QUÁN BIÊN THUỲ

hoangphong
Posts: 423
Joined: Tue Feb 12, 2019 7:20 am

Post by hoangphong »

Image

CƠN MƯA TRÁI MÙA & NIỀM THƯƠNG ĐAU
Phạm Lan Chi
Cơn mưa trái mùa bất chợt đổ xuống dữ dội, tiếng rì rầm như xé nát cái không gian tĩnh lặng của đêm khuya. Nằm cuộn mình trong chăn, trong cái ấm áp bình yên này, hắn chợt thấy tâm hồn buốt lạnh. Cái buốt lạnh tình cờ bởi một cơn mưa đêm.

Và rồi những kỷ niệm tự dưng tiếp nối gợn dần lên trong ký ức của hắn.

Ngày xưa, những ngày tháng đầu đời của một chàng lính chiến với trên lưng cái balô căng phồng vật dụng cá nhân, cặp alpha vàng chóe trên cổ áo. Hắn đã đến vùng đất trời máu lửa, nơi có những cánh rừng hoang tàn xơ xác, có những con đường nhầy nhụa đất đỏ cao nguyên, có những hố bom trải đầy nằm toang hoác như diện mạo của khuôn mặt của người bị bệnh đầu mùa tàn phá và cùng có những cơn mưa rừng dai dẳng mịt mùng.

Rồi những ngày tháng chập chững làm quen với gió sương, gai góc của chiến trường quả là những khoảnh khắc đáng nhớ không thể nào quên trong hắn. Nhiệm vụ thường nhật của một sĩ quan mới ra trường là hằng đêm dẫn lính đi phục kích. Chọn một góc rừng âm u, gối đầu trên ba lô, nệm chăn là vạt cỏ đượm ẩm sương đêm, suốt đêm lăm lăm trên tay súng đạn đã lên nòng, căng mắt trong khoảng trời đêm u tịch để nhận diện kẻ thù. Ngoài những đêm trời không mưa, nằm căng mình mặc cho muỗi đốt , kiến bò, còn có những đêm mưa mù gió lạnh nằm nghe tiếng mưa rả rích trong đêm dài tựa như những khúc nhạc não nề vô tận, quấn quanh người chiếc poncho sặc mùi nhựa mới, dựa lưng vào rậm cây bờ cỏ, nằm im không gây bất cứ một tiếng động nhỏ nào và chờ mong trời sáng để kết thúc một cuộc phục kích đêm.

Ngoài kia , mưa mỗi lúc một nặng hạt.

Hồi ức đớn đau lại chợt hiện về trong hắn hình ảnh một chuyến hành quân ngày nào. Cũng cơn mưa chiều trái mùa đã làm cho núi rừng trở nên âm u, hoang lạnh, đơn vị hắn đã vô tình tiến quân vào mật khu và rơi vào một vị trí bất lợi cho đơn vị, cuộc chiến diễn ra thật bất ngờ, chung quanh hắn là chỉ toàn là tiếng súng thượng liên dòn dã, tiếng lựu đạn xen lẫn trong tiếng mưa vang dội tạo nên thứ âm thanh hỗn tạp ghê rợn. Trong cuộc chiến đấu không cân sức đó, do mệnh lệnh của cấp trên để bảo toàn lực lượng hắn đã phải cắn răng bỏ lại xác 2 người chiến hữu tại đỉnh đồi Minh Thạnh. Nhìn xác đồng đội nằm bất động trong tầm tay với, bụi mưa nhạt nhòa trên rừng cây đầy xác lá hắn vẫn phải lặng lẽ quay lưng.
Giọt nước mắt nào cho đời trai thời chinh chiến?
Vinh dự nào cho cuộc chiến tương tàn?
Hạnh phúc nào cho máu nhuộm chinh y và cay đắng nào cho những bạn bè vĩnh viễn nằm lại nơi núi rừng hoang vắng?

Trong giây phút ấy, hắn đã nghĩ đến những người thân yêu của đồng đội đang dõi mắt mong đợi ngày về đoàn tụ, những người vợ trẻ đang ngóng đợi tin chồng, những đứa con bé bỏng đang ước ao lao vào vòng tay yêu thương của cha trong ngày về phép …. và hắn tự nhủ …. biết đâu một ngày nào đó rồi hắn cũng như các anh sẽ âm thầm nằm xuống ở một vùng núi rừng nào đó trên mảnh đất này...

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Damber Vùng đất lạ chôn vùi thân bách chiến !

Đoàn Phương Hải
Mũ Đỏ, Mũ Đen . . .
Tưởng nhớ anh Năm Nguyễn Đình Bảo, Nguyễn Đức Dũng, và những anh hùng Mũ đỏ, mũ đen đã vị quốc vong thân tại Damber.
Gửi N/T Bùi văn Lộc – Lê Văn Mễ, Phạm Đức Hùng, Phan Cảnh Cho, và những chiến hữu Mũ đỏ, Mũ đen, Công binh… đã tham chiến tại Damber để nhớ những ngày ngút ngàn máu lửa.

Trung Tá Nguyễn Đình Bảo (phải), Tiểu đoàn trưởng cùng tác giả, Đại Uý Đoàn Phương Hải (trái), sĩ quan hành quân, thuộc tiểu đoàn 11 Nhảy Dù tại Damber, Campuchia 1971.

Với sự yểm trợ, tiếp tay không giới hạn của khối Cộng Sản Nga, Tầu, Cộng Sản Việt Nam xua hàng chục Sư đoàn bộ binh cùng hàng ngàn xe tăng đại pháo quyết tâm xâm chiếm nhuộm đỏ miền Nam.

Hàng chục ngàn dân lành vô tội đã chết tức tưởi, oan khiên trong dịp Tết Mậu Thân, trên “Đại lộ kinh hoàng”, trên phố trên nhà, trên ruộng trên nương vì bom đạn. Quê hương dân tộc quặn mình trong bão lửa chiến tranh.

Để ngăn cản giặc thù, Quân lực miền Nam đã anh dũng chống trả giặc thù trên khắp 4 vùng chiến thuật. Không một địa danh nào có bóng Cộng quân mà không có gót giầy của người lính miền Nam tìm tới truy lùng tiêu diệt.

Nhằm phá vỡ hậu cần, an toàn khu của địch trên lãnh thổ Kampuchia. Giữa năm 1970 quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã liên tiếp truy kích, tiêu diệt địch trên lãnh thổ của xứ Chùa Tháp. Đầu năm 1971 các lưc lượng thiện chiến đã vượt biên đánh sang Hạ Lào, phá vỡ, tiêu diệt toàn bộ kho tiếp liệu, hậu cần, đại bản doanh, an toàn khu của Cộng Sản Việt Nam.

Sau hơn 2 tháng hành quân, vừa từ Hạ Lào trở về, Trung Tá Nguyễn Đình Bảo K14 Võ Bị, mang theo hơn chục năm kinh nghiệm chiến trường từ Lữ đoàn I Nhảy Dù được lệnh về chỉ huy Tiểu đoàn 11 Nhảy dù.

Sau thời gian ngắn chỉnh trang đơn vị, để ra mắt khai quân, 11 Dù đã trực thăng vận tiêu diệt gọn 2 Tiểu đoàn Cộng Quân bao vây căn cứ Hưng Đạo trên quốc lộ 22 chạy dài từ tỉnh lỵ Tây Ninh đến biên giới Việt Miên.

“Song kiếm trấn ải” 11 Dù tiến quân vào căn cứ trong tiếng reo hò, mừng tủi của anh em binh sĩ và gia đình sau hơn 2 tháng bị Cộng quân tấn công, bao vây và pháo kích đêm ngày.

Chiến thắng ngoạn mục đầu tay của quan Năm Nguyễn Đình Bảo làm nức lòng binh sỹ, mang khí thế mới về cho đơn vị.
Thừa thắng xông lên 2 Tiểu đoàn 11 và 5 Dù tiếp tục hành quân tiêu diệt địch quanh trại Lực Lương Đặc Biệt Thiện Ngôn, Lò Gò, Xóm Dứa, Xa Cát và Xa Cam.
Cuối tháng 10/1971, đang hành quân quanh căn cứ hoả lực Pace ngay sát biên giới Việt Miên thì 11 Dù được lệnh tùng thiết với Thiết đoàn 18 Kỵ binh vượt biên tiến chiếm mật khu Damber trên đất Kampuchia.

Dưới ánh nắng như thiêu như đốt, đất bụi đỏ ngầu, thì trên pháo tháp chiến xa, bên dàn máy truyền tin tua tủa “ăng ten” ngắn, dài, một người lính tầm thước với khẩu Colt 9 vắt ngang chiếc áo thung xám ngay trước ngực, đang sang sảng ra lệnh, chỉ huy. Đột nhiên ông giơ tay chào rồi nhảy xuống xe khi thấy Trung Tá Nguyễn Đình Bảo, Tiểu đoàn Trưởng TĐ11/ND đứng dưới gốc cây đang giơ cao tấm bản đồ. Hai người lính phong trần siết chặt tay, nhìn nhau rồi cùng phá ra cười.
Image
Ban Tham Mưu/Hành Quân chiến trường Damber 08/1971
– Niên trưởng “Đại Lộc”, lâu lắm anh em mình mới làm ăn chung, kỳ này vào Damber, chắc gay lắm phải không?

– Damber thì lúc nào chả gay, khúc xương khó nuốt, an toàn khu, bản doanh đầu não của Công trường 7 và 9 địch quân. Năm ngoái Thiết đoàn tôi và Mũ nâu Biệt động quần thảo suốt mấy ngày đêm với Trung đoàn Cộng quân tại “Miếu ông Sành”. Kỳ này mình phải nghiền nát Damber ra mới được!

Quan Năm mũ đỏ vung tay tự tin, rồi quay sang giới thiệu Thiết Đoàn Trưởng Thiết Đoàn 18 Kị binh, Thiếu Tá Bùi Văn Lộc Khóa 13 Võ Bị với Mễ, tôi, các Đại đội trưởng và ông Lang Tây Tô Phạm Liệu.

Xếp Mũ đen với biệt danh “Tầy Quầy”, lừng danh trận mạc trong binh chủng, người đẫy đà, da đen sạm vì phong trần, sương gió, cất tiếng cười sang sảng, quay sang bắt tay chúng tôi.

Tình tự Võ Bị từ ngày nhập trường ăn cơm lính, cho nên dù xếp Mũ đỏ, khóa 14, lon tuy cao hơn, nhưng vẫn một điều “Niên trưởng, hai điều Niên trưởng ” xưng hô với xếp Mũ đen.

Đang đấu hót tưng bừng thì ông đàn anh Khóa 6 Võ Bị, Đại tá Trần Quang Khôi, Chỉ huy trưởng Thiết giáp vùng III chiến thuật đáp trực thăng xuống ngay trận địa.

Trải rộng tấm bản đồ hành quân với chi chít tình hình, trục tiến quân xanh đỏ của ta và địch, Đ/T Khôi bàn luận kế hoạch hành quân, vạch rõ mục tiêu là phá hủy hậu cần, tìm và tiêu diệt cho được Bộ Chỉ Huy Công trường 7 Cộng quân đang có mặt tại Damber.

Thung lũng Damber dài gần hai chục cây số bên liên tỉnh lộ 75 và quốc lộ 7 trên đất Miên, nằm lọt trong những cánh rừng trùng điệp cây cao rậm rạp bao quanh. Tuy nhiên địa thế Damber lại tương đối trống với rất nhiều gò mồi, cây cối lúp súp, phủ đầy cây leo rậm rạp nhưng không cao quá đầu người. Băng ngang thung lũng là một con suối khá lớn, mùa này nước đã cạn nhưng đất rất dễ bị lún, gây khó khăn cho chiến xa di chuyển.

Trên quốc lộ 7, nhiều toán công binh chiến đấu, xe ủi đất của ông đàn anh Lâm Hồng Sơn mới gặp khi đi họp hành quân, đang vất vả phá hủy mìn bẫy, sửa chữa cây cầu chiến lược trên trục tiến quân .

Đoàn cua sắt trải rộng đội hình ào ào băng ngang những cánh đồng cỏ non. Làng mạc thôn xóm thanh bình, hiền hòa sau lũy tre, bên những hàng thốt nốt hoa trắng như hoa cau, cao thẳng, ngả nghiêng theo gió nổi bật trên nền trời.

Lính Dù không phải lội bộ nên thích thú cười đùa trên chiến xa, đang tiến quân như chẻ tre, càn quét qua các mục tiêu. Sau khi lục soát quanh căn cứ hỏa lực Hồng Hà ngay ngã ba liên tỉnh lộ 75 và quốc lộ 7, thì lực lượng xung kích Dù và Thiết kỵ chia làm 2 cánh.

“Mê Linh” Lê văn Mễ , Thiếu Tá Tiểu đoàn phó TĐ11ND và Đại Đội 114 của Trung úy Phan Cảnh Cho, phối hợp với Thiết vận xa M 113 giải tỏa, thanh toán áp lực địch đang ngày đêm pháo kích, bao vây tấn công căn cứ hỏa lực Hồng Hà. Sẵn sàng tiếp ứng cho mũi xung kích của Trung Tá Bảo và Thiếu tá Lộc đánh thẳng vào mật khu Damber.

Xếp Mũ đen có vẻ thắc mắc, ngạc nhiên khi thấy chúng tôi lúc nào cũng “Anh Năm, Anh Năm” xưng hô với xếp Mũ đỏ, mà không gọi bằng cấp bậc.

– Mấy chú em trong đơn vị ít khi kêu tôi là Trung Tá, lúc nào cũng xưng hô là Anh Năm, Anh Năm! Nghe mãi thành quen, thân mật, gần gũi như anh em trong nhà.

Nguyễn Đức Dũng, Hoàng Ngọc Hùng, Phạm Đức Hùng, Ba Đại úy Đại Đội Trưởng lừng danh Mũ đỏ, dầy dạn chiến trường, cùng xuất thân Khóa 22 Võ Bị, đang phối hợp với 2 Chi Đoàn Trưởng Mũ đen lừng danh trận mạc là “Bắc Đẩu” và “Phi Điểu” ào ào tiến quân trực chỉ Damber.

Địa thế vùng hành quân bắt đầu thay đổi khi một số chiến xa M 41 bẵng qua cây cầu lớn trên liên tỉnh lộ 75 vừa được Công binh sửa chữa. Ngay dưới cầu là một con suối khô, chạy từ Đông sang Tây ngang qua thung lũng Damber. Địa thế trở ngại cho chiến xa khi phải băng qua khu vực thấp và lún dưới lòng suối cạn, nhưng với thiết vận xa M113 thì không có gì trở ngại.

Với cái nhìn sắc bén, tinh nhậy của nhiều năm xông pha trận mạc, đàn anh mũ đỏ, mũ đen nhận ra ngay đây là tử điểm quyết định chiến trừơng, nên quyết định lựa một Trung đội Nhảy dù gồm toàn những tay súng gan dạ, kinh nghiệm cùng mình, và Sĩ quan liên lạc pháo binh nằm lại để nghe ngóng tin tức địch quân.

– Địch sẽ phục kích tại đây khi Chiến đoàn kéo quân trở ra! Mình sẽ dùng không quân, trận địa pháo và hỏa lực hùng hậu của Thiết giáp nghiền nát chúng tại đây!

Anh Năm gật gù cười, khoái trá nói với chúng tôi, giống như khi anh nheo mắt mó trúng con nhất vạn, ngửa bài ù toàn hàng trong canh mạt chược trên đồi Mũ đỏ, hay những lần đóng quân trong vườn Tao đàn đầy cây cao bóng mát, nườm nượp “khách giang hồ” lui tới ghé thăm.

Sau cả ngày tiến quân, tiêu diệt vài toán trinh sát nhỏ của địch. Chiến đoàn đóng quân quanh ngôi chùa cổ.

Vài hình ảnh về Anh Năm mũ Đỏ Nguyễn Đình Bảo, Trung tá Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 11 Dù tại Damber, Campuchia, 08/1971.
Image
TT Nguyễn Đình Bảo (đeo kính) chỉ huy cuộc hành quân tiến chiếm Damber Campuchia tháng 8 1971
Image
Đại Tá Trương Vĩnh Phước Cùng TT Nguyễn Đình Bảo tại Damber
“Tubip” Liệu, anh Năm và tôi, ngồi trên M113, nhìn nắng chiều trải những giải mây ngũ sắc giăng ngang lũy tre, vắt ngang mái chùa cong, nhuộm hồng khu nhà sàn trong xóm. Xa xa, trên bờ đê, lũ trẻ mục đồng vắt vẻo trên lưng trâu bên mấy nhà sư áo vàng nổi bật trên cánh đồng nhuộm ánh tà dương đang lững thững về làng, trông thật thanh bình, êm ả. Nếu không có chiến xa gầm thét, không có xích sắt quần nát ruộng nương, không có vỏ đạn đồng rải sáng bờ đê, xác người cong queo trên ruộng vườn kinh lạch, thì những người dân quê hiền lành kia nào ai biết đến chiến tranh!

Qua khỏi Miếu Ông Sành, (T/Tá Phan Văn Sành K17 Đà Lạt, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 30 BĐQ tử thương khi đụng địch gần ngay miếu. Anh em Mũ nâu tiếc thương đặt tên Anh cho ngôi miếu cổ) là hàng chục xác chiến xa cháy đen nằm rải rác trên cánh đồng. Mũ sắt, giầy trận, nón cối, dép râu vương vãi trên chiến điạ. Thiếu tá Lộc cho biết hồi đầu năm, hai Trung đoàn chủ lực của địch đã phục kích chiến xa và lực lượng hành quân ngay tại đây, gây tổn thất nặng nề cho cả hai bên.

Lại thêm một ngày bình yên trôi qua, tình hình yên tĩnh một cách đáng ngại. Chưa có chỉ dấu nào là 2 Trung đoàn của Công trường 7 có mặt trong vùng hành quân, theo như không ảnh và tin tức tình báo cấp cao của Quân đoàn ghi nhận.

– Anh Năm, địch cố tình tránh né không muốn đụng?
– Thì chúng cố tình dụ mình vào thật sâu rồi mới dốc toàn bộ lực lượng phục kích khi mình kéo quân ra. Hình như địch đã biết trước kế hoạch hành quân. Liên lạc toán trinh sát coi có nghe ngóng động tĩnh gì không? Nhớ ghi kỹ tọa độ, sẵn sàng pháo binh yểm trợ cho tụi nhỏ.

Đêm ngột ngạt yên tĩnh trong tiếng kinh, tíếng mõ văng vẳng từ ngôi chùa gần khu đóng quân.

– “Khều”! Năm ngoái, Tiểu đoàn 7 Nhảy dù đụng ở khu nào vậy?
– TĐ7ND cùng Thiết đoàn 5 của Trung Tá Thoàn là mũi xung kích cho Chiến đoàn 333 đánh qua Soài Riêng, vào Damber đụng lớn ngay trong khu này và thắng một trận lớn ở Phum Longieng.

Có đêm mới 2, 3 giờ sáng, Đại Tướng Đỗ Cao Trí đã đáp trực thăng ngay trận địa, bất ngờ ra lệnh cho Dù và Thiết kỵ ào ào đánh vào Damber tạo nhiều chiến thắng lớn.

Sau khi góp ý, bàn thảo thêm kinh nghiệm, mọi người im lặng tìm giấc ngủ với những suy nghĩ vẩn vơ.

Tiếng gầm thét của chiến xa, phá tan buổi sáng mờ sương khi ánh dương chưa lên khỏi hàng cây thốt nốt bên lũy tre làng. Tới gần trưa thì lực lượng hành quân đã càn quét hết các mục tiêu chỉ định tại Damber mà không gặp sức kháng cự nào đáng kể của địch!

Dù và Thiết kỵ dừng quân quanh ngôi chùa cổ. Vừa bước chân vào sân chùa thì đã thấy sư cụ chủ trì cùng đám dân quê cả trăm người gồm ông già bà cả, đàn bà con nít khóc như ri, đang run rẩy sợ sệt qùy lạy như tế sao.

Chúng tôi ngỡ ngàng vội đỡ tay hòa thượng đứng lên và chắp tay xá lại. Trên khuôn mặt gầy gò, đen sạm già nua, đôi mắt sâu ẩn dưới cặp chân mày bạc trắng nhuốm lên nét chịu đựng đau buồn.

Mặc dù mấy anh lính Miên trong đơn vị đã giải thích cho nhà sư và dân chúng biết mục tiêu của cuộc hành quân là tìm diệt Việt Cộng nhưng họ vẫn vừa lạy vừa khóc!

Hình ảnh ngôi đình, đứa bé đội chiếc mũ nồi đen, nắm chặt tay mẹ bên đám dân làng run rẩy, sợ sệt quỳ lạy đám lính Tây Lê dương ở nhà quê miền Bắc mấy chục năm trước hồi tôi còn bé chợt thoáng hiện về!

Lịch sử đang vô tình tái diễn. Ngày xưa tôi là một đứa bé ngơ ngác run rẩy, vái lạy đám lính Lê dưong. Ngày nay tôi đang là một người lính Nhảy dù đứng nhìn bầy trẻ đói gầy, đen đúa xá lạy chúng tôi trên một quê hương xa lạ!

Tuổi thơ Việt Nam trong thời loạn lạc, sợ xe tăng thiết giáp, vết giầy đinh trên bờ đê, khóc thất thanh khi thấy lửa cuồng bạo đốt cháy xóm làng. Ngày nay, những đứa bé, những người dân Miên khổ nạn kia cũng đang run sợ khi bom đạn đốt hừng hực đốt cháy quê hương!

Thấy dân làng và bầy trẻ nhỏ run sợ, thiếu đói, nghèo nàn bên dăm ba củ khoai, một ít cơm độn bắp với những vết thương máu mủ tanh hôi đang làm độc trên thân thể.

Anh Năm, “Đại Lộc”, ra lệnh cho tiền trạm xin trực thăng chở gạo sấy, đồ hộp, thuốc men vào vùng hành quân.

Xế trưa hôm đó những người lính mũ đỏ, mũ đen, gom dân lại để cấp phát lương thực. Băng bó, chữa trị những vết thương mưng mủ đang làm độc trên mình những người dân khốn khó và những đứa bé đen đúa gầy gò, khổ nạn của chiến tranh.
Nhìn những đôi mắt ngây thơ trẻ dại, rạng rỡ hân hoan nhai kẹo cao su, thè lươĩ liếm môi cho hết chút đường cát trắng, chậm chậm cắn miếng thịt heo. Mắt long lanh, đứng ngẩn người để cảm thấy vị ngọt, mùi thơm đang từ từ tan tận kẽ răng, ngấm sâu vào từng thớ thịt với những nụ cười hồn nhiên ánh mắt vui sướng, trông mới sót sa tội nghiệp làm sao!
Chắc đã lâu lắm chúng mới có một ngày no đủ. Vài đứa bạo dạn lại gần chiến xa, sờ sờ mó mó, khiến tôi nhớ lại hình ảnh tuổi thơ với chiếc quần đùi nâu đứng bên đường số 6, nghếch mũi ngửi cái mùi ngái ngái thơm thơm của dầu săng khi lại gần chiếc xe nhà binh.

Đêm im vắng, trời trong cao, lóng lánh muôn ngàn tinh tú. Văng vẳng tiếng tụng kinh ê a hòa với tiếng mõ khoan thai đều đều của sư cụ và mấy chủ tiểu trên chùa.
Gối đầu lên ba lô, ngả lưng trên nền gạch dưới mái hiên chùa, chúng tôi kể cho nhau nghe những ngày Tây về làng, theo bố, mẹ chạy loạn, tản cư, từ Cống thần, Chợ đại về tới Phủ Lý, Hà Nam..
Quê hương tôi sao quá đọa đầy! Ngàn năm đô hộ chống Tầu, trăm năm Trịnh Nguyễn phân tranh, rồi chống đánh Nhật, chống Tây. Năm 1954, đất nước chia đôi, yên ổn vài năm rồi lâm cảnh nồi da sáo thịt, huynh đệ tương tàn vì chủ nghĩa Cộng sản, vì mộng nhuộm đỏ giang san của người anh em miền Bắc!
Nghe tiếng đạn bom từ thuở lọt lòng, tham dự chiến tranh cầm súng bóp cò khi tuổi đời vừa đủ lớn đủ khôn!

Nếu vương quốc Cao Miên không cho phép Cộng quân lập an toàn khu trên lãnh thổ để tiến đánh miền Nam, thì chắc chắn xe tăng, đại pháo và những người linh miền Nam sẽ không có mặt trên xứ sở xa lạ nghèo nàn này!

Nhấm nháp ly cà phê nóng đầu ngày, khi những vệt nắng ban mai nhảy múa lung linh trên pông sô, bên tiếng hót trong cao của bầy chim chích chòe trên mái tam quan. Lòng thanh thản vì vừa qua một đêm yên tĩnh, không có tiếng súng, tiếng bom. Tôi lẩm nhẩm cầu xin may mắn cho đơn vị khi bứơc vào chùa giã biệt vị sư già.

Chiến xa lăn xích hướng về lại căn cứ hoả lực Hồng Hà để trở về quê mẹ. Hình ảnh dân làng và bầy trẻ đang giơ tay vẫy thấp thoáng bên lũy tre.
Image
Nhay du va Thiet ky hanh quan Cam Bot nam 1970.jpg

Nắng đã lên quá đỉnh đầu, không khí oi bức nhột nhạt khó chịu. Sau mấy tiếng đồng hồ quần nát vùng hành quân, chiến đoàn phân tán quân quanh bìa rừng để chờ tiếp tế lương thực, đạn dược và săng nhớt. Trực thăng võ trang bay lượn bao vùng cho mấy chiếc Chinnok đáp xuống tiếp tế. Hai ba chuyến thả hàng xong xuôi, chuyến cuối cùng đang là là trên mặt đất thì đột nhiên phòng không, cối 82 và hỏa tiễn của địch từ nhiều hướng khác nhau nhả đạn như mưa. Một Chinook trúng đạn sau đuôi, bốc cháy như một cây đuốc khổng lồ.
Trực thăng võ trang bao vùng nhào lên nhào xuống bắn phá vị trí pháo của địch.
May là rớt gần mặt đất nên phi hành đoàn Mỹ từ trong trực thăng chạy kịp ra khỏi thân tầu, trước khi trực thăng phát nổ. Lính mũ đen ào tới xịt bình chữa lửa lên mình mấy anh phi công Hoa Kỳ rồi kéo họ nhào xuống hệ thống phòng thủ.

Vì địa thế bằng phẳng toàn bụi rậm và rừng cây thấp nên phi cơ quan sát nhận ra vị trí súng của địch, chỉ điểm cho khu trục tới tấp nhào xạ kích, đánh bom trong màn lưới phòng không địch từ nhiều vị trí.

Mấy thiết xa M48 chất đầy săng nhớt mới tiếp tế may mắn không bị cháy, đang chạy ngang chạy dọc bơm săng, bơm dầu cho chiến xa.

Phi hành đoàn chiếc Chinook trúng đạn đang liên lạc qua hệ thống Mỹ để chờ trực thăng bốc ra.

Trời đã về chiều, đoàn quân di chuyển qua vị trí khác tìm địa thế đóng quân đêm.
“Tubip” Liệu đang chữa trị cho mấy quân nhân bị thương nhỏ to với ông bạn Bác sỹ quân y bên Thiết giáp.

