QUÁN BIÊN THUỲ

User avatar
tieuvuvi
Posts: 2912
Joined: Sun Nov 26, 2006 1:29 pm
Been thanked: 3 times
Contact:

Post by tieuvuvi »

Cuộc tàn sát Tết Mậu Thân ở Huế


Tuệ Chương (Theo Douglas Pike)

Huế là một trong những thành phố buồn nhất trên hành tinh của chúng ta, không phải chỉ vì những gì không ai có thể tưởng tượng nỗi đã xảy ra ở đây hồi Tết Mậu Thân năm 1968. Ðó là điều đáng quở trách âm thầm cho tất cả chúng ta, những người thừa hưởng một nền văn hiến bốn ngàn năm. Những người trong thời đại chúng ta gom nhặt được những ý niệm trừu tượng chính trị mà chỉ làm cho chúng ta rơi vào sự suy đồi tệ hại nhất về việc vi phạm đạo đức thời hiện đại, chẳng quan tâm gì tới tính cách dã man của nó.

Những gì xảy ra ở Huế làm cho những ai còn là người văn minh trên địa cầu nầy phải dành nhiều phút giây ngừng nghỉ để tư duy về những điều đã được khắc ghi, cùng với những tai họa khủng khiếp khác về những hành động dã man của người đối với người sẽ không bao giờ quên được và trở thành một dấu ấn sâu sắc trong dòng lịch sử nhân loại.

Huế còn chứng tỏ một điểm khác nữa về điều là người ta không có gì phải ngần ngại khi cố áp dụng những biện pháp chính trị để theo đuổi một cách nông cạn việc thực hiện giấc mơ xây dựng một xã hội hoàn hảo. Một cách tự nhiên, những điều xảy ra ở Huế là vài sự thống kê mau lẹ và nhạy cảm. Cuối cùng, lực lượng quân sự Cộng sản lên tới 12 ngàn người đã tấn công Huế ngay đêm mồng một tết (30 tháng 1 năm 1968), chiếm thành phố 26 ngày và cuối cùng bằng hành động quân sự họ bị đánh bật ra khỏi nơi họ chiếm đóng.

Trong trận tấn công nầy, 5 ngàn 8 trăm người dân thường bị giết và mất tích. Ðến bây giờ tất cả họ coi như đã chết. Từ đó, thi hài họ được tìm thấy lẻ tẻ hay trong những ngôi mộ tập thể ở những vùng chung quanh Huế - Trung tâm văn hóa Việt Nam - thuộc tỉnh Thừa Thiên.

Ðó chỉ là những dữ kiện chính yếu, những thống kê quan trọng, chẳng vui gì khi nói về Huế, là điều được viết xuống bằng thứ ngôn ngữ bình thường của báo chí, rõ ràng chẳng gây được ấn tượng gì cho tinh thần và lương tâm của nhân loại. Chẳng có tiếng thét đầy uất hận nào! Và các tòa đại sứ của Cộng sản Bắc Việt Nam trên thế giới đều im hơi lặng tiếng.

Ngoài tiếng thở dài cay đắng, người dân sẽ nói cho quí vị hay những gì về Huế mà thế giới đã không biết tới, và nếu có biết, họ cũng chẳng quan tâm.

Trận chiến

Trận đánh Huế là một phần trong Chiến dịch Ðông-Xuân của Cộng sản năm 1967-68. Toàn bộ chiến dịch chia làm ba giai đoạn:

1/ Giai đoạn 1 gồm các tháng 10, 11 và tháng 12 năm 1967 được gọi là phương pháp hợp đồng chiến đấu, có nghĩa là trên toàn bộ chiến trường, thực hiện các trận tấn công riêng rẽ vào các vị trí cố định hay trung tâm quân sự của phe Ðồng Minh. Các trận đánh ở Lộc Ninh thuộc tỉnh Bình Long, Dakto thuộc tỉnh Kontum và Cồn Tiên ở Quảng Trị, ba nơi nầy thuộc vùng rừng núi của Nam Việt Nam, gần biên giới Camphuchia và Lào là kiểu mẫu những trận đánh chính của giai đoạn 1.

2/ Giai đoạn 2 thuộc các tháng Giêng, 2 và 3 năm 1968 bao gồm việc ứng dụng một cách rộng lớn phương pháp chiến đấu độc lập, có nghĩa là mở nhiều cuộc tấn công bằng các đơn vị thiện chiến nhỏ và đồng thời khắp một vùng địa lý rộng lớn, sử dụng các đơn vị tinh nhuệ nhất cũng như kỹ thuật tiến bộ nhất trong chiến tranh du kích.

Ở Giai đoạn 1 lực lượng tác chiến chính là quân Cộng sản Bắc Việt (Khoảng 55 ngàn người đang hoạt động ở Nam Việt Nam). Ở Giai đoạn 2 thì sử dụng quân Giải phóng Nam Việt Nam. Cao điểm của Giai đoạn 2 là cuộc tấn công Tết Mậu Thân qua đó 70 ngàn quân tấn công 32 trung tâm đông dân cư nhứt ở Nam Việt Nam, gồm cả Huế.

3/ Giai đoạn 3 gồm các tháng 4, 5 và 6 năm 1968 chủ yếu là phối hợp hai phương pháp tác chiến của hai giai đoạn trên, tạo thành cao điểm trong các trận đánh lớn. Do bắt được tài liệu nên biết đây là điều Cộng sản gọi là đợt ba. Có khả năng đó là Khe Sanh, căn cứ Thủy Quân Lục Chiến/HK ở phía đông-bắc Nam Việt Nam, hoặc có lẽ là Huế. Không có cuộc tấn công đợt 2 chính là vì những trận đánh trong Giai đoạn 1 và 2 đã không phát triển được như Cộng sản hy vọng. Tuy nhiên, chiến cuộc đạt tới thời kỳ đẫm máu nhứt trong vòng tám năm sau đó, kể từ trận Mậu Thân Huế hồi tháng Hai cho đến khi rút khỏi cuộc bao vây Khe Sanh vào mùa hè tiếp theo cùng năm đó.

Trong ba tháng nầy, quân Mỹ thương vong trung bình 500 người một tuần, phía Việt Nam Cộng Hòa thì gấp đôi, phía Việt Cộng và Cộng sản thì gần 4 ngàn một tuần(cao hơn phía Mỹ 8 lần). Cộng sản bắt đầu Chiến dịch Ðông-Xuân với khoảng 195 ngàn quân của các lực lượng quân sự chính của Việt Cộng và Cộng Sản Bắc Việt xâm lược. Trong vòng 9 tháng họ bị tiêu vong 85 ngàn người.

Chiến dịch Ðông-Xuân của Cộng sản là một cố gắng hoàn toàn nhằm bẻ gãy sức mạnh chính yếu của Quân đội Nam Việt Nam để chính quyền phải thay đổi đường lối, cùng với lực lượng Ðồng minh trong những thành phố bị bao vây và chỉ có khả năng phòng thủ. Nói một cách chính xác hơn, trận đánh ở Huế thuộc giai đoạn 1 hơn là giai đoạn 2 khi Cộng sản áp dụng kế hoạch hợp đồng tác chiến và sử dụng quân Cộng sản Bắc Việt hơn là quân du kích Việt Cộng. Có nghĩa là về phía Cộng sản họ sử dụng rộng rãi hai sư đoàn quân Cộng sản Bắc Việt: Sư đoàn số Năm 324 B cộng thêm các tiểu đoàn chính, một số đơn vị du kích cùng 150 chính ủy và cán bộ.

Trận đánh Huế sơ lược có những phát triển chính như sau: Khởi đầu tấn công chủ yếu với hai tiểu đoàn 800 và 802 cùng với lực lượng bí mật xâm nhập trước. Ðến sáng sớm ngày đầu tiên, Cộng sản kiểm soát toàn bộ thành phố ngoại trừ Bộ Tư lệnh Sư đoàn 1/BB (thành Mang cá) và khu phái bộ Cố vấn HK (MACV). Ngay hôm đó quân Việt Mỹ tiến vào Huế tăng cường và phòng thủ các nơi kể trên. Cộng sản tăng cường tiểu đoàn 804 với ý đồ chặn đứng các lực lượng tăng phái Mỹ-Việt.

Cộng sản không thực hiện được ý đồ nầy. Hai địa điểm trên được củng cố mạnh mẽ và không còn bị đe dọa nghiêm trọng nữa. Trận đánh trở thành cuộc bao vây. Quân Cộng sản ở trong Thành Nội và khu thành phố phía tây. Liên quân Mỹ Việt ở ba phía kia, bao gồm cả khu phía nam sông Hương, đẩy quân Cộng sản ra khỏi thành phố, khởi thủy là với hy vọng dùng pháo binh và không kích. Nhưng vì thành Huế xây dựng quá vững chắc nên quân Cộng sản vẫn giữ được vị trí của họ. Họ chỉ có thể bị đánh bật bằng chiến thuật chiến tranh trong thành phố, cận chiến từng nhà, từng khu, lâu dài và tiêu hao.

Tới tuần lễ thứ ba của tháng Hai (1968), việc bao vây thành phố đã thực hiện xong; quân dội VNCH và TQLC Mỹ tiến chiếm từng thước đất trong Thành Nội. Tới sáng ngày 24 tháng Hai, binh sĩ Sư đoàn 1/BB VNCH đã hạ được lá cờ Cộng sản treo trên cột cờ Ngọ Môn 24 ngày. Cuộc phản công đã thắng lợi, mặc dù các cuộc chạm súng lẻ tẻ vẫn còn xảy ra bên ngoài thành phố. Tại trong thành phố, Cộng sản thương vong 2 ngàn 5 trăm người và trong cuộc truy kích bên ngoài Huế, một con số tương tự đã bị giết. Phía Ðồng minh có 357 người chết.



Tìm kiếm


Sau khi trận đánh chấm dứt, nhiều xáo trộn vẫn tiếp diễn. Mệnh lệnh đầu tiên là khẩn cấp cứu trợ dân chúng, trước hết là thực phẩm, thuốc chích ngừa và thuốc bệnh, v.v... Tiếp theo là cố gắng giúp dân xây dựng lại nơi cư ngụ. Sau đó thì lo kiểm điểm thương vong. Sau cuộc tấn công, không có cuộc kiểm tra dân chúng thật sự nào được thực hiện. Tới tháng Ba/1968, nhà cầm quyền cho biết có 1.900 dân thường được đưa vào bệnh viện vì thương tích chiến tranh và khoảng 5.800 người bị Cộng sản bắt đi mất tích.

Nơi đầu tiên tìm thấy các nạn nhân Cộng sản là sân trường Trung Học Gia Hội vào sáng ngày 26 tháng Hai; tổng cộng có 170 xác người đã được tìm thấy ở đây. Mấy tháng sau, người ta tìm thấy thêm 18 nơi chôn tập thể, lớn nhất là khu ở gần chùa Tăng Quang (67 thi thể), Bãi dâu (77), khu Chợ Thông (khoảng 100), khu lăng tẩm (201), Thiên Hàm (khoảng 200), Ðồng Gi (khoảng 100). Nhìn chung, khoảng 1.200 thi thể tìm thấy trong những hầm hố đào lấp vội vã.

Ít ra, một nửa những vụ tìm kiếm nầy cho thấy có sự giết chóc đầy tàn ác. Tay bị trói bằng dây thép gai buột ra sau lưng, giẻ nhét vào miệng, thân xác không còn nguyên vẹn nhưng không có dấu vết bị thương (Cho thấy là bị chôn sống). Có gần 600 xác chết khác có dấu tích bị thương nhưng không có cách nào để xác minh họ bị bắn hàng loạt hay thương vong vì tên bay đạn lạc.

Nhóm lớn thứ nhì được tìm thấy tại quận Phú Thứ năm 1969 tại vùng những đồi cát và Lệ Xá tây, quận Phú Thứ, làng Văn Hòa, Xuân Dương vào cuối tháng Ba, tháng Tư năm 1969. Cũng vào năm này, vào tháng Năm người ta còn tìm thấy thêm nhiều ngôi mộ tập thể ở quận Vinh Lộc và ở quận Nam Hòa vào tháng Bảy.

Nhóm lớn nhất tìm thấy là ở những đồi cát của ba làng Vinh Lưu, Lệ Xá đông, và Xuân Ổ; đây là vùng đồi cát liên tiếp nhau, nhiều đụn cỏ, ở gần biển Ðông. Cách xa cách vùng đầm nước mặn, đây là nơi thuận tiện để chôn tập thể. Hơn 800 người tìm thấy ở khu nầy.

Tại các ngôi mộ trong vùng đồi cát nầy, người ta thấy nạn nhân bị trói thành từng nhóm 10 hoặc 12 người, sắp hàng bên cạnh những cái hố do dân địa phương đào rồi họ bị bắn bằng súng máy do Nga sản xuất, (Người ta tìm được những vỏ đạn cũ bên cạnh ngôi mộ). Thông thường những người chết được chôn thành nhóm ba bốn người nên rất khó phân loại.

Nơi tìm thấy lớn thứ ba là ở quận Nam Hòa, chỗ gọi là khe Ðá Mài, hay là nơi người dân Phú Cam bị giết, tìm thấy hôm 19 tháng 9 năm 1969. Cán binh Cộng Sản đào ngũ khai với viên chức tình báo thuộc binh đoàn Không Kỵ 101 rằng họ đã chứng kiến việc giết hàng trăm người ở khe Ðá Mài, cách Huế 10 dặm về phía nam vào tháng Hai 1968. Khu nầy hoang vu, không có dân cư, khó đến được. Ðơn vị Hoa Kỳ gởi tới đây một toán tìm kiếm; họ báo cáo trong dòng suối có rất nhiều đống xương người chồng chất lên nhau.

Bằng nhiều tin tức gom góp được, người ta đoán được những gì xảy ra ở khe Ðá Mài. Vào hôm mồng 5 Tết, tại khu Phú Cam, nơi có khoảng 40 ngàn dân, hầu hết theo đạo Thiên Chúa, chiếm 3/4 dân số thành phố, chạy vào nhà thờ tránh súng đạn như ở Việt Nam người dân thường làm. Thực ra, nhiều người trong số đó không phải là người có đạo.

Cán bộ Cộng sản vào nhà thờ bắt đi khoảng 400 người,một số thì có tên sẵn còn một số thì theo nhân dạng mà bắt (trông có vẻ giàu có, sang trọng, trung niên chẳng hạn). Cộng Sản tuyên bố họ được đưa vào vùng giải phóng để học tập chính trị trong vòng ba ngày, sau đó, sẽ được tha về.

Họ được dẫn đi 9 cây số, tới một ngôi chùa nơi Cộng sản đặt bộ Chỉ huy. Hai chục người được gọi ra trước cái gọi là "tòa án cách mạng", bị tố cáo là có tội, bị hành quyết và chôn ngay trong sân chùa. Những người còn lại được đưa qua sông và giao cho đơn vị Cộng sản địa phương, có lẽ họ muốn những người nầy được cải tạo và được tha về sau, nhưng có lẽ vì tình hình biến chuyển nên họ không còn kiểm soát được nữa.

Bảy ngày sau đó, không rõ số lượng bao nhiêu, cả người bắt và người bị bắt đi về một vùng quê. Và để không cho ai thấy, người bị bắt bị dẫn qua những vùng núi non lởm chởm nhất miền Trung Việt Nam, tới khe Ðá Mài. Tại đây họ bị bắn hay bị đập đầu, xác bị đạp xuống lòng khe.

Binh đoàn 101 Không vận HK thấy không thể dùng đường bộ đến khe Ðá Mài được. Tàng lá cây dày đặc, ở Việt Nam người ta gọi đó là cái lọng đôi, nghĩa là có hai tàng lá, một ở gần mặt đất, gồm cây và bụi rậm và một tàng lá cao, che phủ bên trên. Bên dưới đó chỉ có ánh sáng mờ mờ. Công binh Quân đội Hoa Kỳ cho trực thăng bay lưng chừng bên trên rồi thòng chất nổ xuống qua khỏi các tàng lá cây và nổ để những chiếc trực thăng dùng làm máy bay hốt cốt có thể đáp xuống được. Rõ ràng Cộng sản dùng nơi nầy làm nơi giết người kín đáo mà không cần chôn cất. Trên một đoạn khe dài hơn một trăm mét là sọ, xương người chồng lên nhau (những người tin có linh hồn nằm chết lẫn lộn trong đó, linh hồn sẽ lang thang cô đơn vĩnh viễn vì họ chết mà không được chôn), trong vòng 20 tháng, nước suối chảy đã làm cho xương sạch trơn và trắng bạch.

Sau đó, chính quyền địa phương đưa ra một danh sách gồm 428 người, xác nhận rằng đó là tên những người chết ở khe Ðá Mài. Về phía Cộng sản thì họ tuyên bố rằng đó là những "phần tử phản cách mạng". Danh sách 428 người đó thành phần gồm có: 25% là quân nhân: Có 2 sĩ quan. Số còn lại 25% là học sinh, sinh viên; 50% là công chức, viên chức xã ấp, làm nghề cá nhân nhiều loại khác nhau và thợ.

Khu vực lớn thứ tư tìm được hồi tháng 11/1969 thuộc quận Phú Thứ, gần làng đánh cá Lương Viên, cách Huế 10 dặm, ở về phía đông, là vùng hoang vắng. Hồi đầu tháng đó, quân chính phủ cố gắng quét sạch các bộ phận Cộng sản còn lại ở làng nầy. Dân làng, khoảng 700 người, sợ Cộng sản trả thù nên không dám khai báo gì.

Sau đó (khoảng 20 tháng sau biến cố tàn sát), họ mới dám dẫn viên chức chính quyền đi tìm. Căn cứ trên trí nhớ không mấy chính xác của họ, viên chức chính quyền địa phương phỏng đoán có khoảng từ 300 đến 1 ngàn người bị giết ở đây. Câu chuyện đau thương nầy vẫn chưa chấm dứt. Nếu số dự đoán của chính quyền địa phương là gần đúng thì còn khoảng 2 ngàn người vẫn còn mất tích. Sau cuộc chiến, chính quyền Nam Việt Nam tính phỏng thương vong dân sự trong trận đánh Huế là 7,600 người.

Tuệ Chương
(Theo Douglas Pike)
Image

User avatar
tieuvuvi
Posts: 2912
Joined: Sun Nov 26, 2006 1:29 pm
Been thanked: 3 times
Contact:

Post by tieuvuvi »

Tường Trình Chuyến Viếng Thăm Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa

Sài gòn ngày 02/01/2007.


TƯỜNG TRÌNH
CHUYẾN VIẾNG THĂM NGHĨA TRANG QUÂN ĐỘI BIÊN HÒA
NHÂN DỊP ĐẦU NĂM MỚI 01/01/2007
CỦA ĐẠI DIỆN LMDCNQVN VÀ KHỐI 8406

I/ ƯỚC MƠ:


Ban Cố Vấn cùng Ban Điều Hành Liên Minh Dân Chủ Nhân Quyền Việt Nam (LMDCNQVN) và đại diện khối 8406 (K-8406) tại Miền Nam. Xét rằng trong hàng ngũ của những người đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền hiện nay có những mẹ già của các liệt sỹ, có những thương phế binh và cà những người cựu chiến binh của hai miền Nam Bắc, tất cả Họ đều hướng đến sự đoàn kết dân tộc trong mục tiêu giành lại các quyền căn bản của con người đã bị cướp mất bởi bạo quyền!


Cùng với thực tế trên và ý nghĩa của năm mới làm lòng người không ai không thương tiếc nhớ về những chiến sĩ trận vong vô danh lẫn hữu danh, những người con của dân tộc họ đã ngã xuống chỉ vì muốn cho quê hương có tự do, dân chủ, công lý và hòa bình?


Hôm nay ngày đầu tiên của năm mới, thay mặt ban điều hành LMDCNQVN và K-8406 phía nam, chúng tôi đã thực hiện được ước mơ đến nơi các anh yên nghĩ để cầu nguyện, xé lòng mình ra trước ước nguyện dang dỡ mà các Anh vội ra đi còn để lại!, chúng tôi những người còn sống nguyện tiếp tục dấn thân đối diện với lũ giặc nội xâm gian ác đang bóc lột tận xương tuỷ nhân dân, tàn phá đất nước thân yêu của chúng ta dẫn đến sự tụt hậu một cách thê thảm, nhục nhã suốt nhiều thập kỹ qua! Hiện đất nước chúng ta chưa toàn vẹn lãnh thổ, nhân dân ta vẫn khổ đau trăm bề bởi bạo quyền hàng ngày hàng giờ!


II/ THỰC HIỆN:


A/ Sóng Gió Đầu Năm:


Đúng 7 giờ sáng, ngày 01/01/2007, chiếc xe Toyota 16 chổ ngồi, mang biển số 56K1551 đến nhà thờ Kỳ Đồng đón Linh Mục Chân Tín, Kỹ Sư Đỗ Nam Hải, anh Trần Hiền, anh Lê Trí Tuệ cùng Nữ Sỹ Phương Thi, sau đó xe tiếp tục lăn bánh sang Quận 2 để đón Mục Sư Nguyễn Hồng Quang, ông bà Mục Sư Ngô Hoài Nở, Mục Sư Nguyễn Công Chính, Mục Sư Phạm Ngọc Thạch, Truyền Đạo Tuấn Anh, riêng Thượng Toạ Thích Thiện Minh, Giáo Hội Phật Giáo Việt nam Thống nhất và Đạo Trưởng Lê Quang Liêm, Giáo Hội Hòa Hảo vào giờ phút cuối vì bận việc nên không thể thap tùng cùng đoàn. Nhưng bảo táp đã nổi lên bởi sự có mặt của lực lượng an ninh dày đặc đã hăm dọa chủ xe nếu chở phái đoàn này đi thì sẽ kết hợp với công an giao thông giam xe và tịch thu bằng lái, nên tài xế quá sợ hãi không dám lên đường, anh ngừng xe giữa đường năn nỉ chúng tôi xuống xe để anh chạy trốn. Chúng tôi đành thông cảm cho công việc làm ăn của người dân, cả đoàn đành đi bộ trên đường Trần Não Quận 2, may mắn thay có 2 xe taxi đồng ý chở chúng tôi, thì công an ập đến bắt cóc anh Đỗ Nam Hải, Anh Trần Quốc Hiền cùng anh Lê Trí Tuệ, không có lịnh lạc gì cả.


B/ Vượt Sóng Gió Để Trọn Tình Với Các Anh:

Ngày đầu năm chúng tôi không muốn đôi co cự cải giữa đường với công an, nên chúng tôi vượt qua cản trở của họ, vẫn tiếp tục lên đường mà không có ba anh em vừa bị bắt. Thật cũng không ngờ chuyến đi đầy sự khó coi và gai mắt khi mà lực lượng an ninh chìm, nổi, bám sát chúng tôi suốt đoạn đường từ Sài Gòn đến nghĩa trang Quân Đội Biên Hòa.


Với tình hình trên chúng tôi không thể đi thẳng cổng chính vì có trạm gác của quân đội CS, nên chúng tôi đã nhờ sự giúp đở của ông Ẩn là người canh giữ nghĩa trang tại đây, vượt khó khăn đến được cửa sau của nghĩa trang. Nhưng thật bất ngờ, lực lượng an ninh cũng đang chực chờ đông đảo tại cổng này, họ cấm chúng tôi chụp hình và cho rằng đây là khu quân sự cấm chụp hình, quay phim!!! Lệnh cấm trên chỉ là lệnh miệng chớ không có bản cấm nên chúng tôi không thể vâng lời họ, do đó chúng tôi đã có một số hình ảnh chụp vội vàng.


