Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

KhanhVan
Posts: 800
Joined: Sat Dec 11, 2004 6:11 am

Post by KhanhVan »

Anh Hai đó à !
Anh đang trên mạng hả ?
Em biết rồi Anh Lính Già đi từ Brisbane xuống Melbourne thăm anh Phú De , anh Cóc Tu lái xe bị đụng - sau đó vợ chồng anh Lính Già đến thăm Anh Hai ở Sydney . Rồi lại về với con ở Brisbane . Vậy ra anh chị Lính Già sẽ về lại xứ cờ Hoa vào ngày kỷ niệm 11 tháng 11 cơ đấy .
Còn Anh Hai - anh có tính giở quẻ gì với em gái không ?? Mà sao không phôn hẳn cho em gái như ngày xưa ? mà lại phải chạy vòng qua Mỹ để hỏi thăm ? Anh rõ vớ vẩn . Em gái ngày xưa cũng như ngày nay , tính nết không thay đổi . Muốn nói chuyện gì cứ tự nhiên phôn cho em gái . Kính .

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Thiệp Mời

Trân trọng kính mời


Tham dự buổi giới thiệu tuyển tập tùy bút / truyện ngắn
Du Tử Lê / Hoàng Sỹ
Giờ Điểm Danh Cuối Cùng
Của Những Cậu Học Trò Trên 60 Tuổi


Tổ chức tại:
Phòng sinh hoạt Nhật Báo Người Việt
14771 Moran Street, Westminster, CA 92683
Vào lúc 3 giờ chiều
Chủ Nhật, ngày 26 tháng 11 năm 2006


Sự có mặt của quý vị
Là một vinh dự cho Ban Tổ Chức
T.M. Ban Tổ Chức

Thành phần ban nghệ sĩ tham dự chương trình- m.c. xướng ngôn viên truyền hình: hồng vân
- diễn giả: nhà văn phạm quốc bảo
- ban nhạc stars band / cùng nhiều ca sĩ tên tuổi
- nhiếp ảnh: phan diên / hà phương hoài

thành phần ban tổ chức:
- ngọc hoài phương: (714) 906-4696
- vương trùng dương: (714) 222-8074
- nguyễn thanh huy: (714) 515-0646
- ngô văn quy: (714) 537-3838
- annie hà nguyễn: (714) 350-4864[/center]

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Xem Huyền Thoại LÊ MINH BẰNG, DVD ASIA-52
Việt Hải, Nov 03, 2006

Mấy lúc gần đây mọi người được biết nhà cầm quyền CSVN tỏ vẽ bực tức trung tâm Asia sau hai bộ DVD như Asia-50 (Vinh Danh Nhật Trường Trần Thiện Thanh “Anh Không Chết Đâu Anh”) và Asia-51 (Nhạc Vàng 30 Năm, Tình Khúc Sau Cuộc Chiến) đã đưa khán thính giả trở về với kỷ niệm quê hương, những niềm tự hào của người dân sống ở vùng đất tự do miền Nam Việt Nam hay VNCH. Tôi xem buổi mạn đàm văn học giữa hai nhà văn Huy Phương và Phan Nhật Nam về vấn đề ít nhiều đến chủ đề của những sản phẩm này của Asia. Dù người CSVN công kích cay đắng Trung tâm Asia và những ngư ời cộng tác với các chương trình ca nhạc này, nhưng đồng hương khán thính giả vẫn nhiệt tình ủng hộ vì phẩm chất và chủ đề đáng xem của nó. Tuần rồi anh Peter Morita ghé chở tôi xem phần preview Asia-52 (Huyền Thoại Lê Minh Bằng - The Legendary of Lê Minh Bằng), đây lại là một bộ DVD đáng xem nữa. Bài viết này ghi nhận những cảm nghĩ của tôi qua phần xem một bộ video có nhiều điều thích thú.

Huyền thoại Lê Minh Bằng có gì đặc biệt?

Chủ đề này nêu lên những điều về bộ 3 nhạc sĩ đã đóng góp nhiều cho nền tân nhạc Việt Nam và những thành công của họ cùng những lời ca giọng hát đã tham dự vào dòng nhạc của họ. Tên ghép Lê Minh Bằng của bộ 3 nhạc sĩ được biết là gồm Lê Dinh, Minh Kỳ và Anh Bằng. Nhạc sĩ Lê Dinh trong bài viết "Vài Kỷ Niệm với nhóm Lê Minh Bằng 1966-1975", cũng như qua bài viết của Duy Khiêm nhận định về nhóm Lê Minh Bằng thì: "Lúc đầu khi thành lập Nhóm Lê Minh Bằng (1966) thì ba người nhạc sĩ này đã họp lại và bàn bạc với nhau về đường lối sáng tác những bản nhạc của nhóm mình. Đó là làm sao mà sáng tác ra loại nhạc hợp với mọi tầng lớp dân chúng từ thành thị tới thôn quê, để ai cũng có thể thưởng thức được. Như vậy những bài hát này phải có lời ca trong sáng, giản dị, dễ nhớ và dễ thuộc lòng. Giai điệu và tiết tấu cũng nên đơn giản để dễ tập đàn, dễ tập hát (như điệu boléro, rumba slow, slow rock, boston…chẳng hạn). Nói tóm lại là nhạc và lời phải thật dễ thương, âm điệu uyển chuyển khiến người nào nghe một lần là còn nhỊ? thoang thoảng trong lòng. Vì là bước đầu thử nghiệm, nên cả nhóm không biết là những bài hát này sẽ thành công hay không, sẽ được nhiều người ưa thích hay chê bai? Để tránh trường hợp thất bại xảy ra có ảnh hưởng đến tên tuổi của cả ba nhạc sĩ này, thì cách tốt nhứt là chọn ra vài cái biệt hiệu khác nhau để ký tên lên các bài hát mới thử nghiệm này. Nhưng kết quả thật quá bất ngờ, đến nổi cả ba người nhạc sĩ này không tin rằng đó là sự thật. Vì sau khi những bài hát của nhóm tung ra, số lượng các bản nhạc in (music sheets) bán được khắp nơi đã tăng nhanh vùn vụt (sẽ kể thêm ở đoạn sau) và nhóm Lê Minh Bằng đã thành công vượt bực để trở thành “huyền thoại” sau này."

Sơ lược về tiểu sử thì nhạc sĩ Lê Dinh, tên thật là Lê văn Dinh, sinh năm 1934 tại làng Vĩnh Hựu, Tỉnh Gò Công. Sau 7 năm ở Trung Học ở tỉnh Mỹ Tho , Lê Dinh lên Sài Gòn, học chuyên môn tại trường Cao đẳng Vô Tuyến Điện từ năm 1953 đến năm 1955. Trong 2 năm học ở trường Cao đẳng Vô Tuyến Điện, Lê Dinh đã học hàm thụ với Ecole Universelle ở Paris về sáng tác. Ông bắt đầu viết nhạc từ năm 1 956 và nhạc phẩm đầu tay của ông là bài “Làng anh, làng em”, do nhà xuất bản Tinh Hoa Miền Nam ấn hành cùng năm. Lê Dinh và gia đình vượt biên năm 1978, được tàu của Canada vớt đưa qua đảo Peng Hu ở Đài Loan và định cư tại thành Phố Montréal từ tháng 10 năm 1978 đến nay. Đến Montréal, Lê Dinh làm việc
tại hãng tàu có chiếc tàu đã cứu gia đình ông cùng 35 ngườii khác trên biển Nam Hải, trong 20 năm từ năm 1979 cho đến năm ông nghỉ hưu trí là năm 1999.
Về Minh Kỳ thì ông ra đời tại Nha Trang, sinh năm 1930, năm 1959 vào định cư tại Sài Gòn. Nhưng nguồn gốc gia tộc thuộc đất Thần Kinh. Theo gia phả của dòng họ thuộc triều Nguyễn tại Huế, nhạc sĩ Minh Kỳ là cháu đời thứ năm của Vua Minh Mạng. Ông có tên thật là Nguyễn Phúc Vĩnh Mỹ, có vai vế ngang hàng với vua Bảo Đại (Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy). Hiện nay tại thôn Vỹ Dạ vẫn còn là nơi ở, mộ phần và Phủ thờ dòng họ bên ông. Ông là người con duy nhất trong một gia đình hoàng tộc khá giả tại thành phố Nha Trang và sống ở đấy cho đến sau khi ông lập gia đình vào năm 1952. Do đó Nha Trang là nơi để lại nhiều kỷ niệm đáng nhớ nhất trong cuộc đời của nhạc sĩ Minh Kỳ. Cũng chính là lý do mà từ hơn 40 năm qua, chúng ta đã có dịp thưởng thức những nhạc phẩm tiêu biểu về vùng duyên hải được gọi là `Thùy dương cát trắng" của ông như: "Nha Trang", "Nhớ Nha Trang", "Nha Trang Chiều Mưa",... Khi tình thế đất nước kêu gọi, ông gia nhập vào ngành Cảnh Sát. Mang chức vụ cuối cùng là Đại Úy Cảnh Sát, sau ngày Sài Gòn sụp đổ, ông đã bị bắt đi “học tập cải tạo” ở trại An Dưỡng, Biên Hòa nơi những người bạn tù cùng thời cho biết là ông đã chết một cách bí ẩn vào khuya ngày 31 tháng 8 năm 75, khi vừa bước sang tuổi 45, để lại 1 vợ và 9 người con. Theo video clip mà Trịnh Hội đến nhà phỏng vấn phu nhân và các con của ông, người ta không khỏi mũi lòng, xót xa về cái chết của ông. Hiện nay người con trai út của ông vẫn còn ở tại Sài Gòn, nơi ông đã sinh sống và mở lớp dạy nhạc Lê M inh Bằng gần khu vực nhà thờ Tân Định.

Còn người thứ ba trong nhóm Lê Minh Bằng chính là nhạc sĩ Anh Bằng, cũng là người lớn tuổi nhất. Tên thật của ông là Trần An Bường và sinh năm 1925 tại thị trấn Điền Hộ, thuộc tỉnh Ninh Bình gần ranh giới tỉnh Thanh Hóa, cách Hà Nội khoảng 100 cây số về hướng nam. Ông theo học trung học ở Hà Nội trước khi di cư vào Nam năm 1954 và sinh sống ở Sài Gòn cho đến năm di tản 1975.

Trước khi đến với nhau qua tên chung Lê Minh Bằng thì mỗi người trong nhóm đã tự mình tạo nên tên tuổi trong làng âm nhạc với phẩm và lượng của những tác phẩm nổi danh như các bài: "Nếu Vắng Anh", "Tango Dĩ Vãng", "Anh Cứ Hẹn", "Nỗi Lòng Ngưòi Đi", "Căn Nhà Ngọai Ô", "Chuyện Hoa Sim", "Hẹn Anh Đêm Nay", "Hận Tình", "Còn Nhớ Hay Không",…(với Anh Bằng), "Biệt Kinh Kỳ", "Thương Về Miền Trung", "Nhớ Nha Trang", "Lá Vàng Rơi", "Thương Về Miền Đất Lạnh", "Mưa Trên Phố Huế", "Thương Về Miền Trung", "Anh Tiền Tuyến, Em Hậu Phương".... ,…(với Minh Kỳ), "Tấm Ảnh Ngày Xưa", "Hà Tiên", "Huế Buồn", "Cánh Thiệp Hồng", "Tình Yêu Trả Lại Trăng Sao", "Chiều Lên Bản ThưỊ?ng", "Xác Pháo Nhà Ai", "Ga Chiều",... (Lê Dinh), còn nhiều để kể hết ra đây. Chuyện tình cờ hi hữu như huyền thoại vì đây là sự kết hợp khá lạ lùng giữa ba người nhạc sĩ dại diện cho ba miền đất nước là Nam Trung Bắc kết hợp lại với nhau. Ngoài việc sáng tác nhạc thì họ còn làm việc ở cả ba lãnh vực khác nhau, nhưng đã thật sự thành công đứng chung trong một công ty rất êm thấm qua bao năm sinh hoạt nghệ thuật âm nhạc. Lê Minh Bằng là mô thức chung tiêu biểu cho việc đoàn kết tiến đến thành công về nghệ thuật và tài chánh.

Những hoạt động chính yếu của Nhóm Lê Minh Bằng (LMB) gồm dạy nhạc, đào tạo thế hệ trẻ. Nhiều ca sĩ thành danh xuất thân từ lò Lê Minh Bằng như Trang Mỹ Dung, Nhật Thiên Lan, Kim Loan, Giáng Thu,... Tổ chức Chương Trình Tuyển Lựa Ca Sĩ được tổ chức hàng tuần ở rạp hát Quốc Thanh (nằm trên đường Võ Tánh, góc đường Nguyễn Cư Trinh), do Đài Phát Thanh Sài Gòn thực hiện và được trực tiếp truyền thanh trên toàn quốc. Hoạt động mạnh mẽ là cùng sáng tác nhạc. Công ty Lê Minh Bằng gặt hái được những thành quả tài chánh khổng lồ nhất trong phạm vi sáng tÊ?c tân nhạc của thuở vàng son đó. Ngoài ra LMB còn là cố vấn cho hãng dĩa hát Asia và lập ban nhạc Sóng Mới trình diễn nhạc trên Đài Phát Thanh Sài Gòn.

Duy Khiêm viết về nhiệm vụ của những thành viên trong nhóm Lê Minh Bằng như sau:

"Điều đầu tiên mà mọi người vẫn thường hay thắc mắc là trong một bản nhạc của nhóm Lê Minh Bằng thì ai là người viết nhạc và ai là người viết lời (tức là giai điệu và ca từ)? Theo sự tiết lộ của thi sĩ Nguyên Sa, là một người bạn rất thân với nhạc sĩ Anh Bằng, qua một bài viết trước kia thì hầu như nhạc sĩ Anh Bằng là người sáng tác tất cả những bài hát của nhóm Lê Minh Bằng. Ông sáng tác trọn vẹn cả nhạc lẫn lời của các bài ca. Hai nhạc sĩ kia là Lê Dinh và Minh Kỳ chỉ góp ý và sửa chữa chút ít mà thôi trước khi cho phổ biến. Sự phân công về nhiệm vụ của từng người cũng rất lạ lùng và rất thuận tiኻ?n tùy theo nghề nghiệp và sở thích của mỗi người.

