Quán Vắng không Người ...3
Moderator: khieulong
MẸ TÔI
Tâm sự của một người con không mẹ
Hoàng Nguyên Linh
Trong sách vở, báo chí, đài phát thanh và truyền hình người ta nói nhiều về mẹ. Đa số đều nhắc đến những kỷ niệm êm đềm bên người mẹ hiền, nhưng tôi thì khác. Tôi có mẹ mà như không có. Nỗi buồn này hầu như theo đuổi suốt cuộc đời tôi…
Mẹ tôi là người vợ thứ hai của bố tôi. Bố tôi là một địa chủ khá giầu, đã có vợ cả và nhiều con nhưng bố tôi lại là một người ham mê sắc đẹp nên ông đã lấy mẹ tôi. Tôi không nhớ rõ mẹ tôi đẹp thế nào, chỉ nhớ mẹ tôi có đôi môi hồng, người cao cao, mặt trái xoan, nhưng nghe bố tôi nói thì mẹ tôi đẹp lắm nên ông quyết lấy cho bằng được dù phải bỏ ra rất nhiều tiền.
Gia đình bên ngoại không giầu bằng bên nội nhưng ông ngoại tôi có nhiều con, hình như có tới tất cả 12, 13 người, trong đó có 8 người con gái. Hai người chị của mẹ tôi đã lấy hai người em họ của bố tôi. Cũng vì bố tôi hai vợ nên tôi đã phải chịu những sự đau buồn, tủi nhục.
Ở ngòai Bắc thời xưa, đa số các ông địa chủ có tiền đều thi nhau lấy nhiều vợ. Ông nội tôi có 3 vợ, bố tôi có 2, nhưng ông nội tôi là người có bổn phận và có trách nhiệm. Tuy có 3 vợ nhưng mỗi bà ở một nơi, mỗi bà có một giang sơn riêng nên không có chuyện gì đáng tiếc xẩy ra, nếu có ghen tuông chắc không đến nỗi trầm trọng. Bố tôi không làm như ông nội tôi, bố tôi lấy vợ hai về song lại để hai bà ở chung với nhau nên mới gây ra nhiều chuyện phiền phức sau này, sự ghen tuông hầu như đã xẩy ra hàng ngày, tôi nghe cô tôi nói vậy. Tôi ra đời một năm sau khi mẹ tôi lấy bố tôi. Cũng vì tôi là con trai nên sự ghen tuông càng đi đến chỗ quyết liệt hơn. Bà cả sau khi sanh người con trai đầu lòng thì sanh liên tiếp 4 người con gái. Bà đi xem bói, thầy bói nói rằng số của bố tôi chỉ có 2 người con trai thôi, bà cả nghĩ rằng bà không có con trai thêm nữa, vậy là tại mẹ tôi đã lấy đi phần con trai của bà. Như sợ mất thế lực với mẹ tôi nên sự ghen tuông càng tăng lên, bà cả bảo với bố tôi là một mình bà đẻ đủ rồi, lấy mẹ tôi về là để làm lụng chứ không phải để đẻ nên bà nghĩ cần phải loại trừ mẹ tôi ra khỏi nhà cho bằng được. Trời mùa Đông gía lạnh mà bà cả nhẩy xuống ao đòi tự tử. Bố tôi sống trong cảnh ghen tuông thì mệt quá, đáng lẽ làm như ông nội tôi tức là đưa bà hai ra ở riêng một nơi thì bố tôi lại không làm thế… Mẹ tôi sau khi sanh ra tôi vì không biết trưng diện, ăn mặc xuề xoà nên sắc đẹp không đủ để lôi cuốn bố tôi. Bố tôi một phần vì mệt với sự ghen tuông, một phần vì nhan sắc mẹ tôi không còn như xưa nữa nên ông đã thờ ơ, lạnh nhạt với mẹ tôi, để mặc mẹ tôi muốn làm gì thì làm.
Mẹ tôi sống trong cảnh ghen tuông của bà cả và sự thờ ơ của chồng nên đã phải ra đi, sống bơ vơ trong tay không có một đồng !!. Tôi được giữ lại trong nhà để làm em một anh và bốn chị.
Giai đọan này tôi còn bé nên không biết gì, lại nữa vì thầy bói nói bố tôi chỉ có hai con trai nên vai trò “con trai” của tôi đã giúp tôi đỡ khổ. Tôi thực sự khổ từ khi biết nhận thức, tức là lúc 6,7 tuổi trở đi.
Khi tôi được 5 tuổi thì bà cả sanh thêm được người con trai nữa, thế là thầy bói đã nói sai và vai trò “con trai” của tôi không còn cần thiết, tôi như bị bỏ rơi. Hai người hành hạ tôi nhiều nhất là bà nội và người chị lớn. Bà nội tôi rất mực yêu thương người con trai mới sanh sau này của bà cả. Bà nội yên tâm khi có được người cháu trai phòng hờ để sau này có người cúng giỗ và thờ phượng, chứ một người cháu lớn bà chưa yên tâm…
Người ta nói đến mẹ, nói đến bà như một kỷ niệm đẹp, nào bà ôm cháu vào lòng, bà kể chuyện cổ tích cho cháu nghe, mẹ thì xoa lưng con, hát ù ơ ru con ngủ v.v.. nhưng tôi lại khác, tôi không có được cái kỷ niệm đó. Bà nội tôi và chị tôi thường hay đánh tôi vào đầu, hai người này thường dùng tay để “cốc” tôi. Cốc tức là cong ngược 4 ngón tay lại để chìa ra 4 đốt xương và đập vào đầu. Chỉ những ai đã bị cốc mới biết được cái đau buốt trong đầu, nhất là đầu của một đứa trẻ mới 6,7 tuổi. Tự điển Nguyễn Văn Khôn định nghiã “cốc” ( knuckle) tức là đánh một vật gì bằng khớp xương của ngón tay, thực ra phải nói “cốc” tức là đánh vào đầu bằng khớp xương của ngón tay, chứ nếu đánh vào tay, chân, lưng, bụng thì không đau. Không những chỉ đánh mà còn chửi, mang tên mẹ tôi ra để chửi, gọi mẹ tôi là con này, con nọ, mang cả tên ông ngoại tôi ra chửi, gọi tôi là “ giống thằng cả Thiều ” tức là tên ông ngoại tôi. Chị tôi có nét mặt thật ác, bố tôi bảo những đứa mà mắt nó có ve là ác lắm, tôi cũng không biết mắt có ve là mắt thế nào, chỉ nghe bố tôi nói vậy. Nhưng trái ngược với chị tôi, bà nội tôi ai cũng khen là bà cụ có nét mặt phúc hậu, tóc bà bạc trắng hết cả đầu. Mỗi khi tôi thấy có người khen dù còn bé nhưng tôi cũng lấy làm ngạc nhiên, bà nội ác với tôi như thế mà họ khen bà phúc hậu kể cũng lạ. Ngày nay tôi mới hiểu ra là sở dĩ bà nội ghét tôi là để lấy lòng bà cả. Bà nội tưởng bà cả ghét mẹ tôi tức là ghét tôi nên bà nội muốn mọi người thấy rằng nay bà nội đứng về phe bà cả và những người con bà cả. Ngoài tôi ra, bà nội chưa hề đánh hay chửi một người cháu nào bao giờ. Việc đánh chửi tôi nhiều quá đã khuấy động lương tâm bà cả. Chính bà cả đã than với nhiều người mà tôi nghe được “Ngày xưa mẹ nó ở nhà thì bà bênh mẹ nó, nay mẹ nó đi rồi sao bà lại ghét nó quá vậy !”. Bà cả chỉ ghen với mẹ tôi nhưng tốt với tôi và cũng rất thương tôi, có lẽ bà tội nghiệp tôi, tội nghiệp cho một đứa trẻ cô thế. Tôi không hề oán trách bà về chuyện ghen tuông với mẹ tôi vì tôi hiểu đó chỉ là sự thường tình giữa hai người đàn bà có chung một chồng. Tôi vẫn thầm cám ơn bà đã không đối xử tệ với tôi như những người mẹ ghẻ khác. Trước khi chết bà còn căn dặn người chị kế tôi là lúc nào cũng phải nóí tôi là con trai của bà. Chỉ nói có thế rồi bà nhắm mắt. Ngày nay tôi vẫn thờ cúng bà như mẹ ruột của tôi đúng như bà đã mong muốn.
Nỗi khổ thứ hai của tôi là bị chế diễu, trêu chọc bởi những đứa cùng lớp, cùng tuổi. Chúng gọi tôi là “ thằng không có mẹ ”. Tôi rất xấu hổ khi có người biết tôi không có mẹ, biết tôi là con người vợ thứ hai của bố tôi. Đã thế tôi còn bị đặt tên là “Thứ” (là con người vợ thứ) để khỏi lẫn với con người vợ cả.
Cũng vì sợ có người biết và chế nhạo nên mỗi lần gặp mẹ là tôi sợ run lên. Nhưng mẹ tôi không biết tôi sợ nên bà hay đón tôi lúc tan trường. Mẹ tôi thường mặc áo nâu, yếm màu đỏ nhạt, trên đầu chít khăn mỏ quạ, miệng cười rất tươi mỗi khi gặp tôi. Mẹ tôi từ khi bỏ nhà ra đi , bà buôn bán hàng xén, gánh những đồ lặt vặt đem bán như cái kim, sợi chỉ để sống qua ngày. Tôi không biết rõ mẹ ở đâu, hình như vừa ở nhà ông ngoại, vừa ở nhà họ hàng hay bạn bè gì đó. Tôi sợ bị chế diễu nên tuyệt đối không dám nghĩ tới mẹ và cũng không dám nói chuyện với ai về mẹ. Mỗi khi đi học về gặp mẹ là tôi chạy trốn để khỏi phải ở bên. Tôi chưa kịp trông thấy mẹ thì mấy đứa trẻ cùng lớp đã gọi “Thứ kìa, bu của Thứ kìa !” thế là tôi lại phải một phen sợ hãi. Có lần đi ngược chiều với mẹ, tôi không thể chạy thoát được. Mẹ tôi nắm tay tôi và nói: “Thứ lại đây vơí bu, con của bu ngoan, bu thương con…” Tôi giật tay ra khỏi mẹ và hét: “Bỏ tay người ta ra, bỏ ra ! bỏ ra !” rồi tôi vụt chạy. Cũng có lần mẹ nắm được tay tôi lâu hơn và bỏ tiền vào túi tôi. Hôm ấy về nhà, bị bà chị lớn vặn hỏi, tôi sợ quá vất tiền vào gầm giường và thầm trách sao mẹ tôi lại cho tiền để tôi bị mắng. Tuy sợ hãi như vậy nhưng tôi lúc nào cũng mong mẹ tôi về với tôi, để tôi có mẹ ở bên như những đứa trẻ khác, tôi sẽ không bị mấy đứa trẻ chê cười là “ thằng không có mẹ” nữa. Sự khao khát có mẹ không phải chỉ trong lúc còn bé mà ngay cả khi tôi trưởng thành. Tôi nhớ lúc đã là sinh viên ban Cao học, tôi quen một cô nữ sinh Trưng Vương, tôi với nàng tình cảm chưa có gì đậm đà nhưng tôi quý bà mẹ của nàng, bà rất dịu dàng, ôn tồn, bà bảo tôi: “ cháu uống ly nước chanh cho mát ”, “ cháu uống ly nước trà cho ấm ” mỗi khi trời trở lạnh hoặc “ cháu ngồi đợi em ra bây giờ … ”. Bà ngồi bên tôi, nụ cười của bà thật hiền hậu, bà hỏi han tôi những câu chân tình mà trong đời tôi chưa bao giờ có ai hỏi tôi như vậy. Mỗi lần đến chơi tôi mong được gặp bà, được nói chuyện với bà hơn là gặp người con gái út của bà. Ngày nay mỗi khi tôi nghe ai nói đến mẹ hiền là tôi liên tưởng tới bà. Tôi cũng hay đi chơi với người con trai thứ hai của cô tôi. Cô tôi thương con trai rất mực, mỗi khi đi chơi về khuya cô tôi nhẹ nhàng trách con “ Sao con đi chơi về khuya quá vậy? ” hoặc “ Con nhớ về sớm không rồi lại ho ”. Con trai cô muốn được tự do, không muốn bị gò bó, nhưng ngược lại tôi thèm có được người mẹ săn sóc như vậy mà tôi không có. Tôi đã đọc nhiều lần cuốn Bông Hồng Cài Áo. Mỗi lần đọc càng khiến tôi thêm buồn, thêm tủi cho một người con có mẹ mà không được ở bên, có mẹ mà không dám nhận mẹ mình là mẹ.
Tôi sống trong sự khiếp sợ mọi người trong gia đình. Bản tính tự vệ của một đứa trẻ trong tôi thúc đẩy tôi phải thật ngoan, thật lễ phép. Tôi nghĩ rất đơn giản là mẹ tôi bị mọi người trong nhà ghét, tôi cần phải từ khước mẹ tôi thì tôi mới là đứa trẻ ngoan, đứa trẻ có hiếu trong gia đình. Nhưng mấy người thợ làm cho nhà tôi, họ không biết lại chửi tôi là đứa con bất hiếu, tệ bac, không nhìn nhận mẹ đẻ ra mình. Lúc đó tôi không hiểu và lấy làm lạ tại sao tôi là đứa trẻ ngoan ngoãn, không bao giờ dám cãi lại ai trong gia đình mà họ lại chửi tôi là đứa con bất hiếu. Tôi nghe người nhà nói mẹ tôi tranh để làm vợ cả không được nên bỏ nhà ra đi. Như vậy là mẹ tôi bỏ tôi, chứ tôi đâu có bỏ mẹ, còn tôi đến gần mẹ thì tôi bị chế diễu, chê cười. Tôi đâu có làm gì khác hơn được. Sự ngoan ngoãn, sợ sệt của tôi chỉ được lòng bà cả và người anh lớn, còn đối với bà nội và người chị thì không lay chuyển được. Có lần chị lớn đánh tôi đau quá cũng động lòng bố tôi. Bố tôi không có một sự ngăn cản nào nhưng rủ tôi ra ngoài ruộng xem mấy người gặt lúa. Gió đồng thổi nhẹ làm lay động những bông lúa vàng bay lên mùi thơm ngào ngạt, tôi cảm thấy thật thoải mái, tôi chạy nhẩy tung tăng đi bắt những con cào cào, châu chấu và đã quên đi cái đau do chị tôi đánh lúc ban trưa. Nhưng tối về tôi bị người chị chửi một trận: “ Chỉ có một mình bố bênh mày, còn mọi người ghét mày, bố không làm gì được đâu ! ”. Gần đây tôi có đọc một truyện ngắn của một tác giả vô danh, đại ý câu chuyện nói về tâm sự của một người con có mẹ mù một mắt. Đứa trẻ bị bạn bè chế nhạo và gọi là “ cái thằng có mẹ một mắt ” nên rất xấu hổ khi đi với mẹ, không muốn ai biết về mẹ mình, không dám nhận mẹ mình là mẹ. Tôi hiểu được tâm trạng của tác giả lúc đó, tâm trạng của một đứa trẻ như tôi, nhưng tôi không hiểu được khi tác giả của câu chuyện này lúc đã trưởng thành, đã có vợ con, mẹ từ nơi xa sang tận Singapore để thăm mà còn sợ bị vợ con chê cười để xua đuổi mẹ vì mẹ có một mắt. Điểm cảm động nhất của câu chuyện là sở dĩ mẹ có một mắt vì lúc còn nhỏ con bị tai nạn và hỏng một bên mắt người mẹ đã hy sinh để bác sĩ lấy mắt mình thay cho con nên mẹ chỉ còn một mắt. Khi người con biết được việc này thì mẹ đã chết… Đọc xong chuyện tôi thấy bàng hoàng và gần gũi với tác giả. Nhưng tôi cầu mong đây không phải là chuyện thật, nếu có thật thì chỉ thật ở phần trên chứ không thể thật ở phần dưới, tức là phần người con đã trưởng thành, đã có đầy đủ lý trí mà còn trốn chạy mẹ, hất hủi mẹ thì không chấp nhận được.
