã gặp hắn ở một nơi nào đó…

-Tôi xin giới thiệu với anh em, trung úy An là đại đội trưởng đại đội 45 trinh sát của trung đoàn, đơn vị nắm phần quyết định cho trận đánh này. Trung úy có thể ngồi xuống được rồi.

Trí nhìn người trung uý trẻ hơn tuổi mình ngồi xuống và cố moi óc để nhớ xem đã gặp anh chàng này ở đâu.

Tất cả các đơn vị bộ binh từ cấp trung đoàn trở lên, đều có một đại đội trinh sát. Hai chữ trinh sát thôi đủ nói lên sự hiểm nghèo. Đơn vị này luôn luôn là con cưng của trung đoàn trưởng. Trong quân đội, người ta không có thì giờ để đi “cưng” bậy bạ. Được “cưng” thì phiền toái lắm. Những công tác nguy hiểm, những công việc không ai làm nổi đều giao khoán cho mấy đứa con cưng này. Vì thế, tuổi thâm niên trung bình của lính trong đại đội trinh sát rất thấp và cấp chỉ huy thì thay đổi luôn luôn. Có vinh quang nào mà không được xây bằng máu kìa?

Trí biết trung uý trẻ măng như vậy mà nắm được đại đội trinh sát thì phải là “nhân tài.” Mà chắc phải là tài lắm vì bộ binh ít có khi nào thèm biểu diễn mấy cái màn giới thiệu vớ vẩn như vậy.

Vị trung tá chỉ vào một chỗ phía đông ngọn đồi tiếp tục:

-Nội trong sáng mốt, tiểu đoàn một phải sẵn sàng ở tuyến xuất phát tại đây, tiểu đoàn hai bên này, tiểu đoàn ba sẽ nằm ngay đây làm trừ bị và để chặn luôn quân cứu viện của chúng nó nếu có. Khu trục tiền oanh kích xong là hai ông một và hai cho chúng nó xung phong lên…

Tới đây, ông dừng lại, và nhìn xuống hàng ghế có mấy chiếc áo bay. Cả phòng họp lại im lặng như tờ.

Rồi ông chỉ cây thước vào lưng chừng phía Đông của ngọn đồi trên bản đồ, tiết lộ một bí mật bất ngờ:

-Vào khoảng giữa trưa hay tùy theo tình hình cho phép, tôi sẽ cho thằng 45 Trinh sát nhảy vào đây, ngay chỗ này này. Từ trên cao, chúng nó sẽ đánh xuống, vòng ra hai bên để bắt tay với anh một và hai.

Cả phòng họp im lặng đến rợn người. Biết ngày mà, trong quân đội, hễ có chút vinh quang thì thế nào cũng có một cú “chết người” như vậy kèm theo.

-Tiểu đoàn một và tiểu đoàn hai phải ráng làm cho đẹp. Mấy thằng nhỏ trinh sát của tôi đánh thọc xuống mà không gặp được các anh để bắt tay thì hết đường quay lui…

Trí liếc mắt nhìn qua bàn ông trung úy An, thấy gã vẫn ngồi yên, bình thản.

Ông trung tá xoay người, bước vài bước tới trước, thảy cây thước trên bàn thuyết trình rồi hỏi:

-Những chi tiết nhỏ khác, anh em có thể liên lạc và phối hợp với ban 3 Trung đoàn để giải quyết. Có ai thắc mắc gì không?

Một ông tiểu đoàn trưởng bộ binh dơ tay lên liền.

-Mời anh.

-Thưa trung tá, trung tá vừa nói tiền oanh kích, xin trung tá cho biết sẽ có bao nhiêu phi tuần và sẽ đánh vào đâu?

Một nụ cười gượng hiện ra trên khuôn mặt ông trung tá. Hình như ông biết câu hỏi này sẽ được hỏi, và ông thì không muốn trả lời.

-Phòng không trợ Sư đoàn cho tôi biết chúng ta sẽ có hai phi tuần A-1 sẽ làm việc với chúng ta. Một phi tuần tiền oanh kích và một phi tuần đánh yểm trợ tiếp cận.

-Vậy là chỉ có một phi tuần A-1 tiền oanh kích?

-Đúng, một phi tuần A-1.

Lần đầu tiên kể từ khi bước vào đây, Trí nghe được những tiếng xì xầm to nhỏ.

Trả lời xong câu này, ông trung đoàn trưởng thấy nhói trong tim. Rừng núi tam biên dày đặc, chúng nó lại có công sự phòng thủ vững chắc, hai chục phi tuần còn chưa thấy thấm thía vào đâu thì hai phi tuần nghĩa lý gì? Lính của ông làm sao đánh giặc nổi? Ông lại nhớ đến những ngày còn quân đội Đồng Minh yểm trợ. Chỉ cần nhắc cái điện thoại lên thì nào là “F-4”, “F-111” đủ thứ “F” bay trên trời, thậm chí nếu muốn có cả B-52 cũng được. Nhưng tình thế bây giờ đã khác rồi.

Ông trung tá gõ nhè nhẹ ngón tay vào bục thuyết trình. Chờ cho phòng họp lại trở lại yên lặng, ông tiếp:

-Các anh em có nhớ khi bắt đầu buổi họp, tôi có nói là tôi có vào lời muốn tâm tình với anh em Không Quân?

Ông dừng lại một chút rồi tiếp tục:

-Lời tâm tình rất chân thật của tôi với anh em Không Quân là: Mong anh em ráng giúp chúng tôi. Anh em biết pháo của ta bắn không xa bằng pháo địch, chúng ta lại không được chọn chiến trường. Vậy, sự chiến thắng tùy thuộc rất nhiều vào các anh em Không Quân. Nếu anh em cố gắng giúp, chúng tôi sẽ tiết kiệm được rất nhiều xương máu của binh sĩ tôi, bằng không, chúng tôi vẫn đánh được chúng nó, nhưng cái giá của chiến thắng có thể sẽ rất mắc…

Đi họp hành quân đã bao lần, Trí chưa bao giờ nghe được một lời nói thống thiết của một vị chỉ huy như ngày hôm nay. Trí nhìn lên bục chỉ huy. Chàng cảm thấy khâm phục hơn khi nhận ra vẻ bơ phờ mệt mỏi của ông trung đoàn trưởng trẻ tuổi. Mắt ông quầng sâu vì thiếu ngủ, áo quần nhăn nhó dính đầy bụi đỏ cao nguyên.

Ông kết luận:

-Nếu không còn gì, anh em có thể ra về liền bây giờ để chuẩn bị cuộc hành quân. Mong anh em hiểu rõ những gì tôi nói. 18 giờ ngày mốt, chính tôi sẽ có mặt trên đỉnh ngọn 982. Cám ơn tất cả các anh em.

Từng người một, họ từ từ rời phòng họp, không ai nói với ai một câu nào. Ngay cả những cái bắt tay thông thường cũng không có. Trí đón được trung úy An khi hắn vừa leo lên xe díp:

-Tôi thấy anh quen quen.

An cũng nói:

-Tôi thấy đại úy cũng quen quen…. Đúng rồi, phải hồi xưa đại úy học La San Tabert không?

Trí cười hớn hở:

-Tôi nhớ ra rồi, anh học Lasan Tabert sau tôi hai lớp phải không?

-Dạ phải. Đại úy hay lái chiếc Vélo Solex đen. Ngày đại úy tình nguyện đi lính Không Quân, cả trường đều biết…

-Gọi tôi là anh đi, đại úy mẹ gì… Có rảnh không, mình ghé vào câu lạc bộ này làm một ly cà phê?

-Dạ rảnh thì không nhưng với đại úy thì được.

-Đại úy mẹ gì, mình học chung trường, gọi anh em cho tiện.

Trí quay lui kêu mấy người bạn mình về trước rồi cùng An bước vào câu lạc bộ. Khi người hầu bàn xuất hiện, thay vì gọi cà phê, Trí dơ 2 ngón tay:

-Cho hai chai 33 đi “cưng”…

Hai người nói đủ chuyện đời xưa của tuổi học trò yêu dấu. Trí hỏi:

-Ông tình nguyên đi lính à?

-Dạ không… Ngu gì. Em thi rớt tú II hai lần, bị lọt sổ phong trần.

Trí uống một ngụm bia:

-Ông làm gì mà trung đoàn trưởng để ý dữ vậy? Vài hôm nữa được thay lon là cái chắc.

An lắc đầu, cười:

-May mắn thôi anh. Ông này hồi trước là tiểu đoàn trưởng của em. Năm 72, tiểu đoàn bị chúng nó vây kín ở Võ Định, tưởng tan hàng rồi. Tối đó, ổng dụ em: “Đù mẹ đàng nào cũng chết. Tụi nó vây mình mấy ngày nay rồi, đang chắc ăn như bắp. Tối nay chú mày bất ngờ dắt lính đột kích thẳng vào bộ chỉ huy chúng nó. Không xanh cỏ thì thế nào cũng đỏ ngực. Tao sẽ thừa cơ đánh thốc ra, mình có hy vọng dọt về…”

Nghe như chuyện thời tam quốc. Trí hỏi:

-Rồi có đỏ ngực được không?

-Không nhưng tụi em đánh một trận ra gì, phá tan nát bộ chỉ huy của chúng nó. Tiểu đoàn thoát về được gần hết… Ổng lên nắm trung đoàn là giao trinh sát cho em liền.

-Làm ăn gì được chưa?

An mồi điếu thuốc, lý luận:

-Đại đội còn nhiều lính mới quá. Người cũ chết hết rồi. Từ sĩ quan xuống tới lính, ông nào thâm niên nhất là 6 tháng chiến trường. Cần phải huấn luyện nhiều thì mới đánh giặc tới được.

-Bây giờ sẵn sàng chưa? Đủ khả năng để từ trên đánh thốc xuống chưa?

-Nói sẵn sàng thì chẳng bao giờ được như ý mình cả, nhưng cũng tạm được. Nhưng em có thể bảo đảm với anh là trận này mình nhất định thắng.

-Chắc ăn vậy? -Có gì đâu, ông trung đoàn trưởng đánh “xa luân chiến”, đem mấy tiểu đoàn thay phiên nhau quần chúng nó cả tháng nay rồi, bây giờ xông vô dứt điểm làm sao chúng nó chịu nổi?

Trí uống cạn ly bia, tính kêu thêm thì nghe tiếng gọi tên mình. Tưởng ai, té ra thiếu tá Quân, người bạn thân trong phi đoàn đang lù lù bước vào. Ông tướng này từ ngày đeo lon thiếu tá làm việc gì cũng có vẻ nghiêm trọng như… đi hỏi vợ.

-Bố Trí, tụi tôi kiếm bố mãi.

-Kiếm làm gì, ngồi xuống đây làm một ly đã.

Quân lắc đầu, giọng có vẻ nghiêm trọng, pha lẫn một chút buồn phiền:

-Phi đoàn trưởng kêu về họp liền, có chuyện không hay rồi.

Nhìn sắc mặt và lời nói, Trí biết Quân không đùa. Chàng gọi bồi tính tiền nhưng An cản lại:

-Anh để đó cho em.

Khỏi cần khách sáo từ chối, Trí đứng lên ngay, xiết chặt tay An:

-Chúc ông may mắn. Ngày mốt tôi sẽ cố gắng đánh thật đẹp cho ông.

-Cám ơn anh. Anh ráng đánh cho đẹp giùm. Chỉ sợ trực thăng đáp không được. Nếu chạm được đôi bốt đờ sô xuống đất, con cái sẽ làm đẹp.

-O.K. Hẹn lúc khác mình gặp lại.

Ngồi bên phải chiếc pick up do Quân lái, Trí hỏi dồn dập:

-Có chuyện gì mà gấp vậy mày, lâu lâu gặp lại một người bạn học cũ mà mày cũng không cho tụi tao có thì giờ uống với nhau vài chai bia.

Quân im lặng. Trí biết xưa nay ông phi công này là một người có tật ham đấu. Chuyện gì cũng vậy, chưa ai hỏi là đã mở miệng ra bô bô lên rồi. Vậy mà hôm nay hắn câm như thế thì nhất định là có chuyện rồi, mà phải là chuyện lớn chứ chẳng chơi. Trí thắc mắc:

-Có việc gì thế? Hay có thằng nào mới rớt tàu?

Quân vẫn im lìm không nói gì. Quái lạ, phi đoàn lâu lâu cũng có đứa “đi không ai tìm xác rơi” mà Quân đâu có phản ứng kỳ cục vậy? Vào phi trường, Trí nhìn thấy những chiếc khu trục A1 nằm im lìm thành từng dẫy. Dưới trời chiều cao nguyên đang tắt nắng, coi chúng oai hùng như những con mãnh hổ đang nằm thiêm thiếp ngủ sau một ngày chiến đấu oanh liệt.

Tự nhiên, Trí để ý thấy hai hàng nước mắt ứa ra từ đôi mắt Quân. Quen biết Quân từ bao nhiêu lâu, chàng biết bạn không phải là hạng mau nước mắt. Ngày thằng Sanh, bạn thân nhất của Quân bị SA-7 bắn nổ tung giữa trời, hắn đã không khóc. Nhất định phải có chuyện lớn rồi. Đù mẹ bạn bè với nhau từ đời nào, có cái gì không biết mà lại giấu kỹ vậy. Trí bực tức, gầm lên:

-Có chuyện gì? Đù mẹ có chuyện gì thì nói mẹ nó ra, sao mày cứ giấu tao. Đù mẹ lớn hết rồi, đủ sức lái tàu bay đánh giặc thì đủ can đảm để nghe bất cứ nguồn tin nào dù nó bi thảm đến đâu. Mày nói đi, thằng nào vừa chết?

Quân thắng xe, quẹo vào bờ cỏ rồi tắt máy. Vẫn không thèm nói năng gì, chàng leo xuống, bước từng bước một tới phía hàng rào, đứng nhìn vào bãi đậu có những chiếc khu trục A-1 của phi đoàn. Trí lắc đầu, mở cửa phóng xuống theo.

Đứng bên cạnh Trí nơi hàng rào, Quân lắc đầu nói:

-Chẳng có đứa nào trong phi đoàn mình chết cả…

Rồi chàng đưa tay chỉ vào những chiếc tàu bay, giọng nói thẩn thờ như người mất hồn:

-Đúng ra, tất cả những con chim kia đều sắp chết hết. Chúng nó đều sắp sửa bị bức tử hàng loạt, chỉ trong vòng vài ngày thôi.

Trí kinh hoảng:

-Mày nói gì? Ai giết chúng nó? Không có nó thì mình làm sao sống được?

Lần này thì hai hàng nước mắt Quân xuất hiện rõ ràng trên gò má:

-Bộ tư lệnh vừa đánh điện ra, cho lệnh ground hết tất cả phi cơ của phi đoàn mình.

Trí gầm lên, phẫn nộ:

-Ground, ground, đù mẹ lệnh lạc c… gì mà ngu vậy? Chúng nó vừa mở một loạt các cuộc tổng tấn công ở khắp nơi. Tại sao lại ground?

Giọng Quân lạc đi, chua xót và buồn thảm:

-Đơn giản lắm: Hết xăng và không có phụ tùng thay thế. Không ground thì cũng chẳng kiếm đâu ra xăng mà bay. Chính phủ không còn đủ xăng cho khu trục cơ A1 nữa. Phi vụ của mày là phi vụ cuối cùng. Sau đó, A-37 sẽ bao vùng. Chúng nó xài Jet Fuel, nên còn nhiều…

Không còn gì để cãi nữa. Trí đưa hai tay bưng lấy mặt. Cái tin này quả kinh khủng hơn chàng nghĩ. Có sống đến một ngàn năm nữa, Trí vẫn không tưởng tượng được chuyện này sẽ xảy ra. Dù từ ngày hiệp ước ngưng bắn ký, Trí đã biết tiếp liệu của quân đội bị cắt rất nhiều. Tàu bay hư không có cơ phận thay thế, phải lấy từ chiếc này để sửa chiếc khác. Bom đạn nếu không đánh được thì phải đem về mà đáp. Nhưng ai có thể ngờ được lại có một ngày như hôm nay. Ngay đến cả xăng cũng không còn.

Trí hỏi Quân, lần này thì chính giọng của chàng lạc đi:

-Mày nói thật, mày không đùa giai với tao đấy hả Quân?

Quân không trả lời nhưng Trí cũng biết là bạn mình không đùa. Ai thèm đùa cái chuyện đau thương như vầy. Chàng hỏi để mà hỏi, buồn quá mà hỏi. Chẳng cần nghe trả lời.

Hai người phi công khu trục đứng yên lặng bên nhau cạnh hàng rào, nhìn đăm đăm vào nơi bãi đậu phi cơ. Dưới những tia nắng yếu ớt của trời chiều cao nguyên, đoàn khu trục cơ A-1 vẫn nằm im lặng lẽ. Lặng lẽ nhưng cao cả và oai hùng như những con cọp già trở về hang mình nằm yên chờ chết sau một đời tung hoành ngang dọc…

Trí thấy đôi mắt mình ngứa ngứa, chàng đưa tay lên chùi theo phản ứng và nhận ra là mặt mình đã đầm đìa nước mắt…

Cả hai người đứng đó thẫn thờ nhìn vào đàn chim sắt và đốt thuốc lá liên miên cho đến khi mặt trời lặn, phi trường lên đèn. Cuối cùng, Trí hỏi:

-Mày kêu tao về họp cũng chỉ để nghe chuyện này thôi phải không?

-Ờ. Nhưng giờ này thì họp hành gì nữa, trễ rồi.

Trí quay lại nhìn Quân, giọng chắc nịch:

-Vậy thì đi. Đù mẹ đi. Mày đi với tao ra phố, tao cầm cái đồng hồ rồi hai đứa mình kiếm một chỗ nào ngồi uống rượu tới sáng để ghi nhớ ngày đại tang của mấy con chim sắt yêu quí này.

-Sáng mốt, tao và mày sẽ dẫn hai phi tuần đánh 2 phi vụ cuối cùng…

Hai người trở lại, leo lên chiếc pick-up. Lần này Trí lái. Chàng sang số nhấn ga, miệng vẫn còn lẩm bẩm:

-Phi vụ cuối cùng…



**********

Sáng ngày N, ngày tấn công đồi 982, Trí thức dậy vào lúc 5 giờ. Tối qua, chàng thức đến 3 giờ sáng để biên lá thư gởi cho Trang, người yêu của Trí. Trí có một thói quen đáng yêu là những khi gặp chuyện buồn bực, chàng hay lấy giấy bút ra để biên thư tâm sự cho người yêu. Mỗi lần gởi lá thư đi, Trí cảm thấy tâm hồn nhẹ nhỏm thư thái. Tối qua, Trí viết thư cho Trang như sau:

Pleiku ngày 24 tháng 10 năm 1974

Trang yêu dấu,

Nhận được thư anh, chắc thế nào em cũng nhăn mặt nói: “Mon petit prince lại có tâm sự u uẩn rồi đây…” Không, lần nay em trật lất. Chiều nay biên thư cho em, anh chẳng có tâm sự gì u uẩn cả mà chỉ có một tin buồn muốn nói cho em biết. Nghe xong, anh cấm Trang không được khóc, không được than vãn gì cả vì phần số nước mình nó như vậy rồi em ạ.

Em biết là anh mê nghiệp bay bổng như thế nào rồi. Anh mê lái tàu bay như người nghiện á phiện nhớ thuốc. Đối với anh, đời anh, kể từ ngày anh được đeo cánh, anh chỉ biết có một cách sống. Đó là sống ngang dọc trên trời, trong không gian bát ngát, với mây ngàn gió lộng…

Nhưng, khốn nạn thay, tất cả những chuyện đó sắp hết rồi Trang ơi. Bộ tư lệnh vừa ra lệnh ground tất cả các phi cơ của phi đoàn anh lại. Tại sao em biết không? Vì một lý do mà có sống đến ngàn năm anh cũng không thể nào ngờ được: Mình không còn loại xăng đó cho phi cơ nữa.

Nhưng em đừng vội sợ cho anh thất nghiệp. Quân đội không bao giờ để cho những phi công như bọn anh ngồi chơi xơi nước. Bọn anh sẽ được thuyên chuyển qua các phi đoàn khác để bay A-37, loại phi cơ phản lực mà anh thường gọi là “tàu bay con rệp” vì nó có hình dáng giống con rệp.

Chắc em sẽ thắc mắc, tàu bay gì cũng là tàu bay, sao lại u buồn quá sức như vậy?

Trang yêu dấu,

Em chưa bao giờ lái tàu bay, nên em chắc sẽ không thể hiểu được sự ràng buộc kỳ lạ giữa con người và chiếc phi cơ mình đang lái. Mỗi lần cất cánh đem tàu lên cao giữa không gian bát ngát, với mây ngàn và gió lộng, anh luôn luôn coi chiếc phi cơ của anh là một con thiên mã mà anh là người chiến sĩ cỡi nó. Nó đã gần gũi anh suốt bao nhiêu năm qua, đã cùng anh xông pha khắp nơi trong cõi sơn hà, đã chia sẻ với anh từng hòn tên mũi đạn, đã đem vinh quang đến cho anh khi chiến thắng, cũng như đã cùng anh nghẹn ngào xót thương khi nhìn thấy bạn mình tan nát giữa trời…

Anh nhớ mãi một lần, sau trận yểm trợ tiếp cận đồn Dakto, con thiên mã bị bắn rách bươm. Nó khục khặc, nó ho ra khói, nó mửa ra dầu nhớt văng đầy cả kính tàu bay. Vậy mà, dù sắp chết, nó vẫn gượng hết sức tàn để khập khểnh đưa anh về bến đậu. Em biết không, khi anh leo xuống tàu, nhìn thấy thân thể nó rách tươm, thịt da nát nhừ từng chỗ mà cảm giác như chính người mình bị ai dày xéo hành hạ. Lớn nhỏ gần một trăm lỗ đạn, chắc gì ai sẽ vá nổi. Và anh đã ngậm ngùi khi biết người ta quyết định đưa nó vào ụ phế thải để chết già ở đó…

Sáng ngày mai, anh sẽ cỡi con thiên mã yêu dấu của anh một lần cuối cùng. Sau đó, người ta sẽ leo lên bịt mắt nó lại, lấy vải phủ kín thân người nó như người ta tẩm liệm những xác chết. Anh còn nhớ, khi làm lễ đón nhận nó từ tay những người bạn Hoa Kỳ, chúng ta đã mở party, đã khui sâm banh, đã đọc diễn văn diễn từ rất là long trọng. Bây giờ, sau bao nhiêu năm góp công sức để gìn giữ và phục vụ tổ quốc chúng ta, chúng ta chôn sống chúng đồng loạt mà không thổi được một hồi kèn đưa linh… Riêng anh, ngày mai đi bay về, anh sẽ đốt cho chúng nó vài cây nhang rồi cắm trong phòng lái. Người Việt Nam mình vốn trọng lễ nghĩa tình cảm mà em, anh không thể bạc như thế được.

Trang,

Cổ truyện có nhiều điển tích mà khi còn bé anh không thể nào hiểu nổi, như chuyện Chung Bá Nha và Trương Tử Kỳ. Chắc em còn nhớ chuyện này. Bá Nha đánh đờn hay, và Tử Kỳ thì biết nghe đờn nên hai người trở thành tương đắc. Một ngày, Bá Nha nghe tin Tử Kỳ chết, ông liền đập cây đờn liệng đi và từ đó về sau chẳng bao giờ rờ tới đờn nữa. Hồi còn đi học, anh luôn luôn cho rằng là Chung Bá Nha đã quá “quân tử tàu”. Chiều hôm kia, khi đứng với anh Quân nơi hàng rào để ngắm nhìn những chiếc khu trục sắp sửa bị bức tử, anh đã thấm thiá hiểu được tâm trạng đau khổ của Chung Bá Nha ngày nào. Và, Trang ơi, có lẽ em không thể nào hiểu nổi nhưng anh lại đang có một tâm trạng như Chung Bá Nha ngày xưa vậy. Nếu không lái được A-1, anh có lẽ sẽ chẳng bao giờ thèm lái một thứ tàu bay nào khác nữa. Có lẽ anh sẽ xin xuống đất để chôn đời mình trong bốn bức tường, treo một chiếc áo bay đen trong văn phòng để cho thiên hạ biết là ta đây cũng đã một thời “cỡi gió lướt mây” như ai, và sống bình dị âm thầm như những anh công chức nhà binh khác. Hoặc anh sẽ xin ra bộ binh, hay, khốn nạn hơn, anh sẽ đào ngũ…

Nói vậy thôi nhưng anh biết nỗi buồn nào cũng qua đi, nỗi nhớ thương nào rồi cũng theo thời gian mà âm thầm chìm xuống, kể cả sự mất mát này. Anh không viết lá thư này chỉ để nói bấy nhiêu. Điều làm anh lo sợ đến mất ăn mất ngủ là, Trang ơi, nếu ngày hôm nay chúng ta không có đủ xăng cho phi cơ A-1 thì ai dám chắc rằng ngày mai chúng ta sẽ còn đủ xăng cho phi cơ A-37? Anh theo dõi báo chí hằng ngày và mơ hồ cảm thấy một ngày như vậy sẽ xảy ra. Chỉ cần nghĩ đến đó là anh thấy lạnh mình. Anh muốn nhấn mạnh một lần nữa cho em hiểu là anh như mơ hồ nhìn thấy một chuyện gì đại bất hạnh sẽ xảy ra cho đất nước mình. Anh thấy như vậy.

Bây giờ là 1 một giờ sáng. Chỉ còn vài tiếng đồng hồ nữa là anh lên yên ngựa để rong đuổi nơi cõi trời thênh thang lần cuối cùng với con thiên mã yêu dấu của anh. Anh thường nói với em, đời anh, anh chỉ biết một cách sống. Anh hiểu, khi anh đem tàu trở về đáp, đời anh sẽ chẳng còn bao giờ như xưa nữa. Sau ngày mai, cả em nữa, chúng mình phải bắt đầu học lại từ đầu để sống một cách khác… Một cách sống khác mà chúng ta chưa bao giờ biết tới, chưa bao giờ nghĩ đến…

Trước khi dừng bút, Trang này, anh có bao giờ nói là anh yêu em chưa nhỉ? Anh quên rồi. Nếu chưa, cho phép anh tâm tình là “Anh yêu em từ lúc mới gặp em”. Còn nếu đã, thì cho anh nói thêm là, anh chưa bao giờ thấy mình cô đơn và cần em như sáng hôm nay…

Bức hình em tặng hồi tết, anh để trong bóp, nằm ngay trong túi áo bay bên trái, sát ngay trái tim anh.

Yêu em,

Trần anh Trí

Đọc lại lá thư thêm một lần nữa, Trí bỏ vào phong bì rồi dán lại, viết địa chỉ lên. Vừa cất lá thư vào túi, Trí chợt nhớ đến một điều gì, liền phóng như bay chạy ra ngoài nhìn lên trời. Hãy còn tối mịt, chưa thấy gì cả. Trí chỉ sợ thời tiết xấu, phi vụ bị trì hoãn thì coi như không cất cánh phi vụ cuối cùng được. Đúng hơn, Trí sợ người ta cúp luôn cái phi vụ cuối cùng của chàng. Thời buổi này, lệnh lạc ra rất bất ngờ, bất cứ chuyện gì cũng có thể thay đổi.

Trí là người có mặt đầu tiên trong phi đoàn. Ông thiếu úy sĩ quan trực đêm còn đang nằm ngủ ngáy khò khò trên đi văng, cây P-38 để dưới tấm nệm lòi cán ra ngoài làm như đang ở trong rừng vậy. Những anh chàng thiếu úy sữa mới về phi đoàn luôn luôn là như vậy. Thích mặc áo bay đi tán gái, thích đeo súng trệ trệ như Dăng Gô trong phim cao bồi và vô tư yêu đời một cách hồn nhiên, chân thật. Trí lắc đầu cười và nhớ lại lúc chàng mới ra trường, cũng trực phi đoàn và cũng nằm ngủ như vậy ban đêm. Chàng bỏ lá thư vào hộp thư, nhẹ nhàng đánh thức sĩ quan trực dậy rồi gọi điện thoại lên phòng khí tượng để xin tiên đoán thời tiết trong ngày.

Tốt. Trời hôm nay tương đối khá, tuy buổi sáng có mây broken ở khoảng 8000 bộ. Trí trao đổi vài câu nói bâng quơ với người sĩ quan trực rồi lặng lẽ qua phòng locker để trang bị phi hành.

Vừa xách nón ra khỏi phi đoàn, nhìn thấy một dàn phi cơ A-1 nằm im lìm dưới ánh đèn của bến đậu, Trí lại thấy nhói trong tim. Dù đã chuẩn bị trước, tâm hồn Trí vẫn không tránh khỏi những thổn thức.

Sinh hoạt của phi đạo hôm nay cũng có một vẻ buồn thảm lạ lùng. Không khí tang tóc như bao trùm cả không gian. Những người cơ khí viên xưa nay ưa cười ưa nói vậy mà bây giờ mặt mày ai nấy cũng thấy ủ rủ. Ủ rủ đến độ Trí phải bắt chuyện với họ để kiếm vài nụ cười.

Trí leo cánh con tàu được cắt cho chàng bay ngày hôm nay: chiếc NB 167. N-B tức November-Bravo, đọc theo âm thoại truyền tin của hàng không thế giới, hay “Non Nước-Bắc Bình” theo âm thoại của QLVNCH. Trí vừa đẩy kiếng cokpit ra sau vừa lẩm bẩm: “Non Nước Bắc Bình, Non Nước Bắc Bình…”

Mặt trời rồi cũng từ từ ló lên ở đằng xa. Trí chầm chậm làm các phương thức tiền phi của người phi công trước khi cất cánh. Chàng làm việc chậm rải và trịnh trọng như ông linh mục thi hành các nghi lễ thờ phượng ở trong nhà thờ.