– Bắt đầu vất vả rồi đó, đi chung với mấy ông mệt bỏ mẹ, lúc nào cũng ầm ĩ đầy mùi săng nhớt, phun khói đầy trời, nằm phơi bụng, phơi lưng lên cho chúng pháo. Chỉ được cái khỏe là đỡ phải lội bộ, hỏa lực ăn trùm thiên hạ và nhất là đầy đủ mấy ông Bud, ông 33 (bia Budwiser và bia 33)!
– Nhưng cũng dễ thành than lắm ông ơi! Mới chưa đầy một năm về đơn vị mà thiết đoàn đã đụng lớn cả chục lần, “rang muối” gần chục xe rồi đấy ông ơi !

Ngoài tuyến phòng thủ lính tráng đang đào hầm hố, dựng lưới chống B40 ngay trước đầu xe.

Quá nửa đêm khi mọi người đang say ngủ thì bỗng choàng mình tỉnh giậy, lăn xuống hố vì những tiếng nổ kinh hoàng cày tung đất đá ngay sát bên tai.

Tiếng nổ của hỏa tiễn, của cối 82 nghe ngắn, tê lạnh, buốt sắt đến hãi hùng. Cái âm thanh quen thuộc giống như tiếng mở nút chai nghe rõ mồn một từ góc rừng, kèm theo là những tiếng rít, tiếng hú rợn người của hỏa tiễn 122 đang quơ lưỡi hái tử thần sé gío bay đến vị trí đóng quân.

Mặc dầu đã qúa quen thuộc với những cơn mưa pháo khủng khiếp ở Hạ Lào, ở vùng hỏa tuyến. Thế nhưng cái giây phút cực kỳ ngắn ngủi, căng thẳng thần kinh trong lúc đạn đang bay tới mục tiêu vẫn làm cho thần kinh căng thẳng, tức ngực và khó thở! Vừa nghe đạn nổ đằng trứớc, đằng sau, bên trái, bên phải, thì lại hồi hộp, miệng đắng lưỡi khô khi nghe tiếng rít của đợt pháo tiếp theo. Cứ như thế mà chờ mà đợi, phó thác cho số mệnh!

Đột nhiên một tiếng nổ chát chúa kinh hoàng làm rung chuyển cả xe. Tai tôi ù đi, tối tăm mặt mày khi toàn thân văng lên đập vào thành xe. May là có thói quen khi nghe tiếng pháo là chụp chiếc mũ sắt lên đầu, nên không hề hấn gì cả. Ngay bên canh Trung tá Bảo cũng đang ôm ngực chống tay, dựa vào thành xe.

Lệnh lạc, báo cáo vang lên trong máy, “Bảo Ngọc” chụp ống liên hợp liên lạc với “Đại Lộc” và các đại đội ngoài phòng tuyến.

Bỗng có tiếng báo cáo của toán tiền đồn cho biết là Việt cộng tập trung rất đông, đang dàn quân, đào hầm hố, bố trí theo bờ suối, sát đường.

Vì sợ bị lộ vị trí nên toán tiền đồn sau khi đã quan sát, theo dõi và cho tọa độ vị trí địch, xin rút ra điểm hẹn trước khi trời sáng.

Mặc cho pháo vẫn tiếp tục rơi, thân thể còn đang ê ẩm. Anh Năm và tôi như vừa được uống một liều thuốc hồi sinh, quên cả đau, dán mắt vào vị trí địch quân trên bản đồ để phác họa trận địa pháo trút lên đầu địch.

– Đúng ngay chóc là thế nào chúng cũng phục kích mình tại đây. Tao sẽ dùng chiêu “Gậy ông đập lưng ông, tiền pháo hậu xung” mà địch vẫn thường dùng, để mưa pháo và bom lên đầu chúng. Hỏa lực sẽ thiêu đốt sạn đạo Damber. Công trường 7 Cộng quân sẽ tan nát, thảm bại trong trận thư hùng quyết tử này!
Anh Năm vừa nói, vừa khoanh tròn, di tới di lui cây viết chì mỡ trên tấm bản đồ, ngay vị trí địch một cách đầy tin tưởng.

Có tiếng C 47 Hỏa long vào vùng thả hỏa châu, đại liên 6 nòng như bò rống xả đạn vào vị trí địch, nhờ thế mà pháo địch im tiếng.

Vừa chui ra khỏi xe tôi đã điếng hồn vì trái hỏa tiễn 122 ly nổ ngay cạnh đào một hố sâu bên thành xe. Mảnh pháo chém đứt xích thiết xa, cây đại liên 50 trúng mảnh cong vòng văng xuống đất.

– Anh Năm, mình hên thật, chút xíu nữa là đi đứt. Kỳ này hành quân về Anh phải cúng heo và rời cột cờ đi chỗ khác!
– Mấy thằng tụi mày sao lúc nào cũng lèm bèm, tối ngày tìm đọc ba cái trò bói toán, tử vi, luận bàn cứ như thánh sống làm tao điên cái đầu!

Tubip Liệu mới từ xe bên cạnh chui ra phán thêm một câu.

– Đệ nhất phong thủy miền Nam, “Diễn tiên sinh”, khi được xếp lớn đón lên coi doanh trại đã lắc đầu nói là bộ chỉ huy nằm trên thế đất sát chủ. Đã thế sân cờ lại còn đối diện với Nghĩa trang quân đội. Nếu không dời ngay xuống phía Nam trông ra bờ sông thì lành ít dữ nhiều, chắc anh còn nhớ chứ anh Năm!
– Nghe nói Phủ đầu rồng, Dinh Thừa tướng, Bộ Tổng tham mưu, một số đại quan văn võ trong triều muốn thăng quan tiến chức, hưởng đủ bổng lộc trời ban, đều phải năm lần bảy lượt xin yết kiến “Diễn tiên sinh”, đó anh Năm!
– Ông Cần, Ông Tĩnh lựa Bộ chỉ huy và sân cờ, tao mới về có lựa chọn gì đâu! Nhưng chẳng biết đó là điềm vui hay điềm buồn, điềm lành hay điềm xấu cho quốc gia, mà Phủ đầu rồng, dinh Thừa tướng lại tin vào bói toán tử vi. Nay con rùa đặt chỗ này, mốt hồ nước, giả sơn đặt chỗ kia. Mình là dân quanh năm đánh đấm, trước khi xuất quân lại tin phong thủy, gieo cầu, cúng bái cầu xin thì còn đánh đấm giặc giã gì nữa!

Tôi ngước lên cao, trời trong ngập ánh trăng, cần ăng ten, đại bác, bóng người quanh pháo tháp lung linh di chuyển ngã dài theo ánh hỏa châu. Đại liên 6 nòng từ máy bay vẫn như bò rống vạch ngang vạch dọc từng giây đạn lửa đỏ rực trong đêm, xen kẽ với tiếng phòng không từ nhiều vị trí địch khác nhau bắn lên máy bay, đạn lửa đuổi nhau giữa bầu trời đầy sao vẽ thành bức họa chiến tranh lạ mắt.

Để chắc ăn cho cuộc tấn công vào sáng ngày mai, chúng tôi xin mấy “thảm” B52, nhưng Bộ chỉ huy cho biết là không có, và sẽ dành ưu tiên pháo binh, không quân cho trận điạ.

– Sáng rồi, mình “thượng đài” nhập trận đi anh Năm!
– Báo cho Mê Linh đón tụi nhỏ tiền đồn và sẵn sàng trong đánh ra, ngoài đánh vào, kẹp địch ngay chính giữa.
-Tụi nhỏ đã gặp phe ta rồi, hôm qua Mê linh làm ăn lớn, tiêu diệt nguyên một đại đội đặc công đánh vào căn cứ, tịch thu nhiều vũ khí và tài liệu của địch.

Trời sáng dần, ngồi trên pháo tháp chiến xa tôi nhấc ống nhòm nhìn về khoảng rừng trước mặt. Dọc theo tỉnh lộ, khu rừng lau đầy hoa trắng ngả nghiêng uốn mình theo gío, cảnh vật im vắng trong làn sương mỏng ban mai.

Sau những gò mối, lùm cây, bên bờ suối, giờ này chắc địch quân đang ẩn mình dưới giao thông hào. Chắc chúng cũng đang hướng ống nhòm, căn góc độ, dựng biểu xích, mở khóa an tòan của đủ loại vũ khí chờ Thiết giáp và Nhảy Dù tiến vào mục tiêu.
Tôi chợt nghĩ đến gia đình, một thoáng Saigon, mái ấm gia đình mờ mịt cuối chân mây.

Sau khi đã bàn thảo với “Đại Lôc” xếp Mũ đen, lệnh lạc rõ ràng cho các cánh quân. Trung tá Bảo vỗ mạnh vai tôi, xiết chặt hai tay vào nhau, ý như bóp nát địch quân. Ngay lúc đó là hàng ngàn tiếng rít sé gió của 3 pháo đội pháo binh Nhảy Dù của ông “Lước Hốc Môn” từ nhiều vị trí khác nhau “T.O.T” chụp đạn xuống mục tiêu. Rừng cây đất đá, bụi lửa tung lên cao khi đạn pháo xoáy vào lòng đất. Lẫn trong tiếng nổ hẳn có những đôi mắt trợn trừng lẫn với tiếng gào thét đớn đau. Máu thịt, cốt xương sẽ tan từng mảnh tung lên cao, vướng trên cành cây ngọn cỏ, hay vùi sâu trong lòng đất.
Hàng ngàn đạn pháo, hết đợt này đến khác vẫn đang xé gió cày tung vị trí Bắc quân.

Pháo vừa ngưng thì phi cơ quan sát L19 từ trên cao nhào xuống mục tiêu hướng dẫn khu trục oanh kích trận địa.
Từng đoàn khu trục, âm thanh rít bên tai, lao từ trên cao thả hàng chuỗi bom chụp trên trận địa rồi kéo cánh lên cao, trông rõ bộ đồ bay màu cam và chiếc nón bay của các phi công bạn.

Rừng cây bùng lên trong biển lửa khi bom “Napalm” chạm mặt đất hừng hực thiêu đốt cây rừng.
Phòng không địch bắn lên phi cơ, vẽ những bông hoa khói, xám đen, nổ như pháo bông dầy đặc quanh thân tầu.

Đúng là địa ngục rực lửa, lửa từ lưng trời rót xuống, lửa từ mặt đất bốc lên, lửa vàng chói hừng hực, cuồng bạo đốt cháy cỏ cây, thiêu hủy thân xác con người. Tất cả chỗ nào cũng chỉ nghe tiếng đạn tiếng đạn bom, chỗ nào cũng chỉ toàn lửa và lửa.


Phi cơ lắc cánh chào quân bạn bay khỏi vùng. Chiến trường còn đang bốc khói là Thiết giáp và Nhảy Dù xả đủ loại hảo lực ào ào xung phong vào trận địa.
Mặc dù bị nhồi giập vì pháo binh, bị đốt ngập trong biển lửa, nhưng đủ loại hỏa lực đại liên, B40, B41, đại bác không giật của địch vẫn nhả đạn như mưa vào đoàn cua sắt đang ào ạt tấn công.
Bị dồn vào tử lộ không lối thoát thân nên địch liều chết tử chiến tới cùng. Xạ thủ phòng không bị xích chân vào đại liên 37 ly nhả đạn như mưa chống trả.

Phối hợp nhịp nhàng nhị thức Bộ binh, Thiết giáp, kể cả chiếc xe ủi đất lớn của công binh cũng đang giơ nghiêng lưỡi cày bằng sắt dầy ngăn đạn cho lính Dù nhào lên thanh toán mục tiêu. Đây là lần đầu tiên trong bao nhiêu trận chiến lính Dù mới thấy cảnh lạ lùng khi anh tài xế can đảm, gan dạ, say khói súng cùng mũ đen, mũ đỏ lái xe ủi đất xông trận.

Ác chiến kéo dài từ sáng tới chiều. Mùi thuốc súng, mùi da thịt khét lẹt từ hàng trăm xác địch cháy đen. Xương thịt máu me nhầy nhụa đỏ lòm trong mắt xích chiến xa văng lên pháo tháp làm tôi muốn ói trước cảnh tượng khủng khiếp và ghê rợn.
“Tubib” Liệu và toán y tá quần áo đầy máu sau mấy gò mối lớn đang cấp cứu cho các thương binh.

Khi những tia nắng chiều vàng đỏ cuối ngày, lướt thướt kéo ngang rừng cây, nhuốm đỏ thành cầu, thì trận chiến cũng vừa tàn.
Bùn lầy, cỏ tranh, khu rừng hoa lau trắng đỏ ngầu màu máu, xác địch ngổn ngang, co quắp cháy đen.
Dăm ba chiếc nón sắt rằn ri móp méo lủng sâu vết đạn nằm bên những chiếc nón cối ngụy trang đầy lá cây rừng bên bờ lau sậy xào xạc gío chiều.

Trận chiến nào cũng có mất mát thương vong. Đại úy Nguyễn Đức Dũng Đại Đội Trưởng/ Đại đội 111/ TĐ11ND cùng gần 30 mũ đỏ, mũ đen đã hy sinh, và khoảng 10 thiết xa bị bắn cháy.

Tựa bên pháo tháp chiến xa nhìn về phía rừng cây, tôi như đang thấy những cánh rừng thông bạt ngàn xanh ngắt trên Đà lạt. Như thấy Dũng trong bộ đại lễ trắng đang quỳ xuống, đứng lên trong ngày lễ mãn khoá trên Vũ đình trường. Xa xa Lâm Viên đỉnh hùng vĩ giữa trời xanh… Tiếng gió, tiếng kèn, quyện với giọng ngâm buồn u uẩn bên ngọn lửa thiêng bập bùng trong đêm Truy điệu…

“Mô đất lạ chôn vùi thân bách chiến.
Máu anh hùng nhuộm thắm lá cờ Nam!
Sau khi tham dự hành quân Lam Sơn 719 tại Hạ Lào trở về. Vì nhu cầu công vụ, nên Dũng đang là một Sĩ quan sáng giá của Tiểu đoàn 5 Nhảy dù được lệnh thuyên chuyển về làm Đại Đội Trưởng cho TĐ11ND. Cả đơn vị không ai là không nhớ dáng dấp thư sinh, đẹp trai, hay mắc cỡ, mặt đỏ bừng như con gái của Dũng. Chính vì hiền lành dễ thương, lúc nào cũng cười, nên Dũng nổi tiếng đào hoa ttrong đám bạn bè, và thường bị các cô trêu chọc.
Đất lạ Damber đã cướp mất người anh hùng tuổi trẻ. Nguyễn Đức Dũng, khóa 22 Võ Bị. – Người “Thích mặc quân phục từ nhỏ, và đội Nón Đỏ khi ra trường”Người sỹ quan Dù can đảm, tháo vát trẻ trung, chưa thỏa chí tang bồng thì đã bỏ đồng đội bỏanh em!!!
Ngủ yên đi Dũng! Và nhớ kéo dù theo gió bay về quê cũ Bắc Ninh, nơi chốn bình yên, nơi dòng sông tuổi nhỏ, phụ lưu sông Đáy, sông Hồng cuồn cuộn phù sa. Nơi có giọng hò Quan Họ, hội Lim, nơi cất tiếng khóc chào đời, nơi không binh đao thù hận.

Trên đồi Mũ đỏ Long Bình, dưới giàn hoa dưa tím phất phơ bay trước căn phòng nhìn xuống ngã ba sông Đồng Nai mênh mông uốn khúc bên làng Cao Thái đầy cỏ nội hoa rừng, thoảng mùi thơm khuynh diệp sẽ mãi mãi vắng thiếu bóng anh!

Đêm đó Chiến đoàn dừng quân ngay trên trận địa, người sống và người chết ngủ vùi cạnh bên nhau.

Nằm yên trên võng, tôi lơ đãng nhìn những ngôi sao đổi ngôi sẹt ngang bầu trời, để nghe hơi thở, khói súng chiến trường lắng đọng trong tim.

Ngoài kia tiếng rên la đau đớn của thương binh ta và địch, đang gọi tên người thân, chống chọi từng giây từng phút với tử thần, còn có tiếng rên la, trăn trối của một sĩ quan thương binh miền Bắc nghe rất lạtai!

Chữ nghĩa, ngôn từ đã hoàn toàn đổi thay từ khi chúng tôi xa đất Bắc di cư vào Nam năm 1954. Đêm nay, người thương binh địch, quê quán Hà đông, cùng tuổi, cùng quê với tôi. Biết đâu thuở nhỏ lại chẳng biết nhau bên gốc đa đầu làng, chơi với nhau trước sân đình, bên giếng nước, khi mới dăm bảy tuổi. Anh thương binh đang thều thào gọi tên vợ con khi biết mình khó lòng sống sót với viên đạn xuyên ngang lồng ngực. Tấm hình đen trắng mộc mạc của cô gái quê với hàng chữ thương yêu gửi tặng chồng khi vượt Trường Sơn. Tấm ảnh vấy máu, đang nằm trong đôi tay khô héo, khi Tubip Liệu lấy ra từ trong túi đặt lên tay anh.

Dù mũ đỏ, mũ đen, dù nón cối dép râu, hay Bắc, Trung, Nam, khi nhắm mắt xuôi tay thì xác thân đều sẽ rã mục hình hài làm xanh tươi cây lá. Gió núi mưa rừng sẽ gột sạch máu xương. Chim chóc, muông thú sẽ kéo về. đời sống sẽ trở lại, thôn ấp xóm nhà, lũy tre, ruộng đồng, cây trái, sẽ xoá mờ đi vết tích chiến tranh

Tôi nằm đong đưa trên võng chập chờn nghĩ tới vợ con, để biết mình vừa sống còn qua trận chiến.

Với mấy trăm xác địch nằm ngổn ngang khắp nơi trên chiến địa. Đại liên phòng không, cối 82, B40, B41, đại bác không giật và hàng trăm cây AK sắp đầy như củi trên 4 chiếc M548. Trung đoàn địch trấn giữ Damber kể như bị xóa tên trên bản đồ trận liệt.

Dưới ánh nắng gay gắt, chói chang hầm hập nung người của xứ chùa Tháp, mùi hôi của xương thịt người chết mặc kẹt trong xích xe bắt đầu xông lên khó chịu.

– Hôi quá! Cả ngày ăn ngủ trên xe sao mấy anh chịu nổi!
– Thì cũng quen đi thôi!

Nói xong người lính Mũ đen rít hơi thuốc thơm Quân Tiếp vụ, từ từ nhả khói giọng nặng chĩu u buồn.

– Chiến tranh mà! Mới đó mà tôi đã qua 8 năm chiến trận. Không biết còn đánh nhau cho tới bao giờ! “Đi đêm mãi chắc cũng có ngày gặp ma”!

Tiếng máy truyền tin oang oang chuyển lệnh cho đòan quân rời vùng, tiếp tục hành quân giải tỏa liên tỉnh lộ7.

Mấy con qụa đen cất tiếng kêu quang quác, đang đứng rỉa lông trên nòng cây đại bác cong queo, cạnh vòng hoa kẽm gai trên mấy chiếc chiến xa cháy đen ngoài cánh đồng.

Đã hơn hai tháng miệt mài trong lửa đạn. Tôi đang nhớ Saigon, nhớ vợ con. Nhớ dàn hoa giấy đỏ trước nhà, và những con chim gi, chim chích chòe mỏ đỏ, cánh đen bay chuyền trong buổi trưa hè. Tự nhiên tôi thèm tô phở, ly cà phê, hơi thuốc. Nơi cuối trời, bếp lửa gia đình mờ mịt cuối phưong Nam…

Chiến tranh càng ngày càng nghiệt ngã. Quê hương, sông núi quặn chìm trong bom đạn. Tuổi trẻ miền Nam hết lớp này đến lớp khác gục ngã, hy sinh trên núi trên rừng, trên ruộng trên nương… lấy xương trắng máu đào để bảo vệ miền Nam.
Sau chiến thắng Damber, hơn nửa năm sau, một số bạn bè, đệ huynh trong trận chiến này đã lần lượt hy sinh trong mùa Hè bão lửa 1972.

Tháng 12/4/1972 Trung tá Nguyễn Đình Bảo vĩnh viễn nằm lại trên đỉnh Charlie vùng ba biên giới quân khu II, sau một tuần lễ tử chiến đẫm máu với 2 Trung đoàn 64 và 48 của Sư đoàn 320 Cộng quân.

Đai úy Hoàng Ngọc Hùng ĐĐTT112/TĐ11ND hy sinh ngay trước sân nhà, nơi anh cất tiếng khóc chào đời, sống những ngày ấu thơ êm đềm ngoài Quảng Trị. trong trận chiến tái chiếm Cổ Thành 6/1972.

Chi đoàn Trưởng Thiết Kỵ “Phi Điểu” hy sinh trong trận ác chiến tại đồn điền Krek, Kampuchia.

Chi đoàn Trường Chiến xa Bắc Đẩu chiến đấu tới hơi thở cuối cùng tại Hải Lăng!

Hình ảnh các anh như đang sống lại trong tôi khi cùng nhau xông pha trận mạc.

Xin thắp nén hưong lòng để tuỏng nhớ các Anh
Trận chiến đã nằm sâu, phai nhạt dần theo tuổi đời, năm tháng, thời gian từ hơn môt phần tư thế kỷ. Nhưng vì “Nhớ bạn bè, nhớ anh em”, nên người viết cố ghi lại hình ảnh đệ huynh của một thời chiến trường xưa cũ. Xin lượng tình tha thứ nếu như có điều gì sơ sót.

MĐ Đoàn Phương Hải
Memorial Day, Bắc Cali

hoangphong
Posts: 423
Joined: Tue Feb 12, 2019 7:20 am

Post by hoangphong »

Image

Lời Vĩnh Biệt Muộn Màng Dành Cho Người Bạn Nhảy Dù.
Phạm Tín An Ninh.
Sáng sớm thứ Bảy, ngày 26.10. 2019, tại Công viên Tượng Đài Chiến Sĩ Việt-Mỹ Westminster – California, một buổi lễ vinh danh và truy điệu thật trang trọng, theo đúng lễ nghi quân cách Mỹ – Việt, do Lost Soldiers Foundation phối hợp với Tổng Hội Gia Đình Mũ Đỏ VNCH tổ chức, nhân dịp an táng hài cốt 81 tử sĩ Nhảy Dù VNCH. Điều đặc biệt là những chiến binh Nhảy Dù này đã hy sinh cách nay gần 54 năm (ngày 11.12. 1965) tại Phú Yên, Việt Nam, và hôm nay xương cốt của họ lại được an táng trên đất nước Mỹ, một đồng minh từng có nhiều ân, oán với những người lính VNCH, sau ngày buông súng oan khiên 30.4.1975. Người Mỹ gọi 81 thiên thần mũ đỏ này là ‘những chiến sĩ không còn quốc gia’, nên việc an tang của họ khá phức tạp và gặp nhiều khó khăn. Có được kết quả như hôm nay là nhờ vào tấm lòng và công lao của Cựu TNS Jim Webb, cũng là cựu chiến binh từng tham chiến ở Việt Nam. Ông đã nói với chính quyền và nhân dân Hoa Kỳ:

‘Chúng ta không chỉ chăm sóc cho những người chết của chúng ta mà còn phải chăm sóc cho từng chiến sĩ VNCH đã từng chiến đấu với chúng ta. Những người lính vô danh này xứng đáng được tưởng nhớ vì danh dự và nhân phẩm của họ.’

Từ Bắc Âu sang tham dự, không những để tiễn đưa và truy niệm những chiến sĩ của một binh chủng thiện chiến, anh hùng, mà tôi còn chào vĩnh biệt hai người bạn cùng chung số phận, một người là đồng môn dưới mái trường trung học Võ Tánh, Nha Trang: cố Đại úy Phan Ngọc Bích; và một người đặc biệt khác, là bạn thân cùng Khóa 18 Thủ Đức, cùng một trung đội 14/4 Sinh Viên Sĩ Quan, và nằm cạnh bên nhau trong suốt thời gian ở quân trường: Cố Thiếu úy Dương Văn Chánh.

Dương Văn Chánh sinh ngày 08.01.1940 tại Thanh Hóa, là em út trong gia đình gồm năm anh chị em vốn có liên hệ mật thiết với Binh chủng Nhảy Dù. Người chị cả, Dương Thị Kim Thanh, từng là một trong bảy nữ quân nhân Nhảy Dù đầu tiên. Bà cũng là phu nhân của cố Thiếu Tướng Trương Quang Ân, là Tham Mưu Trưởng Lữ Đoàn (tiền thân của Sư Đoàn) Nhảy Dù (1962), Chiến Đoàn Trưởng Chiến Đoàn 2 Nhảy Dù (1964), trước khi trở thành Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh (1967), đơn vị mà tôi đã phục vụ suốt 10 năm binh nghiệp. Hai ông bà đều hy sinh tại Quảng Đức vào ngày 08.9.1968, khi phi cơ trực thăng chở ông bà bị bốc cháy, khoảng 10 phút sau khi rời tiền đồn Đức Lập, nơi ông bà vừa đến thăm viếng, ủy lạo binh sĩ.

Thời đi học, Dương Văn Chánh học ở trường Chasseloup-Laubat, rồi Tabert Saigon và cũng là một tráng sinh Hướng Đạo Việt Nam. Đang học năm thứ hai Luật Khoa, xếp bút nghiên lên đường nhập ngũ, vào khóa 18 Thủ Đức, ở cùng Trung đội 14/ Đại dội 4 SVSQ với tôi và nằm gần nhau. Chánh có vóc người trung bình, nhưng rắn rỏi da ngăm đen, giọng khàn khàn, nhìn có vẽ nghiêm nghị, nhưng lại rất vui tính, nghịch ngầm và luôn tận tình giúp đỡ anh em. Ra trường ngày 18. 3, 1965 được chọn về Binh chủng Nhảy Dù. Sau khi tốt nghiệp Khóa Căn Bản Nhảy Dù, Chánh được bổ nhậm về làm trung đội trưởng của TĐ7ND, đơn vị trực thuộc Chiến Đoàn 2 ND, mà Trung Tá Trương Quang Ân đang làm Chiến Đoàn Trưởng. Chánh bị thương khá nặng ngay trong trận đánh đầu đời, trận Đồng Xoài vào giữa tháng 6, 1965. Lần đầu tiên Cộng quân đã sử dụng một lực lượng tương đương cấp sư đoàn. Với quân số và trang bị quá chênh lệch, Tiểu Đoàn 7 ND bị tổn thất nặng nề. Khi Chánh vừa bò ra khỏi hầm thì một trái pháo địch rơi ngay vào hầm giết chết 2 bình sĩ còn lại trong đó, mọi đồng đội đều tưởng cả ba người đã tan xác nên báo cáo Chánh tử trận. Chánh và một số chiến sĩ Nhảy Dù phải lẩn trốn trong rừng, ba ngày sau mới tìm về trình diện đơn vị. Trong thời gian dưỡng thương, anh được về ở với gia đình cha mẹ, gần Bệnh Viện Chợ Rẫy. Không ngờ đó cũng là những ngày cuối cùng gia đình nhìn thấy Chánh trước khi anh lên đường tham chiến tại Cao Nguyên, để rồi không bao giờ trở lại.

Vào ngày 11.12.1965, chiếc vận tải cơ C-123 của Không Lực Hoa Kỳ có số đuôi 64376 do Thiếu Tá Robert M. Horsky lái. Chiếc máy bay có phi hành đoàn gồm bốn quân nhân Hoa Kỳ, chở theo 81 chiến binh thuộc Đại Đội 72ND với đầy đủ vũ khí, đạn dược, trên đường từ phi trường Pleiku bay về Tuy Hòa, nhằm mở cuộc hành quân tiếp ứng, giải vây cho một lực lượng của Sư Đoàn Mãnh Hổ Đại Hàn bị Cộng quân vây hãm. Khoảng cách chỉ khoảng một giờ bay, nhưng chuyến bay đã không bao giờ đến đích.

