Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày

Cho đuổi mèo, mèo rượt chuột, chuột sa chỉnh gạo, gạo tải vô xe... thế rồi... xe cán chó!!!

Moderators: CNN, khieulong

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Đàn ông là… đàn ông Trước hết, đàn ông là kẻ mày râu. Nói chữ thì đó là hạng “tu mi nam tử” Mày râu là trời sinh ra thế. Nhưng đó là cái phần tự nhiên. Còn cái phần xã hội thì mày râu lại liên quan đến chuyện luân lý đạo đức.

Ca dao xưa có câu: “Đàn ông không râu bất nghì”. “Nghì” là đọc chệch của “nghĩa” theo luật ép vần trong thơ. Cha ông xưa xem tướng đàn ông, đàn bà theo kiểu “trông mặt mà bắt hình dong”. Đàn ông không râu là bất nghĩa, cũng như “đàn bà không vú lấy gì nuôi con”. Thế nghĩa là có râu mới là đàn ông thứ thiệt, giống như phụ nữ với thiên chức sinh con, nuôi con thì không thể thiếu hai bầu sữa thiêng liêng tinh khiết mà tạo hoá ban tặng.

Đàn ông là phái mạnh. Trước tiên cũng là nói cái mạnh cơ bắp, cái mạnh thế lực. Cấu tạo cơ thể người nam vốn dĩ do tạo hoá đất mà ra như vậy. Để phái nữ được bị coi là phái yếu. Nhưng đàn ông chỉ là đàn ông khi cái mạnh được tôn lên bên cái đẹp, tức là nửa dương phải có nửa âm mới trọn vẹn hoàn chỉnh. Cứng cáp so với nhẹ nhàng, mạnh mẽ so với dịu dàng. Nếu không, phái mạnh hoá ra là “vũ phu”. Nữ sĩ Xuân Quỳnh từng có một bài thơ hay về phái yếu, nói là yếu nhưng thực ra là mạnh đấy, vì “nếu sáng này em chẳng đong được gạo, chắc chắn buổi chiều anh không có cơm ăn”. Nhưng cuối cùng trái tim nhà thơ đầy đa cảm thương yêu này vẫn nhìn ra một biện chứng cuộc sống của con người: “Thú thực là chúng tôi cũng không sống được, nếu không có các anh thế giới chỉ là đàn bà”.

Đàn ông là nhẹ dạ, cả tin là duy mĩ. Mặc dù họ được coi là thiên về duy lý. Vườn Eden vì vậy không còn là chốn thiên đường cho Adam. Bao quốc gia bại vong vì “nhan sắc khuynh thành” của những mỹ nhân. Những người đàn ông là các bậc vua chúa, các tướng soái, tư lệnh các doanh nhân, kỹ nghệ gia, họ cai quản cả thế giới nhưng lắm khi họ lại ngờ ngệch, ngây thơ như trẻ nhỏ. Nhân loại vì thế mà đau khổ nhiều hơn, hạnh phúc cũng nhiều hơn. Oscar Wilde có một nhận xét hay: “ Không bao giờ có thể tước được khí giới của phụ nữ bằng lời khen nhưng với đàn ông thì bao giờ cũng có thể”.

Đàn ông là điên rồ. Hình như trong mỗi họ đều có cái chất điên điên của Don Quixote mà nhân loại vừa kỷ niệm 400 năm lão ra đời ở xứ sở đấu bò tót. Phụ nữ chẳng bao giờ nhìn cối xay gió thành tên khổng lồ như đàn ông. Nhìn ra thế, rồi lao vào đánh nhau đến bươu đầu sứt trán mà vẫn mê không tỉnh. Nhưng nếu không thế, đàn ông hình như lại không phải đàn ông. Điên rồ và đàn ông tích hợp trong mình hai mâu thuẫn thống nhất ấy. Những thói tật xấu của đàn ông là từ đó mà ra. Cô đơn với đàn ông là một thứ xa xỉ.

Đàn ông là Man và Homme. Viết hoa, đàn ông như vậy là Con Người, là loài người chẳng biết ngoài tiếng Anh, tiếng Pháp ra, còn thứ tiếng nào khác đánh đồng hai khái niệm này trong ngôn ngữ nữa không. Đây là vết tích của chế độ phụ quyền chăng? Kể ra như thế cũng là gánh nặng cho đàn ông khi họ phải mang vác trên vai mình một sứ mệnh của giống loài.

Đàn ông là… là gì nữa đây? Đàn ông là không phải đàn bà, là hoà hợp với đàn bà. Nếu không có đàn bà, cũng chẳng có đàn ông. Vật tương khắc tương sinh, người tương sinh tương khắc.

Rốt lại, đàn ông là… đàn ông. Có thể không mày râu, có thể không mạnh khoẻ, có thể không điên rồ, nhưng có cốt cách đàn ông, có tình cảm đàn ông, là đàn ông. Vậy thôi.

Nguyên Phạm

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Chuyện ngoài... văn chương Có một dạo bạn bè tôi sốt ruột nhắn hỏi sao lúc này chẳng thấy viết gì (câu này thấy nhẹ nhỏm vậy mà tôi sợ muốn chết, nó luôn mang ý nghi ngờ “hình như con Tư tiêu rồi”). Tôi buộc phải ngó lại coi mình đã làm gì mà không viết. Cũng chẳng phức tạp lắm, thí dụ thời gian của tôi chia làm năm phần, thì một phần tôi lên mạng tìm hiểu những sản phẩm kỹ thuật số mới nhất (mua chúng lại là chuyện khác), một phần cho công việc nhà và công việc cơ quan, đọc sách báo chiếm một phần, một phần dành để viết ba lăng nhăng. Chỗ thời gian còn lại, thật ngạc nhiên, tôi sử dụng để đi… đám.

Tôi là con gái út. Ba tôi cũng thứ út. Mà thôi, kể lể một hồi giống như làm gia phả. Nói vầy cho dễ hình dung, bên nội tôi như cây cổ thụ chi chít nhánh to nhánh nhỏ, nhà tôi thuộc hàng… mút đọt. Bên ngoại, má tôi lại là cành lớn nhất, gần gốc nhất. Má tôi tính mỗi tháng họ hàng nội ngoại có sơ sơ chừng bốn đám (bao gồm nhiều loại hình đám giỗ, đám cưới, thôi nôi đầy tháng, kể cả đám… ma). Đó là chưa kể đối xử với xóm giềng. Nhiều lần nghe má liệt kê danh sách đám tiệc những ngày sắp tới mà toát mồ hôi dù trời đầy gió.

Ở quê lưu truyền câu chuyện khá vui, có ông nọ cháy nhà không chịu vác ti vi, cassette ra ngoài, chỉ gò lưng na cánh cửa chạy. Bởi trong cánh cửa có ghi ngày đám giỗ của bà con, hàng xóm. Nhà tôi không có cánh cửa quý báu, bởi má tôi nhớ hết, thuộc hết. Đám gì thì đám, chứ cúng quảy ông bà tuyệt không được quên, má thường nói với mấy chị em tôi, giỗ tổ tông còn quên thì sao làm ăn nông nổi.

Hồi còn con nít, tôi thích đi đám vì được ăn ngon. Lớn lên bỗng không thích, vì buộc phải làm công chuyện, trong khi tôi chẳng khéo khôn gì (rang đậu phộng còn khét…). Lớn thêm chút nữa, vẫn còn xớ rớ khi vào bếp, nhưng tôi bắt đầu… thực dụng, khi thấy ba má mình có tuổi, nghĩ mình đến nhà người ta (có qua) để dịp nào đó họ tới với mình (gọi là có lại). Ngay thời điểm này tôi lại thích… đi đám (mà không so đo chuyện ba má mình già).

Đó là mối quan hệ ngoài gia đình duy nhất mà tôi còn duy trì, sau khi để vuột khỏi tay đám bạn bè, đồng nghĩa với đánh mất thú vui la cà, bù khú. Đó là khi vùi vào những câu chữ đến bạc người, thèm một ai đó để cười, nói vài câu bông lơn thì má tôi rủ, rằm này đi đám không. Dại gì tôi không gật đầu, đi thì đi, để chạy trốn cái cô độc đang rợn ngợp trong lòng. Những câu chào hỏi, những cái cười giòn rụm trên môi, khói tầng quầng trong bếp, hương thơm của những món ăn, nhang khói ngào ngạt ở gian nhà thờ, bóng người tất tả bận bịu… rót đầy lại cái không gian đã bị văn chương rút rỗng.

Tôi không thích đám tang (hợp lý, chẳng ai thích), bởi tôi hay cười, cười để khỏi phải nói, nhưng đến chia buồn mà ngoác cái miệng ra cười hoài khó coi. Những cái đám cưới gả ở chợ lại quá dư tưng bừng, thiếu thân mật, lúc đến lơ láo, lúc về lơ láo.