Dân chúng cảnh báo chúng tôi hãy dấu nhanh chớ không thì sẽ bị bộ đội tịch thu, liền lúc đó có hai bộ đội đến và chúng tôi đã dấu được máy hình an toàn và rời khỏi cổng. Lòng chúng tôi như se lại khi thấy những mộ bia tạm bợ cỏ mọc um tùm, hoang dã, không người chăm sóc. Nhìn những mộ bia ghi danh những anh hùng chết trận khi còn quá trẻ: Hạ Sĩ Lê Văn H, Trung sĩ Nguyễn Văn T? . Họ đã tử trận khi tuổi đời còn quá trẻ?. Mộ chí của họ vẫn im lìm, nhẫn nhục như nói lên sự hy sinh của các anh với thời gian chờ đợi một sự trùng tu để truy tặng các anh?


C/ Lời Nguyện Cầu:


Chúng tôi dù muốn cũng không thể mang tràng hoa đến viếng tại lễ đài cũ vì bộ đội canh giữ nghiêm ngặt nhưng lời nguyện cầu của chúng tôi được cất lên giữa nghĩa trang tỉnh lặng: “Kính Lạy Thượng Đế Chí Cao, chúng con đến đây mà nước mắt chúng con rơi xuống, lòng chúng con xé nát, đớn đau, tiếc thương, cảm thông với những tấm lòng của người cha, người me, người vợ, người con đã gào thét khi vĩnh biệt người thân mình chính tại nơi này năm xưa. Chúng con biết sự hy sinh của họ, họ không phải như những tên lính đánh thuê như người ta thường gán ghép. Trái lại, những người đang nằm đây là những người đã bỏ xương, máu hy sinh cho một miền Nam tự do dù chiến tranh ác liệt, nhưng đã hình thành bước đầu một xã hội dân chủ với nền kinh tế, chính trị đa nguyên ngang ngữa với các Quốc Gia lân bang, chúng con nguyện cầu cho lý tưởng của họ được tiếp nối bởi những người còn sống như chúng con hôm nay và chúng con cầu hạnh phúc cho những người thân của họ đang lưu lạc khắp mọi nơi rồi phải ra đi vì dân tộc, không còn dịp chăm sóc chu toàn““. Tất cả các Mục Sư, Truyền Đạo, Linh Mục đồng Amen trong một bầu không khí thiêng liêng.


Sau lời cầu nguyện, chúng tôi vội vã gởi một số tiền bé nhỏ mà chúng tôi có, với tấm lòng trân trọng những người dân lam lũ, thường có mặt tại đây trông coi mộ chí cho các anh.


D/ Một Quyết Định Khó Khăn:




Rời nghĩa trang Quân Đội Biên Hòa, qua điện đàm với Thượng tọa Thiện Minh cũng như đã thống nhất trước với nhà văn Phương Nam, đoàn đã quyết định đến viếng nghĩa trang của những thanh niên trẻ tử trận trên chiến trường Tây nam. Nhìn những khuôn mặt quá non trẻ trên những bia mộ, như các anh Trần Ngọc Hùng tử trận ngày 19/06/1979, anh Mã Việt Hoa tử trận ngày 4/11/1979, anh Phí Đình Chiêu tử trận ngày 21/11/1979, anh La Thanh Quang tử trận ngày 3/9/1979 ? Hầu hết tuổi đời chỉ 18 đôi mươi? Linh Mục Chân Tín với tuổi 86, sức khoẻ suy yếu, bước đi khó khăn ông vẫn muốn đến viếng từng mộ phần, để nhìn từng khuôn mặt trẻ đã ra đi quá sớm vì đêm đen của dân tộc. Ông mời tôi thay mặt cho đoàn cầu nguyện: “Chúa Ơi! Ngài là Đấng quyết định sự thành bại của một dân tộc, riêng chúng con biết rất rõ rằng Ngài không muốn mọi người chết mất, nhưng muốn mọi người đều được cứu và hiểu biết lẽ thật, khi chúng con đến đây với tất cả tình yêu dân tộc mà Chúa đã ban cho chúng con và đặt nặng trong lòng chúng con. Chúng con cũng cầu nguyện cho dân tộc, cho xứ sở chúng con vĩnh viển thoát khỏi những cuộc chiến tranh tốn quá nhiều máu xương vừa qua! Chúa ôi ! Thật sự chúng con cũng tin rằng những anh em nằm đây đã hy sinh vì họ nghĩ rằng họ chết để cho quê hương chúng con được tốt nhất, được hưởng các giá trị thiêng liêng và có được Tự do, Dân chủ, Nhân quyền. Nhưng thật sự, Chúa ơi! Thân nhân của họ, giờ đây cũng như chúng con vẫn khó nhọc để cùng đòi lại những quyền căn bản đó mà Chúa đã ban cho nhân loại. Xin Chúa cũng ban phước cho thân nhân của họ và cho chúng con đạt được những lý tưởng, những giá trị mà họ hằng mơ ước mà không cần quá nhiều đau thương như những gì chúng con đang chứng kiến !!!” Chúng tôi đồng thanh nguyện cầu Amen.


Lời cầu nguyện tuy ngắn ngủi nhưng chúng tôi cũng nhận được sự đồng cảm từ những người dân dẫn đường và chúng tôi lẫn họ không cầm được những giọt nước mắt bắt đầu lăn nhẹ trên má mình..


Chúng tôi rời khỏi nghĩa trang trong lòng không khỏi ngậm ngùi cho một thời đau thương đã qua của dân tộc ta, giờ đây trong những giây phút đầu của năm mới 2007, để tỏ cử chỉ thân ái trong không khí đón mừng năm mới, chúng tôi không ngại ngùng mời những anh em công an, khó nhọc theo dõi chúng tôi từ sáng sớm đền giờ, dự chung với chúng tôi một bửa cơm thân mật đầu năm, theo như ứng xử văn hoá ngàn đời của tổ tiên ta. Than Ôi! Điều này cũng không được toại nguyện! Trái lại Mục Sư Thạch cùng Mục Sư Nam bị một số thanh niên lạ mặt truy đuổi đến tận nhà vì họ đang giử máy ghi hình trong túi xách.


III/ CŨNG KẾT THÚC TRONG THANH BÌNH:


Lúc14 giờ 00 chúng tôi trở về Quận 2 nghỉ ngơi để chiều có cuộc họp mặt đầu năm tại nhà Cụ Lê Quang Liêm, tất nhiên không tránh khỏi sự quan sát, theo dõi của lực lượng an ninh. Có lẽ đây là cuộc gặp gở ấm cúng đặc biệt nhất từ bấy lâu nay (xin xem hình) giữa các chức sắc Tôn Giáo đã từng gắn bó với nhau trong suốt quá trình đấu tranh cho Tự Do Tôn Giáo và Nhân Quyền vừa qua. Lần đầu tiên 5 Mục Sư Tin Lành cùng Linh Mục Công Giáo đến thăm nhà đạo trưởng Lê Quang Liêm, cũng lần đầu tiên tôi cùng Thượng Toạ Thích Thiện Minh là người chịu trách nhiệm Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị & Tôn Giáo Việt Nam trong nước được hội ngộ, cùng trao đổi với nhau về công việc chung như tình anh em.


Lúc 20 giờ 00 chúng tôi ra về với những ấn tượng đầu năm mang ý nghĩa của lòng bao dung, yêu thương, đoàn kết dân tộc giữa những chức sắc Tôn Giáo và những nhà đấu tranh cho dân chủ trong nước vì những mục đích chung của dân tộc trong hiện tình đất nước đang chuyễn mình nhanh chóng như hiện nay.


Chúng tôi nguyện cầu ơn lành từ Thiên thượng đến với dân Việt chúng ta sớm có được tự do và phú cường, chúng tôi cũng cám ơn Quí ông bà anh chị em trong quốc nội và hải ngoại đã cảm thông với chúng tôi trong suốt bước đường đấu tranh nhầm thăng tiến dân tộc và quê hương của chúng ta.


02/01/2007
Người Tường Trình
Mục Sư Nguyễn Hồng Quang (Trưởng Đoàn.)


Image
Image

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

CỜ TA BAY VÀNG NẮNG MỚI QUÊ HƯƠNG
Phan Nhật Nam

--------------------------------------------------------------------------------

Image



Cờ bay! Cờ bay!
Giữa vũng lửa
Trầm trầm quân, dân nước mắt ứa
Một bận Cờ bay Vàng thành xưa
Bao phần máu xương Người Lính đổ...


Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ là chung của tất cả Chúng Ta - Dân tộc nơi Phương Nam nghiệp khổ đau nhưng siêu việt.

Cờ Vàng Ba Sọc đỏ là mối biễu tượng thuần thành, chính thống nhất- Bởi Cờ đã dựng lên uy nghi suốt giải quê hương từ Ải Nam Quan, miền núi cực bắc Đồng Đăng, Cao Bằng, Lạng Sơn, đến Mũi Cà Mâu, vùng đầm lầy Quản Long, An Xuyên, cuối nguồn Cửu Long, Sông Cái.

Dẫu Cờ mất đi quyền hiện diện chính trị.

Nhưng Cờ vẫn linh thiêng vĩnh hằng tồn tại nơi trái tim và hơi thở chúng ta.

Cờ bay không ngừng như máu chảy tự thân.

Lá Cờ Vàng - Tổ Quốc Việt Nam là Một.

Cờ không chỉ giới hạn là đại diện của riêng những chế độ cầm quyền, Quốc Gia Việt Nam hay hai nền Cộng Hòa. Cờ chuyển giòng đấu tranh xuyên suốt lịch sử từ những lần vị quốc vong thân sáng ngời trung liệt của Hoàng Diệu; Nguyễn Tri Phương; Trương Công Định, liệt sĩ Vàm Láng, Gò Công; Nguyễn Trung Trực với chiến công vang động giòng Vàm Cỏ, Long An: "Hỏa hồng Nhật Tảo oanh thiên địa. Kiếm bạc Kiên Giang khốc quỷ thần" cho đến lần Cờ lên trên Kỳ Đài Cố Đô Huế, sáng Mùa Xuân Mậu Thân, 24 tháng Hai, 1968..



Quân dân ta nên một lần bật khóc
Khi lá Cờ Vàng Ba Sọc
Lừng lững lên cao
Giữa mờ sương xứ Huế sáng Xuân nào!!


Cờ báo hiệu tiên tri dũng liệt trong lời hô của mười ba Liệt Sĩ Quốc Dân Đảng "Việt Nam Độc Lập Muôn Năm", nơi Yên Bái, sáng sông núi gờn gợn đau thắt, 17 tháng 6, 1930, không khác lần "Việt Nam Cộng Hòa Muôn Năm" của trung đội lính Nhảy Dù do Thiếu Úy Huỳnh Văn Thái chỉ huy, cùng chọn lần quyết tử báo đền ân nghĩa quê hương, buổi sáng 30 tháng Tư, 1975 ở bùng binh Ngã Sáu, Chợ Lớn.


Image

Cờ bay hiện thực sức chiến đầu thần kỳ của Quân Lực Miền Nam trong những ngày Hè oanh liệt 1972, khi Trung Tướng Ngô Quang Trưởng bắt đầu xử dụng kế hoạch Lôi Phong trong chiến dịch tái chiếm Quảng Trị với mục tiêu cuối cùng - Cổ Thành Đinh Công Tráng, khối gạch nung mỗi cạnh dài 500 thước, với năm thước cao và bề dày. Tám tiểu đoàn của hai Lữ Đoàn 147, và 369 Thủy Quân Lục Chiến sau khi thay thế lực lượng nhảy dù kể từ ngày 27, tháng 7, trong 48 ngày đêm liên tục đã chiến đấu qua từng tấc, từng phân vuông của mục tiêu chiến trận. Dưới hàng rào dày của B52 trãi thảm đối với những mục tiêu xa (những vị trí pháo, và hỏa tiễn bên kia bờ Thạch Hãn, sông Đồng Hà, sông Bến Hải); dàn hải pháo của Hạm Đội 7 Hoa Kỳ ngoài khơi liên tục lập một màn lưới lửa bao quanh cổ thành. Và cổ thành, khối đá rêu phong kia được dành riêng cho một Tiểu Đoàn Pháo 175 ly cơ động điện tử đóng ở Phong Điền; 12 khẩu 155 ly, và 54 khẩu 105 ly cơ hữu của Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến. Trong 48 giờ không giây phút ngưng nghỉ vây quanh vũng lửa- Người Lính Thủy Quân Lục Chiến Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa giữa cảnh chết, vượt sự chết - Tiến lên. Chữ nghĩa đã là vô nghĩa trước lần quân đi - Lần chuyển lưu sức mạnh tồn sinh vĩ đại của dân tộc vào từng mỗi mẫu đất đá vỡ tan, dưới cơn bão lửa đạn, qua thân xác của mỗi người lính. Người Lính tiến lên bởi từ dưới khối vật chất tan tác kia có những lời cầu cứu hấp hối... Anh lính cộng hòa ơi... anh lính cộng hoà ơi... Tiếng kêu thương tâm của những người dân bị kẹt lại từ ngày cuối tháng 4, lần tạm lui binh khỏi thị xã Quảng Trị.

Chúng ta hôm nay cũng tương tự tình cảnh của những người Việt lưu vong đầu thế kỷ ở Sa Khôn, Thái Lan, với tất lòng đau xót như đã một lần được Tú Tài Đặng Thúc Hứa, đồng chí của nhị vị tiền bối Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh diễn dạt khi nhớ về quê nhà đau trong cơn điêu linh nhục thảm:

Vùng Quê Hải gió tanh mưa máu, án ba đào vì tình thế xui nên.
Cõi Viêm Bang núi thịt cồn xương, nỗi bi thảm xưa nay chưa có
Ngoài ngàn dặm trông về cố quốc, non sầu bể thảm, quặn ruột gan chín khúc tơ vò
Cuộc trăm năm tưởng tới đồng tâm, cỏ úa hoa dàu, dẫu sắt đá cũng hai hàng lệ nhỏ.

Nỗi Đau cào xé nầy luôn bừng bừng cùng mối Ước Nguyện sắt son - Lần bùng lên trong Nắng Mới mầu uy nghi rực rỡ Cờ Vàng, và câu hát đã một lần vang động núi sông...


Cờ bay!! Cờ bay! Trên thành phố thân yêu
Vừa chiếm lại đêm qua bằng máu!!


CHÚNG TA PHẢI HÁT LẠI THÊM MỘT LẦN CÂU HÁT BI HÙNG NẦY TRÊN TOÀN CÕI QUÊ HƯƠNG.

Ngày 27 tháng 7, 2001
Ngày bắt đầu dứt điểm Cổ Thành 29 năm trước.
Người Lính QLVNCH,

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Tổ Quốc ghi ơn: Tướng Trần Văn Hai và viên đạn cuối cùng

Phạm Phong Dinh
Đất nước Việt Nam địa linh, anh hùng hào kiệt đời nào cũng có, đã viết nên những trang sử chiến đấu chống xâm lược chói lọi nhất trong lịch sử nhân loại. Lịch sử chiến đấu của quân dân Việt Nam Cộng Hòa và muôn đời sau sẽ ghi công Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa cùng những vị anh hùng dân tộc đã hiến dâng xương máu cho nền tự do của tổ quốc và cho hạnh phúc trường tồn của dân tộc. Xin được vinh danh các anh hùng Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Phạm Văn Phú, Lê Nguyên Vỹ, Trần Văn Hai, Hồ Ngọc Cẩn. Và tất cả những chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa vị quốc vong thân.


Chuẩn Tướng Trần Văn Hai sinh năm 1926, nguyên quán Cần Thơ, tuổi Bính Dần. Khi đến tuổi nhập ngũ, ông đã tình nguyện đăng vào học Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, khóa 7. Tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu Úy, vị sĩ quan trẻ 26 tuổi trong năm 1952 đã lần nữa tình nguyện ra chiến đấu ngoài chiến trường miền Bắc. Thiếu Úy Trần Văn Hai được điều động ra phục vụ trong Tiểu Đoàn 4 Việt Nam, lúc đó do Thiếu Tá Đặng Văn Sơn làm Tiểu Đoàn Trưởng. Khi được vinh thăng, Đại Tá Đặng Văn Sơn được bổ nhiệm làm Tư Lệnh Sư Đoàn 2 Bộ Binh, rồi sau đó Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân. Thiếu Úy Trần Văn Hai chỉ chiến đấu vỏn vẹn ngoài Bắc có hai năm, năm 1954 Hiệp Định Đình Chiến Geneva được ký kết, đất nước chia đôi, các lực lượng thuộc Quân Đội Quốc Gia Việt Nam rút về phía Nam vĩ tuyến 17 và làm nỗ lực chính chống đỡ cho nước Việt Nam Cộng Hòa non trẻ, dưới quyền lãnh đạo của Quốc Trưởng Bảo Đại và Thủ Tướng Ngô Đình Diệm. Trong thời gian phôi thai này, Trung Úy tân thăng Trần Văn Hai được điều lên Quân Khu 4 Cao Nguyên.


Về trình diện Quân Khu 4, Trung Úy Hai có dịp công tác chung với Đại Úy Đặng Hữu Hồng, một chuyên viên tình báo cũng vừa mới được bổ nhiệm lên cao nguyên giữ chức Trưởng Phòng 2 Quân Khu 4. Đại Úy Hồng nhận xét thấy vị Trung Úy trẻ rất tích cực trong nhiệm vụ được giao phó và có nhiều khả năng về tình báo nên đã đề nghị xin cho rút ông về làm việc trong Ban Binh Địa thuộc Phòng 2, QK 4. Điều đó chứng minh về sau, Đại Tá Hai đã được cụ Trần Văn Hương, lúc ấy đang làm Thủ Tướng, tín nhiệm đề cử lên Tổng Thống Nguyễn Vãn Thiệu về làm Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia sau Tết Mậu Thân 1968. Một thời gian sau, sự làm việc mẫn cán cùng khả năng chỉ huy của Trung Úy Hai đã chứng minh là ông xứng đáng được vinh thăng Đại Úy và được điều về làm Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 81 Địa Phương Quân (Bảo An) đồn trú tại Phan Thiết. Tuy nhiên con đường thăng tiến binh nghiệp của ông đã bị giật lùi trong thời gian này, khi Đại Úy Hai được thuyên chuyển về làm Đại Đội Trưởng Đại Đội Chỉ Huy và Công Vụ của Trung Đoàn 44 thuộc Sư Đoàn 23 Bộ Binh. Những tưởng số mệnh đã để cho Đại Úy Hai chìm vào quên lãng với những công việc hành chánh và hậu cứ nhàm chán không xứng với tầm vóc và tài năng , thì ông lại nhận được giấy cho đi học khóa Chỉ Huy và Tham Mưu Cao Cấp tại Hoa Kỳ trong năm 1961. Khi tốt nghiệp trở về, Đại Úy Hai nhận được lệnh về trình diện Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân Dục Mỹ thuộc tỉnh Khánh Hòa. Cuộc đời binh nghiệp của người từ đây gắn bó với binh chủng trẻ trung Mũ Nâu vừa mới được thành lập và có nhiều hứa hẹn. Định mệnh đã chỉ định một vị tướng tài của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa về phụ giúp phát triển trung tâm huấn luyện này thành một trong những trung tâm mà đã cống hiến cho quân đội những sĩ quan và chiến sĩ ưu tú nhất.


Lịch sử thành lập binh chủng Mũ Nâu và Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân gắn liền với tên tuổi của Đại Úy Trần Văn Hai. Ông là một trong những vị sĩ quan có nhiều đóng góp lớn lao trong tiến trình thành lập Trung Tâm Huấn Luyện BĐQ vào ngày 1.8.1961. Chính Đại Úy Hai đã nghiền ngẫm, sáng tạo, đề nghị lên Chỉ Huy Trưởng và được chấp thuận cho ông được phụ trách lớp Hành Quân Biệt Động Rừng Núi Sình Lầy. Chính khóa học độc đáo này đã cung hiến cho đất nước không biết bao nhiêu là chiến binh thiện chiến và sĩ quan chỉ huy tài năng trên chiến trường, đóng góp những chiến thắng lừng lẫy trong quân sử QLVNCH.


Đại Úy Trần Văn Hai không những cống hiến trí não xuất chúng của người cho Trung Tâm Dục Mỹ, mà người còn tận tụy đóng góp sức lực lao động cho bộ mặt của trung tâm. Lúc ấy trung tâm còn trong thời kỳ phôi thai, cơ sở trường ốc, đường sá, bãi tập ngổn ngang trăm mối. Đại Úy Hai đã góp công lớn lao dựng nên khuôn mặt khang trang của trung tâm. Không biết bao nhiêu là mồ hôi và tâm sức của người đã đổ vào công việc xây dựng trung tâm huấn luyện lừng danh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Người làm việc cật lực ngày đêm, trên những bãi đất ngổn ngang cây gỗ, tôn thiếc, trong tiếng ầm ì của những chiếc xe ủi đất, mà trên đó Đại Úy Hai mặc độc một chiếc áo thun quân đội màu ô liu, lúc nào cũng đẫm ướt mồ hôi. Giữa cái nắng cháy da và gió rát của vùng rừng đang khai phá, giữa những đám bụi mù bốc cuồn cuộn trên những nẻo đường ngang lối dọc trần trụi đất đá, Đại Úy Hai làm việc hùng hục đến nỗi cả những người cố vấn Hoa Kỳ phụ giúp xây dựng trung tâm cũng phải chào thua và tặng cho ông mỹ danh "Hai Highway" để tỏ lòng kính phục tấm lòng tận tụy và khả năng hiếm có của người. Mặc dù chỉ với những phương tiện kém cỏi và thô sơ, chỉ trong một thời gian kỷ lục, Đại Úy Hai đã cùng với chiến sĩ Công Binh Việt Nam Cộng Hòa dựng xây lên được một trung tâm huấn luyện khang trang hoàn hảo, xứng đáng với tầm vóc quốc gia và cả vùng Đông Nam Á.


Trung Tâm Huấn Luyện đã được hoàn thành, giờ đây Đại Úy Hai có thể an tâm theo các toán huấn luyện viên và khóa sinh Rừng Núi Sình Lầy ra tận các bãi tập, cùng ăn cùng ngủ cùng chịu gian khổ trên những cánh đồng lầy hay trong những khu rừng Trường Sơn âm u. Không thể nào có thể diễn tả hết được những nỗi cực nhọc thân xác của những người chiến binh trải qua 42 ngày Rừng Núi Sình Lầy, nhưng đồng thời cũng là niềm tự hào lớn. Phải là một con người thép, có ý chí thép mới có thể làm được nhiều chuyện lớn lao cho đất nước như vậy. Cái cá tính cao cả của Chuẩn Tướng Hai là một khi nhận nhiệm vụ nào, dù có khó khăn gian khổ đến mấy, người cũng quyết tâm hoàn thành cho đến thật hoàn hảo mới thôi. Vẫn thấy còn thiếu kém nhiều mặt, trên tay Đại Úy Hai lúc nào đồng đội và khóa sinh cũng thấy có nhiều loại sách tự học khác nhau. Người tâm sự với các chiến hữu và thuộc cấp: "Con đường binh nghiệp của chúng ta hãy còn dài, cấp bậc chúng ta hiện giữ tuy còn nhỏ, nhưng lần lần sẽ được nâng cao hơn. Nếu bây giờ chúng ta tự mãn với hiện tại, không biết cầu tiến, không lo học hỏi trau dồi thêm sinh ngữ, đọc nhiều binh thư binh thuyết, một mai cấp trên giao vào tay ta cả đại đơn vị, thì làm sao chu toàn được nhiệm vụ".