Cuộc di cư năm 1954 xẩy ra, bố tôi vào Nam, tôi được cho đi theo để sau này săn sóc bố. Gia đình tôi ở miền quê, một vùng đã từng là nơi kháng chiến trước kia nên sự ra đi rất khó khăn, phải đi thành từng nhóm nhỏ. Bố tôi đi trước, tôi đi sau và giữ khoảng cách khá xa để không ai biết. Tôi phải giả làm đứa trẻ đi câu, chân đi đất, quần xắn đến đầu gối và đi tắt qua những cánh đồng lúa. Hai bố con đi bộ từ sáng sớm đến tối và nằm ở dưới thuyền bến đò Khuê đợi đến quá nửa đêm người lái đò mới dám chở sang đất Kiến An. Chúng tôi vào một ngôi chùa xin tạm trú, mới đầu sư bà rất ngại vì là chùa nữ và đã quá khuya nhưng lòng từ bi đối với khách lỡ độ đường nên đã thuận cho chúng tôi ở tạm nơi gác chuông bên ngòai chứ không cho vào trong chùa. Sư bà sai người mang nước uống và cho mượn chăn đắp. Tôi nghe tiếng cầu kinh và tiếng gõ mõ nho nhỏ biết là sư bà đã thức suốt đêm hôm đó như để cầu nguyện và canh chừng khách lạ. Sáng sớm hôm sau bố con tôi cám ơn sư bà rồi đáp xe đi Hải Phòng ở trại tạm trú Lạch Chay, nơi đây cũng có rất nhiều gia đình trú ngụ để đợi chuyến tàu vào Nam. Khoảng hơn một tuần lễ hai bố con tôi xuống được tàu vào Sài Gòn. Giai đoạn này thật là đen tối vì gia đình tôi ra đi với hai bàn tay trắng, mọi tài sản phải bỏ lại hết. Người chị lớn và bà nội bị kẹt lại ngoài Bắc không vào Nam được. Tôi được người cô, chị ruột của bố tôi ở Sài Gòn nuôi hai năm cho đi học. Cũng tại đây, cô tôi đã cho tôi biết sự thật về mẹ tôi, khác hẳn với những tin tức trước kia mà gia đình nói sai về bà.
Tôi ý thức được và đã ngẩng đầu lên nhìn nhận mẹ đẻ ra mình chứ không như trước nữa, nhưng không có cách nào để gặp mẹ tôi. Mẹ tôi biết được chỗ tôi ở trong Nam do con trai lớn của cô tôi ở lại Hà Nội cung cấp nên đã viết bưu thiếp cho tôi. Bưu thiếp là một miếng bìa cứng bằng nửa trang giấy học trò theo điều kiện của Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến chứ không được viết thư có phong bì để cho hai bên dễ kiểm soát. Đại ý mẹ tôi hỏi thăm tôi và mong tôi học giỏi, khỏe mạnh v. v. . Tôi rất cảm động về tấm lòng rộng lượng của mẹ vì đã nhiều lần tôi chạy trốn mà mẹ không bỏ rơi tôi, vẫn tìm tôi và vẫn muốn đến gần tôi. Lòng mẹ thật bao la như người ta đã nói. Tôi viết hồi âm cho mẹ, lần đầu tiên tôi được gọi mẹ tôi là mẹ, xưng con, và an ủi mẹ tôi là vì chế độ phong kiến, lạc hậu nên hai mẹ con phải xa nhau rồi ký tên: “ Thứ, con trai của mẹ bên này vĩ tuyến”. Viết xong nước mắt tôi tự nhiên chảy ra, nếu có mẹ ở bên chắc tôi đã gục đầu vào lòng mẹ để khóc thật to cho vơi đi nỗi buồn bao năm tôi phải ôm giữ. Sau này tôi được biết khi nhận được tin, mẹ tôi mừng lắm và mang đi khoe với mọi người là tôi không còn trốn chạy mẹ tôi. Mẹ con tôi đã nhận nhau, hiểu nhau và thương nhau tuy không còn cơ hội gần nhau nữa…
Cuộc chiến mỗi ngày một khốc liệt, thư từ Nam-Bắc bị gián đoạn, tôi không sao liên lạc được với mẹ tôi thêm một lần nào nữa kể từ đấy.
Rồi vận nước nổi trôi, tôi sang được Hoa Kỳ và cố gắng liên lạc để tìm mẹ. Tiếc thay, tôi được tin mẹ tôi đã qua đời từ lâu tại vùng quê xứ Bắc. Mẹ tôi chết trong cô đơn, mang đi theo xuống huyệt lạnh tất cả nỗi buồn khổ của một người đàn bà không chồng, không con bên cạnh…
Hôm nay là ngày giỗ mẹ, tôi viết những dòng này là tâm sự của một người con suốt đời không có mẹ ở bên và thành kính dâng lên hương hồn mẹ như một nén nhang thắp muộn.
Cám ơn mẹ đã gửi bưu thiếp cho con để trong đời con được một lần gọi “ Mẹ ”.
Hoàng Nguyên Linh
Tâm sự của một người con không mẹ
Hoàng Nguyên Linh
Trong sách vở, báo chí, đài phát thanh và truyền hình người ta nói nhiều về mẹ. Đa số đều nhắc đến những kỷ niệm êm đềm bên người mẹ hiền, nhưng tôi thì khác. Tôi có mẹ mà như không có. Nỗi buồn này hầu như theo đuổi suốt cuộc đời tôi…
Mẹ tôi là người vợ thứ hai của bố tôi. Bố tôi là một địa chủ khá giầu, đã có vợ cả và nhiều con nhưng bố tôi lại là một người ham mê sắc đẹp nên ông đã lấy mẹ tôi. Tôi không nhớ rõ mẹ tôi đẹp thế nào, chỉ nhớ mẹ tôi có đôi môi hồng, người cao cao, mặt trái xoan, nhưng nghe bố tôi nói thì mẹ tôi đẹp lắm nên ông quyết lấy cho bằng được dù phải bỏ ra rất nhiều tiền.
Gia đình bên ngoại không giầu bằng bên nội nhưng ông ngoại tôi có nhiều con, hình như có tới tất cả 12, 13 người, trong đó có 8 người con gái. Hai người chị của mẹ tôi đã lấy hai người em họ của bố tôi. Cũng vì bố tôi hai vợ nên tôi đã phải chịu những sự đau buồn, tủi nhục.
Ở ngòai Bắc thời xưa, đa số các ông địa chủ có tiền đều thi nhau lấy nhiều vợ. Ông nội tôi có 3 vợ, bố tôi có 2, nhưng ông nội tôi là người có bổn phận và có trách nhiệm. Tuy có 3 vợ nhưng mỗi bà ở một nơi, mỗi bà có một giang sơn riêng nên không có chuyện gì đáng tiếc xẩy ra, nếu có ghen tuông chắc không đến nỗi trầm trọng. Bố tôi không làm như ông nội tôi, bố tôi lấy vợ hai về song lại để hai bà ở chung với nhau nên mới gây ra nhiều chuyện phiền phức sau này, sự ghen tuông hầu như đã xẩy ra hàng ngày, tôi nghe cô tôi nói vậy. Tôi ra đời một năm sau khi mẹ tôi lấy bố tôi. Cũng vì tôi là con trai nên sự ghen tuông càng đi đến chỗ quyết liệt hơn. Bà cả sau khi sanh người con trai đầu lòng thì sanh liên tiếp 4 người con gái. Bà đi xem bói, thầy bói nói rằng số của bố tôi chỉ có 2 người con trai thôi, bà cả nghĩ rằng bà không có con trai thêm nữa, vậy là tại mẹ tôi đã lấy đi phần con trai của bà. Như sợ mất thế lực với mẹ tôi nên sự ghen tuông càng tăng lên, bà cả bảo với bố tôi là một mình bà đẻ đủ rồi, lấy mẹ tôi về là để làm lụng chứ không phải để đẻ nên bà nghĩ cần phải loại trừ mẹ tôi ra khỏi nhà cho bằng được. Trời mùa Đông gía lạnh mà bà cả nhẩy xuống ao đòi tự tử. Bố tôi sống trong cảnh ghen tuông thì mệt quá, đáng lẽ làm như ông nội tôi tức là đưa bà hai ra ở riêng một nơi thì bố tôi lại không làm thế… Mẹ tôi sau khi sanh ra tôi vì không biết trưng diện, ăn mặc xuề xoà nên sắc đẹp không đủ để lôi cuốn bố tôi. Bố tôi một phần vì mệt với sự ghen tuông, một phần vì nhan sắc mẹ tôi không còn như xưa nữa nên ông đã thờ ơ, lạnh nhạt với mẹ tôi, để mặc mẹ tôi muốn làm gì thì làm.
Mẹ tôi sống trong cảnh ghen tuông của bà cả và sự thờ ơ của chồng nên đã phải ra đi, sống bơ vơ trong tay không có một đồng !!. Tôi được giữ lại trong nhà để làm em một anh và bốn chị.
Giai đọan này tôi còn bé nên không biết gì, lại nữa vì thầy bói nói bố tôi chỉ có hai con trai nên vai trò “con trai” của tôi đã giúp tôi đỡ khổ. Tôi thực sự khổ từ khi biết nhận thức, tức là lúc 6,7 tuổi trở đi.
Khi tôi được 5 tuổi thì bà cả sanh thêm được người con trai nữa, thế là thầy bói đã nói sai và vai trò “con trai” của tôi không còn cần thiết, tôi như bị bỏ rơi. Hai người hành hạ tôi nhiều nhất là bà nội và người chị lớn. Bà nội tôi rất mực yêu thương người con trai mới sanh sau này của bà cả. Bà nội yên tâm khi có được người cháu trai phòng hờ để sau này có người cúng giỗ và thờ phượng, chứ một người cháu lớn bà chưa yên tâm…
Người ta nói đến mẹ, nói đến bà như một kỷ niệm đẹp, nào bà ôm cháu vào lòng, bà kể chuyện cổ tích cho cháu nghe, mẹ thì xoa lưng con, hát ù ơ ru con ngủ v.v.. nhưng tôi lại khác, tôi không có được cái kỷ niệm đó. Bà nội tôi và chị tôi thường hay đánh tôi vào đầu, hai người này thường dùng tay để “cốc” tôi. Cốc tức là cong ngược 4 ngón tay lại để chìa ra 4 đốt xương và đập vào đầu. Chỉ những ai đã bị cốc mới biết được cái đau buốt trong đầu, nhất là đầu của một đứa trẻ mới 6,7 tuổi. Tự điển Nguyễn Văn Khôn định nghiã “cốc” ( knuckle) tức là đánh một vật gì bằng khớp xương của ngón tay, thực ra phải nói “cốc” tức là đánh vào đầu bằng khớp xương của ngón tay, chứ nếu đánh vào tay, chân, lưng, bụng thì không đau. Không những chỉ đánh mà còn chửi, mang tên mẹ tôi ra để chửi, gọi mẹ tôi là con này, con nọ, mang cả tên ông ngoại tôi ra chửi, gọi tôi là “ giống thằng cả Thiều ” tức là tên ông ngoại tôi. Chị tôi có nét mặt thật ác, bố tôi bảo những đứa mà mắt nó có ve là ác lắm, tôi cũng không biết mắt có ve là mắt thế nào, chỉ nghe bố tôi nói vậy. Nhưng trái ngược với chị tôi, bà nội tôi ai cũng khen là bà cụ có nét mặt phúc hậu, tóc bà bạc trắng hết cả đầu. Mỗi khi tôi thấy có người khen dù còn bé nhưng tôi cũng lấy làm ngạc nhiên, bà nội ác với tôi như thế mà họ khen bà phúc hậu kể cũng lạ. Ngày nay tôi mới hiểu ra là sở dĩ bà nội ghét tôi là để lấy lòng bà cả. Bà nội tưởng bà cả ghét mẹ tôi tức là ghét tôi nên bà nội muốn mọi người thấy rằng nay bà nội đứng về phe bà cả và những người con bà cả. Ngoài tôi ra, bà nội chưa hề đánh hay chửi một người cháu nào bao giờ. Việc đánh chửi tôi nhiều quá đã khuấy động lương tâm bà cả. Chính bà cả đã than với nhiều người mà tôi nghe được “Ngày xưa mẹ nó ở nhà thì bà bênh mẹ nó, nay mẹ nó đi rồi sao bà lại ghét nó quá vậy !”. Bà cả chỉ ghen với mẹ tôi nhưng tốt với tôi và cũng rất thương tôi, có lẽ bà tội nghiệp tôi, tội nghiệp cho một đứa trẻ cô thế. Tôi không hề oán trách bà về chuyện ghen tuông với mẹ tôi vì tôi hiểu đó chỉ là sự thường tình giữa hai người đàn bà có chung một chồng. Tôi vẫn thầm cám ơn bà đã không đối xử tệ với tôi như những người mẹ ghẻ khác. Trước khi chết bà còn căn dặn người chị kế tôi là lúc nào cũng phải nóí tôi là con trai của bà. Chỉ nói có thế rồi bà nhắm mắt. Ngày nay tôi vẫn thờ cúng bà như mẹ ruột của tôi đúng như bà đã mong muốn.
Nỗi khổ thứ hai của tôi là bị chế diễu, trêu chọc bởi những đứa cùng lớp, cùng tuổi. Chúng gọi tôi là “ thằng không có mẹ ”. Tôi rất xấu hổ khi có người biết tôi không có mẹ, biết tôi là con người vợ thứ hai của bố tôi. Đã thế tôi còn bị đặt tên là “Thứ” (là con người vợ thứ) để khỏi lẫn với con người vợ cả.
