Bình Luận Thời Sự

Những đề tài nóng của Thời Sự. Các bài viết lượm nhặt trên Net ở nơi đây chỉ dùng để tham khảo không phải là chính kiến riêng của nhóm phụ trách.

Moderators: CayQueo, phu_de

Post Reply
User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Image

Paris _Ngày hội lớn
Trời Paris tháng mười

Tôi đến Gare Du Nord theo chuyến xe lửa Thalys vào lúc 14giờ 37 phút , thở phào khi vừa ra khỏi khung cảnh ồn ào của nhà ga với kẻ đến người đi lúc nào cũng tất bật nơi đây .

Buổi chiều Paris lành lạnh nhiều gió , đứng chờ người đến đón mà như muốn chao đảo bời những cơn gió thổi mạnh lất phất giọt mưa quất ngược làm rát cả mặt . Hết nhin ngang rồi dọc để cố tìm bóng dáng chiếc xe quen thuộc nhưng chao ôi sao cứ y như là bóng chim tăm cá . Chiếc máy phone cầm tay lúc này như muốn trêu ngươi vì có sử dụng được nữa đâu , khi vừa qua khỏi Antwerpen thành phố gần biên giới Bỉ đường dây gọi đã tắt tị mất rồi . Nhìn quanh quẩn tìm người thân , lại nhìn lên chiếc đồng hồ treo trên cửa nhà ga , lúc này đã quay hơn 45 phút, tự dưng tôi đâm ra bực mình rồi ngay ngáy sợ không người đến đón trong lúc đó môt người sắc da đen nào đâu cứ đến hỏi tôi bằng tràng tiếng Pháp chẳng hiểu mô tê chi cả , mà đối đáp tiếng Anh lại với hắn thì hắn cũng cóc biết . Tôi chạy đến bọn trẻ đang châu đầu đứng nói chuyện vì nghĩ bọn trẻ thể nào cũng hiểu tiếng anh, thế là tôi mượn được phone cầm tay để gọi và nhắn tin dễ dàng tuy đầu giây lúc đó không người nhận . Định gọi lại lần nữa thì bỗng có tiếng gọi giựt ngược sau lưng :

_Miên Thụy ...M ..T . trời ơi ! khổ wá xe đậu đằng kia kìa , làm ngồi ngoài xe chờ nãy giờ sốt cả ruột , người ta đã nói rồi hễ ra khỏi nhà ga là đi thẳng ra đó mà .

Thế mới biết là tôi nhát cáy không dám xê dịch chỗ đứng vì cứ sợ bỏ đi làm người tìm đến không thấy thì khổ .

Xe chạy vòng vòng Paris tìm chỗ đậu xe rât khó , phần thì kẹt xe cứ phải nhích từng đoạn một . Sau đó chúng tôi phải dùng metro để đến đại lộ CHAMPS ELYSEES nơi đoàn người tập trung diễn hành . Theo chân người dẫn đường rõ khổ, vì tôi phải vừa đi vừa chạy mới đuổi kịp bước chân của họ , thấp thoáng xa xa bóng dáng một vài người trong bộ đồng phục áo xanh quần xám nhạt , đầu đội chiếc nón dù màu đỏ in hình cánh đại bàng . Phố xá dọc theo đại lộ hôm nay thêm phần nhộn nhịp hẳn lên với rừng người đổ xô về hướng công trường ARC DE TRIOMPHE .

Cuối cùng thì chúng tôi cũng đã tìm đến nơi để sát nhập vào đoàn người đang chuẩn bị hành lễ ; có ngươì đã đến sớm tập trung nơi này từ 16 giờ chiều , chờ đến 18 giờ phái đoàn diễn hành bắt đầu .

Tiếng trống kèn của nhóm hoà nhạc dẫn đầu tiến ra giữa đại lộ để thẳng tới công trường , đoàn người thật nhịp nhàng theo tiếng trống để giữ nhịp bưóc đều .

Đi đầu là toán thủ quân kỳ của các nước tham dự buổi diễn hành, lướt qua tôi nhận thấy có sự hiện diện của Anh, Úc, Viêt Nam, v.v...Lá cờ vàng ba sọc đỏ tung bay phất phới dưới cơn gió mùa thu cùng với những lá cờ của các quốc gia bạn, hướng dẫn đoàn anh hùng mủ đỏ bước thẳng đều trên đại lộ Champs Elysées, đại lộ đẹp nhất thế giới để tiến đến Khải Hoàn Môn. Theo sau là khối cựu quân nhân nhảy dù trong đồng phục blazer màu xanh dương đậm, quần xám tro, cravate đỏ, berét đỏ. Được biết binh chủng nhảy dù VN đã được binh chủng nhảy dù Pháp đặc biệt mời tham dự trong tình hữu nghị.

Đây chưa phải là ngày diễn binh lớn tại nuớc Pháp mà đa số là những anh hùng mủ đỏ đã từng có mặt tham dự qua các chiến trường lửa đạn trong thời kỳ Đại Chiến thế giới thứ II bùng nỗ và những người trẻ cùng những anh em sĩ quan QLVNCH trong thời kỳ VN khói lửa của những năm trước 75 . Lần này có sự tham dự của . Y sĩ Đại tá Hoàng Cơ Lân , Thiêu tá Lâm Văn Rớt, Y sĩ Đại Úy Tôn Thất Sơn đến từ Nauy , Đại Úy Trần Hoàng Lộc và người trẻ tuổi nhất là anh Trần Đức Phong đã gia nhập quân đội Pháp trong đội biệt kích nhảy dù .

Đoàn người diễn hành dọc theo đại lộ tiến về Khải Hoàn Môn và tập trung dưới ngọn lửa thiêng của các chiến sĩ vô danh , vòng hoa tưởng niệm được đặt tại mộ Chiến Sĩ Vô Danh dưới sự chủ toạ của tướng "Gouverneur Militairẻ" thủ đô Paris . Ông thật niềm nở xuống xe rồi đi một vòng bắt tay chào từng người một trước và sau khi hành lễ .

Buổi lễ chấm dứt vào lúc gần 20 giờ tối trong ngày; trở về lại con đường dọc theo đại lô Champs Elysées , cảm giác của tôi lúc ấy tuởng chừng như mình đang dạo qua góc phố Sài Gòn thưở nào giữa lòng phố thênh thang trong niềm vui của phố phường ngày hội lớn

Miên Thụy (Hòa Lan)
Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Bắc Triều Tiên: Những trò nhố nhăng của một nhà nước CS

Bùi Tín

Bình Nhưỡng đang là thủ đô của nhũng chuyện kỳ quặc, không giống ai.

Màn kịch cha truyền con nối kiểu triều đình phong kiến lại diễn ra, ông Kim Il Sung được coi là người khai sinh ra chế độ Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên truyền ngôi lãnh tụ tối cao cho con trai Kim Jong Il, và nay ông này lại chỉ định người sẽ thay ông làm lãnh tụ tối cao là cậu con trai thứ 3 mới 27 tuổi, tên là Kim Jong Un.
Image
Báo chí Nam Hàn đưa tin Kim Jong-Un được chỉ định thừa kế ngôi chủ tịch Bắc Hàn. (Hình: JUNG YEON-JE/AFP/Getty Images)

Việc kế thừa như trên là một chuyện khó thể tưởng tượng nổi ở thế kỷ 21, là một trò nhố nhăng của một nhà nước tự nhận là cộng sản, là theo chủ nghĩa Mác-Lênin, từng là tiền đồn của phe xã hội chủ nghĩa, do 2 đảng Cộng sản Liên Xô và Trung Quốc cầm đầu.

Thật ra cái tên, danh xưng của chế độ Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân đã không thích hợp, mang tính chất lố bịch rồi. Cộng hòa mà độc tài, Dân chủ mà dân không mảy may có quyền, Nhân dân mà dân chỉ là nô lệ kiểu mới.

Kỳ quái hơn nữa là ông bố phong luôn cho ông con lên làm đại tướng 4 sao, trong khi chưa qua cấp lính tráng, hạ sỹ quan, sỹ quan cấp úy, tá, hay thiếu tướng, trung tướng, thượng tướng, nghĩa là nhảy một phát qua 12 bậc, mà không có một chiến công gì.

Cũng là dị hợm khi cậu bé con bụ bẫm, mặt còn búng ra sữa, nghiễm nhiên thành ủy viên trung ương đảng Lao Ðộng Triều Tiên, và ngay sau đó là phó chủ tịch đảng ủy Quân sự trung ương, trong khi ông bố của cậu ta là chủ tịch.

Chuyện quái đản này cực kỳ nguy hiểm cho Bắc Triều Tiên, cho cả bán đảo Triều Tiên, cho Châu Á và toàn thế giới, khi Bắc Triều Tiên nhiều lần khoe và dọa thiên hạ rằng họ đã thử bom hạt nhân và đang có sẵn loại vũ khí này trong tay.

Lại thêm một trò quái gở độc đáo khác là ông Kim Jong Il phong luôn quân hàm đại tướng 4 sao cho cô em gái là bà Kim Kyong Hui, 64 tuổi, ủy viên Bộ Chính Trị đảng Lao Ðộng, vốn phụ trách ngành công nghiệp nhẹ.

Ðiều rất đáng chú ý ở Bắc Triều Tiên là không khí cực kỳ căng thẳng ở vùng giới tuyến giáp Nam Triều Tiên và gần như thiết quân luật ở Bình Nhưỡng, cũng như biên giới bị khóa chặt ở phía Bắc giáp với Trung Quốc và Nga, suốt từ khi chuẩn bị cho cuộc họp đại hội đảng, 44 năm mới có một lần (từ năm 1966). Họ lo sợ rằng những trò bịp bợm trên vấp phải sự phản ứng ngầm, hay có thể dữ dội của nhân dân, quân đội, binh sỹ...

Thật khó hình dung nhận thức, tâm tư, suy nghĩ của người dân Bắc Triều Tiên ra sao trước nhũng trò hề quái đản, không giống ai trên đây. Trong cung đình, người ta dấu kỹ không cho xuất hiện 2 cậu anh ruột của cậu em út Kim Jong Un, vì ai cũng biết cậu con cả của ông Kim Jong Il là Kim Jong Nam đã được ông chọn trước tiên cách đây 5 năm, nhưng vì ông con này đã phạm kỷ luật, đi sang chơi Nhật Bản bằng hộ chiếu giả chỉ để tham quan khu Disneyland ở Tokyo, nên bị bố rầy la và cho ra rìa. Ba anh em ghen tỵ nhau về ngôi báu có thể làm loạn cung đình.

Nhân đây xin kể lại vài chuyện tôi từng tai nghe mắt thấy trên đất Bắc Triều Tiên hồi 1988, khi đến Bình Nhưỡng dự cuộc họp quốc tế các nước không Liên kết trong 1 tuần lễ. Ðây là đất nước của những điều cực đoan trái ngược.

Nhìn bề ngoài thoáng qua, Bình Nhưỡng sạch, đẹp, cờ, hoa, không rác, bụi, là thiên đường, không một thủ đô nào khác sánh kịp. Toàn thể học sinh đi học bằng xe bus, mặc đồng phục lụa hoa màu, cặp sách, khăn quàng đỏ, sách vở bút nhà nước cấp phát; đường phố luôn có người quét dọn, lau chùi; tất cả cửa hàng đều mậu dịch quốc doanh hết, mua bằng tem phiếu. Khách sạn 95 tầng, không được cao hơn Tháp ngọn lửa Chuche - Tự Chủ - của ông Kim Il Sung, có thể lên thăm bằng thang máy.

Có những cuộc múa tập thể 2,000 nam, 2,000 nữ, giải lụa hồng như tiên sa, nhịp nhàng với dàn nhạc giao hưởng 800 nhạc công, trong ánh sáng của 500 ngọn đèn chiếu đủ màu.

Các quan chức cấp cao có khu ở riêng, cửa hàng riêng. Xe trong khu dinh thự trung ương ra, có 2 xe môtô hộ tống là Ủy viên trung ương, 4 xe hộ tống là Ủy viên Bộ Chính Trị, 6 xe là lãnh tụ, mọi người dân đều phải dừng chân, cúi đầu, chờ cho đoàn xe đi qua mới được đi tiếp.

Một trò lừa bịp khó quên là các xe bus công cộng, các máy thu thanh, truyền hình... dù là của Nhật, Ðức, Pháp, Mỹ, Anh... mang nhãn hiệu các nước, đều bị gỡ ra, thay bằng nhãn Triều Tiên tuốt luốt, như Thiên Lý Mã, Bạch Ðầu Sơn, Hoa Mẫu Ðơn, Nhảy Vọt, Núi Kim Cương, Doutchjé... Một kiểu ăn cắp tên sống sượng, được biết là họ bỏ tiền ra mua danh hiệu, có bồi thường để lấy le hão cho mình. Khách nước ngoài thấy vậy chỉ bịt mũi, và cười...

Ra khỏi các thành phố là nông thôn xơ xác, nhà đất lợp lá, nông dân trong mùa lạnh lội ruộng không có ủng, dân đắp đê đội sọt đất trên đầu. Mấy anh phiên dịch kể lể rỉ tai, nói lên sự thật: Có trận đói chết hàng chục vạn, có khi hàng triệu; an ninh rình mò khắp; không được tự do ăn nói, bố mẹ, vợ chồng, anh chị em cũng phải cảnh giác nhau, giữ mồm giữ miệng, hở ra bất mãn là đi tù; ai cũng muốn trốn ra khỏi nước, nước nào cũng được.

Họ kể các kiểu thủ tiêu, trừ khử mạng người lạnh lùng, sạch trơn, dù là bà Park Yong Ai, một công thần của đảng, dù là Ðại Tướng Kim Chang Bong từng là bộ trưởng quốc phòng, biến mất tăm cùng cả gia đình, họ hàng, bè bạn thân, không có tòa án, không có xét xử, cũng không có một dòng tin trên báo đài. Biến mất không vết tích, lý do, chỉ thấy không được nhắc đến nữa, không còn tin, ảnh trên báo đài, thế là tự hiểu, không một ai dám tò mò dò hỏi, thắc mắc, sẽ mang họa vào thân.

Sự lố lăng, độc ác đạt đến độ tuyệt đối vậy. Cho nên Bắc Triều Tiên 22 triệu dân, có 25 vạn tù chính trị, trong 600 nhà tù khắc nghiệt nhất trần gian.

Bắc Triều Tiên là nước kín mít nhất. Toàn dân không ai có điện thoại di động; đó là đồ quốc cấm.

Bắc Triều Tiên đang lên gân. Quân đội báo động đỏ. Một đội Cận vệ Ðặc biệt nhằm bảo vệ nhóm lãnh tụ và gia đình được tăng cường. Họ rất lo những xáo trộn tâm tư trong nội bộ, những cuộc đảo chính lớn nhỏ có thể xảy ra. Gần trăm viên tướng già, trẻ, tại chức hay nghỉ hưu, có thật lòng cúi rạp đầu vâng dạ 2 đại tướng mới được phong một cách lố bịch, một phụ nữ và một cậu bé con, đang còn i tờ về quân sự! Họ không thể không cười thầm, cay đắng, và lo.

Ai mà không lo, khi tin tức lọt ra cho biết bà Ðại Tướng Kim Kyong Hui tính khí thất thường, từng bướng bỉnh, một mực đòi cưới ông Jang Song Thaek dù cho cha bà là ông Kim Il Sung không đồng ý, và cậu Ðại Tướng Kim Jong Un đã ngổ ngáo từ khi mới 7 tuổi, dám cầm lái chiếc xe Mercedes, biết nốc rượu từ khi lên mười, và học hành dang dở, chỉ hết trung học phổ thông ở trường Berne - Thụy Sĩ, không sao kiếm được mảnh bằng cử nhân, chỉ qua trường quân sự trong nước để nhận lon đại tướng. Cậu đại tướng trẻ nhất thế giới, xưa và nay, lại chỉ có 2 sở thích, ăn sushi của Nhật và chơi games - trò chơi - trên computer. Mà game ly kỳ hấp dẫn nhất là trò chiến tranh hạt nhân trên máy.

Việc gì sẽ xảy ra khi 2 cô cháu ruột đều là đại tướng, đều có quyền uy chiến tranh tối thượng, đặt ngón tay trên nút bấm phóng tên lửa mang đầu đạn hạt nhân, chĩa sang Nhật, xuống Nam Triều Tiên hay theo hướng nào khác? Khi nổi một cơn giận đời, trong một cuộc khủng hoảng quốc tế? Như vụ chiếc tàu Cheonan bị họ ngang nhiên bắn chìm vừa qua? Ai biết trước được.

Trò lố bịch cấp nhà nước của một xứ cộng sản - hiện vẫn còn là nước bạn truyền thống của đảng Cộng Sản Việt Nam - thật sự chứa đựng nguy cơ chết người hàng loạt.

Xin mọi người chớ có coi thường, thờ ơ.

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Tưởng niệm Cụ Trần Văn Hương nhân sĩ suốt đời giữ tiết tháo

Hứa Hoành
"Tôi xin phép từ chối. Tôi không nhận cái quyền công dân nầy. Dầu gì tôi cũng đã là người lãnh đạo miền Nam, trong khi binh sĩ, nhân viên các cấp, chỉ vì thừa lịnh của chúng tôi, mà giờ đây vẫn còn bị giam cầm trong các trại cải tạo, chưa được trả quyền công dân. Chẳng lý gì, tôi là người trách nhiệm, lại được trả quyền công dân trước..." (Lời cựu Tổng Thống Trần Văn Hương trả lời một cán bộ CS, khi họ đến nhà định làm lễ, quay phim "trả quyền công dân cho ông").

Hàng năm, cứ đến ngày oan trái 30 - 4, tôi lại bâng khuâng nhớ đến các anh hùng liệt sĩ đã bỏ mình vì nước. Làm tướng giữ thành, thành mất, tuẫn tiết theo thành, ngày xưa có Tổng đốc Hoàng Diệu (1828 - 1882), Tổng đốc Nguyễn Tri Phương (1800 - 1873)... Ngày nay có Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, Thiếu tướng Lê Văn Hưng, Thiếu tá quận trưởng Bồng Sơn Hoàng Lê Cương (1972) và hàng trăm ngàn chiến sĩ vô danh khác, đãtự sát để giữ tròn khí tiết, không để lọt vào tay kẻ thù làm nhục. Họ nêu những gương hy sinh cao quý, tiết liệt, lịch sử ghi nhớ muôn đời.

Hai mươi năm chiến tranh, một cuộc chiến tranh vệ quốc sáng ngời chính nghĩa quân dân miền Nam đã hy sinh hàng triệu người, chỉ vì muốn bảo vệ một lý tưởng "Ðộc lập, tự dỏ và không muốn đất nước rơi vào tay CS. Nhưng cuối cùng phải thất bại trong nỗi uất hận, nghẹn ngào.