Nhạc sĩ Anh Bằng vốn là người trầm lặng, ít nói, không thích phô trương xuất hiện trên sân khấu hay trước đám đông. Ông thích dành nhiều thì giờ cho việc suy tư, trầm mặc trong yên lặng để sống với sáng tác theo tâm hồn nghệ sĩ của ông. Ông có một tâm hồn hết sức bén nhạy, dễ xúc cảm và vô cùng lãng mạn như lời Nguyên Sa thuật lại. Nên ông lãnh phần sáng tác các ca khúc cho nhóm. Còn nhạc sĩ Lê Dinh là công chức ở đài phát thanh Sài Gòn, nên ông có dịp theo dõi, liên lạc với các ban nhạc cộng tác với đài. Ông cũng góp ý và giú p cho việc phát thanh, phổ biến những sáng tác mới theo yêu cầu của khán giả khắp nơi liên lạc về đài. Riêng Minh Kỳ là Đại Úy cảnh sát nên lãnh nhiệm vụ giao dịch với các nhà in để thúc hối họ in ra kịp thời hạn những bản nhạc cần gởi đi các đại lý, cửa hàng văn hóa phẩm để bán."

Trước năm 75 các bản nhạc (music sheet) có ghi lời và note nhạc được in trên giấy khổ to (11.00"x17.00") xếp làm đôi. Mỗi một bản nhạc như vậy được bán với giá 5 đồng VNCH. Có nhiều bài hát của nhóm Lê Minh Bằng vừa xuất bản lần đầu 10,000 ấn bản đã bán sạch hết ngay trong tuần lễ đầu tiên. Các đại lý liên lạc yêu cầu tái bản thật nhanh để tung ra thị trường. Thành công vượt bực trong những nhạc phẩm của nhóm Lê Minh Bằng phải nói là bản “Chuyện Tình Lan Và Điệp”. Với số thu kếch sù như vậy thì việc chia chác ra sao? Bài Duy Khiêm kể là:

"Lợi tức của nhóm Lê Minh Bằng thu vào được hàng triệu đồng như vậy, thì việc phân chia làm sao? Nhạc sĩ Anh Bằng cho biết là mọi khoản tiền kiếm được đều được chia ra đồng đều làm ba phần cho ba nhạc sĩ, bất kể là nhiệm vụ của mỗi người ra sao. Công ty huyền thoại Lê Minh Bằng này đã hoạt động liên tục thành công như vậy đó trong suốt chín năm trời (1966-1975) và đã kiếm được hàng chục triệu đồng VNCH và họ cũng đã là những nhạc sĩ giàu nhứt thời đó. Nhưng ngoài việc hợp tác làm ăn chung này thì cả ba nhạc sĩ này cũng có làm ăn riêng rẽ, tùy theo hoàn cảnh và điều kiện của từng người."

Người có tinh thần bén nhậy về khả năng kinh doanh không ai khác hơn là Anh Bằng, bài viết nói về khía cạnh này là:

"Giàu nhất trong bộ ba này là nhạc sĩ Anh Bằng. Ngoài lãnh vực kinh doanh âm nhạc, gia đình ông còn có những cơ sở thương mại khác hái ra bộn tiền như hệ thống các quán cà phê có thương hiệu là Làng Văn ở đường Phan Kế Bính và Trần Quang Khải (Sài Gòn). Chủ nhân của lò bánh mì Michou Frères ở đường Trần Quang Khải cũng là Anh Bằng. Ông cũng là sở hữu chủ của một công ty xe đò chạy tuyến đường Sài Gòn–Đà Lạt. Tất cả những công việc giao dịch kinh doanh này ông đều giao cho các quản lý điều khiển để ông dành hết thì giờ vào nghệ thuật âm nhạc của ông." Như đã đề cập, nhạc sĩ Anh Bằng và gia đình di tản sang Mỹ từ năm 1975 với số tuổi vừa đúng tri thiên mệnh, 50, nhạc sĩ Anh Bằng vẫn tiếp tục hoạt động trong lãnh vực âm nhạc với Trung tâm sản xuất và phát hành băng nhạc cassettes tên là Dạ Lan trong những năm 1981-1990. Là một trung tâm sản xuất băng nhạc thành công, Anh Bằng cho thấy năng khiếu âm nhạc và kinh doanh được phối hợp nhịp nhàng như thuở trước 75. Rồi sau này ông về làm cố vấn cho Trung Tâm Asia Entertainment bắt đầu từ năm 1990. Trong suốt ba mươi mốt năm qua, nhạc sĩ Anh Bằng đã không ngừng sáng tác nhạc. Nếu trước năm 1975 số lượng các nhạc phẩm phổ thơ của ông chiếm chừng 10% trong tổng số các bài hát do ông sáng tác, thì sau này ra hải ngoại số bài hát phổ thơ hoặc lấy ý từ những bài thơ sẽ nhiều hợn điển hình như Trúc Đào, Chuyện Giàn Thiên Lý, Chuyện Tình Hoa Trắng, Chuyện Hoa Sim, Hiến Chương Tình Yêu, Anh Còn Nợ Em, Gửi Người Dưới Mộ, Truyện Kiều,...”(Nhạc sĩ Lê Dinh)

Những nhạc phẩm phổ từ thơ:

Trong DVD Asia-52, tôi nhớ khi xem tiết mục về Hồ Dzếnh và bài "Anh Cứ hẹn", nhạc Anh Bằng được viết năm 1986, phổ từ thơ Hồ Dzếnh, bài "Ngập Ngừng":

"Anh cứ hẹn nhưng anh đừng đến nhé
Để một mình em dạo phố lang thang
Quán vắng quanh đây nụ hôn quá nồng nàn
Em bước vội để che hồn trống vắng

Anh cứ hẹn nhưng anh đừng đến nhé
Để chuyện tình em đợi đến si mê
Những lúc xa nhau là tiếng sóng gần kề
Không dỗi hờn xót xa làm ướt mi

Tình yêu chỉ đẹp phút hẹn thề
Tình yêu sẽ buồn khi bước vào vòng đam mê
Tình như trái mộng chín rung rinh trên đầu cành
Tình như nắng lụa hóa mộng mơ..."

Theo bài viết của Nguyễn Tấn Long dựa vào tài liệu Việt Nam Thi Nhân Tiền Chiến, quyển hạ. Ấn Hành Đông Xuân thì:

Thi Sĩ Hồ Dzếnh có tên thật là Hà Triệu Anh, sinh khoảng năm 1919. Ông cho xuất bản những tác phẩm sau:

- Quê Ngoại (thơ, gồm những thi bản góp nhặt từ năm 1935 đến 1942, xuất bản năm 1943);
- Hoa Xuân Đất Việt (thơ, gồm 15 thi bản);
- Chân Trời Cũ (tập Hồi ký, xuất bản năm 1942 và do nhà Hoa Tiên, Sài-gòn tái bản năm 1968);
- Một Truyện Tình 15 Năm Về Trước (tiểu thuyết, ký bút hiệu Lưu thị Hạnh, do nhà Hoa Tiên, Sài Gòn tái bản năm 1968);
- Hai Mối Tình hay Tiếng Kêu Trong Máu (truyện dài, ký bút hiệu Lưu thị Hạnh, do nhà Hợp Lực, Sài Gòn tái bản năm 1968);
- Dĩ Vãng (đoản thiên tiểu thuyết)
- Những Vành Khăn Trắng (tiểu thuyết, ký bút hiệu Lưu thị Hạnh);
- Đường Kẽ Mãnh (truyện ngắn, Trung Bắc chủ nhật ,số 187, 12-12-1943);
- Nhà Nhiều Con (truyện ngắn, Trung Bắc chủ nhật, số 206, 11-6-1944).
- và nhiều truyện ngắn đăng rải rác trong các giai phẩm xuất bản vào thời tiền-chiến.

Vào thời tiền ch iến, có một tập thơ ra đời: tập Quê Ngoại của Hồ Dzếnh. Nội nghe cái tên ông cũng đủ làm người ta lưu tâm đến tác phẩm. Và nhà xuất bản Á châu ấn cục đã ưng ý tác phẩm khi giới thiệu cùng độc giả những lời sau đây:

"Lần đầu tiên thi ca Việt-nam được tô điểm một cách trau chuốt bằng ngọn bút linh diệu của nhà thơ ngoại quốc."

Hồ Dzếnh là người gốc Minh Hương, khiếu làm thơ của ông là sự thiên phú cho những áng thơ thật mượt mà, ví dụ bài "Ngập Ngừng" (tức nhạc "Anh Cứ Hẹn"), các bài khác của ông như: "Tưởng Chuyện Ngàn Sau", "Tình Xưa", "Sáng Quê", "Xuân Đôi Ta",... Nhà xuất bản Á châu ấn cục viết tiếp:

"Tên tuổi người Minh-hương ấy, văn học quốc ngữ không nề hà gì mà chẳng đón tiếp như đã đón tiếp bao nhiêu nhà văn hữu tài."

Bài hát "Anh Cứ hẹn", hòa âm do Sỹ Đan, trình bày bởi 4 giọng ca trẻ gồm Cardin, Trish Thùy Trang, Thùy Hương và Dạ Nhật Yến.

Asia-52 còn có mục Trịnh Hội phỏng vấn hai nhà thơ Yên Thao và Kiên Giang. Tôi cũng tham khảo nhiều tài liệu văn học, nên những tài liệu sống mà Hội lấy được từ các nhân chứng sống sẽ rất tốt cho các thế hệ mai sau này biết được các văn nghệ sĩ sống ra sao vào thời kỳ của họ.

Nhà thơ Yên Thao có tên thật là Nguyễn Bảo Thịnh, sinh ngày 21-1-1927 quê Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Bài thơ của ông về giàn thiên lý có tên là "Nhà Tôi", có cốt chuyện là vào năm 1949, ông công tác văn nghệ tại Quân đội liên khu 3, theo một đơn vị đánh vào một đồn binh Pháp đồn trú cạnh sông ở một làng đồi.Trong lúc đợi chờ giờ nổ súng, ông trò chuyện với anh em và được biết ở đơn vị này có một cậu quê ở ngay làng đồi đó. Phía bên ấy đang còn mẹ và vợ. Cậu ta lấy vợ được chừng tháng thì chiến tranh bùng nổ. Chàng trai lên đường đi kháng chiến, chia tay người vợ trẻ. Trong câu chuyện, mấy lần cậu ta nhắc tới giàn thiên lý của nhà mình. Yên Thao rất thích câu chuyện và viết nên bài thơ "Nhà Tôi". Có lẽ người viết đã hòa nhập được với người kể nên bài thơ sau này được phổ biến rộng rải khắp nơi.

Chuyện tình này được nhạc sĩ Anh Bằng đưa vào nhạc qua tựa bài "Chuyện Giàn Thiên Lý" như sau:

"Tôi đứng bên này sông, bên kia vùng lửa khói.
Làng tôi đây, bao năm dài chinh chiến,
từng lũy tre muộn phiền.
Tôi có người vợ ngoan.
Đẹp như trăng mười sáu, cưới rồi đành xa nhau.

Nhớ đôi môi nàng hiền, xinh xinh màu nắng.
Má nàng hồng thơm mùi thơm lúa non.
Ai ra đi mà không từng bịn rịn.
Xa người yêu mà dễ mấy ai vui.

Em nhìn theo bằng nước mắt chia phôi.
Tôi mạnh bước mà nghe hồn nhỏ lệ
Này anh lính chiến, người bạn pháo binh.
Mẹ tôi tóc sương từng đêm nghe đạn pháo rơi thật buồn.

Anh rót cho khéo nhé, kẻo lầm vào nhà tôi.
Nhà tôi ở cuối chân đồi,
có giàn thiên lý, có người tôi thương."

Về nhà thơ Kiên Giang thì tiểu sử của ông có tên thật Trương Khương Trinh, bút hiệu khác Hà Huy Hà; sinh ngày 17.2.1929 tại Rạch Giá. Hai tác phẩm đã xuất bản là:"Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím" (1962) và "Lúa Sạ Miền Nam" (1970).

Điều mà tôi nhớ khi xem về tiểu sử Nguyễn Bính lúc ông trôi dạt xuống miệt Rạch Giá năm 1942, ông sống giang hồ lãng tử, có những ngày không có tiền mua gạo, thì Kiên Giang Hà Huy Hà lén gia dình xúc gạo đem tiếp tế cho Nguyễn Bính, hai ông thân nhau, tâm đắc qua thi ca trữ tình, lãng mạn. Ngày nay cả hai đã gặp nhau trong vườn hoa văn học sử Việt Nam. Bài "Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím" là tác phẩm nổi tiếng của nhà thơ Kiên Giang Hà Huy Hà, được viết năm 1958. Sau bài thơ này được nhạc sĩ Anh Bằng phổ thành nhạc là bài "Chuyện Tình Hoa Trắng", nói về một chuyện tình lãng mạn và cảm động:

"Lâu quá không về thăm xóm đạo
Từ ngày binh lửa cháy quê hương
Khói bom che lấp chân trời cũ
Che cả người thương nóc giáo đường

Từ lúc giặc tràn qua xóm đạo
Anh làm chiến sĩ giữ quê hương
Giữ màu áo tím cành hoa trắng
Giữ cả trường xưa nóc giáo đường
Giặc chiếm lầu chuông xây ổ súng
Súng gầm vang đổ gạch nhà thờ
Anh gom gạch nát xây tường cũ
Chiếm lại lầu chuông nóc giáo đường

Nhưng rồi người trai anh hùng ấy
Đã chết hiên ngang dưới bóng cờ
Chuông đổ ban chiều hồi vĩnh biệt
Tiễn anh ra khỏi cổng nhà thờ..."

Kế đến là người thi sĩ có dính dấp đến phản kháng nhà cầm quyền Cộng Sản ngay những năm của phong trào Nhân Văn Giai Phẩm. Đó là thi sĩ Hữu Loan. Tiểu sử của ông được ghi nhận như sau:

Hữu Loan tên thật là Nguyễn Hữu Loan, quê anh ở Thôn Vân Hườn, xã Nga Lĩnh, Huyện Nga Sơn, Thanh Hoá. Cha Hữu Loan là một nhà nho nghèo. Lúc còn nhỏ Hữu Loan thường nghe cha mình ngâm thơ của cụ Nguyễn Công Trứ và Hữu Loan đã thấm nhuần hai câu thơ :

"Làm trai đứng ở trong trời đất.
Phải có danh gì với núi sông."

