Góc nhỏ của anh 3 Giang

Tung cánh chim tìm về mái trường xưa. Mong tìm bạn học cũ, nay ở đâu xin nhắn đôi lời!!!

Moderator: CNN

anhthu
Posts: 29
Joined: Sat Dec 11, 2004 11:05 am

Post by anhthu »

linhgia wrote:
anhthu wrote:Anh Giang va anh Dần ơi ,được anh Năng cho biết là các anh chị sẽ đên Melbourne ngày 14.10.06 này.AT rất tiếc là ngày đó tụi này đã book đi China rồi và sẽ có mặt tại Mel ngày 24.10.06.Không biết ngày đó các anh chị còn ở tại Mel nữa hay không?Nếu còn thì xin được mời các anh chị đi ăn trưa với tụi này.Hoặc nếu có thể các anh chị đổi ngày đi các tiểu bang kia trước sau đó hãy đến Mel.Rất mong được gặp các anh chị cũng như anh chị Năng,anh chị CNN và anh chị 3D tại Mel.Thân
AT
Thưa chi Anh Thư,

Lich trình chúng tôi đã nhất định rồi, không thể thay đổi được nữa, vì mua vé ON SALE, hơn nữa, con-trai của chúng tôi cư ngụ tai Brisbane, nen chúng tôi hoạch định sẽ đi ngược từ Melbourne, đến Sydney rồi đến Brisbane

Nếu sau khi anh-chị đi chơi Trung Hoa về, gia-đình chúng tôi rất hân hạnh được mời anh-chị và các bạn lên Brisbane dùng một bữa cơm thân mật, chúng tôi sẽ lưu trú tại Brisbane từ 23 October 2006 đến 11 November 2006 mới trở lại Hoa Kỳ

Rất mong được gặp tất cả các bạn Úc Châu tại Brisbane

Thân mến

Trinh Long Giang
Thật là tiếc không được gặp các anh chị lần Úc du này ,hy vọng là sẽ có ngày được gặp nhau.Thân AT

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

BỆNH NHẬU!

Gã Siêu

Một trong những chứng bệnh của phe đờn ông con giai, khiến cho quí bà quí cô nhiều khi phải nhăn mặt “âm thầm gậm nhấm nỗi đớn đau cô đơn” của mình, đó là chứng bệnh nhậu.

Để diễn tả nỗi đớn đau vò võ ấy, người ta đã nhái theo bài hát “Hòn vọng phu” như sau:

Bao nhiêu đêm cầm roi đứng đợi chồng về,
Bao nhiêu đêm vòng tay đứng nghe chồng thề.

Không hiểu bên Tây, người ta nhậu ra làm sao và nhậu theo phong cách nào ? Chứ còn tại Việt Nam, người ta nhậu ở mọi nơi, trong mọi lúc và với bất kỳ lý do nào. Vui cũng nhậu, buồn cũng nhậu và thậm chí muốn nhậu là nhậu, chẳng cần lý do nào sốt.

Vì vậy, phong trào nhậu cứ “liên tục phát triển” . Chả thế mà đất nước mình thuộc vào hạng nghèo rớt mùng tơi, nhưng lại có mặt đầy đủ những thứ bia nổi tiếng trên thế giới và hàng năm người ta sản xuất ra không biết bao nhiêu triệu lít bia.

Rồi trong những ngày gần đây tại Saigon, xuất hiện hàng loạt những “làng nướng”, làng “lẩu” …Cứ chiều chiều đi ngang qua những thứ làng này, mùi thịt thà cá mú bốc lên làm điếc mũi hàng xóm. Tất cả những điều ấy, gã đã có dịp trình làng. Riêng hôm nay, gã sẽ nhìn hiện tượng nhậu dưới góc độ của anh đờn ông cũng như của chị đờn bà, để rồi đi đến một kết luận cụ thể, đó là ta phải nhậu như thế nào cho đáng mặt mày râu.

Tuy nhiên, trước khi đi sâu vào chi tiết, gã xin đề cập tới vị sư tổ của trường phái nhậu, đó chính là Lưu linh. Theo sách vở thì Lưu linh tự là Bá luân, người đời Tấn. Ông thuộc nhóm “thất hiền” , tức là một trong bảy vị hiền tài ở Trúc lâm, tính tình phóng khoáng, thích uống rượu lại giỏi thơ văn. Ông đã để lại cho đời một bài thơ bất hủ, ca ngợi cốt cách phong lưu của việc uống rượu. Bài thơ ấy mang tựa đề là “tửu đức tụng” . Chả thế mà trong “Cung oán ngâm khúc” có câu :

Cờ tiên, rượu thánh ai bằng,
Lưu linh, Đế thích là làng tri âm.

Tục truyền trằng : vào một đêm trăng thanh gió mát, ông ngồi uống rượu và ngâm thơ với các “chiến hữu” trên một chiếc thuyền. Trong lúc cao hứng, ông đứng lên, loạng choạng bước tới mũi thuyền. Nhìn thấy vầng trăng lung linh dưới đáy nước mà cứ ngỡ là lơ lửng trên bàu trời, ông liền giang tay nhảy xuống ôm lấy trọn vầng trăng và bị thế là…dòng nước cuốn trôi. Từ đó cho đến nay, dân bợm nhậu vốn thường được gọi là đệ tử của Lưu linh và tôn ông làm sư tổ của mình. Nhiều người cho rằng :

- Đối với phần lớn đờn ông con giai, thì tình yêu đi vào trái tim thường phải rẽ qua ngả đường của bao tử. Điều đó chứng tỏ rằng anh đờn ông con giai nào cũng khoái ăn ngon. Thế nhưng, đồ ăn thịnh soạn mà thiếu chất cay cay để đưa mồi thì cũng hóa thành nhạt nhẽo như người xưa đã bảo :

- Cỗ không rượu như kèn không trống Thổi kèn mà thiếu tiếng trống thì chán mớ đời.

Chính vì vậy, rượu đã xuất hiện từ một thuở rất xa xưa và có mặt trên từng cây số nơi các dân tộc, từ đông sang tây, từ cổ chí kim và làm thành nét đẹp riêng của văn hóa. Chả thế mà trong ngành du lịch, người ta đã đưa ra chiêu bài nền “văn hóa ẩm thực” của dân tộc mình để thêm phần hấp dẫn hầu dễ bề móc túi du khách.

Gã không biết ai là người đầu tiên đã chế biến nên rượu. Thôi thì đành dựa vào Kinh thánh Kitô Giáo vậy. Theo sách Sáng Thế thì sau cơn đại hồng thủy, khi nước đã rút hết, thì Noah đã trồng nho và làm rượu. Ông cũng đã nhậu một chầu túy lúy với những xị rượu đầu tiên của mình. Và thế là chuyện nhậu được phổ biến và trở thành một tập tục của loài người. Hai tên bạn khố rách áo ôm lâu ngày gặp nhau, thế nào cũng phải làm xương xương với nhau vài táo. Các chính khứa hội đàm “mí” nhau và khi cuộc hội đàm kết thúc, thế nào cũng phải có màn chiêu đãi tiệc tùng. Cũng bởi lẽ ấy, mà các cụ ta ngày xưa đã bảo :

- Nam vô tửu như kỳ vô phong, có nghĩa là đờn ông con giai mà không biết uống rượu thì như cờ treo mà không có gió. Ủ rũ.

Gã xin ghi lại nơi đây tâm sự buồn của một anh con giai không biết nhậu, được đăng trên một tờ báo của giới kẹp tóc: :

“ Khi còn độc thân mỗi lần được bạn bè mời đi dự đám tiệc, tôi đều phải len lén chọn những bàn tập trung phái nữ và cũng chọn cho mình một loại thức uống giống y như họ là một chai...nước ngọt! Trong lúc bạn bè cùng “hệ” đang hí hửng với những ly bia vàng óng, sóng sánh bọt, tưng bừng hô vang “Zdoô, zdoô...” một cách hết sức sôi động, thì tôi chỉ biết cắm cúi gắp lấy gắp để cho đến món cuối cùng hầu được...ra về! Đến khi lập gia đình, điều kém nay mắn này lại càng được bộc lộ rõ ràng hơn.

Ngay vào ngày cưới, thường chú rể là người “bị” uống nhiều nhất. Hết bàn này đến bàn khác, hết người này chúc mừng đến người kia mời mọc. Mặc dù đã “tự nhủ lòng” phải kiềm chế tối đa để bảo đảm cho một đêm tân hôn...cực kỳ tỉnh táo, nhưng trước những lời chúc tụng quá ư chân thành của bạn bè, của bà con hai họ, tôi cũng ráng gồng mìn...uống, như để nuốt cạn từng lời chúc mừng chí tình chí nghĩa ấy!

Cho tới bàn cuối cùng, tôi chỉ còn nhớ được mang máng hình như có ai đó đã...vác tôi ra xe taxi rồi đưa về nhà trước khi tàn tiệc cưới! Đến khi giật mình tỉnh giấc đã là bảy giờ sáng của ngày hôm sau và điều chắc chắn rằng trong đêm tân hôn đó, chú rể vẫn còn là chú rể và tất nhiên cô dâu cũng vẫn còn là cô dâu, chẳng chút mảy may xây xước.

Đâu đã hết, điều kém may mắn ấy vẫn còn theo đuổi tôi cho đến bây giờ. Chẳng là gia đình bên vợ tôi rất đông người, bốn anh em trai cộng thêm với ba người anh cột chèo, vị chi là bảy người và ai cũng uống bia như uống...nước mía, chỉ lẻ loi mình tôi là “yếm thế”.

Những lúc giỗ tết, tôi chỉ còn biết ngồi khép nép bên vợ để được “che chở” khỏi bị ép uống...Có thể nhiều bà vợ cứ nghĩ chồng mình không biết uống rượu là một điều hạnh phúc, nhưng các bà đâu có thể hiểu hết được những “nỗi thẹn thùng” của các ông mỗi khi đụng chuyện. Đàn ông đàn ang như tôi mà không biết uống rượu quả đáng xấu hổ. Vì thế, nếu cho tôi một điều ước, tôi sẽ chẳng do dự nói ngay rằng : Phải chi tôi cũng biết...nhậu”.

Nếu như cô gái lỡ thời đã tâm sự :

- Không chồng khổ lắm chị em ơi!

Thì hẳn anh chàng này cũng phải lớn tiếng mà kêu lên :

- Không nhậu khổ lắm anh em ơi!

Đã vậy, nhiều lúc chẳng muốn nhậu mà cũng vẫn bị nhậu và bắt buộc phải nhậu, thì nào có khoái, có vui sướng gì cho cam. Dĩ nhiên ở đây gã không bàn tới những vị sáng say chiều xỉn tối lăn quay, thuộc hàng cao thủ võ lâm, bợm nhậu mãn tính hay dân ghiền hạng nặng, dám vỗ ngực tuyên bố :

- Thà bỏ...vợ còn hơn bỏ...nhậu.

Nhưng chỉ xin đề cập đến những đấng thường thường bậc trung, mỗi khi nhậu đều có những lý do chính đáng và lắm lúc có cả giấy phép của…bà xã nữa. Vậy tại sao những đấng ấy lại nhậu, hay nói một cách khác, những đấng ấy nhậu để làm gì ? Dựa vào một bài báo của giới phụ nữ, gã xin bổ túc và đưa ra những lý do khiến người ta nhậu một cách rất chính đáng.

Lý do thứ nhất, đó là phải nhậu thì mới có tiền.

Mới nghe qua lời phát biểu này thì thấy nó có vẻ vô lý, bởi vì theo luật kinh tế : càng đông vui thì lại càng hao. Nhậu miết thì thể nào cũng mắc chứng “viêm màng túi” kinh niên. Thế nhưng, nếu suy nghĩ một chút, gã thấy cũng đúng.

Có một anh bạn, chủ một doanh nghiệp tư nhân, vốn được xem là “chuyên gia” nhậu. Gọi điện thoại tìm anh ta thường được nghe con gái anh ta trả lời :

- Ba con đi nhậu rồi.

Vợ anh ta phải “thay” chồng quán xuyến công việc sản xuất , trông coi cơ sở kiêm luôn nghề...”chỉ điểm” :

- Anh ấy đang ngồi với ông nọ, ông kia ở quán...

Còn anh ta thì lại tâm sự :

- Nhậu hoài chán lắm, ở nhà với vợ con thích hơn, nhưng có nhậu mới ký được nhiều hợp đồng làm ăn. Hoàn tất hợp đồng, lời lỗ gì cũng lại…nhậu tiếp để kiếm hợp đồng mới, cứ thế mà nhậu quanh năm.

Có lẽ đúng như vậy. Thời buổi kinh doanh cạnh tranh khốc liệt, cơ sở của anh ta thì nhỏ, vốn ít nhưng đều đều có hợp đồng để làm, đủ trả lương công nhân, nhà xưởng, điện nước, thuế má và quan trọng nhất, đã nuôi sống cả gia đình bố mẹ, vợ chồng và ba cô con gái. Tuy rằng trong đó có công sức không ít của người vợ : hiểu chồng và giúp chồng.

Lý do thứ hai đó là nhậu để tỏ ra có tí quyền, tí chức và cũng bề thế như ai.

Một anh bạn khác, ngoài những tiệc nhậu ở nhà hàng được người ta mời, anh ta cũng thường tổ chức nhậu tại nhà với danh nghĩa là đám giỗ. Giỗ bên nội, rồi giỗ bên ngoại. Khách được mời toàn những nhân vật có “máu mặt”, thiên hạ nhìn vào phải nể phục sát đất quyền cao chức trọng của anh ta. Có lần người ta thắc mắc không biết là giỗ ai, hỏi ra mới hay :

- Giỗ người em họ của ông nội, mà khi mất mới có vài tuổi, gia chủ cũng chẳng còn nhớ tên là gì, nên chỉ gọi là giỗ...ông trẻ!

Lý do thứ ba đó là nhậu để thắt chặt tình bè bạn.

Như trên gã đã nói : hai tên bạn cũ lâu ngày gặp nhau thì chỉ cần làm mấy ly là sống lại biết bao nhiêu kỷ niệm êm đẹp của một thuở xa xưa. Hơn thế nữa, khi rượu đã ngấm vào lục phủ ngũ tạng, lúc bấy giờ các chiến hữu tha hồ mà “nổ”, sẵn sàng tỏ lộ tâm can tì phế của mình. Những chuyện không thể nói với bà xã, thì lúc này là lúc thuận tiện nhất để tuôn ra rông rổng cho các chiến hữu.

Nếu ở nhà : Nhất vợ nhì giời.

Còn bây giờ và ở đây : - Trời chỉ bằng cái vung, thì bà xã chắc chắn cũng chẳng là cái thớ gì cả.