Kiểm soát trong phòng lái xong, Trí leo ra, đứng trên chiếc cánh đầy dầu mỡ của chiếc phi cơ, nhìn lên những cao độ chập chùng của dãy Trường Sơn mờ mờ sau làn sương mỏng. Núi non hùng vĩ như thế này, giang sơn cẩm tú như thế này mà biết chừng nào mới được gặp lại? Gió cao nguyên buổi sớm thổi phần phật vào chiếc khăn quàng cổ màu trắng của chàng…

Trí leo xuống tàu, đánh một vòng thật chậm chung quanh để kiểm soát tiền phi. Chàng gõ gõ vào thân tàu mà cảm thấy như mình đang vỗ vào lưng một người bạn già thân thiết. Càng vỗ thì lòng càng thấy dâng lên một niềm nhớ thương và tiếc nuối vô vàn. Rồi không cầm được, nước mắt Trí tự nhiên ứa ra. Ôi, hỡi con tàu vô tri giác, không biết ngươi có linh hồn hay không mà sao làm cho lòng ta sao xuyến quá đỗi. Trí có cảm giác như mình là người nông phu cần mẫn vì túng quẫn đành phải đem con trâu yêu quí nhất đời ra chợ bán. Trí vuốt ve thân tàu, nghẹn ngào tâm sự: “Người bạn già thân thiết, người bạn đã cùng tôi sống qua một quãng đời, tôi biết nói gì để diễn tả hết tâm trạng của tôi cho bạn hiểu? Bạn là sản phẩm của một nền văn minh giàu mạnh, một quốc gia phú cường bậc nhất thế giới. Còn tôi, một “anh lính” của một nước nghèo. Bạn đã đến đây từ một chân trời xa lạ và chúng ta đã trở thành một đôi bạn thân khắng khít. Bạn và tôi, chúng ta đã cùng nhau chia sẻ những giây phút vinh quanh cũng như những khoảnh khắc u buồn để làm hết bổn phận mình, đã cùng nhau chia ngọt sẻ bùi qua bao nhiêu ngày tháng. Tôi biết rằng trước sau gì chúng mình sẽ có ngày chia tay nhau nhưng không ngờ lại trong một hoàn cảnh như thế này. Sau chuyến bay này, người ta sẽ xếp cánh bạn, đẩy vào ụ để bạn chìm vào quên lãng…”

Trí đã ra đến đầu phi cơ, đưa tay cầm cánh quạt và ngước nhìn lên đầu máy như ngắm nhìn một kiệt tác bất hủ, một kỳ công tuyệt hảo của nhân loại: “Số phận bạn vậy, còn tôi chưa chắc đã hơn gì. Tôi cũng không biết ngày mai đời mình sẽ ra sao?”

Trí vuốt ve thân cánh quạt: “Thôi, dù sao thì cũng xin chúc bạn được yên nghỉ an bình. Sinh Ly Tử Biệt bạn ạ. Bạn đã làm xong bổn phận của mình. Còn tôi, bạn biết, vẫn còn trách nhiệm nặng nề của một người trai thời loạn. Tôi sẽ bay một loại phi cơ khác…”

Trí nhìn ra xa, nơi mặt trời vừa từ từ ló dạng đàng sau dãy Trường Sơn, giọng đanh lại: “Tôi sẽ chiến đấu đến giây phút cuối cùng để bảo vệ quê hương tôi. Nếu ngày nào đó, không còn điều kiện để bay nữa, tôi sẽ xuống đất cầm súng. Hoặc, ví dù có ngày chẳng còn súng đạn nữa, chúng tôi sẽ mài đá làm dao để bảo vệ mảnh đất thân yêu này…”



* * * *



Chừng mười lăm phút trước giờ phi tuần thứ nhất cất cánh, Trí, Quân, Dương và Hiển tụ tập chung quanh tấm bản đồ trải trên mặt đất. Quân bắt đầu phần briefing:

-Mấy ông biết hết mục tiêu rồi, ngọn đồi này đây, đánh nó cả ngàn lần rồi, còn lạ gì nữa. L-19 sẽ cho biết đích xác đánh chỗ nào. Thời tiết sáng nay tương đối tốt, có một ít mây broken ở khoảng 8 ngàn bộ. Mình sẽ piqué từ trên 8000. Quân báo cho biết phòng không của chúng nó rất dữ dội, đan kín bầu trời. Ngoài hoả tiễn tầm nhiệt SA -7, lần đầu tiên họ ghi nhận có đại bác phòng không 100 ly bắn bằng Ra Đa. Súng này bắn cả B-52 cũng rớt chứ nói gì khu trục mình. Anh em nên cẩn thận, có gì thay đổi L-19 sẽ thông báo thêm. Có ai hỏi gì không?

Ngừng một chút, Quân nhìn Trí tiếp:

-Tôi và Hiển sẽ bay phi tuần đầu, đánh tiền oanh kích. Ông Trí và ông Dương bay phi tuần thứ hai đánh yểm trợ tiếp cận. Còn ai có ý kiến gì không?

Bốn năm cái đầu… phi công cùng cúi xuống im lìm, không ai nói với ai một lời nào. Quân chép miệng than:

-Phi vụ cuối cùng trước khi gói tàu bay lại trả cho chính phủ… Đù mẹ chúng nó đặt súng dầy đặc như rừng để chờ mình vào mà tập bắn, bom thì chỉ có mấy trái 500 cân và quân ta thì nhất định lấy cho được ngọn đồi này… Rắc rối quá, lần cuối cùng, mấy ông cố gắng đánh cho đẹp một phát để… làm kỷ niệm. Vài hôm nữa muốn chụp một tấm hình đứng cười nhe răng dưới chân chiếc A-1 chưa chắc đã có mà chụp.

Họp xong, Quân và Hiển lững thững xách nón bay ra phi cơ. Trí hỏi trung uý Dương, người phi tuần viên của chàng:

-Còn lâu mới tới phiên mình, ông cà phê cà pháo gì chưa?

-Dạ rồi.

-Rồi thì uống thêm một ly cũng chả chết thằng Tây nào, ông vào đây tôi mời ông một ly…

Hai người sóng bước vào căn nhà nhỏ dùng làm nơi làm việc của anh em phi đạo. Tại đây, bên cạnh chiếc bàn dài có một bộ domino và vài bộ cờ tướng, một anh thợ máy nào đó đã nẩy ra sáng kiến kê cái bình cà phê bí tất lớn cỡ… 15 lít. Cà phê đen được bán với giá 25 đồng một ly. Ai muốn uống sữa, xin chi thêm 5 đồng. Rẻ chán và uống rất ngon. Trí có hơi thắc mắc là từ khi về phi đoàn đến giờ, chàng chưa bao giờ nhìn thấy người ta lôi cái bít tất ra thay. Phi công khu trục vốn là những người ít thắc mắc những chuyện lặt vặt nên không ai để ý. Miễn cà phê uống ngon và có tí mùi… cà phê là được.

Trí mua cho Dương một ly cà phê. Hai người thả bộ ra sân bay, ngồi trên mặt đất ngó mông lung ra phi trường. Xa xa, hình ảnh của hai chiếc A-1 nối đuôi nhau tà tà ra phi đạo. Chong chóng đánh từng vòng đều đặn chậm rải, con tàu run lên nhẹ nhàng sau làn khói xanh của động cơ.

Trí lại thấy nhói trong tim. Chàng hỏi Dương:

-Ông có biết là sau phi vụ này mình sẽ xếp cánh mấy chiếc Skyraider lại không?

-Dạ biết.

Rồi cả hai bỗng im lặng như vừa cắn phải một trái đắng không thể nào nuốt nỗi. Trí cắn răng che dấu một nỗi nghẹn ngào vừa xông lên. Suốt từ khi được tin phi đoàn sẽ ground mấy chiếc phi cơ, tâm hồn chàng đâm ra thờ thẫn như người vừa bị mất mát một cái gì to lớn lắm. Chàng hỏi Dương:

-Thất nghiệp, ông tính làm gì?

Dương dụi điếu thuốc lá:

-Em tốt nghiệp trường bộ binh Thủ Đức, có bằng trung đội trưởng bộ binh. Nếu không đánh nhau trên trời được thì mình đánh nhau dưới đất…

-Ông thấy rồi tương lai đất nước mình sẽ như thế nào?

-Đen tối quá. Tụi Mỹ đã phủi được bàn tay của họ. Quốc hội Hoa Kỳ càng ngày càng siết chặt cái vòng viện trợ quanh cổ mình. Nước mình bây giờ như một con bệnh bị xuất huyết trầm trọng, đang nằm chờ tử thần. Cái bi kịch đau đớn nhất của mình là biết rằng trước sau gì cũng chết mà không ai đủ sáng suốt và can đảm tự tìm lấy cho mình một con đường nào để tự giải thoát…

Trí cảm thấy hơi ngạc nhiên về những nhận định của ông trung úy trẻ tuổi:

-Theo ông, mình sẽ tự giải thoát được bằng cách nào?

-Có gì khó đâu, đằng nào cũng chết, mình đem hết lực lượng đổ ra miền Bắc sống mái với chúng nó một trận “trời sầu đất thảm.” Mày đốt nhà tao thì tao đốt nhà mày, nếu có chết thì cũng chết được một cái chết ra hồn, đỡ hơn chờ chúng nó đến cắt cổ…

-Còn yếu tố Mỹ…

Mắt Dương long lên, oán hận:

-Xin lỗi đại úy, đấm c… thằng Mỹ. Nó bắt mình chết, mình có quyền chọn lựa cách chết cho mình. Mình có quyền bắt hàng khối đứa đi theo…

Trí đã nhiều lần nghĩ đến chuyện này nhưng làm gì được? Mình chỉ là một đại úy phi công hạng bét. Nói lạng chạng không vừa ý chúng nó đì cho hộc máu. Chàng cười:

-Ông biết muốn chơi chúng nó, có cách nào làm chúng nó sợ nhất không?

-Cách nào?

-Chỉ có đem bom thả tận nhà chúng là chúng mới sợ. Mình cứ chờ vào ngày lễ lao động hay lễ quốc khánh, đúng lúc cha con chúng nó tập họp đầy đủ, lẳng lặng chất vài trái bom con heo lên C-130, bay tuốt ra Hà Nội, biến cái Bắc bộ phủ của chúng nó thành một cái hố bom khổng lồ thì có hoà bình liền chớ gì.

Dương khoái chí nhe răng cười, nhưng nghĩ ra điều gì, gã chặc lưỡi:

-Hay quá đại úy nhưng bom con heo của Mỹ, sức mấy mà nó đưa cho mình khơi khơi như vậy.

-Tôi đã nghĩ đến chuyện này, mình chế lấy cũng được. Có gì khó đâu, chỉ việc gom chừng vài chục trái bom 500 pound lại cột thành một chùm, tăng cường thêm chừng chục phuy xăng ở chung quanh, đóng chung chúng nó lại thành một thùng rồi mở cửa C-130 đẩy lên. Tới nơi cứ việc bung cửa ra mà cho nó rớt xuống. Bom con heo cũng nổ đến như vậy là hết cỡ…

-Ý kiến hay vậy mà sao không thấy mình áp dụng nhỉ?

Trí lắc đầu:

-Ông biết rồi. Lãnh đạo của mình là một bọn tham nhũng, hèn nhát và thụ động. Chúng nó đâu biết rằng chúng nó đang xé nát cái quê hương này ra hàng trăm mảnh…

Mắt Dương tự nhiên thoáng một tia nhìn bí ẩn:

-Vậy thì diệt chúng đi. Mình lái khu trục, mình làm được.

Trí nói nhỏ vào tai Dương:

-Nói nhỏ thôi, tai vách mạch rừng. Tôi đã nghĩ đến chuyện này rồi nhưng ông nghĩ coi, diệt nó đi thì biết ai đủ khả năng để lên thay thế? Ông không nhớ cái thời “Đông châu liệt quốc” ở Sài Gòn sau năm 1963 à?

Dương nhún vai, nhìn lên trời:

-Tôi nghĩ thời thế sẽ tạo được anh hùng đại úy. Có nhiều người muốn làm chuyện này mà không bao giờ có cơ hội. Mình lái khu trục, có bom đạn trong tay nếu không dám xả thân một lần thì sau nay chắc sẽ hối hận…

Trí vỗ vai Dương:

-Ông muốn “làm” thiệt không?

Dương nhìn thẳng vào mắt Trí:

-Một người biết mình sắp chết chẳng có gì để sợ cả.

-Nếu vậy thì tối nay qua barrack tôi, anh em mình bàn lại. Vài hôm nữa lái A-37 mình có nhiều cơ hội hơn…

Ngồi tán gẫu một lúc mà mặt trời lên cao lúc nào không hay. Quân đã dắt thằng em về đáp. Thân tàu loang lổ những lỗ đạn. Chàng nhìn đồng hồ rồi nói với Dương:

-Tới giờ cất cánh rồi ông, mình ra quay máy. Phi vụ cuối, ráng đánh cho đẹp.

Dương cười:

-Tôi đánh phi vụ này mà không đẹp thì nghỉ ăn lương chính phủ.

Trí trịnh trọng leo lên tàu, ngồi vào phòng lái. Chàng đeo đôi găng tay vào rồi run run nâng từng sợi dây an toàn, thắt vào người. Trí siết dây thật chặt, và càng chặt thì càng cảm thấy mình như gắn liền với con chim sắt yêu dấu này. Trí ra dấu cho người thợ máy dưới đất chuẩn bị rồi mở nút xăng, nhấn động cơ quay máy. Con chim sắt khổng lồ khục khặc cái đầu, run mình, cánh quạt quay uể oải vài vòng. Trí nói nhỏ:

-Ráng lên bạn, phi vụ này là “kỷ niệm cuối cùng của đôi ta”.

Chiếc khu trục bỗng thở ra một mớ khói đen rồi máy nổ lên dòn dã. Chong chóng đánh những vòng tròn đều đặn, “quí phái.”

Dù đã bay hàng ngàn phi vụ, mỗi lần nghe tiếng động cơ nổ lên ròn rã lòng Trí tự nhiên lại rộn lên một nổi niềm cảm khoái lâng lâng khó tả. Đó là âm thanh của niềm vui, của ngày xanh êm ái lúc nghe mẹ gọi tên để cho một món quà, của thuở học trò trắng tinh màu giấy khi nghe tên mình vừa trúng tuyển một kỳ thi, của tuổi đôi mươi chất ngất khi nghe một người con gái thì thầm kêu tên mình một cách bẽn lẽn. Những tiếng động cơ của máy móc vô tri giác mà sao nghe ấm cúng, thân thiện, hiền hoà. Một lần nữa, Trí lại tự hỏi rằng không biết chiếc phi cơ này có linh hồn hay không. Sao nó làm người ta xao xuyến quá đỗi…

Và ngàn lần như một, hễ chong chóng bắt đầu quay đều thì Trí liền biến thành một con người khác. Giống y như một cái radio đang khò khè bỗng được vặn vào trúng băng tần có đài phát thanh cực mạnh. Chàng thấy bình tĩnh, tự tin, lạc quan và thoải mái như một con người mới. Mọi ưu phiền, mọi khó khăn vụn vặt của kiếp người bỗng biến mất.

Đâu đây, xa thẳm trong đáy trái tim của Trí, hình như dậy lên bài hát “Xuất quân”.

“Này, bao hùng binh tiến lên, bờ cõi vang lừng câu quyết chiến…”

Hai bàn tay của Trí chuyển động mau lẹ, nhịp nhàng. Điều chỉnh máy, sửa lại đồng hồ, mở vô tuyến, check in với thằng hai.

-Pleiku đây Thái Dương 22, thử vô tuyến và xin chỉ thị di chuyển hai phi cơ A1-H.

-Thái Dương 22 đây Pleiku. Bạn di chuyển ra đầu phi đạo 26, gió êm, áp lực là 30.03.

Trí “Roger” rồi ra đưa hai tay trỏ lên trời. Hai người thợ máy dưới đất nhận được dấu hiệu, gỡ chèn bánh ra…

“Bước oai nghiêm theo tiếng súng đi tung hoành, quân Việt Nam đi hồn non nước xây thành…”

Chàng mớm nhẹ tay ga, con tàu ngoan ngoãn nhào tới. Trí đạp nhẹ thắng. “Từ từ, làm gì gấp vậy bạn hiền, trước sau gì mình cũng lên trời…”

Dương nối đuôi Trí đem phi cơ đến cuối cầu phi đạo, hai chiếc đậu xéo xéo bên nhau thử máy lần cuối cùng. Trí kéo cần lái vào người, đạp mạnh thắng, tống ga lên 1700 vòng phút. Con tàu rung chuyển và gầm lên dữ tợn như cọp rống. Gió đánh phần phật vào thân tàu, thổi rạp cả một bãi cỏ rộng phía sau. Tay chân Trí cử động nhịp nhàng theo từng động tác phải làm. Tốt, máy móc và tất cả mọi cơ phận trong phi cơ hoạt động hoàn hảo. Trí cười. Con chim sắt này ra đời khi đệ nhị thế chiến vừa chấm dứt, đến bây giờ tuổi hạc đã cao mà vẫn còn oai phong lẫm liệt không thua lão tướng Hoàng Trung thời Tam Quốc.

Thử máy xong, Trí quay đầu phi cơ vào núi, thòng hai tay ra ngoài phòng lái cho chuyên viên vũ khí được… an tâm tháo chốt an toàn. Buổi sáng hôm nay trời trong xanh và đẹp lạ thường trong không khí gây gây lạnh của những ngày tháng mười…

-Pleiku, Thái Dương 22 số một cuối đường bay xin ra phi đạo cất cánh hai phi cơ A1.

-Thái Dương 22 chấp thuận ra phi đạo, gió yên. Chúc bạn may mắn.

“Quân Việt Nam đi hồn non nước xây thành. Đi là đi chiến đấu, đi là đi chiến thắng, đi là mang mối thù thiên thu…“

Trí hạ cánh cản, đóng cửa phòng lái rồi mớm chút ga cho tàu ra so hàng nơi phi đạo. Dương lái chiếc thứ hai bám theo như một cái đuôi. Chờ cho số hai xếp hàng ngay ngắn, Trí quan sát phi cụ một lần chót rồi đẩy hết cần ga tới trước, lút cán. 2800 mã lực của sản phẩm cơ khí tuyệt hảo và vĩ đại được xử dụng tận lực, rống lên một tiếng gào khủng khiếp tưởng có thể xé nát không gian. Trí cảm thấy như máu tự nhiên chảy rần rần trong người chàng. Cánh quạt xoay tít như điên cuồng, ép gió thổi ra sau, biến hơi nước trong không khí thành những đường chỉ trắng chạy dài chung quanh. Chiếc phi cơ run lên, lồng lộn như con ngựa chứng.

Trí giữ cần lái và nhả thắng ra. Con chim sắt vĩ đại với cái bụng đầy ắp bom ào tới trước, hung hãn và dũng mãnh như một con bò mộng.

“Đi là đi chiến thắng, đi là đi chiến đấu, bước lên đây người Việt Nam…”

Hai chiếc phi cơ A-1H cùng bốc lên cao một lúc ở khoảng giữa phi đạo. Tiếng gầm thét của động cơ sáng hôm nay nghe như những gầm than thở oai oán của hai chú mãnh hổ biết mình chỉ được rong chơi lần cuối cùng. Trí nghiêng phi cơ rời vòng kiểm soát không lưu phi trường. Ôi, quê hương đất nước dưới cánh chiếc khu trục đẹp không làm sao nói được. Đồi núi chập chùng xanh biếc với những con sông con lạch nhỏ. Theo luật địa lý, đã có núi cao, thì phải có sông rộng đi kèm mới hoà hợp. Núi của dãy Trường Sơn quá cao, mà sông lạch thì ít, lại ngoằn ngèo đứt khúc nên chả trách gì lòng người có những ý chí phi thường nhưng hẹp hòi ít quảng đại, khó tha thứ. Hơn mấy chục năm chiến tranh chưa làm ai thấy mệt mỏi.

Trí leo lên 10 ngàn bộ, Dương bám sát phía sau. Trí rời tần số đài kiểm soát Pleiku sang đài kiểm báo Peacock. Giọng chàng ồ ồ vang vang:

-Peacock đây Thái Dương 22!

-Thái Dương 22 Peacock! nghe.

-Thái Dương 22, hai phi cơ A 1 -H, cất cánh được 5 phút lên làm việc với Sao Mai 10 ở toạ độ Zulu Papa …

-Roger! Sao mai 10 chờ bạn ở tần số 226.7

Rồi Peacock… im luôn, không thấy thông báo tác xạ pháo binh. Trí thấy nhói trong tim. Vậy là quân ta ngay đến đạn pháo binh cũng gần hết. Chàng nhớ ngày xưa,đánh lớn như thế này thì một đoạn đường từ Pleiku đến Dakto có ít những khoảng vài trăm khẩu pháo đặt khắp nơi gây thành một trận địa pháo như thiên la địa võng. Bây giờ mọi chuyện đã đổi khác. “Đánh giặc kiểu con nhà nghèo” là như vậy sao?

Đường đến điểm hẹn với cô Lan 19 bay không đến mười phút là tới nơi. Đang đấu loạn cào cào với mấy cánh quân dưới đất, nghe Trí lên, người phi công L-19 mừng rỡ:

-Thái Dương 22 đây Sao Mai 10.

-Nghe năm. Hai A 1-H, tám trái 500 pounds và hai… trái tim rực lửa căm thù.

Có tiếng cười hềnh hệch trong máy:

-Thái Dương nói nghe được. Phòng không của chúng nó dày đặc như thế này, không rực lửa thì nên về nhà mà ngủ cho nó được việc.

-O.K., chúng tôi đang ở phía bắc mục tiêu khoảng 10 ngàn, cho biết tình hình đi bạn.

-Tình hình đại khái như thế này: bộ binh xung phong lên hai lần mới mớm được một chút nơi chân đồi. Đù mẹ chưa kịp làm ăn gì thì pháo chúng nó đã lồng khung sẵn rớt tùm lum xuống quân mình.

Mình cũng phản pháo đẹp đáo để, hai bên đang đấu pháo loạn xị xà ngầu.

-Bây giờ bạn muốn tôi đánh đâu?

-Đánh đâu thì dễ quá, có khoảng vài trăm mục tiêu cho bạn đánh. Nhưng chuyện quan trọng nhất hiện giờ là tụi chuồn chuồn sắp vào để đổ thằng 45 trinh sát, kẹt một cái là cây phòng không 100 ly nằm trên đỉnh đồi. Từ trên đó, nó có thể quất sụm bất kỳ một hợp đoàn nào của mình.

Khỏi cần suy nghĩ lâu Trí cũng hiểu được sự thành công của lối đánh diều hâu táo bạo này tùy thuộc vào yếu tố… chuồn chuồn. Trực thăng không vào được thì lấy gì mà nhảy? Cũng không thể vào lần thứ hai vì yếu tố bất ngờ sẽ bị mất. Chúng nó sẽ gom súng trên đỉnh đồi chờ mình vào để tập bắn… tàu bay lên thẳng.

Trí đề nghị:

-Vậy bạn muốn đánh nó phải không?

-Biết còn phải hỏi. Bạn bứng giùm nó thì may ra hợp đoàn trực thăng mới vào được.

-Xong ngay. Vào cho trái khói đi bạn.

-Có ngay.

Trí lắc nhẹ cánh và hỏi Dương qua vô tuyến:

-Hai đây một.

-Nghe năm.

-Ông nghe Sao Mai nói rồi chớ gì, mình qua combat formation.

-Hai nhận rõ. Combat formation.

-Mình sẽ piqué ở 10 ngàn. Phòng không như thế này thì phải đánh 60 độ bank.

-Hai rõ.

Chiếc L-19 quẹo một vòng rất quí phái nhàn nhã rồi tự nhiên cắm đầu thẳng xuống từ 8 ngàn bộ. Nàng lắc lư thân mình rồi xịt ra một trái khói. Trí mỉm cười. Ông nội nào lái chiếc L-19 này chắc là có máu khu trục trong người. Bắn rất đẹp, gần ngay trên đỉnh ngọn đồi.

-Thái Dương 22 đây Sao Mai mười.

-Thấy trái khói rồi bạn.

-O.K. phía bắc trái khói khoảng 200 thước là cây phòng không 100 ly đó. Phòng không mạnh quá, bạn muốn đánh trục nào cũng được. Chúc bạn may mắn, coi chừng súng chúng nó đặt khắp mọi nơi.

Hình như Trí lại nghe được bài tiến quân văng vẳng trong nón bay:

“Cờ vang thay tiếng tiếng chân đang dồn dập xa xa, tiếng gào, thiết tha…”

Trí sửa lại đôi găng tay, mở nút bom, nói thật chậm vào máy vô tuyến:

-Số một Dô.

Trí nghiêng cánh, cắt ga. Con tàu rơi xuống gần như thẳng đứng. Ở khoảng 8 ngàn bộ hoa khói bắt đầu nở chung quanh tàu. Đù mẹ bắn gì… sớm vậy? Trí lẩm bẩm. Rõ là quân thừa đạn bắn vãi.

Trí tiếp tục cho tàu cắm xuống. Kia rồi, từ đàng xa, Trí nhận rõ được vị trí của ít nhất mười mấy cây phòng không. Tất cả đồng loạt nổ vang rền. Đù mẹ sao chúng nó lắm súng thế này. Những giây phút đối diện với tử thần thật là khủng khiếp. Thằng nào lái tàu bay mà nói coi phòng không giặc không ra gì là những thằng nói phét. Làm người, ai lại không sợ chết, tại sao lại phải phét lác nhỉ?

Xuống thêm một chút nữa, Trí vẫn không nhìn thấy cây 100 ly đâu cả. Câu nói của ông trung đoàn trưởng bộ binh lại vang vang trong đầu chàng: “Suy nghĩ bảy lần trước khi thả một trái bom…” Không thể được, mình phải kéo tàu lên làm một vòng khác. Mấy cây 12 ly 7 nhí này không xứng đáng để lãnh bom của chàng. Trí tống hết ga, lướt tàu qua mục tiêu rồi kéo lên. Phòng không vẫn bám cứng lấy phía sau.

-Sao mai đây Thái Dương.

-Nghe năm, không thấy bom của một nổ.

-Có thả đâu mà nổ. Không tìm thấy súng của nó, thả uổng bạn ơi.

-Thái Dương hôm nay đánh lì quá. Lúc nãy bạn xuống, tôi thấy nó khạc lửa lên đó bạn.

-Để thằng hai xuống tôi quan sát thử coi.

Dương thông báo rồi cũng nghiêng cánh nhào xuống như một cành lá. Trí quẹo ngược trở lại, đảo mắt quan sát. Nhìn chúng nó bắn thằng số hai Trí mới thấy xót ruột. Vừa lớn vừa nhỏ, ít nhất cả trăm khẩu. Phòng không chúng nó không những chỉ đặt trên ngọn đồi 982 thôi, ngay cả những ngọn đồi chung quanh nó cũng đầy những súng.

Chiếc phi cơ của Dương như con thuyền nhỏ bé ngụp lặn trong một biển lửa hãi hùng. Nó kia rồi, cây 100 ly mà chàng đang tìm kiếm vừa khạc lửa ra dữ dội. Ông đã thấy rồi thì mày có chạy đàng trời.

Dương xuống sâu thêm nữa rồi bấm rớt bom, kéo lên. Hai đoá hoa khói đen nở tung trên mặt đất. Sao mai la ùm trời đất:

-Số hai đánh trúng mấy cây phòng không rồi đó bạn. Số một thấy cây 100 ly của nó chưa?

-Thấy rồi bạn, số một “Dô” lại đây.

Lần này Trí nhắm thẳng vào hướng cây 100 ly, cứ thế mà tới. Hình như chúng nó cũng biết đã bị lộ mục tiêu, nên khạc lửa lên rất dữ dội. Trí nhìn thấy những viên đạn lửa bay lên, tưởng như cắm thẳng vào mặt mình nhưng khi đến gần thì lại biến mất. Và tiếng nổ mới là khiếp đảm. Tiếng nổ phát ra từ họng súng đang chĩa thẳng vào người mình khác hẳn bất cứ một loại tiếng động nào khác trên thế giới này mà chàng đã nghe được. Nó lạnh, sắc, khô và rờn rợn.

6 ngàn bộ, Trí biết mồ hôi trán mình toát ra đầy trong nón bay. Chàng còn biết là có vài viên đạn đã ghim vào thân tàu. Mặc kệ, “Mày sinh Bắc Tử Nam” thì tao “Sinh Nam chôn sống mày”. Tiếng Sao Mai la chói lói trong tần số:

-Thái Dương 22, bạn xuống thấp quá bạn ơi, nguy hiểm lắm.

5 ngàn, Trí bấm rớt bom rồi nghiến răng kéo phi cơ lên. Tốc độ quá cao, cả người chàng bị một tảng đá nặng nghìn cân đè dính vào ghế. Trí nghe tiếng nói của người phi công L-19:

-Đẹp quá bạn ơi, nhưng… hụt mẹ nó rồi.

Chưa lấy hết cao độ nhưng Trí đã thấy muốn nhào xuống trở lại ngay. Công dã tràng. Chàng bấm máy:

-Hai đây một.

-Nghe năm.

-Ông thấy cây 100 ly của nó không?

-Thấy!

-Pass cuối cùng, ráng làm đẹp đi.

-O.K. roll.

Dương nghiêng cánh chúi mũi xuống. Lại một lần nữa Trí căm phẫn nhìn những tràng đạn của quân thù bắn lên như muốn xé cả bầu trời ra hàng trăm mảnh. Chàng cứ suy nghĩ và không hiểu sao chúng nó chuyển được hàng núi súng vào đây được.

Số hai vừa kéo tàu lên, Trí biết ngay là Dương đánh không trúng. Chúng nó bắn rát quá, làm sao thả bom cho chính xác? Trí mím môi nghiêng cánh vào thử một lần chót....
Last edited by bichphuong on Fri Mar 29, 2019 7:05 am, edited 1 time in total.

User avatar
bichphuong
Posts: 654
Joined: Mon Apr 25, 2016 12:10 am
Been thanked: 1 time

Post by bichphuong »

Quái lạ, từ lúc cất cánh đến giờ, Trí mới để ý là văng vẳng trong nón bay có bài hát “Tiến quân ca” như đến từ một cõi vô hình.

“Này bao hùng binh tiến lên, bờ cõi vang lừng câu quyết chiến, bước oai nghiêm theo tiếng súng đi tung hoành, quân Việt Nam đem hồn non nước xây thành…”

Lần này, với một quyết tâm trong đầu Trí bình thản lượn chiếc phi cơ hầu __như thẳng góc xuống mặt đất. Dù đã cắt hết ga, chỉ trong phút chốc, tàu đã đạt đến tốc độ tối đa. Gió ép vào thân tàu, làm cặp cánh như uốn cong lên. Đến 6 ngàn bộ, Trí hơi kéo nhẹ cần lái. Tàu hơi chếch mũi lên, tốc độ giảm vừa đủ để Trí đưa cây 100 ly của giặc vào đường nhắm.