Năm 1956, phong trào Văn nghệ sĩ đòi tự do sáng tác, tạo ra thành một vụ án văn học và chính trị. Nhiều văn nghệ sĩ trong nhóm “Nhân văn - Giai phẩm” bị treo bút, bắt đi lao động, cải tạo, tù đày. Hữu Loan vì tham gia các tạp chí “Nhân văn” và “Đất mới” nên bị quản thúc tại quê nhà, và cấm không được liên lạc với ai. Hữu Loan với phong cách bất khuất, không sợ bạo lực, ông sống với lương tâm và lẽ phải. Ông chỉ Hội chữ "Tâm" trên bàn thờ qua nét thư họa là điều ông tin tưởng và tôn thờ, mỗi người hãy sống với cái "Tâm" của chính mình . Hữu Loan được quần chúng mến mộ qua bài thơ nổi danh “Màu Tím Hoa Sim”, vì nó phản ảnh mối tình thật của ông ngoài đời. Một bài thơ được phổ biến trong nhiều thập niên qua, rồi nó đã được nhiều nhạc sĩ phổ nhạc thành những bài hát làm say mê quần chúng từ thành thị đến tận nông thôn miền Nam ngày trước. Nhạc sĩ Anh Bằng cũng đã phổ bài thơ này thành "Chuyện Hoa Sim":

" Rừng hoang đẹp nhất hoa màu tím
Chuyện tình thương nhất chuyện hoa sim
Có người con gái xuân vời vợi
Tóc còn ngăn ngắn chưa đầy búi

Ngày xưa nàng vẫn yêu màu tím
Chiều chiều lên những đồi hoa sim
Đứng nhìn sim tím hoang biền biệt
Nhớ chồng chinh chiến miền xa xăm

Ôi lấy chồng chiến binh
Lấy chồng thời chiến chinh, mấy người đi trở lại
Sợ khi mình đi mãi, sợ khi mình không về
Thì thương người vợ bé bỏng chiều quê
Nhưng không chết người trai khói lửa
Mà chết người em nhỏ hậu phương
Mà chết người em gái tôi thương..."

Liên khúc ba nhạc phẩm "Chuyện Hoa Sim", "Chuyện Giàn Thiên Lý" và "Chuyện Tình Hoa Trắng của Anh Bằng được Trúc Hồ soạn phần hòa âm qua 5 giọng hát Băng Tâm, Y Phụng, Đặng Thế Luân, Mạnh Đình và Ngọc Huyền.

Tiết mục thơ sau cùng mà tôi nhớ là về thi sĩ Nhất Tuấn và bài thơ "Hoa Học Trò" của ông được nhạc sĩ Anh Bằng phổ nhạc vào năm 1965 dưới tên "Bây Giờ Còn Nhớ Hay Không". Nhạc sĩ Phạm Anh Dũng giới thiệu tôi với thi sĩ Nhất Tuấn. Trong một dịp nói chuyện phone với tác giả của bài thơ "Hoa Học Trò", ông kể lại như sau: "Tôi làm bài thơ Hoa Học Trò vào khoảng cuối thập niên (1960).

Thành thật mà nói, tôi bị ảnh huởng bởi mấy câu thơ của nhà thơ đàn anh, thi sĩ Nguyễn Tố, đại khái là tôi thích mấy câu lục bát này của Nguyễn Tố như sau:

"Nàng rằng hoa rụng mình ơi
Nhặt cho đầy giỏ rồi chơi vợ chồng
Thế mà khi tới loan phòng
Thì ai tôi có là chồng nàng đâu…"

Và tôi làm bài thơ của tôi khi nhớ lại là cái thuở ngày xưa còn bé cũng chơi với mấy đấng bạn nhi đồng nam nữ xoa hoa dâm bụt, hoa phượng vào má nhau cho đỏ cho đẹp như cô dâu ngày đám cưới. Chỉ có vậy thôi. Rồi cái số của tôi là, ngay từ những bài thơ đầu, tự dưng ưa làm thơ mà nhiều xui xẻo khi vào đoạn kết những bài thơ, để cho có vẻ lâm li bi đát buồn vơi trong các tập "Truyện Chúng Mình" của những ngày xa xưa đó lại có bài thơ "Hoa Học Trò" mà bạn hỏi."

Thi sĩ Nhất Tuấn rất vui tính và hẳn mang nhiều nét nghệ sĩ tính, ông cho biết bài thơ "Hoa Học Trò" được 3 nhạc sĩ phổ thành nhạc là nhạc sĩ Hoàng Lang (giáo sư dạy nhạc tại trường trung học Petrus Ký, rồi nhạc sĩ Nhật Trường Trần Thiện Thanh và nhạc sĩ Anh Bằng. Sơ qua về tiểu sử của Nhất Tuấn thì tên thật của ông là Phạm Hậu, phục vụ trong QLVNCH, cấp bậc trung tá (04/75) tại Tổng Cục Chiến Tranh Chính Tri. Theo thời gian tùng sự thì ông lần luợt chỉ huy các đơn vị Văn Nghệ Quân Đội, các Đài Phát Thanh Quân Đội tại Đông Hà, Huế, và Sài Gòn. Bên ngành dân sự, không kể nhiều chức vụ chỉ huy khác, chỉ riêng trong ngành truyền thông, ông cũng là Giám Đốc các Đài Phát Thanh Nha Trang, Sài Gòn, và sau là Hệ Thống Trưởng Hệ Thống Truyền Thanh Việt Nam của Việt Nam Cộng Hòa. Về sau ông qua nhận chức vụ Tổng Giám Đốc Việt Tấn Xã. Tưởng cũng nên ghi nhận thêm vào năm 1954 ông phục vụ trong binh chủng Nhảy Dù, năm 1961 thuyên chuyển sang Thuỷ Quân Lục Chiến. Ông yêu đời lính chiến. Chính vì thế ông đã sáng tác hai tác phẩm "Đời Lính", tập truyện 1 và 2 về đời quân ngũ do nhà sách Khai Trí, Sài Gòn xuất bản và tái bản trước 1975. Thi phẩm của Nhất Tuấn mà nhiều người biết đến là tác phẩm "Truyện Chúng Mình". Hiện nay ông sống tại thành phố Seatt le, thuộc tiểu bang Washington, đã về hưu sau gần 20 năm làm công chức cho chính phủ Hoa Kỳ.

Bài ca "Bây Giờ Còn Nhớ Hay Không" được trình bày qua hai giọng hát truyền cảm của Nguyên Khang và Diễm Liên :

"Bây giờ còn nhớ hay không
Ngày xưa hè đến phượng hồng nở hoa
Ngây thơ anh rủ em ra
Baỏ nhặt hoa phượng để mà chơi chung
Bây giờ còn nhớ hay không ?
Anh đem cánh phượng tô hồng má em
Ðể cho em đẹp như tiên
Nhưng em không chịu sợ lên trên trời
Lên trời hai đứa hai nơi
Thôi em chỉ muốn làm người trần gian
Hôm nay phượng nở huy hoàng
Sao tình hai đứa lỡ làng duyên nhau
Rưng rưng phượng nở trên đầu
Tìm em tối biết tìm đâu bây giờ ? "

Tựu trung, tác phẩm văn nghệ Asia-52 đã đưa khán giả đi từ Hà Nội cổ kính đến Huế thơ mộng, rồi vào cao nguyên Đà Lạt, sang vùng duyên hải Nha Trang, rồi xuống tận cùng phía nam có thiên nhiên hùng vĩ của Hà Tiên, bao trùm cả một bầu trời quê hương đất nước với nhạc của nhóm LMB. Tôi nghe tiếng nhạc có "Đêm Nguyện Cầu" với bộ ba Trung Chỉnh, Chế Linh và Thanh Lan, có "Bóng Đêm" với một Dalena của Mỹ Châu phối hợp với chất giọng Thái Doanh Doanh của Phương Đông, có "Nỗi Lòng Người Đi", có "Linh Hồn Tượng Đá" với Minh Thông và Khải Tuấn,... có nhiều bài của LMB được trình bày. Nhưng tiết mục khá đặc biệt là sự xuất hiện của nhóm Sao Băng. Bài "Ly Café Cuối Cùng" trước đây tại Sài Gòn do ban tam ca Sao Băng hát, những ngày xưa còn có Duy Mỹ, bây giờ chỉ còn lại Thanh Phong va Phương Đại. Khán giả không khỏi xúc động khi nghe những chia sẻ Thanh Phong giới thiệu về người bạn mình đi đứng khó khăn và nói chuyện không còn bình thường nữa sau một cơn bạo bệnh. Bài ca kỷ niệm đó nay được thế hệ trẻ ôn lại quá khứ năm xưa, âm thanh ngày cũ với ba giọng hát trẻ: Duy Trường và Tường Nguyên và Tường Khuê.

Nhạc LMB có nhiều tác phẩm đã vào quảng đại quần chúng. Tôi lắng nghe âm thanh mới lạ từ kỹ thuật hòa âm, phối khí của Trung Tâm Asia do những tài năng trẻ như Trúc Sinh, Trúc Hồ và Sỹ Đan. Chính họ đã đem luồng gió âm nhạc khác biệt trong cái mới lạ của âm nhạc Asia. Asia hướng về tương lai tươi trẻ của nhiều người trẻ, bảo tồn nét văn hóa cũ, áp dụng đường hướng mới.

Asia bị nhà cầm quyền CSVN nghiêm khắc lên án. Không hề chi. Đường nào ngay thẳng thì ta hãy cứ đi. Như nhà thơ Hoàng Cầm nhắn nhũ người trẻ hãy làm những gì mình thấy đúng hay như với nhà thơ Hữu Loan nhắn gửi hãy sống với cái Tâm chân thiện của chính mình. Nhà thơ Tagore đã từng nói: "Bạo lực thất bại trước lương tâm con người". Tôi cầu chúc các bạn trẻ Asia hãy vững tâm làm theo ý nguyện mình để bảo vệ nét Chân Thiện Mỹ, vì đó là nền tảng của nghệ thuật, các bạn nhé!

Hoạt cảnh cuối cùng được MC Leyna Nguyễn dùng Anh ngữ diễn đạt đến các em thuộc thế hệ nhỏ không mấy rành Việt ngữ như lời chúc an bình cho xứ sở Việt Nam:

"Throughout this program, we enjoyed the music of LMB, their messages are simple and clear that let love replaces hatred, and may there be peace on earth. So that we can all enjoy the wonderful things that life offers. But in this world today, wars are still being fought, the sound of gunfire still rings in the distance, and life is still being sacrificed in the pursuit of peace. Please join us in a final song as we pray for a world, in which men will lay down their guns and embrace one another with kind hearts, a world of peace, love, liberty and justice for all.".

Kế tiếp MC Nam Lộc phát biểu như lời kêu gọi nguyện cầu cho quê hương Việt Nam:
"Thế giới mà chúng ta đang sống vẫn đắm chìm trong khói lửa chiến tranh. Súng vẫn nổ và máu vẫn rơi. Khổ đau vẫn bao trùm nhân loại. Xin quý vị hãy cùng chúng tôi dâng lên lời nguyện cầu để mọi người đều được sống bình yên và tận hưởng những gì cao quý nhất mà Thượng Đế đã ban cho: Đó là Nhân Quyền, Tự Do, Công Lý và Hòa Bình qua nhạc phẩm Đêm Nguyện Cầu, của LMB. Sẽ được toàn thể nam nữ nghệ sĩ góp mặt trong chương trình hôm nay trình bầy gởi đến quí vị sau đây."

Bài hát "Đêm Nguyện Cầu". được toàn thể ca sĩ tham dự Asia-52 đồng ca:

"Hãy lắng tiếng nói vang trong tâm hồn mình người ơi
Con tim chân chính không bao giờ biết đến nói dối
Tôi đi chinh chiến bao năm trường miệt mài
Và hồn tôi mang vết thương vết thương trần ai

Có những lúc tiếng chuông đêm đêm vọng về rừng sâu.
Rưng rưng tôi chấp tay nghe hồn khóc đến rướm máu
Bâng khuâng nghe súng vang trong sa mù
Buồn gục đầu nghẹn ngào nghe non nước tôi trăm ngàn ưu sầu

Thượng Đế hỡi có thấu cho Việt Nam này
Nhiều sóng gió trôi dạt lâu dài.
Từng chiến đấu tiêu diệt quân thù bạo tàn.
Thượng Đế hỡi hãy lắng nghe người dân hiền.
Vì đất nước đang còn ưu phiền.
Còn tiếng khóc đi vào đêm tường triền miên.

Có những lúc tiếng chuông đêm đêm vọng vኻ? rừng sâu.
Rưng rưng tôi chấp tay nghe hồn khóc đến rướm máu
Quê hương non nước tôi ai gây hận thù tội tình
Nhà Việt Nam yêu dấu ơi bao giờ thanh bình?"

Việt Hải Los Angeles

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Văn Cao và sông Huế
TÔ KIỀU NGÂN
Văn Cao đến với Huế từ những năm 40 và đã qua nhiều đêm trên sông Hương. Ông không gọi sông Hương như tên gọi mà gọi là “Sông Huế”:

Một đêm đàn lạnh trên sông Huế
Ôi nhớ nhung hoài vạt áo xanh


NS Văn Cao thời thanh niên

Cách gọi thật độc đáo và gây ấn tượng. Đã có người Huế, giọng Huế, ca Huế, nón Huế thì sao không gọi là sông Huế? Mới nghe đã thấy con sông nổi lên với những nét riêng. Một nét riêng tuyệt vời của sông Huế có lẽ đó là con sông âm nhạc, con sông chảy vớI tiếng đàn ca đêm đêm, không nơi nào có. Ở đó Văn Cao đã gặp một người tri kỷ. May mắn hơn Bạch Lạc Thiên ngày xưa trên bến Tầm Dương, phải năn nỉ mấy lần người ca nữ mới tấu khúc Tỳ Bà, họ Bạch chỉ đóng vai trò người khách ngồi nghe rồi phải khóc bởi tiếng đàn; Văn Cao là người bắt thiên hạ phải vui buồn, thương cảm theo mình, ông đã đàn cho người đẹp hát và có khi ông chủ động đàn cho nàng nghe, xem như đã gặp Chung Tử Kỳ.

Như Tử Kỳ nghe nhạc Bá Nha
Em nghe anh dạo khúc thu xa …
Thuyền xuôi về bến mô thuyền hỉ?
Sông trắng bờ xa lộ bóng nhà.

Họ cứ đàn hát cho nhau nghe. Thuyền cứ trôi trên sông Huế. Sương phủ mịt mùng khiến dòng sông trắng xoá không còn biết là thuyền tấp vào bến nào. Vĩ Dạ hay Kim Long, Bao Vinh hay Gia Hội? Không biết nữa! Thuyền trôi, nhạc trôi, lơ lững, mơ hồ, nửa thực nửa mơ ….