Tôi thương những đám giỗ ở quê. Mê nhất nhất là cái hồi người ta chưa đi đám giỗ bằng… tiền, hàng xóm hay mang lại những thứ mà họ có, mục măng tre, rổ cải xanh, con gà mái, mớ tép đất hay mấy con cá trê vàng. Bữa cúng coi giản dị vậy nhưng đã được gia đình chuẩn bị rất lâu, họ để dành mấy giạ nếp hồi đầu mùa gặt, rồi dọn dẹp nhà cửa, chuẩn bị củi to củi nhỏ, lá chuối, lá dừa… Hôm trước giỗ chính mọi người dành cả một ngày gói bánh, sao cho dư nhiều để… cho. Có bữa ra về một quãng xa thì thấy đứa con nít hào hển chạy theo để dúi vào tay tôi nửa đòn bánh tét với mấy trái lê ki ma, thấy mà thương.

Cái không khí đó bây giờ đã phai nhạt ít nhiều, đơn điệu ít nhiều, nhưng sự gắn bó, mối thân tình ruột ràng vẫn còn nồng ấm. Kẻ nằm xuống vẫn làm được điều có ích, là gắn kết người với người. Ngoài việc thắp nhang tưởng niệm người đã khuất (việc này cũng khó khăn, tôi chỉ biết thầm thì nội ơi hay ngoại ơi hay bác ơi, con là con Tư nè), tôi luôn tận dụng những đám giỗ để nhớ mặt họ hàng bà con, vì chỉ gặp dịp này rồi ai lại về nhà nấy.

Hồi chưa có chồng, má tôi dặn nhớ mặt để khỏi… yêu nhau. Sau này nhớ mặt để tránh… đánh nhau, mắc công bẽ bàng. Nhưng họ hàng đông quá, lại chẳng người nào không thay đổi, theo thời gian. Có người già đi, có người dậy thì, nhổ giò, năm trước khác, năm sau thấy khác. Mấy nhỏ cháu hồi nào còn mắc cỡ đấm thùm thụp giấu mặt vào lưng nhau ngoài sàn nước, lần sau gặp đã bồng đứa trẻ, cầm tay thằng bé ngoắc ngoắc mình, biểu “thưa bà cô đi con”, nghe muốn… mếu.

Trong đám giỗ, nghe râm ran cháu nội cô Tư vừa sinh đứa thứ hai, con anh Ba gần đám cưới. Trời ơi, phải có thời gian tôi sẽ tới trước bữa nhóm họ một ngày, hụ hợ mấy đứa cháu cắt bẹ chuối, thắt lá dừa, lá đủng đỉnh trang trí rạp, để coi tụi nó dùng cách nào làm cái rèm rủ bằng bông dừa xiêm tuyệt đẹp.

Đang nghĩ lung tung xèng thì có cô nhỏ lại gần nhỏ nhẻ, tháng mười tới là lễ ăn trầu uống rượu con, cô nhớ về. Về chớ, phải về, vì lần trước lỡ dự đám hỏi của Hường, của Xuyến, nên phải đối xử đẹp với đứa cháu này, gia cảnh con nhỏ nghèo, mình càng phải tới.

Đi đám cũng có triết lý của việc đi đám, vậy đó.

Ở đời, công bằng là thứ quan trọng khủng khiếp nên đi đám người ta cũng nghĩ tới chuyện làm sao cho công bằng, đừng bên trọng bên khinh. Điều này tôi ảnh hưởng chút đỉnh từ má tôi. Để nuôi dưỡng, duy trì sự tử tế, có tháng má tôi ít khi… ở nhà, má luôn áy náy, thằng anh cưới dâu mình ở suốt, con em gả con mình không tới, nó buồn. Hoặc dịp đó, người đó lăn xả trong bếp nhà mình tới hai ngày, bây giờ mình giùm có một buổi, thấy kỳ. Má tôi xài từ “giùm”, tôi khoái. Nó không chỉ thanh thản “đi”, không chỉ bệ vệ “dự”, chữ “giùm” nhiều trách nhiệm, như gánh đỡ lo âu, nghe có tình có nghĩa, nghe ấm lòng. Tôi học chưa được chữ giùm đó. Và cũng chẳng biết đến bao giờ mới học xong.

Nên tôi không tiếc gì nếu nửa tháng trời chẳng viết chữ nào vì bận… đi đám. Văn chương làm tôi mất bạn bè (một số đứa có lịch chơi trẹo ngoe với tôi, một số đứa khác chê tôi làm nghề quá xa lạ, đã vậy còn… nổi tiếng), và tôi cảm thấy không đáng phải đánh đổi. Nếu viết với tôi là sống, những khi không viết tôi cũng muốn sống. Đi đám là một ví dụ…

Nguyễn Ngọc Tư

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Những thiên thần mắc đọa Chiều nào bà mẹ cũng dẫn con ra công viên bên bờ sông, chỗ chị hay tụ tập đánh cầu lông với bạn bè. Nhẹ nhàng đặt đứa bé lên băng đá, mẹ chạy quanh, lúc che mặt cút hà, lúc lại giả đò trợt té. Đứa trẻ bị giảm thiểu năng trí tuệ, nên ngờ nghệch, có khi cũng nhoẻn cười, nhưng ánh mắt dại mông mênh. Chị hay đứng đằng xa, lén nhìn cảnh đó mà xót thương, bởi cảm giác, đang quấn quýt bên con nhưng bà mẹ ấy như cô đơn chơi vơi dưới nắng chiều. Day qua day lại, chị thấy nhiều người cũng ngẩn ra ngó hai mẹ con họ, và cũng như chị, họ giấu giếm cái nhìn của mình, mắt đậu vào bâng quơ. Dường như ai cũng sợ mình sẽ không kềm chế ánh mắt thương hại, như nhát roi quất vào lòng bà mẹ, vốn đã đau.

Bất giác, chị nhớ cái quãng thằng con bị chứng biếng ăn, chị đã mệt mỏi như thế nào. Thằng nhỏ ốm nhom, nhẹ hều, cái đầu to quá khổ so với thân mình đẹt ngắt, nhiều bữa bưng chén cơm nguội ngơ đuổi theo nó hàng giờ đồng hồ, chị khóc ròng. Không hoàn toàn vì thương con, đôi lúc, chị nhận ra, chị đang thương cho niềm kiêu hãnh của mình. Chị còn không muốn chở con ra đường chơi, sợ người ta quở, nuôi con gì ốm nhách.

Xấu hổ vì ý nghĩ đó, chị chậc lưỡi, tự nhủ, người ta ai cũng vậy. Bà mẹ nào cũng mong đứa con mình thật bụ bẫm và xinh đẹp. Không thì cớ gì lúc mang bầu, nhiều bà mẹ treo hình những cô cậu bé béo múp míp trong phòng ngủ (những mong đứa nhỏ mình sinh ra sẽ giống hệt vậy). Không thì cớ gì mẹ phải tần tảo dành dụm mua sữa Pháp, sữa Mỹ với hy vọng nhỏ con mình ú quây y như… quãng cáo trong ti vi. Không thì cớ gì một vài người giữ trẻ bất lương đã cho thuốc tăng trọng vào thức ăn, để đám trẻ vùn vụt tăng cân, vừa được tiếng thơm vừa thoả mãn lòng hãnh tiến của những bà mẹ.

Chị nhớ hồi nhỏ mình cũng xấu đau xấu đớn (bây giờ thì đã bớt xấu chút đỉnh), hẳn má buồn lắm. Hỏi má, má cười, đẹp không phải là niềm tự hào duy nhất. Má vui vì chị bốn tuổi đã biết đọc sách báo, năm tuổi đòi quét nhà, sáu tuổi biết lon ton xách thùng tưới rau… Má nói, miễn con mình là đẹp. Chị không tin.

Nhưng nghề báo đã đứa chị đi nhiều nơi, gặp nhiều người. Có lần, chị đến T, vùng đất nghèo, xơ xác những di chứng chất độc màu da cam. Hoàn cảnh có khác nhau, bọn trẻ cũng mang dị tật khác nhau nhưng những bà mẹ trong xóm thì có chung ánh mắt, ưa nhìn xuống, lầm lũi, tủi cực. Cái cười cũng rụi ngọn từ khi đứa con ra đời, héo hắt khóc trên tấm khăn. Có đứa nguyên vẹn đến năm, mười tuổi, mẹ vui được quãng đó, rồi một bữa con nhìn mẹ, cái cười ngờ ngệch hiện ra trên khuôn mặt xanh xao. Tóc bạc chảy tràn trên mái đầu của người mẹ trẻ. Chị muốn ôm ghì người phụ nữ ấy vào lòng, khi bà mẹ vẫn đưa cái nhìn trìu mến bọc lấy thằng bé đang nằm mút ngón chân trên giường, khoe, Út Cưng hiền khô hà, nó đeo tui hỏng rời, hễ đi vắng chút xíu là nó nhớ, thấy thương lắm.