Có tiếng la hốt hoảng của Sao Mai trong nón bay:”Thái Dương 22, bạn xuống thấp quá, coi chừng…” Nhưng Trí đâu còn nghe thấy gì nữa. Ở gần 400 dặm một giờ trên vùng địch, giữa những lằn đạn thù nổ chung quanh, người phi công không còn nghe thấy gì ngoại trừ tiếng gọi của non sông và trách nhiệm. Phi cơ chàng cứ nhắm cây súng mà vùn vụt lao tới như một mũi tên sắt. Trời đất như trở thành mờ ảo ở chung quanh. Cuối cùng thì nó cũng nằm trên đường bắn của chàng. Trí bấm rớt bom, tống hết ga và kéo phi cơ lên. Cú này không trúng không ăn tiền. Chàng thoáng nhìn thấy nhiều bộ đồ ka ki Nam Định từ trong ổ súng bỏ chạy loạn cào cào.

Vừa bốc tàu lên, Trí đã nghe được hai tiếng nổ liên tiếp và tiếng hò reo vui mừng của Sao Mai 10 “Xong rồi, Thái Dương 22, xong rồi.” Đù mẹ thật là sướng hơn… chơi. Trí ôm cần lái sát vào bụng, người chàng bi áp lực như đè lún sâu vào trong ghế ngồi nhưng lòng chàng lâng lâng một niềm cảm khoái vô bờ bến.

Số hai không bỏ phí một giây đồng hồ nào, lật ngửa tàu bay, cắm đầu thẳng xuống như một chiếc lá tre để tiếp tục trò chơi dang dở. Có qua có lại, cuộc tranh hùng bắt đầu trở hào hứng kể từ giây phút này. Trí mỉm cười: “Ai bảo đi bay là khổ, đi bay sướng lắm chứ…”

Lấy được một chút cao độ, Trí xoay đầu nhìn lại “tác phẩm” của mình. Một cục lửa lớn cháy bùng lên, khói đen bốc cao thành từng cụm. Trí đang quan sát Dương thì nghe được tiếng gọi của hợp đoàn trực thăng. Một C & C, 12 slick và 4 gunship đang xình xình bay tới.

Trí cảm thấy yên bụng khi thấy Dương kéo tàu lên. Thêm hai ổ phòng không bị bứng mất gốc. Tốt. Chúng nó chỉ còn mấy cây 12 ly 7 lẻ tẻ này làm sao bắn lại Minigun của Gunship. Thua là cái chắc.

Dương đã kéo tàu lên, vào hợp đoàn trở lại với Trí. Hết bom rồi, coi như nhiệm vụ đã xong nhưng Trí vẫn chưa muốn đi về. Phi vụ cuối cùng thật hào hứng nhưng ngắn quá. Trí muốn kéo dài thời gian ly biệt này để được gần gũi với người bạn già càng lâu càng tốt.

Dương hiểu ý Trí, cho tàu bay vào thật sát bên người phi tuần trưởng. Sát đến độ nếu rờ tay ra, Dương có thể chạm vào cánh bay của Trí. Trong phòng lái phi cơ, Trí như một chàng dũng sĩ trên yên ngựa bách thắng của mình. Lúc nãy, nhìn những tràng đạn thù bắn lên, ít ai có thể tưởng tượng được chiếc phi cơ sẽ “còn nguyên một miếng”. Vậy mà không có một viên nào trúng tàu mới là tài.

Trí lượn những vòng tròn lớn quanh tàu, đưa mắt nhìn xuống hợp đoàn trực thăng đang nối đuôi nhau tiến tới. Ủa, sao chúng nó không bay thẳng vào đỉnh đồi mà lại bay ngược lên hướng Bắc làm gì kìa? Bọn chuồn chuồn chấm lộn toạ độ chăng? Nhưng rồi Trí nghĩ ra liền. Ra là mấy anh bay như vậy để đánh lạc hướng địch quân. Xuất kỳ bất ý, làm cái quẹo gắt rồi “rớt” gọn gàng xuống đỉnh thì ai mà biết được. Hay lắm, hay lắm. Quả đúng là “Ôi phi công danh tiếng muôn đời…”

Trí xuống 8 ngàn bộ, Dương bám sát phía sau, đánh những vòng lớn ngay trên mục tiêu. Địch quân trên đồi 982 hình như đang bối rối vì tiếng động cơ trực thăng xuất hiện bất ngờ. Phòng không bắn đã thấy rời rạc. Cú này cho chúng mày đi theo Bác luôn. Bỗng Trí nẩy ra một ý tưởng ngộ nghĩnh. Chàng bấm máy hỏi Dương:

-Hai đây một.

-Nghe năm.

-Phi vụ cuối cùng rồi, ông muốn xuống dưới đó “ngao du một vòng” không?

-Sợ thằng Tây nào mà không xuống. Xuống để coi thử phòng không chúng nó bắn hay tới cỡ nào.

-Ông nhớ bám cứng theo tôi.

Trí gọi máy cho Sao Mai, thông báo mình sẽ xuống thấp để quan sát một vòng. Phi công L-19 có lẽ đang bận rộn điều chỉnh pháo cho bộ binh nên không có ý kiến.

Trí nghiêng cánh và đạp bàn đạp cho tàu trượt xuống. Hàng chục đoá hoa khói vây lấy con tàu liền. Dương bám theo cứng ngắc như nhựa đường. Thằng này bay hay thật, không thua gì Pilot Navy, Trí thầm nghĩ. Trí cứ để cho tàu trượt xuống, rơi mãi cho đến gần sát ngọn cây, mới lấy thăng bằng lại. Thấp như thế này thì mấy chú có muốn bắn cũng không biết đường đâu mà mò.

Nhìn “thiên hạ” ở cao độ trên ngọn cây coi thấy rõ ràng quá. Phi cơ chàng lướt qua trên những hàng cây dầy đặc bằng một tốc độ nhanh như hỏa tiễn. Dưới cánh chàng, thỉnh thoảng là hình ảnh của những giao thông hào và hầm hố cá nhân không hiểu của ta hay của địch lướt qua thật mau.

Trí lượn một vòng ra quốc lộ, nơi phe ta vừa mớm được một tí ở chân đồi. Đây rồi, mấy ông bộ binh đang đánh nhau tưng bừng cũng phải ngạc nhiên dở nón sắt nhìn lên hai chiếc khu trục bay sát ngọn cây, chơi trò chơi táo bạo…

Lượn đến vòng thứ ba Trí mới có một ý niệm về tình hình bên dưới. Quân ta vừa hùng hổ xung phong lên, không biết lần thứ mấy sau một loạt pháo mở đường. Hình như họ muốn đánh lạc hướng để hợp đoàn trực thăng có thể vào đáp bất ngờ. Trí nghe tiếng C & C vừa chỉ thị cho hợp đoàn trực thăng đổi hướng, bay thẳng vào mục tiêu. Trí thoáng nhìn được những cây 12 ly 7 từ trên cao, chĩa nòng xuống nổ ròn rã vào những người lính của sư đoàn 23 bộ binh. Còn 300 viên cà nông để làm gì, Trí gọi máy cho Dương, bảo mở nút cà nông và chuẩn bị tấn công. Chàng ước lượn mấy con chuồn chuồn phải ít nhất 15 phút nữa mới đến mục tiêu được, dư sức cho chàng cùng Dương làm vài straffing pass. Trí lắc cánh, Dương hiểu ý, nới rộng khoảng cách để chuẩn bị cho trò chơi mới.

Hết vòng thứ tư, Trí quẹo ra xa để chuẩn bị một đường bắn dài. Dương làm một vòng lớn hơn ở phía sau. Bỗng chàng kinh ngạc suýt reo lên một tiếng. Cặp mắt thần của người phi công khu trục vừa thoáng nhìn thấy một đám bộ đội bu quanh cây súng ở ngọn đồi kế bên ngọn đồi 982. Cây súng lớn lắm, không biết là bao nhiêu ly với cái nòng dài thòng lòng. Tiên sư, chúng nó giấu kín như thế này thì tàu bay nào kiếm ra được? Trí thấy toát mồ hôi lạnh. Rõ ràng là chúng nó dấu súng ở đây để yểm trợ cho ngọn đồi 982. Từ cao điểm đó, nếu chúng nó bắn thì nãy giờ chắc chàng và Dương đã rụng từ lâu rồi. Vậy tại sao nãy giờ chúng không bắn mình kìa? Trí thắc mắc.

Trí bấm máy báo cho Dương “Ông ở ngoài này chờ tôi một chút” rồi bất thình lình đổi mục tiêu, lấy cây cao xạ vừa nhìn thấy làm chuẩn, quẹo một vòng tròn lớn chung quanh đó. Cha con chúng nó đang hì hục quay nòng xuống hướng về phía đỉnh ngọn 982. Chàng có thể nhìn thấy rõ hai ba thằng xạ thủ cầm mấy cái tay quay quay lấy quay để.

Đù mẹ chúng mày, muốn quay súng để bắn ông sao? Câu chửi thề vừa dứt thì Trí biết ngay là mình lầm. Tàu bay khu trục mà hết bom thì cũng như con rắn không có nọc, chỉ có nước đi bay duyệt binh cho đẹp, chúng nó đâu thèm bắn. Bọn khát máu này đang quay súng để chờ đón một món mồi ngon hơn gấp ngàn lần hai chiếc khu trục… già nua ốm yếu: Một hợp đoàn trực thăng mười mấy chiếc với hàng trăm chiến sĩ trinh sát tinh nhuệ nhất của sư đoàn 23 bộ binh.

Trí quẹo tàu trở ra, thầm cám ơn trời đất. Chàng ráng bình tĩnh để suy nghĩ thật mau những gì mình phải làm. Trước hết, Trí có thể gọi máy cho C & C để kêu họ cho hợp đoàn trực thăng… thôi đáp, chở lính về nhà. Không được. QLVNCH ít khi nào làm như vậy, dù ngay cả khi biết rằng đi là chết. Hơn nữa, nếu bỏ về thì chừng nào cờ ta mới cắm được trên ngọn 982 đồi. Và chưa chắc đã còn xăng để làm chuyến thứ hai. Hoặc chàng có thể gọi cho Sao Mai biết để hắn xin pháo binh hỏa tập. Dẹp chuyện này đi. Mấy ông nội bay tuốt trên mây xanh làm sao điều động pháo kịp. Hợp đoàn trực thăng lại đang xình xình tống hết ga bay vào, phải nghĩ ra cách nào để khoá họng cây súng này liền lập tức trước khi đại họa xảy ra.

Một lần nữa, văng vẳng trong nón bay của Trí, bài tiến quân ca lại vang lên. Lần này nhịp nhàng dồn dập:

“Đi là đi chiến đấu, đi là đi chiến thắng, đi là mang mối thù thiên thu…”

Xong rồi, Trí đã có quyết định. Trận này thắng hay bại là do Trần Anh Trí này đây! Chàng nghiến răng tống hết ga, vừa quẹo vừa kéo tàu lên để chuẩn bị tấn công.

Nhưng, người phi công khu trục của QLVNCH với mấy ngàn giờ bay vừa phạm phải một lỗi lầm nặng quá. Ở những nơi mà “phòng không kèm cứng một rừng” như vậy, ngoại trừ những khi tấn công, một là bay thật thấp, hoặc là bay thật cao, ai lại kéo tàu lên đưa cái bụng trắng hếu cho chúng nó tập bắn bao giờ? Cái chuyện căn bản này thằng phi công mới ra trường cũng biết, nhưng Trí quên mất.

Tàu vừa quẹo lên được vài ngàn bộ thì Trí nghe hàng loạt đạn chát chúa của ít nhứt một chục cây súng nổ lên dòn dã. Trí biết là mình vừa phạm một lỗi lầm không thể nào tha thứ được, tàu bị trúng đạn nặng lắm. Và chính chàng, chàng cũng thấy đau nhói nơi ba sườn. Trí chưa bao giờ bị đau như vậy trong đời mình.

Phản ứng tự nhiên của người phi công gần mười năm bay bổng, bày tay Trí ôm cần ga đẩy mạnh tới và đồng thời tay kia đè mũi con tàu xuống và lộn một vòng tránh đạn. Khốn nạn thay, mấy chục cây súng quái ác kia vẫn bám cứng chàng như sam. Trí nhận thêm vài chục viên nữa.

Có tiếng la hốt hoảng của Dương trong máy:

-Một đây hai, một đây hai, nghe không trả lời…

Ngay lúc đó, khi hai chiếc gunship đang xình xình bay vào, vừa cách mục tiêu độ 5 dặm thì một tràng đạn từ cây súng bí mật dấu ở sườn đồi bên cạnh nổ lớn lên nghe khủng khiếp.

Đạn đạo này chúng nó đã nghiên cứu và lồng khung bao nhiêu ngày nên bắn làm sao trật được. Loạt đạn nổ chưa hết đã thấy một chiếc gunship bốc cháy bùng lên như bó đuốc, cắm đầu xuống. Chiếc kia hốt hoảng cho tàu rớt xuống theo để mong tránh tràng đạn. Mấy cây Minigun cũng trả đủa như mưa nhưng đâu có thấm thía gì. Chúng nó dấu súng trong hầm trong hố làm sao đạn của minigun lách vào nỗi.

Hợp đoàn đổ quân từ phía sau vẫn chưa biết tại họa, đang xếp hàng dọc xình xình quẹo vào. Hai chiếc gunship còn lại của hợp đoàn đang hùng hổ bắn phá trên đỉnh ngọn đồi 982. Hình như chưa ai biết những gì đang chờ đón họ ở cao điểm kế cận.

Giây phút quan trọng và hãi hùng nhất của cuộc đổ quân đã bắt đầu. C & C, L-19, pháo binh và bộ binh gọi nhau trên tần số nghe loạn xạ. Không hiểu tại sao trong giây phút mà ai cũng căng thẳng tột cùng đó, dù tàu vừa bị trúng đạn, Trí thấy bình thản lạ thường. Chìa khoá của cuộc đổ quân ngày hôm nay là cây phòng không quái ác kia. Khoá họng được nó là thành công. Bằng không thì có vào cả sư đoàn cũng chết nữa, nói gì một hợp đoàn lẻ.

Hợp đoàn trực thăng bây giờ đã bay gần đến nơi phòng không lồng khung của chúng nó lắm rồi. Trễ một chút là từng chiếc một của hợp đoàn sẽ rụng như sung chín cho mà coi. Trí xuống thấp được một chút, không có thì giờ kiểm soát phi cụ và tình trạng tàu, quẹo lại thật gắt, mở nút cà nông nhắm cây cao xạ lao tới.

Bây giờ thì cả bầu trời biến thành một biển lửa. Ra là bọn chúng nó đã bố trí sẵn súng để yểm trợ lẫn nhau. Mình nhắm thằng này thì thằng kia ở phía đối diện bắn sang, đánh thằng kia thì thằng này bắn tới. Đạn đan kín cả bầu trời. Trí vẫn nghiến răng lao tới như một con thuyền giữa con bão.

Nhìn thấy mục tiêu, chàng bóp cò, kéo một tràng cà nông dài từ phía ngoài vào tới tận cây súng rồi quẹo tàu lên. Ngay lúc ấy, chàng nghe thấy một tiếng nổ to khủng khiếp trong phòng lái. Mặt chàng như bị ai đấm vào một trái thôi sơn.

Cặp mắt Trí nhắm tít lại theo phản ứng tự nhiên. Khi mở ra, Trí nhận ra kính phòng lái đã vỡ nát, gió, khói, và dầu của tàu bay ùa vào khắp nơi trong phòng lái.

Chàng chỉ còn thấy mờ mờ nhưng trí óc thì minh mẫn vô cùng. Phải thoát ra khỏi nơi này cái đã rồi sẽ nhảy dù. Chàng kéo tàu lên nhưng quái lạ, sao mà nó nặng thế này. Dù đã dùng hết hai tay mà kéo, con tàu chỉ lơ lững lướt qua đỉnh mấy ngọn cây. Hơn ai hết, Trí biết nếu không lên kịp thì tàu sẽ đâm vào núi. Mà con chim sắt như bị thương nặng quá rồi, nhất định không thèm lên nữa. Trí đành nghiến răng đạp hết bàn dạp trái và nghiêng hết về bên trái.

Chiếc A1-H quẹo sát ngọn cây, cánh phi cơ móc theo một mớ lá. Trí lại nghe tiếng la hốt hoảng của Dương trong máy:

-Một đây hai, một đây hai, tàu của một bốc khói rồi. Nhảy đi, nhảy đi…

Nguy hiểm nhất là chàng không biết mình đang ở đâu và ở cao độ nào. Trí bấm máy tính hỏi Dương nhưng radio không còn làm việc nữa. Đó là lần cuối cùng chàng nghe được tiếng gọi của Dương. Kể từ giây phút này, Đại úy Trần Anh Trí đơn độc một mình trên bầu trời, không liên lạc được với ai và không biết mình ở đâu.

Mắt mình sao mờ vậy kìa? Trí đưa tay lên dụi và nhận ra là mặt mũi tay chân toàn những máu là máu. Càng dụi càng không thấy đường. Thế này thì đành phải nhảy dù ra vậy. Vĩnh biệt người bạn già thân thiết. Chẳng còn gì để suy nghĩ nữa. Phải nhảy ra ngoài trước khi tàu đâm vào núi hay nổ tung trên trời bởi đạn phòng không. Có thể mình sẽ nhảy ngay xuống đầu địch và sẽ được đi “du học Bắc Việt” nhưng ít nhất, xuống dưới đất còn có hy vọng sống để lập kế thoát hiểm.

Trí thò tay xuống nắm chặt cần thoát hiểm và kéo mạnh. Không thấy gì. Trí kéo lần nữa, và lần nữa cũng chẳng thấy gì. Tiên sư, hoả tiển bắn ghế thoát hiểm ra ngoài đã xì mẹ nó từ đời nào rồi.

Vậy là hết. Chàng bị kẹt cứng trong phòng lái, không biết mình bị thương ở đâu, mắt không thấy đường và con tàu chỉ bay nghiêng mà không bay lên được. Lần đầu tiên, Trí nghĩ đến cái chết. Đời người trước sau ai cũng một lần chết mà. Điều quan trọng là cái chết của mình có hữu ích cho gia đình, cho tổ quốc, cho tha nhân hay không kìa?

Chàng nhận ra là mình đã bay nghiêng như vậy được hai phút mà không đụng núi. Với độ nghiêng này, hai phút là đủ để làm thành một vòng tròn. Sách hình học dạy rằng quỹ tích của những điểm cách đều một điểm cố định sẽ là vòng tròn mà điểm cố định là tâm. Sách cơ học phi hành dạy rằng nếu quẹo một phi cơ và giữ mãi ở một độ nghiêng cố định, phi cơ sẽ làm một vòng tròn và quan trọng nhất, sẽ trở về điểm khởi hành.

Trí bỗng tìm ra đáp số cho số mạng của mình và cây súng phòng không khốn nạn kia. “Ông sẽ lao nguyên chiếc phi cơ này vào chúng mày, coi thử còn bắn được không cho biết.”

Dù chỉ thấy đường mờ mờ, Trí biết là nếu mình giữ được tàu ở một độ nghiêng cố định, mình sẽ trở về được điểm khởi hành tức là điểm có cây cao xạ của chúng nó, lúc chàng vừa kéo tàu lên.

Bằng cảm giác, Trí giữ cho tàu quẹo ở một độ nghiêng không thay đổi.

Giữa cảnh bi đát thê lương đó, tự nhiên lòng Trí thấy thanh thản vô cùng. Thanh thản như lần đầu tiên được lái máy bay đi solo, rong đuổi con tàu một mình trong vùng trời thênh thang im vắng. Nếu lấy cái chết của đại úy Trí để thế cho mấy trăm cái chết của các anh em bộ binh và trực thăng thì mình lời chán. Từ những ngày bắt đầu bay khu trục, Trí chưa bao giờ phục hay thích cái hình ảnh đâm tàu bay vào mục tiêu để tự sát của các phi công Nhật. Chàng cho như vậy là bất trí và dã man. Nhưng trong hoàn cảnh này, mình đã chiến đấu hết sức để làm trọn bổn phận, đã làm mọi cách để sống còn nhưng không được, thì sự lựa chọn “đâm cả phi cơ vào chúng mày” là một quyết định can đảm và sáng suốt, không phải là một cuộc tự sát điên cuồng.

Quyết định xong là thực hành liền. Khi quẹo đến vòng thứ hai, nhờ chút nhãn quan lờ mờ và tiếng tiếng nổ to lớn dị thường phát ra từ họng cây súng vĩ đại, Trí tìm được vị trí nó ngay.

Nhìn thấy là mắt Trí long lên sòng sọc, mắt tóe lửa ra, uất hận thấu trời. Bọn khốn nạn! Chúng mày đem quỷ thuyết ngoại bang về đầu độc dân tộc, đem súng đạn ngoại bang về tàn phá và giết chóc đồng bào anh em, đã biến cả một nửa quê hương thành một địa ngục tăm tối nhất trần gian, chúng mày chưa biết hối hận hay sao mà còn muốn nuốt thêm cả mảnh đất thân yêu còn lại này? Tội lỗi này của bọn chúng mày biết mấy giòng sông mới rửa cho sạch? Bốn ngàn năm dựng nước của dân tộc có bao giờ đất nước lại lầm than và khốn nạn như thế này chưa? Tao chỉ tiếc lãnh đạo miền Nam yếu hèn để đến nổi quê hương gấm vóc phải tả tơi như thế này, và số mạng tao nửa đường đứt gánh, nhưng Trần Anh Trí này chết đi thì vẫn còn trăm ngàn Trần Anh Trí khác sẵn sàng đem máu đào ra để bảo vệ mảnh đất này.

Chẳng còn gì để suy nghĩ và tiếc nuối nữa. Ai rồi cũng một lần chết. Được chết mà lấy xác khu trục bọc thân mình như ngày xưa người ta lấy da ngựa bọc thây là một vinh hạnh của người chiến sĩ. Đời người mấy ai được chết như thế?

Trí nghiến răng, thét lên một tiếng kêu bi ai rùng rợn rồi lật úp tàu bay, cắm đầu thẳng xuống, nhắm cây phòng không đang nổ ròn rã lao tới. Làm sao trật được. Tuy nhản quan bị giới hạn nhưng trước khi phi cơ đâm vào ụ súng, Trí còn nhìn thấy rõ ràng mấy thằng lính bộ đội xâm lược hoảng hốt bỏ chạy lấy thân khi chiếc phi cơ lao tới…

Một tiếng nổ long trời lở đất vang lên khi chiếc Skyraider A1-H cắm đầu xuống ổ súng. Bụi và khói bốc lên cao đến nổi từ dưới chân đồi 982, các chiến sĩ của trung đoàn 45 bộ binh ai ai cũng nhìn thấy rõ. Trên cao, bất kể phòng không, chiếc A 1 còn lại bay những vòng tròn dài nặng nhọc chung quanh đám bụi đất điêu tàn. Giữa những tiếng súng nổ, tiếng pháo rớt, tiếng cánh quạt trực thăng vừa đáp trên đỉnh đồi, tiếng động cơ lẻ loi của chiếc khu trục đơn độc trên bầu trời nghe u buồn và ai oán như tiếng tru thảm thiết của một con diều hâu khóc bạn…

16 giờ chiều ngày hôm đó, đúng như lời hứa, trung tá trung đoàn trường trung đoàn 45 bộ binh đáp trực thăng, đặt chân lên đỉnh ngọn đồi 982 để gắn lon đại uý cho trung úy An, đại đội trưởng đại đội 45 trinh sát.

Trận này, dù hiếm xăng hết đạn, quân ta đã thắng lớn. Xác chúng nó nằm dài dài khắp nơi…

Trường Sơn Lê Xuân Nhị
(nguồn:Phi Đoàn Quan Sát 114)

User avatar
bichphuong
Posts: 654
Joined: Mon Apr 25, 2016 12:10 am
Been thanked: 1 time

Post by bichphuong »

Image

CHÔN MỘT CHẾ ĐỘ
“Tôi vào lính năm 18 tuổi. 12 năm 4 tháng làm lính. Chuyện cải tạo Vườn Đào và người tù về sớm nhất có thật 100% là tôi".
Phi Hùng.
"Tượng nào cao bằng tựơng Trần Hưng Đạo
Lính nào xạo cho bằng lính Hải Quân".

Tôi sáu năm làm lính, thêm sáu năm làm quan, binh chủng Hải Quân. Xạo là chuyện đương nhiên.

Xứ VNCH ta, Bộ Binh, Không Quân chỉ có 4 vùng chiến thuật nhưng Hải Quân có vùng 5 Duyên Hải; Phú Quốc, Côn Sơn. Như nhiều chàng lính biển khác, tôi có thừa tài xạo. Xạo như thật. Xạo với gái bán bars, xạo cả với thượng cấp, nhưng không dám xạo với gái nhà lành, vì tôi rất sợ vướng nợ giai nhân rồi dính lưới hôn nhơn. Đời lính biển đầy những chuyến hải hành dài cả tháng mà có vợ thì xác suất nuôi con của thiên hạ rất cao.
Thôi thì cứ xạo với mấy em bán bar, mấy cô chịu chơi cho đời vui cái đã rồi tính.
Cùng dòng họ Trần Thiện như tôi, có một ông Đại Tướng, 2 ông Đại Tá, mấy chục ông tá, ông uý.
Ông bà nội tôi là loại điền chủ sau khi đã bị chánh phủ VNCH mua lại bởi luật người cày có ruộng; vẫn còn 100 mẫu để canh tác và 15 mẫu ruộng hương hỏa. Cha tôi là một triệu phú có đủ thứ, villas, nhà lầu 4 tầng với mấy chục phòng cho Mỹ mướn rồi sáu bẩy căn phố. Tôi thằng con trưởng nam, vậy mà không được ai nuôi cho ăn học. Ngay khi biết mình 18 tuổi, tôi tự nguyện vào lính hải quân dù chưa nhận được lược giải cá nhân.

Làm lính chưa đầy 6 năm tôi mang lon Thượng sĩ, năm chưa tròn 24 tuổi; đi đâu cũng bị quân cảnh xét giấy tờ coi có mang lon giả hay không. Tôi chỉ mong hết 5 năm để giải ngũ, nhưng rồi chiến cuộc leo thang nên bị lệnh lưu ngũ. Sau đó, tôi đi học làm quan, thăng cấp từ chuẩn úy lên trung úy thì tự động.
Dù làm lính hay làm quan, tất ba gai không bỏ. Gái đến cầu tàu rủ rê đi chơi thì dù đang gác cũng đem súng giao cho sĩ quan trực và bỏ đi chơi 5 ngày sau mới về; vì đi 6 ngày bị cho là đào ngũ nên chiều ngày thứ 5 là tôi về trình diện và vui vẻ nói lý do là "Tại gái xuống tận cầu tàu rũ đi chơi" và vui vẻ đi tù.

Từ đầu tháng Tư 1975, ngay khi thấy chộn rộn, nhiều người tìm đường ra đi, tôi đã chọn đã chọn ở lại. Là sĩ quan hải quân, tôi mà muốn ra đi thì tàu nào cũng lên đi được hết. Tàu nào cũng có bạn cùng khóa lính hay khóa quan hay cùng đơn vị khi xưa; Hơn nữa, nơi tôi phục vụ là Trường Chiến hạm của Bộ Tư Lệnh Hạm Đội, chuyên huấn luyện tác chiến và thanh tra các chiến hạm của hải quân nên gần như quen biết rất nhiều. Những thường dân mang cả gia đình đứng lớ ngớ trước Hải Quân Công Xưởng muốn vào phía trong để xuống tàu mà không vào được tôi còn dẫn dùm vào. Tôi xa mẹ từ thuở nhỏ nay chỉ muốn được sống bên mẹ của tôi mà thôi. Tôi tự tin là dù hoàn cảnh nào, mình cũng có thể xoay trở để sống còn.

Chiều 30 tháng Tư, lần đầu tiên tôi đến nhà ba tôi. Đứng trên sân thượng của building 4 tầng trên đường Chi Lăng, nhìn những chiếc T. 54 của Quân Bắc Việt từ bệnh viện ung thư và tòa hành chánh tỉnh Gia Định quẹo qua đường Chi Lăng ngang bót Hàng Keo qua trước nhà ba của tôi để tiến về Dinh Độc Lập. Tôi rơi nước mắt. "Thế là hết; Tôi thua trận; Tôi bị mất Nước!"

Tôi rời bỏ Biên Hòa về quê mẹ nhưng bị truy tìm nên phải về quê của Ông Ngoại và 15 ngày sau mới trình diện ở Quận Chợ Gạo. Hai tháng sau khi trình diện, tôi được đưa đến tập trung ở Đình xã Tân Lý Tây. Ngôi đình nầy được cho là linh thiêng vì không bị dấu vết của bom đạn. Ở đây chúng tôi phải khai lý lịch chừng chục lần trong 2 tháng. Ngay lần khai đầu tiên, tôi hiểu ngay đây là lúc phải xài tài ba xạo. Mấy ông họ hàng Trần Thiện theo phe quốc gia không dính gì đến tôi. Bố mẹ, chú bác anh em nhà tôi đều theo kháng chiến, có cả lô tử sĩ. Nhiều lúc đang ngủ bị dựng dậy bắt khai lý lịch vì lệnh trên bắt khai lại. Lý lịch của tôi là lý lịch xạo thì làm sao nhớ mà khai cho đúng y như nhau nên phải chép thật nhỏ giấu vào trong bâu áo. Mỗi lần khai là lần lấy ra xào lại.

Sau đợt lý lịch, một ngày Thứ Bảy gần tối, cả bọn trình diện được lùa lên một đoàn xe GMC và xe hàng loại chở heo đến. Lệnh chỉ ngắn gọn, "chuyển trại", không cho biết sẽ đi đâu. Xe chạy về hướng Cai Lậy, một bên lộ là con kinh. Một tên trên xe nói tới Mỹ Phước Tây rồi.
Mỹ Phước Tây cái tên nầy nghe quen quá. Tôi cố moi trí nhớ. Phải rồi, đây vùng nằm giữa Đồng Tháp Mười, trên đường đi Mộc Hóa.
Qua Mỹ Phước Tây chừng 2 hay 3 km, xe dừng lại. Cán bộ coi tù cho biết đây là Trại Cải tạo Vườn Đào. Tên Vườn Đào là vì ngày xưa có người lập vườn trồng đào lộn hột nhưng rồi bỏ hoang. Trên chục dãy nhà lá dài hàng mấy chục thước. Vào trại, tôi được một số trại viên cũ cho biết họ bị bắt trước ngày 30 tháng 4 và đưa về đây, lùa đi đốn cây làm nhà cho trại. Chúng tôi được chia ra 25 người vô một tổ. Trải nylon quấn mền ngủ qua đêm vì quá tối không thể tìm cách giăng mùng.