Tài năng của Đại Úy Hai đã được xác định bằng chiếc lon Thiếu Tá và ông được bổ nhiệm làm Tỉnh Trưởng tỉnh Phú Yên. Một kỷ niệm mà quân dân Phú Yên không bao giờ quên được, là sự ra đi đột ngột trong sự luyến tiếc bàng hoàng của tất cả giới Quân-Cán-Chính và quần chúng trong tỉnh. Một sĩ quan cấp Tá như Trung Tá Hai đã dám cưỡng lệnh cấp chỉ huy hàng Tướng vì một câu chuyện nhỏ không nằm trong phạm trù quân sự. Ông Tướng bay tới khiển trách Trung Tá Hai nặng nề từ việc cộng sản gia tăng hoạt động, công cuộc bình định phát triển trì trệ, báo cáo chậm trễ, không làm tròn trách nhiệm, ông buộc phải cách chức Tỉnh Trưởng của Trung Tá Hai và sẽ cho người ra thay.


Trung Tá Hai đứng nghiêm chào khiêm tốn nói: "Xin tuân lệnh. Nếu ai cũng có lòng lo cho dân như Thiếu Tướng thì đất nước ta rồi đây sẽ khá". Từ khi người ra đi rồi, các bô lão và quân dân Phú Yên vẫn thường kể cho nhau nghe câu chuyện chính khí "đất nước ta rồi đây sẽ khá", như là một trong những huyền thoại còn lưu truyền cho mãi đến ngày nay. Khi được đông đảo giới chức Quân-Cán-Chính tiễn ra trực thăng từ giã Phú Yên, Trung Tá Hai với chiếc túi vải hành trang nhỏ đơn sơ đã cảm xúc nhắn nhủ: "Tôi cảm ơn các ông đã tận tình làm việc với tôi trong mấy tháng vừa qua. Có thể người ta cho rằng tụi mình là những đứa dại, chỉ biết làm việc mà không biết đục khoét. Nhưng tôi tin là mình đã làm đúng".


Rời Phú Yên về trình diện Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, vừa đúng lúc chiếc ghế Chỉ Huy Trưởng Biệt Động Quân đang cần một khuôn mặt tài năng. Các giới chức quân sự BTTM từng nghe biết tiếng tốt của Trung Tá Biệt Động Quân Trần Văn Hai ngoài Trung nên đã nhanh chóng bổ nhiệm ông vào chức vụ này và được vinh thăng Đại Tá. Trong thời gian hai năm làm Tư Lệnh binh chủng Mũ Nâu 1967-1968, Đại Tá Hai đã tỏ rõ tư cách, năng lực và sự dũng cảm của một người chỉ huy một đại đơn vị khét tiếng của QLVNCH. Trên thực tế, trách nhiệm của Chỉ Huy Trưởng Biệt Động Quân rất khác biệt với các vị tư lệnh sư đoàn bộ binh. Người Chỉ Huy Trưởng BĐQ chỉ làm công tác gần như thuần túy hành chánh, quản trị quân số, đào tạo và tuyển mộ, vị Tư Lệnh Mũ Nâu không có thực quyền điều động và trực tiếp chỉ huy hành quân. Câu chuyện cảm động về một vị Tư Lệnh Mũ Nâu có mặt trên chiến hào tiền tuyến ở Khe Sanh lại là một huyền thoại khác nữa của người.


Cuối năm 1967, Liên Đoàn 1 Biệt Động Quân được lệnh gởi Tiểu Đoàn 37 Biệt Động Quân và một đại đội của Tiểu Đoàn 21 Biệt Động Quân ra Khe Sanh phối hợp chiến đấu với hai Lữ Đoàn Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ. Thiếu Tá Hoàng Phổ dẫn quân ra Khe Sanh và nhận thiết lập chiến tuyến phía Đông dài một cây số của căn cứ. Đặc biệt, tuy với vũ khí cũ kỹ và trang bị thiếu kém so với đối phương, nhưng Mũ Nâu của ta đã được cho trấn đóng một khu vực quan trọng nằm bao ngoài cùng căn cứ, phía bên trong là chiến hào của TQLC Mỹ và Bộ Chỉ Huy Căn Cứ. Báo chí thế giới đã gọi chiến tuyến trấn giữ của BĐQ là "tiền đồn của tiền đồn". Với một vị trí khó khăn và hung hiểm như vậy, vũ khí lạc hậu yếu kém, chiến sĩ Mũ Nâu của đã chứng tỏ tinh thần quyết chiến của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và nhận được sự nể trọng của lính Mỹ. Tuy nhiên vị Tư Lệnh Mũ Nâu đã hết sức băn khoăn ăn ngủ không yên, lo lắng cho những đứa con cô đơn của mình, ông quyết định phải ra Khe Sanh nhìn tận mắt cảnh ăn ở, sinh hoạt và chiến đấu của lính, ông mới an lòng. Đại Tá Hai cùng với hai sĩ quan tham mưu là Đại Úy Trần Đình Đàng, thuộc Phòng 1 và Thiếu Tá Ngô Minh Hồng, thuộc Phòng 3 tháp tùng theo một chiếc vận tải cơ C123 ra Khe Sanh. Thiếu Tá Ngô Minh Hồng sau vinh thăng Trung Tá và về làm Liên Đoàn Trưởng Liên Đoàn 5 Biệt Động Quân.


Chiếc phi cơ đáp xuống chạy trên phi đạo dã chiến , bụi đất cuốn mù mịt. Khi chiếc C123 vừa chạm đất thì pháo địch đủ loại từ bốn phía đã dồn dập dội xuống, tiếng nổ ùng oàng buốt óc. Chiếc C123 không dám ngừng bánh, nó vẫn tiếp tục chạy chầm chậm trên phi đạo cho đến cuối đường. Trong thời gian đó, mọi người trên tàu đều phải nhảy xuống lăn mình vào những cái rãnh hai bên phi đạo để tránh đạn pháo, những kiện tiếp liệu được hối hả tuôn xuống. Khi đến cuối phi đạo, vận tốc phi cơ có chậm lại vì phải quày đầu chuẩn bị tăng tốc độ để cất cánh, những giây phút cực ngắn ngủi nhưng quí giá đó dành cho các thương bệnh binh. Các chiến sĩ Quân Y và những người lính Mũ Nâu phải thật nhanh chóng đẩy thương binh lên càng nhiều càng tốt, trước khi con tàu gầm rú chuyển bánh và tăng tốc độ. Báo chí thế giới đã ví von hoạt cảnh ấy như là những cuộc chạy đua 100 mét với thần chết. Có nhiều chiếc C123 hay C130 vừa cất cánh lên đã trúng pháo địch vào đuôi và nổ vỡ rơi xuống tan tành.


Trong bối cảnh hỗn loạn, căng thẳng và chết chóc ấy, nhóm ba người của Đại Tá Hai không biết làm cách nào mà đã nhảy xuống được phi cơ và một vài giây phút sau, họ đã có mặt trong những dãy chiến hào tiền tuyến của Tiểu Đoàn 37 và 21 Biệt Động Quân. Những chiến sĩ Liên Đoàn 1 Mũ Nâu chỉ có thể rưng rưng nước mắt xúc động không nói nên lời, nhận những lời khích lệ và thăm hỏi chân tình của người anh cả binh chủng. Người hỏi han tỉ mỉ từng chiến sĩ một, xem những thằng em của ông ăn làm sao, ngủ làm sao. Ông cảm xúc nhìn những chiến binh mặt mũi đen nhẻm vì nắng gió biên giới, những bộ quân phục nhàu rách và hỏi thăm họ có được cấp phát thay thế hay chưa. Và nhiều điều thăm hỏi chứa chan tình chiến hữu khác nữa. Không ít những sĩ quan và chiến sĩ Mũ Nâu của Liên Đoàn 1 BĐQ đã từng một thời cùng Đại Úy Hai mài miệt học tập trên những căn cứ rừng núi sình lầy của Trung Tâm Dục Mỹ ngày xưa. Sự hiện diện của vị Tư Lệnh binh chủng và là người thầy xưa trong vòng hai ngày đêm, cùng ăn cùng ngủ cùng chia xẻ gian nguy chết chóc ở chiến hào tiền tuyến của các sĩ quan Bộ Chỉ Huy Biệt Động Quân đã thổi bùng lên hùng khí chiến đấu của quân ta lên đến mức cao nhất. Vì vậy khi nổ ra cuộc tấn công lớn nhất của cộng quân trong toàn chiến dịch Khe Sanh, với một trung đoàn của sư đoàn thiện chiến 304 Điện Biên Phủ CSBV lúc 9 giờ tối ngày 29.2.1968, thì Tiểu Đoàn 37 và 21 BĐQ tuy với vũ khí yếu kém hơn của đối phương, đã đánh một trận long trời lở đất tiêu diệt hai tiểu đoàn địch. Từ sau cơn thảm bại đó, binh đội BV đang bao vây uy hiếp Khe Sanh lần lượt nhận lệnh rút khỏi khu vực, đánh dấu chấm hết cơn mộng đẹp chiến thắng một "Điện Biên Phủ Thứ Hai" của Võ Nguyên Giáp.


Trước đó chừng một tháng, tức ngày 31.1.1968 Việt Cộng tấn công 44 tỉnh thành Việt Nam Cộng Hòa, đặc biệt chiến sự nổ lớn và kéo dài ở Huế và khu vực Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định. Đại Tá Hai đã có dịp tỏ rõ tài năng quân sự, khi ông chỉ huy Biệt Động Quân giải tỏa áp lực địch trong khu vực trách nhiệm. Quân ta thắng lớn trên khắp mặt trận. Trong đợt tổng tấn công Mậu Thân 2 khởi diễn ngày 22.5.1968, Liên Đoàn 5 Biệt Động Quân của Trung Tá Đào Bá Phước chịu trách nhiệm mặt trận Chợ Lớn. Bộ chỉ huy Liên Đoàn đóng trong Trường Tiểu Học Phước Đức nằm trên đường Khổng Tử. Chiều ngày 2.6.1968, Trung Tá Phước cùng những sĩ quan cao cấp của Cảnh Sát Đô Thành và Biệt Khu Thủ Đô đang họp hành quân trong trường, thì đột nhiên có một chiếc trực thăng võ trang của quân đội Hoa Kỳ xuất hiện từ phía trái đường Khổng Tử bay đến. Quân ta chưa kịp nắm vững tình hình về chiếc phi cơ lạ thì chiếc trực thăng đã chúi mũi xuống phụt một trái hỏa tiễn bắn thủng bức tường lầu nhì xuyên xuống tầng dưới. Chiến sĩ Biệt Động Quân vội tung khói màu ra hiệu quân bạn, nhưng chiếc trực thăng đã quay trở lại quạt đại liên xuống dữ dội. Quả rocket và tràng đại liên oan nghiệt đã phụt trúng bộ chỉ huy hành quân hỗn hợp và gây tử thương cho sáu vị sĩ quan cao cấp Việt Nam Cộng Hòa. Những vị hy sinh gồm có :


1./ Trung Tá Đào Bá Phước, Liên Đoàn Trưởng LĐ5BĐQ.


2./ Trung Tá Nguyễn Văn Luận, Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia Đô Thành.


3./ Thiếu Tá Nguyễn Ngọc Sinh, Phụ Tá Trung Tá Luận.


4./ Trung Tá Lê Ngọc Trụ, Trưởng Ty CSQG Quận 5.


5./ Trung Tá Phó Quốc Trụ, Giám Đốc Nha Thương Cảng Sài Gòn.


6./ Thiếu Tá Nguyễn Bảo Thùy, Chánh Sở An Ninh Đô Thành, ông là bào đệ của Trung Tướng Nguyễn Bảo Trị.


Ngoài ra còn có những vị sĩ quan sau bị thương nặng nhẹ:


1./ Đại Tá Văn Văn Của, Đô Trưởng Sài Gòn, bị thương nặng.


2./ Đại Tá Nguyễn Văn Giám, Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Đô, bị thương nhẹ.


3./ Trung Tá Trần Văn Phấn, Phụ Tá Tổng Giám Đốc CSQG, bị cưa chân.


Trong lúc xảy ra tai nạn, Đại Tá Trần Văn Hai đang ngồi trên xe Jeep trực chỉ về hướng Chợ Lớn để dự buổi họp hành quân với Trung Tá Phước. Xe của ông bị kẹt giữa khối đám đông dân chúng đang ùn ùn đổ ra Sài Gòn, cho nên khi ông đến được Trường Phước Đức thì thảm kịch đã xảy ra và kết thúc từ lâu. Có lẽ định mệnh đã dành cho người một cái chết khác bảy năm sau. Cao cả hơn và bi tráng hơn. Đó là cái ngày 30.4.1975.


Thủ Tướng lúc đó là cụ Trần Văn Hương chú ý đến cung cách chỉ huy và lòng trung trực thẳng thắn của Đại Tá Hai trong hai kỳ Mậu Thân. Đại Tá Hai đã cùng lên chiến tuyến với các Tiểu Đoàn Mũ Nâu để khích lệ tinh thần binh sĩ. Đặc biệt, để bảo toàn danh dự quân đội, ông nghiêm cấm binh sĩ không được phá quấy và cướp giật tài sản người dân. Thậm chí ông còn hạ lệnh sau mỗi lần diệt xong một ổ kháng cự của VC, ba lô của sĩ quan và binh sĩ đều phải được lục soát kỹ, không cho phép chiến sĩ lợi dụng cảnh hỗn loạn và nhà vắng chủ để lấy của cải dân chúng. Hành động đạo đức này đã được thuộc cấp nể trọng, đến quỉ thần cũng phải cúi đầu. Thủ Tướng Hương đề nghị Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cho Đại Tá Hai về làm Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia, thay thế Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan bị thương chân giải ngũ. Lực lượng Cảnh Sát Quốc Gia sau thời điểm Mậu Thân điêu tàn, lòng người rúng động, cần hình ảnh một vị chỉ huy cảnh sát có thành tích chiến đấu vì dân, có đạo đức, thanh liêm trong sạch và lòng mẫn cán để thu hút lòng dân, đưa dân đến gần hơn với những đường lối của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Đại Tá Hai chính là con người hội đủ điều kiện đó. Trong lĩnh vực quân sự, cụ Hương cũng đã đề cử Trung Tướng Đỗ Cao Trí về nắm Tư Lệnh Quân Đoàn III. Hai nhân vật được đề cử đã tạo nên nhiều chiến công lớn , giúp cải thiện tình hình trị an và quân sự được ổn định một thời gian dài.


Nhận một chức vụ cực quan trọng, là cánh tay mặt đắc lực của chính quyền, Đại Tá Hai đã hết lòng chu toàn nhiệm vụ. Cũng vì tính trong sạch thẳng thắn quá mà ông lại làm phiền lòng ông Bộ Trưởng Nội Vụ thời đó, vì ông không chịu sa thải một luật sư phụ tá mẫn cán để thay thế đàn em của ông Bộ Trưởng vào. Vì vậy mật phí dành cho Cảnh Sát Quốc Gia bị thẳng tay cắt giảm quá nửa, gây khó khăn rất nhiều cho ông, nhưng người vẫn quyết làm những gì theo lương tâm và ông nghĩ đó là lẽ phải. Với chức vụ cao tột bậc như vậy mà trong thời gian hơn một năm, ông cũng không xun xoe vào gặp cấp lãnh đạo cao nhất để cầu cạnh lợi lộc, vì điều đó trái với tính cách con người ông. Đại Tá Hai chỉ đến gặp Tổng Thống Thiệu, Thủ Tướng Hương rồi Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm, sau khi Thủ Tướng Hương rời khỏi chức vụ, khi có lệnh hoặc vì công vụ phải đích thân trình bày. Chưa bao giờ người ta thấy ông dùng công xa lộng lẫy với còi hụ dẫn đường để khoe khoang, mỗi lần di chuyển công tác, người vẫn sử dụng chiếc Jeep BĐQ cùng với mấy người cận vệ ngồi phía sau. Đại Tá Hai chỉ huy CSQG rất tốt và không cho phép nó đi lệch hướng, nhưng những thế lực muốn chi phối lực lượng Cảnh Sát vào những mục tiêu riêng lại không thích ông, vì ông không thuộc phe phái nào cả. Người chỉ có một phe phái lớn nhất, đó là tổ quốc. Khi được nghe phàn nàn về những bê bối trong ngành Cảnh Sát, người đã trầm ngâm trả lời: "Tôi biết, nhưng vấn đề không thể giải quyết một sớm một chiều, mà phải kiên nhẫn tìm ra những đầu mối, những tương quan thế lực chằng chịt thì mới ngăn chận được. Từ ngày về đây tôi đã gặp khá nhiều khó khăn. Mình như người vác chiếc thang dài đi trong căn nhà hẹp, bốn bề đều đụng chạm. Không ai muốn mình làm những điều mình thấy cần phải làm".


Công việc sửa chữa làm sạch ngành Cảnh Sát còn đang dang dở thì Thủ Tướng Trần Văn Hương rời khỏi chức vụ, Đại Tá Hai liền nhận sự vụ lệnh trở ra Vùng II Chiến Thuật làm Tư Lệnh Phó Quân Đoàn II dưới quyền Thiếu Tướng Nguyễn Văn Toàn. Từ vị trí Tư Lệnh Phó, một lần nữa người sĩ quân mẫn cán ấy lại vướng phải một ông Tướng vùng nóng nảy và đầy tai tiếng tham nhũng, ăn chơi xa hoa trụy lạc, ông bằng lòng trở về làm Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Lam Sơn kiêm Huấn Khu Dục Mỹ, coi như một sự đi xuống trong cuộc đời binh nghiệp của mình. Thời gian này người thường tịnh khẩu, hướng về thiền định, ông ăn uống rất đơn giản, trong bữa cơm thường có nhiều rau trái.


Cuộc đời lên xuống thăng trầm vì những thế lực đè nén của người thật giống với cuộc đời của người anh hùng Nguyễn Công Trứ. Cũng giống như cụ Nguyễn Công Trứ, trong bất kỳ tình cảnh nào, vị trí nào, Đại Tá Hai đều chu toàn hoàn hảo và hãnh diện với nhiệm vụ phục vụ đất nước của mình. Cụ Trứ đã chẳng từng nói: "Lúc làm đại tướng tôi chẳng lấy làm vinh, thì lúc làm lính thú tôi cũng chẳng lấy làm nhục". Có lần trong năm 1974, một vị sĩ quan Tiểu Đoàn Trưởng là Thiếu Tá Nguyễn Thanh Vân dẫn Tiểu Đoàn 95 Biệt Động Quân từ căn cứ Ben Het về Dục Mỹ tái trang bị và huấn luyện đã đến thăm người anh cả, người thầy cũ đáng kính của mình. Chuẩn Tướng Hai đã chân tình tâm sự với người chiến hữu cũ, mãi về sau này nghiệm ra, Thiếu Tá Vân mới nghĩ đó chính là lời nhắn nhủ và là trăn trối cuối cùng mà người để lại cho hậu thế: "Bây giờ "Toi" cũng là Tá, cũng là Tiểu Đoàn Trưởng rồi, và "Moi" bây giờ cũng mang sao. Nhưng mình hãy xét mình và làm sao cho xứng đáng với cái lon của mình. "Moi" đã già rồi, tóc cũng đã bạc nhiều, rồi mai kia cũng phải ra đi. "Toi" hãy còn trẻ, tre tàn măng mọc mà "Toi", thời gian là như vậy. "Moi" mong "Toi" sống cho đáng sống, đừng để binh sĩ dưới tay mình khổ sở vì sự kém tài bất đức của mình. Cũng như "Moi" đây, bây giờ được về đây dưỡng già, nhưng nhà binh mà "Toi", lúc lên voi xuống chó là chuyện thường tình, chỉ cần ta sống không thẹn với mình là đủ...".


Đất nước trong cơn nghiêng ngửa rất cần những vị chỉ huy tài năng đứng ra chống đỡ. Một lần nữa, Chuẩn Tướng Trần Văn Hai được Tổng Thống Thiệu tín nhiệm trong chức vụ cực kỳ quan trọng ở Miền Tây, ông được vời về làm Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh thay thế Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam lên làm Tư Lệnh Quân Đoàn IV & Quân Khu IV kể từ tháng 11.1974. Chuẩn Tướng Hai về nắm Sư Đoàn 7 Bộ Binh trong thời điểm đã khá muộn màng, ông không còn có được bao nhiêu thời gian để cùng chiến binh Miền Tây làm tròn trách nhiệm bảo quốc an dân. Từ phía Bắc, binh đội cộng sản đã ùn ùn tràn xuống như thác lũ, lần lượt đánh bứt các tỉnh Phước Long, Ban Mê Thuột, rồi toàn Quân Khu II, đến Quân Khu I, và sau cùng, trong những ngày tháng 4.1975 hầu như Quân Khu III cũng rơi vào tay giặc.


Chuẩn Tướng Trần Văn Hai trong ngày cuối cùng 30.4.1975 vẫn tươm tất uy nghi trong bộ quân phục quân đội Việt Nam Cộng Hòa ngồi trong văn phòng tư lệnh bình tĩnh chờ quân địch đến. Trước đó, sau khi nghe Tướng Dương Văn Minh đọc hàng lệnh trên đài phát thanh, người đã ôn tồn khuyên bảo sĩ quan và chiến sĩ thuộc cấp, cho phép họ được buông súng trở về gia đình, nhưng có một số vẫn nhất quyết ở lại căn cứ Đồng Tâm, Mỹ Tho và bố trí chiến đấu. Vì họ biết Chuẩn Tướng Hai sẽ không bàn giao Đồng Tâm cho giặc, hoặc nếu người có bàn giao thì cái phương thức ông làm sẽ không phải là phương thức kiểu đầu hàng. Một con người đã từng chiến đấu bảo vệ những mảnh đất của tổ quốc hơn hai mươi năm, không lý do gì người giao lại cho giặc một cách dễ dàng. Chúng muốn lấy thì chúng phải trả một cái giá nào đó. Chuẩn Tướng Hai cảm xúc nhìn những đôi mắt u sầu của thuộc cấp đang cố giương súng để bảo vệ ông. Người trao lại cho một sĩ quan thuộc cấp một gói nhỏ, trong đó đựng một vài vật dụng cá nhân và tiền hai tháng lương Chuẩn Tướng là 70.000 đồng nhờ trao lại cho bà mẹ già ở Gò Vấp, Sài Gòn. Người sĩ quan rùn mình, mặc dù không biết những vật gì chứa trong gói vải đó, nhưng ông biết giờ phút chia tay với Chuẩn Tướng Hai sắp điểm.


Khoảng xế trưa, một lực lượng của Việt Cộng thận trọng tiến vào Đồng Tâm và cho người đến yêu cầu Chuẩn Tướng Hai bàn giao căn cứ. Chuẩn Tướng Hai ngồi ngay ngắn sau chiếc bàn bên trên có hai cái đế gắn lá cờ vàng Việt Nam và lá cờ Tướng một sao, bình tĩnh và nghiêm nghị ra điều kiện. Ông chỉ bàn giao căn cứ khi nào có một người chỉ huy trưởng sư đoàn của đối phương đến văn phòng Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh. Ngoài điều kiện đó, ông không muốn bàn chuyện nào khác. Tình hình rất căng thẳng và làm những người lính cộng bối rối, chúng rút trở ra bàn tính. Mãi một lúc sau khá lâu, bọn chúng gọi đâu được một người tự xưng là sư đoàn trưởng xin vào gặp Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hòa để làm thủ tục bàn giao. Người thủ trưởng sư đoàn rụt rè tiến vào văn phòng Tư Lệnh SĐ7BB, Chuẩn Tướng Hai bất thần rút súng lục ra nổ mấy phát vào tên sư trưởng địch. Với khoảng cách rất gần đó, người có thể giết chết gã dễ dàng, nhưng người chỉ bắn gã bị thương nhẹ. Người sư trưởng địch cùng mấy cận vệ lần nữa rút chạy ra ngoài. Lính Sư Đoàn 7 Bộ Binh giương súng lên sẵn sàng tử chiến và bảo vệ Tư Lệnh của mình.