Năm nay, nhân ngày tang tóc đau thương của toàn thể dân tộc Việt Nam, chúng tôi muốn nhắc lại với thế hệ mới lớn lên, về những cái chết oai hùng. Trong phạm vi bài nầy, chúng tôi kể lại những ngày sau cùng của một chính khách thanh liêm, cương trực, suốt đời giữ được tiết tháo và lòng yêu nước: người đó là cụ Trần Văn Hương, hai lần làm đô trưởng Sàigòn, hai lần làm thủ tướng và Phó Tổng Thống, và cuối cùng là Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa chỉ được 3 ngày. Cụ Hương mất đi không một lời cáo phó. Cụ mất, nhưng gương hi sinh và thái độ sống của người quân tử mà cụ nêu gương không bao giờ mất. Tuy là người đồng hương, vì nhà tôi ở chỉ cách nhà người chị ruột của cụ Trần Văn Hương chừng 300 mét, trên đường Văn Thánh (tức Văn Thánh miếu thờ Ðức Khổng Tử và cụ Phan Thanh Giản) tại Vĩnh Long. Là thế hệ sau, thuộc hàng con cháu, nên tôi không được quen biết với cụ. Tháng Hai năm 1975, tôi là thành viên của một phái đoàn vận động thành lập Viện Ðại học Long Hồ cho 3 tỉnh Vĩnh Long Kiến Phong và Vĩnh Bình, có đến tư thất của cụ ở đường Phan Thanh Giản Sàigòn, để yết kiến và xin cụ giúp đợ Tháng 3 năm 1975, cụ với tư cách là Phó Tổng Thống, có đến tại hội trường thuộc trường Sư Phạm (cao đẳng) Vĩnh Long, để chứng kiến lễ chấp nhận thành lập Viện Ðại Học Long Hồ, do Tổng Trưởng Bộ Quốc Gia Giáo Dục Ngô Khắc Tỉnh ký trước mặt cụ. Mặc dầu rất nhiều lần giữ những địa vị cao trong chính trường miền Nam, nhưng cụ Trần Văn Hương là một người có đời sống giản dị, mẫu mực, thanh liêm không bất cứ một ai có thể mua chuộc được. Khi thôi việc, cụ Hương sống cuộc đời chật vật nhưng vẫn giữ được tư cách.

Cụ Trần Văn Hương sinh năm 1904 tại làng Long Châu, nay thuộc quận Châu Thành Vĩnh Long, trong một gia đình nghèo. Nhờ học giỏi và được sự hy sinh của gia đình, cậu học sinh Trần Văn Hương được ra Hà Nội học trường Cao đẳng Sư Phạm... Sau khi tốt nghiệp, ông giáo Trần Văn Hương được bổ về dạy tại trường Le Myrle de Vilers Mỹ Tho, cũng là ngôi trường cũ mà ông đãtheo học mấy năm trước. Thời gian từ năm 1943 - 1945, ông Hương là giáo sư dạy môn văn chương và luân lý tại trường nầy. Sau đó ông Hương được đổi lên làm Ðốc học tỉnh Tây Ninh.

Năm 1945, Việt Minh nổi dậy cướp chính quyền khắp 3 kỳ, nhóm Việt Minh mới của Trần Văn Giàu (chủ tịch Ủy ban hành chánh Nam bộ) cử cụ làm chủ tịch Ủy ban hành chánh tỉnh Tây Ninh. Làm việc với Việt Minh được mấy tháng, thấy họ không thành thật, và theo con đường bá đạo, nên ông Hương từ chức. Tuy vậy cụ vẫn còn đứng trong hàng ngũ kháng chiến. Khi thấy bộ mặt thật của Việt Minh là CS, tìm cách khủng bố, ám sát thủ tiêu những người yêu nước có tinh thần quốc gia, cụ bỏ về thành. Ban đầu cụ bán thuốc tây cho nhà thuốc của dược sĩ Trần Kim Quan (Pharmacy Kim Quan) ở góc đường Lê Lợi và chợ Bến Thành bây giờ).

Theo tài liệu của tình báo Mỹ, ông Hương có hai người con: Trần Văn Dinh và Trần Văn Doi (Giỏỉ). Hồi còn theo học trường "College de Can Thơ" kháng chiến nổi lên, Doi bỏ học theo kháng chiến. Khi phái đoàn Hồ Chí Minh qua Pháp cùng một lúc với hội nghị Fontainebleau trở về tới Vũng Tàu, ông Doi theo xuống tàu ra Bắc. Từ đó hai cha con không bao giờ gặp nhau nữa. Ông Huỳnh Văn Lang, cựu Tổng giám đốc Viện Hối Ðoái dưới thời Tổng Thống Ngô Ðình Diệm cho biết "Ông Trần Văn Giỏi (không phải Dõi) ở tại Sàigòn, bên cạnh ông Hương như một người cố vấn."

Năm 1964, ông Hương làm Thủ tướng chính phủ, tình báo Mỹ có đem lại một hồ sơ cho biết cụ có người con theo CS. Cụ Hương thẳng thắn nhìn nhận và cho biết từ đó cho đến nay, cụ không còn liên lạc gì với người con đó hết. Khi cụ tham chính, thì nguòi con lớn là Trần Văn Doi ở kế cận đóng vai người cố vấn thân tín.

Tháng 7 - 1967, ông cùng với ông Mai Thọ Truyền, ra ứng cử chức Tổng Thống chỉ được 10% số phiếu, về hạng tư. Tháng 5 - 1986, ông được Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu mời làm Thủ Tướng, thay thế Thủ Tướng Nguyễn Văn Lộc. Trong nhiệm kỳ Tổng Thống 1971 - 75, ông Trần Văn Hương làm phó tổng thống, và khi ông Thiệu từ chức tổng thống giữa lúc tình thế đất nước lâm nguy,ông Hương được đôn lên làm tổng thống dùng theo hiếp pháp.

Các chi tiết về cuộc đời của cụ Trần Văn Hương trong những ngày tháng cuối cùng, được bà Phan Cẩm Anh cùng chồng là bác sĩ, người có dịp gần gũi với cụ Hương kể lại. Tôi được phép chỉ để trích một phần lớn trong bài ấy: "Hương trà năm cũ" trong bài viết để đồng bào, đồng hương có dịp biết thêm về nhiều chi tiết cảm động của một kẻ sĩ thế hệ cũ còn sốt lại. Kính xin anh chị Phan Cẩm Anh thể nhận nơi đây lòng biết ơn của tác giả.

"... Nhiều năm trước, khi tôi học trung học, một buổi tối sau khi dùng cơm, chị tôi dẫn tôi đến phủ "cây tùng" để thăm Mai Hương, một người bạn cùng "khóa I Nữ quân nhân" của chị, bây giờ vừa lập gia đình với đại úy Phan Hữu Chương, cháu ruột cụ Trần Văn Hương. Ba chị em đứng trò chuyện dưới táng cây của phủ phó tổng thống. Thình lình, cụ Hương từ trong nhà bước ra, nhìn về phía chúng tôi, gật đầu, rồi đưa tay ra hiệu bảo Mai Hương theo cụ vào trong phủ. Khi trở ra, Mai Hương lè lưỡi nói với chị tôi:

- Ông cụ vừa mới la.
- La về chuyện gì vậy?
- Ông cụ nói: "Sao không mời bạn bè vào phòng khách nói chuyện đàng hoàng mà để bạn đứng dưới gốc cây. Ông cụ nói tiếp: "Tiếp bạn đến chơi như vậy là không trọng bạn chút nào hết."

Ðó lần đầu tiên tôi thấy cụ Hương, nhưng nghe thuật lại những lời cụ trách, lòng tôi tự nhiên nhen nhúm một cảm tình đầy quý trọng. Sau đó, tôi có dịp trở lại phủ phó tổng thống vài lần lúc Mai Hương sắp vào nhà bảo sanh. Vì lẽ phu quân Mai Hương bận công vụ, nên Mai Hương cho tài xế đến nhờ tôi và em gái tôi giúp đưa Mai Hương vô bịnh viện. Tất cả những lần đó, tôi chẳng có dịp nào giáp mặt cụ Hương.

Thời gian trôi qua, miền Nam sụp đổ, Dương Văn Minh ra lịnh đầu hàng. Ngay buổi sáng sớm ngày đầu mất nước, tại ngôi biệt thự cũ kỹ nằm khuất trong ngõ hẻm ngăn đường Phan Thanh Giản, thân nhân sống trong biệt thự này đã đau đớn đem đặt giữa nhà hai xác người cùng nhau tìm cái chết. Họ vừa chia nhau ống thuốc ngủ đêm qua. Ðó là đại úy Phan Hữu Chương và vợ là cựu trung úy Trần Mai Hương. Họ để lại vỏn vẹn vài lời trăng trối "xin nhờ lòng tha thứ của cụ Hương và gia đình vì không thể sống khi đất nước rơi vào tay kẻ thù." Ðôi vợ chồng trẻ gởi gắm lại ba đứa con trai còn thơ dại, nhờ ông bà nội (em rể cụ Hương) dưỡng nuôi. Cũng trong ngôi biệt thự bao phủ một bầu không khí ảm đạm và im lìm đó, nơi một căn phòng khác trên lầu, cụ Hương đóng cửa, im lặng, trầm mình trong nỗi đau khổ của một người đãtừng lãnh đạo đất nước, bây giờ đành tâm chứng kiến giờ phút suy vong, cảnh nhà tang chế. Nỗi đau khổ của cụ ở mức độ nào, chẳng ai trong nhà được cụ hé môi thổ lộ.

Nhưng ý định cùng chồng đi tìm cái chết của Mai Hương, không được toại nguyện bởi lẽ một người cháu đem Mai Hương đi cấp cứu. Sự sống của Mai Hương đãđược các bác sĩ giành giựt lại từ đường tơ kẻ tóc. Nhờ đó Mai Hương trở thành một chiếc cầu để tôi có cơ hội biết thêm chút ít về cụ Trần Văn Hương trong những ngày cuối cùng của cụ.

Nhiều lần Mai Hương dẫn tôi về lại ngôi biệt thự trên để thăm các con của Mai Hương, hiện đang sống nương nhờ vào ông bà nội. Tôi đãchứng kiến cảnh sống đạm bạc, nếu không muốn nói là thiếu thốn, túng quẩn của gia đình cụ Hương. Cụ Hương luôn luôn sống lặng lẽ một mình trong căn phòng nhỏ ở trên lầu.ăn phòng bày trí thật sơ sài, chẳng có món đồ nào được coi là sang trọng. Ngoài chiếc giường nệm cụ nằm, đồ vật còn lại là hai chiếc ghế bành, một cái tủ đựng quần áo đãcũ, một chiếc bàn con trên đó cụ để một tượng Phật Di Lạc. Căn phòng có một cửa ăn thông ra sân thượng. Hầu cận, săn sóc cụ là người em rể của cụ mà tôi gọi theo như Mai Hương là Dượng. Phía dưới lầu là các gian nhà trệt nhỏ, nằm dọc theo bức tường phía trong của khuôn viên biệt thự, có lẽ trước kia là nhà kho, bây giờ trở thành nơi tá túc qua ngày cho các thân nhân gồm các em và cháu của cụ, vì phải gặp cảnh khó khăn dưới quê, tìm về Sàigòn nương náu trong ngôi biệt thự cũ nát mà tổng thống Thiệu đã cấp từ thời trước.

Ngôi biệt thự nầy, trước khi cấp cho cụ Hương, tổng thống Thiệu đã chỉ thị phải sửa chửa, chỉnh trang lại đàng hoàng, nhưng cụ từ chối viện lẽ cụ già rồi, không làm việc gì ích nước lợi dân được nữa, nên không muốn làm hao tốn công qũy. Do đó, đến khi CS vào, ngôi biệt thự trên chẳng phải là mồi ngon cho cán bộ của họ tranh nhau giành giật chiếm đoạt như các ngôi biệt thự xinh xắn khác. Tường biệt thự nhiều nơi nứt nẻ, nền nhà nhiều chỗ vở bung lên, màu vôi trải qua nhiều năm tháng vàng ố không được trùng tu, sơn quét. Hình ảnh cụ lúc nầy như một con chim đại bàng sa cơ, gãy cánh mà vẫn cố giương đôi cánh mang thương tích của mình để bảo bọc chim non. Tôi được nghe kể lại cứ mỗi lần người nhà bưng cơm lên lầu cho cụ, phần cơm rất đạm bạc, lâu lâu mới có chút cá thịt, thân nhân muốn nhường cho cụ để bổ dưỡng, cụ hỏi xem mọi người trong nhà có được ăn như cụ vậy không. Mặc dầu người nhà thường trả lời "có" cho cụ an tâm, nhưng cụ vẫn hiểu sự thật của chữ "có" nên thường cụ để dành lại thức ăn ngon trên mâm, hầu đem xuống nhà cho con cháu.

Có những lần tôi theo Mai Hương đến thăm ông bà nội các con Mai Hương, lúc trở về, ra tới cánh cổng, tôi quay đầu nhìn lên sân thượng thấy cụ Hương, ngồi yên lặng trên đó. Mình cụ để trần, mái tóc bạc trắng, đôi mắt nhìn thẳng về phía trước không hề di động... Tôi thấy cụ Hương ngồi trên sân thượng như vậy nhiều lần, và những lần như vậy, trên đường đạp xe về nhà, hình ảnh già nua, im lặng và cô độc của cụ cứ lẩn quẩn mãi trong đầu óc tôi.

Một hôm, có lẽ cũng vào dịp gần Tết, Mai Hương đưa một củ sâm Ðài Loan và nói với tôi:

- Bà nội sắp nhỏ biểu chị đem củ sâm nầy đi bán. Ðó là củ sâm người ta tặng cho ông cụ từ lúc ông cụ sang Ðài Loan, còn cất giữ mãi đến bây giờ. Ông nói chắc không dùng đến nó, nên sai đem bán lấy tiền đong gạo cho sắp nhỏ.

Mai Hương mở gói giấy bọc củ sâm ra, củ sâm vỏn vẹn bằng hai phần ba bàn tay, nằm giữa mấy lớp giấy gói đãcũ. Nhìn qua, ai cũng biết củ sâm được gói kỹ lưỡng, và bị lãng quên trong một ngăn tủ nào đó lâu lắm rồi, nay mới được nhớ lại. Tôi nhìn củ sâm nghẹn ngào. Một nhà giáo thanh bạch, một người lãnh đạo quốc gia trong sạch như cụ, chỉ lấy đạo đức bản thân làm tài sản. Cụ đâu có nén vàng nào có thể đem bán lấy tiền đong gạo cho đàn cháu, hay giúp đỡ người thân đang tá túc trong nhà, những người đa ?37;t nhiều liên lụy vì các hoạt động chính trị của cụ.

Khoảng hơn một tuần sau, ông nội các cháu, tức em rể cụ Hương, ghé lại nhà Mai Hương và tôi (lúc này Mai Hương và tôi sống chung với nhau trong một căn nhà nhỏ ở quận Tân Bình) kể cho chúng tôi biết là ông vừa làm theo ý cụ Hương: đem mấy bộ đồ veste còn tốt của cụ ra chợ trời bán. Ðể an ủi người nhà bớt đau lòng, cụ Hương bình thản giải thích:

- Từ đây cũng đâu có dịp nào mặc nó nữa, đem bán đi chớ để làm chi!

Số tiền bán áo trên, chẳng ở trong túi được bao lâu, vì ngay sau đó bà Út đi chợ mua đồ ăn cho sắp nhỏ. Gia đình cụ Hương đã chịu chung số phận đau khổ và bi đát tột cùng từ tinh thần đến vật chất khi miền Nam rơi vào tay CS. Có một sự kiện làm tôi chảy nước mắt mỗi khi nhớ đến, lòng thêm kính mến và cảm phục cụ Hương: Trước khi chính quyền CS cho tổ chức cuộc bầu cử quốc hội (bịp) đầu tiên, cụ Hương được họ thông báo sẽ có một buổi lễ để chính phủ trả quyền công dân cho cụ. Sau đó, để có buổi lễ được quay phim tuyên truyền, khi một cán bộ thay mặt chính quyền, đọc "chính sách khoan hồng, rộng lượng" của nhà nước đối với những "thành phần" như cụ, cụ dõng dạc nói:

- Tôi xin phép từ chối. Tôi không nhận cái quyền công dân này. Dù gì tôi cũng là người lãnh đạo miền Nam, trong khi binh sĩ, nhân viên các cấp chỉ vì thừa lịnh của chúng tôi mà giờ đây vẫn còn bị giam cầm trong các trại cải tạo, chưa được trả quyền công dân trước. Tôi sẽ là người sau cùng nhận cái quyền công dân này, sau khi binh sĩ và nhân viên của chúng tôi đã được nhận.

Ðại diện của chính quyền CS không ngờ sự thể xảy ra như vậy. Tức giận, họ ra lịnh cúp máy thu thanh, thu hình. Vài ngày sau cụ nhận được lịnh quản thúc tại gia 3 năm. Cụ Hương nói với người nhà:

- Bọn nó cũng chẳng cần phải quản thúc tao. Tao già và đau yếu như vầy, có khi nào bước chân ra khỏi nhà đâu mà cần phải quản thúc!
Vào năm 80 tuổi, mỗi lần theo Mai Hương ghé vào thăm ông bà nội của các cháu, tôi ít thấy cụ Hương ra ngồi ở sân thượng như lúc trước. Tôi được biết sức khỏe của cụ sa sút nhiều. Một hôm, em rể cụ Hương bảo tôi:

- Ông cụ dạo nầy yếu quá. Ông lại dứt khoát không muốn vô nhà thương khám bịnh hay chữa trị gì cả. Chắc Cẩm Anh cũng biết tại sao rồi. Dượng muốn nhờ Cẩm Anh có quen ai là bác sĩ trước 1975, xin họ đến nhà khám bịnh giùm cho ông cụ. Nếu không thì Dượng chẳng yên tâm.

Nghe ông Dượng nói tôi mới nhớ, cách đó không lâu, cụ Hương bị mệt xỉu phải đưa vô nhà thương cấp cứu. Lúc tỉnh dậy, cụ nhứt định đòi người nhà phải đưa cụ về ngay. Cụ một mực từ chối, không chịu để điều trị trong bịnh viện đã thuộc về tay chính quyền CS.

Mặc dầu có quen biết vài bác sĩ, nhưng tôi nghĩ ngay đến nhà tôi, lúc ấy còn là một người bạn, vì trong hoàn cảnh không biết tương lai ra sao, nên chúng tôi chưa nghĩ đến việc lập gia đình. Tôi nhận lời Dượng, hứa tìm một bác sĩ của "chế độ mình" để nhờ khám bịnh cho cụ. Khi nghe tôi trình bày, nhà tôi chẳng chút ngần ngại, vui vẻ nhận lời ngay. Lần đầu tiên nhà tôi đến, cụ bảo nhà tôi lại thật gần để cụ nhìn mặt vì mắt cụ đã mờ;. Cụ Hương hỏi nhà tôi:

- Con đến đây thăm bịnh cho qua, con có sợ họ làm khó dễ con không?