Trại cải tạo Vườn Đào đúng là cái trại tù không giống bất cứ nơi đâu. Trong trại không ai nhìn ra tôi. Tôi nhận ra một Thiếu úy ngày xưa ở quân trường Nha Trang tôi làm Đại đội trưởng của hắn nhưng nay nhìn tôi hắn ta ngó lơ. Thế cũng là tốt.
Thời mới đến trại Vườn Đào, tôi nhờ được Mẹ lên thăm vừa tiếp tế vừa dúi tiền cho, nên ăn no xài bảnh. Nhưng những ngày tù “huy hoàng” cũng tới lúc kết thúc. Đổi tiền. 22 tây tháng Chín, 1975, tôi còn trên 100 ngàn, phải chia cho bạn bè đổi dùm. Cán bộ đưa cho mấy đồng còn bao nhiêu giữ lại. Vậy là hết thời vung vít.

Trong trại, ngoài màn lao động còn đủ kiểu họp hành, bắt viết đủ thứ “tự khai” rồi “thu hoạch.” Anh nào bị gọi lên “làm việc” là có chuyện vì bị báo cáo gì đó. Tự biết mình khai lý lịch xạo, muốn yên tôi đóng luôn vai dữ, sẵn sàng đập lộn. Hăm he và thừa cơ đánh vào chỗ yếu của thiên hạ là cách sống còn mà trường đời dạy tôi. Nhược điểm là thằng nào cũng muốn được thả về sớm. Tôi thì tuyên bố tao không cần ra sớm. Tiền bạc mẹ và em của tao đủ sống nhiều năm nữa; Tao không cần ra sớm vì tao biết không thể nào ra sớm; Thằng nào cà chớn tao đập để cùng nhau ở trại tù muôn năm cho vui.
Đòn phép này có vẻ hữu hiệu, vậy mà yên được ít lâu, rồi cũng có ngày tôi bị gọi đi trình diện “làm việc”. Chắc là bị báo cáo gì đây. Trước khi đi, tôi còn hâm he:
- Tao mà bị gì thì thằng nào báo cáo nên trốn đi chứ không thì đừng trách tao nặng tay.

Người chờ “làm việc” với tôi không phải tay cán bộ coi an ninh trại mà là một Trung Úy cán bộ người Miền Nam nằm vùng Đồng Tháp Mười. Ngay khi gặp mặt, anh ta tự xưng là “chính trị viên” và trấn an tôi ngay:
- Tôi gọi anh lên chỉ để nói chuyện chơi cho biết thôi, không có gì quan trọng.
Sau đó, tôi còn được mời ngồi, rồi chính viên trung uý cán bộ này đưa thuốc lá của anh ta ra mời hút.
- Tôi vừa đọc xong mấy bài thu hoạch của anh. Anh là văn sĩ à?
À thì ra anh ta thích đọc “văn xạo" của tôi. Trong tự khai rồi thu hoạch của tôi, mẹ tôi từng là cán bộ huyện Giồng Trơm tỉnh Bến Tre từ thời Thanh Niên Tiền Phong chống Pháp và cha tôi thì thời đầu kháng chiến từng là đồng chí của tướng Trần văn Trà. (Thực sự thì Ba tôi có một thời tham gia kháng chiến, biết Trần văn Trà trước khi ông rời khỏi chiến khu về thành) Chuyện trò lan man, anh ta còn hỏi làm sao bài tôi viết đề cập tới nhiều người chính anh ta cũng chưa biết.
Sau hơn tiếng đồng hồ được mời trà mời thuốc, trước khi ra về, viên Trung Uý còn bảo tôi cứ về trại an tâm tin tưởng cách mạng luôn có tình có lý. Được thả về trại bình an, bạn tù vây quanh thăm hỏi việc gì vậy, tôi trả lời:
- Trung Úy Chính Trị Viên (thay vì nói là cán bộ) kêu tao lên hút thuốc nói chuyện chơi và khen bài viết của tao có thể xuất bản thành sách cải tạo!
Tù cải tạo được cán bộ gọi lên nói chuyện chơi mà không có gì hết thì đúng là “đáng ngờ." Saù đó tôi thật là thoải mái dễ sống, không tên nào dám báo cáo gì hết.

Một hôm, vừa cơm trưa xong tôi bị kêu lên gặp cán bộ. Vẫn viên trung uý chính trị viên lần trước, nhưng lần này anh ta không ngồi văn phòng mà đứng sẵn trên bậc thềm khu cơ quan đón tôi. Sau màn chào hỏi, anh ta vui vẻ dẫn tôi lại văn phòng thuộc khu của trưởng trại, bảo tôi chờ phía ngoài. Anh ta vào phòng một lát rồi đi ra, bảo tôi bảo “Hôm nay anh sẽ làm việc với đồng chí bí thư, tôi sẽ gặp anh sau.“ Nói xong, viên trung uý ra dấu cho tôi đi tới phía văn phòng cửa mở sẵn rồi bỏ đi.. Tôi đứng lại tần ngần bên cửa, đang tự hỏi không hiểu chuyện gì thì từ trong phòng, một giọng nữ miền nam vang ra:
- Anh vô đi.
Giọng nói có vẻ lạ. Tôi bước vào phòng. Không thấy ai. Bàn làm việc ghế ngồi bỏ trống. Vẫn cái giọng nữ ấy vang lên phía sau tôi.
- Anh ngó lui coi. Tôi ở đây.
Giọng nói vang lên ngay bên cửa, nơi tôi vừa bước qua. Không phải khăn rằn. Cũng không bà ba đen. Một cô mặc áo sơ mi trắng ngắn tay bó sát chưa quá ba mươi tuổi đứng khoanh tay bên cửa. Cô ta nhìn thẳng vào mặt tôi:
- Anh không nhớ tôi đâu nhưng tôi biết anh. Tôi biết anh đánh lộn trong trại. Tôi biết anh khai lý lịch xạo.
A, phút nguy hiểm đã tới. Thì ra cái người mà viên trung uý gọi là “đồng chí bí thư” là cô này. Phải coi cô ta là thứ người gì rồi mới liệu đường mà thoát hiểm. Ai đây? Động nào, bars nào. Có phải mấy cô tôi từng gặp ở làng Cam Ranh hay ở bến bờ nào đây?
- Anh đang cố nhớ mà không thể nhớ ra. Tôi không ở những nơi mà anh đang nghĩ đâu.. Anh cứ nhìn tôi coi có nhớ gì không?
Cô ta vẫn đứng yên bên cửa, vẫn khoanh tay nhìn tôi và như đọc được ý nghĩ trong đầu tôi. Có vẻ thấy tôi giống như con nai vàng ngơ ngác giữa trời mùa đông, cô ta nhắc lại điều vừa nói:
- Anh đừng cố tìm tôi trong những chỗ anh thường lui tới. Tôi không phải loại đó. Thong thả, tôi sẽ nhắc cho anh nhớ. Chúng ta chỉ gặp nhau một lần.

Biết tôi không thể nhớ ra gì hơn. Cô ta tiếp tục:
- Có lẽ chưa đầy 30 phút. Nhưng tôi biết về anh. Tôi đã coi tất cả hồ sơ của anh. Bao năm qua, tôi vẫn quyết phải tìm cho ra anh. Đầu tháng Năm, sau khi ổn định tình hình; tôi lên Sài Gòn vào Bộ Tư Lệnh Hải Quân. Giấy tờ hồ sơ của hải quân còn đầy đủ cả. Một người của chúng tôi nằm vùng ở phòng tổng quản trị đưa cho tôi danh sách những người trình diện; còn anh ta thì tìm giúp tôi danh sách các quân nhân hải quân trước 75. Có ba người trùng tên anh, tất cả đều là sĩ quan. Một Trung tá là người Bắc di cư; một Trung úy người Nam và một thiếu úy người miền Trung. Tôi biết anh người Nam. Trong danh sách sĩ quan hải quân trình diện, tôi tìm thấy tên anh, một Trung úy người Nam, địa chỉ Tân Vạn Biên Hòa. Tôi lên ngay Biên Hòa thì công an xã cho biết anh bỏ cây xăng trốn đi đâu không biết. Anh đâu có trốn khỏi tay tôi.
À, đúng là một tay nguy hiểm. Không hiểu mình gây thù chuốc oán gì mà bị săn lùng tới mức này. Chắc phải giả ngây giả dại mới qua khỏi ải này, tôi nghĩ. Cô ta nói tiếp:
- Tôi biết anh đã trình diện. Sau khi có lệnh tập trung cải tạo tôi tìm hầu hết các trại cải tạo miền Tây và đến Mỹ Tho nầy thì thấy tên anh; Lý lịch anh khai ở trại này toàn là thứ ba xạo, đúng chưa? Con trai độc nhất trong nhà như anh thì đào đâu ra mà có anh ruột là Thương Uý tập kết tử trận ở Cà Mau. Anh muốn tôi kể thêm nữa không?
- Cô... Cán bộ. Cô...

Thấy “con mồi” đứng lơ ngơ chịu trận, cô ta có vẻ hài lòng, thong thả rời chỗ đứng về lại bàn rồi bảo tôi:
-Trong trại này anh còn dám đánh lộn rồi còn tuyên bố chẳng cần được thả sớm. Anh “chì” lắm ma, sao nay ú ớ vậy. Thôi, ngồi xuống đi. Bây giờ chú ý nghe tôi nhắc. Anh nhớ Năm Căn không? Nhớ đi...
- Năm Căn Cà Mau?
- Còn Năm Căn nào nữa. Ngày ấy anh chỉ là một anh thuỷ thủ quèn mà làm tàng... Nhớ đi. Rán coi. Tôi nhắc thêm nghe. Thấy trên cánh tay bọn tôi có bốn dấu xâm, anh ba hoa giảng lung tung rồi bảo chúng tôi đi đi, mau mau về nhà lo làm ăn mà kiếm tấm chồng...
....

À á. Năm Căn. Bốn vết xâm. Tôi bắt đầu nhớ. Chuyện đã mưới mấy năm trước, hồi tôi mới vào lính. Sau 2 tháng được huyến luyện quân sự ở Nha Trang, tôi xuống chiếc tàu Há Mồm ( HQ. 500) làm thủy thủ tập sự và được tham dự "Chiến dịch Sống Tình Thương" ở quận Năm Căn, tỉnh Cà Mau; Đây là nơi mà khi tàu ủi bãi, có mấy đứa con nít đến, dơ tay gõ vào thành tàu rồi la lên “bằng sắt thiệt tụi bây ơi"; Chúng tôi thấy lạ kỳ nên hỏi vậy chớ các em nghĩ tàu làm bằng gì. Bọn nhỏ nói các ảnh nói tàu làm bằng cạc tông.
Cũng trong chiến dịch này, có bữa địa phương quân đưa xuống tàu chúng tôi ba nữ giao liên gửi cho hải quân giữ chờ hải thuyền đến chở giao về tỉnh Cà Mau. Chiến dịch chấm dứt, tàu tôi được lệnh phải đi công tác khẩn chuyển quân ra miền Trung. Chỉ huy tàu bảo ba cô giao liên chỉ là bọn con nít, chẳng biết gì, cho lệnh phóng thích luôn. Tôi đang phiên gác với một ông Trung sĩ nên được lệnh xuống phòng tạm trú dẫn ba cô lên bờ thả cho đi. Đúng là cả ba đều con nít, hai cô 15 tuổi, cô lớn chắc cũng chỉ 16, 17 tuổi. Thấy trên cánh tay các cô có 4 dấu xâm, tôi nói:
" Các cô có biết 4 dấu chấm xâm trên cánh tay ý nghĩa là gì không? Sinh Bắc Tử Nam là để cho người miền Bắc vượt tuyến vào Nam thề chiến đấu cho đến chết vì Bác vì Đảng. Các cô sinh ở miền Nam không lẽ Sinh Nam Tử Bắc hay Sinh Nam Tử Nam thì chống lại với người Miền Bắc hay sao? Về xóa hết đi lo làm ăn kiếm tấm chồng mà sống cho bình thường. Chuyện đánh nhau là chuyện của đàn ông, con trai đừng xía vào cho khổ thân.”
Không lẽ chỉ nói chừng đó mà thành mối hận để bay giờ phải trả. Thấy tôi nín thinh, cô cán bộ áo trắng nhắc tiếp:
“Anh nhớ thêm đi. Lúc anh bảo ba cô đi đi, tôi không chịu đi mà đòi anh đem giao chúng tôi cho tỉnh Cà Mau. Anh hỏi tại sao thả mà không chịu đi mà đòi giao cho tỉnh. Tôi nói chứ không phải thả đi để các anh bắn từ phía sau lưng hay sao? Anh phá ra cười rồi hỏi ai bảo các cô vậy? Tôi nói nghe các anh lớn nói. Anh hỏi lại nếu thả để bắn sau lưng thì còn ai sống mà kể lại cho các anh lớn biết. Rồi anh tiếp là chẳng những hải quân mà tất cả các binh chủng khác cũng không có binh chủng nào thả người rồi bắn sau lưng. Anh còn nói bắt người thì phải đưa ra tòa xét xử, nếu có tội thì phạt tù chỉ khi nào giết nhiều người, làm hại nhiều người thì mới bị kết tội tử hình công khai chứ không bao giờ bắn sau lưng cả. Anh nhớ ra chưa?

Thấy giọng cô ta bỗng như dịu lại, không có vẻ gì là hằn thù, tôi làm bộ như vừa chợt nhớ ra và kêu:
- A...A... Cô có thể cười cho tôi coi không?
- Có lẽ anh đang nhớ ra rồi; vì ngày đó anh có khen tôi cười có hai núm đồng tiền nên dễ kiếm chồng lắm.
Cô ta nhìn thẳng vào mặt tôi và cười. Hai núm đồng tiền, bên phải sâu hơn bên trái.
- Đúng rồi. Đúng cái mặt cười năm xưa. Tôi nhớ sau khi tôi khen cô bé còn nguýt tôi một cái thật dài. Tôi nhớ hoài cái nguýt dài ấy.
- Ở đó mà cô bé, cô bé....
Tức thì thêm một cái nguýt dài trên mặt cô cán bộ. Đôi má núm đồng tiền bỗng như linh động hơn.
Sau cái cười và cái nguýt dài của cô cán bộ áo trắng, tôi cảm thấy nhẹ người.
- Anh nhìn lại coi. Hơn 12 năm rồi. Đâu còn con bé nào ở đây.
Đến lượt tôi cũng nhìn thẳng vào mắt cô ta và cười. Câu chuyện từ lúc này bắt đầu thấy dễ chịu. Tôi nói:
- Sau khi đưa các cô tới gần cái chợ nhỏ bên sông, thấy chỗ an toàn, tôi mới bảo các cô đi đi. Khi các cô đi qua khu chợ, tôi còn đi theo một đoạn canh chừng. Không thấy cô ngó lui.
- Tôi không ngó lui nhưng biết anh đi theo... Chắc anh không thể ngờ là khi về nhà rồi, ngay ngày hôm sau tôi còn trở lại khu bến sông ấy, nhưng tàu của anh đã đi rồi.

- Tôi có nghe viên trung uý vừa rồi gọi cô là đồng chí bí thư. Chắc cô đã là đảng viên lâu năm.
- Vậy là anh đã nghe. Đúng là tôi đã 12 tuổi đảng. Ngay khi trở về, tôi được kết nạp đảng. Sau đó được chuyển về làm công tác nội thành, theo dõi thầy cô và hiệu đoàn học sinh trường trung học Cà Mau nên tôi học thi lại Tú tài 1 và năm 65, tôi đậu luôn Tú Tài 2. Sau đó ít lâu, tôi chuyển về công tác nằm vùng tại đại học Long Xuyên cho tới ngày giải phóng. Anh không biết là bao năm qua, tôi vẫn tin là sẽ có ngày tôi gặp lại anh...
Tôi nói:
- Thì chúng ta đang gặp nhau ở đây... Hôm nay tôi đã là người tù. Cô là người thắng trận. Ngày ấy, thấy trên cánh tay các cô có mấy vết xâm, tôi lỡ nói mấy câu gì đó. Mong cô không để tâm..
- Anh khỏi cần phải mong. Mấy câu anh nói ngày ấy tôi không bao giờ quên. Hôm nay tôi cố ý mang áo sơ mi ngắn tay để anh thấy trên tay tôi không còn vết xâm nữa. Tôi đã xoá bỏ chúng từ lâu. Anh thấy chưa, không còn dấu vết hay để thẹo gì cả.
Cô ta vừa nói vừa đưa cánh tay ra. Thấy tôi im lặng, cô ta nói luôn:
- Anh không cần phải sợ tôi. Hơn 12 năm trước, khi trở lại bến sông ở Năm Căn tìm anh, tôi chỉ muốn anh biết là tôi cám ơn anh. Hôm nay cũng vậy. Trước đây, khi bắt đầu đi tìm tung tích anh, tôi chỉ mong một lần gặp lại coi anh sống ra sao, vợ con dùm đề thế nào. Khi coi hồ sơ, tôi đến địa chỉ ghi trong lý lịch thì ra là nhà của ông ngoại anh chứ không phải nhà của mẹ anh. Tôi hỏi địa chỉ và đến thăm mẹ anh ở xóm Tân Vạn. Chính bà than phiền với tôi là cho đến nay anh vẫn còn độc thân. Nhìn hình trong nhà, tôi nhận ra anh ngay. Bao năm qua, tôi không thể quên ánh mắt tinh nghịch nụ cười nửa miệng của anh. Mẹ anh kể là mấy cô bạn anh toàn là gái giang hồ, bán bar. Anh sợ lập gia đình nên không dám quen gái nhà lành. Mẹ anh nói có lần bà bảo anh cưới cô giáo nhà bên cạnh nhưng anh nói không muốn có vợ vì sợ phải nuôi con thiên hạ. Anh biết vì sao mẹ anh kể tôi nghe mọi chuyện về anh không?
- Vì cô hỏi thì bà kể. Mấy chuyện đó có gì đâu mà mẹ tôi phải dấu.
- Không phải vì tôi hỏi mà mẹ anh rất thương tôi, tự bà kể ra. Bà muốn tôi phải biết tất cả về anh. Tại sao anh biết không? Tại tôi nói với mẹ anh rằng tôi là người anh thương của anh. Anh đã tính đưa tôi về ra mắt mẹ nhưng chưa kịp làm. Tôi không chỉ nói mà còn ở lại với mẹ anh hai ngày hai đêm. Bà nói với tôi không sót điều gì, từ ba anh tới bà con chú bác dòng họ. Mẹ anh còn nói bà thiệt mừng khi thấy tôi tự đến ra mắt bà. Hôm nay gặp lại anh, chúng ta không có nhiều thì giờ để vòng vo nên tôi phải nói luôn với anh chuyện này. Tôi thật lòng muốn làm bạn với anh.
Một cô cán bộ 12 tuổi đảng muốn làm bạn với tôi. Chuyện thật khó tin.. Tôi nói:
- Cám ơn cô nhưng tôi chỉ là một tên tù không biết ngày nào về, làm sao có thể là bạn của cô được.
- Ngày xưa anh từng mang tôi ra khỏi nhà tù, lần này, đến phiên tôi sẽ cứu anh ra khỏi nơi này.

Chuyện tưởng như đùa nhưng cô ta nói nghe chắc như ăn bắp. Tôi từng nghe chuyện lý lịch với phía cộng sản là sinh tử. Có nhiều cán bộ cao cấp tập kết ra Bắc nay thấy con cháu đi tù cải tạo mà ngó lơ, không ai dám dỡn mặt với kỷ luật đảng. Tại sao cô cán bộ này dám nói ra miệng là sẽ ra tay cứu mình. Cô ta là thứ bí thư gì vậy. Âm mưu gì đây mà cô ta phải tìm đến ở với mẹ tôi mấy ngày đêm để nắm hết lý lịch bí ẩn của tôi. Mẹ tôi vốn cả tin. Chưa bao giờ tôi mang bất cứ người cô nào về nhà ra mắt mẹ. Nay thấy một cô gái có vẻ con nhà lành dễ thương tới xưng là người tình của thằng con, bảo sao bà ta không tin ngay mà thương. Nhưng tôi đâu có khờ như bà mẹ mình được. Tôi nói:
- Cô đã biết hết lý lịch thật của tôi. Tất cả rồi sẽ bị phanh phui, chắc tôi sẽ khó sống. Cô tuy có 12 tuổi đảng nhưng dính đến tôi sẽ có ngày liên lụy. Xin cô tha cho tôi.
Cô ta cười to và nói:
- Anh khỏi lo dùm tôi. Tôi đã hứa là sẽ làm. Anh cứ sống bình thường như mọi người trong trại là được rồi.
Cô ta đưa cho tôi một túi quà và nói:
- Đây là quà của riêng tôi biếu anh. Mẹ anh cũng muốn gửi quà nhưng tôi nói bà cứ giữ đó. Tháng tới tôi sẽ đưa bà lên thăm anh. Thôi, anh về đi. Trưởng Trại có lẽ sắp trở lại.
Tôi nhận gói quà, chào cô ta ra về mà gần như người mất hồn. Về tới trại giam, tôi chỉ trả lời qua loa trước những lời dò hỏi của bạn tù.

Đúng như lời hẹn, tháng sau cô ta đi cùng với mẹ tôi lên thăm. Không phải thăm riêng mà bình thường như bao người cải tạo khác. Cùng gặp một lúc tại nhà thăm nuôi, chỉ 15 phút... Mọi lời lẽ tù nói với người thăm gặp phải diễn ra trước mặt viên cán bộ phụ trách. Từ đó, cô ta tiếp tục đi cùng mẹ tôi đến thăm tôi hàng tháng. Chẳng thể nói gì, tôi đành phó mặt cho số mệnh. Thấy cô cán bộ 12 tuổi đảng đóng vai phó thường dân ngồi cười cười bên bà mẹ thăm nuôi, tôi nổi tánh lì, trò chuyện tự nhiên, đôi khi còn chọc cười như ngày xưa ở các bars hay động. Tôi còn gì để mất? Cô ta muốn gì ở tôi? Tôi có gì để mà lợi dụng? Thôi thì phó mặc cho số phận.

Tháng Một năm 1976, một buổi chiều vừa ăn cơm xong, sắp tới giờ điểm danh vô chuồng, bỗng có cán bộ cầm danh sách đến gọi đúng tên tôi bảo thu dọn gọn lẹ đồ đạc cá nhân mang theo ra điểm danh.
Bất ngờ gọi tên lúc chiều tối hẳn không phải lệnh tha. Thu dọn đồ đạc mang theo kiểu này chỉ có thể là chuyện trại. Nơi tập họp điểm danh là sân trại. Số tù được gọi ra điểm danh có hai mươi mấy mạng, trong số này có tên chỉ còn anh chỉ còn một chân. Một cán bộ trẻ mang lon thiếu uý dẫn chúng tôi đi ra cổng. Không thấy xe cộ gì. Cả bọn cuộc bộ, không thấy có quản chế súng ống kèm sát như khi đi lao động. Một tên đánh bạo hỏi:
- Chúng tôi đi đâu đây cán bộ?
- Đi tới nơi làm lệnh tha.
- Tha về hả cán bộ?
- Bộ tha rồi không về ở lại ăn hại à?
Cả bọn nửa tin nửa ngờ; Trời bắt đầu tối. Thả vào giờ nầy, xe cộ đâu mà về?

Cả bọn được dẫn ra đến nhà thăm nuôi. Đèn được thắp sáng. Có viên trung uý xưng là chánh trị viên tôi từng gặp đợi sẵn. Thấy tôi trong đoàn người, anh ta cười ra vẻ “hồ hởi” bảo hôm nay anh sẽ thấy cách mạng luôn có tình có lý. Các anh tập trung lại bàn thăm nuôi khai lại địa chỉ và người nhà cho chính xác một lần, sau đó sẽ nghe đồng chí trại trưởng tới nói chuyện.

Chừng nửa giờ sau, Đại Úy Trưởng Trại ra tuyên bố:
- Các anh thuộc diện gia đình cách mạng được bảo lãnh cho về; Kể từ giờ phút nầy tuyệt đối không được liên lạc với những người trong trại; Từ đêm nay các anh ăn ngủ tạm tại nhà thăm nuôi này. Cán bộ sẽ phát mền chiếu v, gạo và lương thực để các anh tự nấu nướng. Ngày mai sẽ làm thủ tục nhận lại đồ ký gởi và lệnh tha. Sau đó chờ liên lạc, gặp gỡ thân nhân bảo lãnh và làm lễ ra trại... Trong mấy bữa chờ làm lễ, các anh tuyệt đối không được liên lạc với các trại viên cũ.
Hôm sau, cả bọn được tập trung lên cơ quan nhận lệnh tha, tiền và đồ dùng ký gửi. Riêng phần tôi, kiểm lại thấy còn vài trăm bạc mới. Ba ngày sau, đã thấy đoàn người thân nhân trong đó có bà mẹ tôi có mặt tại nhà thăm nuôi. Hai mươi mấy tên tù được tha, kể cả tôi, hầu hết đều do mẹ là người bảo lãnh.
Cán bộ ra đưa cho một số tiền để mua thức ăn làm bữa tiệc chia tay. Một bà mẹ đến từ Cao Lãnh nghe nói trước là chủ nhập cảng các loại máy ghe tàu, “xung phong” nhận sẽ “ủng hộ” thêm tiền chợ và còn tình nguyện lãnh đi chợ dùm. Bà ta hỏi có thể cho một hay hai người đi theo mang phụ thức ăn. Cán bộ nói:
- Bây giờ thì các anh có thể đi tự do; muốn mấy người theo cũng được.
Thế là khu chợ gần Trại Cải Tạo Vườn Đào được một buổi chợ trúng mối. Heo, gà, vịt, tôm càng, cá... rau cải mua nguyên thúng, nguyên sàn, hỏi giá bao nhiêu là mua bấy nhiêu khỏi cần trả giá; tiền chợ được bà chủ Cao Lãnh xuất hầu bao, mớ tiền chợ ít ỏi do trại phát có lẽ được bà mẹ nầy cất riêng để làm kỷ niệm ngày con được ra tù.
Tiệc chia tay thức ăn ê hề nào gỏi, nào ca ri, cá hấp, tôm càng nướng, thịt heo, gà, vịt luộc. Thế rồi tiệc cũng bế mạt. Thức ăn gần như còn nguyên vì ai cũng chỉ nếm cho có vị và cán bộ cũng không dám ăn bửa tiệc giá đáng mấy chục lần số tiền cho để làm tiệc. Mấy Bà xin đem thức ăn cho mấy người trong trại thì cán bộ không cho bảo phải đem chôn hết.

Ra khỏi trại mọi người đứng chờ đón xe Mộc Hóa để về Cai Lậy. Từ phía hàng rào trại, thấy lố nhố người đứng trông ra. Tôi quay lui, cũng không dám nhìn lâu không còn nhận được dáng của đứa nào!.
Tôi nói với Má:
- Mình đi lần, bao giờ có xe thì đón. Chứ đứng đây chờ nhìn vào các bạn trong kia nhìn ra, con thấy bất an!
Tôi và má Tôi đi lần dọc theo lộ. Tất cả gần như thấy vậy cũng đi theo.

*
Là người tù trại Vườn Đào được về sớm, tôi biết thân ở yên với mẹ già. Chòm xóm không thấy làm khó dễ.
Sau khi được trao trả quyền công dân, tôi còn được cử ông Nông Hội Ấp đề nghị tôi làm trung đội trưởng lao động ấp; mọi người vỗ tay táng thành. Thế là từ đó ai thấy tôi đến nhà là biết bị gọi đi lao động không công cho XHCN, nào đào kinh, lấp kinh, rồi nước đọng cây trái bị úng nước, ruộng lúa bị ngập nước không rút kịp lâu ngày cây cối chết, lại phải đi phá đập, vác lúa thu thuế... Tôi không dám nhìn khi thấy bà con nông dân ai cũng đầy nước mắt khi bồ lúa vơi đi hơn phân nửa để đóng thuế. Nghe nói lúa thuế được chở tiếp tế cho Miền Bắc.
Mỗi tháng Cô Bí Thư đều đem nhiều khô mắm từ Cà Mau lên thăm Tôi và ở chơi 3 hay 4 ngày. Cô ta ngủ chung với mẹ tôi, vẫn có vẻ được bà thương mến, tin cẩn. Tôi cũng không nói hay hỏi gì thêm ngoài việc cho mẹ biết là bà đã vô tình đem sói vào nhà vì cô ta là ní bí thư trên 12 tuổi đảng.
Cũng có lần cô ta biệt tăm luôn 3 tháng; rồi một hôm bỗng đến thăm với nhiều quà từ miền Bắc. Cô cho biết vừa đi tập huấn ở Hà Nội về. Tôi hỏi:
- Em sáng mắt ra chưa?
Cô ta lườm và nói:
- Anh chưa thấy quan tài nên chưa biết đổ lệ!

Đầu năm 1980, Cô ta đến thăm và tối hôm đó có mặt mẹ của tôi. Cô ta nói:
- Mẹ muốn em lo cho anh ra đi; nhưng em có điều kiện là anh phải nhận em làm vợ cho đến khi định cư rồi sau đó tùy anh. Em cho anh một tháng để nghĩ suy và trả lời em.
Mẹ tôi khuyên tôi nên nhận cô ta làm vợ vì cô ta thương tôi thật sự. Tôi thì nghĩ không hẳn. Cô ta bỏ nhiều công phu tìm tôi, giúp tôi và nay muốn cùng tôi vượt biên với tư cách là vợ một sĩ quan hải quân để làm gián điệp như bao trường hợp nằm vùng khác, có người làm tài xế, người giúp việc trung thành tận tâm cả chục năm nhưng sau tháng tư đen thì mới lòi mặt thật. Nhưng đâu còn đường nào khác để tính.