Cũng vì sợ có người biết và chế nhạo nên mỗi lần gặp mẹ là tôi sợ run lên. Nhưng mẹ tôi không biết tôi sợ nên bà hay đón tôi lúc tan trường. Mẹ tôi thường mặc áo nâu, yếm màu đỏ nhạt, trên đầu chít khăn mỏ quạ, miệng cười rất tươi mỗi khi gặp tôi. Mẹ tôi từ khi bỏ nhà ra đi , bà buôn bán hàng xén, gánh những đồ lặt vặt đem bán như cái kim, sợi chỉ để sống qua ngày. Tôi không biết rõ mẹ ở đâu, hình như vừa ở nhà ông ngoại, vừa ở nhà họ hàng hay bạn bè gì đó. Tôi sợ bị chế diễu nên tuyệt đối không dám nghĩ tới mẹ và cũng không dám nói chuyện với ai về mẹ. Mỗi khi đi học về gặp mẹ là tôi chạy trốn để khỏi phải ở bên. Tôi chưa kịp trông thấy mẹ thì mấy đứa trẻ cùng lớp đã gọi “Thứ kìa, bu của Thứ kìa !” thế là tôi lại phải một phen sợ hãi. Có lần đi ngược chiều với mẹ, tôi không thể chạy thoát được. Mẹ tôi nắm tay tôi và nói: “Thứ lại đây vơí bu, con của bu ngoan, bu thương con…” Tôi giật tay ra khỏi mẹ và hét: “Bỏ tay người ta ra, bỏ ra ! bỏ ra !” rồi tôi vụt chạy. Cũng có lần mẹ nắm được tay tôi lâu hơn và bỏ tiền vào túi tôi. Hôm ấy về nhà, bị bà chị lớn vặn hỏi, tôi sợ quá vất tiền vào gầm giường và thầm trách sao mẹ tôi lại cho tiền để tôi bị mắng. Tuy sợ hãi như vậy nhưng tôi lúc nào cũng mong mẹ tôi về với tôi, để tôi có mẹ ở bên như những đứa trẻ khác, tôi sẽ không bị mấy đứa trẻ chê cười là “ thằng không có mẹ” nữa. Sự khao khát có mẹ không phải chỉ trong lúc còn bé mà ngay cả khi tôi trưởng thành. Tôi nhớ lúc đã là sinh viên ban Cao học, tôi quen một cô nữ sinh Trưng Vương, tôi với nàng tình cảm chưa có gì đậm đà nhưng tôi quý bà mẹ của nàng, bà rất dịu dàng, ôn tồn, bà bảo tôi: “ cháu uống ly nước chanh cho mát ”, “ cháu uống ly nước trà cho ấm ” mỗi khi trời trở lạnh hoặc “ cháu ngồi đợi em ra bây giờ … ”. Bà ngồi bên tôi, nụ cười của bà thật hiền hậu, bà hỏi han tôi những câu chân tình mà trong đời tôi chưa bao giờ có ai hỏi tôi như vậy. Mỗi lần đến chơi tôi mong được gặp bà, được nói chuyện với bà hơn là gặp người con gái út của bà. Ngày nay mỗi khi tôi nghe ai nói đến mẹ hiền là tôi liên tưởng tới bà. Tôi cũng hay đi chơi với người con trai thứ hai của cô tôi. Cô tôi thương con trai rất mực, mỗi khi đi chơi về khuya cô tôi nhẹ nhàng trách con “ Sao con đi chơi về khuya quá vậy? ” hoặc “ Con nhớ về sớm không rồi lại ho ”. Con trai cô muốn được tự do, không muốn bị gò bó, nhưng ngược lại tôi thèm có được người mẹ săn sóc như vậy mà tôi không có. Tôi đã đọc nhiều lần cuốn Bông Hồng Cài Áo. Mỗi lần đọc càng khiến tôi thêm buồn, thêm tủi cho một người con có mẹ mà không được ở bên, có mẹ mà không dám nhận mẹ mình là mẹ.
Tôi sống trong sự khiếp sợ mọi người trong gia đình. Bản tính tự vệ của một đứa trẻ trong tôi thúc đẩy tôi phải thật ngoan, thật lễ phép. Tôi nghĩ rất đơn giản là mẹ tôi bị mọi người trong nhà ghét, tôi cần phải từ khước mẹ tôi thì tôi mới là đứa trẻ ngoan, đứa trẻ có hiếu trong gia đình. Nhưng mấy người thợ làm cho nhà tôi, họ không biết lại chửi tôi là đứa con bất hiếu, tệ bac, không nhìn nhận mẹ đẻ ra mình. Lúc đó tôi không hiểu và lấy làm lạ tại sao tôi là đứa trẻ ngoan ngoãn, không bao giờ dám cãi lại ai trong gia đình mà họ lại chửi tôi là đứa con bất hiếu. Tôi nghe người nhà nói mẹ tôi tranh để làm vợ cả không được nên bỏ nhà ra đi. Như vậy là mẹ tôi bỏ tôi, chứ tôi đâu có bỏ mẹ, còn tôi đến gần mẹ thì tôi bị chế diễu, chê cười. Tôi đâu có làm gì khác hơn được. Sự ngoan ngoãn, sợ sệt của tôi chỉ được lòng bà cả và người anh lớn, còn đối với bà nội và người chị thì không lay chuyển được. Có lần chị lớn đánh tôi đau quá cũng động lòng bố tôi. Bố tôi không có một sự ngăn cản nào nhưng rủ tôi ra ngoài ruộng xem mấy người gặt lúa. Gió đồng thổi nhẹ làm lay động những bông lúa vàng bay lên mùi thơm ngào ngạt, tôi cảm thấy thật thoải mái, tôi chạy nhẩy tung tăng đi bắt những con cào cào, châu chấu và đã quên đi cái đau do chị tôi đánh lúc ban trưa. Nhưng tối về tôi bị người chị chửi một trận: “ Chỉ có một mình bố bênh mày, còn mọi người ghét mày, bố không làm gì được đâu ! ”. Gần đây tôi có đọc một truyện ngắn của một tác giả vô danh, đại ý câu chuyện nói về tâm sự của một người con có mẹ mù một mắt. Đứa trẻ bị bạn bè chế nhạo và gọi là “ cái thằng có mẹ một mắt ” nên rất xấu hổ khi đi với mẹ, không muốn ai biết về mẹ mình, không dám nhận mẹ mình là mẹ. Tôi hiểu được tâm trạng của tác giả lúc đó, tâm trạng của một đứa trẻ như tôi, nhưng tôi không hiểu được khi tác giả của câu chuyện này lúc đã trưởng thành, đã có vợ con, mẹ từ nơi xa sang tận Singapore để thăm mà còn sợ bị vợ con chê cười để xua đuổi mẹ vì mẹ có một mắt. Điểm cảm động nhất của câu chuyện là sở dĩ mẹ có một mắt vì lúc còn nhỏ con bị tai nạn và hỏng một bên mắt người mẹ đã hy sinh để bác sĩ lấy mắt mình thay cho con nên mẹ chỉ còn một mắt. Khi người con biết được việc này thì mẹ đã chết… Đọc xong chuyện tôi thấy bàng hoàng và gần gũi với tác giả. Nhưng tôi cầu mong đây không phải là chuyện thật, nếu có thật thì chỉ thật ở phần trên chứ không thể thật ở phần dưới, tức là phần người con đã trưởng thành, đã có đầy đủ lý trí mà còn trốn chạy mẹ, hất hủi mẹ thì không chấp nhận được.
Cuộc di cư năm 1954 xẩy ra, bố tôi vào Nam, tôi được cho đi theo để sau này săn sóc bố. Gia đình tôi ở miền quê, một vùng đã từng là nơi kháng chiến trước kia nên sự ra đi rất khó khăn, phải đi thành từng nhóm nhỏ. Bố tôi đi trước, tôi đi sau và giữ khoảng cách khá xa để không ai biết. Tôi phải giả làm đứa trẻ đi câu, chân đi đất, quần xắn đến đầu gối và đi tắt qua những cánh đồng lúa. Hai bố con đi bộ từ sáng sớm đến tối và nằm ở dưới thuyền bến đò Khuê đợi đến quá nửa đêm người lái đò mới dám chở sang đất Kiến An. Chúng tôi vào một ngôi chùa xin tạm trú, mới đầu sư bà rất ngại vì là chùa nữ và đã quá khuya nhưng lòng từ bi đối với khách lỡ độ đường nên đã thuận cho chúng tôi ở tạm nơi gác chuông bên ngòai chứ không cho vào trong chùa. Sư bà sai người mang nước uống và cho mượn chăn đắp. Tôi nghe tiếng cầu kinh và tiếng gõ mõ nho nhỏ biết là sư bà đã thức suốt đêm hôm đó như để cầu nguyện và canh chừng khách lạ. Sáng sớm hôm sau bố con tôi cám ơn sư bà rồi đáp xe đi Hải Phòng ở trại tạm trú Lạch Chay, nơi đây cũng có rất nhiều gia đình trú ngụ để đợi chuyến tàu vào Nam. Khoảng hơn một tuần lễ hai bố con tôi xuống được tàu vào Sài Gòn. Giai đoạn này thật là đen tối vì gia đình tôi ra đi với hai bàn tay trắng, mọi tài sản phải bỏ lại hết. Người chị lớn và bà nội bị kẹt lại ngoài Bắc không vào Nam được. Tôi được người cô, chị ruột của bố tôi ở Sài Gòn nuôi hai năm cho đi học. Cũng tại đây, cô tôi đã cho tôi biết sự thật về mẹ tôi, khác hẳn với những tin tức trước kia mà gia đình nói sai về bà.
Tôi ý thức được và đã ngẩng đầu lên nhìn nhận mẹ đẻ ra mình chứ không như trước nữa, nhưng không có cách nào để gặp mẹ tôi. Mẹ tôi biết được chỗ tôi ở trong Nam do con trai lớn của cô tôi ở lại Hà Nội cung cấp nên đã viết bưu thiếp cho tôi. Bưu thiếp là một miếng bìa cứng bằng nửa trang giấy học trò theo điều kiện của Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến chứ không được viết thư có phong bì để cho hai bên dễ kiểm soát. Đại ý mẹ tôi hỏi thăm tôi và mong tôi học giỏi, khỏe mạnh v. v. . Tôi rất cảm động về tấm lòng rộng lượng của mẹ vì đã nhiều lần tôi chạy trốn mà mẹ không bỏ rơi tôi, vẫn tìm tôi và vẫn muốn đến gần tôi. Lòng mẹ thật bao la như người ta đã nói. Tôi viết hồi âm cho mẹ, lần đầu tiên tôi được gọi mẹ tôi là mẹ, xưng con, và an ủi mẹ tôi là vì chế độ phong kiến, lạc hậu nên hai mẹ con phải xa nhau rồi ký tên: “ Thứ, con trai của mẹ bên này vĩ tuyến”. Viết xong nước mắt tôi tự nhiên chảy ra, nếu có mẹ ở bên chắc tôi đã gục đầu vào lòng mẹ để khóc thật to cho vơi đi nỗi buồn bao năm tôi phải ôm giữ. Sau này tôi được biết khi nhận được tin, mẹ tôi mừng lắm và mang đi khoe với mọi người là tôi không còn trốn chạy mẹ tôi. Mẹ con tôi đã nhận nhau, hiểu nhau và thương nhau tuy không còn cơ hội gần nhau nữa…
Cuộc chiến mỗi ngày một khốc liệt, thư từ Nam-Bắc bị gián đoạn, tôi không sao liên lạc được với mẹ tôi thêm một lần nào nữa kể từ đấy.
Rồi vận nước nổi trôi, tôi sang được Hoa Kỳ và cố gắng liên lạc để tìm mẹ. Tiếc thay, tôi được tin mẹ tôi đã qua đời từ lâu tại vùng quê xứ Bắc. Mẹ tôi chết trong cô đơn, mang đi theo xuống huyệt lạnh tất cả nỗi buồn khổ của một người đàn bà không chồng, không con bên cạnh…
Hôm nay là ngày giỗ mẹ, tôi viết những dòng này là tâm sự của một người con suốt đời không có mẹ ở bên và thành kính dâng lên hương hồn mẹ như một nén nhang thắp muộn.
Cám ơn mẹ đã gửi bưu thiếp cho con để trong đời con được một lần gọi “ Mẹ ”.
Hoàng Nguyên Linh

Thủ lĩnh Hezbollah - Hassan Nasrallah Có lẽ thủ lĩnh Hassan Nasrallah của lực lượng Hezbollah là một trong những nhân vật được nhìn nhận dưới nhiều lăng kính trái ngược nhất. Nhiều người coi ông ta là người hùng của thế giới Arập, trong khi đối với nhiều người khác lại là một tên khủng bố nhẫn tâm.
Có người coi Nasrallah là một “con cáo già”, biết cách leo lên đỉnh quyền lực tại Hezbollah bằng những khẩu hiệu tôn giáo và dân tuý. Nhưng đối với một số khác, ông ta lại là một chiến sĩ đấu tranh quên mình vì quyền lợi của người dân. Một số chuyên gia nhận định, Nasrallah chỉ là một con rối do Iran và Syria giật dây. Nhiều người lại đánh giá ông ta là một chính trị gia độc lập, mạnh mẽ, hơn nữa là một “ngôi sao mới” có ảnh hưởng chưa từng có trong cộng đồng Arập nói chung. Dù thế nào, thủ lĩnh Hezbollah vẫn đi vào lịch sử với tư cách một nhân vật với tên tuổi gắn liền với thảm kịch đang diễn ra tại Trung Đông, đã cướp đi mạng sống của hàng trăm người tại cả Liban và Israel...
Syed Hassan Nasrallah sinh ngày 31/8/1960 tại một khu phố phía đông Beirut. Tuổi thơ của Hassan qua đi nhanh chóng khi nội chiến nổ ra tại Liban giữa hai cộng đồng người Hồi giáo và Thiên Chúa giáo.
Gia đình Nasrallah buộc phải chạy về phía nam, trước khi Hassan quyết định tới thành phố Najaf của Iraq (một trong những trung tâm của cộng đồng người Shiite) để vào học tại trường tôn giáo ở đây. Việc Saddam Hussein lên nắm quyền sau đó và bắt đầu hạn chế quyền lực của người Shiite đã khiến Hassan quay trở lại Liban, gia nhập vào phong trào Amal của người Shiite. Năm 20 tuổi Hassan nhanh chóng được bầu vào ban lãnh đạo của tổ chức này.
Những khẩu hiệu ban đầu của phong trào Amal là đòi phân chia công bằng các đại diện chính trị và lãnh đạo kinh tế, cải thiện các điều kiện sống và giáo dục. Nhưng với việc Israel đưa quân vào Liban năm 1982, phong trào này đã nảy sinh ra một phe phái cực đoan hơn là Hezbollah, thực chất là một tập hợp các nhóm dân quân vũ trang chống lại quân Israel. Người sáng lập, đồng thời là lãnh tụ tinh thần của Hezbollah chính là Husayn Fadlallah đã tuyên bố: “Chúng tôi nổi dậy là để giải phóng đất nước, để đánh đuổi những tên đế quốc xâm lược, và tự nắm lấy vận mệnh của mình”.
Thế giới bắt đầu biết đến cái tên Hezbollah vào ngày 23/10/1983, sau vụ đánh bom trại lính thủy quân lục chiến Mỹ và Pháp tại Beirut. Năm 1984, các tay súng thuộc lực lượng này đã cho nổ một quả bom khác ngay cạnh Đại sứ quán Mỹ. Các thủ lĩnh nhóm này tuyên bố, những hành động này là để trả đũa việc quân NATO đã án binh bất động trong thời gian vụ thảm sát tại các trại tị nạn của người Palestine ở tây Beirut. Ngoài ra, Hezbollah còn tổ chức nhiều chiến dịch quân sự khác chống lại Israel, cướp máy bay, bắt cóc nhiều quan chức của Mỹ v.v... Trong thời gian này, Nasrallah bắt đầu nổi lên là một quan chức có uy tín cao trong Hezbollah với những quyết định và hành động mạnh mẽ.
Theo đánh giá chung, uy tín tăng lên rất nhanh của Hezbollah tại Liban hồi những năm 90 là nhờ có hai sách lược chính do Nasrallah đề xướng. Thủ lĩnh trẻ tuổi của Hezbollah đã cho thành lập cả một cơ quan báo chí tuyên truyền riêng cho mình. Kênh truyền hình riêng Al-Manar của họ đứng thứ ba trong các kênh có uy tín nhất tại Liban (thống kê năm 2004, kênh này có tới 10 triệu người xem thường xuyên). Hezbollah còn triển khai một loạt các đài phát thanh (trong đó có cả tiếng Do Thái) và các website của mình trên Internet.
Nasrallah thi hành một chính sách xã hội rất có hiệu quả bằng việc đầu tư rất nhiều tiền bạc khôi phục là những khu nhà đổ nát của người dân, sau khi Israel rút quân vào năm 2000. Hezbollah cho xây dựng cả một hệ thống tòa án, nhà trẻ, trường học, bệnh viện và cả siêu thị cho người dân. Với những chính sách dân túy này, không có gì ngạc nhiên khi liên minh Hồi giáo cực đoan do Hezbollah đứng đầu tại miền Nam đã giành được tới 23 ghế Quốc hội trong cuộc bầu cử tháng 6/2005.