Phi cơ cất cánh lúc 10 giờ 18 phút sáng, nhưng sau đó mọi điện đàm bị mất và trên màn hình radar không lưu cũng không còn dấu vết chiếc vận tải cơ C 123 này. Ngay sau đó, Hoa Kỳ đã cho máy bay trinh sát đi tìm dấu vết phi cơ lâm nạn. Sau ba ngày liên tiếp tìm kiếm nhưng không kết quả vì sương mù dầy đặc nên phải tạm ngưng. Bảy ngày sau, từ trên phi cơ trinh sát, toán tìm kiếm đã phát hiện chiếc phi cơ lâm nạn bị gẫy nát nằm trên một triền (đỉnh) núi ở phía Tây Nam và cách Tuy Hòa khoảng 20 dặm. Nhưng vì địa thế hiểm trở, sương mù vây phủ, lại nằm trong vùng địch nên không thể lấy xác được.

Chánh cùng 80 đồng đội được báo cáo mất tích. Gia đình nhận dược “Tờ Trình Ủy Khúc” và vẫn nuôi hy vọng là có thể Chánh bị bắt để sẽ được trao đổi tù binh. Bạn bè cùng khóa vẫn tưởng là Chánh đã hy sinh từ tháng 6.1965 trong trận Đồng Xoài, và là người tử trận đầu tiên trong số 40 SVSQ thuộc Trung Đội 14/4 của Khóa 18 chúng tôi.

Sau này, khi phục vụ tại Sư Đoàn 23 BB mà Chuẩn Tướng Trương Quang Ân là tư lệnh, tôi có nhiều dịp được gặp ông, và một vài lần được nói chuyện với bà Dương Thị Kim Thanh, phu nhân của ông, trong các dịp ông bà đến ủy lạo đơn vị hay thăm viếng trại gia binh, một đôi lần định hỏi thăm về Chánh, nhưng tôi ngại không dám.

Khi ra hải ngoại, tôi bắt đầu tập tành viết lách, kể về những kỷ niệm quân trường, bè bạn, trong đó có nhắc tới Dương Văn Chánh, viết về đơn vị, về vị tư lệnh đặc biệt tạo nên nhiều giai thoại, về những cuộc hành quân và cái chết của ông bà Tư lệnh Trương Quang Ân. Không ngờ các anh chị của Chánh lại là độc giả. Anh Dương Văn Hóa, là anh cả của Chánh, em kế của bà Dương Thị Kim Thanh, định cư ở Canada, liên lạc với tôi nhiều lần, và có lần sang thăm Vương quốc Na Uy, nơi gia đình tôi sinh sống, nhưng tiếc là đúng vào lúc tôi đang nghỉ hè ở Tây Ban Nha, nên không được gặp. Biết tôi là bạn thân của Chánh, người em út bất hạnh của gia đình, anh chị càng quí mến tôi hơn.

Đầu tháng 10. 2019, nhận được điện thư của anh Dương Văn Hóa, báo cho biết là anh chị và gia đình sẽ sang Cali để tham dự lễ an táng hài cốt của 81 tử sĩ Nhảy Dù, trong đó có Dương Văn Chánh. Khi ấy tôi mới biết là Chánh chỉ bị trọng thương ở trận Đồng Xoài, chứ không phải tử trận như tin tức nhầm lẫn trước đây. Anh nhờ nhà văn Phan Nhật Nam và tôi theo dõi để cho anh biết chính thức các chương trình truy điệu và an táng. Anh Phan Nhật Nam là bạn đồng đội, trước đây cùng ở Đại đội 72 ND với Chánh, và họ là hai sĩ quan của Tiểu Đoàn 7 ND còn sống sót trong trận Đồng Xoài, nhưng sau đó anh Phan Nhật Nam đã chuyển đi tiểu đoàn khác, nên không tham dự cuộc hành quân tại Cao Nguyên cùng với 81 đồng đội tử nạn.

Để có thể theo dõi chính xác việc an táng và truy điệu, khi các chương trình thay đổi liên tục, tôi giới thiệu một anh bạn có sinh hoạt thường xuyên với Gia Đình Mũ Đỏ cũng như Chi Hội Nam Cali, anh cũng là một Y sĩ và nhà văn của Nhảy Dù, Bác sĩ Vĩnh Chánh. Không ngờ vợ chồng Bác sĩ Chánh cũng có mối quan hệ thân tình với anh chị Hóa, vì chị Hóa từng là học sinh của mẹ Chánh thời còn trung học và cũng là bạn cùng lớp với một người chị của Bs Vĩnh Chánh. Bs Chánh đã nhiệt tình trong việc cung cấp các tin tức cần thiết về chương trình truy điệu và an táng 81 tử sĩ Nhảy Dù vào ngày 26.10.2019, cũng như cho Ban Tổ Chức biết có sự tham dự của gia đình, gồm anh chị và các cháu của cố Thiếu úy Dương Văn Chánh, để tiếp đón và sắp xếp các nghi thức cần thiết.

Theo lời hẹn, Bs Vĩnh Chánh và tôi đón anh chị Dương Văn Hóa và vợ chồng chị Dương Thị Kim Sơn, em gái kế anh Hóa, trước Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ. Dù anh Hóa đã trên tuổi 85 và trước đây chưa hề gặp nhau, nhưng tôi dễ dàng nhận ra anh, bởi khuôn mặt và dáng dấp khá giống bạn tôi, Dương Văn Chánh. Trong dịp này tôi cũng được gặp cháu Trương Thị Thùy Anh, ái nữ của Ông Bà cố Thiếu Tướng Trương Quang Ân, đến tiễn biệt ông cậu út của mình. Thùy Anh còn có người chị, Trương Thị Trâm Anh và cậu em Trương Quang Thế Anh. Sau ngày bố mẹ mất, các cháu còn rất nhỏ, được ngoại và sau đó là Cậu mợ Hóa nuôi dưỡng.

Khi chiếc quan tài chứa hài cốt của 81 tử sĩ Nhảy Dù, phủ lá quốc kỳ VNCH, được các đồng đội Mũ Đỏ đưa vào vị trí lễ đài, giữa hai hàng chiến binh Nhảy Dù và các binh chủng bạn đứng nghiêm chào, trong tiếng nhạc tưởng niệm trầm buồn, tôi thấy anh Hóa ngậm ngùi, những dòng lệ ứa ra dưới mắt kiếng đen.

Đi theo sau chiếc quan tài, mà anh Hóa tin tưởng là có một phần xương cốt của em mình trong đó, đến nghĩa trang Westminster Memorial Park. Một buổi lễ hạ huyệt theo đúng lễ nghi quân cách. Bảy quân nhân Hải Quân Hoa Kỳ bắn 21 phát súng tiễn biệt. Lá quốc kỳ phủ trên quan tài được trịnh trọng lấy xuống, xếp lại và trao cho anh Chi Hội Trưởng Mũ Đỏ Nam Cali, thay vì trao cho anh Dương Văn Hóa, đại diện thân nhân tử sĩ, như đã dự trù. Ban Tổ Chức cho biết, có nhiều thân nhân, nên không thể chỉ trao cho một người. Một quyết định hữu lý. Duy có một điều lạ, tôi đã thưa với cựu Trung Tá Bác sĩ Nguyễn Quốc Hiệp, Chủ Tịch Gia Đình Mũ Đỏ Trung Ương, không hiểu tại sao trong suốt hai buổi lễ, truy điệu và an táng, không thấy Ban Tổ Chức nhắc nhở hay dành cho thân nhân của các tử sĩ hiện diện một hình thức nào, ngay cả được rãi nắm đất hay cành hoa xuống huyệt mộ, trên chiếc quan tài, trước khi lấp đất. Bác sĩ Hiệp cho biết ban đầu các chi tiết này có trong chương trình, nhưng giờ chót không hiểu vì sao Ban Tổ Chức (LSF) đã hủy bỏ, vì vậy Gia Đình Mũ Đỏ sẽ tổ chức riêng buổi thắp nến cầu nguyện ngay buổi tối hôm ấy, đặc biệt dành cho thân nhân của những tử sĩ Nhảy Dù. Một việc làm đầy nghĩa tình của Gia Đình Mũ Đỏ, rất đáng được ngợi ca.

Buổi tối, lễ thắp nến và cầu nguyện đã diễn ra trong bầu không khí trang nghiêm và cảm động. Tất cả đèn điện đều tắt, hơn 500 ngọn nến trên tay của những người tham dự, tạo nên một khung cảnh huyền nhiệm. Thân nhân tử sĩ được mời lên trước lễ đài niệm hương trong khi ban tế lễ đọc bài văn tế trong tiếng chiên trống chiêu hồn tử sĩ. Anh Dương Văn Hóa đã đại diện những thân nhân, nói lên cảm tưởng của mình:

‘Xin thay mặt gia đình cố Thiếu Úy Dương Văn Chánh, chúng tôi xin vô vàn cảm ơn quý vị Gia Đình Mũ Đỏ đã bỏ nhiều công sức để tổ chức lễ truy điệu, an táng và đêm thắp nến tưởng niệm cho 81 chiến sĩ Nhảy Dù đã lâm nạn vào Tháng Mười Hai, 1965, trong đó có em trai út của chúng tôi là Dương Văn Chánh.

(Lễ truy điệu và đọc văn tế)

Chánh tốt nghiệp khóa 18 trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, chọn phục vụ trong Binh Chủng Nhảy Dù theo vết chân của chị chúng tôi là cố Chuẩn Úy Nhảy Dù Dương Thị Kim Thanh, một trong bảy nữ quân nhân Nhảy Dù đầu tiên của Quân Lực VNCH, và anh rể là cố Thiếu Tướng Trương Quang Ân, cựu chiến đoàn trưởng Chiến Đoàn 2 Nhảy Dù, và là cựu Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh. Cả hai anh chị chúng tôi đã tử nạn trong chuyến bay trực thăng thị sát mặt trận Đức Lập vào Tháng Tám, 1968.

Trong đau buồn, gia đình chúng tôi vẫn rất mừng là cuối cùng sau 54 năm, cái chết trên đường thi hành nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc của em trai chúng tôi và 80 đồng đội Nhảy Dù đã được mọi người quan tâm, nhất là cựu Thượng Nghị Sĩ James Webb, tổ chức Lost Soldier Foundation và Đại Gia Đình Mũ Đỏ VNCH Hải Ngoại đã tận tâm tổ chức cho những tử sĩ này một buổi lễ truy điệu trang trọng, một nơi an nghỉ ấm áp trong lòng đất của thủ đô tị nạn Little Saigon.’

Trong mấy ngày lưu lại Nam Cali, anh chị Hóa thường gặp gỡ, tâm tình cùng tôi và Bs Vĩnh Chánh. Anh chị xem chúng tôi như em, dành cho chúng tôi tình cảm thương quí mà anh đã từng dành cho Dương Văn Chánh, đứa em út của anh chị đã bỏ lại gia đình khi tuổi còn rất trẻ, cũng là người bạn thân của tôi trong suốt thời gian ở quân trường, trên ngọn đồi Tăng Nhơn Phú, giờ chỉ còn đọng lại trong ký ức cùng với bao điều mất mát tang thương khác.

Trước khi anh chị Hóa rời Cali, tôi và Bs Vĩnh Chánh cùng đưa anh chị Hóa đến nghĩa trang WMP thắp hương trước mộ Chánh cùng 80 tử sĩ đồng đội của anh, giờ đã thực sự yên nghỉ trên một đất nước tự do và trong vòng tay yêu thương của tất cả đồng đội, đồng bào.

Khi nói lời tạm biệt, anh Hóa cầm tay tôi thật lâu, cả hai anh em đều xúc động. Nhìn khuôn mặt và dáng dấp của anh, tôi có cảm giác như đang bắt tay với Dương Văn Chánh trong ngày chia tay rời khỏi quân trường, mỗi thằng sẽ đi mỗi ngã, về những vùng lửa đạn, để rồi sau 54 năm mới gặp lại trong một hoàn cảnh âm dương cách trở như hôm nay. Bước tới trước mộ bia, đứng nghiêm đưa tay chào, tôi thì thầm:

–“Vĩnh biệt các anh – Vĩnh biệt Dương Văn Chánh!”

Bất chợt, một cơn gió lốc bỗng từ đâu ào đến, cuốn theo mấy cánh hoa trên mộ bay vút lên nền trời xanh

Phạm Tín An Ninh
(29.10.2019)
Nguồn: http://phamtinanninh.com/?p=4320

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Người Lính Già Trên Chuyến Tàu Đêm
Nguyên Nhung

Con tàu chuyển mình ra khỏi ga Hoà Hưng vào lúc hoàng hôn, đuổi theo là những mảng mây tím trên nền trời. Sài Gòn nằm lại đằng sau với phố phường rực rỡ ánh đèn, xe cộ chen nhau trên đường phố, nóng và bụi khiến con người tưởng như đang chìm lỉm trong bầu không khí đặc quánh đầy ô nhiễm.

Hơn mười năm trở lại quê nhà, lúc bước xuống phi trường Tân Sơn Nhất, buổi xế trưa trời nóng bức, không khí ngột ngạt. Ông Bảo lặng lẽ nối đuôi sau đám hành khách đang lục tục xếp hàng làm thủ tục hải quan, mồ hôi vã ra đầy người. Người về lặng lẽ chờ, cảm giác có nôn nao nhưng không láo nháo bằng đám người nhà đang đứng ở phía ngoài chờ đợi thân nhân. Khi ngồi trên chiếc taxi chạy ra khỏi phi trường, ông Bảo mới ngỡ ngàng nhìn một Sài Gòn thay hình đổi dạng. Sài Gòn đây rồi, hơn mười năm biền biệt vắng xa, ông Bảo cố tìm lại vài nơi chốn quen ngày xưa khi chiếc xe tắc xi len lỏi trong dòng xe đầy nghẹt trên đường phố.

Thay đổi nhiều, nhưng ông Bảo không phải về để tìm điều gì trong cái thành phố diện tích chật chội với tám triệu người dân, đang chen chúc nhau gần như không có không khí để thở. Ông chỉ lướt qua Sài Gòn, rồi về nghỉ ở nhà bà con vùng ngoại ô thành phố, chờ chuyến xe lửa ra Trung, ở đó có bà mẹ già của ông đang thoi thóp những ngày cuối đời chờ đứa con xa trở về.

Đã quen với những xa lộ thênh thang của nước Mỹ, những khu nhà ở cách xa nhau nằm ẩn mình sau những bóng cây xanh, phố xá cũng ít bộ hành trên đường phố. Ông Bảo cảm thấy hơi ngộp thở trước cái nóng, cái bụi, cái ngột ngạt của một Sài Gòn đang chuyển mình để ngoi lên với những đô thị lớn trên thế giới.

Hồi xưa ông ít khi có dịp về Sài Gòn, bởi thế với ông sự thay đổi ấy không làm ông choáng ngợp bao nhiêu. Mười hai năm ở quê người, mỗi lần nhớ về quê hương, trong óc ông hỗn độn nhiều hình ảnh khắp ba miền đất nước, nhưng quả đáng tội, hồi niên thiếu ông sống ở miền Trung, dải đất nghèo nhất trong ba miền Trung Nam Bắc, đã để lại nhiều nỗi nhớ sâu đậm trong lòng ông, dù ông được sinh ra ở miền Bắc.

oOo

Trời dần tối, những vì sao giờ này mới nhấp nháy trên nền trời tối thẫm như nhung. Bỏ lại Sài Gòn hòn ngọc Viễn Đông, thành phố ánh sáng của những người giàu và cũng nơi trú ẩn cho những người nghèo trong những hẻm hóc tối tăm không bình yên. Nơi nào cũng vậy, ở Mỹ người ta vẫn có thể bắt gặp được những hình ảnh tương phản của sự nghèo giàu, nhưng không quá chênh lệch như ở Việt Nam. Chẳng cần nhìn đâu xa, ngay trên chuyến tàu này, những người như ông từ nước ngoài về, những du khách ngoại quốc muốn tìm cảm giác cuả chuyến tàu đêm, hoặc những người thành phần khá giả ở trong nước thường vẫn kiếm một chỗ khá đầy đủ tiện nghi trên xe lửa. Còn ở những toa tàu ngồi, giữa khoảng trống cuả hai hàng ghế, lổn nhổn những chân cẳng và hành lý ngổn ngang, người đi tàu đang thu dọn để tìm một chỗ nghỉ lưng suốt đoạn đường dài ra Trung, Bắc. Toa ông ở có bốn người, hai anh Tây ba lô đi du lịch Việt Nam, một người Việt có vẻ thuộc hạng khấm khá về thăm nhà ngoài Trung. Khi vào phòng, loại giường hai tầng khá bất tiện khi ban đêm có người lục đục trèo xuống để ra ngoài. Mọi người chỉ gật đầu mỉm cười với nhau rồi tìm chỗ của mình. Chiếc giường nệm trắng toát, có bàn để ngồi uống trà, vài cuốn quảng cáo về du lịch để trên mặt bàn, ông bỗng nghe tiếng nhạc dặt dìu vang lên , có lẽ từ lúc chuyến tàu đêm chuyển bánh mà ông không để ý.

Quái lạ! Bản nhạc "Tàu Đêm Năm Cũ" được một cô ca sĩ có giọng trầm buồn vẫn lồng lộng vang lên trên chuyến tàu đêm ra miền Trung, khiến ông bàng hoàng lặng đi một chút khi nghĩ về những cảnh chia ly trên sân ga hiu hắt ánh đèn mờ, ở những thập niên trước khi chiến tranh còn đang sôi sục.

"Trời đêm dần tàn, tôi đến sân ga nơi tiễn người trai lính về ngàn, tàu cũ năm xưa mang về trả cho tôi người xưa..."

Thốt nhiên, ông nghe mắt mình nằng nặng, cảm giác những chuyến tàu đêm năm cũ hồi ông còn là một người lính bỗng ào ạt trở lại, như là ông lại một lần nữa nhìn thấy bóng dáng người lính năm xưa, bùi ngùi nắm tay người yêu trước giờ chia biệt. Và tiếng còi tàu, ôi tiếng còi tàu sao lúc ấy nó não nùng như hồi kèn truy điệu. Ông vội nhắm mắt lại để đừng nghĩ gì nữa. Chung quanh ông còn lại gì, chập chờn ảo giác cuả những hình xưa trở lại. Không, ông vẫn đứng đây, bên khung cửa sổ cuả toa tầu hạng nhất, tóc đã bạc, đôi mắt sụp mí khi về già, nhìn mải miết vào bóng đêm mịt mùng để tìm lại những hình bóng cũ.

Con tàu tăng tốc độ, hé mở cửa sổ phía bên ngoài ông không nhìn rõ gì lắm, chỉ nghe vù vù tiếng gió đêm thổi bạt hai bên tai. Có lẽ sau hai tiếng đồng hồ hay hơn một chút, ông lại thấy con tàu đi vào khu thành phố rực ánh đèn. Khung cửa lưới của toa tàu khá rộng, hai người Tây ba lô đang nhai mỗi anh một ổ bánh mì thịt, vừa rù rì nói chuyện, người đàn ông Việt Nam cùng phòng cũng đứng ở đó từ bao giờ, ngắm cảnh lên xuống ở sân ga. Ông quay sang người bạn đồng hành hỏi trỏng:

"Đây là đâu nhỉ?"

Ông ta cũng trả lời trống không, giọng miền Bắc:

"Tới Long Khánh rồi". Rồi nhìn đồng hồ ông ta tiếp:

"Hơn chín giờ. Ông về đâu?"

"Tôi ra Quảng Ngãi."

Ông trả lời vắn tắt. Người khách tò mò hỏi thêm:

"Ông từ nước ngoài về?"

Ông lắc đầu, nói "Không, không". Có gì chứng minh được ông là người xa quê mới về thăm nhà, bộ quần áo tầm thường khiến ông trông giống một người lính già đã giải ngũ hơn là một Việt Kiều về thăm quê. Mà ông chính là người lính già về thăm quê thật, cho là cái lằn Nam, Bắc nằm chình ình ngay chính giữa, thì ông vẫn chỉ là một người lính già không hơn không kém.

Bốn chữ "Nhà Ga Long Khánh" lộng lẫy đóng khung trong những bóng đèn xanh đỏ đập vào mắt ông, khiến ông chợt buồn rầu khi nhớ rằng có một thời vợ ông đã vất vả đi lên đi xuống cái sân ga này. Từ đây đi thêm một cuốc xe "Lam" nữa, cách thị xã khoảng mười cây số. Hai bên đường là những làng mạc của dân di cư miền Bắc, đi khoảng 2 cây số là đã thấy nhà thờ. Chỗ đấy có một trại tù, ngày xưa vợ ông đã đi tìm chồng hú họa ở cái địa chỉ mang những con số đầy bí ẩn và tối tăm như đời tù tội của ông.

Gần ba mươi năm trước, vợ ông giả dạng thành một người bán rong gánh trái cây lặn lội lên Long Giao tìm chồng. Long Giao là căn cứ quân sự cuả sư đoàn 18 Bộ Binh để lại, khu quân sự rộng lớn bao xung quanh là những con đường đất đỏ bụi mù. Sau vùng này trồng chuối bạt ngàn xen lẫn với những vườn tiêu của dân địa phương, len lỏi vào khu vườn chuối là những con đường đất nóng bỏng.

Năm đầu ở Long Giao, vợ ông vẫn bỏ lũ con thơ ở nhà, đi tìm chồng với cái hy vọng mong manh là tìm được chồng trong đám đàn ông ngày ngày vác cuốc đi lao động xung quanh trại. Mỗi lần đi, bà lại quảy trên vai một đôi gánh, dưới thúng đựng dăm thứ đồ ăn tiếp tế, trên chiếc mẹt ngụy trang vài thứ trái cây. Từ một khoảng xa đến hai lớp hàng rào kẽm gai, đám đàn ông thất trận ngừng tay cuốc ngóng mắt nhìn theo một đám phụ nữ dáng dấp thon thả đang lố nhố đứng ngoài khu vườn chuối ngó vào. Kẻ ngóng ra, người ngó vào, bụi và nắng nhấp nhoá nên khó nhận ra nhau, thỉnh thoảng đám phụ nữ trẻ lại mon men xấn vào gần hàng rào kẽm gai để được gần gũi hơn đám tù đang cuốc đất, lại bị đuổi ra xa như một bầy gà nhao nhác. "Làm sao gần được em ơi, hai hàng rào kẽm gai với lại những câv súng kè kè như vậy". Họ í ới gọi nhau hỏi chuyện, lần ấy may mắn ông đã nhận ra vợ trong chiếc áo cánh trắng, trên đôi vai nhỏ bé là đôi đòn gánh mà ông không hiểu làm sao vợ ông lại có thể gánh được, khi từ bé đến lớn bà chưa hề biết gồng gánh là gì. "Cạn ao thì bèo xuống đất", ông thương vợ quá, nhưng cũng phải công nhận sự khéo léo và nhẫn nhục cuả vợ trong thời buổi nhiễu nhương ấy.

Chỉ lần ấy thôi vợ chồng nhìn thấy nhau để rồi ông lên đường ra Bắc. Đêm ấy khi ngồi trong chiếc xe bịt bùng để đi xa, ông có nghe tiếng còi tàu. Tiếng còi rúc lên lạnh lùng như tiễn biệt, lòng ông quặn đau khi nghĩ đến vợ con. Sau này ông có nghe bà kể, nhà ở gần sân ga, chiều nào bà cũng tìm một nơi yên lặng để ngóng tiếng còi tàu, cứ hy vọng con tàu ấy sẽ là chuyến tàu đêm năm cũ trở về sân ga, có ông tàn tạ trở về với bà và lũ con.

Mới đó mà gần ba mươi năm. Mười ba năm trong tù ông không quên. Giờ này khi tàu ngừng trên sân ga Long Khánh, ông vẫn nhớ cái khởi đầu cuả một cuộc hành trình mười ba năm ông bị bứt ra khỏi mái ấm gia đình. Hú vía! Ông còn đây, thân hình có tiều tuỵ nhưng vẫn còn đây, ông sờ vào hai lỗ tai lạnh để biết rằng mình vẫn còn đây, người tù mười ba năm vẫn còn đây, với những vết sẹo đã lành da vẫn ngứa ngáy một cách dị kỳ khi nhớ lại...

Sau thời gian dừng lại để khách lên khách xuống, con tàu lại rùng rùng chuyển bánh, ông để ý hễ tàu đến tàu đi, đều có kèm theo một hồi còi rất dài,nó kêu tu tu trong đêm vắng, buồn thắt ruột. Nhạc lại vang vang trong đầu ông, toàn những bản đã cũ:

"...Chiều nay có phải anh ra miền Trung, về thăm xứ mẹ cho em về cùng. Rồi ta sẽ đi chung chuyến tàu..."

Tiếng hát vang vang một âm điệu rộn rã, những bản nhạc một thời viết cho lính lại được sống lại trong chuyến tàu đêm. Giờ này ở đây chỉ có người lính già đi tìm quá khứ, dường như những người lính sống hay chết đã đồng loạt tử trận từ tháng Tư năm ấy. Ông rút một điếu thuốc phì phà trong bóng tối, đốm lửa lập loè như lóe sáng dậy một thời trẻ tuổi. Con tàu trong đêm tối cứ băng mình lặng lẽ xập xình đi vào vùng biển mặn, hình như có mùi nước mắm biển Phan Thiết quyện trong gió. Trong đêm tối, mắt ông không nhìn thấy gì vì cảnh vật mập mờ, nhưng ông đánh hơi được nơi chốn bằng khứu giác.

Tàu lại vào sân ga, người lên kẻ xuống, những người bán hàng rong và người đi tàu đang kỳ kèo trả giá những túi khô mực, những thùng nước mắm. Ông nhớ những lần nhậu thâu đêm suốt sáng với bạn bè, con khô nướng vội và những chai bia 33 lăn lóc dưới gầm bàn, ngả nghiêng đi về với một vầng trăng khuya. Vậy mà không ngã, vẫn ngất ngưởng đi về đến nơi đến chốn. Thời ấy hết rồi, Phan Thiết, Phan Rang, Nha Trang chỉ là những nơi ghé vào ngắn hạn, nhưng ông nhớ hoài mùi biển mặn. Nhớ xa hơn một chút về biển, chuyến tàu Hải Quân cuối cùng từ bãi biển Đà Nẵng lui về phương Nam, hỗn độn, chen lấn, quan không ra quan , quân chẳng ra quân, chuyến ấy ông mất sạch sành sanh, khi về đến Vũng Tàu mỗi người chỉ còn cái túi vải đeo trên vai, vài bộ quần áo, đúng là "trên răng, dưới ...dế". Ông nhớ ngày hôm ấy, chiếc xà lan quá tải ngả nghiêng trên mặt biển, người ta rơi lõm tõm xuống nước, chết vô số. Ôi lại biển, kinh khủng lắm, hễ nếm phải nước biển là ông lại nghĩ đến hương vị nước mắt, hai thứ ấy nó giống nhau lạ lùng.

