Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

• Adelaide: Lễ Khánh Thành Đài
Tưởng Niệm chiến tranh Việt Nam



(Adelaide-Nam Úc): Theo lời kêu gọi của CĐNVTD/NU, ngay từ sáng sớm khu vực trại lính nằm gần bên bờ sông Torrens, nơi xây dựng tượng đài tưởng nhớ các chiến sĩ Úc Việt đã hy sinh trong cuộc chiến chống Cộng bảo vệ Tự Do tại Việt Nam, đồng hương Việt Nam đã tấp nập, người qua kẻ lại xem lẫn trong những người khách Úc. Những con đường bao quanh khu vực tượng đài, xe cộ đậu kín mít.


Tượng đài được chọn đặt trên một khu đất rộng rãi ngay gần bên cổng chính khu vực Học Viện Quân Sự Adelaide, thường được quen gọi là trại lính Adelaide. Đây là nơi dùng để tập dượt cho các thiếu sinh quân, các quân nhân Úc, hàng ngày có lính gác. Trong mỗi dịp lễ lớn nơi này cũng được dùng làm điểm tập trung vì vị thế ở ngay trung tâm thành phố Adelaide. Tượng đài mặt quay vào trong sân trại lính, lưng quay ra đường Victoria Drive, qua đường cách một thảm cỏ xanh là tới sông Torrens. Bên phải tượng đài là đại lộ King William, con đường chính của thành phố Adelaide. Qua đường là Trung Tâm Nghệ Thuật Adelaide, liền với quốc hội Nam Úc, song hàng với dinh toàn quyền cùng nhìn ra đường North, một trong bốn con đường chính, North, South, East và West bao quanh thành phố Adelaide. Bên trái gần đó là đường Kintore với thư viện tiểu bang, đại học Adelaide, viện bảo tàng Nam Úc. Một địa điểm xứng đáng cho tượng đài ngự trị. Hai bên tượng đài là hai trụ cờ Úc Việt ngạo nghễ tung bay trên bầu trời xanh biếc giữa cái nắng ấm mùa Xuân.


Theo chương trình 12 giờ trưa nghi thức khánh thành thượng đài mới bắt đầu, nhưng trước đó đội quân nhạc, các toán quân nhân, thiếu sinh quân trong y phục đại lễ đã bắt đầu qua lại tập dượt. Hai hội trường tiền chế, được dựng ngay trước mặt tượng đài mỗi cái xếp cả ngàn chiếc ghế đã có người ngồi đầy. Hai bên cánh tượng đài là 2 dẫy lều xếp hàng trăm chiếc ghế dành riêng cho thân nhân của 58 quân nhân Nam Úc đã hy sinh trong cuộc chiến chống Cộng bảo vệ Tự Do cho miền Nam Việt Nam. Người ta ước lượng con số tham dự cũng phải xấp xỉ 2,500 người.


Mọi người đi lại cười nói vui vẻ. Quanh tượng đài người ta đứng xếp hàng dài chờ chụp hình kỷ niệm. Các cựu quân nhân Úc, những người đã trọng tuổi, qua lại truyện trò với các đồng đội cũ trên ngực đầy huy chương. Các cựu quân nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa qua lại đây đó ai cũng vest tông cà vạt đồng phục. Người có huy chương thì đeo huy chương, người có mũ của binh chủng thì đội mũ binh chủng. Các bà các cô áo dài thước tha, với ánh mắt nụ cười rạng rỡ, đầy vẻ hãnh diện.


Trong số những người chụp hình quanh tượng đài là phóng viên, nhiếp ảnh viên các tờ báo địa phương cũng như liên bang, đài truyền hình, đài phát thanh. Lẫn trong đám đông nhưng một người luôn được chiếu cố, là tướng Trần văn Nhựt vừa từ Mỹ tới thăm các quân nhân của ông tại Úc. Ngoài ra quan khách tham dự còn có phái đoàn các Hội Cựu Quân Nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa từ Tây Úc, Queensland, NSW, Victoria tới tham dự, chia xẻ niềm hãnh diện chung của Cộng Đồng và đồng đội.


Đúng 12 giờ trưa một toán quân nhân Úc trong đồng phục đại lễ đều bước tiến vào khu vực tượng đài. Các quân nhân này đứng đều các góc, súng cầm tay trong tư thế nghỉ. Sau đó là một toán thiếu sinh quân cầm cờ Úc, 3 lá cờ lớn của Hải - Lục - Không Quân Việt Nam Cộng Hòa và quân kỳ Úc tiến vào chia nhau đứng đều phía sau lưng tượng đài.


Kế đó là lời chào mừng của một vị trưởng lão thuộc bộ tộc Thổ Dân Kaurna, người chủ truyền thống vùng đất Adelaide. Lời chào mừng được nói bằng 2 thứ tiếng Kaurna và Anh ngữ.


Hai vị đồng chủ tịch Ủy Ban Xây Dựng Tượng Đài Chiến Sĩ Úc là ông Bill Denny và bác sĩ Ngô Anh Tuấn sau đó đọc diễn văn chào mừng quan khách và cám ơn tất cả những người đã góp công góp sức cho công trình lịch sử này. Ông Bill Denny đọc tiếng Anh, và bác sĩ Ngô Anh Tuấn chuyển ngữ sang tiếng Việt. Cả hai vị đều chính thức lên tiếng chào mừng tướng Trần Văn Nhựt, một vị tướng rất được các quân nhân Úc và Việt Nam kính phục qua đức độ và tài điều binh khiển tướng. Tướng Trần văn Nhựt ngày xưa từng là tiểu đoàn trưởng TQCL. Đặc biệt người ta biết nhiều đến tên tuổi ông là qua cuộc chiến đấu hào hùng tại chiến trường An Lộc, thuộc tỉnh Bình Long.


Ông Michael Harbison, thị trưởng thành phố Adelaide sau đó đã đọc diễn văn bầy tỏ lòng thán phục sự cố gắng, rộng lượng của các Hội Cựu Quân Nhân Úc Việt, Cộng Đồng Việt Nam cho việc thành hình tượng đài lịch sử này. Thành phố Adelaide hãnh diện vì đã được chọn làm nơi xây dựng tượng đài. Bài diễn văn này sau đó đã được thông dịch viên là thầy Lê Luân Lý dịch sang tiếng Việt.


Thủ hiến Nam Úc ông Mike Rann đã làm cho người thông dịch cảm động, ngậm ngùi, phải ngừng một lúc mới đọc tiếp được qua bài diễn văn lịch sử của ông. Lời đầu của bài diễn văn, thủ hiến Nam Úc kêu gọi mọi người hãy nhìn về phía hai lá quốc kỳ Úc và Việt Nam Cộng Hòa đang ngạo nghễ tung bay. Dù phải chiến đấu với bao khó khăn, thử thách các cựu quân nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, những vị trong Ủy Ban Xây Dựng Tượng Đài vẫn cương quyết để lá cờ tổ quốc được bay cao tại thủ phủ tiểu bang Nam Úc, như ngày nào các chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh mạng sống để lá cờ vàng ba sọc đỏ được tung bay trên cổ thành Quảng Trị, An Lộc, Bình Long, trên quê hương thân yêu. Lá cờ tổ quốc Việt Nam Cộng Hòa sẽ trường tồn cùng với tượng đài trong lòng mọi người.


Qua bài diễn văn này thủ hiến Mike Rann, vị đại diện chính thức của tiểu bang Nam Úc đã nói lên lời cám ơn thân nhân 58 quân nhân đã hy sinh trong trận chiến bảo vệ Tự Do Dân Chủ tại Việt Nam.


Ông Nguyễn Văn Tây chủ tịch Hội Cựu Quân Nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa sau đó đã đọc diễn văn cám ơn sự hỗ trợ của mọi người, các đoàn thể hội đoàn người Việt tại Nam Úc cũng như trên toàn nước Úc và thế giới. Bài diễn văn của ông Tây đã lên án chế độ phi nhân Việt Cộng. Ông kêu gọi mọi người hãy đoàn kết để cùng nhau chiến đấu, mang lại Tự Do, Dân Chủ cho quê hương dân tộc.


Một phần của bài diễn văn này cũng đã được ông Jock Statton chủ tịch Liên Hội Cựu Quân Nhân Úc tiểu bang Nam Úc, Bắc Úc và vùng Broken Hill lập lại trong bài diễn văn bằng Anh ngữ ông ta đọc liền sau đó. Sứ mạng cao cả của người quân nhân Úc được tổ quốc giao phó là chu toàn nhiệm vụ bảo vệ Hòa Bình, Tự Do. Những hy sinh cao cả khi thực hiện trách vụ này của các quân nhân Úc đã làm cho thế giới khâm phục nước Úc.


Trung tướng Donald Dunstan cựu tư lệnh quân đội Hoàng Gia Úc tại Việt Nam từ năm 1971-1972 sau đó đã chính thức nói lên sự hy sinh cao cả của các quân nhân. Cuộc chiến bảo vệ Tự Do cho Việt Nam mà những chàng tuổi trẻ đã vượt qua là một cuộc chiến cam go và thực sự nguy hiểm. Những quân nhân này là niềm hãnh diện của chúng ta. Họ phải được biết ơn. Sự hy sinh của họ phải được các thế hệ sau ghi nhớ.
Tiếp theo là phần nghi lễ. Sau bài thánh ca God of Our Father là phần làm phép tượng đài của Linh Mục Nguyễn Viết Huy, Mục sư Lyall Cowell, Đại Đức Thích Viên Trí và Mục Sư Peter Simmons.


Trung tướng Donald Dunstan đã được 2 vị đồng chủ tịch tháp tùng lên kéo màn che, khánh thành tượng đài. Kế đó là lời cầu nguyện và phút mặc niệm.

Hai ông chủ tịch hội Cựu Quân Nhân Úc Việt là Jock Statton và Nguyễn Văn Tây đã đọc bài Lest We Forget bằng tiếng Việt và tiếng Anh.
Phần làm nhiều người rơi lệ là khi ca sĩ Mỹ Dung được mời lên hát bài Quốc Ca Việt Nam. Mọi người cùng cất cao lời ca đáp lời sông núi, đồng lòng cùng đi hy sinh tiếc gì thân sống... để cho: mau làm cho bờ cõi thoát cơn tàn phá để làm vẻ vang nòi giống... hầu xứng danh nghìn năm giòng giống Lạc Hồng.

Liền sau đó là quốc ca Úc. Linh Mục Nguyễn Viết Huy đã đọc lời nguyện kết. Sau khi các toán thủ kỳ, dàn chào danh dự rời khu vực tượng đài quan khách đã được 2 vị đồng chủ tịch mời lên chiêm ngưỡng tượng đài.
Phần nghi lễ chấm dứt vào lúc 1g20 trưa theo đúng như chương trình đã dự trù. Sau đó mọi người tham dự đã được mời ở lại ăn trưa do Ủy Ban Xây Dựng Tượng Đài khoản đãi. 2,500 phần ăn đã đặt sẵn, với sự tiếp tân của phu nhân các vị trong hội Cựu Quân Nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.


Qua sự quyết tâm, được sự hỗ trợ của các đoàn thể, mọi người Việt tại Nam Úc và khắp nơi trên toàn nước Úc, thế giới, Ủy Ban Xây Dựng Tượng Đài Chiến Sĩ Úc Việt, Hội Cựu Quân Nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa Nam Úc và các Gia Đình Quân Binh Chủng đã tạo một dấu ấn huy hoàng trong lịch sử đấu tranh vì Chính Nghĩa, Tự Do và Dân Chủ tại Việt Nam.

Image
*Quang cảnh buổi lễ

Image
*Ông chủ tịch CĐNVTD/Nam Úc và hai người trẻ của thế hệ thứ hai, đặt vòng hoa thương tiếc trước Đài Tưởng Niệm chiến tranh Việt Nam

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image
"Tôi đã làm gì cho tổ quốc, quê hương chưa ?”.
Nguyễn Thị Hồng
Sinh Viên George Mason University
Virginia, Hoa-Kỳ.
22.10.2006


Đây là lần đầu tiên tôi viết về chính trị kể từ khi đặt chân đến nước Mỹ cách đây một năm. Ngay từ khi đặt chân đến đất nước rộng lớn, một thời từng là cựu thù của Nhân dân Việt Nam, lòng tôi tràn ngập cảm xúc. Nhưng tôi vẫn không thể nào viết được một chút gì vì tôi nghĩ mình cần phải lo học hành. Nhưng hôm nay sự hình dung về những giá trị lớn của quốc gia Việt Nam mới đủ mãnh liệt để tôi có thể ngồi trước bàn phím, gạt việc học hành sang một bên và viết một chút gì đó cho tổ quốc, cho đất nước Việt Nam thân yêu.

Đó là vì những hình ảnh tôi tình cờ nhìn thấy sáng nay, ngày 20 tháng 10 năm 2006 khi đi ngang qua trước Nhà trắng, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ.

Có một đoàn người biểu tình. Họ cầm trên tay cờ Mỹ và cờ Miền Nam Việt Nam cùng nhiều biểu ngữ khác nhau. Những biểu ngữ và tiếng hô đã tạo ra một chuỗi dài những phản ứng tâm lý trong tôi. Đầu tiên là ngạc nhiên sau đó là tự vấn, đến xúc động mãnh liệt và cuối cùng là xác lập một niềm tin: “Việt Nam ta sẽ mạnh”. Không phải chuỗi phản ứng tâm lý đó là vì một cuộc biểu tình, mà vì chính con người biểu tình, những khẩu hiệu và cách thức họ chuyển tải vấn đề.

Còn nhớ, khi là sinh viên đại học năm cuối ở TPHCM, có một lần tôi nghe ông Nguyễn Tấn Dũng, khi đó là phó thủ tướng, quan chức cao cấp đầu tiên của Nhà nước đến thăm Hoa Kỳ, ông ta cũng gặp phải những đoàn người biểu tình và khi đó vô tuyến truyền hình Nhà nước bình luận rằng: “Đó là một nhóm người lạc hậu, lưu vong, cực đoan và chứa đầy hận thù”. Cùng với cách thức tuyên truyền suốt một thời gian dài đã ngấm vào máu. Tôi, cũng giống như nhiều sinh viên khác, nghĩ rằng người Mỹ gốc Việt đấu tranh là vì hận thù, họ chỉ mong có chiến tranh, bạo loạn để lật đổ chế độ, để về để đòi lại tài sản hoặc tiếm quyền lãnh đạo.

Những gì tôi thấy sáng nay có vẻ hoàn toàn không phải như vậy.

Vâng. Tôi thấy rất nhiều cờ Mỹ và cờ Vàng ba sọc đỏ. Thấy những tấm biển to và nhỏ, cả hình vuông và hình tròn viết bằng Tiếng Việt và Tiếng Anh. Tôi thấy khoảng 200 người, những người trung niên và những em nhỏ thiếu niên. Những cụ già mệt quá ngồi tạm trên ghế vẫn giương cao khẩu hiệu và những em bé đang nằm vui vẻ cười trong nôi (ít nhất là có 2 em bé trong xe đẩy trẻ em); Tôi thấy rất nhiều thanh niên nam và nữ, ánh mắt họ cười và miệng họ hô vang. Không phải tôi thấy những quân nhân mặc đồ lính rằn ri, đeo súng với khuôn mặt sát máu như TV ở nhà vẫn chiếu mà là những tấm áo khoác ngoài màu xanh, màu vàng rất đẹp. Hầu hết họ đều trông sang trọng, có sức sống và có học thức. Không phải tôi thấy họ đến từ một chỗ, của một tổ chức mà từ rất nhiều nơi, nhiều tổ chức trên khắp nước Mỹ.

Tôi nghe những gì ?. Không khát máu, không đả đảo, không phản đối cực đoan như vẫn tưởng mà là Tự do, Dân chủ, Nhân quyền cho Việt Nam. Đó mới thực sự là những giá trị lớn hơn mà đất nước ta đang cần và họ hô là “cho Việt Nam”. Tới tận bây giờ, ngồi một mình trên giảng đường tôi vẫn cứ thấy văng vẳng bên tai tiếng loa : “Freedom, Democracy, Human Rights” và tiếng đoàn người đồng thanh “for Vietnam, for Vietnam”. Tôi nghe và thấy cả tiếng Việt và tiếng Anh. Thứ tiếng Việt chuẩn phổ thông và thứ tiếng Anh cũng rất Mỹ. Tôi nghe gío lộng và cả tiếng cờ bay trên công viên La Fayette trước toà Bạch ốc.

Họ đòi quyền đó cho ai ?. Có thể nhiều người bạn của tôi trong trường sẽ cãi lại là cuối cùng thì họ đòi quyền đó để trở về lãnh đạo, lấy lại tài sản, trả thù cộng sản như nhiều lần tranh luận bạn tôi đã trích từ room “Giang hồ hải ngoại chống cộng” trên diễn đàn Paltalk. Tôi không nghĩ như vậy và chính điều đó làm tôi xúc động. Tự do, Dân chủ, Nhân quyền không phải là một giá trị vật chất cụ thể mà họ muốn lấy cho riêng họ. Những người này đòi những quyền đó cho 83 triệu dân Việt Nam chúng ta. Tự do, Dân chủ là một giá trị phổ quát và thiêng liêng đối với tất cả mọi người. Đó cũng là một nhân quyền mà cả dân tộc chúng ta đã biết và theo đuổi từ những năm 1930s khi tư tưởng tây phương được du nhập vào Việt nam thông qua các học giả đi du học ở Pháp trong những thập niên đầu thế kỷ 20. Hơn 70 năm trôi qua chúng ta vẫn chưa có đầy đủ những quyền đó. Và đó là cái chúng ta phải đòi.

Thật vậy, nước Việt Nam ta sẽ mạnh. Tôi không chỉ thấy điều đó trong sức mạnh của những người đi biểu tình sáng nay mà, quan trọng hơn, khi quay về giảng đường vào đọc trang BBC, Tôi thấy một phong trào đấu tranh đang liên tục lên cao với sự xuất hiện của Liên Minh Dân chủ nhân quyền, của Công đoàn độc lập và hàng hàng tít của BBC “Tiếp tục các hoạt động đối kháng”. Người dân trong nước, trong điều kiện khó khăn, đã bước những bước nhọc nhằn đầu tiên. Nhưng họ không cô độc. Họ đang được hỗ trợ tích cực từ ngay giữa lòng thủ đô nước Mỹ. Ngọn lửa trong nước đã dũng cảm nhóm lên và trong một tờ truyền đơn sáng nay nhặt được tại công viên rằng: “Chúng tôi đến đây để yêu cầu tổng thống Bush xác nhận lại cam kết của mình về việc thúc đẩy dân chủ khi ông ấy đến dự APEC tại Việt Nam”. Đó chính là ngọn gió lành, là hơi thở ấm thổi vào trong nước. Dù ít dù nhiều sẽ giúp cho ngọn lửa tự do rực sáng trên bầu trời Việt Nam.