Viên đạn cuối cùng của vị Tướng Việt Nam Cộng Hòa và lòng vị tha dành cho người sư trưởng địch đã nói lên được hai điều. Thứ nhất, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa không phải là một quân đội khiếp nhược. Thứ hai, người lính Việt Nam Cộng Hòa không bao giờ căm thù những người đồng bào cùng sinh ra trên mảnh đất Việt Nam, khi cuộc chiến tàn, tất cả chỉ còn lại thuần túy là người Việt Nam.


Tối ngày 30.4.1975, Chuẩn Tướng Hai ngồi trong văn phòng đóng kín cửa và đã uống thuốc độc tử tiết. Sáng hôm sau người Trung Úy thuộc cấp đã tìm được bà cụ thân sinh của Chuẩn Tướng Hai trao lại di vật và hướng dẫn bà trở xuống Mỹ Tho. Bản thân vị Trung Úy cũng chưa trở về gặp lại vợ con của ông ở Sài Gòn. Người mẹ già tấm lưng đã còm cõi với thời gian đã mưu trí gạt được người lính VC gác cổng và đưa được thi hài Chuẩn Tướng Hai về Gò Vấp an táng. Hiện nay bà phu nhân Thiếu Tướng Hai vẫn còn ở Việt Nam, các chiến hữu Biệt Động Quân nhớ về người tướng quân tư lệnh binh chủng và người thầy cũ, đã có gửi tiền về cho bà ít nhiều để gọi là trân trọng tưởng nhớ đến ông.


Người anh hùng dân tộc, vị thần tướng nước Nam Trần Văn Hai đã đi vào cõi thiên thu, nhưng tấm gương chiến đấu anh dũng, tấm lòng tận tụy phục vụ tổ quốc đến giây phút cuối cùng của người sẽ mãi mãi được những người còn sống và người đời sau truyền tụng và vinh danh.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

NGÀY 30-4-1975, QLVNCH BUÔNG SÚNG NHƯNG KHÔNG ÐẦU HÀNG

MƯỜNG GIANG


Từ chiều 29 cho tới trưa ngày 30-4-1975, súng đủ loại lớn nhỏ đã bắt đầu nổ vang khắp Sài Gòn. Kinh khiếp hơn hết là các loại bích kích pháo B40-41, hỏa tiễn 122 ly, cứ bì bỏm liên tục, rót xuống phi trường Tân Sơn Nhất và các vùng đông dân lân cận.
Rốt cục chỉ có mặt nhựa ở phi đạo bị đan làm xoáy tung mà thôi. Nơi nơi bôn hướng, cây cối, dây điện, gạch vôi và thân xác của những người lính quèn lúc đó, vẫn còn ở lại để phòng thủ cái phi trường trống không, chập choạng, ngả nghiêng thảm thê theo làn đạn địch. Ánh lửa hồng từ các đám cháy, quyện với mùi khói khét và sơn vôi gạch vụn, theo gió bốc mùi vào các ô cửa kính bị vỡ vì mãnh đạn bay lạc. Trong Viện Quốc Gia Nghĩa Tử, nằm cạnh khu nghĩa trang Thánh Tây và phi trường, trên đường Võ Tánh, là nơi tạm trú của mấy trăm gia đình di tản thuộc các Ty Cựu Chiến Binh từ Miền Trung chạy vào. Mọi người ai cũng đang co rúm giữa bốn bức tường mỏng manh loang lổ đan, nằm ngồi trên nền xi măng hay các bàn ghế học trò lạnh lẽo, đói khát. Lũ con nít thiếu nước, thiếu sữa nên la khóc inh ỏi.
Lúc đó trên đường Võ Tánh từ cổng chính của Bộ Tổng Tham Mưu gần ngã ba Trương Tấn Bửu chạy tới ngã ba Bảy Hiền, xa nhìn ngút mắt, có các đám cháy lớn và nhiều quân xa chở lính cũng như thiết giáp đang dồn dập di chuyển. Khói lửa, điêu linh và chết chóc, đã được đám khoa bảng trí thức vô dụng, ăn chén đá bát của miền Nam, qua cái rổ tự do dân chủ, hòa hợp dân tộc, để rước cọng sản đệ tam quốc tế Hà Nội, mang từ Liên Xô và Trung Cộng, vào tận đất Sài Gòn thơ mộng hiền hòa.
Trong nổi câm nín của những ngày Việt Nam sắp mất nước, đất trời như cũng cảm thông chia sớt với thân phận của một dân tộc nhược tiểu, bị chính đồng bào mình, qua nhân danh lãnh tụ, đem bán đứng cho các thế lực ngoại nhân, trong có đế quốc Trung Cộng, là một kẻ thù ngàn đời mãn kiếp của nước Việt.. Bởi vậy bốn bề quang cảnh mông mênh sầu thảm, qua cơn mưa hè đầu mùa sụt sùi lệ mắt. Trong góc phòng, có chiếc máy thu thanh của ai đó mở suốt từ đêm qua, nhưng âm thanh tuyệt nhiên vắng ngắt , lâu lâu phát ra những tiếng gió sè sè lãng xẹt.