Hình như Văn Cao có kỷ niệm gì sâu sắc với mùa thu nên trong những ca khúc đầu đời của ông, bài nào cũng nói đến mùa thu:

Đây mùa thu chết
Nghe mùa đang rớt
Rơi theo lá vàng
(Buồn tàn thu)

Đến "Cung đàn xưa" thì:

Hồn cầm phong hương hình dáng thu tàn
Giờ còn mong chi người hát theo đàn

Trong "Trương Chi" thì:

Ôi tiếng cầm ca thu tới bao giờ…

Với sông Huế, mùa thu đó càng trở về thấm đậm: giữa bài thơ bảy chữ bỗng nổI lên hai câu bình thanh:

Ôi đàn u hoài gì mùa thu?
Ôi đàn u hoài gì mùa thu?


Những ca khúc đầu đời của nhạc sĩ Văn Cao, bài nào cũng nói đến mùa thu...

Mười bốn tiếng bình thanh vang lên như một lời than đầy hoài niệm. Tiếng đàn thu hẳn đã làm người ca nữ trên sông Hương xúc động cho nên độ u sầu trong giọng hát của nàng cũng tăng theo:

Giọng hát sầu chi phấn nữ ơi
Từng canh trời điểm một sao rơi
Tà tà trăng lặn hiu hiu gió
Ánh lửa chài xa thấp thoáng trôi

Nét bút thủy mặc của Văn Cao đã chấm phá đúng cảnh sông Huế về khuya. Tất cả lặng im. Trên sông chỉ còn tiếng đàn ca dìu dặt. Gió hiu hiu thổi. Ánh lửa chài lung linh theo chiếc xuồng nhỏ của ngư ông trôi thấp thoáng xa xa… Sông Huế quả đã có lúc mang hình ảnh của một bến Phong Kiều hay một góc Tần Hoài. Không gì thú vị khi đi thuyền trên sông Huế, thức dậy giữa một biển sương trắng mịt mùng, nghe tiếng gà eo óc, không biết là thuyền mình đang lạc đến bến nào. Đó có thể là tiếng gà xao xác từ phường Thọ Lộc hay xóm Kim Luông. Lưu Trọng Lư viết về sông Hương cũng tả tiếng gà:

Tiếng gà đã gáy ran trong xóm
Bình minh đã rạng khóm tre cồn…
( Rượu giang hồ)

Câu thơ giản dị như lời kể chuyện. Văn Cao thì mơ màng, thanh thoát hơn, ông viết:

Giòng Tiêu Kim Thủy gà xao xác
Ngẩn thấy kinh kỳ khói vấn vương

Tiêu Kim Thủy là một tên gọi khác của sông Hương. Giờ đó là giờ gà gáy sáng, đêm vui đã tàn:

Anh cạn lời thôi, em dứt nhạc
Biệt ly đôi phách ngó đàn tranh
Một đêm đàn lạnh trên sông Huế
Ôi nhớ nhung hoài vạt áo xanh
(Một đêm đàn lạnh trên sông Huế)

Trong bài thơ này Văn Cao có sử dụng ba phương ngữ Huế, đó là ba từ hỉ, đôi và ngó. Thông thường, khi cuộc đàn ca kết thúc, người ca nữ xếp cổ phách cho vào túi lụa, người nhạc sỹ treo đàn lên. Từ đôi của Huế có nghĩa là “ném đi, liệng đi” Không biết Văn Cao đã dùng theo nghĩa nào? Chắc không phải theo cái nghĩa… “liệng cổ phách đi” mà ngụ ý chỉ còn “đôi” nhịp đàn nửa là Tử Kỳ và Bá Nha chia tay nhau giống như Phạm Hầu đã viết trong bài Dạ Nhạc:

... Đến phím sau cùng là biệt ly

“Ôi nhớ nhung hoài vạt áo xanh”… sông Huế đã trao cho Văn Cao thêm một kỷ niệm, làm đậm thêm ý nhạc thu xa. Người ca nhi mặc áo xanh, Văn Cao mặc áo xanh? Ai nhớ nhung ai hay cả hai cùng nhớ đến những giọt lệ thấm đẫm vạt áo xanh của Giang Châu - Tư Mã , kết quả của một đêm đàn lạnh trên sông, đắm hồn trong tơ trúc.

T.K.N

User avatar
macco
Posts: 3557
Joined: Mon Jan 17, 2005 8:04 am

Post by macco »

"Mua" chồng ngoại!

Nam Thanh


Trong những năm gần đây, trào lưu lấy chồng ngoại gần như đã trở thành "mốt" đối với nhiều phụ nữ Việt Nam. Song song với thực trạng những cô gái quê xếp hàng dài chờ lấy chồng Đài Loan, Tân Gia Ba, Đại Hàn... thì tại Sàigòn và một số địa phương lân cận lại có một nghịch lý diễn ra, đó là phong trào "mua" chồng ngoại!

Những cuộc hôn nhân xa lạ

Trong một lần vào nhà hàng V.X trên đường Phạm Ngọc Thạch, Q3, tình cờ tôi và người bạn chứng kiến cảnh đám cưới của một đôi nam nữ trạc chừng 40 tuổi. Sẽ không ai có thể phát hiện ra điều bất bình thường của đám cưới này nếu không có cảnh loe hoe vài thực khách cùng sự vắng mặt của các đấng sinh thành. Vẫn cảnh trao nhẫn đính hôn, cô dâu, chú rể rót rượu mừng hạnh phúc, bà con hai họ ăn uống nhiệt tình... thế nhưng đằng sau tiệc cưới này chỉ là màn kết hôn giả mà cô dâu là người chủ động bỏ tiền ra "mua" chú rể từ Mỹ về làm thủ tục kết hôn với mục đích sẽ được bảo lãnh để ra đi. Lân la gạn hỏi, chúng tôi được một phụ nữ tên Thanh, đại diện họ nhà gái, cho biết: "Cô dâu tên L., vừa tròn 32 tuổi, mới vừa giả vờ ly dị chồng tên N.V xong. Hiện giờ, song song với đám cưới này, tại nhà hàng S.Đ bên quận 3 cũng đang diễn ra một lễ thành hôn khác mà chú rể là chồng của cô dâu L. bên này". Với vẻ mặt ngạc nhiên, chúng tôi nhanh chóng tìm hiểu rõ hơn. Ban đầu người phụ nữ tỏ ý nghi ngờ, nhưng cuối cùng trước thái độ "thành khẩn" của chúng tôi, chị ta bắt đầu bộc bạch: Hai đám cưới đang được tổ chức song song tại hai địa chỉ trên thực chất chỉ là hai bữa tiệc hình thức nhằm hợp thức hóa thủ tục để được xuất cảnh sang Mỹ mà "nhân vật chính" không ai khác hơn là vợ chồng L. Mặc dù đã có với nhau cậu con trai 7 tuổi nhưng chỉ vì muốn định cư ở nước ngoài, vợ chồng L. đã quyết định ly hôn giả, tìm người bảo lãnh".

Để tìm hiểu thực hư thế nào, chúng tôi tức tốc đến ngay nhà hàng S.Đ. Quả đúng như lời người phụ nữ tên Thanh nói, chú rể tên D. đang thân mật ôm cô vợ giả, cũng là một Việt kiều. Tội nghiệp cho cậu bé con của L. và D. ngơ ngác nhìn cha mẹ sánh đôi cùng hai người lạ hoắc mà không hiểu việc gì xảy ra. Trường hợp của N., nhà ở huyện Bình Chánh, thì lại khác. Vẫn còn trong lứa tuổi học trò, thế nhưng ước vọng được sang định cư ở nước ngoài là điều mơ ước từ lâu của cô và gia đình. Năm 2002, theo lời hướng dẫn, N. đã thuyết phục gia đình chạy tiền đưa cho Tony Bùi, một Việt kiều mới từ Mỹ về, để được anh ta bảo lãnh sang định cư với danh nghĩa là vợ của Tony. Theo thỏa thuận thì ngoài việc phải chịu toàn bộ phí tổn cho việc cưới hỏi và thủ tục kết hôn, N. chỉ phải chi thêm khoản tiền công "làm chồng" của Tony Bùi với giá 1.000 Mỹ kim. Thế nhưng khi đã sang được đến "thiên đường", Tony bắt đầu lật lọng và yêu cầu N. phải điện về bảo gia đình đưa tiếp cho y 1.000 Mỹ kim, nếu không còn khuya y mới chịu làm thủ tục ly hôn. Đã lỡ "leo lên lưng cọp", cuối cùng gia đình N. đành phải hỗ trợ thêm tiền, chỉ mong con gái mình yên ổn ở nước ngoài. Đã hơn 1 năm trôi qua kể từ ngày ra đi, hiện giờ N. cũng chỉ dành dụm cao lắm được số tiền đủ để mua vé máy bay trở về Việt Nam.

Qua trang web dành cho cộng đồng người Việt ở nước ngoài, tình cờ tôi đọc được tâm sự của H. quê Bình Dương, đã qua Mỹ cũng bằng con đường như thế. Từ những lời tâm sự của cô được "thổ lộ" trên mạng Intemet thì sự thật khi đến "thiên đường" không chỉ là màu hồng mà còn có thêm nhiều phiền toái. Từng là tiểu thương kinh doanh thành đạt tại chợ Thủ Dầu Một, thế nhưng chỉ vì muốn được cái mác Việt kiều, H. đã bỏ tiền thuê người làm thủ tục nhờ bảo lãnh. Mất đứt gần 250 triệu đồng, bù lại H. chỉ được cái mác Việt kiều Mỹ cùng nỗi nhớ quê hương da diết. Đã 2 năm kể từ ngày xa xứ, cứ mỗi lần nhắc đến quê nhà, H. lại tiếc hoài những ngày tháng buôn bán ở Bình Dương. Qua bên kia bờ Đại Tây Dương, H. không có việc làm, cố gắng lắm cô mới học được nghề "nail" kiếm tiền sinh sống.

Tiền mất, tật mang

Tin vào lời huyên thuyên của Nguyễn Đình Tuấn, ngụ phường Bến Thành, quận 1, chị Trần Thị Mỹ H. , ngụ Q1, Sài Gòn, vội vàng giới thiệu Tuấn với một người quen ở Tây Ninh, vì biết ông này có ý định muốn được xuất cảnh. Ông Trần Văn T., nguyên trước đây là sĩ quan VNCH, khi nghe Tuấn tự xưng là người của lãnh sự quán Mỹ tại Việt Nam, hiện đang đi "khảo sát xem có trường hợp nào còn sót lại trong đợt xuất cảnh theo diện HO" đã quá đỗi mừng rỡ mời Tuấn về nhà trò chuyện và đề nghị hắn ta làm hồ sơ xuất cảnh cho gia đình ông. Vớ được vận may, Tuấn nhận lời và tức tốc quay về Sài Gòn copy lại giấy tờ xuất cảnh sau đó giả mạo hồ sơ, con dấu của lãnh sự quán tại thành phố mang cho ông T. xem. Ngoài ra, kèm theo bộ hồ sơ là bảng giá cho từng danh mục: truy cập hồ sơ xuất cảnh là 20 Mỹ kim/ phút, nhận con nuôi là 500 Mỹ kim/trường hợp, lập hôn thú qua đại sứ quán Mỹ là 300 Mỹ kim/trường hợp... Sau khi thống nhất giá cả để Tuấn làm hồ sơ, hơn 500 triệu đồng đã "vô tư" chảy vào túi Tuấn. Không những thế, hàng chục bộ hồ sơ xuất cảnh khác mà các chiến hữu của ông T. đang nhờ vả cũng đã được Tuấn khảo sát, thụ lý. Thế là "mẻ lưới" về đợt xuất cảnh "vét" do Tuấn "đạo diễn" lại câu được nhiều người từ Sài Gòn đến Tây Ninh. Hàng trăm triệu đồng cùng hàng chục cô gái đã bị Tuấn gạ gẫm cướp đi đời con gái. Mãi đến khi hành vi của Tuấn bị phát hiện, rất nhiều người đành phải "ngậm bồ hòn"; hậu quả nặng nề hơn là nhiều người trong số họ, như trường hợp ông T. thay vì là nạn nhân của Tuấn, ông T. lại bị truy tố về tội giúp sức cho kẻ xấu. Nhìn họ đứng trước vành móng ngựa, nhiều người tham dự phiên tòa đã phải chạnh lòng vì sự mê muội của họ. Rồi đây những cô con gái của họ sẽ ra sao, còn số tiền họ vay nóng để đưa cho Tuấn làm lệ phí thì sẽ do ai trả lãi? Cứ như thế, nhiều chuyện "cười ra nước mắt" xảy ra ngày càng tăng theo...

1.001 chuyện muốn được xuất cảnh!

Có những trường hợp khi người trong cuộc đã tự nhìn thấy bản chất của vấn đề nên may mắn không bị lâm vào cảnh bị gạt ở xứ người, như trường hợp của chị G. nhà ở đường Hậu Giang Q6, chồng mất sớm, có 1 đứa con gái xinh xắn đang học lớp 4, lẽ ra ở cái tuổi 30 của mình, nếu biết bằng lòng với số phận, chị G. vẫn sẽ có được một mái ấm gia đình hạnh phúc bởi xung quanh chị vẫn còn rất nhiều người muốn cùng chị xe duyên tiếp. Thế nhưng vì sức ép gia đình đồng thời trong tư tưởng chị cũng muốn sang để sống trong cái xã hội tự do ấy, thế là cuộc mặc cả, dàn xếp để thuê một anh chàng Việt kiều thất nghiệp từ bên Mỹ về làm hôn thú giả diễn ra. Không biết có phải vì thấy vợ mình đẹp quá hay không mà sau khi làm đám cưới giả, người chồng hờ lại quay sang đòi... động phòng thật! Hoảng hồn, chị vừa năn nỉ vừa chuyển sang "kế hoạch B", thuê gái mại dâm cao cấp cho "chồng" ngủ, nên mới giữ được mình. Cưới xong rồi, gã chồng hờ trở chứng không chịu ly dị để quyết tâm đòi được quyền làm... chồng, còn nếu không gã không làm hồ sơ bảo lãnh. Cuối cùng, phải đến khi chung tiếp gần 100 triệu nữa, chị G. mới được làm thủ tục ly dị tại Việt Nam. Chuốc lấy hậu quả, chị G. chỉ biết tự trách mình rước họa vào thân lại còn phải mất tiền, suýt chút nữa mất cả niềm tin của đứa con. Rõ ràng xuất phát từ nhu cầu vọng ngoại của một bộ phận người dân, nhiều kẻ xấu đã lợi dụng để trục lợi. Nhiều trường hợp nhà tan cửa nát, tiền mất tật mang chỉ vì mơ tưởng được khoác lên người cái mác Việt kiều mà đã bán đứng tư cách của mình, bán rẻ hạnh phúc gia đình.