Nhà tôi trả lời:

- Thưa cụ, cháu chỉ làm bổn phận và công việc của người thầy thuốc, cháu không ngạị

Cụ xúc động, ghé người gần lại, đưa tay ôm lấy đầu nhà tôi. Nhà tôi tiếp:

- Thưa cụ, cháu là bác sĩ trẻ mới ra trường, kinh nghiệm và kiến thức hãy còn ít, chữa bịnh cho cụ, nếu có điều gì không biết, cháu sẽ về đọc sách lại.

Cụ Hương vui vẻ, mỉm cười cảm ơn và nắm lấy tay nhà tôi như để trấn an.

Từ đó nhà tôi lui, tới với cụ thường xuyên để thăm bịnh cụ. Dường như việc trị bịnh đối với cụ chẳng có gì quan trọng, cụ không quan tâm lắm, mặc dầu cụ luôn luôn là một bịnh nhân gương mẫu, theo đúng những lời dặn của bác sĩ. Ðiều làm cho cụ vui và thoải mái hơn có lẽ là có người để cụ nói chuyện. Do đó, nhà tôi thường ngồi lại với cụ một hai giờ sau khi khám bịnh. Cụ nói thuốc men cụ dùng hàng ngày là do bà Trần Văn Văn và bạn bè ở Pháp gởi về tặng cụ. Những thứ thuốc nào không cần dùng, cụ đưa cho người em rể cụ đem ra chợ trời bán, lấy tiền chia đều cho gia đình con cháu đong gạo. Một hôm cụ kể cho nhà tôi nghe một câu chuyện rất cảm động như sau:

- Con biết không, chú có thằng em đến thăm (cụ xưng chú với nhà tôi, khi biết thân phụ nhà tôi lớn hơn cụ vài tuổi) nó đem đến một hộp sữa bò còn tặng chú 5 đồng (lúc mới đổi tiền, 500 đồng tiền cũ ăn 1 đồng tiền mới). Chú thương nó có tình, nhưng nghĩ nó phải đạp xích lô cực khổ để sinh sống, nên chú không nỡ lấy. Nhưng nếu chú không nhận thì "sợ nỏ buồn tội nghiệp", nên chú chỉ nhận có 5 đồng, còn hộp sữa thì bảo nó đem về cho gia đình (lúc ấy sữa rất khó mua). Người mà cụ kể là "thằng em" một cách thân mật chính là thuộc hạ cũ của cụ.

Cụ Hương còn tâm sự với nhà tôi những chuyện lúc cụ còn trẻ. Có một thời gian cụ cùng với một người con trai (Trần Văn Doi) theo hoạt động cho Việt Minh chống Pháp. Nhưng khi nhận ra bộ mặt thật của Việt Minh, cụ dứt khoát trở về lại trong Nam và mất liên lạc với người con trai từ lúc ấy. Người con trai nầy đã ở lại miền Bắc, và phục vụ trong quân đội CS. Sau khi Sàigòn bị chiếm, anh có về thăm cụ với vợ là một bác sĩ VC. Có lẽ sự lui tới của cặp vợ chồng nầy cũng nhằm mục đích theo dõi cụ.

Cụ Hương cũng có một người con khác đang sinh sống tại California. Anh có một đứa con bị bịnh Thalassemia, được đưa sang Mỹ chữa trị trước năm 1975. Ðã nhiều lần anh muốn bảo lãnh cụ ra nước ngoài, nhưng cụ nói với nhà tôi:

- Trước kia đại sứ Martin năn nỉ, yêu cầu chú đi, chú đã từ chối. Bây giờ đời nào chú lại xin chính quyền CS để được đi.

Những lần đi thăm bịnh sau của nhà tôi, cụ tâm sự nhiều hơn về những vụ buồn trong cuộc đời tham chính của cụ. Cụ luôn nhắc đến tên của những người mà cụ đặc biệt quý mến như bác sĩ Bạch Ðình Minh. Cụ ngậm ngùi kể:

- Bác sĩ Minh là một người mà chú rất quý trọng. Hồi trước chú thấy bác sĩ Minh đi khám bịnh mà không có đồng hồ đeo tay. Chú mua tặng cho bác sĩ Minh một cái, nhưng đeo được vài tuần, bác sĩ Minh đem trả lại chú. Chú thấy bác sĩ Minh phục vụ trong quân đội hết lòng tận tụy và giàu tinh thần trách nhiệm, chú đề nghị lên tổng thống Thiệu tưởng thưởng "Bảo quốc huân chương" cho bác sĩ Minh. Bác sĩ Minh từ chối không nhận viện lẽ ông đang làm việc ở chỗ an toàn, xin dành huy chương ấy cho những người xả thân chiến đấu, hy sinh xương máu cho đất nước. Một lần khác cụ hỏi nhà tôi:

- Con có biết bác sĩ Trần Lữ Y không?

Nhà tôi thưa:

- Bác sĩ Trần Lữ Y dạy con môn Nội Khoa ở trường Y khoa.

Cụ Hương tâm sự:

- Hồi trước bác sĩ Hoa Kỳ sang đây khám bịnh cho chú, họ đề nghị đưa chú sang Hoa Kỳ chữa bịnh. Thằng Trần Lữ Y đi theo chú, xin lỗi con, chú gọi bác sĩ Trần Lữ Y bằng "thằng", vì chú thương nó như con chú vậy. Khi máy bay ghé Manille, suốt mấy hôm chú ăn không nổi đồ ăn của họ, nên bác sĩ Trần Lữ Y phải ra phố kiếm thức ăn mua về cho chú. Gần đây chú nghe có người nói bác sĩ Trần Lữ Y qua đời bên Pháp vì bịnh ung thư, có đúng như vậy không?

Nói tới đây, cụ im lặng hồi lâu như nén sự xúc động. Mấy tuần sau, nhà tôi được tin bác sĩ Trần Lữ Y vẫn còn khỏe mạnh ở bên Pháp và có phòng mạch tư, gần với phòng mạch của bác sĩ Phạm Tu Chính. Nhà tôi vội vàng ghé lại thăm và nói cho cụ Hương biết tin thật về bác sĩ Trần Lữ Ỵ. Nghe xong, cụ Hương nắm lấy tay nhà tôi mà chẳng nói gì. Hai giòng nước mắt từ từ lăn trên má cụ.

Mặc dầu sức khỏe cụ Hương lúc đó đã sa sút nhiều, đi đứng khó khăn, dầu chỉ vài bước cũng cần cây gậy. Bên cạnh giường ngủ có gắn một cái chuông điện, trên bàn luôn có một cái chuông nhỏ để khi cần người nhà, cụ lắc bằng tay. Nhà tôi thán phục cụ có trí nhớ đặc biệt. Cụ có thể nhớ nguyên văn câu nói của từng người, ngày tháng, giờ giấc của sự kiện đã xảy ra. Cụ không quên từng chi tiết nhỏ. Có lần cụ chia xẻ với nhà tôi rằng:

- Chú nghĩ người làm chính trị phải có giáo dục và đạo đức. Khi tham chính tất nhiên chú chấp nhận có phe đối lập, nhưng dầu khác lập trường, chú vẫn luôn luôn tôn trọng họ. Có một dân biểu trẻ tên là (xin giấu tên), trong một buổi họp quốc hội, đã đứng lên đập bàn, chỉ vào mặt chú nói những lời vô lễ (xin không ghi lại câu vô lễ nầy)... Vì dân biểu nầy đáng con chú. Chú buồn và tiếc cho người làm dân biểu mà không biết đến chữ "lễ", không tỏ ra có tư cách của người học thức, chớ không buồn về lập trường đối lập của họ.

Một hôm đến thăm cụ, nhà tôi thố lộ với cụ rằng "sớm muộn gì con cũng phải ra đi". Chuyện ra đi không biết khi nào mới thành công, nhưng không bao giờ con bỏ ý định đó. Chẳng phải vì miếng cơm manh áo, hay sự cực khổ mà phải bỏ quê hương. Nhưng vì cuộc sống lúc nào cũng thấy bị đe dọa, thiếu an toàn, ngủ một đêm thức dậy có thể bị bắt vì bất cứ một lý do viển vông nào. Nghe nhà tôi nói, cụ Hương trầm ngâm một hồi lâu mà không nói gì. Mãi một lúc sau, cụ thở dài chép miệng:

- Có lẽ chú làm không đúng khi ra lịnh ngăn người ta ra khỏi nước trong những ngày hỗn loạn.

Lúc nhà tôi từ giã cụ ra về, cụ ôm hôn nhà tôi và nói:

- Chú gặp con muộn quá!

Vào tháng 4 - 1981, tôi đạp xe đưa nhà tôi đi vượt biên lần thứ 13. Trước khi đi, nhà tôi có đến thăm cụ lần cuối. Biết cụ rất buồn, nhưng cụ giấu kín tình cảm để người đi bớt vướng víu. Một tháng sau đó, tôi cũng rời Việt Nam đi Mỹ theo diện đoàn tụ gia đình do anh chị tôi bảo lãnh. Một ngày trước khi đi, tôi đạp xe trở lại đường Phan Thanh Giản, đứng một mình bên chiếc cổng sắt. Giữa một niềm vui khi sắp sửa thoát khỏi cảnh đời vô vọng, tăm tối, và một nỗi buồn khi biết rằng mình sẽ mất bao nhiêu gắn bó thân thuộc khi lìa khỏi nơi đây. Cụ Hương vẫn là hình ảnh làm cho lòng tôi se thắt, là một cánh sen nổi trên dòng nước đang giao động của tâm hồn tôi.

Dưới đây là hai mẩu chuyện được nhắc lại như một giai thoại. Hồi tháng 4 năm 1954, khi có sự vụ lịnh của thủ tướng Ngô Ðình Diệm bổ nhiệm cụ Hương làm đô trưởng Sàigòn - Chợlớn, thì cụ đi làm việc hàng ngày bằng chiếc xe đạp Alcyon. Khi vô tòa đô chính nhận việc, người lính gác cổng chận lại và không cho cụ vô. Cụ phải nói thật "Tôi là Ðô Trưởng" họ cũng không tin. Cụ phải trình sự vụ lịnh mới được bổ nhiệm, người lính mới hoảng hồn, định chắp tay lạy cụ, nhưng cụ từ tốn, an ủi mấy câu, rồi dẫn xe đạp vô làm việc. Khi cụ ra Vũng Tàu nghỉ dưỡng bịnh (1964), hàng tháng chính phủ trả phủ cấp thêm 10.000 đồng, nhưng cụ từ chối, gởi trả lại công quỹ, vì cụ nói "không có chuyện gì cần phải xài."

Nhắc lại về thái độ của cụ Trần Văn Hương trong những ngày đen tối của đất nước chúng tôi thấy có hai sự kiện đáng ghi nhớ:

Cuốn hồi ký "Saigon et moi" của cựu đại sứ Pháp tại Việt Nam, ông Mérillon kể lại: "Mãi tới tối 18 - 4 - 1975, đại sứ Hoa Kỳ Martin mới cho ông (Mérillon) hay rằng Hoa Kỳ sẽ buông VN." Ðại sứ Martin nói:

- Từ giờ phút này nước Pháp sẽ đảm nhận vai trò tái lập hòa bình cho VN.

Mérillon chuyển lời nói nầy cho Phó Tổng Thống Trần Văn Hương. Ông Hương nói:

- Ông Ðại sứ à! Tui đâu có ngán Việt Cộng. Nó muốn đánh, tui đánh tới cùng. Tui không muốn lưu vong xứ người. Nếu trời hại nước tui, tui xin thề ở lại và mất theo nước này.

Ðến ngày mất nước, đại sứ Martin còn đến gặp cụ Hương và nói:

- Ngài đi với tôi sang Mỹ Chánh phủ Mỹ sẽ nuôi dưỡng Ngài suốt đời, tôi nhân danh chánh phủ Hoa Kỳ đến mời Tổng Thống ra khỏi nước với bất cứ phương tiện nào mà ngài muốn. Chánh phủ chúng tôi cam kết bảo đảm cho Ngài một đời sống xứng đáng với cương vị tổng thống cho tới ngày Tổng Thống mãn phần.

Cụ Trần Văn Hương mỉm cười, trả lời (tiếng Pháp):

- Thưa ngài đại sứ, tôi biết tình trạng hiện nay rất là nguy hiểm. Ðã đến nỗi như vậy, Mỹ cũng có phần trách nhiệm trong đó. Nay ông Ðại Sứ đến mời tôi ly hương, tôi rất cảm ơn ông Ðại sứ. Nhưng tôi đãsuy nghĩ kỹ và quyết định dứt khoát ở lại nước tôi. Tôi cũng dư biết rằng CS vào được Saigon, thì bao nhiêu đau khổ, nhục nhã sẽ trút xuống đầu dân chúng miền Nam. Tôi là người lãnh đạo đứng hàng đầu của họ, tôi tình nguyện ở lại chia xẻ một phần nào niềm đau đớn tủi nhục, nỗi thống khổ của người dân mất nước. Cám ơn ông Ðại Sứ đã đến thăm tôi.

Tới đây, tôi lại nhớ đến liêm sỉ và tiết tháo của một người lãnh đạo Cam Bốt, một nước láng giềng mà dân ta thường hay có thái độ coi thường. Ðó là ông hoàng Sirik Matak, Phó Thủ Tướng Cam Bốt. Cũng tháng 4 định mệnh ấy (1975) khi quân Khmer đỏ sắp tràn ngập Phnom Penh, Ðại Sứ Mỹ tại đây là John Gunther Dean đến mời hoàng thân Sirik Matak lưu vong qua Mỹ. ông Sirik Matak từ chối và trả lời bằng thư sau:

"Thưa Ngài và bạn thân (Excellence et Cher Ami)

Tôi rất thành thật cám ơn Ngài về cái thơ và đề nghị giúp đỡ của Ngài đưa chúng tôi đến nơi tự do, nhưng tôi không thể ra đi một cách hèn nhát như thế.

Về phần Ngài và quốc gia to lớn của Ngài, tôi không bao giờ ngờ rằng Ngài sẽ bỏ rơi một dân tộc đãchọn tự dọ. Quý Ngài đã từ chối bảo vệ chúng tôi, chúng tôi không làm sao được. Ngài ra đi và tôi chúc cho Ngài và quốc gia của Ngài tìm được hạnh phúc dưới bầu trời của quý ngài.

Nếu tôi chết ở đây trong nước tôi mà tôi yêu, thì thôi mặc, bởi vì tất cả chúng ta đã được sanh ra để rồi một ngày nào đó thì chết. Tôi chỉ có làm một lỗi lầm là đa ? nơi Ngài và tin nơi những người Hoa Kỳ

Xin Ngài và bạn thân, nhận nơi đây những cảm tình trung thực và thân ái của tôi.

Sirik Matak,

Theo lời người dịch, thư này sau mấy năm, có lần được đọc trong một phiên họp Quốc hội Hoa Kỳ, và được lưu giữ trong văn khố Quốc Hộị (Trích bài biết của BS Nguyễn Lưu Viên, tập san Y Tế số III, tháng 3 năm 1998).

Hứa Hoành

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

Tướng lãnh Trung Quốc là mối đe dọa

Ngô Nhân Dụng

Trung Quốc đã chịu lùi một bước, trước mặt 10 bộ trưởng quốc phòng Asean và 6 nước khác ở Hà Nội. Robert Gates, bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ nhắc lại những lời Ngoại Trưởng Hillary Clinton đã nói hồi Tháng Bẩy vừa qua, cũng tại thủ đô Việt Nam.

Lần này ông Gates nói mạnh hơn, cứng rắn hơn. Hồi Tháng Bẩy, các viên chức chính phủ và báo nhà nước ở Trung Quốc phản đối mạnh mẽ những ý kiến của bà Clinton. Nhưng Trung Quốc phải đáp lễ một cách ôn hòa.

Quan điểm của Mỹ được ông Gates nhắc lại rất rõ ràng: “Hoa Kỳ luôn luôn sử dụng quyền (tự do lưu thông đường biển) của mình và bảo vệ quyền của các nước khác được thông thương và hoạt động trong hải phận quốc tế. Ðiều đó không thay đổi, cũng như sẽ không thay đổi các cam kết của chúng tôi về những hoạt động chung với các đồng minh và những nước cộng tác.” Những lời này, tuy không nói đến tên Trung Quốc, nhưng phản bác tất cả những điều mà Bắc Kinh đã nêu lên để chỉ trích bà Clinton, khi họ nói Mỹ là người ngoại cuộc muốn xen vào chuyện nội bộ của Á Châu. Robert Gates đã phát biểu trước mặt bộ trưởng quốc phòng các nước Ðông Nam Á và các quốc gia khác gồm Nga, Nhật Bản, Ấn Ðộ, Nam Hàn, và Lương Quang Liệt, bộ trưởng Quốc Phòng Trung Quốc. Ngay sau đó, Lương Quang Liệt đã ngỏ lời mời Gates sang thăm Bắc Kinh vào năm tới. Ðầu năm 2010, Bắc Kinh đã bãi bỏ một cuộc thăm viếng của Gates và ngưng mọi liên lạc về quốc phòng với Mỹ, để phản đối việc Mỹ bán hơn 6 tỷ đô la vũ khí tối tân cho Ðài Loan.

Bắc Kinh đã chịu thua trong cuộc đấu ngoại giao này, vì họ nhìn thấy các nước Ðông Nam Á đang phản ứng bất lợi vì mối lo sợ về mối đe dọa của nước cộng sản Trung Hoa. Từ khi Ðặng Tiểu Bình quyết định cải tổ kinh tế năm 1978, ông vẫn chủ trương thân thiện với ngoại bang, đặc biệt là các nước Á Ðông. Trung Quốc đã thành công khi ký được hiệp ước thương mại tự do với khối ASEAN, nhận tiền đầu tư từ Ðài Loan, Nhật Bản và Nam Hàn. Năm nay, tất cả các nước Ðông Nam Á đã đổi thái độ khi Bắc Kinh tuyên bố Nam Hải thuộc loại “quyền lợi cốt lõi” của họ - ngang tầm quan trọng với Ðài Loan và Tây Tạng. Nghĩa là coi vùng biển Ðông của nước ta cũng thuộc lãnh thổ của họ, mặc dù có nhiều quốc gia khác còn đang tranh tụng về chủ quyền trên các hòn đảo. Trong vùng quần đảo Trường Sa, có 29 đảo do Việt Nam, 8 đảo do Phi Luật Tân và 3 đảo do Mã Lai Á chiếm, nhiều đảo đủ lớn có thể xây phi trường; và Ðài Loan chiếm đảo Itu Aba lớn nhất, mặc dù Trung Quốc chỉ chiếm đóng 9 hòn đảo nhỏ nhưng họ lại biểu diễn lực lượng hải quân rất xa với khả năng đe dọa đánh đuổi các nước khác. Lời tuyên bố về “hạch tâm quyền lợi” trên không những làm các nước Ðông Nam Á phải lo đề phòng mà cả Nhật Bản, Nam Hàn, Úc, Mỹ đều coi là một mối đe dọa đối với con đường biển quốc tế này. Chính vì vậy, khi chính quyền Barack Obama bắt đầu tỏ ý bảo vệ quyền thông thương này, các nước Ðông Á đều hoan nghênh.