Giữa giờ thứ 25 chết chóc đang chực chờ, bổng thấy thèm những giọng ca thương lính thuở nào, của những nam nữ ca sĩ phong lưu dỏm dáng, trắng trẻo no tròn, với bộ đồ trận rằn ri, lúc nào cũng còn nguyên nếp gắp và mùi thơm vải. Tình nhất là trên túi aó có lúc lắc chùm huy chương đủ loại, cũng như các phù hiệu của những binh chủng dữ dằn như Nhảy Dù, TQLC, BÐQ, Lôi Hổ.. Cũng thấy nhớ tới những bài diễn văn bốc lửa, đượm tình mến nước yêu dân của các đấng nguyên thủ, chính khách, lãnh tụ, cha-thầy, kể cả các trí thức khoa bảng của Sài Gòn. Rồi nhưng cuộc biểu tình chống chính phủ, chống tham nhũng, chống đàn áp tôn giáo, báo chí đến nỗi ký giả phải đi ăn mày để có được tự do ngôn luận như các đồng nghiệp đang sống ở Hà Nội, trong thiên đàng xã hôi chủ nghĩa, cái gì cũng có.
Nhưng giờ này họ ở đâu ?, vì hôm qua còn thấy chường mặt đủ trên đài truyền hình hay báo chí, hùng hổ phun bọt mép, khua cả tay chân quả đấm đòi này nọ, để có thực quyền đối mặt với mấy trăm ngàn bộ đội miền Bắc, đang lăm lăm súng đạn, mả tấu, để phanh thây xé xác đồng bào. Họ nói có quyền mới có hòa hợp hoà giải,mang lại hòa bình cho đất nước và trên hết người Việt không cần phải bỏ nước ra đi, để phải chết vì thèm mấm tôm cà pháo nơi xứ người.
Tất cả gần như chạy hết rồi, bỏ lại đồng bào thân yêu , lính tráng đồng đội đang còn tử chiến với giặc khắp chiến trường, các thương bệnh binh đang rên la trong quân y viện và mảnh đất Sài Gòn ba trăm năm, trong cơn hấp hối :
+ Sài Gòn, những phút giờ hấp hối :
Hai mươi năm chinh chiến, bao giờ cũng vậy, tới lúc cuối cùng chờ chết, vẫn là người lính trận và đồng bào nghèo, không có phương tiện để vượt thoát khỏi cảnh bom đạn. Lính chết thật oan khiên vì chiến đấu trong đơn độc, không có đồng minh cũng như đồng đội yểm trợ, vì vào giờ thứ 25, đâu có ai ngu như người lính VNCH, ở lại chết để không có tiền tử tuất, kể cả chiếc quan tài vùi thây đời lính. Biết nghĩ như vậy, những ai còn sống sót tơí ngày hôm nay, phải nhỏ một giọt nước mắt, dù muộn màng để cảm ơn họ. Lính chết oan khiên chẳng những ngoài chiến trường khi phải đối mặt với kẻ thù hung ác, mà còn chết lãng nhách nơi hậu phương bởi những cái lưỡi tắc kè xanh xanh đỏ đỏ, giờ này nhìn lại cũng đỏ đỏ xanh xanh, đâu có thấy đổi màu. Thảm nhất là trên đầu lính, gần hết là bọn lãnh đạo tồi, thứ này giờ đã hết răng để mà ăn, nhưng lúc nào cũng muốn chường ra giữa bia miệng, chọc cho thuộc hạ và con cháu khinh nhờn, khi cứ xưng chức, đeo huy chương và trả lời những phỏng vấn cuội, như mới đây có đám việt gian ở hải ngoại về Sài Gòn phỏng vấn lũ tướng đầu hàng VC, trong đó có Nguyễn Hữu Hạnh và Triệu Quốc Manh, thuộc hàng tép riu, không quân, không đơn vị trước khi Dương Văn Minh được làm tổng thống hai ngày, để bắt QLVNCH buông súng rã ngủ.
Người lính Miền Nam bi hùng là thế đó, như vậy làm sao bảo họ phải chiến thắng khối cọng sản đệ tam quốc tế, trong đó có Liên-Xô và Trung Cộng ? Người lính đã ở lại tới giờ phút cuối cùng vào trưa ngày 30-4-1975, đã là anh hùng thử hỏi có quân đội nào anh hùng hơn, kể cả quân Pháp, Ðức, Anh trong Thế chiến 2.
Sau khi Hoa Kỳ cùng Bắc Việt đồng thuận ngụy tạo cuộc ngưng bắn bịp vào tháng 2-1973, chấm dứt sự hiện hữu của Mỹ tại chiến trường. Cũng từ đó, QLVNCH bị đem con bỏ chợ, chiến đấu trong thiếu thốn, thiếu cấp chỉ huy trên thượng tầng, thiếu đạn dược, thuốc men, xăng nhớt, các quân dụng khiến cho nhiều phi cơ, chiến xa phải nằm ụ vì không cơ phận sửa chữa hay thay thế. Tóm lại mọi sự đều do người bạn đồng minh Hoa Kỳ tạo ra, như cắt quân viện, bội ước lời thề ‘ một đỗi một ‘ được chính siêu cường ký nói hứa hẹn bằng giấy trắng mực đen. Trong khi đó thì Bắc Việt, từ Hồ Chí Minh tới Lê Duẩn, Lê Ðức Thọ, Phạm Văn Ðồng.. đã đem mãnh giang sơn gấm vóc của tiền nhân, cầm bán thế chấp cho đệ tam cọng sản, nên được cả khối như Liên Xô-Trung Cộng, Ðông Âu, Bắc Hàn, Cu Ba, các đảng cọng sản Ý, Pháp, Mỹ và những thành phân ăn cơm miền nam lại theo VC miền bắc, giúp đỡ hết lòng, từ cây kim hột gạo, cho tới bom đạn, tăng, máy bay, tiền bạc và những cái lưỡi tắc kè đỏ đỏ xanh xanh đảo lộn sự đời. Tệ nhất là lũ hề hữu danh vô thực, trong cái gọi là Liên Hiệp Quốc, lúc nào cũng bưng bợ Hà Nội, như muốn đổ dầu vào biển lửa thống hận trùng hằng tại Miền Nam.
Không chịu nổi cái cảnh ứa gan, hiếp người ngã ngựa, nhà bỉnh bút quân sử thế giới lương thiện và nổi tiếng là Louis A Fanning, đã phải viết lời chửi Mỹ : ‘ Sau hiệp định Paris 1973, hơn 300.000 bộ đội cọng sản quốc tế, được người Mỹ bỗng dưng tự tác cho ở lại trên lãnh thổ của nước khác. Ðó là Miền Nam VN, một quốc gia độc lập, có chủ quyền, quốc hội và không hề là thuộc địa hay các tiểu bang của Hoa Kỳ. Trong lúc đó, VNCH là một đồng minh với Mỹ từ khuya , lại bị chính Mỹ phản bội, lường gạt, cắt viện trợ và sỉ nhục mọi điều. Ðúng là thái độ của bọn con buôn chính trị, hèn chi người Mỹ đã bị thế giới tự do coi thường, vì đã bội tín với nhiều đồng minh của mình.’
Viết về tình trạng đồng bào VN, sống giữa cảnh chết chóc của chiến tranh mạt kiếp, đáng lẽ sẽ chẳng bao giờ xảy ra nếu không có đảng cọng sản Hà Nội, khiến cho đất nước sau khi Nhật đầu hàng, thay vì sẽ có hòa bình như nhiều nước trong vùng Á Châu, lúc đó cũng đang là thuộc địa của bọn thực dân da trắng. Ðể diễn tả sự bất hạnh này, nhà báo người Tây Ðức Une Siemon Netto, đã viết trong tờ International Herald Tribune : ‘ giờ thì mọi người đã biết rõ cái thực chất cách mạng cứu nước, mà cọng sản Hà Nội luôn dùng làm chiêu bài, để có cớ gây nên một cuộc chiến vô luân, nồi da xáo thịt. Tiếc thay trước tháng 5-1975, nhiều trí thức khoa bảng và nhà báo Tây Phương, đã biết rõ cọng sản đệ tam quốc tế gây chiến tranh chỉ vì ý thức hệ và trên hết chúng rất dã man tàn bạo. Nhưng vì họ ích kỷ, hám danh và trên hết nhiều kẻ đã táng tận lương tâm, nên muối mặt, bẻ cong ngòi bút, viết láo sai sự thật, để đầu độc môi người, nhất là dân chúng Hoa Kỳ, đang có nhiều người thân tham dự cuộc chiến thần thánh, bảo vệ tự do cho nhân loại tại Ðông Dương, đang bị Ðệ tam cọng sản quốc tế tàn sát nhuộm đỏ.’. Hành động vô lương của bọn bồi bút, đã gây nên nhiều nổi oan khiên tội nghiệp, khiến bao oan hồn lương dân vô tội, đã bị bộ đội cọng sản miền bắc tàn sát dã mang trong tết Mậu Thân, nhất là tại Huế. Rồi mùa hè đỏ lửa 1972 trên đại lộ kinh hoàng, từ Ðông Hà về Huế, trên quốc lộ 14 Dakto-KomTum, đường 13 An Lộc-Bến Cát và đoạn đường số 1, từ Tam Quan-Hoài Nhơn-Phù Mỹ về Qui Nhơn, qua những Lai Giang, sông Côn, sông Cả.. Nhưng bi thảm nhất cũng vẫn là những ngày cuối cùng di tản tại Vùng I, vùng II trên đường số 7, dân chúng lánh nạn gục chết như ra vì đạn kích pháo của giặc, không cần biếy hay thương hại cho mạng người lá rụng, dù những mạng sống đó vốn cùng bộ đội VC, chung cháu Lạc Con Hồng. Tóm lại tất cả đều vô lý, đã khiến cho nhiều nhà báo ngoại quốc sau này, phải kêu trời không ngớt, vì tự vấn lương tâm khi họ đả vô tình hay cố ý, câm nín trước những thảm trạng của nam VN. Trong lúc đó vụ Mỹ Lai (Quảng Ngãi), do chinh Hà Nội giật dây đạo diễn, đẩy dân lành vô tội ra làm bia đỡ đạn cho lính Mỹ, thì được bao chi Tây phương làm lớn chuyện, tuyên truyền không công cho Hà Nội, trong suốt cuộc chiến.
Sài Gòn đã bắt đầu xáo trộn từ tháng 3-1975, từ lúc miền Trung bị mất qua quyết định sai lầm rút bỏ quân đoàn I và II của TT.Nguyễn Văn Thiệu, Thủ Tứớng Trần Thiện Khiêm và Ðại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu trưởng QLVNCH lúc đó. Ngày 21-4-1975, Tổng Thiệu qua áp lực của Mỹ, muốn thay ngựa theo ý của cọng sản Bắc Việt, để hòa hợp hòa giải, nên ông phải tuyên bố từ chức tổng thống trong lúc đất nước nguy ngập, ngàn cân treo chỉ mành và đã cùng Thủ tướng Khiêm, được Tòa Ðại Sứ Mỹ, đưa ra khỏi Sài Gòn, tới Ðài Bắc trong đêm tối bằng máy bay quân sự. Việc bỏ nước ra đi của TT. Thiệu, khác với trường hợp của Thủ Tứơng Khiêm hay Ðại Tứớng Viên, vì hai người này chẳng hề bị đe dọa hay bắt buộc. Trái lại Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu vào giờ thứ 25 của VNCH trong tháng 4-1975, giống như cái chết của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm ngày 2-11-1963, được quyết định bởi bàn tay của người Mỹ. Tổng Thống Diệm không cho người Mỹ đem quân vào VN nên bị giết trong danh dự. TT Thiệu khôn ngoan từ chức ra đi, nên được sống những ngày thừa nơi quê người, chịu bia miệng nguyền rủa, vì ham sống sợ chết, dù rằng con kiến cũng muốn sống. Ðó là sự thật của lịch sử, của thân phận nhược tiều VN, mà các tài liệu Mỹ đã hé mở cho mọi người cùng đọc, trong vài năm trước đây và còn được lưu trữ phổ biến khắp mọi văn khố, kể cả VC. Ngoài ra, cũng theo sử liệu, chính Tổng Thống Trần Văn Hương, muốn người Mỹ đem Tổng Thống Thiệu ra khỏi nước, mà theo TT Hương, đó là kỳ đà cản mũi, nên ông ta không thể trị nước hay chống Cộng được.
Thương nhất là Cụ Trần văn Hương lúc đó, đã gần đất xa trời, thêm mắt mũi kém, lại bị Mỹ bắt làm Tổng Thống VNCH, theo điều kiện của Bắc Việt. Nguyên thủ như vậy, nên miền Nam bị mất là cái chắc, dù sớm hay muộn cũng thế thôi.Sau đó lại màn thay ngựa cuối cùng, để Dương Văn Minh danh chánh ngôn thuận, kết thúc cuộc chiến từ đầu cũng do VC sắp đặt và cuối cũng cũng do VC quyết định, qua miệng kẻ cầm quyền của miền Nam, dù chỉ có hai ngày ngắn ngủi.
VNCH đang lúc lâm nguy vì thù trong giặc ngoài. Cả triệu quân, công, cán cảnh.. lúc đó đang xã thân, dùng xác người thay súng đạn Mỹ, làm công sự cản xe tăng hứng đạn pháo của cọng sản khắp mọi nẻo đường dẫn vào thủ đô, thì cũng lúc đó nhưng sâu bọ nơi hậu trường chính trị, hăng say toắc mồm, áo thụng vái lạy ông, bày ra những trò hề tác tệ, để tự phong quan gắn chức, làm nản chí những người lính đang xả thân nơi chiến trường, bắt QLVNCH phải tan hàng rã ngũ trong tức tủi oan khiên và cuối cùng làm cho cả nước phải sống đọa đày thương đau, trong cùm gông xã nghĩa từ ấy cho tới bây giờ, vẫn không hề thay đổi, vẫn không có tự do dù chút tự do để nói lời chân thật trong đáy hồn mình.
Nhưng dù gặp khó khăn nguy hiểm, các lộ quân còn lại của VNCH vẫn cản nổi quân xâm lăng Bắc Việt, trên khắp các tuyến đường dẫn vào Sài Gòn. Chính hành động phi thường này, nên dù VNCH không còn nửa, vẫn được thế giới ngợi khen và kính phục, như Peter Kohn đã viết trên tờ the Wall Street Journal :’Quân đội VNCH là một quân đội can đảm và chiến đấu lão luyện. Quân đội ấy đã chiến đấu giỏi trên nhiều địa danh, mà người Mỹ hoặc thế giới biết hay chưa biết tới. Quân đội ấy đã hào hùng ngạo nghễ với địch , qua hàng ngàn chiến trận, tiền đồn hẻo lánh hiu hắt. Quân đội ấy không được trang bị như quân Mỹ hay bộ đội cọng sản Hà Nội. Thế nhưng từ khi Hoa Kỳ rút quân về nước hay lúc đầu quân Mỹ chưa vào VN, vẫn hiên ngang chiến đấu trong suốt 20 năm khòi lửa, gần như bảo toàn trọn lãnh thổ của cha ông, từ phía bên này vỹ tuyến 17 cho tới Cà Mâu, đến khi bị Việt gian đâm sau lưng, VC bắn trước mặt, mới đành để mất non sông vào tay đệ tam cọng sản quốc tế.
Cũng vì phải chiến đấu khắp các mặt trận, nên đã có hằng tram ngàn người lính phải chết, hằng triệu thương phế binh, cô nhi quả phụ. Tới giờ phút cuối cùng, đã biết nước sắp mất, chết chỉ thêm uổng mạng nhưng họ vẫn hiên ngang chiến đấu tại Khánh Dương, Phan Rang, Phan Thiết, Xuân Lộc, Long An, Tây Ninh, Củ Chi , Biên Hòa và Sài Gòn. Tất cả đều là những chiến tích để đời và lưu danh thiên cổ trong dòng sử Việt
Cuối cùng trong giờ thứ 25, QLVNCH đã xử sự một cách mã thượng anh hùng. Thay vì dùng vũ lực bắt trọn Toà Ðại Sứ và Cơ Quan Dao làm con tin, như Iran đã từng làm, để gây áp lực, bắt Hoa Kỳ phải giữ lời hứa, dùng B52 đuổi bộ đội cọng sản rúr về phía bên kia vỹ tuyến 17 như Hiệp định Geneve năm 1954 và 1973. Nhưng họ vẫn không làm như vậy, vẫn tôn trọng kỷ luật quân đội, biểu lộ nét hào hùng văn hiến ngàn đời của một dân tộc có văn minh, văn hóa VN, khi cố gắng phòng thủ và tiếp tục chiến đấu khắp nơi, giúp cho Mỹ và những đồng đội, cấp chỉ huy hèn nhát, bỏ chạy khỏi nước một cách an toàn, trước khi giặc Hồ vào Sài Gòn trưa 30-4-1975. Họ đáng được ca tụng và kính phục ‘.
+ QLVNCH tử chiến trong giờ thứ 25 :
Sau khi được 400.000 quân Trung Cộng phòng thủ đất Bắc, cọng sản Hà Nội xua toàn bộ quân đội xâm lăng miền Nam. Mai mỉa nhất là lúc mà Dương Văn Minh cùng nội các mới, hy vọng được hòa hợp hòa giải với VC, để chúng chia chức nhín cho một chút quyền trong cái chính phủ liên hiệp, nếu có cũng chỉ là thứ bù nhìn, như MTGPMN được dựng lên, từ 12-1960 tới tháng 5-1975. Ðây chính là thời điểm , mà Bắc Bộ Phủ gọi là giờ G, ngày N, để tổng tấn công chiếm Sài Gòn. Ðó là lúc nửa đêm 29-4-1975, thời gian Hà Nội qui định cho tất cả các cánh quân, từ năm hướng tiến vào thủ đô. Ðây cũng là thời gian qui định cho bọn đặc công, biệt động nằm vùng, chui ra khỏi các hang ổ để gây hỗn loạn trong thành phố, chỉ đường, bắt tay cho bộ đội miền Bắc.
Tại Mặt Trận Miền Ðông Nam Phần, từ sau ngày SÐ18BB và Lữ Ðoàn 1 Dù, rút lui an toàn về Bà Rịa, Quân Ðoàn III đã tái phối trí lại các phòng tuyến mới vào những ngày cuối tháng 4-1975.
Vì SD18BB của Thiếu Tướng Lê Minh Ðảo bị thiệt hại nặng nề sau 12 ngày ác chiến với cọng sản Bắc Việt. Ngoài Trung Ðoàn 48/18 của Trung Tá Công, tương đối quân số còn nguyên vẹn, các Trung Ðoàn 52/18 của Ðại Tá Ngô Kỳ Dũng, tại Mặt Trận Ngã Ba Dầu Giây-Túc Trưng, thiệt hại hơn 80% quân số và Trung Ðoàn 43/18 của Ðại Tá Lê Xuân Hiếu, tử thủ trong thị xã Xuân Lộc, thiệt hại trên 30% nhất là Tiểu Ðoàn 2/43/18 của Thiếu Tá Nguyễn Hữu Chế, là đơn vị cuối cùng rời Long Khánh. Do đó sau khi chỉnh đốn lại đơn vi, SD18BB được giao trách nhiệm phòng thủ tuyến phía đông Sài Gòn, từ kho đan thành Tuy Hạ chạy dài tới Tổng Kho Long Bình. Riêng BCH Hành quân của SD18BB đặt tại căn cứ Hải Quân Cát Lái. Phòng tuyến của SD 18BB tiếp giáp với vị trí phòng thủ của Lực lượng Nhảy Dù, Trường Thiết Giáp và Bộ Binh Thủ Ðức.
Tỉnh Phước Tuy và Ðặc Khu Vũng Tàu, trong đó có quốc lộ 15 được Lữ Ðoàn 1 Nhảy Dù, SD3BB phối họp với các lực lượng DPQ + NQ của Phước Tuy và Bình Thuận di tản từ miền trung tới. Thiếu Tướng Bùi Thế Lân, tư lệnh SDTQLC kiêm Tổng trấn đặc khu Vũng Tàu. Riêng SD3BB từ vùng 1CT di tản vào, quân số kể luôn SD1BB cộng được hơn 1000 người, lập thành 2 tiểu đoàn thuộc Trung Ðoàn 2/3 và 56/3 vẫn do Thiếu tướng Nguyễn Duy Hinh làm tư lệnh. SD3BB được tăng cường thêm Chi đoàn 2/15 Thiết Kỵ và Lữ Ðoàn 1 Dù, bảo vệ QL15, thị xã Bà Rịa-Vũng Tàu.
Tỉnh Biên Hòa và phi trường do Lực lượng III xung kích của Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi, được tăng phái thêm 2 Lữ đoàn 147 và 258 TQLC phòng thủ. Từ ngày 28-4-1975, để bảo vệ thành phố Biên Hòa, Liên Ðoàn 81 Biệt Kích Dù bố trí trong phi trường giữ mặt bắc Bộ tư Lệnh QDIII. Một TD/TQLC thuộc Lữ Ðoàn 2 bảo vệ BTL.QDIII, các thành phần còn lại của Lữ Ðoàn, phòng thủ mặt nam BTL. Quân Ðoàn. Lữ Ðoàn Nhảy Dù giữ hai Cầu Mới và Sắt cùng các nút chận vào thị xã. Riêng Lực Lượng III Xung kích gồm Chiến Ðoàn 315phòng thủ từ Ngã ba Hố Nai đến Ngã tư Lò Than. Chiến đoàn 322 giữ từ Ngã tư Lò Than tới cổng phi trường Biên Hòa và Chiến đoàn 318 từ phi trường tới Cầu Mới.
Về phía bắc Sài Gòn có SD25BB của Chuẩn Tướng Lý Tòng Bá được tăng phái thêm hai Liên Ðoàn 8 và 9 Biệt Ðộng Quân, trách nhiệm Tây Ninh và Củ Chi-Hậu Nghĩa. Mặt trận phiá bắc tỉnh Bình Dương là trách nhiệm của SD5BB của Chuẩn Tướng Lê NguyênVỹ, kể cả Trung Ðoàn 8/5 của Ðại Tá Nguyễn Bá Mạnh Hùng tăng phái cho Lực Lượng III Xung kích của Tướng Khôi ở Hưng Lộc, vừa được trả về. Phòng tuyến phía nam Sài Gòn là Long An, có SD22BB ở Bình Ðịnh di tản tới, phối hợp với Lực Lượng 99 Tuần Thám Ngăn Chận của Hải Quân và DPQ+NQ.Long An, từ lâu nổi tiếng là kiêu dũng thiện chiến, không kém gì quân chủ lực. Như vậy trừ ba SD7,9 và 21BB của QDIV phải bảo vệ lãnh thổ của các tỉnh thuộc Vùng 4/CT.. Phía VNCH chỉ còn lại : sáu Sư Ðoàn gồm SD5,18,22,25 bô binh + Hai Lữ Ðoàn 1 và 4 Nhảy Dù + Sư đoàn TQLC + Lực Lượng III Xung Kích +Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù +4 LiênÐoàn BDQ + DPQ và NQ + 625 chiến xa đủ loại và 400 pháo, tất cả chừng 240.000 người, để bảo vệ Sài Gòn. Trong khi đó VC tung vào 5 lộ quân với quân số trên 280.000, gồm 15 Sư đoàn BB + 5 Lữ đoàn biệt lập + 4 Lữ đoàn thiết giáp + 6 Trung Ðoàn Ðặc công.Tất cả được trang bị đầy đủ với các vũ khí bom đạn hiện đại, không thua gì quân đội Mỹ.
Từ chiều ngày 29-4-1975, hai Bộ Tư Lệnh Không Quân và Hải Quân VNCH đã di tản chiến thuật, kể cả Tướng Nguyễn Văn Toàn (Tư Lệnh QDIII) và Ðại Tướng Cao Văn Viên, Tổng TMT từ chức. Do đó, tổng thống mới nhậm chức là Dương Văn Minh, cử Tướng Vĩnh Lộc lên thế chức Tổng Tham Mưu Trưởng. Ðến tối cùng ngày, Tướng Lộc ra lệnh cho SD18BB về bố trí từ Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hoà, tới Thủ Ðức.
Từ đầu tháng 4-1975, trường Bộ Binh Thủ Ðức đã dời về Long Thành-Biên Hòa, đông nghẹt sinh viên các khóa, trong đó có hai quân trường từ Ðà Lạt di chuyển về như Trường Võ Bị và Chiến Tranh Chính Trị. Lúc 8 giờ tối ngày 27-4-1975, trường Bộ Binh lại có lệnh di chuyển trở về trường củ ở Thủ Ðức. Tới 8 giờ sáng ngày 30-4-1975, có bốn T54 của cọng sản Bắc Việt từ Xa Lộ Biên Hòa, tấn công trường, bị Pháo Binh 105 bán trực xạ cháy 3 chiếc tại chỗ. Nhưng chiếc còn lại đã nhập dược vào trung tâm, sau khi thoát được các tầm đạn M72 của sinh viên, bắn tử thượng Trung Tá Ông văn Tuyên, Trung sĩ I Nhân và 5 sinh viên, cùng 10 người bị thương, trong số này có Trung Tá Vương Bá Thuần. Cuối cùng chiếc tăng trên bò ra khỏi trường và bi M72 bắn đứt xích, nằm tại Niệm Phật Ðường cạnh Chợ Nhỏ, nhưng vẫn tác xạ dữ dội vào trường. Giờ chót, có hai sinh viên Thủ Ðức, chưa được gắn Alpha, tình nguyện mang lựu đạn lân tinh loại xuyên phá, mới tiêu diệt được chiếc T54 này.
Cũng tại Long Bình vào sáng ngày 29-4-1975, Tiểu Ðoàn 43 thuộc Liên Ðoàn 4 BDQ do Thiếu Tá Xẻn làm TDT được lệnh của Biệt Khu Thủ Ðô tăng phái phòng thủ Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung. Từ 2 giờ 30 chiều cùng ngày, VC đã về tới Trung Chánh-Hóc Môn, sau khi chiếm được Căn cứ Ðồng Dù của SD25BB, căn cứ Pháo Binh Lòng Tảo và đánh tan Trung Ðoàn 46/25BB trên QL số 1 từ Củ Chi về Tân Phú Trung. Lúc đó Trường Quân Vận đối diện với TTHL Quang Trung cũng đã mất, nên Chiến xa của VC bắt đầu tấn công trung tâm, nhưng không ngờ trong đó không phải chỉ có tân binh quân dịch, mà còn sự hiện diện của một tiểu đoàn BDQ vơí hơn 500 tay súng, suốt cuộc chiến, đã cùng với các TD41,42,44 là những cọp ba đầu rằn tung hoành như chỗ không người trong mật khu sình lầy của Vùng 4 Chiến thuật. Tối 29-4-1975, qua hệ thống truyền tin của TD43BDQ, mới biệt BTL Biệt Khu Thủ Ðô đã bỏ chạy, chỉ còn các sĩ quan cấp uý ở lại nhưng BCH.Biệt Ðộng Quân và Tướng Ðổ Kế Giai vẫn còn nguyên vẹn tại Trại Tô Hiến Thành. Bên trong chiến hào của TTHL Quang Trung, cũng như suốt đoạn đường từ ngã ba Trung Chánh- Hóc Môn, về tới Ngã ba Bảy Hiền, các đơn vị kiệt hiệt nhất của QLVNCH như BDQ, Biệt Cách Dù và Nhảy Dù đang đợi chờ một trận đánh cuối cùng dũng liệt như SD18BB, LD1ND,TD82BDQ và DPQ Long Khánh, tại Xuân Lộc, thì trưa 30-4-1975 bị Dương Văn Minh ban lệnh buông súng rã ngũ, một cách tức tủi đoạn trường.
5 giờ chiều ngày 29-4-1975, các mặt trận, lính vẫn chiến đấu không ngừng nghĩ. Tại Biên Hòa, TQLC, Biệt Cách Dù và các Chiến Ðoàn thuộc Lực Lượng III Xung Kích, đã ngăn chống VC tại các phòng tuyến vô cùng đẫm máu kinh hoàng.
Tại BCH. Thiết Giáp trong trại Phù Ðổng, cũng là nơi đặt tạm BTL.QDIII từ Biên Hòa di tản về, cũng như Trung Tâm Hành Quân /BTTM/QLVNCH gần như không còn đại bàng để nhận tin chiến trường và quyết định lệnh lạc. Cho tới 22 giờ 30 đêm 29-4-1975, Phế tướng Nguyễn Hữu Có, người vào năm 1965 bị Nguyễn Cao Kỳ lột chức và bắt ở lại Hồng Kông không cho về nước, cách đó vài giờ, vừa được TT.Dương Văn Minh gắn cho cái lon Trung Tướng, lên máy ra lệnh cho SD18BB của Thiếu Tướng Ðảo và LL3XK của Tướng Khôi, cố gắng giữ yên phòng tuyến trong đêm 29-4-1975, để rạng sáng ngày 30-4-1975 sẽ có hòa bình vì cọng sản Bắc Việt đã chịu hòa họp hoà giải hòa chung máu lệ với TT. Minh và lực lượng thứ ba đối lập.
Nhưng 23 giờ 45 đêm 29-4-1975, Bắc Việt đã không hòa hợp mà lại tấn công dữ dội bằng bộ binh và chiến xa khắp các phòng tuyến tại Biên Hòa. Hai bên gần như cận chiến với khoảng cách chừng 10-15m, nhất là tại phòng tuyến do quân Dù, TQLC và Chiến Ðoàn 315 của Trung Tá Ðổ Ðức Thảo có chiếnxa M48.
2 giờ sáng ngày 30-4-1975, phòng tuyến SD18BB của Tướng Ðảo tại Long Bình bị VC tràn ngập, quân ta từ Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa phải rút về Thủ Ðức.
Riêng Chiến Ðoàn 3, thuộc Liên Ðoàn 81 Biệt Cách Nhảy Dù của Thiếu Tá Phạm Châu Tài, quân số hơn 1000 người, từ Biên Hòa được điều động về bảo vệ Bộ Tổng Tham Mưu từ 5 giờ 30 ngày 26-4-1975. Bộ Chỉ Huy Chiến Ðoàn đóng tại Building số 1, đối diện vối Trại Võ Tánh. Các Biệt đội 811 của Ðại Uý Lâm đóng trong Lục Quân Công Xưởng. Biệt đội 812 của Ðại Uý Ánh đóng ở giữa cổng sau TTM và Tổng Y Viện Cộng Hòa. Biệt đội 813 ủa Ðại Uý Thạch rải quân từ Ngã Tư Bảy Hiền tới Trại Phi Long của Nhảy Dù và Biệt Ðội 815 của Ðại Uý Lợi là lực lượng trừ bị của Chiến Ðoàn, đóng trước cổng Bộ TTM.
Từ ngày 28-4-1975, các đại bàng ở Bộ TTM, Bộ Tư Lệnh QD3, Quân Khu Thủ Ðô... từ Ðại Tướng trở xuống đã di tản chiến thuật, nên coi như không còn ai ra lệnh cho thuộc cấp dưới quyền. Về việc tên phi công nội tuyến Nguyễn Thành Trung, dẫn đoàn máy bay của KQ.VNCH bỏ lại ở Phù Cát, Phan Rang vào oanh tạc phi trường Tân Sơn Nhất, không bị Chiến Ðoàn 3 Biệt Cách Dù bắn hạ, vì đã tưởng là phe ta làm đảo chánh.
Chiều ngày 29-4-1975, Tướng Vĩnh Lộc được TT.Minh cử làm Tổng Tham Mưu Trưởng thay Cao Văn Viên, còn Nguyễn Hữu Có thỉ gắn ba sao, xưng là Tổng Tham Mưu Phó. Ngoài ra còn có VC nằm vùng Nguyễn Hữu Hạnh, cũng được Dương Văn Minh gắn sao tướng, dù Có và Hạnh đã bị giải ngũ từ lâu. Mới đây VC lại cho các tên hề Có, Hạnh và Triệu Quốc Mạnh làm cuộc phỏng vấn cuội tại Sài Gòn, do bọn Việt gian hải ngoại từ Canada về thực hiện, rồi đem phát trên đài để lừa bịp người Việt trong và ngoài nước, một cách trơ trẽn vì câu chuyện lãng xẹt của đám sâu bọ, từng làm xấu hổ danh dự và thể thống của người lính VNCH năm nào.
Từ 6 giờ 30 sáng ngày 30-4-1975, VC pháo kích bừa bãi hỏa tiễn 122 ly vào khu dân cư đông đúc, nhiều trái rớt xuống đường Võ Di Nguy, làm nhiều đồng bào thương vong. Nhiều trái khác rơi vào vòng thành Bộ TTM. Trên các đường phố dẫn tới Ðại Lộ Chí Lăng, chiến xa Bắc Việt đã xuất hiện, bắn vào Bệnh Viện Vì Dân tại Ngã Tư Bảy Hiền nhưng bị Biệt Cách Dù, dùng súng đại bác M90 ly không giựt, chỉ trong vòng 15 phút, bắn cháy 6 chiếc T54, PT76 cùng với một khẩu pháo phòng không có bánh xe kéo, với nhiều đặc công bị chết, nằm rải rác từ Bảy Hiền tới Bộ TTM.
9 giờ 30 sáng ngày 30-4-1975, Dương Văn Minh ra lệnh cho Chiến Ðoàn 3 Biệt Cách Dù, lúc đó cũng đang tử chiến với VC, phải ngưng đánh nhau, để chờ đầu hàng. Tuy nhiên nhiều toán không tuân lệnh, vẫn tiếp tục bắn vào các đoàn xe của VC, sau đó tự tử tập thể bằng lựu đạn vào giờ thứ 25. Riêng 2 Chiến Ðoàn Biệt Cách Dù do Ðại Tá Phan Văn Huấn chỉ huy, sáng ngày 30-4-1975, từ Suối Máu rút về Nghĩa trang Quân Ðội Biên Hòa, khi nghe lệnh Dương Văn Minh bắt đầu hàng, nên cũng rã ngũ tại đây.
Khôi hài nhất là lúc mà người lính đang nối tiếp nhau ngã gục khắp các chiến trường, để bảo vệ cho thủ đô Sài Gòn và cuộc di tản bằng máy bay trực thăng của Mỹ, trên các mái nhà tại Cơ Quan DaAO và Tòa Ðại Sứ, thì gần hết tướng lãnh bỏ chạy trước. Còn Chính phủ Dương Văn Minh vừa mới nhậm chức, thì đã sai Nguyễn Văn Huyền vào Trại David, để thương thuyết với giặc xin đầu hàng, nhưng bị Võ Ðông Giang làm nhục và bắt giam luôn bọn Việt Gian Chân Tín, Châu Tâm Luân và Trần Ngọc Liễng, từ chiều ngày 29-4-1975, khi vào làm sứ giả hòa bình.
Trong cuộc di tản ra khỏi nước, ngoài người Mỹ còn có đủ mọi thành phần lúc đó, từ quan tướng, trí thức, thầy cha, nhà báo, ca sĩ, mẹ mìn, đĩ điếm. Tất cả đạp lên đầu lẫn nhau để kiếm một chỗ chạy ra khỏi nước trốn cọng sản. Lúc đó không còn ai thèm nghỉ tới tư cách, thể diện, trinh tiết hay gì gì nửa. Kỳ cục nhất là những chuyên viên đối lâp, phản chiến, phá hoại và nói xấu chính phủ VNCH, giờ phút cuối lại là những thành phần hăng hái chạy trốn nhiều và trước hết. Ba mươi năm sau mới chợt hiểu, thì ra họ chỉ có thể chũi người quốc gia mà thôi. Với cọng sản, dù chỉ mới léng phéng mồm miệng, không bị roi đòn thoi đấm, hay ăn mã tấu, vào tù, bị cột đá neo sông, mới là chuyện lạ. Bởi vậy phải nhanh chân chạy trước ra ngoại quốc, để được tiếp tục đối lập với người Việt tị nạn, lần nữa làm tôi mọi cho cọng sản, dù rằng đã vì chúng mà phải một lần chuốc lấy sự nhục nhã năm nào.
Sài Gòn náo loạn khắp nơi, dân chúng ùn ùn kéo tới các ngân hàng rút tiền ký thác. Các Tòa Ðại Sứ lần lượt đóng cửa, cũng như nhiều Hãng Máy bay ngưng hoạt động vì sợ họa lây. Hòn Ngọc Viễn Ðông như đã chết vào những ngày gần cuối tháng 4-1975
Thế rồi 9 giờ 30 sáng ngày 30-4-1975, trong lúc mọi người đang mê tỉnh trong cơn hấp hối của đất nước, thì Dương Văn Minh vì quá nghe lời xúi dại của bọn thân Cộng như Lý Quý Chung, Nguyễn Hữu Thái, Nguyễn Hữu Hạnh, nên lợi dụng chức vụ tổng thống tổng tư lệnh quân đội, ép QLVNCH buông súng rã ngủ, trong khi tất cả còn đang tử chiến với giặc ngoài biên đình.
Hỡi ơi VN chỉ vì một tên hám danh lừng khừng, mà cả một dân tộc chịu cảnh lầm than nô lệ từ ba chục năm qua và không biết tới bao giờ mới thoát khỏi xích xiềng tù ngục. Tất cả đều là ý trời, là số mệnh, là hậu quả tất yếu của một hậu phương miền Nam vô tình bạc nghĩa, chỉ biết hưởng thụ cá nhân, nên chẳng bao giờ chịu chia xẻ nỗi đau cùng cực của người lính, đã vì họ mà vong thân hay tàn phế nữa đời.
Nhưng rồi giặc chiếm được nước, tất cả dân lính cùng chịu cảnh tan tác phân ly không chừa hay bỏ sót một thành phần nào, kể cả những người một thời theo giặc. Lính bỏ súng vào tù, dân không còn được lính bảo vệ, nên bị đe dọa mạng sống và mất hết tự do kể cả quyền sống làm người dân thường bên vệ đường.
Trưa 30-4-1975, bộ đội Bắc Việt hồ hởi tiến vào Sài Gòn. Người người cùng cười dù đang thúi ruột, vì lần đầu tiên được chạm mặt với lính cụ Hồ, lù khù, ngô nghê. Nhiều chàng nàng cục mịch trong bộ đồ trận, với nón cối, dép râu, y chang những con dã nhân trong sở thú. Vậy mà suốt ba mưới năm qua, tháng tư nào cũng khoe là mùa xuân đại thắng, hay huênh hoang nhận đại là quân đội nhân dân anh hùng.
Phút cuối vẫn còn một số đơn vị Dù, TQLC, BDQ, Biệt Cách Dù.. không thèm nghe lệnh của Dương Văn Minh. Họ chận đánh cọng sản Bắc Việt, trên các đường phố Hồng Thập Tự, Thị Nghè. Tại Ðại lộ Thống Nhất, lính Dù và BDQ bắn M72 vào xe tâng VC khi chúng tiến vào chiếm Dinh Ðộc Lập.
Ðúng 12 giờ 30 trưa ngày 30-4-1975, lá cờ vàng ba sọc đỏ của quốc dân VN treo trên nóc Dinh Tổng Thống VNCH bị giặc tước bỏ. Dương văn Minh và toàn bộ nội các có mặt tại dinh, bị bộ đội miền bắc, nhốt giữ tại chỗ, dù từ lớn tới nhỏ, đã sùi bọt mép nịnh bợ ca tụng chúng. Nhục nhã muôn đời là cả đám bị thu hình trước ống kính của hằng trăm nhà báo ngoại quốc. Cũng vào giờ phút mà Dương văn Minh bị còng tay gục đầu, thì tại Bộ Quốc Phòng, Trung Tá Nguyễn văn Cung, thuộc SD18BB khi nghe tin đầu hàng đã tự sát. Nhiều lính Dù cũng dùng súng M16 kết liễu đời trai trước Tổng Cục Chiến Tranh Chính trị. Trong trại Hoàng Hoa Thám, một toán lính Nhảy Dù, nắm tay làm thành vòng tròn, rồi mở chốt lựu đạn để cùng chết tập thể. Một Ðại Úy Cảnh Sát tự bắn vào đầu chết trước Quốc Hội. Trong khi đó các tướng lãnh Phạm văn Phú, Nguyễn Khoa Nam, Lê văn Hưng, Lê nguyên Vỷ, Phạm Văn Hai.. cũng quyên sinh khi thành mất. Ðó là những hình ảnh tuyệt vời, ngàn đời khắc sâu trong tâm khảm của người Việt và những trang sử bất diệt của dân tộc.
Sài Gòn đã chết từ đó, dân chúng thành đô dửng dưng trước chủ mới. Cùng lúc, có nhiều con khỉ trong sở thú, vừa được sổ chuồng, cổ quàng khăn đỏ, tay phất cờ máu, trang bị súng đạn lượm được của lính bõ bên vệ đường, chễm chệ trên các xe quân đội, tung tăng múa rối khắp đường phố, cổ võ, làm oai, hoan hô, đã đảo một cách lố bịch.
Trưa đó, 125 nhà báo ngoại quốc còn nán lại, đổ xô tới chiêm ngưỡng những anh hùng cách mạng, mà từ năm 1960-1975, họ đã không ngớt xưng tụng và tô son đánh phấn khắp thế giới không tiếc lời. Nhưng sự thật đã làm té ngửa các trái tim thú vật, khi biết được tất cả chì là sự tuyên truyền lừa bịp của miệng lưỡi cọng sản, mục đích để cho thế giới có thành kiến không tốt và ghét bỏ VNCH. Có như vậy họ mới bỉ ổi ca tụng một chiều cuộc xâm lăng miền Nam của Bắc Việt, mà không cần phải tìm hiểu sự thật.
Từ đó, thế giới mới bắt đầu tỉnh ngộ và chịu viết về một sự thật mà họ đã cố tình dấu diếm : ‘ Không có ai là người miền nam, tất cả đều là bộ đội miền bắc, trong tập đoàn đệ tam cọng sản quốc tế, do Liên Xô-Trung Cộng cầm đầu ‘.Riêng Norman Podhreta, khi về nước đã viết trên tờ Los Angeles times :’ Nam VN bị mất, không phải vì cấu xé nội bộ, cũng không do nhiệt thành quốc gia hay vì chính phủ không tranh thủ được lòng dân. Sự thật tất cả do sự xâm lăng của Bắc Việt, qua hậu thuận của khối cọng sản đệ tam quốc tế, trong đó có đảng cọng sản Hoa Kỳ .’ Còn nữ ký giả Ý từng ca tụng Hồ Chí Minh, tên Tiziano Tersani thì viết ‘ Binh sĩ tấn công vào Sài Gòn đều là bộ đội Bắc Việt. Sự phân biệt rất dễ dàng nhờ hình vóc và tiếng nói, người miền bắc hoàn toàn khác lạ với VC miền nam. ‘.Một nữ ký giả Pháp, Brigitte Friang thì mai mỉa hơn ‘ Trưa 30-4-1975, bộ đội Bắc Việt vào Sai Gòn. Ðây là một thành phố chết, chỉ có 125 nhà báo ngoại quốc và hơn một chục đứa con nít nam nữ, trương cờ máu đế chào đón chúng. Ba triệu dân miền Nam nhìn chúng bằng thái độ lãnh đạm. Vậy mà Trần văn Trà, Nguyễn Thị Bình đi đâu cũng tuyên bố rằng, chính nhân dân miền nam đã tổng nổi dậy, để lật đổ chính phủ VNCH’.
Nhưng cay cú nhất, phải là lời viết của Jean Larteguy, một nhà báo Pháp từng cuồng nhiệt ca tụng Hồ Chí Minh và VC như thần thánh trong nhiều năm qua . Ông viết ‘Sài Gòn mất bởi đạo quân Bắc Việt. Nhìn đoàn quân chiến thắng đang hồ hởi trên những chiếc tăng T54 hay PT46, treo cờ máu , đâu có khác gì cảnh quân Sô Viết đàn áp, xâm lăng Hung Gia Lợi, Tiếp Khắc, Ba Lan tai Ðông Âu năm nào .’
Ba mươi hai năm qua, hầu hết đồng bào VN trong cũng như ngoài nước tan nát cửa nhà sau cuộc đổi đời không bao giờ dám nghĩ là sẽ có. Nên cứ mỗi lần tháng tư quốc hận tới, cho dù ai chăng nửa, đại đa số người dân sống thầm lặng bên vê đường thời gian hay thiểu số dấn thân trên con đường đấu tranh quang phục đất nước, đều mang chung tâm trang bi thương, tức tưởi, ngậm ngùi.
Tất cả đều là sự thật vì mọi bí mật của cuộc chiến đã được cac phe phái, chính người trong cuộc hay các sử gia tìm hiểu, như giáo sư Morris ‘ Cọng sản Hà Nội đã thắng cuộc xâm lăng miền nam, nhờ tuyên truyền, đẻ và thổi phồng bịa đặt các huyền thoại chính trị mà hầu hết, đều là chuyện trên trời dưới biển. Có như vậy, VC mới dụ dỗ và phỉnh gạt được, nhiều trí thức khoa bảng nhà báo trong và ngoài nước. Nhờ thế suốt cuộc, chính thành phần này đã góp phần chiến thắng cho Hà Nội, không phải ở chiến trường, mà là tại Paris, Luân Ðôn và Hoa Thịnh Ðốn. ‘
Ba mươi hai năm rồi, xin hãy trả lại cho người lính trận miền nam những gì họ đã mất từ lâu, do những kẽ cứ hay tự xưng mình là trí thức, đã cướp đoạt. Người lính VNCH không cần bất cứ ai phải vinh danh, vì chính cái phẩm cách tuyệt luân phi thường của lính, đã có một vị trí xứng đáng trong lòng dân tộc
Bổng ao ước sao cho đất nước sớm có tự do cuộc đời trở lại như thuở nào, để dân-lính lại thỏa tình cá nước, lính từ dân mà có và dân sống được nhờ sự bảo vệ thần thánh và chân thành của lính, điển hình như các cuộc di tản khỏi vùng chiến cuộc Tết Mậu Thân 1968, mùa hè đỏ lửa 1972, cuộc di tản tại Bình Thuận, Xuân Lộc và những ngày Sài Gòn hấp hối, cuối tháng 4-1975.
‘ Ta về cúi mặt đầu sương điểm
nghe nặng từ tâm lượng đất trời
cám ơn hoa đã vì ta nở
thế giới vui vì mọi lẻ loi ‘
(Thơ Tô Thùy Yên)
Ba mươi hai năm trước hay bây giờ, người Mỹ cũng chỉ nghỉ đến quyền lợi của quốc gia mình mà thôi. Bởi vậy muốn đem quân vào VN, người Mỹ phải giết một tổng thống dân cử của bản xứ. Rồi để rút quân an toàn về nước, khi đã đạt xong mục đích chiến lược kinh tế của mình, Mỹ lại dùng áp lực quân viện, để bắt buộc đồng minh của mình, ký vào một hiệp ước giả mạo phi luân. Cuối cùng dùng nó để bán đứng quốc gia VN, chôn vùi tương lai của dân tộc anh hùng trong vòng nô lệ của cọng sản đệ tam quốc tế., suốt thời gian từ đó tới bây giờ. Tất cả đúng như lời Sir R.Thompson đã viết năm 1989 trong tác phẩm ‘ Make for the hill ‘, đại ý ông nói rằng, sự sống của miền nam VN đã bị bán đứng , vì cảnh cấu xé của nước Mỹ. Riêng Nixon, nhân vật chính đã cùng Kissiger đạo diễn tấn thảm kịch VN hôm nay, cũng đã viết những lời sám hối trong ‘ No More VietNam ‘.Ông viết rằng, tôi đã nhìn thấy những vấn đề nan giãi của hiệp định Ba Lê, nhất là sự thỏa hiệp, cho phép bộ đội Bắc Việt công khai ở lại và xâm lăng miền Nam . Nhưng đau đớn nhất, có lẽ là lời phát biểu của M. Gauvin, nguyên Ủy Viên Giám Sát Quốc Tế (ISCC) tại VN. Ngay khi thấy CS Hà Nội ngang nhiên xé bỏ hiệp định ngưng bắn mà chúng vừa ký kết chưa ráo mực, tấn công xâm lăng VNCH, bất chấp cả Hoa Kỳ và Liên Hiệp Quốc. Vì vậy ông đã viết bài đăng trên tờ The Times số 59362 ngày 5-4-1975 rằng, sự thất bại của VNCH đã bắt nguồn từ hiệp định Ba Lê, vì nó chẳng bao giờ phản ảnh được ý muốn và nguyện vọng của dân-nước VNCH.
Một thập niên sau ngày Mỹ bỏ chạy khỏi Sài Gòn trong đêm tối trên mái nhà, do những biến chuyển chính trị thế giới, quan trọng nhất là sự hòa hoãn giữa Nga-Hoa cũng như sự liên hệ của Mỹ và Trung Cộng có chiều hướng thay đổi. Ðể chiếm phần ưu tiên, người Mỹ lại tìm cách mon men trở lại Ðông Dương lần thứ 4 vào tháng 4-1985. Bởi vậy một phái đoàn cao cấp của Mỹ , do Richard Armitage cầm đầu, cùng với phụ tá ngoại trưởng Mỹ là Paul Wolfon Witz (đặc trách Ðông Á và Thái Bình Dương ), lần đầu tới Hà Nội, với chiêu bài ‘ tìm lính Mỹ mất tích và hài cốt quân Hoa Kỳ còn tại VN’. Sự kiện giằng co úp mở giữa hai nước, cho tới khi phái đoàn nghiên cứu Mỹ do cưu bộ trưởng quốc phòng Mc.Namara, sau khi thăm viếng Hoa Lục về, đã tiết lộ âm mưu Trung Cộng đang có dã tâm muốn trở thành Á Châu và Thái Bình Dương. Vì thế Hoa Kỳ mới mở phòng liên lạc giữa hai nước vào ngày 3-2-1995 và nối lại bang giao năm 1996. Một Ðại Sứ Mỹ tại Hà Nội được Thượng viện Hoa Kỳ chấp thuận sau 22 năm chiến tranh chấm dứt, đã chính thức xác nhận sự bình thường hoá ngoại giao với VC.
Ngày nay, lịch sử đã ngừng lại và quay tròn đúng vào thời điểm củ trên đất nước tội nghiệp VN. Cả hai : Tài phiệt Hoa Kỳ và cọng sản đệ tam quốc tế cũng đều vì quyền lợi riêng tư của mình, nên muối mặt đổi thù thành bạn. Lần này không còn có chiêu bài VN là tiền đồn chống cộng, nên người Mỹ đã công khai tới VN qua danh phận lái buôn lái súng. Hiện trong cộng đảng cầm quyền đã manh nha hai phe theo Tàu, theo Mỹ. Nhưng dù VN có theo phe nào chăng nửa, thì chắc chắn đất nước chúng ta cũng sẽ bị cuốn hút theo vết xe lịch sử, khi Trung Cộng công khai gây nên thế chiến lần thứ 4 tại Á Châu-Thái Bình Dương.
Ðọc và viết lịch sử không phải để khóc hận than thân, mà là lấy đó làm một kinh nghiệm để hành động cứu nước trong thực tại và tương lai. Năm 1954, khi cọng sản đệ tam chiếm được miền bắc, một số ít trí thức khoa bảng chạy vào làm trùm tại VNCH nên họ chẳng hề biết gì về kinh nghiệm sống chung với VC. Ngày 30-4-1975, khi VC chưa vào Sài Gòn, số trí thức khoa bảng trên lại ù trốn chạy sang Mỹ hay ngoại quốc. Họ không hề biết thế nào là sự đổi đời của phận người xuống hàng súc vật. Ở ngoại quốc, vì quá tự do, nên vẫn chứng nào tật đó, coi sự hiểu biết của mình ngang hàng với lãnh tụ, muốn ai cũng phải theo ý và đứng sau lưng mình. Họ vì không sống thật với lịch sử nên chẳng bao giờ có kinh nghiệm lịch sử, vẫn ảo tưởng xây lâu đài và chức phận trên cát biển, vẫn ngây thơ muốn hòa hợp hòa giải, với một đảng cướp tàn bạo bất lương, qua bảy mươi năm chỉ lừa bịp lường giết đồng bào và ban nước mình mà thôi.. Tệ nhất là mình và gia đình lúc nào cũng thích sang giàu hạnh phúc nơi thiên đường Âu Mỹ, mà mồm thì luôn xuí người khác, nếu đi hết biển, thì phải trở về để làm nô lệ cho cọng sản .
Cũng may bọn người này không nhiều và ngày nay hầu hết đều giống như những bình vội gìa nua, mà Phan Khôi từng ví với bọn cán ngố miền bắc trong tác phẩm ‘Trăm Hoa Đua Nở ‘, chỉ nổ trên giấy hay nằm trơ trọi trong góc đời hiu quạnh về chiều..
Thảm thê cho thân phận nhược tiểu VN, hết bị Tàu đô hộ tới Pháp, Nhật, Mỹ, Liên Xô.. rồi nay lại làm đầy tớ cho cả thế giới, mà điển hình nhất là hình ảnh của những công nhân lao động và phụ nữ bị bán ra nước ngoài. Không biết bao giờ đất nước và đồng bào mới thoát được nổi thống hận trên, để cho con cháu có cơ hội ngẩn mặt nhìn trời, người Việt tị nạn tha phương, trở về cố quốc, một cõi lòng mà ai cũng hoài vọng ao ước, khi quê hương không còn bóng dáng lá cờ máu và đảng CSQT.