Cái nhìn vừa sâu nhói, vừa chan chứa thương yêu đó chị vẫn gặp trên khắp ngã đường. Bởi khi đậu xuống chiếc nôi ấm áp của người, một ít thiên thần đã bị mắc đọa. Tình mẫu tử bị thử thách nghiệt ngã và dai dẳng. Nhà hàng xóm cũng có một đứa con tật nguyền, nhiều bữa bên đó mở tiệc, chị thấy họ nhốt thằng bé không hoàn hảo vào phòng, giấu biệt. Tình thương không đủ mạnh để lấn áp sự mặc cảm, lòng kiêu hãnh bị tổn thương.

Nhưng nhiều người đã vượt lên những ám ảnh tầm thường. Như bà mẹ ở công viên chiều. Đoán được cái nhìn ái ngại của mọi người đối với mình, nên một bữa, người mẹ cầm tay đứa bé, ngoắc lia lịa, rối rít nói thay con “Cô ơi, chú ơi, bữa nay Ti mặc áo mới nè, nhìn Ti xem có đẹp không?”.

Thái độ chủ động của bà mẹ khiến mọi người trở nên nhẹ nhỏm. Họ vẫy tay gọi đứa bé, họ lại chỗ bán hàng rong, mua vài cây kẹo dúi vào tay nó. Thằng bé ngây ngô nhoẻn cười, ngọng nghịu nói theo mẹ hai chữ cảm ơn. Bà mẹ cũng cười, hạnh phúc khi con được người đời yêu thương như một đứa trẻ bình thường. Mặt trời cũng rạng rỡ cỡ vậy, là cùng…

Chị nghiêm cẩn như đang đứng trước một kỳ quan.


Nguyễn Ngọc Tư

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Chiến tranh, âm nhạc và người lính thật thà
HUY PHƯƠNG,

Image


Dù được mệnh danh là cuộc chiến tranh giữ nước, chống xâm lăng, bảo vệ tự do, giải phóng, thánh chiến, nội chiến hay là gì đi nữa, do nguyên uỷ từ đâu, chiến tranh nào cũng đem lại đổ nát, chết chóc, khổ đau, chia lìa cho con người.

Trong cuộc chiến giữ nước, miền nam chúng ta đã trải qua những cảnh ngộ ấy. Những đoàn xe chở binh sĩ ra mặt trận, những trực thăng tải thương trở về, những dãy quan tài phủ quốc kỳ, những vành khăn tang, những nạng gỗ...Trong thành phố người dân, dù không cận kề mặt trận, đêm đêm cũng có thể nghe tiếng đại bác dội về, thấy ánh hoả châu soi sáng một góc trời nào đó.

Chiến tranh không những được nghe qua những bản tin chiến sự lạnh lùng, vô cảm với những con số thương vong, những cứ điểm, toạ độ mịt mù đâu đó trên những vùng đất xa xôi có thể chúng ta chưa bao giờ biết đến, chiến tranh còn nghe được qua những dòng nhạc trên đài phát thanh, trong câu lạc bộ ở quân trường hay trong quán nước ven đường. Những dòng nhạc đó quá gần gũi với những người lính trẻ xa nhà, với người vợ trẻ có chồng đi trận, những bà mẹ có con vừa ra đơn vị và với tất cả ai đang sống gần với chiến tranh. Lời nhạc gần gũi, thiết thân, dễ nhớ, dễ thuộc nằm lòng vì nó có thực như lời nói chính của người trong cuộc, mô tả cuộc sống hằng ngày, những tâm tư, tình cảm của họ, đơn giản, mộc mạc như ruộng đồng hay tâm thức của người lính trẻ. Có thể những lúc như thế, người ta đã quên đi những điều nhọc nhằn, những nỗi chết tàn khốc đến không báo trước.


Những dòng nhạc này không nghe ở trong phòng khiêu vũ, trong dạ tiệc, đình đám của lớp quan quyền, chức tước tuy sống nhờ chiến tranh, trên nỗi khổ đau của người khác, nhưng lại không muốn nhắc tới chiến tranh. Người ta gọi nó chung chung là nhạc thời chinh chiến, có thể là thứ nhạc bình dân... nhưng nó đến thẳng với lòng người, với đa số quần chúng đang tham gia, xa hay gần vào cuộc chiến. Đó là nhạc của một thời chinh chiến trên quê hương của Trần Thiện Thanh, Duy Khánh, Nguyễn Văn Đông, Lam Phương, Minh Kỳ, Song Ngọc, Trúc Phương, Y Vân, Đỗ Lễ, Trịnh Lâm Ngân, Lê Minh Bằng... Phải kể thêm Trầm Tử thiêng, Phạm Thế Mỹ...và quá nhiều nhạc sĩ mà tôi không nhớ hết tên. Họ đã viết nên những bài nhạc này với tất cả tấm lòng biết ơn đối với người lính đang chiến đấu cho quê hương.

Chúng ta cũng còn nhớ Phạm Duy đã viết về Phạm Phú Quốc năm 1965, Trần Thế Vinh năm 1972. Trịnh Công Sơn đã khóc Lưu Kim Cương vào Tết Mậu Thân năm 1968 khi chiến tranh đã vào thành phố, nhưng sau năm 1972, từ một mùa hè được mệnh danh là “mùa hè đỏ lửa”, với bao nhiêu người đã nằm xuống, nhạc Trần Thiện Thanh mới đưa chúng ta tới những cảm xúc dữ dội với máu, lửa, nước mắt, mộ bia, quả phụ và khăn tang. Những địa danh Charlie, Delta, những cứ điểm A1, A2 hầu như xa lạ với người đời, nhưng qua nhạc Trần Thiện Thanh, rừng núi, cỏ cây hình như đã sống dậy với tên của những người lính bất tử.

Image

Chiến tranh khốc liệt nổ ra khắp trên bốn vùng đất chiến thuật, thành phố đã thật gần với mặt trận, thì nhạc chinh chiến đã trở thành nhạc của đại chúng. Trong thời điểm ấy, tình yêu, nếu có cũng là tình yêu trong chiến tranh, thương nhớ, ly biệt và xót xa. Viết về nỗi đau của chiến tranh là viết về nỗi đau lớn lao của con người, hậu quả của sự ngông cuồng của nhân loại. Âm nhạc đã vượt qua biên giới, vượt qua lằn ranh của bên này bên kia, của cả bạn lẫn thù. Những hình ảnh mất mát, què cụt, con côi, quả phụ... sau chiến tranh ở nơi nào và thời nào cũng có.

Chiến tranh được viết theo đơn đặt hàng của mỗi chế độ có vòng hoa chiến thắng, điệu kèn xung trận và những khải hoàn môn chỉ có thể sống những khoảng thời gian cố định. Chiến tranh được viết nên bởi những người nghệ sĩ biết đau nỗi đau của nhân loại, trong thân phận nghiệt ngã của con người bị lôi cuốn, nghiền nát trong chiến tranh sẽ còn sống mãi cho tới khi nào thế giới mỗi ngày chưa ngưng tiếng súng, khi tham vọng con người vẫn còn, dù được nguỵ trang dưới một chiếc mặt nạ nào...



Về phía chúng ta, hơn ba mươi năm qua, cuộc chiến đã tàn, phần lớn những người viết nhạc đã không còn nữa, những người lính miền nam đã bị định mệnh bức tử, bị đối xử tàn độc, nhưng những dòng nhạc này vẫn còn sống mãi với lòng người. Người lính miền Nam của chúng ta quả là không chết, chỉ có thể phai nhạt dần đi. Nhưng cứ mỗi lần ngày ba mươi tháng tư mỗi năm trở lại, hình ảnh người lính đó, với những trang sử hào hùng bỗng sống trở dậy trong lòng mỗi chúng ta.



Trong bao nhiêu năm, người lính phải chống đỡ để giữ cho miền nam khỏi rơi vào bàn tay Cộng Sản. Không hề lay chuyển bởi những hình ảnh mà người ta gọi là phản chiến “anh về bại tướng cụt chân”, “anh trở về dang dở đời em”, “anh lên lon mới giữa hai hàng nến chong”, “tôi có người yêu chết trận Pleime, chết trận Đồng Xoài...” Những người lính đã thi hành những lệnh lạc rất gần, từ cấp chỉ huy trực tiếp. Mặc cho những mưu toan, đổi chác, thương thảo trong những căn phòng kín ở Mạc Tư Khoa, Hoa Thịnh Đốn, Bắc Kinh hay trên bàn hội nghị; mặc cho những ai buôn xương bán máu đồng đội, măc cho ai “công thành” trên “vạn cốt khô”, người lính vẫn một lòng đi tới: “khi đã dàn quân, người lính xem cái chết như trở về nhà!” Người lính không lạc quan là có thể sống mãi giữa đạn bom trong khi bạn bè đồng đội vẫn ngày đêm ngả xuống, nhưng họ vẫn không làm gì khác hơn là chấp nhận hoàn cảnh, không hèn nhát, không sợ hãi, không trách cứ tới ai.


Đây là những người lính can đảm, thật thà và trung tín.