Trước thái độ và phản ứng của khối ASEAN, đáng lẽ chính phủ Trung Quốc phải trấn an, tỏ ra mềm dẻo hơn để trấn an họ; nhưng Bắc Kinh đã làm ngược lại. Một biến cố khiến tất cả khối Ðông Nam Á thêm lo sợ về thái độ hung hăng của Bắc Kinh, là phản ứng dữ dội của họ sau khi Nhật Bản bắt một thuyền trưởng Trung Hoa vì tầu của ông này đâm vào hai tầu tuần duyên của Nhật, trong vùng đảo Sensaku mà người Trung Hoa gọi là Ðiếu Ngư Ðài, ngày 7 Tháng Chín. Năm 1978, Ðặng Tiểu Bình đã nói: “Hy vọng thế hệ tương lai sẽ khôn ngoan hơn chúng tôi để giải quyết vấn đề này.” Thế hệ Ôn Gia Bảo cũng chưa biết giải quyết vấn đề đảo Ðiếu Ngư ra sao nhưng nhân cơ hội này chứng tỏ họ rất cứng rắn. Ðây là một hòn đảo Nhật chiếm của Trung Quốc năm 1895 cùng lúc chiếm Ðài Loan. Năm 1945, Mỹ đã chiếm đóng sau khi đánh bại Nhật. Mỹ trả lại cho Nhật cùng với Okinawa, thay vì trả cho Ðài Loan, cho nên sinh tranh chấp. Trung Quốc đã ngưng mọi tiếp xúc ngoại giao, bãi bỏ cấp visa cho 1,000 sinh viên Nhật thăm Hội Chợ Thượng Hải, không bán một số kim loại hiếm cần cho kỹ nghệ điện tử. Nhật Bản lo nhất là Bắc Kinh có thể nhân ngày kỷ niệm Sự Biến Lư Cầu Kiểu, 18 tháng 9 năm 1931, khi quân Nhật khiêu khích để tiến đánh chiếm Mãn Châu, thanh niên Trung Quốc sẽ biểu tình chống Nhật khơi lại mối hận thù!

Sau khi Nhật Bản chịu nhường, trả tự do cho viên thuyền trưởng Trung Hoa, một hậu quả bất ngờ là cuộc tranh chấp tay ba ở đảo Sensaku trở thành rắc rối hơn. Chính phủ Mỹ bỗng phải xác nhận rằng hiệp ước an ninh Mỹ Nhật bao gồm cả hòn đảo này, một điều trước đây vẫn để cho mập mờ ai muốn hiểu sao cũng được. Một hậu quả khác là vì Trung Quốc ngưng bán một số nguyên liệu cho Nhật để làm áp lực trong vụ Ðiếu Ngư Ðài, các công ty Nhật Bản lo đi đặt mua ở nước khác. Các nước Ðông Á bỗng nhiên cảm thấy mối đe dọa của Trung Quốc tăng cường độ, hậu quả là họ sẽ phải thân thiết với Mỹ hơn!

Có thể nói Bắc Kinh rất vụng về, dại dột trong vụ Sensaku, làm cho các nước Á Ðông lo ngại và đề phòng. Rồi sau đó, Bắc Kinh lại tỏ ra rất nhún nhường, hòa hoãn với Mỹ và trấn an các nước khác trong cuộc gặp gỡ tại Hà Nội vào ngày hôm qua; khi Tướng Lương Quang Liệt nói rõ chính sách quốc phòng của Trung Quốc chỉ có tính chất phòng thủ, họ không nhắm thách thức hoặc đe dọa ai, và muốn tăng cường niềm tin cẩn của các nước khác. Từ Ðiếu Ngư Ðài, tới hội nghị ASEAN, ta thấy chính sách ngoại giao của Trung Quốc có vẻ lúng túng, không nhất quán.

Nhưng cũng có thể nhìn theo cách khác để thấy là thật ra không phải giới lãnh đạo Trung Quốc đã dại dột, vụng về. Một lý do gây ra tình trạng lúc cứng quá, lúc mềm quá trên đây là vì trong nội bộ đảng cộng sản Trung Quốc đang có những tranh chấp ngấm ngầm. Phe quân đội trong chính quyền cộng sản đang tìm cách lấn áp phe dân sự, ngay cả trong diễn trình quyết định các vấn đề ngoại giao. Chính giới lãnh đạo quân sự ở Trung Quốc đang muốn tạo ra mối đe dọa cho các nước chung quanh, tác động trên tinh thần ái quốc của người dân, để gia tăng uy quyền của họ trong nội bộ, so với phe dân sự. Ðây là một thủ đoạn để các tướng lãnh tăng thêm ảnh hưởng, chuẩn bị cho việc sắp xếp các vai trò chủ chốt trong đảng Cộng Sản trong kỳ đại hội đảng vào năm 2012 sắp tới.

Trong thời gian gần đây, giới tướng lãnh Trung Quốc xuất hiện rất nhiều trên các diễn đàn quốc tế, được báo chí nhắc nhở đến luôn luôn; vì họ lúc nào cũng có luận điệu rất diều hâu, nhân danh “quyền lợi dân tộc.” Ngày 24 Tháng Chín vừa qua, tại một hội nghị ở Singapore, khi một cựu nhân viên ngoại giao Nhật, ông Hitoshi Tanaka báo tin chính phủ Nhật sắp trả tự do cho viên thuyền trưởng trong vụ Ðiếu Ngư Ðài, trong khi các người tham dự đều vỗ tay, thì một vị tướng Tầu bày tỏ một thái độ thù hằn và đe dọa, sau khi cựu Ngoại Trưởng Ðường Gia Toàn tỏ thái độ ôn hòa. Tướng Chu Thành Hổ (Zhu Chenghu) giám đốc Nghiên cứu Chiến lược thuộc Ðại học Quốc phòng ở Bắc Kinh, đã đứng lên cảnh cáo chính phủ Nhật rằng đừng tưởng chỉ tuyên bố như vậy là đủ để xây dựng mối bang giao tốt đẹp giữa hai nước. Hành động của Tướng Chu Thành Hồ làm nhiều người ngạc nhiên, nhưng đó không phải là lần đầu tiên. Vào Tháng Năm vừa qua, khi tiếp đón một phái đoàn viên chức ngoại giao Mỹ, Phó Ðề Ðốc Quan Hữu Phi (Guan Youfei, người Trung Quốc gọi là thiếu tướng Hải Quân) đã lớn tiếng cảnh cáo nước Mỹ đang có hành động bá quyền và coi Trung Quốc là thù địch; câu nói của ông khiến các nhà ngoại giao Trung Quốc có mặt đều bối rối. Ông Quan Hữu Phi cũng có mặt trong phái đoàn Trung Quốc tại hội nghị tại Hà Nội tuần này. Vào Tháng Sáu, Tướng Chu Thành Hồ cùng tướng Mã Hiểu Thiên (Ma Xiaotian), phó tổng tham mưu quân đội Trung Quốc là những người đứng lên chỉ trích ông Robert Gates tại một hội nghị ở Singapore, về vụ Mỹ bán máy bay và hỏa tiễn cho Ðài Loan. Ông Chu Thành Hồ đã từng bị cấp trên phê bình nặng vào năm 2005, sau khi ông tuyên bố với nhà báo rằng bom nguyên tử của Trung Quốc có khả năng tiêu diệt hàng trăm thành phố ở Mỹ, nếu Mỹ can thiệp vào việc giải phóng Ðài Loan! Nhưng tới nay, ông vẫn tiếp tục xuất hiện trong các diễn đàn quốc tế, khiến các nhà ngoại giao dân sự Trung Quốc phải bối rối, không biết ai là người quyết định chính sách ngoại giao.

Trên các diễn đàn quốc nội, các vị tướng lãnh Trung Quốc còn mạnh miệng hơn nữa. Tướng Trương Triệu Ngân (Zhang Zhaoyin), viết trong nhật báo Quân Ðội Nhân Dân là Trung Quốc phải từ bỏ chủ trương lỗi thời là xây dựng một quân lực cho thời bình. Ông nói, nhiệm vụ chủ yếu của quân đội là “chuẩn bị chiến tranh, chiến đấu và thắng trận.” Ông là phó tư lệnh khu quân sự Thành Ðô, tỉnh Tứ Xuyên. Trung Tướng Kim Nhất Nam (Jin Yinan), phó giám đốc Nghiên Cứu Chiến Lược trong Ðại Học Quốc Phòng đã nêu lên chủ trương là Trung Quốc phải là một quốc gia vĩ đại, và “khi một quốc gia và một dân tộc bước vào một giai đoạn khẩn trương, quân đội luôn luôn đóng vai trò chủ yếu” để đạt được mục tiêu của mình. Một giáo sư khác tại Ðại Học Quốc Phòng là Phó Ðề Ðốc Dương Nghị (Yang Yi), ông từng viết: “Một quân đội hùng mạnh là điều quan trọng nhất để bảo vệ quyền lợi quốc gia... Hải Quân Trung Quốc là lực lượng mạnh nhất để ngăn không cho các nước khác xâm phạm quyền lợi hàng hải của Trung Quốc.” Ông Dương Nghị cũng cảnh cáo các nước khác, không nêu rõ tên, là họ không nên lầm tưởng rằng Trung Quốc sẽ không dám dùng vũ lực chỉ vì muốn phát triển kinh tế một cách hòa bình. Ông nói hiểu lầm như vậy là rất nguy hiểm! Ông cũng từng nói Nhật Bản và Nga không có khả năng nhưng nước Mỹ là nước duy nhất đe dọa an ninh của Trung Quốc.

Một luận điệu đáng sợ nhất của giới tướng lãnh Trung Quốc là quan niệm về “biên cương quyền lợi quốc gia” mà một nhà bình luận trên nhật báo Quân Ðội Nhân Dân ở Bắc Kinh nêu lên. Ông Hoàng Côn Luân (Huang Kunlun) đã viết rằng quyền lợi của Trung Quốc vượt ra ngoài lãnh thổ, hải phận của họ, mà phải bao gồm cả những vùng biển mà tầu thủy Trung Quốc lưu thông, cũng như trong không gian. “Với sứ mạng lịch sử của chúng ta, quân đội Trung Quốc không những phải bảo vệ lãnh thổ mà còn phải bảo vệ ‘biên cương quyền lợi’ của nước mình.” Nói như vậy là bành trướng nhiệm vụ và phạm vi hoạt động của quân đội Trung Quốc lên gấp bội, không khác gì ông Robert Gates nói về nhiệm vụ của quân đội Mỹ! Chính quan niệm “biên cương quyền lợi” này đưa tới việc coi Biển Ðông của Việt Nam là vùng quyền lợi cốt lõi của người Trung Hoa.

Với những vị tướng hay lớn tiếng như trên, giới quân sự Trung Hoa đang lấn quyền các người lãnh đạo dân sự. Không những họ thường xuất hiện trên hệ thống truyền thông của nhà nước, mà họ còn viết sách bán rất chạy, khi bàn về các vấn đề quyền lợi quốc gia! Hiện nay trong guồng máy quyền lực Trung Quốc, bộ phận nắm quyền rất lớn là Quân Ủy Trung Ương. Mà trong số 11 người thuộc hội đồng này chỉ có một người dân sự là Chủ Tịch Hồ Cẩm Ðào. Trong tuần này, ông Tập Cận Ðình sẽ được bầu làm phó chủ tịch quân ủy, để chuẩn bị cho ông thay thế Hồ Cẩm Ðào vào năm 2012. Giới lãnh đạo dân sự mải lo các vấn đề kinh tế, xã hội, cho nên không đủ thời giờ và mưu trí mà đặt giới quân nhân vào khuôn khổ, như giới tướng lãnh Mỹ vẫn phải nằm dưới sự chỉ huy của các nhà lãnh đạo chính trị dân sự.

Cho nên, mối đe dọa lớn nhất đối với vùng Ðông Nam Á không phải là tất cả guồng máy chính trị của đảng cộng sản Trung Quốc mà chính là giới tướng lãnh của nước này. Theo nhật báo Wall Street, trong Tháng Chín năm 2010, chính các tướng lãnh Trung Quốc đã yêu cầu giới lãnh đạo phải điều động hải quân để đe dọa Nhật Bản trong vụ Ðiếu Ngư Ðài, và họ cũng đề nghị Bắc Kinh hãy đẩy đồng Yen của Nhật lên cao để ảnh hưởng trên việc xuất cảng của Nhật. Khi Bắc Kinh đứng ra mua mấy tỷ công trái của chính phủ Nhật, đồng Yen đã lên giá, sau đó bộ trưởng Tài Chánh Nhật phải chính chức đặt câu hỏi Trung Quốc có ý đồ gì khi đem đô la mua Yen, cho nước Nhật vay nợ một cách hào phóng như vậy? Lập tức, chính phủ Nhật đã in thêm đồng Yen để đi mua đô la Mỹ, giảm giá đồng tiền của họ xuống!

Nếu các tướng lãnh gây được ảnh hưởng trên chính sách ngoại giao của Bắc Kinh, thì đó là một mốt đe dọa cho cả vùng Châu Á. Họ có thể thay đổi đường lối ngoại giao từ hòa hoãn sang gây hấn; đặc biệt là đối với một nước nhỏ lân bang như Việt Nam thì từ gây hấn có thể chuyển tới hành động xâm lăng!

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Post by TheLang »

Trung Hoa khiến Hoa Kỳ mạnh hơn ở Á Châu

Walter Russell Mead
LTS: Tòa soạn nhật báo Người Việt trân trọng giới thiệu với quý độc giả bài viết sau đây của Walter Russell Mead, một thành viên của Council on Foreign Relations và là tác giả quyển sách mới đây nhất nhan đề God and Gold: Britain, America, and the Making of the Modern World.

Phải chăng Trung Hoa là yếu tố làm lợi cho sức mạnh của Hoa Kỳ?

Những hành động vụng về mới đây nhất của Trung Hoa tại Á Châu - cứ xúc tiến việc bán lò phản ứng nguyên tử cho Pakistan đang bị lộn xộn và đe dọa một cách thô bạo Nhật Bản về việc một thuyền trưởng Trung Hoa bị bắt - hiện đang làm cho khối các nước đồng minh của Hoa Kỳ tại Á Châu thêm đoàn kết nhau.
Image
Phó Thủ Tướng Trung Hoa Wang Qishan (phải) tìm cách bắt tay Bộ Trưởng Ngân Khố Hoa Kỳ Timothy Geithner (phải)
ngay trước mặt Ngoại Trưởng Mỹ Hillary Clinton (giữa) tại Nhân Dân Ðại Sảnh ở Bắc Kinh, ngày 24 tháng 5, 2010. (Hình: Saul Loeb/AFP/Getty Images)



Tân chính phủ Nhật Bản lên cầm quyền với hy vọng làm cân bằng lại chính sách ngoại giao và giảm căng thẳng với Trung Hoa, nhưng giấc mơ đó giờ đây đã tàn lụi. Và mối quan hệ sâu đậm của Trung Hoa với Pakistan phần nào nhằm phản ứng lại việc Hoa Kỳ mở cửa chính sách hạt nhân đối với Ấn Ðộ hiện đang xô đẩy cường quốc nguyên tử đang lên này tại Á Châu ngãvào gần hơn bao giờ hết trong vòng tay của Hoa Kỳ (và Nhật Bản). Nam Hàn có lần giữ lập trường hòa bình với Trung Hoa, nay đã quay trở về lại với Hoa Kỳ tiếp theo sau vụ Trung Hoa ủng hộ Bình Nhưỡng trong vụ Bắc Hàn bị tố là đánh chìm một tàu hải quân của Nam Hàn.

Trong tất cả mọi biến chuyển này có một chủ đề rõ ràng nổi lên. Hoa Kỳ không phải đang kiềm chế Trung Hoa. Trung Hoa tự mình kiềm chế lấy mình. Vì nền kinh tế của Trung Hoa tăng trưởng và khả năng quân sự của Trung Hoa phát triển, họ đang tìm các phương thế để biến tiềm năng đó trở thành sức mạnh thật sự qua các diễn biến nói trên. Trong quá khứ, Trung Hoa từng cố lôi kéo các lân bang vào quỹ đạo của họ bằng các viên kẹo ngọt như giao thương và viện trợ.

Nhưng rõ ràng là các biện pháp này bị một thế hệ mới các nhà hoạch định chính sách của Trung Hoa coi là không đem lại kết quả thỏa đáng. Họ vẫn nghĩ rằng Trung Hoa là một cường quốc lớn quá không thể cứ phải tử tế mãi với mọi người được. Vì thế, họ xác định những đòi hỏi về lãnh thổ của họ ngày càng mạnh bạo hơn, và đã thổi phồng các cuộc tranh chấp với Nhật Bản ra ngoài khuôn khổ.

Chính sách của Trung Hoa ngày nay dường như muốn đi theo vết xe đổ của Ðức Hoàng Wilhelm. [Ðức Hoàng Wilhelm II, vị vua cuối cùng của Ðức và cũng là quốc vương Phổ, từng vụng về dọa nạt và gây hấn với các nước Âu Châu để bành trướng thế lực khiến cho phần lớn các nước này theo về với Liên Minh Tay Ba (Triple Alliance) gồm Pháp, Nga và Anh để chống lại Wilhelm II và các nước chư hầu trong Thế Chiến Thứ Nhất, dẫn đến sự bại trận của Ðức và cuộc thoái vị của Ðức Hoàng Wilhelm II ngày 18 tháng 11, năm 1918]. Các áp lực của Trung Hoa đang xô đẩy những nước như Ấn Ðộ, Nhật Bản, Nam Hàn, Việt Nam. Singapore, Mã Lai Á, Indonesia và Úc về phía cộng tác mật thiết hơn với Hoa Kỳ. Các đồng minh trong vùng của Trung Hoa thì lại suy yếu đi và gặp nhiều khó khăn hơn: Bắc Hàn, Myanmar, Pakistan.

Tệ hại nhất là theo quan điểm của Trung Hoa thì còn cần phải rất nhiều năm nữa người ta mới có thể thấy chính sách hiện nay của Trung Hoa là tệ hại. Hai mươi năm ra sức kiên nhẫn nỗ lực dụ dỗ các lân quốc đứng nhìn sự trỗi dậy một cách hòa bình của Trung Hoa bỗng dưng bị phung phí vì sáu tuần lễ ngoại giao gây hấn của họ. Cũng giống y như sự bắt nạt của Liên Xô đã từ từ làm gia tăng sức mạnh của khối đồng minh NATO nhờ nhắc nhở dân chúng Âu Châu rằng họ hết sức cần được Hoa Kỳ bảo vệ, vì thế ngày nay Trung Hoa đang vô tình làm cho các đồng minh tại Thái Bình Dương của Hoa Kỳ đoàn kết lại mà Hoa Kỳ khỏi cần phải tổn hao gì cả.