Xóm Cồn
Mùa Quốc Hận 32
Mường Giang

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Cố Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn
Đại tá Hồ Ngọc Cẩn sinh ngày 24 tháng Ba 1938 tại xã Vĩnh Thạnh Vân, Rạch Giá (1). Ông có thể xác khoẻ mạnh với tính tình hiền hậu, trầm tư và ít nói. Khi cậu bé Cẩn bắt đầu cắp sách đến trường thì chiến tranh Việt-Pháp bùng nổ nên việc học của cậu bị gián đoạn đến năm 1947 mới tiếp tục học lại. Cậu Cẩn chỉ có học lực trung bình.

Thân phụ của cậu vốn là một hạ sĩ quan trong Quân Đội Quốc Gia Việt Nam, thấy vậy xin cho cậu vào học Trường Thiếu Sinh Quân Việt Nam Đệ Nhứt Quân Khu lúc cậu mới được 14 tuổi. Niên khoá 1955-1956, cậu Cẩn được gửi đi học hai khoá bậc nhứt và bậc nhì về vũ khí tại Liên Trường Võ Khoa Thủ Đức. Khoá bậc nhứt, cậu Cẩn đậu ưu hạng. Sau khi hoàn tất hai khoá này, cậu Cẩn gia nhập quân đội với cấp bậc binh nhì.
Hồi đó, qui chế của Thiếu Sinh Quân Việt Nam Cộng Hoà chúng ta giống như qui chế của Pháp dành cho Hạ Sĩ Quan Thiếu Sinh Quân của họ trong thời bình và theo đó, cứ ba tháng thăng cấp một lần nên chẳng bao lâu sau Hồ Ngọc Cẩn mang lon trung sĩ và giữ chức vụ huấn luyện viên vũ khí tại Trường Thiếu Sinh Quân.
Trong hai năm 1960 và 1961, Việt Cộng gia tăng các cuộc khủng bố và tấn công phá hoại của chúng nên Việt Nam Cộng Hoà cũng phải gia quân số và mở các khoá đặc biệt để đào tạo thêm sĩ quan chỉ huy. Ông Hồ Ngọc Cẩn hội đủ các điều kiện như có trên năm năm quân vụ và tốt nghiệp trung học đệ nhứt cấp nên được theo học Khoá 2 Sĩ Quan Đặc Biệt tại Trường Hạ Sĩ Quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà tại Đồng Đế và đậu thủ khoa. Chúng ta cần nhớ là các sinh viên sĩ quan tốt nghiệp hai khoá này sẽ là những sĩ quan hiện dịch. Lúc đó, binh chủng Biệt Động Quân mới được thành lập và cần nhiều quân nhân các cấp trên khắp các đơn vị tình nguyện về phục vụ nên Chuẩn úy Hồ Ngọc Cẩn cũng tình nguyện về binh chủng chuyên về lối đánh cơ động này. Sau đó, ông được gởi sang Mã Lai Á để theo học hai khoá Viễn Thám (Long Range Reconnaissance) và Tác Chiến Trong Rừng (Jungle Warfare). Trở về nước, ông mang cấp bậc thiếu uý và giữ chức vụ trung đội trưởng rồi sau đó đại đội trưởng trong Tiểu đoàn 42 Biệt Động Quân hoạt động tại Khu 42 Chiến Thuật và đặt bộ chỉ huy tại Bạc Liêu. Hồ Ngọc Cẩn bắt đầu nổi danh từ thời điểm này.
Đầu năm 1965, một đơn vị bạn tại Ngã Năm Phụng Hiệp bị Việt Cộng với quân số đông hơn gấp bội bao vây và Tiểu đoàn 42 Biệt Động Quân được lịnh đi tiếp cứu. Vì phải để lại một đại đội để bảo vệ căn cứ tại U Minh nên tiểu đoàn này chỉ đem đi ba đại đội. Cộng quân áp dụng chiến thuật công đồn đả viện nhưng quân ta biết trước và tổ chức phản phục kích không những đánh chúng chạy dài mà còn thừa thắng xông lên đánh đơn vị đang bao vây Phụng Hiệp chạy trối chết. Từ đó, áp lực của địch tại vùng này giảm hẳn. Thiếu uý Hồ Ngọc Cẩn là một trong ba đại đội trưởng nói trên và bởi vì ông là người có công nhứt lên được vinh thăng trung úy đồng thời được chọn làm Chiến Sĩ Biệt Động Quân Xuất Sắc Nhứt Vùng Bốn Chiến Thuật năm đó và cũng từ đó Tiểu đoàn 42 Biệt Động Quân được biết đến dưới cái tên'Cọp Ba Đầu Rằn' nguyên do như sau.
Vào thời đó, binh chủng Biệt Động Quân chưa có quân phục tác chiến rằn ri như sau này mà vẫn mang quân phục xanh lá cây đậm như bộ binh. Điểm khác biệt duy nhứt, ngoài phù hiệu binh chủng, là chiếc nón sắt sơn rằn ri có vẽ hình đầu beo nhe 13 chiếc răng mà nhiều người lầm tưởng đó là đầu cọp. Từ đầu năm 1964, Tiểu đoàn 42 nói trên chẳng khác chi một hung thần đối với Việt Cộng nên chúng gọi tiểu đoàn này là'cọp ba đầu rằn' nghĩa là cọp ba chân sơn rằn ri trên đầu. Cuối năm 1964, Tiểu đoàn 42 cùng với Tiểu đoàn 44 thực hiện cuộc Hành Quân Dân Chí 100 đánh tan một trung đoàn Việt Cộng tại vùng biên giới Sóc Trăng-Cần Thơ-Chương Thiện và từ đó, mấy tiếng'cọp ba đầu rằn' được Việt Cộng phổ biến khắp vùng.
Đầu năm 1966, Thiếu tá Lưu Trọng Kiệt chỉ huy Tiểu Đoàn 42 BĐQ hành quân diệt địch và trong cuộc hành quân chớp nhoáng này, tiểu đoàn chi làm hai cánh. Trung uý Hồ Ngọc Cẩn chỉ huy 2 đại đội được trực thăng thả xuống gần vị trí địch rồi tổ chức tấn công và đánh tan Tiểu đoàn Cơ Động Sóc Trăng của Việt Cộng tại Vĩnh Châu thuộc Khu 42 Chiến Thuật. Với chiến công hiển hách này, Trung uý Hồ Ngọc Cẩn được vinh thăng đại uý và được Đại Tướng William Westmoreland đại diện Tổng Thống Hoa Kỳ gắn huy chương Silver Star tại Phi trường Sóc Trăng.
Sau chiến công nói trên, Đại uý Hồ Ngọc Cẩn giã từ binh chủng Biệt Động Quân để sang giữ chức vụ Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn Tiểu Đoàn 1 thuộc Trung Đoàn 33 của Sư Đoàn 21 Bộ Binh. Trong thời gian hai năm sau đó, Hồ Ngọc Cẩn cùng đơn vị tung hoành trên khắp năm tỉnh miền Hậu Giang từ Đại Ngãi đến Tắc Vân sang Kiên Hưng đến Thác lác rồi xuống Cờ Đỏ. Đơn vị này đã lập được rất nhiều chiến công trong các chiến dịch bình định tại vùng U Minh, gây thiệt hại nặng nề cho các tiểu đoàn 303, 306 và 308 Chủ Lực Miền và các tiểu đoàn cơ động 857 và U Minh của Việt Cộng. Ông được vinh thăng thiếu tá và trở thành một trong Ngũ Hổ Miền Tây (2).
Sau biến cố Tết Mậu Thân, Thiếu tá Hồ Ngọc Cẩn vinh thăng trung tá và về Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 21 để giữ chức vụ Trưởng Phòng 3 tức là Phòng Hành Quân. Hai năm sau, Trung tá Hồ Ngọc Cẩn sang phục vụ tại Sư Đoàn 9 Bộ Binh, giữ chức vụ Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 15.
Trong cuộc chiến Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 mà Việt Cộng gọi là Chiến dịch Xuân-Hè, một lực lượng của Quân Đoàn IV được tăng phái cho Quân Đoàn III để khai thông Quốc lộ 13 lên giải toả An Lộc (3). Những đơn vị trong lực lượng này là Sư Đoàn 21 Bộ Binh do Chuẩn Tướng Hồ Trung Hậu làm tư lịnh có tăng phái thêm Trung đoàn 15 Bộ Binh do Trung tá Hồ Ngọc Cẩn chỉ huy.
Giữa Chơn Thành và An Lộc là một đoạn đường dài 26 cây số mà địch quân đã rải nguyên cả Công Trường 7 với hệ thống công sự chiến đấu đào sẵn từ lâu và chúng nằm ở đó chờ đánh đoàn quân tăng viện. Đại đơn vị chánh qui này còn được tăng cường thêm hai tiểu đoàn pháo binh và một đơn vị đặc công không rõ chính xác quân số. Giặc cộng lấy toạ độ sẵn và khi các đơn vị của chúng ta tiến vào mục tiêu thì pháo binh của chúng mưa pháo vào và ban đêm thì đặc công của chúng bò vào đánh phá. Tuy nhiên, các đơn vị của chúng ta không bao giờ nằm thụ động một chỗ để trở thành mục tiêu cho địch.
Một đơn vị của Sư Đoàn 21 Bộ Binh được trực thăng thả xuống phía bắc Tàu Ô rồi từ đó đánh trở xuống trong khi một cánh quân từ phía nam đánh lên. Với quân số đông hơn và có lợi thế hơn từ trong hệ thống chiến hào với địa đạo nhiều nơi sâu tới sáu thước, các đơn vị cộng quân tưởng có thể đẩy lui được các lực lượng của ta nhưng rồi chỉ sau mấy tuần ác chiến, lực lượng tăng viện đã chạm trán và đánh tan nhiều đơn vị của Việt Cộng và Cộng Sản Bắc Việt tại Chơn Thành, Suối Tàu Ô và Tân Khai.
Sau trận An Lộc, Trung tá Hồ Ngọc Cẩn được vinh thăng đại tá và sang đầu năm sau thì được Tổng Thống Việt Nam Cộng Hoà bổ nhiệm vào chức vụ Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Chương Thiện khi mới tròn 37 tuổi. Ông là vị tỉnh trưởng trẻ tuổi nhứt của nền Đệ Nhị Cộng Hoà và cũng là sĩ quan được thăng cấp nhanh nhứt: từ chuẩn úy lên đại tá chỉ có mười năm. Nhơn dịp Tết Quí Mão, Tổng Thống Việt Nam Cộng Hoà đã đến Tiểu Khu Chương Thiện để tưởng thưởng các chiến sĩ hữu công tại đây đồng thời nghe Đại tá Hồ Ngọc Cẩn thuyết trình về tình hình trong vùng.
Trong những ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng Hoà, Đại tá Hồ Ngọc Cẩn cùng một số thuộc cấp đã chiến đấu anh dũng hơn bất cứ lúc nào hết. Kể từ ngày 28 tháng Ba, ông đã chỉ huy bộ tham mưu tử thủ tại Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Chương Thiện, đánh tan các lực lượng tấn công của địch và gây thiệt hại nặng cho hai trung đoàn chánh qui D2 và D10 của Cộng Sản Bắc Việt. Hết đạn dược, Đại tá Cẩn bị cộng quân bắt sống trưa ngày 1 tháng Năm 1975.
Sau một thời gian giam giữ để hành hạ và làm nhục, cộng quân đem Đại tá Hồ Ngọc Cẩn ra xử bắn tại Cần Thơ ngày 14 tháng Tám 1975 (4). Ngoài Đại tá Cẩn, còn có Thiếu tá Trịnh Tấn Tiếp, Quận Trưởng Kiêm Chi Khu Trưởng Kiến Thiện bị xử bắn tại Cần Thơ. Thiếu tá Tiếp cùng tốt nghiệp Khoá 2 Sĩ Quan Đặc Biệt với Đại tá Cẩn. Hai sĩ quan khác Trung tá Đường, Chỉ Huy Trưởng Cảnh Sát Quốc Gia Chương Thiện và Đại uý Bé, Chỉ Huy Lực Lượng Thám Báo Chương Thiện thì bị Việt Cộng xử bắn tại chân cầu Vị Thanh. Tất cả những vị này đều bị Việt Cộng căm hận vì những chiến công hiển hách trước đó và nhứt định không chịu buông súng sau khi có lịnh đầu hàng của Dương Văn Minh.
Trong hơn mười năm quân vụ, Đại tá Hồ Ngọc Cẩn đã lần lượt được ân thưởng Đệ Tứ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương, 71 Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu, Ngôi Sao Vàng, Ngôi Sao Bạc cùng với hơn 60 huy chương các loại của Quân Đội Đồng Minh và Việt Nam Cộng Hoà. Cố Đại tá Hồ Ngọc Cẩn là quân nhân được ân thưởng nhiều huy chương nhứt trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà.
Vào năm 1972, có một người bạn tri kỷ tìm đến thăm Đại tá Hồ Ngọc Cẩn sau khi ông vừa mới trở về từ mặt trận Bình Long. Người bạn này hỏi ông rằng đã giữ nhiều chức vụ khác nhau trong quân đội từ trung đội trưởng cho tới trung đoàn trưởng và ở chức vụ nào cũng xuất sắc, vậy ông có nghĩ đến việc chuẩn bị cho một ngày nào đó sẽ lên làm tướng và giữ chức tư lịnh một sư đoàn hay không. Đại tá Hồ Ngọc Cẩn đã trả lời rất thành thật rằng ông là một người dám đánh giặc tới cùng, dám hết mình với nhiệm vụ nên chức vụ nào ông cũng dám đảm nhận. Tuy nhiên, trao cho ông quyền tư lịnh một sư đoàn thì ông không dám nhận bởi vì chức vụ này đòi hỏi mình phải có kiến thức và trình độ mà ông thì không có và một người nghĩ tới liêm sỉ không nên nhận lấy một việc ngoài khả năng của mình. Nguyện vọng của Đại tá Cẩn khi đang làm tỉnh trưởng là mau có một người trẻ hơn đủ khả năng để thế chỗ của mình rồi ông sẽ trở về Trường Thiếu Sinh Quân để truyền lại kinh nghiệm chiến đấu của mình cho những thế hệ đàn em, tương lai của đất nước.
Cũng theo một số người biết nhiều về Đại tá Hồ Ngọc Cẩn thì tuy ông chỉ có học lực từ trung bình cho đến kém nhưng lại rất giỏi về luận và thơ văn. Bên cạnh đó, tuy ông đánh giặc rất giỏi nhưng những bài thơ của ông chẳng hề mang một chút hào khí nào mà lại còn cực kỳ lãng mạn.
Những người từng làm việc bên cạnh Đại tá Hồ Ngọc Cẩn đều biết rằng ông rất nghèo nhưng có lẽ không một ai biết rằng gia đình ông có nhiều lúc không đủ ăn. Sau này, khi vợ con ông tổ chức những ngày giỗ cho ông thì ngoài những đồng đội và thuộc cấp của ông ngày trước còn có một số cựu cố vấn Hoa Kỳ đến tham dự. Tất cả đều hết sức ân hận khi nghe bà quả phụ Hồ Ngọc Cẩn kể lại rằng có lần ông nhịn ăn trưa để các con có thể ăn đầy đủ hơn. Nhiều cố vấn Hoa Kỳ từng làm việc rất lâu với Đại tá Cẩn nhưng không được biết điều này vì ông không khi nào tâm sự hay than thở với một ai, nhứt là những người đồng minh giàu có.
(1) Có nhiều người nói rằng ông sanh tại Cần Thơ.
(2) Ngũ Hổ Miền Tây là Thiếu tá Lưu Trọng Kiệt, Tiểu Đoàn Trưởng TĐ 42 BĐQ; Thiếu tá Nguyễn Văn Huy, Tiểu Đoàn Trưởng TĐ 44 BĐQ, Thiếu tá Lê Văn Hưng (sau này là Thiếu tướng), Tiểu Đoàn Trưởng TĐ2/31 của Sư Đoàn 21 Bộ Binh; Đại uý Vương Văn Trổ, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 3/33 Sư Đoàn 21 Bộ Binh và Thiếu tá Hồ Ngọc Cẩn.
(3) Lữ đoàn 2 Nhảy Dù do Đại tá Lê Quang Lưỡng chỉ huy với các tiểu đoàn 5, 6 và 8 cũng được tăng phái cho mặt trận này một thời gian nhưng đảm nhận những nhiệm vụ riêng biệt.
(4) Theo lời một số người thì Đại tá Hồ Ngọc Cẩn theo Công Giáo nên giữ luật đạo, nhứt định không tự vẫn.

