Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Ôi, Hàm Râu, ơi Hàm Râu!
Nói đến người nam mà không nói đến sự mọc râu hay giọng nói đầy nam tính truyền cảm có thể là điều thiếu sót trong y học và văn học. Dĩ nhiên nhiều người thích để râu, tuy cũng có người cho rằng để râu là kỳ cục và họ chủ trương nên cạo nhẵn nhụi như "thầy chùa" thì thanh lịch hơn. Đó là tùy sở thích của mỗi người, tùy theo ý thích cá nhân, tùy quan niệm về vẽ đẹp thiên phú, trời cho này.

Tôi chọn quyết định theo các bạn bè như Yên Sơn, Cát Biển, Thanh Tâm hay Hoàng Thy tạo cho mình một bộ râu nam tính có tính cách thời trang hay kiểu mode thời thượng, tôi đã thành công và tôi cũng đã thất bại ngay trong gia đình. Chú con út 8 tuổi của tôi không đồng ý vì cháu nói tôi có râu trông kỳ lạ và dử dằn, khi đưa cháu vào lớp học, cháu không còn cho mimi lên má như mọi lần dù là sự thay đổi chỉ có 6 tháng. Cháu cho là nhột hai bên má khi người cha mimi, cháu muốn tôi cạo phứt nó đi cho rồi. Tuy vậy bà nhà tôi lại có thiện cảm bạo, nàng để yên cho sự xúc cảm khi tôi mimi hay khi tình yêu chợt đến. Mỗi sáng nàng hay "trim" lại hàng ria mép cá chốt của tôi. Có lẽ vì râu tóc là cái gốc của con người, không râu, không tóc thì một phần nào đó gốc nam nhi hay chí lớn làm trai của tinh thần Nguyễn Công Trứ của chúng tôi bị mất mát ít nhiều.

"Yêu anh chỉ bởi hàm râu,
Lâu lâu nhột nhột, lâu lâu gợi tình???"


Tôi còn nhớ trong cuộc chiến ý thức hệ, phân tranh nam bắc Việt Nam. Tiêu biểu cho hàm râu ý thức hệ miền nam có tướng Nguyễn Cao Kỳ (NCK) có bộ râu mép độc đáo, rất bén đến độ đứt tay mà báo chí thường gọi đùa là bộ râu kẽm, nhưng tôi lại thích gọi là râu cá chốt, tức men''s whiskers trong ngôn ngữ so sánh quá đáng như râu của loài cá mèo catfish. Đối với nam phái thì bộ râu mép này dù quặp xuống hay vểnh lên chỉ nói về uy tín, đức độ tương kính, quý trọng các bà hay không hay chấp nhận chế độ mẫu hệ trong gia đình hay không mà thôi.

Ngoài bắc đại điện cho phía địch quân Cộng sản, người lảnh đạo được mệnh danh "Cha già của dân tộc" thuộc dòng dõi đười ươi, hầu nhân theo chủ thuyết vô sản chuyên chính là ông Hồ Chính Mi (HCM), người mang cả râu trên lẩn râu dưới, thú thực nhìn vào nhân dáng "Cha già" này trông vừa lố bịch, vừa nham nhỡ, mất thẩm mỹ, lưa thưa, lúng phúng như đám cỏ dại mọc thưa thớt của một bià rừng Phi châu hoang phế vào những ngày hè hạn hán. Tôi nhìn lại trên trang báo Time cũ chụp ảnh tướng Kỳ khi xưa làm phó tổng thống trong bộ áo Mao Sếnh Sáng với cái hàm râu mép thiên phú hơi vểnh tí xíu, rồi trang bên cạnh là hình ông mặc bộ jumpsuit bay màu đen, đeo khăn quàng cổ màu cam và mang mắt kính mát đen bên dưới là bộ râu ngạo nghể, rậm rạp trời ban, mà lý ra ông nên gia nhập binh chủng hải quân thì đúng nghề của chàng hơn. Khi Hải Quân (HQ) đưa quân Thủy Quân Lục Chiến đổ bộ vào bờ, ủi bãi đỗ quân tiến chiếm mục tiêu, thường thường HQ dùng loại tàu đổ bộ LSD (Landing Ship Dock). Do đó trong quân đội cho là hàm râu điển trai của tướng Kỳ danh trấn thiên hạ cho mặt trận đổ bộ quân chuẩn bị cho trận xung phong đổ quân ào ạt, thư hùng ác liệt. Trong bộ jumpsuit đen tướng NCK oai phong đeo Colt-45 lủng lẳng rất uy vũ, rất quắc thước của một skyraider pilot, tôi không biết thuở ấy ông lận trong người bao nhiêu cây súng lủng lẳng, nhưng chắc chắn rằng tướng Kỳ chỉ xài loại súng xịn mà thôi, ông là biểu tượng cho cái nhìn tuổi trẻ oai phong lẫm liệt, tuổi trẻ đứng lên đáp lời sông núi. Có thể tôi không đồng ý về một số quan điểm rất ngông của tướng NCK, nhất là những lời tuyên bố thật kêu, thật chát chúa tại Tân Sa Châu năm 1975, nhưng tôi sẽ hoàn toàn đồng ý với tất cả những lời ông tố cáo bọn CSVN hay chủ trương cổ xúy kêu gọi bắc tiến trong những năm 1965, 1966 nếu chính quyền Hoa Kỳ qua tonton Texas cowboy Lyndon Jonhson, nếu ông đã có cái "gut", cái cả gan như tonton Texas cowboy GW Bush ngày hôm nay, đánh địch quân thẳng tay thay vì miền nam Việt Nam chỉ thủ thế bị động làm mục tiêu cho quân Bắc Việt xâm lược nhả đạn.

Nhìn về phía bắc vĩ tuyến 17, bộ râu trên dưới của bộ xác chết khô héo biết đi của HCM với gương mặt xương xẩu thâm độc của loài dơi có đôi mắt cú vọ hay loại chồn hôi hám má hóp làm hình ảnh người lảnh đạo miền bắc bị hoen ố, phai mờ đi nhiều, và tiềm lực bị mất hẵn nếu các xứ đàn anh "môi hở răng lạnh" Liên Sô, Trung Quốc đã không liên tục tiếp tế vũ khí, đạn dược Viagra hay Sâm Trung Quốc, Sâm Siberia. Còn nếu có người khen tí ti HCM hấp dẫn thì may ra chỉ có cô đào Jane Fonda bắn phi cơ Mỹ khen mà thôi.

Trong thế giới điện ảnh, phim trường của Hollywood, hàm râu cá chốt dĩ nhiên phải nhiều hơn trong nền nghệ thuật Việt Nam, từ Charles Bronson, Lee Van Cleef,... , đến Burt Reynolds the Bandit hay Tom Selleck the Magnum PI là những tài tử được bộ râu tạo cho cái nhìn rất đặc sắc, rất độc đáo, rất "đàn ông", rất nam phái và rất nghệ sĩ tính. Các phụ nữ Mỹ được hỏi tại sao họ lại ái mộ Tom Selleck thì đa số trả lời vì chàng điển trai, nét vạm vỡ, vai u thịt bắp, vẽ đàn ông, dĩ nhiên không thể bỏ qua bộ râu mép tình ái dầy rậm, nói lên cái nam tính trời cho của người tài tử này.

Ôi, Hàm Râu Văn Học Việt Nam!

Nhìn về chân trời văn học, âm nhạc và nghệ thuật của người Việt Nam, chúng ta sẽ bắt gặp nhiều nghệ sĩ mang râu mép, hay râu cá chốt chẳng hạn như Sĩ Phú, Huy Cường, Trần Quang, Vũ Khanh, Trọng Nghiã, Trung Hành, Jimmy Joseph,Joe Marcel,..., Lê Uyên Phương, Vô Thường, Nam Lộc và Ngô Thụy Miên (NTM). Hôm nọ tôi tình cờ đọc sách cọp tại nhà sách Văn Khoa trong thương xá Phước Lộc Thọ, tôi chui vào đây trốn cái anh nắng chói chan của mùa hè nam Cali, tôi mê thú đọc sách chùa, dù tại Barnes & Noble hay tại the Borders hay Tự Lực, Tú Quỳnh hay Văn Khoa, tôi bổng ngó về hướng góc trái cửa nhà sách Văn Khoa, một poster với tựa đề nổi bật "Riêng Một Góc Trời" và phía dưới bức hình nhạc sĩ NTM trong cặp kính cận trong suốt và hàm râu đen nhánh đầy nam tính. Người nhạc sĩ "Riêng Một Góc Trời" này được ông ca nhạc sĩ Trọng Nghiã giới thiệu, quảng cáo trên radio trong chương trình nhạc Thúy Nga là người nhạc sĩ hiền hòa về cá tính và khiêm nhường về phong cách. Nhưng dù ông Trọng Nghiã có nói gì thì nói, nhưng ông đã quên bẵng giới thiệu bộ râu trời ban của ông ấy và của nhạc sĩ NTM. Tôi tự hỏi trong kho nhạc của quý ông nhạc sĩ Trọng Nghiã, Lê Uyên Phương, Vô Thường,... hay NTM chả ông nào chịu cho ra một nhạc phẩm ca ngợi hay vinh danh bộ râu mép trời cho người nam, một biểu tượng xứng đáng thuộc hệ phái Adam''s apples.

Nhìn lại trong các thi sĩ bạn tôi, có khá nhiều các anh chủ trương trân trọng với hàng râu mép là nét đẹp nam nhi như anh HQ Cát Biển, KQ Yên Sơn, KQ Huỳnh Nguyễn Thanh Tâm hay Biệt Kích Commando Hoàng Thy San Diego, và nhiều nữa... Tôi yêu cầu các anh hãy làm những án tình thơ trang trọng vinh danh về bộ râu thật sexy chứa đầy nam tính, râu mép Adam’s apples, râu mép ủi bãi LSD mà anh HQ Cát Biển hơn ai hết phải rành rẽ hơn nhiều bạn bè khi màn đêm buông xuống... Ôi, hàm râu, ơi hàm râu!...

Hoàng Tiểu Ca
(VHla)

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

Tin tức mới nhất về Lý Tống

Tin Thái lan , Sáng hôm nay 7 tháng 9 toà Hình sự Thái Lan đã đồng ý để VN dẫn độ Lý Tống trong phiên xử khoảng 10 phút đồng hồ .

Hình như đã sự sắp đặt từ trước , Chánh án Thái lan , chỉ nói trong vòng 10 phút hoàn toàn bằng tiếng Thái . Và có thông dịch viên dịch lại cho Lý Tống . Lý Tống có quyền kháng án trong vòng 15 ngày .

Tòa Thái lan cho biết :VN phải tất thủ tục dẫn độ Lý Tống trong vòng 3 tháng , nếu không Tòa Thái lan sẽ Thả Tự Do cho Lý Tống . Phiên tòa sáng hôm nay chỉ có 2 ủng hộ viên cho Lý Tống đến từ thái lan và Australia . Số ký giả không đông lắm , có phóng viên đài BBC , Reuter , và các báo chí Thái lan có vài phóng viên đến từ VN .

Hiện giờ chúng tôi đang theo dõi tin tức . Có gì mới sẽ loan báo liền .

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Cám ơn anh Năng đã loan tin, thật là tin đáng buồn cho Chiến Sĩ Lý Tống
Cầu nguyện cho Anh được an toàn trở về xứ Tự Do

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Trần Trung Đạo

Những bài ca từ khát vọng chưa thành


Trong một xã hội thiếu vắng những bản tình ca, một nhạc phẩm mang tên “Tình ca” hẳn được nhiều người đón nhận. Bài hát “Tình ca” của Hoàng Việt được yêu chuộng không phải chỉ do cái tựa mà còn là một nhạc phẩm rất hay. Người nhạc sĩ gốc miền Nam, cũng là tác giả của “Tiếng còi trong sương đêm” quen thuộc với giọng ca Thanh Thúy, đã viết “Tình ca” để gởi gấm nỗi nhớ thương về miền Nam thân yêu và người vợ hiền đã chia tay ông trên cửa biển Cà Mau trước ngày tập kết. Qua núi biếc, qua bóng mây, qua những đêm tối trời mù mịt, tình yêu trong trái tim ông vẫn sáng lên như những vì sao chung thủy đời đời. Thế nhưng, nhạc phẩm “Tình ca” ngày mới ra đời năm 1957 đã bị Đảng phê bình là ủy mị ngay trong lần trình diễn đầu tiên ở Hà Nội với tiếng hát Quốc Hương. Những năm đầu của cuộc chiến “Tình ca” gần như không được hát.