Bản thân Nasrallah không bao giờ ưa thích chuyện được sùng bái cá nhân. Ông ta đã ra lệnh thay thế tất cả những chân dung của mình trên đường phố phía nam Beirut bằng hình ảnh những thành viên nổi tiếng của Hezbollah đã thiệt mạng, đồng thời cấm báo chí của tổ chức tâng bốc mình. Nasrallah chưa bao giờ đặt chân tới một quốc gia phương Tây nào, nhưng ông lại có cả một mạng lưới người đưa tin tại đây. Một người con trai của ông ta cũng từng được cho sang Mỹ học.
Các chuyên gia Israel đánh giá rằng, không có một lãnh tụ Hồi giáo nào có thể hiểu rõ phương Tây bằng Nasrallah. Dù cố thể hiện không quan tâm đến sự an toàn của bản thân, nhưng Nasrallah lại là người cực kỳ cẩn trọng. Ông ta thường xuyên di chuyển trong sự hộ tống nghiêm ngặt của các vệ sĩ. Nasrallah có tới 5 văn phòng khác nhau tại Beirut, tất cả đều được ngụy trang và giữ bí mật nghiêm ngặt.
Công bằng mà nói, Nasrallah là một trong những chính trị gia có tầm nhìn xa nhất tại Liban hiện nay, đã có công biến tổ chức du kích này thành một phong trào xã hội có ảnh hưởng sâu rộng. Những mục tiêu chính được Nasrallah đặt ra đối với Hezbollah vẫn là một cuộc chiến không khoan nhượng với Israel, đồng thời biến Liban trở thành một quốc gia Hồi giáo.
Nhiều người thiếu hiểu biết tường tận đã tự hỏi, tại sao chính quyền Liban không trục xuất các thành viên Hezbollah (được coi là “tội đồ” chính khiến quốc gia này phải hứng chịu những đòn tấn công gây thiệt hại nặng nề về người và của từ phía Israel)? Câu trả lời đơn giản là không thể – Hezbollah đã trở thành “một quốc gia bên trong một quốc gia”, với các cơ cấu của nó đã ăn sâu vào từng “tế bào” của xã hội Liban. Do bó, bạo lực chắc chắn không phải là giải pháp vãn hồi tình hình tại Trung Đông Đinh Linh ( ANTG)
ĂN XẢ GIÀN
H.C.R.
Lâu lắm tôi mới có dịp "ăn xả giàn," tức ăn buffet, nhân dịp có người bạn từ Việt Nam đến thăm. Ở Việt Nam, người ta gọi là "ăn tự chọn" và Sàigòn hiện nay có nhiều tiệm ăn loại này. Thật sự tên gọi "ăn tự chọn" không chính xác vì ăn ở nhà hàng, tiệm ăn nào mà khách ăn chẳng tự chọn, lựa món ăn cho mình trên thực đơn? Có ai bắt mình phải ăn món mình không thích đâu. Có tiền thì tha hồ chọn lựa, đủ loại mặt hàng. Cũng có người thích gọi là "ăn tự do" để chứng tỏ chế độ CHXHCNVN ít ra cũng có tự do về mặt ăn uống. Đúng, phải có tự do mới có quyền lựa chọn, và được quyền lựa chọn rồi thì không thể nói mình không có tự do được, cực kỳ đúng! Đó là tự do theo định hướng xã hội chủ nghĩa ta!
Nói đến "ăn lựa chọn" hay "ăn tự do" khiến tôi nghĩ tới các cửa hàng quốc doanh phở ở thủ đô nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa của cụ Hồ trước đây. Bát phở không có gì ngoài tô nước nhạt như nước ốc, vài ba miếng hành lá cắt nhỏ và bánh phở màu ngả vàng…tìm hoài không thấy thịt, "where’s the beef?" như lời của ứng cử viên Tổng Thống Walter Mondale hỏi Tổng Thống Reagan trong cuộc tranh luận trên truyền hình năm 1984. Trên bàn không có tương, nước mắm, ớt chanh gì cả. Vào cửa hàng ăn quốc doanh thì mọi người đều bình đẳng, chỉ có một loại phở như vậy để… lựa chọn. Phải đói cực kỳ và khẩn trương lắm mới dám nuốt. Trước đây, có nhiều người lính biệt kích ta bị địch phát hiện chỉ vì quen thói ngụy, vào cửa hàng phở quốc doanh của cụ Hồ mà đòi thêm chanh ớt, nước mắm… không giống ai hết…
Tản mạn ngoài đề khá xa… Bây giờ, trở về chủ đề là ăn xả giàn. Tôi sống theo chủ trương ăn tự chế để không làm khổ xác thân, chỉ khi nào có bạn bè ở xa đến chơi mới cho phép cái miệng ăn xả láng hay ăn mệt nghỉ, nghỉ một lúc rồi lai rai ăn tiếp. Bạn tôi thuộc loại "làm như trâu, ăn như mèo" nên hôm nay cũng được dịp ăn thả cửa, ăn thả ga… hay nói theo từ xã hội chủ nghĩa… ăn vượt chỉ tiêu!
Nhà hàng ăn buffet ở Mỹ có từ lâu. Các sòng bạc (casino) ở khắp nơi trên đất Mỹ đều có nhà hàng buffet. Nhưng buffet thức ăn Á-Đông chỉ phát triển trong vòng 20 năm qua, từ lúc Anh quốc tuyên bố trao trả lãnh địa Hồng Kông lại cho Trung Quốc.
Xung quanh tôi, đa số thực khách là những người quá khổ (oversize) và quá tải (overweight). Trước mặt là một gia đình người Mễ gồm hai vợ chồng và bốn con. Tôi đoán (chắc) họ là người Mễ nhờ câu nói "không mập thì không phải Mễ, không đi trễ (ăn cưới) thì không phải Việt Nam." Nhận xét này có lẽ chỉ đúng với người Mỹ gốc Mễ thôi. Ở nước Mễ Tây Cơ, người dân bản xứ mình hạt xương mai, tướng đi nhẹ nhàng, thanh thoát. Những người Mễ đi ăn buffet có lẽ đã trở thành công dân nước Mỹ nên trong cung cách ăn uống họ có vẻ thảnh thơi, nhàn hạ, ăn chẫm rãi. Không rõ gia đình này đến trước chúng tôi bao lâu, nhưng khi chúng tôi rời đây thì họ vẫn còn tiếp tục… ăn thả cửa. Dường như họ chỉ thích ăn càng cua Alaska, hết dĩa này đến dĩa khác. Hôm nay thứ bảy, càng cua biển Alaska là món ăn đặc biệt của nhà hàng Tàu này. Nói cho công bằng, không phải chỉ sắc dân Mễ ở Mỹ mới quen overload thức ăn vào bao tử mà người Hmong cũng vậy. Trẻ em Mễ và Hmong ở Hoa Kỳ quá khổ khá nhiều. Tâm lý của người đi ăn buffet là ăn cho đáng đồng tiền bát gạo, ăn ít ăn nhiều cũng trả tiền chừng đó. Nhưng ăn thả giàn là giết bao tử, sớm muộn cũng trở thành bịnh nhân tiểu đường loại II: thân thể tròn trịa khó phân biệt vòng 2 và vòng 3.
Tôi nghe nói những người bị căng thẳng trong đời sống thường ăn nhiều để khỏa lấp và tạm thời hóa giải, tức tạm quên, nguyên do gây căng thẳng tinh thần trong một lúc.
Chữa bịnh cách này là tự đào lỗ chôn mình. Trong 10 năm qua, số dân Mỹ, thiếu niên lẫn người lớn, có bịnh tiểu đường loại II gia tăng nhiều. Sự kiện này và việc con cháu họ Mao ồ ạt mở tiệm buffet ở Hoa Kỳ có liên hệ gì nhau? Bà xã tôi có lý luận rất buồn cười: Người Tàu chưa thể đua tranh với Hoa Kỳ về kinh tế và quân sự nên tìm cách cấy sinh tử phù buffet để tạo gánh nặng khổng lồ làm trì chậm đà phát triển kinh tế Hoa Kỳ (hàng năm phải chi hơn 20 tỷ đô la cho bịnh tiểu đường loại II, chưa kể chi phí cho những chứng bịnh khác liên hệ). Có súng đạn tối tân mà không có lính mạnh khỏe để sử dụng (vì mập quá) thì sự hữu hiệu của võ khí cá nhân đã giảm quá nửa.
Đó là lý luận rất đàn bà của bà xã tôi nhưng nghĩ kỹ không phải là vô lý. Trong 20 năm qua, vòng số 2 của người dân Mỹ, cả nam lẫn nữ, gia tăng rõ rệt, vượt cả vòng 3. Ở nhiều người nam, vòng số 1 là vòng nhỏ nhất. Người Mỹ thích phá kỷ lục, và hàng năm có nhiều thành tích kỷ lục bị vượt qua, không phải chỉ ở lãnh vực thể thao mà còn ở bàn ăn nữa, như kỷ lục về ăn pizza, ăn hamburger, ăn donut, ăn nhanh… Có lần trong cuộc thi ăn nhiều và ăn nhanh ở địa phương, tôi chứng kiến một anh Mỹ 270 lbs ăn 30 cái hamburgers của nhà hàng White Castle trong 15 phút. Anh phá kỷ lục của chính anh năm trước, 28 cái/15 phút.
Thường chồng "quá khổ" thì vợ cũng "quá tải" mới xứng đôi vừa lứa, tâm đầu ý hợp, hợp khẩu và hợp nhãn. Một lần vào tiệm bán áo quần cho người có kích thước vượt quá mức bình thường, tôi thấy mấy chữ quảng cáo "Fat is beautiful!" (Mập thì đẹp!). Trẻ em Mỹ ngày nay bị bịnh mập (obesity) cũng gia tăng so với 20 năm trước. Bạn thử đoán cha mẹ của những đứa trẻ này là ai? Đời cha (mẹ) ăn mặn, đời con khát nước…Cha mẹ ăn xả giàn thì con cái theo gương ăn xả láng, lãnh đủ là cái chắc!
Trò chơi nào cũng có qui luật, và qui luật duy nhất của nhà hàng buffet là ăn bao nhiêu cũng được, nhưng không được mang thức ăn ra khỏi nhà hàng. Dù vậy, thỉnh thoảng cũng thấy phe ta len lén xé rào, ra bãi đậu xe khoe nhau thành tích…
Số người vào nhà hàng buffet ăn theo đúng qui ước của "người có văn hóa" (cụm từ của CHXHCNVN), tức proper table manners, dường như càng ngày càng giảm, lấy 2, 3 mà chỉ ăn 1 thôi. Ăn không được thì bỏ, lấy món khác, nhưng lấy quá nhiều, không lượng sức mình. Trung bình thức ăn trong các nhà hàng buffet bỏ phí hơn phân nửa. Anh bạn tôi kể các nhà hàng buffet ở Singapore, Thái Lan khi có phái đoàn Việt Nam đến, dân đi du lịch hay nhân viên nhà nước đi tham quan, được long trọng "nhắc khéo" là lấy đủ ăn, không bỏ phí. Dù vậy, chiêu đãi viên nhà hàng vẫn thường phải đến "cảnh cáo" viên chức nhà nước ta vì lấy nhiều rồi chê bỏ, không ăn. Có lần chiêu đãi viên một nhà hàng buffet ở Singapore bắt gặp các thành viên của phái đoàn tham quan nhà nước dấu thức ăn trong bị túi mang ra và bắt phải trả lại. Câu chuyện được lên báo ở Singapore vài ngày sau. Ôi quốc thể! Ôi đỉnh cao! Ôi xã hội chủ nghĩa! Cực kỳ!
Ở nhiều nơi trên thế giới, nhiều người chết vì đói ăn (trong đó có Việt Nam ta) trong khi ở các nước tư bản, nhiều người chết vì bội thực, ăn nhiều, sinh ra đủ thứ bịnh. Đúng là tham thực cực thân. Có người chủ trương thà chết vì bội thực hơn chết vì đói để đời sống có ý nghĩa! Ở đất nước Việt Nam anh hùng, hơn phân nửa số gia đình kiếm không tới 400 đô la một năm thì không ít quan chức đảng ta và các công tử, công nương đốt cháy hàng ngàn đô la cho một bữa ăn tối. Ai còn dám bảo con cháu cụ Hồ là những người sống "thiếu văn hóa," không theo kịp đà văn minh?
Đất nước ta hiện nay cũng giống như nhà hàng buffet khổng lồ mà đất đai, tài nguyên thiên nhiên… là các món ăn đã nấu sẵn và thực khách không ai khác hơn là các đảng viên, cán bộ con cháu nhà Hồ. Tiền ăn là thẻ đảng viên "hồng hơn chuyên," là số năm ngủ bờ ngủ bụi thời chống tây, đánh Mỹ! Chẳng những ăn tiêu phung phí ở trong nước, đảng viên, cán bộ, quan chức nhà nước còn tẩu tán tài sản quốc gia đem ra nước ngoài để con cháu thụ hưởng đời nọ sang đời kia… theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa…
Ôi, cây kim sợi chỉ của nhân dân không ai thèm lấy, đúng như lời dạy của cụ Hồ, giá đáng bao nhiêu? Nhưng quý kim, hột xoàn, vàng bạc, đồng đô la hấp dẫn vô cùng. Chê, khước từ là dại, là ngu… Không tên chuyên tu thì cũng tên tại chức, tha hồ… Tham nhũng đời bố, hưởng thụ đời con theo tư tưởng Hồ chủ tịch: Thắng giặc Mỹ ta (đảng viên, cán bộ) sẽ ăn (cắp) bằng mười hôm nay. Nhân dân lao động càng ngày càng ốm gầy từ sau ngày giải phóng, ngược với hình ảnh quá tải, quá khổ, vượt kích thước, vượt chỉ tiêu của các "quan chức" nhà nước! (Trước 1975, từ "quan chức" được báo chí dùng để "móc họng" những kẻ cậy quyền. Bây giờ từ này được đảng viên, cán bộ dùng để gọi các xếp của mình một cách rất kính trọng. Chế độ quan lại phong kiến được hồi phục ở nước ta dưới dạng xã hội chủ nghĩa…theo đúng tư tưởng Hồ Chí Minh!)
Ăn xả giàn nhưng viết có giới hạn… Bạn nào muốn thấy toàn diện bức tranh vân cẩu về ăn ở thế gian cứ vào tiệm ăn buffet thi biết: Ôi, cảnh phù du trông thấy cũng nực cười!
3G chôm được trên Internet
H.C.R.
Lâu lắm tôi mới có dịp "ăn xả giàn," tức ăn buffet, nhân dịp có người bạn từ Việt Nam đến thăm. Ở Việt Nam, người ta gọi là "ăn tự chọn" và Sàigòn hiện nay có nhiều tiệm ăn loại này. Thật sự tên gọi "ăn tự chọn" không chính xác vì ăn ở nhà hàng, tiệm ăn nào mà khách ăn chẳng tự chọn, lựa món ăn cho mình trên thực đơn? Có ai bắt mình phải ăn món mình không thích đâu. Có tiền thì tha hồ chọn lựa, đủ loại mặt hàng. Cũng có người thích gọi là "ăn tự do" để chứng tỏ chế độ CHXHCNVN ít ra cũng có tự do về mặt ăn uống. Đúng, phải có tự do mới có quyền lựa chọn, và được quyền lựa chọn rồi thì không thể nói mình không có tự do được, cực kỳ đúng! Đó là tự do theo định hướng xã hội chủ nghĩa ta!