Tôi tin Việt nam ta sẽ mạnh vì những con người tôi thấy đều bình dị và rất Việt Nam. Họ có những giá trị toàn cầu nhưng rất đỗi gần gũi thân tình. Họ đòi hỏi những giá trị đúng đắn cho Nhân dân Việt Nam. Những điều họ đang làm và cách thức họ làm thể hiện trí thức, trình độ và bản lĩnh tiên phong. Tôi tin Việt nam sẽ mạnh vì cộng đồng mà tôi thấy sáng nay, thật có lòng với dân tộc Việt Nam. Thật có lòng với những chiến sỹ dân chủ tại thành phố Hà nội, nơi là thủ đô của kẻ xâm chiếm, và Hồ Chí Minh, nơi cái tên mà họ đang đấu tranh để thay đổi. Họ vẫn làm một cách tích cực dù cho họ đã là công dân Mỹ và đang sống sung sướng ở xứ người.

Tôi tin Việt Nam ta sẽ mạnh. Bởi tôi thấy cả 2 giá trị mạnh mẽ nơi đây. Trong nước và nước ngoài. Tôi thấy giá trị mà cả Dân tộc Việt Nam đang thay đổi và cường quốc Hoa Kỳ đang chủ trương ủng hộ. Tôi thấy một khung cảnh tuyệt đẹp, giữa gió thu se lạnh và ánh nắng ngập tràn trên công viên mang tên một vị tướng người Pháp nằm ngay giữa thủ đô Washington - Mỹ. Nơi anh em của tôi, đồng bào Việt Nam của tôi đang đứng – Hô vang những khẩu hiệu mà vì nó đã bao nhiêu người ngã xuống, bao nhiêu người chịu tù đày và nhiều người khác vẫn đang sẵn sàng trả giá. Còn một điều buồn là tôi chỉ dám đứng ở xa mà nhìn đoàn biểu tình. Tôi nhìn đến lúc họ ra về lúc gần 2 giờ chiều. Tôi chỉ dám nhìn vì tôi chưa hiểu gì cả nhưng có một điều tôi biết chắc chắn rằng nhiều người đã xin nghỉ làm hôm nay, họ đã lặn lội từ xa đến đây để cùng nhau nói lên tiếng nói chung, để đòi hỏi cho Một Việt Nam Mới, nơi sẽ có Dân chủ, Tự do và Phát triển. Cho đến lúc này, khi run run gõ những dòng chữ đầu tiên trên bàn phím, tôi mới tự hỏi mình : “Tôi đã làm gì cho tổ quốc, quê hương chưa ”.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Lại một mùa thu nhớ Từ Linh (LĐCT) - Hiếm có "cặp" tác giả nào sáng tác về mùa thu nhiều như Đoàn Chuẩn - Từ Linh, và ca khúc nào cũng đáng để đời. Cũng như Đoàn Chuẩn, nghệ sĩ Từ Linh sống lặng lẽ, khép mình, sợ ồn ào... Ngoài thơ, nhạc, ông còn say mê tìm cái đẹp trong nghệ thuật nhiếp ảnh.

Cứ vài tháng một lần, Hà Thạch An - con trai nghệ sĩ Từ Linh - đến Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả Âm nhạc VN nhận tiền bản quyền, tuy số tiền ít ỏi, nhưng lại hết sức có ý nghĩa về mặt tinh thần.

Theo tính toán của Trung tâm, tỉ lệ chia cho mỗi tác phẩm của Đoàn Chuẩn - Từ Linh là 7/3 (tức là phần lời của Từ Linh là 3, phần nhạc của Đoàn Chuẩn hưởng 7). Và như vậy, tạm coi cách tính như thế là hợp lý, về phía gia đình hai nghệ sĩ cũng chẳng mấy quan tâm lắm về chuyện này!

Cách đây hơn 10 năm, khi nhạc sĩ Đoàn Chuẩn còn sống, có một tờ báo hỏi ông xoay quanh nội dung : Đoàn Chuẩn hay Từ Linh, thực sự ai là "chủ nhân" những ca khúc bất hủ này? Viết chung, hay chỉ là một người?

Một số nhà xuất bản như: "Tinh hoa", "An Phú"... ở Sài Gòn trước đây in nhạc bướm thì viết "Tà áo xanh"; "Lá thư" là sáng tác của Từ Linh. "Chuyển bến"; "Thu quyến rũ" chỉ ghi của Đoàn Chuẩn.

Vậy họ dựa trên cơ sở nào? Năm 1997, có một cuốn băng ghi hình hỏi Đoàn Chuẩn lại về những câu hỏi đại loại như vậy, phần thì ông mệt, giọng thều thào, chân bị liệt, và có thể ông không thích trả lời loại câu hỏi như vậy!

Chỉ biết rằng những sáng tác cuối đời như "Một cánh Pensee"; Phấn son"; "Màu nắng có bao giờ phai đâu"... khi mà người bạn tri kỷ Từ Linh ra đi rồi, thì những tác phẩm này đúng là không có mấy dấu ấn, thậm chí có thể nói là nhạt nhoà.

Nghệ sĩ Từ Linh mất ngày 7.3.1987 (âm lịch ), sau 40 năm kể từ khi hai người viết tác phẩm đầu tiên "Tình nghệ sĩ". Sau này những ca khúc viết về mùa thu, với những giai điệu cùng ca từ ngọt ngào lạ thường: "Hàng cây đứng hững hờ, lá vàng từng cánh rơi từng cánh..." (Gửi gió cho mây ngàn bay) "Thu nay vì đâu tiếc nhiều, thu nay vì đâu nhớ nhiều..."(Thu quyến rũ); hay "Nhưng một sớm mùa thu, giữa chân trời xanh ngắt, nàng đi gót hài xanh..." không được phổ biến trong thời gian dài ở miền Bắc, sau thời kỳ đổi mới, mới được hát trở lại.Vậy thì nghệ sĩ Từ Linh thời kỳ không sáng tác, làm gì?

Anh An cho biết: "Có thời gian cụ làm nhân viên tại cửa hàng bách hoá, kinh tế chủ yếu là do cụ bà tần tảo buôn bán nuôi cả nhà". Anh còn cho xem một số tác phẩm được in tại Sài Gòn như: "Cánh hoa duyên kiếp" (Giấy phép số 493 ngày 17.3.1964 do NXB Minh Phát độc quyền phát hành), hay "Tà áo xanh" tức "Dang dở" xuất bản ngày 3.6.68 tác phẩm viết về tình yêu say đắm, vẫn nguyên vẹn màu sắc trình bày thật đẹp...

Và anh còn cho xem chiếc máy ảnh EXA của Hãng Jhagee Dresden (Đông Đức) mà ông đã dùng mấy chục năm, vừa chụp "đám ma, đám cưới " kiếm cơm qua ngày, có lúc hăng hái lên mãi tận Sa Pa, Hà Giang sáng tác, đề tài chủ yếu là phong cảnh. Chỉ tiếc rằng bảo quản phim ảnh thời bấy giờ chưa tốt, nên nhiều tác phẩm của ông hầu như hư hỏng!

Từ Linh là người đa tài: chơi nhạc, làm thơ, chụp ảnh... và là một nghệ sĩ cả đời chọn kiếp "rong chơi" phiêu lãng. Tình bạn tri kỷ, chắp cánh cho nhau giữa ông và Đoàn Chuẩn thật đáng trân trọng.

Mùa thu, cũng là thời gian mà những ca khúc của Đoàn Chuẩn - Từ Linh được hát nhiều nhất, lay động bao trái tim người yêu nhạc. Dù tỉ lệ 3/7 hay là bao nhiêu cũng không mấy quan trọng, là việc riêng của hai nghệ sĩ, anh An như nhiều người trong gia đình muốn rằng, xin đừng đào bới lên làm gì!

Quang Hân

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ QUÂN LỰC VNCH
Lewis Sorley



Vài lời của người dịch.

Tôi được một bạn trẻ Không Quân giới thiệu và Tiến Sỹ Lewis Sorley liên lạc gửi cho tôi bài diễn văn ông đã đọc tại Đại Học Kỹ Thuật Texas TTU về đề tài Reassessing ARVN. Ông có ý muốn nhờ tôi phiên dịch bài này ra để phổ biến rộng rãi trong cộng đồng Mỹ gốc Việt. Tôi đã đọc kỹ bài thuyết trình giài 32 trang, nhận thấy rất bổ ích về phương diện sử liệu và nhân bản và đã chấp thuận đề nghị.

Trong bài thuyết trình Tiến Sỹ Sorley đã dùng nhãn quan của một quân nhân và một trí thức khoa bảng để thẳng thắn bênh vực quân đội Việt Nam trong một thời kỳ chiến đấu cam go gian khổ nhất của nước nhà. Ông đã dầy công nghiên cứu các tài liệu đã bạch hóa hầu đưa ra những nhận xét rất xác đáng về khả năng, lòng quả cảm và sự chịu đựng tột cùng của các chiến sỹ chiến đấu cho một nước Việt Nam tự do trước những búa rìu bất công của các lực lượng phản chiến và thiên tả Mỹ Quốc. Những tên tuổi lớn ông đưa ra như Đại Sứ Ellsworth Bunker, Đại Tướng Creighton Abrams, Thiếu Tướng James L. Collins, Đại Tướng Tham Mưu Trưởng Lục Quân Harolk K. Johnson, Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert McNamara, trùm CIA William Colby, Sir Thompson, Tướng John Paul Vann, Tướng Tiếp Vận Việt Nam Đồng Văn Khuyên, Đại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Cao Văn Viên, Trung Tướng Ngô Quang Trưởng Tướng Cộng Sản Võ Nguyên Giáp, Lê Trọng Tấn vv là những nhân vật và dẫn chứng lịch sử trong giai đoạn nhiễu nhương và đau đớn ê chề cho đất nước và tất cả chúng ta.

Nói về chiến dịch Hạ Lào Lam Sơn 719 ông đã đưa ra những con số cho thấy địch quân đã bị thiệt hại nặng nề và quân ta tuy không thắng trận nhưng đã không thất bại như bọn chủ bại bên Mỹ đã rêu rao. Tôi được biết viên Trung Tướng cộng sản chỉ huy chiến dịch là Trung Tướng Phạm Hồng Sơn, tên thật là Phạm Thành Chính là một sinh viên luật cùng thời với tôi và cùng ở Đại Học Xá Bạch Mai. Anh ta là anh em đồng hao với Võ Nguyên Giáp, cùng là con rể nhà học giả Đặng Thái Mai, lấy con út ông Mai là nhà văn và nhà giáo Đặng Anh Đào. Hiện tại Tướng Phạm Hồng Sơn đã 84 tuổi, đã lãng trí và cũng đã ra rìa như Giáp tuy được cấp một biệt thự lớn ở đường Lý Nam Đế Hà Nội.

Có cả năm trang dành cho Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Trước hết tôi phải nói rằng tôi cũng như nhiều đồng hương đã không mấy có thiện cảm với ông Thiệu. Riêng tôi lại có một điều hận trong lòng khi ông ta cho tôi là đàn em của Nguyễn Cao Kỳ. Năm 1948 khi tôi vào Sài Gòn với mấy bạn Đại Việt Nguyễn Tất Ứng, Nguyễn Đình Tú tôi đã được đưa đến thăm ông Nguyễn Văn Kiểu là anh lớn của ông Thiệu ở đường Kitchener. Ông Kiểu là một đảng viên Đại Việt miền Nam, người rất hiền hậu và trung thực làm chủ một cửa hàng bán nước mắm ở đó và chúng tôi đã trở thành khá thân thiết. Hồi tôi nhận chức Thứ Ủy Tổng Cuộc Trưởng Tiếp Tế trong chính phủ Nguyễn Cao Kỳ mà không có nhân viên phòng sở thì tôi đã được tạm dùng bàn giấy của ông Kiểu ở Trụ Sở Liên Minh Á Châu Chống Cộng số 122 trên đường Hồng Thập Tự. Sau khi tôi rời TCTT, lúc ông Thiệu lên làm Tổng Thống thì ông Kiểu đã đưa ý kiến cho chú em là “Tám, tại sao không dùng anh Cung” thì được một câu trả lời lạnh lùng, “Cung là tay chân đao búa của Nguyễn Cao Kỳ”. Nghe vậy tôi cho là một sỉ nhục. Vì coi tôi như là một lũ điếu đóm xun xoe mạt chược, nhậu nhẹt, ăn tục nói phét xung quanh ông Kỳ thì hơi quá!

Trong phần dành cho ông Thiệu tôi thấy thương ông ta khổ tâm nhiều trong thời kỳ mười năm nắm vận mệnh quốc gia, đương đầu với Mỹ, với đe dọa đảo chính và với tình hình đa đoan của nước nhà. Được đọc bài phỏng vấn cựu Phụ Tá thân cận Nguyễn Văn Ngân của Trần Phong Vũ tôi càng nhìn rõ sự cô đơn của một lãnh tụ thông minh, mưu trí nhưng sinh bất phùng thời. Và tôi càng thông cảm nỗi bất hạnh của ông để đặt câu hỏi “một người khác nắm quyền có khá hơn không hay là chúng ta lại phải trải qua một bất hạnh lớn hơn không”?

Trần Đỗ Cung
Prunedale, tháng 10, 2006

*****
XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ QUÂN LỰC VNCH Trong một cuộc chiến dai dẳng và khó khăn không một ai có thể nhìn rõ khả năng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Hôm nay tôi trình bày vấn đề này dưới nhiều khía cạnh trong tám mục chính và hai phụ khoản.

Chính Phủ Việt Nam cấp các huy chương tham chiến cho quân nhân Mỹ. Đặc biệt thấy gắn trên băng biểu chương một thẻ kim khí khắc “1960…” Người ta đã không ghi niên điểm cuối cùng bởi lý do dễ hiểu; tuy nhiên ta có thể xem 1960 là khởi điểm vì đó là mốc đánh dấu sự gia tăng tham chiến của Mỹ cho đến ngày quân đội Mỹ lên cực điểm. Trong giai đoạn này chúng ta có môt cái nhìn tổng thể về thành tích của quân đội Việt Nam từ 1960 cho đến 1975.

Vài năm trước đây tôi đã viết một bài nhan đề “Dũng cảm và xương máu” để phân tích thành quả quân đội Việt Nam trong vụ tấn công tháng Tư 1972. Bài đã được đăng trong báo Parameters của trường Đại Học Quân Sự. Hồi còn sinh thời ông Douglas Pike đã bình luận trong một ấn bản Indochina Chronology như sau: “Đã có cố gắng chậm chạp nhưng liên tục điều chỉnh và cứu vãn danh dự của ngưới quân nhân Việt Nam từng bị nhục mạ bởi bọn phóng viên truyền hình thương mại ngu dốt và cánh trí thức thiên tả. Bài của ông Sorley đã xét lại lịch sử và ông ta lập luận vững vàng trong lãnh vực này”.

Tôi vẫn tri ân lời khuyến khích ấy và ước gì Giáo Sư Pike còn hiện diện để thấy các tài liệu lịch sử hiện hữu chứng minh sự dũng cảm đưa đến trưởng thành và thành tựu của quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Chỉ vì nước chúng ta không thực thi cam kết cho Nam Việt trong khi phe cộng sản vẫn tiếp tục và đều đặn gia tăng yểm trợ Bắc Việt nên đồng minh bất hạnh của chúng ta mới bị tràn ngập và thua trận.

Cho đến nay chưa bao giờ có một cố gắng định mức toàn diện sự tiến triển và thành tích của quân đội Việt Nam trong những năm bành trướng. Trong thời giờ hạn hẹp ở đây tôi chỉ mong điều chỉnh phần nào sự khiếm khuyết, bất công và nhiều lúc sai lạc mỗi khi bàn đến QLVNCH tuy đó là một thái độ khôn ngoan cho đến nay.

Chúng ta rất thiếu hiểu biết về cuộc chiến Việt Nam mặc dầu nó đã kết thúc ba mươi năm qua. Là vì những người phản chiến hoặc ít nhất chống sự tham dự của chính mình đã mô tả mọi khía cạnh qua một lăng kính xấu và nhiều khi đã nói sai sự thật. Ông James Webb vạch mặt giới truyền thông, trí thức và Hollywood là những nhóm đã “có lợi khi làm cho cuộc chiến bị xem là không cần thiết hay không thắng được”. Và vì họ điều khiển dư luận nên họ đưa ra những lập luận sai lầm ngay cả khi chiến tranh kết thúc đã ba mươi năm. Những lập luận thật sai lạc, đi từ thóa mạ người lính Việt trong một quá trình chiến đấu cam khổ cho đến Jane Fonda hạ nhục những tù binh Mỹ là bọn láo khoét hoặc đạo đức giả khi nói rằng họ đã bị tra tấn hay hành hạ trong lúc bị giam cầm. Đã đến lúc ta phải bỏ thái độ tiêu cực, lắm khi mạt sát và cố tình dùng chính trị để đổ lỗi cho quân đội Việt Nam trong hầu hết các tranh luận.
PHẦN 1 : QUÂN ĐỘI VIỆT NAM LÚC ĐẦU Đây là giai đoạn mà chúng ta chủ động trong khi Việt Nam bị đẩy ra ngoài lề với nhiệm vụ bình định (mà đây chính cũng là một khía cạnh của chiến tranh và bộ chỉ huy Mỹ đã quên lãng). Bởi vậy họ không được cấp những vũ khí mới cũng như được trợ chiến cần thiết.

Phần đông chúng ta và ngay cả một số người Mỹ phục vụ tại chỗ đều chỉ trích quân đội Việt Nam trong thời kỳ ấy. Họ đã không lưu ý đến một số yếu tố ảnh hưởng nặng nề lên tình trạng đó. Quân cụ Mỹ cung cấp đều là những thứ lỗi thời từ Thế Chiến II, nhất là các súng trường M-1 vừa nặng vừa cồng kềnh với tầm vóc người Việt. Trong khi đó thì kẻ thù đã được Nga-Tầu trang bị đầy đủ súng AK-47.

Thiếu Tướng James L. Collins đã trình bầy về tình hình quân đội Việt Nam như sau, “Năm 1964 địch quân đã bắt đầu xử dụng AK-47, một loại súng tân tiến, tự động và rất bén nhậy. Trái lại lực lượng bạn vẫn dùng loại khí cụ phế thải của Thế Chiến II…” Rồi từ năm 1965 khi quân Mỹ lần hồi gia tăng nhập cuộc thì nhu cầu chiến tranh về phía bạn lại càng bị đẩy lui vào hậu trường”.