Tú Cơm

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

Con Tử Sĩ xin về giữ Nghĩa Trang Biên Hoà .

Tin của Việt Báo online
Tổ chức Quốc gia Nghĩa tử Heritage (QGNTH) gồm con của các Tử sĩ QLVNCH ,cho biết đang vận động "xin bảo quản và tu bổ Nghĩa trang Quân dội Biên Hoà ,theo lời của 2 đại diện tổ chức khi đến thăm toà soạn báo Việt Báo .
Ông Larry Nguyễn 53 tuổi Tổng thứ ký và Peter Nguyễn 52 tuổi Thủ quỹ .cả hai cùng là Con Quốc Gia Nghĩa Tử đã trình bày công việc vận động -cả hai là cựu học sinh Quốc gia Nghĩa tử ở Sàigon muốn Bảo vệ và tu bổ 16.000 ngôi mộ .sau khi Thủ tướng VC muốn trao cho dân sự trông nom .
Cả hai nói hoạt động của hội chỉ muốn giải quyết vấn đề tâm linh cho hàng chục ngàn người có liên hệ tới các tử sĩ chôn cất nơi nghĩa trang .Vì ông bà thường nói là sống có nhà , thác có mồ ,nên cần bảo trì các ngôi mộ tử sĩ vì họ đã hy sinh cho 1 lý tưởng mà họ đã chọn lựa.
Hiện giờ hội đang hỏi kiến của các đồng bào.và cần sự giúp đỡ của mọi giới.Tuy nhiên mục tiêu lâu dài là xin lập hội trong nom Nghĩa trang Biên hòa ,tu bổ sơn phết lại các ngôi mộ ,quét dọn sạch sẽ và thắp nhang trong các dịp Lễ Tết. và họ đã soạn thảo một lá thư gởi cho Chủ tịch nước và Thủ tướng VC đạo đạt ý kiến của hội Quốc gia Nghĩa tử .

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Báo mới phát hành 15 May 2007

Báo Mới

3G

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Ngày Quân Lực 19 Tháng 6
Nhớ về "Thiên Thần Mũ Đỏ"
“Nhảy Dù” là một trong những binh chủng thiện chiến nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Huy hiệu của Nhảy Dù là con ó và cánh dù trên nền đỏ. Con ó là biểu tượng của sức mạnh; màu mũ đỏ là màu máu, là tình thần anh dũng, là ý chí sắt đá, sẳn sàng hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ Quốc quê hương. Hình ảnh những lính chiến Nhảy Dù từ trời cao rơi xuống là biểu tượng của những “Thiên Thần Mũ Đỏ”, đáp cánh cánh xuống trần gian để bảo vệ cho người dân được sống an lành.

Được biết, Sư Đoàn Nhảy Dù là lực lượng tổng trừ bị của Quân Lực VNCH. Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn Nhảy Dù được đặt ở Trại Hoàng Hoa Thám, ngã tư Bảy Hiền, thuộc tỉnh Gia Định. Trong trại có một Trung Tâm Huấn Luyện Nhảy Dù. Ngoài Trại Hoàng Hoa Thám, các đơn vị Dù nằm rải rác ở Biên Hòa và Vũng Tàu…

Về lịch sử, theo tài liệu, Sư Đoàn Dù được thành lập từ 29 Tháng 9, 1954 khi Quân Đội Pháp chính thức bàn giao cho VN tại Nha Trang, trong chương trình trao trả độc lập cho VN. Lúc đó Lữ Đoàn Dù có bốn Tiểu Đoàn 1,3,5 và 6 với quân số khoản 4000, gồm Bộ Chỉ Huy, Đại Đội Chỉ Huy Liên đoàn, các Tiểu Đoàn 1,3,5,6 và tiểu đoàn trợ chiến.

Mỗi tiểu đoàn Dù có Bộ Chỉ Huy, Đại Đội trợ chiến và ba đại đội tác chiến với quân số trên một ngàn người.

Ngày 1 Tháng 9, 1956 Trung Tá Nguyễn Chánh Thi thay thế Đại Tá Đỗ Cao Trí trong chức vụ Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn Nhảy Dù. Ngày 26 Tháng 9, 1959 Liên Đoàn Dù đựơc cải danh thành Lữ Đoàn Dù.

12 Tháng 11, 1960 Trung Tá Cao Văn Viên được đề cử giữ chức Tư Lệnh Lữ Đoàn Nhảy Dù và ông được thăng cấp Đại Tá thay thế Đại Tá Nguyễn Chánh Thi (Đão chánh Tổng Thống Ngô Đình Diệm thất bại).

1 Tháng 12, 1967 Lữ Đoàn Dù được phát triển thành Sư Đoàn Dù do Thiếu Tướng Dư Quốc Đống làm Tư Lệnh. Đến 11 Tháng 11, 1972 sau “Mùa hè Đỏ Lửa” Chuẩn Tướng Lê Quang Lưỡng chính thức nhận chức vụ Tư Lệnh Sư Đoàn Dù thay thế Trung Tướng Dư Quốc Đống.

Trung Tâm Huấn Luyện Nhảy Dù trong Trại Hoàng Hoa Thám có nhiệm vụ huấn luyện nhảy dù cho quân nhân thuộc binh chủng Dù và cho nhiều đơn vị bạn như Lực Luợng Đặc Biệt, Đơn vị Người Nhái Hải Quân, Biệt Kích Dù…

Sau khi thụ huấn ở Trung Tâm Huấn luyện Dù, các chiến sĩ Dù thường xuyên thao dượt ở các bãi nhảy như Củ Chi ở Hốc Môn, Ấp Đồn cạnh Trung Tâm Huấn luyện Quang Trung, Phước Hữu ở Bà Rịa…

Tinh thần chiến đấu anh dũng, quyết một lòng hy sinh bảo vệ đất nước quê hương của các chiến sĩ Mũ Đỏ được người dân Miền Nam biết đến qua nhiều chiến trường đẩm máu như Ấp Bắc, Kinh Bằng Lăng, Chiến khu “D”, Bến Cát, Bình Giả, Đồng Xoài, Phuớc Long, Dakto, Khe Sanh, Pleime, Bình Long , An Lộc…

Tết Mậu Thân 1968, Sư Đoàn Dù đã tạo được một chiến thắng vô cùng ngoạn mục ở Vùng I Chiến Thuật, chiếm lại Thành Nội Huế. Trong cuộc Tổng Công Kích Tết Mậu Thân VC chiếm đóng khá lâu các cổng Thành Nội. Đại Đội Hắc Báo bị bao vây trong Đại Nội.

Ngày 2 Tháng 2, TĐ2ND và TĐ7ND giải tỏa cửa Bắc Thành Nội Huế.

3/2 sau khi giải tỏa Quảng Trị TĐ9ND đã giải cứu Đại Đội Hắc Báo.

4/2 sau hai ngày giao tranh ác liệt, lực lượng Nhảy Dù đã chiếm lại cửa thành Phía Tây và giao lại cho SĐ1BB để tiếp tục giải tỏa Đông Ba.

7/ 2 VC tấn công và giật sập cầu Tràng Tiền. Trận chiến kéo dài cả tuần TĐ9ND tiếp tục giải tỏa cửa Phía Nam Thành Nội.

Sau khi đánh tan hai trung đoàn của CS Bắc Việt , tái chiếm Huế vẻ vang, Lực lượng Nhảy Dù cũng bị thiệt hại nặng.

Người dân Miền Nam không quên chiến công oanh liệt của Sư Đoàn Dù trong trận Hạ Lào. Dưới quyền chỉ huy của Đại Tá Trần Quốc Lịch, lực lượng Nhảy Dù đã quần thảo với một sư đoàn chính quy của CS Bắc Việt, Sư Đoàn 986. Chỉ trong vòng 13 ngày Nhảy Dù đã loại Sư Đoàn Bắc Việt ra khỏi trận chiến.

Chiến trường “Charlie” cũng là một chiến trường sôi động, được nổi tiếng qua nhạc phẩm “Người Ở Lại Charlie” của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh. Cứ điểm Charlie nằm trong vùng rừng núi Kontum. Tháng 4/1972 , Sư Đoàn 320 CS Bắc Việt bao vây Charlie với những trận mưa pháo không dứt.

Ngày 12 Tháng 4, 1972 hoả tiễn 122 rơi vào hầm Chỉ Huy Trưởng, Trung Tá Nguyễn Đình Bảo, Tiểu đoàn trưởng bị tử trận. Sau bảy ngày giao chiến TĐ1ND được lệnh rời căn cứ. Sau đó cả vùng bị B52 dội bom, trở thành biển lửa.

Chiến thắng oai hùng của Nhảy Dù, tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị được ghi lại trong bài hát “Cờ Bay”:

“Cờ bay ! Cờ bay oai hùng trên thành phố thân yêu
Vừa chiếm lại đêm qua bằng máu!”.

Ngày 28 Tháng 6, 1972 theo lệnh tổng phản công của Quân Lực VNCH hai Sư Đoàn Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến tiến quân phía Bắc sông Mỹ Chánh, trong khi SĐ1BB rẻ hướng Tây tiến vào Quảng Trị. Đến 25 Tháng 7 Tiểu Đoàn 5 ND đã vẻ vang cắm cờ Quốc Gia trên Cổ Thành Quảng Trị.

Mặc dầu đã xa quê hương hơn ba mươi năm, những chiến sĩ Mũ Đỏ vùng Hoa Thịnh Đốn vẫn giữ tinh thần “Nhảy Dù Cố Gắng” với niềm kiểu hãnh binh chủng và truyền thống anh hùng ngày xưa“. Ở đâu có giặc, ở đó có Nhảy Dù để bảo vệ đồng bào và giữ gìn từng tất đất của quê cha”.

Hiện nay Gia Đình Mũ Đỏ vùng Hoa Thịnh Đốn do Ông Nguyễn Văn Mùi làm hội trưởng. Ngưng cầm súng không có nghĩa là ngưng chiến đấu cho đất nước quê hương . Tinh thần anh dũng, quyết một lòng hy sinh bảo vệ Tổ quốc VN thân yêu vẫn sống trong tâm tư người lính Mũ Đỏ. Nhiều cá nhân Nhảy Dù vẫn hăng hái tham gia các sinh hoạt chính trị trong cộng đồng để tranh đấu tự do, dân chủ, và nhân quyền cho đồng bào ở quê nhà và tích cực trợ giúp anh em thương phế binh ở quê nhà.

“Các anh từ trời cao xuống trên đồng lúa
Bên hàng cây nặng trĩu trái thơml ành
Hương bát ngát hoa mùa xuân chớm nở
Cạnh sân trường và mái tóc em xanh

Những cụ già dõi bóng dù mê mải
Những em thơ ánh mắt long lanh
Chung nụ cười hoan lạc đón mừng anh
Trên nếp áo còn động mây hồ hải

Xóm làng em bắt đầu xây dựng lại
Hởi người anh ngày cũ đã xa rồi
Những cánh dù muôn nẽo đường sông núi
Xin gữi về anh niềm thương nhớ đầy vơi.
“Mũ Đỏ Trời Xanh” (Hoàng Ngọc Liên)

Tuyết Mai
Last edited by khieulong on Tue Jun 19, 2007 4:17 am, edited 1 time in total.

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Nhớ bạn bè trên chiến trường xưa
Mũ Xanh Phan Tiến



Image

Đã từ lâu tôi có một ước nguyện là trở lại thăm chiến trường xưa của vùng hỏa tuyến, nơi mà tôi đã tham dự những trận chiến ác liệt nhất của mùa hè 1972, nhớ lại từng bước chân đi, những tình cảm trong hoàn cảnh mà cái sống và cái chết gần nhau trong gang tấc, sau đó được thắp nén nhang cho các đồng đội đã nằm xuống nơi đây vì lý tưởng, cầm súng chiến đấu để bảo vệ miền Nam tự do trước đây.

Chiếc máy bay Air Bus A340 rời khỏi phi đạo của phi trường Seattle vào lúc 2 giờ sáng. trễ mất 1 tiếng đồng hồ. Đáng lý ra chuyến này khởi hành lúc 1 giờ sáng ngày thứ Tư 28 tháng 2 năm 2007.

Ngồi trên máy bay tâm trạng của tôi không sao diễn tả được, niềm vui pha lẫn những xót xa cho cuộc hành trình về thăm lại chiến trường xưa nơi vùng hỏa tuyến. Vui vì sẽ được đến những nơi mà mình ước muốn, chắc chắn sẽ không dằn được sự xúc động với hình bóng những người bạn đồng đội xông pha lằn tên mũi đạn dù thời gian đã hơn 35 năm trôi qua nhưng trong ký ức vẫn như thuở nào.

Sau 13 giờ trên không trung, máy bay đáp xuống phi trường Đài Loan. Hành khách về Việt Nam phải đợi tại phòng khách gần 2 giờ để sau đó lên chiếc máy bay Airbus 321 của hảng hàng không quốc doanh Việt Nam và rời phi đạo vào lúc 8 giờ sáng (giờ Đài Loan).

Ngồi trên máy bay quốc doanh Việt Nam, lòng tôi phập phòng, chẳng chút an tâm, nhưng không còn cách lựa chọn nào khác nên đàng phó thác cho trời đất. Đang vẩn vơ suy nghĩ mông lung, chợt có lệnh cho biết phi cơ chuẩn bị đáp xuống phi trường nội bài Hà Nội. Khi chiếc phi cơ dừng lại, hành khách thở phào, những ưu tư trên đường bay không còn ám ảnh trong tâm trí.

Tôi thuê xe taxi với giá 10 đô la từ phi trường vể khách sạn ở phố cổ. Tôi ở lại đây 2 ngày, và sau đó mua vé đi “tour” thăm vùng đất, nơi mà cách đây 36 năm, vào lứa tuổi đôi mươi, trước sự xâm lăng của Cộng sản, xếp bút nghiên, khoát chinh y, tôi cùng các đồng đội cầm súng để bảo vệ miền Nam thân yêu. Lần đầu tiên không có kinh nghiệm, tôi cứ nghĩ rằng đi “tour” với một chiếc xe đại khái như xe bus ở đây, nhưng người hướng dẫn đã đưa tôi tới một chiếc xe đò từ Hà Nội vô Đông Hà. Trên xe cũng có mấy người khách ngoại quốc, tôi thầm nghĩ là Tây ba lô. Xe đò chật chội, ngột ngạt, nên chuyến đi thật mệt mỏi. Tài xế giăng võng ngủ cả trên xe. Rời Hà Nội lúc 7 giờ tối và đến Đông Hà 6 giớ sáng ngày hôm sau. Đi vào ban đêm, tôi không ngắm được hết cảnh vật suốt lộ trình, cơn mệt ru tôi ngũ đến khi người phụ tài đánh thức tại bến.

Image

Người hướng dẫn du lịch đợi trước cửa xe, anh ta đưa tôi vào một nhà hàng để dùng điểm tâm và thưởng thức cà phê
- Tôi tên Cường, phụ trách tuyến du lịch ở Đông Hà., khoảng 8 giờ mới có xe đến rước.

Thị xã Đông Hà so với thời gian 36 năm về trước có nhiều thay đổi. Nhớ lại khi ra trường tôi được thuyên chuyển về Tiểu Đoàn 2 Trâu Điên, bổ sung ra hành quân tạm trú ở tiền trạm trong căn cứ Đông Hà, ngày hôm sau theo xe tiếp tế đến Cùa. Từ sân bay Mai Lộc, trực thăng chở tới các bộ chỉ huy tiểu đoàn bảo vệ căn cứ hỏa lực như Holcom, Sarge hoặc đỉnh Bá Hô. Trong cuộc chiến bảo vệ tự do, thị xã Đông Hà gần vùng phi quân sự về hướng Bắc, và là điểm tiếp liệu vận chuyển đến Cam Lộ, Mai Lộc hoặc xa hơn nữa là Khe Sanh. Thị xã có 2 khu phố buôn bán sầm uất, được gọi là thành phố của lính vì có sự hiện diện các đơn tổng trừ bị như Dù, TQLC hoặc địa phương như Sư đoàn 1, Sư đoàn 3, Thiết giáp…Sau ngày cưởng chiếm miền Nam 1975 đến nay, đã 32 năm qua, hai khu phố trở thành những khách sạn, nhà hàng, buôn bán phục vụ du khách, chủ nhân toàn là cán bộ, quan chức của nhà nước xã hội chủ nghĩa, chỉ rất ít người dân cố cựu còn ở thị xã thôi.

Sau một giờ ngồi chờ ở nhà hàng, tôi bước lên một chiếc xe du lịch loại 25 chổ ngồi trông rất khang trang. Trên xe hầu như hoàn toàn người ngoại quốc, đa số là những cựu chiến binh Mỹ đã từng chiến đấu ở Ðông Hà và Khe Sanh trước 1973. Ðây là tour đi thăm viếng Gio Linh vùng DMZ (vùng Phi quân sự trước năm 1973), và cầu Hiền Lương, rồi trở về quốc lộ 9, Khe Sanh, chỉ có tôi là người du khách Việt Nam độc nhất trong cuộc hành trình này.

Khi xe vừa lăn bánh trên cầu Ðông Hà, lòng tôi dâng lên một niềm xúc động mãnh liệt, tại đầu cầu này vào đầu tháng Tư của 35 năm trước, một trung đội của Tiểu Ðoàn 3 TQLC đã dùng hoả tiển M.72 bắn chận không cho chiến xa T.54 vượt qua cầu. và Tiểu Ðoàn 3 đã giữ vững thị xã trong tầm đại pháo 130 mà Cộng sản bố trí ở bờ Bắc sông Bến Hải.

Image
Cầu Bến Hải trước năm 1954

Image
Cầu mới được tu sửa lại


Tới cầu Hiền Lương xe quay lại trên quốc lộ 9, người dân sống dọc theo đường hầu như toàn là người vùng cao. Dân sống rất cơ cực, nghèo đói. Khi xe dừng tại điểm nghỉ chân, một số trẻ em tuổi độ 6 tới 12 chạy tới xin tiền. Tôi hỏi một số người dân bán hàng rong, họ cho biết

- Chúng tôi sống vào các cây cà phê, nhưng làm sao đủ nên phải buôn bán thêm cho những khách du lịch đi thăm viếng, Cuộc sống chúng tôi rất khổ cực, thiếu thốn

Một người khác hỏi tôi

- Ồ! Ông là người Việt Nam, sao ông cũng đi tham quan à!

Tôi trả lời

- Tôi đi tìm lại hình ảnh bạn bè ngày xưa của tôi

Tôi tự nhủ chắc hiếm người Việt Nam từ hải ngoại về đi tour trên lộ trình này.