Chưa đầy một tháng sau cô ta lên và bảo tôi chỉ đem theo một bộ quần áo gọn nhẹ để mai đi. Tôi hỏi:
- Em chưa biết anh có đồng ý hay không mà bảo ra đi.
- Thông minh như anh thì không bao giờ bỏ mất dịp may, vì anh không mất gì cả, kẻ mất nhiều nhứt là em nhưng là em tự nguyện; Mọi chuyện ra sao sau này anh sẽ biết.
Tôi hỏi cô ta có an toàn không.
- Anh có cần tàu Hải Quân biên phòng hộ tống hay không? Nếu muốn em cũng có cho anh.
Tôi nghe mà khiếp. Chẳng rõ cô ta nói đủa hay nói thật. Cỡ bí thư huyện ủy cung không thể có quyền vào Bộ Tư Lệnh Hải quân xưa để tầm kẻ thù; Không hiểu cô ta là thứ gì? Không ra hải ngoại để nằm vùng hay làm gián điệp thì còn gì nữa? Nghĩ vậy nhưng thôi kệ. Cô ta làm gì hay là ai tính sau, cứ thoát ra khỏi nước cái đã. Thế là chúng tôi từ giã mẹ ra đi.

Tàu vượt biên dài 12 mét mới toanh, máy cũng mới và số người đi là 52 người do một cựu hàng hải thương thuyền ngày xưa lái; nhưng cuối cùng 26 người bị rớt lại vì ghe nhỏ chuyển ra ghe lớn bị chận giữa đường mà trong đó có gia đình tài công. Cô bí thư hỏi:
- Anh lái được chứ ?
- Lái được nhưng không có bản đồ mà chỉ có la bàn thì phải chạy thẳng ra hải phận quốc tế rồi theo hướng Tàu buôn mà lấy hướng đi thì sẽ sang Singapore hay tấp vào các đảo của Indonesia.
Tôi lái suốt 5 ngày đêm mới gặp một ghe đánh cá của Indonesian và hỏi thăm thì được chỉ cho một chỗ cách đó không xa. Tôi lái vào và ở đó một ngày một đêm thì được tàu của Indo đưa đến trại tỵ nạn Kuku. Một tháng sau chúng tôi được đưa sang trại Galang và dĩ nhiên trong lý lịch của Hải quân Trung úy VNCH nay có thêm cô vợ bí mật nhiều phần là gián điệp.

Trên bước đường lưu vong quê người xứ lạ làm thân thất quốc, chúng tôi cô đơn lạc lõng như nhau. Ngày qua ngày cả hai đứa đi học tiếng Anh về nấu cơm chung rồi chung mùng va thành vợ chồng thật.
Ở Galang tôi gặp lại bạn bè quân ngũ xưa; vì gần như mỗi tàu là có đôi ba hải quân xưa được đi không tốn tiền để lái tàu. Quán Trùng Dương là nơi tụ họp để nhận ra nhau kể chuyện xưa và bàn chuyện tương lai. Các cựu hải quân xưa làm sổ lưu niệm giống như thời học trò viết lưu bút ngày xanh cho những tháng nghĩ hè. Lắm ông ghi cả số quân đơn vị xưa và dán cả hình. Ôi các quan lính ơi Tôi mà đem cái sổ nầy về thì e rằng cô bí thư mười mấy tuổi đảng sẽ lén ghi lại hết gởi về Bắc Bộ phủ thì gia đình các ông cũng mà khó sống ở VN!. Tôi từ chối viết sổ lưu niệm và cũng không đến quán hội họp nữa.
Cũng tại trại Galang, tôi có người bạn trước là thiếu úy ngành điện khí được mướn làm người gác máy điện phụ cho một thợ điện người Indo. Anh Indo nầy khá am tường về tình hình VN và có phân tích như sau:
- Các anh vượt biên nghĩ rằng ra ngoại quốc rồi Mỹ sẽ giúp cho thành lập một đoàn quân để trở về dành lại VN. Có lẽ các anh lầm rồi. Mỹ không bao giờ giúp các Anh đâu vì giúp các Anh; Mỹ được lợi gì? Các anh đánh nhau mà nhiều nữ tính quá. Nhân đạo với kẻ thù thì chỉ có con đường chết; Phải như chúng tôi kìa. Chỉ một đêm thôi không một tiếng súng; toàn dùng dao, búa, mã tấu mà giết cho tuyệt giống cộng sản. Chỉ một đêm là xong gần triệu mạng....

Sáu tháng sau chúng tôi được đi định cư. Tôi không tham gia đoàn thể nào, không hội họp với cả hội đồng hương nhưng lúc nào cũng canh chừng cô vợ bí thư đảng viên.
Cô ta cũng như tôi chẳng quen ai; đến cả dùng điện thoại cô ta cũng không sử dụng. Mẹ tôi mất năm 83. Mẹ cô ta mất năm 84. Năm 90 ba tôi và ba của cô ta cùng mất trong một năm. Chúng tôi nhận thư nhưng không về và đến nay cũng chưa về. Chúng tôi đồng ý không có con. Tôi 72 và vợ 70 tuổi; nếu còn ở Việt Nam, cô ta nay đã 52 tuổi đảng, không biết làm tới chức gì.

Mất nước bốn mươi năm, lưu vong hơn 35 năm, chúng tôi chưa bao giờ có ý định về thăm lại quê hương... Trong lòng tôi đã chôn một chế độ và trong lòng vợ tôi cũng chôn một chế độ. Chúng tôi không con nối dòng nên khi chúng tôi chết thì "cả hai chế độ" cũng tan thành tro bụi. Với tôi, vậy là chôn xong hai chế độ. Ngày ấy không xa.

Trần Thiện Phi Hùng

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

Những người lính Dù bị lãng quên
VNCH-Ngọc Trương
(Danlambao) - Barry R. Mccaffrey đại tướng (4 sao) lục quân Hoa Kỳ. Khi còn là sĩ quan trẻ, đã phục vụ tại Việt Nam năm 1966-1967
với tư cách sĩ quan cố vấn trong binh chủng Nhảy dù VNCH. Năm 1968-1969 ông được chuyển qua Sư đoàn 1 không kỵ (kỵ binh không vận)
làm đại úy đại đội trưởng xung kích thuộc tiểu đoàn 2, trung đoàn 7 kỵ binh không vận.
Khi về hưu, ông tham gia chính phủ Tổng thống Clinton, và là bình luận viên an ninh quốc gia cho NBC News.

Bài viết đăng trên báo The NewYork times ngày 8 tháng 8 năm 2017, nói lên cảm tưởng của ông về những chiến sĩ Nhảy dù của Quân Lực VNCH.
Image
Đại úy Mccaffrey tham chiến tại Việt Nam và Đại tướng Mccaffrey
*
Tôi đến Việt Nam vào tháng 7 năm 1966, qua năm sau đổi sang sư đoàn Nhảy dù VNCH với tư cách là sĩ quan cố vấn. Đó là năm cuối cùng chúng tôi nghĩ chúng tôi đã chiến thắng. Cũng là năm cuối chúng tôi có thể định nghĩa thế nào là chiến thắng. Một năm đầy lạc quan, quân đội Hoa Kỳ gia tăng sức mạnh và tham chiến nhiều hơn người Việt, đồng thời cũng bị thiệt hai nhiều hơn.

Cuối năm 1967, có 486.000 quân Mỹ trong trận chiến. Số lính Mỹ tử trận tăng gấp đôi năm 1966. Trong mọi chuyện, sự hy sinh, can trường và tận tụy của quân đội Nam Việt Nam hầu như không được nói đến ở chính trường Hoa Kỳ, cũng biến mất khỏi sự hiểu biết của báo chí và truyền thông.

Sư đoàn Nhảy dù của Nam Việt Nam là đơn vị tinh nhuệ, ưu tú, tôi tham chiến với vai trò phụ tá cho cố vấn trưởng của tiểu đoàn. Vào năm 1967 binh chủng nhảy dù với đồng phục ngụy trang và chiếc beret màu đỏ nổi bật, quân số tăng lên 13.000 người, tất cả đều tình nguyện.

Những ai trong bọn tôi được vinh hạnh chiến đấu bên họ, phải kinh ngạc vì họ can đảm và quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ chiến thuật. Các sĩ quan cao cấp và hạ sĩ quan đều có năng lực và được rèn luyện ở chiến trường. Người ta quên rằng những quân nhân nầy từng tham chiến từ 1951, trong khi chiến trường Việt Nam còn mới mẻ đối với người Mỹ.

Là sĩ quan cố vấn, bọn tôi vừa là sĩ quan tham mưu, vừa là sĩ quan liên lạc từ cấp tiểu đoàn lên đến cấp lữ đoàn.

Một năm trời chuẩn bị ở California, bao gồm 16 giờ mỗi ngày học về văn hoá và ngôn ngữ Việt Nam tại Học viện Ngôn ngữ Quốc phòng. Sau cùng, tuy không lưu loát, tôi nói được tiếng Việt đàm thoại.

Tại Fort Bragg, N.C., chúng tôi phải học chiến thuật chống nổi dậy và được huấn luyện các loại võ khí thời kỳ thế chiến II, quân đội Việt Nam đang dùng.


Vai trò chúng tôi trải rộng từ phối hợp pháo binh và không yểm (gọi phi cơ yểm trợ), sắp xếp các chuyến trực thăng vận và không vận tản thưởng, cung cấp tin tình báo cũng như yểm trợ tiếp vận.

Chúng tôi không ra lệnh, và cũng không cần làm thế. Bọn tôi ngưỡng mộ các sĩ quan Việt Nam ngang cấp, họ rất vui khi người Mỹ và hỏa lực mạnh mẽ của Mỹ bên cạnh.

Chúng tôi ăn chung và nói cùng một ngôn ngữ với họ.

Bọn tôi hoàn toàn tin tưởng vào người Việt. Tôi thường có một lính dù cận vệ cũng là hiệu thính viên truyền tin.

Thông thường, nhóm cố vấn cấp tiểu đoàn gồm một đại úy bộ binh Hoa Kỳ, một trung úy và một hạ sĩ quan cao cấp, thường là trung sĩ. Các trung sĩ là thành phần nòng cốt. Trong khi sĩ quan luân chuyển ra vào, nhiều anh trung sĩ ở lại với các đơn vị Việt Nam được giao phó đến khi chiến tranh kết thúc, hoặc đến khi họ tử trận, hay bị loại ra khỏi cuộc chiến.

Tôi biết Việt Nam qua kinh nghiệm đẫm máu. Các tàu xung kích Hải quân và trực thăng của Lục quân Mỹ rảy quân chúng tôi vào châu thổ đầm lầy phía Nam Sài Gòn. Cuộc chiến không vinh quang, chiến đấu và chết chìm trong trong dòng nước mặn dơ bẩn. Không phải là cuộc phiêu lưu tôi nghĩ đến khi còn trong trường Biệt động quân. Đại úy (xếp của tôi), sĩ quan cố vấn thâm niên, một quân nhân nhà nghề và đầy khả năng đã tử trận. Khi trở về căn cứ, tôi giúp mang thi hài ông ra khỏi trực thăng. Chỉ mới bắt đầu.



Bốn tháng bên cạnh lính dù, tôi tham gia trận đánh lớn đẫm máu, yểm trợ các đơn vị TQLC Hoa Kỳ bắc Đông Hà, gần duyên hải phía bắc của Nam Việt Nam. Hai tiểu đoàn trong số bốn tiểu đoàn của tôi được trực thăng vận vào vùng Phi quân sự, mục tiêu để kiểm soát lực lượng đáng kể của Bắc Việt đang xâm nhập miền Nam.

Ba ngày chiến đấu dữ dội và đẫm máu, cố vấn cao cấp của tôi tử trận. Thượng sĩ Rudy Ortiz bị đạn bắn lỗ chỗ từ đầu tới chân, anh là hạ sĩ quan có can đảm phi thường. Anh kêu tôi nạp đạn vào cây M16, rồi để trên ngực hầu anh cùng mọi người "chiến đấu cho đến chết" (anh may mắn sống sót sau đó).

Tổn thất lên số hàng trăm và chúng tôi hầu như bị cộng quân tràn ngập. Nhưng lính dù Việt Nam vẫn bền chí chiến đấu.

Vào thời điểm nghiêm trọng, chúng tôi đã phản công với yểm trợ của không quân và hải pháo (pháo binh từ tàu bắn vào). Vị tiểu đoàn phó người Việt đứng thẳng lưng, băng qua lằn đạn súng máy đang bắn dữ dội, tới hố cá nhân của tôi nói:

‘Trung úy, giờ chết đã điểm rồi’.

Tôi thấy ớn lạnh khi nhớ những lời nói đó.

Trong chiến đấu, lính Việt Nam không chấp nhận bỏ lại đồng đội ngoài chiến trường dù chết hay bị thương, cũng không bỏ mất vỏ khí.

Trong một trận khác, Tommy Kerns bạn học cùng lớp ở West Point (trường võ bị của Hoa Kỳ tương tự như Võ bị Đà lạt của VNCH), anh là cầu thủ khổng lồ của đội football (bóng bầu dục) Lục quân, bị thương nặng và kẹt trong chiến hào, trong khi tiểu đoàn dù của anh đang cố gắng phá vòng vây đông đảo của quân Bắc Việt.

Những người lính dù chung quanh Tommy đều nhỏ con, không kéo nổi anh ra khỏi chiến hào chật hẹp. Thay vì rút lui và bỏ Tommy lại, họ bám chặt vị trí, giao chiến quyết liệt và đánh bại quân Bắc Việt. Tommy sống sót nhờ những người lính can trường.

Sư đoàn Dù và các cố vấn Mỹ đóng căn cứ trong Sài Gòn hoặc hoặc vùng ngoại biên. Chúng tôi thích năng lực và niềm vui của thành phố, yêu thích văn hóa, ngôn ngữ và người dân Việt.

Bọn tôi rất hãnh diện về vai trò bên cạnh các Mũ đỏ.

Chắc chắn cả thế giới đang khao khát được công tác như bọn tôi - chúng tôi cùng chiến đấu với đội quân ưu tú của nước Việt. Xem ra tụi tôi có rất nhiều tiền nhờ tiền lương lính dù và tác chiến. Được sống trong khu nhà có máy điều hòa không khí. Đám sĩ quan trẻ rất ngông cuồng và hiếu thắng.

Các đại tá và trung tá điều khiển sĩ quan cố vấn, lớn tuổi hơn, trầm tĩnh hơn và chai sạn trên chiến trường, họ là lính dù đã trải qua những trận đánh ác liệt hơn hồi đại chiến thứ II và chiến tranh ở Đại hàn.

Cuộc sống của sĩ quan cố vấn Sư đoàn Dù khó đoán trước. Sư đoàn Dù là đơn vị trừ bị chiến lược, sẽ được tung vào chiến trường khi các chỉ huy trưởng thấy cần. Giữa đêm khuya cả tiểu đoàn hoặc có khi nguyên lữ đoàn Dù được báo động hành quân khẩn cấp.

Chúng tôi ngồi chật nứt trong lòng phi cơ vận tải của Hoa Kỳ, hay của Không quân Việt Nam với đông cơ nổ ầm ỹ, đậu nối đuôi hàng dài trên phi đạo Tân sơn Nhất, gần Sài Gòn. Cấp số đạn được giao cho từng người, đôi khi cấp cả dù đeo lưng. Kế hoạch tác chiến được vội vàng thông báo.

Và sau đó là trận chiến dữ dội, các tiểu đoàn được chuyển tới bất cứ nơi nào cần. Nhảy Dù đi bất cứ đâu trên lãnh thổ quốc gia, và nhảy xuống giữa lòng hỏa lực địch. Sau những lần hành quân như vậy, trong đơn vị tôi, nhiều cố vấn Mỹ và hàng trăm lính Dù ra đi không trở lại.

Tôi thấy khuôn mặt trẻ của: Đại úy Gary Brux. Đại Úy Bill Deuel, Trung úy Chuck Hemmingway, Trung úy Carl Arvin, hiệu thính viên truyền tin rất trẻ Binh nhì Michael Randall. Tất cả đều chết. Can đảm. Kiêu hùng.

Việt Nam không phải là chiến trận đầu tiên. Sau khi tốt nghiệp West Point, tôi gia nhập Sư đoàn 82 Dù, can thiệp vào Cộng hòa Dominican năm 1965.

Chúng tôi chuyển quân lên đảo quốc và dẹp tan cuộc nổi dậy kiểu Cộng sản bắt chước theo Cuba, sau đó ở lại trong vai trò lực lượng gìn giữ hòa bình của tổ chức Các quốc gia Mỹ châu (Organization of American States)

Cứ tưởng như vậy là chiến đấu, lúc trở lại Fort Bragg, bọn tôi hăng hái xin đi Việt Nam. Một số thiếu úy cùng tiểu đoàn bộ binh với tôi, chạy xe đến tận Bộ tư lịnh Lục quân ở Washington, tình nguyện chiến đấu tại Việt Nam. Họ e bỏ lỡ cuộc chiến.

Giờ đây mọi người đều biết câu chuyện kết thúc như thế nào.

Hai triệu người Việt đã chết.

Hoa Kỳ tổn thất 58,000 và 303,000 người bị thương. Nước Mỹ rơi vào cuộc nội chiến chính trị rối loạn, cay đắng. Khi ấy, chúng tôi không hay biết gì về chuyện này. Tôi rất hãnh diện đã được chọn để phục vụ đơn vị Nhảy Dù Việt Nam.

Người vợ mới, xinh đẹp, người tôi yêu mến, biết tôi phải ra đi. Cha tôi, một tướng lãnh Lục quân sẽ lấy làm danh dự nếu tôi tử trận.

Mọi chuyện đã hơn 50 năm trước đây. Những người lính Dù Việt Nam sống sót sau sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam đã trốn thoát qua Campuchia, hoặc trải qua một thập niên trong các “trại cải tạo” rất tàn bạo.

Sau rốt hầu hết cũng tới được Hoa Kỳ.

Hiệp hội các cố vấn và chiến hữu Việt Nam được thành lập. Bia tưởng niệm về những nỗ lực của chúng tôi đặt tại Nghĩa trang Quốc gia Arlington. Hàng năm, bọn tôi quy tụ về đây tưởng nhớ lại lúc đã từng chiến đấu bên nhau. Chúng tôi đội những chiếc mũ beret đỏ. Cười vang chuyện xưa, nhưng cũng buồn sâu sắc vì quá nhiều mất mát, cuối cùng không còn lại gì.
Image
Bia đánh dấu tại nghĩa trang Arlington dành cho chiến sĩ Nhảy Dù VNCH và các cố vấn đã hy sinh.
Dòng chữ trên bia tưởng niệm:

Dedicated to the memory of the paratroopers (Mũ Đỏ) of the Vietnamese Airborne Division (Sư đoàn Nhảy Dù) and their advisors (Cố vấn), The Red hats and Red markers of Advisory Team 162, Military Assistance Command Vietnam (MAC-V) who fought for freedom and democracy in Vietnam 1960-1975

"Airborne all the way"

"Nhảy Dù cố gắng"

Nhiều người hay hỏi tôi học bài học gì ở Việt Nam.

Ai đã từng chiến đấu bên cạnh Sư đoàn Nhảy Dù Việt Nam không bao giờ hỏi như vậy.

Mọi điều chúng tôi nhớ và biết là sự can đảm bền bỉ và quyết tâm của những chiến sĩ có cấp bậc khiêm nhường nhất của Nhảy Dù Việt Nam, luôn xông lên phía trước ở chiến trường.

Không có đền kỷ niệm nào dành riêng cho họ ngoại trừ trong tâm tưởng của chúng tôi.

**

Phụ lục:

Vài hình ảnh có liên quan đến binh chủng Nhảy Dù VNCH.
Image
Tượng Thương tiếc do nhà điêu khắc Nguyễn Thanh Thu thực hiện bằng đồng đặt tại cổng Nghĩa trang Quân đội. Người lính ngồi làm mẫu là chiến sĩ Nhảy Dù VNCH.
2018.01.18
VNCH-Ngọc Trương dịch

hoangphong
Posts: 423
Joined: Tue Feb 12, 2019 7:20 am

Post by hoangphong »

Lý Tống: cựu phi công 'kiêu hùng' cuối cùng của VNCH
Phụng Linh
Gửi đến BBC từ Nam California

Image
Lý Tống lật xem cuốn sách nói về những cuộc đấu tranh cho tự do của ông
9 giờ 16 phút tối 5/4, giờ Cali,
cựu sĩ quan phi công có biệt hiệu Ó Đen của không lực Việt Nam Cộng Hòa đã chính thức ra đi.
Tám giờ đêm 21/3 khi tôi đặt bút bắt đầu viết những giòng này thì Lý Tống đang chìm sâu vào giấc ngủ dài, vương vấn trần gian tại bệnh viện Sharp Memorial Hospital, San Diego, Nam California, Hoa Kỳ.

Kể từ cuối tháng Ba, báo chí Việt Nam ở hải ngoại cũng như các trang mạng xã hội, Facebook đã tràn ngập tin tức nói về tiểu sử, thân phận của ông.

Tuổi trẻ đào hoa và hào hùng

Lý Tống tên thật là Lê Văn Tống, sinh ngày 1/9 năm 1948 tại làng An Cựu, huyện Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên - Huế, gia nhập Không lực Việt Nam Cộng Hoà năm 1965 khi vừa tròn 17 tuổi, và tốt nghiệp khoá 65 A. Cấp bậc cuối cùng của ông trước khi rời quân ngũ là đại uý.

Tuy thế có bức thư của người anh ruột nói ông sinh năm 1946.

Hội trưởng Hội Không quân Việt Nam Cộng Hoà tại San Diego, ông Cù Thái Hòa, cho biết Lý Tống được đưa vào bệnh viện hôm 7/3 vì thở yếu.

Bác sĩ trực bệnh viện nói Lý Tống rơi vào trạng thái hôn mê hôm thứ Ba 19/3 và đang phải thở bằng máy.

Phải đọc bài tâm sự rất dài của ông Lê Xuân Nhuận, anh trai của Lý Tống, mọi người mới có thể hiểu phần nào về tuổi trẻ của ông, một sĩ quan không quân quả cảm, hào hùng.

Khi còn trong độ tuổi thanh niên, Lý Tống đã nhận thức về nghĩa vụ của chàng trai thời chiến, chỉ muốn tung hoành ngang dọc và kiên tâm theo đuổi lý tưởng chống cộng sản, không sợ hãi, không nản lòng trước mọi hoàn cảnh.

Gác bút nghiêng khi vừa tròn 18 tuổi, ông đi một vòng từ miền Trung ra đến tận vùng cao nguyên thăm anh ruột là ông Lê Xuân Nhuận, dự một bữa tiệc tại Ty Cảnh sát Quốc gia tỉnh Quảng Đức và có dịp gặp gỡ nhiều yếu nhân tại đây để chuyện trò, trước khi vào Sài Gòn xin gia nhập binh chủng Không quân, chính thức bước vào con đường binh nghiệp.

Ông Nhuận kể, trong khoảng thời gian từ năm 1970 đến 1973, Lý Tống thường ghé văn phòng Đặc Cảnh vùng II thăm người anh, mỗi lần đến là dắt theo một cô bạn gái mới.

Không chỉ nổi tiếng đào hoa, Lý Tống thường phóng xe hơi như bay, ít chịu dừng lại trạm kiểm soát quân cảnh, nên người anh của ông thường bị than phiền.

Trả lời thắc mắc của các cháu nhỏ gọi bằng chú rằng vì sao ông lái xe như bay, Lý Tống thản nhiên đáp rằng ông "đang bay."

Cũng theo lời kể của ông Lê Xuân Nhuận, Lý Tống chưa bao giờ quỳ gối khi bị bắt buộc trong thời gian bị giam cầm ở trại A-30. Trái lại, ông luôn dõng dạc thách thức "bắn đi" và không hề tỏ ra sợ hãi.
Image
Lý Tống tham dự cuộc diễn hành của cộng đồng người Cuba tại Little Havana, Miami
Bốn lần kết án, 32 năm tù giam

Tên tuổi của Lý Tống đi vào lịch sử của những tấm gương được người Việt hải ngoại một thời ghi nhận là một người 'chống Cộng kiêu hùng', luôn tìm cách tấn công vào hệ thống cộng sản ở bất cứ đâu, không chỉ ở Việt Nam.

Tạp chí Reader's Digest có bài viết về cuộc vượt ngục của Lý Tống với tựa đề "Ly Tong's The long trek to freedom." New York Times có bài "An old soldier still fights Vietnam War". Orange County Register có bài "Ly Tong is a hero, symbol, renegade", và còn nhiều bài khác nữa.
Image Cũng không thiếu người cho Lý Tống là kẻ ngông cuồng, nhưng điều ai cũng đồng ý là không mấy ai quyết lòng theo đuổi lý tưởng chống Cộng đến cùng như ông.

Tháng 4 năm 1975, khi bộ đội Bắc Việt tiến vào miền Nam, Lý Tống không di tản, mà lái chiếc A-37 của biên đội Ó Đen dội bom khu vực đóng quân của bộ đội Bắc Việt. Phi cơ bị bắn rơi, Lý Tống bị ngồi tù 5 năm, giai đoạn đầu tiên ông bị giam cầm.

Tại đây, Lý Tống vượt ngục sang Campuchia, đến Thái Lan, và cuối cùng xin tị nạn chính trị tại Singapore. Ông sang Hoa Kỳ định cư từ năm 1984, theo học bậc cao học tại trường đại học New Orleans, Florida.

Không yên phận của một người lính "rã hàng," Lý Tống tiếp tục lao vào cuộc chiến đấu. Hình như ở ông lúc nào sục sôi nỗi căm thù chế độ cộng sản, chỉ muốn lật đổ họ bằng mọi cách.

Ba lần 'cướp máy bay'

Năm 1992, trong một chuyến bay của hãng hàng không Vietnam Airlines, Lý Tống uy hiếp phi công lái chiếc phi cơ A 310 bay vòng vòng không phận Sài Gòn để ông thả truyền đơn kêu gọi người dân Việt Nam nổi dậy lật đổ nhà cầm quyền cộng sản. Sau đó, ông nhảy dù rơi xuống một ao rau muống. Lý Tống bị đưa ra toà kết án 20 năm tù về tội không tặc.

Tháng 9 năm 1998, nhà cầm quyền Việt Nam phóng thích và trục xuất Lý Tống trở về Hoa Kỳ nhân một đợt đặc xá tù nhân.

Vẫn không chịu ngơi nghỉ, cũng trong năm đó, Lý Tống lái phi cơ đột nhập lãnh thổ Cuba để rải truyền đơn. Chưa dừng lại ở đây, trong ngày đầu năm mới, 1 tháng Giêng năm 2000, Lý Tống lái một chiếc phi cơ loại nhỏ cất cánh từ Florida bay sang La Habana để rải truyền đơn kêu gọi nhân dân Cuba nổi dậy lật đổ chính quyền cộng sản.

Khi quay trở về, Lý Tống bị Cục Di trú và Hải quan Hoa Kỳ bắt giữ để thẩm vấn.

Ông được phóng thích nhưng bị Cục Hàng không Dân dụng liên bang Hoa Kỳ FAA thu hồi bằng lái, mặc dù được người Cuba chống cộng sản coi như là anh hùng.
Image
Lý Tống, lúc ấy 58 tuổi, được đưa từ nhà tù Thái Lan ra toà án, tháng 9/2006
Chưa chịu dừng lại, 11 tháng sau, Lý Tống sang Thái Lan đánh cướp một chiếc phi cơ loại nhỏ bay sang Sài Gòn, vòng vòng trên không phận để thả xuống hơn 50,000 tờ truyền đơn kêu gọi nhân dân Việt Nam nổi dậy lật đổ chính quyền cộng sản. Khi phi cơ hạ cánh xuống phi trường của Thái Lan, ông bị bắt đưa ra toà kết án 7 năm tù, bản án thứ ba dành cho ông.


Lý Tống đã làm sôi động dư luận hải ngoại không ngớt tranh đấu để đưa ông ra khỏi nhà tù và tránh bị chính phủ Thái Lan dẫn độ về Việt Nam.

Cuộc tranh đấu trong đó có biện pháp tuyệt thực tại nhà tù Rayong tháng 3 năm 2006 cuối cùng đã đưa ông trở về Hoa Kỳ an toàn.

Tòa án Thái Lan từ chối yêu cầu dẫn độ Lý Tống về Việt Nam vì lý do ông không làm hại gì đến tình hình an ninh của Thái Lan.

Với tinh thần chiến đấu chống cộng sản đến cùng, ngày 24 tháng 8 năm 2008, Lý Tống lại thuê một chiếc phi cơ huấn luyện của Nam Hàn định lái đi rải truyền đơn trên không phận Bắc Hàn. Tuy nhiên, ông bị bắt tại phi trường Seoul trước khi hành động, không bị kết án vì chưa thực hiện hành vi.

Ngày 19 tháng 7 năm 2010, Lý Tống tranh đấu trực diện bằng cách tấn công ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng mà ông cho là văn nô cộng sản. Lý Tống mặc váy, trét phấn thoa son giả dạng một phụ nữ tham dự chương trình trình diễn của ca sĩ họ Đàm tại San Jose.

Ông cầm bó hoa lên tặng và lợi dụng cơ hội này để xịt hơi cay vào mặt Đàm Vĩnh Hưng. Lý Tống bị bắt, ra toà ngày 21 tháng 7 năm 2012 bị kết án 6 tháng tù và 3 năm quản thúc về tội tấn công người khác, bản án thứ tư dành cho ông.

Lý Tống đã làm quá nhiều việc khó có người bình thường nào có thể làm được. Tin tưởng vào Thiên Chúa, công lý và nhiệm vụ chống cộng của chính mình, ông là một trong số ít nhân vật kiên quyết chống chủ nghĩa đó theo cách của mình, ở khắp nơi, từ Việt Nam, Cuba, đến Bắc Hàn.

Tôi xin trân trọng kính chào vĩnh biệt ông, người với tôi là một anh hùng bất khuất của quân đội Việt Nam Cộng Hoà.

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của bà Phụng Linh tức Võ Thị Hai, hiện cư ngụ tại Nam California, Hoa Kỳ. Bà từng làm báo ở VN và tiếp tục cầm bút sau khi sang Mỹ định cư từ năm 2004.

Xem lại bài:

Việt kiều viết về Lý Tống (2012)

Vụ Lý Tống tấn công Đàm Vĩnh Hưng (2010)

Thái Lan không trao Lý Tống cho chính phủ VN (2007)

Ông Lý Tống đã trở về Mỹ (2007)

hoangphong
Posts: 423
Joined: Tue Feb 12, 2019 7:20 am

Post by hoangphong »

Image

Tạ Từ Lý Tống.

Nguyễn Quang Duy
Lý Tống với cuộc hành trình tìm tự do dài 31 tháng, 5 lần vượt ngục, qua 5 quốc gia, vượt 3.500 cây số đường bộ và bơi qua eo biển Johor Strait, vào thẳng Tòa Đại Sứ Mỹ tại Singapore xin tỵ nạn cộng sản.