Khi hát lên tiếng ca gởi về người yêu quê ta
Ta át tiếng gió mưa thét gào cuộn dâng phong ba
Em ơi! Nghe chăng lời trái tim vọng ra
Rung trong không gian mặt biển sôi ầm vang
Qua núi biếc chập chùng xa xa
Qua bóng mây che mờ quê ta
Tiếng ca đời đời chung thuỷ thiết tha.
Em có nghe tiếng ca chứa đựng hận thù sâu xa
Đã biến tình đôi ta thành những ánh sao toả sáng
Vượt băng băng qua đêm tối tìm hương hoa
Bến nước Cửu Long còn đó em ơi!
Bãi lúa nương dâu còn mãi muôn đời
Là còn duyên tình ta thắm trong tiếng ca không thể xóa nhòa…



Nhạc sĩ Hoàng Việt đã chết vì bom trong ngày cuối năm, 31 tháng 12 năm 1967 trên đường về lại miền Nam để gặp người ông yêu quý.


Cũng trong khoảng thời gian đó ở miền Nam, có thể vào một buổi chiều trong một quán café ở góc đường Lê Lợi hay một buổi tối cuối tuần qua đài phát thanh Sài Gòn, vọng lên tiếng hát Thái Thanh. Hà Nội ơi! Tiếng hát của người ca sĩ tài danh như tiếng than dài tưởng chừng có thể nghe được tận bên kia cầu Hiền Lương đang đau nhức. Nhạc phẩm “Giấc mơ hồi hương” của nhạc sĩ Vũ Thành tưởng vọng về thành đô yêu dấu với Hồ Tây, cầu Thê Húc, đường Cổ Ngư và bao nhiêu kỷ niệm vẫn chưa chịu ngủ yên trong lòng người nhạc sĩ miền Bắc vừa đặt chân lên mảnh đất miền Nam.



… Lìa xa thành đô yêu dấu, một sớm khi heo may về
Lòng khách tha hương vương sầu thương
Nhìn "em" mờ trong mây khói, bước đi nhưng chưa nỡ rời
Lệ sầu tràn mi, đượm men cay đắng biệt ly
Rồi đây dù lạc ngàn nơi
Ta hướng về chốn xa vời
Tìm mộng xưa lãng quên tháng ngày tàn phai
Nghẹn ngào thương nhớ "em"... Hà Nội ơi…



Nhạc sĩ Vũ Thành đã qua đời nhưng giấc mơ hồi hương, gói gắm trong nhạc phẩm của ông, vẫn chưa thành sự thật. Nửa thế kỷ sau, nhạc phẩm bất hủ “Giấc mơ hồi hương” cũng chưa được chính thức hát lên giữa lòng Hà Nội dấu yêu mà ông đã hằng nghìn đêm thương nhớ.



Mười sáu năm sau ngày đất nước bị chia đôi, trong giảng đường đại học, trên đường phố Sài Gòn, trong sân trụ sở Tổng hội Sinh viên ở số 4 Duy Tân Sài Gòn, dọc hành lang cư xá sinh viên Minh Mạng, tiếng hát của ước mơ hòa bình thống nhất độc lập tự do lại vang lên, khác chăng, lần này không phải từ các giọng ca chuyên nghiệp như Quốc Hương, Thái Thanh, từ các nhạc sĩ thành danh như Hoàng Việt, Vũ Thành, không phải từ những giàn đại hòa tấu mà từ những nhạc sĩ còn rất trẻ với những cây guitar thùng cũ kỷ. Họ là Tôn Thất Lập, Nguyễn Văn Sanh, La Hữu Vang, Miên Đức Thắng, Trương Quốc Khánh và cả những nhạc sĩ sinh viên đang kẻ những khung nhạc lần đầu.



Nếu có cuộc bình bầu những bài hát phổ biến, chuyên chở tình đất nước và được sinh viên học sinh trước 1975 ưa chuộng, tôi nghĩ một trong những bài được chọn sẽ là bài “Tự nguyện” của nhạc sĩ Trương Quốc Khánh. Lý do vì bài hát ngắn, dễ hát, dễ thuộc, nói lên khát vọng chưa thành của tuổi trẻ nói riêng và dân tộc nói chung.



Nếu là chim, tôi sẽ là loài bồ câu trắng
Nếu là hoa, tôi sẽ là một đóa hướng dương
Nếu là mây, tôi sẽ là một vầng mây ấm
Nếu là người, tôi sẽ chết cho quê hương …



Nhạc sĩ Trương Quốc Khánh đã qua đời, trên đất nước anh hoa hướng dương vẫn chưa nở và con bồ câu bạn bè anh đặt trên quan tài anh trong giờ tiễn biệt cũng đã chết vài ngày sau đó.



Ba nhạc sĩ, người từ Nam ra Bắc, kẻ từ Bắc vô Nam, kẻ từ núi rừng, người từ thành phố, cho đến khi qua đời họ có thể chưa một lần gặp mặt nhau, nhưng cả ba đã cùng với nhiều triệu người Việt Nam cưu mang một ước mơ chung: hòa bình, thống nhất, độc lập, tự do.


Nếu là người, tôi sẽ chết cho quê hương, vâng, có người Việt Nam yêu thương đất nước nào mà chẳng từng có những ước mơ như thế. Khát vọng hòa bình, thống nhất, độc lập, tự do là khát vọng có thật và sâu thẳm của một dân tộc đã trải qua quá dài, chịu đựng quá nhiều trong chiến tranh, hận thù, phân chia Nam Bắc. Từ buổi sáng ngày 6 tháng 6 năm 1884 khi hòa ước mất nước Patenôtre được ký cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 là một chặng đường dài. Trong khoảng thời gian đó bao nhiêu máu Việt Nam đã đổ, bao nhiêu thịt Việt Nam đã rơi trên núi rừng và đồng ruộng Việt Nam.


Ngày tôi vào đại học các nhạc sĩ sinh viên nói trên một số đã vào tù, một số vào bưng, một số được trao trả tù binh ở bìa rừng Lộc Ninh, một số trốn tránh ở Sài Gòn, tôi không quen biết hay gặp gỡ họ nhưng những bài ca khao khát hòa bình thống nhất của họ vẫn còn vang đâu đó như trong bài “Không ai ngăn nổi lời ca” của La Hữu Vang dưới đây:


Không ai ngăn nổi lời ca, lời ca mãi muôn đời, lời ca yêu mến người
Lời tôi ca trên đồng lúa, lời tôi ca nắng mai hồng, lời tôi ca cơn sóng nhỏ dòng sông
Không ai ngăn nổi lời ca, lời ca những anh hùng trọn đời yêu núi sông
Lời tôi ca xanh đại dương, lời tôi ca những con đường
Lời tôi ca bao dòng máu trên luống cầy đọng giọt mồ hôi
Và ngàn lời ca quyết giữ nước ngăn quân giặc thù
và ngàn lời ca quyết phá tan ngục tù
Người người tìm nhau trong bác ái tin yêu đời
Chung xây nước Việt đẹp tươi !


“Chung xây nước Việt đẹp tươi”, tôi nghĩ các anh chị nhạc sĩ sinh viên thật quá ngây thơ, nhưng đồng thời tôi lại rất kính trọng tấm lòng yêu quê hương trong sáng của họ. Hàng trăm trí thức miền Nam, những giáo sư, luật sư, bác sĩ, kỹ sư từ các trường Tây trường Mỹ về, những bậc thầy, bậc cha chú họ mà còn bị cộng sản xỏ mũi dễ dàng nói chi là những cô cậu sinh viên trẻ tuổi vừa mới nện gót giày lên hành lang đại học. Những con nai tơ còn quá trẻ để thấy phía bên kia bụi rậm bầy cọp đói đang chờ đợi họ. Dù sao, trong đêm dài mùa đông của vận nước, họ là những thanh niên Việt Nam có trái tim nồng ấm tình người và biết đau nỗi đau mà đồng bào đang chịu đựng. Lớn lên trong một xã hội chiến tranh đầy dẫy những bất công tiêu cực họ không có một nơi nào để trút những phẫn uất khác hơn là giới cầm quyền. Tuổi trẻ quốc gia nào cũng thế, nhiệt tình, phản kháng, cương trực, vô tư, nhưng khác ở chỗ tại Việt Nam những đặc tính đó của tuổi trẻ bị Đảng Cộng sản lợi dụng tận tình, không phải chỉ tiếng hát lời ca, mà còn từ thịt xương đến giọt máu cuối cùng.



“Không ai ngăn nổi lời ca” là một thách thức của tuổi trẻ nhưng hình như khi viết bài ca đó nhạc sĩ trẻ của quê hương anh hùng Nguyễn Huệ chỉ nghĩ đến chính quyền miền Nam mà chưa biết rằng trên đời này còn có Đảng Cộng sản Việt Nam. Lịch sử bốn ngàn năm cuồn cuộn của dân tộc Việt mà Đảng còn ngăn được nói chi làm dăm ba bài hát. Chỉ vài hôm sau ngày cưỡng chiếm Sài Gòn, các nhạc phẩm của thời kỳ sinh viên sôi nổi, dù không công khai thông báo ra ngoài nhưng bên trong nội bộ ban văn hóa tư tưởng của Đảng, chúng đã bị xếp chung với loại nhạc “vàng”, “ủy mị”, “ru ngủ” và thậm chí “phản động”. Những người lưu tâm đến sinh hoạt văn nghệ đều biết sau 30 tháng 4 năm 1975 những nhạc phẩm như “Không ai ngăn nổi lời ca” hay “Tổ quốc ơi ta đã nghe” chỉ còn là những tiếng thì thầm trong góc tối. Ngay cả tại số 4 Duy Tân, trụ sở của Tổng hội Sinh viên Sài Gòn, những nhạc phẩm của La Hữu Vang đã không còn được hát.


Lời của bài “Tổ quốc ơi ta đã nghe” của La Hữu Vang:

Ôi Tổ quốc ta đã nghe lời réo gọi
Trong tiếng hờn trong máu lửa ngập trời
Từng giây nghe quê hương
Xót xa thầm trong cơn thê lương
Thù quân gieo tang thương
Bao suối lệ tràn dâng muôn phương
Tổ quốc ơi! Ta đã nghe lời sông núi
Hận thù này tràn đầy sục sôi trong tim gan nồng
Ta đi chiến đấu quyết đánh tan quân bạo tàn
Bảo vệ Việt Nam quê hương ta.
Ôi Tổ quốc bao tiếng ca giờ lên đường
Ðem máu hồng tô thắm đẹp cuộc đời
Lời xưa vang đâu đây
Chí kiêu hùng muôn phương tung bay
Ðường ta đi hôm nay bao xác thù gục ngã tan thây
Tổ quốc ơi bao thiết tha lời sông núi
Thề nguyện cả cuộc đời trọn dâng cho quê hương này
Muôn hoa tươi thắm ngát hương trên bao nụ cười
Gian khổ nề chi ta ra đi.