Rượu mở mang trí hóa, giải bớt cơn sầu và làm cho tình nghĩa tuôn chảy tràn trề và lai láng khiến các chiến hữu sẵn sàng cảm thông, không phải chỉ chín bỏ làm mười, mà nhiều khi chín bỏ làm mười một mười hai không chừng. Và khi tới màn chót của vở kịch, các chiến hữu sẽ hôn nhau chùn chụt, hay ôm lấy nhau mà khóc thút thít, lâm ly bi đát hơn cả đờn bà con gái bội phần.

Sau cùng, lý do thứ tư đó là nhậu để nói cho thiên hạ biết rằng :

- Ta đây là loại đờn ông chính hiệu con nai vàng.

Thực vậy, bộ râu là dấu chỉ để phân biệt đờn ông đờn bà, như các cụ ta ngày xưa đã bảo :

- Đờn ông không râu bất nghì,

Đờn bà không vú lấy gì nuôi con.

Thế nhưng, ngoài bộ râu ra, việc nhậu cũng đã trở nên dấu chỉ để phân biệt đờn bà đờn ông. Sở dĩ như vậy vì dân nhậu hầu như toàn đờn ông, còn đờn bà hầu như chẳng thấy...nhậu bao giờ. Gã chỉ xin nói “hầu như” mà thôi, bởi vì cũng có những chị đờn bà uống rượu như hũ chìm và cũng có những chị đàn bà...mọc râu mọc ria, oai ra phết. Trong khi đó lại có những anh đờn ông chỉ biết “phá mồi” và cằm thì nhẵn nhụi trơn tru, có vác kính lúp ra soi cũng chẳng tìm thấy được một cọng râu.

Tuy nhiên, điều quan trọng hơn, đó là khi nhậu sừng sừng, người ta mới dễ bề tỏ ra mình là đấng “nam nhi đại trượng phu” . Gã tìm thấy trên báo đã nếu trên tâm sự của một anh bạn đi tìm “bản lãnh đờn ông” trong việc nhậu như thế này :

“Sau khi lấy vợ, nếu không đi nhậu, các chiến hữu cho rằng bây giờ tôi sợ vợ, “không xài được . Tự ái nổi lên, chứng tỏ ta đây không sợ ai hết. Thế là từ đó tôi luôn luôn sống trong tình trạng “ bạn nhậu một bên và em một bên” . Cho đến lúc vợ tôi “tuyên chiến” với nhậu, nàng luôn than vãn cằn nhằn, kêu ca, nổi giận bảo rằng thật bất hạnh khi kết hôn với một cái...hũ hèm, thì tôi thực sự hoảng hốt. Buồn quá, tôi lại tiếp tục tìm vui trong men nhậu.

Khi nhậu, tôi được các chiến hữu tung hô, được em út tôn sùng và nhiều thứ mà lúc tàn canh tôi không có được...Trong bàn nhậu tất cả đều bình đẳng, hơn thế nữa, nó giải tỏa biết bao buồn bực. Cùng lứa với tôi, bạn bè nhiều đứa đã giàu sang thành đạt, còn tôi vẫn cứ quèn. Nhưng trong bàn nhậu, “nhà ngói cũng như nhà tranh” , tôi cũng ngon như ai nếu biết chịu chơi và chịu chi...Vợ tôi cho rằng tôi là người yếu đuối, nhưng khi nhậu tôi thấy mình có đủ “bản lãnh đờn ông”.

Bản lĩnh đờn ông này được bạn cảm nhận khi ruợu đã thấm vào như sau :

1.- Bạn cảm thấy mình là người thông minh.

Ý kiến bạn hoàn toàn đúng và dĩ nhiên ý kiến kẻ khác hoàn toàn sai. Bạn sẵn sàng “nhả ngọc phun châu” với bất kỳ ai, về bất cứ đề tài nào, còn thiên hạ đang vểnh tai hướng tới bạn để lắng nghe. Rốt cuộc, sự cãi vã là điều không thể tránh khỏi khi mọi người đều...thông minh.

2.- Bạn cảm thấy mình là người giàu nhất trên thế giới

Thậm chí sãn sàng bao luôn bữa tiệc, hay mua thêm rượu mời mọi người cùng uống, bởi vì bạn luôn có sẵn một núi tiền. Đối với bạn, thân xác chỉ là cát bụi, danh vọng chỉ là mây khói và tiền bạc chỉ là...bùn đất mà thôi.

3.- Bạn cảm thấy mình là người gan dạ

Bạn sẵn sàng đánh nhau với bất cứ ai. Chỉ cần một lời nói trái tai, lập tức người ấy trở thành kẻ thù của bạn. Không một ai có thể đánh bạn phun máu đầu, bởi vì bạn không hề lùi bước trước bất kỳ đối thủ nào. Bạn là người gan dạ cơ mà. Khi đã xỉn rồi, bạn cứ giữa đường mà đi, mặc cho xe cộ thi nhau tránh. Thậm chí, bạn còn dám bò bằng “bốn chân” về nhà trước mặt vợ con và hàng xóm.

4.- Bạn cảm thấy mình là người lịch sự

Bởi vì bạn luôn mồn xin lỗi thiên hạ. Thậm chí khi bị va vào cột đèn sưng u cả đầu, thế mà bạn vẫn cứ đứng xin lỗi cho tới bao giờ cái cột đèn trả lời mới thôi. Có khi bạn xin phép chủ nhà để đi về tới mười lần mà vẫn luẩn quẩn chưa ra khỏi được phòng nhậu.

5.- Bạn cảm thấy mình là người rất cẩn thận

Thậm chí còn nhớ móc chân vào sườn xe đạp trước khi làm một giấc ngủ ngon lành ngay bên lề đường.

6.- Sau cùng, bạn cảm thấy mình là người có trí nhớ tốt

Bởi vì những việc tưởng chừng như đã qua đi từ đời tám tai ông Bành tổ, thế mà bạn vẫn nhớ và nhắc đi nhắc lại hàng chục lần, chỉ vì sợ kẻ khác quên hay không hiểu.

Những biểu lộ “bản lĩnh đờn ông” trên đây khi rượu vào, nếu ở mức độ trung bình thì tạo được một bàu khí vui vẻ và đôi lúc đem lại nét dễ thương, nhưng nếu đi tới chỗ thái quá, chắc chắn sẽ tạo nên những bất ổn, bởi vì :

- Rượu thì trắng, nhưng uống vào sẽ làm cho mặt đỏ và nhuộm đen tư cách.

Gã xin ghi lại nơi đây bài thơ của Đăng Châu :

Đêm qua anh đi nhậu về,
Đợi anh, em thấy tái tê cõi lòng.
Khi đi lịch sự đàng hoàng,
Khi về xất bất, xang bang phát rầu.
Nào đâu chiếc kính đổi màu,
Cái máy di động mua đầu mùa xuân.
Nào đâu cái mũ phớt đen,
Cái “dây bao tử”...mất luôn, khỏi tìm.
Nói ra sợ tiếng sợ tăm,
Van anh, anh hãy giữ thân giữ mình.
Như xưa anh vốn hiền lành,
Cứ ăn nhậu miết, riết thành hư thân.
Muốn cho vợ quí, con thương,
Van anh sớm bỏ con đường bê tha.
Đêm qua anh đi nhậu về,
Đàng hoàng lịch sự bay đi...rất nhiều.

Từ đó, gã tự hỏi : Phe đờn bà con gái sẽ nhìn hiện tượng nhậu như thế nào và sẽ nghĩ gì về kẻ say xỉn ?

Công bằng mà nói :

- Phe đờn bà con gái không uống rượu, nhưng lại rất khổ vì rượu.

Không cần nói ra thì ai cũng biết những hậu quả nghiêm trọng rượu đã gây nên. Nếu nhậu ở nhà thì mệt cho bà xã, vừa phải lo nấu nướng, lại vừa phải lo thu dọn. Chiến trường thật ngổn ngang và nồng nặc khi cuộc vui vừa tàn. May phúc nếu các chiến hữu còn tỉnh táo biết đường về và ông chồng leo lên giường ngủ một giấc. Bằng không, các chiến hữu cứ ngồi cù cưa, hát hỏng hay tâm sự còm với nhau, còn ông chồng lại quay ra quậy phá, chửi bới hàng xóm, đánh đập vợ con thì quả thật là hết nước nói.

Trái lại, nếu nhậu ở tiệm chắc chắn sẽ phải hao tốn giữa lúc kinh tế gia đình đang gặp nhiều khó khăn, đồng thời cũng không đảm bảo được sự trong sáng. Có giời mới biết. Ấy là gã chưa đá động tới những tai hại về sức khỏe, nhất là về hạnh phúc, bởi vì hầu hết các gia đình lục đục hay hục hặc với nhau phần lớn đều có chung một hiện tượng, đó là ông chồng say xỉn.

Một tác giả thuộc phe kẹp tóc, sau khi quan sát những biến động trong khu xóm, đã ghi nhận như sau :

“Có hai gia đình ly dị thì cả hai ông chồng đều là những hũ hèm, dù họ đều là những người có học, một ông kỹ sư và một ông phó giám đốc. Có ba phụ nữ góa bụa còn khá trẻ, thì ba người chồng của họ đều chết vì rượu.

* Một người chồng vì say, gây ra tai nạn giao thông bị chấn thương sọ não.

* Một người khác không say nhưng lại do một kẻ say tông vào anh, gây thương tích nghiêm trọng và anh đã mất ở bệnh viện.

* Một người chồng khác qua đời vì đã “tự tử dần” trong rượu, bởi vì rượu đã hủy hoại lá gan lẫn nhân cách của anh ta...

Và cho dù không gây ra điều gì nghiêm trọng chăng nữa, thì chẳng người vợ nào hứng thú khi ông chồng mỗi tối về nhà với bộ mặt đỏ gay, mồm sặc mùi rượu và “ấn tượng” hơn là còn nôn thốc nôn tháo. Một phụ nữ có đứa con đau ốm liên miên, chị bảo vì nó là “đứa con của tối thứ bảy” . Chồng chị hay nhậu mỗi cuối tuần và sau khi đã ngà ngà ông ấy liền tìm đến chị và kết quả là đứa con duy nhất của họ cứ oặt ẹo hoài…Một bà mẹ suốt đời quá khổ vì có ông chồng uống rượu, nên khi cô con gái xinh đẹp tới tuổi lấy chồng, có bao chàng trai theo đuổi, bà chỉ yêu cầu chàng rể tương lai một điều kiện duy nhất, đó là không uống...rượu”.

Theo một tài liệu thống kê mới đây của tờ báo Le Figaro thì hàng năm tại nước Pháp có tới 40.000 người chết vì rượu và rượu là nguyên nhân thứ ba gây nên tử vong, sau bệnh ung thư và các bệnh tim mạch. Vì thế, người Pháp không ngần ngại gọi rượu là chất ma túy độc hại.

Trước những hậu quả nghiệt ngã ấy, theo gã ghi nhận thì lập trường cánh đờn bà con gái được chia thành hai phe.

Phe thứ nhất là phe chống đối quyết liệ , nhất định không thỏa hiệp với nhậu. Phải dùng mọi biện pháp từ yêu thương đến cứng rắn khai trừ rượu cho bằng được. Chẳng hạn trong những dịp giỗ tết, phải giảm bớt lượng rượu tối đa, phải nghe ngóng và khi thấy có hơi men trong nhà, thì lập tức và kiên quyết dập tắt.

Phe thứ hai là phe nghĩ rằng : già néo thì đứt dây , trước một hiện tượng hiển nhiên không thể xóa bỏ được, đành phải tìm giải pháp sống chung với rượu. Cũng như đồng bào vùng đồng bằng sông Cửu long, năm nào cũng bị ngập nước, nên đành phải đưa ra những cách thế sống chung với lụt. Giải pháp này được một chị mô tả như sau :

“Không cho ổng đi thì không được, vì làm sao mà ngăn chặn. Tôi đành vớt vát : anh nhậu in ít thôi. Dĩ nhiên là tôi được nghe ổng hứa những lời ngọt ngào như rót vào tai : Ừ, anh biết rồi, chỉ phá mồi chứ uống có vài lon…"

Tranh thủ việc ổng còn biết nể vợ và nghe lời vợ mà tôi kềm bớt, giữ ổng ở nhà được bữa nào hay bữa nấy. Ví dụ có ai mời thì tôi lấy lý do sinh nhật con, kỷ niệm ngày gặp nhau, quen nhau, yêu nhau, cưới nhau...để tổ chức tại nhà cho ổng bớt đi. Thậm chí đến cả lần cãi nhau đầu tiên, tôi cũng tổ chức kỷ niệm bằng một bữa ăn thịnh soạn ngon lành. Thế mà cũng không giữ chân được ổng mọi nơi mọi lúc. Dù cứng tay chiều chồng, buộc được ổng ở nhà một tháng, thì con ma men trong người ổng ít ra cũng sổng hết một hai ngày.

Mà những ngày ấy thì ôi thôi không sao kể xiết. Nói ra thì ổng bảo : "Có phải ngày nào anh cũng đi đâu, có phải anh mèo mỡ gì đâu. Tiền lương anh nộp hết cho em. Lâu lâu mới nhậu một bữa thì phải cho anh nhậu lâu lâu chứ ? "

Chồng tôi vốn rất hiền và thương vợ, tuy lúc sỉn ổng có quậy, nhưng là quậy hiền, nên tôi vừa giận lại vừa buồn cười, vừa tức lại vừa thương mà chẳng thể nào bỏ ổng được. Bạn có biết không, ổng lấy cớ lâu lâu mới được vợ “thả” cho đi một lần, nên ông cũng thả giàn luôn, tới khi “lết bánh” mới về. Đến nhà, ổng dùng khổ nhục kế như tự đá vào vách, đập đầu vào tường...để mình thấy tội nghiệp, sợ ổng đau, trúng gió nên ráng mà lôi ổng vào giường để xoa dầu.

Vậy mà ổng còn làm eo, có chịu đi liền cho đâu. Cứ nằm ì ra đó...Đó là lúc xỉn chưa tới bến, chứ còn khi tới bến rồi, ổng mở cửa tủ mà tưởng mở toa lét, báo hại bao nhiêu quần áo đều bị ướt đẫm, phải mang đi giặt...Rối có mấy ông sang hơn nữa đổ bia vào giầy rồi thi nhau xem tên nào uống cạn nhanh nhất.

Rồi lại còn cái nạn chờ chồng, chỉ có những bà có chồng nhậu mới thấu hiểu. Chuyện mất tiền, mất xe, thậm chí cả tai nạn đâu phải là hy hữu. Mà đang vui, chẳng ông nào chịu điện thoại về một tiếng vì ngán bị bạn chê là sợ vợ, mà ổng cũng không muốn gọi vì ngán bị mình càm ràm làm ổng mất vui. Thà cứ xả láng đi rồi về chuộc lỗi sau vậy. Dù đang giận và đang tức, mà thấy ổng chân nam đá chân chiêu lò dò về đến nhà, ngã vật xuống đất, thì nỗi vui mừng đã chế ngự được bao nhiêu tức giận...Thôi thì giảm được chừng nào hay chừng nấy. Cũng đành chấp nhận giải pháp sống chung với rượu. Miễn là ổng biết hạn chế, biết yêu thương mình lúc tỉnh, thì mình cũng sẵn sàng chiều ổng mỗi khi ổng xỉn”.