Nha Trang biển đêm vẫn rì rào sóng vỗ, từ xa đã nghe được tiếng sóng, ngửi được mùi biển mặn. Chỉ tiếc là lúc ấy đã khuya, ông không nhìn thấy gì bằng cách lại đánh hơi ra những nẻo đường quê hương bằng khứu giác, bằng đôi mắt lập lờ nhìn không rõ cuả tuổi già. Ông đi vào giường nằm nhưng vẫn không ngủ được. Trằn trọc, thao thức, chiếc giường êm ái làm ông lại nhớ tới chuyến tàu về Nam cách đây trên hai mươi năm, ông và người bạn tù xa lạ kết tình "huynh đệ" nhờ chiếc còng gắn vào cổ tay hai người. Đêm tối, anh bạn tù bàn tay nhỏ nhắn, rút được cái tay ra khỏi còng, vì thế mà ông được giải thoát một chặng đường dài. Kỷ niệm ấy ông nhớ mãi... Bây giờ anh ta trôi dạt về đâu nhỉ?

"Một đêm muà hè, tôi đến sân ga đi đón người trai lính trở về. Tàu cũ đêm nay có trả lại cho tôi người xưa, để đêm nay ngồi đây..."

Giọng ca buồn buồn của cô ca sĩ vẫn nỉ non suốt đoạn đường dài, hình như tàu mỗi lúc một đi nhanh hơn khi ra ngoài vùng đồng quê, đã thấp thoáng những rừng dừa bạt ngàn để bước vào ranh giới tỉnh Bình Định. Bây giờ thì dường như trong ký ức cuả người lính già, kỷ niệm lần lượt trở về rõ mồn một, khổ nỗi lại chỉ toàn kỷ niệm thời chinh chiến. Năm 72, những trận đánh ác liệt nhất đã diễn ra ở đây, trở ra những vùng khốc liệt như Sa Huỳnh, Đức Phổ, Mộ Đức. Đơn vị thám sát cuả ông toàn là những người lính tiên phong cảm tử đi vào miền đất chết, trước khi quân bạn được dàn trận đi đằng sau.

Trong bóng đêm mập mờ, mỗi một bến ga ông lại thấy mình gần gũi với kỷ niệm thời quân ngũ. Những địa danh gợi nhớ đến quay quắt từng vuông rừng, từng hốc núi, từng ngọn đồi hay những trảng cỏ tranh cao hơn đầu người. Màu xanh cuả rừng dừa Tam Quan vẫn không là cảnh đẹp yên bình để người lính mơ mộng, nó rình rập nỗi chết trong đó. Bồng Sơn, Quế Sơn, tên đẹp chi lạ mà đầy oan khiên của máu và nước mắt. Tàu ra khỏi Qui Nhơn, khoảng hai giờ sáng là đến Sa Huỳnh, rặng núi biếc giờ này đã tối đen khi con tàu chui qua lòng núi càng đen kịt lại như mực, giá ban ngày ông đã có thể thấy những đồi cát, những mảng rừng thưa bông cỏ lau trắng xoá tiếp giáp để đi vào ranh giới Quảng Ngãi. Ngày xưa, ông đã mòn gót giày trên những vùng đất chỉ có những bom đạn và nỗi chết, những đồng cỏ lau trắng xoá buồn u uẩn như người goá phụ đôi mươi quấn chiếc khăn tang trên đầu.

Vẫn nghe như hơi gió biển thổi qua triền núi thấp, vẫn nghe như hằng nghìn âm thanh thì thầm của những hồn xưa sống dậy. Những ngôi sao sáng và một mảnh trăng khuya, ở nhữnng vùng hiu quạnh hình như nền trời bỗng sáng hơn. Ông dùng thêm ly cà phê đen để đầu óc được tỉnh táo, mắt ông cay xè vì thiếu ngủ nhiều đêm, nhưng vẫn không làm sao ngủ được. Gần ba mươi năm mới có một đêm như đêm nay, trở về những vùng đất thân yêu đã gắn liền với ông suốt thời trai trẻ. Trong khung cửa sổ của toa tàu chỉ mình ông đứng đó, hai gã Tây ba lô đã ngủ say, còn người đàn ông kia chắc quá quen với đoạn đường này, ông nghe tiếng ngáy nho nhỏ vang lên trong buồng tàu.

Con tàu cứ lầm lũi băng mình trong đêm tối, thỉnh thoảng lại tu tu lên khóc. Nhất là ban đêm, giữa cảnh huyền hoặc của một nửa vầng trăng và những ngôi sao, gió thổi vù vù khi con tàu đi vào núi rừng miền Trung, ông gần như sống lại hoàn toàn cảm giác cuả đời lính thám sát nơi chiến trường miền Trung trên ba mươi năm trước. Cảm giác lần này lạ hơn, có lẽ vì ám ảnh chuyện cũ, ông nhìn những cành cây lay động dưới ánh trăng mờ khi con tàu vùn vụt đi qua, mà cứ ngỡ là những cánh tay của bao linh hồn anh em đồng đội năm xưa, đang vẫy tay đón ông về thăm chốn cũ. Thế giới vô hình làm sao hiểu được, nếu hiểu được người ta đã chẳng phải than khóc trước sự ra đi vĩnh viễn cuả người thân hay bè bạn.

Sa Huỳnh ơi! Nhớ quá đi thôi mặt trận đêm ấy. Những người lính thám sát lầm lũi đi trong bóng tối, những ụ đất ngày xưa giờ đã xanh cỏ, những vạch đạn cứa vào bóng đêm ghim vào cây cỏ, vào thân thể người lính đang di động trong đêm, tiếng rên la của người lính bị thương đòi uống nước.

"Nước, cho xin hớp nước..."

Tiếng rên rỉ đau đớn và đứt đoạn cuả người đàn em bị trúng đạn đòi xin hớp nước giờ này hình như cứ vọng mãi trong đầu ông. Ông nhớ những đêm hành quân trời mưa rét cóng, lúc hai bên im tiếng súng rút vào cố thủ, lúc dừng quân ông được một người lính tiếp vụ đưa cho ly cà phê đựng trong chiếc ca sắt nóng hổi. Chưa bao giờ có một thứ cà phê nào ngon bằng hôm ấy, nó làm ông tỉnh táo và lòng ngập tràn tình thương yêu đồng đội, gắn bó với nhau trong nhiều khoảnh khắc chết sống của đời người. Ôi những ngày như thế, bạn bè ông, đồng đội cuả ông đã ra đi mà dường như vẫn thèm rít một hơi thuốc cuối cùng, khônng biết ở cõi bên kia linh hồn họ có tìm lại được mùi cà phê, hơi thuốc lá như cõi dương gian này không?

Ở đây, khi cuộc hành quân tạm yên, ít nhiều gì đơn vị ông hay đơn vị bạn cũng bỏ lại rừng xanh những dòng máu đỏ, những bàn tay, cái chân cho cuộc chiến ấy, chưa kể có những người đã ra đi vào miền đất lạnh. Thiếu uý Kha, trung uý Điền, trung sĩ Nghiã, những người đàn em dễ thương mà ông còn nhớ, họ chết ở đây, trong đám rừng đen đặc kia. Ông nhớ lúc ấy đã vét túi tìm gói thuốc "Quân Tiếp Vụ", chỉ còn duy nhất một điếu cong queo, ông vuốt lại cho thẳng rồi gắn lên môi người đàn em bị thương nặng, làm món quà tiễn chân kẻ ra đi không bao giờ trở về. Điếu thuốc cuối cùng ấy là món quà quý dành cho người sắp chết, ông thèm lắm mà không dám hút. Ông giơ tay vuốt mắt cho người lính cùng đơn vị, mắt cũng cay xè...

Tiếng gió giữa canh trường qua rừng cây đen thẫm như tiếng reo cuả linh hồn những ngươì đàn anh, đàn em năm cũ vọng u u trong đầu, ông thấy nước mắt mình trào ra ướt đẫm trên má. Ông thò tay vào túi, gói thuốc còn nguyên, ông bóc gói thuốc rồi nâng lên trước mặt thì thầm nói một mình:

"Hút, hút đi các bạn, hút cho thoả trước khi để linh hồn tan vào cõi hư vô."

Ông ném từng điếu thuốc vào cái khối đen ngòm của rừng cây ven đường, không thét ra được khỏi lồng ngực phập phồng hai lá phổi héo, nhưng trong đầu ông lồng lộng:

"Hết chiến tranh rồi. Hết lâu rồi các bạn ơi! Thuốc đây, hút đi, hút đi rồi các bạn muốn đi đâu thì đi. Đừng ở lại đây nữa..."

Những điếu thuốc bay lả tả theo đường tàu, nước mắt ông cứ trào ra ướt đầm trên má, nhỏ giọt xuống trên thân áo. Vô tình hay cố ý, đêm nay ông về thăm lại chốn cũ, phong phanh chiếc áo sơ mi và chiếc quần màu ô liu, y như một người lính kỳ nghỉ phép về thăm nhà. Tiếng nhạc lại vang vang trong đầu người lính cũ:

"Ngày tháng đợi chờ, tôi đến sân ga nơi tiễn người trai lính ngày nào. Tàu cũ năm xưa có trả lại cho tôi người xưa, để đêm nay ngồi đây, viết lại câu chuyện này..."

Ông bịt hai lỗ tai để đừng nghe âm thanh rên rỉ buồn buồn cuả bài hát lập đi lập lại trong đầu ông trên chuyến tàu đêm. Tạm biệt các bạn thân quý của tôi, ba mươi năm gặp lại nhau như thế đủ rồi, khi ra đi đầu các bạn còn xanh, nay trở về đầu tôi đã bạc. Khác nhiều lắm rồi, những mỏm đất, những đồi cỏ, những rừng dầy, rừng thưa, đã phủ kín một màu xanh, cho quê hương thôi máu lửa...

Ba mươi năm sau cuộc chiến, người lính năm xưa đã hy sinh còn để lại những gì cho Tổ Quốc. Ngoài những vết sẹo kéo da non của người còn sống, ông Bảo chạnh nghĩ đến những thương binh đã lây lất sống nốt đời mình trên vỉa hè thành phố, dựa dẫm vào vợ con để thành một gánh nặng buồn tủi. Thế còn những đứa con của người tử sĩ thì sao? Trung uý Điền xuất thân trường Đà Lạt, khi chết trận bỏ lại người vợ trẻ và hai đứa con thơ, trung sĩ Nghĩa có một đứa con không biết là trai hay gái trong bụng vợ. Gia tài người lính để lại chỉ có chiếc ba lô, đựng dăm thứ lặt vặt cho những cuộc hành quân dài ngày nơi rừng núi, khi nằm xuống họ đã kéo theo sau lưng mình sự đổ vỡ, tan tác, rách nát, thảm thương của một hệ luỵ máu thịt cùng chịu chung số phận...

oOo

Bình minh đã lên, ở miền nhiệt đới bình minh bao giờ cũng dậy sớm, chuyến tàu đi qua những quận lỵ cũ để vào thị xã. Lúc tàu đi ngang Đức Phổ, Mộ Đức, lại những chiến trường xưa, những chiếc xe nhà binh năm cũ ở đâu trong đầu ông ào ào chở đầy lính ra mặt trận. Tàu ghé vào ga, những người bán dạo trên bến ga mời chào í ới. Nhìn đĩa xôi gà trên tay một chú bé độ 12 tuổi, mà bé choắt vì phải ra đời sớm, ông gọi mua một đĩa xôi mà không cần trả giá. Nhìn cậu bé 12 tuổi sáng sớm bưng trên tay mâm xôi đi bán dạo, cái đùi gà vàng lườm được rô ti thật hấp dẫn, ông hiểu cái nghèo đè nặng trên đầu dân tộc ông, mắt ông bỗng nằng nặng như đêm qua ông về ngang chốn cũ. Ông ăn mà không biết ngon, chỉ ăn cho đỡ đói, để tìm hương vị cũ, niềm đau cũ. Chú bé bán xôi được ông cho một món tiền lớn gấp mười đĩa xôi gà, cứ đứng trân trân nhìn ông tưởng như là phép lạ đang xảy ra trên sân ga.

"Nhìn làm gì em ơi, giá hơn mười năm trước tôi cũng làm gì dám ăn đĩa xôi gà trên tay em, chẳng phải thịt gà phong độc như dân địa phương thường nói, mà vì nghèo, cái nghèo là thứ quả báo lớn nhất mà ông Trời bắt con người phải chịu". Lúc này đầu óc ông tỉnh táo hơn, nôn nao hơn, vì ông sắp về tới gia đình, về với bà mẹ già vừa lòa vừa điếc, chưa chắc gì đã nhận ra con.

Người ta lại tấp nập lên tàu, xuống tàu. Ông ăn xong đĩa xôi, gọi một ly cà phê đá nhâm nhi nhìn kẻ lên người xuống, bỗng liên tưởng cuộc đời y hệt một chuyến tàu, mà những người lính già như ông còn ngồi lại với nỗi buồn chiến tranh đọng lại trong mỗi hồi tưởng. Đêm qua khi đi ngang Sa Huỳnh lúc hai giờ sáng, hình như ông đã gặp lại bạn bè năm xưa trở về, họ là những người đã xuống tàu ba mươi năm trước. Ba mươi năm sau trên chuyến tàu đời, những lớp người đi sau như thằng bé bán xôi, cô bé dáng học trò ngồi bán cà phê ở toa ăn uống là lớp người sau lên tàu muộn. Bây giờ nếu ông kể chuyện cũ ba mươi năm trước, chắc hẳn chúng nó sẽ tròn mắt lên mà nghe như chuyện cổ tích. Một câu chuyện cổ tích rất buồn, chỉ còn mỗi người lính già như ông ngồi lại trên chuyến tàu đêm, khắc khoải. Tiếng nhạc vẫn lồng lộng trên sân ga, không phải bài "Tàu Đêm Năm Cũ", mà nghe rất lạ, như bài cầu kinh sắp tới hồi kết thúc:

"Rồi tàu xa rời, xa rời kỷ niệm
Trả lại cho mình, nửa phần yêu thương
Tìm lại xót xa, tìm lại vui buồn
Đi vào nhân gian, với lòng yêu thương.
Đi đi, đi thấu kiếp người...
Ôi niềm đau, hỡi nỗi vui
Đi đi, đi thấu kiếp người
Đi đi, để biết khóc cười hỡi ... ơi!"

Hơn mười giờ, tàu vào ga Quảng Ngãi. Ông sốc cái ba lô trên lưng, chậm rãi chờ người ta chen chúc nhau xuống sân ga, con tàu lại tu tu lên khóc. Ông sắp về với mẹ ông, căn nhà xưa trong một ngõ nhỏ. Con ngõ này hồi xưa thế nào nay vẫn vậy, nhưng nhà cửa được nâng cao, xây dựng lại khiến thoạt nhìn tưởng mọi điều đã đổi khác.

Ông về với mẹ, biết đâu không phải là lần cuối được cầm lấy tay mẹ, tay con cũng nhăn nheo huống gì tay mẹ ông chỉ còn là một nhúm da bọc xương khẳng khiu. Mẹ ông nằm đó, chả biết ai với ai, đôi mắt loà quáng lên một vùng ánh sáng mù mờ, như ngọn đèn cạn dầu leo lét chờ tắt.

Bên cạnh bà mẹ già vừa loà, vừa điếc, vẫn không biết là có một đứa con đi xa vừa trở về. Không còn cách nào khác hơn, ông cầm lấy bàn tay nhăn nheo, gầy guộc cuả mẹ, để bà sờ mặt con với những giọt nước mắt ướt đầm trên những ngón tay. Không biết trong cõi mịt mù của đời người sắp tàn ấy, bà có sờ ra được khuôn mặt cuả đứa con từ lâu rồi không gặp.

Nguyên Nhung

hoangphong
Posts: 423
Joined: Tue Feb 12, 2019 7:20 am

Re: QUÁN BIÊN THUỲ

Post by hoangphong »

Image

NGÀY QUỐC HẬN 30 THÁNG 4

Những tiếng súng sau cùng vẫn âm vang cho đến tận bây giờ . Những anh hùng hữu danh hay vô danh sẵn sàng tuẩn tiết vì chính nghĩa , họ đã đi vào lòng dân tộc và mãi mãi ở lại đó như một biểu tượng bất khuất cho thế hệ tiếp nối hiểu rằng sự thật lịch sử vẫn còn đó. Mùi tanh của máu, những thây người ngã xuống vì sự cuồng sát của cộng sản vẫn còn đây và chính nghĩa VIỆT NAM CỘNG HÒA vẫn tồn tại. Cờ vàng miền nam Việt Nam vẫn tung bay ngạo nghễ nơi đâu có người Việt tị nạn cộng sản trên toàn thế giới. Họ đã và đang chiến thắng vì sự đấu tranh của họ là CHÍNH NGHĨA, là Danh Chính Ngôn Thuận .

Ngày cộng sản Bắc Việt cướp được miền nam cũng chính là ngày họ đại bại, tự họ đã lột mặt nạ của đảng cộng sản; cho thấy “Giải phóng” Miền Nam chỉ là sự lừa bịp, lợi dụng lòng yêu nước của người Việt Nam để thực hiện ý đồ ngoại bang, nhuộm đỏ miền nam chỉ để mưu cầu quyền lực phe đảng. Nhìn vào thực trạng hôm nay để thấy sự bưng bít che đậy sự thật, lấp liếm tội ác bằng tuyên truyền bóp méo sự thật lịch sử của csVN đã hoàn toàn thất bại. Ngày 30 tháng 4 đen là ngày người dân miền bắc được nhìn sự thật về đời sống của người Việt Quốc Gia miền nam. Không ít người vỡ mộng khi thấy sự phồn hoa là sự thật, chứ không giả tạo như cs tuyên truyền . Để nhà văn Dương Thu Hương phải bật khóc bên vệ đường khi theo đoàn quân cs tiến vào cướp Saigon . Tất nhiên không chỉ riêng mình Dương Thu Hương bật khóc, có điều nói ra sợ thiên hạ bảo mình…Ngu.


45 năm, cuộc chiến vẫn tiếp diễn. Đảng cộng sản hiện nguyên hình, họ chính là kẻ thù của dân tộc qua hành động cắt đất dâng biển cho đàn anh Trung cộng, bắt bớ tù đày những ai đi ngược lại chủ trương bán nước của chúng. Quân xâm lược phương bắc dùng quyền lực lẫn tiền bạc cùng những hứa hẹn “Bảo Kê” để đảng csVN duy trì quyền lực độc đảng, bất chấp những lời kêu gọi của tầng lớp trí thức già trẻ trước nguy cơ mất nước từ kẻ thù truyền kiếp phương bắc. Đảng csVN đã đồng hành cùng kẻ thù và phản bội dân tộc .

Xác những ngư dân và cả những chiến sĩ ( bên này hay bên kia ) chiến đấu vì Hoàng sa – Trường sa để gìn giữ bờ cõi nước Nam không rơi vào tay giặc, đối với đảng csVN là Vô Nghĩa. Máu và nước mắt người Việt Nam vẫn đổ ngoài biển Đông, phụ nữ vẫn bán thân nơi xứ người, thanh niên Việt Nam vẫn bán sức lao động để mưu cầu cơm áo.


Đó là lý do chính đáng để những ai còn lương tri phải chống lại sự cai trị hà khắc của đảng csVN và chống bằng tất cả khả năng của mình để cầu mong đời con cháu không phải sống kiếp nô lệ. Có mắt mà chẳng dám nhìn thẳng, có miệng mà không dám nói khi nhìn thấy bất công đầy dẫy và thật đáng trách nếu những người tự cho là trí thức cũng không dám nói lên suy nghĩ của mình. Chẳng có ai chết hai lần, trừ những kẻ hèn nhát. Đã đến lúc đảng csVN phải trả lại quyền tự quyết cho toàn dân qua lá phiếu bầu cử công khai và minh bạch. Thôi dối trá dưới hình thức đảng cử-dân bầu kiểu ép buộc, không được phép đánh đồng đảng là nhân dân, và sự thật là đa phần người dân không chấp nhận sống dưới chế độ cs. Dân tộc VIỆT NAM là một khối đoàn kết, Đảng csVN là của một nhóm người theo chủ thuyết cộng sản gọi tắt là Việt Cộng. Người Việt Quốc gia là VIỆT NAM CỘNG HÒA. VIỆT NAM và Việt Cộng hoàn toàn khác nghĩa.


Không ai muốn nuôi lòng hận thù nếu đảng csVN dám nhìn vào sự thật, thôi vui sướng trên những oan hồn và đau khổ của dân tộc kể từ khi Hồ Chí Minh và đảng csVN cai trị đến ngày nay. Không có “chiến thắng” và vui sướng nào tồn tại được trên máu và nước mắt của chính đồng bào cùng máu đỏ-da vàng. Không có bạo chúa nào tránh khỏi ngày đền tội .


Không ai chống csVN vì quá khứ, nhưng tội ác Hồ Chí Minh và đảng csVN phải được lôi ra trước ánh sáng sự thật; để những oan hồn được siêu thoát; để Bắc kỳ , Trung Kỳ và Nam kỳ chung sức đào mồ chôn chủ thuyết cộng sản khát máu; để phân tranh Nam Bắc chỉ còn là dĩ vãng, là bài học cho thế hệ tiếp nối tránh xa chủ thuyết “Quái Thai – Đại Họa” của loài người.

“Hãy nhắm quân thù mà bắn” như cs thường rêu rao bằng lời ca tiếng hát , chứ đừng chĩa súng giương lê vào đồng bào mình hỡi những ai “có quyền cầm súng”. Quân đội bảo vệ đất nước chứ không thể để phục vụ 15 tên lãnh đạo bán nước. Công an gìn giữ trật tự xã hội chứ không để tuân lệnh Đảng cách mù quáng đàn áp dân lành chịu quá nhiều đau khổ bất công triền miên đến hôm nay. Thiên chức làm người là có quyền nói thẳng. Chỉ thẳng mặt, nêu đích danh phường buôn dân bán nước, bất chấp mọi hệ lụy.

“Mỗi một nổi sợ hãi là một viên gạch xây lâu đài cho cộng sản mà nền móng của nó là nổi thống khổ của toàn dân tộc “.

Xin bái phục những anh hùng vị quốc vong thân. Xin nghiêng mình tưởng nhớ tất cả những ai đã ngã xuống hay đang bị tù tội vì Quê Hương đất nước Việt Nam này .

Trọng Kính .

Người Lính Việt Nam

hoangphong
Posts: 423
Joined: Tue Feb 12, 2019 7:20 am

Re: QUÁN BIÊN THUỲ

Post by hoangphong »

Image

VIÊN ÐẠN CUỐI CÙNG
Trần Như Xuyên
Tháng 8-1974, một trận đánh lớn xẩy ra tại Thường Đức giữa hai Lữ đoàn Nhẩy Dù của Quân lực VNCH và 3 Sư Đoàn quân Bắc Việt, trận chiến rất khốc liệt, sau 3 tháng quần thảo, số tổn thất của hai bên rất to lớn.

Trận chiến đã trôi qua 37 năm, nhưng những người lính Nhẩy Dù năm xưa vẫn không quên âm vang của trận đánh và những đồng đội đã nằm xuống.
Xin mời đọc câu chuyện của một người Đại Đội Trưởng Nhẩy Dù tham dự trong trận đánh này tại Thường Đức.

*********

Tâm Anh bước những bước nhẹ trên hè đường Tự Do, cơn gió lạnh cuối năm khiến nàng khoanh hai tay lại suýt xoa. Những chiếc lá me khô lăn tròn như điệu nhạc luân vũ dưới chân nàng. Sài gòn năm nay được hưởng một cái lạnh khác thường, gần Noel rồi còn gì. Ngang qua Brodard, nhiều cặp mắt trong đó nhìn nàng, còn anh trong đó nữa đâu? Vậy là anh vĩnh viễn xa em rồi… Phải chi anh đừng mê đời lính, phải chi anh đừng mê súng đạn thì giờ này em đâu có cô đơn như thế này. Tâm Anh nhớ lại, cũng là Broadard này một ngày nào đó, ngày hai người còn quấn quýt bên nhau, khi đang ngồi uống nước, ngắm thiên hạ qua lại, bất chợt Chương nắm tay nàng:
– Em, anh đã suy nghĩ kỹ rồi, anh sẽ nhập ngũ, vào Võ Bị Đà Lạt.

Cái ống hút rời khỏi đôi môi xinh xắn, nàng không ngạc nhiên nhưng có bàng hoàng. Tâm Anh chờ đợi ngày này sẽ đến và bây giờ nó đến, vậy mà vẫn không tránh được. Nàng hiểu tính Chương, thời gian gần đây, Chương luôn than phiền về một cái gì đó, không rõ ràng, có lúc Chương bảo sao chàng thấy thành phố này ngột ngạt quá, chỉ muốn xa khỏi đây, có lúc Chương đứng sững nhìn một người lính phía bên kia đường, lẩm bẩm: ”Vậy mà Trung nó chết cũng được nửa năm rồi” -Trung là một trong ba người bạn thân của chàng, cùng đang học Đại học, rồi cả ba bỏ đi lính. Khi mãn khóa, Trung chọn binh chủng Nhẩy dù, hai người kia chọn bộ binh và đổi đi xa, chỉ có Trung thỉnh thoảng về phép, rủ Chương và nàng đi chơi như ngày xưa, ngày mấy người còn vui chơi với nhau chung một nhóm. Trung đen hơn nhưng rắn rỏi, mỗi lần về, Trung say sưa kể về một trận đánh nào đó mà anh tham dự, nàng bắt gặp ánh mắt Chương rực sáng khi nghe Trung nói chuyện. Thế rồi Trung không còn dịp về nữa để kể chuyện chiến trường cho Chương nghe, anh đã hy sinh trong một trận đánh ở đâu đó, nàng không nghĩ Chương lại nối gót theo mấy người kia sớm tới như thế.
Nàng bất chợt hỏi Chương:

– Anh bỏ đi như vậy, còn tình yêu chúng mình, còn em thì sao?
– Thì tình yêu mình cũng vẫn còn đấy chứ em, biết đâu sự xa cách này chẳng là một thử thách cho đôi ta, nếu mình vẫn giữ vững được, nếu mình vẫn chỉ nghĩ đến nhau thì cuộc hôn nhân mới thực bền vững

Cuối năm 1972, chiến trường đã qua đi những trận đánh lớn, tháng giêng 1973, Hiệp định Paris được ký kết đúng với sự mong đợi của Hoa Kỳ và VC. Về phía Hoa Kỳ, có người bảo nhiệm vụ của họ đã xong, tức chiến lược toàn cầu của họ đã hoàn tất, giờ Mỹ có thể rút hết quân về nước, để hai bên VN giải quyết với nhau, đúng ra phải nói là để miền Bắc giải quyết miền Nam vì Mỹ không giữ lời cam kết là sẽ yểm trợ chính phủ VNCH. Trong khi miền Nam đơn độc chiến đấu thiếu cả về vũ khí lẫn viện trợ kinh tế thì CS Bắc Việt lại được sự yểm trợ to tát của toàn khối CS.