Sau 1975, nhạc sĩ La Hữu Vang, tên thật là Trần Đình Giác, không giống như nhiều người khác ở lại Sài Gòn để tìm một chỗ đứng, một con đường tiến thân trong xã hội mới, đã lặng lẽ trở về quê hương Bình Định để sống với gia đình. Suốt 31 năm, tác giả những bản nhạc hay nhất của phong trào sinh viên Sài Gòn đã sống một cuộc sống đạm bạc với chức vụ coi sóc nhà văn hóa của huyện Hoài Nhơn tỉnh Bình Định. Trong buổi phỏng vấn dành cho báo Bình Định cuối tháng 4 năm 2003, anh xác nhận, trước 1975: “Phần lớn những ca khúc mà chúng tôi viết chỉ nhằm vào việc kêu gọi lòng yêu nước…”. Lòng yêu nước như ngọn đèn thần để ở đâu cũng sáng rực. Nhạc phẩm “Tổ quốc ơi ta đã nghe” đã được tuổi trẻ Việt Nam ở hải ngoại tiếp tục hát, tương tự, nhạc phẩm “Không ai ngăn nổi lời ca” của anh đã được nhiều ca sĩ như Lệ Thu, Julie Quang thu vào băng đĩa.

Những bài hát của La Hữu Vang viết cho hoàn cảnh đất nước trước 1975 nhưng lại thích hợp hơn cho những năm sau 1975 với những cảnh “xót xa thầm trong cơn thê lương” hay “Bao suối lệ tràn dâng muôn phương”. Như ông bà ta thường nói “có tật giật mình”, Đảng rất ngại những bản nhạc của La Hữu Vang với nội dung yêu nước chân thành như thế, nếu cho phép tiếp tục hát trong những năm sau 1975 đói khổ, có thể giúp cho tuổi trẻ Việt Nam sực tỉnh và hiểu ra kẻ thù của dân tộc chẳng phải “Mỹ Ngụy” nào mà chính là những kẻ đang nhân danh Tổ quốc.



Theo đúng sách lược của Đảng từ những ngày mới thành lập năm 1930 được cụ thể hóa qua nhiều đại hội và nghị quyết, ngày 30 tháng 4 năm 75 cũng xác định nhu cầu “khai thác lòng yêu nước” không còn cần thiết nữa, cuộc cách mạng “dân tộc dân chủ nhân dân” đã hoàn tất và “thời kỳ chuyên chính vô sản, bước quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội” đang bắt đầu thành hiện thực. Và trong tiến trình cách mạng mới đó, những khái niệm độc lập, tự do, hạnh phúc do những thành phần ngoài Đảng kêu gọi phải được cảnh giác và ngăn cấm.



Trong quan điểm của Đảng, giữa lúc cuộc đấu tranh một mất một còn để tận diệt mọi “tàn dư” của “kẻ thù nhân dân” và “bẻ gãy mọi âm mưu xâm lược của các thế lực quốc tế thù địch”, việc kêu gọi “người người tìm nhau trong bác ái tin yêu đời” để “chung xây nước Việt đẹp tươi” như La Hữu Vang viết, là biểu hiện cho “thái độ hữu khuynh”, “không phân biệt bạn thù”. Nhạc như thế phản động quá đi chứ. Cũng theo Đảng, những khái niệm như tình yêu nước thuần khiết của mấy cô cậu sinh viên đại học đúng là sản phẩm của giai cấp tiểu tư sản, yêu nước ngày nay phải gắn liền với yêu chủ nghĩa xã hội, và tương tự, nhân dân không phải là mấy chục triệu người Việt Nam máu đỏ da vàng chịu đựng chiến tranh mà là những ai biết đặt mình dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản Việt Nam.



Ngày 30 tháng 4 năm 1975 cũng là ngày đánh dấu sự chia tay giữa Đảng Cộng sản và các thành phần dân tộc mà Đảng đã một thời liên minh, thỏa hiệp và ưu ái. Mối quan hệ giữa hai bên nếu còn được duy trì cũng chỉ là quan hệ lãnh đạo và phục tùng, chủ và tớ chứ không còn tương kính dù chỉ là đóng kịch như thời còn ở trong rừng hay trên núi. Một số trí thức trẻ “thức thời” thấy được hướng bay của ngọn cờ quyền lực, đã tự chôn sống đi con bướm vàng mơ ước tuổi hai mươi để hóa thân làm sâu bọ đo mình trên chiếc lá mục công danh. Một số khác nghĩ rằng mình “có công với cách mạng” trong thời chống Mỹ nên cũng có quyền, có tiếng nói dưới chế độ mới, và kết quả nếu không chạy kịp ra nước ngoài thì cũng bị bỏ rơi, bạc đãi, tù đày trong nước. Dĩ nhiên cũng có nhiều người, tuy trễ tràng, nhưng đã thấy ra những chọn lựa đầy lầm lỡ thời trai trẻ và đã dùng những lầm lỡ như bài học, như chiếc gương cho các thế hệ mai sau soi vào để qua đó mà nhận diện ra sự thật và chọn hướng đi đúng cho mình.



Giới lãnh đạo Đảng Cộng sản lợi dụng và vận dụng một cách tinh vi, nhuần nhuyễn lòng yêu nước, niềm khao khát hòa bình thống nhất chân thành nhưng quá đơn sơ của người dân Việt, nhất là trong tuổi trẻ. Họ có đủ sách vở áp dụng cho mọi thành phần xã hội, từ anh thợ điện Nguyễn Văn Trỗi ít học ở quê tôi cho đến bà luật sư Ngô Bá Thành học nhiều mà hiểu chẳng bao nhiêu ở Sài Gòn. Tất cả đều hùa theo Đảng đổ tội lý do cuộc chiến lên đầu các nhà lãnh đạo miền Nam, nào là không tôn trọng Hiệp định Geneva thống nhất đất nước qua một cuộc tổng tuyển cử, nào là rước voi Mỹ vào giày xéo lên mảnh đất miền Nam thân yêu. Thế nhưng, không có một nhà trí thức nào thử đặt ngược giùm câu hỏi. Giả thiết không có một người lính Mỹ nào đặt chân lên miền Nam liệu Đảng Cộng sản có để yên cho nhân dân miền Nam xây dựng một xã hội mà họ đã chọn lựa hay rồi sẽ tìm một lý do khác để phát động chiến tranh? Giả thiết Đảng Cộng sản thua trong cuộc tổng tuyển cử, liệu họ có chịu giải tán bộ máy công an, hủy bỏ tổng cục chính trị, hệ thống quân ủy, ủy ban nhân dân, viện kiểm sát nhân dân, tòa án nhân dân, sáp nhập quân đội nhân dân vào quân đội cộng hòa và sinh hoạt bình đẳng dưới pháp luật như các đảng phái khác hay sẽ dùng mọi thủ đoạn để giành cho được chính quyền? Một người có kiến thức chính trị tối thiểu cũng biết Đảng chỉ có một con đường, đó là cộng sản hóa toàn cõi Việt Nam, và tất cả khẩu hiệu hòa bình, thống nhất, độc lập, tự do nếu có chăng cũng chỉ là những điều kiện tiền đề chứ không bao giờ là mục đích của Đảng Cộng sản Việt Nam.



Chính vì lẽ đó, ngay sau 30 tháng 4 năm 75, để xác định vai trò lãnh đạo của Đảng, những bài hát mới với những câu đầy đe dọa như “Tiến về Sài Gòn ta quét sạch giặc thù…”, “Đập tan mọi xích xiềng…” hay những bài hát như “Bác đang cùng chúng cháu hành quân…”, ”Như có Bác trong ngày vui đại thắng”, “Trường Sơn đông-Trường Sơn tây”, “Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người " v.v… được phát không chỉ trên đài phát thanh mà còn đến tận các hang cùng ngõ hẻm, trong lúc những nhạc phẩm nói lên khao khát hòa bình thật sự nhưng không nằm trong chủ trương của Đảng đều đã bị loại bỏ ra khỏi các sinh hoạt văn nghệ.



Mà cho dù không bị ngăn cấm hay loại bỏ đi nữa, những câu hát sinh viên “Rồi hòa bình sẽ đến, đến cho dân tộc Việt, đôi bồ câu trắng rủ nhau về làng xưa...” của Nguyễn Tuấn Kiệt có cất lên cũng tức khắc trở thành lạc lõng nếu không muốn nói đó là những lời mỉa mai cay đắng trước thực tế đất nước đang chìm đắm trong hận thù tang tóc. Hòa bình đã đến nhưng con bồ câu trắng không về làng xưa mà chết đói trên vùng kinh tế mới, giữa biển cả mênh mông, trong rừng sâu nước độc, trên hàng rào kẽm gai chung quanh các trại tù Suối Máu, Hàm Tân, Hoàng Liên Sơn, Thanh Phong, Thanh Hóa.



Với người dân Sài Gòn, nỗi lo khi nghe tiếng đại pháo 130 ly của Liên Xô bắn vào thành phố và nỗi sợ khi nghe tiếng xích xe tăng T54 lăn bánh qua cầu Tân Thuận có thể không khác gì nỗi lo, nỗi sợ của ông bà họ trong ngày thực dân Pháp đánh vào thành Kỳ Hòa 115 năm về trước.


Một số người cho rằng việc gọi ngày 30 tháng 4 là ngày quốc hận, ngày mất nước, mất quê hương hay so sánh ngày mất Sài Gòn năm 1975 với ngày Sài Gòn thất thủ năm 1861 là biểu hiện của thái độ cực đoan. Thật ra, nếu nhìn lịch sử theo điều kiện và hoàn cảnh chính trị xã hội của từng giai đoạn, việc gọi ngày 30 tháng 4 năm 1975 là ngày mất nước không hẳn là không có cơ sở. Thế nào là một đất nước? Đất nước phải chăng là tổng hợp, từ lãnh thổ đến tài nguyên, từ văn hóa đến lịch sử, từ chủ quyền quốc gia đến hạnh phúc của mỗi người dân, nói tóm lại, nếu đất nước bao gồm mọi giá trị vật chất và tinh thần của một dân tộc, rồi ngày 30 tháng 4 năm 1975 đúng là ngày mất nước, không chỉ mất miền Nam thôi mà mất cả Việt Nam.



Một ví dụ. Những năm sau 1975, ngày sinh nhật Karl Marx 5 tháng 5 là ngày lễ lớn. Từ sáng đến tối không biết bao nhiêu chương trình, bao nhiêu buổi mít-tinh để tưởng nhớ đến người được Đảng ca ngợi như một vĩ nhân đã chỉ đường cho nhân loại bước ra khỏi những nhọc nhằn tăm tối của cảnh người bóc lột người để hướng đến xã hội cộng sản khoa học. Tiểu sử của Marx được đọc trên đài phát thanh, đài truyền hình, học tập tại mỗi tổ dân phố, hàng triệu học sinh Việt Nam từ cấp một đến đại học phải học thuộc lòng tiểu sử Marx, thế nhưng, bao nhiêu học sinh Việt Nam nói riêng và người dân Việt Nam nói chung biết rằng trước đó vài tuần lễ thôi, một ngày vô cùng trọng đại đối với dân tộc Việt Nam đã lặng lẽ trôi qua gần như trong quên lãng: ngày mùng 10 tháng 3 Âm lịch Giỗ Tổ Hùng Vương. Câu tục ngữ Việt Nam mà ai cũng biết, cây có cội nước có nguồn, nhưng nguồn Việt Nam ở đâu và cội Việt Nam sẽ mục nát ra sao trong một nền giáo dục nô lệ và vong bản như thế. Một dân tộc đi xa dần với nguồn cội, nếu không đáng gọi là mất nước thì còn gì quan trọng hơn để mất chứ nhỉ?