Trước khi kết luận, gã xin kể lại một vài mẩu chuyện luợm lặt được trên báo chí thành Hồ để làm giảm bớt bầu khí căng thẳng.

Mẩu chuyện thứ nhất được gọi là “nụ hôn kinh hồn” . Đây không phải là là nụ hôn “cẩu xực” làm mất cái lỗ tai đối thủ của võ sĩ Mike Tyson trong một trận đấu quyền anh đầy tai tiếng. Mới đây ông Hai, một đệ tử Lưu linh, vì quá hứng trong một chầu nhậu đến “quỷnh cà ná”, đã ôm lấy ông Tư, người cùng xóm, tỉ tê tâm sự, rồi đột nhiên cắn một phát, tiện đứt cái lỗ tai của chiến hữu do tình cảm trào dâng như men rượu đế. Sau đó vì quá hối hận, ông Hai đã cầm dao chặt phăng ngón tay trỏ của mình để mong...chuộc lại lỗi lầm!

Mẩu chuyện thứ hai được gọi là “người có võ gồng” . Trong một bữa nhậu, khi đã xừng xừng, một anh bạn bèn nổ :

- Tao có võ gồng. Một khi đã gồng lên thì dao chém vào đều bật tung ra hết.

Thấy các chiến hữu không tin, anh ta bèn sắn áo lên, đưa ra một cánh tay gân guốc và bảo :

- Cho tụi bay thử.

Nghe vậy, một chiến hữa bèn vác dao làm liền. Phập một nhát, tay anh ta đầm đìa những máu. Và thế là anh ta hét toáng lên :

- Tao nói giỡn, tại sao tụi bay lại làm thật.

Từ những điều vừa trình bày, gã xin lặp lại câu hỏi :

Phải nhậu như thế nào cho đáng mặt mày râu ?

Theo gã nghĩ thì từ bản chất rượu không phải là điều xấu.

Các bác sĩ cũng nói :

- Uống ít rượu mỗi ngày, có thể làm giảm nguy cơ tim mạch.

Đúng vậy bên Tây bữa ăn nào cũng phải uống ruợu vang đỏ bất kể đờn ông hay đờn bà, ấy thế mà người Tây ít bị cholesterol và bệnh tim mạch đấy. Sở dĩ rượu dẫn tới những hậu quả xấu là do người uống rượu không biết kềm chế và không biết tự đặt cho mình những lằn mức, những giới hạn. Thực vậy, khi ngồi vào bàn nhậu, phải biết giữ lấy nhân cách của mình. Rồi lại còn phải biết khi nào nên uống, còn khi nào phải sì tốp. Và khi đã đủ, thì dù có bị mời mọc, cũng phải thôi và một giọt cũng không.

Một tác giả khác đã tóm lược như sau :

“Cái chính là người nhậu phải có “bản lãnh đờn ông”, biết lúc nào thì dừng lại. Hoàn cảnh gia đình mỗi người mỗi khác, nhưng tất cả đều phải nằm trong giới hạn cho phép. Mà người cấp phép lại chính là bà...vợ yêu quí của mình”.

Và như vậy :

- Mình phải làm chủ rượu, chứ đừng bao giờ để cho rượu làm chủ mình.



3G siêu tầm trên Internet

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Cười cho đời bớt khổ

[flash width=650 height=350]http://www.ladyskylar.com/swffiles/Brocolli.swf[/flash]


He he he he he he he

3G

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Tình ảo


Tình yêu qua mạng chỉ là những mảnh tình trăng gió hay thực sự nghiêm túc? Hãy cùng chuyên gia nghiên cứu nguy cơ ngoại tình Ruth Houston nói về vấn đề được coi là một trong những mối đe doạ hạnh phúc gia đình.


Ngày nay Internet trở thành “chốn đưa đẩy” tuyệt vời cho những kẻ “chán cơm thèm phở” tìm đến những mối tình thể xác. Thay vì phải ra ngoài tìm hiểu, chỉ cần vài lần click chuột, ai cũng có thể dễ dàng có “bạn” mới.

Lợi thế của những mối tình qua mạng là tính “bảo mật” cao vì chỉ cần một chiếc máy tính nối mạng, câu chuyện tình cảm sẽ tránh được sự nghi ngờ hay soi mói.

Đáng sợ hơn, khi chiếc máy tính được đặt ở một vị trí kín đáo, bạn sẽ luôn đinh ninh rằng, chồng/vợ mình đang say sưa làm việc mà không dám làm phiền.

“Tình ảo” có phải là lừa dối?

Đầu tiên, những người tình qua mạng đến với nhau bằng những cảm giác gần gũi, hay tâm lý muôn giãi bày tâm sự. Thế nhưng từ cảm xúc đến sự gần gũi thể xác cũng chẳng bao xa.

Phần lớn đàn ông không coi “tình ảo” là lừa dối. Nhưng quan điểm của phụ nữ thì ngược lại. Một khảo sát trên tạp chí “Divorce” cho biết, trong khi chỉ có 46% nam giới cho rằng mối quan hệ qua mạng là không nghiêm túc thì con số này ở nữ giới là 76%.

Không gian ảo, tình thật

Nhiều người đặt ra câu hỏi có nên xem tình yêu qua mạng là nghiêm túc khi nó không bị ảnh hưởng bởi vấn đề tình dục.

Thực tế, thứ tình cảm này giống như một hiểm hoạ vì chúng ta rất khó mà xác định mọi sự sẽ đi tới đâu.

Trong gần chục năm qua, nhóm luật sư của tập đoàn Fortino cho biết, 1/3 số vụ ly hôn và ly thân xuất phát từ lý do ngoại tình qua mạng.

Cứ nghĩ là “ảo”, nhưng thành thật không hề khó khăn. Một số nghiên cứu đã khẳng định quan hệ qua mạng và quan hệ tình dục trong thế giới thực gần trong gang tấc.

50% số người trò chuyện qua mạng đã tiến đến liên lạc bằng điện thoại. 30% thì từ gửi thư qua mạng tiến đến nói chuyện điện thoại và gặp gỡ riêng tư. 31% từ nói chuyện qua mạng đã tiến thẳng đến việc quan hệ tình dục trong thực tế.

Dấu hiệu nhận biết “tình ảo”

Anh/cô ấy vốn không bao giờ thức khuya nhưng gần đây đêm nào cũng ngồi hàng giờ trên máy tính hay tỉnh giấc từ sáng sớm để lên mạng, đấy cũng là một biểu hiện.

Máy tính dạo này được đưa vào vị trí mà người đứng ngoài không thể quan sát hay lại bị đặt mật khẩu mà bạn không biết. Ngoài ra cũng nên xem xét những biểu hiện bất thường khác.

Qua mạng chúng ta có thể có những tình bạn vô hại. Nhưng khi mạng đã trở thành một thế giới thứ hai tồn tại song song với thế giới thật thì những cám dỗ là không tránh khỏi.


Hãy bảo vệ hạnh phúc gia đình trước mối nguy tưởng như “ngớ ngẩn” mà vô cùng nghiêm trọng này.



Gziang Gzia Gzich lụm được trên Internet

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Xem phim ngày thứ hai

Con cháu SVSQ Võ Bị Đalat

Enjoy

Trinh Long Giang

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Một đời sống không căng thẳng

Monday, September 04, 2006

Yến Tuyết

Hiện nay, có rất nhiều người cho rằng họ đang sống trong một đời sống quá căng thẳng vì phải chạy đua với thời gian cho dù họ không muốn, hoặc không có ý muốn tạo ra nó.

Người Mỹ khi gặp mặt nhau hay hỏi thăm “How are you?” (bạn thế nào, có mạnh khỏe không?) Và câu trả lời thông thường là: “Fine” - Khỏe. Thế nhưng, bây giờ thì người ta nghe thấy những câu trả lời đại loại như “bận quá” hay “bận như điên”.

Thật ra cái lối sống bận rộn này diễn ra một cách âm ỉ và có vẻ như khó tránh được phải không bạn? Thế thì chúng ta phải làm sao để đối phó với nó đây? Chẳng lẽ không có cellphone nữa? Từ chối việc lái xe chạy đưa con đi đánh banh, học nhạc hay luyện thi SAT? Không cắt cỏ nữa? Không dọn dẹp nhà cửa hay tham dự mấy buổi gặp mặt hỗ trợ bệnh nhân bị bệnh ung thư vì không còn thì giờ nào hết cả! Chẳng lẽ lại nói không với cô chủ khi cô ta giao thêm việc vì sở làm thiếu nhân viên do một số người mới bị nghỉ việc?

Thế nhưng chúng ta cũng biết rằng, đời sống bận rộn quá sẽ làm hại chúng ta mà thôi! Nó sẽ gây ra sự căng thẳng và làm cho chúng ta mất sự kiểm soát chính cuộc đời mình, gây ra bệnh tật, tạo nên những lầm lỗi hay tai nạn, khiến cho những người lễ độ trở nên khó chịu và trên hết mọi điều là làm giảm hạnh phúc của đời sống.

Một bài báo của Bác Sĩ Tâm Lý Edward M. Hallowell trên tờ Ladie's Home Journal sẽ hướng dẫn cho chúng ta những phương cách để giảm bớt căng thẳng.

Ông Hallowell nói rằng những người bận rộn và đa đoan công việc nghĩ rằng giải pháp hay nhất cho vấn đề này là xếp đặt mọi việc cho có trật tự. Có một vài người cho biết việc tổ chức một chương trình ngăn nắp cho đời sống mang lại kết quả tốt cho họ. Thế nhưng, việc sắp đặt đời sống cho trật tự hơn vẫn không phải là giải pháp hay ho nhất để giảm sự căng thẳng. Giống như một người mập phì xuống cân rồi mà vẫn cảm thấy đau khổ. Nghĩa là, cho dù bạn nghĩ là mình kiểm soát được đời sống mình vì có óc tổ chức, bạn vẫn cảm thấy căng thẳng vì có quá nhiều công việc phải hoàn tất như thường.

Theo ông Hallowell thì cái cảm giác mất tự chủ chỉ có thể biến mất đi một khi bạn thay thế nó bằng một thái độ hay cảm xúc lạc quan. Những liên hệ có ý nghĩa sẽ giúp bạn quên bớt đi những bận rộn và lo âu của đời sống. Bạn nên chọn một sự liên hệ nào đó mà bạn cảm thấy có ý nghĩa cho chính mình: có thể là người nào đó, nơi chốn để đi đến, sinh hoạt thể thao hay âm nhạc, thú vật, hương về tâm linh, hội họa, đan móc, làm thủ công và nuôi dưỡng chúng một cách bền bỉ.

Vấn đề là làm sao với một thời khóa biểu bận rộn của đời sống mà bạn vẫn dành thì giờ đến thăm viếng ông bà, vẫn đi uống cà phê với bạn, đi chơi xa vào cuối tuần với người bạn đời, tập thể dục? Thế nhưng việc chọn lựa và thực hiện chúng được hay không mới là vấn đề để nói tới ở đây phải không bạn?

Những lời hứa hay cam kết với chính mình cũng giống như những đóa hoa ở trong ngôi vườn của bạn, nếu bạn trồng quá nhiều thì chúng sẽ không phát triển một cách mạnh mẽ và tươi tốt. Thế cho nên bạn phải chọn một số trong này bằng cách cho phép mình bỏ bớt đi một số liên hệ nào đó gồm có cả con người và sinh hoạt.

Thật vậy, bạn phải chọn một số người để liên hệ mà thôi bởi vì bạn không thể có thì giờ cho tất cả bạn bè và người quen. Một khi cái số người liên hệ này quá rộng lớn thì bạn sẽ không còn thấy vui thích nữa mà chỉ còn lại sự mỏi mệt. Việc chọn lọc những người để liên hệ có vẻ làm bạn trở thành một người khó tính, thế như trên đường dài thì lại làm cho mọi người được thoải mái và vui vẻ hơn.

Cho dù đời sống của bạn có vẻ bận rộn và căng thẳng đến cỡ nào đi nữa, sau đây là những bước bạn có thể áp dụng để tạo thêm thời gian và thư giãn;


1/ Dứt bỏ những gì làm cho bạn mất thì giờ


Sống trong một thế giới điện tử như bây giờ, hầu hết mọi người đều bị bệnh mê say dán mắt vào những cái màn ảnh như TV hay computer. Mỗi đồ vật này có vẻ như giúp bạn để nới rộng sự giao thiệp, mở mang kiến thức thế nhưng chúng cũng dễ chiếm mất những thì giờ quý báu mà bạn có thể dành cho những chuyện khác có ý nghĩa hay các sự liên hệ giá trị hơn.

Khi con bạn đã đi ngủ, việc nhà đã xong xuôi, hoặc bạn sẽ dán mắt vào màn ảnh TV để xem một phim truyện nào đó, hoặc sẽ ngồi trước cái máy computer mà thật ra không phải để thưởng thức mà chỉ vì bạn không dứt chúng ra được.

Bạn hãy cố tìm ra một việc gì khác để bỏ thói quen này đi. Chỉ có bạn mới là người biết thói quen xấu để thay đổi thái độ, hành động và môi trường mình đang sống trong đó. Thí dụ như vặn đồng hồ báo cho bạn biết là thời gian bạn dùng computer đã quá một giờ đồng hồ rồi và bạn nên đứng dậy đi làm việc khác.


2/ Soạn thảo kế hoạch


Ða số chúng ta thường muốn làm nhiều việc trong một lúc và khó mà hoàn tất chúng một cách hoàn hảo.

Có phải đôi khi có một ý tưởng nào đó chợt lóe ra trong đầu bạn làm bạn miên man suy nghĩ về vấn đề đó và không chú tâm vào việc mình đang làm không? Thí dụ như đang lái xe hay đang nấu ăn, tự nhiên nhớ đến món quà sinh nhật bạn quên mua hay là cái bill tiền điện bạn chưa trả. Thế là bạn lo âu và lái xe loạng quạng hay bỏ nhiều muối quá vào món cà ri đáng lẽ xuất sắc của bạn.

Việc bạn cần làm ngay để giải quyết mấy cái ý tưởng “vụt đến không biết từ đâu” này là nhắc bạn thực hiện điều đó vào lúc nào và ra sao. Chứ không phải chỉ tự hứa suông là mình sẽ lo chuyện đó sau một cách không rõ ràng. Có như thế bạn mới có thể vơi đi những lo âu được.