Về phương diện cá nhân, tôi không cảm thấy hả hê về điều này. Mục tiêu của Hoa Kỳ tại Á Châu không phải là để chiến thắng về ngoại giao - hoặc lạy trời xin đừng - hay trong một cuộc đụng độ quân sự với Trung Hoa. Mục tiêu dài hạn của chúng ta vẫn là phát triển một loại hệ thống quốc tế bền vững nào đó tại Á Châu từ đó tạo ra hòa bình và thịnh vượng lâu dài mà Liên Hiệp Âu Châu (dù phạm nhiều sai lầm) đã mang lại cho Âu Châu. Lợi ích của Hoa Kỳ sẽ được phục vụ khi nào và nếu như Trung Hoa thôi không lấy thịt đè người trong nỗ lực tranh ngôi bá chủ theo kiểu Wilhelmine Weltmacht (Thời Ðại Wilhem Cường Quốc Thế Giới) và nghiêm chỉnh cung hiến sức mạnh và sự phồn thịnh của họ cho việc xây dựng một mô hình Á Châu hòa bình với sự che chở thích nghi cho các lân bang của họ. Sự trỗi dậy của một nền dân chủ hòa bình ở Ðức cộng thêm với sự có mặt của Hoa Kỳ và tư cách thành viên của Ðức trong Khối NATO và khối Liên Âu đã giúp các nước Âu Châu khác thoát ra khỏi nỗi lo sợ các lân bang gốc Teutonic [thuộc gốc Germanic] của họ.

Ðối với nhiều vấn đề của khối Liên Âu, nước Ðức ngày nay thực sự tạo ảnh hưởng và có an ninh hơn là dưới thời các Ðức hoàng từng biết tới. Người ta chỉ hy vọng rằng Trung Hoa có thể học hỏi được những kinh nghiệm này mà không phải lặp lại sự đau khổ vô cùng mà Ðức quốc vừa gây ra mà cũng vừa hứng chịu trong thế kỷ thứ 20 cho tới khi Konrad Adenauer (mà theo quan điểm của tôi ông là chính khách vĩ đại nhất của thiên niên kỷ) cuối cùng đưa đất nước vào đúng con đường đi tới hòa bình và tự trọng.


Những bài học cho cường quốc Mỹ

Những diễn tiến này tại Á Châu nói lên một sự thật quan trọng về vai trò của Hoa Kỳ trên thế giới: các nền tảng nâng đỡ sức mạnh của chúng ta mạnh mẽ hơn những gì mà người trong nước và ở hải ngoại hiểu được.

Chúng ta đã từng dành ra cả thập niên để tự tạo nên sức mạnh của Hoa Kỳ. Thứ nhất, vụ 9/11 được nhiều người cho là một cú đánh chí tử vào cứ điểm của sức mạnh Hoa Kỳ, và sự sụp dổ của Tòa Nhà Thương Mại Thế Giới được coi là khởi đầu cuộc suy sụp trong tư thế chế ngự kinh tế và chính trị thế giới của Hoa Kỳ. Rồi tính cách không được lòng dân trong chính sách đối ngoại thời chính quyền Bush đã làm các bạn hữu chúng ta xa lánh. Ðặc biệt trong thế giới Ả Rập, chúng ta bị ghét nhiều tới nỗi ngay cả các nước thân hữu cũng không thể làm việc với chúng ta được. Rồi chúng ta lại thua cuộc chiến tranh ở Iraq, và các nhà phân tích cùng các chính trị gia hàng đầu (hầu hết đã ủng hộ cuộc chiến Iraq lúc ban đầu) kêu gọi hãy coi chuyện rút lui nhục nhã là giải pháp tốt nhất, và thật ra đó cũng là chiến lược khả dĩ duy nhất. Sau vụ này là sự đổ vỡ của thị trường chứng khoán và tình trạng suy sụp tài chánh hồi năm 2008, và mô thức tư bản không nương tay của Anh-Mỹ được người ta cho là đã thất bại nghiêm trọng. Sau đó là sự trỗi dậy của Trung Hoa, siêu cường mới nóng hổi tại Ðông phương đang là chủ nợ của chúng ta và vì thế họ sở hữu chúng ta - và điều này đã lùa các nước Á Châu vào thành một khối kinh tế và chính trị mới có khả năng đẩy chúng ta ra ngoài rìa.

Nhưng đây chi là trò bát nháo và nhảm nhí. Hoa Kỳ quả có lầm lẫn trong chính sách ngoại giao và có thể đã gây thiệt hại cho cả chúng ta lẫn cho các nước khác, nhưng sức mạnh của Hoa Kỳ bền bỉ hơn là những gì người ta nhìn thấy bên ngoài. Sức mạnh của Hoa Kỳ không phải là vĩnh cửu, và trật tự chính trị thế giới không phải là không thay đổi, nhưng các lực lượng mạnh mẽ và tiềm ẩn trong vấn đề ngoại giao đã đưa Hoa Kỳ tới vị thế hiện nay là tạo ảnh hưởng và sức mạnh; những lực lượng như thế không phải chỉ một sớm, một chiều là có thể biến mất đi. La Mã cũng không thể nào bốc cháy trong một ngày được.

Một loạt những biến chuyển mới nhất tại Á Châu đưa tới cho chúng ta một trường hợp bài bản cho thấy nền tảng sức mạnh của Hoa Kỳ tại Á Châu thực sự mạnh mẽ biết bao. Trung Hoa càng trỗi dậy, thì các nước Á Châu càng tập hợp về phía Hoa Kỳ. Chúng ta là sức mạnh tạo cân bằng tại Á Châu; chúng ta không có khả năng mà cũng không có ước muốn chinh phục bất cứ quốc gia Á Châu nào hoặc đánh tan bất cứ nước nào. Chúng ta không ủng hộ bất cứ sự thay đổi biên giới nào, nhưng chúng ta đang ủng hộ một hệ thống kinh tế dẫn tơi sự thịnh vượng lớn lao nhất từ trước tới nay. Ðây là thời đại hoàng kim của Á Châu, và chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ giúp duy trì tình thế đó.

Hồi thời Chiến Tranh Lạnh, nhiều chính phủ Á Châu tập họp về phía Hoa Kỳ vì họ sợ cuộc cách mạng cộng sản và sự đô hộ của Liên Xô. Trong khoảng thờ gian giữa lúc Liên Xô sụp đổ và việc Trung Hoa trỗi lên hạng cường quốc hàng đầu của thế giới, nhiều quốc gia đã không mấy hứng thú khi có quan hệ với Hoa Kỳ. Các nước như Nhật Bản, Nam Hàn, và ngay cả Úc bắt đầu suy nghĩ liệu họ có thể khấm khá hơn khi nhích lại gần hơn về phìa Trung Hoa hay không. Có một số vụ tán tỉnh ngoại giao diễn ra, và thế giới ngồi lê đôi mách khởi sự nói oang oang về sự lu mờ của ảnh hưởng Hoa Kỳ tại Á Châu và sự vươn lên của Trung Hoa.

Tuy nhiên, chắc chắn là sự vươn lên của Trung Hoa làm thay đổi mọi sự. Người Trung Hoa trở nên kém thận trọng và tự chế; các lân bang của họ đâm ra lo sợ. Việc xa lánh Mỹ quốc không còn có vẻ hấp dẫn nữa. Những thói hư tật xấu của Mỹ dường như ít xấu xa hơn, ít kém cỏi hơn - trong khi, nhìn gần lại, thì những sai lầm và những thói xấu của Trung Hoa dường như càng khó chịu hơn.

Sức mạnh của Hoa Kỳ trên thế giới vừa có cả nắp chặn phía trên mà cũng vừa có đáy cùng. Nếu Hoa Kỳ trở nên quá hùng cường và thế giới nom có vẻ đơn cực quá thì các quốc gia trên thế giới bắt đầu hành động theo cách thế muốn dìm Hoa Kỳ xuống. Giả sử Trung Hoa sụp đổ và phải trải qua những năm tháng xào xáo nội bộ, bạo loạn và bất ổn, thì Ấn Ðộ, Nhật Bản và Nam Hàn có thể lợi dụng cơ hội này mà tách rời khỏi Hoa Kỳ. Khi Liên Bang Xô Viết sụp đổ, nhiều quốc gia trong Khối NATO (nhất là Ðức và Pháp) tìm cách chiếm một địa vị độc lập hơn trên thế giới.

Trong nhiệm kỳ thứ nhất của Tổng Thống George W. Bush, nhiều giới chức đã hành động điên rồ và nói những điều làm bực mình khắp thế giới. Chính quyền Bush tạo nên cảm tưởng rằng Hoa Kỳ có sức mạnh và ý chí để tái tạo toàn thể trật tự quốc tế theo ý thích của mình. Thật ra, chúng ta thiếu cả khả năng lẫn ý chí để thực hiện điều đó; ngôn ngữ của Bush làm các nước khác xa lánh và tạo nên các phản ứng tiêu cực trên khắp thế giới một phần vì nó không thu hút được mọi tiềm năng trong vai trò là một cường quốc thế giới của Hoa Kỳ.

Nhưng sức mạnh của Hoa Kỳ có cái đáy cùng cũng như là cái nắp chặn phía trên. Y như sự thất bại tại Việt Nam cuối cùng làm gia tăng mối liên hệ của chúng ta với các nước Á Châu khác thình lình bỗng sợ hãi chuyện chúng ta có thể bỏ rơi vùng này trong một cuộc rút lui toàn diện, nhưng những khó khăn mà chính quyền Bush trải qua, như nhiều nhà phê bình đã tiên đoán, đã không dẫn tới sự sụp đổ toàn diện của vị thế Hoa Kỳ trên thế giới. Một Hoa Kỳ đã tu tỉnh và còn hùng mạnh, dù ít dù nhiều, vẫn là điều mà hầu hết thế giới còn cần tới. Họ muốn một Hoa Kỳ đủ mạnh để bảo vệ cho sự thăng bằng quyền lực tại Âu Châu, Á Châu và Trung Ðông, nhưng không được hùng mạnh và tự phụ quá để họ tin là nước này có thể dùng sức mạnh đó mà tái tạo lại thế giới trong đoản kỳ.

Nhiều người Âu Châu (đặc biệt là tại Ðức và Pháp) đã nói với tôi trong nhiệm kỳ đầu của Tổng Thống Bush rằng họ hy vọng Hoa Kỳ sẽ chiến thắng tại Iraq một khi cuộc chiến đã khởi sự - nhưng họ hy vọng chiến thắng đó sẽ đến chậm và đủ đau thương để chúng ta không muốn lặp lại kinh nghiệm chiến tranh. Ðiều này, dù ít dù nhiều, đang là sự thật, và ngày nay chính những người Âu Châu được nói tới đó lại tỏ ra lo lắng hơn về chuyện Tổng Thống Obama sẽ không đủ quyết tâm dùng tới sức mạnh của Hoa Kỳ thay vì lo sợ về sự ngạo mạn và kiêu hãnh của Hoa Kỳ.

Ðối với các nhà hoạch định chính sách của Hoa Kỳ, điểm được đề cập ở đây là chúng ta phải hiểu cả sức mạnh tự nhiên lẫn cái giới hạn tự nhiên trong vị thế của Hoa Kỳ. Chúng ta muốn và cần phải hoạt động trong vùng đất chính giữa sự rút lui vô trách nhiệm và sự khẳng định mình một cách xấc xược. Nếu chúng ta làm được như vậy, chúng ta vẫn còn phải đối mặt với các khó khăn trên thế giới, nhưng đa phần là chúng ta sẽ được các nước bạn và đồng minh đứng về phía chúng ta mà đối phó với các vấn đề.

Về lâu về dài, những gì các nhà hoạch định chính sách Mỹ cần phải nhớ (và những gì tôi e rằng quá nhiều người trong hai đảng hay quên trong mấy thập niên qua) là vị thế và nền an ninh quốc tế của Hoa Kỳ cuối cùng tùy thuộc vào sức mạnh của nền kinh tế trong nước của chúng ta - và rồi theo đó thì nền kinh tế sau cùng lại tùy thuộc vào sự sinh động, việc tự trông cậy vào chính mình, và đặc tính biết xoay xở thật sự của dân chúng Mỹ. Trừ phi các định chế giáo dục, văn hóa và chính trị của chúng ta đáp ứng và ủng hộ những đặc điểm này, sức mạnh của Hoa Kỳ có thể mai một ngay chính trong cốt lõi của nó.

Thật không biết trước được liệu các hậu quả của sự thể này [các nhà hoạc định chính sách Mỹ không nghe theo các ý kiến xây dựng nêu trên] có thể trở thành tệ hại cho dân tộc Mỹ hay cho thế giới, với nền hòa bình và thịnh vượng chung phần lớn tùy thuộc thật nặng nề vào những gì chúng ta làm. Nhưng tôi không hề nghi ngờ rằng hậu quả dành cho cả Hoa Kỳ lẫn thế giới bên ngoài sẽ ảm đạm hơn rất nhiều so với những gì thế giới từng chứng kiến từ trước tới nay trong thế kỷ đáng sợ mà giờ đây đã rút lui vào hậu trường sân khấu.

(Nguồn: In the Footsteps of the Kaiser: China Boosts US Power in Asia - Chuyển Ngữ: Vann Phan)

User avatar
saohom
Posts: 2247
Joined: Wed Aug 26, 2009 11:30 pm

Post by saohom »

Image

Tôi không có kẻ thù


Dưới đây là trích lược lời phát biểu của ông Lưu Hiểu Ba, nhà hoạt động nhân quyền Trung Hoa, đồng tác giả của Hiến chương 08, phổ biến tại phiên toà ngày 23/12/2009. Tháng Hai năm nay, toà kháng cáo giữ y án tù 11 năm.Bài phát biểu ngắn này đã phản ảnh khí phách một người dân chủ tại một xứ độc tài toàn trị. Trao tặng Lưu Hiểu Ba giải Nobel Hoà Bình 2010,


Uỷ Ban Nobel Hoà Bình đã thay mặt công luận thế giới, ghi nhận tầm cỡ của một khí phách, vì ông Lưu là một biểu tượng lớn của phong trào dân chủ và nhân quyền tại Trung Hoa, nói riêng, và tại các quốc gia khác còn đang chịu đựng sự đàn áp con người, nói chung.


Tháng Sáu 1989 là bước ngoặt lớn của cả cuộc đời 50 năm của tôi. Trước kia, tôi từng là một sinh viên trong lứa đầu tiên được tuyển sinh vào trường đại học vừa mở cửa lại sau Cách Mạng Văn Hoá; đường học của tôi diễn tiến êm ả từ cấp cử nhân lên cao học rồi Tiến sĩ. Sau khi tốt nghiệp, tôi được giữ làm giảng viên trường Đại Học Bắc Kinh.

Trên bục giảng, tôi là một thầy giáo được nhiều sinh viên biết đến. Tôi cũng là một trí thức của công chúng: những năm 1980, tôi viết nhiều bài báo và sách có tiếng vang. Tôi thường đi lại nhiều nơi diễn thuyết, được mời đi thỉnh giảng tại Châu Âu và Hoa Kỳ. Tôi đòi hỏi ở mình đức chân thực, tinh thần trách nhiệm, và lòng tự trọng cả trong đời sống lẫn trong bài viết.

Sau đó, khi tôi từ Hoa Kỳ trở về, tôi tham gia phong trào sinh viên 1989, bị tù vì “tuyên truyền phản cách mạng và kích động bạo loạn”, bị tước mất vị thế tôi trân trọng; tôi bị cấm không được viết lách hay diễn thuyết tại Trung Quốc. Chỉ vì mỗi một chuyện là phát biểu quan điểm khác biệt về chính trị và tham gia các phong trào dân chủ và hoà bình, mà một thầy giáo phải xa bục giảng, người cầm bút bị cấm xuất bản, và người trí thức thì mất cơ hội nói với công chúng. Điều này đáng buồn cho cá nhân tôi đã đành, mà còn cho cả đất nước Trung Hoa sau ba thập niên đổi mới và mở cửa.

Xem nào, những trải nghiệm nặng nề nhất của tôi từ sau biến cố 4 Tháng Sáu 1989 đều dính dáng với toà án; hai dịp mà tôi có điều kiện nói với công chúng đều là tại toà án sơ thẩm Bắc Kinh, một lần vào Tháng Giêng 1991 và lần này. Tuy rằng tội danh vào mỗi dịp đều khác nhau, về thực chất cả hai đều là tội danh liên quan đến quyền tự do ngôn luận.

Đã hai mươi năm qua, những linh hồn trong trắng của biến cố 4 Tháng Sáu vẫn chưa được yên nghỉ, và tôi, một kẻ đã đi trên con đường bất đồng chính kiến vì nhiệt tâm với 4 Tháng Sáu, sau khi rời nhà tù Tần Thành năm 1991, đã bị cấm ăn nói tại chính quê hương mình, và chỉ được phép phổ biến quan điểm của mình qua truyền thông hải ngoại, vì thế bị theo dõi suốt nhiều năm qua; bị quản chế (Tháng Năm 1996 – Tháng Mười 1999), và bây giờ bị đẩy vào thế đứng kẻ thù của chế độ.

Tuy nhiên tôi muốn nói với chế độ đã tước đoạt quyền tự do của tôi, rằng tôi vẫn thuỷ chung với niềm tin của mình mà tôi từng bày tỏ hai mươi năm trước, khi tôi phát biểu tại kì tuyệt thực – Tôi không có kẻ thù, không có lòng căm thù. Không một nhân viên an ninh theo dõi, bắt giữ và thẩm vấn tôi, công tố viên kết tội tôi, hay vị chánh án đã xử án tôi, không ai là kẻ thù tôi cả. Mặc dù tôi không thể chấp nhận sự theo dõi, bắt bớ, kết tội, tuyên án của các vị, tôi vẫn tôn trọng nghiệp vụ và nhân cách của các vị. Kể cả sự buộc tội lần này: Tôi biết các vị tôn trọng tôi và giữ sự chân tình trong lúc thẩm vấn tôi hôm 3 Tháng Mười Hai.

Bởi vì lòng thù hận chỉ làm hoen rỉ sự khôn ngoan và ý thức của ta; não trạng thù hận có thể làm hỏng hồn tính một quốc gia, gây ra bao nhiêu là bạo động oan khiên cho vạn sinh linh, phá hỏng lòng khoan hoà và tình người của một xã hội, và ngăn chặn bước tiến của một quốc gia trên hành trình về tự do dân chủ. Do vậy tôi mong rằng mình sẽ có thể vượt lên khỏi những thăng trầm của số phận một cá nhân nhỏ bé để mà hiểu được sự phát triển của quốc gia và những đổi thay của xã hội, vượt qua thái độ thù hận mà chế độ dành cho tôi bằng thái độ chín hđính nhất, và lấy tình thương để gỡ bỏ sự thù hận.

Tôi vững tin rằng tiến bộ chính trị tại Trung Hoa sẽ không bao giờ ngừng lại, và tôi hoàn toàn lạc quan chờ đợi ngày tự do đến với Trung Hoa trong một tương lai không xa, bởi sẽ không có thế lực nào có thể cản trở khát vọng tự do của con người. Sẽ có ngày Trung Hoa trở thành một quốc gia pháp trị, ở đó quyền con người là tối thượng. Tôi cũng chờ đợi bước tiến ấy thể hiện cụ thể qua phiên toà này, và chờ đợi một phán quyết công bằng của toà như một phép thử của lịch sử.