Về phía Bắc Việt, ký kết Hiệp định Paris là cơ hội để họ xâm chiếm miền Nam, khi người Mỹ bắt đầu rút quân thì cũng là lúc CS đem quân ồ ạt vượt qua vĩ tuyến 17, chúng hoàn thành con đường đông Trường Sơn để chuyển quân và vũ khí được nhanh hơn, xe cộ và bộ đội rầm rộ chuyển vào như chỗ không người, trước đây chúng không dám ngang nhiên như vậy vì sợ B52 và quân ta phục kích. Hiệp ước Paris qui định ai ở đâu thì yên đó nhưng với VC, có khi nào ta tin được chúng. Kinh nghiệm cái Tết Mậu thân còn đó. Tuy quân VC gia tăng nỗ lực chuẩn bị cho cuộc chiến nhưng chúng vẫn chưa nắm vững không biết người Mỹ có quay trở lại hay không nếu chúng mở các cuộc tấn công lớn. Qua nhiều cuộc lấn chiếm thăm dò, Mỹ vẫn giữ thái độ im lặng, chúng quyết định mở một cuộc tấn công và nơi chúng lựa chọn cho cuộc thử thách này là Thường Đức, nếu chúng thắng cuộc chiến ở đây, chúng sẽ đưa quân thẳng ra biển, chia cắt miền Nam làm hai và sự sụp đổ của VNCH chỉ đếm từng ngày.

Thường Đức là một quận nhỏ thuộc tỉnh Quảng Nam, được tách ra từ Quận Đức Dục, nằm phía Tây Đà Nẵng trên liên tỉnh lộ 4, cách Quốc lộ 1 khoảng 40 cây số. Đây là một điểm chiến lược quan trọng, coi như tiền đồn của của Đà Nẵng. Thường Đức trước kia là một trại LLĐB Mỹ, xây dựng kiên cố với những hầm ngầm bê tông cốt sắt.


Quân trú phòng tại Thường Đức có 2 ĐĐ Địa phương quân, 14 Trung đội Nghĩa quân, tháng 6, 1974, tin tức tình báo cho biết VC đang chuẩn bị lực lượng có thể tấn công Thường Đức. Tiểu Đoàn 79 BĐQ được tăng cường thêm cho Chi khu này, gọi là Chi khu nhưng nó có tính cách chiến lược hơn là yếu tố kinh tế, dân thì toàn là gia đình của binh sĩ trú đóng tại đây, đất đai khô cằn sỏi đá, ba hướng bao quanh là núi cao dốc đứng, chỉ có hướng Đông để ra QL1 là bằng phẳng.

VC tấn công Thường Đức với SĐ 304 (SĐ Điện Biên), SĐ 324 và nhiều Trung Đoàn tăng cường cùng các đơn vị Pháo và xe tăng. Quân trú phòng chống cự mãnh liệt, TĐ 79 BĐQ chiến đấu dũng cảm, gây thiệt hại to lớn cho quân tấn công; phía trú phòng cũng bị thiệt hại, Trung Tá Quân Trưởng bị thương nặng, Th/T TĐT /79 BĐQ cũng bị thương và gọi pháo bắn ngay trên đầu. Sau gần 10 ngày chống cự, với quân số địch quá đông và các họng pháo ở những ngọn đồi chung quanh bắn trực xạ vào Thường Đức, Quận bị thất thủ.

Lo sợ cho Đà Nẵng, Tướng Trưởng xin Bộ TTM cho SĐ Dù tham chiến, Lữ đoàn 1 gồm 3 TĐ: 1,7 và 9 được không vận từ SG bằng C130 xuống Đại Lộc.
Trung Úy Nguyễn thanh Chương, khóa 25 VB Đà Lạt lúc này là ĐĐT của TĐ 1 Nhẩy Dù tham dự cuộc hành quân tái chiếm Thường Đức, Lữ Đoàn 3 Nhẩy Dù cũng chuẩn bị vào vùng từ Huế.

Đường vào Thường Đức rất bất lợi cho quân giải tỏa, chỉ có một con đường độc đạo là liên tỉnh lộ 4 từ ngoài Đại Lộc tới Thường Đức mà hai bên đường có nhiều ngọn đồi mà VC đã chiếm, thiết lập công sự phòng thủ kiên cố trong vách đá, trong đó có ngọn đồi 1062, từ đây chúng có thể kiểm soát mọi sự di chuyển trên LTL4. VC đã chiếm ngọn núi này trước khi chúng tấn công Thường Đức vì chúng biết thế nào phía ta cũng đem quân giải cứu Quận lỵ này.

Lữ đoàn 1 dàn quân xuất phát mà ưu tiên phải chiếm được ngọn đồi 1062, họ biết là quân VC đã sẵn sàng đợi họ ở đây. Tiểu Đoàn 1 của Chương được chỉ định chiếm ngọn đồi này, đường tiến quân rất khó khăn vất vả, phải băng qua những khoảng trống mà pháo của chúng đã có tọa độ sẵn, rồi các đồi đá phải vượt qua, bứng những chốt Cộng quân cài chung quanh để cầm chân bước tiến của quân Dù. Khi gần tới được gần 1062, TĐ1 đã bị một số tổn thất nhưng nhiệm vụ trước mắt vẫn là làm sao phải chiếm cho được ngọn đồi này để kiểm soát con đường nằm phía dưới dẫn vào Thường Đức.

TĐ1 dàn quân dưới chân đồi 1062, một cái lưng yên ngựa phải vượt qua trước khi tới sát được dưới chân đồi, địch từ trên cao có lợi thế hơn và hầm hố chúng xây dựng trong hốc đá kiên cố với nhưng cây cổ thụ to được chúng cưa làm nóc hầm. Cả hai Đại Đội Dù được pháo binh yểm trợ xung phong chiếm mục tiêu nhưng gặp sức kháng cự mãnh liệt của địch, cối 120 ly và hỏa tiễn 122 ly được địch bắn xối xả vào vị trí quân Dù. Những mục tiêu tác xạ chúng đã tiên liệu trước và tiền sát của chúng từ những ngọn đồi chung quanh gọi pháo chính xác, suốt một ngày, Dù bị cầm chân. Đại Đội Chương mất một Th/U Trung đội trưởng và 5 binh sĩ cùng khoảng một chục bị thương.

Lệnh từ TĐ cho ĐĐ Chương lùi lại, bố trí tuyến phòng thủ đêm lấy sức cho cuộc tấn công ngày hôm sau. Rạng sáng, ĐĐ Chương, bọc qua hướng khác, nơi có nhiều dốc đá thẳng đứng, hướng này địch có lơ là vì không nghĩ Dù sẽ chọn để tấn công. Pháo ta dồn dập đổ xuống đỉnh đồi, địch co cụm trong hầm hố tránh pháo, lính Dù bám từng hốc đá âm thầm leo lên ,khi gần tới đỉnh đồi, họ đồng loạt khai hỏa xung phong. Dù dùng lựu đạn ném xuống hầm, bị bất ngờ, chúng hốt hoảng bung hầm chạy. ĐĐ Chương chiếm được đồi 1062 nhưng ngay lập tức, địch pháo kích dữ dội với đủ loại pháo từ những ngọn đồi chung quanh. Lính Dù nhờ có hầm hố kiên cố sẵn của bọn chúng, tránh được nhiều thiệt hại. ĐĐ Chương được lệnh bố trí giữ ngọn đồi, sáng hôm sau sẽ có một ĐĐ bạn lên tăng cường nhưng tối đó, Chương không thể giữ được ngọn đồi mà suốt ngày hôm nay đã đổ bao xương máu mới chiếm được. Mới chập tối, địch pháo tàn sát ngọn đồi rồi cho nguyên một Trung đoàn xung phong tái chiếm. Ở tuyến phòng thủ phía Tây, Th/U Thành, một Trung đội trưởng xuất sắc của Chương gọi máy cho biết địch rất đông, đang tràn ngập mục tiêu, Thành xin pháo binh bắn ngay trên đầu. TĐ cho lệnh Chương rút xuống, Chương gọi máy cho lệnh, không có tiếng Thành trả lời, tuyến của Thành bị tràn ngập. Thành bị nguyên một băng AK nát hết người. Khi lính của ĐĐ rút hết, Chương xuống sau cùng, chàng gọi pháo dập xuống đỉnh 1062. Lúc Chương đang lao xuống gần chân đồi, một trái pháo nổ ngay cạnh Chương, không biết của ta hay của địch, Chương thấy tối tăm mặt mũi và rồi không biết gì nữa.

Ngày hôm sau, một ĐĐ khác được lệnh tấn công tái chiếm ngọn đồi, họ gặp Chương nằm trên vũng máu, người lính mang máy và cận vệ của anh nằm chết bên cạnh. Chương bị thương rất nặng, pháo cắt đứt một chân anh, mặt phủ đầy máu, Chương được tải thương ngay lập tức. Suốt mấy ngày ở bệnh viện, Chương ở trong biên giới giữa cái sống và cái chết.

Cuối cùng, người ta đã cứu được Chương thoát lưỡi hái của tử thần nhưng không cứu được cái chân của anh, và khuôn mặt, một mảnh pháo chém sạt một bên má. Khi tỉnh lại, Chương biết mình bị thương nặng lắm, cái đầu cuốn trong băng trắng xóa và đau nhức khủng khiếp. Chương cũng biết mình mất mất một chân. Các Bác Sĩ khi thấy Chương đã đủ khỏe, họ cho anh biết sự thực về khuôn mặt, họ nói sẽ cố gắng đắp vá cho anh nhưng không thể nào có được hình hài như xưa.

TĐ cho một người lính thân cận của Chương ở hẳn Bệnh viện để chăm sóc anh cùng với chiếc xe jeep. Đầy, người Hạ sĩ theo Chương từ ngày Chương gia nhập Nhẩy Dù. Đầy là người lo cho anh từ cái ăn, cái ngủ như người mẹ hiền, giờ vẫn cạnh ông thầy. Khi ông thầy bị thương quá nặng, vẫn chăm sóc anh từng li, từng tí. Chương không cho Đầy báo gì Tâm Anh biết, cho đến một ngày, Chương dặn dò Đầy đến cho Tâm Anh biết tin nhưng là một cái tin Đầy thấy khó khăn để nói.
Gần hai tháng nay, Tâm Anh không nhận được thư từ hay tin tức gì của Chương cả, nàng có nghe về những trận đánh xẩy ra với đơn vị Nhẩy Dù ở đâu đó. Một buổi trưa, một cái xe jeep đỗ xịch trước cửa nhà, nàng thấy Đầy bước xuống, Tâm Anh chạy vội ra:

– Chú Đầy, Trung Úy không về hả, có thư không vậy chú?

Đầy không nói gì cả, anh bước vào trong nhà, tay cầm chiếc mũ béret đỏ xoay xoay trong tay.

Nhìn cử chỉ khác thường của Đầy, Tâm Anh biến sắc, nàng đưa tay lên ngực: gì thế này, có chuyện gì xẩy ra cho Chương rồi sao, đừng nói gì không may nghe chú Đầy, sao mặt chú lại buồn thế kia, đừng, chắc không có gì đâu, có gì nói đi, nói đi chú Đầy.

Sau một chút ngập ngừng, Đầy lên tiếng:

– Xin cô bình tĩnh, mời cô ngồi xuống, Trung Úy Chương đã hy sinh, ở mặt trận Thường Đức, quân địch tràn ngập mục tiêu, chúng tôi không lấy được xác Trung Úy, Trung Úy đã chiến đấu dũng cảm nhưng địch đông quá.

Tâm Anh choáng váng mặt mày, nàng buông rơi mình trên ghế, không còn nghe những gì Đầy đang nói tiếp. Thế đấy anh ơi, sao giản dị quá: Trung Úy đã hy sinh. Câu nói thật đơn giản mà như đất trời sụp đổ, bao nhiêu người đã được nghe những câu đơn giản như thế này, bao nhiêu cõi đời tan nát?

Hạ sĩ Đầy đã hoàn thành nhiệm vụ được Chương trao phó, một nhiệm vụ khác thường trong bao nhiêu việc Chương đã bảo anh làm trước đây. Công việc chút nữa đã không hoàn thành khi Đầy nhìn thấy sự đau khổ tột cùng trên gương mặt Tâm Anh. Nhờ là một người lính tác chiến sắt đá nên đã kềm chế được mình vì anh hiểu những gì ông thầy mình muốn cho quãng đời còn lại của ông ấy và nhất là cho Tâm Anh. Đầy cũng thương ông Trung Úy của mình không kém gì Tâm Anh, có điều hai tình thương khác nhau; với Đầy, Chương là một cấp chỉ huy gương mẫu, can đảm và thương yêu binh sĩ hơn cả tình đồng đội, những ngày ở Bệnh viện, đã bao lần Đầy ngăn nước mắt khi nhìn Chương trong hình hài không còn nguyên vẹn.

Tâm Anh bỏ ngang việc học, nàng không còn tâm trí để nghĩ đến sách vở, nàng đi hát để tìm quên. Nhờ làn hơi thiên phú, chỉ trong thời gian ngắn, tiếng ca nàng vút cao trong nền ca nhạc ở Sài Gòn, nhiều nơi săn đón mời nàng hát cho phòng trà của mình, Tâm Anh chọn chỉ hát độc quyền cho Tự Do, một phòng trà mà lúc còn sống Chương rất thích. Ở đây, nàng như thấy Chương của một ngày mà Hey Jude, don’t let me down, ngày hai người quấn quýt bên nhau với tiếng hát của Billy Shane, của Strawberry Four. Nàng cũng thuộc lòng câu thơ Chương làm cho nàng trong một lần lên Đà Lạt thăm Chương về:

Anh cứ sợ rồi mình sẽ quên nhau
như con đường nơi đó
như ngày nao trên thềm phố chợ
sáng Chủ Nhật
em chờ anh
vẫn trên cao là những nhánh thông xanh
và dưới thấp là mặt hồ yên lặng
có phải mùa Thu làm mắt em xa vắng
rồi mình sẽ quên nhau


Tâm Anh rưng rưng nước mắt, đấy, anh ơi, đang yêu nhau mà anh cứ nghĩ đến chuyện cách chia, giờ ta xa nhau thật rồi, xa nhau vĩnh viễn, em giờ đây như rừng thu. Anh đang yên nằm ở đâu, sao người ta không đem anh về cho em? Tâm Anh vẫn buốt lòng mỗi khi nghĩ tới Chương.

oOo

Chương ở trên một căn gác nhỏ, có Đầy lo cho mọi chuyện, thời gian đầu khi còn phải tới lui bệnh viện cho các Bác sĩ tái tạo lại khuôn mặt, Đầy vẫn lái xe chở Chương trên cái xe jeep mà TĐ cung cấp, khuôn mặt chỉ làm đỡ được phần nào trong sự tàn phá của trái pháo, khi soi gương, Chương cũng không nhận ra mình, chiến tranh ghê gớm quá.

Cứ mỗi tối, đúng 10 giờ, Tâm Anh xuất hiện trên sân khấu Tự Do, sau lời giới thiệu, nàng bước ra trong chiếc áo dài lộng lẫy, Tâm Anh cúi chào khán giả, mái tóc ngang vai xõa xuống che khuôn mặt u buồn, nàng hất mái tóc ra phía sau, giọng hát cất lên, nàng hát như gửi hồn vào một thời nào đó, có lúc nức nở như gửi tiếc thương cho một ai ở nơi xa xôi.

Xong bài hát, người bồi mang lại mảnh giấy nhỏ đưa cho Tâm Anh, nàng liếc nhanh: ”Người đi qua đời tôi, cám ơn.” Quái lạ, mấy tuần nay, cứ đúng thứ bẩy, nàng lại nhận được mảnh giấy yêu cầu bài hát Người đi qua đời tôi, chắc vẫn là người khách này. Tiếng hát cất lên: “Người đi qua đời tôi, trong những chiều đông sầu…” Giọng Tâm Anh như nức nở “Anh đi qua đời em, có nhớ gì không anh?…”

Hết phần trình diễn của mình, Tâm Anh ra về, nàng ngập ngừng trước cửa: vị khách kia chắc có một tâm sự buồn lắm, cùng tâm trạng như mình. Nàng đưa tay nhìn đồng hồ, để hôm nào mình phải gặp vị khách đó để thăm hỏi xem sao.
Một lúc sau, một chiếc xe jeep chạy tới, đậu gần nơi cửa, Đầy xuống xe bước vào phòng trà. Cũng sắp hết giờ, anh tiến lại phía chiếc cột khuất trong bóng tối, nghiêng xuống nói với một người ngồi ở đấy: “Trung Úy để em đỡ ra xe”. Chương chống tay xuống bàn, đứng dậy. Đầy dìu ông thầy ra xe, gió đêm thổi làm Chương thấy bớt ngột ngạt.

oOo

Sáu tháng sau, Tâm Anh lấy chồng, cũng một người trong Quân đội. Trong căn gác nhỏ, Chương nghĩ thôi thế cũng xong, mình đã chẳng từng cầu mong Tâm Anh được hạnh phúc hay sao, ngày rồi cũng lụi tàn, mình coi như đã chết trong Tâm Anh và nàng coi như đã xa khỏi đời mình. Chương bật cười – như cái chân nó cũng xa khỏi đời mình. Chương nhớ đồng đội khôn tả, nhớ những lúc băng mình trong lửa đạn, nhớ tiếng reo hò xung phong chiếm mục tiêu.

Rồi tình hình chiến sự trong những ngày kế tiếp hết sức khẩn trương, Ban mê Thuột có thể thất thủ, Chương theo dõi báo chí và tin tức trên đài phát thanh. Đầy chạy đi chạy về hậu cứ Tiểu Đoàn cho Chương biết TĐ hiện đang ở đâu, làm gì. Tình hình càng ngày càng xấu đi, Lữ Đoàn đang chống giữ tại Khánh Dương, rồi đang đánh nhau ở Long Khánh… Chương giật mình, Long Khánh à, vậy là gần quá rồi, sao mà lại nhanh như vậy, mới đây thôi, mình còn làm cho chúng tan hoang ở Thường Đức mà.

29 tháng Tư, Đầy chạy vội lên căn gác:

– Ông thầy, Tiểu Đoàn mình đang giữ cầu xa lộ, VC với xe tăng đang tiến từ Biên Hòa xuống, chắc sẽ đụng lớn ở đây.

Chương nhỏm dậy, với tay lấy bộ quần áo hoa dù mặc vào người, dắt theo khẩu colt hấp tấp hỏi Đầy:

– Có đúng Tiểu đoàn đang ở cầu xa lộ không?
– Đúng ông thầy, em mới gặp thằng Tư Đen nó nói vậy.
– Chú lái xe đưa tôi ra đó ngay, đi, nhanh lên.

Chiếc xe Đầy lái chạy như bay qua ngã ba Hàng Xanh, quẹo theo hướng xa lộ, dọc đường, Chương thấy dân chúng nhốn nháo, có người sách cả đồ đạc như chạy loạn, chiếc xe chạy tới giữa cầu thì ngừng lại, lính Dù bố trí dọc theo hai bên thành cầu, có pháo rớt chung quanh. Chương chống nạng tới chỗ có mấy cái cần ăng ten, Trung Tá TĐT Tiểu đoàn Dù mà Chương phục vụ trước đây đang nói chuyện trên máy. Chương bước tới đứng nghiêm chào vị TĐT, người cách đây mấy tháng đã cùng anh xông pha trong lửa đạn ở Thường Đức.

– Trời ơi Chương, cậu tới đây làm gì, lui xuống dưới kia, tụi nó sắp tới, có cả tăng nữa, lui xuống.
– Không đích thân, đích thân cho tôi được chiến đấu với anh em lần cuối, Nhẩy Dù cố gắng mà đích thân.

Vị Tiểu Đoàn Trưởng Dù nhìn Chương trừng trừng, môi ông run run, một người vào sinh ra tử cả bao nhiêu trận, bỗng dưng thấy lòng chùng xuống, ông chào Chương, một thượng cấp chào thuộc cấp, chưa bao giờ Chương gặp trường hợp như vậy…

Chàng lọc cọc chống nạng bước đi, cúi nhặt khẩu M16 của ai vứt cạnh đó cùng sợi dây ba chạc. Có tiếng Đầy:

– Ông thầy chờ em, em đi cùng với ông thầy.

Hai thầy trò xách 2 cây súng, ngồi dựa vào thành cầu, những người lính Dù đang nhắm súng vào hướng địch, có tiếng súng nổ từ hướng bên kia đầu cầu, tiếng đạn AK mà cả hai đã từng nghe quen, Chương lẩm bẩm: bài hát sao mà đúng thế, tai nghe quen đạn thù, chàng cao giọng:

– Nhẩy Dù cố gắng nghe Đầy.
– Dạ, Nhẩy Dù cố gắng ông thầy.

Tiểu Đoàn Dù đã thiết lập được hai lô cốt tạm ở đầu cầu hướng về phía nhà máy xi măng Hà Tiên, bộ binh địch bắt đầu xông lên nhưng chạm phải Dù bắn trả, chúng lùi lại rồi xốc tới, một lần rồi hai lần, chúng bị chặn lại. Chưa bao giờ đánh nhau mà không được một sự yểm trợ nào cả như lần này, từ pháo binh tới phi cơ, Chương và Đầy nhắm vào toán VC gần chân cầu, lâu rồi Chương mới cầm khẩu M16 mà bắn như vậy, không còn lệnh lạc, không còn chỉ huy, chỉ còn nhắm quân thù mà bắn.

Buổi tối, địch thôi tấn công, đêm yên lặng, thỉnh thoảng nghe tiếng pháo kích hướng Tân sơn Nhất và những tràng đạn nổ ở đâu xa nghe như pháo tết. Đầy kiếm được bịch gạo sấy và hộp thịt ba lát, Chương không ăn, hai thầy trò nằm cạnh nhau, trời trong và đẹp, những vì sao trên cao không sáng bằng sao ở Thường Đức. Đầy kể cho Chương nghe về những người người lính trong Đại Đội đã hy sinh ở đấy, về những người bạn ĐĐT và Trung đội Trưởng đã nằm xuống, Chương nhớ vô cùng những người lính trong ĐĐ trước đây, mỗi lần nói chuyện với họ, Chương luôn thấy ấm áp và một sự khoan khoái trong lòng, những người mà mới chuyện trò với họ hôm qua, hôm nay đã hy sinh, chịu đựng gian khổ và hiểm nguy, để được gì ngoài tình yêu quê hương.

Đêm mấy tháng trước ở đó đâu có yên lặng như thế này, mà chắc cũng không yên được lâu đâu, chúng đang chuẩn bị đấy, khi chúng im lặng là chúng đang chuẩn bị cho cuộc tấn công tiếp theo. Không biết cả hai thiếp đi được bao lâu, có tiếng súng nổ ran từ phía đầu cầu. Trời mờ sáng, địch bắt đầu tấn công. Chương và Đầy gom mấy dây đạn lại. Chúng xuất hiện ngay dưới chân cầu, những người lính Dù chuyển đổi vị trí ẩn nấp. Có tiếng ì ì từ xa, xe tăng địch tới. Chẳng còn gì ở đây cả, chỉ còn ít cây M72, mấy ngày nay, Dù vừa di tản vừa phải chiến đấu, đạn dược, lương thực đã cạn, chưa được tiếp tế. Hai chiếc xe tăng địch đi đầu khai hỏa, địa thế trống trải, chúng bắn dọc theo cầu, pháo tăng nổ cấp tập trên mặt cầu, quân Dù rút dần về phía đầu bên này, một viên đạn pháo xe tăng nổ ngay chỗ Đầy nằm cách Chương mấy thước, Chương bò tới, Đầy bị trái pháo nát bấy người, nhìn thấy Chương, anh chỉ kịp thều thào “Trung Úy…” rồi ra đi. Chương nắm tay Đầy, vuốt mắt cho người lính thương yêu, người đã sống chết với anh bao lâu nay nơi chiến trường và săn sóc Chương trong những ngày đau đớn. Chiến tranh chưa ngưng, còn tàn hại tới giây phút cuối cùng, chàng nắm cây M16 nghiến răng bắn một loạt về phía mấy tên VC đi đầu. Tiếng tăng mỗi lúc mỗi gần, Chương tuyệt vọng, mấy tháng trước mình đã không chết ở Thường Đức, giờ mình chết ở đây, cũng không sao, Chương rút khẩu colt, lên đạn. Tiếng xe tăng nghe càng rõ dần, nhìn Đầy nằm bên cạnh, anh thì thầm: “Thầy trò mình có nhau, Đầy a!ỉ”. Một tiếng vang lên, không phải Chương đang lao xuống từ ngọn đồi 1062, anh đang lao xuống một vực sâu, sâu lắm.
Trưa 30 tháng Tư, sau khi Dương văn Minh tuyên bố đầu hàng, dân chúng xuôi ngược trên cầu xa lộ nhìn thấy xác hai người lính Nhẩy Dù, trong đó có một người cụt mất một chân và tay họ nắm chặt lấy nhau.

VIẾT THÊM CHO LỜI KẾT

– Trận Thường Đức có thể nói là trận đánh lớn nhất của SĐ Nhẩy Dù, hơn 3 tháng quần thảo với hai SĐ cộng quân là SĐ 304 và 324, thêm nhiều Trung đoàn tăng cuờng cùng các Trung đoàn pháo, Cộng quân rút khỏi Thường Đức, ngọn đồi 1062 trước xanh tươi, giờ trơ trụi cây cối, được chiếm đi chiếm lại nhiều lần của hai bên, số thiệt hại như sau :
– Sư Đoàn Dù có 2 Lữ Đoàn 1 và 3 tham dự với 7 TĐ thay phiên nhau xa luân chiến, 500 tử thương , khoảng hơn 2000 bị thương, số tổn thất bằng 50% quân số.
– Cộng quân, ba Trung đoàn 24, 26, 66 coi như xóa sổ, hơn 2000 bị chết, 5000 bị thương.

Trong số những người hy sinh của SĐ Dù, có nhiều ĐĐT và Trung đội trưởng, Đại Úy Ngụy văn Đàng, một ĐĐT của TĐ 3 Dù đã phải gọi pháo binh và phi cơ dội ngay trên đầu mình vì địch quá đông, tràn ngập điên cuồng trong chiến thuật biển người. Khi tìm được xác anh, ĐU Đàng chết trong thế ngồi, mắt mở trừng trừng, người đầy vết đạn, anh chết mà chúng vẫn tiếp tục bắn vào anh. Người bạn thân cùng khóa 25 Võ Bị với Chương là Đại Úy Võ Thiện Thư, Đại Đội trưởng ĐĐ34 cùng Trung Úy Tô văn Nhị khóa 26 lên tiếp cứu cho Đàng cũng đã chiến đấu dũng mãnh. Địch xử dụng 1 Trung đoàn, cuồn cuộn biển người, cuối cùng, cũng như Đàng, Thư đã gọi pháo binh bắn ngay lên đầu khi bị địch tràn ngập, cả hai hy sinh. Khóa 26 VB về Nhẩy Dù 10 Sĩ Quan thì nội trong trận Thường Đức cũng đã hy sinh 5 người. Các Sĩ quan tốt nghiệp Trường Võ Bị Đà Lạt phải trải qua một hành trình 12 năm ở Tiểu học và Trung học, 4 năm tại Trường Võ Bị, tổng cộng 16 năm, tốt nghiệp cấp bậc Thiếu Úy, những người sẽ là rường cột của Quân Đội sau này, nhưng chỉ cần một viên đạn, ngay trận đánh đầu tiên, đã hy sinh, có uổng phí không? Không, người Sĩ Quan Hiện dịch là như vậy, cần được tôi luyện trong khói lửa.