3/ Thắng sự hối tiếc


Cho dù nhiều khi trong một ngày bạn chạy lui chạy tới để lo cho xong một công việc đáng lẽ cần đến cả hai ngày để hoàn tất, vậy mà nhiều khi bạn vẫn còn hối tiếc là phải cho mình có thì giờ để làm hơn vậy nữa. Cũng giống như những cảm xúc đau khổ khác, suy nghĩ này không giải quyết được gì cả, bởi vì bạn biết thừa đi rằng làm vui lòng tất cả mọi người, hay hoàn tất mọi sự việc là điều khó có thể thực hiện vì thời giờ và sức người chỉ có giới hạn.

Bác Sĩ Hallowell đề nghị chúng ta nến giới hạn những gì mà mình muốn thực hiện. Dành thì giờ cho việc gì quan trọng nhất và nếu bạn cảm thấy ân hận vì không làm được việc gì khác thì hãy nhớ rằng nếu ôm đồm quá nhiều, bạn sẽ không làm việc gì ra hồn cả vì không chú tâm vào việc đó 100%. Bạn sẽ tự làm cho mình căng thẳng, mất kiên nhẫn và không có hiệu quả.

Lập ra một số điều lệ về những sinh hoạt nào mình có thể tham gia hay không. Chẳng hạn như bạn sẽ tự cho phép mình chỉ tham dự một hội thiện nguyện mà thôi. Mình sẽ dành thời giờ buổi tối cho gia đình hay cho chính mình mà thôi như đọc sách, nghe nhạc, tâm sự với người bạn đời hay thăm hỏi con cái. Sẽ gọi điện thoại thăm hỏi cha mẹ hai lần một tuần vào tối Thứ Hai hay Thứ Sáu trong tuần.


4/ Sống ngăn nắp


Giữ cho nhà cửa và phòng làm việc thứ tự và ngăn nắp có thể giúp bạn làm việc dễ dàng hơn, thế nhưng điều đó không có nghĩa là bạn trở nên một con người không biết uyển chuyển cho phù hợp với tình thế.

Khi mà trước mắt bạn là mấy đống giấy tờ bừa bộn, nhà cửa vô trật tự thì dĩ nhiên bạn sẽ cảm thấy khó chịu, do đó, nên xếp đặt chúng cho ngăn nắp thì bạn sẽ dễ làm việc và bớt cau có hơn.


5/ Làm những việc mà mình thích bất cứ khi nào mình có thể thực hiện chúng


Sự vận động khiến cho ý tưởng được tập trung và làm cho những bắp thịt được thư giãn. Khi người ta làm một việc gì họ thích thì họ thường hoàn tất việc đó dễ dàng và có kết quả hơn. Trái lại, một người sẽ từ chối một công việc mà họ không làm giỏi. Thế cho nên, bạn chỉ nên nhúng tay vào việc gì mà thứ nhất bạn thấy thích, thứ hai vì thích cho nên bạn hay làm. Thứ ba, vì hay làm việc ấy thường xuyên nên bạn trở nên giỏi. Thứ tư, vì làm giỏi hơn nên bạn càng thích thực hành để hay hơn nữa. và sự thúc đẩy làm việc này khiến bạn sẽ chú tâm vào những khía cạnh khác của đời sống. Ý tưởng của bạn sẽ trở nên sắc bén hơn và trong sáng hơn, nhờ vậy bạn có thể đối phó với những đời hỏi của thời khóa biểu bận rộn trong một ngày của bạn.


6/ Hãy chậm rãi lại một chút


Bạn vẫn hay bắt đầu một ngày của mình bằng sự mất kiên nhẫn, bạn nôn nóng khi phải chờ đợi rút tiền ở ngân hàng hay dừng xe ở ngã tư. Bạn khó chịu khi thấy một người nào đó nói quá chậm. Bạn ghét người bồi bàn vì anh ta không nhanh nhẹn, cho dù bữa ăn chính là lúc mà người ta dành thì giờ cho nhau để nói chuyện, chứ không phải chỉ để ăn uống. Hình như càng ngày sự nhẫn nại càng trở nên khó khăn hơn trong đời sống hiện tại, trong khi chính sự kiên nhẫn giúp bạn suy nghĩ chín chắn hơn.

Hãy dừng lại và tự hỏi chúng ta là “tại sao phải vội vã và việc gì làm cho bạn vội vã?”

Bạn chạy khắp mọi nơi rất nhanh, cố gắng hoàn tất mọi thứ trong một thời gian ngắn khiến cho bạn không thể làm một việc gì cho thật tốt đẹp cả, trái lại, chúng còn làm cho bạn khổ sở và căng thẳng nữa.

Hãy nên nhớ rằng sự vội vã chính là kẻ thù của bạn.



(Y.T.)

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Lý Thuyết Tam Duy


B.S Hồ Chung Tú



Cho hạnh phúc lẫn đau thương của nhân loại

CĂN BẢN LÝ THUYẾT

Vũ trụ biến động không ngừng. Đơn vị vũ trụ như tế bào, con người, gia đình, xã hội, quốc gia, thế giới cũng biến động không ngừng. TAM DUY gồm DUY LÝ (DL), DUY VẬT (DV), DUY TÂM (DT), tác động trên mỗi đơn vị vũ trụ cũng liên tục thay đổi. Một khi đạt được quân bình TAM DUY, đơn vị vũ trụ phát triển điều hoà; bất quân bình TAM DUY sẽ đưa đến xáo trộn, huỷ diệt. Sống thuận hoà theo quân bình, biến động TAM DUY, loài người sẽ đạt được hạnh phúc, thế giới sẽ bình yên.

TÌM HIỂU VỀ THẾ GIỚI HỒI GIÁO

Khoảng 600 năm sau khi Thiên Chúa Giáo ra đời, Hồi Giáo thành hình do Muhammad sáng lập. Cho đến nay, tín đồ Hồi Giáo chiếm khoảng 22,3% tổng số tín đồ khắp thế giới; Thiên Chúa Giáo chiếm khoảng 41,9%, Aán Độ Giáo (Hinduism) chiếm 16,8%, Phật Giáo chiếm 7,3%. Phần còn lại là Lão Giáo, Khổng Giáo, Do Thái Giáo.

Tưởng cũng nên biết là tổng số tín đồ khắp thế giới có vào khoảng 4,2 tỉ trên tổng số dân khắp thế giới khoảng 4.4 tỉ. Điều nầy cho ta thấy sự quan trọng của tôn giáo trong đời sống của nhân loại, nhất là Thiên Chúa Giáo, Hồi Giáo, kế đến là Aán Độ Giáo và Phật Giáo.

MUHAMMAD LÀ AI?

Ông sinh ra ở Meca thuộc bán đảo Á Rập vào năm 570, mồ côi lúc 6 tuổi, không biết đọc hay biết viết. Lúc đó, dân ở Meca thờ rất nhiều thần. Ông có dịp tiếp xúc với tín đồ Thiên Chúa Giáo và Do Thái Giáo. Giáo điều của hai đạo nầy ảnh hưởng đến niềm tin và đạo đức của ông.

Đến năm 40 tuổi, ông tin là ông được Thượng Đế giao sứ mệnh truyền những giáo điều của Thượng Đế đến cho dân Ả Rập. Mỗi năm, nhiều người đến đền thờ thân ở Meca hành hương đã giúp gia tăng buôn bán dịch vụ ở Meca. Việc truyền giáo của Muhammad có thể gây ảnh hưởng làm giảm số người hành hương nầy và giảm dịch vụ buôn bán ở Meca, cho nên ông đã bị chống đối kịch liệt. Sợ bị ám hại, ông và những người theo ông phải trốn sang Medina năm ông 52 tuổi. Dân ở Medina nghe ông truyền giáo, tôn sùng ông như là người có sứ mệnh mang những điều của Thượng Đế đến cho dân.

Tám năm sau, Muhammed cầm đầu đội quân trở về chiếm Meca. Phá huỹ đền thờ các thần ở Meca. Việc làm nầy khiến cho nhiều dân Ả Rập tin ông là sứ thần (Prophet, messenger) hùng mạnh của Thượng Đế. Chỉ hai năm sau khi ông chết, phần lớn dân Ả Rập đã chấp nhận Đạo Hồi. Hồi Giáo (Islam) theo tiếng Ả Rập có nghĩa là phục tùng theo mệnh lệnh của Thượng Đế.

KINH KORAN, THÁNH KINH CỦA HỒI GIÁO

Thánh kinh của Hồi Giáo là Koran, có nghĩa là lời thuật lại. Người Hồi Giáo tin Koran gồm những giáo điều của chính Thượng Đế truyền lại cho Muhammad. Như chúng ta đã biết, Muhammad trước có tiếp xúc và chịu ảnh hưởng bởi tín đồ Do Thái Giáo và Thiên Chúa Giáo nên kinh Koran có nhiều quan điểm và giáo điều tìm thấy trong Thánh Kinh và Tân Ước Torah. Ông dạy phải kính trọng tín đồ Thiên Chúa Giáo và Do Thái Giáo. Người Hồi Giáo tin Muhammad là sứ thần cuối cùng của Thượng Đế sau Abraham và Jesus.

Giống như Thiên Chúa Giáo, Muhammad nói Thánh Kinh Koran là để dẫn dắt loài người. Kinh Koran ban đầu được viết bằng tiếng Ả Rập. Lúc sau nầy, kinh Koran được dịch ra các ngôn ngữ khác. Thánh Kinh Koran phối hợp Kinh Cựu Ước và Kinh Tân Ước. Người Hồi Giáo phải theo 5 điều răn quan trọng nhất:

1. Phải lập lại: "Không có thần nào khác ngoài Thượng Đế và Muhammad là sứ thần của Thượng Đế".

2. Sùng bái 5 lần mỗi ngày, quay mặt về Meca, nơi sinh ra của Muhammad nhìn thấu được các giáo điều Hồi Giáo trong Kinh Thánh Koran.

3. Cho tiền bạc, đồ ăn cho người cần đến.

4. Nhịn ăn trong tháng chín của lịch Hồi Giáo; đây là tháng mà Muhammad nhìn thấu được các giáo điều Hồi Giáo trong Thánh Kinh Koran.

5. Nếu có thể, phải đi hành hương về Meca tối thiểu một lần trong đời.

Những điều Thánh Kinh Koran răn dạy:

1. Không dùng những hình tượng người hay sinh vật.

2. Cấm rượu chè, cờ bạc.

3. Không ăn thịt heo, được xem là không tinh khiết.

4. Không nói láo, ăn cắp, ngoại tình, giết người. Giết người phải đền mạng. Nếu giết người vì tai nạn thì phải bồi thường cho thân nhân.

5. Cho phép dùng nô lệ trong vài trường hợp. Nhưng Hồi Giáo khuyên nên giải phóng nô lệ. Nếu dùng nô lệ, phải đối xử với nô lệ nhân đạo. Muhammad làm gương bằng cách giải phóng nô lệ của ông.

6. Kinh Koran cho phép lấy 4 vợ và phải đối đãi với 4 vợ ngang nhau.

7. Kính trọng cha mẹ, che chở kẻ mồ côi, goá phụ. Giúp đở bố thí cho kẻ nghèo nhưng không được đem tài sản bố thí mà không kể gì đến người thân.

8. Koran ca ngợi đức tính có niềm tin Thượng Đế, lòng nhẩn nại, khoan dung, lương thiện, cần cù, danh dự, can đảm, đại lượng.

9. Ngày nghĩ lễ là ngày sinh của Muhammad.

10. Muhammad còn nhấn mạnh sự quan trọng của sự chiến đấu cho niềm tin. Ai chết vì niềm tin trong trận chiến sẽ được Thượng Đế ban phước khi lên Thiên Đàng.

11. Koran lên án tính nóng, tàn bạo, không lương thiện.

12. Chủ gia đình phải đối đãi với những người trong gia đình thân thiện, công bình. Vợ có quyền chống lại chồng đối xử ngược đãi.

Hồi Giáo dạy rằng đời sống trên cõi trần gian là giai đoạn thử thách và chuẩn bị cho đời sống vĩnh viễn sau khi chết. Thiên thần trên Thiên Đàng ghi nhận những điều xấu hay tốt của mỗi người. Chết là cửa ngõ để sang một thế giới vĩnh viễn. Người làm điều tốt sẽ có sổ ghi bên tay mặt; người đó sẽ được lên Thiên Đàng. Kẻ làm điều xấu, có sổ ghi bên tay trái; người đó sẽ xuống địa ngục, sẽ bị hành hạ như được ghi trong Thánh Kinh của Thiên Chúa Giáo.

CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA HỒI GIÁO

Hồi Giáo không sùng bái Muhammad như Thiên Chúa Giáo sùng bái Jesus; không có hệ thống chức sắc trong đạo; không tôn thờ hình tượng. Trong các buổi lễ với Thượng Đế, chỉ có những người biết về đạo hướng dẫn buổi lễ. Ngày thứ Sáu của họ giống Jewish Sabbath và ngày Chủ Nhật của Thiên Chúa Giáo. Họ lau sạch mặt, tay, chân. Người chủ lễ quay mặt về hướng Meca, những người khác đứng sau lưng. Họ lập lại những giáo điều của Koran và ca tụng Thượng Đế, rồi khom lưng, quỳ xuống, áp mặt xuống đất.

SỰ BÀNH TRƯỚNG CỦA HỒI GIÁO

Khi Muhammad chết năm 632, lúc ông chỉ có 62 tuổi, quyền lãnh đạo được truyền cho bố vợ rồi bạn. Những người nầy gọi là Caliph, có nghĩa là kẻ kế vị sứ giả của Thượng Đế. Các Caliph tiếp tục chiếm đất đai, lập thành Đế Quốc Hồi Giáo. Chỉ trong vòng 100 năm, sau khi Muhammad qua đời, Đế Quốc Hồi Giáo mở rộng khắp bán đảo Ả Rập, sang tận Miền Tây Ấn Độ, Ai Cập, Palestine, Iran, Iraq, Bắc Phi Châu, chiếm Tây Ban Nha từ Đế Quốc Byzantine. Họ can trường ở trận chiến, nhưng trở nên khoan dung khi chiến thắng. Kẻ bại trận hoặc phải theo Hồi Giáo hoặc phải đóng thuế, nếu không muốn chết. Ai chịu đóng thuế thì sẽ giữ lại được đạo của mình.

SỰ TRANH CHẤP CỦA HỒI GIÁO

Vì sự tranh chấp, Hồi Giáo bị chia ra làm nhiều phái, mà hai phái chính là:

Một phái tin chỉ có Thánh Kinh Koran là trung gian giữa Thượng Đế và tín đồ; phái thứ hai tin một người, thay vì Thánh Kinh Koran làm gạch nối này: Người đó sẽ có uy quyền lãnh đạo tôn giáo và lãnh đạo cả chính quyền. Sự tranh chấp phe phái nầy vẫn kéo dài đến ngày nay.