Nói đến "ăn lựa chọn" hay "ăn tự do" khiến tôi nghĩ tới các cửa hàng quốc doanh phở ở thủ đô nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa của cụ Hồ trước đây. Bát phở không có gì ngoài tô nước nhạt như nước ốc, vài ba miếng hành lá cắt nhỏ và bánh phở màu ngả vàng…tìm hoài không thấy thịt, "where’s the beef?" như lời của ứng cử viên Tổng Thống Walter Mondale hỏi Tổng Thống Reagan trong cuộc tranh luận trên truyền hình năm 1984. Trên bàn không có tương, nước mắm, ớt chanh gì cả. Vào cửa hàng ăn quốc doanh thì mọi người đều bình đẳng, chỉ có một loại phở như vậy để… lựa chọn. Phải đói cực kỳ và khẩn trương lắm mới dám nuốt. Trước đây, có nhiều người lính biệt kích ta bị địch phát hiện chỉ vì quen thói ngụy, vào cửa hàng phở quốc doanh của cụ Hồ mà đòi thêm chanh ớt, nước mắm… không giống ai hết…
Tản mạn ngoài đề khá xa… Bây giờ, trở về chủ đề là ăn xả giàn. Tôi sống theo chủ trương ăn tự chế để không làm khổ xác thân, chỉ khi nào có bạn bè ở xa đến chơi mới cho phép cái miệng ăn xả láng hay ăn mệt nghỉ, nghỉ một lúc rồi lai rai ăn tiếp. Bạn tôi thuộc loại "làm như trâu, ăn như mèo" nên hôm nay cũng được dịp ăn thả cửa, ăn thả ga… hay nói theo từ xã hội chủ nghĩa… ăn vượt chỉ tiêu!
Nhà hàng ăn buffet ở Mỹ có từ lâu. Các sòng bạc (casino) ở khắp nơi trên đất Mỹ đều có nhà hàng buffet. Nhưng buffet thức ăn Á-Đông chỉ phát triển trong vòng 20 năm qua, từ lúc Anh quốc tuyên bố trao trả lãnh địa Hồng Kông lại cho Trung Quốc.
Xung quanh tôi, đa số thực khách là những người quá khổ (oversize) và quá tải (overweight). Trước mặt là một gia đình người Mễ gồm hai vợ chồng và bốn con. Tôi đoán (chắc) họ là người Mễ nhờ câu nói "không mập thì không phải Mễ, không đi trễ (ăn cưới) thì không phải Việt Nam." Nhận xét này có lẽ chỉ đúng với người Mỹ gốc Mễ thôi. Ở nước Mễ Tây Cơ, người dân bản xứ mình hạt xương mai, tướng đi nhẹ nhàng, thanh thoát. Những người Mễ đi ăn buffet có lẽ đã trở thành công dân nước Mỹ nên trong cung cách ăn uống họ có vẻ thảnh thơi, nhàn hạ, ăn chẫm rãi. Không rõ gia đình này đến trước chúng tôi bao lâu, nhưng khi chúng tôi rời đây thì họ vẫn còn tiếp tục… ăn thả cửa. Dường như họ chỉ thích ăn càng cua Alaska, hết dĩa này đến dĩa khác. Hôm nay thứ bảy, càng cua biển Alaska là món ăn đặc biệt của nhà hàng Tàu này. Nói cho công bằng, không phải chỉ sắc dân Mễ ở Mỹ mới quen overload thức ăn vào bao tử mà người Hmong cũng vậy. Trẻ em Mễ và Hmong ở Hoa Kỳ quá khổ khá nhiều. Tâm lý của người đi ăn buffet là ăn cho đáng đồng tiền bát gạo, ăn ít ăn nhiều cũng trả tiền chừng đó. Nhưng ăn thả giàn là giết bao tử, sớm muộn cũng trở thành bịnh nhân tiểu đường loại II: thân thể tròn trịa khó phân biệt vòng 2 và vòng 3.
Tôi nghe nói những người bị căng thẳng trong đời sống thường ăn nhiều để khỏa lấp và tạm thời hóa giải, tức tạm quên, nguyên do gây căng thẳng tinh thần trong một lúc.
Chữa bịnh cách này là tự đào lỗ chôn mình. Trong 10 năm qua, số dân Mỹ, thiếu niên lẫn người lớn, có bịnh tiểu đường loại II gia tăng nhiều. Sự kiện này và việc con cháu họ Mao ồ ạt mở tiệm buffet ở Hoa Kỳ có liên hệ gì nhau? Bà xã tôi có lý luận rất buồn cười: Người Tàu chưa thể đua tranh với Hoa Kỳ về kinh tế và quân sự nên tìm cách cấy sinh tử phù buffet để tạo gánh nặng khổng lồ làm trì chậm đà phát triển kinh tế Hoa Kỳ (hàng năm phải chi hơn 20 tỷ đô la cho bịnh tiểu đường loại II, chưa kể chi phí cho những chứng bịnh khác liên hệ). Có súng đạn tối tân mà không có lính mạnh khỏe để sử dụng (vì mập quá) thì sự hữu hiệu của võ khí cá nhân đã giảm quá nửa.
Đó là lý luận rất đàn bà của bà xã tôi nhưng nghĩ kỹ không phải là vô lý. Trong 20 năm qua, vòng số 2 của người dân Mỹ, cả nam lẫn nữ, gia tăng rõ rệt, vượt cả vòng 3. Ở nhiều người nam, vòng số 1 là vòng nhỏ nhất. Người Mỹ thích phá kỷ lục, và hàng năm có nhiều thành tích kỷ lục bị vượt qua, không phải chỉ ở lãnh vực thể thao mà còn ở bàn ăn nữa, như kỷ lục về ăn pizza, ăn hamburger, ăn donut, ăn nhanh… Có lần trong cuộc thi ăn nhiều và ăn nhanh ở địa phương, tôi chứng kiến một anh Mỹ 270 lbs ăn 30 cái hamburgers của nhà hàng White Castle trong 15 phút. Anh phá kỷ lục của chính anh năm trước, 28 cái/15 phút.
Thường chồng "quá khổ" thì vợ cũng "quá tải" mới xứng đôi vừa lứa, tâm đầu ý hợp, hợp khẩu và hợp nhãn. Một lần vào tiệm bán áo quần cho người có kích thước vượt quá mức bình thường, tôi thấy mấy chữ quảng cáo "Fat is beautiful!" (Mập thì đẹp!). Trẻ em Mỹ ngày nay bị bịnh mập (obesity) cũng gia tăng so với 20 năm trước. Bạn thử đoán cha mẹ của những đứa trẻ này là ai? Đời cha (mẹ) ăn mặn, đời con khát nước…Cha mẹ ăn xả giàn thì con cái theo gương ăn xả láng, lãnh đủ là cái chắc!
Trò chơi nào cũng có qui luật, và qui luật duy nhất của nhà hàng buffet là ăn bao nhiêu cũng được, nhưng không được mang thức ăn ra khỏi nhà hàng. Dù vậy, thỉnh thoảng cũng thấy phe ta len lén xé rào, ra bãi đậu xe khoe nhau thành tích…
Số người vào nhà hàng buffet ăn theo đúng qui ước của "người có văn hóa" (cụm từ của CHXHCNVN), tức proper table manners, dường như càng ngày càng giảm, lấy 2, 3 mà chỉ ăn 1 thôi. Ăn không được thì bỏ, lấy món khác, nhưng lấy quá nhiều, không lượng sức mình. Trung bình thức ăn trong các nhà hàng buffet bỏ phí hơn phân nửa. Anh bạn tôi kể các nhà hàng buffet ở Singapore, Thái Lan khi có phái đoàn Việt Nam đến, dân đi du lịch hay nhân viên nhà nước đi tham quan, được long trọng "nhắc khéo" là lấy đủ ăn, không bỏ phí. Dù vậy, chiêu đãi viên nhà hàng vẫn thường phải đến "cảnh cáo" viên chức nhà nước ta vì lấy nhiều rồi chê bỏ, không ăn. Có lần chiêu đãi viên một nhà hàng buffet ở Singapore bắt gặp các thành viên của phái đoàn tham quan nhà nước dấu thức ăn trong bị túi mang ra và bắt phải trả lại. Câu chuyện được lên báo ở Singapore vài ngày sau. Ôi quốc thể! Ôi đỉnh cao! Ôi xã hội chủ nghĩa! Cực kỳ!
Ở nhiều nơi trên thế giới, nhiều người chết vì đói ăn (trong đó có Việt Nam ta) trong khi ở các nước tư bản, nhiều người chết vì bội thực, ăn nhiều, sinh ra đủ thứ bịnh. Đúng là tham thực cực thân. Có người chủ trương thà chết vì bội thực hơn chết vì đói để đời sống có ý nghĩa! Ở đất nước Việt Nam anh hùng, hơn phân nửa số gia đình kiếm không tới 400 đô la một năm thì không ít quan chức đảng ta và các công tử, công nương đốt cháy hàng ngàn đô la cho một bữa ăn tối. Ai còn dám bảo con cháu cụ Hồ là những người sống "thiếu văn hóa," không theo kịp đà văn minh?
Đất nước ta hiện nay cũng giống như nhà hàng buffet khổng lồ mà đất đai, tài nguyên thiên nhiên… là các món ăn đã nấu sẵn và thực khách không ai khác hơn là các đảng viên, cán bộ con cháu nhà Hồ. Tiền ăn là thẻ đảng viên "hồng hơn chuyên," là số năm ngủ bờ ngủ bụi thời chống tây, đánh Mỹ! Chẳng những ăn tiêu phung phí ở trong nước, đảng viên, cán bộ, quan chức nhà nước còn tẩu tán tài sản quốc gia đem ra nước ngoài để con cháu thụ hưởng đời nọ sang đời kia… theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa…
Ôi, cây kim sợi chỉ của nhân dân không ai thèm lấy, đúng như lời dạy của cụ Hồ, giá đáng bao nhiêu? Nhưng quý kim, hột xoàn, vàng bạc, đồng đô la hấp dẫn vô cùng. Chê, khước từ là dại, là ngu… Không tên chuyên tu thì cũng tên tại chức, tha hồ… Tham nhũng đời bố, hưởng thụ đời con theo tư tưởng Hồ chủ tịch: Thắng giặc Mỹ ta (đảng viên, cán bộ) sẽ ăn (cắp) bằng mười hôm nay. Nhân dân lao động càng ngày càng ốm gầy từ sau ngày giải phóng, ngược với hình ảnh quá tải, quá khổ, vượt kích thước, vượt chỉ tiêu của các "quan chức" nhà nước! (Trước 1975, từ "quan chức" được báo chí dùng để "móc họng" những kẻ cậy quyền. Bây giờ từ này được đảng viên, cán bộ dùng để gọi các xếp của mình một cách rất kính trọng. Chế độ quan lại phong kiến được hồi phục ở nước ta dưới dạng xã hội chủ nghĩa…theo đúng tư tưởng Hồ Chí Minh!)
Ăn xả giàn nhưng viết có giới hạn… Bạn nào muốn thấy toàn diện bức tranh vân cẩu về ăn ở thế gian cứ vào tiệm ăn buffet thi biết: Ôi, cảnh phù du trông thấy cũng nực cười!
3G chôm được trên Internet
-
Nguyễn_Sydney
- Posts: 2581
- Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
- Been thanked: 1 time
40 năm Chiến thắng Long Tân

Sáng sớm hôm qua ,18/8/2006 ,tại công viên Cabra Vale Park dda4 có buổi lễ Thượng Kỳ Úc - Việt nam Cộng Hòa để kỷ niệm 40 năm Chiến thắng Long Tân , ngày này cách đây 40 năm , 108 Quân nhân úc thuộc đại đội D Tiểu đoàn 6 đã đánh tan một Trung đoàn VC tại Long Tân Núi Đất Bà rịa . VC đã bỏ lại 245 xác ,còn phía quân đội Úc chỉ thiệt hại 18 quân nhân . Khoảng 2000 quan khách Úc Việt và các Chiến hữu Cựu Quân nhân QLVNCH tham dự .
Sau đó một số khoảng 40 Chiến hữu Cựu Chiến binh QN/QLVNCH đã tham dự lễ tưởng niệm trong Tiểu đoàn 3 Nhây Dù Úc .
Trước lễ Kỷ niệm Long Tân 2 tuần lễ , Ông Tổng Cựu Chiến Binh Úc đã gởi thư cho phân hội Cựu Chiến binh Úc ở Dandenong -với lời kêu gọi , nếu muốn tài trợ 40.000 dollars dể trùng tu Tượng đài thì phải bỏ lá Cờ Vàng ba sọc đỏ . Lá thư đã gặp phải sự phản đối mạnh mẽ của các Chiến Binh Úc -Việt .Như vậy đây là sự sỉ nhục đối với các Chiến binh .Đã từng chiến đấu dưới Lá Cờ Vàng 3 Sọc đỏ .
Giới truyền thông đã tham gia vào chuyện phản đối , đã khiến Thủ tướng Úc John Howard phải can thiệp và ông Tổng trưởng bộ Cựu Chiến binh đã nhượng bộ và huỷ bỏ điều kiện đã nêu ra và chính thức xin lỗi các Chiến binh Úc .
Đây là một thắng lợi Lớn lao của các Cựu Chiến Binh Úc cũng như Các Cựu Chiến binh VN tại Victoria . Và Cờ vàng đã bay phất phới ở Dandenong vào ngày hôm qua .

Sáng sớm hôm qua ,18/8/2006 ,tại công viên Cabra Vale Park dda4 có buổi lễ Thượng Kỳ Úc - Việt nam Cộng Hòa để kỷ niệm 40 năm Chiến thắng Long Tân , ngày này cách đây 40 năm , 108 Quân nhân úc thuộc đại đội D Tiểu đoàn 6 đã đánh tan một Trung đoàn VC tại Long Tân Núi Đất Bà rịa . VC đã bỏ lại 245 xác ,còn phía quân đội Úc chỉ thiệt hại 18 quân nhân . Khoảng 2000 quan khách Úc Việt và các Chiến hữu Cựu Quân nhân QLVNCH tham dự .
Sau đó một số khoảng 40 Chiến hữu Cựu Chiến binh QN/QLVNCH đã tham dự lễ tưởng niệm trong Tiểu đoàn 3 Nhây Dù Úc .
Trước lễ Kỷ niệm Long Tân 2 tuần lễ , Ông Tổng Cựu Chiến Binh Úc đã gởi thư cho phân hội Cựu Chiến binh Úc ở Dandenong -với lời kêu gọi , nếu muốn tài trợ 40.000 dollars dể trùng tu Tượng đài thì phải bỏ lá Cờ Vàng ba sọc đỏ . Lá thư đã gặp phải sự phản đối mạnh mẽ của các Chiến Binh Úc -Việt .Như vậy đây là sự sỉ nhục đối với các Chiến binh .Đã từng chiến đấu dưới Lá Cờ Vàng 3 Sọc đỏ .
Giới truyền thông đã tham gia vào chuyện phản đối , đã khiến Thủ tướng Úc John Howard phải can thiệp và ông Tổng trưởng bộ Cựu Chiến binh đã nhượng bộ và huỷ bỏ điều kiện đã nêu ra và chính thức xin lỗi các Chiến binh Úc .
Đây là một thắng lợi Lớn lao của các Cựu Chiến Binh Úc cũng như Các Cựu Chiến binh VN tại Victoria . Và Cờ vàng đã bay phất phới ở Dandenong vào ngày hôm qua .