Lý Tống với 2 lần về Sài Gòn và 1 lần sang La Habana, Cuba rải truyền đơn kêu gọi dân chúng đứng lên lật đổ cộng sản.

Tôi gặp Lý Tống, khi anh sang Úc tạ ơn đồng bào vận động tự do cho anh vào năm 1999. Với dáng người cao lớn, mái tóc dài cuộn sau gáy, đẹp trai, hiền lành, lời nói nhỏ nhẹ, thuyết phục và đầy ắp lý tưởng tự do.

Tôi thường xuyên nhận email anh gởi tới. Email cuối cùng chỉ cách đây vài tuần. Rồi tin anh hấp hối và hoàn tất phi vụ cuối cùng.

Ngày 05/4/1975, máy bay A-37 của Lý Tống bị hỏa tiễn tầm nhiệt SA-7 của cộng sản bắn vỡ, anh nhảy dù và bị bắt gần Thị Xã Cam Ranh.

Ngày 05/4/2019, đúng 44 năm sau, Lý Tống hoàn tất phi vụ cuối cùng tại bệnh viện Sharp Memorial Hospital, San Diego.

Cả hai xảy ra trong tháng Tư Đen, tháng miền Nam tự do lọt vào tay cộng sản.

Gia đình “Cách Mạng Chân Chính”

Theo Hồi Ký của Lý Tống, cha anh là Lê Văn Tấn, một đại điền chủ giàu nhất nhì Quận Hương Thủy, Thừa Thiên.

Trong thời kháng Pháp ông được bầu làm Chủ Tịch Ủy Ban Kháng Chiến Chống Pháp bị thực dân bắt và chặt đầu.

Anh của Lý Tống là ông Lê Văn Quỳ, khi ấy đang bị Pháp cầm tù, nghe tin Cha bị Pháp chặt đầu vượt ngục vào bưng sau tập kết ra Bắc.

Năm 1992, trước tòa án, chánh án tuyên bố Lý Tống có cha tham gia cách mạng chống Pháp hy sinh, có anh tham gia cách mạng, là cán bộ cao cấp của nhà nước nên tòa án không xử tội rải truyền đơn mà chỉ xử tội không tặc.

Lý Tống trả lời: “Gia đình tôi không phải là gia đình “Cách Mạng” mà là gia đình “Cách Mạng Chân Chính.”

“Cha tôi chống Pháp và bị Pháp giết; anh tôi yêu nước nhưng lầm đường nên chống Mỹ; đại đa số gia đình tôi chống cộng và bị cộng sản đánh giá cực kỳ ngoan cố, cực kỳ phản động.

“Nếu đứng trước phiên tòa này tôi không giữ được nhân cách và danh dự cuả mình thì sau này con cháu tôi cũng sẽ chống lại tôi!”

Ông Lê Văn Quỳ là nhà giáo Chủ nhiệm Khoa Văn Trường Đại học Vạn Hạnh. Ông Quỳ nhiều lần vào trại cải tạo thăm Lý Tống nhưng chỉ 1 lần được gặp.

Năm 1992, khi Lý Tống về Sài Gòn thả truyền đơn lần thứ 1, ông Quỳ bị “hạ tầng công tác” và bị tước bỏ tất cả quyền lợi gắn liền 50 tuổi đảng.

Khi Lý Tống thả truyền đơn Sài Gòn lần thứ 2, ông Qùy bị công an phường kêu lên làm việc, sau 3 giờ “thẩm vấn” vợ ông được báo lên phường “đem xác chồng về!”.

Chiến đấu chống Pháp giành tự do là cuộc chiến đấu của toàn dân, đảng Cộng sản cướp công, tước quyền tự do của dân tộc và từng bước đưa đất nước vào quỹ đạo cộng sản.

Chiến đấu chống cộng là chiến đấu cho tự do vì thế trước tòa án Lý Tống tuyên bố thuộc gia đình “Cách Mạng Chân Chính” chống cộng.

Trước tòa án anh còn tuyên bố là công dân Việt Nam Cộng Hòa và công dân Hoa Kỳ, chưa từng xin công dân cộng sản.

Người tù chân đất

Theo Hồi Ký của ông Phạm Văn Lương K20, một lần, ở tổng trại 4, Tuy Hòa, Lý Tống chui dưới bụng chiếc xe tải vượt trại. Xe chạy ngược lên Ban Mê Thuột anh bị bắt, bị giải giao về trại. Quản chế trại bắt anh quì, anh không quỳ, còn banh ngực ra và nói: “các anh muốn bắn, cứ bắn, tôi không quì”.

Khi lên tổng trại 5 tại Sơn Hòa, Lý Tống không chịu học tập, chống đối, bị cùm và biệt giam. Một hôm, khoảng 5 giờ sáng, hai trại 5 và 4, ai cũng nghe rất rõ Lý Tống liên tục kêu cứu: ”các anh em ơi, tụi Việt cộng muốn giết tôi”.

Trời còn tối, hai cảnh vệ, tới mở cùm và nói: “anh Tống, trại tha anh rồi, ra khỏi nhà cùm theo tụi tôi về với anh em cải tạo viên”.

Lý Tống biết cảnh vệ dụ anh ra khỏi nhà cùm là bắn, rồi đổ tội anh trốn trại và bắn bỏ. Lý Tống nói: “các anh thả tôi, chờ trời sáng, trại viên ngủ dậy, mọi người đều biết, tôi sẽ theo ra, còn bây giờ, tôi không ra khỏi nhà cùm lúc này”.

Nói xong, Lý Tống la lớn, bị cảnh vệ dùng báng súng đánh, anh vẫn không ra lại còn la lớn hơn.

Lý Tống nổi danh với câu nói: “Con gì nhúc nhích là ăn hết”, cóc nhái, ễnh ương, rắn rít mà gặp anh, coi như xong, anh lột da cóc, giã thịt cho thật nát, cho chút muối, nướng ăn ngon lành. Nhờ thế anh sống sót, nhiều phi công to con bị thiếu ăn chết trong tù cộng sản.

Lý Tống có một đặc điểm là chỉ đi chân đất, đôi dép quàng trên cổ tòn ten. Có ai hỏi anh trả lời gọn “Da chân mòn thì còn mọc da khác, dép mòn ai phát dép mới để đi“.

Theo ông Lê văn Nhuận anh của Lý Tống đôi dép được một cô gái gởi tặng.

Thân phụ của cô cũng là sỹ quan bị tù tại Trại A30. Cô thăm nuôi cha, để ý thấy Lý Tống lần nào cũng đi chân đất, bèn gửi tặng anh một đôi dép cao su. Anh nhận nhưng buộc dây đeo trên vai, còn chân vẫn đi đất.

Hành trình tìm tự do…

Theo Anthony Paul, Tạp Chí Reader’s Digest 06/1984, ngày 12/07/1980, Lý Tống bắt đầu tiến hành vượt ngục.

Anh cặm cụi dùng 1 cây đinh, cạy lỏng thanh sắt ở cửa sổ cầu tiêu của Trại tù A30, chui ra, bò ngang qua sân nhà tù, dùng một cái kéo cắt đứt 2 hàng rào kẽm gai, rồi đi bộ suốt đêm đến thành phố Tuy Hoà.

Anh được một người bạn cho tiền để đón xe đò đi Nha Trang. Người lơ xe, trông thấy bộ dạng của Lý Tống, hỏi:

“Anh trốn trại A30 phải không ? Rắc rồi to rồi. Trạm kiểm soát ở trước mặt. Thôi đi xuống đi, lẫn vào đám đông đi bộ qua trạm gác, họ ít khi soát giấy người đi bộ. Tôi sẽ đợi anh ở phía bên kia trạm gác.”

Tới Nha Trang, Lý Tống liên lạc được với một bạn gái cho quần áo, tiền, và vé xe lửa đi Sài Gòn. Người bạn gái này đã tặng anh đôi dép nói đến bên trên.

Về Sài Gòn, Lý Tống lẻn vào phi trường Tân Sơn Nhất nhưng các máy bay đều không sử dụng được anh phải tìm cách vượt biên bằng đường bộ.

Anh sang Campuchia, 2 lần bị bắt và trốn thoát được. Anh đi đến tới tỉnh Sisophon tìm cách vượt biên sang Thái. Thời chiến tranh biên giới đầy những bãi mìn phải đi ban đêm anh chỉ biết cầu ơn trên được vượt thoát.

Anh đến Thái bị giam ở nhà tù Aranyaprathet 10 tháng, lại vượt ngục tìm cách vượt biên sang Mã Lai rồi bơi qua eo biển Johore sang Singapore đến tòa Đại Sứ Mỹ xin tị nạn.

Ngày 10/02/1983, sau 31 tháng, Lý Tống vượt qua 3.500 cây số vừa đường bộ vừa đường biển, qua 5 quốc gia và 5 lần vượt ngục đã tìm thấy tự do.

“Cuộc Hành Trình Tìm Tự Do” của Lý Tống đã được viết thành Hồi Ký “Ó Đen” tại đây

Phi vụ Sài Gòn 1

Sang Mỹ, Lý Tống đi học lại, khi đang trình luận án Tiến Sỹ về chính trị ngành Bang Giao Quốc Tế thì Khối Cộng sản Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, anh chọn đường về nước đấu tranh.

Năm 1992, trên chuyến bay về lại Việt Nam, anh uy hiếp phi công A310 của hãng Vietnam Airlines bay trên Sài Gòn thả 50.000 truyền đơn kêu gọi đồng bào nổi dậy giành lại tự do. Anh nhảy dù khỏi phi cơ xuống một đầm lầy, bị bắt và bị kết án 20 năm tù.

Lúc này, Hà Nội còn bưng bít thông tin nhưng việc phi công Lý Tống làm đều được các hãng truyền thông như BBC, VOA,… loan tải và phiên tòa xử anh được báo chí trong nước đưa tin rộng rãi.

Tháng 9/1998, nhà cầm quyền Hà Nội trả tự do và trục xuất Lý Tống về lại Hoa Kỳ.

Phi vụ La Habana

Nhân Quốc Khánh thứ 41 của Cuba, ngày 1/1/2000, Lý Tống mướn một máy bay nhỏ bay từ Florida sang thủ đô La Habana, thả 50.000 tờ truyền đơn kêu gọi nhân dân Cuba nổi dậy lật đổ cộng sản.

Về lại Hoa Kỳ, anh bị Cục Di cư và Hải quan Hoa Kỳ thẩm vấn được trắng án nhưng bị Cục hàng không Liên bang rút giấy phép bay.

Anh được cộng đồng Cuba tự do coi là anh hùng chống cộng toàn cầu.

Phi vụ Sài Gòn 2

Ngày 16/11/2000, một ngày trước khi Tổng Thống Bill Clinton thăm Việt Nam, Lý Tống mướn 1 phi cơ nhỏ bay vòng vòng trên Sài Gòn thả 50.000 tờ truyền đơn rồi từ từ bay về lại Thái.

Tờ truyền đơn một mặt là lá cờ Việt Nam Cộng Hòa mặt kia là lời kêu gọi Biểu Tình Đòi Tự Do nhân dịp Tổng Thống Hoa Kỳ ghé thăm Việt Nam.

Về lại Thái Lan anh bị bắt và bị nhà cầm quyền Hà Nội đòi dẫn độ về Việt Nam.

Sau hơn 6 năm bị giam cầm, ngày 03/04/2007 Toà Chung Thẩm Thái ra phán quyết công nhận hành động của Lý Tống là một hành động chính trị và trả tự do cho anh.

Năm 2008 Lý Tống còn lên kế hoạch từ Nam Hàn bay sang Bắc Kinh, nhân dịp Thế Vận Hội 2008 rải truyền đơn nhưng không thành.


Gây tranh cãi…

Ngày 19/7/2010, Lý Tống gây tranh cãi khi mặc váy đóng giả nữ, lọt vào một buổi biểu diễn ca nhạc, giả vờ tặng hoa rồi liên tiếp xịt hơi cay vào mặt Đàm Vĩnh Hưng. Anh bị xử 6 tháng tù và 3 năm quản chế.

Ngày 22/1/2016, được truyền hình PhoBolsaTV phỏng vấn, Lý Tống cho biết rất “ân hận” việc này, cuộc chiến chống nghị quyết 36 khó khăn hơn, nếu làm thì phải làm có kết quả rõ ràng không thể để đồng bào hoang mang tranh cãi.

Hổ trợ Phong Trào Dân Chủ Việt Nam

Hôm nay 8/4/2019, cũng là ngày kỷ niệm 13 năm thành lập Khối 8406. Tôi trước đây có trong Ban Cố Vấn Khối nên biết rất rõ Lý Tống là người tích cực ủng hộ Khối 8406 và các Phong trào đấu tranh Quốc Nội.

Là cựu tù nhân chính trị, Lý Tống hiểu rõ tình trạng của tù nhân cộng sản nên anh luôn tìm cách giúp đỡ cả tài chánh lẫn tinh thần những người đang đấu tranh.

Tạ từ Lý Tống

30/4/1975 thua cuộc nhưng Lý Tống và chiến hữu trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa không hề bỏ cuộc.

Lý Tống là phi công cuối cùng của Quân Sử Việt Nam Cộng Hòa, anh dũng, kiêu hùng, bất khuất.

Anh hoàn tất phi vụ cuối cùng 5/4/2019, hoàn thành nhiệm vụ Tổ Quốc Không Gian, giữ trọn lời thề Tổ Quốc, Danh Dự và Trách Nhiệm.

Cuộc đời Lý Tống nói lên khát vọng tự do của người Việt Nam.

Lý Tống sẽ được đưa về an táng tại Little Saigon, Nam California vào ngày 20 và 21/4/2019 sắp tới. Được biết tỷ phú Hoàng Kiều đã ngỏ lời tặng miếng đất cho anh: “Chúng ta phải kiếm một miếng đất đẹp và rộng cho anh Tống vì anh xứng đáng được như vậy.”

Tạ từ Anh.

Bên Anh luôn có tôi, có chiến hữu, có đồng bào ngày đêm chiến đấu cho Việt Nam Tự Do.

Nguyễn Quang Duy
Melbourne, Úc Đại Lợi
8/4/2019

User avatar
mexanh
Posts: 517
Joined: Tue Nov 04, 2008 4:18 am

Post by mexanh »

Truyện Người Lính Nhỏ mà Chính Khí lớn:
VŨ TIẾN QUANG


Tác giả Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sĩ là giáo sư Y Khoa Paris Pháp Quốc.

Image
Trung Sĩ VŨ TIẾN QUANG Cái Bóng Của HOÀI VĂN VƯƠNG TRẦN QUỐC TOẢN
(Trích trong bộ Lịch Sử Thiếu Sinh Quân Việt Nam)
Vũ Tiến Quang sinh ngày 10 tháng 9 năm 1956 tại Kiên Hưng, tỉnh Chương Thiện. Thân phụ là hạ sĩ địa phương quân Vũ Tiến Đức. Ngày 20 tháng 3 năm 1961, trong một cuộc hành quân an ninh của quận, Hạ Sĩ Đức bị trúng đạn tử thương khi tuổi mới 25. Ông để lại bà vợ trẻ với hai con. Con trai lớn, Vũ Tiến Quang 5 tuổi. Con gái tên Vũ thị Quỳnh Chi mới tròn một năm. Vì có học, lại là quả phụ tử sĩ, bà Đức được thu dụng làm việc tại Chương Thiện, với nhiệm vụ khiêm tốn là thư ký tòa hành chánh. Nhờ đồng lương thư ký, thêm vào tiền tử tuất cô nhi, quả phụ, nên đời sống của bà với hai con không đến nỗi thiếu thốn.

Quang học tại trường tiểu học trong tỉnh. Tuy rất thông minh, nhưng Quang chỉ thích đá banh, thể thao hơn là học. Thành ra Quang là một học sinh trung bình trong lớp. Cuối năm 1967, Quang đỗ tiểu học. Nhân đọc báo Chiến Sĩ Cộng Hoà có đăng bài: “Ngôi sao sa trường: Thượng-sĩ-sữa Trần Minh, Thiên Thần U Minh Hạ”, bài báo thuật lại: Minh xuất thân từ trường Thiếu Sinh Quân Việt Nam. Sau khi ra trường, Minh về phục vụ tại tiểu đoàn Ngạc Thần (tức tiểu đoàn 2 trung đoàn 31, sư đoàn 21 Bộ Binh) mà tiểu đoàn đang đồn trú tại Chương Thiện. Quang nảy ra ý đi tìm người hùng bằng xương bằng thịt. Chú bé lóc cóc 12 tuổi, được Trần Minh ôm hôn, dẫn đi ăn phở, bánh cuốn, rồi thuật cho nghe về cuộc sống vui vẻ tại trường Thiếu Sinh Quân. Quang suýt xoa, ước mơ được vào học trường này. Qua cuộc giao tiếp ban đầu, Minh là một mẫu người anh hùng, trong ước mơ của Quang. Quang nghĩ: “Mình phải như anh Minh”.

Chiều hôm đó Quang thuật cho mẹ nghe cuộc gặp gỡ Trần Minh, rồi xin mẹ nộp đơn cho mình nhập học trường Thiếu Sinh Quân. Bà mẹ Quang không mấy vui vẻ, vì Quang là con một, mà nhập học Thiếu Sinh Quân, rồi sau này trở thành anh hùng như Trần Minh thì…nguy lắm. Bà không đồng ý. Hôm sau bà gặp riêng Trần Minh, khóc thảm thiết xin Minh nói dối Quang rằng, muốn nhập học trường Thiếu Sinh Quân thì cha phải thuộc chủ lực quân, còn cha Quang là địa phương quân thì không được. Minh từ chối:

- Em không muốn nói dối cháu. Cháu là Quốc Gia Nghĩa Tử thì ưu tiên nhập học. Em nghĩ chị nên cho cháu vào trường Thiếu Sinh Quân, thì tương lai của cháu sẽ tốt đẹp hơn ở với gia đình, trong khuôn khổ nhỏ hẹp.

Chiều hôm ấy Quang tìm đến Minh để nghe nói về đời sống trong trường Thiếu Sinh Quân. Đã không giúp bà Đức thì chớ, Minh còn đi cùng Quang tới nhà bà, hướng dẫn bà thủ tục xin cho Quang nhập trường. Thế rồi bà Đức đành phải chiều con. Bà đến phòng 3, tiểu khu Chương Thiện làm thủ tục cho con. Bà gặp may. Trong phòng 3 Tiểu Khu, có Trung Sĩ Nhất Cao Năng Hải, cũng là cựu Thiếu Sinh Quân. Hải lo làm tất cả mọi thủ tục giúp bà. Sợ bà đổi ý, thì mình sẽ mất thằng em dễ thương. Hải lên gặp Thiếu-tá Lê Minh Đảo, Tiểu Khu trưởng trình bầy trường hợp của Quang. Thiếu Tá Đảo soạn một văn thư, đính kèm đơn của bà Đức, xin bộ Tổng Tham Mưu dành ưu tiên cho Quang.

Tháng 8 năm 1968, Quang được giấy gọi nhập học trường Thiếu Sinh Quân, mà không phải thi. Bà Đức thân dẫn con đi Vũng Tàu trình diện. Ngày 2 tháng 9 năm 1969, Quang trở thành một Thiếu Sinh Quân Việt Nam.

Quả thực trường Thiếu Sinh Quân là thiên đường của Quang. Quang có nhiều bạn cùng lứa tuổi, dư thừa chân khí, chạy nhảy vui đùa suốt ngày. Quang thích nhất những giờ huấn luyện tinh thần, những giờ học quân sự. Còn học văn hóa thì Quang lười, học sao đủ trả nợ thầy, không bị phạt là tốt rồi. Quang thích đá banh, và học Anh văn. Trong lớp, môn Anh văn, Quang luôn đứng đầu. Chỉ mới học hết đệ lục, mà Quang đã có thể đọc sách báo bằng tiếng Anh, nói truyện lưu loát với cố vấn Mỹ.
Giáo-sư Việt văn của Quang là thầy Phạm Văn Viết, người mà Quang mượn bóng dáng để thay thế người cha. Có lần thầy Viết giảng đến câu :

“Nhân sinh tự cổ thùy vô tử,
Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh”
(Người ta sinh ra, ai mà không chết.
Cần phải lưu chút lòng son vào thanh sử).

Quang thích hai câu này lắm, luôn miệng ngâm nga, rồi lại viết vào cuốn sổ tay.
Trong giờ học sử, cũng như giờ huấn luyện tinh thần, Quang được giảng chi tiết về các anh hùng : Hoài Văn Vương Trần Quốc Toản, thánh tổ của Thiếu Sinh Quân, giết tươi Toa Đô trong trận Hàm Tử. Quang cực kỳ sùng kính Bảo Nghĩa Vương Trần Bình Trọng, từ chối công danh, chịu chết cho toàn chính khí. Quang cũng khâm phục Nguyễn Biểu, khi đối diện với quân thù, không sợ hãi, lại còn tỏ ra khinh thường chúng. Ba nhân vật này ảnh hưởng vào Quang rất sâu, rất đậm.

Suốt các niên học từ 1969-1974, mỗi kỳ hè, được phép 2 tháng rưỡi về thăm nhà, cậu bé Thiếu Sinh Quân Vũ Tiến Quang tìm đến các đàn anh trấn đóng tại Chương Thiện để trình diện. Quang được các cựu Thiếu Sinh Quân dẫn đi chơi, cho ăn quà, kể truyện chiến trường cho nghe. Một số ông uống thuốc liều, cho Quang theo ra trận. Quang chiến đấu như một con sư tử. Không ngờ mấy ông anh cưng cậu em út quá, mà gây ra một truyện động trời, đến nỗi bộ Tổng Tham Mưu Việt Nam, bộ Tư-lệnh MACV cũng phải rởn da gà! Sau trở thành huyền thoại. Câu chuyện như thế này:

Hè 1972, mà quân sử Việt Nam gọi là Mùa Hè Đỏ Lửa, giữa lúc chiến trường toàn quốc sôi động. Bấy giờ Quang đã đỗ chứng chỉ 1 Bộ Binh. Được phép về thăm nhà, được các đàn anh cho ăn, và giảng những kinh nghiệm chiến trường, kinh nghiệm đời. Quang xin các anh cho theo ra trận. Mấy ông cựu Thiếu Sinh Quân, trăm ông như một, ông nào gan cũng to, mật cũng lớn, lại coi trời bằng vung. Yêu cậu em ngoan ngoãn, các ông chiều…cho Quang ra trận. Cuộc hành quân nào mấy ông cũng dẫn Quang theo.

Trong môt cuộc hành quân cấp sư đoàn, đánh vào vùng Hộ Phòng, thuộc Cà Mau. Đơn vị mà Quang theo là trung đội trinh sát của trung đoàn 31. Trung đội trưởng là một thiếu úy cựu Thiếu Sinh Quân. Hôm ấy, thông dịch viên cho cố vấn bị bệnh, Quang lại giỏi tiếng Anh, nên thiếu úy trung đội trưởng biệt phái Quang làm thông dịch viên cho cố vấn là thiếu úy Hummer. Trực thăng vừa đổ quân xuống thì hiệu thính viên của Hummer trúng đạn chết ngay. Lập tức Quang thay thế anh ta. Nghĩa là mọi liên lạc vô tuyến, Hummer ra lệnh cho Quang, rồi Quang nói lại trong máy.

Trung đội tiến vào trong làng thì lọt trận điạ phục kích của trung đoàn chủ lực miền, tên trung đoàn U Minh. Trung đội bị một tiểu đoàn địch bao vây. Vừa giao tranh được mười phút thì Hummer bị thương. Là người can đảm, Hummer bảo Quang đừng báo cáo về Trung-tâm hành quân. Trận chiến kéo dài sang giờ thứ hai thì Hummer lại bị trúng đạn nữa, anh tử trận, thành ra không có ai liên lạc chỉ huy trực thăng võ trang yểm trợ. Kệ, Quang thay Hummer chỉ huy trực thăng võ trang. Vì được học địa hình, đọc bản đồ rất giỏi, Quang cứ tiếp tục ra lệnh cho trực thăng võ trang nã vào phòng tuyến địch, coi như Hummer còn sống. Bấy giờ quân hai bên gần như lẫn vào nhau, chỉ còn khoảng cách 20-30 thước.
Thông thường, tại các quân trường Hoa-kỳ cũng như Việt Nam, dạy rằng khi gọi pháo binh, không quân yểm trợ, thì chỉ xin bắn vào trận địa địch với khoảng cách quân mình 70 đến 100 thước. Nhưng thời điểm 1965-1975, các cựu Thiếu Sinh Quân trong khu 42 chiến thuật khi họp nhau để ăn uống, siết chặt tình thân hữu, đã đưa ra phương pháp táo bạo là xin bắn vào phòng tuyến địch, dù cách mình 20 thước. Quang đã được học phương pháp đó. Quang chỉ huy trực thăng võ trang nã vào trận địch, nhiều rocket (hoả tiễn nhỏ), đạn 155 ly nổ sát quân mình, làm những binh sĩ non gan kinh hoảng. Nhờ vậy, mà trận địch bị tê liệt.

Sau khi được giải vây, mọi người khám phá ra Quang lĩnh tới bẩy viên đạn mà không chết: trên mũ sắt có bốn vết đạn bắn hõm vào; hai viên khác trúng ngực, may nhờ có áo giáp, bằng không thì Quang đã ô-hô ai-tai rồi. Viên thứ bẩy trúng…chim. Viên đạn chỉ xớt qua, bằng không thì Quang thành thái giám.

Trung-tá J.F. Corter, cố vấn trưởng trung đoàn được trung đội trưởng trinh sát báo cáo Hummer tử trận lúc 11 giờ 15. Ông ngạc nhiên hỏi

- Hummer chết lúc 11.15 giờ, mà tại sao tôi vẫn thấy y chỉ huy trực thăng, báo cáo cho đến lúc 17 giờ?

Vì được học kỹ về tinh thần trách nhiệm, Quang nói rằng mình là người lạm quyền, giả lệnh Hummer, thay Hummer chỉ huy. Quang xin lỗi Corter. Trung-tá J.F. Corter tưởng Quang là lính người lớn, đề nghị gắn huy chương Hoa Kỳ cho Quang. Bấy giờ mới lòi đuôi chuột ra rằng các ông cựu Thiếu Sinh Quân đã uống thuốc liều, cho thằng em sữa ra trận.

Đúng ra theo quân luật, mấy ông anh bị phạt nặng, Quang bị đưa ra tòa vì “Không có tư cách mà lại chỉ huy”. Nhưng các vị sĩ quan trong sư đoàn 21, trung đoàn 31 cũng như cố vấn đều là những người của chiến trường, tính tình phóng khoáng, nên câu truyện bỏ qua. Quang không được gắn huy chương, mà mấy ông anh cũng không bị phạt. Hết hè, Quang trở về trường mang theo kỷ niệm chiến đấu cực đẹp trong đời cậu bé, mà cũng là kỷ niệm đẹp vô cùng của Thiếu Sinh Quân Việt Nam. Câu truyện này trở thành huyền thoại. Huyền thoại này lan truyền mau lẹ khắp năm tỉnh của khu 42 chiến thuật : Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Chương Thiện. Quang trở thành người hùng lý tưởng của những thiếu nữ tuổi 15-17 !
Năm 1974, sau khi đỗ chứng chỉ 2 Bộ Binh, Quang ra trường, mang cấp bậc trung sĩ. Quang nộp đơn xin về sư đoàn 21 Bộ Binh. Quang được toại nguyện. Sư đoàn phân phối Quang về tiểu đoàn Ngạc Thần tức tiểu đoàn 2 trung đoàn 31, tiểu đoàn của Trần Minh sáu năm trước. Thế là giấc mơ 6 năm trước của Quang đã thành sự thực.

Trung đoàn 31 Bộ Binh đóng tại Chương Thiện. Bấy giờ tỉnh trưởng kiêm tiểu khu trưởng Chương Thiện là Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn, tham mưu trưởng tiểu khu là Thiếu Tá Nguyễn Văn Thời. Cả hai đều là cựu Thiếu Sinh Quân. Đại-tá Cẩn là cựu Thiếu Sinh Quân cao niên nhất vùng Chương Thiện bấy giờ (36 tuổi). Các cựu Thiếu Sinh Quân trong tiểu đoàn 2-31 dẫn Quang đến trình diện anh hai Cẩn. Sau khi anh em gặp nhau, Cẩn đuổi tất các tùy tùng ra ngoài, để anh em tự do xả xú báp.
Cẩn bẹo tai Quang một cái, Quang đau quá nhăn mặt. Cẩn hỏi:

- Ê ! Quang, nghe nói mày lĩnh bẩy viên đạn mà không chết, thì mày thuộc loại mình đồng da sắt. Thế sao tao bẹo tai mày, mà mày cũng đau à?
- Dạ, đạn Việt-cộng thì không đau. Nhưng vuốt anh cấu thì đau.
- Móng tay tao, đâu phải vuốt?
- Dạ, người ta nói anh là cọp U Minh Thượng…Thì vuốt của anh phải sắc lắm
- Hồi đó suýt chết, thế bây giờ ra trận mày có sợ không?
- Nếu khi ra trận anh sợ thì em mới sợ. Cái lò Thiếu Sinh Quân có bao giờ nặn ra một thằng nhát gan đâu ?
- Thằng này được. Thế mày đã trình diện anh Thời chưa?
- Dạ anh Thời-thẹo không có nhà.

Thiếu Tá Nguyễn Văn Thời, tham mưu trưởng Tiểu-khu, uy quyền biết mấy, thế mà một trung sĩ 18 tuổi dám gọi cái tên húy thời thơ ấu ra, thì quả là một sự phạm thượng ghê gớm. Nhưng cả Thời lẫn Quang cùng là cựu Thiếu Sinh Quân thì lại là một sự thân mật. Sau đó anh em kéo nhau đi ăn trưa. Lớn, bé cười nói ồn ào, như không biết tới những người xung quanh.
Bấy giờ tin Trần Minh đã đền nợ nước tại giới tuyến miền Trung. Sự ra đi của người đàn anh, của người hùng lý tưởng làm Quang buồn không ít. Nhưng huyền thoại về Trần Minh lưu truyền, càng làm chính khí trong người Quang bừng bừng bốc lên.