Sự sụp đổ của hệ thống cộng sản trên phạm vi thế giới đã ít nhiều đã ảnh hưởng đến Việt Nam, các nhạc phẩm sinh viên một thời xếp xó được đem ra hát lại, bản nhạc “Tình ca” của Hoàng Việt được nhiều ca sĩ đua nhau hát, đời sống của người dân ít nhiều thay đổi, nhưng về căn bản, hơn ba mươi năm qua khát vọng hòa bình, thống nhất, độc lập, tự do của dân tộc vẫn còn là khát vọng. Tiếng súng đã vắng đi trên đất nước, non sông liền một dải nhưng người dân vẫn sống trong nỗi bất an lo sợ, lòng người hai miền Nam Bắc còn ngăn cách xa hơn cả trong thời chiến, hàng trăm ngàn người con gái Việt phải rời bỏ quê hương đi ăn mày, làm điếm, ở đợ khắp thế giới, Hoàng Sa và phần lớn Trường Sa còn trong tay giặc, phần lớn trong số hơn hai triệu người Việt hải ngoại vẫn còn bị xem là thành phần phản động bám theo chân đế quốc, và trong nước, những quyền tối thiểu như ngôn luận, đi lại, thờ phụng của người dân vẫn chưa có được.



Việt Nam thiếu quá nhiều thứ, cần quá nhiều thứ, nhưng một thứ mà tuổi trẻ đang thiếu, đang cần không phải là lãnh tụ, không phải là súng đạn, không phải là kiến thức, mà là những bài ca của khát vọng hòa bình, thống nhất, độc lập, tự do vẫn chưa thành sự thật.

Không ai ngăn nổi lời ca, lời ca lúc ban đầu, người tình thương mến nhau
Lời tôi ca bên lửa ấm của con tim biết yêu nồng
Sưởi cho nhau cơn giá lạnh ngày Đông.

Không ai ngăn nổi lời ca, vâng, hãy hát lên hỡi tuổi trẻ Việt Nam như một lần La Hữu Vang và bạn bè anh đã hát trong sân trường đại học.

© 2006 talawas
Trích TALAWAS , 10 thang 8, 2006

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

TRẬN CHIẾN 10 NGÀY

90 % Lý Tống sẽ bị dẫn độ về VN ,10% trong tay đồng hương ở Hải ngoại để cứu nguy cho Lý Tống không bị dẫn độ về VN

Một Uỷ ban đặc nhiệm khẩn cấp đã được thành lập , đứng đầu là Cá nhân cựu tướng Lý Tòng Bá khởi xướng

Uỷ ban đặc nhiệm có trách nhiệm Phản kháng với nhà cầm quyền Thái Lan Huỷ bỏ việc Dẫn độ chiến sĩ Lý Tống về VN .

với khẩu hiệu "KHÔNG VAN .XIN....KHÔNG QUÌ LẠY .

Uỷ ban cần sự tiếp tay của toàn thể đồng hương trên toàn thế giới qua địa chỉ tatcacholytong@aol.com

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Ủy Ban Phát Huy Tinh Thần Lý Tống
8122 23rd Street,
Westminster, CA 92683,
(714) 251-9997

Tuyên Cáo


Ủy Ban Phát Huy Tinh Thần Lý Tống

Nay tuyên cáo:

Qua quyết định của Tòa Sơ Thẩm Thái Lan vào ngày 7 Tháng Chín, 2006 về việc sẽ dẫn độ chiến sĩ Lý Tống về Việt Nam.

Thứ 1: Cực lực phản đối chính quyền Thái Lan đã không công chính trong việc xét xử chiến sĩ Lý Tống và đã chịu sức ép của nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam.

Thứ 2: Kêu gọi toàn thể đồng bào hải ngoại, các tổ chức đoàn thể đấu tranh cùng đoàn thể tranh đấu, thể hiện qua cuộc biểu tình vào lúc 10 giờ sáng Chủ Nhật ngày 10 Tháng Chín, 2006, tại trước khu chợ Á Ðông, đối diện thương xá Phước Lộc Thọ.

Thứ 3: Thỉnh cầu chính phủ Hoa Kỳ và các vị dân cử tích cực can thiệp cho sự tự do của chiến sĩ Lý Tống.

Thứ 4: Kêu gọi toàn thể đồng bào hải ngoại nhiệt tâm ký thỉnh nguyện thư yêu cầu chính phủ và giới lập pháp tại các địa phương cư ngụ lên tiếng ủng hộ chiến sĩ Lý Tống và các chiến sĩ đang tranh đấu cho tự do dân chủ, nhân quyền cho dân tộc Việt Nam.

Làm tại Little Saigon ngày 7 Tháng Chín, 2006

TM UBPHTT Lý Tống Nam California

Chủ Tịch

Hồ Thăng

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Cộng đồng Việt Nam phản đối phán quyết dẫn độ Lý Tống về Việt Nam - Sẽ tổ chức biểu tình lớn vào sáng Chủ Nhật, September 10, 2006



WESTMINSTER, California (NV) - Phản ứng trước tin ông Lý Tống bị tòa án tại Thái Lan phán quyết dẫn độ về Việt Nam, các tổ chức cộng đồng tại miền Nam California tỏ thái độ ngạc nhiên, lên tiếng phản đối, và cho biết sẽ tổ chức biểu tình lớn vào sáng ngày Chủ Nhật sắp tới.

Tin ông Lý Tống bị dẫn độ đã lan đi khắp nơi, sau khi trang web Người Việt Online đưa tin này đầu tiên vào đêm Thứ Tư. Tòa án Thái Lan hôm Thứ Năm ngày 7 Tháng Chín (giờ địa phương) đã ra quyết định cho dẫn độ nhà tranh đấu Lý Tống về Việt Nam để bị xét xử về tội vi phạm không phận, liên quan đến việc chiếm đoạt một phi cơ và thả 50,000 tờ truyền đơn chống cộng sản trên bầu trời thành phố Sài Gòn.

Ông Lý Tống, một cựu phi công Không Lực Việt Nam Cộng Hòa và sau đó trở thành công dân Hoa Kỳ, đã thực hiện phi vụ thả truyền đơn đúng vào ngày Tổng Thống Bill Clinton viếng thăm Việt Nam hồi Tháng Mười Một năm 2000.

Chính quyền Việt Nam đã gửi công hàm đòi chính phủ Thái Lan dẫn độ ông Lý Tống vào Tháng Mười Hai năm 2004 với lý do mạ lị chính quyền Hà Nội và vi phạm an ninh lãnh thổ Việt Nam.

Tòa án Thái Lan không xét xử phần mạ lị vì coi đây là vấn đề chính trị. Chính phủ Thái Lan không dẫn độ bất cứ ai vì lý do bất đồng chính kiến. Tuy nhiên, tòa đã cho rằng “có đủ yếu tố cần thiết” để dẫn độ ông Lý Tống về Việt Nam trên căn bản vi phạm an ninh quốc gia.

Tại Quận Cam, ông Lâm Hải, ủy viên kế hoạch Ủy Ban Phát Huy Tinh Thần Lý Tống, nói với báo Người Việt: “Ðây là một cú sốc đối với tôi. Về mặt cá nhân, tôi và anh Lý Tống là bạn rất thân với nhau. Ðối với đồng bào Việt Nam cả trong và ngoài nước, đây là một tin buồn vì anh Lý Tống là một người đại diện cho tiếng nói dân chủ của chúng ta. Quyết định của tòa án như là một đòn phủ đầu, bóp nghẹt tiếng nói của cộng đồng chúng ta trong việc đấu tranh dân chủ tự do cho quê hương.”

“Ủy ban đã xúc tiến một cuộc họp tại nhà một thân hữu để tổ chức một cuộc biểu tình vào lúc 10 giờ sáng Chủ Nhật này để kêu gọi đồng hương và toàn thể các hội đoàn đấu tranh cho tự do và dân chủ cho Việt Nam phản kháng quyết định của tòa án Thái Lan,” ông Lâm Hải nói thêm.

Ủy Ban Phát Huy Tinh Thần Lý Tống, trong một bản tuyên cáo do ông Hồ Thăng, chủ tịch ủy ban, ký tên, kêu gọi cộng đồng tham gia một cuộc biểu tình vào lúc “10 giờ sáng Chủ Nhật ngày 10 Tháng Chín, 2006, tại trước khu chợ Á Ðông, đối diện thương xá Phước Lộc Thọ.”

Bản tuyên cáo đồng thời “thỉnh cầu chính phủ Hoa Kỳ và các vị dân cử tích cực can thiệp cho sự tự do của chiến sĩ Lý Tống.”

Ông Bùi Trí Dũng, hội trưởng Hội Không Quân Việt Nam, miền Trung California, lên tiếng “phẫn nộ” với quyết định của tòa Thái Lan. Ông cho báo Người Việt biết: “Chúng tôi rất phẫn nộ khi hay tin. Hành động của anh Lý Tống là muốn giải phóng dân tộc, chống đối lại chính sách đàn áp của Việt Nam, chứ không phải là khủng bố.”

Ông cho rằng “sự việc cho thấy chính quyền Thái Lan đã hợp tác với Việt Nam để chèn ép những hành động dân chủ của chúng ta. Chúng tôi hoàn toàn phản đối phán quyết này của tòa.” Ông nói thêm, “Chúng tôi đang bàn với nhau để cùng đồng bào, anh em trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và các tổ chức khác của cộng đồng đồng thanh làm một cuộc biểu tình phản đối Thái Lan và ủng hộ anh Lý Tống.”

Ông Ngô Chí Thiềng, chủ tịch Hội Ðồng Chấp Hành Cộng Ðồng Việt Nam Nam California, gọi quyết định của tòa Thái Lan “là một nỗi đau cho tất cả người Việt Nam ở hải ngoại, đặc biệt là tại miền Nam California.”

Ông cho báo Người Việt biết, “Có lẽ chúng ta phải có một thái độ nào đó đối với chính quyền Thái Lan trong những ngày tới để cho họ biết rằng chúng ta không đồng ý với bản án họ dành cho anh Lý Tống.”

“Chắc chắn là chúng tôi sẽ tổ chức một cuộc biểu tình và kêu gọi mọi người ký kháng thư gởi cho Quốc Vương Thái Lan để bảy tỏ sự phản đối của cộng đồng chúng ta.”

Trong khi đó, chính quyền Việt Nam tỏ ý vui mừng trước tin ông Lý Tống sẽ bị dẫn độ. Trong cuộc họp báo thường kỳ ngày 7 Tháng Chín tại Hà Nội, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Việt Nam Lê Dũng nói, “Chúng tôi hoan nghênh quyết định của tòa án Thái Lan dẫn độ Lý Tống về Việt Nam.” Ông Lê Dũng cho biết chính quyền Việt Nam sẽ “nghiêm trị” ông Lý Tống do những hành động mà chính quyền Việt Nam cho là “vi phạm nghiêm trọng chủ quyền, an ninh và pháp luật của Việt Nam, luật pháp và điều ước quốc tế.”

Tại Thái Lan, ông Lý Tống cho hay sẽ kháng cáo quyết định này trong vòng 15 ngày, theo luật Thái Lan. (H.N.V.)

Ủy Ban Phát Huy Tinh Thần Lý Tống
8122 23rd Street, Westminster, CA 92683, (714) 251-9997

Tuyên Cáo

Ủy Ban Phát Huy Tinh Thần Lý Tống

Nay tuyên cáo:

Qua quyết định của Tòa Sơ Thẩm Thái Lan vào ngày 7 Tháng Chín, 2006 về việc sẽ dẫn độ chiến sĩ Lý Tống về Việt Nam.

Thứ 1: Cực lực phản đối chính quyền Thái Lan đã không công chính trong việc xét xử chiến sĩ Lý Tống và đã chịu sức ép của nhà cầm quyền Cộng Sản Việt Nam.

Thứ 2: Kêu gọi toàn thể đồng bào hải ngoại, các tổ chức đoàn thể đấu tranh cùng đoàn thể tranh đấu, thể hiện qua cuộc biểu tình vào lúc 10 giờ sáng Chủ Nhật ngày 10 Tháng Chín, 2006, tại trước khu chợ Á Ðông, đối diện thương xá Phước Lộc Thọ.

Thứ 3: Thỉnh cầu chính phủ Hoa Kỳ và các vị dân cử tích cực can thiệp cho sự tự do của chiến sĩ Lý Tống.