Hơn 5 tháng sau trận đánh tàn khốc này, miền Nam rơi vào tay Cộng Sản. Một sự thật đau lòng bởi sự phản bội của người Mỹ, cả một Quân đội hùng mạnh bị trói chân, trói tay trong cuộc chiến tuyệt vọng. Ở Thường Đức, Nhẩy Dù đã anh hùng chiến đấu giữ vững được bờ cõi, những năm tháng trước đó, ở Quảng Trị, Bình Long, Kontum, Qưân lực VNCH đã chiến đấu dũng cảm, rồi bao trận đánh oai hùng năm xưa. Khi người Mỹ đã xong công việc, họ gọi là cuộc rút quân trong danh dự, thật ra đây là cuộc rút quân nhục nhã, cuộc rút quân phản bội, chỉ tội nghiệp, ta đã hy sinh uổng phí, mấy trăm ngàn người chết để đổi lấy một kết cuộc bi thảm.

Bây giờ bỗng dưng nổi lên có những người mà năm xưa khi khói lửa chiến tranh, họ còn nhỏ, chưa phải cầm cây súng, chưa biết thế nào là chết chóc, chưa có cảm giác khi đồng đội ngã xuống bởi đạn thù, tóm lại, họ chẳng phải hy sinh gì hết, giờ họ lớn tiếng hỏi các Tướng lãnh (Quân Đội) đã xin lỗi nhân dân chưa? Câu hỏi thật lạ, chính họ phải xin lỗi những người đã nằm xuống vì đất nước, vì sự an toàn cho họ, họ phải xin lỗi vì sự nhởn nhơ ngoài vòng chiến mà bao người khác đã chết thay cho họ, những Don Quichotte thời đại cầm kiếm múa may, họ nghĩ rằng Quân Đội phải chịu trách nhiệm trong việc miền Nam bị mất mà họ thì không chăng?

Một Don Quichotte khác lớn tiếng thóa mạ các Tướng Lãnh hèn nhát, làm mất nước, lạ một điều, những người này chưa hề cầm súng chống lại quân thù trong cuộc chiến vừa qua, những người này khi đất nước chìm trong lửa đạn, họ vắt mũi chưa sạch, nhưng giờ họ làm như thể nếu họ chỉ huy thì ta sẽ không thua. Các Tướng có hèn nhát không? Tướng Nguyễn viết Thanh, Tướng Đỗ cao Trí, Trương quang Ân đã hy sinh tại mặt trận, 5 vị Tướng đã tuẫn tiết không đầu hàng giặc, còn bao nhiêu Sĩ Quan khác nữa mà họ là những anh hùng trong bóng tối, họ có hèn không?

Chương, cho đến khi dành viên đạn cuối cùng cho mình, nằm xuống mà vẫn không hiểu tại sao miền Nam lại mất, bao nhiêu bạn bè, đồng đội anh cũng đã nằm xuống mà không biết mình bị phản bội, giá biết được, liệu họ có liều hy sinh cho một điều vô lý như thế? Họ là những người lính, mà người lính lúc nào cũng nghĩ tới nhiệm vụ và thi hành lệnh. Xin kính chào những người lính Quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã nằm xuống cho quê hương.

Trần Như Xuyên

QuynhMai
Posts: 8
Joined: Thu Apr 07, 2016 5:17 pm
Been thanked: 2 times

Re: QUÁN BIÊN THUỲ

Post by QuynhMai »

Image

Rừng Lá Thấp

Trần thiện Thanh

Bài viết này sẽ bàn về hoàn cảnh sáng tác và ý nghĩa của ca khúc bất tử “Rừng Lá Thấp” được cố nhạc sĩ Trần Thiện Thanh viết năm 1968. Mặc dù bài hát này được rất nhiều người nghe và yêu thích trong suốt hơn 50 năm qua, nhưng không có nhiều người hiểu được ý nghĩa thực sự đằng sau bài hát.

“Rừng Lá Thấp” được nhạc sĩ Trần Thiện Thanh sáng tác năm 1968 để vinh danh người bạn của mình là Trung úy Thủy Quân Lục Chiến – Vũ Mạnh Hùng, tử trận năm Mậu Thân 1968 khi Bảo vệ Cầu Bình Lợi, là cửa ngõ vô Sài Gòn (vì vậy trong mở đầu bài hát có câu “thành phố sau lưng ôm mộng ước gì”).

Trong lời tờ nhạc bài này khi phát hành năm 1968, Trần Thiện Thanh đã đề tựa:

Tặng anh hùng mũ xanh chiến trường Bình Lợi,

Cố Đại Úy Vũ Mạnh Hùng Tiểu Đoàn 3 – Thủy Quân Lục Chiến.

Ngoài ra đầu đề, tác giả còn ghi mấy dòng gửi người bạn quá cố của mình như sau:

Hùng,

Xưa, 1 lần hành quân về ghé thăm tao, mày đã tỏ ý khó chịu về những nàng ca sĩ cứ bô bô hát những bài ca đòi… “yêu”, đòi “chung tình” với “Lính”.

Tao đã không đáp, bởi… thật khó cho tao khi phải nói về những người bạn đồng nghiệp.

Trong tình bằng hữu mười mấy năm còn thật đậm, tao ghi lại ở đây 1 ý kiến của mày, tiếc là mày không thèm nghe tao hát nữa. HÙNG ơi!

Thanh – 1968/11

Từ trước đến nay, người nghe chỉ đơn thuần cảm nhận bài hát Rừng Lá Thấp như là một bài nhạc vàng viết về lính, ca ngợi người lính, chứ không thấy rõ ý nghĩa thực sự đằng sau bài hát.

Lời đề tặng bên trên giúp khán giả có thể hiểu hơn về nội dung của Rừng Lá Thấp: Nhân vật bạn của tác giả Trần Thiện Thanh, là trung úy Vũ Mạnh Hùng, không thích những lời hát sáo rỗng của các nàng ca sĩ khi hát về “tình yêu lính”, “chung tình với lính”, “trọn kiếp yêu anh lính”:

Từ máy thu thanh cô nàng vừa ca

Trọn kiếp yêu anh lính khổ xa nhà

Giữa rừng già nghe tiếng hát thật cao

Nhưng giữa rừng già tôi có thấy gì đâu…

Từ máy thu thanh, người lính nghe những lời hát yêu đương trọn kiếp đó vang vọng giữa rừng. Nhưng làm gì có yêu đương thực sự nào, hay chỉ toàn là lời phù hoa chót lưỡi đầu môi?

Đời lính gian lao, người lính chỉ CẦN hai tiếng “MẾN ANH – thực sự hiện hữu” sau một đêm khói lửa với quân thù. Họ muốn nữ ca sĩ hãy thôi hát về những yêu-thương-không-có-thật, mà hãy hát về những gian khổ của đời lính, những chiến công của người giết giặc trên cầu, những người đang còn mải mê chiến trường và lá rừng che kín đường về phồn hoa, hoặc hát cho những bà mẹ chờ con, cho những người đã vĩnh viễn nằm xuống.

Trong câu hát “tàn đêm khói lửa giờ chỉ CẦN hai tiếng mến anh”, nhiều ca sĩ hát sai thành “tàn đêm khói lửa giờ chỉ CÒN hai tiếng mến anh”. Sai có 1 chữ mà đổi ý nghĩa cả câu hát lẫn bài hát.

Suy cho cùng, đó cũng chỉ là lời trách móc nhẹ nhàng đến các nữ ca sĩ, chứ thực ra đời lính ai cũng đã quen với gian khổ quân hành, quen với tiếng súng đã vang vọng từ ngày thơ. Người lính không mưu cầu gì khác hơn là việc mong muốn non nước bình yên, dù họ có phải hy sinh tất cả, hy sinh cả tính mạng của mình.

Cuối cùng, lời nhắn nhủ là “lời hát xin gây rung động thật lâu”, mong muốn những tiếng hát hãy thật lòng và thật sự chạm đến tâm khảm của mọi người, giống như người lính cũng thật lòng yêu lá thấp giữa rừng. Chỉ những lời hát, giọng hát chân thật mới có cảm xúc trọn vẹn và gây được rung động thật lâu.

Nói thêm về ý nghĩa của tựa đề bài hát: Rừng Lá Thấp. Màu áo và nón của anh lính TQLC vốn là màu xanh lá rừng để ngụy trang. Một đội quân như vậy sẽ nhìn như một cánh rừng thấp bên dưới, Trần Thiện Thanh đã gọi màu áo xanh đó là rừng lá thấp. Vì vậy “lính giữa rừng yêu rừng lá thấp” cũng chính là yêu màu áo lính của mình.

Có thể nói, lời hát của bài Rừng lá Thấp, nếu được suy xét kỹ, là những lời lên án thẳng thừng về sự sáo rỗng, giả dối về “tình yêu lính” trong câu hát, giọng hát của các “cô nàng”. Những người như anh lính TQLC Vũ Mạnh Hùng cảm thấy câu hát đó không thật lòng với họ. Khi anh Hùng nói việc này với Trần Thiện Thanh – vốn là 1 nhạc sĩ nổi tiếng sáng tác và hát nhạc lính – Trần Thiện Thanh đã không nói gì, vì không muốn bình luận về đồng nghiệp. Ông đã ghi lại những ý kiến đó vào một bài nhạc lính, và bài Rừng Lá Thấp đã trở thành bài nhạc lính kinh điển và nổi tiếng nhất

Đông Kha

nhuvan
Posts: 383
Joined: Sun Mar 27, 2016 8:29 pm

Re: QUÁN BIÊN THUỲ

Post by nhuvan »

Image

Năm Năm Bến Cũ -

Trần Như Xuyên

(Kính tặng hương hồn cố Trung Úy Lê Đình Long, K21 Võ Bị Đà Lạt )
Vầng trăng từ độ lên ngôi
năm năm bến cũ em ngồi quay tơ
( Huy Cận )

Nguyện bước xuống xe, trời đã về chiều, Đà Lạt đang giữa mùa đông, chưa tối mà thành phố đã mơ màng như sương khói phủ, Nguyện co ro cài lại chiếc áo len mà từ lúc xe ra khỏi Blao nàng chỉ khoác hờ trên vai, bến xe hơi vắng, có lẽ chuyến xe của mình là chuyến cuối cùng từ Sài Gòn ra, nàng sách chiếc va li lững thững bước đi.

Nguyện cũng không hiểu sao giờ này mình lại ở đây, mới mấy ngày trước thôi, dù những khẩn khoản của Long mời nàng lên dự lễ mãn khóa của chàng, Nguyện vẫn giữ ý định là sẽ không đi, Nguyện ngại vì chưa bao giờ nàng đi xa một mình. Vậy mà…chả là tuần trước buổi chiều đi làm về, nàng có thói quen ngày nào cũng vậy, thả bộ dọc theo đường Tự Do đầy lá me, đúng là con đường có hàng cây lá xanh gần với nhau. Nguyện thích con đường này từ hồi còn đi học, giờ, từ ngân hàng nơi nàng làm việc, Nguyện đi bộ dọc suốt con đường, tới Bưu điện, nàng chờ xe bus để về Đa Kao.

Hôm đó, đang ngang qua cái công viên xéo La Pagode ngó qua, buổi chiều còn chút nắng, hình như trời sắp mưa, một cơn mưa cuối mùa còn sót lại. Nguyện bước trên con đường sỏi nhỏ, gió thổi tung bay mái tóc, nàng đưa tay giữ lại, Nguyện chợt nhớ lời Long nói:” em lên đây với anh, gió sẽ mừng vì tóc em bay đó”, cái anh chàng Như, bạn của Long còn chêm vào:” cả thành phố này cũng sẽ mừng vì tóc Nguyện bay nữa!”, Nguyện mỉm cười nhớ tới sự lém lỉnh của họ, "lính mà cũng bầy đặt lãng mạn".

Nguyện cúi nhặt một chiếc lá trên lối đi, mình cũng lãng mạn đấy thôi, hay là tại Long, hay mình đang nghĩ tới chàng? Mấy hạt mưa bắt đầu rơi, Nguyện bước vào một mái hiên đứng núp, ngắm nhìn những hạt mưa trên lá me, Nguyện nghe trong lòng như có tiếng hát:” em bước chân qua thềm, mưa vẫn rơi êm đềm…”nàng nghĩ thầm: lòng mình cũng êm đềm quá chứ phải không, vậy sao mình không lên thăm Long và dự lễ mãn khóa của chàng! một quyết định bất chợt như cơn mưa bất chợt ùa đến.

Đâu phải tại cơn mưa- Nguyện đỏ mặt- nếu không là tình yêu!

*****

Long quen Nguyện trong một dịp tình cờ, hôm về Sài Gòn diễn hành Quốc Khánh cuối năm thứ nhất, ghé thăm người anh thì gặp Nguyện ở đó, Long đi với Như, một người bạn thân cùng khóa. Nguyện làm chung sở với người chị dâu, hôm đó nàng tới để tập hát cho buổi liên hoan tất niên.

Long, Như ngồi nói chuyện với người anh, Nguyện và người chị hát nho nhỏ: vầng trăng từ độ lên ngôi, năm năm bến cũ em ngồi quay tơ, em ngồi quay tơ….

Chị đang hát chợt ngừng lại:
– Long, chú thấy tụi này hát có đúng không?
Long cười:
– Em biết gì về hát với hò, chị hỏi thằng Như này này, nó là trưởng ban văn nghệ của trường đó.
Chị quay sang Như:
– Vậy hả, sao, Như thấy thế nào? tụi này chỉ hát thôi, còn đám khác múa, không biết có ra gì không..
Như đáp:
– Nếu thế chị phải phối hợp với mấy người múa nữa chứ, lời hát và động tác múa phải ăn khớp với nhau, còn bài hát thì chị và cô Nguyện phải luyến láy cho rõ thì mới thấy được cái guồng tơ đang quay.
Như với lấy chiếc guitar để cạnh đó:
– Nào, chị và cô Nguyện hát đi, tôi chỉ thêm cho.
Đấy, Long gặp Nguyện trong trường hợp như thế, thực ra từ lâu, anh chị cũng muốn giới thiệu Long với Nguyện nhưng chưa có dịp. Nguyện còn trẻ, dáng dấp như một nữ sinh hơn là một người đi làm, mái tóc xõa dài, làn da trắng mịn là điểm nổi bật nơi Nguyện. Hôm sau, anh chị mời Long và Như tới nhà ăn cơm và dĩ nhiên có cả Nguyện, lúc ngồi uống nước, người chị kéo Như ra một chỗ làm như có điều gì hỏi, để mặc Long cùng Nguyện, sự sắp xếp như thế dù có vẻ như vô tình nhưng cũng đủ cho Nguyện hiểu. Nguyện hồn nhiên hỏi Long:
– Sao Nguyện thấy các anh ăn mặc khác với các người lính khác vậy, ở Sài Gòn này, Nguyện chỉ toàn thấy các ông lính mặc quần áo xanh hoặc rằn ri thôi, đằng này mầu kaki, áo bốn túi, lại có cầu vai mầu đỏ nữa.
– Thế Nguyện thấy xấu hay đẹp?
– Dĩ nhiên là đẹp rồi, không phải nịnh đâu, trông các anh có vẻ thư sinh hơn, không dữ dằn như mấy ông kia.
– Đây là bộ dạo phố mùa hè, tụi anh nhiều quần áo lắm, càng nhiều càng khổ, còn dữ dằn thì làm gì có lính nào dữ dằn.
– Thật đấy, trước kia Nguyện cứ thấy mấy ông lính là Nguyện thấy thế nào ấy, không hiểu vì sao.
– Nguyện nói trước kia thì như vậy, thế còn giờ thì sao?
– Anh khéo cài người ta, thôi được cũng cứ nói, nhưng một lần nữa, không phải nịnh đâu, các anh nói chuyện hay hơn, có vẻ hiền hơn, và – Nguyện cười khúc khích – bảnh bao hơn.
Long nói như mời:
– Vậy thì mấy ngày nữa, anh đi diễn hành, Nguyện đi coi đi, sẽ thấy tụi anh còn bảnh bao hơn thế này nhiều.
– Nguyện biết chỗ nào đâu mà coi.
– Nguyện tới đây đi với anh chị Thanh, anh chị ấy cũng đi coi, chắc Nguyện sẽ không nhận ra tụi này đâu vì trông ai cũng giống ai, khó mà nhận ra.

Nguyện chỉ có hai chị em gái, không biết tí gì về lính tráng, bố là công chức bộ tài chánh. Sau ngày diễn hành, Long chỉ còn có bốn ngày nữa phải trở về Đà Lạt, chưa có gì là rõ ràng cả nhưng bốn ngày còn lại đó, họ gặp nhau thường hơn, Long đưa Nguyện đi chơi để có dịp tìm hiểu hơn về nhau, có những điều không cần phải nói, cả hai cùng nghĩ như vậy, nhưng buổi cuối cùng, khi Long nhắc
– Mai anh phải về Đà Lạt rồi.
Mắt Nguyện chợt thăm thẳm, bàng hoàng, Nguyện không muốn Long cho mình là vội vàng, dù quen biết nhau chưa được bao lâu nhưng những lần nói chuyện, Nguyện mơ hồ thấy nhen nhúm trong mình một tình cảm nào đó, rất nhẹ nhàng, nàng thấy vui những lúc có Long, ánh mắt nhìn nhau mà họ hiểu chẳng cần phải nói nhiều.
Long hỏi như một lời ướm:
– Chắc chỉ sau ngày mai thôi, Nguyện sẽ quên tụi này ngay mà, dù sao thì cũng cám ơn Nguyện đã cho anh những ngày thật vui, về lại Đà Lạt, anh sẽ đem theo biết bao kỷ niệm đẹp.

Trong một cử chỉ bất ngờ dù nhủ lòng đừng để Long hiểu lầm mình là người quá vội, Nguyện cầm tay Long áp lên má mình, một điều đó thôi, không cần phải nói gì cả mà như là đã nói rất nhiều, có phải thế không anh – Nguyện nói thầm – mưa vẫn rơi êm đềm, và lòng em cũng rất êm đềm.

Tết năm đó, Long được về phép 15 ngày, giờ thì không còn gì gọi là quá vội để bầy tỏ tình cảm cho nhau. trong những lần đi chơi, Long thường dẫn Nguyện vào Givral:
– Hồi còn đi học, anh cùng bạn bè hay ngồi ở đây ngắm các cô làm ở ngân hàng về, tà áo dài đồng phục làm mát cả đường phố.
– Hóa ra anh đã để ý đến em từ hồi nào, đùa vậy chứ lúc đó em vẫn còn ở mãi đâu đâu, em thì chiều nào làm về cũng ngang qua đây, đi suốt con đường Tự Do này để nhớ đến anh, có lần chị Thanh trông thấy em gọi mà em cũng chẳng nghe thấy, hôm sau vào, chị trêu quá trời.
Long nhìn Nguyện nồng nàn và nàng cũng vậy.
– Chừng nào anh mãn khóa?
– Tháng 11, cuối năm.
– Rồi anh ra mặt trận?
– Anh ra đơn vị chứ không phải ra mặt trận.
– Anh ạ, em mới đọc cuốn “Đêm nghe tiếng đại bác” của Nhã Ca, em sợ quá, sao lại có chiến tranh để làm gì nhỉ?
– Có gì đâu em, đâu phải ai cũng vậy, đừng nghĩ vẩn vơ, tôi đứng lên, mình dạo phố một lát.
Những ngày phép qua nhanh, họ có nói với nhau về tương lai, tuy chỉ mơ hồ. Long nói với Nguyện là sau ngày ra trường, nếu chúng ta còn nghĩ đến nhau, chúng ta sẽ chính thức sống chung, Long thấy Nguyện run lên trong tay mình.

*****
Ba người ngồi trong một quán cà phê nhỏ cuối dốc Duy Tân, Long rối rít:
– Sao em lên mà không cho anh hay, anh cứ nghĩ lễ mãn khóa này anh sẽ chán chết, thằng Như còn có bà cụ nó lên nữa là.
– Vậy hả, cụ đâu rồi Như?
– Bà đang trong nhà người quen, mấy hôm nay thằng Long cứ đòi đưa cụ đi chơi, giờ thì chắc thôi rồi phải không Long!
– Em, tụi anh lúc này rất bận, vừa tập lễ mãn khóa, vừa tập vở kịch, sẵn có người quen của thằng Như ở đây, anh nhờ họ dẫn em đi chơi, tuần sau mãn khóa thì anh hoàn toàn thong thả.
– Eo ơi, trông các anh sao mà đen thế, hết đẹp trai rồi, sao em lại quen với mấy ông chà và này nhỉ.
– Tụi này mới ở Dục Mỹ về chưa được bao lâu, đó là trung tâm tàn phá sắc đẹp mà Nguyện, không sao, tháng sau lại đẹp trai như thường, lúc đó ai cần ai không biết.
– Ông Như, Nguyện lên đây mà có thấy ai mừng vì tóc Nguyện bay đâu, ông chỉ khéo làm thơ, nghe Long nói ông biết làm thơ nữa hả, hôm nào làm cho Nguyện bài thơ đi.
– Long nó ngâm thơ cho Nguyện nghe nhiều rồi, cô còn cần thơ ai nữa.
Nguyện vỗ vỗ tay Long:
-Em nghe nói trên này có cà phê Tùng ngon lắm phải không? cho em lại đó đi.
– Không được đâu, chỗ đó toàn tụi anh không hà, em vào đó chẳng khác nào hoa lạc giữa rừng gươm.
Nguyện cười:
– Thì cứ cho em lại đó, các ông đen thui như thế này thì ai nhìn thấy ai, thế nào trước khi về Sài Gòn, anh phải dẫn em lại đấy đấy.
*****

Hôm mãn khóa, Nguyện đi cùng với mẹ Như vào trường Võ Bị, buổi lễ rất trang trọng và đông thân nhân tham dự, mẹ Như hỏi Nguyện:
– Cô có thấy thằng Như nó đứng chỗ nào không?
– Con cũng không biết nữa, trông người nào cũng như người nào, cả Long con cũng chẳng thấy đâu nữa.

Buổi lễ xong, Như đưa mẹ Như và Nguyện ra lại Đà Lạt, tối dạ vũ ở Palace, Nguyện theo Long và Như, líu ríu như cô gái nhỏ, tối nay, Nguyện mặc chiếc áo dài mầu vàng, khoác cái manteau mầu chocolat đậm, Nguyện cứ nhắc đi, nhắc lại:
– Nhớ nhé, em nhẩy không giỏi đâu đấy, đừng có mà "phăng" lung tung làm em té lăn quay ra là chết, bạn bè nó dậy em mới lơ tơ mơ thôi.
Lúc Long mời nàng, Long mới thấy Nguyện thực không nhẩy giỏi, chứng tỏ Nguyện cũng không đi chơi nhiều.
Rời Palace, đêm mát lạnh, Nguyện đi giữa Long và Như, gió khuya thổi bay tóc Nguyện, Như nói:
– Giờ thì Nguyện có thấy nhiều người mừng vì tóc Nguyện bay chưa?
– Có thấy gì đâu Như!
-Nguyện không thấy mấy đứa bạn tụi anh ngắm Nguyện quá chừng à, không có anh và Long thì phải biết.
Long đỡ lưng Nguyện:
-Em có đói bụng không, mình kiếm cái gì ăn nghe, tối nay em là "la plus belle pour aller manger" đấy.
– Ừ, em cũng thấy đói rồi, em đề nghị thế này, mình về thay quần áo, xuống phố đi ăn bụi ngoài đường một bữa, cứ ăn tiệm mãi phát chán.

Cả ba thay quần áo, lang thang ngoài phố ăn cháo khuya, hột vịt lộn…xong lại kéo nhau về cái quán cà phê dưới con dốc Duy Tân. Hai ngày sau, Đà Lạt vắng hẳn bóng dáng các Sĩ quan vừa mãn khóa, mọi người háo hức về với gia đình. Như đưa mẹ ra bến xe về lại Sài Gòn, còn chàng phải đi máy bay vì vấn đề an ninh. Long và Nguyện cứ giữ Như ở lại chơi với họ ít ngày nữa nhưng Như từ chối, để họ được tự do.
*****

Long và Như chọn cùng Sư Đoàn 25, mấy ngày phép còn lại, Long và Nguyện quấn quýt bên nhau, Nguyện đưa Long về giới thiệu với Ba, Má. Cùng tình yêu say đắm nhưng không làm chùn bước người sĩ quan trẻ mới ra trường, Long mang tình yêu đó ra đơn vị, những bỡ ngỡ ban đầu qua đi rất nhanh, Long dần vững vàng trong vai trò của một sĩ quan chỉ huy đơn vị tác chiến. Sau 6 tháng vừa là Trung đội Trưởng vừa là Đại Đội Phó, như đa số K21 ra BB lúc đó, đều nắm Đại Đội Trưởng. Năm 1967, Long An VC chưa nhiều, SĐ 25 nhận trách nhiệm bình định đúng với trên của khóa là ” Chiến thắng nông thôn”.
******

Long ngồi trên bờ ruộng, nheo mắt nhìn vào hàng dừa nước trước mặt rồi nhìn vào bản đồ để xác định mục tiêu, chỗ này, theo tin tình báo, địch tập trung tới cấp Đại Đội, hồi nãy đi ngang xóm nhà phía ngoài, Long thấy dân chúng hớt hải bồng bế nhau chạy ra phía đường lộ, chẳng cần phải hỏi chàng cũng biết tình hình như thế nào rồi.
Đám lá cao ngất rước mặt, che kín cả một vùng sông rạch, Long càu nhàu:
– Mẹ nó, xứ gì mà chỗ nào cũng là lá với lá, hôm nay có chuyện lớn đây.
Chàng gọi máy nói chuyện cùng Tiểu đoàn Trưởng, bộ chỉ huy TĐ đặt ngoài con lộ:
– Đại bàng có thấy dân họ chạy ra ngoài đó không, chắc tụi nó khá đông đấy.
– Tôi thấy rồi, xử dụng pháo thật nhiều rồi hãy cho con cái vào, tôi đã xin cả phi cơ cho anh.
Long quay sang sĩ quan "đề lô" đứng cạnh:
– Cậu kêu tất cả các khẩu pháo của Cần Giuộc, Cần Đước, Rạch Kiến ưu tiên cho mình, đọc tọa độ cho họ đi, hôm nay là em khô cổ đó em.
Long biết, nếu cho quân từ ruộng trống như thế này mà vào thì chỉ tổ làm bia cho địch bắn, còn tạt trái mà men theo rạch thì tiến rất chậm, còn bị mìn bẫy nữa.
Chàng gọi Đoàn, Trung đội Trưởng trực chính hôm nay, Chuẩn úy ra trường gần một năm, đánh giặc cũng ngon lành, bị thương mới về lại đơn vị;
– Cậu có thấy đám lá trước mặt đó không, tụi nó ở trong đó đó, tôi sẽ kêu pháo bắn rồi cậu cho mấy đứa nhấp thử xem sao.

Pháo từ Cần Đước bắn vào mục tiêu, từng loạt đạn nổ vang rền, khi pháo ngưng, năm người lính thuộc Trung đội Đoàn chạy băng lên phía trước, nước lấp xấp tung tóe dưới chân họ, khi còn cách đám lá khoảng 50 thước, họ đồng loạt khai hỏa, ngay lúc ấy, từ trong đám dừa lá, đạn VC bắn ra như mưa, cả năm người lính mất hút sau một bờ ruộng, không biết ai trúng đạn, ai không.

Tiểu Đoàn cho lệnh Long ngừng lại, sĩ quan ban ba gọi Long trên máy:
– Thẩm quyền chờ cho pháo bắn thêm nữa, sẽ có phi tuần lên cho mình.