-
Nguyễn_Sydney
- Posts: 2581
- Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
- Been thanked: 1 time
PHONG TRÀO QUỐC DÂN ĐÒI TRẢ TÊN SÀIGON

Tin Sydney , Vào trưa hôm nay chủ nhật 20 tháng 8 năm 2006 , tại Trung Tâm Văn Hoá Sinh hoạt Cộng Đồng NSW đã có buổi giới thiệu ra mắt " Phong trào Quốc Dân Đòi Trả tên Sàigon " tại Sydney Australia .
Đây là Phong trào Sàigon do Linh mục Nguyễn hữu Lễ khởi xướng .Lễ khởi xướng với hai khẩu hiệu ""Tẩy trừ tên Hồ chí Minh " , Phục hồi Tên Sài gòn " đã được tổ chức vào ngày 15 tháng 1 năm 2006 tại Wesminter Nam Cali . Sau đó vào ngày 2 tháng 7 năm 2006 , đại hội Thế giới đã tổ chức công khai đánh dấu 30 năm ngày mất tên Sài gòn . (2/7/1976 - 2/7/2006 )
Lần lượt Phong trào đã ra mắt tại Pháp quốc ,Canada , Các Tiểu bang ở Hoa kỳ , nay đến lượt Úc châu .
Khoảng 500 Quan khách , bao gồm các hội đoàn ,đoàn thể ,các cơ quan truyền thông báo chí cùng đồng hương đã có mặt đúng giờ ,một dịp hiếm có để tham dự buổi lễ ra mắt lần đầu tiên tại Sydney Úc châu .
Sau lễ chào Cờ và mặc niệm , cô Nguyễn thanh Hà thay mặt ban điều hành Phong trào tại Sydney đã đọc lời ngỏ chào mừng quan khách
và giới thiệu thành phần chính của Phong trào đến từ Tân Tây Lan Linh mục Nguyễn hữu Lễ , đến từ Hoa kỳ có ông Trần quốc Bảo và đến từ Canada có bác sĩ Nguyễn thành Khương .
Hai chủ tịch Cộng đồng Người Việt Tự Do Liên bang và Tiểu bang NSW đã ngỏ lời chào mừng các vị khách từ phương đến ,đẫ tuyên bố sẵn sàng ủng hộ Phong trào một cách sâu rộng tới mọi người ,kể cả những người hãy còn ở VN .
Linh mục Nguyễn Lễ người chủ xướng Phong trào đã lên phát biểu cảm tưởng : Linh mục không ngờ các đồng hương ở Sydney đã đến tham dự quá đông đảo , do đó linh mục rất ngưỡng mộ tinh thần Chống Cộng của đồng hương Úc châu rất cao , khiến cho Linh mục Nguyễn hữu Lễ phải cúi đầu cám ơn .Ngoài ra Linh Mục Lễ đã nói rõ tại sao chúng ta phải đòi trả tên Sàigon cũng như đòi trả tên Tổng Giáo phận Sài gòn chứ không thể để tên Hồ chí Minh được .
Sau đó ông Trần quốc Bảo đến từ Hoa Kỳ đã giới thiệu các thành viên
điều hành của phong trào ở các Tiểu bang khác của Úc như Victoria , Nam Úc , Tây Úc và Queensland và chính thức công nhận cô Nguyễn thanh Hà là thành viên ban điều hành của phong trào tại Úc châu .
Cuối cùng là phần đặt câu hỏi của Quan khách và đồng hương với ban điều hành Trung Ương . Tất cả các câu hỏi đã được Linh mục Lễ và Trần quốc Bảo giải đáp một cách cặn kẽ .
Buổi giới thiệu ra mắt phong trào Đòi trả tên Sài gòn tại Sydney đã kết thúc vào lúc 4 giờ chiều .


Tin Sydney , Vào trưa hôm nay chủ nhật 20 tháng 8 năm 2006 , tại Trung Tâm Văn Hoá Sinh hoạt Cộng Đồng NSW đã có buổi giới thiệu ra mắt " Phong trào Quốc Dân Đòi Trả tên Sàigon " tại Sydney Australia .
Đây là Phong trào Sàigon do Linh mục Nguyễn hữu Lễ khởi xướng .Lễ khởi xướng với hai khẩu hiệu ""Tẩy trừ tên Hồ chí Minh " , Phục hồi Tên Sài gòn " đã được tổ chức vào ngày 15 tháng 1 năm 2006 tại Wesminter Nam Cali . Sau đó vào ngày 2 tháng 7 năm 2006 , đại hội Thế giới đã tổ chức công khai đánh dấu 30 năm ngày mất tên Sài gòn . (2/7/1976 - 2/7/2006 )
Lần lượt Phong trào đã ra mắt tại Pháp quốc ,Canada , Các Tiểu bang ở Hoa kỳ , nay đến lượt Úc châu .
Khoảng 500 Quan khách , bao gồm các hội đoàn ,đoàn thể ,các cơ quan truyền thông báo chí cùng đồng hương đã có mặt đúng giờ ,một dịp hiếm có để tham dự buổi lễ ra mắt lần đầu tiên tại Sydney Úc châu .
Sau lễ chào Cờ và mặc niệm , cô Nguyễn thanh Hà thay mặt ban điều hành Phong trào tại Sydney đã đọc lời ngỏ chào mừng quan khách
và giới thiệu thành phần chính của Phong trào đến từ Tân Tây Lan Linh mục Nguyễn hữu Lễ , đến từ Hoa kỳ có ông Trần quốc Bảo và đến từ Canada có bác sĩ Nguyễn thành Khương .
Hai chủ tịch Cộng đồng Người Việt Tự Do Liên bang và Tiểu bang NSW đã ngỏ lời chào mừng các vị khách từ phương đến ,đẫ tuyên bố sẵn sàng ủng hộ Phong trào một cách sâu rộng tới mọi người ,kể cả những người hãy còn ở VN .
Linh mục Nguyễn Lễ người chủ xướng Phong trào đã lên phát biểu cảm tưởng : Linh mục không ngờ các đồng hương ở Sydney đã đến tham dự quá đông đảo , do đó linh mục rất ngưỡng mộ tinh thần Chống Cộng của đồng hương Úc châu rất cao , khiến cho Linh mục Nguyễn hữu Lễ phải cúi đầu cám ơn .Ngoài ra Linh Mục Lễ đã nói rõ tại sao chúng ta phải đòi trả tên Sàigon cũng như đòi trả tên Tổng Giáo phận Sài gòn chứ không thể để tên Hồ chí Minh được .
Sau đó ông Trần quốc Bảo đến từ Hoa Kỳ đã giới thiệu các thành viên
điều hành của phong trào ở các Tiểu bang khác của Úc như Victoria , Nam Úc , Tây Úc và Queensland và chính thức công nhận cô Nguyễn thanh Hà là thành viên ban điều hành của phong trào tại Úc châu .
Cuối cùng là phần đặt câu hỏi của Quan khách và đồng hương với ban điều hành Trung Ương . Tất cả các câu hỏi đã được Linh mục Lễ và Trần quốc Bảo giải đáp một cách cặn kẽ .
Buổi giới thiệu ra mắt phong trào Đòi trả tên Sài gòn tại Sydney đã kết thúc vào lúc 4 giờ chiều .

-
Nguyễn_Sydney
- Posts: 2581
- Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
- Been thanked: 1 time
Cờ Vàng tại OHIO được công nhận
Ngày 19 tháng 8 vừa qua , tại Tiểu bang OHIO /Hoa ky , ông Thống đốc Tiểu bang đã ký giấy Công nhận Lá Cờ Vàng là Lá Cơ Di Sản Truyền thống của Người Việt Tị Nạn Cộng sản và lá Cờ có thể bay ngạo nghễ khắp Tiểu bang OHIO .Đã có nhiều đồng hương ở Tiểu bang OHIO tham dự buổi lễ công nhận này . Nhiều đồng hương ở các vùng phụ cận về tham dự ,ngoài ra có dda5i diện ở Chicago ,Michigan và Cali cũng đã đến để Vui chung cùng đồng hương ở OHIO .Trong vòng 2 tuần lễ tại Hoa kỳ có Thống đốc Cali và OHIO công nhận lá cờ vàng .Một cái tát nữa vào bọn Cộng sản VN .

Lễ rước Quốc Kỳ Việt Mỹ vào lễ đài

Ông giám đốc Đa Văn hóa Roman Fedkiw đại diện Thống đốc trao giấy công nhận cho Đại diện Cộng đồng .
Ngày 19 tháng 8 vừa qua , tại Tiểu bang OHIO /Hoa ky , ông Thống đốc Tiểu bang đã ký giấy Công nhận Lá Cờ Vàng là Lá Cơ Di Sản Truyền thống của Người Việt Tị Nạn Cộng sản và lá Cờ có thể bay ngạo nghễ khắp Tiểu bang OHIO .Đã có nhiều đồng hương ở Tiểu bang OHIO tham dự buổi lễ công nhận này . Nhiều đồng hương ở các vùng phụ cận về tham dự ,ngoài ra có dda5i diện ở Chicago ,Michigan và Cali cũng đã đến để Vui chung cùng đồng hương ở OHIO .Trong vòng 2 tuần lễ tại Hoa kỳ có Thống đốc Cali và OHIO công nhận lá cờ vàng .Một cái tát nữa vào bọn Cộng sản VN .

Lễ rước Quốc Kỳ Việt Mỹ vào lễ đài

Ông giám đốc Đa Văn hóa Roman Fedkiw đại diện Thống đốc trao giấy công nhận cho Đại diện Cộng đồng .
Nghỉ thề với đá
Hồi mà câu thề hẹn còn là mốt của những đôi trai gái yêu nhau, đá thường được nhắc đến. Thí dụ như “Chừng nào đá nát như cháo em mới thôi nhớ anh”. Hay “Lúc núi kia sập xuống cái rầm anh mới bớt thương em”. Đối tượng nguýt dài, hơi trề môi, như nói “sức mấy mà tui tin” nhưng trong lòng xúc động rịn từng giọt, như máu. Nhỏ biết cảm giác đó, rất ngọt ngào.
Hồi đó con gái hai mươi tuổi khôn chỉ bằng… em bé lên mười của thời nay. Mộng mị, ngây thơ, thấy lời thề ước đáng tin và cao quý hết biết, bởi nghĩ rằng chẳng có gì cứng cáp, bền vững như đá kia, núi kia.
Sau này, té ngửa ra, chẳng có gì là vĩnh cửu, đá không, núi cũng không. Những bài giảng từ trường học vẫn mới, nhưng vì mơ màng quá nên nhỏ quên rằng đá cũng có tuổi, cũng sống và chết. Đá cũng đau như người, có lúc không chết vì bệnh tật, vì tuổi già… Những lần rong ruỗi khắp đồng bằng Tây Nam Bộ, nhận ra điều đó, nhỏ thấy hết hồn.
Rồi thấy nhói một cách kỳ cục khi nhìn núi mà cảm giác lay lắt, mong manh. Như đứng trước một nhánh liễu muốt, một bông hoa bắt đầu phai, một chiếc lá úa trên cây. Mùa trước ngang qua, núi còn cây cỏ xanh rì, mùa sau thấy núi toạc ra từng mảng lớn, đá trắng trơ xương. Mùa này, thấy núi còn cao vọi, mùa sau núi thấp tè. Mùa này, có núi còn đứng trọc lóc giữa đồng, cao hơn mấy cây thốt nốt một chút, mùa sau không còn thấy núi đâu. Chỉ những nhà máy ximăng thả lên trời những đụn khói đục ngầu.
Nhân nói về khói, sẽ có một ngụ ngôn như sau : Khói mẹ kể chuyện cổ tích cho khói con nghe, ngày xửa ngày xưa, chúng ta là một phần của núi. Khói con hỏi vậy núi là cái gì ? Khói mẹ ngó xuống, bối rối vì không có ngọn núi nào để giải thích với con. Cuối cùng, nó biểu khói con bay ra miền Bắc, ở đó chắc còn núi. Chứ đồng bằng thì láng te rồi. Nhưng khói con làm gì có cơ hội được đi xa, để biết núi là gì.
Câu chuyện hơi cay đắng, bởi người sáng tác ra nó là một người yêu núi khủng khiếp. Yêu mà chẳng biết tại sao. Vì quê nhà toàn nước rạch nước sông, nên thèm núi? Vì cái dáng vẻ cô độc, huyền bí, kiêu hãnh của núi hơi giống mình? Vì đức tin vào lời thề năm cũ? Hoặc yêu tất cả, tất cả những điều đó. Nhỏ thuộc loại người nhìn núi thấy đẹp. Cái đẹp của những tảng đá xanh rêu, của những bông bằng lăng tím biêng biếc giắt trên khe đá, của những con cuốn chiếu núi lớn bằng ngón tay út mà rất hiền. Cái đẹp của cánh đồng chiều lặng phắc, núi thẫm miết vào chân trời, gần đó là những cây thốt nốt xơ rơ, những con bò ốm nhách lười nhác liếm láp cỏ khô, mà sao như núi chỉ có một mình.
Nhưng cũng có người, nhìn núi nghĩ ngay đến việc nung vôi, việc giả nhỏ đá ra để… lót sân. Những người đó cũng đông, cũng chật. Nên núi tàn lụi dần trên vùng đất đồng bằng vốn chẳng giàu có núi, chẳng thừa thải núi.
Nên chẳng có gì là khó hiểu, khi chuyện thề thốt bây giờ ít đôi lứa nào dùng, bởi người ta đã bớt dại khờ, chai sạn sự tin, và bởi không biết vịn vào gì để thề. Ở đô thị, sông đã hoá phố, hoá nhà. Ở nơi heo hút khác, đất lại tan thành sông. Bàn tay con người đụng đến đâu, thiên nhiên ngoa ngoắt biến đổi đến đó. Chẳng biết đâu mà lần. Nên sau này, mốt thề ước có quay lại, con người chỉ có nước lấy… con người ra thề. Thí dụ, thay cho rắn hổ đất (bị đem vô quán nhậu nấu cháo đậu xanh hết rồi) đôi lứa sẽ nói, ai không thiệt lòng cho miệng lưỡi người ta… hại chết luôn. Thí dụ, thay cho núi, đôi lứa nói như vầy, “Chừng nào tham vọng của người ta hạ ngọn, tụi mình mới hết yêu nhau”. Chắc ăn. Sẽ không đôi lứa nào phải lặng đi khi nhìn một ngọn núi qua đời, lời thề xưa nhói buốt…
Đó là kinh nghiệm sống trong những ngày thiên nhiên biến mất. Trước khi con người biến mất…
Nguyễn Ngọc Tư
Hồi đó con gái hai mươi tuổi khôn chỉ bằng… em bé lên mười của thời nay. Mộng mị, ngây thơ, thấy lời thề ước đáng tin và cao quý hết biết, bởi nghĩ rằng chẳng có gì cứng cáp, bền vững như đá kia, núi kia.
Sau này, té ngửa ra, chẳng có gì là vĩnh cửu, đá không, núi cũng không. Những bài giảng từ trường học vẫn mới, nhưng vì mơ màng quá nên nhỏ quên rằng đá cũng có tuổi, cũng sống và chết. Đá cũng đau như người, có lúc không chết vì bệnh tật, vì tuổi già… Những lần rong ruỗi khắp đồng bằng Tây Nam Bộ, nhận ra điều đó, nhỏ thấy hết hồn.