Thứ 4: Kêu gọi toàn thể đồng bào hải ngoại nhiệt tâm ký thỉnh nguyện thư yêu cầu chính phủ và giới lập pháp tại các địa phương cư ngụ lên tiếng ủng hộ chiến sĩ Lý Tống và các chiến sĩ đang tranh đấu cho tự do dân chủ, nhân quyền cho dân tộc Việt Nam.

Làm tại Little Saigon ngày 7 Tháng Chín, 2006

TM UBPHTT Lý Tống Nam California

Chủ Tịch

Hồ Thăng


User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Sinh hoạt ca nhạc hải ngoại cần sinh khí mới? Trước một viễn ảnh không lạc quan cho sức phát triển làng ca nhạc Việt hải ngoại, Huỳnh Nhật Tân cho rằng: “Các công ty ca nhạc và báo chí truyền thông lớn nên nỗ lực hơn, bằng cách dù không chung vốn thì vẫn có thể tích cực trợ giúp một phát triển chung, lợi ích chung… Điển hình nhưgiới truyền thông và các trung tâm ca nhạc có thể nương nhau, chia sẻ những lợi ích và trách nhiệm trong công tác thực hiện qui mô và phát hành mọi sản phẩm văn nghệ để cùng lợi ích và cùng sống còn. ” Vai trò người nhạc sĩ vẫn độc lập nhưng không thể đứng ngoài các trung tâm ca nhạc, đứng ngoài các tổ chức báo chí nếu mong cùng phát triển, cùng lợi ích.

Gần đây nhất, những sáng tác hòa âm mới của Huỳnh Nhật Tân như Sầu Trong Đêm, Thiền Quán (thơ Chánh Thành, nhạc Phạm Anh Dũng), Một Mình Trong Quán Xưa, Trăng Sáng( thơ Nguyễn Văn Thu, nhạc Phạm Anh Dũng) …lần lượt góp mặt trong CD thứ hai của ca sĩ Xuân Thanh.

Nhạc sĩ Huỳnh Nhật Tân cho rằng đây là một cơ hội thú vị vì được làm việc với một tiếng hát đặc biệt và sáng tác chuyên loại nhạc bán cổ điển. Đây là chất nhạc quyện vào hồn người thưởng ngoạn, nhẹ nhàng nhưng lưu lại lâu trong tâm thức, mà ngày nay đang dần hiếm xuất hiện trên thế giới nhưng chỉ có nhạc Việt mới thuận phát triển chất nhạc này: ' Thơ quyên ý vào nhạc, mà bay bổng, nhạc quyện vào thơ mà vui buồn tỏa ngát... Từ trên mười năm qua tôi không có cơ hội sáng tác trong lãnh vực này. Đây là lần đầu tôi mới gặp thuận lợi soạn hoà âm cho loại nhạc này, như một xuất phát trong giai đoạn mới, tươi mát và trẻ trung.., tôi đã may mắn được làm việc trong không khí và không gian mới..'

Rồi ông say sưa diễn tả sâu vào công việc sáng tác trong giai đoạn mới này: “Phối hợp nét nhạc mới nhưng mang chất cổ điển và những bài thơ nhiều ý nghĩa, thơ mộng của Chánh Thành, Vương Ngọc Long, Nguyễn Văn Thu, BH... Cách hòa âm của mỗi bài thơ như một phim truyện, âm thanh phong phú, không chỉ kỹ thuật hóa hoặc máy móc tân tiến khoa học, mà là sự thơ mộng của rung cảm cùng với hình ảnh và không gian, như hình ảnh của một cuộn phim lồng nhạc và cốt chuyện thơ mộng, dẫn giải... trong đó có tiếng mưa gió, sóng biển,tiếng dế mèn kêu đêm nỉ non, tiến xe lửa rời ga, tiếng đàn trang đàn Nhật, tiếng đồng hồ ngân nga trong đêm dài thao thức…”

Nhạc sĩ Huỳnh Nhật Tân cho biết anh muốn làm trẻ và mới nhạc của mình bằng lời lẽ giản dị, nhịp điệu và tiết tấu thích hợp hơn, nhạc tính và tránh lê thê, nhàm chán, bớt điển tích cầu kỳ, ngôn ngữ dễ hiểu dễ cảm nhận có thể nhớ và hát được nhanh chóng, melody không khó khăn cầu kỳ nhưng cũng không quá tầm thường.... Lời dễ hiểu hơn hoặc 'air' nhạc và hoà âm hay, để giới trẻ nếu không hiểu hết ngôn ngữ thì cũng cảm thông với nhạc điệu. Họ có thể nghe nhạc, như nghe được nhịp đập của trái tim họ,và họ nhún nhẩy theo, hoặc ít ra họ cũng có cảm giác cộng hưởng với dòng nhạc chứ không chỉ thụ động, chỉ toàn những lời lẽ bóng bẩy huê dạng mà thôi.

Theo nhạc sĩ họ Huỳnh, nhạc ngày nay cần có sức quyến rũ nhờ kỹ thuật âm thanh để giới trẻ (và những người còn nghe, còn yêu thích nhạc Việt) có thể đón nhận các ca khúc mới mẻ hẳn, hoặc những ca khúc hay đã được sáng tác bay giờ làm mới lại, điển hình như Bạc Tình, Dỗi Hờn …Huỳnh Nhật Tân đã sáng tác từ trên 20 năm qua. Hoặc một số sáng tác cho người bạn đời, ca sĩ Ngọc Thúy, qua một số CD, những sáng tác cũ của chính Huỳnh Nhật Tân nhưng được hoà âm mới đây đã mang một không khí mới cho người nghe thấy không bị xưa cũ, không tạo không khí lê thê, buồn nản... Bài hát 'Tình Nhạc Trong Cơn Mưa' chứng minh cho điều này, rất cũ nhưng hoà âm mới, khiến các bạn trẻ cảm thấy như rất mới và rất thời trang....

Nhạc sĩ Huỳnh Nhật Tân từng theo học với nhạc sĩ Văn Phụng, ca sĩ Châu Hà, và sau đó làm việc chung với các nhạc sĩ Nguyễn Trung Cang và Nguyễn Trung Chánh, trong ban nhạc Phượng Hoàng. Anh hiện cộng tác với một vài Trung Tâm ca nhạc lớn tại hải ngoại, nhưng anh cũng là chuyên viên chính thức về âm thanh cho công ty ca nhạc danh tiếng Sony tại Hoa Ky.ø

Huỳnh Nhật Tân phát biểu: 'Không thể nói rằng thính giả không đáp ứng đủ hoặc không ủng hộ ca nhạc Việt hải ngoại, mà chúng ta phải tự thấy có trách nhiệm… Nhiệm vụ cho ngành sáng tác là mình đã đáp ứng được nhu cầu thưởng ngoạn của quần chúng chưa? Sau chu kỳ 10 năm, 20 năm giới sáng tác và trung tâm ca nhạc đã sẵn sàng thay đổi để có thể tạo ra được một bầu không khí nhạc mới chưa, hay vẫn đứng lại với âm thanh, nhịp điệu cũ mòn và dòng tư tưởng dậm chân một chỗ trong một tháp ngà riêng mình xây dựng nhưng đã xa xưa rồi, để cố thủ hoặc nương náu. Dĩ nhiên về các trung tâm ca nhạc Việt và các nhà sản xuất cũng gặp nhiều khó khăn vì sự cách biệt cạnh tranh (như những sản phẩm văn nghệ và ca nhạc du nhập từ một vùng giá thấp và có nhiều điều kiện thuận lợi để cạnh tranh và lấn lướt, cùng với thời đại thực hiện 'burn' và sao chép dĩa nhạc quá dễ dàng…) Những sự kiện này có thể giải quyết trong một điều kiện là các nhà sản xuất phải nhận thấy một hướng sản xuất và đầu tư mới theo tinh thần của các công ty sản xuất ca nhạc có kế hoạch ngắn-dài của Hoa Kỳ.'- Chẳng hạn như đến một lúc người nghe nhạc, CD, DVD không phải trả giátiền cao nữa hoặc có khi là được Free nhờ vào lợi ích của các công ty quảng cáo...

Hùynh Nhật Tân cho biết lời và chủ đề của bài hát cũng chiếm phần quan trọng, mỗi ca khúc phải có một điểm nào đó dễ để cho giới thưởng ngoan phải nhớ, có thể nhớ câu hát vì thích hoặc kể cả nhớ câu hát vì ghét, vì khó chịu. Nói cách khác, một bài hát cần tạo được sự chú ý thì phải có một hoặc hai điểm nào đó cho người thưởng thức phải nhớ đến.

Về công việc sáng tác, nhạc sĩ họ Huỳnh tâm sự: Một ca khúc thành công là trải qua 3 giai đoạn: Thể hiện trăn trở qua cảm quan của người sáng tác, được ca sĩ hát và nhạc sĩ hoà âm cùng cảm nhận rung động, và khi trình diễn thể hiện phong phú. Thêm nữa, muốn được người nghe nhớ lâu, ca khúc phải được nghe lại nhiều lần và được phổ biến rộng, được nhắc nhở tới nhiều qua ngả truyền thông nói chung.

Và như vậy, giới sáng tác và các trung tâm ca nhạc phải cần báo chí truyền thông để chuyển đạt tác phẩm đến với giới thưởng ngoạn. Đồng thời, báo chí truyền thông cũng cần những đóng góp này để có thể phục vụ hữu hiệu hơn đối với độc giả, khán thính giả, nhất là giới yêu sân khấu và ca nhạc thính phòng. Ta nhớ tới thời ban nhạc The Beattle thành công trước nay là phần lớn nhờ vào hệ thống truyền thông truyền thanh thế giới thời ấy mà họ được đón nhận nồng nhiệt như một nhu cầu mới, một cao trào âm nhạc mới. Cũng giống như ngày nay Madonna, Céline Dion. v...v đã nổi nhờ các chiến dịch đầu tư và phương tiện quảng cáo, qua hệ thống truyền thông chằng chịt khắp thế giới của internet. Hiện nay tại Hoa kỳ, một số sắc dân thiểu số khác đã có được các trung tâm ca nhạc Mỹ lưu ý trong đó đã có các ca sĩ gốc Mễ, Đại Hàn, ... Chúng ta nên chuẩn bị để có ca sĩ tài tử tài năng gốc Việt để sẵn sàng trở thành 'idol' khi bước vào thị trường ca nhạc phim ảnh Mỹ, mà cũng là của thế giới.

Vẫn theo Huỳnh Nhật Tân, người nghệ sĩ cần phải trau dồi chuyên nghiệp mỗi ngày, bắt kịp những yêu cầu mới để luôn phục vụ đúng mức. Vì nếu không tiến triển, không trao dồi, chỉ dùng lại vốn liếng nghệ thuật cũ thì vốn liếng sẽ mau hao mòn, và đương nhiên phải chấp nhận luật đào thải.

*

Huỳnh Nhật Tân đã sáng tác lúc 16 tuổi, tức 26 năm trước nay. Một trong những thành công của nhạc sĩ Huỳnh Nhật Tân là nhiều ca sĩ đang “hot” rất thích hát nhạc anh, và anh cũng giữ được vai trò quan trọng trong giây chuyền sản xuất các tác phẩm âm nhạc hiện nay: Một số sáng tác gần đây của nhạc sĩ Huỳnh Nhật Tân thường xuất hiện trong các chương trình DVD Thúy Nga hoặc Vân Sơn.