Tại sư đoàn 21 Bộ Binh, tất cả các hạ sĩ quan cũng như các Thiếu Sinh Quân mới ra trường, thường chỉ được theo hành quân như một khinh binh. Đợi một vài tháng đã quen với chiến trường, rồi mới được chỉ định làm tiểu đội trưởng. Nhưng vừa trình diện, Quang được cử làm trung đội phó ngay, dù hầu hết các tiểu đội trưởng đều ở cấp trung sĩ, trung sĩ nhất, mà những người này đều vui lòng. Họ tuân lệnh Quang răm rắp!

Sáu tháng sau, đầu năm 1975 nhờ chiến công, Quang được thăng trung sĩ nhất, nhưng chưa đủ một năm thâm niên, nên chưa được gửi đi học sĩ quan. Quang trở thành nổi tiếng trong trận đánh ngày 1-2-1975, tại Thới Lai, Cờ Đỏ. Trong ngày hôm ấy, đơn vị của Quang chạm phải tiểu đoàn Tây Đô. Đây là một tiểu đoàn được thành lập từ năm 1945, do các sĩ quan Nhật Bản không muốn về nước, trốn lại Việt Nam…huấn luyện. Quang đã được Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn giảng về kinh nghiệm chiến trường:
“Tây Đô là tiểu đoàn cơ động của tỉnh Cần Thơ. Tiểu đoàn có truyền thống lâu đời, rất thiện chiến. Khi tác chiến cấp đại đội, tiểu đoàn chúng không hơn các đơn vị khác làm bao. Nhưng tác chiến cấp trung đội, chúng rất giỏi. Chiến thuật thông thường, chúng dàn ba tiểu đội ra, chỉ tiểu đội ở giữa là nổ súng. Nếu thắng thế, thì chúng bắn xối xả để uy hiếp tinh thần ta, rồi hai tiểu đội hai bên xung phong. Nếu yếu thế, thì chúng lui. Ta không biết, đuổi theo, thì sẽ dẫm phải mìn, rồi bị hai tiểu đội hai bên đánh ép. Vì vậy khi đối trận với chúng, phải im lặng không bắn trả, để chúng tưởng ta tê liệt. Khi chúng bắt đầu xung phong, thì dùng vũ khí cộng đồng nã vào giữa, cũng như hai bên. Thấy chúng chạy, thì tấn công hai bên, chứ đừng đuổi theo. Còn như chúng tiếp tục xung phong ta phải đợi chúng tới gần rồi mớí phản công”

Bây giờ Quang có dịp áp dụng. Sau khi trực thăng vận đổ quân xuống. Cả đại đội của Quang bị địch pháo chụp lên đầu, đại liên bắn xối xả. Không một ai ngóc đầu dậy được. Nhờ pháo binh, trực thăng can thiệp, sau 15 phút đại đội đã tấn công vào trong làng. Vừa tới bìa làng, thiếu úy trung đội trưởng của Quang bị trúng đạn lật ngược. Quang thay thế chỉ huy trung đội. Trung đội dàn ra thành một tuyến dài đến gần trăm mét. Đến đây, thì phi pháo không can thiệp được nữa, vì quân hai bên chỉ cách nhau có 100 mét, gần như lẫn vào nhau. Nhớ lại lời giảng của Cẩn, Quang ra lệnh im lặng, chỉ nổ súng khi thấy địch. Ngược lại ngay trước mặt Quang, khoảng 200 thước là một cái hầm lớn, ngay trước hầm hai khẩu đại liên không ngừng nhả đạn. Quang ghi nhận vị trí hai khẩu đại liên với hai khẩu B40 ra lệnh:
” Lát nữa khi chúng xung phong thì dùng M79 diệt hai khẩu đại liên, B40, rồi hãy bắn trả “.

Sau gần 20 phút, thình lình địch xả súng bắn xối xả như mưa, như gió, rồi tiếng hô xung phong phát ra. Chỉ chờ có thế, M79 của Quang khai pháo. Đại liên, B40 bị bắn tung lên, trong khi địch đang xung phong. Bấy giờ trung đội của Quang mới bắn trả. Chỉ một loạt đạn, toàn bộ phòng tuyến địch bị cắt. Quang ra lệnh xung phong. Tới căn hầm, binh sĩ không dám lại gần, vì bị lựu đạn từ trong ném ra. Quang ra lệnh cho hai khẩu đại liên bắn yểm trợ, rồi cho một khinh binh bò lại gần, tung vào trong một quả lựu đạn cay. Trong khi Quang hô :
- Ra khỏi hầm, dơ tay lên đầu ! Bằng không lựu đạn sẽ ném vào trong.

Cánh cửa hầm mở ra, mười tám người, nam có, nữ có, tay dơ lên đầu, ra khỏi hầm, lựu đạn cay làm nước mắt dàn dụa.
Đến đây trận chiến chấm dứt.
Thì ra 18 người đó là đảng bộ và ủy ban nhân dân của huyện châu thành Cần Thơ. Trong đó có viên huyện ủy và viên chủ tịch ủy ban nhân dân huyện.

Sau trận này Quang được tuyên dương công trạng trước quân đội, được gắn huy chương Anh Dũng Bội Tinh với nhành dương liễu. Trong lễ chiến thắng giản dị, Quang được một nữ sinh trường Đoàn Thị Điểm quàng vòng hoa. Nữ sinh đó tên Nguyễn Hoàng Châu, 15 tuổi, học lớp đệ ngũ. Cho hay, anh hùng với giai nhân xưa nay thường dễ cảm nhau. Quang, Châu yêu nhau từ đấy. Họ viết thư cho nhau hàng ngày. Khi có dịp theo quân qua Cần Thơ, thế nào Quang cũng gặp Châu. Đôi khi Châu táo bạo, xuống Chương Thiện thăm Quang. Mẹ Quang biết truyện, bà lên Cần Thơ gặp cha mẹ Châu. Hai gia đình đính ước với nhau. Họ cùng đồng ý : Đợi năm tới, Quang xin học khóa sĩ quan đặc biệt, Châu 17 tuổi, thì cho cưới nhau.
Nhưng mối tình đó đã đi vào lịch sử…

Tình hình toàn quốc trong tháng 3, tháng 4 năm 1975 biến chuyển mau lẹ. Ban Mê Thuột bị mất, Quân Đoàn 2 rút lui khỏi Cao Nguyên, rồi Quân Đoàn 1 bỏ mất lãnh thổ. Rồi các sĩ quan bộ Tổng Tham Mưu được Hoa Kỳ bốc đi. Ngày 29-4, trung đội của Quang chỉ còn mười người. Tiểu đoàn trưởng, đại đội trưởng bỏ ngũ về lo di tản gia đình. Quang vào bộ chỉ huy tiểu khu Chương Thiện trình diện Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn. Cẩn an ủi : - Em đem mấy người thuộc quyền vào đây ở với anh.

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, viên tướng mặt bánh đúc, đần độn, giết chu ̉ , tướng Dương Văn Minh phát thanh bản văn ra lệnh cho quân đội Việt Nam Cộng-hòa buông súng đầu hàng. Tất cả các đơn vị quân đội miền Nam tuân lệnh, cởi bỏ chiến bào, về sống với gia đình. Một vài đơn vị lẻ lẻ còn cầm cự. Tiếng súng kháng cự của các đơn vị Dù tại Sài-gòn ngừng lúc 9 giờ 7 phút.

Đúng lúc đó tại Chương Thiện, tỉnh trưởng kiêm Tiểu Khu trưởng là Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn. Ông đang chỉ huy các đơn vị thuộc quyền chống lại cuộc tấn công của Cộng quân. Phần thắng đã nằm trong tay ông. Lệnh của Dương Văn Minh truyền đến. Các quận trưởng chán nản ra lệnh buông súng. Chỉ còn tỉnh lỵ là vẫn chiến đấu. Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn ra lệnh:
“Dương Văn Minh lên làm Tổng-thống trái với hiến pháp. Ông ta không có tư cách của vị Tổng Tư Lệnh. Hãy tiếp tục chiến đấu”.

Nhưng đến 12 giờ trưa, các đơn vị dần dần bị tràn ngập, vì quân ít, vì hết đạn vì mất tinh thần. Chỉ còn lại bộ chỉ huy tiểu khu. Trong bộ chỉ huy tiểu khu, có một đại đội địa phương quân cùng nhân viên bộ ham mưu. Đến 13 giờ, lựu đạn, đạn M79 hết. Tới 14 giờ 45, thì đạn hết, làn sóng Cộng quân tràn vào trong bộ chỉ huy. Cuối cùng chỉ còn một ổ kháng cự từ trong một hầm chiến đấu, nơi đó có khẩu đại liên. Một quả lựu đạn cay ném vào trong hầm, tiếng súng im bặt. Quân Cộng Sản vào hầm lôi ra hai người. Một là Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn, tỉnh trưởng, kiêm tiểu khu trưởng và một trung sĩ mớí 19 tuổi. Trung sĩ đó tên là Vũ Tiến Quang.
Bấy giờ đúng 15 giờ.
Kẻ chiến thắng trói người chiến bại lại. Viên đại tá chính ủy của đơn vị có nhiệm vụ đánh tỉnh Chương Thiện hỏi:
- Đ.M. Tại sao có lệnh đầu hàng, mà chúng mày không chịu tuân lệnh?

Đại Tá Cẩn trả lời bằng nụ cười nhạt.
Trung sĩ Quang chỉ Đại Tá Cẩn:

- Thưa đại tá, tôi không biết có lệnh đầu hàng. Ví dù tôi biết, tôi cũng vẫn chiến đấu. Vì anh ấy là cấp chỉ huy trực tiếp của tôi. Anh ra lệnh chiến đấu, thì tôi không thể cãi lệnh.

Cộng quân thu nhặt xác chết trong, ngoài bộ chỉ huy tiểu khu. Viên chính ủy chỉ những xác chết nói với Đại Tá Cẩn:

- Chúng mày là hai tên ngụy ác ôn nhất. Đ.M. Chúng mày sẽ phải đền tội.

Đại Tá Cẩn vẫn không trả lời, vẫn cười nhạt. Trung sĩ Quang ngang tàng:

- Đại tá có lý tưởng của đại tá, tôi có lý tưởng của tôi. Đại tá theo Karl Marx, theo Lénine; còn tôi, tôi theo vua Hùng, vua Trưng. Tôi tuy bại trận, nhưng tôi vẫn giữ lý tưởng của tôi. Tôi không gọi đại tá là tên Việt Cộng. Tại sao đại tá lại mày tao, văng tục với chúng tôi như bọn ăn cắp gà, phường trộm trâu vậy? Phải chăng đó ngôn ngữ của đảng Cộng-sản ?

Viên đại tá rút súng kề vào đầu Quang:

- Đ.M. Tao hỏi mày, bây giờ thì mày có chính nghĩa hay tao có chính nghĩa?
- Xưa nay súng đạn trong tay ai thì người đó có lý. Nhưng đối với tôi, tôi học trường Thiếu Sinh Quân, súng đạn là đồ chơi của tôi từ bé. Tôi không sợ súng đâu. Đại tá đừng dọa tôi vô ích. Tôi vẫn thấy tôi có chính nghĩa, còn đại tá không có chính nghĩa. Tôi là con cháu Hoài Văn Vương Trần Quốc Toản mà.
- Đ.M. Mày có chịu nhận mày là tên ngụy không?
- Tôi có chính nghĩa thì tôi không thể là ngụy. Còn Cộng quân dùng súng giết dân mới là ngụy, là giặc cướp. Tôi nhất quyết giữ chính khí của tôi như Bảo Nghĩa Vương Trần Bình Trọng, như Nguyễn Biểu.

Quang cười ngạo nghễ:

- Nếu đại tá có chính nghĩa tại sao đại tá lại dùng lời nói thô tục vớí tôi? Ừ! Muốn mày tao thì mày tao. Đ.M. tên Cộng Sản ác ôn! Nếu tao thắng, tao dí súng vào thái dương mày rồi hỏi: Đ.M.Mày có nhận mày là tên Việt Cộng không? Thì mày trả lời sao?

Một tiếng nổ nhỏ, Quang ngã bật ngửa, óc phọt ra khỏi đầu, nhưng trên môi người thiếu niên còn nở nụ cười. Tôi không có mặt tại chỗ, thành ra không mường tượng ý nghĩa nụ cười đó là nụ cười gì? Độc giả của tôi vốn thông minh, thử đoán xem nụ cưòi đó mang ý nghĩa nào? Nụ cười hối hận ? Nụ cười ngạo nghễ? Nụ cười khinh bỉ? Hay nụ cười thỏa mãn?

Ghi chú :
Nhân chứng quan trọng nhất, chứng kiến tận mắt cái chết của Vũ Tiến Quang thuật cho tác giả nghe là cô Vũ Thị Quỳnh Chi. Cô là em ruột của Quang, nhỏ hơn Quang 4 tuổi. Lúc anh cô bị giết, cô mới 15 tuổi (cô sinh năm 1960). Hiện (1999) cô là phu nhân của bác sĩ Jean Marc Bodoret, học trò của tôi, cư trú tại Marseille.

Cái lúc mà Quang ngã xuống, thì trong đám đông dân chúng tò mò đứng xem có tiếng một thiếu nữ thét lên như xé không gian, rồi cô rẽ những người xung quanh tiến ra ôm lấy xác Quang. Thiếu nữ đó là Nguyễn Hoàng Châu. Em gái Quang là Vũ thị Quỳnh Chi đã thuê được chiếc xe ba bánh. Cô cùng Nguyễn Hoàng Châu ôm xác Quang bỏ lên xe, rồi bọc xác Quang bằng cái Poncho, đem chôn.

Chôn Quang xong, Châu từ biệt Quỳnh Chi, trở về Cần Thơ. Nhưng ba ngày sau, vào một buổi sáng sớm Quỳnh-Chi đem vàng hương, thực phẩm ra cúng mộ anh, thì thấy Châu trong bộ y phục trắng của nữ sinh, chết gục bên cạnh. Mặt Châu vẫn tươi, vẫn đẹp như lúc sống. Đích thân Quỳnh Chi dùng mai, đào hố chôn Châu cạnh mộ Quang.

Năm 1998, tôi có dịp công tác y khoa trong đoàn Liên Hiệp các viện bào chế Châu Âu (CEP= Coopérative Européenne Pharmaceutique) , tôi đem J.M Bodoret cùng đi, Quỳnh Chi xin được tháp tùng chồng. Lợi dụng thời gian nghỉ công tác 4 ngày, từ Sài-gòn, chúng tôi thuê xe đi Chương Thiện, tìm lại ngôi mộ Quang-Châu. Ngôi mộ thuộc loại vùi nông một nấm dãi dầu nắng mưa, cỏ hoa trải 22 năm, rất khó mà biết đó là ngôi mộ. Nhưng Quỳnh-Chi có trí nhớ tốt. Cô đã tìm ra. Cô khóc như mưa, như gió, khóc đến sưng mắt. Quỳnh-Chi xin phép cải táng, nhưng bị từ chối. Tuy nhiên, cuối cùng có tiền thì mua tiên cũng được. Giấy phép có. Quỳnh-Chi cải táng mộ Quang-Châu đem về Kiên Hưng, chôn cạnh mộ của ông Vũ Tiến Đức. Quỳnh-Chi muốn bỏ hài cốt Quang, Châu vào hai cái tiểu khác nhau. Tôi là người lãng mạn. Tôi đề nghị xếp hai bộ xương chung với nhau vào trong một cái hòm. Bodoret hoan hô ý kiến của sư phụ.

Ngôi mộ của ông Đức, của Quang-Châu xây xong. Tôi cho khắc trên miếng đồng hàng chữ:

“Nơi đây AET Vũ Tiến Quang, 19 tuổi,
An giấc ngàn thu cùng
Vợ là Nguyễn Hoàng Châu
Nở nụ cười thỏa mãn vì thực hiện được giấc mộng”


Giấc mộng của Quang mà tôi muốn nói, là: được nhập học trường Thiếu Sinh Quân, rồi trở thành anh hùng. Giấc mộng của Châu là được chết, được chôn chung với người yêu. Nhưng người ta có thể hiểu rằng: Quang thỏa mãn nở nụ cười vì mối tình trọn vẹn.

Paris ngày 13 tháng 4 năm 1999.
Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ.

hoangphong
Posts: 423
Joined: Tue Feb 12, 2019 7:20 am

Post by hoangphong »

Image

Lý Tống Và Tôi: Những Ngày Giờ Cuối
Sapy Nguyễn Văn Hưởng

Cuối tuần này, 20 và 21/04/2019, chương trình thăm viếng và an táng “Ó Đen” Lý Tống được tổ chức tại nghĩa trang Westminster Memorial Park, Orange County. Xin mời đọc bài viết đặc biệt của Sapy Nguyễn Văn Hưởng. Tác giả là cư dân San Diego, đã hai lần thắng giải Viết Về Nước Mỹ. Năm 2001, với bài "Hoa Ve Chai", ông nhận giải danh dự. Ba năm sau, với bài viết "Giọt Nước Mắt," kể về Đài Tưởng Niệm Chiến Tranh Việt Nam tại tiểu bang New Jersey do một kiến trúc sư Việt Nam vẽ kiểu, ông nhận giải chung kết Viết Về Nước Mỹ 2004. Bài viết mới, nói theo tác giả, là “mấy điều tôi biết về đời sống thường ngày của Lý Tống.” Bài đăng 2 kỳ.

* * *
Sau những ngày khắc khoải hy vọng Lý Tống khỏi bệnh, cuối cùng tôi cũng đành phải gởi cho mấy người bạn thân quen dòng tin: "Anh Lý Tống đã ra đi lúc 9:16 phút, tối ngày 5 tháng 4 năm 2019". Giờ đây, ngồi trước màn hình computer, tôi cố ghi lại mấy điều vẫn như còn nóng hổi trong lòng kể từ sau khi Lý Tống mất.

Nhắc đến tên Ông, nhiều bản tin đã viết: Lý Tống tên thật là Lê Văn Tống. Vì vậy tôi ghi lại đây nguyên văn lời Lý Tống nói trong phiên tòa xử vụ cướp máy bay, thả truyền đơn kêu gọi dân chúng nổi dậy lật đổ bạo quyền Cộng sản hồi đầu năm 1993 tại Sài Gòn:
“Tôi nói lại cái vấn đề tên tuổi và quốc tịch. Tên tôi là Lý Tống. Tôi thấy tòa vẫn dùng cái tên cũ nó không "logic" chút nào cả. Tại vì từ năm 1965 tôi đã bắt đầu dùng tên Lý Tống. Đến năm 1975 tôi đã làm tất cả các thủ tục cần thiết để đổi sang tên Lý Tống. Cái thứ nhì nữa là quốc tịch, tôi là quốc tịch Mỹ mà trong này lại đề là quốc tịch Việt Nam. Hồi trước tôi có khai quốc tịch hiện tại là Mỹ, quốc tịch cũ là Việt Nam Cộng Hòa, mà bây giờ ở đây vẫn ghi là quốc tịch Việt Nam, ngụ ý tôi là công dân nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, tôi thấy điều đó không đúng.”
Chính Ông đã khẳng định: Lê Văn Tống là tên cũ, bởi Ông muốn mọi người gọi Ông bằng tên Lý Tống. Vì sao Ông muốn thay đổi tên họ mình? Câu hỏi này chỉ mới chợt nảy sinh trong đầu tôi lúc Ông không còn nói được, vì vậy tôi cũng chẳng rõ nguyên do.
Còn về ngày tháng năm sinh, ngay từ khi có ý định viết về Ông, tôi đã tìm kiếm từ nhiều nguồn tin, thấy Ông có tới mấy năm sinh: 1948, 1947, 1946 và 1945. Vì vậy tôi đã hỏi, đã được nghe Ông xác nhận: Lý Tống sinh ngày 1 tháng 9 năm 1945, nhằm ngày 25 tháng 7 năm Ất Dậu. Và Ông mất ngày 5 tháng 4 năm 2019, nhằm ngày 1 tháng 3 năm Kỷ Hợi. Hưởng thọ 75 tuổi.

Con số 75 ở đây là dựa theo cách tính tuổi người quá cố của dân tộc Việt Nam, vẫn được dùng tới bây giờ. Nếu tính theo Tây phương, ông chỉ mới được 73 tuổi.Nay Lý Tống đã thành người thiên cổ, tôi xin bỏ hẳn lối gọi Lý Tống bằng "Anh" như vẫn thường xưng hô, thay vào đó bằng tiếng "Ông" để gọi những người đã khuất mà trên phần mộ được ghi khắc hai chữ "hưởng thọ", nhất là để tỏ lòng kính trọng đối với một vị anh hùng của nòi giống Lạc Hồng.
Với riêng tôi, Lý Tống là một người tôi luôn ngưỡng phục. Khởi đầu tôi chỉ được ngắm Ông từ đằng xa, hoặc nhìn qua hình ảnh. Kế tiếp được đọc những trang sách báo viết về Ông, đọc luôn những gì do chính Ông viết về bản thân lẫn cuộc đời. Đến khi Ông chọn San Diego làm nơi cư trú, tôi may mắn được Ông xem như một người bạn. Nhờ vậy tôi có dịp chia sẻ cùng Ông đủ mọi chuyện, từ chính trị, tôn giáo cho đến cuộc sống thường ngày.

Chúng tôi có nhiều dịp gặp gỡ, ăn uống, trò chuyện tại các buổi sinh hoạt đoàn thể, lễ lạc hay ngay tại nhà, hoặc mấy quán ăn bình dân, và cũng không thiếu những nhà hàng sang trọng. Nhờ vậy tôi được dịp ngắm nhìn Lý Tống qua tư cách một người hùng lẫn người đời thường. Con người hùng của Ông viết bao nhiêu trang giấy khen ngợi cũng không thừa, còn con người bình thường, viết ra cũng không thiếu những điều thú vị, chẳng giống ai. Vì vậy trong bài viết lúc thân xác Ông chuẩn bị được an táng này, tôi xin ghi lại mấy điều tôi biết về đời sống thường ngày của Lý Tống, tạm coi như một điếu văn của riêng tôi gởi đến một người bạn vừa xa rời cõi thế.

*
Tôi nghe, tôi đọc thấy có nhiều người cho Lý Tống ưa nổ. Tôi lại nghĩ khác, Lý Tống không có lý do gì cần nổ, bởi đâu có tiếng nổ nào lớn hơn các việc Lý Tống từng làm cho quốc gia dân tộc. Với tôi Ông là một người ngoại hạng, vì vậy tôi không dám suy bụng tôi ra bụng Ông. Mọi việc Ông làm dù tán đồng hay không, tôi đều không muốn lấy hướng nhìn của riêng tôi ra phê phán. Bởi đó là những gì riêng biệt, tạo ra người hùng Lý Tống, không giống bất cứ một nhân vật nào từ cổ chí kim.

Tuy quá nổi danh, không bao giờ Lý Tống muốn ngồi riêng một "chiếu", và xem mình cao trọng hơn người khác. Lý Tống sống hòa đồng, kết bạn, ăn nhậu, trò chuyện với đủ mọi thành phần. Thượng vàng hạ cám gì Ông đều thân tình nói chuyện được cả, không cấm kỵ một ai. Có lần Ông điện thoại hỏi tôi:
- Chiều nay anh rảnh không? Rảnh thì đi lai rai với tôi. Tôi có một ông bạn nhà ở trên đồi cao, ngồi ngoài patio, ăn thịt nướng, uống bia, ngắm cảnh, nói chuyện cho vui.
- Được, vậy anh gởi địa chỉ nhà của bạn anh và giờ nào anh muốn tôi tới. Tôi sẽ đến đúng giờ.
Nhìn cái địa chỉ quen quen, ngẫm nghĩ một lúc tôi nhận ra ngay người bạn của Lý Tống là ai. Tôi biết rất rõ, anh này hơi "tưng tửng", vẫn phải uống thuốc hàng ngày. Bình thường nói chuyện đã chẳng có đầu có đuôi, không mấy người muốn nghe, nốc thêm bia vào càng dễ sinh chuyện. Tôi bèn gọi xin lỗi Lý Tống vì bị kẹt chuyện bất ngờ, không thể tới được. Sau đó tôi kể về hoàn cảnh bệnh hoạn của anh này cho Ông rõ, vậy mà Ông vẫn tiếp tục chơi với người bạn đó. Sau này ông mới cho tôi biết có mấy chuyện không hay đã xảy ra dính líu tới người bạn đó.

*
Mỗi khi ngồi vào bàn ăn uống, nhậu nhẹt hay chuyện vãn, chẳng một loại chuyện nào Lý Tống cấm kỵ, kể cả thứ chuyện không thiếu người coi là thô tục, dâm đãng. Tôi từng nghe Ông say sưa thuật lại biết bao cuộc tình lãng mạn, bao lần đắm say trong nhục dục với đủ loại hạng người. Chuyện ông kể còn dữ dằn hơn loại chuyện cấm trẻ em dưới 18 tuổi. Có lẽ vì cuộc sống phóng đãng, buông thả như vậy, nên Ông chưa bao giờ lập gia đình. Ông từng chung sống với hết người tình này đến người tình khác.
Cuộc đời một lãng tử thì bóng hồng nào có thể giữ nổi chân Ông. Nghe đâu Ông có tới bốn năm người con thuộc nhiều quốc tịch khác nhau. Con ông toàn do mẹ nuôi, vài người vẫn thường liên lạc với bố qua email, facebook hoặc điện thoại.

Bởi sống một mình, Ông phải tự lo việc bếp núc. Tôi vẫn nhớ hôm Lý Tống đến chung vui với anh em hội Thủ Đức San Diego, trong buổi picnic hè năm ngoái. Thấy Ông ăn uống khá nhiều, tôi cũng mừng thầm, vì quãng thời gian đó lúc Ông ăn được lúc không. Mãn cuộc vui, thấy còn khá nhiều đùi gà, Ông đến hỏi cô đang đứng nướng thịt, xin "to go" một ít để khỏi phải nấu bữa tối. Cô gái lắc đầu quây quậy:
- Con làm mệt quá, từ sáng đến giờ vẫn chưa ăn uống gì. Con tính mang mớ thịt này về nhà ăn chung với mấy đứa con của con luôn, nên hết thịt rồi chú ơi!
Tôi đứng cạnh đấy, Ông đưa mắt ngó tôi cười, tôi cũng lắc đầu cười với Ông. Tôi để ý thấy cô gái này đứng bên lò nướng suốt từ lúc than mới nhóm cho đến khi than sắp tàn. Và chắc chắn cô chẳng biết người hỏi xin cô là ai, nên mới thẳng thừng từ chối. Phần Lý Tống coi như không có chuyện gì xảy ra, tiếp tục quay đi tán gẫu với bạn bè.
Viết đến đây tôi lại nhớ tới bữa mời Lý Tống đi ăn lần cuối, trước ngày tôi bay về Việt Nam và các nước Đông Nam Á. Hôm ấy thấy bà vợ tôi gọi nhiều quá, tôi ghé tai hỏi nhỏ:
- Gọi làm gì mà nhiều quá vậy, làm sao ăn cho hết!
- Để lát nữa anh Tống "to go", cho mai anh ấy khỏi phải nấu.
Sau bữa ăn, về tới nhà, Lý Tống điện thoại cám ơn thêm một lần nữa, rồi kể với tôi:
- Đi ăn với ông bà về tới cổng, gặp một bà bạn hỏi tôi, mang gì mà nhiều quá vậy? Tôi liền khoe, bữa nay được vợ chồng ông bạn mời ăn thả giàn tôm hùm với cá hấp, còn đưa cho "to go" mang về nữa. Nghe vậy, bà ấy nửa đùa nửa thật bảo tôi: "Sướng quá vậy ta. Anh ăn no rồi, thôi cho tôi mấy cái bọc 'to go' đó đi". Thế là tôi về tay không.

*
Quen Lý Tống lâu ngày, tôi càng quý mến Ông thêm về cả sự chân tình lẫn chân thật. Dường như nghĩ gì hay thắc mắc về ai điều gì, Ông đều hỏi ngay, chẳng cần biết điều đó có cấm kỵ không. Có lần không chút ngại ngùng, Ông hỏi chuyện riêng của tôi, rồi thổ lộ luôn chuyện riêng của mình:
- Anh nghỉ hưu chưa? Lãnh tiền già được bao nhiêu? Hồi trước tôi đi làm lãnh toàn tiền mặt, đâu có đóng thuế má gì! Sau này hết ở tù bên Việt Nam lại tới Thái Lan, nên giờ lãnh SSI chỉ có tám trăm mấy một tháng.
Biết Ông lãnh đồng lương hạn hẹp, tôi ngỏ lời với Ông:
- Anh Tống biết tôi "giàu" hơn anh rồi, vậy từ đây về sau, nếu tôi rủ anh hoặc anh rủ tôi đi ăn bất cứ ở đâu, xin anh để tôi trả tiền được không?
Chẳng chút khách sáo, Lý Tống vui vẻ gật đầu đồng ý ngay.
Một hôm, tôi ghé lại nhà thăm sau nhiều ngày Ông ăn uống không được. Nhìn Ông mất cả chục ký lô, người gầy xọp đi, tôi chỉ biết lắc đầu. Còn Ông lại khoe, được một người bạn đưa cho loại "thần dược", Ông uống cả tuần nay, nên mới bắt đầu ăn uống trở lại. Tôi chẳng ngạc nhiên gì về lối trị bệnh kiểu này, vì Ông không mấy mặn mòi với Tây y, hễ ai cho thuốc gì Ông cũng thử.
Một hôm tôi gọi rủ đi ăn tối, Ông trả lời ngay:
- Dạo này tôi lên cân quá, đang nhịn đói vài tuần cho nó xuống năm bảy ký rồi mới ăn lại.
- Sao anh nhịn hay quá vậy? Hồi học ngoài Đà Lạt, tôi có tập nhịn ăn một tuần lễ để chữa bệnh. Suốt tuần lễ đó tôi thèm ăn, nhiều lúc muốn bỏ ngang xương luôn.
- Bộ anh quên là tôi từng tuyệt thực suốt mấy tháng hay sao?
Tôi cũng thuộc loại béo phì, định thử cách của Ông, nhưng vẫn chưa thử và chắc cũng chẳng khi nào thử. Vài ngày sau lần đến nhà thăm đó, Ông điện thoại hỏi tôi:
- Anh có muốn "mời" tôi đi ăn steak không? Tôi mới biết ở San Diego có một nhà hàng chuyên về Steak nổi tiếng lắm, ngay cả trên Los cũng không có.
Tôi đáp ngay:
- Chừng nào anh muốn đi?
- Đi liền bây giờ, tôi đói bụng rồi.
- Vậy gởi cho tôi địa chỉ đi.
- Đúng 12 giờ tôi ra tới.
- Ok, tôi thay đồ đi liền bây giờ.
Hôm đó tôi ăn một bữa trưa đắt đỏ nhất trong cuộc đời. Bởi không phải người sành ăn, tôi không thể đánh giá steak của nhà hàng ngon tới cỡ nào? Tôi cũng chắng ăn được bao nhiêu vì mấy miếng steak con tôi đãi tối hôm trước vẫn chưa tiêu hóa hết. Nhưng trong thâm tâm, tôi có một bữa ăn tuyệt vời, vì được ngồi nhìn Lý Tống ăn uống ngon lành, ăn một hơi hết 16 oz steak. Lúc bắt tay từ giã, Ông mới nói cho hay, hôm ấy là ngày giỗ mẹ Ông.