Những người biểu tình đòi tự do cho ông Lưu Hiểu Ba bên ngoài Bộ ngoại giao TQ hôm 08/10/2010
Hỏi rằng trong hai thập niên qua, điều gì là một trải nghiệm may mắn nhất đời tôi, tôi không ngần ngại mà nói rằng đấy là tình yêu tràn đầy của Lưu Hà, người vợ thân yêu. Em không thể có mặt tại phiên toà hôm nay, nhưng anh vẫn muốn bày tỏ với người yêu dấu của anh một điều, rằng anh vẫn vững tin vào tình yêu bền chặt của chúng ta. Đã bao năm nay, trong hoàn cảnh đời sống mất tự do, tình yêu chúng ta đã chỉ có lắm chua xót vì ngoại cảnh đưa đẩy, nhưng nó vẫn bay bổng khỏi những rào chắn. Anh bị giam cầm trong một nhà tù nhỏ, còn em thì vẫn đang vò võ đợi anh trong nhà tù lớn.

Tình yêu em là ánh sáng đã giúp anh vượt qua những bức tường và thanh sắt, vẫn dịu dàng trên từng li tấc da thịt anh, sưởi ấm từng tế bào cơ thể anh, giúp anh giữ lòng mình được thanh thản, cao thượng và trong sáng, vì vậy mỗi phút giây trong nhà tù vẫn tràn đầy ý nghĩa. Bù lại, tình yêu anh dành cho em toàn là sự thống hối, có khi làm nặng trĩu từng bước chân đi. Anh là một viên đá tảng nặng nề nơi chốn hoang vu, hứng chịu những nghiệt ngã của bão tố, và trở thành lạnh băng trước nhân gian. Nhưng tình yêu anh vẫn bền,sắc, và có thể vượt qua bao cản ngại. Cho dù ai có nghiền nát anh, anh vẫn nguyện ôm ấp em bằng tro than của mình.

Có tình yêu em, người yêu dấu ơi, anh sẽ nhìn thẳng vào phiên toà hôm nay với lòng thanh thản, không tiếc hận về những chọn lựa của mình, và vẫn lạc quan tin tưởng vào một ngày mai. Anh chờ đợi đất nước chúng ta sẽ trở thành xứ sở tự do, ở đó tiếng nói của mọi công dân được đối xử ngang nhau; ở đó mọi khác biệt về giá trị, quan điểm, niềm tin, chính kiến… đều được quyền tương tranh và cộng tồn bên nhau trong hoà bình; ở đó quan điểm của đa số và thiểu số đều được bảo đảm, nhất là những chính kiến khác biệt với quan điểm quan phương chính thống sẽ được tôn trọng và bảo vệ; ở đó tất cả mọi quan điểm chính trị đều được công khai cho nhân dân lựa chọn; ở đó mọi công dân sẽ được quyền biểu đạt chính kiến mà không phải sợ hãi, không bị trấn áp vì cất tiếng nói bất đồng.

Tôi mong mỏi rằng bản thân mình sẽ là nạn nhân cuối cùng của chuỗi dài truy đuổi bất tận những kẻ bất đồng tại Trung Hoa, và rằng sau tôi sẽ không ai còn phải chịu cảnh tù đày vì bày tỏ quan điểm của mình.

Quyền tự do phát biểu là cơ sở của nhân quyền, là nguyên uỷ của nhân tính và là mẹ của sự thật. Cấm đoán tự do ngôn luận là giày xéo lên quyền con người, bóp nghẹt nhân tính, và trấn áp sự thật.

Tôi không thấy mình có tội gì khi sử dụng quyền tự do phát biểu hiến định, để làm tròn trách vị công dân của mình. Dẫu có bị kết tội vì đã làm thế, tôi cũng chẳng than phiền điều gì cả.

Liu Xiaobo (Lưu Hiểu Ba)

User avatar
ThienThu
Posts: 757
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:38 am

Post by ThienThu »

MỘT HOÀNG HÔN THÊ LƯƠNG

trích phần KẾT LUẬN trong tác phầm Việt Nam Ngay Mai
của Cựu Thẩm Phán VNCH Phạm Đình Hưng
Trước các diễn biến tồi tệ của tình hình trong nước, người Việt tị nạn cộng sản tại hải ngoại không khỏi lo lắng cho tiền đồ của dân tộc Việt Nam. Riêng cá nhân tác giả thường tự hỏi: Nêu đảng Cộng Sản Việt Nam còn tiếp tục thống trị ước ta một vài thập niên nữa, dân tộc Việt sẽ còn tồn tại hay không trước chánh sách đồng hóa tinh vi của Hán tộc đang âm thầm áp dụng trong hoàn cảnh đất nước chung ta trong thực tại đã trở thành một nước lệ thuộc Trung Quốc về mọi mặt giống như Tây Tạng, Tân Cương. Mãn Châu và Mông Cổ. Trong một cuộc phỏng vấn dành cho ký giả Đinh Quang Anh Thái của Nhựt báo Ng­ưi Việt vào tháng 7 năm 2009, ông Hà Sĩ Phu Nguyễn Xuân Tụ ở Đà Lạt cũng đã nói lên nguy cơ "Mất Dân tộc".

I- NHƯNG LẦM LỠ LỊCH SỬ

1- Năm 1945, Việt Nam đã để mất cơ hội thành lập một chế độ quân chủ lập hiến với một nhà vua có tinh thần cấp tiến như Cự Hoàng Duy Tân hoặc Hoàng đế Bảo Đại để duy trì sự ổn định chính trị trong một tân quốc gia độc lập và tượng trưng sự liên tục lãnh đạo quốc gia của nhà Nguyễn. Cựu Hoàng Duy Tân, nhân vật sáng giá đã được Thủ tướng Charles De Gaulle của chánh phủ lâm thời Pháp sau ngày giải phóng nước Pháp mời trở về lãnh đạo quốc gia Việt Nam, đã không may bị tử nạn phi cơ tại nước Cộng Hòa Trung Phi trên đường bay về đảo Reunion thăm gia đình. Cũng trong năm lịch sử đáng ghi nhớ nầy, Hoàng đế Bảo Đại đang tại vị tại Huế đã vội vàng thoái vị trước áp lực của Việt Minh sau ngày đảng Cộng sản Việt Nam cướp chánh quyền tại Hà Nội (19-08-1945) để tránh xảy ra một cuộc nội chiến. Trong chiếu chỉ thoái vị, Hoàng đế Bảo Đại đã tuyên bố minh thị lý do từ bỏ ngai vàng: tránh đỗ máu của người Việt. Sự cáo chung của chế độ quân chủ năm 1945 đã mở màn cho các hỗn loạn và thảm sát trên đất nước Việt Nam trên 34 năm và đưa đến nhiều thảm cảnh cho đồng bào quốc nội hiện nay.

2- Người lãnh tụ đảng Cộng sản Việt Nam đã cướp được chánh quyền trên cả nước Việt Nam năm 1945 là Nguyễn Tất Thành lấy bí danh Hồ Chí Minh của nhà cách mạng Việt Nam Hồ Học Lãm qua đời tại Quảng Tây năm 1943. Sau khi Thế chiến 2 vừa chấm dứt với sự đầu hàng của Nhựt Bổn, lòng yêu nước nồng nhiệt của nhân dân Việt Nam đã thục đẩy người dân Việt lao mình vào phong trào giải phóng dân tộc và tham gia Mặt trận Việt Minh để kháng chiến chống Pháp. Quảng dại quần chúng hoàn toàn không biết Việt Minh là một tổ chức ngoại vi của đảng Cộng Sán Việt Nam và Hồ Chí Minh là một cán bộ của Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản đã lảnh lương công tác từ năm 1924 dưới quyền chỉ huy của Josef Stalin, Tổng Bí thư đảng Cộng Sán Liên Xô và Mao Trạch Đông, Chủ tịch đảng Cộng Sản Trung Quốc. Dưới nhiều bí danh, Hồ Chí Minh đã phục vụ Cộng Sản quốc tế tại Nga, Quảng Đông, Thái Lan, Hong Kông, Diên An và Hoa Nam trước khi về Việt Nam. Những người tham gia hàng ngũ Việt Minh đã không ngờ lòng yêu nước của họ đã bị Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản Việt Nam lợi dụng để thực hiện mục tiêu xây dựng một chế độ cộng sản độc tài toàn trị tại Việt Nam và trên bán đảo Đông Dương dưới chiêu bài giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của thực dân Pháp.

Nhận lãnh nhiệm vụ do đảng Cộng Sản Trung Quốc giao phó, Hồ Chí Minh đã từ Diên An trở về Hoa Nam và Việt Nam vào đầu thập niên 1940 ẩn trú trong hang Pác Bó ở Cao Bằng dưới sự bảo vệ của cán binh Trung Cộng để chuẩn bị chiếm đoạt chánh quyền theo kế hoạch của Mao Trạch Đông nhằm mục đích tái lập ảnh hướng của Trung Quốc đối với Việt Nam. Người cán bộ cộng sản quốc tế nầy tuyệt đối trung thành với chủ nghĩa Mác-Lê-nin, triệt để thi hành các chỉ thị của Liên Xô và Trung Cộng, liên tục tiến hành hai cuộc Chiến Tranh Việt Nam dưới danh nghĩa giải phóng dân tộc và thống nhứt đất nước nhưng thật sự nhằm mục tiêu bành trướng chủ nghĩa cộng sản trên bán đảo Đông Dương. Dưới quyền lãnh đạo của Hồ Chí Minh, đảng Cộng Sản Việt Nam đã đẩy mạnh chiến tranh với sự viện trợ của Trung Quốc và Liên Xô để chiếm đoạt chánh quyền bằng bạo lực cách mạng, sẳn sàng hy sinh xương máu của dân tộc Việt và tàn phá đất nước trong vài chục năm, thậm chí cả trăm năm như lời tuyên bố của Lê Duẫn, kẻ kế vị Hồ Chí Minh sau khi y xuống tuyền đài chầu Karl Marx và Lenin. Dưới tác động lừa gạt của bộ máy tuyên truyền cộng sản đại bộ phận dân tộc Việt Nam tại nông thôn đã lầm tưởng Hồ Chí Minh là người yêu nước và đảng Cộng Sản Việt Nam có chánh nghĩa khi gây ra hai cuộc nội chiến gọi là chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ cứu nước. Sự hậu thuẫn của hai giai cấp nông dân và công nhân đã giúp cho đảng Cộng Sản Việt Nam thành công trong việc xây dựng chế độ độc tài toàn trị trên cả nước từ năm 1975.

3- Khác hẳn Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản Việt Nam, phía người Việt quốc gia dưới sự lãnh dạo ôn hòa của cựu Hoàng Bảo Đại đã lựa chọn đường lối thương thuyết để thu hồi độc lập và thống nhứt đất nước bằng việc ký kết hiệp ước Elysee ngày 8 tháng 3 năm 1949 giữa Cựu Hoàng Bảo Đại và Tổng Thống Pháp Vincent Auriol. Trên cơ sở hiệp ước Elysee, Cựu Hoàng Bảo Đại đã xây dưng một Quốc Gia Việt Nam độc lập và thống nhứt mà không tốn một giọt máu của người dân Việt. Vào thời điểm thuận lợi đó, nếu toàn dân Việt Nam hậu thuẫn Quốc Gia Việt Nam do Quốc Trưởng Bảo Đại lãnh đạo để xây d­ng một nước Việt Nam độc lập và thống nhứt, cuộc nội chiến lần thứ nhứt giữa người Việt anh em ruột thịt đã không kéo dài đến năm 1954 và đất nước Việt Nam đã không bị chia cắt ra hai miền Nam Bắc sau trận Điện Biên Phủ. Nếu đảng Cộng Sản Việt Nam thật sự yêu nước và quý trọng sự sinh tồn của dân tộc Việt, sự ký kết hiệp ước Pháp-Việt 1949 tại điện Elysee ở Paris là một cơ hội tốt để chấm dứt chiến tranh, bảo tồn sinh lực của dân tộc và đoàn kết mọi người dân Việt không phân biệt ý thức hệ, đảng phái, tôn giáo, địa phương sát cánh với nhau phát triển đất nước, đưa dân tộc Việt Nam lên ngang hàng với hai dân tộc Nhựt và Đại Hàn.

Nhưng rất tiếc mục tiêu cuối cùng của đảng Cộng sản Việt Nam là bành trướng chủ nghĩa cộng sản chớ không phải là quốc gia và dân tộc Việt Nam. Vì chủ nghĩa vô sản quốc tế, đảng Cộng Sản Việt Nam đã tiếp tục chiến tranh với viện trợ của Nga-Hoa, hy sinh cả chục triệu người dân Việt để chiếm đoạt chánh quyền trên cả nước, nô lệ hóa dân tộc Việt Nam, dìm đất nước trong tình trạng chậm tiến và biến nước ta thành một thuộc quốc của Tàu. Đại họa Bắc thuộc lại tái diễn trên đất nước Việt Nam bất hạnh và khốn khổ dưới ách nội thực (auto-colonialism) của đảng Cộng Sản Việt Nam, một chi bộ của đảng Cộng Sản Trung Quốc.

Hiệp ước Elysee năm 1949 là một hành động ngoại giao song phương của hai nước Pháp và Việt Nam. Nhưng 4 năm trước đó, ngày 11 tháng 3 năm 1945, Hoàng đế Bảo Đại của Việt Nam đã có một hành động đơn phương tuyên bố nước Việt Nam độc lập đối với Pháp: hai ngày sau khi Nhựt đảo chánh Pháp tại Đông Dương (9 tháng 3 năm 1945), Hoàng đế Bảo đại đã lập tức tuyên bố hủy bỏ tất cả các hiệp ước bất bình đẳng của Việt Nam đã ký kết với Pháp trong thế kỷ 19 (hiệp ước 1874 nhượng Nam Kỳ làm thuộc địa của Pháp và hiệp ước 1884 công nhận nền bảo hộ (protectorat) của Pháp tại Bắc Kỳ và Trung Kỳ). Hành động yêu nước đơn phương nầy của Hoàng đế Bảo Đại đã làm cho chánh quyền Pháp rất tức giận. Đó là một bản Tuyên Ngôn Độc Lập thứ nhứt của nước Việt Nam. Nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam đã cố tình ém nhẹm sự kiện lịch sử quan trọng nầy để nhân dân Việt Nam chỉ biết Hồ Chí Minh là người công bố ngày 2 tháng 9 năm 1945 bản Tuyên Ngôn Độc Lập đâu tiên của nước Việt Nam. Lịch sử phải công bằng và trung thực. Của Ceasar phải trả lại cho Ceasar. Trong hậu bán thế kỷ 20, Cựu Hoàng Bảo Đại đã bị tô vẽ như là một nhà vua chỉ biết ăn chơi mà thôi. Vì vậy, ít ai biết rằng Cựu Hoàng Bảo Đại đã có nhiều hành động yêu nước, ích quốc lợi dân và cấp tiến.

4- Nếu năm 1963 Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã không bị đảo chánh và hạ sát, quốc sách áp Chiến Lược đã có khả năng quét sạch Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam, một tổ chức chánh trị bù nhìn do đảng Cộng Sản Việt Nam dàn dựng để có danh nghĩa xâm lược miền Nam. Vì muốn đổ quân vào miên Nam can thiệp quân sự vào cuộc tranh chấp giữa miền Nam tự do và miền Bắc cộng sản, Hoa Kỳ đã làm mất chánh nghĩa của cuộc chiến đấu bảo vệ tự do, dân chủ và nhân quyền của quân dân miền Nam. Công điện ngày 24-08-1963 của bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ gởi cho Đại sứ Cabot Lodge ra lịnh đảo chánh Tổng Thống dân cử Ngô Đình Diệm đã làm yếu hắn khả năng lãnh đạo và nghiên cứu chiến lược của Việt Nam Cộng Hòa.

5 - Nếu sau khi rút quân khỏi miền Nam Việt Nam và lấy lại tù binh Mỹ từ ngục tù cộng sản Bắc Việt, Hoa Kỳ tiếp tục viện trợ cho Việt Nam Cộng Hòa để tự lực chiến đấu bảo vệ lãnh thổ và nhân dân miền Nam như chánh quyền Bush và Obama đang giúp đỡ chánh quyền Irak của Thủ tướng Maliki hiện nay, quân dân miền Nam thừa sức chận đứng tất cả các cuộc xâm lăng từ miền Bắc. Thay vì tiếp tục viện trợ cho Việt Nam Cộng Hòa, chánh quyền Nixon đã trắng trợn phản bội đồng minh, và chuyến giao miền Nam cho cộng săn để trao đổi nhiều quyên lợi kinh tế với Trung Quốc.

II-HIỆN TRẠNG VIỆT NAM

Sau Thế Chiến 2, nước Việt Nam đã kém may mắn hơn các nước cựu thuộc địa Á Châu vì có sự hiện diện của Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản Việt Nam. Sự tranh chấp ý thức hệ giữa người Việt cộng sản và người Việt quốc gia đã cản trở sự hợp tác của toàn dân Việt trong việc xây dựng đất nước và củng cố nền độc lập vừa thu hồi từ tay người Pháp. Dưới sự dạy dỗ của Hồ Chí Minh, người cộng sản Việt Nam đã xem chủ nghĩa Mác-Lênin là một lý tưởng cần phải thực hiện bằng mọi giá. Nhưng họ đã hoàn toàn không biết rằng Liên Xô và Trung Quốc chỉ xem chủ nghĩa cộng sản là một lợi khí đề đánh phá Hoa Kỳ và các nước Tây phương. Khi nào Liên Xô và Trung Quốc phát triển ngang bằng hoặc hơn các nước Tây phương, hai nước đầu đàn của khối cộng sản sẽ vứt bỏ không thương tiếc chủ nghĩa cộng sản. Nước Nga thật sự đã làm việc nầy năm 1991. Trung Quốc ngày nay về thực chất cũng đã biến thể thành một nước tư bản sơ khai trong hậu bán thế kỷ 19 tại Tây Âu. Giống y như Trung Quốc, nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ngày nay trong thực tế cũng là một nước tư bản sơ khai núp dưới tấm bình phong cộng sản để lợi dụng đặc quyền chuyên chính vô sản. Các nhà tư bản đỏ nắm quyền lực hiện nay tại Việt Nam có phải là người vô sản hay không?