Có một điểm cần thổ lộ ngay: Một ca khúc của anh rất được chú ý là Dỗi Hờn, sáng tác từ trên 20 năm qua, nay mới được Tuấn Ngọc khi cố tìm kiếm cái mới đã thấy lại trong chồng nhạc cũ và chọn hát, cùng với phần hoà âm mới của Huỳnh Nhật Tân. Không những thế, Bạc Tình cũng được sáng tác trên 24 năm qua nay mới được Nguyễn Hưng hát, và còn được Đàm Vĩnh Hưng ký hợp đồng hát độc quyền ca khúc này tại Việt Nam…Còn nữa, còn 'Ừ Thôi Em Đi' với tiếng hát Thái Châu, 'Yêu Làm Chi' với Linda Trang Đài, 'Rồi Anh Cũng Ra Đi' với tiếng hát Diễm Liên, 'Hỡi Người Yêu', 'Trắng Tay Cuộc Tình' với tiếng hát Nguyên Khang. Riêng 'Xuân Về Trên Môi Em' được thể hiện rất mới với nhóm tứ ca xinh tươi của Thúy Nga Paris By Night.

Được ghi nhận là một nhạc sĩ sáng tác tài hoa, hòa âm kỳ diệu, âm thanh phong phú và kỹ thuật cao nhưng Hùynh Nhật Tân vẫn giản dị cho rằng những thành công anh gặt hái được là do sự đóng góp của những ca sĩ thành danh. Còn trường hợp góp phần bồi đắp cho các tên tuổi mới thành danh, họ Huỳnh cho rằng đó là cái duyên: ' Phải tin vào cái duyên một lúc nào sẽ tới, đúng thơì điểm và mọi thứ đều thuận lợi… Kế đến mỗi sáng tác như một món ăn, ngoài cách nấu nướng, món ăn còn cần tới điểm xuyết bằng cấu trúc trình bày, như bài hát phải cần đến hoà âm. Hoà âm khác với trực tiếp đệm đàn hát trên sân khấu. Hòa âm CD sẽ được người thưởng ngoạn nghe đi nghe lại, nên cần nhiều công phu tài năng phong phú hóa, tô điểm và chiếm một phần trăm khá quan trọng hơn để tôn vinh ca khúc và tiếng hát'.

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

31 năm sau, người lính ấy về với gia đình..
Thiện Giao


Nguyễn Thị Bích Thảo:
“Gia đình nhận giấy báo tử năm 1980, nhưng không biết ba được chôn ở đâu.”
“Ba cháu tên Nô. Thiếu Tá Nguyễn Văn Nô.”


[left]http://img.photobucket.com/albums/v519/ ... A-MO-1.jpg[/left]Trung Tá Lê Chu:
“Chính bác đã chôn ba cháu năm 1977,
trên đồi Cây Khế,
xã Việt Cường, thị xã Yên Bái,
tỉnh Hoàng Liên Sơn.”








31 năm sau, người thiếu nữ ấy đã tìm lại được cha mình!


Cô không ôm choàng lấy cha, “cao lớn, ngăm đen,” như ký ức cô vẫn nhớ về ông.
Cô ôm lấy chiếc bình sứ, hình hoa sen, bên trong đựng tro cốt cha. Cuối cùng, từ Hoa Kỳ, cô đã tìm lại được cha mình mãi tận Hoàng Liên Sơn xa xôi.
Cô tìm lại cha trong một tình cờ của cuộc sống. Cô khóc: “Cuối cùng, cha đã về lại với chúng tôi!”

-----------------------------------

Texas, một ngày Mùa Xuân...


Người thiếu nữ ấy có tên Nguyễn Thị Bích Thảo. Cô nhớ như in một ngày cuối Tháng Ba, 2006. Từ Kansas, Thảo dắt hai con trai, 16 và 6 tuổi, về Arlington, Texas, thăm bà ngoại và gia đình người em gái. Sau khi thăm gia đình, Thảo chuẩn bị về lại Kansas. Tai nạn xe, Thảo phải đưa con trai đến một bác sĩ Việt Nam tại thành phố Arlington.


Trong lúc ngồi đợi tại phòng khám. Thảo lân la bắt chuyện cùng một người đàn ông “trạc tuổi cha mình,” đang đưa vợ đi khám bệnh.
Thảo không bao giờ nghĩ rằng câu chuyện bâng quơ ấy, cuối cùng, sẽ đóng lại nỗi dằn vặt trong lòng mình.

“Bác ở đây?”

“Cháu ở Kansas.”

“Cháu qua Mỹ năm 1993.”

“Dạ, trước đây ba cháu cũng ở trong quân đội.”

“Ba cháu cũng ở tù Hoàng Liên Sơn.”

“Gia đình nhận giấy báo tử năm 1980, nhưng không biết cha được chôn ở đâu.”

“Ba cháu tên là Nguyễn Văn Nô. Thiếu Tá Nguyễn Văn Nô.”

Im lặng giây lát, người đàn ông đang ngồi trước mặt Thảo, điềm đạm: “Chính bác đã chôn ba cháu. Trên đồi Cây Khế, xã Việt Cường, thị xã Yên Bái, tỉnh Hoàng Liên Sơn.”

Thảo không tin hẳn. Làm sao có sự tình cờ như thế. Làm sao, trong cái phòng bác sĩ nhỏ bé của thành phố Arlington này, lại có một người khẳng định đã chôn cất cha mình trong một Mùa Ðông gần 30 năm trước.

Nhưng người đàn ông ấy khẳng định như vậy. Và ông vẽ vội một bản đồ chỉ đường đi đến đồi Cây Khế!

[left]http://img.photobucket.com/albums/v519/ ... ANDO-1.jpg[/left]Tấm bản đồ
chỉ đường
đến mộ
cố Thiếu Tá Nguyễn Văn Nô,
do cựu Trung Tá Lê Chu vẽ cho cô Nguyễn Thị Bích Thảo,
tại Arlington, Texas, ngày 24 Tháng Ba, 2006







Kỷ vật người quá cố


Quả thật, có một ngọn đồi mang tên “Cây Khế” tại Hoàng Liên Sơn!

Từ Hoa Kỳ, Thảo gởi $500 cho người anh rể của chồng mình, đang sinh sống tại Cần Thơ. Người anh rể sẽ đi tìm ngôi mộ của “Thiếu Tá Nguyễn Văn Nô, chôn trên đồi Cây Khế, xã Việt Cường, thị xã Yên Bái, tỉnh Hoàng Liên Sơn.”

“Mọi chuyện đều suông sẽ, chắc có cha phù hộ.” Thảo cho biết. Từ Cần Thơ, người anh rể đi Sài Gòn. Từ Sài Gòn, anh ra Hà Nội. Và từ Hà Nội, anh đi xe lửa lên Hoàng Liên Sơn. “Anh đến được ngay cái nhà vẽ trên giấy. Anh gặp chủ nhà, một người đàn ông tốt bụng, đã giữ gìn toàn bộ mồ mả của những tù nhân đã chết, được chôn tại đây.”

Một giờ sáng tại Hoa Kỳ, Thảo nhận điện thoại của người anh: “Ðã tìm được mộ cha!”

Thảo vẫn chưa tin. Không thể đơn giản như thế được; gần 30 năm rồi còn gì!

[left]http://img.photobucket.com/albums/v519/ ... ADAO-1.jpg[/left]Dưới nấm mộ nông kia, vài mảnh xương của người quá cố được chôn cùng một đôi dép râu, một đôi dép nhựa vá chằng chịt bằng dây chì, một gà mên, muỗng, nĩa, dao, bàn chải đánh răng, chiếc lược, và ba cây viết.

Chắc hẳn người ta đã dùng đầu đinh để khắc dấu trên các vật dụng...

Trên chiếc muỗng có chữ N.
Trên cái nĩa có chữ V.
Trên con dao có chữ O.

N, V, O? Nguyễn Văn Nô?

[left]http://img.photobucket.com/albums/v519/ ... amen-1.jpg[/left]Còn chiếc gà mên? Trên nắp gà mên, người quá cố khắc chữ N; và một chữ O bao quanh chữ N. Dưới đít gà mên, một chiếc bông mai và dòng chữ:

“3/5/1975 CT
26/6/76 YB - HLS”

Không còn nghi ngờ gì nữa! Ðúng là ba! Những ký hiệu ít ỏi ấy đã tiết lộ đầy đủ danh tánh và hành trình của người tù cải tạo.

“Thiếu Tá Nguyễn Văn Nô, vào tù Cần Thơ ngày 3 Tháng Năm, 1975; chuyển sang trại thị xã Yên Bái, Hoàng Liên Sơn ngày 26 Tháng Sáu, 1976.”

Chỉ một dòng chữ ông không kịp ghi lại: Mùa Ðông năm 1977.

Mùa Ðông năm 1977, Thiếu Tá Nguyễn Văn Nô qua đời sau một đêm đau đớn, trúng độc vì uống nước luộc sắn.


Người đàn ông vẽ bản đồ


[left]http://img.photobucket.com/albums/v519/ ... ECHU-1.jpg[/left]Giọng nói nhỏ nhẹ, cực kỳ nhỏ nhẹ, ông Lê Chu cho biết ông và Thiếu Tá Nguyễn Văn Nô “cùng ở trong đội trồng rau xanh” hồi còn ở Hoàng Liên Sơn. “Hồi đó đói lắm. Không có rau mà ăn, nên phải ăn sắn. Người tù phải lấy đọt sắn luộc lên ăn thay rau.”

Ông Chu kể rằng có một lần, tù chính trị luộc vỏ sắn cho heo ăn, mấy con heo lăn ra chết. Thế là cả đội bị quản giáo nghi làm... CIA. “Sắn có chất độc. Ăn ít thì không sao. Hôm ấy, anh Nô đã uống cả nước luộc sắn.” Khuya, trại nghe lục đục cả đêm. Một ai đó phải đi trạm xá.

Sáng hôm sau, ông Chu biết tin có 2 người đã chết tối hôm qua. Một trong hai người này là Thiếu Tá Nguyễn Văn Nô.

Một ngày sau, ông Chu mang xác bạn đi chôn.

“Tôi không nhớ rõ ngày, chỉ nhớ lúc ấy lạnh lắm; chắc là Mùa Ðông. Mùa Ðông thì tù ăn sắn lưu niên.”

Ông Chu chôn bạn trên đồi Cây Khế, xã Việt Cường, thị xã Yên Bái, tỉnh Hoàng Liên Sơn.

Và ông nhớ như in những nấm mồ ấy, để rồi gần 30 năm sau, trên nước Mỹ gần 300 triệu người này, ông lại tình cờ gặp đúng con gái của người bạn xấu số kia.

“Về sau, trại cho được vài bao xi măng. Chúng tôi làm cho bạn tấm bia.”

Ông Chu, cựu trung tá, đã từng phục vụ tại Liên Ðoàn Truyền Tin Quân Ðoàn Bốn, tốt nghiệp khóa 3, Thủ Ðức, hiện sinh sống cùng vợ và bảy người con tại Arlington, Texas.

Ông đã về hưu, sau một thời gian làm nhiều nghề, kể cả nghề mộc.


Nơi an nghỉ cuối cùng...


Cứ nhắc đến cha, Thảo lại khóc. Thảo gặp cha lần cuối cùng vào năm 1975.

[left]http://img.photobucket.com/albums/v519/ ... O-VN-1.jpg[/left]Thiếu Tá Nguyễn Văn Nô và vợ,
Nguyễn Thị Bạch Tuyết,
cùng con gái Nguyễn Thị Bích Thảo.
Hình chụp năm 1971 tại Cần Thơ,
khi cô Thảo mới tròn 4 tuổi




[left]http://img.photobucket.com/albums/v519/ ... UHOC-1.jpg[/left]Hình chụp Trung Úy Nguyễn Văn Nô,
vào giai đoạn 1956-1959,
lúc sang Hoa Kỳ du học về quân sự.
(Hình: Nguyễn Thị Bích Thảo cung cấp)






Cứ nhắc đến mẹ, Thảo lại khóc. Mẹ của Thảo đã “ở vậy từ ngày cha vào tù.” Mẹ Thảo ở góa, làm nghề may vá nuôi sáu người con; 5 gái, 1 trai.

Thảo khóc vì thương cha, và vì “được cha thương nhất trong tất cả anh chị em.”

“Ngày xưa, mỗi lần đi xa về, cha luôn có đồ chơi cho các con.” Thảo kể trong nước mắt.