*
Suốt gần ba tháng trời rời San Diego, tôi vẫn liên lạc với Lý Tống qua email hay điện thoại. Nhờ vậy tôi biết lúc nào Lý Tống cũng tích cực hăng hái tham gia sinh hoạt cộng đồng. Mấy tấm ảnh cùng dòng chữ ngắn gọn: Tuần này đúng là "Tuần Hội Ngộ" các nhà đấu tranh tại San Diego. Hết Việt Khang lại đến Điếu Cày và Huỳnh Ngọc Chênh đến đây gặp và đi Boiling Crab thưởng thức Seafood cùng Lý Tống, tôi vẫn lưu giữ trong hộp email lẫn trong đầu. Ông còn báo tin thêm, sau Orange County và San Jose, San Diego đã có bảng chỉ dẫn vào khu Little Saigon.

Ngày tôi về đến nhà, gọi điện thoại cho Ông, Ông huyên thuyên nói tới mấy dự tính sẵn trong đầu cần đến tôi. Nào tiếp tục đi kiện vị bác sĩ chữa mắt, đã lấy của Ông 10 ngàn đô la, mà sau khi chữa, mắt ông bết bát hơn nhiều so với trước khi mổ. Nào muốn in quyển sách thi văn Ông mới hoàn tất,… Đến khi hỏi tới sức khỏe, Ông bảo chỉ tàm tạm, vẫn lúc ăn được lúc không. Tôi quá quen với câu trả lời loại này, nên chẳng mấy bận tâm.
Nghe ông nói tới việc in sách, tôi nhớ lại hôm ra mắt quyển Truyện ký "Từ Vĩ", đứa con tinh thần của tôi. Tôi mở cuốn video lên nghe lại, ghi ra mấy lời tôi giới thiệu về Lý Tống trước khi mời Ông lên phát biểu:
“Kính thưa quý vị, hôm nay tôi xin được mời lên đây một nhà văn đích thực, chớ không phải "nhà văn" ngang xương giống như tôi. Sách của ông từng là "best seller" trong cộng đồng người Việt trên toàn thế giới. Và tôi phát hiện, chẳng những ông viết hay mà còn viết rất nhanh. Có một hôm ngồi nói chuyện với ông cùng vài người bạn trong một bữa ăn trưa. Nghe ông kể một câu chuyện về cuộc đời ông rất hay. Tôi nói với ông: "Xin anh nếu được, cho tôi một buổi gặp riêng anh để tôi ghi chép lại câu chuyện này", vì lúc đó tôi đang dự tính viết một chương sách về ông. Vài tiếng đồng hồ sau khi trở về nhà, tôi nhận được email của ông. Mở ra xem, tôi đọc được tất tả những điều ông đã kể trong buổi trưa hôm ấy. Tôi hết sức ngạc nhiên. Vì từ khi có ý định viết về ông nảy sinh trong đầu, tôi đã đọc khá nhiều tài liệu, bài vở của người khác viết về ông lẫn do chính ông viết. Nên tôi gọi điện thoại hỏi ông: "Ủa anh viết chuyện này hồi nào mà sao tôi không biết?". Ông trả lời: "Tôi vừa mới viết để gởi cho anh đó". Kính thưa quý vị, và giờ đây tôi xin giới thiệu người viết thật nhanh và nhà văn đó, sẽ có đôi lời cùng quý vị. Tôi xin trân trọng kính mời anh Lý Tống.

*
Đến thứ Bảy 9 tháng 3, tự dưng Lý Tống kết nối điện thoại của tôi vào với một số bạn bè khác của Ông. Qua đó tôi nhận được hàng chục tin nhắn trao đổi và luôn cả tấm ảnh Ông đang nằm trên giường bệnh. Người đứng bên ông mặt bịt khẩu trang, đeo găng tay, mặc áo bọc bên ngoài phòng tránh bị lây lan. Tôi bình tĩnh trở lại khi thấy khuôn mặt ông trong hình vẫn tươi tỉnh. Tôi gọi cho Ông, Ông không bốc máy.
Mấy tiếng đồng hồ sau Ông gọi lại, tôi mới biết Ông đang nằm tại Sharp Memorial Hospital, cách nhà tôi ngoài chục dặm đường. Biết Ông thích cái đẹp, lại chẳng ăn uống gì được, vợ tôi chỉ biết mua một bình hoa mang vào tặng Ông.
Chẳng còn gì để phải âu lo, khi nghe giọng Ông oang oang nói chuyện với y tá phát ra từ trong phòng bệnh. Nhìn Lý Tống cười rạng rỡ, tôi càng yên tâm hơn. Vẫn chưa hỏi han được gì nhiều, thì Ông đã huyên thuyên kể chuyện. Nào Ông được các "nàng" y tá (người Mỹ) xinh đẹp, chân dài chăm sóc. Ông luôn miệng khen ngợi mấy nàng, mấy nàng cũng rất thích lời Ông khen. Qua trang mạng Wikipidea và qua lời Ông kể, các cô biết khá nhiều về bệnh nhân đặc biệt này.
Phải chờ đến lúc Ông dứt lời khen các người đẹp, tôi mới hỏi được Ông:
- Anh vô đây hồi nào?
- Hai bữa nay rồi. Lúc tới dự tang lễ mẹ của bà bác sĩ Hương tôi bị mệt, khó thở, đứng không nổi, bà ấy mới bảo thằng con chở thẳng tôi vô đây luôn.
- Bác sĩ có nói anh bệnh gì không?
- Mấy bữa nay tôi ăn không được, họ định chữa cho tôi ăn uống lại được rồi thì mới tính tới việc mổ sạn mật.
Vợ tôi nhắc Ông:
- Vậy khi nào ăn lại được, muốn ăn thứ gì, nhớ gọi cho tôi ngay để tôi nấu mang vô cho anh.
Tuy không nhiều tiền lắm bạc, nhưng Lý Tống là người "xài sang", từng đóng góp hàng trăm ngàn đô la vào công cuộc yểm trợ đấu tranh cho tự do dân chủ, nhân quyền của đất nước, vậy mà Ông chỉ cái thùng rác chê trách:
- Nhà thương này xài phí quá, họ bắt ai vô đây đều phải mặc áo phủ kín hết người, mang găng tay, đeo khẩu trang. Một ngày y tá phải đổ bỏ bao nhiêu thùng rác đầy như vậy, hao tốn nhiều tiền của medicare quá.
Ông còn than phiền:
- Phòng kế bên tôi có một bà già không biết bệnh gì mà suốt đêm rên la làm tôi ngủ không được.
Tôi cười bảo Ông:
- Sao anh không la lớn lên: "Bà vặn 'vô lim' nhỏ xuống để "Ngài Không Tặc" ngủ, giống như hồi Việt cộng nhốt anh vô khám Chí Hòa vậy đó.
Lý Tống chỉ biết cười.
Trước lúc ra về, tôi với Lý Tống còn bàn chuyện kiện thưa, chuyện sách vở, luôn cả chuyện mời Ông đến nhà dùng cơm, vì bữa ăn chung cuối cùng cách nay cũng đã gần 4 tháng.

Thấy tôi nhắn tin, Lý Tống không trả lời, điện thoại mãi cũng không được, vợ tôi phải thúc dục:
- Sao anh không đi vô nhà thương thăm anh Tống?
- Chắc anh ấy đang mổ sạn mật, không nghe điện thoại. Thế nào mổ xong, anh ấy cũng báo cho mình biết ngay.
Cứ thế mãi cho đến trưa thứ Năm 21 tháng Ba, vẫn không nghe tin tức gì, vợ chồng tôi sửa soạn cùng vào thăm Lý Tống. Trước lúc ra xe, điện thoại nhà reo lên. Vợ tôi nghe xong, hốt hoảng báo tin:
- Chị Hoa vừa cho hay, anh Lý Tống mất rồi.
Tôi đứng như chết lặng, không muốn tin điều này. Tôi cầm ngay điện thoại gọi hỏi các bạn, tôi mừng thầm vì chưa ai nghe tin này. Riêng anh bạn Phan Thành Lạc, hội trưởng hội Thủ Đức, cho tôi số điện thoại của Cù Thái Hòa, Hội trưởng hội Không quan San Diego, người được Lý Tống chọn thay cho Ông quyết định mọi chuyện, nếu Ông lâm trọng bệnh. Sau khi nói chuyện với Cù Thái Hòa tôi mới biết, Lý Tống chưa mất, vẫn đang chờ thân nhân bay từ Okland xuống để bàn việc rút ống trợ sinh, bởi bác sĩ cho biết Ông không còn hy vọng cỏn con nào có thể cứu chữa được. Tôi chẳng biết làm gì hơn, ra xe lái thẳng tới bệnh viện.
Lúc bước vào phòng bệnh 313, nhìn Lý Tống với đủ loại giây nhợ chằng chịt trên mặt, trên người. Tôi sờ chân tay thấy còn ấm, nghe hơi thở nặng nề, tôi chỉ biết đứng bên Ông dâng lời cầu nguyện. Trò chuyện với Cù Thái Hòa, tôi biết rõ thêm.

Chiều 12 tháng 3, bác sĩ điều trị gọi báo cho Cù Thái Hòa biết, sức khỏe Lý Tống rất bết bát, buồng phổi suy yếu toàn diện, phải nhờ đến máy trợ thở. Tính đến giờ phút này, đã hơn 5 ngày qua, Lý Tống vẫn chưa một lần tỉnh lại. Vì vậy bác sĩ khuyên anh, hãy nhắn thân nhân trực hệ của Lý Tống đến, để bàn xem có muốn rút ống trợ sinh để Lý Tống ra đi êm ả hay không. Nghe xong tôi tự trách mình đã trễ nải trong việc thăm nom Lý Tống. Tôi cũng biết, thân nhân Lý Tống sẽ xuống tới Phi trường San Diego vào lúc 8 giờ rưỡi tối nay.

Bên ngoài phòng đợi trên tầng lầu 3 của bệnh viện, mỗi lúc mỗi đông thêm người đến viếng Lý Tống. Bà Rose Trần, nhân viên nhà quàn, cùng Sư cô Hạnh Như cũng ngồi sẵn đấy. Rồi lần lượt một số phóng viên, nhà báo từ quận Cam xuống tới. Thật tội cho Cù Thái Hòa, giờ trở thành trung tâm điểm để mọi người khắp trên thế giới gọi tới hỏi han hết điều này điều nọ.
Bởi ai cũng ngạc nhiên trước việc bệnh tình biến chuyển quá nhanh và sắp mất đi một anh hùng dân tộc, nên không tránh khỏi vài suy luận trái chiều, rồi nảy sinh tranh cãi. Nhờ chú tâm vào việc cầu nguyện, tôi bỏ ngoài tai, ngoài mắt nhiều lời lẽ đối đáp, nhiều cảnh không hay.

Mọi người cứ thế đứng, ngồi chờ đợi mãi, vì máy bay trễ nải. Tôi chỉ còn biết lâu lâu ra vô nhìn Lý Tống nằm trên giường bệnh mà lòng xót đau. Và rồi hơn 10 giờ đêm, Lê Xuân Nhuận, ông anh của Lý Tống, người sắp bước qua tuổi 90, được cô con gái Lê Xuân Lộc cùng người cháu Trương Minh Hồng dìu tới bệnh viện.
Truyền thông báo chí xúm ngay lại, đặt những câu hỏi dồn dập. Phải khó khăn lắm gia đình mới đi được vào phòng thăm Lý Tống. Tôi chẳng quen biết ai, chỉ đi đi lại cho đỡ tù túng tay chân. Tới gần nửa đêm, phòng đợi dần thưa người, thân nhân Lý Tống mới được chút thoải mái ngả lưng trên mấy chiếc ghế sofa, chờ đợi Sư cô Hạnh Như trở về chùa, định xem giờ nào tốt để rút ống trợ sinh.
Nhìn ông Lê Xuân Nhuận lộ vẻ mệt mỏi, vợ tôi bưng một ly nước ấm đến mời ông, rồi lên tiếng hỏi:
- Bác với cô Xuân Lộc đã ăn uống gì chưa?
Nghe vậy, Thiện Thành, người điều hành "Thiện Thành Show" của "Viet Online Radio" bước tới, móc từ trong túi jacket, lấy ra một ổ bánh mì thịt khá to, cầm đưa cho cô Xuân Lộc rồi hỏi:
- Bác trai ăn được bánh mì thịt không vậy chị?
Mắt Xuân Lộc sáng lên, cám ơn rối rít, bẻ ổ bánh làm đôi. Vừa đưa cho cha phân nửa vừa nói:
- Ba ăn đi để còn uống thuốc.
Nhìn hai cha con nhai miếng bánh ngon lành, tôi đoán, chắc từ lúc rời nhà ra đi đến giờ, họ vừa lo lắng vừa vội vã vẫn chưa kịp ăn uống chút gì.
*
Đến lúc nhận được điện thoại của Sư cô Hạnh Như báo cho biết: Ngày thứ Sáu 22 tháng 3 có 2 giờ tốt, 9 hoặc 11 giờ sáng, gia đình đã chọn rút ống thở, để Lý Tống yên bình ra đi vào lúc 11 giờ. Mọi người cùng đứng lên, hẹn gặp lại nhau vào lúc 10 giờ 30 sáng.
Thêm một lần nữa, tôi lại ngỏ lời:
- Như vậy chỉ còn vài tiếng đồng hồ nữa là phải có mặt tại đây. Vậy xin mời bác Nhuận, cô Xuân Lộc với chú Hồng lại nhà tôi nghỉ ngơi, để sáng cùng đi luôn một xe cho tiện.
Cô Xuân Lộc nói lời cám ơn, chỉ nhờ tôi đưa hai cha con về khách sạn. Nghe vậy Thiện Thành liền lên tiếng:
- Vậy chú Hưởng cho con về nhà chú đi.
Chúng tôi về đến nhà đã hơn 2 giờ sáng. Ngồi trước tô mì nóng hổi, Thiện Thành cám ơn rối rít, còn diễu cợt:
- Chắc con được Ơn Trên trả công vì đã nhường ổ bánh mì cho bác Nhuận với chị Xuân Lộc, nên mới được cô bù cho tô mì với cái đùi gà nóng hổi.
Trò chuyện một hồi, Thiện Thành nói thêm:
- Con cũng phải cám ơn chú Lý Tống nữa, nhờ chú mà con tìm được người Cà Mau, còn tìm được cho ba con người bạn tù ở chung trại cải tạo Cái Đôi hồi trước nữa.
*
Vợ tôi dậy thật sớm, lo ăn sáng cho tôi cùng Thiện Thành xong, còn "to go" phòng hờ cho khách. Chúng tôi rời nhà sớm để đi đón cha con ông Nhuận. Chạy tới khoảng giữa đường, cô Xuân Lộc gọi báo cho biết, đã có người đến đón. Tôi đổi hướng chạy thẳng tới nhà thương.
Ba chúng tôi lên tới phòng bệnh đúng 9 giờ 30 sáng, vẫn chưa có ai ngoài cô y tá. Rờ tay chân Lý Tống vẫn ấm, tự nhiên tôi nói với anh:
- Anh Tống ơi, Hưởng đến thăm anh đây. Anh nghe được thì ra dấu hiệu cho tôi biết.
Nhìn mặt, tôi cảm thấy dường như đôi mắt Ông hơi nhúc nhích, rồi một tiếng "tít" khá rõ trong chiếc máy đặt ngay đầu giường kêu lên. Cô y tá đứng bên cạnh nói vội:
- Có dấu hiệu bệnh nhân đang động đậy.
Tôi như muốn ứa nước mắt, gọi thêm:
- Anh Lý Tống ơi,...
Cứ thế tôi huyên thuyên nói hết chuyện này qua chuyện khác chừng năm ba phút. Tôi chẳng nhớ đã nói điều gì, tôi tin chắc Ông đang nghe tôi. Đến khi thấy lưỡi Ông nhúc nhích, Thiện Thành buông ngay chiếc Iphone đang quay video xuống, luôn miệng gọi chú Tống ơi, chú Tống à, cháu là Thiện Thành đến thăm chú đây, chú có nghe cháu không? Rồi liên tục nhắc chuyện này, hỏi Ông chuyện nọ.

Bước ra bên ngoài, chúng tôi bàn với nhau sẽ khuyên gia đình bỏ ngay chuyện rút ống. Trong lúc chờ đợi, tôi kể cho Thiện Thành nghe về Phạm Xuân Tạo, đứa con nuôi của vợ chồng tôi. Tạo mắc chứng bệnh ung thư máu. Nhiều lần bác sĩ khuyên rút ống để cho Tạo ra đi một cách nhẹ nhàng. Nhưng năm lần bẩy lượt Tạo đều hồi sinh trở lại trước lúc bác sĩ định rút ống. Và sau 79 ngày hôn mê, hoàn toàn không biết gì cùng hơn ba năm điều trị, tuy Tạo phải ngồi xe lăn, nhưng vẫn đủ sức khỏe để Tòa giám mục Melbourne truyền chức linh mục.

Tôi còn kể thêm trường hợp một anh bạn là dân đánh cá. Khi hay biết Lý Tống rất thích món Sushi, đã 2 lần anh gởi cá từ San Francisco xuống, để tôi mang biếu Lý Tống. Mấy lần Lý Tống xin tôi số điện thoại để gọi cám ơn anh bạn đó. Tôi không thể cho được bởi lúc đó bạn tôi đang nằm trong nhà thương vì bệnh ung thư gan, gia đình đang bối rối chuẩn bị việc ma chay.
Mấy ngày sau khi Lý Tống vào bệnh viện, tôi đã nhận được tin, anh bạn tôi đã bình phục, hiện đang về Việt Nam chơi. Tôi hy vọng có ngày chính Lý Tống sẽ nói lời cám ơn đó và tiếp tục nhận được mấy loại cá mà Ông ưa thích.
*
Đến lúc gia đình vào tới, tôi chỉ kịp nói với cô Xuân Lộc:
- Ông Lý Tống có dấu hiệu hồi sinh.
Rồi trong lúc gia đình vào với Lý Tống, mọi người quan tâm tới Ông đều ngồi tại phòng chờ. Niềm vui như vỡ òa, lúc cô Xuân Lộc thay mặt gia đình báo tin, chuyện rút ống trợ sinh sẽ không xảy ra nữa. Vị bác sĩ thừa nhận tình trạng Lý Tống khả quan hơn mấy ngày trước. Tôi còn nghe kể thêm, lúc đứng bên giường em, khi ông Nhuận gọi: "Tống ơi, anh Nhuận đây", đột nhiên cằm Lý Tống lay động, như muốn cố trả lời. Còn lúc Sư cô Hạnh Như đọc lời cầu an, Lý Tống đã chảy nước mắt, sau đó còn hé mở mắt, nhẹ lắc đầu, môi mấp máy như muốn nói điều gì.
Buổi trưa ngày hôm đó, trước khi về lại Bắc Cali, gia đình cũng tỏ ý quan ngại vì tình trạng quá đông người tới thăm Lý Tống. Điều này khiến các bác sĩ, y tá cũng than phiền về chuyện chụp hình, quay phim, nói năng ồn ào gây phiền toái cho các bệnh nhân khác. Nhờ vậy việc giới hạn khách đến thăm được đặt ra và thi hành ngay lập tức.
*
Kể từ sau ngày thân nhân Lý Tống rời San Diego, tôi cũng tự giới hạn việc ra vào nhà thương. Mỗi lần đến, tôi chỉ đứng bên giường cầu nguyện cho Ông dăm ba phút, chớ chẳng nói năng, hỏi han gì. Tôi chỉ biết làm có bấy nhiêu và mong đợi thêm một lần nữa phép mầu sẽ xảy đến với Ông.
Rồi ông Lê Xuân Nhuận gởi email báo cho tôi biết, trưa thứ Hai 1 tháng Tư, Xuân Hạnh, cô con gái út sẽ đưa ông cùng mấy người em họ xuống San Diego thăm Lý Tống. Nhờ vậy tôi lại được biết thêm đôi chút về dòng tộc của Lý Tống có người làm "lớn", nếu nói chính xác hơn là làm rất lớn ở cả hai bờ chiến tuyến Bắc Nam trước đây.
Nhưng cho dù quan tòa xử vụ Lý Tống cướp máy bay, xếp Ông vào loại gia đình có công với "cách mạng", Ông chẳng những không nhận điều này, còn dõng dạc khẳng định trước tòa: Gia đình Ông là gia đình cách mạng chân chính, chớ không phải gia đình cách mạng Cộng sản. Cha Ông chống Pháp, bị Pháp chặt đầu, anh Ông bị Pháp bắt bỏ tù phải vượt ngục trốn vào bưng biền, cuối cùng ra Bắc trở thành người chống Mỹ. Còn Ông và tất cả mọi người ở tại Miền Nam đều chống Cộng, bị Cộng sản liệt vào hạng cực kỳ ngoan cố, cực kỳ phản động.
Chuyến trở xuống San Diego này, người thân của Lý Tống chỉ lưu lại nhà tôi mỗi một đêm, đến chiều thứ Ba, 2 tháng 4, sau khi vào thăm Ông, mọi người cùng trở lên Los Angeles.
Đến trưa thứ Năm, 4 tháng 4 tôi vào đứng cạnh Lý Tống, mọi sự chẳng có gì thay đổi. Qua trưa thứ Sáu, 5 tháng 4, Cù Thái Hòa đột ngột gọi báo tin, bác sĩ vừa cho anh biết, phổi Lý Tống hoàn toàn không hoạt động được nữa, chắc Ông sắp ra đi. Tôi chạy vội vào nhà thương. Cù Thái Hòa một mình u buồn ngồi trong phòng đợi.
Thấy tôi bước vào, anh báo tin ngay:
- Gia đình lại đang trên đường trở xuống San Diego.
Tôi bảo anh:
- Như vậy sớm lắm khuya nay họ mới đến đây.
Cù Thái Hòa lắc đầu:
- Cô Xuân Hạnh đang ở quận Cam, mới chất đồ lên xe để trở về Bắc Cali thì nhận được điện thoại của tôi. Chắc chỉ đôi ba giờ cả nhà sẽ quay lại đây.
Và suốt từ trưa đến chiều hôm ấy, năm người gồm: Ông Nhuận, cô Xuân Hạnh, anh Trương Minh Hồng, Cù Thái Hòa và tôi ngồi nơi phòng đợi trên tầng lầu 4 của Sharp Memorial Hospital chia sẻ với nhau về cuộc đời và những kỷ niệm với Lý Tống. Rồi bà Nguyễn Thị Lê Hương, bác sĩ gia đình của Lý Tống cùng với chồng, con vào đến. Sau khi kể rõ các biến chuyển bệnh tình của Lý Tống, bà liền khơi ra chuyện tôn giáo. Vì là người Công giáo, bà đã đặt thẳng vấn đề:
- Có nên mời linh mục đến rửa tội cho anh Lý Tống không?
Lúc đó ông Nhuận, cô Xuân Hạnh, anh Hồng đều đồng ý. Ông Nhuận còn gọi hỏi Xuân Lộc, con gái lớn, và cô cũng đồng thuận ngay.
Thế là Cù Thái Hòa tìm gặp y tá nhờ giúp đỡ. Ít phút sau, một bà chuyên lo về việc đạo đến. Sau khi hỏi rõ ước muốn của gia đình, bà liên lạc ngay với một vị linh mục. Chưa đầy 20 phút, vị linh mục xuất hiện ngay trước ngưỡng cửa. Lúc này trong phòng đợi có thêm một bạn trẻ xuất hiện. Cù Thái Hòa giới thiệu đó là người hết sức mến mộ Lý Tống, suốt từ khi Ông nằm trong phòng cấp cứu, anh không vắng mặt một ngày nào.
Mọi người cùng vị linh mục lặng lẽ đi vào phòng bệnh, đứng quây quần bên giường Lý Tống để dự lễ rửa tội và xức dầu. Cù Thái Hòa chọn Micae, vị Tổng lãnh thiên thần, từng giúp Chúa chống lại kẻ ác là Thánh Bổn Mạng của Lý Tống. Trong buổi lễ ấy, chỉ có Cù Thái Hòa và tôi nhận Mình Thánh Chúa. Trong thâm tâm, tôi đón Chúa vào lòng thay cho người bạn đang nằm đó. Với niềm tin tôn giáo, tôi vững tin bạn tôi sẽ được Thiên Chúa rước vào nước Ngài.
Lúc quay trở ra phòng đợi, tôi chia sẻ thêm cùng mọi người về niềm tin tôn giáo của Lý Tống. Nhiều lần Ông nói với tôi, Ông tin có Thượng Đế và chính Thượng Đế đã ra tay cứu thoát ông rất nhiều lần. Còn Cù Thái Hòa thì bảo tôi:
- May mà có anh Hưởng ở đây làm chứng, không thôi người ta lại nói tôi là người Công giáo, nên tự ý mời linh mục tới để làm lễ rửa tội cho anh Lý Tống.
Tôi chân tình đáp lại:
- Việc này chắc chắn sẽ có người thắc mắc. Nhưng quyết định này là của người nhà chớ đâu phải của anh. Nếu có ai nêu câu hỏi, anh chỉ cần nói đây là chuyện riêng của gia đình Lý Tống, tôi không thể trả lời thay cho họ được. Anh Hòa ơi, anh còn rất nhiều chuyện trước mắt phải lo lắm, nghĩ nhiều đến chuyện này làm gì cho nhức cái đầu.
Trò chuyện đến đây ai cũng đói meo, mọi người đưa nhau đi ăn tối. Tôi vội vàng trở về nhà trong chốc lát.
*
Lúc tôi quay lại, nhìn đôi mắt cha con ông Lê Xuân Nhuận đỏ hoe, tôi biết ngay việc gì đã xảy ra cho Lý Tống.
Cù Thái Hòa báo cho tôi biết ngay:
- Anh Lý Tống ra đi lúc 9 giờ 16 phút. Lúc đó anh Nhuận đứng ngay bên cạnh, đã vuốt mắt cho anh Tống.
Tôi chẳng biết nói lời gì, cúi đầu một mình lẳng lặng đi vào phòng số 493. Tấm màn cửa đã khép lại, mấy cô y tá đang sửa soạn để nhân viên nhà quàn đến đưa xác Ông đi. Tôi đứng đó thầm đọc kinh cầu nguyện cho linh hồn Micae sớm được Chúa đón về nước Ngài.
Giới truyền thông từ Little Saigon cũng xuống tới. Những câu hỏi dồn dập lại được nêu ra. Tôi nghe tiếng tiếng còn tiếng mất của ông Nhuận cùng cô Xuân Hạnh trả lời trong nước mắt. Tôi nói nhỏ với Xuân Hạnh.
- Tôi thấy bác Nhuận mệt lắm rồi đó, mọi chuyện ở đây đã có ông Cù Thái Hòa lo. Thôi cô với chú Hồng đưa bác về nhà nghỉ ngơi đi, trời cũng khuya rồi.
Tôi cũng lẳng lặng ra về sau khi nhìn thân xác Lý Tống phủ kín bằng một lớp vải, được nhân viên nhà quàn đẩy vào trong thang máy. Cánh cửa khép lại, tôi làm dấu thánh giá, cúi đầu đưa tiễn bạn mình.
*
Anh Tống ơi!
Chắc tôi sẽ không nói lời vĩnh biệt, hay vô cùng thương tiếc khi tiễn đưa Anh. Bởi ngay lúc này, tôi vững tin Anh đã được Chúa cứu rỗi, trước sau gì chúng ta sẽ được gặp lại nhau nơi nước Chúa. Anh ra đi đúng vào ngày chiếc A37 do Anh lái bị bắn rơi tại Ba Ngòi. Chiếc máy bay tuy vỡ tan tành, nhưng viên phi công vẫn tiếp tục tung cánh bay thêm 44 năm nữa. Tôi tin không một viên phi công nào tung hoành trên bầu trời suốt hơn nửa thế kỷ, để làm nhiệm vụ bảo quốc, an dân, mưu tìm tự do, dân chủ, hạnh phúc cho dân tộc Việt Nam giống như Anh. Anh cũng là một chiến sĩ mặc áo nhà binh suốt từ ngày nhập ngũ cho đến khi vĩnh viễn rời cõi thế.
Đến giờ này tuy sự bền bỉ tranh đấu vẫn chưa có kết quả như Anh mong đợi, nhưng "không thành công cũng thành nhân", lời của Anh Hùng Nguyễn Thái Học, mà Anh từng nói với tôi là anh đã học được để nghiền ngẫm từng lời đối chất trước tòa án của những người muốn kết tội yêu nước của anh. Và đúng như lời đanh thép anh đã nói với họ:
“Lúc trở về đây, tôi nhân danh Tổ quốc, Nhân dân và Công lý. Quý vị ngồi trước mặt tôi cũng nhân danh Tổ quốc, Nhân dân và Công lý để kết tội tôi. Trong phiên tòa này quý vị là những quan tòa và tôi là bị cáo. Nhưng tôi nghĩ rằng, sau phiên tòa này còn có một phiên tòa khác là tòa án lịch sử, trong tòa án lịch sử đó nhân dân Việt Nam sẽ là vị quan tòa công tâm, họ sẽ là người định công định tội tôi và các ông.”
Anh Lý Tống ơi, tên Anh đã hiên ngang đi vào lịch sử. Công tội đã rõ ràng, anh đang trở thành tiền nhân, đang ở trên cao để phù hộ cho đất nước và dân tộc Việt Nam.
Ngày thân xác Anh đi vào lòng đất cũng chính là ngày Chúa Phục Sinh. Tôi luôn vững tin Anh sẽ được bình an trong bàn tay nhân ái của Ngài. Một lần nữa xin tạm biệt và cám ơn Anh đã xem tôi là một người bạn trong những năm tháng cuối đời.

Sapy Nguyễn Văn Hưởng

Post Reply