NỀN VĂN MINH HỒI GIÁO

Hồi Giáo xây dựng được một xã hội ổn định trong đế quốc rộng lớn Hồi Giáo. Caliph nắm quyền lãnh đạo cả về tôn giáo, quân sự, dân sự. Trong cơ cấu chính quyền đó, văn minh Hồi Giáo phát triển mạnh về kinh tế, giao thương, nghệ thuật, khoa học, toán, y khoa...Hồi Giáo biết tận dụng và phối hợp kiến thức về khoa học và triết lý của Hy Lạp, La Mã và Á Châu. Ảnh hưởng của nền văn minh nầy lan rộng sang Aâu Châu.

VÌ SAO ĐẾ QUỐC HỒI GIÁO SUY ĐỒI VÀ TAN RÃ?

Tranh chấp quyền hành xảy ra, Caliph lúc đầu được bầu, sau trở thành cha truyền con nối. Từ đó đưa đến việc tranh chấp quyền kế vị. Đế quốc bị chia làm ba vùng gọi là Caliphats: Baghdad, Cairo, Cordova, được lãnh đạo bởi 3 vị Caliph khác nhau. Sau ba trăm năm hưng thịnh từ 700 đến 1000, ngoại xâm bắt đầu tấn công vào Đế Quốc Hồi Giáo. Người Mông Cổ đã phá huỹ các trung tâm văn hoá ở Baghdad, giết chết đến 5 triệu người.

Năm 900, Seljuk Turks, Byzantine, Crusades và các tranh chấp nội bộ của Ả Rập làm xáo trộn cả vùng Đông Địa Trung Hải. Năm 1453, Ottoman, Turks chiếm Constatinople, chiếm Đế Quốc Byzantine và cả Đế Quốc Hồi Giáo, lập thành Đế Quốc Ottoman.

TAM DUY

Tóm lại, cả ba tôn giáo, Do Thái Giáo, Thiên Chúa Giáo và Hồi Giáo đều tôn thờ chung một Thượng Đế, đều có chung những giáo điều về đạo đức, nhưng Hồi Giáo hình thành một cách đặc biệt, giúp Hồi Giáo tránh được những khó khăn mà hai tôn giáo kia gặp phải: Người sáng lập Hồi Giáo Muhammad chỉ trong vòng 8 năm đã phối hợp được DT và quyền của quân đội DL để tấn công Meca, chiếm đất DV lập cơ sở cho Hồi Giáo với đầy đủ ba yếu tố DL, DV, DT.

Do Thái Giáo mặc dầu ra đời trước, nhưng vì tin rằng Thượng Đế chỉ có yêu thương và che chở người Do Thái, không ai có thể đại diện Thượng Đế, nên Do Thái đã bị La Mã tấn công, bị vua và nhân dân Aâu Châu chống đối. Do Thái không đạt được DV vì vua và chánh quyền không chấp nhận Do Thái nên Do Thái xem như không có đất dung thân; không đạt được DT vì tranh chấp quyền lực tinh thần với vua và chánh quyền. Do Thái vẫn tiếp tục tranh đấu gần 2000 năm để giành lại cho được mảnh đất Palestine DV, tạo cho được chính quyền DL, để tạo được thế quân bình TAM DUY.

Thiên Chúa Giáo cũng gặp khó khăn vì Jesus nhận là con Thượng Đế, đưa đến việc tranh chấp uy quyền thần thánh với vua La Mã, nên bị La Mã tấn công giống như Do Thái. Cho mãi đến khi được chính quyền chấp nhận đạt được DV vì Thiên Chúa Giáo đã được chấp nhận vào mảnh đất La Mã và đạt được DT vì đã được nhận là tôn giáo chính. Kể từ đó, Thiên Chúa Giáo bắt đầu phát triển và bành trướng bởi vì Thiên Chúa Giáo chủ trương Thượng Đế cứu giúp mọi người nên được dân chúng ở xứ người chấp nhận: Thiên Chúa Giáo đã đạt được DV-DL ở vùng đất mới một khi được chính quyền ở nước mới chấp nhận.

NHỮNG NÉT ĐẶC BIỆT CỦA HỒI GIÁO

Vì Muhammad đạt được cả ba yếu tố DV-DL-DT, cùng lúc với việc tiến chiếm mở rộng lãnh thổ, nên Hồi Giáo như là một tôn giáo duy nhất trong lãnh thổ của Hồi Giáo, tránh được việc tranh chấp với các tôn giáo khác.

Chết cho niềm tin Hồi Giáo sẽ được ban phước lên Thiên Đàng nên người lính chiến đấu hăng say, giúp Hồi Giáo dễ chiến thắng.

Giới lãnh đạo Hồi Giáo và Chính Quyền là một, tránh được sự tranh chấp quyền lực giữa chính quyền và tôn giáo. Cho nên sự kết hợp DL, DV, DT thành TAM DUY càng chặc chẽ, cơ cấu lãnh đạo càng bền chặc.

Vì những ưu điểm trên, Hồi Giáo đã đạt được quân bình TAM DUY vững chắc nên Hồi Giáo phát triển nhanh chóng. Chỉ sau hơn 20 năm, kể từ ngày Muhammad bắt đầu truyền đạo, hầu hết dân Ả Rập đã chấp nhận Hồi Giáo.

Cấp lãnh đạo nắm quyền kiểm soát cả tôn giáo, quân đội, và dân sự. Từ đó Hồi Giáo đã phát triển kiến thức về kinh tế, giao thương, nghệ thuật, khoa học, toán, y khoa; phối hợp được kiến thức của Hy Lạp, La Mã, Á Châu và áp dụng các kiến thức đó để đem lại hạnh phúc cho dân Hồi Giáo

Đương nhiên, nắm quyền lãnh đạo cả tôn giáo DT, lẫn chính quyền DL, sẽ đưa đến độc tài và từ đó đưa đến sự bành trướng quyền lực, rồi tranh chấp quyền lực và dẫn đến sự chia rẽ giữa các Caliph; giữa phe chủ trương chỉ có Thánh Kinh Koran là trung gian giữa Thượng Đế và tín đồ với phe chủ trương Caliph là mối trung gian đó. Sự độc tài cai trị, độc tài lãnh đạo tôn giáo và toàn bộ guồng máy dân sự đã làm suy giảm khả năng sáng tạo và phát triển của mỗi cá nhân, của xã hội và quốc gia (y như sự độc tài của cộng sản đã dẫn đến sự ngu muội và chết đói).

"Chết cho niềm tin trong trận chiến sẽ được Thượng Đế ban phước khi lên Thiên Đàng..." còn là mối nguy cơ đưa đến cuồng tín, người Hồi Giáo đã quên rằng Thựơng Đế tái tạo con người để phụng sự cho nhân loại và bảo vệ bản thân tránh khỏi sự huỹ diệt một cách vô lý. Con người là vốn quý, chỉ có con người tồn tại thì tôn giáo mới tồn tại. Nếu ai cũng nghĩ lấy cái chết để được lên Thiên Đàng thì tất cả loài người chỉ muốn chết thì còn ai để truyền giáo và còn ai đòi làm Thần Thánh và Thiên Sứ của Thượng Đế. Con người luôn tự mâu thuẩn với chính mình, mâu thuẩn với chính những điều răn của kinh thánh. Do đó, con người luôn chìm đắm trong đau khổ, chết chóc và tranh chấp triền miên. Chính vì lẽ đó mà Đế Quốc Hồi Giáo đã tan rã và suy đồi.

Tương quan giữa tôn giáo DT, và chính quyền DL là tương quan hổ tương, ảnh hưởng lẫn nhau. Tức đó là mối tương quan hổ trợ và tương kính một cách quân bình. Sự xâm phạm lẫn nhau giữa tôn giáo và chính quyền, giữa DT và DL sẽ làm TAM DUY mất quân bình sẽ đưa đến sự xáo trộn xã hội.

Tương quan TAM DUY còn là tương quan biến động. Những giáo điều của tôn giáo DT và cơ cấu quyền lực DL phải được liên tục điều chỉnh, sửa đổi cho phù hợp với sự biến động của xã hội trong tiến trình chung của loài người. Tôn giáo để phụng sự nhân loại chứ không làm cản trở bước tiến của nhân loại.

B.S Hồ Chung Tú

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Khám nghiệm một “hồn ma”


Trần Trung Đạo

Giới lãnh đạo đảng cộng sản có thể không tin có ma nhưng có biệt tài tạo ra ma, ma thật, ma giấy, ma anh hùng, ma phản động, ma Trường Sơn, ma Côn Đảo, ma theo nghĩa đen và ma theo nghĩa bóng, ma trong chiến tranh và ma của thời bình. Cửa hàng tổng hợp của đảng trưng bày đủ loại ma, đủ kiểu ma. Lịch sử loài người cho đến nay, chưa có một đảng chính trị nào tạo ra được nhiều ma hơn đảng cộng sản. Đừng nói chi xa xôi, chỉ riêng lãnh tụ cộng sản Pol Pot, một thời là đàn em thân thiết của Hà Nội, sau khi nắm quyền đã biến gần một nửa nước ra ma. Riêng tại Việt Nam, tài năng của giới lãnh đạo Đảng không chỉ dừng lại ở chỗ tạo ra ma mà còn làm cho cả nước, từ một em học sinh trung học (ngoại trừ em Nguyễn Phi Thanh) cho đến nhà trí thức học nhiều hiểu rộng, từ các cô gái ở Trại Phục hồi Nhân phẩm Thủ Đức cho đến các ông bà đại biểu Quốc hội, đều sợ ma.

Trong tất cả con ma mà Đảng vẽ ra, hung dữ nhất, tội lỗi nhất, đáng ghê tởm nhất và đe doạ đến “độc lập, tự do, hạnh phúc” của dân tộc Việt Nam nhất là “ma Việt Nam Cộng hoà”. Trong suốt 31 năm qua, “ma Việt Nam Cộng hoà” là hiện thân của mọi thứ tội ác trên đời.
Qua nét vẽ của Đảng, “hồn ma Việt Nam Cộng hoà” có ba đặc điểm lớn nhất là “tham nhũng”, “trấn áp” và “ôm chân đế quốc Mỹ”.

Trước hết bàn qua về tham nhũng. Tham nhũng là sâu mọt của xã hội, dù là xã hội chìm đắm trong chiến tranh trước 1975 hay chịu đựng trong “độc lập, tự do, hạnh phúc” sau 1975, dù là quan chức thuộc chính quyền miền Nam sống nhờ bằng viện trợ Mỹ ngày xưa hay cán bộ đảng viên trong thời kỳ độc tài cộng sản như hiện nay.

Miền Nam trước 1975 có tham nhũng không? Chẳng những có mà còn vô cùng trầm trọng.

Mười lăm năm trước, những ngày máu trong người tôi còn rất nóng, giống như một ông đồ trẻ, mỗi năm đến dịp 30 tháng 4, tôi thường viết một bài thơ. Bài thơ năm 1992 là một bài thơ dài, ngôn ngữ chất đầy những căm giận, hằn học dành cho những thành phần tham nhũng thối nát đã từng lãnh đạo miền Nam, và dĩ nhiên cũng không quên hàng ngũ lãnh đạo cộng sản độc tài đang thống trị cả nước sau 1975. Tôi gọi chung cả hai là những tập đoàn bán nước.

Đoạn đầu của bài thơ dành cho giới lãnh đạo tham nhũng miền Nam, tôi ghi lại cảnh chen lấn trước cổng toà đại sứ Mỹ:

… Khi những chiếc trực thăng
Sắp sửa rời thành phố
Trong đám người bon chen lố nhố
Tôi thấy dường như nhiều con chuột cống Sài Gòn
Cũng cố kiếm đường đi
Chúng cõng trên mình những chiếc va-li
Chứa đầy đô-la vàng bạc
Dành dụm từ thời đi buôn gạo lậu
Giấu diếm từ thời lo bão lụt miền Trung
Tôi thấy chúng nghiêng mình
Hai gối run run
Trước những anh cảnh binh người Mỹ
Chúng nói gì tôi nghe không kỹ
Chỉ thấy họ lắc đầu
Rồi bước vô trong
Có lẽ lại là chuyện hối lộ để được đi đông
Ngoài chuyện ấy chúng còn biết gì hơn nữa
Tôi đứng nhìn qua đôi cánh cửa
Cầu mong cho chúng được đi mau
Những con chuột cống nầy
Gặm nhấm đã lâu
Và bán nước từ khi còn rất trẻ
Thuở Tây qua chúng đầu quân rất lẹ
Tây bỏ đi chúng theo Mỹ vì tiền
Những chuyện về chủ nghĩa quốc gia hay dân tộc thiêng liêng
Chúng đọc biết bao lần nhưng chưa hề hiểu nghĩa
Tôi đứng nhìn qua đôi cánh cửa
Thầm cầu mong cho chúng được đi nhanh…

Ngoài tôi ra, hình như chưa có ai đọc toàn bài thơ này trước công chúng. Một phần vì khá dài, phần khác vì không muốn đụng chạm, nhưng quan trọng hơn ít người muốn khơi lại những điều mà họ cho là tiêu cực đã qua. Bạn bè có người còn nhắc tôi nên chuẩn bị vài cái kho để chứa mũ vì theo họ tôi chỉ trích giới lãnh đạo tham nhũng miền Nam còn nặng hơn các nhà thơ cộng sản. Tôi không quan tâm điều đó. Tôi đọc bài thơ bất cứ khi nào tôi có dịp, lần đầu tại Đại học North Carolina State và sau đó tại những thành phố, cộng đồng, tổng hội sinh viên mà tôi đã đến thăm. Tôi cũng không quên in bài thơ trong tập thơ đầu tay của tôi, Đổi cả thiên thu tiếng mẹ cười, xuất bản cuối năm 1992 ở San Jose, California. Vẫn biết quá khứ là một câu chuyện buồn đáng quên đi nhưng tôi không chủ trương xấu che tốt khoe. Không thể chỉ đổ thừa những điêu tàn đổ nát trong chiến tranh hay sự thất bại của chính quyền miền Nam cho Mỹ. Từ một người dân thường đến ông tổng thống, từ mỗi người lính đến mỗi ông tướng, nếu biết thành thật với lương tâm, biết sửa đổi nếu sai lầm, đất nước sẽ còn có cơ hội tốt đẹp hơn. Ngạn ngữ Tây phương có một câu rất hay: “Sự thật là chính sách tốt nhất”.