Từ ngày vào tù, cha vẫn có đồ chơi cho con, cho mỗi đứa con.

Mỗi lần mẹ vào tù thăm, cha lại gởi về 6 con vật nặn bằng đất sét.

Phần Thảo là con vịt; một con vịt bằng đất sét.

Ngày xác định được mộ cha, cả nhà không biết đưa cốt đi đâu. “Chỉ còn vài khúc xương.” Ba chồng Thảo kiên quyết: “Phải đem cốt vô nhà. Ðể tôi rước anh sui vô nhà.”

Thảo chạy ra sau vườn chôm chôm, khóc rấm rức. “Ở nhà bảo đừng khóc. Khóc làm người quá cố không thanh thản.”

Gia đình mang cốt ông đi thiêu, để xin giấy phép sang Hoa Kỳ.

Thảo lại khóc: “Thiêu là chết thêm một lần nữa.”

Thảo nói trong nước mắt: “Em khóc vì gặp lại cha. Khóc mà mừng, đau mà vui.”

Thảo kể: “Bàn chải chôn theo cha mòn hết, chỉ còn mấy sợi. Trên mấy cây viết, cây nào cũng có chữ N.”

Thiếu Tá Nguyễn Văn Nô chào đời năm 1937, tại Bạc Liêu.

Ông gia nhập quân đội. Học khóa 13, Võ Bị Quốc Gia Ðà Lạt. Sang Hoa Kỳ tu nghiệp từ năm 1956 đến 1959.

Ông lập gia đình năm 1962.

Năm 1975, ông vào tù và “ở lại đấy” cho đến 31 năm sau.

Bây giờ, cả gia đình đã đoàn tụ; tại Hoa Kỳ.

Thiếu Tá Nô sẽ bắt đầu lần an nghỉ cuối cùng; trong một chiếc bình sành hình hoa sen.

Thiếu Tá Nô sẽ an nghỉ vĩnh viễn tại chùa Liên Hoa, thành phố Arlington, Texas, nơi ông sẽ được nghe kinh kệ mỗi sáng, mỗi trưa, và mỗi chiều.

Image
Nguyễn Thị Bích Thảo, con gái “cưng” của cố Thiếu Tá Nguyễn Văn Nô, đang cầm trên tay chiếc bình sành đựng tro cốt của thân phụ. Hình chụp tại nhà Thảo, Wichita, Kansas

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

CHÚ TƯ CẦU - LÊ XUYÊN

Image

MỘT TRONG TỨ ĐẠI VĂN HÀO NAM BỘ
Thật hạnh phúc cho một nhà văn khi có một tác phẩm để đời. Chiều dài của một đời người hữu hạn, nhưng tác phẩm thì trường tồn và nhà văn sẽ tồn tại mãi, không phải trong cuộc nhân sinh ngắn ngủi mà là trong tác phẩm của mình.

Nhà văn Lê Xuyên đã có được niềm hạnh phúc đó. Ông được nhớ, được nhắc đến mãi trong lòng độc giả Việt Nam qua các tác phẩm của mình, đặc biệt là Chú Tư Cầu.

Trên đây là nhận định của một nhà văn nữ trẻ ở trong nước, Hàm Anh, hậu duệ, hàng con cháu của thế hệ nhà văn Lê Xuyên.

Nhà văn Hàm Anh còn có nhận xét về tác phẩm độc đáo, trường thiên tiểu thuyết tình cảm, xã hội Chú Tư Cầu, tác phẩm đầu tay của nhà văn nổi tiếng Lê Xuyên mà nhà thơ Sa Giang Trần Tuấn Kiệt phong ông là một trong Tứ Đại Văn Hào Nam Bộ (Bình Nguyên Lộc, Lê Xuyên, Sơn Nam, Hồ Hữu Tường).

Hàm Anh viết:

Chú Tư Cầu đã đạt đến một giá trị cao rộng vì biểu hiện của từng thời kỳ và nơi chốn tuy có khác, nhưng thân phận con người trong chiến tranh vẫn là những nỗi đau giống nhau, vẫn ám ảnh không nguôi trong tâm hồn, mãi mãi là một đề tài không bao giờ nói cạn. Một đề tài mà khi nhắc tới đã xóa nhòa ranh giới thời gian vì lôi kéo độc giả cùng bước vào những vấn đề chung lớn lao của con người, của thế giới, của thời đại, của chính đất nước mà mỗi người chúng ta quằn quại trong đó.

Một nhà văn nữ khác cũng đang ở trong nước, Lê Thị Hải Âu, đã có viết một bài đăng trên tạp chí Tiếng Vang – Sacramento (California) sau khi nhà văn Lê Xuyên qua đời ngày 2.3.2004: Từ Một Chỗ Ngồi Đằng Sau Tủ Thuốc Lá. Hải Âu đã lột tả được sư kham khổ, lo toan chạy từng bữa cho cái ăn thiếu thốn hàng ngày vào thập niên 80 sau khi ở tù cải tạo ra vì tội danh nhà văn nhà báo của chế độ cũ Việt Nam Cộng Hòa. Nhà văn Lê Xuyên cũng phải bươn chải tìm cách làm ra tiền để nuôi sống gia đình, thức dậy thật sớm để đi đến tận lò lấy bánh mì, bánh ngọt để đi bỏ lẻ khắp nơi cho các xe đẩy. Sau đó, nhà văn Lê Xuyên có tủ thuốc lá vỉa hè, ngã tư đường Bà Hạt-Ngô Quyền, khiến ông đỡ phải đạp xe rong ruổi và đó cũng là một cách tạo lợi tức chính cho cuộc sống gia đình.

Nhà văn Lê Xuyên cũng không ngờ chiếc ghế đằng sau tủ thuốc lá, mỗi ngày, ông lê lết ở đây mười tám tiếng đồng hồ, là chỗ ngồi của mình suốt mười sáu năm dài. Sau ba năm ngọa bệnh, cuối cùng như các bạn văn khác theo nhau ra đi, tủ thuốc lá của nhà văn Lê Xuyên cũng xa ông trao tay người khác.

Nhà văn Hải Âu đã viết:

Ông là một nhà văn buộc phải gác bút, như một chiến sĩ phải gác súng. Nhà văn không còn cầm bút chẳng khác nào người chiến binh bị tước mất súng. Mọi phương tiện khác trao vào tay chỉ nhằm mục đích sống qua ngày đoạn tháng, thật vô nghĩa, thật nực cười và cũng thật buồn... Ông đang viết, sinh ra đời chỉ để làm công việc ấy, để chọn nghiệp ấy, rồi bỗng dưng thấy mình đơn độc, cây bút biến mất không còn trong tay. Ông núp sau tủ thuốc lá, trơ trụi và bất an. Thương hải tang điền là chuyện hạn hữu đời người, thế mà ông đã chứng kiến, đã ở trong biến cố đó. Cơn lốc biển dâu cuốn phăng cây bút của ông rồi, cuốn theo cuộc đời thực thụ của ông. Chỉ còn năm tháng trôi qua một dòng chảy lặng lờ, mệt mỏi và nhạt nhẽo. Ông trở thành một bóng mờ bên lề, ở ngoài của nhịp sống đa dạng, ồn ào và náo nhiệt.

Nhà văn Hải Âu kết luận: ... Thời gian lắng đọng sẽ công bằng trả lại vị trí chính xác cho mỗi người, tôi tin tưởng điều ấy khi thấy nụ cười của nhà văn Lê Xuyên trong bức ảnh thờ nhìn tôi, bức ảnh được chụp từ chỗ ngồi đằng sau tủ thuốc lá.

Sau ba năm nằm một chỗ, không còn ngồi bên vỉa hè bán thuốc lá, nhà văn Lê Xuyên ra đi thanh thản, nhưng bạn bè cầm bút như ông không khỏi ngậm ngùi chua xót cho thân phận của những người cầm bút “sinh lầm thế kỷ” sống trong xã hội Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam bị khóa chặt tay, vứt bút hoặc bị bẻ cong ngòi bút.

Nhà văn Văn Quang cũng có bài viết cho tạp chí Tiếng Vang với tựa đề: Lê Xuyên – Những Ngày Cuối Đời. Văn Quang tức là Trung tá Nguyễn Quang Tuyến , Giám Đốc Đài Phát Thanh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Ông đã thân quen với nhà văn Lê Xuyên, từ trước năm 1975, hiện sống ở Việt Nam, có đến nơi đặt thùng bán thuốc lá lẻ của Lê Xuyên, nhận xét người bạn văn của mình: Vẫn hiền lành, cười tủm và chân quê. Phải nhìn thấy cái cười tủm của anh mới biết tại sao anh viết về những cuộc tình của những đôi trai gái đồng ruộng miền Nam hay đến như thế, láu cá đến như thế. Tôi nhủ thầm: Thằng cha này tâm ngẩm tầm ngầm mà ghê lắm đấy. Nó không nói mà chỉ viết nên nó viết được nhiều hơn mình. Chỉ có nó mới viết được những “dòng chảy ngầm” của trai gái thôn quê miền Nam thật đến thế và hấp dẫn đến thế.

Nhà văn nhà báo Thanh Thương Hoàng, hiện ở San Jose - California, cựu Chủ Tịch Nghiệp Đoàn Ký Giả Việt Nam trước năm 1975, có vài kỷ niệm với nhà văn Lê Xuyên.

Khi ông ra tù cải tạo, có nhiều lần đi một mình hay cùng Văn Quang, Thái Thủy, Vương Đức Lệ đạp xe đến thăm người bạn văn cũng là một đoàn viên trong Nghiệp Đoàn Ký Giả Việt Nam tại tủ thuốc lá của nhà văn Lê Xuyên. Trông trước nhìn sau, thấy vắng người, ông Thanh Thương Hoàng hỏi nhỏ Lê Xuyên: “Hồi này có âm thầm viết lách được gì không?” Anh lắc đầu: “Lo ăn còn chưa xong, viết cái nỗi gì!”. Tới giờ phút này ngồi viết những dòng tưởng niệm anh, tôi vẫn không hiểu anh trả lời thực hay không, có lẽ vì ám ảnh bởi nỗi nghi ngờ, nỗi sợ hãi (do chế độ tạo nên) đã khiến chúng tôi mất hết lòng tin và sự thành thật với cả vợ con, bạn bè thân thiết. Không ai dám mở rộng hai bàn tay ra với ai cả.

Nhà văn Thanh Thương Hoàng tiết lộ, một lần ngồi trong cái quán cóc hẻm nhỏ vắng vẻ, Lê Xuyên kể cho ông và bạn ông nghe câu chuyện nhà vừa thật vừa chua xót cho một nhà văn lớn của Miền Nam Việt Nam bị vùi chôn tên tuổi và những tác phẩm bất hủ đời cầm bút của mình, trong cái “chế độ ưu việt” của cộng sản. Sau một thời gian tù về, cậu con út của anh (năm đó 14, 15 tuổi), một hôm thắc mắc hỏi anh: “Bố ơi, Chú Tư Cầu là ai vậy?”. Anh đáp: “Là thằng bố mày chứ còn ai!?”. Cậu con trai cãi: “Bố là Lê Bình Tăng kia mà”! (Lê Bình Tăng là tên thật của Lê Xuyên). Đến con mình không biết bố mình trước đây là một nhà văn tên tuổi của miền Nam! Trước ngày 30 tháng 4 năm 1975, có thể nói khắp miền Nam từ trí thức tới bình dân lao động, không ai không biết đến Chú Tư Cầu. Người ta hòa lẫn tên anh với tên nhân vật trong truyện của anh. Họ say mê đọc truyện anh chỉ kém nhà văn kiếm hiệp Trung Hoa tài danh Kim Dung một bậc. Thế mà, bấy giờ vật đổi sao rời, đến con anh còn không biết bố mình là ai!