Do đó các đơn vị Việt luôn luôn bị địch quân áp đảo trong thế đánh không cân xứng. Đại Tướng Fred Weyand khi thuyết trình mãn nhiệm chỉ huy Đệ Nhị Lộ Quân đã nói rõ, “Sự chậm trễ cung cấp khí giới và quân cụ mới cho Việt Nam, ít nhất ngang với sự yểm trợ của Nga Tầu cho quân địch làm cho quân bạn yếu kém”.

Chỉ từ khi Đại Tướng Creighton Abrams nhận chức Tư Lệnh Phó Quân Lực Mỹ vào hồi tháng Năm 1967 người ta mới bắt đầu chú ý đến quân Nam Việt. Tướng Abrams điện ngay cho Đại Tướng Tham Mưu Trưởng Harold K. Johnson như sau. “Tôi thấy ngay là quân lực Mỹ tại đây cũng như bên chính quốc chỉ nghĩ trước tiên đến hành quân Mỹ và yểm trợ các đơn vị Mỹ. Do đó chương trình cung cấp chiến cụ cho Việt Nam đã ít ỏi mà lại còn không được thi hành một cách tích cực và cấp tốc như đối với quân Mỹ. Rõ ràng chúng ta có trách nhiệm lớn với quân bạn. Công việc phải làm ngay và tôi đang bắt tay cấp kỳ vào việc”!

Ngay khi nhậm chức, Tướng Abrams liền gia tăng lực lượng Việt Nam, nhất là cung cấp các súng M-16. Trong trận tấn công Tết Mậu Thân 1968 ông đã đưa được M-16 vào tay Nhẩy Dù và các đơn vị tiền tiến khác. Tuy nhiên phần đông vẫn bị lép vế đối với công sản. Trung Tướng Chỉ Huy Tiếp Vận Đồng Văn Khuyên nhắc lại rằng, “Trong Vụ Tềt Mậu Thân người ta nghe rõ tiếng sắc bén liên hồi của AK-47 trong Sài Gòn cũng như các thị trấn khác, như là một diễu cợt khôi hài cho các phát súng lẻ tẻ Garant và Carbine trong tay hoảng hốt của quân ta”!

Tuy vậy quân Việt vẫn đẩy lui địch quân một cách bất ngờ và dũng cảm. Báo Time đã viết: “Nhiều người Mỹ đã ngạc nhiên và Công Sản đã đau đớn sửng sốt thấy quân đội Việt Nam đã tức tốc đương đầu và chiến đấu ngang tàng can đảm khác hẳn dự đoán”. Nhưng không thấy ai đề cập đến sự chênh lệch khí giới của đôi bên.

Tháng Hai 1968 Tướng hồi hưu Bruce C. Clarke đi thăm Việt Nam và viết một tờ nhận định được Đại Tướng Early Wheeler chuyển đến tay Tổng Thống Johnson. Tướng Clarke nói “các đơn vị Việt còn bị chi phối bởi một chương trình quân viện nghèo nàn, kể cả khí giới cá nhân. Điều này ảnh hưởng lớn đến tinh thần và thành quả của binh sĩ. Quân sỹ cảm nhận rõ khi họ không được trang bị đầy đủ”!

Tổng Thống Johnson liền mời Tướng Clarke đến văn phòng đàm luận thêm. Và sau đó ít ngày “viên phụ tá Tổng Thống điện thoại báo cho tôi là Tổng Thống Johnson đã ra lệnh gửi ngay 100,000 súng M-16 cho quân VNCH”. Tổng Thống đã nhấn mạnh trong bài diễn văn lịch sử ngày 31 tháng Ba 1968, “Chúng ta sẽ nhanh chóng tăng viện cho quân đội Việt Nam để đáp ứng sự gia tăng hỏa lực của địch quân”.Thật là kịp thời.

Tướng Clarke trở lại Việt Nam vào tháng Tám 1969 để thấy “lực lượng VNCH đã có 713,000 khẩu M-16 cùng với các khí giới khác và họ đã tiến bộ nhiều kể từ Tết Mậu Thân”. Hiện nay họ và các lực lượng diện địa đều đã có súng cá nhân tối tân luôn cả phóng lựu M-79, súng máy M-60 và các đài vô tuyến AN/PRC-25 như quân đội Hoa Kỳ.

Các sư đoàn Mỹ được trang bị tối tân và nhiều hơn phía Việt Nam nên khả năng tác chiến cũng gấp bội. Tùy viên của Tướng Abrams đã nhấn mạnh là Đại Tướng đã nghiên cứu so sánh khả năng tác chiến giữa sư đoàn Mỹ và Việt Nam để thấy chênh lệch hỏa lực 16 lần. Tướng Abrams dùng dữ kiện này để tìm cách tăng viện cho các sư đoàn VNCH. Phía VN còn bị kém hơn nữa vì lúc đầu các yểm trợ chiến trường đều ưu tiên cho quân Mỹ, như oanh tạc B-52, xử dụng trực thăng, chiến đấu cơ cận chiến và chuyển quân giữa chiến địa.

Tướng Abrams nói thêm là trong lần tấn công thứ ba vào tháng Tám và Chín 1968 quân VN đã hạ được nhiều địch quân hơn cả tổng số của Đồng Minh. Họ cũng chịu nhiều tổn thất nhân mạng hơn theo số kiểm chứng cũng như theo ước tính với phân số ta và địch tử vong. Ông nói với Tướng Wheeler rằng đó là vì thật sự quân đội VN không được yểm trợ như quân đội Mỹ cả về phẩm lẫn lượng (trọng pháo, không tập chiến thuật, không pháo và trực thăng vận). Bởi vậy việc chỉ trích quân đội VN trong thời kỳ đầu thiếu khách quan. Thiếu khí giới cần thiết trước một địch quân hùng hậu hơn lại còn bị đẩy xuống vai trò thứ yếu trong nhiều năm đã không cho họ cơ hội tăng tiến kinh nghiệm chiến đấu.

Về sau ông Robert McNamara từng là Bộ Trưởng Quốc Phòng và chủ động chiến tranh đã viết một cách hời hợt về phía Việt Nam. Ông đã bị William Colby sửa lưng như sau, “Ông không có quyền nói xấu những người Việt đã đem xương máu chống cộng sản trong khi đại cường Mỹ đã phủi tay chỉ vì lỗi lầm của McNamara. Mục đích hết sức cao đẹp nhưng Hoa Kỳ đã thua với McNamara và phần lớn là vì hắn”!
PHẦN 2.- TẾT MẬU THÂN 1968 Chiến trận xẩy ra khắp nơi hồi Tết 1968 là một thử thách lớn cho Quân Đội VNCH. Nhiều người đã sửng sốt chứng kiến một thành tích vượt bực. Khi đi nhận giải Thayer tại trường Westpoint Đại Sứ Ellsworth Bunker lên diễn đàn ca ngợi chiến tích ấy. “Mặc dầu Quân Đội VN ít hơn nhưng họ đã chiến đấu vượt bực. Đại Tướng Abrams đã nói họ chiến đấu ngoài sức tưởng tượng của họ. Đã không có nổi dậy, không có đào ngũ và chính quyền vẫn nguyên vẹn. Trái lại họ phản ứng cấp kỳ, mạnh mẽ và đích đáng; họ chiến đấu với tối đa sức mạnh”.

Thành tích vượt bực của quân đội VNCH trong trận Tết Mậu Thân 1968 rất cần thiết cho tương lai Việt Nam. Đại Sứ Bunker nói tiếp :”Kết quả là cả một chuỗi diễn tiến làm cho chính phủ Việt Nam vững mạnh, dân chúng tin tưởng hơn khả năng đương đầu với địch và chính quyền thấy sẵn sàng gánh vác vai trò chiến đấu hơn”.

Ông John Paul Vann cũng đồng ý nói trong năm 1972 rằng “Tết Mậu Thân đã làm cho chính phủ Nam Việt gia tăng kiểm soát lãnh thổ, tổng động viên nhân lực để có đủ quân số trám vào khi quân Mỹ rút lui và gia tăng lực lượng địa phương bảo dảm sự hiện diện chính quyền trung ương tại các vùng thôn quê”.

Lúc Đại Tướng Abrams nhận chức chỉ huy lực lượng Mỹ tại Việt Nam thì xẩy ra vụ tấn công thứ ba của cộng sản vào mùa Thu 1968. Ông điện cho Đại Tướng Earle Wheeler và Đô Đốc John McCain, “Tôi phải kết luận rằng việc quân Việt Nam đã giết nhiều địch trong vòng sáu tuần lễ hơn cả quân Đồng Minh chứng tỏ tiến bộ lãnh đạo và tinh thần xung kích của họ. Họ phải trả một giá rất cao về tử vong vá tôi cho phần lớn là vì không được yểm trợ đúng mức. Do đó cần phải nhanh chóng tăng viện khí giới cho họ”.

Trong cuộc họp thượng đỉnh ở Midway vào tháng Sáu 1969 chưong trình nghị sự chú tâm đến bành trướng và tăng quân viện cho quân lực Việt Nam. Quân số tăng lên 820,000 rồi lại đưa lên đến 1.1 triệu người đã được ký kết. Ngoài ra, theo ghi nhận của Thiếu Tướng Trần Đình Thọ, còn thỏa thuận trang bị thêm M-16, đại liên M-60 và hỏa tiễn LAW. Vậy thấy rằng ngay lúc ấy mà còn bàn đến M-16 thì quân Việt đã phải chiến đấu từ lâu ở thế kém với một địch quân hùng hậu.

PHỤ ĐÍNH .- VÀI SO SÁNH

*Đã có 50 người đào ngũ mỗi ngày dưới sự chỉ huy trực tiếp của Tổng Tư Lệnh. Đó là trường hợp Đại Tướng George Washington ở Valley Forge trong mùa Đông 1777-1778.

*Đã phải đưa đại pháo ra đường dẹp phiến loạn chống động viên. Đó là lúc Tổng Thống Abraham Lincoln đã phải quyết định ở Nữu Ước hòi tháng Tư năm 1865 trong cuôc nội chiến Nam Bắc.

*Trong trận chiến cuối cùng đã chỉ có nửa quân số tham dự vì tệ nạn đào ngũ. Đó là trường hợp Đại Quân Potomac của Tướng George Meade ở Gettysburg. “Ông ta hy vọng có 160,000 binh sĩ nhưng chỉ vỏn vẹn được 85,000 vì 75,000 lính đã đào ngũ. Trong cuộc Nội Chiến Mỹ, tỷ lệ đào binh của Liên Quân là 33% trong khi bên kia còn hơn nữa ở mức 40 phần trăm”.

*Trong cuộc tổng xung kích một nửa số binh sĩ trong các sư đoàn đã kháng lệnh. Đó là trường hợp Quân Đội Pháp năm 1917 làm cho tòa án binh đã phải kết tử hình 554 quân nhân trong số ấy 49 người đã bị hành quyết.

*Đặc biệt có trường hợp một số đơn vị đã tháo chạy; đó là trong Thế Chiến II khi Đại Đội K thuộc Sư Doàn 25 Mỹ đã bỏ chạy toán loạn. Sử gia Geoffrey Perret ghi, “Hiếm thấy một Sư Đoàn Mỹ nào không có tình trạng Đại Đội bỏ ngũ như vậy”.

*Nói đến một đơn vị mà Tư Lệnh Sư Đoàn bị cách chức, bốn phụ tá chính bị loại, hai Tiểu Đoàn Trưởng bị bắt sống và chin Tiểu Đoàn Trưởng khác bị thay thế. Đó là Sư Đoàn Mỹ 36 tại Salermo trong Thế Chiến II.

*Luôn luôn pháo kích, ám sát, bắt cóc và áp đảo thường dân vô tội là việc làm của công sản trong suốt cuộc chiến.

*Giết hại thường dân vô tội như trong trường hợp Thủy Bồ và Mỹ Lai là thành tích xấu xa của quân Mỹ trong những năm 1967-1968.

Ta có thể kể ra nhiều trường hợp tương tự. Điểm nên nhớ là nếu đem so sánh với các lực lượng đương thời hoặc theo lịch sử ghi nhận thì QLVNCH đã chiến đấu ngang tàng và xứng đáng trong suốt cuộc chiến. Đó là một điểm son không bao giờ được nhắc tới.

Có rất nhiều tài liệu ghi sự dũng cảm và thiện chiến của QLVNCH, tuy nhiên các nhà viết sử không chú ý đến và các phóng viên báo chí thì lờ đi. Trong Văn Khố Quôc Gia có hàng ngàn huy chưong Hoa Kỳ cấp cho quân sỹ Việt Nam vì thành tích phục vụ quả cảm.

Quá trình đẹp đẽ ấy lại càng đáng nể hơn nếu ta nghĩ rằng người lính Việt đã tham chiến từng nhiều thập niên và phần đông đã hy sinh cả quãng đời thanh niên của họ. Một người Mỹ đã nói rất chí tình, “Quân nhân Việt không có DEROS (ngày được trở về) như lính Mỹ chỉ phục vụ một năm ở Việt Nam. Họ chiến đấu không ngừng nghỉ năm này qua năm khác với một sức chịu đựng và lòng nhiệt thành không tưởng tượng được. Ngay sau khi cộng sản thắng trận phần đông lại còn chịu giam cầm hàng chục năm trong các trại lao cải nghiệt ngã”.
PHẦN BA.- ĐỊA PHƯƠNG QUÂN Sau vụ Tết Mậu Thân 1968 Bộ Tư Lệnh Mỹ thay đổi. Đại Tướng Creighton Abrams lên thay Đại Tướng Westmoreland và đổi quan niệm về cuộc chiến và phương pháp hành xử. Tướng Abrams nhấn mạnh “chiến tranh toàn diện” gồm cả hành quân, bình định và gia tăng khả năng QLVNCH theo một quy trình cấp bách ngang với chiến trận.

Chiến thuật cũng thay đổi từ quan niệm “truy và diệt” qua “bình định và giữ đất”. Có nghĩa là khi địch bị đẩy ra khỏi vùng có dân thì quân đội phải đóng lại chớ không rút đi cho địch trở lại. Do đó Địa Phương Quân được phát triển tối đa để phụ trách an ninh và bình định lãnh thổ.

Trung Tướng Nguyễn Duy Hinh cho sự phát triển và nâng cao các lực lượng địa phương là việc làm quan trọng nhất của Mỹ. Đại Tướng Ngô Quang Trưởng nhận định rằng kết quả bình định xã ấp, gia tăng số dân sống dưới chính quyền và an toàn giao thông là công của lực lượng địa phưong quân và nghĩa quân.

Tháng Năm 1967 khi Đại Tướng Abrams đến Việt Nam thì quân lực VN gồm có Lục Quân, Hải Quân, Thủy Quân Lục Chiến và Không Quân. Ngoài ra còn có những lực lượng diện địa bao gồm Địa Phương Quân và Nghĩa Quân phụ trách an ninh lãnh thổ. Tỉnh Trưởng chỉ huy Địa Phương Quân còn Nghĩa Quân đặt dưới quyền Quận Trưởng. Các lực lượng này trú đóng tại địa phưong của họ và thực hiện mục tiêu “càn quét và giữ đất”. Vào năm 1970 đã có 550,000 quân số, nghĩa là một nửa QLVNCH.

Một trùng hợp, đêm hôm trước Bing West và một nhân vật nữa đã lên kênh PBS “Giờ tin tức với Jim Lehrer” để thảo luận về tình hình Iraq. Một người đã nói đến quan niệm “càn quét và giữ vững” của Condoleza Rice. Nếu ta tìm nguồn gốc quan niệm này thì hẳn phải kể Lực Lượng Diện Địa Nam Việt, Đại Tướng Abrams, Đại Tướng Harold K. Johnson và bản nghiên cứu PROVN (chương trình bình định và phát triển Nam Viêt) của Đại Tá Jasper Wilson.

Ngay từ tháng Mười 1968 ông William Colby làm phụ tá Bính Định cho Tướng Abrams đã giải thích tầm quan trọng của các lực lượng ấy. “Để bảo vệ an ninh lãnh thổ chúng ta chú trọng đến tăng tiến Địa Phưong và Nghĩa Quân, lên ngót một nửa toàn thể quân số. Chúng ta đã bắt đầu ngay từ tháng Mười vừa qua. Trong một buổi thuyết trình Đại Tướng Abrams đã nhấn mạnh ba mươi điều phải làm trong đó có việc cử các toán nhỏ cố vấn quân sự đến các Đại Đội Địa Phương Quân và các Trung Đội Nghĩa Quân. Ta đã có 250 toán năm người rải rác khắp mọi nơi”.

Ba tháng sau ông Colby đã thấy sự tăng tiến nhanh chóng huấn luyện và vũ khí cho các đơn vị ĐPQ cũng như NQ. “Dã có 91,000 binh sỹ nhiều hơn năm ngoái. Khoảng 100,000 người đã được trang bị súng M-16 và 350 toán cố vấn đã sống và làm việc với các đơn vị ĐPQ và NQ”. Ngay khi lãnh chức Tư Lệnh Đại Tướng Abrams đã thẳng thừng chuyển các súng mới cho họ. Ông nói trong bài thuyết trình tháng Tám 1968, “Trong một năm ĐPQ và NQ được ưu tiên hàng đầu và nhận súng M-16 trước cả Lục Quân. Cũng như mọi việc, tôi đã bỏ vào quỹ-tiết-kiệm-lính với lãi xuất 10 phân. Trời Đất ơi, chúng ta đã đầu tư vào đây và đó là việc phải làm, ưu tiên tối đa trên tất cả mọi thứ”!

ĐPQ và NQ gia tăng khả năng và thành tích của họ và phải được ghi công đầu. Trong buổi thuyết trình WIEU (dự đoán tình báo hàng tuần) cho quan khách Tướng Abrams nói, “Điều tôi quan tâm nhất là vai trò của ĐPQ và NQ trong chiến cuộc luôn bị quên lãng. Người ta chỉ thường nói đến QLVNCH trong khi đã lâu nay ĐPQ và NQ gánh chịu nhiều tổn thất và đã giáng cho quân địch nhiều đòn chí tử. Tôi nói thẳng, nếu ta muốn nói đến an ninh cho dân thì đây mới là phần việc lớn”!