Những người bán hàng nói tiếng Mỹ rất giỏi, một lẽ đơn giản là khách đi tour là khách ngoại quốc và cựu chiến binh quân đội Đồng Minh trong cuộc chiến chống cộng sản.

Khi xe tới Khe Sanh, khách du lịch được đưa vào thăm căn cứ do họ tạo dựng. Thật ra khi tốt nghiệp mãn khóa tôi không có tham dự ở chiến trường này nên tôi chẳng có khái niệm hoặc hình ảnh nào về vùng đất ở đây. Họ đã xây một bảo tàng viện về chiến trường Khe Sanh, cho tu bổ lại những lô cốt, vài khẩu pháo 105 và 155, một chiếc trực thăng UH1 và một chiếc Chinook H.46. Sau gần hai giờ quanh quẩn, xe chở tới nhà hàng cách thung lũng Khe Sanh nửa giờ lái xe để dùng bữa ăn trưa mà du khách phải trả tiền. Sau đó xe quay trở ngược về Huế.

Image

Xe rời quốc lộ 9 xuôi về Nam trên quốc lộ 1 , Niềm xúc động dâng lên trong lòng tôi, những hình ảnh trước kia từ từ hiện ra trước mặt tôi.

- Căn cứ Ái Tử, thấp thoáng dãy đồi phía xa là căn cứ Phượng Hoàng (Pedro), nơi mà Tiểu Ðoàn 6 Thần Ưng TQLC đã đánh một trận oanh liệt, cũng là nơi Thiếu tá Ðoàn đức Nghi tiểu đoàn phó Tiểu Ðoàn 1 cùng một số Mũ xanh của hai tiểu đoàn 1 và 6 đã hy sinh.

- Dòng sông Thạch Hản nơi trao trả tù binh năm 1973, tôi có tham dự cùng với Ðại Bàng Phu Nhân (189) Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 8 TQLC.

- Ðại lộ kinh hoàng, nơi mà cộng quân đã nã pháo và bắn vào những người dân vô tội chạy tản cư. Thêm một tội ác ghê tởm của Cộng sản sau vụ giết người tập thể vào Tết Mậu Thân 1968.

- Cầu Mỹ Chánh năm 1972, thời gian đó tôi ở Tiểu đoàn 2 mà Tiểu đoàn trưởng là Ðại Bàng Nguyễn xuân Phúc Robert lửa. và tiểu đoàn 2 đã phá sập cầu khi đơn vị cuối cùng về bờ Nam. Kể từ lúc đó đây là tuyến phòng thủ cuối cùng.

Trời sập tối, tôi thấy lờ mờ nhà cửa xây dọc hai bên đường. Dòng sông Mỹ Chánh vẫn trôi lờ lửng như năm nào, nhưng có ai biết chính dòng sông này 35 năm vể trước, Ðại Bàng Cao Bằng Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 369 TQLC đã khẳng khái nói với người cố vấn Hoa Kỳ là chúng tôi không lui đi đâu nữa, và ông thề rằng không có một Cộng quân nào vượt qua được dòng sông này. Lời thề đó đã được minh chứng khi hai sư đoản Tổng trừ bị Nhảy Dù và TQLC qua sông tiến về Quảng Trị và cuối cùng Sư đoàn TQLC đã cắm ngọn cờ vàng ba sọc đỏ trên cổ thành Ðinh Công Tráng ngày 15 tháng 9 năm 1972.

Trong khi đang hồi tưởng lại những chiến tích xưa, xe đã tới Huế mà tôi không biết. Xe qua cầu Trường Tiền đến khách sạn 3 sao do bộ đội kinh doanh. Khách sạn trông có vẻ tươm tất, sau khi nhận phòng, tôi có nhờ cô tiếp tân mướn dùm chiếc xe du lịch, tôi dự tính ngày mai sẽ thật sự đi thăm những nơi mà trước đây 35 năm, tôi đã chiến đấu bên các đồng đội, để bảo vệ mảnh đất miền Trung khô cằn nghèo khó này.

Image
Image

Tôi thăm thành phố Huế về đêm, dòng sông khang trang, khách sạn và nhà hàng rất nhiều, mục đích cho khách du lịch. Có những con đò dành cho du khách trên dòng sông Hương để thưởng thức Ca Trù Huế, Hò Mái Nhì.. trong khung cảnh trăng thanh gió mát. Những con đò ngày xưa không còn nữa, chánh quyền làm đẹp bộ mặt của thành phố, nhưng thay vào đó những tệ nạn đầy trên đường phố, từ cầu Gia Hội tới chợ Ðông Ba, cầu Trường Tiền. Ba mươi hai năm không còn chiến tranh, người Cộng Sản vẫn chưa tạo được cuộc sống cơm no, áo ấm cho người dân, những tệ trạng càng tăng làm tôi có cảm tưởng thành phố Huế hiện nay cuộc sống xô bồ, không còn cái vẻ Cổ Kính thơ mộng, đáng yêu như trước năm 1975.

Image

Vì quá mệt mỏi sau khi đi tour vùng DMZ trở về, và thăm một vòng thành phố Huế, tôi trở về khách sạn lúc 11 giờ đêm. Tôi ngủ vùi đến khi có điện thoại

- A lô! Ông Tiến phải không? Chào Ông. Có xe đang chờ Ông.

.Tôi nhìn ngay vào đồng hồ, chiều hôm qua tôi đã hẹn xe đến đón vào lúc 8 giờ sáng. Vậy là trễ gần ba mươi phút. Tôi gọi cô tiếp tân nhờ chuyển lời xin lỗi, nhanh chóng thu dọn để xuống gặp người chủ xe. và cũng là người sẽ đưa tôi đi thăm chiến trường xưa.

Người chủ xe khoảng 45 tuổi cởi mở, khi nghe tôi ngỏ lời xin lổi, anh mĩm cười bảo.

- Không sao anh ạ! Cứ từ từ cũng được.

Hơi lo xa, tôi đề nghị

- Nhờ anh đưa tôi tới quán bún bò Huế thật ngon

Anh chở tôi đến quán bún bò huế ở cầu Gia Hội. Trước năm 1975 ở nơi này có quán nấu rất ngon, không có bảng hiệu nên anh em chúng ta chỉ gọi là quán bún bò cầu Gia Hội thôi. Có lẽ là quán này chăng? Bây giờ là khoảng 9 giờ sáng, quán chỉ có mấy cái bàn, khách ngồi gần hết, có mấy nữ du khách (Tây ba lô) đang húp nước sùm sụp. Anh tài xế giải thích

- Ở Huế, muốn ăn bún bò buổi sáng thì nơi đây, còn về đêm tới một chổ khác rất là ngon.

Bản tính lo xa và cũng vì không am tường sinh hoạt tại các địa phương mà tôi sẽ đến, tôi nhờ anh chủ xe mua dùm mấy chai nước, mấy bịch mè xửng cùng mấy ổ bánh mì, nếu có gì bất trắc cũng không bị cái bao tử càm ràm.

Xe chạy dọc theo sông Hương rồi quẹo phải ra Quảng Trị và dừng xe khi tới khu An Hòa.
Sau Hiệp Định Ba Lê 1973, Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến phát động phong trào thể dục thể thao, Tiểu đoàn 8 Ó Biển của Đại Bàng Phu Nhân, là người hâm mộ môn túc cầu nên Phu Nhân đã thành lập đội bóng tròn để đi đá banh giao hữu với các tiểu đoàn khác trong sư đoàn. Là người đất Thần Kinh Phu Nhân cũng đưa đi tranh tài với các đội bóng của thành phố Huế.

Image

Cách đây hơn 32 năm về trước, đội bóng Ó Biển thi tài với đội Thanh Niên An Hòa. Nhìn lại sân banh, những hình ảnh hiện lên trong ký ức tôi từ từ như một cuộn phim quay chậm, tưởng như mới ngày hôm qua, sân bóng tròn vẫn còn đó, nhưng mỗi bên góc sân là một đống rác rất to, hai khung gỗ xiêu vẹo.
- Nguyện ơi! Tương ơi! Mè ơi! Ba Gà ơi! Tài y tá ơi! Đại bàng Phu Nhân ơi! chắc vẫn còn nhớ sân đá banh này.

Xe rời An Hòa và tiếp tục đi về hướng Bắc. Xe qua cầu An Lổ, ngã ba đi Sịa, Phong Điền, cứ mỗi địa danh là lòng tôi bồi hồi, xúc động. Tôi dừng lại ở Mỹ Chánh.
Nhà cửa cất dọc theo hai bên quốc lộ 1, một vài bảng quảng cáo của công ty liên doanh xen lẫn nhiều bảng với khẩu hiệu như “Toàn dân hãy triệt để thi hành luật pháp nhà nước” nhưng người dân bảo rằng “ Toàn Đảng phải thi hành luật pháp nhà nước” mới là đúng. Tôi bước xuống xe với lòng trĩu nặng những cảm xúc của năm 1972, vùng trách nhiệm của tiểu đoàn 2 TQLC. Thời gian này tôi ở đại đội 5 mà trung úy Huỳnh văn Trọn làm đại đội trưởng, lúc đơn vị đến thì chỉ còn những căn nhà bỏ trống, người dân đã di tản vô Huế khi Quảng Trị thất thủ. Đường vào chợ Mỹ Chánh là hai dãy nhà lợp lá, xen lẫn những mái nhà lợp tole mỏng, nơi này một trung đội của đại đội 4, tiểu đoàn 2 TQLC bị một chiếc phản lực cơ đánh bom lầm, Trung tá Nguyễn xuân Phúc phản ứng nhanh chóng, kịp thời hướng dẫn người phi công oanh kích vào mục tiêu bên kia bờ Bắc sông Mỹ Chánh.

Image
Image

Ba mươi năm trôi qua với những thay đổi, nhưng dòng sông Mỹ Chánh vẫn lặng lẽ chảy êm đềm. Ngay đây có một cái miếu thờ nhỏ, tôi thắp nén nhang cho các bạn đồng đội, các chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa cùng những người dân vô tội chạy nạn bị cộng quân sát hại trên vùng đất này. Bờ Nam sông Mỹ Chánh lúc đó là vùng đất tự do, nên bất cứ giá nào người dân cũng phải vượt thoát qua dòng sông này
Một con sông tên gọi hiền hòa, thơ mộng, nhưng năm 1972 sông Mỹ Chánh đã đi vào lịch sử đôi khi có vẻ huyền thoại với một Lữ Đoàn 369 TQLC đã giữ vửng phòng tuyến mà trước mặt là hai sư đoàn Cộng Sản Bắc Việt cùng chiến xa với quyết tâm tiến vào Huế.
Sau khi tưởng niệm các vong linh, tôi dạo một vòng chợ Mỹ Chánh, nhà cửa có xây thêm và sửa sang lại, tôi cố tìm lại tuyến đóng quân của trung đội , nhưng thật sự tôi không nhận ra, chỉ mường tượng đại đội 5 trách nhiệm hướng Đông quốc lộ 1, còn toàn bộ tiểu đoàn phòng thủ bên hướng Tây. Hầu như ngày nào địch quân cũng pháo kích và cho bộ binh vượt sông để tràn qua, nhưng chúng đều thất bại trước những tay súng của tiểu đoàn Trâu Điên.
Tôi bước lên cầu Mỹ Chánh được xây lại dõi mắt nhìn bao quát, dòng sông lờ lững trôi như máu lưu thông trong huyết quản, bỗng tim chợt co thắt khi phải giả từ vùng đất mà hơn một phần ba thế kỷ, các đồng đội, chiến hữu QLVNCH và dân chúng hy sinh vì hai chử Tự Do. Tôi thắp thêm nén hương thơm để tưởng niệm, rồi tiếp tục qua đoạn Đại lộ kinh hoàng đến Hải Lăng

Xe vào hương lộ 602 với những hàng cây hai bên đường, nhìn cây có thể đoán được thời gian trồng dưới 15 năm. Gần tới biển Mỹ Thủy gặp hương lộ 555, còn gọi là “con đường buồn thiu”, con đường mà hầu hết quân nhân TQLC đền có đi qua. Nhìn dọc theo đường là ruộng lúa xanh, mùa gặt vào khoảng tháng 6, và chỉ là những gốc rạ khô khi hai Lữ đoàn TQLC tiến ra Quảng Trị, Tôi được thuyên chuyển về tiểu đoàn 8 lúc đơn vị vượt tuyến xuất phát Mỹ Chánh, có lần cả đại đội dàn hàng ngang đánh chiếm mục tiêu cùng với chi đội thiết vận xa của Thiết đoàn 18. Bây giờ tôi lại đi trên con đường này, nó đã được tu bổ, nhưng người dân sống vẫn còn rất nghèo

Image

Image

Từ quốc lộ 1 đi vào Mỹ Thủy mất khoảng 30 phút, xe tôi tới sát bờ biển. Phải thật sự mà nói, cảnh vật không khác gì 35 năm trước, những ngôi nhà dọc theo bãi cát vẫn như xưa, bên chái nhà người dân đặt vài cái bàn, mấy cái ghế và năm bảy chai nước. có người cho biết trước năm 1975 hầu hết là thân cộng sản, điều này chứng minh là đúng khi chúng tôi vào cái quán, mấy trẻ con chạy đến vòi tiền, tôi cho các cháu một ít kẹo chocolat rồi mua hai chai nước ngọt. Thật ra chúng tôi cần giải quyết vấn đề vệ sinh, sẵn dịp tôi hỏi thăm chị chủ quán

- Chào Chị, chiếc xe hơi này có thể chạy đến Đê Long Quang được không? Phải bao lâu mới tới đó?

- Các anh muốn đi đê Long Quang phải đi đường khác, đường này rất khó đi.

Tôi quay nhìn anh chủ xe

- Chút nữa anh chở tôi tới thăm đê Long Quang

Anh chủ xe trả lời

- Tôi chưa bao giờ đi đê Long Quang và cũng chưa hề nghe tới địa danh này

Tôi nghĩ là anh nói đúng, chỉ có những người dân ở đây, hay là những người lính Thủy quân lục chiến mới biết, bởi vì 35 năm về trước, đã có bao cuộc chiến diệt chốt địch, các tiểu đội, trung đội TQLC đánh tapi, đánh xả láng không màng tổn thất để dành lại từng tấc đất đã bị địch chiếm giữ.

Cũng tại mặt trận này, anh em thưởng thức loại hoả tiển của khối cộng sản mà bộ đội Bắc Việt đặt trên giàn và sau đó phóng tới tấp vào vị trí thủy quân lục chiến. Để trả đủa, anh em nghỉ cách kéo thẳng M.72 sắp thành hàng dài trên giao thông hào, mục tiêu được nhắm vào các điểm bố trí chốt, dùng dây điện nối lại với nhau, khi chập hai đâu dây vào cực âm dương của cục pin, cả một loạt hoả tiển bay vào quân địch.
Tội đang sống với những kỷ niệm xưa ở đê Long Quang, thì anh chủ xe nói
- Chắc không đi được đâu anh
Tôi hỏi
- Sao mà lại không đi được, có xe thì đâu cũng tới được mà.

Người chủ phân trần
- Tôi biết đi ngõ nào đâu

Tôi nhớ ngày xưa xe GMC chở lương thực tiếp tế cũng như quân nhân bổ sung theo bờ biển đi lên. Tôi góp lời đề nghị
- Anh thử chạy ven bờ biển rồi sẽ tới

Anh chủ xe biện bạch

- Trường hợp xe bị lún cát thì mệt và khó mà kéo lên được. Người dân ở chung quanh rất nghèo, không có một cái gì họ có thể giúp mình được. đâu anh

- Anh nói có lý.

Tôi đi dọc theo bờ biển tới Gia Đẳng 1 và Gia Đẳng 2. Hầu hết người dân sống bằng nghề đánh cá. Tôi nhớ tại đây có chiếc phi cơ quan sát L.19 bắn trái khói hướng dẫn phản lực oanh kích, đã bị trúng hoả tiển rơi xuống vùng này.

Image

Cuối năm 1972, khi đại đội tôi ra nghỉ quân ở đây, tôi có chụp tấm hình kỷ niệm với anh Đức pháo binh, Nguyên, Mung và tôi cùng đứng trước chiếc máy bay này. Bây giờ là 35 năm sau, khung cảnh vẫn như xưa, người dân cho biết nó đã bị kéo đi rồi. Lòng tôi bồi hồi khó diễn tả, kỷ niệm với các bạn đồng ngũ như mới ngày hôm qua, người còn sống thì rãi rác khắp nơi, người nằm xuống mà nghĩa trang bị chánh quyền cộng sản cấm đoán thân bằng quyến thuộc thăm viếng, và họ toan tính san bằng, bán từng lô đất.

Chúng tôi ở đây hơn hai tiếng đồng hồ, dự định sẽ trở ra quốc lộ 1 hướng về thành phố Quảng Trị, đặc biệt thăm lại Cổ Thành Đinh công Tráng, một nơi mà cách nay 35 năm, cả thế giới đều biết, Các đơn vị của Liên Đoàn 81 Biệt Cách, Nhảy Dù, TQLC đã đánh những trận tuyệt vời để cuối cùng các tiểu đoàn TQLC làm chủ hoàn toàn thành phố, dựng lại ngọn cờ vàng, ba sọc đỏ trên cổng thành ngày 15 tháng 9 năm 1972.

Sau khi hỏi người dân địa phương, được biết có một con đường khác đi tắt tới thành phố Quảng Trị, và chúng tôi đã theo sự chỉ dẫn đó. Khi xe chạy được 15 phút, tôi mới nhận ra những vùng đất này mà ngày xưa tôi đã đi qua. Đây là cầu Ba Bến, dọc theo sông Vĩnh Định nhà cửa cũng nhiều. Sang kia bờ cầu là bắt đầu vào thành phố Quảng Trị. Đã 35 năm qua thành phố hoang tàn trong chiến tranh nay có những xóm nhà, khó nhận ra vì trong tâm tư cứ ngỡ mới hôm nào, nhưng thời gian trôi qua hơn một phần ba của thế kỷ.
Tôi đến ngay cổ thành lúc 3 giờ chiều. Không hiểu sao đôi mắt tôi cay cay, tôi đứng lặng im trong một phút, cảm giác khó diễn tả bằng lời. Cái hào nước bọc chung quanh cổ thành vẫn còn, và bèo mọc dày đặc. Phía Bắc của cổng thành, họ đã xây cất lại để đón khách du lịch, các em học sinh, sinh viên đi thăm viếng, mục đích để tuyên truyền về một chiến thắng, trong cuộc chiến mà người cộng sản luôn chủ trương là “Tất cả những ai sống trong thị xã đều là kẻ thù, cần phải tiêu diệt hết”.

Xe được phép đi thẳng vào và đậu ở đó. Anh chủ xe vội vã mua vé, hình như 30 ngàn tiền Việt Nam. Khi tôi vào, một anh bộ đội tuổi chừng 40, đội nón tai bèo, đang ở trong cái chòi nhỏ bán vé cùng kiểm soát sự ra vào, anh chạy ra bắt tay tôi, anh này hỏi

- Anh đi tham quan (thăm viếng) nơi đây phải không?

Tôi trả lời

- Tôi trước kia có ở đây, nay trở lại để thăm nơi chốn củ, và cũng để thắp những nén nhang cho bạn đồng đội của tôi và những người phía bên anh trước đây 35 năm.

Anh bộ đội cười giả lả

- Chúng em ở đây, ngày rằm hay Tết cũng thường thắp nhang cho cả bên lính miền Nam luôn bởi vì cùng một giòng máu, da vàng, cùng một thứ tiếng mà anh, chớ không riêng gì cho bộ đội đâu.

Nghe tới đây, tôi biết anh bộ đội đang bắt đầu lên lớp (ngôn ngữ cộng sản có nghĩa là giảng dạy) về cách mạng. Tội vội cắt ngang

- Tôi thật cám ơn anh.

Để lái qua vấn đề khác, tôi vội hỏi

- Anh có nhang để bán không?

- Chúng em có bày bán, nếu anh cần.

Trước khi khởi hành chuyến đi, tôi đã chuẩn bị đầy đủ, mua mấy bó nhang, nhưng tôi cũng mua thêm vài bó nữa để gọi là, rồi đi thẳng vào trong.

Chính quyền cộng sản cho xây nhà bảo tàng, để giới thiệu cho khách đi tham quan, phần đông là các học sinh và sinh viên. Tôi nhất định không vào, vì tránh sự bực tức khi nghe những điều trái tai, không đúng sự thật. Họ chỉ lừa bịp được các em ra đời sau năm 1975 và đã được Đảng nhồi nhét chủ nghĩa Mác Lê, tình đồng chí Hoa -Việt như môi hở thì răng lạnh…suy nghĩ một chiều theo đúng đường hướng của Đảng và Nhà nước.

Họ có lát đường đi ngang dọc trong cổ thành, ngoài ra để cỏ mọc tự nhiên. Muốn nhìn bao quát tôi phải lên cổng thành mà họ đã xây cất lại, từ đây có thể nhìn chung quanh, tâm tư thổn thức, lệ lăn dài theo khoé mắt, vùng đất này, nơi mà các đồng đội và bạn bè của tôi đã ngã xuống để người người nối tiếp tiến lên.

- Các bạn ơi! Tôi về đây với khói hương sưởi ấm anh linh, xin hồn thiêng sông núi chứng giám, độ trì linh hồn các bạn về nơi an lành không còn thương đau.

Sau đó tôi cùng anh chủ xe đốt nhang thầm khấn rồi cắm xung quanh bờ thành, tất cả đều không còn, chỉ duy nhất một góc của cổ thành mà tôi trèo lên. Cỏ mọc um tùm, che kín mặt đất, nếu không có sự giúp đở của anh chủ xe thì thật vất vã vì phải dò dẫm tửng bước, nếu không để ý sẽ bị hụt chân và té xuống. Một niềm hãnh diện pha lẫn xúc động khi tôi đứng trên đỉnh cao, tôi cứ ngỡ là mình đang cùng các đồng đội cắm lại ngọn cờ vàng.

Image

Tôi trở lại thành phố, nhà cửa mới xây cất rất nhiều, chỉ còn thành cổ là nhân chứng cho cuộc chiến năm 1972, người cộng sản vẫn che dấu sự thật của cuộc tương tàn theo lệnh quan thầy Nga Sô và Trung Quốc, mục đích là bành trướng chủ thuyết Mác Lê,
Đã 5 giờ chiều, chúng tôi ghé vào tiệm ăn trước khi vô Huế. Trên đường về, lòng tôi thanh thản, vui sướng vì ước nguyện tôi đã thực hiện, đó là về thăm lại những nơi mà tôi cùng các bạn đồng đội chiến đấu để bảo vệ miền đất khô cằn nghèo khó này.

“ Thưa các anh, các anh đã gục ngã với tình yêu quê hương, vì hai chử tự do cho tha nhân, chúng tôi những người sống sót trong cuộc chiến, không bao giờ quên các anh, mong được về thăm lại những nơi mà chúng ta đã cống hiến tuổi thanh xuân cho tổ quốc. Nhưng trong cuộc sống, mỗi người có hoàn cảnh khác nhau, không phải ai cũng thực hiện được, tâm nguyện lúc nào cũng nhớ và nhắc nhở cho thế hệ kế tiếp về các anh, những người lính không bao giờ chết."



Viết xong lúc 10 giờ 15
Ngày 23 tháng 4 năm 2007 tại thành phố Seattle, tiểu bang Washington


Mũ Xanh Phạm Tiến TĐ8 TQLC

Post Reply