Rồi thấy nhói một cách kỳ cục khi nhìn núi mà cảm giác lay lắt, mong manh. Như đứng trước một nhánh liễu muốt, một bông hoa bắt đầu phai, một chiếc lá úa trên cây. Mùa trước ngang qua, núi còn cây cỏ xanh rì, mùa sau thấy núi toạc ra từng mảng lớn, đá trắng trơ xương. Mùa này, thấy núi còn cao vọi, mùa sau núi thấp tè. Mùa này, có núi còn đứng trọc lóc giữa đồng, cao hơn mấy cây thốt nốt một chút, mùa sau không còn thấy núi đâu. Chỉ những nhà máy ximăng thả lên trời những đụn khói đục ngầu.
Nhân nói về khói, sẽ có một ngụ ngôn như sau : Khói mẹ kể chuyện cổ tích cho khói con nghe, ngày xửa ngày xưa, chúng ta là một phần của núi. Khói con hỏi vậy núi là cái gì ? Khói mẹ ngó xuống, bối rối vì không có ngọn núi nào để giải thích với con. Cuối cùng, nó biểu khói con bay ra miền Bắc, ở đó chắc còn núi. Chứ đồng bằng thì láng te rồi. Nhưng khói con làm gì có cơ hội được đi xa, để biết núi là gì.
Câu chuyện hơi cay đắng, bởi người sáng tác ra nó là một người yêu núi khủng khiếp. Yêu mà chẳng biết tại sao. Vì quê nhà toàn nước rạch nước sông, nên thèm núi? Vì cái dáng vẻ cô độc, huyền bí, kiêu hãnh của núi hơi giống mình? Vì đức tin vào lời thề năm cũ? Hoặc yêu tất cả, tất cả những điều đó. Nhỏ thuộc loại người nhìn núi thấy đẹp. Cái đẹp của những tảng đá xanh rêu, của những bông bằng lăng tím biêng biếc giắt trên khe đá, của những con cuốn chiếu núi lớn bằng ngón tay út mà rất hiền. Cái đẹp của cánh đồng chiều lặng phắc, núi thẫm miết vào chân trời, gần đó là những cây thốt nốt xơ rơ, những con bò ốm nhách lười nhác liếm láp cỏ khô, mà sao như núi chỉ có một mình.
Nhưng cũng có người, nhìn núi nghĩ ngay đến việc nung vôi, việc giả nhỏ đá ra để… lót sân. Những người đó cũng đông, cũng chật. Nên núi tàn lụi dần trên vùng đất đồng bằng vốn chẳng giàu có núi, chẳng thừa thải núi.
Nên chẳng có gì là khó hiểu, khi chuyện thề thốt bây giờ ít đôi lứa nào dùng, bởi người ta đã bớt dại khờ, chai sạn sự tin, và bởi không biết vịn vào gì để thề. Ở đô thị, sông đã hoá phố, hoá nhà. Ở nơi heo hút khác, đất lại tan thành sông. Bàn tay con người đụng đến đâu, thiên nhiên ngoa ngoắt biến đổi đến đó. Chẳng biết đâu mà lần. Nên sau này, mốt thề ước có quay lại, con người chỉ có nước lấy… con người ra thề. Thí dụ, thay cho rắn hổ đất (bị đem vô quán nhậu nấu cháo đậu xanh hết rồi) đôi lứa sẽ nói, ai không thiệt lòng cho miệng lưỡi người ta… hại chết luôn. Thí dụ, thay cho núi, đôi lứa nói như vầy, “Chừng nào tham vọng của người ta hạ ngọn, tụi mình mới hết yêu nhau”. Chắc ăn. Sẽ không đôi lứa nào phải lặng đi khi nhìn một ngọn núi qua đời, lời thề xưa nhói buốt…
Đó là kinh nghiệm sống trong những ngày thiên nhiên biến mất. Trước khi con người biến mất…
Nguyễn Ngọc Tư
Một Bài Học Mới Cho Mỹ
Vi Anh -Tin thông tấn xã UPI, CS Bắc Hàn đã mở trương mục tại 23 ngân hàng của 10 quốc gia, trong đó phân nửa số trương mục là mở tại ngân hàng của chế độ CS Hà Nội. Đài Quốc tế Pháp, trang web của báo Nhựt Sankei Shimbun nhấn mạnh VNCS chứa chấp phân nửa tổng số trương mục của CS Bắc Hàn mà Mỹ liệt vào trục Tam Đại Ác trên thế giới. Đây là một bài học mới cho Mỹ về CS Hà Nội trong cuộc chiến chống khủng bố. CS Hà nội coi vậy, chớ không phải vậy, mà còn tệ với Mỹ, còn chống Mỹ hơn vậy nữa.
Một, một thoáng nhìn lịch sử. Khi Mỹ kêu gọi thế giới liên minh chống khủng bố thế gìới. CS Hà nội là một trong những chế độ tuyên bố hưởng ứng đầu tiên - trước Phi luật Tân nữa - trong việc chia xẻ tin tức tình báo, bất động hoá kinh tài của đường dây khủng bố quốc tế Nhưng khi Mỹ đập rắn đập tận đầu, đổ quân đánh đổ Afgahanistan, Iraq, thì CS Hà nội bên ngoài không chánh thức chống nhưng cho tướng tá trù mạt Mỹ sẽ sa lầy, sẽ thua. Iraq của nhà độc tài Hussein vốn là nước CS Hà Nội bán rất nhiều gạo, "xuất khẩu" nhiều lao động đi làm "nghĩa vụ quốc tế.”
Hai, trong cuộc chiến chống khủng bố thế giới, Bắc Hàn CS là chế độ bị Mỹ liệt vào trục tam ác, Irab, Iraq, Bắc Hàn. Bắc Hàn CS còn là chế độ thách thức Mỹ trong vấn đề sản xuất nguyên tử và võ khí phi qui ưóc như hoả riển có mang đầu đạn sát hại tập thể có thể biến thành khủng hoảng ở Bắc Thái bình Dương. Từ lâu Mỹ đã cấm vận tài chánh đối vớ CS Bắc Hàn. CS Hà nội tỉnh bơ, âm thầm "tạo điều kiện dễ dàng" cho CS Bắc Hàn "hoạt động kinh tài". Theo phát giác nói trên phân nửa tổng số trương mục của CS Bắc Hàn mở tại các ngân hàng nhà nước của CS Hà Nội.
Ba, Mỹ muốn bao vây tài chánh của CS Bắc Hàn thì CS Hà Nội khai thông cho CS Bắc Hàn. Mỹ cấm tất cả các định chế tài chánh Hoa Kỳ không được giao dịch với ngân hàng của CS Bắc Hàn, kể cả ngân hàng Banco Delta Asia, bản doanh ở Macao để chống Bắc Hàn in và tung Đô la giả làm hại giá trị tiền tệ Mỹ. Mỹ can thiệp với các nước không cho CS Bắc Hàn giao hoán qua trung gian các ngân hàng để ngăn chận việc rửa tiền buôn bán lậu Đô la giả và vũ khí lậu. Kể cả đối với ngân hàng Bank of China của Anh Cả Đỏ Mỹ cũng yêu cầu phong toả toàn bộ các trương mục CS Bắc Hàn. Phong toả tài chánh của Mỹ khiến Bắc Hàn CS phải liên kết điều kiện giải quyết khủng hoảng nguyên tử Bắc Hàn với việc Mỹ gở cấm vận tài chánh cho Bác Hàn. Còn CS Hà nội thì chống lại, bí mật giải toả cho CS Bắc Hàn trên phương diện tài chánh,
Bốn, phân nửa số trương mục của tổng sô trương mục của CS Bắc Hàn, nội dung giao hoán chống lại mục tiêu Mỹ và còn hơn nữa. Mỹ chống CS Bắc Hàn rửa tiền bán Đô la giả do CS Bắc Hàn làm; Mỹ chống CS Bắc Hàn buôn bán lậu vũ khí. Thì CS Hà nội giúp Bác Hàn làm chuyến đó bắng ngân hàng.
CS Hà nội còn có thể chống Mỹ hơn nữa. Thói thường cái lớn làm được thì cái nhỏ làm được. Đầu xuôi thì đuôi lọt. Nếu ngân hàng nhà nước CS Hà nội đứng ra làm trung gian giao hoán cho việc rửa tiền buôn bán vũ khi lậu của Bắc Hàn cho Iran, Syria, Ethiopia được, thì việc chuyền tiền của của các nước Hồi giáo chống Mỹ giúp cho đường dây tổ chức khủng bố Hồi giáo cực đoan ở Nam Dương, Phi luật tân, và các nước Âu Mỹ chỉ là chuyện nhỏ. Năm, CS Hà nội không thể chối cãi gì được vì một sự thật rõ như ban ngày, là, trừ một ít chi nhánh ngân hàng ngoại quốc, tất cả ngân hàng ở VN là ngân hàng của CS Hà nội. Sự thật này người dân Việt đã biến thành chuyện cưòi xã hội chủ nghĩa. Cái gì cũng nhân dân, Ủy ban nhân dân, toà án nhân dân, nhựt báo Nhân dân, chỉ có ngân hàng là của nhà nước để ngạo thuộc tính và sở hữu quyền của Ngân hàng Nhà Nước VN. Trong chế độ CS ngân sách quốc gia, ngân sách đảng, tài liệu tài chánh công được liệt vào loại bí mật quốc gia. Huống hồ chi phó có tính gián điệp như chi phó hay giao hoán trung gian cho CS Bắc Hàn là điều CS Hà nội cố tình giữ bí mật, chắc chăn CS Hà Nội phải liệt vào hạng "tuyệt mật" quốc gia.
Bản tin không nói CS Hà nội đã "tạo điều kiện" cho CS Bắc Hàn bao lâu rồi. Nhưng chăc chắn không phải một ngày một bữa đâu. Nhưng cây kim dấu trong túi cũng có ngày lòi ra. Đây là vòi trong xương vòi ra. Như việc với một nhà tranh đấu cho dân chủ VN bị xét không sót một chút da lông nào trong cuộc " làm việc" với công an, nhưng Đài Phát Thanh Mỹ RFA vẫn có cuộn băng phát nhiều kỳ, làm CS tức nổ con mắt. Với phương tiện dồi dào của mật vụ tài chánh và CIA Mỹ, những thông tin rửa tiền, phá giá tiền Mỹ chuyển tiền cho kẻ thù, tiền bạc mua chuột để có được không thành vấn đề. Tin thêm, chính Thứ Trưởng Tài Chánh Mỹ đã bay đi Hà Nội nói "phải quấy" với CS.
Sáu, thói thường đi đêm có ngày gặp ma. Trời hại CS Hà nội, tin Hà nội giúp rửa tiền Đô la gỉa, buôn vũ khí lậu xì ra khi CS Hà Nội đang tăng cường nỗ lực vận động, o bế Washington để được qui chế thương mại bình thường vĩnh viễn hầu vào WTO trót lọt. Nhưng trong chánh trị, đôi khi có những bất bình thường. Biết đâu CIA có những hành động khác với bình thường. Như trong Chiến tranh VN, đại sứ Bunker, MACV ủng hộ chánh quyền TT Nguyễn văn Thiệu, mà CIA lại thường tạo điều kiện gíup đối lập vì người dân Mỹ không thể chấp nhận một chánh quyền không có đối lập. Công an cảnh sát càng tịch thu báo Tin Sáng, thì Dân Biểu Ngô công Đức chủ nhiệm càng giàu; báo được "bon" giấy của Juspao, vợ được thầu giặt quần áo cho Sư Đoàn Mỹ ở Hậu nghĩa; và cá nhân Ngô công Đức đi xe bảng số vàng chữ xanh thuộc ngoại giao đoàn của Mỹ, khỏi đóng thuế nhập cảng. Biết đâu trong vụ xì tin tài khoản CS Bắc Hàn ở VN này, chánh phủ ngầm của Mỹ muốn "hớp hồn" CS trước khi vào hay không muốn CS Hà nội vào WTO trước khi TT Bush đi Hà Nội dự hội nghi APEC hay trước khi TT Bush cáo lão qui điền.
Sau cùng, âu đây cũng là một bài học cho Mỹ về CS Hà nội và cho CS Hà nội về Mỹ. Để dọn mình vào WTO, CS Hà nội san định gần mấy chục đạo luật cho hợp với qui định vào WTO. Nhưng không có nghị định hướng dẫn thi hành. Đối với CS Hà nội nghi định hướng dẫn thi hành mới có giá trị chấp hành và cưỡng hành. Có khi có nghị định rồi vẫn không thi hành, dưa vào nguyên tắc "cấp ủy điạ phương lãnh đạo." Một viên chức trung ương bổ về mà Đảng Ủy đia phương, Ban Tổ chức Đảng, Ban Tổ chức Chánh quyền không "phân công" kể như ngồi chơi, xếp hàng chờ ngày thất nghiệp. Trong bang giao và giao thương, CS Hà nội cái gì cũng hứa, cũng ký, nhưng chỉ làm điều gì và khi nào có lợi cho họ thôi. CS Hà Nội hứa chia xẻ tin tức, giúp tiễu trừ khủng bố, phong toả tài khoản khủng bố nhưng chứa chấp tài khoản và giúp sinh hoạt kinh tài cho đại ác khủng bố CS Bác Hàn. Người Mỹ quá quen với dân chủ pháp trị, coi luật pháp, hiệp ước đương nhiên có giá trị. Đây là dịp để người Mỹ học thêm về CS Hà Nội.
Vi Anh -Tin thông tấn xã UPI, CS Bắc Hàn đã mở trương mục tại 23 ngân hàng của 10 quốc gia, trong đó phân nửa số trương mục là mở tại ngân hàng của chế độ CS Hà Nội. Đài Quốc tế Pháp, trang web của báo Nhựt Sankei Shimbun nhấn mạnh VNCS chứa chấp phân nửa tổng số trương mục của CS Bắc Hàn mà Mỹ liệt vào trục Tam Đại Ác trên thế giới. Đây là một bài học mới cho Mỹ về CS Hà Nội trong cuộc chiến chống khủng bố. CS Hà nội coi vậy, chớ không phải vậy, mà còn tệ với Mỹ, còn chống Mỹ hơn vậy nữa.
Một, một thoáng nhìn lịch sử. Khi Mỹ kêu gọi thế giới liên minh chống khủng bố thế gìới. CS Hà nội là một trong những chế độ tuyên bố hưởng ứng đầu tiên - trước Phi luật Tân nữa - trong việc chia xẻ tin tức tình báo, bất động hoá kinh tài của đường dây khủng bố quốc tế Nhưng khi Mỹ đập rắn đập tận đầu, đổ quân đánh đổ Afgahanistan, Iraq, thì CS Hà nội bên ngoài không chánh thức chống nhưng cho tướng tá trù mạt Mỹ sẽ sa lầy, sẽ thua. Iraq của nhà độc tài Hussein vốn là nước CS Hà Nội bán rất nhiều gạo, "xuất khẩu" nhiều lao động đi làm "nghĩa vụ quốc tế.”
Hai, trong cuộc chiến chống khủng bố thế giới, Bắc Hàn CS là chế độ bị Mỹ liệt vào trục tam ác, Irab, Iraq, Bắc Hàn. Bắc Hàn CS còn là chế độ thách thức Mỹ trong vấn đề sản xuất nguyên tử và võ khí phi qui ưóc như hoả riển có mang đầu đạn sát hại tập thể có thể biến thành khủng hoảng ở Bắc Thái bình Dương. Từ lâu Mỹ đã cấm vận tài chánh đối vớ CS Bắc Hàn. CS Hà nội tỉnh bơ, âm thầm "tạo điều kiện dễ dàng" cho CS Bắc Hàn "hoạt động kinh tài". Theo phát giác nói trên phân nửa tổng số trương mục của CS Bắc Hàn mở tại các ngân hàng nhà nước của CS Hà Nội.