Sự thù địch của Liên Xô và Trung Quốc đối với các nước Tây phương đã dẫn đến hai cuộc chiến tranh đẵm máu kéo dài 30 năm giữa người Việt anh em khác biệt chánh kiến, ý thức hệ và thành phần giai cấp. Hậu quả của hai cuộc Chiến Tranh Việt Nam vô cùng tai hại cho đất nước và dân tộc Việt Nam. Quê hương đất tố của chúng ta đã bị tàn phá nặng nề. Dưới quyền lãnh đạo của đảng Cộng Sản, lãnh thổ và lãnh hải của nước Việt Nam đã bị thu hẹp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam đã bị ông láng giềng Trung Quốc "vĩ đại" lấn chiếm, kiểm soát và khai thác Vịnh Bắc Việt (Gulf of Tonkin) đã bị chia đôi cho Trung Quốc, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã bị dâng hiến cho thiên triều Bắc Kinh để trả nợ chiến tranh lần thứ nhứt. Ngay cả quyền đánh cá và khai thác các tài nguyên của biên cả trong phạm vi lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam cũng bị Trung Quốc ngăn cấm một cách thô bạo. Cao nguyên Trung Phần Việt Nam đã bị Trung Quốc âm thầm xâm chiếm và hủy diệt môi trường sống dưới hình thức hợp tác khai thác bô xít (bauxite) giống y như hợp tác đánh cá ngoài biển Đông. Ngày 6 và 7 tháng 5 năm 2009, khi đệ nạp hồ sơ thềm lục địa của Việt Nam cho Liên Hiệp Quốc, bộ Ngoại Giao nước Cộng Hòa xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam chỉ đặt vấn đề chủ quyền của Việt Nam trên thềm lục địa ở phía Nam quần đảo Hoàng Sa và phía Bắc quần đảo Trường Sa để tránh đụng chạm quyền lợi với Trung Quốc. Nói rõ hơn, Cộng sản Việt Nam ngày nay đã chánh thức hóa trước Liên Hiệp Quốc sự chuyển nhượng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc theo giác thư ngày 14 tháng 9 năm 1958 của Phạm văn Đồng, Thủ tướng nước Việt Nam Dân Chủ Cộng.

Sau 30 năm hy sinh xương máu của cả chục triệu sinh mạng đồng bào để bành trướng chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa quốc tế đại đồng, dân tộc Việt đã bị áp đặt dưới sự lệ thuộc Trung Quốc về mọi mặt, kéo dài kiếp sống nghèo khổ, lầm than, lạc hậu, bị khinh miệt ở trong nước và ngoài nước, bị tước đoạt quyền làm người và tất cả quyền tự do dân chủ của công dân một nước độc lập. Lời phát biểu trung thực của Đức Tổng Giám mục địa phận Hà Nội Ngô Quang Kiệt đã phản ánh đúng đắn nỗi tủi nhục của người Việt mỗi khi đi ra nước ngoài. Do chủ trương đấu tranh giai cấp và chia để trị của đảng Cộng Sản Việt Nam áp dụng trong thời chiến tranh, dân tộc Việt đã bị chia rẽ trầm trọng. Hận thù giữa người Việt quốc gia và người Việt cộng sản đã tăng thêm gấp bội từ ngày đảng Cộng Sản Việt Nam áp dụng chánh sách trả thù tàn ác đôi với dân, quân, cán, chánh miền Nam sau ngày Việt Nam Cộng Hòa bị đồng minh Hoa Kỳ bức tử để chuyển giao miền Nam Việt Nam cho cộng sản. Việt Nam đã im tiếng súng từ ngày 30 tháng 4 năm 1975 nhưng một cuộc chiến tranh lạnh vẫn còn tiếp diễn giữa một bên là quang đại quần chúng không cộng sản ở trong nước và 3 triệu người Việt quốc gia tị nạn cộng sản ở hải ngoại chống lại một bên khác là đảng Cộng Sản Việt Nam với 3 triệu đảng viên đang bám chặt quyền bính và vô số đặc quyền đặc lợi đã chiếm hữu từ năm 1945 đến nay bất chấp mọi nguyện vọng chánh đáng của nhân dân Việt Nam.

Sau trên nứa thế kỷ thống trị của đảng Cộng Sản, nhân dân Việt Nam cần phải mạnh dạn phán xét Hồ Chí Minh và tập đoàn lãnh đạo cộng sản căn cứ vào các chủ tr­ơng và hành động cụ thể của họ. Huyền thoại Hồ Chí Minh do đảng Cộng Sản Việt Nam dàn dựng có đáng được đồng bào người Việt tin tưởng hay không? Hai cuộc chiến tranh kéo dài 30 năm do Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản Việt Nam gây ra theo chỉ thị của hai đế quốc Nga-Hoa có đem lại độc lập cho đất nước, tự do và hạnh phúc cho nhân dân Việt Nam hay không? Sau ngày đánh đuôi thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, lãnh thổ Việt Nam còn nguyên vẹn hay không trước tham vọng bành trướng của Trung Quốc, một kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Việt Nam từ ngày lập quốc đến nay? Phải chăng dân tộc Việt Nam đã phải trả một giá quá đắt để thực hiện một trò "dịch chủ tái nô" do Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản Việt Nam chủ động vì bã vinh hoa, mùi phú quý? Xương máu của cả chục triệu đồng bào đã bị Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản hy sinh để chuyển giao quyền thống trị nước ta từ tay người Pháp qua người Tàu. Ngoài tội bán nước cho Trung Quốc, chế độ cai trị của bọn thực dân nội địa ngày nay còn khắc nghiệt và tệ hại hơn chế độ thực dân Pháp gấp bội phần.

Nói tóm lại, đảng Cộng Sản Việt Nam phải hoàn toàn chịu trách nhiệm đã gây ra nguy cơ mất nước và mất dân tộc Việt Nam đang ló dạng trên quê hương thân yêu của chứng ta.

Trước âm mưu của Trung Cộng muốn sáp nhập Việt Nam vào lãnh thổ Trung Quốc và Hán hóa dân tộc Việt với sự tiếp tay của tập đoàn lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam hiện nay do hai Thái thú bản xứ Nông Đức Mạnh và Nguyễn Tấn Dũng đứng đầu, Nhân dân Việt Nam ở trong và ngoài nước phải dũng căm đứng lên bảo vệ độc lập của Tổ quốc, sự toàn vẹn của lãnh thổ, sự sinh tồn và giá trị của dân tộc Việt Nam. Chỉ có Nhân dân Việt Nam đoàn kết một lòng mới có đủ sức mạnh để đập tan đại họa nội thực và ngoại xâm từ phương Bắc. Nền Đệ Tam Cộng Hòa phải được thành lập nhanh chóng để giải cứu nước Việt Nam khỏi quốc nạn cộng sản và ách đô hộ của đế quốc Trung Hoa.

Cầu xin Thượng Đế sớm cứu vớt dân tộc việt Nam và đem lại cho đất nước Việt Nam một ngày mai tươi sáng.

Viết xong ngày 29 tháng 10 năm 2009

Westminster, Califomia, Hoa Kỳ
Mùa Thu năm 2009 (năm Kỷ Sửu)

Tác giả. PHẠM ĐÌNH HƯNG
Cựu Thẩm Phán VNCH

User avatar
dodom
Posts: 2729
Joined: Fri Nov 28, 2008 8:38 pm

Post by dodom »

Hoa Kỳ tỏ rõ quyết tâm trở lại châu Á...........

Tú Anh
Trong nhiều năm dài, các chiến lược gia Hoa Kỳ lo lắng trước sức mạnh kinh tế và quân sự càng ngày càng tăng của Trung Quốc tại Á châu. Washington e rằng không sớm thì muộn sẽ mất hết ảnh hưởng tại khu vực năng động nhất địa cầu. Tuy nhiên, trong những tuần lễ gần đây, thái độ hung hăng của Bắc Kinh đã làm cho các nước láng giềng của Trung Quốc chuyển hướng mời gọi Hoa Kỳ trở lại châu Á.

Trợ lý ngoại trưởng Mỹ đặc trách Đông Á nhận định là ngay những những người đã từng tin chắc là Hoa Kỳ đang xuống dốc cũng đã thay đổi quan điểm, và nhìn nhận là Mỹ sẽ là một tác nhân then chốt trong thời kỳ 50 năm tới đây tại Á châu. Giới lãnh đạo Việt Nam phản ứng một cách tích cực.

Sau khi Trung Quốc gây sức ép bắt chẹt Nhật Bản phải thả viên thuyền trưởng lái tàu cá ủi vào tàu tuần tra của Nhật trong vùng đảo tranh chấp, Hoa Kỳ lên tiếng khẳng định xem Senkaku/Điếu ngư đài là của Nhật. Điều này có nghĩa là Mỹ sẽ bảo vệ Nhật nếu Trung Quốc gây chiến.

Song song với phản ứng này, hải quân Mỹ tiến hành một cuộc tập trận đại qui mô với Hàn Quốc bất chấp lời cảnh báo của Bắc Kinh. Cùng lúc đó, Tổng thống Barack Obama và các nhà lãnh đạo Đông Nam Á họp hội nghị thượng đỉnh Hoa Kỳ-Asean lần thứ hai tại New York hôm 24 /9/ 2010, khẳng định quyền tự do giao thương trên biển Đông.

Thái độ của ban lãnh đạo Bắc Kinh tại Biển Đông bị các chuyên gia quốc tế gọi thẳng thừng là « ngạo mạn, hung hăng, trịch thượng ».Một chuyên gia về châu Á là ông Raph Cossa , chủ tịch Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế của Diễn đàn Thái Bình Dương nhấn mạnh yếu tố nhân hòa : « Trung Quốc càng phô trương cơ bắp thì các nước trong vùng càng gọi số điện thoại khẩn cấp 911 cầu cứu Hạm đội 7. Ngay nước Nhật cũng thế ».

Mặc dù chính phủ cánh tả tuyên bố « độc lập hơn » đối với Mỹ, nhưng thủ tướng Naoto Kan không nhắc đến chuyện di dời một căn cứ quân sự của Mỹ tại Okinawa, và đã bổ nhiệm một nhân vật thuộc cánh « diều hâu » trong đảng Dân Chủ, ông Seiji Maehara làm ngoại trưởng giữa lúc Trung Quốc gây sức ép.

Về phía Mỹ, Thứ trưởng Ngoại giao James Steinberg tuyên bố là Hoa Kỳ chấp nhận để cho Trung Quốc phát triển quân đội, nhưng hy vọng rằng sức mạnh này được sử dụng « tích cực » phục vụ lợi ích an ninh chung, như chống hải tặc tại Somalia.

Trên thực tế thì một bản báo cáo của Bộ Quốc phòng công bố hồi tháng 8 phát hiện Trung Quốc tăng cường vũ trang để chuẩn bị chiến tranh chiếm Đài Loan và gây ảnh hưởng trên toàn châu lục.

Thời cơ hiện nay rất thuận lợi cho Hoa Kỳ trở lại châu Á. Trợ lý ngoại trưởng đặc trách Đông Á Kurt Campell công nhận là trong những năm gần đây, vai trò của Trung Quốc không ngừng gia tăng nhưng ông nhấn mạnh « Sự thực là Hoa Kỳ không bao giờ bỏ rơi châu Á và trong nhiều thập niên tới, Mỹ sẽ là tác nhân chính tại nơi này ». Từ chính sách mập mờ, Hoa Kỳ đã tỏ thái độ dấn thân rõ ràng.

Câu hỏi đặt ra là, Mỹ và các nước Á châu bị Trung Quốc đe dọa chuẩn bị những bước tới như thế nào ? Và Việt Nam phải cải tổ ra sao để được Mỹ hỗ trợ một cách dễ dàng và lâu bền ? RFI Việt ngữ đặt câu hỏi với Giáo sư chính trị quốc tế Nguyễn Mạnh Hùng, đại học George Mason , Hoa Kỳ.

« Tại Biển Đông, thái độ hung hăng của Trung Quốc làm Mỹ phải phản ứng nhưng Mỹ không thể phản ứng một mình được nếu không có hỗ trợ của Đông Nam Á là những nước có quyền lợi thiết thân… Bây giờ họ đã phát biểu về quyền lợi thiết thân của họ rồi thì Hoa Kỳ cũng giúp họ thôi ».

« Nếu Việt Nam cải tổ dân chủ và cải thiện nhân quyền thì điều này sẽ khiến Hoa Kỳ và Việt Nam đến gần nhau hơn… vì không có quan hệ lâu dài tốt đẹp nếu không có tương đồng về thể chế chính trị. Nếu sự cải tổ củaViệt Nam tiến nhanh thì mối quan hệ với Mỹ tốt đẹp hơn, thí dụ như quan hệ dễ dàng thoải mái của Mỹ với Đài Loan, với Nhật Bản »

« Việt Nam phải nói là không chống Trung Quốc, nhưng cũng phải nói là mình có quyền của một quốc gia độc lập muốn liên hệ với ai cũng được để bảo vệ tự do, độc lập và toàn vẹn lãnh thổ ».

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Những Cái Đầu Bùn Đỏ
Trần Khải
Cái bất hạnh của người kia, có khi là cái may mắn của người này. Trường hợp này có thể thấy nổi bật trong mấy ngày qua: thảm họa bung vỡ dòng sông bùn đỏ tại Hungary đã gây kinh hoàng không chỉ cho người dân Hungary, người dân vùng Đông Âu bên dòng sông Danube, mà cả ngay tại Việt Nam, nơi cũng có dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên.

Những gì mà giới trí thức thuyết phục, lý luận, phản biện từ cả năm qua không hề làm nổi thành các bản tin lớn trên các báo nhà nước. Thậm chí, những lý luận ban đầu của giới trí thức Bauxite Việt Nam khi kêu gọi chính phủ VN hủy bỏ các dự án này còn tập trung vào vấn đề an ninh phòng hộ, vào âm mưu Trung Quốc có thể thiết lập các Phố Tàu Tây Nguyên và lập làng mạc để nằm phục lâu dài... Nhưng ngay khi quả bom nguyên tử bùn đỏ bộc phát tại Hungary, lập tức các báo lớn trong nước đều nêu lên vấn đề bùn đỏ Tây Nguyên...

Và những gì mà các vị trí thức Bauxite VN không thuyết phục nổi, thì tai họa vỡ hồ bùn đỏ ở Hungary đã nói giùm thật vang dội. Từ đó, chỉ cần nghe chữ “cơ nguy hồ bùn đỏ” là đủ cho người đọc kinh hoàng rồi, là đủ để các cán bộ Hà Nội lên tiếng rồi. Lý luận giới trí thức phản biện cũng không nhắc gì về các làng Trung Quốc nữa, cũng không nhắc về cơ nguy đàn anh TQ mai phục quân đội để đánh xuyên tâm từ Tây Nguyên nữa...

Bởi vì, vỡ hồ bùng đỏ, nhuộm đục ngầu mấy dòng sông từ Hungary là đủ để biết sợ quả bom nguyên tử bùn đỏ có gài đồng hồ nổ chậm ở Tây Nguyên rồi. Bởi vậy, cái xui của người hóa ra lại là cái hên của mình.
Và một bản văn có nhan đề là “Kiến nghị về dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên, với tấm gương về thảm họa vỡ hồ bùn đỏ ở nhà máy Ajka Timfoldgyar, Hungary” do nhóm Bauxite VN đăng chỉ trong vài ngày đã thu hút được khoảng 670 chữ ký, và thấy rõ số lượng người ký tên sẽ còn nhiều thêm...

Bản văn trích như sau:
“...Ngày 05-10-2010 đã xảy ra sự cố vỡ hồ bùn đỏ chứa phế thải từ việc sản xuất alumina cho luyện nhôm của Nhà máy Ajka Timfoldgyar tại vùng Ajka, cách thủ đô Budapest 160 km về phía Tây Nam. Khoảng 1,1 triệu m3 nước thải bùn đỏ từ hồ bị vỡ này đổ xuống các vùng thấp chung quanh rộng gần 40 km2 và một số con sông, trong đó có sông Danube. Trong vùng xảy ra tai nạn có thị trấn Kolontar hoàn toàn bị ngập trong màu đỏ chết người. Tai nạn này cuốn trôi khoảng 270 căn nhà, phá hủy nhiều cầu đường, làm bị thương (dưới dạng bị bỏng hóa chất) 150 người do các hóa chất độc hại có chất ăn mòn cao trong bùn gây ra, 7 người chết và làm hư hại nhiều xe cộ, tài sản khác. Số người thương vong còn có thể tăng lên do tác động của bùn đỏ chứa hóa chất tiếp tục ngấm vào cơ thể những người đã tiếp xúc với chất thải này khi hồ vỡ.

Chính phủ Hungary coi đây là thảm họa hóa chất thảm khốc nhất trong lịch sử quốc gia này. Thủ tướng Hungary Viktor Orban nhận định thảm họa này có nhiều khả năng do lỗi của con người gây ra, vì xảy ra trong lúc tình hình thời tiết hoàn toàn bình thường, không có mưa và chưa đến mùa tuyết rơi; trước khi xảy ra tai nạn hai tuần, một phái đoàn thanh tra chính phủ đã có chuyến đi kiểm tra hồ và không thấy có dấu hiệu gì khác thường; trong khi đó nhà máy vẫn thường xuyên nhắc lại cam kết với nhà nước hồ bùn đỏ này không nguy hiểm… Thủ tướng Viktor Orban đánh giá thảm họa này lớn gấp nhiều lần so thảm họa tương tự đã xảy ra ở vùng Baia Mare tại Romania năm 2000. Trước tình hình như vậy Thủ tướng Viktor Orban đã tuyên bố tình trạng khẩn cấp trong vùng nơi xảy ra thảm họa. Bùn đỏ đang chảy vào sông Danube và sông Raab.

Theo nhận định của người phát ngôn thuộc Cơ quan Quản lý thảm họa của Hungary, ông Tibor Dobson, thảm họa này sẽ có thể ảnh hưởng đến 6 nước hạ lưu là Croatia, Serbia, Bulgaria, Moldova, Ukraina và Romania, và có nguy cơ trở thành thảm họa sinh thái châu Âu. Tại một số nơi nhiều thủy sản cây cối, hoa màu và gia súc đã chết. Nhìn chung chưa đánh giá được toàn diện thiệt hại. Quốc vụ khanh Illes nói các đội cứu hộ của Hungary đang làm việc một cách tuyệt vọng, phải mất ít nhất một năm và hàng chục triệu đô-la mới xử lý được; Hungary kêu gọi sự hỗ trợ của Liên minh Châu Âu.