Những thảm cảnh và tệ nạn kể trên đã xảy ra hằng ngày trên quê hương ta. Nguyên nhân vì đâu ? Tại sao sau gần 30 năm "thống nhất" và không còn loạn ly... người dân vẫn còn muốn bỏ nưuớc ra đi....? Trong lịch sử Việt Nam cũng chưa bao giờ có những trường hợp nghịch lý như vậy ? Còn giải pháp nào khác hơn là phải chấm dứt chế độ độc tài tham nhũng thối nát hiện nay..may ra dân tộc mới có cơ hội hồi sinh ? Hỏi tức là trả lời rồi vậy.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Quê Hương,
Triệu Người Chỉ Một

Tùy bút Ngọc Thủy

Hai chữ Quê Hương, sao mà đẹp mà đáng yêu quá đỗi. Dù ở đâu, hoàn cảnh nào, tuổi tác bao nhiêu, người Việt Nam cũng vẫn thấy tình quê hương luôn đậm đà, chan chứa trong lòng. Càng đi xa, người ta lại càng thiết tha thương nhớ, quý yêu hơn. Chẳng ai muốn rời xa mảnh đất làng quê, nơi mở mắt chào đời, lớn lên với đời sống như dây leo được bò quấn quýt chung nhau thành bóng mát rộng êm, có ông bà cha mẹ, có giòng họ, bạn bè thân quen với biết bao thương yêu gắn bó, kỷ niệm ngập tràn. Làm người được hạnh phúc biết bao, vì Thượng Đế đã ban phát cho mỗi chúng ta một trái tim biết cho đi và hưởng nhận rất nhiều tình yêu trong cuộc sống tương quan với bản thân và trong cuộc đời đa dạng với tha nhân. Có những tình yêu thật quý báu như tình thương cha mẹ, gia đình. Tình yêu đẹp như lứa đôi, chồng vợ. Tình mật thiết như anh chị em, trong sáng như thầy cô, bằng hữu .v.v… và thêm cả tình yêu với thiên nhiên, loài vật, niềm đam mê với văn chương, nghệ thuật, hội họa, âm nhạc, thi ca .v.v… Ngoài những tình yêu tràn đầy phong phú ấy, ai trong chúng ta cũng có một tình yêu đất nước rất thiết tha. Chính nhờ tình yêu cao cả dành cho Tổ Quốc thân yêu mãnh liệt như vậy mà các vị tiền nhân bao triều đại trước đã dũng mảnh chống đuổi được xâm lăng, gìn giữ và gầy dựng giang sơn Việt Nam trải rộng thêm cõi bờ vững mạnh gấm hoa. Tình yêu đất nước của lớp hậu thế sau này có thể hiện được tốt đẹp là cũng nhờ từ những hun đúc dưỡng nuôi đó. Thật vô vàn hãnh diện được tri ân bao công đức của tiền nhân đã tạo cho cháu con giòng giống Lạc Hồng những trang sử rất oai hùng, đẹp đẽ, uy linh.
“Tiền nhân một tấm lòng Trung
vì Dân Tộc, vì Núi Sông quên mình!
ngàn sau đọc lại sử xanh
nhớ ơn công đức, nghĩa tình người xưa!”
n.t.

Khi ấu thơ, tuy tôi chưa biết khái niệm rõ ràng về ý nghĩa quê hương như thế nào, nhưng tôi cảm nhận được đó là điều rất đẹp, rất to lớn, yêu mến lạ thường với bao tình quyến luyến qua lời cha mẹ, thầy cô, sách vở khi đủ tuổi cắp sách đến trường. Nên dù được sinh ra ở Tây Đô và lớn lên ở Sàigòn theo bước chân nhà binh của bố tôi, nhưng tôi cũng thấy được niềm khao khát hướng về Hà Nội xa xăm qua những lời thương nhớ quê nhà của mẹ cha:
“Cha mẹ tôi người Hà Nội
tôi sinh Bình Thủy - Cần Thơ
Quê Hương là Sông là Núi
Bắc-Nam đâu nhỉ bến bờ…?”
n.t

Những bài học vỡ lòng đơn sơ nhưng là giòng mực thắm in đậm sâu vào trí óc non nớt, hồn ngây thơ của những học sinh bé bỏng được dậy dỗ để dần khôn lớn nên Người Việt Nam biết trọng đạo Nhân-Nghĩa-Lễ-Trí-Tín trong cách xử thế trong xã hội và Chung-Thủy-Hiếu-Trung với gia đình, tổ quốc. Là chăm lo gắng học chuyên cần để “Hôm nay học tập, ngày mai giúp đời’, là “Tiên học lễ, hậu học văn”, là ‘Giấy rách phải giữ lấy lề”, “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” .v.v… và nhất là phải biết: “Cây có cội - Nước có nguồn. Chim có tổ - Người có Tông” để nhớ đến công ơn Tổ Tiên ngày trước và trách nhiệm của mỗi con dân trong một nước sau này. Nên ai cũng hoài bão ước mong được góp phần hữu ích trong công việc dựng xây xã hội đất nước thân yêu được phát triển mạnh giàu hơn để cuộc sống gia đình, bản thân và đồng bào mình được ấm no hạnh phúc hơn.
“miền Bắc cách xa vời vợi
nhưng lòng vẫn nhớ quê hương
mẹ cha tôi thường bảo thế
gần hay xa cũng yêu thương”
n.t.
Thuở bé thơ, tâm hồn tôi được ấp ủ bằng những lời ru êm ả ngọt ngào của ca dao vần điệu mượt mà. Tuổi đến trường tôi biết yêu quê hương qua những bài giáo khoa đẹp đẽ, địa dư, sử ký hào hùng. Rồi yêu nồng nàn thắm thiết hơn qua những bài thơ-văn, khúc nhạc lời ca nặng trĩu tình như cánh đồng xanh bát ngát trên mảnh đất miền Nam, trải dài sóng lúa vàng tươi. Quê hương ơi, biết bao tình yêu mến trong trái tim tôi luôn rung động, thiết tha:
“nhớ hoài những bài đã học
tôi yêu từng mỗi cánh hoa
yêu con trâu cày trong nắng
lũy tre, đồng ruộng bao la…”
n.t.

Nhưng chuỗi ngày hoa mộng ấy thực sự không mấy được êm đềm, bởi vẫn có “những tiếng súng vọng về thành phố đêm đêm”, hoặc có khi nghe ngay giữa giờ lớp học để thấy lòng chùng xuống nỗi niềm thương xa xót cho nước non lẫn những người lính trẻ đang dầu dãi hy sinh trên các tuyến lửa quân hành để giữ an lành cho hằng triệu các gia đình hậu phương đang sống giữa thời khói lửa. Và từ trong giai đoạn chiến tranh ấy, những người nhạc sĩ miền Nam đã sáng tác thật nhiều ca khúc nói lên tình yêu thương quê hương đang hứng chịu khổ nạn điêu linh. Sự nhẫn nại hy sinh, chờ đợi của những người mẹ hiền vợ trẻ sắt son. Tình yêu gian nan xa cách của những lứa đôi thời tao loan. Ngợi ca những người chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa đang hiên ngang chiến đấu nơi các trận địa chiến trường trên khắp nẻo đường đất nước để ngăn chận bước chân tham vọng, bất kể sự gieo tang tóc đau thuong cho dân lành vô tội của Cộng Sản Bắc Việt. Nhờ những nhạc phẩm tuyệt vời đó mà mọi người mọi giới mọi lứa tuổi trong nước từ nông thôn cho đến thị thành được chia xẻ, thông cảm cùng nhau mọi nỗi niềm xót xa của đất nước như tâm tư riêng của chính bản thân gia đình hoặc của riêng mình. Qua những ca khúc đó mà mọi người được cảm nhận, thương yêu và kính trọng hơn những người lính Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh tất cả tình riêng lẫn tuổi thanh xuân để cống hiến cho Tổ quốc Việt Nam gìn giữ được Tự Do, Giàu Đẹp và để toàn dân được vui hưởng thanh bình trong Hạnh Phúc Ấm No. Vì thế những nhạc phẩm thời chiến ấy đã đi sâu vào lòng người, khơi dậy bao niềm tự hào trong tình yêu đất nước dâng đầy. Và cũng chan chứa bao kỷ niệm yêu thương hòa lẫn với muôn vàn quặn thắt xót xa. Biết nói thế nào cho đủ lời cảm tạ những người đã viết lên bao ca khúc ngợi ca quê hương cùng những tấm lòng cao đẹp của bao con người Việt Nam đã thầm lặng hy sinh, gian khổ cho đất nước thân yêu. Đó là những nhà văn, nhà thơ và là những người nhạc sĩ:
“đã để một đời nghe nhịp tim
làm bao nhạc khúc thật êm đềm
cho người sống với hồn Non Nước
đẹp mãi Tình Ca, nhớ-chẳng-quên”
n.t.
Và tôi, tôi yêu quý lắm những bài tình ca nói lên cái đẹp, sự hy sinh, chịu đựng của những người mẹ, người cha, người vợ, người yêu trong thời quê hương khói lửa. Cùng nét can trường quả cảm của những người chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã hiên ngang lên đường theo tiếng gọi Núi Sông đang cơn nguy biến và sẵn sàng Sống và Chết cho chính nghĩa Tự Do:
“tử sinh, với anh là số phận
vui đời quân ngũ tuổi đôi mươi
tình riêng, anh để lòng thương nhớ
trước mặt: Quê Hương - Phận Sự Người”
n.t.
Tôi cũng thật nhớ ơn các Thầy Cô đã dậy dỗ chúng tôi những bài học năm xưa dưới mái học đường. Những bài thơ, văn tha thiết đã cho chúng tôi thấy được cảnh đau xót của quê hương ngày ấy, để hướng tâm hồn chúng tôi dù còn lứa tuổi học sinh nhưng biết yêu mến quê hương nồng nàn, sâu đậm hơn bởi những hình ảnh tang thương đang diễn ra đâu đó hằng ngày trên đất nước do lòng tham CSBV gây ra. Nên có những bài học thuộc lòng tôi còn nhớ mãi cùng tâm trạng cảm xúc khó quên như bài Lửa Cháy Quê Hương (mà rất tiếc tôi không còn nhớ được tên tác giả):
“lửa giông tố cháy lưng trời yêu dấu
mây đen cuồng phú kín bóng quê hương
khói âm u kết tụ từ mười phương
về xiết chặt lũy tre già mộc mạc
mái nhà tranh ngậm ngùi trong tiếng khóc
giòng sông xanh cuồn cuộn sóng thương đau
những cụ già tóc bạc trắng theo sau
những thiếu phụ lo âu tràn mắt lệ
những hài nhi nép mình bên vú mẹ
khóc thất thanh đạn xé vỡ quê hương
ôi ngoài kia những trai tráng can trường
đã ngã gục bên đường phơi xác đạn
lửa giông tố cháy ngang trời chiến loạn
mái nhà tranh từng chiếc chạy theo nhau
lũy tre già răng rắc vặn mình đau
đàn súc vật lao đầu kêu tuyệt vọng
ôi quê hương đắm mình trong khói súng
có bao giờ sống lại phút thân yêu
mái tranh hiền tha thiết biết bao nhiêu
giòng sông mát êm đềm bên bờ cỏ
ôi đau xót ta thấy mầu lửa đỏ
đang thiêu tàn trời thương nhớ: quê hương!”
Đó là hình ảnh và thời gian mà chúng tôi đã sống cùng. Nên hôm nay dù đã là quá khứ, nhưng làm sao có thể nào quên những giai đoạn khói lửa đau buồn mà chúng tôi phải trải qua và được lớn lên trong bao sự hy sinh sống chết của những người chiến đấu cho dân tộc tự do, làng quê yên ấm tạm. Cảnh thê lương kia đến lũy tre già mà còn biết vặn mình đau xót thì lương tâm con người sao lại không biết xót đau hơn. Thế hệ chúng tôi thường trăn trở khi nghĩ về đất nước. Biết đến bao giờ mới ngưng rơi lệ máu những dân lành.
“Quê Hương có là hạt bụi
sao lòng và mắt tôi cay?
mấy mươi năm dài đau khổ
bao giờ quân Cộng ngừng tay?!”
n.t.
Dù sống giữa lúc chiến tranh nhưng thời tuổi trẻ của chúng tôi vẫn được sống trong cảnh ấm êm, học hành vui vẻ vì đã có những người lính Việt Nam Cộng Hòa đang bảo vệ quê hương, làm thân che chắn cho hậu phương, thành phố được yên bình. Xin được tri ân những người chiến sĩ đã một lòng vì Tổ quốc an dân.
“làm trai sống giữa thời binh lửa
nợ Nước mong đền, ơn Tổ Tiên
Danh Dự - Nước Non và Trách Nhiệm
Anh, người chiến sĩ vững trung kiên”
n.t.

Thời tuổi trẻ của chúng tôi rất hãnh diện và hạnh phúc được sống trong sự đùm bọc của xã hội và xứ sở tự do, trù phú của miền Nam yêu dấu. Chắc chắn hằng triệu trái tim của những người con dân nước Việt cũng đều trân trọng và yêu quý mảnh đất phì nhiêu mầu mỡ đã nuôi dưỡng nên những con người đôn hậu, thủy chung và nhân ái trong tình dân tộc nghĩa đồng bào gắn bó mến thương. Quê hương thật là đẹp đẽ trong mắt tôi cùng của triệu triệu người Việt Nam. Vì tất cả mấy chục triệu người Việt Nam chúng ta cùng máu đỏ da vàng, đều uống chung một nguồn nước, hít thở chung một bầu trời, yêu mến chung một cảnh sắc quê hương và đập chung một nhịp đập của trái tim Việt Nam. Những tâm tình, hình ảnh, bản chất Việt Nam cũng đã khắc sâu vào tâm khảm mỗi người. Chúng ta, hằng bao triệu người sống rải rác khắp Bắc - Trung - Nam hoặc sau này có ở bốn phương tám hướng hải ngoại thì vẫn chỉ có một quê hương yêu dấu để thương để nhớ để hoài vọng thiết tha và mong ước cùng dựng xây cho thật tốt đẹp, mà thôi.
“Quê Hương đúng là hơi thở
đã cho ta sống từng ngày
dù đi đâu lòng vẫn nhớ
từng khu xóm nhỏ. vườn cây…”
n.t.
Quê hương thật tươi đẹp, dù chiến tranh vẫn đang tiếp diễn ngoài trận địa nhưng phần đông người dân vẫn được sống no lành an vui ở thành phố và các tỉnh khác nhờ sự bảo vệ của người lính chiến ở biên thùy cùng nhiều nỗ lực chăm lo đời sống cho dân của chính thể Cộng Hòa. Tôi ước mơ được đặt chân đến mọi miền đất nước thân yêu đượm thắm tình dân tộc với những người đồng bào đôn hậu mến thương, nhưng vì quê hương còn lửa khói nên chỉ biết ước ao:
“Quê Hương biển rừng bát ngát
tôi thèm làm cánh chim bay
trưa tắm trên giòng suối mát
đêm nằm ngắm trăng trong mây…”
n.t.