Ngày nay những “quốc gia nghĩa tử” đã lớn lên thành người; những thương binh què cụt còn mang nỗi hận mất mát và bị bỏ rơi; những quả phụ đã làm lại cuộc đời hay đã già nua, tàn tạ qua thời gian; xương cốt liệt sĩ trong mộ đã hoá thành đất cát, đó phải chăng là hậu quả của bất cứ một cuộc chiến tranh nào.
Buổi chiều nay nghe một khúc nhạc cũ nói về một người lính, tưởng như anh linh ai đó còn hiển hiện. Nói như nhà văn Henri Henriot : “Tôi có một niềm tin sâu sắc rằng: những người chết, sống cho đến bao giờ còn có những kẻ sống nghĩ đến họ”.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Đại quan tham ở Bắc Kinh bị tử hình
Ngày 10/7/2006, Tòa án nhân dân tối cao thành phố Bắc Kinh, Trung Quốc, đã tiến hành xét xử lần cuối vụ án hối lộ và giữ nguyên mức án tử hình đối với bị cáo Ôn Mộng Kiệt.

Mua nhà với giá 30 triệu NDT

Ngày 28/6/2004, Cục Chống tham ô, thuộc Phân viện 1, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kinh, Trung Quốc, nhận được một bức thư nặc danh phản ánh Giám đốc Sở KHKT Ngân hàng Nông nghiệp (NHNN) Trung Quốc chi nhánh thành phố Bắc Kinh Ôn Mộng Kiệt đã mua nhà đất với giá trị lớn, vượt xa thu nhập hợp pháp của một quan chức.

Cục Chống tham ô lập tức lên phương án bí mật điều tra bằng cách cử trinh sát viên tiến hành tìm kiếm bằng chứng ở một công ty bất động sản tại thành phố Bắc Kinh. Tài liệu từ phòng tài vụ của công ty này cho thấy, Ôn Mộng Kiệt đã lấy tên vợ để mua căn nhà ngoài khu vực SOHO (thành phố Bắc Kinh) với tổng diện tích trên 1.000m2, trị giá trên 30 triệu NDT (tương đương 60 tỉ VNĐ). Khoản tiền dùng để mua ngôi nhà được chi trả bằng nhiều hình thức: khoản vay ngân hàng, tiền mặt, số lượng lớn ngân phiếu và chuyển khoản từ nước ngoài.

Với quyết tâm phá án, các trinh sát viên của Cục điều tra đã mang tờ hóa đơn chi trả bằng khoản vay ngân hàng mang tên Ngô Mưu đến ngân hàng để đối chiếu. Số tiền vay ngân hàng này là hơn 1 triệu NDT (tương đương 2 tỉ VNĐ). Trong cuốn băng ghi hình của ngân hàng có hai người đang giao tiền, trong đó một người đàn ông trung niên đeo kính, cầm theo một chiếc vali chứa đầy tiền được các trinh sát xác nhận là Ôn Mộng Kiệt. Vậy Ngô Mưu là ai? Tại sao khi vay tiền ngân hàng, Ôn Mộng Kiệt phải lấy tên của người khác?

Ngày 11/7/2004, Ôn Mộng Kiệt bị bắt giam với tội danh sử dụng tài sản lớn không rõ nguồn gốc.

Chối cãi quanh co

Tại Viện Kiểm sát, khi được hỏi về lai lịch, Ôn Mộng Kiệt với giọng tự đắc nói: “Đầu những năm 80, tôi đảm nhiệm chức vụ Phó giám đốc Sở KHKT Ngân hàng Công thương Bắc Kinh. Năm 1989, đi du học kinh tế tại Australia. Năm 1992, trở về nước, tôi cùng vợ làm kinh tế. Năm 1994, NHNN Trung Quốc chi nhánh Bắc Kinh mời tôi đảm nhiệm chức vụ kỹ sư trưởng Sở KHKT của chi nhánh. Đến năm 1998, tôi trở thành Giám đốc Sở KHKT. Tôi còn là người phụ trách, người đại diện hợp pháp của Công ty TNHH Sáng tạo kỹ thuật thông tin tiền tệ Bắc Kinh”.

Tuy vậy, khi hỏi về tiền mua căn hộ ngoài khu vực SOHO, thì Ôn Mộng Kiệt chối cãi quanh co, nói rằng phần lớn số tiền đó hoàn toàn là của vợ hắn, Kiệt chỉ tham gia một phần rất nhỏ.

Các trinh sát viên vẫn tiếp tục tìm rõ nguồn gốc khoản tiền dùng vào việc mua ngôi nhà trên. Họ tìm kiếm bằng chứng tại NHNN Trung Quốc chi nhánh Bắc Kinh, phân loại điều tra, phân tích tỉ mỉ hợp đồng ký kết từ năm 1998 đến nay. Mặt khác, điều tra nguồn gốc khoản tiền mua nhà, phân tích hợp đồng mua nhà giữa Ôn Mộng Kiệt và công ty bất động sản cùng phương thức thanh toán nhằm tìm ra manh mối.

Do sản phẩm phần mềm của Sở KHKT NHNN chi nhánh Bắc Kinh có kỹ thuật cao, hợp đồng ký kết khá chặt chẽ, khiến công tác điều tra gặp rất nhiều khó khăn, các trinh sát chỉ lần ra đầu mối một vài đơn vị thanh toán tiền mua nhà. Nhưng khi họ tìm đến địa chỉ ghi trên hóa đơn thanh toán, thì đều là “vườn không nhà trống”, hay nói cách khác, đó đều là những công ty ảo. Trong khi đó Ôn Mộng Kiệt vẫn chối tội.

Quá trình nhận hối lộ của Ôn Mộng Kiệt

Công tác điều tra buộc phải đi ngược lại quãng thời gian trước khi Ôn Mộng Kiệt bị bắt giữ và thật may mắn họ đã tìm được những chứng cứ “vàng”: Từ tháng 2/1999 đến tháng 2/2004, Ôn Mộng Kiệt đảm nhiệm chức vụ Giám đốc, phụ trách quản lý mua sắm các thiết bị cho đơn vị. Ngay khi vừa mới đảm nhiệm chức vụ, Ôn Mộng Kiệt đã thu được 40 nghìn NDT (tương đương 80 triệu VNĐ) tiền “hoa hồng” từ hợp đồng giữa NHNN chi nhánh Bắc Kinh với một công ty. Đây là lần nhận hối lộ đầu tiên của hắn.

Tiếp đó, trong những cuộc giao dịch chế tạo phần mềm, mua sắm thiết bị lớn đều có bàn tay hắn “nhúng chàm”. Từ tháng 7/2000 đến 9/2002, hắn đã nhận hối lộ 4 lần, tổng cộng 2,798 triệu NDT (tương đương 5,596 tỉ VNĐ) từ Công ty TNHH Kỹ thuật thông tin DPC Bắc Kinh. Từ tháng 11/2000 đến tháng 11/2003, hắn cũng nhận hối lộ 4 lần tổng cộng hơn 3 triệu NDT (tương đương hơn 6 tỉ VNĐ) từ Công ty TNHH Cổ phần KHKT Tân Thần Bắc Kinh. Từ tháng 10/2003 đến đầu năm 2004, hắn tiếp tục nhận hối lộ 2 lần tổng cộng 2.377.800 NDT (tương đương 4,7556 tỉ VNĐ) từ Công ty TNHH Kỹ thuật thông tin Khang Đạt Bắc Kinh. Tổng cộng hắn đã nhận hối lộ hơn 10,73 triệu NDT (tương đương 21,46 tỉ VNĐ). Từ tháng 6/2003 đế 6/2004, lợi dụng chức vụ Giám đốc Sở KHKT NHNN chi nhánh Bắc Kinh và đại điện pháp lý Công ty Sáng tạo kỹ thuật thông tin lĩnh vực tiền tệ Bắc Kinh, Ôn Mộng Kiệt tham ô công quỹ hơn 4,32 triệu NDT (tương đương 8,64 tỉ VNĐ) khi chi nhánh này nhập khẩu thiết bị máy ATM bằng cách ghi tăng giá.

Tháng 5/2005, vụ án tham ô Ôn Mộng Kiệt đã hoàn tất điều tra. Trong quá trình điều tra, rất nhiều lãnh đạo, nhân viên nghiệp vụ, nhân viên tài vụ của các công ty có mối quan hệ giao dịch với NHNN chi nhánh Bắc Kinh đã chỉ mặt vạch tên Ôn Mộng Kiệt, đòi và nhận tiền hối lộ trong quá trình các công ty này ký kết hợp đồng với chi nhánh Bắc Kinh. Tháng 9/2009, phiên tòa sơ thẩm xét xử diễn ra. Tòa án đã tổng hợp các tội danh tham ô và nhận hối lộ, tuyên án hắn phải nhận với mức án cao nhất: tử hình, tước đoạt quyền lợi chính trị suốt đời và tịch thu toàn bộ tài sản cá nhân. Ôn Mộng Kiệt kháng án.