Thảm họa vỡ hồ bùn đỏ Ajka ở Hungary là lời cảnh báo nghiêm khắc đối với vấn đề hồ bùn đỏ chứa chất thải trong sản xuất alumina ở Tây Nguyên...” (hết trích)
Do tình hình như thế, những người soạn thảo Kiến Nghị đã yêu cầu chính phủ VN hãy:
“(1)Quyết định cho ngừng ngay việc xây dựng Nhà máy Tân Rai ở Lâm Đồng để nghiên cứu tiếp cách xử lý;
(2) Tạm hủy dự án đang đàm phán tiếp với đối tác nước ngoài về Nhà máy Nhân Cơ ở Đắc Nông;
(3) Tạm thời đình chỉ việc triển khai toàn bộ tổng dự án hiện thời về việc khai thác bauxite ở Tây Nguyên để tổ chức nghiên cứu lại một cách nghiêm túc và khoa học...”(hết trích)

Trong khi trước giờ, những thanh biện về dự án bauxite Tây Nguyên đều chủ yếu đăng trên các web lề trái, thì bây giờ được các báo nhà nước đưa lên qua những cuộc phỏng vấn những chuyên gia có tiếng nói trong ngành liên hệ.
Trên tờ Tuổi Trẻ, số ngày Thứ Hai 11/10/2010, một chuyên gia nói rằng ảnh hưởng bùn đỏ Tây Nguyên sẽ ảnh hưởng hàng chục triệu người nếu có “sự cố” xảy ra.
Báo Tuổi Trẻ phỏng vấn “PGS.TS Nguyễn Đình Hòe - trưởng ban phản biện xã hội, Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường VN” và được GS Hòe trả lời:
“...Rõ ràng đó là một lời cảnh báo cho VN khi chúng ta đang tiến hành khai thác bôxit ở Tây nguyên. Hungary là một nước có cả lịch sử hàng trăm năm khai thác bôxit và Công ty Sản xuất và kinh doanh bôxit - nhôm Hungary là công ty rất lớn, có kinh nghiệm hơn chúng ta nhiều. Sự cố của họ nói với chúng ta rằng tuyệt đối không thể chủ quan với bùn đỏ.
Doanh nghiệp khai thác khẳng định bùn đỏ sẽ được chôn rất cẩn thận. Nhưng điều đó không có nghĩa là 20-30 năm sau nó vẫn được làm cẩn thận và an toàn tuyệt đối. Cần lưu ý độ pH trong bùn đỏ khoảng 13, nghĩa là gấp khoảng 1 triệu lần độ pH an toàn. Nếu sự cố xảy ra ở Tây nguyên, bùn đỏ trôi xuống sông Đồng Nai thì tính mạng, sức khỏe hàng chục triệu người bị đe dọa.”(hết trích)

Như thế, lời cảnh giác này rất minh bạch, và không cần quanh co gì nữa: rằng hồ bùn đỏ sẽ là quả bom nổ chậm, nguy cơ tiềm ẩn nhiều thập niên, và nếu sơ suất thì hàng chục triệu người thê thảm.
Trong bài có nhan đề “Từ tai hoạ bùn đỏ ở Hungary, nghĩ tới bôxít Tây Nguyên” của tác giả TS. Nguyễn Quang A đăng trên báo Sài Gòn Tiếp Thị hôm Thứ Sáu 8/10/2010 đã ghi nhận:
“Ngày 4.10.2010, đập hồ chứa bùn đỏ tại mỏ khai thác và chế biến bôxít ở Ajka, Hungary đã bị vỡ. Gần 1 triệu m3 bùn đỏ đã tràn xuống phủ một diện tích 40km2 và làm tan hoang nhiều khu dân cư.

Có nơi lũ bùn đỏ với độ dày tới 2m đã nhấn chìm mọi thứ. Báo chí Hungary cho biết, đến ngày 7.10, đã có bốn người chết, 123 người bị thương và còn năm người được coi là mất tích. Ba tỉnh của Hungary đã bị đặt trong tình trạng báo động môi trường, ba con sông bị đe doạ, bùn đỏ đã lan xuống sông Rába và đe doạ sông Duna. Đây là thảm hoạ môi trường lớn nhất ở Hungary.

Nhà máy bôxít Ajka thuộc công ty cổ phần Nhôm Hungary (MAL). Báo chí Hungary cũng đưa tin cựu Thủ tướng Gyurcsány Ferenc có lợi ích trong MAL trước khi lên làm thủ tướng và công ty này ngày nay vẫn do các bạn đầu tư của ông vận hành.

MAL đã rất tự hào về tính an toàn của hệ thống chứa bùn đỏ của mình. Họ nói “các hồ chứa bùn đỏ được cách ly, được xây dựng rất hiện đại với hệ thống giám sát tiên tiến đảm bảo chắc chắn việc chứa bùn đỏ”. MAL cũng rất lưu ý đến việc “hoàn thổ”, khôi phục lại mặt bằng liên tục bằng san lấp và trồng cây tạo ra thảm thực vật phong phú. Nhưng khi xảy ra tai hoạ, họ nói đấy là tai hoạ thiên nhiên và từ chối trách nhiệm. Họ còn nói, mới gần hai tuần trước cơ quan Thuỷ lợi đã kiểm tra đập và không thấy có vấn đề gì. Khi tai hoạ xảy ra họ nói bùn đỏ không độc hại, trong khi nhiều người bị bỏng đến 70% do bị ngập trong bùn đỏ có tính kiềm nặng!

Lập luận của MAL nghe rất quen với người Việt Nam. Trong các tranh luận về khai thác bôxít ở Tây Nguyên, tập đoàn Than – khoáng sản Việt Nam (TKV) cũng đưa ra các lời hứa tương tự về hệ thống chứa bùn đỏ của mình sẽ và đang được xây dựng. Thực ra, ở đâu cũng vậy, những người vận hành hồ chứa bùn (bùn đỏ của nhà máy bôxít hay bùn đen của các mỏ than hay các loại mỏ khác, thậm chí cả với các hồ nước sạch cho thuỷ điện) luôn tìm cách thoái thác trách nhiệm khi có sự cố xảy ra...

...Đã có rất nhiều ý kiến về các dự án khai thác bôxít ở Tây Nguyên. Người ta cũng nói đến sự chắc chắn, vững chãi của các hồ chứa bùn đỏ. Từ trên nóc nhà của Đông Dương nếu có sự cố vỡ đập như ở Hungary, thì tai hoạ sẽ rất thảm khốc.

Vấn đề chuyên chở không những là vấn đề khó khăn về kinh tế mà cũng hàm chứa những rủi ro môi trường khó lường. TKV lập dự án nhưng bỏ chuyện làm đường chuyên chở ra ngoài (và yêu cầu Nhà nước phát triển đường sắt cho TKV), tính kiểu ấy là ăn bớt chi phí đầu tư để cho dự án có vẻ khả thi hơn về kinh tế. Nếu tính hết (kể cả đầu tư cho chuyên chở) và nhất là phải có chi phí thoả đáng cho khắc phục môi trường (trong hoạt động bình thường của các nhà máy cũng như trong trường hợp có tai hoạ) thì dự án khai thác bôxít không khả thi về mặt kinh tế. Tác hại về môi trường khó có thể lường.”(hết trích)

Lời Tiến Sĩ Nguyễn Quang A rằng nếu có sự cố thì... tai họa sẽ thảm khốc, rằng TKV đang ăn bớt chi phí đầu tư... rằng tác haị về môi trường khó lường...
Bây giờ, chỉ còn thắc mắc duy nhất rằng, có phải chính phủ VN đã cấm ký tên nhiều người trong đơn khiếu kiện, trong các kiến nghị hay không? Nếu đúng như thế, bản Kiến Nghị của hàng trăm người quan tâm này sẽ bị quăng bỏ?

Và nếu đúng là chính phủ Hà Nội không muốn xét tới lời nói phảỉ của người trí thức, dù bất kỳ cớ nào, thì tự thân chính phủ này đã trở nên những quả bom bùn đỏ tiềm ẩn: di hại sẽ không chỉ là hủy diệt vài dòng sông, hay nhuộm đỏ vài chục kilômét vuông đất, hay làm thiệt hại kinh tế vài chục triệu dân, hay làm hại sức khỏe cả triệu người... mà sẽ trở thành những cái đầu bùn đỏ để có thể dâng hiến VN cho đàn anh Trung Quốc.
Bởi vì, nào ai biết được những cái đầu bùn đỏ rồi sẽ suy nghĩ những gì.

TRẦN KHẢI

User avatar
nangchieu
Posts: 2102
Joined: Sun Apr 19, 2009 6:38 pm

Post by nangchieu »

Bắc Kinh đang lúng túng đối phó với người tù lương tâm
Lưu Hiểu Ba, khôi nguyên Nobel Hòa Bình 2010


Đinh Ngọc Khánh và Hoàng Đỉnh
Bắc Kinh đang lúng túng đối phó với người tù lương tâm Lưu Hiểu Ba, khôi nguyên Nobel Hòa Bình 2010


Trong những năm gần đây, cứ mỗi lần đến đầu tháng 10 là chính quyền cộng sản Trung quốc lẫn cộng sản Việt Nam đều bị dị ứng bởi giải Nobel Hòa Bình. Bắc Kinh lo nhất là giải này lọt về tay ông Lưu Hiểu Ba (một nhà văn tranh đấu cho nhân quyền đang bị ngồi tù), còn Hà Nội thì sợ Hòa thượng Thích Quảng Độ được chọn để trao giải. Mặc dù Bắc Kinh đã áp lực mạnh với chính quyền Na Uy để yêu cầu không trao giải Nobel Hòa Bình cho ông Lưu Hiểu Ba, nhưng chẳng áp lực được gì. Vào ngày 08/10/2010, tên của ông Lưu Hiểu Ba được xướng lên trong buổi lễ công bố người đoạt giải Nobel Hòa Bình 2010 tại Oslo, thủ đô Na Uy. Tin này vừa được loan đi là các ký giả nước ngoài ở Bắc Kinh tìm đến nhà ông Lưu Hiểu Ba để phỏng vấn bà Lưu Hà (vợ ông Ba), thế nhưng công an còn nhanh hơn đã đến trước lập hàng rào không cho bất kỳ ai đến gần nhà bà Lưu Hà. Phỏng vấn bà Hà không được, các ký giả xoay qua hỏi cảm tưởng người đi đường về chuyện ông Ba đoạt giải Nobel Hòa Bình, nhiều người lắc đầu từ chối không dám phát biểu về chuyện này, trong số đó có một người đàn ông trung niên nói rằng bộ các ông muốn chúng tôi bị công an bắt hay sao mà hỏi như vậy. cho dù tôi có vui mừng, hãnh diện cũng phải trả lời là không vì như các ông đã biết nhà nước này chống đối tới cùng việc trao giải thưởng Nobel Hòa Bình cho ông Ba mà, nói khác là phiền lắm.

Hệ thống tiếp vận của các đài truyền hình CNN, BBC, NHK…ở Trung quốc khi loan tin này là đồng loạt bị cúp ngay. Đến lúc này thì chính quyền cộng sản Bắc Kinh không còn hơi sức đâu nữa mà che dấu hành động vi phạm quyền tự do ngôn luận nữa, làm sao không cho người dân Trung quốc biết nhiều về tin này là được.

Về phía bà Lưu Hà thì những người thân cho biết vào lúc 3 giờ chiều ngày 8 tháng 10 (nghĩa là ngay sau khi Ủy ban Nobel Hòa Bình công bố trao giải cho ông Ba), công an đã vào nhà ra lịnh cấm bà Hà không được trả lời phỏng vấn cho bất kỳ báo đài nào của nước ngoài và không cho ra khỏi nhà cho đến khi nào có khẩu lịnh mới. Đến 7 giờ tối công an đưa xe đến bảo bà Hà leo lên để chở cho đi thăm chồng ở trại tù nằm tuốt ngoài tỉnh Liêu Ninh, chẳng phải công an ra ơn gì đâu mà vì muốn đem bà Hà ra khỏi Bắc Kinh để tạm thời không cho các ký giả biết bà Hà ở đâu mà thâu tin, trong thời gian này người nhà muốn liên lạc với bà Hà cũng không được, điện thoại đến máy di động của bà Hà thì bị trả lời rằng đã hết khế ước.

Cho dù nhà nước cộng sản Bắc Kinh ra sức ngăn chận thông tin, nhưng ở vào thời đại thông tin điện tử như ngày nay thì chỉ cần một cái nhắp chuộc trên máy ví tính là có thể biết được những gì đang xảy ra trên khắp thế giới. Tường lửa lập ra kể cả việc bắt cài phần mềm Lục Bá vào máy vi tính để ngăn chận thông tin trung thực chỉ làm phiền người chưa rành cách sử dụng computer chứ đối với những ai có cơ bản một chút là việc vượt tường lửa dễ như nhảy rào thấp, qua mặt phần mềm Lục Bá chẳng khó gì vì vậy mà tin tức nhà đấu tranh nhân quyền Lưu Hiểu Ba đã được phần đông người dân Trung quốc ở Hoa lục biết đến và đem ra bàn tán khắp nơi. Trong suốt tuần qua, tại các quán cà phê, quán ăn ở những thành phố lớn, người ta thấy nhiều công an chìm ngồi đồng ở đó để rình xem hể ai đem chuyện Nobel Hòa Bình ra nói là đến hỏi giấy ngay, nhiều người đã bị bắt về sở công an làm việc cũng vì chuyện này, tuy nhiên có bị bắt cũng chẳng mấy ai sợ, bằng chứng là có nhiều nhóm trí thức với nhiều ngành nghề khác nhau như luật sư, bác sĩ tổ chức tiệc trà ở nhà hàng ăn mừng việc ông Lưu Hiểu Ba đoạt giải Nobel Hòa Bình, công an ập vào bắt mà chẳng có ai nao núng, những người bị bắt này nói là nếu sợ bị bắt thì chúng tôi đâu tổ chức ăn mừng làm gì. Ngày 10 tháng 12 tới đây, đúng vào ngày Quốc tế Nhân quyền là sẽ trao giải thưởng Nobel Hòa Bình, chắc chắn người tù lương tâm Lưu Hiểu Ba sẽ không đến Na Uy để lãnh giải được, bà Lưu Hà có thể đi lãnh giải thế cho chồng được không ?, câu trả lời là không, vì theo như bà Khương Du, phát ngôn nhân bộ Ngoại giao Trung quốc thì Lưu Hiểu Ba là kẻ phạm tội gây rối trật tự xã hội qua âm mưu lật đổ chính quyền nên đương sự và tất cả thành viên trong gia đình đều không được xuất ngoại. Thái độ hung hăng của Trung quốc bị cả thế giới lên án nặng, người ta dư đang nhìn Bắc Kinh lội ngược trào lưu tiến hóa của nhân loại, đàng sau còn dẫn theo Hà Nội, thế nhưng người bị dẫn theo cứ tưởng là đi đúng đường nên cũng tự đắt không kém đàn anh Bắc Kinh, thế mới chết chứ.

Đảng Lao Động Triều Tiên đã âm thầm gạch bỏ mấy chữ ’’Xây dựng xã hội chủ nghĩa Cộng sản’’ trong Đảng Quy của đảng này.

Cuối tháng 9 vừa qua, trong Đại hội Đại biểu đảng Lao Động Triều Tiên, người con thứ ba của lãnh tụ Kim Chính Nhật là Kim Chính Ân (27 tuổi) đã được phong hàm Đại tướng để chính thức giới thiệu với toàn đảng và toàn thế giới Ân sẽ là lãnh tụ tương lai của Bắc Triều Tiên mỗi khi ông Kim Chính Nhật chết đi. Dịp này, đảng Lao Động Triều Tiên cũng cho sửa hay tu chính một vài điều trong Đảng Quy, nhưng ít ai chú ý đến vì hai lý do. Thứ nhất. Mọi người đều chú mục vào chuyện người con nào sẽ được truyền ngôi và thứ hai là chuyện sửa đổi hay tu chính Đảng Quy âm thầm tiến hành trong thượng tầng chứ chẳng có chuyện tham khảo ý kiến của đảng viên.

Trước ngày tổ chức lễ kỷ niệm 65 năm thành lập đảng Lao Động Triều Tiên, chính quyền Bình Nhưỡng mới cho hãng thông tấn Triều Tiên Trung Ương loan tin là phần mạo đầu của Đảng Quy đã được tu chính để phù hợp với thực tại. Trước đây phần mạo đầu viết là “Mục đích tối hậu của đảng Lao Động Triều là xây dựng xã hội theo chủ nghĩa Cộng sản và tư tưởng Chủ thể , nay bỏ đi mấy chữa chủ nghĩa Cộng sản, chỉ còn giữ lại bốn chữ tư tưởng Chủ thể. Cái tư tưởng này do ông Kim Nhật Thành, lãnh tụ đàu tiên của bắc Hàn, đẻ ra. Theo tư tưởng này thì vận mệnh của mình do chính mình làm chủ; tự túc, tự cường trong việc kiến thiết quốc gia; người dân làm chủ vận mệnh đất nước.

Một số quan chức thuộc bộ Thống nhất của Hàn quốc phân tích rằng thật ra ngay từ đầu Bắc Hàn không phải là một nước theo chủ nghĩa Cộng sản như kiểu Liên Xô, Trung quốc hay miền Bắc Việt Nam, chủ nghĩa của họ là chủ nghĩa độc tài gia đình trị; cộng sản hay hệ tư tưởng Mác-Lênin chỉ là phụ nên bây giờ họ bỏ mấy chữ ’’Chủ nghĩa Cộng sản’’ trong phần mạo đầu của bản Đảng quy đảng Lao Động Triều Tiên cũng có thể hiểu được, bỏ bốn chữ đó không có nghĩa là muốn Bắc Triều Tiên trở thành một nước tự do, dân chủ, mà là để cũng cố quyền vị cai trị đất nước cho dòng họ Kim theo hệ cha truyền con nối kiểu như Vua Chúa thời xưa. Không biết khi đã bỏ bốn chữ chủ nghĩa Cộng sản đi rồi thì chính quyền Bình Nhưỡng còn đòi nhuộm đỏ miền Nam nữa hay không ?. Các quan chức này còn tiết lộ thêm cho biết rằng vào năm 2000 khi Tổng thống Kim Đại Trung sang thăm Bắc Hàn, ông Kim Chính Nhật đã hứa sẽ bỏ, không sử dụng cụm từ ’’Nhắm đến chuyện thống nhất đất nước bằng cách xích hóa (tức là nhuộm đỏ) miền Nam’’ trong mặt trận tuyên vận. Hứa thì hứa cho có vậy chứ mỗi lần có chuyện thì Bình Nhưỡng vẫn cường điệu đòi Xích Hóa miền Nam.

Một câu hỏi được đặt ra là khi bỏ mấy chữ chủ nghĩa Cộng sản đi có được sự cho phép của những người lãnh đạo ở Bắc Kinh hay không, nếu không thì chắc chắn sẽ bị áp lực mạnh, trong khi Bắc Triều Tiên gần như lệ thuộc vào Trung quốc. Các chuyên gia về tình hình bán đảo Triều Tiên cho rằng mặc dù hiện nay sự hiện diện của mấy chữ chủ nghĩa Cộng sản chỉ là hữu danh vô thực, nhưng chắc chắn Trung quốc đâu muốn Bình Nhưỡng bỏ mấy chữ đó, còn áp lực như thế nào thì phải chờ thêm một thời gian mới biết được, nếu làm mạnh thì Trung quốc sợ Bắc Triều Tiên không còn nghe lời mình nữa. Đó là đòn mà Bình Nhưỡng vẫn thường đem ra áp dụng với Bắc Kinh mỗi khi bị ức hiếp quá độ.

Thật ra những người lãnh đạo ở Bắc Kinh hay Hà Nội đều biết rằng chẳng còn mấy ai tin vào chủ nghĩa Cộng sản nữa, nhưng vẫn phải cố giữ làm bình phong để duy trì quyền lực thống trị, so ra thì đâu khác gì cha con giòng họ Kim ở Bắc Triều Tiên, nếu có khác thì chỉ khác về hình thức, một bên là cha truyền con nối, còn bên kia là phân chia quyền lực cho phe nhóm.

Post Reply