Tôi đã ngồi ở đó, trong nhà thờ ở khu Tân Sa Châu trong những ngày sôi sục của Phong trào Nhân dân chống Tham nhũng năm 1974 và lắng nghe các lãnh đạo của phong trào đọc bản tuyên cáo số 1 mở đầu bằng câu nói của Mạnh Tử: “Vua coi dân như chó ngựa thì dân coi vua như thù nghịch”. Sau khi tuyên cáo được đọc xong, tôi và bạn bè đứng dậy vỗ tay lớn đến nỗi một vị linh mục đã phải bước xuống chỗ chúng tôi nhắc nhở không nên vỗ tay trong nhà thờ. Ngoài ra, bao nhiêu tội tham nhũng của những cấp lãnh đạo miền Nam từ trung ương đến địa phương được tiết lộ qua các phóng sự điều tra của báo chí Sài Gòn về các tệ nạn buôn gạo, bán tôn, lính ma, lính kiểng, con ông cháu cha, đã làm tôi ghê tởm.

Tôi đã sống ở đó, trong giờ phút hấp hối của Sài Gòn, đứng nhìn cảnh các ông quan lớn của chế độ chen lấn nhau vào cửa toà đại sứ Mỹ, cảnh những chiếc trực thăng lần lượt rời thành phố bỏ lại sau lưng bao nhiêu đồng đội, anh em, những người mà 24 giờ trước đó họ đã thề nguyền sống chết. Tôi đã chứng kiến buổi sáng ngày 29 tháng 4, bên này cầu Tân Thuận, góc Ngã Tư Bảy Hiền, những người lính dù, biệt động quân với viên đạn cuối cùng trong nòng súng vẫn cố gắng giữ những gì còn giữ được mà không biết rằng trong giờ phút đó cựu Phó Tổng thống của họ đang nhâm nhi lon bia lạnh trên chiến hạm Hoa Kỳ. Tôi đã đứng ở lan can nhà nhìn đêm tự do cuối cùng của thành phố thân yêu, xa xa vẫn còn vài chiếc trực thăng nã những tràng đại liên vào các đơn vị cộng quân đang thắt chặt vòng vây dọc ven đô trong lúc các tư lịnh của họ đang lần lượt an toàn đáp xuống các phi trường trên đất Thái.

Đó là những thể hiện của “hồn ma Việt Nam Cộng Hoà” mà bộ máy tuyên truyền của Đảng Cộng sản dùng để chỉ chế độ chính trị tại miền Nam trước 1975. Từ một học sinh mới bắt đầu tập đọc cho đến một ông tiến sĩ, từ các chú “tân cán binh” đang ngồi trong trường đại học cho đến các bác “cựu cán binh” tóc đã bạc màu đều hiểu giống nhau như thế. Tôi chẳng những không tranh cãi mà còn góp phần tố cáo tội trạng của “hồn ma” đó và làm những gì có thể làm được để ngăn không cho “hồn ma” đó sống lại. Nhiều người cho rằng vì thiếu 300 triệu viện trợ đặc biệt nên chính quyền miền Nam sụp đổ, nhưng với tôi, cho dù Mỹ có viện trợ thêm 3 tỉ đô la đi nữa, rồi miền Nam cũng mất thôi. Miền Nam, với nhiều nhà lãnh đạo tham nhũng, thiếu tầm nhìn xa, chỉ biết sống trong xa hoa trên mồ hôi nước mắt của đồng bào, trên máu xương của đồng đội, rơi vào tay cộng sản là một điều không thể nào tránh khỏi.

Nhưng “hồn ma” đó có phải là Việt Nam Cộng hoà (VNCH) không? Cho đến nay, một số người hoặc vì không có cơ hội nghiên cứu sinh hoạt chính trị tại miền Nam, không phân biệt được sự khác nhau giữa chính quyền và chế độ chính trị hoặc vì nghe riết những lời tuyên truyền của Đảng đến độ nhập tâm, đã đồng hoá chính quyền của các ông Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu, Dương Văn Minh với VNCH.

Khác với tình trạng tham nhũng hiện nay phát xuất từ trong tim trong máu của chế độ chính trị tập trung quyền lực, bản chất và giá trị đích thực của VNCH không nằm trong các hiện tượng tham nhũng vừa nêu, không nằm trong tay ông Thiệu, ông Kỳ, mà nằm trong hiến pháp dân chủ nhất của vùng Đông Nam Á. Lời mở đầu của Hiến pháp 1967 do chủ tịch Quốc hội Lập hiến Phan Khắc Sửu ký ngày 18 tháng 3 năm 1967, xác định Việt Nam là một chế độ cộng hoà “Dân chủ độc lập, thống nhất, lãnh thổ bất khả phân, chủ quyền thuộc về toàn dân” phát xuất từ “Ý thức rằng sau bao năm ngoại thuộc, kế đến lãnh thổ qua phân, độc tài và chiến tranh, dân tộc Việt Nam phải lãnh lấy sứ mạng lịch sử, tiếp nối ý chí tự cường, đồng thời đón nhận những tư tưởng tiến bộ để thiết lập một chánh thể cộng hoà của dân, do dân và vì dân, nhằm mục đích đoàn kết dân tộc, thống nhất lãnh thổ, bảo đảm Độc lập Tự do Dân chủ trong công bằng, bác ái cho các thế hệ hiện tại và mai sau.”

Ngoài phần mở đầu hùng hồn nêu trên, chuyên chở trong suốt 9 chương và 117 điều của Hiến pháp 1967 là nền tảng của chế độ cộng hoà, qua đó, quyền lãnh đạo đất nước như chỉ rõ trong điều 3, do ”Ba cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp phải được phân nhiệm và phân quyền rõ rệt. Sự hoạt động của ba cơ quan công quyền phải được phối hợp và điều hoà để thực hiện trật tự xã hội và thịnh vượng chung trên căn bản Tự do, Dân chủ và Công bằng xã hội”.

Hiến pháp 1967 tốt đẹp đến nỗi ông Lý Quý Chung, trong Hồi ký không tên, xuất bản tại Sài Gòn trước ngày ông qua đời, dù chê bai các chính quyền miền Nam tàn tệ, cũng không thể nói xấu bộ luật tối thượng của chế độ cộng hoà như một diễn đàn để ông ta thực thi dân chủ: “Quốc hội lập hiến kéo dài một năm đã cung cấp cho tôi một môi trường học tập đấu tranh chính trị tại nghị trường và từ diễn đàn này, tôi cũng có cơ hội bày tỏ công khai qua mạng lưới báo chí Sài Gòn các quan điểm của mình đối với chính quyền, đối với các vấn đề dân chủ, chiến tranh, hoà bình v.v…” Trong suốt 30 năm ở lại Sài Gòn, với tư cách nhà báo, không biết ông Chung đã có bao nhiêu cơ hội để “bày tỏ công khai” “các vấn đề dân chủ, chiến tranh, hoà bình” như ông đã làm thời VNCH?

Về căn bản, không có nhiều khác biệt giữa Hiến pháp VNCH 1967 và Hiến pháp Nam Hàn 1948 được tu chỉnh lần cuối vào năm 1987. Cả hai hiến pháp đều dựa trên chế độ cộng hoà, phân quyền rõ rệt, thích hợp với đà tiến hoá của văn minh nhân loại. Dân chủ không phải là món quà của ông thần tài đem đặt ngay trước cửa nhà mà là chiếc máy lọc từ nước đục sang nước trong, từ phong kiến lạc hậu đến văn minh tiên tiến, và trong quá trình đó hai quốc gia VNCH và Nam Hàn, đều đã phải trải qua những kinh nghiệm máu xương trên con đường dân chủ hoá đất nước. Giống như miền Nam Việt Nam, Nam Hàn cũng có đảo chính, ám sát, độc tài, quân phiệt, lệ thuộc vào Mỹ, nhiều sư đoàn quân Mỹ đóng dọc biên giới, và giống như người dân Nam Hàn, người dân miền Nam Việt Nam cũng vừa học dân chủ và vừa tập sống dân chủ với tất cả những khó khăn thử thách. Bao nhiêu điều đáng tiếc đã xảy ra bắt đầu từ các chính biến 1960, 1963 cho đến các cuộc đảo chánh, chỉnh lý nhiều năm sau đó. Mặc dù trải qua một giai đoạn đầy biến cố cộng với các chính sách của Mỹ thay đổi quá nhanh trong một thời gian ngắn, các giá trị dân chủ vẫn như ngọn hải đăng giúp giữ con thuyền chính trị miền Nam không nghiêng đổ, không lạc hướng cho đến khi các cuộc tổng tấn công dồn dập của nhiều chục sư đoàn quân cộng sản với vũ khí vượt trội do hai đế quốc cộng sản Liên Xô, Trung Quốc và các nước cộng sản Đông Âu cung cấp. Và 12 giờ 10 phút, ngày 30 tháng 4 năm 1975, cây dân chủ vừa mới đâm chồi trổ lá ở miền Nam đã bị những chiếc tăng T54 xô ngã.

Cơ hội là điểm khác nhau chính giữa Nam Hàn và Nam Việt Nam. Nam Hàn có cơ hội để biến những ước mơ của dân tộc Triều Tiên gói ghém trong hiến pháp của họ để ngày nay là nước giàu mạnh nhất nhì châu Á. Miền Nam Việt Nam thì không. Chế độ cộng hoà tại miền Nam Việt Nam ra đời và lớn lên trong một hoàn cảnh chiến tranh tàn khốc, trong đó các nguyên tắc dân chủ đã trở thành con dao hai lưỡi. Chính con dao dân chủ hai lưỡi đó đã đâm vào thân thể của chế độ cộng hoà hàng trăm vết thương đau đớn từ ngày mới ra đời cho đến gục xuống trong tức tưởi. Hãy hỏi các ông các bà dân biểu Hồ Ngọc Nhuận, Kiều Mộng Thu, Phan Xuân Huy v.v. còn đang sống ở Việt Nam, ai đã ban cho các ông bà đó quyền bất khả xâm phạm của dân biểu để xuống đường, để gián tiếp hoạt động nội thành cho cộng sản? Hãy hỏi các “lãnh tụ sinh viên”, các chuyên viên biểu tình gây rối trong thành phố, ai đã bảo vệ, che chở cho các anh, các chị dù biết các anh chị hoạt động dưới sự chỉ đạo của Thành ủy Sài Gòn Gia Định? Câu trả lời mà một người có hiểu biết chính trị căn bản nào cũng biết, đó là Hiến pháp VNCH. Các anh chị còn sống sót đến hôm nay cũng nhờ hiến pháp đó. Đảng Cộng sản Việt Nam độc diễn và trấn áp không phải 4 năm như ông Thiệu mà 31 năm liên tục, các anh chị thử ném một trái bom xăng vào trụ sở Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản xem sao?

Các cấp lãnh đạo cộng sản đã triệt để lợi dụng Hiến pháp VNCH để cài người vào hoạt động công khai ngay giữa lòng chế độ. Ngày nay, các tài liệu của Đảng đều xác nhận hoạt động của các phong trào chống đối chính quyền VNCH chẳng phải là tự phát chống bất công, độc tài, độc diễn gì mà đều được đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thành ủy Sài Gòn Gia Định, như báo Phụ Nữ ngày 21 tháng 8 vừa qua khoác lác về các hoạt động thuộc phái nữ của họ: “Được sự chỉ đạo của Mặt trận Dân tộc Giải phóng khu Sài Gòn-Gia Định và Ban phụ vận Thành ủy, có sự phối hợp nhịp nhàng với các tổ chức công khai và bán công khai của thành phố như các nghiệp đoàn, Đoàn nữ Phật tử, Tổng hội sinh viên, Tổng đoàn học sinh... Hội bảo vệ nhân phẩm và quyền lợi phụ nữ phát triển nhanh chóng, tập hợp rộng rãi, đông đảo nhiều tầng lớp phụ nữ, từ giới trung lưu, lôi cuốn cả những chị em là viên chức trung và cao cấp của chính quyền Sài Gòn, cả vợ các sĩ quan cao cấp trong chính quyền Mỹ Thiệu, cả giới nữ công nhân, tiểu thương…”

Trong cương vị điều hành một thành phố mà buổi tối thì “Đại bác đêm đêm dội về…” và ban ngày thì “Dậy mà đi, ai chiến thắng không hề chiến bại, ai nên khôn không khốn một lần…” thì chính quyền phải làm gì? Phản ứng tự nhiên của bất cứ một giới chức nào có trách nhiệm giữ gìn anh ninh trật tự xã hội là đem xe cây và vòi rồng đến dẹp. Không chỉ miền Nam trước đây mà ngay tại những nước dân chủ lâu năm như Canada, Mỹ, Anh, Pháp, đốt một chiếc xe cũng có thể làm cho các anh chị vào tù dù chiếc xe bị đốt là xe của anh chị, đừng nói chi là xe của nhà nước hay xe của người khác. Miền Nam có tất cả sắc thái của một xã hội dân chủ đang từng bước đi lên. Miền Nam có đàn áp chính trị nhưng cũng có đấu tranh chính trị, có ông quan tham nhũng nhưng cũng có nhiều phong trào chống tham nhũng hoạt động công khai, có ông tướng lạm quyền nhưng cũng có ông tướng trong sạch, có nghị gà nghị gật nhưng cũng có những chính khách, dân biểu, nghị sĩ đối lập chân chính. Nếu trước 1975, vì thiếu cái nhìn về cả hai bên của cuộc chiến và bức xúc trước xã hội nhiễu nhương, việc kết án chính quyền là “trấn áp” có thể còn thông cảm được, thế nhưng sau 31 năm sống dưới chế độ độc tài đảng trị tàn bạo gấp triệu lần hơn vẫn có kẻ biện minh cho hành động đốt xe, bắt cóc, ném bom xăng vào thương xá, ném lựu đạn vào nhà hàng ăn uống thì quả thật là vô cảm.