Tuy nhiên, tháng 7/2006, Tòa án tối cao thành phố Bắc Kinh xử phúc thẩm vẫn giữ nguyên mức án tại phiên tòa sơ thẩm đối với Ôn Mộng Kiệt. Đây là lời cảnh báo đối với các cán bộ nhà nước, đã lợi dụng chức quyền nhằm mục đích tư lợi cá nhân!

Hoàng Hạnh

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Làng ‘Không Chồng’
Thứ Bảy, 9/16/2006, 12:02:00 AM

Bạn,

Theo báo quốc nội, tại tỉnh Thái Bình, có một ngôi làng có nhiều phụ nữ không chồng, họ là những nông dân một nắng hai sương trên đồng ruộng làng An Hiệp, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình, Nơi đây, mọi lễ giáo thời phong kiến không tồn tại. Ở chính những ruộng ngô bát ngát trên bãi bồi mênh mông phía ngoài đê, những sinh linh bé bỏng lặng lẽ hoài thai rồi lặng lẽ chào đời trong những nếp nhà của những phụ nữ cô đơn. Báo Sinh Viên Việt Nam ghi nhận về tình cảnh của những phụ nữ tại làng này qua đoạn ký sự như sau.

Cách đây vài năm, ở An Hiệp gần 90 phụ nữ quá lứa thì hơn 30 người đã "chủ động tấn công" để khỏi cảnh gối chăn đơn chiếc. Sau cái đêm hạnh phúc ngắn ngủi, gấp gáp ấy, họ chủ động cắt đứt mọi quan hệ và chẳng ai trong số họ hé lộ bất kỳ một thông tin nào về "người chồng một đêm".Thỉnh thoảng những chiếc xà lan cập bến An Hiệp, có những thủy thủ phóng đãng tiếp cận đúng đối tượng, họ hứa hẹn đủ điều, nhưng họ cũng có nhiều kinh nghiệm với phụ nữ, sắp đến lúc "cao trào" thì họ biết cách làm thế nào để khỏi gây rắc rồi về sau. Có những chị âm thầm hy vọng rồi thất vọng vì sau một thời gian chờ đợi. Các chị "ra giá" sinh con gái 3 tạ thóc, sinh con trai 4 tạ hoặc hơn, vì không phải các chị lo không có ai hương khói lúc về già, mà điều lớn lao hơn khiến phóng viên trào nước mắt là các chị lo lắng ngộ nhỡ con gái mình sau này cũng lặp lại giống cuộc đời cô đơn, hẩm hiu như mẹ chúng.

Đến thăm nhà gần hai chục chị thôn Nguyên Xá, xã An Hiệp này, tuổi tác tuy khác nhau nhưng các chị đều có chung sự thèm khát: nghe tiếng ọ ẹ của trẻ thơ. Chung một cảnh ngộ chỉ có mẹ và con mà vắng bóng người cha, có chị thì bệnh triền miên, chị hỏng mắt... Các chị rất nghèo khó, trong nhà chẳng có tài sản nào đáng giá, bàn ghế siêu vẹo, rặt ngô, khoai và một quây thóc nhỏ ở góc nhà, nhưng các chị đã có ngọn lửa trong đời, những "mặt trời bé con" đã sưởi ấm những ngày đông giá lạnh trong tâm hồn các chị.

Tất cả phụ nữ không chồng đều có chung một tình trạng về tâm lý: bất ổn, khó tính, càu cạu suốt ngày, lầm lì, ít nói, đi về lầm lũi, mà cũng đúng: phụ nữ muộn chồng, muộn con thì tâm lý dồn nén hay bực bội là điều dễ hiểu, với lại cuộc sống cơ cực, quần quật suốt ngày, có chị có khi cả đời chẳng rời lũy tre làng, khi có mụn con tâm tính họ cũng phần nào dịu xuống.

Bạn,

Cũng theo báo Sinh Viên VN, sau khi sinh con, nỗi cô đơn của các phụ nữ vơi đi nhưng cái nghèo lại đầy lên. Cuộc sống của họ chỉ trông vào cây lúa, thêm chút ngô khoai đất bãi. Nhà có nhiều nhân lực còn bữa đói bữa no huống hồ chỉ thui thủi một thân một mình trồng giống cấy, giờ lại thêm một miệng ăn. Bến An Hiệp, nơi kinh doanh vật liệu xây dựng nhưng chỉ người có sức khỏe tốt mới có thể kham nổi, một ngày đội đá cát cật lực cũng chỉ được khoảng gần hai chục nghìn bạc mà thôi.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Chủ nghĩa mang về Xưa nay, Trung Quốc theo cái gọi là "chủ nghĩa đóng cửa", mình không đi đâu cả, nhưng cũng không cho người khác đến. Từ ngày súng đạn phá hỏng cánh cổng đi rồi, thì cứ xúi quẩy liên tiếp, cho đến nay thành ra cái gì cũng là "chủ nghĩa mang đi". Hãy không nói đến việc khác, riêng về văn học nghệ thuật, gần đây thì mang một lô đồ cổ sang Paris triển lãm, nhưng cuối cùng "không biết sau đó là thế nào?". Lại còn mấy vị "đại sư" cũng mang mấy bức cổ hoạ và tân hoạ, đi các nước châu Âu, dọc đường treo khắp, nói là làm "rạng rỡ Tổ quốc". Nghe nói nay mai sẽ mang bác sĩ Mai Lan Phương sang Liên Xô, để đẩy mạnh "chủ nghĩa tượng trưng"; từ đây về sau sang châu Âu truyền đạo thì rất thuận tiện. Ở đây tôi không định bàn xem cách diễn xuất của bác sĩ Mai Lan Phương có quan hệ gì với "chủ nghĩa tượng trưng" [1] hay không, tóm lại, tôi dám nói, người sống mà thay thế đồ cổ, thì cũng có thể cho là đã tỏ ra có tiến bộ một chút.

Nhưng chúng tôi không có ai căn cứ vào nghi tiết "lễ thượng vãng lai" [2] mà nói: Mang về!

Tất nhiên, nếu có thể chỉ mang đi, cũng không phải là một chuyện xấu, một là thấy được ta phong phú, hai là thấy được ta rộng rãi. Nietzsche nói khoác rằng ông ta là mặt trời, nóng vô cùng, chỉ cho đi, chứ không nghĩ đến chuyện lấy lại. Nhưng cuối cùng Nietzsche không phải là mặt trời, ông ta phát điên. Trung Quốc cũng không phải là than đào dưới đất lên có thể đủ dùng cho toàn thế giới mấy trăm năm thì sao? Sau mấy trăm năm, tất nhiên chúng ta sẽ thành linh hồn, hoặc lên thiên đường, hoặc xuống địa ngục, nhưng con cháu chúng ta thì còn đấy, cho nên còn phải để lại cho chúng nó một ít lễ phẩm chứ. Nếu không, gặp những lúc tết nhất, chúng nó sẽ không còn tìm ra cái gì cả, đành phải cúi đầu chúc mừng để được thưởng lại chút cơm thừa canh cặn.

Vật "thưởng" đó không nên hiểu lầm là "quăng lại" mà "quăng cho", nói cho đường hoàng một tí, có thể nói là "mang đến", ở đây tôi không muốn nêu thí dụ. [3]

Ở đây tôi cũng không muốn nói gì thêm về chuyện "mang đi", nếu không sẽ không "môđec" chút nào. Tôi chỉ muốn khuyến khích chúng ta nên hà tiện một chút, ngoài việc "mang đi" còn phải "mang về", là vì chủ nghĩa "mang về".

Nhưng chúng ta bị những cái "mang đến" làm cho khiếp sợ. Trước có thuốc phiện của Anh, súng hỏng của Đức, sau có phấn sáp của Pháp, điện ảnh của Mỹ, và các thứ lặt vặt in dấu "hoàn toàn quốc hoá" của Nhật. Thế là ngay những bạn thanh niên đầu óc tỉnh táo cũng đâm ra sợ hãi hàng ngoại. Thực ra, chính vì đó là đồ "mang đến", chứ không phải là đồ "mang về".

Cho nên, chúng ta phải vận dụng não tuỷ, mở mắt ra cho sáng, tự mình mang về!

Nói thí dụ, một thanh niên nghèo trong chúng ta, nhờ âm đức của tổ tiên (tạm cho tôi nói như thế) mà được một ngôi nhà lớn, hãy chưa nói anh ta lừa được, cướp được, hay thừa kế hợp pháp, hoặc giả làm rể mà có. Thế thì, làm thế nào? Tôi nghĩ trước tiên, bất kể ba bảy hăm mốt, cứ "mang về" đã! Nhưng nếu phản đối chủ cũ ngôi nhà đó, sợ bị bẩn lây, cứ loanh quanh không dám bước vào cửa, như thế là hèn; bỗng nổi giận, phóng lửa đốt sạch, gọi là bảo vệ danh dự, như thế là dốt. Có điều vì hâm mộ người chủ cũ, mà cái gì cũng tiếp thu cả, hớn hở mò vào phòng ngủ, ra sức hút cho hết chỗ thuốc phiện còn lại, tất nhiên như thế càng hỏng. "Chủ nghĩa mang về" không phải như vậy.