Ngờ đâu, ngày 30 tháng tư năm 1975, thật không thể kể xiết nỗi kinh hoàng đau đớn của chúng tôi khi nghe tin Cộng sản đã tràn vào chiếm trọn miền Nam. Đám mây đen Cộng sản gớm ghê đã phủ trùm lên cả quê hương. Ngẫm lại từng lời của bài thơ Lửa Cháy Quê Hương in vào đầu thuở nhỏ, tôi thấy mình như lòng tre già đang vặn mình quặn đau, chết lặng trước vận nước đổi thay. Lửa đỏ tham tàn đã thật sự tràn về đốt cháy giang sơn làm vỡ nát quê hương. Bởi ngay sau đó là chuỗi ngày thống khổ đến với hầu hết dân miền Nam. Đó là những người sống từ bao đời Cha Ông hoặc những người lánh nạn Cộng sản tìm vào Nam đã hơn hai mươi năm sống trên mảnh đất Tự Do, ai cũng làm việc để phục vụ đất nước và xã hội để cùng chung hưởng một đời sống tốt đẹp vươn lên. Khi Miền Nam bị cưỡng chiếm thì tât cả những người liên quan, làm việc dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa đều không thoát khỏi ngọn đòn thù giăng bủa xuống “đám ngụy quân, ngụy quyền” với bao sĩ nhục, khổ ải do “cách mạng” Cộng sản đề đặt ra. Chẳng riêng cá nhân người “ngụy” đó mà cả gia đình đều bị khổ lụy theo. Hoặc nếu không cũng bị liệt vào thành phần “tiểu tư sản, đại tư sản” để tịch thâu tài sản mồ hôi nước mắt bao nhiêu năm gầy dựng nên của bao người rồi đày tất cả đi vùng “kinh tế mới” là những nơi hoang vu cằn cỗi đến khó thể trồng được cả sắn khoai. Có ai sống dưới ách Cộng sản ngày ấy mới thấu hiểu được bao điều kinh hoàng, cơ cực do lòng hận thù chấp nhất nhỏ nhen của người thắng cuộc phô bày, áp đặt. Đến nỗi những người bị kẹt lại đã chịu đựng với chế độ chủ nghĩa vài năm sau rồi mà vẫn không thể sống nổi thêm, dù hiểm nguy tới mức sẽ mất trắng tay tất cả và đương đầu với sự gian nan sống chết trên rừng sâu hay ngoài biển cả, người dân vẫn cứ tìm cách ra đi, phải đành lìa dứt quê hương bởi không thể nào sống yên ổn được ngay trên phần đất nước thân yêu của mình. Họ thà chết trên biển cả mênh mông hơn là chết đọa đầy tủi nhục trong bàn tay độc ác của nhà cầm quyền cộng sản VN.
“kẻ vô rừng thẳm, người ra biển
hết chiến tranh đời vẫn thảm thương:
mẹ tiễn con đi không được khóc
cha trong cải tạo xác trơ xương!
Việt Nam nối tiếp Ngàn Trang Sử
có phải trang nào mực cũng đen?
đời của Quang Trung vui mấy chốc
đời Lê Lợi đẹp được bao niên?
ôi lần trang sử, thương thân phận
không một mình tôi, triệu triệu người
kẻ ở, người đi ai cũng khổ
sống là vui gượng, có gì vui?
năm bẩy mươi lăm, năm tám mươi
từng ngày trên biển xác trôi trôi…
từng ngày trên núi thây ai rữa
thế giới đưa tay được mấy người?
hai chữ Quê Hương tình thắm thiết
trọn đời lưu lạc cứ còn thương
nhiều khi vuốt mặt ngăn giòng lệ
vẫn thấy buồn dâng khắp đại dương…
vẫn thấy buồn dâng, vẫn thấy buồn
như trời buổi sáng đục mờ sương
như trời buổi xế mưa chưa tạnh
ba thập niên rồi hỡi Nước Non!
n.t.

Đã biết bao người vùi thây ngoài biển cả trên đường tìm đến Tự Do. Biết vậy mà hết lớp này tới lớp khác vẫn tiếp tục ra đi, gần mười năm sau mà vẫn còn những làn sóng tỵ nạn khổ đau ấy. Trời hỡi, có đất nước nào mà người dân không thể sống với quê hương ruột thịt của mình, mà phải bằng mọi cách mọi giá để trốn khỏi chế độ bạo quyền, quyết ra đi về phía Tự Do, dù phải đổi hết cơ nghiệp bạc tiền và mạng sống bản thân. Thế mới biết ách độc tài độc đảng Công sản tàn bạo, ghê sợ như thế nào. Và mới hiểu hai chữ Tự Do, Nhân Quyền quý giá và cần thiết đến ra sao!
“ Quê Hương vỡ òa lệ nhỏ
bàng hoàng tôi ngỡ cơn mơ
chắp tay bao giờ mới ‘ngộ’
biển dâu không chỉ một giờ…”
n.t.

Những tháng ngày đen tối và thống khổ đã hằn sâu lên tâm hồn và cuộc sống của triệu triệu người miền Nam, đến nỗi dù muốn dù không họ cũng khó thể nào quên được những kinh hoàng ghi khắc ấy. Từ giai đoạn đau thương đó, có rất nhiều ca khúc ra đời than khóc cho cảnh nước mất nhà tan, quê hương vỡ nát, phận người trôi nổi điêu linh theo vận nước. Những lời ca tiếng hát nói lên điều chia xẻ nỗi đau phận nước, niềm xót xa lìa bỏ quê hương, đoạn trường thương nhớ, nỗi bi hận vì đâu… đã từ đất nước Tự Do vượt trùng duơng bay về hướng mặt trời quê hương, nơi còn lại những người thân đang sống trong cảnh đói khổ, đọa đầy. Đó là những nhạc phẩm của một số nhạc sĩ đã sáng tác ở hải ngoại như thắp lên một ngọn lửa để sưởi ấm lòng nhau và soi sáng chút niềm tin yêu hy vọng của thương yêu, để cố gắng đợi chờ ngày đoàn viên hạnh ngộ. Nhớ tới ca khúc Một Chút Quà Cho Quê Hương của nhạc sĩ Việt Dzũng là tôi lại ngậm ngùi nhớ tới lần bị công an Phường kêu đi làm công tác thủy lợi vét mương đào kinh cùng tốp thanh niên thiếu nữ trong khu xóm Chu Mạnh Trinh - Phú Nhuận là nơi tôi cư ngụ. Những công việc trước đây chúng tôi chưa từng làm, nay được hô hào góp sức vào chính sách nhà nước CS chủ trương khi “Giải Phóng Miền Nam Tự Do” là: “Mười Năm Trồng Cây-Trăm Năm Trồng Người” để tiến tới kế hoạch “Lao Động Là Vinh Quang”. Sau một ngày hì hục tập làm quen với cuốc xẻng, bùn lầy cho “thăng tiến đời sống” và “thơm tho tâm hồn”, nhằm vào mùa mưa, nên buổi chiều ở lại ngó mông ra đồng vắng ngập nước lên, ai cũng thấy ứ lên nghèn nghẹn ray rứt nhớ nhà. Cô bạn bên cạnh thầm thì móc trong túi ra đưa tôi xem bài hát này mà cô đã chép lại từ những lần nghe lén qua đài BBC. Những giòng chữ viết nhòe theo nếp gấp được dấu kín như những tâm tư chẳng dám bộc lộ và không thể được phô bày. Tờ giấy đã gần nhàu nát nhưng chúng tôi lại hết sức nâng niu từng lời từng chữ, gói ghém bao niềm đau xót và mơ ước của chúng tôi ngày đó: “Em gửi về cho anh dăm bao thuốc lá, anh đốt cuộc đời cháy mòn trên ngón tay. Gửi về cho mẹ dăm chiếc kim may, mẹ may hộ con tim gan quá đọa đày. Gửi về cho chị dăm ba xấp vải, chị may áo cưới hay chị may áo tang? Gửi về cho em kẹo bánh thơm ngon, em ăn cho ngọt vì đời nhiều cay đắng. Con gửi về cho cha một manh áo trắng, cha mặc một lần khi ra pháp trường phơi thây. Gửi về Việt Nam nước mắt đong đầy. Mơ Ước Một Ngày Quê Hương Sẽ Thanh Bình. Em gửi về cho anh một cây bút máy, anh vẽ cuộc đời như ước vọng mong manh. Gửi về cho mẹ dăm gói trà xanh, mẹ pha hộ con nước mắt đã khô cằn. Gửi về cho chị hộp diêm nhóm lửa, chị đốt cuộc đời trong hoang lạnh mù sương. Gửi về cho em chiếc nhẫn yêu thương, em bán cho đời tìm đường vượt biên. Con gửi về cho cha vài viên thuốc ngủ, cha ru cuộc đời trong trại tù chung thân. Gửi về Việt Nam khúc hát ân cần. Mơ Ước Yên Lành Trong Giấc Ngủ Da Vàng”.
Cô bạn ấp ủ bài nhạc ấy đem theo, đưa tôi coi, nói lén đọc đi cho đỡ buồn đỡ tủi, nhưng mà, đọc xong lòng tôi chợt chùng xuống như mầu trời mây xám đang đọng ướt giữa không gian, thấm sâu và len lỏi vào tận tim gan tôi, nhói lên những nỗi buồn kéo theo nhau ùa ập mà giờ đây tôi không thể tả lại được, chỉ biết lúc ấy những giòng lệ bất chợt lặng lẽ tuôn ra, có lẽ khóc cho chính mình hay khóc cho những người con, người mẹ, người anh, người chị, người cha trong cảnh tù đày khổ nạn cùng quê hương nghiệt ngã! Thời gian sau, những khúc hát chia xẻ ân tình lại thấp thoáng bay về như ánh nắng nhẹ, một làn gió trong lành thổi tới từ đất mới Tự Do làm êm dịu tâm hồn và ấm áp hơn cho cuộc sống còn nhiều gay go, cay đắng của những người ở lại. Đó là tâm sự của những người ra đi với lời tâm tình tha thiết mà nhạc sĩ Nam Lộc đã bày tỏ hộ những người tuổi trẻ chúng tôi cùng có những kỷ niệm thật ngọt ngào thân quen nơi thành phố Sàigòn dấu yêu, thành phố như bông hoa đang rạng bừng hương sắc bỗng chốc phải héo tàn vì giông bão phũ phàng đổ ập xuống làm tơi tả hết cánh hoa xinh, cuốn trôi theo bao điều bất hạnh khác. Những chuyện tình yêu đang tươi đẹp và bao nỗi lòng đang tha thiết nồng nàn mà sao quá đỗi xót xa với ngàn mảnh ly tan vỡ nát, bị cuốn trôi, lênh đênh theo vận nước nổi trôi. Ngày miền Nam và Sàigòn rơi vào tay Cộng Sản BV là xem như Sàigòn Ơi Vĩnh Biệt mà nhạc sĩ Nam Lộc đã viết:
“Sàigòn ơi tôi đã mất người trong cuộc đời. Sàigòn ơi thôi đã hết thời gian tuyệt vời, giò còn đây những kỷ niệm sống trong tôi, những nụ cười ngát trên môi, những giọt lệ ôi sầu đắng… Kìa mùa thu, lá còn đổ xuống công viên, bóng gầy còn bước nghiêng ngiêng, hay đang khóc thương cho người yêu… Sàigòn ơi, tôi xin hứa rằng tôi trở về. Người tình ơi tôi xin giữ trọn mãi lời thề, dù thời gian có là một thoáng đam mê, phố phường vạn ánh sao đêm nhưng tôi vẫn không bao giờ quên…Saìgòn ơi!”
Làm sao ai có thể quên được quê hương với biết bao yêu mến đậm đà, nhưng bởi lửa đỏ Cộng sản từ phương Bắc tràn qua nên người quốc gia yêu chuộng chính nghĩa Tự Do Nhân Ái Công Bằng phải đớn đau rời bỏ, vì biết đám lửa tham tàn này rồi sẽ thiêu đốt hủy hoại quê hương nên phải tránh thật xa, đi tìm ánh sáng Tự Do để mong có một ngày đủ điều kiện và năng lực trở về góp bàn tay, tiếng nói đòi hỏi Tự Do-Dân Chủ-Nhân Quyền cho đất nước và có thể cùng xây dựng lại những đổ nát điêu tàn do tập đoàn Cộng sản VN thiếu tinh thần trách nhiệm với dân tộc gây ra.
“nước từ khe núi tuôn ra
đi đâu rồi cũng mưa sa về nguồn!
người dân ai bỏ nước non
lìa quê dạ héo lòng son sắt buồn!”
n.t.
Thảm cảnh ngày 30 tháng Tư năm 1975 đã tạo bao bi hận oan nghiệt chia lìa. Người ở lại sống khốn cùng nhất trong những năm tháng đầu, người ra đi cũng biết bao não nề đau khổ mà nhạc sĩ Nam Lộc đã trải bày thay tâm sự của hằng hằng lớp lớp sóng Người Di Tản Buồn bổng chốc phải lìa bỏ quê hương cùng bao người yêu thương mà không biết đến bao giờ mới được gặp lại, để nhờ gió muôn phương nhắn về tổ quốc niềm thương nhớ xót xa qua nghìn trùng xa cách: “Chiều nay có một người đôi mắt buồn nhìn xa xăm về quê hương rất xa, chợt nghe tên Việt Nam ơi thiết tha và rưng rưng lệ vương mắt nhạt nhòa. Bạn ơi, đó là Người Di Tản Buồn, ngày ra đi lặng câm trong đớn đau và đêm khuya về trong đôi mắt sâu, đời như chôn vào cõi tối u sầu. Cho tôi xin lại một ngày ở nơi, nơi thành phố cũ. Cho tôi xin lại một đời, một đời sống với quê hương. Cho tôi đi lại đoạn đường, hàng cây vương đầy bóng mát, cho tôi an phận ngàn đời bên bờ đê vắng làng tôi… Này em, có bao giờ em biết rằng ở nơi đây mùa thu rất ngỡ ngàng, chiều rơi nhanh và đêm tối xuống mau, thời gian không còn những phút nhiệm màu. Cho tôi xin lại nụ cười nở trên môi người yêu dấu, cho tôi yêu lại từ đầu… Cho Tôi Xin Lại Một Ngày - Một Ngày Ở Nơi Thành Phố Cũ. Cho Tôi Sống Lại Một Đời - Một Đời Sống Với Quê Hương!”.
Sau ngày cuối tháng Tư, ngày uất nghẹn bi thảm của toàn quân dân cán chính, dấu mốc lịch sử của Việt Nam Cộng Hòa. Chúng tôi những người còn ở lại với tháng ngày đen tối bởi bao sự bức bách hà khắc của chế độ cộng sản VN: bị đi tù cải tạo, học tập tẩy não, lao động, vợ con không được làm công nhân vào biên chế của nhà nước, không được lên đại học hoặc vào các trường lớn công lập, ngành nghề chính, buộc hồi hương hoặc đẩy đi các vùng khỉ ho gà gáy để làm kinh tế mới tức là tự trồng trọt ở nơi đất chưa khai hoang để lập lại cuộc đời “mới” qua chính sách được khoan hồng của nhà nước cách mạng (có nghĩa là đã tha cho sống là may lắm rồi). Sau đó là vấn đề kiểm soát khó khăn không cho nhập lại hộ khẩu để chặt đứt đường về thành phố của họ để dễ bề chiếm đoạt nhà cửa hoặc đuổi đi xa bớt được phần nào tốt cho chính quyền CS phần đó. Đời sống lay lắt khổ ải trong năm tháng như thế thì làm gì còn có mùa Xuân. Mùa Xuân Quê Hương Hạnh Phúc thật sự đã chết ngay ngày miền Nam bị Cộng Sản Bắc Việt dùng thủ đoạn tiến chiếm rồi. Mùa Xuân sau ngày ấy không còn quyện hương thơm tươi thắm nồng nàn nữa, ngày Tết xưa với rộn ràng chúc tụng thì đã lui trong quá khứ tự bao giờ nên đọc thư người đang ở phương trời xa mà thêm chua xót:
“ngậm ngùi đọc thư anh hỏi
Sàigòn, em giờ ra sao?
Mẹ Cha bánh chưng có gói?
mừng Xuân như Tết năm nào?
n.t.