Nhà báo Võ Long Triều, cư trú tại Fresno- California, nguyên là Dân Biểu Quốc Hội VNCH, đơn vị Kiến Hòa (Bến Tre), nguyên chủ nhiệm chủ bút nhựt báo Đại Dân Tộc tại Sài Gòn, nổi tiếng là tờ nhựt báo bán chạy nhất lúc bấy giờ, trước 30.4.75. Thời Nội Các Chiến Tranh của Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ 1965, 66, 67, kỹ sư Võ Long Triều giữ chức Tổng Ủy Viên Thanh Niên & Thể Thao (Tổng Trưởng) tâm tình với Chủ biên Nhà Xuất Bản Tiếng Vang USA, Anh Phương Trần Văn Ngà, một đôi nét về nhà báo nhà văn khi Lê Xuyên giữ chức vụ Tổng Thư Ký Tòa Soạn nhựt báo Đại Dân Tộc trong hơn bốn năm liền.

Lê Xuyên, ngoài một nhà văn gốc miền Nam nổi tiếng, ông còn là một nhà báo tầm cỡ, yêu nghề, tận tụy với công việc, làm việc tại tòa soạn từ 5 giờ sáng cho tới 10 giờ tối. Vì vậy, lương của nhà báo Lê Xuyên khá cao hơn các Tổng Thư Ký Tòa Soạn của các nhật báo khác, 120.000 đồng một tháng, số tiền này, bà vợ của ông nhận lấy hết. Thấy vậy, ông chủ nhiệm Đại Dân Tộc Võ Long Triều tặng cho Lê Xuyên mỗi tháng 200.000 đồng để cho ông tiêu riêng (Lúc bấy giờ, lương Thiếu tá, ngạch công chức hạng A, có vợ và 4 con mỗi tháng lãnh được gần 41.000 đồng).

Nhà báo, nhà văn Lê Xuyên là một người chồng thủy chung, dù bà vợ có tật thích đỏ đen, nhưng ông một lòng lo cho gia đình, 10 giờ tối về đến nhà nhiều khi còn phải lo giặt quần áo cho các con còn nhỏ dại. Quanh bên ông luôn có nhiều phụ nữ trẻ đẹp, giàu có và trí thức, trong đó có một cô dược sĩ thường đến toà soạn trong giờ ăn trưa thăm hỏi và tâm tình với Lê Xuyên. Họ mến tài năng, đức độ, sự hào sản của một người đàn ông lý tưởng, muốn ông thành nghĩa vợ chồng, Lê Xuyên đều từ chối. Ông Võ Long Triều nhận xét về điểm tình cảm này, có mấy người đàn ông nào giữ được. Thế mà Lê Xuyên vẫn giữ được trọn vẹn tình cảm vợ chồng cao đẹp cho đến ngày, ông xuôi tay về với cát bụi.

Về phương diện chính trị, nhà văn Lê Xuyên từng theo kháng chiến Việt Minh vào bưng biền chống thực dân Pháp trong thời kỳ Kháng Chiến Nam Bộ bùng nổ năm 1946. Qua Chú Tư Cầu, độc giả sẽ thấy Lê Xuyên phát hiện sớm sủa nhất cái chân tướng ích kỷ, ba xạo, lập công dâng đảng của những kẻ có đảng tịch công sản. Cán bộ cộng sản, coi dân chúng và đồng ngũ chỉ là hạng người để chúng lợi dụng dọn đường, dọn cỗ cho đám cán bộ Việt Minh Cộng Sản và đặc biệt là cán bộ chính trị viên của các đơn vị kháng chiến hưởng lợi.

Đến giờ thứ hai mươi lăm của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, ông Võ Long Triều còn cho biết, khi phái viên của ông Dương Văn Minh là ông Lý Quý Chung, Hồ Văn Minh ... kể cả cựu Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ ngỏ ý mời Kỷ sư Võ Long Triều tham gia chính phủ Vũ Văn Mẫu. Kỷ sư Võ Long Triều có hỏi ý kiến Lê Xuyên vì ông Võ Long Triều xem ông như là một cố vấn chính trị tinh đời có những nhận định sắc bén. Nhà báo Lê Xuyên nghe ông Võ Long Triều hỏi có nên tham gia hay không? Lê Xuyên, không nhìn ông và hứ lên một tiếng cho rằng họ là những cái tượng bằng đất sẽ sớm tan rã.

Lê Xuyên, một người luôn trầm ngâm suy tư và làm việc hơn 12 tiếng đồng hồ tại tòa soạn mỗi ngày báo phát hành. Còn truyên dài, viết feuilleton hàng ngày cho nhật báo, ông gởi báo khác đăng. Ông chủ nhiệm Võ Long Triều có hỏi tại sao anh không đăng báo mình, Lê Xuyên nói tôi chỉ có đứng sau anh, nếu đăng báo nhà, tôi giành chỗ của các bạn văn khác. Tính cách của nhà văn Lê Xuyên hay nói cách khác, bản chất thuần lương, bao la, đứng đắn của nhà văn nổi tiếng là ở chỗ này.

Trong khi đó, nhà thơ Sa Giang Trần Tuấn Kiệt nhận xét về Lê xuyên: một pho tự điển về ngôn ngữ Nam Bộ dân giã với lối viết phóng túng, dí dỏm, khôi hài. Cái văn phong độc đáo có một không hai của Lê Xuyên... Đọc Lê Xuyên lúc nào cũng hừng hực lửa tình rực cháy của bản năng con người. Khát vọng và thực hành tính dục qua hầu hết mọi đời sống bình dân chơn chất, nhưng cũng là bản chất năng động của người Nam Bộ...

Toàn thể văn phong Lê Xuyên đồng nhất và hầu như chỉ cần viết đối thoại đặc biệt Nam Bộ mà thành ra truyện, ra văn, ra tiểu thuyết đầy đủ mọi ngây thơ đến quỷ quyệt khôn lanh.

Nhà Xuất Bản Tiếng Vang USA xin đăng nguyên văn các bài viết của quý ông Võ Long Triều, Thanh Thương Hoàng, Văn Quang, Sa Giang Trần Tuấn Kiệt và Nguyễn Thị Hàm Anh, Lê Thị Hải Âu trong cuốn trường thiên tiểu thuyết Chú Tư Cầu để qúy độc giả thấy chân tài của một nhà văn lớn gốc miền Tây Nam Bộ Lê Xuyên được nhiều đồng nghiệp phê bình nhận định.

Trong truyện Chú Tư Cầu, một người thanh niên nhà quê ở miền Tây Nam Bộ, chân thật, chất phát và có đến bốn đời vợ. Mối tình đầu với cô Phấn, người cùng xóm, độc giả sẽ thấy ngòi bút tài tình của Lê Xuyên lột tả được tính cù lần của một thanh niên mới lớn chưa biết chuyện trai gái và tan hợp nhiều lần của mối tình đầu thuần phác và đẹp đẽ. Mối tình thứ hai từ xứ Chùa Tháp, Nam Vang với con Ba bụi đời và oái oăm gặp lại khi con Ba là vợ của một tên Quan Hai (Trung Úy) người Pháp làm cai tù mà Tư Cầu đang bị bắt giam ở gần trung tâm Thủ Đô Sài Gòn. Con Ba cùng với Phấn bố trí cho Tư Cầu vượt ngục thành công và đầy hồi hộp như chuyện xi nê ma thật hấp dẫn và cuối cùng con Ba bị tên chính trị viên đơn vị bắn chết trước mắt Tư Cầu trong một cuộc phục kích mà Tư Cầu tự ý thả con Ba ra đi. Mối tình thứ ba với cô Thơm, người Việt gốc Khờ Me và trong vụ “cáp duồn” giữa hai xã Miên Việt ở miền Tây, cô Thơm lại bị người đồng chủng hãm hiếp và bị giết chết trước sự chứng kiến oan nghiệt của người chồng, Tư Cầu. Mối tình thứ tư với cô Thắm ở Châu Đốc và khi cô Thắm có bầu, Tư Cầu còn nghe tiếng réo gọi của núi sông, của các đồng đội kháng chiến, nên Tư Cầu đành phải cách ái ly gia một lần nữa và cũng là lần cuối cùng Tư Cầu đền xong nợ nước.

Trong cuộc pháo kích của đối phương cũng vì tính thuần lương, đôn hậu, đạo đức của một cấp chỉ huy ở chiến trường, bản chất người dân lương thiện nổi dậy, Tư Cầu dần dà thuyết phục thuộc cấp thả một sĩ quan người Việt bị bắt tại mặt trận, thay vì giết ngay để rút quân nhanh. Vì thương người, chần chờ ở lại để thả cho bằng được kẻ chiến bại nên Chú Tư Cầu bị mảnh đạn pháo kích oan nghiệt của địch quân làm anh mất mạng. Trong khi đó đứa em vợ của Tư Cầu từ Châu Đốc lặn lội mang thư nhà đến thông báo, con Thắm vợ của anh sanh được một qúy tử và Tư Cầu hay tin mừng mình có con nối giòng và anh nhắm mắt ra đi, y hệt một tuồng cải lương bi hùng hạ màn kết thúc một tập truyện dài đầy ấn tượng khó quên trong lòng mọi độc giả.

Dù là trí thức hay bình dân, dù người Việt Nam sinh trưởng ở ba miền đất nước Bắc,Trung, Nam khác nhau cũng đều có khoái cảm khi đọc tác phẩm Chú Tư Cầu bất hủ có một không hai thuộc thể loại tình cảm xã hội đặc tả này ở vùng thôn quê miền Tây Nam Bộ.

Nhà văn tài danh Lê Xuyên nổi tiếng một thời vang dội, từ ngày ra tù cải cho đến ngày anh vĩnh biệt trần gian, Lê Xuyên không được nhập hộ khẩu, không có chứng minh nhân dân, ông là công dân hạng chót của cái gọi là thiên đường cộng sản Việt Nam.

Đó cũng là tấm huy chương cao qúy của một nhà văn sinh trưởng, thành danh trong chế độ Việt Nam Cộng Hòa, không than van, không cầu khẩn hay quì gối xin một chút ân sủng nào của chế độ mới để được cầm bút lại, kiếm cơm.

Nhà văn Lê Xuyên, tên thật Lê Bình Tăng, sinh ngày 1 tháng 11 năm 1927 tại Ô Môn – Cần Thơ, mất ngày 2 tháng 3 năm 2004, hưởng thọ 77 tuổi. Lê Xuyên để lại cho đời chín pho truyện dài, chín tác phẩm bất hủ và tác phẩm Chú Tư Cầu tiêu biểu cho văn phong chân chất, phóng khoáng của một nhà văn Nam Bộ. Lê Xuyên với Chú Tư Cầu, tập truyện dài đầu tiên được đăng trên nhật báo Sài Gòn Mai trong hai năm liền, từ tháng 2/1961 đến tháng 2/1963, xuất bản thành sách vào tháng 3 năm 1963. Từ đó, người ta thường gọi Lê Xuyên là Chú Tư Cầu và Chú Tư Cầu tức là nhà văn Lê Xuyên, tuy hai tên mà một người.

Nhà văn Hàm Anh còn viết: Nhà văn Lê Xuyên tỏ ra có quan sát sắc bén, rất sành tâm lý, thể hiện ở tình tiết chuyện và giọng văn đặc sệt chất Nam Bộ, nhiều khi hài hước vô cùng hấp dẫn.

Không có Chú Tư Cầu trong tủ sách gia đình là một thiếu sót...

Vì vậy, Nhà Xuất Bản Tiếng Vang USA có nhiệm vụ, được sự đồng thuận của bà quả phụ Lê Xuyên, tái bản Chú Tư Cầu ở hải ngoại và những tác phẩm nổi tiếng khác của Lê Xuyên, khi có điều kiện.

Nhà Xuất Bản Tiếng Vang USA trân trọng giới thiệu tác phẩm Chú Tư Cầu của nhà văn quá cố Lê Xuyên với quý độc giả.

Sacramento ngày 10 tháng 8 năm 2006

Anh Phương Trần Văn Ngà

Post Reply