Anh ta chiếm lấy, lựa chọn. Thấy vây cá, thì không quăng ra đường để tỏ mình "bình dân", nếu là đồ ăn được, cũng sẽ cùng bạn bè ăn, như ăn củ cải, ăn rau, chỉ không dùng để thết khách sang mà thôi; thấy thuốc phiện, cũng không quăng vào hố xí trước mặt mọi người, để tỏ mình triệt để cách mạng, mà đem về phòng bào chế thuốc chữa bệnh, nhưng không làm cái trò giả dối "còn bao nhiêu đem bán, bán hết thì thôi". Chỉ có hai cái dọc tẩu và bàn đèn, mặc dù kiểu khác với Ấn Độ, Ba Tư, Ả Rập, có thể cho là quốc tuý được, nếu mang đi chu du thế giới, nhất định sẽ có người xem, nhưng tôi nghĩ, trừ một ít đem vào để nhà bác cổ, còn thì có thể phá huỷ quách đi. Lại có một bầy dì hai, cũng có thể mời các bà mỗi người mỗi ngả cho, nếu không thì "chủ nghĩa mang về" sợ không khỏi hơi nguy hiểm.

Tóm lại, chúng ta cần phải mang về. Chúng ta phải hoặc sử dụng, hoặc giữ lại, thả ra, hoặc phá huỷ đi. Thế thì, chủ nhân là chủ nhân mới, nhà cũng biến thành nhà mới. Nhưng trước hết người đó phải bình tĩnh, dũng cảm, biết phân biệt, không tự tư. Không mang về thì người ta không thể thành người mới được, không mang về thì nghệ thuật không thể thành nghệ thuật mới được.

Lỗ Tấn

Trương Chính dịch

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Thói hư tật xấu của người Việt: Ưa nịnh, chê bai, thiếu óc khoa học Chỉ quen ưa nịnh
(Trần Trọng Kim, Mấy lời bàn với Phan tiên sinh về Khổng giáo, năm 1930) Người mình xưa nay vẫn chưa quen chịu người ta phê bình. Ai làm được quyển sách quyển vở nào, đem ra giới thiệu với công chúng thì chỉ muốn khen, chứ không muốn người ta chê, rồi hễ thấy người ta bẻ bắt điều gì là mích lòng và không hiểu rằng “người dạy ta mà phải là hầu ta, người trách ta mà phải là bạn ta". Bởi vậy người phê bình cũng không muốn phê bình, mà sự học cũng không tiến bộ được.

Nhiều trò quảng cáo bỉ ổi
(Hoa Bằng, Vài cái liệt điểm của một số nhà văn ta, Tri tân, năm 1942)

Người ta khoác bộ áo phê bình để thực hành cái dã tâm tâng bốc lẫn nhau, quảng cáo lẫn nhau. Anh Giáp viết đến mấy kỳ báo ca tụng "văn nghiệp"(!) của anh Ất(1) rồi anh Ất để hết lại, viết hàng mớ bài tán lương về văn tài về tác phẩm của anh Giáp. Nhưng bạn đọc, giá chịu khó tò mò đôi chút, sẽ biết rõ ngay hai anh ấy là bạn nối khố của nhau, lợi dụng tờ báo để công kênh nhau lên chín tầng mây biếc. Đáng tức cười hơn nữa, cùng trong một Tòa soạn, trong một đoàn văn, họ lại vẫn giở ngón quá chướng là phê bình tác phẩm của nhau vẫn một giọng khen ngợi hết lời, hoan hô nhiệt liệt.

(1) Cũng như ngày nay hay nói anh A anh B, anh X, anh Y

Kém óc khoa học
(Phan Khôi, người Việt Nam và óc khoa học, Tao Đàn, năm 1939)

Trong đám trí thức chúng ta đã có nhiều kẻ tự nhận mà tuyên bố lên rằng người Việt Nam thiếu óc phê bình, không có óc khoa học. Rồi coi ai cũng im thin thít chịu cả, ai cũng làm thinh, không cãi lại. Phải, chịu chứ còn ai sao được! Các sách Nho ta thường học mở ra thấy đầy những chữ như là tam tài, tam quang, ngũ luân, ngũ hành(1)... còn bao nhiêu nữa không kể hết - mới nghe như là rành về óc phân loại lắm mà kỳ thực nào có phải. Những chữ số mục trên một danh từ ấy chẳng qua bởi người ta thấy cái gì lược đến đâu thì kể đến đó, chứ chẳng phải có chủ ý làm một sự phân tích cho hợp với lẽ đương nhiên.

Trong lúc nền học thuật nước ta bắt đầu độc lập, tôi thấy như ai nấy có huynh hướng về văn học hơn khoa học. Ấy là cái hiện tượng đáng cho chúng ta không lấy làm mãn ý. Có người đã ví văn học và khoa học như hai anh chim chích(2) một không bay nổi. Chuyện chuộng văn học thì lâu ngày nó sẽ thành ra vô thực dụng, cái gương Hán học hồi trước vẫn còn treo mãi cho chúng ta.

(1) Tam tài: Trời, Đất, Người. Tam quang: Mặt trời, Mặt trăng, Sao. Ngũ luân: năm mối quan hệ là Vua - Tôi, Cha - Con, Anh - Em, Vợ - Chồng, Bạn bè. Ngũ lành: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.

(2) Đại nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của giải thích "chích" cớ nghĩa là lệch nghiêng, chích cánh là gãy cánh, còn cô một cánh, cũng là lẻ đôi, chích bạn.

Vương Trí Nhàn (Tạp chí Thể thao & Văn hoá )

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

LẤY MỄ.

Tân Ngố
Nhiều người trong chúng ta khi mới đến Hoa Kỳ không phân biệt được người Mỹ trắng và người Mễ, thấy họ khác chúng ta và nhất là thấy không phải là ông Mỹ đen thì trong thâm tâm rất lấy làm kính trọng.

Dăm ba tháng, một vài năm sau thì tình hình đổi khác. Tự nhiên ta thấy họ lùn, mập, da không được trắng, đi xe xấu, ở nhà tồi, hay đánh nhau, ăn cắp, ở dơ, làm công việc "hạ tiện", uống bia, không biết tôn trọng hàng xóm khi mở nhạc chát chình chát chinh om xòm v v... thôi thì đủ thứ tật xấu!

Chẳng phải chúng ta tự tìm ra điều đó, mà do những người đến trước dè bỉu, phê bình, mà có chắc đâu những lời phê bình đó là đúng.

Hãy đến các công sở ở vùng Orange County mà coi, người làm việc ở đây hầu hết là người gốc nói tiếng Tây Ban Nha, họ nắm giữ nhiều chức vụ cao trong guồng máy chính quyền (mà người Việt đã được mấy người). Chắc ai trong chúng ta cũng đều biết và tôn trọng bà Dân Biểu Loretta Sanchez, bà đã từng sát cánh với người Việt trong nhiều vấn đề mà cộng đồng quan tâm.

Người Mễ tánh tình cởi mở và thân thiện, gặp là “Como esta Seno” rối rít cả lên. Họ dù có giấy tờ hợp lệ hay không đều chịu khó làm những công việc vất vả nặng nhọc, mà các sắc dân khác không ai thèm làm kể cả người da đen.

Tôi không thể tưởng tượng được nếu không có người Mễ thì xứ Mỹ này ra sao, những ai sẽ là người dang nắng dầm mưa hái cho chúng ta từng trái dâu cho đến cái bắp cải(?)

Những người làm nghề xây dựng sẽ lấy đâu ra công nhân đào đất, tráng xi măng hay lợp mái nhà.

Họ có sức khoẻ và không đòi lương cao, nhưng có điều họ không hề chung thuỷ: Tôi làm nghề Construction khá lâu và chưa thấy anh Amigo nào ở bền với mình, cho dù tôi đã từng cho một anh cái xe truck khá mới; Noel hay tết đều có phong bao lì xì riêng cho từng công nhân.

Họ hơi giống những người miền quê sông nước của tôi là bóc ngắn cắn dài, làm tới đâu lủm tới đó, không mấy khi để dành. Mua xe thì lựa mua chiếc nào chiếc nấy bự tổ chảng, uống xăng như chủ nó uống bia vậy. Mấy người làm với tôi không bao giờ chịu mua từng xâu nước ngọt 99 cent, bỏ trong thùng đá mà uống cả ngày, mà mỗi lần có xe lunch tới thì họ mua 1$/1 chai mà uống. Họ đi chợ thì ôi thôi mỗi gia đình chất đồ ăn đầy lên có khi tới hai xe lặc lè.

Chúng ta thường than phiền là người Mỹ không coi chúng ta bình đẳng, cho dù chúng ta đã thành công trên công việc và thương trường, con cháu chúng ta học rất giỏi, nhưng hãy tự xét lại chúng ta khi đối xử với những sắc dân khác coi thế nào?

Có khi nào chúng ta lại là "Chúa chổm" phân biệt chủng tộc hay không (?)