Tơi biết trả lời sao với nỗi buồn chung nặng trĩu của quê hương. Mùa Xuân tươi đẹp cũ thiếu vắng đã mấy năm qua, mùa Xuân 1975 mới đây mà ngỡ đã quá xa xăm mịt mù, mùa Xuân ấy đã trôi theo lớp sóng nghìn trùng lênh đênh… Ôi! Người đi kẻ ở có biết ai buồn hơn ai đây hở!?
Ở quê nhà, gạo thường phải độn thêm bo bo, khoai sắn. Bánh mì thay cho cá thịt thì làm gì có bánh chưng ngày Tết treo vuông vắn thơm ngon từng hàng, nhân hương dẽo rền với mầu mỡ nếp, đậu, thịt lá tươi xanh đậm đà. Trước kia mỗi lần Tết đến, nhiều nhà thích gói nấu một nồi mấy chục cặp bánh chưng bánh tét để ăn và đem biếu, sẵn thức khuya đón giao thừa, đã như một lệ thường, thú vị. Giờ chỉ mong có vài ba chiếc để cúng lễ Tổ Tiên là đẹp lắm rồi, bởi đó là tập tục phải cố giữ, gắng sao cho có chút gọi là trong thời buổi điên đảo, khó khăn. Bởi thế, những người thuộc thành phần “ngụy quân ngụy quyền” như chúng tôi khi đang phải sống những ngày khó khăn bương chải không nhìn thấy tương lai trong tháng ngày đen tối đó, đành để cho những mùa xuân tươi trẻ vừa chớm đôi mươi của mình đi qua vội vả, nên nụ cười thanh xuân không có trên môi mà chỉ có giòng nước mắt vẫn lặng lẽ rơi trong âm thầm xót đau, tiếc nuối. Nên, đến tận bây giờ, những chúng tôi ngày đó vẫn yêu mến hoài tình cảm ân cần chứa chan trong khúc hát “Em Còn Nhớ Mùa Xuân”" mà người nhạc sĩ trẻ tài hoa Ngô Thụy Miên đã viết bằng trái tim của người nhạc sĩ đập theo nhịp thở xúc cảm của bao tình tự dấu yêu nơi thành phố quê nhà mãi mãi vẫn sống đẹp hoài bằng muôn ngàn lời tha thiết yêu thương: “Em có bao giờ còn nhớ mùa xuân, nhớ tháng năm xưa của tuổi dại khờ, nhớ tiếng dương cầm, giọng hát trẻ thơ, có thấy bơ vơ ngày tháng đợi chờ. Nơi ấy bây giờ còn có mùa xuân, có dáng nghiêng nghiêng nụ cười thật gần, có mắt nai vàng. Em có bao giờ thấu cho lòng anh. Trời Sàigòn chiều hôm nay còn nhiều mây bay, nhiều mầu đau thương bi hận tràn đầy. Gượng nụ cười gạt lệ trên môi nhìn đất nước tơi bời một thời em có hay. Những thành phố anh sẽ đi qua, đây Ba Lê, Luân Đôn, đây Vien, Nhưng Có Đâu Bằng Sàigòn Hôm Qua, Nhưng Có Đâu Bằng Sàigòn Hôm Sau, em có bao giờ hát câu hồi hương. Em có khi nào chợt nhớ mùa xuân, nhớ lá thư xanh và chuyện tình hồng, nhớ nắng hanh vàng nhuộm áo Hà Đông. Anh ở nơi này vẫn luôn chờ mong…”
Có thật yêu thương mới biết đến những rung động này, và có thật trong tình người mới hiểu được lời lẽ thiết tha. Nếu không thì sẽ chẳng bao giờ và chẳng thể nào có được những yêu thương đẹp đẽ tuyệt vời. Bài tình ca ‘Em Còn Nhớ Mùa Xuân” của nhạc sĩ Ngô Thụy Miên đã thật sự cho chúng tôi thấy lại mùa xuân tươi thắm với bao hương thơm hy vọng, ánh sáng của tương lai quê hương cùng chính thân phận mình. Bởi khi đã đến được bến bờ Tự Do, chúng ta vẫn mang theo bao kỷ niệm và tình thương yêu dành cho Sàigòn và quê hương đầy ắp trong trái tim của mỗi người Việt ly hương, vẫn mơ đến ngày hồi hương trong bầu trời tươi sáng của đất nước. Bởi, đối với chúng ta Không Có Đâu Bằng Sàigòn Hôm Qua và nhất định sẽ có một Sàigòn Hôm Sau còn đẹp tươi nồng thắm hơn qua những mất mát cách xa. Những người Việt hải ngoại vẫn nỗ lực với đời sống mới, không những để mau có được cuộc sống định cư an lành ở xứ người mà còn tận dụng thu thập những kiến thức, văn minh, kỹ thuật, những điều hay cái đẹp từ những đất nước tiến bộ bậc nhất trên thế giới để hằng mong sớm được góp sức dựng xây Sàigòn hôm sau thân yêu của chúng ta cùng lớp cháu con một quê hương một thành phố xứng đáng với danh xưng truyền thống hơn bốn ngàn năm văn hiến và là hòn ngọc viễn đông sáng giá của một quốc gia Việt Nam Tự Do-Giàu Đẹp-Thịnh Cường.
Xin được trân trọng đa tạ những người nhiệt tình yêu nước luôn tranh đấu đòi hỏi cho một nền Dân Chủ, một đất nước Tự Do cho tổ quốc Việt Nam đã bị tước đoạt, chà đạp bởi thể chế độc tài độc đảng của Cộng sản Việt Nam mấy mươi năm qua, dù ở trong nước hay ngoài hải ngoại bằng mọi nỗ lực, phương tiện, khả năng đóng góp của từng vị, từng khối. Những văn nghệ sĩ hoạt động sáng tác với sức mạnh của tâm hồn và ngòi bút, những nhạc sĩ với trái tim rung động và bừng lửa sáng trong thời gian qua và hiện nay như: Anh Việt Thu, Trầm Tử Thiêng, Anh Bằng, Trần Thiện Thanh, Nam Lộc, Ngô Thụy Miên, Trúc Hồ, Việt Dzũng, Nguyễn Đức Quang.v.v…
“cảm ơn những người nhạc sĩ
cho tôi trôi khắp nẻo đời
mộng mơ đã hai thế kỷ
yêu hoài Tổ Quốc Việt Nam!
những câu Lý và Quan Họ
khúc Hành Vân buồn hóa vui
mỗi ngày mùa Xuân hoa nở
hương thơm chất ngất Tình ơi!
cảm ơn với một mến thương
Tấm Lòng - Âm Nhạc - Quê Hương!”
n.t.
Sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, tất cả sách báo, băng nhạc Việt Nam Cộng Hòa bị nhà nước Cộng sản tịch thu đem cất dấu hoặc thiêu hủy hết. Họ bôi bác đó là sách báo băng nhạc đồi trụy để bắt dân chúng phải đọc sách báo tuyên truyền ca ngợi Đảng, Hồ Chí Minh và tập đoàn lãnh đạo Cộng sản Việt Nam, cũng như bôi bẩn chế độ cũ với đủ mọi khích bác, bóp méo, xuyên tạc. Đến nỗi sách giáo khoa dạy học sinh cấp Một là lứa tuổi ngây thơ trên dưới mười tuổi cũng bị nhồi sọ với lối học “đánh cho Mỹ cút Ngụy nhào”, môn Toán thì được biên soạn theo kiểu: Bộ Đội ta tiêu diệt được hai xe tăng Mỹ, có tám tên Mỹ và lính Ngụy chết, hai tên bị thương. Vậy tổng cộng Bộ Đội ta bắt được bao nhiêu tên Mỹ-Ngụy? Với lối giáo dục nhồi sọ như vậy, thử hỏi có phải là một phương pháp hiệu quả cho sự thù ghét hay hoàn toàn thất bại với chủ trương hèn hạ và ghê tởm. Ngay cả những cuốn sách khi được nhà nước Cộng sản in ra gọi là văn hóa phẩm, là sách ghi lịch sử, nhưng nội dung và chữ nghĩa hoàn toàn không văn hoá như khi họ dùng từ ngữ để nhục mạ và cố tình hạ thể bằng cách gọi các vị lãnh đạo của Viêt Nam Cộng Hòa là thằng Thiệu, thằng Kỳ.v.v… Tiếng “thằng” ấy không làm giảm hoặc mất đi cái cương vị của người bị gọi mà chỉ chứng tỏ kẻ viết và cấp lãnh đạo in ra là những kẻ hèn kém, vô văn hóa mà thôi. Hơn bốn ngàn năm văn hoá của đất nước Việt Nam không có trang lịch sử nào lại xấu xí và nguệch ngoạc dơ bẩn với những chữ nghĩa dốt nát như vậy. Vì dã tâm của mặc cảm, hận thù, tập đoàn CSBV khi mới tiếp thu được Miền Nam đã để lộ hết chân tướng giả dối và hèn kém nên không thể nào và cho đến bây giờ cũng không lấy được lòng tin của đa số dân chúng. Bởi họ không có lòng chân thành đối với đất nước dân tộc thì làm sao có thể đắc nhân tâm mà tồn tại.
Và cũng bởi sách báo được viết và in ra theo đường hướng chỉ thị của nhà nước CS như vậy ai mà thèm đọc nên suốt mấy năm đầu tôi không hề muốn đọc đến. Mãi ba bốn năm sau, thấy không hiệu quả với lớp độc giả miền Nam, nội dung sách báo bắt đầu chuyển hướng, có nhiều nhà văn, nhà thơ mới trong lớp trẻ ở miền Nam cũng như miền Bắc xuất hiện đem lại giòng văn thơ êm dịu mướt mát hơn như Lý Lan, Đỗ Trung Quân, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Nhật Ánh và một số khác nữa mà tôi chưa kịp nhớ ra hết. Nhà thơ Đỗ Trung Quân được biết là một nhà giáo trẻ, được nhiều người biết đến qua bài thơ ngắn nhưng rất truyền cảm qua lời thơ tươi sáng đậm đà, ngọt chất tình tự quê hương:
“quê hương là chùm khế ngọt
cho con trèo hái mỗi ngày
quê hương là đường đi học
con về rợp bướm vàng bay
quê hương là con diều biếc
tuổi thơ con thả trên đồng
quê hương là con đò nhỏ
êm đềm khua nước ven sông
quê hương là cầu tre nhỏ
mẹ về nón lá nghiêng che
quê hương là đêm trăng tỏ
hoa cau rụng trắng ngoài thềm
quê hương mỗi người chỉ một
như là chỉ một mẹ thôi
quê hương nếu ai không nhớ
sẽ không lớn nỗi thành người”
Bài thơ rung cảm được lòng người nhờ những hình ảnh thân quen được khơi lên bằng từ ngữ mượt mà và giai điệu thiết tha. Bài thơ Quê Hương vừa mới ra đời được chào đón nồng nhiệt khắp nơi bởi ai cũng thấy được tình tự và tâm tình, kỷ niệm cùng niềm yêu thương gắn bó của mình trong đó. Và bài thơ ấy được nhạc sĩ Giáp Văn Thạch phổ ngay thành ca khúc, cũng đúng ngay vào thời điểm người Việt Nam bỏ nước để trốn chạy xã hội chủ nghĩa Cộng sản ra đi tìm Tự Do theo đường vượt biển lên cao ào ạt nhất. Làn sóng vuợt biên của người Việt đi tìm đất tỵ nạn CS đông chưa từng thấy với bao thuyển nhân bỏ thây ngoài biển cả đã làm rúng động cả thế giới khiến nhà nước Cộng sản Việt Nam vô cùng bẻ mặt và tức tối liền lấy hai câu thơ cuối của Đỗ Trung Quân rêu rao ầm lên để tuyên án số người đi vượt biên hay nhắn nhe những ai đang toan tính ra đi là những kẻ “sẽ không lớn nỗi thành người” bởi cái tội “phản quốc” dám “rời bỏ quê hương”. Thế là bài thơ trong sáng ấy đã bị nhà nước Cộng Sản lợi dụng để bóp méo xuyên tạc lại những người không chấp nhận sống dưới sự cầm quyền của họ, dù có phải đau khổ lìa xa quê hương cùng người thân quyến thuộc, đánh đổi mạng sống của mình vì chỉ cần hai chữ Tự Do. Thế là bài thơ đã bị bôi đen từ hai hàng chữ cuối. Tội nghiệp bài thơ và tội nghiệp cả cho người sáng tác ra nó với chất giọng tình tự hồn nhiên tươi sáng lúc ban đầu.
“Quê Hương là bầu trời sáng
không gian bát ngát thênh thang
cánh diều bay không biết nói
đừng cho nhuộm bóng chiều vàng…”
n.t.