Cùng một lúc, ông nói rõ ràng về thành tích của các đơn vị này. “Tôi không biết có nên trang bị thêm các đại đội Lục Quân không. Nếu có thêm nhân số thì tôi nghĩ đem đầu tư vào các lực lượng diện địa này có lợi hơn”.

Cuối năm 1969, khi nhìn biểu đồ tình hình trong ba tháng vừa qua ghi rõ ai đã đem lại nhiều thành quả nhất về khí giới, tử vong, Tướng Abrams đã nói: “Thật rõ ràng và đúng. Số địch bị giết, khí giới thu được, hầm bí mật phát hiện, vv, thì QĐVNCH vẫn giữ nguyên tỷ lệ 27/28% trong khi tỷ lệ của Đồng Minh sút giảm. Sự chênh lệch là do các lực lượng địa phương và đã xẩy ra từ tháng Tám vừa qua”.

Một người trong cừ tọa nói lớn, “Đó là tính chất của cuộc chiến”!.

Tướng Abrams trả lời ngay, “Đúng lắm! Tôi luôn luôn hỏi lợi nhuận thu được từ 100,000 súng M-16 như thế nào? Như vậy hả? Vâng ta đã bắt đầu thấy kết quả”!

Ông Bill Colby cũng nhận xét rằng trong tháng Bẩy 1970 lực lượng địa phương cũng bảo vệ được súng của mình. Tỷ lệ khí giới mất đối chiếu với vũ khí thu được là một trên ba, khác hẳn tình trạng năm năm trước đây.

Tướng Abrams nói thêm: “Các Lực Lượng Địa Phưong, các con sóc ấy tiến tới rất vững vàng. Một tình trạng đã được duy trì lâu nay là ĐPQ và NQ đã gánh chịu phần lớn trách nhiệm chiến tranh”.

Các sỹ quan cao cấp Việt Nam cũng nhìn nhận như Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, “Các ĐPQ và NQ đã lần hồi gỡ bỏ mặc cảm của một phụ lực quân để trở thành các binh sỹ chính quy và là một bộ phận chính của bộ máy chiến tranh”! ĐPQ tăng tiến về phẩm cũng như lượng đã được các nhân vật bình luận khắt khe như Tướng Julian Ewell khen tặng, “Họ là mũi nhọn trên chiến trường”!
PHẦN 4 .- NHỮNG VẤN ĐỀ NHỨC NHỐI Có ba vấn đề luôn luôn khó khăn cho QLVNCH trong suốt chiến tranh là, thiếu cán bộ lãnh đạo giỏi, tình trạng tham nhũng lan rộng và đào ngũ.

Có lãnh đạo với đầy đủ khả năng chỉ huy là một vấn nạn cho QLVNCH trong suốt cuôc chiến. Với sự gia tăng quân số đến 1.1 triệu người tình trạng lại càng trầm trọng hơn. Sự thất thoát cấp chỉ huy của các đon vị nhỏ lại càng làm cho vấn đề tệ hại khi quân số gia tăng.

Công việc huấn luyện và các kế sách tuyển mộ các chỉ huy mới rồi đôn họ lên theo chiến tích thật là nhọc nhằn và khó khăn. Sau chiến dịch Lam Son 719, Đại Tướng Abrams tham dự một cuộc duyệt binh tại Huế đã nói, “Thật là một việc đáng ghi. Họ đôn quân, HSQ được thăng lên, HSQ lên thành Chuẩn Úy, Chuẩn Úy lên Thiếu Úy. Tổng Thống Thiệu tuyên bố rằng đó là việc nhỏ với 5,000 thăng cấp, mà thăng cấp mặt trận”.

Tướng Abrams rất thích: “Đó là chuyện đã xẩy ra ở Lào. Không có cách gì tốt hơn trong quân đội là đi vào hàng ngũ lựa chọn những phần tử chiến tích thích đáng mà đôn lên”. (Cũng như vậy đối với các viên chức tại Trung Tâm Huấn Luyện Vũng Tàu hầu giúp họ tăng tiến khả năng quản trị và lãnh đạo trong công việc).

Vài vị chỉ huy Việt Nam đã không ngớt chỉ trích khả năng lãnh đạo của mình. Đại Tướng Cao Văn Viên đã viết trong cuốn sách của ông như sau, “Trong thời gian tôi phục vụ ở cương vị Tộng Tham Mưu Trưởng tôi đã chứng kiến sự thành công cũng như thất bại của khả năng lãnh đạo của chúng ta. Mặc dầu chúng ta đã cố gắng tối đa nhưng vẫn không đủ trong hoàn cảnh khó khăn của đất nước”.

Sự đào ngũ trong các sư đoàn là một căn bệnh trầm trọng của QLVNCH. Tuy nhiên không phải đào ngũ theo phe đich nhưng phần lớn là để tránh ra trận hay để về nhà. Đó là một việc khác hẳn phía địch khi phần đông những đào binh quay về hàng ngũ quân ta. Trái lại đào binh ta thường trở lại ngũ tại địa phương. Theo Anthony Joes đó là sự hoán chuyển từ quân đội chính quy về địa phưong quân mà tỷ lệ đào ngũ gần như không có mặc dầu số tử vong cao hơn quân chính quy.

Tham nhũng là một nhược điểm nữa không bao giờ gột tẩy được mặc dầu ảnh hưởng lên chiến cuộc không mấy quan trọng như ngưới ta thường kêu la. Tuy nhiên Đại Tướng Cao Văn Viên đã kết luận như sau. “tham nhũng không phải yếu tố đưa đến sự xụp đổ của chế độ nhưng chắc chắn nó gây ảnh hưởng tệ hại đến trình độ binh nghiệp và như vậy làm suy nhược khả năng chiến đấu”.

Ông Tom Polgar của CIA nhận định xác đáng rằng tham nhũng không thể lật đổ một quốc gia cũng như trường hợp Phi Luật Tân, Nam Hàn hay Thái Lan. “Nước nào mà không trả công tương xứng cho viên chức đều có tham nhũng, đó là một quy luật. Tuy nhiên tham nhũng bòn rút hết tiêm lực quốc gia khi có ngoại xâm”.

Đại Tá William LeGro đã ở lại đến những ngày cuối cùng với DAO (Cơ Quan Tùy Viên Quốc Phòng) đồng ý. Ông nói: “Tham nhũng không làm cho sụp đổ. Sự giảm thiểu viện trợ Hoa Kỳ đến con số không là đáp số”. Ông ta nói thêm: “Chúng ta đã đối xử một cách xấu xa bỉ ổi với bạn Việt Nam của chúng ta”.
PHỤ ĐÍNH .- NGUYỄN VĂN THIỆU. Phần này bàn về cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, Tư Lệnh Tối Cao QLVNCH.

Tổng Thống Thiệu lãnh đạo quốc gia trong một thời kỳ ngặt nghèo nhất. Trong khi chiến đấu chống ngoại xâm và nội loạn được Nga Tầu yểm trợ tối đa, ông đã đặt các cơ cấu dân cử từ trung ương cho đến hạ tầng xã ấp. Ông đã gia tăng quân đội và với sự trợ giúp của Hoa Kỳ, ông đã tăng tiến phẩm chất quân lực để thay thế quân Mỹ. Ông trực tiếp lãnh đạo chương trình bình định nông thôn và phá vỡ hệ thống khủng bố đe dọa dân quê. Ông thực thi một chính sách cải cách ruộng đất đáng khen, phân phát cho 400,000 nông dân 2 triệu rưỡi mẫu ruộng, và tổ chức bốn triệu dân thành một lực lượng dân vệ với 600,000 khẩu súng.

Trong sáu năm phục vụ Đại Sứ Ellsworth Bunker thường xuyên tiếp xúc với Tổng Thống Thiệu và đã nhận xét xác đáng về con người cùng khả năng của ông ấy. Đại Sứ Bunker nói: “Ông ta đối phó với tình hình một cách khôn ngoan và khéo léo. Ông ta là một con người trí thức đầy khả năng. Thoạt đầu ông đã cai trị theo hiến pháp chớ không theo một lũ Tướng Tá chỉ muốn ông hành động theo ý họ. Càng ngày ông càng hành xử như một chính trị gia (đây là một lời khen của Bunker), đi về vùng quê, thanh tra bình định, chuyện trò với dân xem họ muốn gì”. Ông Bunker khen ngợi ông Thiệu và có khi coi ông ta như một đối thủ chính trị có bản lãnh. Bunker nói: ‘Tôi nghĩ Thiệu là một người khôn ngoan và chín chắn”.

Ông Thiệu cũng hết sức thực tế khi phàn nàn với Bunker rằng, “Thật là khổ cho chúng tôi đã không có mấy vị Tướng đủ khả năng chỉ huy hơn một sư đoàn”! Khi nói vậy ông ám chỉ cả chính ông một cách khiêm nhượng và rất đúng.

Vì quân đội cung cấp phần lớn khả năng hành chính cũng như chính trị nên ông Thiệu bị giới hạn một cách đau thương trong việc thay thế các phần tử thiếu khả năng hay bất xứng. Lại nữa ông ta cũng cần phải lưu giữ những người đáng tin cậy mặc dầu yếu kém. Trong thời đầu nhiệm kỳ ông đã cắt nghĩa cho một nhân viên Mỹ cao cấp như sau: “Hoàn toàn thanh lọc cấp chỉ huy trong quân đội là một việc bất khả thi. Mỗi sự thay thế một vị tư lệnh đều phải sắp đặt và thi hành hết sức cẩn trọng. Không thể kéo quân đội ra khỏi chính trị trong một sớm một chiều. Tổ chức quân đội vẫn là thế đứng duy nhất của tôi và hơn nữa là một cơ chế vững vàng nhất để bảo đảm thống nhất quốc gia”.

Đại Sứ Bunker cũng như Đại Tướng Abrams hiểu rõ vấn đề nên tỏ ra rất kiên tâm và thông cảm. Nhưng họ cũng đưa ra những đề nghị chính xác liên quan đến các cấp chỉ huy cao thiếu khả năng. Thường thì được nghe theo tuy phải mất thời giờ trong khi sắp xếp chính trị. Trong một thời gian đã có những thay đổi lớn trong cấp lãnh đạo quân cũng như chính, có khi do áp lực khủng hoảng chiến trường. Tuy nhiên chưa bao giờ có việc thanh trừng rộng rãi là vì không những để tránh xáo trộn mà lại còn không có đủ người xứng đáng thay thế. Đào tạo nhiều cấp chỉ huy tốn quá nhiều thì giờ.

Giới cao cấp Hoa Kỳ nhận thấy sự quan trọng của Thiệu trong việc bình dịnh. Tướng Abrams bảo rằng ông Thiệu hiểu nhiều hơn bất cứ ai về công tác bình định và William Colby gọi ông là “con người bình định số một”. Lịch sử Bộ Tổng Tham Mưu Quân Đội Mỹ đã nhận định “Thiệu là một yếu tố quan trọng. Ông ta nhận định rõ ràng sự quan trọng của chương trình bình định và thiết lập các cơ cấu hành chính cấp địa phương”.

Nhiều dịp Tổng Thống Thiệu mời Đại Sứ Bunker cùng đi kinh lý thôn xã. Ông Bunker đã nghe ông Thiệu nhấn mạnh sự thiết lập cơ chế hành chính địa phương, tổ chức bầu cử xã ấp, huấn luyện các viên chức địa phương và cải cách ruộng đất. Tại Trung Tâm huấn luyện Vũng Tầu 1,400 xã trưởng nghĩa là ba phần tư làng xã Nam Việt đã theo học trong chin tháng đầu năm 1969. Tổng Thống Thiệu đi thăm mọi lớp và cho các học viên khi trở về làng có thể hãnh diện nói với dân là “Tổng Thống đã khuyên nhủ tôi thế này thế nọ”. Cuối năm 1969 tình hình đã tiến bộ rõ rệt khiến cho ông John Paul Vann, một nhân vật hàng đầu trong chương trình bình định đã nói trước cử tọa tại Princeton rằng, “Hoa Kỳ đã thắng trên trận địa và nay đang thắng chính trị với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu”.

Hồi tháng Tư 1968, trái với ý kiến của hầu hết các cố vấn, Tổng Thống Thiệu đã thiết lập các lực lượng Nhân Dân Tự Vệ. Ông Thiệu lập luận rằng, “chính quyền căn bản trên dân. Bởi vậy chính quyền không có nền móng nếu không dám đưa khí giới cho dân”. Do đó khoảng bốn triệu người, trong số những người quá trẻ hoặc quá già để nhập ngũ, đều xung vào Dân Vệ và được trang bị 600,000 súng cá nhân. Lập luận xác đáng là chính phủ Thiệu được dân ủng hộ, Dân Vệ đã dùng súng chống lại sự đô hộ cộng sản chớ không phải chống chính phủ.

Về sau qua bao nhiêu tài liệu người ta thấy rõ rằng cộng sản đã nhiều lần kêu gọi tổng nổi dậy nhưng không bao giờ dân đã nổi dậy theo chúng. Theo con mắt khách quan của nhiều quan sát viên thì không lạ gì mà sau bao nhiêu năm ám sát, bắt cóc, khủng bố, ức chế và pháo kích bừa bãi các khu dân cư trong toàn Nam Việt mà cộng sản đã không chinh phục được lòng dân.

Tháng Mười năm 1971 trong tình hình chiến tranh dữ dội Tổng Thống Thiệu đã thắng cử không có đối thủ. Nhiều người đã chỉ trích ông cho rằng sự thắng cử của ông không xứng đáng vì không có đối lập.. Tuy nhiên mặc dầu địch đe dọa và kêu gọi tẩy chay đầu phiếu đã có 87.7 phần trăm cử tri hợp lệ đến phòng phiếu và 91.5 phần trăm đà bỏ phiếu cho ông Thiệu. Đó là một tỷ lệ cao nhất của Việt Nam. Nếu không hay ho vì không có đối thủ hay dân không bằng lòng sự lãnh đạo của ông thì tại sao họ lại đi bỏ phiếu đông như vậy mặc dầu có thể nguy hiểm đến tính mạng? Người ta thấy rằng, mặc dầu có nhiều chỉ trích, phần đông dân chúng muốn ông tiếp tục lãnh đạo xứ sở.

Ông John Paul Vann tuyên bố hồi tháng Giêng 1972 rằng “yếu tố căn bản không chối cãi được là khoảng 95 phần trăm dân chúng muốn có chính phủ Việt Nam hiện hữu hơn là chính phủ cộng sản hay một chính phủ do phía bên kia đưa ra”.

Thật là buồn khi nhiều người Việt đã chỉ trích ông Thiệu. Tôi đã nói chuyện với nhiều bạn Việt hiện sinh sống ở đây. Mới đây một người bạn học thức và thông minh đã nói với tôi một cách phũ phàng rằng Tổng Thống Thiệu đã nói dối. Tôi hỏi lại như thế nào thì được trả lời ngay: “Thiệu biết rõ là người Mỹ sẽ bỏ rơi mà không nói cho chúng tôi biết”.

Tôi cho đó là một lời buộc tội quá nặng và cần bàn lại. Đại Sứ Bunker nhớ đã tự tay đưa cho Tổng Thống Thiệu ba bức thư cam kết của Tổng Thống Nixon giúp Việt Nam nếu cộng sản vi phạm trắng trợn hiệp định. Nhưng ông Bunker nói, “Quốc Hội bó tay chúng ta và kết quả là nước Mỹ đã bội phản”. Ông Bunker giải thích rõ ràng, “tôi không thể hình dung được làm sao Tổng Thống Thiệu có thể biết trước cung cách và hành động điếm nhục ấy của Hoa Kỳ”!

Ông Thiệu đã từ chức vài ngày trước khi Sài Gòn thất thủ hầu mong có dàn xếp ổn thỏa. Trong bài giã từ ông đã làm đúng khi giận dữ chua chắt về một cuộc tranh đấu cam go trong nhiều năm. Nó đã cho thấy rằng ông cũng đã sửng sốt như bất cứ ai khi người đồng minh một thời đã quay lưng lại một người bạn trong lúc hoạn nạn (và phản bội cả những người Mỹ đã hy sinh tại Việt Nam).

Theo tôi thì Nguyễn Văn Thiệu đã thi hành nhiệm vụ một cách can dảm trong nhiều năm chiến tranh để xứng đáng được kính nể và biết ơn của những ai vẫn muốn thấy miền Nam Việt Nam tốt đẹp (còn có nể trọng hay không là tùy trường hợp).
PHẦN 5 .- LAM SON 719 Rõ ràng người ta đã cho rằng chiến dịch Lam Son 719 vào Hạ Lào là một thảm bại cho Nam Việt. Tuy nhiên sự thật khác hẳn, vì hiện nay với băng ghi Abrams và các nguồn tin khác đã cho biết là quân Bắc Việt thiệt hại nặng khiến cho chúng mất trớn tổng tấn công miền Nam để ta có thì giờ kiện toàn Việt-Nam-Hóa-Chiến-Tranh.

Trong tài liệu WIEU (cập nhật hằng tuần tình báo) ngày 30 tháng Giêng ta thấy địch quân biết đôi chút về hành quân vượt biên giới của ta. Tám ngày trước khi cuộc hành quân khởi diễn, COMINT (tình báo vô tuyến) nhận thấy địch quan tâm đến các hoạt động phía ta tại vùng 1 và những khu vực lân cận Hạ Lào. Đã phát hiện các truyền tin của địch từ ngày 24 tháng Giêng để ý đến “quân ta có thể đánh qua biên giới phá trục tiếp vận của chúng”. Cũng có tin tức là địch hết sức lo cuộc đổ bộ vào Bắc Việt và sư xâm nhập Lào từ những chiến hạm ngoài khơi, vv.

Ngày 8 tháng Hai các đơn vị QLVNCH vượt biên vào Lào trên trục lộ 9 với thiết giáp, nhẩy dù, biệt động, thủy quân lục chiến và lục quân. Tổng số 10,000 quân đã nhập đất Lào vào cuối tuần. Cùng lúc, 10,600 quân tiến vào Cao Mên.

Khi Đô Đốc McCain Tư Lệnh Thái Bình Dương (CINPAC) dự thuyết trình ngày 19 tháng Hai thì được biết các đụng độ khá cao ở cấp Đại Đội và nhiều trận lẻ tẻ đã diễn ra trên khắp chiến trường. MACV theo rõi sáu tiểu đoàn địch đương đầu QĐVN tại Lào. Quân Đội Mỹ không được phép tham dự nhưng sư yểm trợ của không lực Mỹ đã mất 21 trực thăng trong 7,000 phi xuất (tổng số thất thoát trong chiến dịch là 108 nghĩa là 21 cho 100,000 phi xuất).