Đặc điểm thứ ba Đảng tuyên truyền là miền Nam chỉ biết “ôm chân Mỹ”. Tôi đã viết về vấn đề này nhiều lần. Thật mệt mỏi nếu lại phải lần nữa đem so sự lệ thuộc vào Mỹ của chính quyền miền Nam và sự lệ thuộc vào Liên Xô, Trung Quốc của Đảng Cộng Ssn và cũng chẳng sướng ích gì khi phải đọc lại bảng kê khai vũ khí, quân trang, quân dụng mà hai đế quốc cộng sản đổ xuống Việt Nam. Cho dù sự lệ thuộc vào cường quốc là điều không tránh khỏi trong thế giới phân cực của thời kỳ Chiến tranh Lạnh vừa qua thì chọn lựa cường quốc nào sẽ mang lại nhiều lợi ích cho đất nước hơn? Lịch sử đã chứng minh một cách hùng hồn, hầu hết các nước chọn lựa hay do điều kiện chính trị thế giới đẩy đưa, đã đứng về phía tự do dân chủ như Nhật Bản, Tây Đức, Nam Hàn, Đài Loan, Ai Cập, Thổ Nhĩ Kỳ v.v. đều trở nên các quốc gia ổn định và phát triển nhờ chính sách đối ngoại thân Mỹ một cách khôn khéo, trong lúc các nước theo chân Liên Xô, Trung Quốc như Bắc Việt, Cu Ba, Bắc Hàn thì kết quả ra sao không cần phải phân tích. Không ai từng chống Mỹ quyết liệt hơn cố tổng thống Anwar Sadat nhưng để mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân Ai Cập, năm 1976, ông đã bỏ đồng minh Liên Xô để bước sang phía thế giới tự do cho dù ông biết trước sự chọn lựa đó có thể trả giá bằng nhiều rủi ro như ông tiên đoán trong diễn văn đọc trước Quốc hội Israel ngày 20 tháng 11 năm 1967. Một số người có thể cho rằng Hiến pháp VNCH cũng do người Mỹ nhúng tay vào. Dù điều đó đúng thì đã sao? Hiến pháp của quốc gia Nhật Bản hiện đại cũng do bàn tay của Mỹ nhưng ngày nay tướng McArthur chẳng những không bị oán ghét mà còn được nhân dân Nhật xem như là một trong những người có công lớn trong việc xây dựng nước Nhật hiện đại. Dân chủ là một kỳ quan được nhân loại bồi đắp qua nhiều thời đại chứ không phải là tài sản riêng của quốc gia nào. Học hỏi cái hay cái đẹp của các nước tiên tiến để áp dụng vào cuộc cách mạng dân tộc và phát triển đất nước như cụ Phan Chu Trinh từng thống thiết kêu gào gần trăm năm trước, luôn luôn là điều đáng khuyến khích.

Phân tích để thấy, chế độ cộng hoà tuy không còn hiện diện tại miền Nam, nhưng các giá trị dân tộc, nhân bản và khai phóng thể hiện trong Hiến pháp VNCH vẫn còn đó. Gia tài quý giá đó chẳng những không rã mục theo chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, Dương Văn Minh mà ngày nay đã vượt ra khỏi biên giới Bắc Nam để trở thành ước vọng chung cho cả dân tộc. Nếu ai cho tôi là cường điệu hãy tạm gác qua bên các định kiến Bắc Nam, khuynh hướng chính trị, đảng phái, tôn giáo, tả khuynh, hữu khuynh, thù hận riêng tư và thậm chí che luôn bốn chữ Việt Nam Cộng hoà trên trang đầu của Hiến pháp mà chỉ đọc một cách nghiêm chỉnh nội dung của Hiến pháp VNCH 1967 thôi, tôi tin người đọc sẽ công nhận đó chính là mục tiêu mà dân tộc Việt Nam cần phải đạt đến. Việc lặp lại những lời tuyên truyền cũ mèm của Đảng cho rằng chế độ cộng hoà tại miền Nam là “sản phẩm do chính quyền Mỹ tạo ra trong Chiến tranh Lạnh” chẳng khác gì chê lớp rong rêu ngoài vỏ một con trai. Có người thích viện dẫn tác phẩm của các nhà phân tích chính trị, quân sự thế giới bàn về lý do sự sụp đổ của chính quyền miền Nam; nếu thế, trong số hàng trăm tác phẩm đó có tác phẩm nào kết luận rằng chính quyền miền Nam sụp đổ vì đã “trấn áp” nhân dân hơn nhà cầm quyền cộng sản miền Bắc, hay cộng sản thắng bởi vì nhân dân miền Bắc được hưởng nhiều quyền tự do căn bản hơn nhân dân miền Nam không?

Hiến pháp VNCH có thể chưa hoàn chỉnh nhưng là một văn kiện tham khảo cần thiết để kiến tạo một Việt Nam dân chủ cường thịnh. Hạt giống dân chủ khơi mầm tại miền Nam cũng không chỉ bắt đầu sau khi đất nước bị chia đôi mà đã có từ hàng trăm năm trước. Lợi dụng chính sách Nam kỳ tự trị của thực dân, các nhà cách mạng tại miền Nam có cơ hội học hỏi và áp dụng phương pháp đấu tranh nghị trường, tiếp cận các tư tưởng dân chủ Tây phương, mở mang dân trí làm nền tảng cho chế độ cộng hoà sau này. Đó không phải là sản phẩm của Tây hay Mỹ mà là vốn quý của dân tộc đã được đổi bằng mồ hôi nước mắt của nhiều người. Những ai biết gạt bỏ định kiến Bắc Nam, gạt bỏ lòng “căm thù Mỹ Ngụy”, sẽ thấy đó chính là hành trang cần thiết cho nỗ lực mưu cầu một xã hội công bằng và tốt đẹp hơn cho các thế hệ mai sau. Tiếc thay, viên ngọc và viên sỏi khác nhau khi nằm trong tay người thợ bạc nhưng lại giống nhau khi nằm trong tay mấy cậu bé bắn chim.

Đó là sự thật không thể chối cãi. Tôi viết ra không phải để “chiêu hồi” ai cả. Tôi chỉ là một người Việt Nam bình thường như nhiều triệu người Việt khác dù thời gian tôi sống ở nước ngoài cũng sắp sửa lâu bằng thời gian ở trong nước. Đúng ra, “chiêu hồi” là một mặc cảm không nên có trong những người soi gương mỗi ngày mà vẫn không thấy mình lầm lỗi điều gì. Dù sao, tôi thừa nhận sự tồn tại trong cách nhìn khác nhau giữa những người tuy cùng quan tâm đến đất nước, về một số vấn đề, một số hiện tượng đang xảy ra tại Việt Nam, và có thể trong cả những định nghĩa thế nào là danh dự của một dân tộc và thế nào là phẩm giá một con người. Với tôi, giới lãnh đạo Đảng phải chịu trách nhiệm về sự sa đoạ đạo đức, lạc hậu giáo dục, tham nhũng kinh tế, áp bức chính trị, thế nhưng vẫn có người cho rằng Đảng sai chỉ vì độc quyền lãnh đạo nhưng không phải vì thế mà phải chịu trách nhiệm về các hậu quả sai lầm do chính sách Đảng đề ra. Với tôi, câu chuyện vô cùng thương tâm và hình ảnh của cô Đoàn Nhật Linh thân thể máu me nằm loã lồ trên đường phố Đài Loan là một sỉ nhục dân tộc nhưng có thể với người khác đó chỉ là chuyện bình thường như nắng sớm chiều mưa, chẳng có gì phải ầm ĩ.

Tham nhũng nơi nào cũng có nhưng khác với các quốc gia dân chủ, tham nhũng tại Việt Nam có tính đảng và ngày nào Đảng Cộng sản còn độc quyền lãnh đạo đất nước thì ngày đó tham nhũng còn tồn tại. Câu chuyện Bùi Tiến Dũng là một trong hàng ngàn biểu hiện của đảng tính “vừa hồng vừa chuyên” trong tham nhũng. Bùi Tiến Dũng thuộc tầng lớp đảng viên trẻ, có bằng cấp đại học, cựu sĩ quan quân đội nhân dân, tổng giám đốc một dự án lớn của nhà nước, nếu không bị xui xẻo từ chuyện cá độ mà trở thành “đồng chí bị lộ” thì với lý lịch đó, con đường vào Trung ương Đảng, Bộ Chính trị của anh ta cũng rộng đâu có thua gì “đường Bắc Sơn, Đình Cả, Thái Nguyên” trong thơ Tố Hữu. Từ trường hợp Bùi Tiến Dũng, chúng ta có thể suy ra, các lãnh đạo Đảng đang lớn tiếng hô hào chống tham nhũng một cách ồn ào hiện nay chẳng qua cũng chỉ là “các đồng chí chưa bị lộ” mà thôi.

Tôi viết không phải để “tuyên truyền” hay trả thù vì tôi không có kẻ thù, dù thù cá nhân hay thù tập thể. Tôi viết không phải với tư cách một người lính miền Nam vì tôi chưa bao giờ cầm súng, chưa hề bắn giết ai và chưa sống một ngày ở Vĩnh Phú, Hàm Tân, An Điềm, Suối Máu. Tôi viết không phải để trả nợ vì tôi không nợ ai ơn nghĩa và cũng không ai thiếu tôi hình phạt. Tôi viết cũng không phải để rồi mong trở lại với việc phân chia Nam Bắc như xưa, không, với tôi, dân tộc Việt Nam là một thực thể thống nhất và tất cả các hiệp định Patrenote, Geneva hay Paris đều là những chiếc còng của thực dân và đế quốc áp đặt trên đầu trên cổ nhân dân Việt Nam.

Tôi tự gán cho mình cái trách nhiệm phải nói ra những điều mình nghĩ để may ra các em nhỏ miền Nam sinh ra sau cuộc chiến, nếu đọc được sẽ vơi bớt nỗi tủi hổ vì Đảng đã dạy các em rằng ông nội em, ông ngoại em, cha em, chú em đã từng là kẻ giết người cướp của, từng đi đánh thuê cho đế quốc, từng làm tay sai cho ngoại bang. Tôi hy vọng sáng mai đây khi bước ra đường các em sẽ nhìn người thương phế binh miền Nam đang lê lết chuỗi ngày tàn trên quê hương ruồng bỏ bằng cặp mắt khác hơn. Các em, thay vì bước nhanh như hôm qua, sẽ ngồi xuống bên cạnh người lính già miền Nam tàn phế kia và nghe ông kể lại những chặng đường bi tráng mà ông và đồng đội đã trải qua, từ đó các em sẽ hiểu ra rằng cha chú các em đã sống và chiến đấu trong cuộc chiến tự vệ đầy chính nghĩa mà họ không có chọn lựa nào khác. Các em sẽ lớn lên trong tự tin và hy vọng thay vì mặc cảm tội ác ba đời mỗi khi đọc lại lý lịch mình.

Tôi viết để mong các em nhỏ miền Bắc sinh ra sau cuộc chiến nếu đọc được hy vọng các em sẽ biết sự thật và chân lý không phải chỉ là những lời Đảng dạy. Đảng không giúp các em “sáng mắt sáng lòng” mà làm các em thành những kẻ mù loà đi lùi giữa nền văn minh nhân loại mỗi ngày mỗi mới. Trong nền giáo dục, nói như nhà thơ Lý Đợi, làm cho các em “biết chữ mà không biết nghĩa”, có thể các em không dễ dàng tin những điều tôi viết, nhưng ít ra cho các em thấy một phía khác của vấn đề để tìm tòi, học hỏi, so sánh và qua đó các em sẽ thấy mục tiêu đích thực mà đất nước Việt Nam cần phải đến là gì. Tuổi trẻ Việt Nam phải có cơ hội đọc và hiểu một cách khách quan từ nhiều phía về bản chất, nguyên nhân của cuộc chiến Việt Nam. Tôi sẵn sàng lắng nghe các em phê bình, mắng mỏ, miễn là những điều em nói phát xuất từ suy nghĩ của các em chứ không phải sao chép từ tài liệu học tập của Đoàn, của Đảng như nhiều người khác.

Lịch sử để lại cho thế hệ trẻ Việt Nam một chiếc áo rách và một cuộn tơ rối để may chiếc áo mới, nhưng từ cuộn tơ rối vò kia cho đến khi thành chiếc áo là một quá trình dài, đòi hỏi ở các em không chỉ lòng yêu nước, sự kiên nhẫn mà còn phải có một tư duy độc lập, khách quan khi đánh giá những vấn đề thuộc về quá khứ trên con đường đi đến tương lai.

Trần Trung Đạo


3G lụm được trên Internet

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Việt Kiều Về Việt Nam



Ai đã từng đi xa quê hương đều ước mong có dịp trở về, hoài niệm làm người ta xao xuyến đến cháy lòng. Tìm về từ vật chất đến tinh thần, để thấy những cái tưởng mất đi vĩnh viễn nay lại tìm gặp, cái xưa tầm thường nay trở nên quí giá.

Tôi may mắn thường có dịp đón tiếp thân nhân cùng bạn bè về thăm nhà, nhận thấy song song với nỗi vui mừng khi tái ngộ, còn có vài điều tưởng giữa chúng ta, TA và TÂY tự điều chỉnh, để ngày xum họp niềm vui thêm trọn vẹn.

Tôi nhận thấy có mấy dạng Việt Kiều:

- Người giàu (Có lẽ là giàu thật) quan niệm đi 5 về 10, xênh xang áo gấm về làng, họ hàng cũng được thơm lây. Hàng xóm có
lòng đố kỵ cho là nổ: Hồi xưa nghèo không có đôi dép mà đi, giờ thì đi đâu cũng kè kè chai nước lọc, vô nhà ai cũng
không dám uống nước dù là nước trà; nước giếng, nước mưa thì chê hôi.

Họ đâu còn nhớ tới những ngày kinh tế mới, những ngày đi đào kinh thuỷ lợi nghiêng nón múc một ít nước đục ngàu mà uống. Bây giờ cứ đòi vào nhà hàng máy lạnh sang thiệt là sang để ăn uống cho an toàn khỏi sợ đau bụng, nhưng nếu họ chịu quá bộ ra chỗ đang rửa chén tô, nơi nhà bếp đang lặt rau, làm
cá, băm thịt, thì tưởng chưa có nơi nào mất vệ sinh hơn thế nữa!

Tôi lấy làm ngạc nhiên và hãnh diện khi người mình mới qua tới xứ người, người lâu thì vài ba chục năm, người mới thì chỉ năm hay mười năm mà nay ai cũng là tiến sĩ, bác sĩ, kỹ sư, chủ hãng, chủ tiệm, tiếng Tây tiếng Mỹ phun phèo phèo, mà hình như không có ai làm thợ hết cả (?).

Nếu quả thực như thế thì Mỹ trắng Mỹ đen quá kém, nay họ lại
phải xin đi làm công cho người mình nhiều quá, chứ như ở VN mà mấy anh Campuchia qua đây lập nghiệp, không chịu làm cu ly khuân vác từ đời cha tới đời con thì cũng còn khuya mới ngóc đầu lên nổi.

Có người qua Mỹ đã lâu nhưng còn e ngại vì tài chánh eo hẹp chưa muốn về thăm quê, vì ngoài tiền vé máy bay ra, còn tiền
quà cáp, xe cộ tiêu xài. Nhưng họ đâu biết rằng có tiền cho thân nhân đã quí, nhưng gặp lại người thân sau bao nhiêu năm xa cách còn quí hơn nhiều lắm.

Vẫn biết rằng trong đám thân nhân "yêu vấu" kia thế nào cũng có người nói xấu sau lưng: "Việt Kiều về quê mà Trùm Sò thế thì về làm quái gì". Cũng may số người này không nhiều.

- Người nghèo (Có thể là nghèo giả) than van quá trời vì sợ người nhà vòi tiền, mà có người vòi tiền thật, mè nheo đủ thứ. Họ không chờ cho đến khi gặp mặt mà thư, điện tới tấp khiến mẹ cha, anh em con cái phát chán, vì người ta biết tiền gửi về sẽ bị tiêu pha một cách lãng nhách bởi những người chuyên vô công rỗi nghề, từ sáng tới tối xách xe chạy vòng vòng.