Ba, Mỹ muốn bao vây tài chánh của CS Bắc Hàn thì CS Hà Nội khai thông cho CS Bắc Hàn. Mỹ cấm tất cả các định chế tài chánh Hoa Kỳ không được giao dịch với ngân hàng của CS Bắc Hàn, kể cả ngân hàng Banco Delta Asia, bản doanh ở Macao để chống Bắc Hàn in và tung Đô la giả làm hại giá trị tiền tệ Mỹ. Mỹ can thiệp với các nước không cho CS Bắc Hàn giao hoán qua trung gian các ngân hàng để ngăn chận việc rửa tiền buôn bán lậu Đô la giả và vũ khí lậu. Kể cả đối với ngân hàng Bank of China của Anh Cả Đỏ Mỹ cũng yêu cầu phong toả toàn bộ các trương mục CS Bắc Hàn. Phong toả tài chánh của Mỹ khiến Bắc Hàn CS phải liên kết điều kiện giải quyết khủng hoảng nguyên tử Bắc Hàn với việc Mỹ gở cấm vận tài chánh cho Bác Hàn. Còn CS Hà nội thì chống lại, bí mật giải toả cho CS Bắc Hàn trên phương diện tài chánh,
Bốn, phân nửa số trương mục của tổng sô trương mục của CS Bắc Hàn, nội dung giao hoán chống lại mục tiêu Mỹ và còn hơn nữa. Mỹ chống CS Bắc Hàn rửa tiền bán Đô la giả do CS Bắc Hàn làm; Mỹ chống CS Bắc Hàn buôn bán lậu vũ khí. Thì CS Hà nội giúp Bác Hàn làm chuyến đó bắng ngân hàng.
CS Hà nội còn có thể chống Mỹ hơn nữa. Thói thường cái lớn làm được thì cái nhỏ làm được. Đầu xuôi thì đuôi lọt. Nếu ngân hàng nhà nước CS Hà nội đứng ra làm trung gian giao hoán cho việc rửa tiền buôn bán vũ khi lậu của Bắc Hàn cho Iran, Syria, Ethiopia được, thì việc chuyền tiền của của các nước Hồi giáo chống Mỹ giúp cho đường dây tổ chức khủng bố Hồi giáo cực đoan ở Nam Dương, Phi luật tân, và các nước Âu Mỹ chỉ là chuyện nhỏ. Năm, CS Hà nội không thể chối cãi gì được vì một sự thật rõ như ban ngày, là, trừ một ít chi nhánh ngân hàng ngoại quốc, tất cả ngân hàng ở VN là ngân hàng của CS Hà nội. Sự thật này người dân Việt đã biến thành chuyện cưòi xã hội chủ nghĩa. Cái gì cũng nhân dân, Ủy ban nhân dân, toà án nhân dân, nhựt báo Nhân dân, chỉ có ngân hàng là của nhà nước để ngạo thuộc tính và sở hữu quyền của Ngân hàng Nhà Nước VN. Trong chế độ CS ngân sách quốc gia, ngân sách đảng, tài liệu tài chánh công được liệt vào loại bí mật quốc gia. Huống hồ chi phó có tính gián điệp như chi phó hay giao hoán trung gian cho CS Bắc Hàn là điều CS Hà nội cố tình giữ bí mật, chắc chăn CS Hà Nội phải liệt vào hạng "tuyệt mật" quốc gia.
Bản tin không nói CS Hà nội đã "tạo điều kiện" cho CS Bắc Hàn bao lâu rồi. Nhưng chăc chắn không phải một ngày một bữa đâu. Nhưng cây kim dấu trong túi cũng có ngày lòi ra. Đây là vòi trong xương vòi ra. Như việc với một nhà tranh đấu cho dân chủ VN bị xét không sót một chút da lông nào trong cuộc " làm việc" với công an, nhưng Đài Phát Thanh Mỹ RFA vẫn có cuộn băng phát nhiều kỳ, làm CS tức nổ con mắt. Với phương tiện dồi dào của mật vụ tài chánh và CIA Mỹ, những thông tin rửa tiền, phá giá tiền Mỹ chuyển tiền cho kẻ thù, tiền bạc mua chuột để có được không thành vấn đề. Tin thêm, chính Thứ Trưởng Tài Chánh Mỹ đã bay đi Hà Nội nói "phải quấy" với CS.
Sáu, thói thường đi đêm có ngày gặp ma. Trời hại CS Hà nội, tin Hà nội giúp rửa tiền Đô la gỉa, buôn vũ khí lậu xì ra khi CS Hà Nội đang tăng cường nỗ lực vận động, o bế Washington để được qui chế thương mại bình thường vĩnh viễn hầu vào WTO trót lọt. Nhưng trong chánh trị, đôi khi có những bất bình thường. Biết đâu CIA có những hành động khác với bình thường. Như trong Chiến tranh VN, đại sứ Bunker, MACV ủng hộ chánh quyền TT Nguyễn văn Thiệu, mà CIA lại thường tạo điều kiện gíup đối lập vì người dân Mỹ không thể chấp nhận một chánh quyền không có đối lập. Công an cảnh sát càng tịch thu báo Tin Sáng, thì Dân Biểu Ngô công Đức chủ nhiệm càng giàu; báo được "bon" giấy của Juspao, vợ được thầu giặt quần áo cho Sư Đoàn Mỹ ở Hậu nghĩa; và cá nhân Ngô công Đức đi xe bảng số vàng chữ xanh thuộc ngoại giao đoàn của Mỹ, khỏi đóng thuế nhập cảng. Biết đâu trong vụ xì tin tài khoản CS Bắc Hàn ở VN này, chánh phủ ngầm của Mỹ muốn "hớp hồn" CS trước khi vào hay không muốn CS Hà nội vào WTO trước khi TT Bush đi Hà Nội dự hội nghi APEC hay trước khi TT Bush cáo lão qui điền.
Sau cùng, âu đây cũng là một bài học cho Mỹ về CS Hà nội và cho CS Hà nội về Mỹ. Để dọn mình vào WTO, CS Hà nội san định gần mấy chục đạo luật cho hợp với qui định vào WTO. Nhưng không có nghị định hướng dẫn thi hành. Đối với CS Hà nội nghi định hướng dẫn thi hành mới có giá trị chấp hành và cưỡng hành. Có khi có nghị định rồi vẫn không thi hành, dưa vào nguyên tắc "cấp ủy điạ phương lãnh đạo." Một viên chức trung ương bổ về mà Đảng Ủy đia phương, Ban Tổ chức Đảng, Ban Tổ chức Chánh quyền không "phân công" kể như ngồi chơi, xếp hàng chờ ngày thất nghiệp. Trong bang giao và giao thương, CS Hà nội cái gì cũng hứa, cũng ký, nhưng chỉ làm điều gì và khi nào có lợi cho họ thôi. CS Hà Nội hứa chia xẻ tin tức, giúp tiễu trừ khủng bố, phong toả tài khoản khủng bố nhưng chứa chấp tài khoản và giúp sinh hoạt kinh tài cho đại ác khủng bố CS Bác Hàn. Người Mỹ quá quen với dân chủ pháp trị, coi luật pháp, hiệp ước đương nhiên có giá trị. Đây là dịp để người Mỹ học thêm về CS Hà Nội.
Bangkok - thiên đường phẫu thuật chuyển giới

Diễn viên, người mẫu Harisu, người từng phẫu thuật để chuyển từ nam giới thành phụ nữ. Đối với những người cho rằng họ sinh nhầm giới, dịch vụ phẫu thuật chuyển đổi giới tính mà họ khao khát có thể dễ dàng tìm thấy tại thủ đô của Thái Lan. Kate Monroe-Gillibrand, 50 tuổi, đã có một cuộc hôn nhân kéo dài 20 năm. Trước đây, cô tên là Andrew và là cha của hai đứa trẻ. Giờ đây, Kate nằm trong bệnh viện và phục hồi sau phẫu thuật. Cô kéo tấm váy ngủ bằng lụa màu hồng để lộ ra chiếc ống dẫn tiểu. Người mẹ 73 tuổi và người yêu đứng cạnh cô, đầy vẻ tự hào.
"Thế là xong rồi và cuộc sống mới bắt đầu từ đây. Tôi sẽ không còn phải nói dối nữa", Kate nói.
Nhưng có lẽ trường hợp khiến người ta lạ lùng nhất là John Mark Karr, nghi phạm giết hoa hậu nhí của Mỹ, bị cho là chuẩn bị phẫu thuật chuyển đổi giới tính tại Bangkok.
Một bác sĩ cho hay, Karr đã đến bệnh viện thẩm mỹ Siam Swan và chi nhánh của họ tại Bangkok để tẩy râu bằng laser và chuẩn bị phẫu thuật chuyển giới. Karr hiện ở Los Angeles và chờ ngày ra tòa tại Colorado.Chi phí phẫu thuật chuyển giới tại Bangkok quá thấp nếu so với Mỹ và châu Âu và thành phố này tự hào về những bác sĩ danh tiếng nhất thế giới.
Bác sĩ Preecha Tiewtranon đã thực hiện hơn 3.000 ca phẫu thuật biến từ nam thành nữ suốt ba thập kỷ qua. Hầu hết các bệnh nhân của ông đã đi khắp nơi thế giới để điều trị và quyết định trước khi thực hiện ca phẫu thuật cuối cùng trước đó nhiều năm.
Preecha cho rằng có thể Karr đã không được bệnh viện thẩm mỹ chấp nhận bởi khách hàng phải ăn mặc giống phụ nữ và phải có ít nhất một thư giới thiệu của nhà tâm lý học.
Thông thường các bệnh nhân phải đặt chỗ trước và xét về mọi khía cạnh, họ đã là phụ nữ từ cách ăn mặc đến tâm lý, trừ cơ quan sinh dục, Preecha cho biết. Đa số bệnh nhân nước ngoài là từ Mỹ, sau đó là châu Âu và Australia và họ thường đi một mình.
Preecha thực hiện khoảng 200 ca mỗi năm và ước tính mỗi năm khoảng 1.500 ca được thực hiện tại Thái Lan.
"Các bệnh nhân mong mỏi được phẫu thuật và lý do lớn nhất khiến họ đến đây là chất lượng tốt, sau đó là giá rẻ hơn nhiều ở trong nước", Preecha cho biết.
Ca phẫu thuật đắt nhất trong bệnh viện của Preecha là tái tạo cơ quan sinh dục nam và chi phí là 9.500 USD, chỉ bằng một phần nhỏ so với ở Mỹ.
Tại bệnh viện đa khoa Pratunam, chi phí phẫu thuật chuyển giới là 1.625 USD. Bệnh viện nằm trong con phố đông đúc này cũng nhận làm mọi thứ, từ cắt dạ dày đến bơm ngực.
Cecilia Chung, Phó giám đốc trung tâm luật chuyển giới ở San Francisco, Mỹ, đã bay đến Bangkok cách đây 8 năm để gặp Preecha. Bà cho biết đã phải trả 8.000 USD cho ca phẫu thuật nhưng sau đó gặp phải một số rắc rối và phẫu thuật lại tại Mỹ.
"Châu Á vẫn là một trong những địa điểm được ưa chuộng của những người muốn phẫu thuật chuyển giới. Các bác sĩ Thái Lan luôn sẵn sàng và thủ tục cũng đỡ rắc rối, rồi giá cả cũng rẻ hơn, kể cả vé máy bay và khách sạn", Chung cho biết.( VNE)

Diễn viên, người mẫu Harisu, người từng phẫu thuật để chuyển từ nam giới thành phụ nữ. Đối với những người cho rằng họ sinh nhầm giới, dịch vụ phẫu thuật chuyển đổi giới tính mà họ khao khát có thể dễ dàng tìm thấy tại thủ đô của Thái Lan. Kate Monroe-Gillibrand, 50 tuổi, đã có một cuộc hôn nhân kéo dài 20 năm. Trước đây, cô tên là Andrew và là cha của hai đứa trẻ. Giờ đây, Kate nằm trong bệnh viện và phục hồi sau phẫu thuật. Cô kéo tấm váy ngủ bằng lụa màu hồng để lộ ra chiếc ống dẫn tiểu. Người mẹ 73 tuổi và người yêu đứng cạnh cô, đầy vẻ tự hào.
"Thế là xong rồi và cuộc sống mới bắt đầu từ đây. Tôi sẽ không còn phải nói dối nữa", Kate nói.
Nhưng có lẽ trường hợp khiến người ta lạ lùng nhất là John Mark Karr, nghi phạm giết hoa hậu nhí của Mỹ, bị cho là chuẩn bị phẫu thuật chuyển đổi giới tính tại Bangkok.
Một bác sĩ cho hay, Karr đã đến bệnh viện thẩm mỹ Siam Swan và chi nhánh của họ tại Bangkok để tẩy râu bằng laser và chuẩn bị phẫu thuật chuyển giới. Karr hiện ở Los Angeles và chờ ngày ra tòa tại Colorado.Chi phí phẫu thuật chuyển giới tại Bangkok quá thấp nếu so với Mỹ và châu Âu và thành phố này tự hào về những bác sĩ danh tiếng nhất thế giới.
Bác sĩ Preecha Tiewtranon đã thực hiện hơn 3.000 ca phẫu thuật biến từ nam thành nữ suốt ba thập kỷ qua. Hầu hết các bệnh nhân của ông đã đi khắp nơi thế giới để điều trị và quyết định trước khi thực hiện ca phẫu thuật cuối cùng trước đó nhiều năm.
Preecha cho rằng có thể Karr đã không được bệnh viện thẩm mỹ chấp nhận bởi khách hàng phải ăn mặc giống phụ nữ và phải có ít nhất một thư giới thiệu của nhà tâm lý học.
Thông thường các bệnh nhân phải đặt chỗ trước và xét về mọi khía cạnh, họ đã là phụ nữ từ cách ăn mặc đến tâm lý, trừ cơ quan sinh dục, Preecha cho biết. Đa số bệnh nhân nước ngoài là từ Mỹ, sau đó là châu Âu và Australia và họ thường đi một mình.
Preecha thực hiện khoảng 200 ca mỗi năm và ước tính mỗi năm khoảng 1.500 ca được thực hiện tại Thái Lan.
"Các bệnh nhân mong mỏi được phẫu thuật và lý do lớn nhất khiến họ đến đây là chất lượng tốt, sau đó là giá rẻ hơn nhiều ở trong nước", Preecha cho biết.
Ca phẫu thuật đắt nhất trong bệnh viện của Preecha là tái tạo cơ quan sinh dục nam và chi phí là 9.500 USD, chỉ bằng một phần nhỏ so với ở Mỹ.
Tại bệnh viện đa khoa Pratunam, chi phí phẫu thuật chuyển giới là 1.625 USD. Bệnh viện nằm trong con phố đông đúc này cũng nhận làm mọi thứ, từ cắt dạ dày đến bơm ngực.
Cecilia Chung, Phó giám đốc trung tâm luật chuyển giới ở San Francisco, Mỹ, đã bay đến Bangkok cách đây 8 năm để gặp Preecha. Bà cho biết đã phải trả 8.000 USD cho ca phẫu thuật nhưng sau đó gặp phải một số rắc rối và phẫu thuật lại tại Mỹ.
"Châu Á vẫn là một trong những địa điểm được ưa chuộng của những người muốn phẫu thuật chuyển giới. Các bác sĩ Thái Lan luôn sẵn sàng và thủ tục cũng đỡ rắc rối, rồi giá cả cũng rẻ hơn, kể cả vé máy bay và khách sạn", Chung cho biết.( VNE)