Trung Tướng William E. Potts của MCV J-2 đã tóm lược cho Đô Đốc McCain như sau: “Điểm đáng ghi nhận là trong chiến dịch Lam Son, địch quân đã đua ra tất cả những gì chúng hiện có hoặc đang gửi đến ngoại trừ Sư Đoàn 325 và Tiểu Đoàn 9 thuộc Sư Đoàn 304. Vậy nếu chúng bị thiệt hại thì chúng sẽ tụt hậu trong một thời gian khá lâu”. Tướng Abrams nói thêm, “Lẽ cố nhiên chúng ta mong đón tất cả bọn chúng với toàn thể sức mạnh của chúng ta”. .

Dầu vậy, đến ngày 20 tháng Hai, nghĩa là gần hai tuần sau chỉ có sáu Trung Đoàn địch hiện diện trong chiến dịch Lam Sơn. Thuyết trình viên nói trong buổi họp chỉ huy WIEU (dự đoán tình báo hàng tuần) ngày hôm ấy là, “thật vậy sự phản công mạnh mẽ của địch đã xẩy ra đêm 18 tháng Hai. Phía ta có một lực lượng tương đương với 18 tiểu đoàn vẩn tiếp tục tìm địch thanh toán”.

Đại Tướng Abrams nhấn mạnh với ban Tham Mưu và các cấp chỉ huy của ông là phải cho quân Việt Nam mọi phương tiện cần thiết để họ chiến thắng trong trận hệ trọng này. “Đây là một dịp dể giáng cho địch một vố ta chưa bao giờ làm được”. Ông nhấn mạnh hết sức ý nghĩa khi Hoa Thịnh Đốn đưa ra một vài chỉ trích: “Ai cũng biết cái rủi ro từ lúc đầu nhưng ta thấy là đã đến lúc phải chấp nhận rủi ro”. Khi qua Hoa Thịnh Đốn Đại Sứ Bunker đã trình bầy tất cả các khía cạnh tương quan.

Cho đến ngày 24 tháng Hai MACV vẫn theo dõi sáu Trung đoàn địch (tăng lên thành bẩy ba ngày sau) trong chiến dịch Hạ Lào. Trong tường trình cho Tướng Abrams, thuyết trình viên đã nói rằng bốn tiểu đoàn trong số 18 cung cấp cho Trung Đoàn địch hình như đã bị tê liệt. Cũng trong ngày ấy số tử thương của địch quân được ước lượng là 2,191 người trong khi quân bạn mất 276 mạng.

Đến dây thì một khó khăn lớn xẩy ra là thiếu hụt trực thăng. Mà Quốc Lộ 9, con đường chính Đông Tây có nhiều đoạn bị đào sâu lên đến cả sáu thước khiến cho việc xử dụng con lộ này hầu như bị gián đoạn. Nhất là loại bồn chở xăng không thể đi qua được. Bởi vậy phải tiếp tế bằng phi cơ, ảnh hưởng nặng nề lên đội ngũ trực thăng. Sự tính toán điều hành và sửa chữa cấp bách đã xoay lại tình thế. Cho nên khi Tướng Julian Ewell, một nhân vật không mấy thiện cảm với chiến dịch, đi thanh tra ông đã nói, “tỷ lệ sẵn sàng hành quân (operational readiness) ngày Chủ Nhật khi tôi đến thăm là 79%, một con số vượt bực”.

Cùng lúc địch tung ra một trận tấn công lớn với thiếp giáp và tràn ngập cứ điểm 31 là nơi trú quân của Tiểu Đoàn Bộ Đệ Nhất Sư Đoàn VNCH. Người ta đã ghi nhận địch có 350 quân bị giết và 15 thiết giáp bị phá hủy đối lại 13 quân bạn chết, 39 bị thương và ba thiết vận xa bị hư hại.

Người ta nhận thấy ngày mồng 1 tháng Ba một Trung Đoàn địch nữa đã tham chiến nâng tổng số lên tám đơn vị (trong 24 tiểu đoàn có sáu đã bị tê liệt). Đại Tướng Abrams nói, “thật là một trận khủng khiếp”. Trong buổi thuyết trình cập nhật ngày 4 tháng Ba thuyết trình viên đã nhắc lại rằng ngày 11 tháng Hai đã thấy dấu hiệu địch chuyển sang thế tấn công. Tuy nhiên sự việc chỉ xẩy ra ngày 18. Ta có thể nói là địch đã mất quân số vào khoảng bẩy tiểu đoàn chủ động, còn số thiết giáp của họ vào khoảng 100 chiếc lúc đầu thì nay chỉ còn từ 65 đén 70 chiếc mà thôi. Ở thời điểm này ta ước lượng địch quân có tại hiện trường 15,000 chiến binh cộng với từ 8,000 đến 10,000 quân hậu cần trong khi bên ta huy động mười sáu tiểu đoàn chủ động.

Khi một tù binh thuộc Trung Đoàn 24-B khai rõ sự tộn thất nặng nề trên đường 92 về phía Bắc Bản Đông thì phòng J-2 MACV giảm hiệu lực của địch đi hai Tiểu Đoàn, nghĩa là trong số 30 Tiểu Đoàn địch thuộc 10 Trung Đoàn tung ra trên chiến trường đương đầu với quân VN thì chúng đã mất hẳn 10 Tiểu Đoàn. Tướng Abrams nói, “Tôi càng tin chắc rằng đây có thể là trận quyết định chiến cuộc”. Tướng Potts nói thêm, “Họ mất một nửa chiến xa, một nửa đại bác phòng không và 10 trên 30 Tiểo Đoàn”.

Trong một buổi cập nhật tình báo hàng tuần (WIEU) ngày 20 tháng Ba Đại Sứ Bunker nói Chiến Dịch Lam Sơn đang chấm dứt là một cuộc hành quân rất thích ứng. Tướng Abrams bèn trả lời: “Thật là một trận đánh cam go. Tuy nhiên ảnh hưởng lên phần cuối năm nay hết sức to lớn. Chúng đã tung nhiều lực vào Lam Son và đã bị thua đậm”

Ngày 23 tháng Ba khi địch quân tung vào thêm Trung Đoàn thứ mười ba, thuyết trình viên trình bầy rằng chín trong số mười một Trung Đoàn đã bị thiệt hại nặng nghĩa là họ chỉ còn khoảng 17 Tiểu Đoàn chủ động trong số 33 đem ra. Ngoài ra họ lại còn mất khoảng 3,500 đơn vị hậu cần. Khi các yếu tố dược trình bầy trong kỳ WIEU thì Tướng Potts nói thêm, “Không phải các Tiểu Đoàn ấy bị sút kém nhưng chúng đã bị hoàn toàn tiêu diệt”.

Quân đội VNCH cũng chịu nhiều tổn thất, 1,416 bị giết và 714 mất tích. Nhiều khí cụ đã bị phá hủy hay bỏ lại khi vội vã rút lui. Khi xét lại kết quả, Đại Tướng Sutherland nhận định như sau: “Khuyết điểm từ lâu là Bộ Tham Mưu VN không có đủ khả năng thiết kế và phối hợp Không Lực cũng như phối hợp yểm trợ không địa. Tuy nhiên họ dã học hỏi nhiều trong chiến dịch này”.

Quần chúng hết sức ủng hộ trận Lam Sơn. Khi Đức Ông Thompson tới viếng thăm hồi cuối tháng Ba người ta đã trình bầy với ông kết quả cuộc thăm dò dư luận trong 36 tỉnh. Kết quả cho thấy 92% đồng ý với các chiến dịch như Lam Sơn 719, 3% chống đối và phần còn lại không có ý kiến. Kết quả cho thấy một phân xuất rất cao so với bất cứ lần thăm dò về bất cứ một vấn đề gì trước đây.

QLVNCH đã chiến đấu trong 42 ngày liền tại Lào. MACV trình bầy khiêm tốn cho Bộ Trưởng Lục Quân Stanley Resor là Chiến Dịch Hạ Lào đã “thử thách QLVNCH trước một địch quân quyết tâm trong trận địa xuyên biên giới. Chắc chắn là đã phá được đường tiếp vận của họ”. Ở Hoa Kỳ người ta kêu đó là một thảm bại của quân Việt. Lẽ cố nhiên bộ máy tuyên truyền Hà Nội vội vã túm lấy cơ hội.

Tuy nhiên Tướng Abrams nhận định là chiến dịch nhất định có lợi cho QLVNCH. “Từ trước ta cứ tưởng rằng Bắc Việt có thể chiến thắng họ. Chiến tranh chưa chấm dứt nhưng Bắc Việt bắt đầu thấy là họ phải đương đầu với một công việc khó hơn nhiều”.
PHẦN 6 .- MỘT CUỘC CHIẾN THẮNG LỢI Phương pháp áp dụng trong giai đoạn Abrams đã có kết quả tốt mặc dầu nhiều người không tin như vậy. Quân Mỹ đã lần hồi rút nên quân Việt đạt nhiều thành quả hơn. Vì chiếm được nhiều đất hơn nên đã thấy nhiều lính địch quy thuận hơn. Trong năm 1969 có 47,000 hàng binh cọng thêm 37,000 hồi chánh năm 1970. Mỗi Sư Đoàn Bắc Quân có 8,689 quân số. Như vậy thì số đào ngũ của họ trong hai năm bằng chín Sư Đoàn. Đã đến chiến thắng mặc dầu vẫn phải đánh nhau là vì Nam Việt đã đủ khả năng giữ vững chủ quyền và tự lực hành động với lời hứa yểm trợ của Hoa Kỳ như họ vẫn làm cho đồng minh tại Tây Đức và Nam Hàn.

Ngay từ cuối năm 1969 John Paul Vann, một nhân vật chính của chương trình bình định đã viết cho cựu Đại Sứ Henri Cabot Lodge như sau: “Tôi không cần thăm Hoa Thịnh Đốn hay Ba Lê như trước để tìm cách thay đổi chính sách Việt Nam. Tôi hài lòng với chính sách hiện hữu. Tôi nghĩ rằng chúng ta đã đạt mục tiêu bỏ được số Mỹ tử vong sau 1972 và chiến phí (cuộc chiến sẽ còn kéo giài mãi) sẽ giảm hẳn vì được người Việt lo liệu với sự trợ giúp tiếp vận và tài chính của chúng ta”.

Ngoài trách nhiệm chiến đấu thay vào quân Mỹ rút đi, Nam Việt còn phải đương đầu với nhiều thay đổi chính sách. Đại Tướng Abrams nói rõ là họ phải vượt qua các trở ngại mỗi ngày một khó hơn. Ông nhắc lại, “Chúng ta đã bắt đầu từ năm 1968,. Mục tiêu của chúng ta là đến 1974 họ phải quất nặng bọn VC để sau nữa sẽ đập cả bọn Việt Cộng lẫn quân Bắc Cộng tại miền Nam. Rồi họ phải nén chặt chúng lại, nén ba bốn lần. Như vậy chúng ta bắt đầu; trong một thời gian dài – ông ra dấu bằng tay – và phải kết thúc trong thời gian ngắn hơn nhiều”.

“Và nếu cần truy cản Việt Cộng, Bắc Cộng hay giúp Cao Mên chẳng hạn thì chúng ta cũng giúp tay vào. Tuy nhiên chúng ta cần hết sức cẩn thận không có sẽ bị trật đường rầy. Ta tránh làm như vậy vì nó sẽ làm cho ta điên lên”. Sự thay đổi đường lối quan trọng nhất là loại bỏ dự tính giữ lại một lực lượng Mỹ lâu dài tại chỗ như thể ở Tây Âu hay Nam Hàn.

Ông Thomas J. Barnes trở lại Việt Nam sau ba năm vắng mặt để làm việc trong chương trình bình định vào mùa Thu 1971. Ông nói với Tướng Fred Weyand là “tôi đã ngạc nhiên với ba tiến bộ chính, sự phồn thịnh của nông thôn, Địa Phương và Nghĩa Quân giữ vững vị trí và phát triển sự tự trị chính trị kinh tế làng xã. Ta đã giúp làng xã lấy lại tính cách độc lập và tự lực theo tập tục Việt Nam. Đó là việc tham gia quan trọng nhất của chúng ta trong công việc bình định”.

Ngay từ giữa tháng Ba 1971 quân đội Việt Nam đã gánh vác chiến đấu. Thuyết trình viên đã nói với Đại Tướng Ewell rằng sự chú trọng của Tướng Abrams vào công tác bình định nay đã hầu như thành tựu 100% với các kế hoạch tương quan. Quân Mỹ đã gần như rời khỏi việc hành quân”.

Những tin tức từ phía địch đã xác nhận thành quả. Trong một cuốn sách in bởi nhà Xuất Bản Thế Giới Hà Nôi, hai tác giả Lưu Văn Lợi và Nguyễn Anh Võ đã viết, “cuối năm 1968 trong Nam Bộ các Ấp Chiến Đấu và những vùng xôi đậu đã bị quân đội Sài Gòn chiếm lại. Cuối 1968 chúng ta đã bị tổn thất nặng. Địch dồn lực lượng vào công tác bình định thôn quê gây cho chúng ta nhiều khó khăn trong hai năm 1969-1970. Từ khi quân Mỹ vào Việt Nam chúng ta chưa bao giờ gập nhiều vấn nạn như trong hai năm ấy. Các căn cứ của ta ở thôn quê bị suy nhược và vị trí co thắt lại. Quân ta bị tiêu diệt, không còn đất bám và phải qua đồn trú tại Cao Mên. Chúng ta trải qua một thời kỳ hết sức khó khăn trong những năm 1969-1970-1971. Kể từ giữa năm 1968 địch đã tập trung đánh phá các vùng giải phóng để tiêu diệt và đẩy chúng ta ra khỏi cứ địa”.

Tháng Giêng 1972 Vann nói rằng “chưa bao giờ chúng ta phải tham chiến ít như bây giờ. Ngày nay thấy rõ các vùng quê phồn thịnh, đường xá khai thông, cầu kỳ mở lại và bạn có nhiều rủi ro hơn với cả đống Honda và Lambretta ngược xuôi. Chương trình Việt Nam Hóa Chiến Tranh đã có kết quả ngoài tưởng tượng”. Đó là công đầu của Việt Nam Cộng Hòa.
PHẦN 7 .- TỔNG TẤN CÔNG PHỤC SINH 1972 Thành quả Việt-Nam-Hóa-Chiến-Tranh và việc bình định nông thôn khiến cho đối phương phải tìm một phương án khác. Đó là cuộc tấn công Phục Sinh. Douglass Pike viết: “Không còn là một cuôc chiến cách mạng nữa, và theo quan niệm của Võ Nguyên Giáp thì phải qua giai đoạn chiến tranh quy ước nhỏ giống như ở Triều Tiên”.

Trong vài ngày về Mỹ John Paul Vann đã trình bầy hiện tình Việt Nam trước một cử tọa giáo sư chọn lọc. “Họ dựa vào các giới chức dân cử xã ấp khi kinh tế tăng trưởng, an ninh tiến bộ và chiến tranh đã chuyển sang Cao Mên và Lào. Sự thực là 95% dân chúng muốn lưu giữ chính quyền hiện tại hơn là một chính phủ cộng sản hay một cơ cấu do bên kia đưa ra”.

Theo lịch sử ghi chép của Quân Đội Nhân Dân thì kế hoạch tấn công 1972 được chấp thuận bởi Ban Quân Ủy Trung Ương từ tháng Sáu 1971. Mục tiêu là chiến thắng vào năm 1972 làm cho quân Mỹ xâm lược phải thưong thảo trong thế yếu. Ông Pike diễn giải, “đó là một cuộc tấn công toàn diện với nhân lực, khí giới và tiếp vận quy mô. Vào giữa mùa Hè tất cả 14 Sư Đoàn Bắc Quân rời khỏi Bắc Việt. Chúng xử dụng nhiều thiếp giáp và đại pháo nặng hơn QLVNCH và đạn dược cũng không giới hạn”.

Cuối tháng Ba 1972 địch tiến hành một cuộc xâm lăng cổ điển với 20 Sư Doàn và một trận chiến tàn bạo sắt máu đã xẩy ra. Ông Douglas Pike viết, “Cuộc tấn công được sửa soạn công phu đã bị bẻ gẫy vì không yểm làm cho chúng không tập hợp được và vì sư chống trả dũng cảm và kiên trì của quân Nam Việt. Bắc Quân và hệ thống giao thông của chúng đã bị triệt hạ nặng. Nhưng chính yếu là QLVNCH và cả Địa Phương Quân đã hiên ngang chống trả như chưa từng thấy”.

Bắc Quân tổn hại 100,000 người trong số 200,000 xung trận và có lẽ 40,000 đã bị giết. Họ đã mất già nửa thiết giáp và đại pháo. Sẽ cần ba năm để hồi phục trước khi tấn công lại và Tướng Võ Nguyên Giáp bay khỏi chức Tổng Tư Lệnh. Trái lại Nam Quân mất 8,000 tử vong, gần ba lần thương binh và vào khoảng 3,500 mất tích. Tướng Giáp đã tính sai và phải trả một giá đắt cho lỗi lầm ấy. Ông Pike kết luận: “Giáp đã ước sai lòng quyết tâm và sự chống trả mãnh liệt của Quân Nam Việt. Hắn sai lầm về sức đề kháng của QLVNCH”.

Về sau nhiều người chỉ trích nói rằng Nam Quân đã đẩy lui được Bắc Quân nhờ có không yểm của Mỹ. Tướng Abrams đã phản ứng mạnh mẽ và nói với các cấp chỉ huy của ông rằng, “Tôi không tin là không có không trợ mọi việc đã giữ vững được. Tuy nhiên phải có những người Việt Nam đúng thẳng chiến đấu. Nếu họ không dũng cảm làm như vậy thì đến mười lần không quân cũng không chận đứng được bọn cộng sản”.

Bọn chỉ trích cũng triệt hạ QLVNCH cho rằng họ sống sót được là nhờ Quân Mỹ. Không một ai nhớ rằng 300,000 Quân Mỹ phải đóng ở Tây Đức là vì người Đức không thể chống lại Nga Xô Viết hay nhóm Liên Minh Warsaw nếu không có Quân Mỹ. Họ cũng quên là 50,000 Quân Mỹ phải lưu lại Nam Hàn để giúp trong trường hợp bọn Bắc tấn công. Và không ai đã nghĩ rằng vì Quân Mỹ hiện diện nên phải chê bai và chế riễu Quân Đội Tây Đức cũng như Nam Hàn. Chỉ có Nam Việt bị tách rời ra để bôi nhọ một cách bất công và ác độc mặc dầu chỉ được không trợ chớ không được Quân Lực Mỹ hỗ trợ như Đức hay Cao Ly.