Có rất nhiều người vẫn quen miệng gọi người da trắng là "Ông Mỹ trắng", nhưng gọi người gốc Phi Châu là "Thằng cha Mỹ Đen", đến người Mễ thì tụt xuống hạng thấp hơn nữa: "Mấy thằng Amigo"!

Cứ khu nào đông Mỹ trắng thì nhà có mắc hơn nhiều chúng ta cũng lăn xả vào mua; thấy ai ở khu nào đó có đa số dân Mễ là chê bai ở khu xập xệ, nhiều tội ác.

Đó là nói chung chung, còn việc cô con gái cưng mà lại dẫn về giới thiệu một anh Mễ thì ôi thôi... cả nhà phản đối ngay lập tức.

Có những bậc cha mẹ có con lấy người Mỹ, Mễ rất phiền lòng, chẳng phải họ sợ con họ sau này khổ sở hay người đồng hương phê bình này nọ, mà ngay từ khi tổ chức đám cưới đã thấy trật rơ, nó lạt lẽo làm sao ấy, tiệc cưới ở nhà hàng cũng vậy; rồi tình suôi gia, tình bố vợ con rể nó cũng lạt nhách, gặp nhau thì cũng "How are you; I am fine; I'm glad to see you ..." rồi thế là tịt ngắc, đâu có cái cảnh anh chị suôi người Việt chúng ta ngồi kề cà nói chuyện quê hương, tâm sự hay chia sẻ vấn đề học hành của con cái v v..

Người con gái Việt lấy đàn ông Mễ không nhiều, mà có chăng nữa thì ông này cũng phải thuộc dạng cao ráo đẹp trai và tương đối có chức vụ, nhưng con trai Việt lấy gái Mễ thì khá đông.

Giống dân Mễ (nhất là con gái) lai giữa người bổn xứ Da Đỏ và người Âu Châu rất đẹp: Da trắng, tóc dợn sóng, đôi mắt to và lông mi cong vút, còn đồ phụ tùng thì nói theo kiểu bình dân là "Vú cho một vú; đít cho một .. đít!"

Có người nói ông trời sanh ra giống người da đen để chơi thể thao, âm nhạc và .. làm tình.

Người Mễ cũng không khác là mấy.

Họ khoái đá banh, họ mê âm nhạc một cách lạ lùng, lúc nào cũng cứ cái điệu nhạc Fox chát chình, chát chinh ấy mà nghe cả ngày, mà lại mở lớn tối đa.

Họ rất thích mở Party vào ngày Thứ Bảy. Thường thì họ qui tụ bạn bè ở một công viên nào đấy, mang đồ ăn ra đó mà nướng, nghe nhạc hoặc ca hát với nhau tới chiều. Trời thật tối họ mới kéo nhau về một nhà rồi nhảy nhót đến ba bốn giờ sáng Chúa Nhật mới vãn.

Những ông chồng người Việt khởi đầu cũng còn chiều vợ mà đi dự hàng tuần, nhưng đến những chỗ này thì cứ ngồi nghệt mặt ra, vì vợ mình với bạn bè cứ xổ rặt tiếng Mễ. Khi vào Party thì ông không thích nhảy, cứ phải ngồi chờ vợ bèn nản củ tỉ quá, toàn ngồi ngáp ruồi.

Rồi càng ngày ông càng chán cái kiểu họp mặt đó, than mệt, ở nhà coi con để vợ đi chơi một mình.

Cho dù có tin vợ cách mấy đi nữa, mà cô vợ hây hẩy ấy cứ đi gần sáng mới về với chồng thì thế nào cũng có vấn đề rạn nứt tình cảm.

Tại sở làm hay khi bù khú với bạn bè, ai cũng nói gái Mễ ..."cái vụ đó" khiếp lắm, họ xay như xay lúa. Khởi đầu những chàng trai Việt cũng thích lắm, nhưng rồi đường xa mỏi gối chồn chân, đến khi sanh một vài đứa con thì không biết vì nòi giống họ như thế, hay tại ăn uống thả dàn, cứ đậu bean và bánh bột bắp mà ních, nên bà nào bà ấy sồ ra, ba vòng bằng nhau, sau đó cái vòng cần nhỏ nhất lại vượt lên đứng đầu.

Người ta nói "Người gầy là thầy ...." nhưng như vậy không có nghĩa là người béo chịu kém thớ đâu nghen, về vụ này họ cũng khiếp lắm đấy. Chạy xe dọc đường mà thấy mấy bà đẩy cái xe con nít trên side walk thì mười bà có đến chín bà là Mễ béo rồi. Họ sanh nhiều và mắn như thỏ vậy.

Tôi biết một cặp chồng Việt vợ Mễ trông rất đẹp đôi, có công việc vững chắc thế mà chỉ trên dưới 10 năm là rã!

Ngoại trừ khác biệt về văn hoá, người Việt mà ăn đồ Mễ hoài ngán lắm, như ông chồng muốn ăn canh chua cá kho tộ thì phải nấu lấy mà ăn, và cô vợ dĩ nhiên chê cái mùi nước mắm làm ông chồng tự ái phải nổi lên, thế là to tiếng cãi vã.

Anh NNT nói rằng "Chớ có bao giờ mời Mễ đi ăn đám cưới kiểu Việt Nam, mời họ một thiệp thì họ đi hai vợ chồng với bốn đứa con cộng thêm ông bà già vợ nữa, kéo vô ngồi gần kín một bàn, mà họ nghĩ như là đi party, nên không tặng phong bì, chỉ đem gói quà là một hộp mấy cái ly hay cái bàn ủi mà thôi, mời Mễ đi nhiều thì lỗ chỏng gọng lên".

Tôi cũng nghe có anh kia lấy gái Mễ, nhà gái đi dự khá đông. Đám cưới xong anh được gần 20 chiếc đồng hồ treo tường, anh tặng lại cho bạn bè một mớ, còn bao nhiêu phải đem ra chợ trời bán được 8$/1 cái. Lời khẳm!

Tình yêu vốn không phân biệt chủng tộc, màu da, ngôn ngữ... nhưng nếu thằng con dẫn về nhà giới thiệu một cô tiểu thư Mễ, thì mình ra sao há? Hỏi và ôn đủ thứ chuyện mà vẫn chưa thấy câu trả lời hay ho.


TÂN NGỐ

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Tôi Là Ai
Trần Mộng Tú

“Tôi là ai mà yêu quá đời này” - TCS

Image


Có phải nếu mình ở một nơi nào trên dưới ba mươi năm thì mình là người thuộc địa phương đó, đúng không? Đã biết bao nhiêu lần tôi đặt ra câu hỏi đó sau một ngày nhìn vào lịch thấy con số ghi năm đã bước vào năm thứ ba mươi của một người tị nạn. Bây giờ có ai mới quen gặp tôi, hỏi: Bà ở đâu đến vậy? Thì chắc tôi sẽ trả lời rất tự nhiên là Tôi ở Seattle hay khi đang đi du lịch thì sẽ trả lời Tôi ở Mỹ đến. Tôi sẽ không trả lời là tôi ở Việt Nam đến nữa, chỉ trừ người ta hỏi Bà là người nước nào? Thì lúc đó tôi chắc chắn nói Tôi là người Việt Nam. Để cho họ không nhầm với người Trung Hoa, Nhật, hay Phi.



Đúng, tôi ở Mỹ trên, dưới ba mươi năm rồi, tôi là một người Mỹ. Bây giờ thử xem lại con người Mỹ của tôi. Trước tiên mặt mũi, chân tay tôi chẳng có gì thay đổi cả. Vẫn khuôn mặt cấu trúc ít góc cạnh của người Á Đông và cái mũi khiêm tốn, tóc sợi to và đen, khi có tóc bạc thì nhìn thấy ngay, muốn giấu thì phải nhuộm. Đối với người Á Đông thì tôi được gọi là người có nước da trắng, nhưng mầu trắng này thực ra là mầu ngà, và đứng cạnh một ông Tây, bà Mỹ nào thì nó vẫn cho cái căn cước là da vàng rất rõ rệt. Khi tôi nói tiếng Anh thì cách phát âm vẫn có vấn đề, đôi khi nói nhanh quá thì sẽ vấp phải lỗi nói tiếâng Anh theo cách dịch tiếng Việt trong đầu. Như thế bị chê là nói Tiếng Anh bể (Broken English) Về cách phục sức, nhà ở, xe cộ bên ngoài tôi có thể không kém một người Mỹ chính gốc. Nhưng khi bước vào nhà tôi; Từ những bức tranh treo ở phòng khách, bát đũa bầy ở bàn ăn, chai nước mắm, hũ dưa cải trong bếp và nhất là sách, báo tiếng Việt ở khắp nơi trong nhà, thì chắc ai cũng sẽ nhận ra ngay đó là một gia đình Việt Nam. Như thế thì tôi là người Seattle hay người Hà Nội, người Mỹ hay người Việt? Tôi ở đất này đến ba mươi năm rồi cơ mà.