Lúc sau, pháo từ ba, bốn phía bắn dồn dập vào mục tiêu, những thân cây dừa nước bị mảnh pháo chém bay tung lên trời, đám lá đã quang đi được một ít, đất bụi mù mịt, Long không biết có phá được nhiều hầm không nhưng chắc chắn là chúng có thiệt hại. Không chờ phi cơ, Long nói với TĐT cho mình lên thử, chàng gọi Đoàn cho Trung đội tiến lên, Đại Đội sẽ theo ngay sau. Đoàn dẫn Trung đội chạy ngang qua thửa ruộng, khôn khéo hơi chếch về phía trái một chút, mấy người lính đầu tiên đã bám được bờ rạch, không thấy địch phản ứng, Long cầm bản đồ, phất ĐĐ theo ngay sau Đoàn, khi Long còn cách con rạch khoảng 15 thước, một loạt AK tứ trong đám lá bắn ra, đang chạy, Long thấy như có một sức thật mạnh đẩy chàng bật ngược trở lại, Long vật xuống bờ ruộng, người lính mang máy chạy sau Long hốt hoảng la to:
– Y tá đâu, y tá đâu, thẩm quyền bị thương rồi!
Không, anh ta lầm, Long không bị thương, chàng đã không kịp nghe người lính gọi y tá, không cả kịp kêu lên hai tiếng đáng kêu nhất: Nguyện ơi. Khi người lính mang máy chạy tới ôm lấy chàng, một dòng máu từ thái dương thấm ướt cả áo anh ta, anh ta kêu lên:
– Trời ơi, ông thầy ơi!
*****

Sài Gòn, ngày…tháng…năm…
Như thân mến, vậy là Long chết rồi, chết thật rồi, Như có hiểu nỗi đau của Nguyện như thế nào không. Nguyện giờ là chiếc bóng của chính mình, em sợ quá, biết thế em không thèm đọc cuốn đêm nghe tiếng đại bác làm gì, nó đã ứng nghiệm vào em, biết thế cũng đừng quen Long để giờ em khỏi phải đau khổ, sao định mệnh khắc nghiệt quá. Như có biết không, gió đâu còn mừng vì tóc em bay nữa vì em đã cột tóc mình lại, cột cả trái tim mình lại. Như ơi, sẽ chẳng còn ai mừng vì tóc em bay nữa đâu.
Nguyện vẫn mỗi chiều đi lại con đường cũ, hàng me vẫn vậy, công viên vẫn vậy, chỉ có lòng em thay đổi vì chẳng còn gì làm em tha thiết cả, em giờ đây như rừng thu. Ngày xưa mỗi bước chân em còn quấn quýt với hình bóng của Long, giờ mất hết rồi, ngày xưa những chiếc lá me lăn tròn chia vui dưới chân em, giờ chúng lặng lẽ u sầu, em cũng lặng lẽ u sầu. Em nghĩ lại cũng chẳng hối tiếc gì sao lại gặp Long, anh ấy đã cho em bao là êm đẹp, hai mươi tuổi đầu em mới thấu hiểu thế nào là đau thương, trời bắt em đau thương quá sớm, Long mới ra trường chưa được bao lâu, em mới ngụp lặn trong tình yêu chưa được bao lâu.
Em không còn viết nổi nữa, chẳng lẽ than van với anh mãi sao, em sẽ cầu nguyện cho anh đừng bị như Long, em thấy thương những người như anh, như Long, thương tất cả những người ngày đêm cận kề với cái chết mà vẫn bình thản, chẳng hề than vãn, các anh thật lạ lùng, chưa bao giờ thấy các anh nói về những hiểm nguy mà các anh phải chịu đựng, các anh sợ những người thân lo âu chăng, các anh đã lựa chọn một cuộc sống, trời ơi, một cuộc sống mà cái chết có thể đến bất cứ lúc nào và Long đã bình thản đi vào nơi đó. Như ơi, em lại khóc nữa rồi, thôi em ngưng đây.

*****
Ba tháng sau ngày Long chết, Như mới có dịp về phép, chàng tới thăm Nguyện, khi ngồi nói chuyện, nàng nhìn Như đăm đăm như cố tìm lại một hình bóng nào.
– Anh có vẻ ốm đi, chắc hành quân nhiều lắm phải không?
– Cũng vậy thôi, ngày nào cũng là ngày hành quân cả, ngay cả lúc nghỉ dưỡng quân, ai nghỉ chứ anh có nghỉ đâu mà mập nổi.
– Anh khác hẳn ngày trước, ý em muốn nói lúc hãy còn trong trường Đà Lạt, mặc quần áo trận vào cộng với sự gian khổ trông có vẻ dầy dạn hơn, dạo còn sống Long về thăm em, em cũng thấy như vậy, các anh lạ lùng quá, không sợ chết à?
– Nói không sợ cũng không đúng, nhưng ngày nào cũng như ngày nấy riết rồi nó quen đi, rồi lại thấy vui nữa là đằng khác, em nhớ tụi anh là sĩ quan hiện dịch mà.
– Anh đưa em ra phố đi, lâu rồi, em chẳng đi đâu cả.

Như đưa Nguyện ra phố, nàng mặc lại cái áo vàng ngày nào ở Palace, lúc nói chuyện vẫn phảng phất nụ cười nhưng không còn tươi tắn như ngày xưa. Nguyện đòi Như đưa nàng vào Givral, nàng chọn cái bàn gần nơi cửa kính:
– Long và em vẫn thường ngồi ở đây.
Trầm ngâm một lúc, chợt Nguyện nói một câu rất mơ hồ:
– Cuộc đời đó có bao lâu mà hững hờ, buồn quá hả anh.
Bên cạnh Như, Nguyện thấy thật gần gũi, nàng cảm tưởng như có Long bên cạnh, hai người là bạn thân, cuộc tình của Nguyện và Long, Như tham dự nhiều trong đó, Nguyện chợt giật mình, nàng thấy hai người như là một.

Buổi tối, Như đưa Nguyện vào vũ trường Tự Do, vũ trường này, cả ba đã từng vào đây nhẩy mấy lần hồi mới ra trường. Như kéo ghế, rót nước cho nàng, trong bóng tối, mắt Nguyện vẫn long lanh như đêm nào ở Palace, khi Lệ Thu xuất hiện:” ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo, em nhớ cho, mùa thu đã chết rồi ” thì Nguyện chợt nắm tay Như, Như hiểu, không phải Nguyện cố ý, nàng đang xúc động, một cái nắm tay vô thức, Nguyện đang nhớ tới một kỷ niệm nào đó, khi bài hát hết, Nguyện hỏi Như:
– Sao anh không mời em nhẩy bản này
– Lệ Thu hát hay quá, ngồi nghe thôi, nhẩy nó phí đi.
Trong bóng tối, khi hai người đang dìu nhau giữa piste, Nguyện đã nép vào Như:
– Anh và Long thân nhau nên khi ở cạnh anh, em thấy có sự êm ấm lạ thường, may sao mất Long, còn anh như một chỗ dựa tinh thần cho em.
Nguyện định nói gì thêm nhưng nàng ngưng lại, có tiếng thở dài, Như thấy ươn ướt ở ngực áo, Nguyện đã khóc tự hồi nào.

*****
Năm 1970, đang tham dự cuộc hành quân vượt biên ở Kampuchia thì Như nhận được thư Nguyện:
…………....anh vẫn khỏe chứ, sao lâu quá anh không về thăm em làm chẳng có ai đưa em đi chơi cả, vậy chứ coi chừng có ngày anh về sẽ chẳng còn em để đi chơi nữa đâu, đừng giật mình, em nói thật đấy, đừng có cười. Để em kể anh nghe chuyện này, hôm nọ tới thăm mẹ anh, có lúc cụ nắm tay em nói: ước gì con là con dâu của bác, em thấy lòng xốn xang, đừng cười em nghe, em có xốn xang thì có gì là không phải đâu, em đã nói rồi mà, chẳng lẽ em cứ ngồi đếm thời gian để mà quay tơ mãi sao. Cụ bảo thằng Như cũng đã đến lúc cần có người bên cạnh. Anh có cần ai ở cạnh không hay cứ mãi ôm mộng công hầu khanh tướng. Tối ngủ nghe tiếng đại bác từ xa vọng về, cụ nói chỗ đó chắc là chỗ thằng Như đóng quân, em phải gạt ngang: không phải đâu mẹ, đấy là tiếng đại bác anh Long con vẫn còn tiếp tục gọi bắn lên đầu quân thù đó, anh Như thì chắc chẳng nghĩ gì tới ai đâu mẹ ạ. Em gọi mẹ là mẹ đấy, kệ, dù cho anh có không bằng lòng. Em nghe tin tức thấy tình hình chiến sự có vẻ nặng lắm, ráng giữ gìn sức khỏe, em vẫn hàng đêm cầu nguyện cho anh, nhớ về thăm em.

*****

Chiến sự trở nên sôi động khi Tướng Minh thay Tướng Trí bị tử nạn máy bay, đang từ chủ động, ta trở thành bị động, cứ lui dần, lui dần. Trận đầu tay của Tướng Minh là trận Dambe của TĐ 11 Dù, Dũng, K22A chết trong trận đánh này. TĐ Như vừa rút về gần Thiện Ngôn được hai ngày, chưa kịp nghỉ ngơi, chỉnh đốn thì được lệnh lên giải tỏa căn cứ Krek do TĐ 30 BĐQ đóng giữ đang bị bao vây, Th/Tá Thủy, K19 là TĐT bị tử thương, bạn cùng khóa với Như, Hoàng kim Truy(H21) là ban ba của TĐ này. Tại sao ta cứ co dần không còn như thời còn Tướng Trí, Thiện Ngôn bị cắt đứt, Dù đổ vào hành quân ở đây để khai thông quốc lộ 22 từ Tây Ninh lên, một NT khóa 20 của Lữ đoàn Dù bay trên CNC trúng đạn VC từ dưới bắn lên bị tử thương.

Đang lúc quay cuồng như thế, Như nhận được thư của Nguyện trong chuyến trực thăng tiếp tế, kèm theo một thiệp cưới.
Sài Gòn, ngày…tháng…năm 1971.
Anh thân mến, em biết anh cũng chẳng buồn khi nhận được thư này, Như ơi, người con gái của Huy Cận ngồi bên khung cửi để dệt tơ, còn em ngồi mãi với tháng năm để dệt nỗi buồn, thôi, em không thể ngồi mãi, bây giờ em đứng lên đây, ngồi mãi chờ anh mà anh có thèm đưa tay để đỡ em dậy đâu. Anh ạ, em cứ ước ao phải chi người bên cạnh em mãi mãi sẽ là anh, nhưng em biết anh chưa muốn thế, ở anh chưa có biên giới, anh còn lãng đãng như mây trời, em không thể ngắm mây cứ mãi trôi. Giả như anh có tội nghiệp mà nhận em, em biết sẽ làm vướng bận anh thôi, anh còn nhớ cuốn phim Cimaron không, anh là chàng lãng tử Glenn Ford, còn em sẽ là Maria Schell sầu muộn, những lần đi chơi với nhau, nhìn vào mắt anh, em đọc được như thế. Anh còn nhớ tối hôm ở Tự Do không, em đã khóc vì sung sướng khi nghĩ rằng thật may cho em khi mất Long còn có anh, nhưng em đã lầm.
Thôi anh nhé, mừng cho em đi, người em sắp lấy làm chồng cũng ở trong quân đội, ông ấy là Thủy thần mũ xanh, eo ơi, thủy thần gì mà không biết bơi, quăng xuống nước là chìm nghỉm. Em không muốn ông ấy là thần, là thánh gì cả, em chỉ muốn ông ấy đừng bỏ em như Long, đừng vời vợi như anh, trước đây cứ sợ những người lính nhưng giờ lại thật thương họ, mà bây giờ không lấy lính thì lấy ai hả anh, cả nước đi lính mà, không lẽ lấy mấy ông nhà đèn Chợ Quán!
Như nhớ về dự đám cưới em nghe, cho ta được thấy nhau lần cuối.
*****

Nhưng họ không thấy nhau được lần cuối như Nguyện mong muốn, Như không về dự đám cưới Nguyện được, cuộc chiến càng thêm mãnh liệt, cái hòa đàm Paris đổ thêm lửa vào các trận đánh. Mùa hè đỏ lửa, mấy tháng liền lăn lộn từ Bầu Bàng lên Chơn Thành, rồi suối Tầu Ô, khai thông Quốc lộ 13 để giải tỏa Bình Long, lá thư theo chàng cùng năm tháng, đôi lúc có phút rảnh rỗi, Như lại mở ra đọc, lãng mạn như một bài hát tiền chiến, mà là thư cứ dần vàng đi thật, cứ lấy ra, lấy vào mãi, mỗi lần đọc xong, Như lại thừ suy nghĩ: không biết Nguyện giờ như thế nào.

1973, hiệp định Paris được ký két, cứ ngỡ là hòa bình rồi nhưng lúc này đánh nhau còn hăng hơn bao giờ vì những vi phạm liên tục của VC. Ngưng bắn da beo, một từ quái lạ mà đánh nhau lúc này cũng quái lạ, có đụng thì pháo binh chỉ bắn ba trái thôi, hết đạn rồi, bây giờ chiến tranh theo kiểu nhà nghèo.

Như giờ là Tiểu Đoàn Trưởng, sau hiệp định Paris mấy ngày, chàng dẫn TĐ về bảo vệ Dầu Tiếng, một quận nhỏ lẻ loi, chung quanh là mật khu Dương minh Châu, Bời Lời, Tam giác Sắt…Giữa năm 73 Như được cái phép về thăm bà cụ đau nặng, một cái phép hiếm hoi cho một TĐT, thực ra cũng lâu lắm rồi, Như có biết phép tắc là gì đâu, chàng tìm lại Đa Kao thăm Nguyện, nhà đã dọn đi nơi khác, nhớ lá thư Nguyện viết: coi chừng có ngày anh sẽ không gặp lại em nữa đâu, quả thực, mình mất Nguyện thật rồi, sao trong ta nhiều mâu thuẫn quá.

Như vào Givral, ngồi lại cái bàn Nguyện vẫn thích ngồi, buổi chiều nắng đã nhạt, chàng hi vọng Nguyện đi làm về sẽ ngang qua đây, "em biết rằng sẽ không bao giờ giữ được anh", đúng đấy Nguyện, chính anh cũng không hiểu mình muốn gì, anh không ôm mộng công hầu khanh tướng gì cả, cũng chẳng có hoài bão chi lớn lao nhưng cuộc đời lính có nhiều bấp bênh, những bất trắc luôn chờ nơi tụi anh. Có mấy người làm ngân hàng ngang qua, không thấy Nguyện đâu cả.

Như đi dọc theo con đường Tự Do , những chiếc lá me lăn tròn như một điệu nhạc luân vũ, gió vẫn mừng vì tóc em bay đó chứ Nguyện, em vẫn còn trong sáng nơi anh, chỉ có anh là u mê, cái gì mất đi rồi mới tiếc.
Trở lại Givral ngồi nữa, người tài xế thấy tối mà chưa thấy chàng ra, ló cổ vào tìm, Như uể oải đứng dậy.

*****

Mười năm đi tù CS, cuối 88, Như vượt biên tới Úc, chàng không đi Mỹ vì có người em ở Úc bảo lãnh, nhờ vậy, như một phép lạ, trong một lần đi phố ở khu người Việt, Như gặp Nguyện, Nguyện sững sờ một lúc mới thốt lên được:
– Như, phải Như đấy không! trời ơi, em thật không ngờ.
Nguyện khác đi nhiều, dĩ nhiên, thấy Như nhìn mình đăm đăm, Nguyện cười:
– Em thay đổi nhiều lắm phải không anh, ba chục năm rồi còn gì.

Tóc Nguyện đã có sợi bạc, mắt vẫn ánh lên nét nghịch ngợm nhưng đã có vài vết nhăn. Nguyện đi cùng với một bé gái khoảng 4,5 tuổi, thấy Như nhìn đứa bé, Nguyện nói:
– Nó là cháu ngoại em đấy.
– Anh ấy đâu rồi Nguyện?
Mắt Nguyện chợt xa xăm:
– Em cũng không biết nữa, trong cuộc lui quân ở Đà Nẵng, không thấy anh ấy trở về, em có ra ngoài đó dò tìm nhưng không có tin gì cả, em có mỗi đứa con gái, đây là con của nó. Còn anh, được mấy cháu rồi, cuối năm 74, em đọc được tin vui của anh trên báo, cũng gan lì nhỉ, mãi tới lúc đó mới chịu lấy vợ, chị đâu?
– Bà ấy ở nhà.
– Hôm nào dẫn chị lại em chơi.
– Vâng, để hôm nào tôi sẽ dẫn bà ấy lại thăm Nguyện, tôi có kể cho nhà tôi nghe về Nguyện.
Nguyện cười:
– Thế anh có kể cho chị ấy nghe chuyện em đã khóc làm ướt áo anh không?
– Giờ Nguyện sống với ai?
– Em ở vậy một mình từ ngày anh ấy mất, giờ thì già rồi, hơn nữa đã hai lần để tang, một lần tang trong lòng, một lần tang trên mái tóc, em không lấy được Long nên Long vẫn nhiều hình ảnh đẹp trong em, em không lấy được anh (cười), anh vẫn đẹp trong em, giá mình mà lấy nhau, giờ biết đâu hai đứa đã chẳng ly dị từ hồi nào rồi (lại cười), tháng sau em sẽ về Việt Nam thăm đứa em gái, Nga đó, anh còn nhớ không? À mải nói chuyện quên mất, cụ như thế nào anh?
– Cụ mất lâu rồi, khi tôi còn trong tù.

Trước ngày Nguyện về Việt Nam, Như tới thăm, chàng đưa Nguyện một bài thơ:
– Gửi Nguyện, Nguyện yêu cầu tôi làm cho Nguyện một bài thơ hôm Nguyện lên dự lễ mãn khóa, còn nhớ không? hơn ba chục năm sau, giờ bài thơ mới làm xong, tặng Nguyện trước khi về Việt Nam.
Nguyện đọc bài thơ rồi ngẩng lên:
– Vâng em sẽ thắp dùm anh nén nhang cho Long, cho những người đã nằm xuống.

Ngày về Việt Nam, Nguyện đáp xe lên Đà Lạt tìm về kỷ niệm cũ, cũng là những ngày của tháng 11, chiếc áo len khoác hờ, lững thững sách chiếc va li, nàng thấy mình một cô Nguyện bé nhỏ của năm 1966, ngày lên dự lễ mãn khóa của Long. Nguyện tìm lại quán cà phê cuối con dốc Duy Tân, quán vẫn còn đó, nàng ngồi xuống gọi ba ly cà phê, người bán hàng ngạc nhiên khi chỉ thấy có mỗi mình Nguyện, nàng khoanh tay lại, nhắm mắt, gió se lạnh, Nguyện thấy như có Long và Như đang ngồi trước mặt mình, bên ly cà phê, như năm nào, họ còn rất trẻ, nụ cười rạng rỡ trên môi với mầu đỏ alfa nơi vai áo.

Úp mặt vào hai bàn tay, giọt nước mắt ứa trên khóe mắt, Nguyện kêu lên nho nhỏ: Đà Lạt ơi!

Trần Như Xuyên

User avatar
bichphuong
Posts: 654
Joined: Mon Apr 25, 2016 12:10 am
Been thanked: 1 time

Re: QUÁN BIÊN THUỲ

Post by bichphuong »

Image

Người Lính Già và Khung Trời Kỷ Niệm -

T. Thiên Thu

Nghiêng đầu nhìn qua khung cửa sổ màu trắng đục trước cửa nhà, ông thấy mặt trời lấp ló trên đầu cây Phượng tím, bây giờ bắt đầu mùa Xuân, lá phượng màu vàng úa, rơi lả tả tan tác đầy sân, để sửa soạn đâm chồi nảy lộc, ra lá non mơn mởn, trổ hoa tím rực rỡ, đón chào mùa hè ấm áp.

Ở tuổi về hưu, ngày ngày ông làm bạn với cây cam, cây quít sau nhà, ông không quên bón thêm phân mà ông đã mua tháng trước ở Home Depot, cho cây hoa lài nằm sát chậu nha đam xanh mướt, giúp nó chóng ra hoa trắng mượt mà, thơm phưng phức, để bà xã có dịp trỗ tài nấu món thạch chè Hiển Khánh, nổi tiếng của thập niên 60 ở Dakao, nuốt tới đâu là mát tới đó, vừa ngọt vừa thơm,làm dịu bớt phần nào cái nóng oi bức của mùa hạ.

Dù có hệ thống nước tự động, nhưng ông vẫn tưới thêm bằng tay với vòi nước chảy róc rách, cho hai cây cau hoàng hậu trước sân thêm xanh tươi, mát mắt. Cô ca sĩ dù có giọng hát thiên phú, cũng chọn cho mình những xiêm y rực rỡ, tô son điểm phấn, tạo thêm phần hào hứng cho kẻ nghe người nhìn, huống hồ gì hoa thơm cỏ lạ, cũng cần bàn tay chăm sóc của người làm vườn, dù không chuyên nghiệp như ông.

Những công việc nho nhỏ tưởng như không quan trọng mấy, ấy vậy là cách giết thì giờ hiệu quả nhất trong thời điểm đại dịch COVID-19 ác ôn này. Từ khi trời vừa sáng, cho đến khi màn đêm vừa buông xuống, những Email ,tin nhắn, messenger, gửi qua gửi lại cho nhau, từ lũ bạn thân thiết Không Quân gần trời xa đất, ân cần nhắc nhở tình trạng cách ly, nam nữ thọ thọ bất thân, kể cả đàn ông, con nít, ông già bà trẻ, xin hãy rời xa ít nhất là 2 mét, sớm mai thức dậy, đừng quên nhâm nhi ly nước ấm pha chanh gừng, nếu không bị bịnh đau bao tử hành hạ! Và còn nhiều lời nhắn nhủ thân tình nhất để giữ đời cho nhau thật lâu, thật dài,theo phương châm của người Không Quân “ KHÔNG BỎ ANH EM KHÔNG BỎ BẠN BÈ “

Ngay cả ngày lễ Phục Sinh vừa qua, con gái ông lái xe đến nhà, mang hai đứa cháu ngoại dễ thương cả tháng trời chưa gặp mặt, được mẹ nó dặn đứng xa xa, đưa cho ngoại tấm giấy viết nguệch ngoạc “ Cháu nhớ và yêu ông bà ngoại lắm “ kèm theo 2 cái chocolate cookie từ Starbucks.

Ông muốn ôm hôn chúng nhưng chợt nhớ và dừng lại, mở cửa xe, bỏ hai giỏ quà Easter có kẹo bánh, sách vở, trứng nhựa đủ màu, xanh xanh đỏ đỏ vàng vàng, có đồ chơi nho nhỏ, lúc la lúc lắc phía trong, kèm theo con thỏ bông xanh màu da trời mà bà ngoại nó đã nâng niu, cẩn thận gói ghém cho hai đứa cháu cưng, con gái phân trần muốn bảo vệ sức khỏe cho ông bà, vì hệ thống miễn nhiễm của người cao tuổi không được mạnh cho lắm, nên sợ hai đứa bé có thể rủi ro lây bệnh cho ông bà thì nguy to!

Biết rồi khổ lắm nói mãi, con gái ơi! Đừng nhắc nhở chi cho lòng thêm đau buồn! Ông biết rằng ở tuổi vàng, tuổi hạc hay gọi nôm na tuổi xế chiều này, không ít bộ phận trong người cũng mong manh, dễ vỡ, có khi phải cắt xén, thêm này bớt nọ cho bền bỉ, như chiếc xe hơi chạy hơn trăm ngàn dặm cũng phải tu bổ, bảo trì để còn ì ạch,tiếp tục chạy trên con đường đời dài thật dài.

Mới đó mà ông đã sống trên mảnh đất quê hương thứ hai này gần 45 năm, chưa kể những lần đi tu nghiệp thêm tại Hoa Kỳ. Thời gian như bóng câu qua cửa sổ! Ông nhớ lại ngày xếp áo thư sinh, giã từ mái trường Luật với hàng cây xanh bóng mát, uống ly chanh đường uống môi em ngọt, gia nhập binh chủng Không Quân vì ham mê nghề lái phi cơ, với lý tưởng bảo quốc trấn không, cũng là ngày ông đắp mộ cuộc tình đầy nước mắt của người yêu mình và người mình yêu, vì ông già vợ tương lai, không muốn con gái mình thành goá phụ ngây thơ, lúc tuổi vừa chớm đôi mươi, khi kết duyên với kẻ “đi không ai tìm xác rơi”. Thương cho bà mẹ già, hằng đêm khấn nguyện cho con trai mình tai qua nạn khỏi, cho con tàu không là quan tài ôm xác con yêu.

Có những lúc trong khung trời bình yên, không chiến tranh tại Hoa Kỳ, ông nghe tiếng máy bay trực thăng của đài Tivi địa phương theo đuổi tên cướp xe, bố láo xì ke nào đó, phóng như bay trên xa lộ theo sau là đoàn xe cảnh sát hú còi inh ỏi, hay tiếng kêu êm ả của chiếc Boeing trên không cao tít, đón đưa hành khách đến phương trời xa xôi, hoặc năm thì mười họa, khi đi xem những Air Show biểu diễn của nhóm phi công Hoa Kỳ thượng thặng, tinh nhuệ Thunderbirds hay Blue Angels, để nghe âm thanh gầm thét như xé toạc không gian, đưa ông về khung trời kỷ niệm ngày nào.

Quên sao được những phi vụ hành quân Tết Mậu Thân 1968, khi Cộng Sản lợi dụng lệnh ngưng bắn để tấn công Huế, Saigon và các đô thị khác của miền Nam Việt Nam. Ông còn nhớ như in tiếng mẹ khóc nức nở trong điện thoại, báo tin đã tìm thấy xác ông cậu bị trói tay phía sau và bị xử tử với hàng trăm thi thể đàn ông, đàn bà, trẻ em trong mồ chôn tập thể, phía Bắc sông Hương. Ông cậu chỉ là một công chức bình thường ở Huế.

Quên sao được tháng 5 /1968 trong trận chiến Lăng cha Cả, với sự yểm trợ của trực thăng võ trang từ KD33 CT và sự quả cảm của lực lượng KQVN phòng thủ, KQ & Thiết Giáp Hoa Kỳ, đại đội Dù đã đẩy lui VC, bảo vệ vòng đai căn cứ! Tiếc thay ta đã mất đi một vị anh hùng KQ, đại tá Lưu Kim Cương đã tử thương vì trái B40 oan nghiệt.

Quên sao được trong mùa Hè đỏ lửa 1972, trong mặt trận Quảng Trị Đông Hà, ông cùng đồng đội F5, A37, A1, L19 và UH1 đã yểm trợ cho Lục Quân, chống lại quân Cộng sản vượt sông Bến Hải, mở đầu cuộc chiến xâm lăng tàn khốc.

Quên sao được một Trần thế Vinh anh hùng của phi đoàn 518/SĐ3KQ đã hy sinh trong vùng trời lửa khói Quảng Trị sau khi bắn hạ 21 chiến xa địch. Quên sao được thiếu tá Nguyễn Du, một hoa tiêu khí phách ngang tàn A37 thuộc phi đoàn 516/KD41 làm khiếp vía Cộng quân, đã gẫy cánh trên vùng trời Quảng Trị, bị bắt sống và ném đá cho đến chết.