Quân Nam Việt đã thực sự đánh bại cuộc tấn công Phục Sinh 1972 với xương máu và lòng quả cảm. Đại Tướng Abrams nói với Tổng Thống Thiệu rằng “nhờ khả năng bén nhậy của các cấp chỉ huy nên đã gặt hái thành quả và họ đã chứng tỏ đủ bản lĩnh đương đầu với cuộc thử thách. Những anh hùng bảo quốc Nam Việt đã giáng cho quân xâm lăng một đòn chí tử khiến cho chúng cần ba năm nữa mới có thể mở lại một cuộc tấn công quy mô”. Tuy nhiên trong khi ấy bao nhiêu thay đổi hệ trọng đã xẩy ra trên một bình diện rộng lớn hơn.

QLVNCH đã trở thành một lá chắn thiện nghệ, nhanh nhẹn và quyết tâm cho xứ sở của họ. Tuy nhiên họ đã bị bôi nhọ bởi những luận điệu tiêu cực gồm cả vu khống của bọn phản đối Hoa Kỳ tham gia cuộc chiến hay ít nhất chính sự tham gia của cá nhân họ hay bọn thân cộng. Trái lại đã có bao nhiêu thành tích rõ ràng trên trân địa hồi cuối Xuân và trong mùa Hè 1972.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ QUÂN LỰC VNCH - Phần 2/2 PHẦN 8 .- BỎ RƠI
Phần này bàn về tình hình sau khi Hiệp Định Paris được ký kết vào tháng Giêng 1973.

Để dụ Việt Nam thỏa thuận điều mà họ cho là quá sai lầm khi cho Bắc Việt được để lại miền Nam một lực lượng lớn, Tổng Thống Nixon đã hứa với Tổng Thống Thiệu rằng nếu Bắc Việt bội ước và lại tấn công Nam Việt thì Hoa Kỳ sẽ can thiệp mạnh mẽ để trừng phạt chúng. Và Nixon nói thêm, nếu chiến tranh trở lại, nước Mỹ cam kết thay thế các chiến cụ trên căn bản một đổi một theo như điều khoàn của Hiệp định Paris (chiến xa, trọng pháo vv). Sau nữa Hoa Kỳ sẽ tiếp tục viện trợ kinh tế tài chánh cho Việt Nam. Thật ra, Hoa Kỳ đã bội ước tất cả các khoản kể ra.


Trong khi ấy thì Cs.Bắc Việt đã nhận viện trợ không tiền khoáng hậu của các quan thầy. Theo một cuốn sử xuất bản tại Hà Nội năm 1994 thì trong vòng chin tháng sau khi ký kết Hiệp Định Paris, từ tháng Giêng đến tháng Chín 1973, Bắc Việt đã gửi tiếp tế vào Nam bằng bốn lần năm vừa qua (1972). Dầu vậy con số còn nhỏ nhoi so với lượng chúng đưa vào Nam từ đầu 1974 cho đến ngày chấm dứt cuộc chiến năm 1975. Trong vòng mười sáu tháng, theo tài liệu cộng sản, thì bằng 1.6 lần quân viện trong cả mười ba năm.

Nếu chính phủ Nam Việt không ký Hiệp Định thì không những Hoa Kỳ sẽ đơn phương tính với bên kia mà Quốc Hội Mỹ cũng nhanh chóng cắt hết viện trợ. Mặt khác nếu Việt Nam chấp thuận Hiệp Định với hy vọng sẽ tiếp tục nhận viện trợ Mỹ thì họ bắt buộc phải chấp nhận tình trạng Bắc Quân sẽ trú đóng một cách nguy hiểm trên lãnh thổ.

Nam Việt đã quyết định phương án thứ nhì, một tiên liệu quyết tử để thấy một cách đau đớn là phải chấp nhận cả hai việc tồi nhất, quân Bắc Việt trong lãnh thổ và viện trợ Mỹ chấm dứt.

Nguyên Tổng Trưởng Quốc Phòng Melvin Laird giải thích hệ quả như sau. “Trong hai năm sau Hiệp Định, Nam Việt đã can đảm chống lại một cách đáng nể một địch quân được yểm trợ tối đa. Hoà đàm Bắc Nam vẫn tiếp tục cho đến ngày mà Quốc Hội cắt hẳn viện trợ vào năm 1975. Và Nam Việt nhanh chóng bị tràn ngập. Chúng ta đã tiết kiệm được khoảng 257 triệu mỗi năm và làm cho Nam Việt xụp đổ sau khi đã chiến đấu dũng mãnh từ năm 1973 không có sư giúp đỡ của quân Mỹ.

Nhiều người Mỹ không thích nghe rằng bọn độc tài Nga Xô và Trung Hoa đã tỏ ra đáng tin cậy hơn là nước Mỹ Dân Chủ. Nhưng đó là sự thật phũ phàng.

Phóng viên William Tuohy đã nhiều năm phúc trình cuộc chiến cho Washington Post viết, “một chuyện không tin được và không tha thứ được là một đại cường quốc đã bỏ rơi đồng minh yếu kém vào tay bọn Bắc Cộng. Nhưng chúng ta đã làm như vậy”.

Binh sỹ Nam Việt can đảm chiến đấu cho đến khi viện trợ bị cắt dần dần rồi ngưng hẳn. Trong vòng hai năm sau khi ký Hiệp Định Paris Nam Việt đã mất 59,000 quân tức là nhiều hơn số quân Mỹ tử trận trong mười năm. Nếu nghĩ rằng dân số Nam Việt chỉ bằng một phần mười Mỹ Quốc thì ta thấy rằng sư thiệt hại hết sức thảm khốc và cường độ trận chiến đã cao như thế nào.

Bà Merle Pribbenow nhấn mạnh rắng sự ghi nhận của Bắc Việt cho thấy trong 55 ngày cuối cùng họ đã phải đương đầu với một chiến cuộc hết sức gay go. Đó là một chiến tích đáng ghi cho Nam Việt khi họ biết là kết cục sẽ chắc chắn như thế nào. Đại tướng Bắc quân Lê Trọng Tấn đã ghi :
“Trong giai đoạn cuối cùng Quân Y của chúng ta đã phải di tản và chữa chạy cho quá nhiều thương binh, 15 lần nhiều hơn trong trận chiến biên giới, 1.5 lần hơn trận Diện Biên Phủ và 2.5 lần nhiều hơn trong trận Hạ Lào” .
Bà Pribbenow chiết tính là “Quân Đội Nhân Dân (csBV) đã chịu tối thiểu từ 40,000 đến 50,000 thương binh và có thể còn nhiều hơn nữa, nghĩa là còn cao hơn tổng số tổn thất lúc QLVNCH xụp đổ theo nhận xét của các sử gia”.

Đại Tá William LeGro đã ở lại D.A.O đến phút chót đã có một cái nhìn chính xác về sự việc. Ông nói: “Sự gỉảm quân viện Mỹ cho đến gần số không là lý do đưa đến sự xụp đổ cuối cùng”. Ông nói thêm, “Chúng ta đã làm một việc hết sức quái gở với người bạn Việt Nam”.

Gần đến ngày cuối, ông Tom Polgar đứng đầu CIA Sài Gòn gửi một điện văn ngắn ngủi: “Kết quả quá rõ ràng vì Nam Việt không thể sống sót nếu không có quân viện Mỹ trong khi khả năng chiến tranh của Bắc Việt vẫn giữ nguyên với sự trợ lực của Nga Xô Viết và Trung Cộng”.

Sau chiến tranh tình hình trở nên quá đen tối như người ta sợ. Phóng viên Seith Adams của New York Times viết về hoàn cảnh Đông Nam Á một cách xác đáng và cảm động như sau. “Hơn một triệu người Nam Việt bỏ xứ. Khoảng 400,000 người bị đầy vào các trại cải tạo, một ít trong thời gian ngắn nhưng nhiều người đã bị giam giữ đến mười bẩy năm. Một triệu rưởi dân bị cưỡng bách đi các vùng ‘kinh tế mới là những nơi hoang dã trong hoàn cảnh đói kém và bệnh tật”.

Cựu Đại tá Việt cộng Phạm Xuân Ẩn mô tả sự vỡ mộng của y với kết quả chiến thắng của cộng sản đã áp đặt như thế nào lên xứ sở. Ông ta phàn nàn, “tất cả các lý luận về ‘giải phóng’ trong hai mưoi, ba mươi hay bốn mươi năm qua đã gây ra một xứ sở nghèo nàn và rách nát lãnh đạo bởi một lũ ác độc, một bọn lý thuyết gia ít học và chuyên chế”.

Đại tá Bắc quân Bùi Tín cũng thẳng thắn nói về hậu quả cho cả những người chiến thắng: “Thật là quá chậm cho thế hệ tôi, một thế hệ của chiến tranh, của chiến thắng và bội phản. Chúng tôi đã thắng nhưng chúng tôi cũng đã thua”.

Sư cố gắng của những người miền Nam trong một cuộc tranh đấu dai dẳng cuối cùng là một thảm trạng. Quân đội đã mất 275,000 người chết trong khi chiến đấu. 450,000 dân bi hy sinh, phần đông do khủng bố cộng sản hoặc bị chết trong những cuộc pháo kích bừa bãi vào các đô thị và thêm 935,000 người nữa bị thương.

Trong số cả triệu người trở thành thuyền nhân một số có thể rất cao đã bỏ mạng trên biển cả. Có lẽ 65,000 người đã bị hành quyết bởi bọn tự xưng là giải phóng. Khoảng 250,000 hay hơn nữa đã chết trong các trại tù “cải tạo” man rợ. Hai triệu người bị đẩy ra khỏi quê cha đất tổ để trở thành một diaspora Việt Nam.

Ta không thể hoàn toàn xác định giá trị của QLVNCH mà không nói đến các cựu chiến binh bị đầy khỏi xứ với các gia đình của họ hầu lập nghiệp lại trên đất Mỹ. Đó chính là một câu chuyện khác về sự can đảm, quyết tâm và thành quả.

Đã biết quá rõ tính chất của bọn mạo danh là “giải phóng”, một băng đảng luôn luôn giết hại, gây thương tích, bắt cóc và ức chế hang ngàn dân vô tội, nên họ bỏ chạy hàng loạt khi sự chống đỡ tan rã.

May thay nhiều người đã thoát được đến bờ bến tự do làm lại đời mới. Mỹ Quốc may mắn đón nhận một triệu di dân Việt Nam là một tăng tiến cho văn hóa và một đóng góp đáng kể vào phúc lợi của chúng ta. Với một quyết tâm và cần cù không tưởng tượng được, những người Mỹ mới này đã dậy dỗ con cái, nuôi sống gia đình và lợi dụng các cơ hội mà xứ sở này đã dành cho bất cứ ai tham gia vào xã hội. Đó chính là những người đã bao năm đem xương máu ra chiến đấu cho quê hương cũ trong hàng ngũ QLVNCH.
Chúng ta dã bỏ rơi họ và những hy sinh của họ đã thành vô nghĩa. Tuy nhiên cưu mang họ trên đất này đã cho chúng ta đền tội đôi phần.
KẾT LUẬN
Để kết luận, tôi chỉ xin nói rằng cuộc chiến Việt Nam là một cuộc chiến giá trị, bởi người Nam Việt và các đồng minh của họ bảo vệ một mục đích cao đẹp. Tất cả các chiến binh đều đã tham chiến với một tấm long vô biên và họ đã gần như đạt được mục đích bảo đảm cho NamViệt có tự do như một quốc gia độc lập.

Có lần một phóng viên đã nhận xét rằng Đại Tướng Creighton Abrams phải được chỉ huy một cuộc chiến hay hơn. Tôi đã nói câu ấy cho trưởng nam của Tướng Abrahms và được phản hồi ngay; “Cha tôi không nhìn như vậy. Ông nghĩ rằng người Nam Việt rất xứng đáng”. Và tôi đồng ý.

Tóm lại, đối chiếu biểu của QLVNCH bao gồm cà địa phương và nghĩa quân trong năm 1970 rất tích cực. Rốt cục chúng ta đã không thắng trận, tuy nhiên tinh thần, sự tận tâm, can đảm và lòng quyết chí của tất cả các chiến binh đã nẩy nở thăng hoa trên đất nước này. Chúng ta đều cùng tiến tới.

NÓI VỀ TÁC GIẢ Ông Lewis Sorley đã phục vụ tại Việt Nam chỉ huy một Tiểu Đoàn Thiết Giáp trên Tây Nguyên. Ông thuộc thế hệ thứ ba trong gia đình tốt nghiệp Đại Học Quân Sự Hoa Kỳ. Ông cũng đậu bằng Tiến Sỹ của Đại Học John Hopkins. Trong hai thập niên binh nghiệp ông chỉ huy thiết giáp và nhiều dơn vị thiết kị tại Mỹ, Đức cũng như Việt Nam. Ông cũng đã phục vụ tại Bộ Lục Quân, văn phòng Tham Mưu Trưởng Bộ Binh và là giảng viên tại West Point và Đại Học Chiến Tranh Bộ Binh.

Ông là tác giả của hai cuốn sách, Thunderbolt, General Creighton Abrams and the Army of His Times và General Harold K. Johnson and the Ethics of Command. Ông đã viết quân sử nhan đề, A Better War; the Unexamined Victory and Final Tragedy of America’s Last Year in Vietnam. Ông cũng ghi chép và nhuận chính Vietnam Chronicles: the Abrams Tapes 1968-1972”.

Tài liệu tham chiếu:

1. “Bibliography Periodicals” của Douglas Pike.
2. “History Proves Vietnam Victors Wrong” của James Webb.
3. “The Development of the South Vietnamese Army” của Thiếu Tướng James Lawton Collins Jr.
4. “Senior Officer Debriefing Report, CG II Field Force, Vietnam, 29-3-1966 của Đại Tướng Fred C. Weyand.
5. “Message Abrams to Johnson, MAC 5307, 04950Z 6-1967.
6. “Lt-General Dong Van Khuyen, RVNAF Logistics”.
7. “Time, 19 April 1968”
8. “Letter, General Bruce C. Clarke to General Hal C. Pattison”
9. “The History of the Joint Chief of Staff: The Joint Chief of Staff and the War in Vietnam, 1960-1968”
10. “Brigadier Geberal Zeb B. Bradford Jr. Interview, 12 October 1989”
11. “Message, Abrams to Wheeler and McCain, October 1968”
12. “William Colby, ‘Vietnam after McNamara’, The Wahington Post 27-4-1995”.
13. “Ambassador Ellsworth Bunker, Thayer Award Address”.
14. “John Paul Vann, Remarks, Lexington, Kentucky, 1972”.
15. “Brigadier General Tran Dinh Tho, The Cambodian Incursion”.
16. “Geoffrey Perret, There’s a War to be Won”.
17. “Message, Cliff Snyder, National Archives to Sorley”.
18. “An example of LCol Cau Lê 47 Regiment Commander, 12 years in combat and 13 years prisoner of the communist, awarded Silver Star and Bronze Star for valorous combat leadership. Le and his family established a new life in America after his wife Kieu Van had worked as a nurse to support their five children until her husband was released from captivity. See Robert F. Dorr and Fred L. Borch, ‘US Medals’”.
19. “General Cao Van Vien et al, the US Advisor”.
20. ”Lt General Ngo Quang Truong, Territorial Forces”.
21. ”General Creighton Abrams at WIEU, 18 April 1973”
22. “Thomas Polgar as quoted in J. Edward Lee and Toby Haynsworth”
23. “Colonel LeGro as quoted in L. Edward Lê and Toby Haynsworth”
24. “Ambassador Ellsworth Bunker, Oral History Interview”
25. “Quoted in Jeffrey J. Clarke, Advice and Support”
26. “As reported by Major General George J. Forsythe, following a 20 January 1968 meeting with President Thieu”
27. “Joint Chiefs of Staff, the History of the Joint Chiefs of Staff”
28. “Notes by Vicent Davis on telecom during which Vann described his 15 December 1969 Presentation at Princeton”
29. “Lester A, Sobel, ed,. South Vietnam. US Communist Confrontation in Southeast Asia.
30. “Remarks, Lexington, Kentucky 1972, Vann papers”
31. “Ellsworth Bunker Interview, Duke University, Living History Project”
32. “WIEU, 30 January 1973, in Sorley, Vietnam Chronicles”
33. “COMUS Update, 16 February 1971”
34. “Briefing with Admiral McCain, 19 February 1971”
35. “Commanders Weekly Intelligence Update, 20 February 1971”
36. “Message, LtGeneral James W. Sutherland to Abrams, March 1971, Special Abrams Papers Collection”
37. “COMUS with Sir Robert Thompson, 25 March 1971”
38. “Secretary of the Army Brief, 26 April 1971”
39. “Major General Nguyen Duy Hinh, Lam Son 719”
40. “Military Institute of Vietnam, Victory in Vietnam (University Press of Kansas)”
41. “John Paul Vann, Letter to Henry Cabot Lodge, 9 December 1969, Vann Papers”
42. “Message, Barnes to Weyand, March 1972, MHI files”
43. “Lưu Van Loi and Nguyen Anh Vu (Le Duc Tho and Kissinger Negociation in Paris”
44. “Remarks, Lexington, Kentucky 8 January 1972, Vann Papers”
45. “Douglas Pike, ‘A Look Back at the Vietnam War: the View from Hanoi’”
46. “Douglas Pike, PAVN, People’s Army of Vietnam”
47. “Message, Abrams to Laird, May 1972”
48. “Melvin R. Laird, “Iraq: Learning the Lesson of Vietnam”
49. “The Washington Post (28 December 1968)”
50. “James L. Buckley, ‘Vietnam and its Aftermath’ in Anthony T. Bouscaren, ed.”
51. “Merle L. Pribbenow, Message to Sorley, 1 May 2002”
52. “Seth Mydams, ‘A War Story Missing Pages’, The New York Times 24 April 2000”
53. “Vietnam Magazine Auguat 1990”
54. “The Boston Globe, 20 April 2000”
55. “Colonel Stuart Herrington, Fall of Saigon, Discovery Channel, 1 May 1995”
56. “Australian Minister for Immigration Michael McKeller was quoted as saying that ‘about half the boat people perished at sea’. Thus he said in 1979, ‘We are looking at a death rate of between 100,000 and 200,000 in the last four years’. The Age Newspaper, The Boat People: an Age Investigation”

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Việt Nam - quá khứ và hiện tại
Trịnh Hội
Tác giả bày tỏ suy nghĩ về những thay đổi và chưa đổi ở Việt Nam

Đã khá lâu tôi không đặt bút viết tiếng Việt. Lần cuối cùng tôi chia sẻ những cảm nghĩ của tôi với bạn đọc Việt Nam là khi tôi viết một bài báo trên tờ Việt Báo ở Mỹ năm kia nói về những cảm xúc riêng tư của mình sau khi tìm được ra ngôi mộ của cố tổng thống Ngô Đình Diệm với mộ bia cho đến nay vẫn không được khắc tên, ghi tuổi.