Thái độ và cử chỉ bên TÂY thì lịch sự nhã nhặn, cưng chiều vợ con hết mức (theo kiểu nịnh nghề bà lắm nạc) khiến phe TA ở quê nhà xốn con mắt lắm. Nhưng khốn nỗi TA lại cộc cằn thô lỗ, gia trưởng y như xưa, y như cách đây hàng thế kỷ. Hôm nay nhà có cơm khách, khách hỏi:

- Còn các cháu đâu, không ra dùng cơm luôn thể?
- Các bác cứ xơi tự nhiên, các cháu đã có rồi.

Các bác đang xơi, các cháu thập thò ở cửa, Bố quát:

- Xuống bếp ăn với mẹ!

Đứa con giơ tay lên trời:

- Xin thề là dưới bếp hết cả nước lẫn cái rồi bố ạ!!!


*

Bên TÂY gặp nhau ôm hôn chùn chụt, bên TA mà làm thế có ngày chả còn răng ăn cháo. Hôm anh tôi về, thấy mấy trự Việt Kiều gặp người đi đón ở phi trường, lợi dụng cơ hội ôm hôn tùm lum, ảnh nói có nhiều người làm trò khỉ quá.

Rồi sau đó ít hôm ảnh lại nói sao Việt Kiều về cứ phải chứng tỏ mình là Việt Kiều cho oai, lúc nào cũng thấy đeo cái túi mề gà trước bụng, đàn ông lại còn mang quần có dây đeo vai cứ như mấy anh bồi nhà hàng. Họ nói chuyện với nhau hay với con cái cứ xổ tiếng Mỹ làm người nhà phải nghệt mặt ra. Mà làm như thế nghĩ cũng chả ích lợi gì, chỉ tổ cho nhà hàng chém thẳng tay.

Việt Kiều thường phê bình người trong nước đổ đốn, không chịu làm gì cả chỉ ăn nhậu. Nói của đáng tội, cái đó cũng có nhưng vì họ chưa có cơ hội tiếp xúc với những công nhân trẻ không rượu bia thuốc lá; có trách nhiệm, năng lực và lòng tự trọng; những người thợ quần quật với công việc nặng nề; những nông dân chân lấm tay bùn đã làm nên những thay đổi và
ấm no hơn những ngày cũ.


*

Việt kiều lớn đã thế còn Việt Kiều con, tụi nhỏ về đây gặp khí hậu, thời tiết khác lạ, ăn ngủ trái múi giờ dễ sinh ra dị ứng ốm đau, làm ông bà cha mẹ lo sốt vó.

Thái độ tụi nó cũng kỳ dị lắm, hình như nó không thích được nâng niu âu yếm, đụng vào người là nó co rúm lại, mà người mình có thương thì mới rờ rẫm bóp mông, bóp đít khen nó mập, trắng hồng coi dễ thương hết sức. Ban đầu tôi tưởng tụi nó chê mình ở bẩn, nhưng sau này mới biết là làm vậy không nên, nếu là ở Mỹ có thể bị kết tội child abuse gì đó.

Tụi nhỏ nói tiếng Việt không rành, nó ú ớ bảo là đau bụng, đưa thuốc cho uống cả tiếng sau mới nói là nó "wrong", nó
bị đau cổ họng cơ.

Có nhiều đứa lý sự và phá trời thần, trẻ con VN mà nói tay đôi với người lớn thế thì có mà nát đít, còn trẻ Việt Kiều nó
được tự do tranh luận nếu nó nhận thấy người lớn nói sai.

Về VN mà nó làm cứ như ở nhà nó, cái máy quay phim, dàn
máy hát ở quê nhà quí lắm, dành dụm biết bao lâu mới mua được, nhưng con cháu Việt Kiều về xài rồi nó quăng vất tứ
tung, chọc ghẹo nhau chạy tới chạy lui làm đổ dàn am-pli, cả nhà thấy xót quá mà không ai dám nói gì!

Nói sang cái ăn mới ngộ, đãi Việt Kiều ở nhà hàng, TA ép TÂY ăn thịt.

TÂY than thở: "Tại sao lại ép chúng tôi những thứ mà hàng ngày phải ăn mấy chục năm nay?"

Không lẽ kêu măng luộc, rau đay cua rốc, cà pháo mắm tôm, rau muống xào đập tỏi v v... Những thứ đó quê tôi có đầy ra,
bước ra đàng sau vườn loáng một cái có cả rổ, bây giờ thường để cho heo ăn mà thôi, ai nỡ lòng nào đem ra đãi Việt Kiều.

Việt Kiều con thì khác hẳn, vào bàn nó ngồi im như tượng, mặt buồn như Đức Mẹ Sầu Bi ngồi dưới chân thánh giá, hỏi ăn gì thì chỉ lắc đầu. Thấy mấy ông kêu đồ nhậu rắn rùa, chim
chuột. .. đặc sản, nó chỉ con thạch sùng (thằn lằn) trên tường mà hỏi: "Con đó có ăn không ?"

Người lớn thích ăn tiết canh, mua con heo con vịt về cắt tiết hay thọc huyết, nhìn thấy cảnh đó nó kinh hãi ôm nhau khóc thét lên.

Còn về thịt cầy, nó dặn là đừng bao giờ đánh lừa nó ăn một miếng, bởi vì ăn thịt chó, tim sẽ đau đớn như phạm tội vậy.

Về tới Saigon thả tụi nó vào khu siêu thị thì như cá gặp nước, tụi nó hoạt bát hẳn lên, nói líu lo vì trong đó có bán đồ ăn khoái khẩu của nó.

Ở quê tôi còn có một thứ mà mỗi nhà có Việt Kiều về thăm thì phải lo trước, đó là cái bàn cầu ngồi theo lối Mỹ, nhà cầu kiểu cũ trẻ con ngồi không quen cứ ngã bổ chửng ra. Nhớ
hồi cách đây hơn 10 năm, cầu cá dồ chưa bị cấm, có ông Việt Kiều đang ngồi thì bị cầu xập, ông đứng giữa đìa khóc ầm lên kêu Trời kêu Phật, kêu cả thánh quan thầy.

Một cái đáng sợ nữa cho Việt Kiều là muỗi. Xưa kia muỗi chỉ có mùa, bây giờ nhờ kinh tế thị trường nên có quanh năm, nó lại theo trào lưu khủng bố của thế giới nên không kêu vo ve nữa mà chuyên âm thầm đánh du kích, cắn xong một phát là
chỗ đó ngứa không chịu nổi. Đối với người trong nước không hiểu vì đã chịu muỗi chích hoài nên cơ thể quen nọc ngứa, hay là tại vì thịt Việt Kiều thơm (tắm bằng xà bông Dove), hay tại muỗi vẫn còn thù dai đối với Đế Quốc, mà cho dù là ban ngày sáng sủa đàn muỗi không cắn ai, lại cứ xà quần bên Việt Kiều như đàn trực thăng sắp đổ quân vậy.

Ðối với Việt Kiều nhí thì thật là thê thảm cho dù bôi thuốc chống muỗi rồi đó nhưng dính mũi nào là làm độc mũi đó, có khi mưng mủ sưng to như trái chùm ruột. Tôi có đứa cháu kiên nhẫn ngồi đếm được 108 mụn trên cái chân nhỏ bé!!!

Còn trục trặc ngôn ngữ Việt giữa người trong và ngoài nước nữa chớ. Có nhiều Việt Kiều nghe không hiểu được những từ ngữ “mới”. Hồi sau 75 tôi có dịp tiếp xúc với cán bộ hay người miền Bắc vô, nghe họ nói tôi buồn cười lắm mà không dám cười, sau đó nhái chơi, rồi dần dần nó ngấm vào giọng nói lúc nào không hay, bây giờ có những chữ mà loay hoay mãi không nhớ ra chữ cũ để thay thế.

Thí dụ: Hôm nay tôi tranh thủ thăm anh (cốgắng). TV hôm nay bị sự cố kỹ thuật (trục trặc). Nhưng đến câu “Họ có mặt bằng cho thuê” thì tôi đành chịu không tìm ra chữ nào để thay.

Có anh về nước cầm máy chụp hình hay quay phim thì thấy cái gì hơi lạ là bấm liên hồi, thấy nguời ta nói đi xe khách chất
lượng cao “high quality); xe tham quan (tourist); cửa hàng bán ổn áp (survolter) là cười khinh khỉnh, nhưng chúng tôi thấy họ nói pha tiếng Mỹ lại càng kỳ quái hơn: Ðem cái xe tới tiệm để estimate, anh thợ sửa xe dốt nát đâu biết tiếng Tây tiếng U gì đâu, nghe vậy bèn tháo tung chiếc xe ra; bảo tun-ấp thì nghe giống như “ốc” nên lấy đồ nghề ra xiết tất cả những con ốc lại. Ðàn bà con gái gì mà nói giữa chốn đông
người “Tôi không có khe” (care); “Vẫn còn ở chỗ cũ đấy, chứ tôi đâu có mu (move)”

Cười,

Bởi vì khe và mu là những chữ dùng để chỉ cơ quan sinh dục của đàn bà.

Có lần được tháp tùng về thăm quêcũ của mẹ tôi ngoài Bắc, gặp
đứa em họ đang phụ trách một đoàn thể trong xứ đạo, nó hỏi xin cái máy kích. Tôi hỏi cần đẩy hay kéo cái gì, nó giải thích thì giời ơi! đó là cái am-pli và cặp loa để phát thanh, ở ngoài Bắc gọi là cái máy kích âm!!!

Bây giờ họ còn hay nói tắt. Hỏi gia đình thế nào? Trả lời dạo này gia đình chúng em VẤT lắm (vất vả); Món này ăn ngon
CỰC (cực kỳ); Thợ xây quát phu hồ: "Lấy cho tao bao XI (xi măng)!!!

Chữ "bị" ở thế thụ động (passive voice) lại được nói: "Ông ta hơi bị giỏi đấy" ; Món này ăn hơi bị ngon v v... Ban đầu tôi tưởng chỉ là cách dùng chữ cho khôi hài, không ngờ có những nhà văn lớn dùng trong văn chương nghiêm túc nữa đấy. Thật quái đản!!!

Hôm xem lậu cuốn băng Thuý Nga, thấy ông Nguyễn Ngọc Ngạn nói xỏ người ở nước ngoài hay nói chữ là, thay vì nói
"Rất đẹp" thì lại nói "Rất là đẹp". Tôi thì tiếng Anh dốt nát, đành dịch ra là "Very is beautiful"!

Ngày xưa còn đi học mà làm luận văn xài chữ: thì, là, mà, bị v v... lung tung như kiểu này chắc thầy vã cho rách mép.

Ở VN bây giờ từ quan cho tới anh cùng đinh khố rách đều nghiện chữ "Nói chung" cũng như mấy anh Việt Kiều hay dùng
chữ "You know" vậy.

Hỏi thăm gia đình khoẻ không thì được trả lời: "Nói chung cũng tốt. Mẹ tôi còn đang nằm bệnh viện còn vợ tôi thì mới chết tuần rồi".

Hãy nghe đài BBC phỏng vấn mấy quan chức, hay đọc trong bản báo cáo của mỗi cơ quan, đoàn thể, mỗi ngành không bao giờ
thiếu chữ "Nói chung":

- Tình hình chỗ nào cũng vậy, nói chung là tốt, nhưng trong đó còn có một vài bộ phận yếu kém tồn tại. ...

Tôi tới thăm gia đình người bạn mới từ nước ngoài về, bố bảo
con gọi mẹ ra đây. Thằng con chạy vào trong hét toáng lên: "Momy, dady muốn momy bây giờ".

Hồi lâu sau nó lại chạy ra bảo:

- "Momy đang rửa he".

Tôi ngạc nhiên ngẫm nghĩ mãi mới hiểu là má nó đang gội đầu (hair).

Tháng rồi có mấy đứa cháu từ Úc về chơi, tôi dẫn đi ăn nghêu ở Ngã Sáu, trong dĩa nghêu luộc chín há vỏ ra, có con thịt
rớt ra ngoài chỉ còn cái vỏ không, đứa bé cầm cái vỏ ngắm nghía một hồi rồi tặc lưỡi: "Không có ai".

Ôi ngôn ngữ Việt của Việt Ta và Việt Tây sao mà rắc rối, biến hoá làm vậy!

Ngày vui qua mau rồi cũng đến ngày tiễn đưa người nhà ra phi trường. Người còn ở VN khoái tiễn đưa lắm, lý do là lúc đó người đi rất ngậm ngùi, còn bao nhiêu tiền trong túi cũng móc ra cho hết, thương lắm cơ.

Việt Kiều con ra tới phi trường thì mừng lắm, chúng nhảy cỡn lên múa máy tay chân rồi la to:

- Thoát khỏi Việt Nam rồi! Thoát Việt Nam rồi!

Vậy thì tôi còn mong gì khi chúng lớn lên, học hành thành tài rồi giúp đỡ quê hương?

CHUNG MỐC

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Cho Nhiều Tiền Buốc-Boa


Hai tay thanh niên, đến một cửa hàng ăn tối.
Ăn xong hai người đi ra, người phục vụ tập sự
giúp họ khoác áo khoác, một người trong họ rút
ra cho người phục vụ tập sự năm mươi đồng,
người kia không vui nói: “Sao cậu cho nó nhiều
thế? Tiếc quá!”
Nhưng người kia rất vui trả lời: “Vì nó đã
khoác cho tớ chiếc áo khoác có giá trị bằng mười
lần chiếc áo khoác của tớ”.


Theo Dấu Tội Phạm Chạy Trốn


Phạm nhân chạy trốn, viên cảnh sát đuổi
theo báo cáo với đội trưởng: “Báo cáo, tôi đã
đuổi theo dấu vết của hắn hơn ba tiếng đồng hồ,
hắn không chạy thoát, cuối cùng hắn chạy vào
rạp chiếu bong và biến mất”.
Đội trưởng: “Vậy sao anh không theo vào
rạp?”
Viên cảnh sát: “Vì bộ phim ấy tôi xem rồi!”


Khu Nhà Sống Lâu

Có một anh chàng rao bán ngôi nhà ở một
nơi tuyệt đẹp: “Như một vườn đào nguyên ngoài
trái đất, ở đó không khí trong lành, thời tiết tốt,
mọi người đều trường sinh bất lão”.
Vừa lúc ấy, có một đám tang từ khu nhà ấy đi
ra. Anh chàng nọ tỉnh khô nói vẻ đồng tình
thương xót: “Ông bác sĩ đáng thương! Chỉ vì
không có bệnh nhân mà ông ấy phải chết đói!”

Post Reply