Quên sao được những phi vụ hành quân Tống Lê Chân 1973, VC đã trắng trợn vi phạm Hiệp định Paris ký ngày 27/1/1973 bằng cuộc tấn công tiền đồn Tống Lê Chân cách An Lộc 15 cây số về hướng Đông Bắc, những hoa tiêu và phi hành đoàn Chinook CH-47, C130, Trực thăng đã không ngại hiểm nguy với những phi vụ cung cấp tiếp liệu vũ khí, lương thực, tải thương cho các chiến sĩ Biệt Động Quân can trường.

Quên sao được tháng 4/1975 những phi vụ hành quân trong trận chiến đẫm máu Xuân Lộc, khu vực phòng thủ trọng yếu cho Biên Hoà, nơi căn cứ của phi đoàn F5 ông đang trú đóng. Xuân Lộc cách Saigon 120km về phía Đông Bắc, dưới sự chỉ huy của tướng Lê Minh Đảo, cùng tinh thần bất khuất của các chiến sĩ QLVNCH, đã chống trả mãnh liệt với lực lượng cộng quân, tổng số gấp 3 gấp 4 lần.

Dòng suy nghĩ bất chợt gián đoạn bởi tiếng điện thoại reo vang trong túi áo trước ngực của ông.

Alo, C. Cali đây, mày và bà xã mạnh không?

- Tụi tao vẫn khỏe, dậm chân tại chỗ ở nhà, vì tình trạng cách ly, đề phòng con virus Wuhan, còn mày và gia đình ra sao?

- OK, Cali cũng vậy, hàng quán, mọi chỗ đều đóng cửa, nhiều người Việt Nam mình may khẩu trang giúp bịnh viện, hoặc tiếp tế thức ăn trưa cho nhân viên y tế.

- Arizona và một số tiểu bang khác cũng vậy, đây là dịp người Việt mình đóng góp một bàn tay, cho đất nước đã cưu mang tụi mình trong mấy chục năm qua!

- Mày biết tin T. khoá 64KQ vừa qua đời tháng vừa rồi ở Seattle không?

- Có, tao có gọi điện thoại chia buồn với chị T. tuần trước! Nhớ lại 2 vợ chồng T. xuống thăm Arizona năm 2015, tao đưa đi chơi vòng vòng thành phố Phoenix, T. ngạc nhiên và xúc động khi thấy cờ vàng 3 sọc đỏ bay phất phới ngang hàng, cùng kích thước với cờ tiểu bang Arizona và quốc kỳ Hoa Kỳ!

-Tao thật vui khi giải thích cho T. biết, kể từ ngày 29 tháng 4 năm 2001 lần đầu tiên trong lịch sử người Việt tỵ nạn trên thế giới, quốc kỳ Việt Nam Cộng Hoà chính thức 365 ngày, bay phất phới tại Wesley Bolin Memorial Park, tọa lạc trước dinh thống đốc và quốc hội Arizona. Nhờ vào sự vận động của hội Cựu Quân Nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà Arizona và hội Cựu Chiến Sĩ Hoa Kỳ, quốc kỳ VNCH được thống đốc Arizona, bà Jane Dee Hull ký bản tuyên cáo ngày 2 tháng 4 năm 2001 cho sự hiện diện của lá cờ vàng 3 sọc đỏ,vĩnh viễn tại đài tưởng niệm Cựu chiến binh Arizona!

- Hôm nào tao qua thăm mày, nhớ đưa tao đến chỗ đó nhe!

- Hứa là phải làm mau mau nhe mày! Tuổi đời tụi mình ở ngưỡng cửa 80, hễ “ Trời kêu ai nấy dạ” mà không dạ, cố gắng dùng dằng Em chả, Em chả muốn đến với trời, cũng bị lôi đi xoành xoạch!

-OK, OK, tao hứa sẽ qua thăm mày, một ngày đẹp trời gần đây, giữ gìn sức khỏe nhe!

Tiếng cười dòn của thằng bạn thân Cali trước khi cúp máy làm ông vui hẳn lên, ông với tay bức nhẹ một bông hoa Hong Kong orchid màu tím nhạt trước sân, rồi mở cửa bước vào nhà, mùi thơm lá dứa của đĩa xôi trên bàn làm ông thấy đói bụng, ông gắn đóa hoa lên tóc vợ rồi mỉm cười nói :

- Xôi thơm quá, Anh chưa ăn mà đã thấy ngon!

- Anh dùng đi kẻo nguội! Em mới nấu với nước lá dứa tươi sáng nay!

Ông âu yếm nhìn vợ, người đàn bà đã hơn nửa đời người luôn bên cạnh ông, săn sóc từ miếng ăn, giấc ngủ, chia vui xẻ buồn, ông thấy hạnh phúc vỡ oà trong tầm tay, trong nụ cười, trong ánh mắt.

Đâu đó tiếng hát trầm ấm nữ ca sĩ T.T. qua bài “ Một chuyến bay đêm” của nhạc sĩ Song Ngọc và Hoài Linh.

Có người hỏi Phi Công ước mơ gì?

Người ơi nhân thế muôn màu nào biết mơ chi!

Người lính già KQ sẽ khe khẽ trả lời: Ông mơ ước cho đại dịch Vũ Hán chóng qua đi, cho thế giới trở lại cuộc sống bình thường! Ông mơ ước chế độ Cộng Sản độc đảng, tàn bạo, phi nhân chẳng chóng thì chầy sẽ sụp đổ! Và ông mơ ước sẽ cùng bà,nắm tay bên nhau cho đến cuối cuộc đời.

T. Thiên Thu

User avatar
TheLang
Posts: 1979
Joined: Thu Oct 30, 2008 5:43 am

Re: QUÁN BIÊN THUỲ

Post by TheLang »

Image

MỘT CHÚT VỀ TƯỚNG ĐỖ CAO TRÍ -

Trần Như Xuyên
Tướng Đỗ cao Trí, nói về tài chỉ huy quân sự của ông thì khó ai có thể phủ nhận, xin được có đôi chút về ông mà người viết bài có lần được chứng kiến trong một trận đánh, thật ra không đáng kể gì về một trận đánh trong suốt chiều dài cuộc đời binh nghiệp của một vị Tướng lừng danh. Tiểu sử của ông cho biết ông mang lon Đại Tá khi mới 26 tuổi, cái đáng nói không phải vì tuổi còn trẻ mà mang lon to mà là ông mang lon này dưới thời Tổng Thống Ngô đình Diệm, một Tổng Thống rất khe khắt, người ta nói là hồi đó ai được lên cấp Tá phải trình diện TT Diệm để ông xem tướng xem có xứng đáng mang lon cấp Tá không và Tỉnh Trưởng lúc đó chỉ là Đại Úy.

Khi Lonol đảo chánh lật đổ Sihanook, phía Chính Phủ VNCH có chút nhẹ nhõm vì dười thời trị vì của ông Hoàng này, Sihanook đã cho VC sử dụng biên giới Việt Miên như một nơi trú quân, hậu cần chứa mọi thứ nhu cầu chiến tranh của VC, tuy không công bố chính thức nhưng Sihanook đã cho Cộng Sản Việt Nam dùng đường biên giới để mở các cuộc xâm nhập và tấn công vào phần đất VNCH. (Ta không ưa Sihanook vì sự thân Cộng này nhưng công tâm mà nhận xét thì ông ta hơn hẳn Hồ chí Minh trong việc giành lại độc lập từ tay người Pháp, Căm Bốt không đổ một giọt máu, ông ta đu dây khéo léo giữa Nga, Trung Cộng và cả Mỹ nữa, Sihanook đã đưa nước ông trở thành phồn thịnh, thái bình trong khi Việt Nam triền miên trong khói lửa)

Trước khoảng thời gian Sihanook bị lật đổ ít tháng, ta cũng đã có những cuộc vượt biên âm thầm qua Kampuchia để tiêu diệt hậu cần của chúng như các cuộc hành quân của SĐ 25, nhưng đây chỉ là những cuộc hành quân lẻ tẻ, kín đáo. Để tránh rắc rối về ngoại giao, trong các cuộc hành quân âm thầm này, tất cả Binh Sĩ cũng như Sĩ Quan phải cắt bỏ phù hiệu đơn vị Sư Đoàn cũng như không được mang theo một thứ giấy tờ, hình ảnh nào cả. Qua các cuộc đột kích chớp nhoáng đó, ta khám phá ra rằng cách biên giới không xa lắm, VC đã xây dựng những kho tàng to lớn cho nhu cầu chiến tranh.

Đảo chánh Sihanook xong, Lonol có khuynh hướng thân Mỹ mà thật ra Mỹ bật đèn xanh cho Lonol làm chuyện này và từ đó, kế hoạch hành quân vượt biên để tiêu diệt quân CS trên đất Kampuchia được Bộ TTM phác thảo.
Cuộc hành quân hình như vào tháng ba năm 1970 (lâu rồi tôi sợ nhớ không chính xác), lúc đó tôi là Đại đội Trưởng( ĐĐT) của một Tiểu Đoàn(TĐ) Bộ Binh của Trung Đoàn 46 thuộc SĐ 25. Hôm đó, vị Tiểu đoàn Trưởng của tôi cho gọi các ĐĐT cầm bản đồ lên họp hành quân, nhìn các mục tiêu trên bản đồ nơi tay vị TĐT, chúng tôi mới biết mình sẽ vượt biên qua đất Miên.

Lệnh xuất phát ngày N và giờ G là 5 giờ sáng, tất cả mọi liên lạc bằng vô tuyến phải rất hạn chế, trưa thì TĐ tới điểm xuất phát, lệnh cho dừng lại bố trí phòng thủ, tất cả vẫn tuyệt đối giữ im lặng và không nấu nướng, nơi ém quân là một cánh rừng chồi, cây không lớn lắm, gạo sấy đã được đổ nước từ chỗ chuyển quân giờ lấy ra ăn, nằm tại chỗ thêm một ngày nữa, ăn gạo sấy xót cả ruột, người lính cần vụ đem theo được nửa cái bắp cải, tôi gọi 3 Trung đội Trưởng lên chia mỗi người mấy lá, xé ra ăn không cần rửa vì nước chỉ có một bi đông, uống rất hạn chế, tối đó trước khi thiu thiu ngủ, người lính mang máy đưa cho tôi chiếc radio transistor, mở thật nhỏ áp vào tai nghe, tiếng hát Duy Khánh với bài hát bình thường tôi chẳng mấy thích nhưng nó lại rất hợp với hoàn cảnh lúc bấy giờ: "Đêm qua biên giới, súng thù tràn lưng đồi..." tôi không biết tên bài hát là gì nhưng thật đúng trong lúc này, đang nằm nơi đây biên giới, tuy chưa có súng thù nhưng tôi biết chỉ mai hay mốt thôi sẽ tha hồ mà nghe súng thù nổ, không hiểu sao hai ngày nay chưa thấy động tĩnh, lệnh lạc gì cả.
Bốn giờ sáng, người lính mang máy TĐ lay lay tôi đưa cái combinet, TĐT cho biết một giờ nữa xuất phát tiến chiếm các mục tiêu đã chỉ định, không còn hạn chế vô tuyến nữa, tôi gọi máy phân công các Trung đội theo đội hình tiến quân, tiếng Thiết vận xa ì ì đến gần, ĐĐ tôi được chỉ định tùng thiết một chi đoàn M113 của Thiết Đoàn 10, Chi đoàn Trưởng là Đ/U Hồ Đàn, người mập mạp, râu cá chốt dài thoòng, ngồi chung xe chỉ huy, tôi mới thấy được cách thức điều động của Thiết Giáp, ĐU Hồ Đàn gầm thét luôn miệng, tay cầm cái que, mà tôi thấy tất cả Chi đội Trưởng hay Chi đoàn Trưởng đều có cái que trong tay, muốn xe quẹo trái hay quẹo phải, ông ta lấy cái que gõ vào bên trái hay bên phải người tài xế, còn lái không đúng ý, ông ta người miền Trung, luôn miệng đù mạ, gõ cái que lộp bộp vào cái nón người tài xế, sự căng thẳng của chiến trường đôi khi khiến người chỉ huy có trách nhiệm trở nên nóng nảy, cọc cằn.

Sau tôi mới hiểu tại sao phải nằm ém quân ở biên giới 2 ngày, tất cả là chờ lệnh của Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu, Tổng Tư Lệnh Tối Cao Quân Đội, ngay lúc các đơn vị quân lực VNCH tiến vào đất Miên thì TT Thiệu lên đài phát thanh nói chuyện với toàn dân: "... ngay lúc này đây khi tôi đang nói chuyện cùng đồng bào thì Quân Đội ta đã vượt biên qua đất Kampuchia để tiêu diệt quân VC đang ẩn núp tại đây..." xuất phát buổi sáng, trưa thì chạm địch, súng thù giờ đã tràn lưng đồi, không phải chỉ riêng TĐ tôi mà tất cả các cánh quân đều chạm địch, chúng ở đây đông quá, khi ở ngoài chỗ trống, tôi thấy khói lửa mù mịt khắp nơi, máy bay ném bom dài dọc theo đường biên giới, chúng ở đây rất đông và ỷ y là nơi an toàn hoặc các kho tàng không thể di chuyển kịp. Cuộc hành quân tiến như chẻ tre, các mục tiêu được thanh toán nhanh lẹ.

Quân Đoàn 3 dưới sự chỉ huy của Trung Tướng Đỗ cao Trí đã sử dụng hai SĐ 25 và 5 cùng các đơn vị BĐQ, Nhẩy Dù, TQLC tham dự cuộc hành quân vượt qua Kampuchia, đồng thời vùng 4 với Thiếu Tướng Nguyễn viết Thanh cũng ồ ạt tấn công vào vùng VC trú đóng.
Ngày thứ hai của cuộc hành quân, các đơn vị vẫn liên tục chạm địch, đơn vị bạn là Trung Đoàn 49 của SĐ25 bên cánh trái của tôi chạm nặng và nghe tin Nguyễn văn Bình, người bạn cùng khóa 21 Võ Bị Đà Lạt, một ĐĐT thuộc Trung Đ. 49 bị tử thương, Bình cùng Đại Đội E với tôi hồi trong trường, anh ta là Thiếu sinh quân, chưa hề nghe Bình chửi thề một câu, có bị bạn bè trêu chọc vì cái đầu cá trê thì chỉ nói được câu:" mẹ " rồi thôi. Buổi trưa nắng bụi chói chan, mồ hôi trán chảy xuống cay sè cả mắt, không kịp cho nỗi buồn khi nhận tin người bạn mới hy sinh, đạn nổ tứ tung, các cây 12 ly 7 trên các M113 đang nã đạn vào hầm hố trú ẩn của VC và pháo dồn dập trên các ổ kháng cự của chúng.

Phóng đồ hành quân lúc đầu dự trù các mục tiêu tới ngày N+4 nhưng tất cả được thay đổi, không còn N cộng mấy nữa mà theo sát tình blankhình biến chuyển của từng ngày, Tướng Trí, với sự tính toán và thao lược của một Tướng tài, ông tách Trung Đoàn 46, thành lập chiến đoàn 333 gồm TR/Đ46 và Thiết Đoàn 15 thẳng tiến về tỉnh Svay Rieng (Xoài Riêng), trước tiên chiếm quận Chipu rồi bao vây chiếm Svay Rieng, xong bọc trở lại Chipu tiến xuống phía Nam, xâm nhập vùng lưỡi câu và Chiến Đoàn đụng nặng tại đây, hàng ngày bay trên CNC, Tướng Trí như đọc được ở dưới đất chỗ nào VC đang trú ẩn và tại trận đánh này, tôi hân hạnh được gặp Tướng Trí.

Mục tiêu là một cái làng rộng lớn có lũy tre dầy đặc bao quanh, nằm sát cánh rừng, từ sáng tới 3 giờ chiều, ta tấn công 2 lần đều bị dội ra, cháy 2 chiếc M41 và chết + bị thương một số của cả Thiết giáp và BB.
Tướng Đỗ Cao Trí thăm binh sĩ tại mặt trận.
Có lẽ thấy mục tiêu khá nặng mà ta xung phong tới hai lần mà chưa chiếm được, khoảng 3 giờ hơn có chiếc trực thăng lượn vòng vòng rồi đáp xuống, bước ra khỏi máy bay tôi thấy Tướng Trí và một phụ nữ người Âu, cả hai mặc đồ hoa dù( tôi đoán người phụ nữ này là một ký giả?). Tướng Trí dáng tầm thước với chiếc mũ lưỡi trai mầu đen thoăn thoắt bước lên một chiếc M41 ở tuyến đầu, trong khi VC vẫn thỉnh thoảng bắn ra, dĩ nhiên ông ta ra tới đó thì Trung Đoàn Trưởng,Thiết Đoàn Trưởng phải theo ngay sau, may mắn tôi đứng gần đó vì đang dàn quân chuẩn bị cho đợt xung phong cuối cùng trước khi trời tối.

Tôi chứng kiến ông cầm cái can, gõ gõ vào nón sắt của Trung Tá Đồng, Thiết đoản Trưởng:
- Đù mẻ, lên ngay nghe Đồng, cháy bao nhiêu xe tao cho bấy nhiêu, phải chiếm cho được mục tiêu trước tối nay nghe chưa!
Trung Tá Đồng đứng nghiêm chào ông Tướng 3 sao nhận lệnh và tôi thấy Tr/T Đồng chào bằng tay trái, sau tôi mới biết ông bị thương tay phải không cử động được mấy và trước đây đã từng chiến đấu trong hàng ngũ VC rồi mới trở về Quốc Gia.
Sau đó thì đủ loại phi cơ của ta và của Mỹ nhào xuống ném bom, rồi tới pháo, mục tiêu rất bất lợi cho quân tấn công vì đó là một ngôi làng với hàng tre dầy đặc, ba mặt là đồng trống, VC đào hầm hố phòng thủ rất kiên cố với lực lượng khá đông, hình như chúng cố chết ra sức cầm chân mình để cho một thành phần quan trọng nào đó cuả chúng có thì giờ tẩu thoát, ngay lúc đó tôi nghe tin Thiếu Tướng Nguyễn viết Thanh, Tư lệnh vùng 4 vừa mới tử trận vì chiếc CNC của ông đụng phải chiếc Cobra của không quân Mỹ, như vậy QĐ3 đánh ở Lưỡi Câu, QĐ4 đánh ở Mỏ Vẹt.
Lúc dàn quân để chuẩn bị tiến chiếm mục tiêu cùng Thiết giáp, những chiếc M41 gầm rú sẵn sàng xốc tới, tôi thấy Trung sĩ nhất Thiều thuộc Trung đội 2, cũng đã có tuổi, đứng dậy từ sau gốc cây, tay làm dấu thánh giá, tôi lại gần anh ta hỏi:
- Anh sợ lắm hả anh Thiều?
- Thưa không Đại Úy.
- Tôi thấy anh làm dấu mà.
- Thưa Đại Úy, hậu cứ cho biết giấy giải ngũ của tôi đã về tới hậu cứ.
- Vậy hả, vậy anh ở đây lo gom các ba lô của anh em lại cho tôi.

Bộ Binh và Thiết giáp ào lên chiếm mục tiêu, địch còn chống cự nhưng yếu đi nhiều, gần tối mục tiêu được thanh toán, phải liều chết mà xung phong vì ông Tướng đứng ngay sau lưng, không thể nào à la de được. Ta chịu thêm một số tổn thất, trong đó, lại một người bạn cùng khóa 21 Đà Lạt với tôi, Đ/ U Lê xuân Sơn, Đại Đội Trưởng cùng Tiểu Đoàn bị thương nặng, Sơn hiện ở San Diego. Đại Đội tôi có một Sĩ quan Trung đội Trưởng hy sinh, Thiết Giáp cháy thêm một xe (khi 1 xe TG cháy, có nghĩa là cũng có vài mạng TG hoặc chết, hoặc bị thương). Địch bỏ lại nhiều xác chết cùng vũ khí.

Tướng Trí mỗi sáng bay từ Biên Hòa lên Tây Ninh, nơi đặt Bộ chỉ Huy tiền phương của Quân Đoàn trong cuộc hành quân vượt biên, tại đây, ông nghe thuyết trình về tình hình trong đêm cũng như kế hoạch hành quân của các đơn vị thuộc QĐ3 trong ngày, (thật ra các kế hoạch hành quân này tự tay ông vẽ), nếu các đơn vị chưa chạm địch, ông bay sang Nam Vang, tôi được một người bạn đi tù chung ở Sơn La ngoài Bắc, anh ta là Th/Tá phi công trực thăng kể rằng có lần lái chở Tướng Trí qua Kampuchia, lúc đáp xuống, Tướng Fernandez là Bộ Trưởng Quốc phòng của Quân đội Kampuchia đã chờ sẵn ở đấy, ông ta đứng nghiêm chào Tướng Trí, so về chức vụ thì Bộ Trưởng Quốc Phòng lớn hơn chức Tư lệnh vùng nhưng oai danh của Tướng Trí quá lớn, hơn nữa quân đội Kampuchia thì nhỏ bé và non trẻ so với ta, hai người nói chuyện với nhau bằng tiếng Pháp.

(Xin được nói thêm về quân đội của Lonol lúc đó còn quá yếu, mới thành lập, trong một lần, tôi được lệnh cho một Đại Đội lính Kampuchia đi theo để học hỏi, khi tiếp nhận ĐĐ này tôi mới tá hỏa lên vì không phải một ĐĐ mà là tới 3,4 ĐĐ, lính Kampuchia đi hành quân mang theo cả vợ con, gồng gánh nồi niêu soong chảo, dắt theo cả chó, gà, tối đóng quân, lính mình nằm vòng ngoài đào hầm hố phòng thủ, họ nằm giữa lại còn nổi lửa nấu nướng linh tinh, tôi ra lệnh dập tắt hết lửa nhưng thật ra cũng là thừa vì nửa đêm trẻ con khóc, chó sủa, rồi gà gáy..., ĐĐT của ĐĐ Miên mang cấp bậc Trung Úy, đeo lon hai vạch vàng theo kiểu Quân Đội Pháp, anh ta là người Miên lai Tầu, chẳng học ở trường quân sự nào cả, có tiền và có chút học là được làm Sĩ Quan, không biết đọc bản đồ và sử dụng địa bàn, nói chuyện với tôi thì không biết tiếng Anh, chỉ bập bẹ, may nhờ hồi còn đi học, tôi chọn sinh ngữ 1 là Pháp nên cũng qua loa hiểu nhau, họ nói tiếng Pháp rất thông thạo. Sáng sau tôi xin TĐT cho tôi thôi nhiệm vụ này, sợ quá, may vùng TĐ tôi phụ trách là tỉnh Preyveng, lúc đó nơi này cũng tạm yên chứ tối đó mà VC tấn công, không biết tôi sẽ phải làm sao).

Cuộc vượt biên thành công ở vùng 3 làm nức lòng Bộ TTM, theo gương, Hành quân Lam Sơn 719 được mở ra tại vùng 1 nhưng cuộc hành quân này không được như ý, có thể Tướng Hoàng xuân Lãm chưa đủ tầm cỡ của Tướng Đỗ cao Trí, cũng có người nói đây là món quà của Mỹ tặng cho Trung Cộng để TC hiểu thiện ý của họ để rồi rồi sau đó là cuộc đi đêm của Kissinger qua đất Tầu. Hầu như tất cả các bãi đổ quân (LZ) của đơn vị Nhẩy Dù trên đất Lào như đã được báo trước cho VC, các bãi đáp đều được tiếp đón bằng những tràng pháo chính xác của quân CS Bắc Việt.

Để cứu vãn tình hình, TT Thiệu điều động Tướng Trí ra vùng 1 thay Tướng Lãm, tin này được các đơn vị Nhẩy Dù lúc đó đang bị vây khốn tại Hạ Lào đón nhận vui mừng, có người còn cho là như vậy mình sẽ thoát chết.
blank Một buổi sáng tháng Hai của năm 71, như thường lệ, Tướng Trí từ Biên Hòa bay lên Tây Ninh, nghe thuyết trình xong, ông bay sang Kampuchia để gặp Tướng Fernandez, trực thăng mới bốc lên được một quãng thì nổ tung, tất cả mọi người trên máy bay không một ai sống sót gồm 4 nhân viên phi hành, Tướng Trí, một ký giả người Pháp tên Francois Sully và vài Sĩ quan trong ban Tham Mưu của ông.

Ở vùng 3, Tướng Trí đã quây và gần tóm được cục R, bàn tay lông lá đã giết ông để ta không thể có cuộc chiến thắng toàn diện tại vùng 3 cũng như không muốn chuyện tương tự sẽ xẩy ra ở vùng 1, điều này được củng cố thêm cho ngày 30 tháng Tư, 1975 (không phải chỉ riêng miền Nam ta chịu sự đau thương vì sự khốn nạn của người bạn "đồng minh"(sic), mà đất nước được nói đến trong bài viết này cũng chịu sự đau thương không kém, Kampuchia sau đó hơn một triệu người bị giết bởi chế độ Pon Pot). Ta tiếc khi mất đi một vị Tướng tài nhưng không hiểu giả như ông vẫn còn sống thì liệu ông xoay sở được gì khi họ cúp hết mọi viện trợ như vậy, biết đâu, với một người tài giỏi, có tầm nhìn chiến lược rộng lớn như ông, ông có thể thay đổi được cuộc diện lắm, anh hùng tạo thời thế mà. Napoléon chỉ với 100 quân cũng gây dựng lại được cơ đồ trong cái không thể.

Từ 1970 tới 1971, quân đoàn 3 dưới quyền Tướng Trí vượt biên không hề thua 1 trận nào, đây là sự thực chứ không phải nói quá, cho đến khi ông chết và Tướng Nguyễn văn Minh lên thay, tình hình khác đi liền, đầu tiên là cuộc lui quân của TĐ11 Nhẩy Dù tại Damber của người hùng Trung tá Nguyễn đình Bảo, Đ/U Nguyễn văn Dũng, khóa 22A Võ Bị Đà Lạt chết trong trận này, sau đó, ta cứ lui dần, lui dần về, thậm chí 1972, Thiện Ngôn sát biên giới cũng bị bỏ ngỏ, rồi cuộc lui quân ở Krek, Snoul... ta co cụm lại để chịu cái mùa Hè đỏ lửa ở Bình Long, còn Tướng Trí, chưa chắc đã có trận Bình Long, cái thời ta đem chiến tranh ra ngoài biên giới đã xong rồi. Năm 1970 khi cuộc vượt biên được tung ra, các đơn vị chủ lực không phải lo toan trong vấn đề bảo vệ lãnh thổ, các tỉnh Tây Ninh, Hậu Nghĩa, Bình Long, Bình Dương... được giao cho Địa phương Quân, chúng không đủ sức để mở các cuộc tấn công dù biết nhiều tinh lỵ không còn quân chủ lực đóng giữ, chúng đang lo chống đỡ các cuộc tấn công thần tốc của ta.

Bài này viết chỉ là một cái nhìn hạn hẹp của một Sĩ quan Đại Đội trưởng lúc bấy giờ. Mới đây, tôi được đọc một bài của Chuẩn Tướng Trần quang Khôi, Tư lệnh Lữ đoàn 3 Kỵ Binh viết về Tướng Trí. Bài ông viết chắc chắn chính xác và nhiều chi tiết hơn tôi vì trong cuộc vượt biên Kampuchia năm 70, Thiết Giáp rất gần gủi với Tướng Trí (ông đã cầm cái can gõ vào nón sắt của một Thiết Đoàn Trưởng, nửa như một lệnh lạc, nửa như một người anh dạy dỗ người em), Kỵ Binh của Tướng Khôi đã được ông sử dụng tài tình và thành công.

Trần Như Xuyên

Post Reply