Tôi vẫn còn nhớ rõ những bài học được dạy khi tôi còn ở tiểu học chê trách vua Gia Long sau khi lên ngôi vua đã không trân trọng lịch sử và tiêu hủy toàn bộ những gì thuộc về vua Quang Trung Nguyễn Huệ. Kể cả việc đào bới mồ mã của nhà vua và trộn xương cốt của ông vào thuốc súng bắn ra biển để hủy táng.

Đối với riêng tôi, khi tận mắt thấy được ngôi mộ của cố tổng thống Ngô Đình Diệm, sau trên 4 thập niên kể từ ngày ông bị hành quyết, vẫn không được ghi khắc những gì căn bản nhất của một đời người, tôi chợt cảm thấy hình như cho đến nay ở Việt Nam vẫn còn những bài học lịch sử không được trân trọng. Nếu 200 năm sau chúng ta vẫn vấp phải những lỗi lầm của những người đi trước, thử hỏi cho đến bao giờ dân tộc và đất nước Việt Nam mới thật sự khôn lớn?
Viết cho mình

Nhưng phải thú thật là tôi đã viết bài viết về mộ cố tổng thống Ngô Đình Diệm đầu tiên là cho chính tôi. Tôi đã bị những suy tư của mình dằn vặt tôi suốt gần một năm cho đến khi tôi đặt bút ghi lại những cảm xúc của mình trên trang giấy.

Có thể nói tôi viết để những cảm nghĩ của chính tôi được vơi đi, để không phải bận tâm lo nghĩ vào những việc mà ba mẹ tôi thường bảo là chuyện 'thiên hạ'. Và bài viết này hình như cũng được cho ra đời trong một hoàn cảnh tương tự.
Sau sáu lần về Việt Nam trong hai năm vừa qua, có đôi lần tôi đã ở lại trên dưới một tháng để tìm hiểu thêm về Việt nam của quá khứ và hiện tại, tôi đã cảm nhận và học được một số điều mà cuối cùng tôi đã bị trăn trở khôn miên nhất là về những gì chính tai mình đã nghe và mắt đã thấy. Quả thật, như một người bạn luật sư trẻ của tôi ở Hà Nội từng tâm sự, sẽ không bao giờ chúng ta bàn hết được chuyện đất chuyện nước của người Việt Nam muôn thuở.


\Có thể tôi nói hơi quá nhưng hình như ở Việt Nam , cuộc sống của mọi người đều giống y đúc cách họ lái xe trên đường phố. Bất kể bằng phương tiện gì. Đi xe đạp, xe thồ hay xe Mercedes. Người có quyền thế hay chỉ là một người bán hàng rong. Tây ba lô, Việt Kiều lai căng như tôi hoặc một bác xích lô.

Ai ai cũng phải luồn lách, ghi nhấn ga vượt đèn, khi thắng gấp, hoặc đôi khi phải dừng hẳn lại nhường cho người lấn đường. Người nào luồn lách càng hay sẽ càng đến đích mau hơn. Và những người ngay thẳng thường là những người luôn phải chạy chậm, sát vào lề đường chỉ mong sao cho mình về đến nhà mà không bị tai nạn.
Có lẽ vì hoàn cảnh xã hội như vậy mà hầu như đa số người dân tôi gặp được và trò chuyện đều chỉ mong sao là họ lo được miếng cơm, manh áo mỗi ngày cho chính bản thân của họ và gia đình thân thuộc.

Chuyện 'thiên hạ', nếu nghe qua họ chỉ có thể chắc lưỡi hoặc tốt hơn một chút là nói lên một lời khuyên chân tình là không nên 'lôi thôi dính vào, mang vạ vào thân’. Kể cả những chuyện 'thiên hạ' mà chính họ là nạn nhân. Chính họ cũng biết là lẽ ra họ phải nói ra cho phải lẽ. Nhưng thôi, một điều nhịn chín điều lành. Mặc dù là một Phật tử nhưng đôi khi tôi vẫn cảm thấy câu nói này nó có vẽ như không thích hợp cho lắm trong thời buổi tranh tối tranh sáng này. Nhất là khi người ta nhịn không phải vì tấm lòng từ tâm bác ái được ẩn dụ trong câu nói, mà vì họ sợ bị liên lụy, sợ nếu nói ra sự thật thì chẳng những không giúp được gì mà còn có thể bị mất việc, hoặc mất luôn cả tài sản, cơ nghiệp, bị cho vào tù như chơi. Mà đã là con người có đủ hỉ, nộ, ái, ố, lạc, dục thì ai lại chẳng sợ những điều này?

Có nhiều người cho rằng Việt Nam đã và đang có nhiều thay đổi tích cực. Tôi đồng ý với điều này. Nhưng tôi nghĩ vẫn còn rất nhiều điều Việt Nam chưa thay đổi và sẽ không bao giờ thay đổi nếu như hệ thống điều hành và quản lý của nhà nước Việt Nam vẫn giữ y nguyên như hiện tại. Và nếu như sự hiểu biết của người dân Việt Nam vẫn bị kiểm soát chặt chẽ không được khuyến khích mở rộng trong tương lai.

Nhiều thanh niên Việt Nam chưa quen có tư tưởng độc lập
Tôi còn nhớ như in lần gặp gỡ nói chuyện rất thân tình giữa tôi và một phóng viên báo chí, tuổi chưa đầy 30 ở Sài Gòn.
Anh là người đã từng được phái đi ra nước ngoài nhiều lần. Có nghĩa là anh là một trong rất ít người trong 80 triệu dân Việt Nam đã có cơ hội tiếp xúc và làm quen với cuộc sống và tư tưởng của các xã hội dân chủ ở phương Đông cũng như ở phương Tây. Mặc dù vậy, anh vẫn không đồng ý với tôi là ở Việt Nam tất cả các báo chí đều bị kiểm duyệt.
Khi tôi hỏi anh nếu như vậy thì tại sao báo chí Việt Nam lại không đưa tin về những người bất đồng chính kiến và quan điểm của họ thì anh trả lời đơn giản là vì họ không tôn trọng pháp luật Việt Nam nên việc họ bị xử phạt như một kẻ phạm tội hình sự là chuyện dĩ nhiên.
Phải thú nhận là lần đầu tiên khi tôi nghe câu trả lời này, tôi đã cảm thấy bực tức nhiều hơn là thông cảm. Nhưng suy cho cùng, nếu như ngay chính một người trẻ tuổi có học thức và hiểu biết như anh vẫn không được tạo cơ hội để cảm nhận được những quyền lợi căn bản nhất của một con người, thì thử hỏi biết đến bao giờ đa số người dân Việt Nam mới hiểu rõ được những quyền lợi và trách nhiệm của chính họ đối với đất nước?

Có thể nói càng biết nhiều về Việt Nam thì tôi lại càng buồn hơn. Buồn vì thấy cuộc sống hằng ngày của người dân Việt Nam vẫn còn quá nhiều khổ cực. Buồn vì biết được trong quá khứ những người có tư tưởng độc lập như nhà thơ Hoàng Cầm, nhà văn Phùng Quán, và biết bao nhiêu người tài giỏi khác đã bị đàn áp mà mãi đến bây giờ họ vẫn không được tôn trọng.
Và tôi buồn nhất là vì chính tôi cũng chỉ biết nói mà không làm được gì giúp cho đất nước Việt Nam . Nhưng như nhà bác học Albert Einstein đã từng phân giải, chúng ta luôn nên học từ quá khứ để sống cho hiện tại và ước mơ cho tương lai (learn from yesterday, live for today, and hope for tomorrow), tôi mong là trong một ngày gần nhất đất nước Việt Nam sẽ chấp nhận và cảm phục sự hiện hữu của những người có tư tưởng độc lập và tạo cho họ một cơ hội để cùng nhau giúp cho mỗi người dân Việt Nam được thật sự có tự do và tự chủ.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Một ngàn tỷ đô la để làm gì
Ngô Nhân Dụng
Trong tuần này nhiều người Mỹ chăm chú nhìn coi lúc nào thì chỉ số Dow Jones lên trên số 12,000. Còn ở Bắc Kinh người ta chú ý đến con số khác.

Trong khi quý vị đang đọc bài này, những người ngồi đếm tiền trong Ngân Hàng Nhân Dân tại Bắc Kinh đang nhìn con số 1,000,000,000,000 qua trước mặt. Số ngoại tệ dự trữ của Trung Quốc đã lên trên một ngàn tỷ đô la, có thể gọi là một triệu triệu đô la Mỹ. Kết toán ngày 30 Tháng Chín năm 2006 họ đã có gần 988 tỷ, mà mỗi tháng ngoại tệ chảy vào thêm chừng 20 tỷ nữa. Nếu quý vị sống ở Mỹ thì nên cảm ơn chính sách tích trữ tiền, ôm lấy đống tiền ngày càng cao thêm của chính phủ Trung Quốc. Trong phần sau sẽ xin giải thích tại sao nên cảm ơn.

Trước hết, tại sao Bắc Kinh có nhiều tiền để dành như vậy? Nước họ có trên một tỷ người, coi như mọi người đã làm việc suốt đời nên mỗi người dành dụm được một ngàn Mỹ kim! Họ để dành mà không biết, vì có người khác cất giữ hộ. Nhiều người dân Trung Quốc đang đổ mồ hôi làm việc với đồng lương rất thấp, họ không có tiền tiêu vì người khác cất giữ hộ rồi. Phần lớn công nhân không được bảo hiểm khi ốm đau, cũng không có bảo hiểm khi mất việc. Nhờ thế, hàng hóa bán ra với giá rẻ được cả thế giới mua. Hàng bán ra, thu vào những đô la Mỹ, đồng Euro của Âu Châu hay đồng Yen của Nhật Bản, đem tiền về rồi các xí nghiệp làm gì? Nếu tất cả đều đem đổi đô la lấy tiền Trung Quốc thì giá đồng Nguyên sẽ tăng lên theo luật cung cầu. Chính phủ Bắc Kinh không muốn như vậy, phải thu đồng đô la lại. Nhà nước sẽ giữ hộ những món tiền thuộc loại “giá trị thặng dư” đó. Ðể làm gì thì xin coi hồi sau sẽ rõ.

Một dòng tiền khác cũng chảy vào, cần phải xử lý nữa, là đầu tư của người nước ngoài. Mỗi năm người ngoài đem 40, 50 tỷ Mỹ kim vào Trung Quốc để mua nhà cửa mở cơ xưởng. Cũng vì thấy ở Trung Quốc trả công cho nhân dân lao động rẻ quá, tư bản quốc tế không vào khai thác cũng uổng. Những món tiền chảy vô đó cũng phải đổi sang nhân dân tệ để các nhà tư bản thuê nhà, mua tiếp liệu và trả lương công nhân. Chính phủ Bắc Kinh không muốn giá “nhân dân tệ” tăng, vì nếu đồng Nguyên lên giá thì hàng hóa bán ra ngoài sẽ tăng giá theo, xuất cảng sẽ khó khăn. Cho nên Ngân Hàng Nhân Dân in thêm tiền để mua các ngoại tệ đó. Cứ như vậy, Bắc Kinh đã tích lũy tiền ngoại quốc, bây giờ đã lên tới 1,000 tỷ đô la, tiếng Anh viết là US$ trillion. Ðó là quỹ ngoại tệ lớn nhất thế giới, vượt qua con số gần 900 tỷ đô la của Nhật Bản.

Ai có trong tay hàng ngàn tỷ đô la, thế nào cũng phải nghĩ đến cách dùng để kiếm lợi. Thí dụ như một công ty chuyên quản lý tiền đóng góp của thiên hạ như Fidelity Investments ở Mỹ. Những nhà quản trị công ty này nắm quyền quyết định đầu tư 1,200 tỷ Mỹ kim, lớn hơn số ngoại tệ của Trung Quốc một chút. Số tiền đó là của hàng triệu người ở Mỹ và ở nước khác góp vào, họ tin tưởng nên nhờ công ty này đem bỏ vô đâu kiếm được lời thì làm. Những công ty đầu tư ở Mỹ đã nhận được tiền của thiên hạ thì phải đem sinh lợi, nếu không thì ban quản đốc sẽ mất việc vì các thân chủ rút tiền đem đi nơi khác! Họ phải chia tiền ra hàng trăm quỹ đầu tư nhỏ khác nhau, theo ý muốn của thân chủ. Những ai dám chấp nhận rủi ro với hy vọng được lời nhiều hơn, thì bỏ tiền vô các cổ phần nóng hổi. Những ai muốn tiền của mình được an toàn dù kiếm mức lời thấp cũng được, thì có những quỹ chỉ mua trái phiếu. An toàn nhất là công trái do chính phủ Mỹ phát hành để vay nợ, vì không ai lo chính phủ Washington sẽ khai phá sản để vỡ nợ. Vì công trái Mỹ an toàn cho nên trả lãi suất rất thấp.

Còn về phần chính phủ Trung Quốc, họ làm gì với hàng ngàn tỷ Mỹ kim của họ?

Trước hết, xin cải chính, đó không phải là tiền của họ. Nhìn lại lý do tại sao quỹ ngoại tệ dự trữ ở Bắc Kinh đã lên thì chúng ta hiểu ngay quỹ đó là do mồ hôi nước mắt của dân lao động Trung Quốc tạo ra, chứ không phải mấy ông ở trong chính phủ hay Ngân Hàng Nhân Dân tự nhiên kiếm ra tiền. Những người lao động ở Trung Quốc cũng giống như các thân chủ của công ty Fidelity Investments, các quan chức Bắc Kinh giống như các vị quản đốc của công ty này, đang làm công cho các thân chủ. Khác nhau một điều, là người dân Trung Quốc không có quyền hành nào đối với quý vị quan chức cả. Ðối với quỹ Fidelity Investments thì mỗi ba tháng các thân chủ đều nhận được báo cáo kết quả đầu tư, nếu không hài lòng thì cứ rút tiền ra đem đi cho người khác đầu tư hộ. Nhân dân lao động Trung Quốc không có cái quyền đó, thực ra không ai công nhận quỹ ngoại tệ dự trữ đó là tiền của họ.

Vậy thì các quan chức ở Bắc Kinh làm gì với đống tiền do nhân dân tạo ra? Ðây cũng là một điều bí mật, dân chúng không biết vì không được thông báo. Chỉ có các nhà phân tích kinh tế quốc tế họ quan sát những vụ mua bán trái phiếu trên thị trường thế giới họ đoán được tiền của ai đang chạy vào đâu, nên họ biết chút đỉnh.

Theo các người quan sát quốc tế thì 70% quỹ dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc là đô la Mỹ, khoảng 20% là đồng Euro, số còn lại giữ bằng các thứ quý kim và tiền nước khác như đồng Yen Nhật Bản hoặc đồng “won” của Ðại Hàn.

Người ta làm gì với 700 tỷ đô la? Bộ Tài Chính Mỹ biết rằng chính phủ Bắc Kinh mua 527 tỷ đô la các trái phiếu ở Mỹ, vì các món tiền đi lại qua các ngân hàng đều có sổ sách. Trong số đó có 450 tỷ là trái phiếu dài hạn của chính phủ liên bang Mỹ, hoặc do các công ty tài trợ mua nhà phát hành, giấy nợ của các công ty này được chính phủ Mỹ bảo đảm. Ngoài ra Bắc Kinh cũng mua trái phiếu của các công ty tư để kiếm tiền lãi cao hơn. Nhưng ngay chính phủ Mỹ cũng không biết hết thực sự Trung Quốc còn đầu tư vào đâu ở Mỹ. Vì nhiều người mua trái phiếu ở Mỹ qua các nhà môi giới quốc tế mà không tiết lộ tên.

Nói chung, những món dự trữ ngoại tệ của các quốc gia giống như tiền để dành, thường đầu tư vào các giấy nợ khá an toàn, mặc dù lời lãi thấp. Gần đây có dấu hiệu là Ngân Hàng Trung Ương Trung Quốc bắt đầu bạo tay hơn một chút, họ cũng đem tiền đi mua trái phiếu của những quốc gia nhỏ đang lên, nợ bằng đô la Mỹ. Những thứ nợ này nhiều rủi ro hơn, nhưng cũng trả lãi cao hơn.

Sự thật Bắc Kinh có cần giữ nhiều ngoại tệ để dành như vậy hay không? Không cần. Các quốc gia tiên tiến không ai giữ nhiều tiền như vậy để làm gì cả. Chính phủ Bắc Kinh có vay nợ ngắn hạn, cũng cần giữ tiền dự phòng khi cần trả gấp, nhưng một ngàn tỷ Mỹ kim lớn bằng 6 lần số nợ đó, nhiều quá. Tổng cộng tiền mua hàng nhập cảng của Trung Quốc mỗi năm cũng chỉ bằng hai phần ba số dự trữ đó, đâu cần giữ nhiều. Số tiền lớn được tích trữ bao nhiêu năm nay thực ra lại đem qua giúp dân Mỹ tiêu xài!

Khi Bắc Kinh đem tiền mua trái phiếu của chính phủ Mỹ và các công ty chuyên tài trợ địa ốc tại Mỹ, dân Mỹ nên bày tỏ lòng biết ơn. Chính nhờ những món tiền cho vay lấy lãi rất ít đó cho nên lãi suất ở nước Mỹ giữ được ở mức rất thấp trong cả thập niên vừa qua. Người Mỹ vay được tiền với “giá rẻ” (lãi suất là cái giá phải trả để được dùng tiền của người khác) cho nên họ tiêu thụ thoải mái, nhất là mua nhà cửa, xe cộ thoải mái. Cách đây 20 năm, có lúc muốn mua nhà ở Mỹ phải vay tiền với lãi suất từ 10 đến 20 phần trăm! Bây giờ lãi suất lên trên 6% là người Mỹ đã than là cao quá rồi. Tại sao dân Mỹ được nuông chìu như vậy? Chính là nhờ các quan chức ở Bắc Kinh đem đô la trở về Mỹ mà cho vay. Theo luật cung cầu tự nhiên “giá” vay nợ giảm bớt. Do đó, dân mua nhà ở Mỹ nên biết ơn quý vị quan chức Bắc Kinh!