Người ở Lạng Sơn, Thanh Hóa ra Hà Nội ở trên dưới ba mươi năm thì tự nhận mình là người Hà Nội; Người ở Hải Phòng, Hải Dương vào Sài Gòn lập nghiệp từ năm 75, 76 tự nhận mình là người trong Nam.

Tôi ở Mỹ tìm về Việt Nam không ai chịu nhận tôi là người Việt nữa, dù tôi có yêu quê hương đến quặn thắt cả ruột gan, có gặp lại họ hàng nước mắt khôn cầm thì khi thăm viếng, hỏi han, họ vẫn thỉnh thoảng nói rất tự nhiên: Chị đâu có phải là người Việt nữa. Bây giờ Chị là người Mỹ rồi, chắc cái này không hạp với chị hay cái kia chị không ăn được, cái nọ chị không biết đâu. Những lúc đó tôi chẳng biết mình phải phản ứng thế nào cho đúng. Cứ cãi tôi vẫn Việt hay nhận đúng rồi tôi là Mỹ? Không, cả hai cùng sai cả.
Những khi cần quyên tiền đóng góp vào việc công ích nào ở Việt Nam thì ai ai cũng nhắc lại cho tôi đến ngàn lần tôi là một người Việt Nam chính gốc. Tôi phải có bổn phận và tình thương với đất nước, đồng bào. Tình thương thì nhất định lúc nào tôi cũng đầy ắp trong ngực rồi, tôi chẳng cần ai nhắc nữa, nhưng bổn phận thì cho tôi nghĩ lại. Tôi đã đóng góp bổn phận của tôi cho đất nước đó rồi. Một mối tình chết tức tưởi trong chiến tranh hơn ba mươi năm về trước, xương thịt của người tôi yêu nằm trong lòng đất, rồi lại phải đào lên, đốt thành tro than, bị đuổi mộ như đuổi nhà, đã trả bổn phận đó thay tôi rồi. Không đủ hay sao? Bây giờ tôi phải có bổn phận đóng thuế hàng năm ở đất nước tôi đang sống để phụ với chính phủ sửa đường, xây trường học và nuôi những người ở khắp nơi mới tới, như trước kia đất nước này đã nuôi người Việt, vì giấy tờ cá nhân hiện tại xác định tôi là người Mỹ. Tôi phải làm bổn phận công dân.

Image


Có những ngày tôi lái xe bị kẹt ở xa lộ vào một buổi chiều mưa mùa thu; Hay một buổi sáng mùa xuân vắng lặng, êm ả đứng trong nhà nhìn ra mặt hồ. Tôi cảm nhận được nơi mình đang hiện diện không phải là quê mình, không phải nước mình. Chẳng có một lí do gì cụ thể, chỉ là những giọt mưa đập vào kính xe, chỉ là mặt nước hồ gờn gợn sóng, Mưa trên xa lộ Mỹ nhắc nhớ đến những cơn mưa tháng Năm ở Thị Nghè, nhà mình; ở Trần quý Cáp, nhà anh; ở trước rạp ciné Eden đúng trú mưa với nhau. Nước ở hồ Sammamish trước nhà nhắc đến nước sông ở bến Bạch Đằng mỗi lần qua phà sang bên kia Thủ Thiêm chơi với bạn, hay sóng nước ở bắc Mỹ Thuận những lần qua phà đi thăm họ hàng ở tận Bạc Liêu. Những lúc đó tôi bất chợt bắt gặp mình Việt Nam quá, vì những cái bóng Việt Nam thật mờ, thật xa lại chồng lên hình ảnh rõ rệt ngay trước mặt mình. Và kỳ diệu làm sao những cái bóng đó nó mạnh đến nỗi mình quên mất là mình đang ở Mỹ. Chắc tại tôi là người Việt Nam.




Lại có những lần tôi ở Việt Nam, bị muỗi đốt kín cả hai ống chân, bị đau bụng liên miên cả tuần lễ. Đi đâu cũng phải hỏi đường, ai nhìn mình cũng biết mình từ đâu đến và đang đi lạc,tiền bạc tính hoài vẫn sai. Nhiều khi đứng chênh vênh trên đường phố Sài Gòn, biết đất nước này vẫn là quê hương mình, những người đi lại chung quanh là đồng bào mình, nhưng sao không giống Việt Nam của mình ngày trước, hình như đã có điều gì rất lạ. Ngôn ngữ Việt thì thay đổi rất nhiều, pha trộân nửa Hán nửa Ta, chắp đầu của chữ này với cuối chữ của chữ kia, làm nên một chữ mới thật là “Ấn Tượng.” Cách phát âm của người Hà Nội bây giờ không giống cách phát âm cũ của ông bà, cha mẹ tôi ngày trước, và họ nói nhanh quá, tôi nghe không kịp. Cái tiếng nói trầm bổng, thanh lịch, chậm rãi, rõ ràng từng chữ của thời xa xưa bây giờ chỉ còn là cổ tích.



Ngửng mặt lên nhìn bầu trời, vẫn bầu trời xanh biếc của thời tuổi trẻ, cúi xuống nhìn mặt đất, vẫn mặt đất thân quen, nhưng sao lòng hoang mang quá đỗi, và thấy đã có một khoảng cách nghìn trùng vô hình giữa mình và quê hương đất Việt. Chắc tôi là người Mỹ.
So sánh thời gian tôi sinh ra, sống ở Việt Nam và thời gian tôi bỏ Việt Nam ra đi, sống ở Mỹ hai con số đó đã gần ngang nhau. Tôi được học từ nhỏ quê hương là nơi tổ tiên lập nghiệp, là nơi chôn nhau cắt rốn, Ở trong nước có bài hát nổi tiếng Quê hương mỗi người có một, như là chỉ một mẹ thôi. Nhưngcó người lại nói: Nơi nào mình sống ở đó suốt một quãng đời dài, có những người thân chung quanh mình, hưởng những ân huệ của phần đất cưu mang mình, thì nơi đó cũng được gọi là quê hương mình. Như vậy thì tôi có một hay hai quê?


Tôi sống ở Mỹ thì bạn bè gặp nhau thường nói: Cái này người Việt mình không hạp, hoặc người Mỹ họ mới thích nghi được việc này, người Việt mình không quen. Khi đi dự buổi tiệc cuối năm của một công ty lớn ở Mỹ, toàn là những người Mỹ sang trọng thì thấy rõ ngay mình là người Việt đi lạc, dù mình có sang trọng, lịch sự như họ. Hóa ra ở Mỹ hay về Việt Nam mình đều lạc chỗ cả.


Tôi nhớ mấy năm trước có lần trò chuyện với Mẹ của một người bạn, lúc đó cụ ngoài 80 hãy còn minh mẫn, cụ theo đạo Phật. Trưởng nam của cụ và con dâu cụ tự nhiên rủ nhau theo đạo Công Giáo. Gặp tôi cụ hỏi: Không biết anh Bình nhà tôi khi chết thì đi đâu? Phật giận anh ấy, vì anh ấy bỏ đi, Chúa chắc gì cho anh ấy vào, vì anh ấy mới quá! Năm nay cụ ngoài 90 tuổi rồi và may quá, cụ bị Alzheimer, cụ không còn minh mẫn để lo con mình không có chỗ dung thân cho phần hồn.
Bây giờ thỉnh thoảng nghĩ lại những lời cụ nói, thấy mình ngay ở đời sống này cũng đã là một vạt nắng phất phơ bay. Quê nhà, quê người, quê Mỹ, quê Việt. Chao ôi! Cái thân cỏ bồng.


Nhưng lạ lắm, tôi biết chắc mình là người Việt nhất là khi tôi nằm mơ. Trong giấc ngủ tôi thường gặp cha mẹ, gặp ngay trong những ngôi nhà cũ ở Việt Nam, gặp bạn bè cũng gặp trên đường phố Việt Nam từ ngày rất xa xưa, và bao giờ trong mơ cũng đối thoại bằng tiếng Việt. Tỉnh dậy đôi khi vẫn ứa nước mắt, dù là một giấc mơ vui. Thấy nhớ quê nhà quá đỗi!

Image


Tôi nhớ lại trong những truyện ngắn, những bài thơ Đường tôi đọc thời rất xa xưa về người bỏ làng đi xa lâu năm trở về không ai nhận ra nữa. Hồi đó sao mà mình thương những ông già trong thơ đó thế! Bây giờ nghĩ lại thì người trong sách đó còn may mắn hơn mình, họ đâu có đi đến tận một nước khác như mình. Họ chỉ bỏ làng, chứ không bỏ nước. Thế mà khi về còn ngơ ngác, bùi ngùi, tủi thân vì lạc chỗ ngay trong làng mình.

So sánh tôi với người bỏ làng ra đi trong những trang sách đó thì hoàn cảnh của tôi đáng buồn hơn nhiều. Không những đã bỏ làng, bỏ nước đi, còn nhận quốc tịch của một nước khác.

Khi về đổi họ thay tên.
Núi chùng bóng tủi sông ghen cạn dòng.

Tôi là ai?

Tháng 4 / 2006

Post Reply