Nhưng còn một lý do khác nữa khiến dân Mỹ còn phải biết ơn thêm. Họ được mua hàng hóa rẻ do nhân dân lao động Trung Quốc làm và xuất cảng sang Mỹ. Nhiều người Mỹ, nhất là các chính trị gia trong mùa bầu cử, thường than phiền rằng chính phủ Bắc Kinh kìm giá đồng Nguyên cốt để bán hàng rẻ, gây ra hai hậu quả: Cán cân thương mại của Mỹ khiếm hụt mỗi năm vì mua bán với Trung Quốc; và nhiều công ty sản xuất ở Mỹ không cạnh tranh nổi đã phải đóng cửa. Nhưng phải nhìn vấn đề từ một góc cạnh khác mới được.

Trong năm 2005, Mỹ mua hàng từ Trung Quốc tổng cộng 243 tỷ Mỹ kim, bán sang Trung Quốc được 42 tỷ, chênh lệch hơn 200 tỷ. Nhưng dân Mỹ được mua hàng giá rẻ. Những người Mỹ nghèo hoặc trung lưu chỉ biết là vào chợ mua quần áo cho con được giá rẻ là mừng rồi, họ không cần biết đang được chính phủ Bắc Kinh “tài trợ” bằng chính sách giữ giá đồng Nguyên và bắt công nhân Trung Quốc lãnh lương thấp. Cán cân thương mại khiếm hụt mà người dân được hưởng lợi, còn than phiền nỗi gì? Nếu người Trung Quốc có nhiều tiền hơn, họ cũng sẽ mua hàng hóa và dịch vụ của Mỹ, bằng cớ là trong mấy năm qua càng ngày họ càng mua nhiều hơn, không phải là tưởng tượng. Từ năm 2000 đến nay, số hàng Trung Quốc bán sang Mỹ tăng thêm 155%, tức là tăng gấp hai lần rưỡi; nhưng số hàng Mỹ bán sang đó đã tăng gấp ba lần. Riêng trong sáu tháng đầu năm 2006 số hàng Mỹ xuất cảng sang Trung Quốc đã tăng 40% so với năm ngoái, và năm nay tổng số sẽ lên tới 60 tỷ đô la chứ không phải 42 tỷ như năm ngoái.

Còn công việc của các xí nghiệp sản xuất ở Mỹ thì sao? Công nhân Trung Quốc có “cướp” mất việc làm của dân Mỹ hay không? Nhiều xí nghiệp sản xuất, chế tạo (manufacturing) ở Mỹ phải đóng cửa thật, nhưng đó là những ngành lời lãi rất thấp, công việc trả lương thấp, nếu không vì bị hàng Trung Quốc cạnh tranh thì cũng bị các nước khác cạnh tranh. Ngành sản xuất ở Mỹ đã bỏ các công nghiệp cũ, rẻ tiền, chuyển sang các công việc mới, lương bổng và lợi nhuận cao hơn. Trong 12 năm qua, trị giá số sản xuất ở Mỹ vẫn tăng lên 50% mặc dù nhiều nhà máy cũ kỹ đã đóng cửa. Theo Hội Các Nhà Sản Xuất (National Association of Manufacturers) thì Tháng Tám vừa qua số xuất cảng hàng chế hóa ở Mỹ đã tăng với tỷ lệ cao hơn hàng nhập cảng, suốt 10 tháng liền. Nghĩa là ngành sản xuất, chế tạo ở Mỹ không chết, cũng không yếu đi vì hàng nhập cảng.

Một điều nhiều người Mỹ không để ý là nhiều món hàng gọi là “nhập cảng từ Trung Quốc” thực ra do chính các công ty Mỹ sang bên đó mở nhà máy, mua nguyên liệu từ Mỹ hoặc từ các nơi khác, ráp thành hàng hóa rồi bán lại cho công ty mẹ ở Mỹ, nhờ thế dân Mỹ được mua giá rẻ. Nhưng như vậy có phải là các xí nghiệp Mỹ đã “xuất cảng công việc” của người Mỹ sang cho người Trung Quốc làm hay không? Ðúng như vậy. Ðó là hậu quả của kinh tế toàn cầu hóa, khi lực lượng lao động ở những nước như Ấn Ðộ, Trung Hoa bước vào thị trường thế giới, cạnh tranh với công nhân ở các nước giàu. Người Mỹ phải tìm những việc làm mới không bị họ cạnh tranh mà kiếm nhiều tiền hơn. Cũng giống như bây giờ một gia đình thuê người hàng xóm trông con giúp, để bà nội trợ có thời giờ đi dậy học, kiếm thêm tiền vậy. Nhưng dù đã “xuất cảng” rất nhiều công việc ra nước ngoài, tỷ lệ thất nghiệp ở Mỹ hiện giờ vẫn thấp hơn thời gian hai mươi năm trước.

Mặt khác, tuy nước Mỹ bị khiếm hụt trong cán cân chi phó nhưng ngược lại mỗi năm vẫn có cả đống tiền do người nước khác đem đến đầu tư ở Mỹ, để bù lại. Mỗi năm tiền đầu tư nước ngoài vào Mỹ lên trên 500 tỷ Mỹ kim. Tại sao? Vì người ta vẫn thấy làm ăn ở Mỹ tốt. Mà đó không phải là chính sách của ông nhà nước nào cả. Chỉ cần để cho dân tự do làm ăn, họ sẽ đi tìm những cơ hội đầu tư có lợi nhất.

Tóm lại thì chính sách của chính phủ Bắc Kinh đã giúp cho người tiêu thụ và người mua nhà ở Mỹ được lợi rất nhiều. Cho nên khi thấy quỹ ngoại tệ dự trữ ở Bắc Kinh tăng lên tới 1,000 tỷ Mỹ kim, người Mỹ nên cảm ơn sự hy sinh của người dân Trung Quốc. Chính phủ Bắc Kinh có thể đem số tiền ngàn tỷ đó cải thiện đời sống của dân, nâng cao dịch vụ y tế, tu bổ trường học ở nông thôn, và bảo đảm người dân thành phố có hưu bổng khi về già. Nhưng nếu họ nghĩ tới người dân như vậy thì họ đâu còn dư tiền để cho nước Mỹ vay, cho dân Mỹ chi tiêu thong thả như những năm qua?

Ngô Nhân Dụng

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Áp Dụng Thuyết Trò Chơi Vào Đời Sống
Nguyễn Đình Đại Lộc



[left]http://img.photobucket.com/albums/v283/ ... /k2114.gif[/left]Cuối thập niên 1940, nhà toán học John von Neumann và nhà kinh tế học Oscar Morgenstern đã ấn hành thuyết trò chơi (Game Theory). Vào năm 1994, John Nash cùng với John C. Harsanyi và Reinhart Selten đã đoạt giải Nô-ben cho sự đóng góp vĩ đại của họ trong việc hoàn mỹ cái thuyết này. John Nash, đặc biệt hơn, với bốn bài viết trong thời đoạn ngắn ngủi (1950-1953) tóm lược bốn thuyết về điểm cân bằng trong trò chơi với nhiều đấu thủ, thuyết cộng tác, thuyết mặc cả và thuyết cộng tác giữa 2 người trong cuộc.


Thuyết trò chơi, thật ra, là sản phẩm cộng tác của rất nhiều thành viên chạy dài theo tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại. Theo Giáo Sư Paul Walker, giảng dạy tại trường đại học Canterbury của Tân Tây Lan, thuyết này đã được áp dụng từ thế kỷ thứ nhất ở xứ Ba-Bi-Lông trong việc lập luật; thuyết này đã được áp dụng để chia gia tài cho các góa phụ của những đại phú gia.


Thuyết này, tuy không được ứng dụng rộng rãi trong kinh tế hiện đại của những cường quốc văn minh, nhưng vẫn còn ảnh hưởng lớn trong kinh tế học, chính trị học, xã hội học và tâm lý học.


Cách đây vài năm, phim “The Beautiful Mind” ra đời nói về cuộc đời của John Nash cùng với sự hoàn thiện của thuyết trò chơi được khai triển ở rất nhiều cảnh trong phim.


Thuyết này có thể áp dụng trong nhiều trường hợp trong đời sống hằng ngày hòng đem lại hiệu quả tối ưu để giải quyết những mâu thuẫn giữa các cá thể đơn lẻ, giữa cá thể và tập hợp các cá thể, cũng như giữa tập hợp các cá thể với nhau. Thuyết trò chơi coi tất cả là một cuộc chơi, mà mỗi cá thể hoặc tập hợp cá thể đều muốn giành lợi thế một cách thông minh. Nó vạch ra các chiến lược, đồng thời chỉ ra các giới hạn về toán học, cho phép một thành viên nào đó có quyết định tốt nhất. Thuyết này cung cấp cho chúng ta các công cụ toán học để hiểu được các chiến lược tối đa hóa lợi ích của các thành viên có thể sử dụng khi chúng lựa chọn quyết định. Nó gần như mô hình hóa tiến trình đưa ra lựa chọn của con người.


Một ví dụ điển hình để giải thích thuyết trò chơi là tình thế lưỡng nan của những tù nhân. A và B là nghi can trong một vụ áp phe phạm pháp bị điều tra riêng biệt. Khi không có đủ bằng chứng để ghép tội thì thuyết trò chơi này là phương pháp hữu hiệu. Những tình huống được đưa ra như sau:

Nếu như cả hai không nhận tội, A và B mỗi người bị giam 2 năm,

Nếu A nhận tội, trong khi B không nhận; A sẽ nhận chỉ có 1 năm tù, còn B sẽ bị 10 năm,

Nếu cả hai đều nhận tội thì mỗi can phạm sẽ bị 5 năm tù

A sẽ luận rằng:

Nếu B nhận tội, A nên nhận tội luôn để lãnh 5 năm thay vì 10 năm nếu không nhận.

Nếu B không nhận tội, A tốt hơn là nhận với án 1 năm thay vì 2 năm nếu chối tội

Vì thế, dù B có nhận tội hay không, A tốt hơn là nên nhận tội để lãnh án nhẹ hơn. B cũng lý giãi như vậy, tốt hơn là B nên nhận tội. Rốt cuộc, cả hai can phạm đều lãnh 5 năm tù thay vì 2 năm.

Tuy thuyết trò chơi còn hạn hẹp ở một vài điều kiện, căn bản nó là một bài học hay cho trường đời. Chữ tín chính là điểm quan trọng tột cùng trong các mối quan hệ giao dịch ở bất cứ một mức độ nào. Ngôn từ, xưa, được các bậc trượng phu dùng để giao kết mối thâm tình; văn bản hợp thảo được sử dụng rất phổ biến đương thời; thì cái tín chỉ là cái chi chi, dù rất nhiều cá nhân thấu đạt nhưng rốt cuộc âu cũng chỉ phụng sự cho cái tôi quá tầm thường.

Tôi có lần ngạc nhiên các đồng sự người Mỹ rằng: "tụi mình tuy đại diện cho lớp “trí thức” nhưng thiếu đi cái cái khôn thường có khi không còn chánh niệm". Quả nhiên, cả bọn phải tán thán vì đó là điều không thể bài bác được. Có ai trong chúng ta, trong các cuộc hội thảo hay tiệc tùng, dùng âm lượng lớn vừa đủ để bạn mình hiểu được ngôn luận được đề cập? Đa số “phóng thanh” to hơn nhóm kề bên hòng ga-răn-ty đối tượng nghe được. Những người khác trong cùng một phòng đều mang cùng định tưởng, và họ sẽ nói to hơn "một tí", và…. họ chỉ hét lẫn nhau thôi.

Về kinh tế, thuyết này cũng được dùng để giải thích quan hệ hợp tác làm ăn của nhiều phe phái khác nhau. Các thành viên của OPEC (hiệp hội các nước xuất khẩu dầu hỏa) thường đi “đêm” để kiếm thêm chút đỉnh. Vì thế hội này cũng thường hội họp định kỳ để củng cố lại những hiệp ước đã định, cũng như chỉnh đốn những thành viên của hội. Về chính trị và ngoại giao, một trong những ví dụ mà nhiều học giả thích đề cập đến để giải thích trò chơi của một số chính trị gia trong thời gian gần đây là sự tuyên bố của chính phủ Bush trong việc rút lui hiệp ước tăng cường hệ thống chống tên lửa tầm xa (Anti Ballistic Missile Shield).

Sau đây là thí dụ rất căn bản dùng để giải thích những quan hệ trong nhiều lãnh vực khác nhau trong cuộc sống: hai thương gia mở hai quầy dịch vụ giải khát ở một bãi biển đông khách du lịch. Trong cách phân xử tự nhiên, thương gia A sẽ phục vụ khách ở nửa phần của bãi biển, còn ông nọ ở nửa đầu kia. Vì tánh tham, mỗi ông đều nghĩ rằng nếu dời cơ sở dịch vụ một chút về phía kia thì sẽ thêm được một ít doanh thu. Cả hai đều nghĩ như nhau, rốt cuộc, hai cơ sở dịch vụ phải nằm kề nhau. Chẳng ai có thêm một chút doanh thu nào, vả lại chi phí lại tăng thêm. Thực tế, tại sao những trạm bán xăng nằm gần nhau, những siêu thị thực phẩm cũng đều như vậy?

Trở lại “The Beautiful Mind”, có ai trong chúng ta thấy được cách xử sự tuyệt vời của John Nash để thoát ra khỏi cái thế “tiến thoái lưỡng nan”, vừa giúp chính bản thân mình thoát nạn, vừa hòa lòng với bạn học và nhất là được lòng phái "đẹp”. Ông đã rất thành công không những hoàn thiện Thuyết Trò Chơi giúp đời mà đã hòa chính bản thân mình trong cái thế giới tuyệt diệu của thuyết đó, để chứng tỏ rằng, trong tất cả mọi hoạt động, để thành công mỹ mãn, chữ "Tín" và chữ "Nhẫn" nên để ở đầu.

Trò chơi tạm chấm dứt khi đôi bên thỏa mãn ở mức tối ưu lợi ích cá nhân. Vị trí này được gọi là điểm cân bằng Nash (Nash Equilibrium). Nếu nhìn kỹ hơn, ở đời này không có cái bắt đầu cũng không có điểm kết thúc; nếu có, họa chăng chúng chỉ là một. Như vậy, mỗi cá nhân không nên trói buộc mình vào những định kiến, những ý tưởng đương thời, cũng không nên hạn chế mình ở những không gian và thời gian hạn hẹp. Vì như vậy chẳng khác gì rước khổ vào thân.

Người Việt mình thường được dạy từ thuở ban sơ nào là chữ "Tín", chữ "Nhẫn", lòng từ bi độ lượng, tâm luôn hướng thiện dù ở trong bất cứ hoàn cảnh nào. Chính vì mỗi cá nhân liên tục giữ được những đức tính nói trên, lợi ích vô biên sẽ được, không cá nhân nào bị thiệt thòi, lợi ích tổng thể của toàn cộng đồng và xã hội sẽ được nâng cao đến mức tối ưu, Nash equilibrium không còn là một điểm nữa mà có thể là cả một chuổi cân bằng.

Một ví dụ rất căn bản không ai trong chúng ta không thấy được: đó là sự sân hận trong quan hệ nhân bản cùng với lòng tham-sân-si hòng chiếm lĩnh hoặc chiếm lướt quyền hạn hoặc quyền lợi. A "xúc phạm" B, dù cố ý hay không, bình thường B sẽ tìm cách chống cự hay trả thù, và sẽ dùng đòn mạnh hơn. Tiến trình này sẽ luân hồi mãi, có thể kéo dài một ngày cho đến một năm, hay chỉ một kiếp mà có thể cho đến vạn kiếp.

Mỗi cá nhân cũng nên ý thức được rằng mọi việc không tự đến, và không tự biến, nó có thể được giải thích đơn giản bằng quan hệ toán học: "Nhân" = "Quả". Nếu đủ điều kiện thì sản phẩm sẽ thành đạt. Đầu bếp kinh nghiệm sẽ biết lửa củi, hàm lượng từng nguyên phẩm, và thời gian của từng áp dụng để tạo ra món ăn tuyệt hảo. Thiếu một tí cũng không thành như ước, dư một ít cũng không xong. Như vậy cái "dấu bằng" kia chính là "Duyên". Hữu duyên hay vô duyên đều cho ra đời một thành quả hợp với cái "Nhân Duyên" đó. Chúng ta thường nghe: "Ở hiền gặp lành", hay "Vỏ quít dày có móng tay nhọn".

Kết quả tối ưu mà từng thành viên trong cuộc chơi đạt được tùy thuộc vào cái đức và cái huệ họ đang có. Nếu không khéo xử sự, đôi bên đều bị thiệt hại. Nếu một thành viên trong một quần thể bị hại thì tổng thể không thể được lợi một cách tối ưu (kinh tế học: Deadweight Loss). Thuyết trò chơi rất hạn hẹp ở chỗ nó chỉ vạch ra tâm lý của người trong cuộc và cách đối trị để đạt đến một mức cân bằng nào đó thôi; nó không vạch ra được biện pháp để biến cái điểm cân bằng Nash thành một chuỗi cân bằng, và càng không thể đề bạt phương cách để triệt tiêu luôn cái gọi là "đạt đến sự cân bằng" (đây là mục đích tối thượng để giải thoát khỏi vòng khổ ải).

Thuyết trò chơi cung cấp cho nhân loại công cụ tuy hữu hiệu nhưng cũng còn hạn hẹp để tìm thấy sự phán đoán và tiến trình phán xét cho sự lựa chọn tối ưu của từng cá nhân trong trường đời. Chúng ta có thể áp dụng thuyết này như là một phương tiện để có được sự an thân và một ít an tâm trong cuộc sống thường nhật. Huệ quả tất nâng cao ắt đưa từng cá nhân đến những thuyết hiệu quả hơn thiên về hạnh phúc vượt không gian và thời gian.



Tham khảo:

Price Theory and Application, Steven E. Landsburg,

Actuarial Reviews, Casualty Actuary Society,

History of Game Theory, Paul Walker, Canterbury University, New Zealand.


Nguyễn Đình Đại Lộc

KhanhVan
Posts: 800
Joined: Sat Dec 11, 2004 6:11 am

Post by KhanhVan »

Anh Lính Già và Bà Xã

Đã đi chơi về chưa ??? Em gái gửi tặng " bài Tình Già " cho mà đọc !!!

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

Khánh Vân ơi ....

anh Lính già hiện đang ở Brisbane đến ngày 11 /11
mới trở về nhà ở Óc len. Tôi mới trên đó về tối thứ ba .Đi ngắm Biển Gold Coast.

Post Reply