Có ai mà không biết mến yêu nơi chôn nhau cắt rốn, nơi được sinh ra và sẽ được chết trong lòng đất ấm quê Mẹ. Nơi lớn lên cùng mảnh đất tự hào với giòng giống Tổ Tiên. Nếu không vì ghê sợ phải lánh xa Cộng sản, người dân sẽ được sống một đời với quê hương đất nước. Đâu ai muốn vùì thây dưới làn nước lạnh lẽo ngoài biển khơi, sống tha hương với tháng ngày đoạn trường thương nhớ.
“Quê Hương triệu người chỉ một
triệu người chỉ một Quê Hương
là câu ai ai cũng thốt:
Việt Nam tôi mãi yêu thương!
“Quê Hương mỗi người chỉ một’
một là không thể chia hai?
buồn thay kẻ vì ngu dốt
làm mờ dân tộc-tương lai?!
n.t.
Chúng ta là những người phải tạm rời xa đất nước, lòng vẫn trĩu nặng sầu đau trăn trở bởi quê hương vẫn lầm than thống khổ dưới xã hội chủ nghĩa độc tài chuyên chế suốt nhiều năm qua. Toàn dân trong nước lẫn hải ngoại vẫn khát khao có một nền Dân Chủ và Tự Do cho đất nước sớm thoát khỏi sự nghèo nàn chậm tiến, được mau chóng vươn lên cùng thế giới văn minh.
Nhắc đến những giai đoạn đau buồn của quá khứ không phải để nuôi dưỡng hận thù mà để nhắc nhở sự chiến đấu của khối người Việt yêu chuộng Tự Do vẫn còn phải tiếp tục cho đến ngày nào tổ quốc Việt Nam thực sự được đổi mới bằng hạnh phúc của toàn dân và tương lai tốt đẹp cho dân tộc, đó là một đất nước Việt Nam Tự Do Dân Chủ.
Hiện nay các Trung tâm băng nhạc như Asia và Thúy Nga cùng một số các ca nhạc sĩ đã lần lượt dàn dựng lại những trang bi hùng của khối người Việt tỵ nạn Cộng Sản trên đường tìm đất sống Tự Do, đạt được nhiều thành quả tốt đẹp trong đời sống mới văn minh tân tiến ở xứ người và vẫn luôn gợi nhớ về một quê hương đẹp đẽ ngọt ngào, về giấc mơ hồi hương tràn đầy tươi sáng yêu thương. Và sở dĩ những tác phẩm mà nhạc sĩ Trần Thiện Thanh đã viết để ngợi ca người lính Việt Nam Cộng Hòa luôn được yêu mến và trân quý vì đó là những người thật sự chiến đấu cho chính nghĩa Tự Do, những người chiến sĩ với tình yêu sông núi chân thành, thiết tha mong được tiếp nối bước chân Cha Ông làm vẻ vang cho dân tộc thịnh cường. Và đó là những người đã hy sinh tất cả tuổi trẻ và tình riêng cho tổ quốc nhân dân nên những người sống trên mảnh đất miền Nam Việt Nam đều tri ân và nhớ ơn họ mãi mãi.
Lời đa tạ xin được gởi đến những trung tâm và những nhạc sĩ có công đóng góp vào nền Văn Hóa và Âm Nhạc các sản phẩm có giá trị quý báu về tinh thần để khối người Việt ở hải ngoại cũng như trong nước được sống lại với hình ảnh quả cảm can trường của những người chiến sĩ hào hùng Việt Nam Cộng Hòa và bao nét đẹp thân thương của quê hương yêu dấu.
Và cũng muốn được đa tạ lời phát biểu của thi sĩ Hoàng Cầm (trong cuộc tiếp xúc với luật sư Trịnh Hội tại Việt Nam) một người đã sống và hoạt động trong mấy chặng đường từ ngày kháng chiến chống thực dân cho đến khi ở lại miền Bắc tới bây giờ, rằng: “Đất nước Việt Nam sẽ khá hơn trong tương lai nếu tất cả chúng ta đều mạnh dạn làm điều gì ích lợi cho dân tộc”.
Quả thật, đó là điều chúng ta mong đợi đã mấy mươi năm qua và cũng là điều ai ai cũng nhìn thấy trước mắt, chỉ có tình yêu đất nước chân thành mới tạo được điều ích lợi thật sự cho dân tộc. Như hiện nay, không phải chỉ có khối người Việt ở hải ngoại lên tiếng đòi hỏi tự do, dân chủ, nhân quyền cho Việt Nam mà ngay cả ở trong nước đã có rất nhiều người thuộc các tầng lớp và trong mọi lứa tuổi đã mạnh dạn vạch rõ những sai trái, áp bức, bất công, lừa phỉnh của chế độ độc tài độc đảng, công khai đứng lên đòi hỏi dân chủ hóa cho quê hương, bất chấp những bạo lực bạo quyền áp chế. Chắc chắn tương lai dân tộc Việt Nam sẽ tốt đẹp hơn nhờ những tấm lòng, tiếng nói và hành động hằng loạt của những người Việt Nam yêu nước thương nòi chân chính đã, đang và sẽ tiếp tục tranh đấu đòi hỏi cho đến khi nào đất nước Việt Nam chúng ta hoàn toàn trong sáng đẹp tươi.
Và cuối cùng, tôi cũng xin được gởi tặng đến những người cùng chung giòng máu Việt Nam điều đẹp đẽ mà chúng ta vẫn hằng ôm ấp, ước mơ:

“Quê Hương, triệu người chỉ một
ta gìn ta giữ trong tim
đồng tâm hướng về dân tộc
Việt Nam giàu-đẹp, đậm tình!”

Ngọc Thủy

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Những năm tháng về sau

Post by phu_de »

Những năm tháng về sau

Image

đến ngày mai ra đi tòng quân lòng tôi chùng lại ...Tôi sẽ phải xa Đà Nẳng, thành phố thân yêu ,nơi tôi được sinh ra và lớn lên trong tình yêu của mẹ cha, bạn bè, thầy cô, trường lớp, với những mối tình vu vơ , những ngày đầu biết yêu , một thuở vấn vương theo các tà áo trắng bay bay để lại cho tôi bao ngẩn ngơ . Tôi xé tờ giấy học trò từ quyển vở Toán, viết bài thơ tình diệu vợi để gởi theo gió theo mây :

Áo trắng , ngày xưa ! tôi ngẩn ngơ
Bên hiên trường vắng bóng học trò
Tan trường em vẫn còn lưu luyến
Em đợi chờ ai hay đợi tôi
Tên em tôi khẽ gọi cùng gió
Đưa lá vàng bay đến nẻo xa
Tóc mềm là những dây hoa dại
Quấn lấy hồn tôi rất thật thà
Áo trắng thướt tha trong nắng mới
Nắng buổi bình minh nắng ban đầu
Thơ tình em viết sao mỏng quá
Thả vèo trong gió biết về đâu
Thời con gái em thèm chua ngọt
Trái me xanh rớt trên môi mềm
Tình em cho tôi là thế đó
Tình ơ hờ vì tình chỉ là thơ



Thôi giã từ bãi biển Mỹ Khê, Non Nước, Sơn Trà, Thanh Bình, Cầu Vồng, sân vận động Chi Lăng ... giã từ phượng vỹ, ve sầu, me chua, khế ngọt .Tôi sẽ đi , xin trả lại cho ai một thời hoa mộng của tuổi dại khờ , MỘT THỜI PHAN CHÂU TRINH ĐÀ NẲNG. Tôi đi vào giấc mộng hải hồ và từ đó cuộc đời trôi theo sóng nước cho đến một ngày tai họa giáng xuống đất nước thân yêu...


Ngày 29 tháng 04 -1975, tôi công tác trên chiến hạm LSM, loại tàu chuyên chở , đổ bộ , từ GUAM trở về Việt Nam Tàu chúng tôi được lệnh ủi bãi để đón người di tản . Sau khi đưa đoàn người di tản đến cửa Vũng Tàu, tôi phân vân không biết nên đi hay ở lại vì vợ con tôi còn kẹt ở Sài Gòn. Giữa cái đi và cái ở , tình cảm gia đình đã chiến thắng trong tôi . Thế là tôi xuống một chiếc tàu nhỏ của Mỹ và yêu cầu cho tôi vào bờ, giã từ vĩnh viễn cuộc đời hải nghiệp mà tôi trân quý, để rồi mang bao đắng cay vào tận nhà tù Cộng sản.


Nhớ ơi nhớ ! tuổi học trò Đà Nẳng
Thương những giờ trốn học đi lang thang
Chè ngã năm , năm đồng một ly cối
Đậu đỏ nước dừa ngọt lịm quê hương
Nhịn quà sáng chễm chệ vào kéo ghế
Diệp Hải Dung kem hai màu xanh đỏ
Gió hạ về rung rinh chùm hoa gạo
Ngẩn ngơ nhìn vạt áo trắng bay qua
Rạp LIDO chiếu Film Bonjour tristesse
Francoise Sagan thần tượng tuổi đương thì
Ta yêu em tình yêu vừa mới chớm
Đã vội ngậm ngùi Buồn ơi ! chào mi
Đường Bạch Đằng bờ sông Hàn tuyệt diệu
Quả me chua quyến rũ đôi má đào
Ghế đá công viên học trò con gái
Mái tóc bồng bềnh sóng nước lao xao
Đường Độc lập trang nghiêm nhà thờ lớn
Tượng Chúa buồn mưa nắng đến thăm luôn
Nhớ em anh ngước nhìn cây Thánh Giá
Sách vở nhạt nhòa gió lạnh từng cơn
Mỹ Thị những ngày cuối tuần cắm trại
Cùng nhau dựng lều che nắng ban mai
Gió đồi thông vi vu cánh diều giấy
Con gái đùa hơn cả lũ con trai
Rong chơi hết chỗ này đến chỗ nọ
Lên yên xe Đà Nẳng mình mộng mơ
Tôi chở tuổi học trò sau xe đạp
Hai bên xe phượng vĩ với ve sầu
Ừ phải đấy ngày xưa mình lẩn thẩn
Thầm yêu một lần ba bốn mỹ nhân
Từ Phan châu Trinh qua Phan thanh Giản
Về Sao Mai hò hẹn Cổ viện Chàm
Nhớ ơi nhớ ! tuổi học trò Đà Nẳng
Kỷ niệm này là kỷ niệm trăm năm
Nếu có kiếp sau thì ta vẫn
Làm cậu học trò Đà Nẳng xưa

ttps




Nhớ buổi sáng của ngày cuối tháng 05-75, tôi đi lang thang đầu đường Lê Văn Duyệt giữa Sài Gòn đổi chủ Thành phố biến dạng thật nhanh , người dân đem các vật dụng trong nhà ra bày bán đầy dẫy hai bên lề đường. Người ta gọi Saigon bây giờ là thành phố của nhân dân, của cách mạng và giai cấp công nhân , nông dân đứng lên làm chủ đất nước. Những anh đạp xích lô, những chị buôn thúng bán bưng, thừa cơ hội tự nhận mình là cách mạng nằm vùng , lên mặt, hù dọa mọi người. Tôi lầm lũi đi, xác thì còn đây nhưng hồn bay bổng nơi nào. Chợt một người từ căn nhà đi ra gọi :

- Sĩ. Anh Sĩ. Đi đâu đó?

Tôi quay lại, trong ngỡ ngàng tôi nhận ra thầy Nguyễn Đăng Ngọc, thầy Hiệu Trưởng cũ thời tôi còn học trường Phan châu Trinh. Hai thầy trò nắm chặt tay nhau vừa mừng vừa tủi! Thầy gọi tôi vào nhà. Ngồi nơi cái phòng khách đơn sơ, quyển từ điển Phÿp -Viết để trên bàn, hai thầy trò tâm sự, kể cho nhau nghe những mảnh đời đi qua và hiện tại. Xa Thầy mười lăm năm , bây giờ gặp thầy trong một hoàn cảnh bi đát của đất nước , tang thương của dân tộc , thầy bóp nhẹ vai tôi hỏi:

- Sao em không đi ?

Tôi buột miệng hỏi :

- Thưa thầy, sao thầy còn ở lại đây ?

Hai thầy trò nhìn nhau cùng một ý nghĩ, cùng một chua xót buồn đau .




Hôm ấy , 01-06-1975 ,tôi trình diện đi học tập cải tạo...

Sau khi chiếm miền Nam (30-04-1975 ), Cộng sản lừa gạt Quân, Cán, Chính của chế độ cũ còn kẹt lại , kêu gọi khăn gói đi học tập cải tạo theo diện 10 ngày hay một tháng rồi về . Cả miền Nam mắc bẫy của chúng. Cùng với bao nhiêu người đồng cảnh ngộ ,tôi đi trình diện học tập trong diện 1 tháng và được đưa về Suối Máu Biên Hòa . Thế rồi một tháng qua , một năm qua ...trong lao động nhọc nhằn, trong những đêm ngày khai báo liên miên, ngày về không phải là một tháng mà là vô định...



Mùa Thu năm 76, tôi bị đưa ra Bắc Lần nầy tôi được trở về với biển, với người tình muôn thuở của tôi. Chúng tôi được trói tay từng hai người một và nhốt trong một hầm tàu. Tàu ra khơi ... Bắc tiến .. .Tôi. bị đày ải từ Hà Nam Ninh đến Cao Bằng, Lạng Sơn, trong rừng thiên nước độc với những ngày cháy nắng , những đêm lạnh xé da trong manh áo tù không đủ ấm. Và thời gian trong tù cứ vậy mà trôi qua... Ai cũng nôn nóng lo âu chờ mong ngày được thả, qua bao đau khổ vì đói vì lạnh, vì phải lao động trong các hầm mỏ than dọc biên giới Việt Trung .

Sợ nhất là mỗi đêm khuya phải thức dậy làm tờ tự khai, tự thú điên cả cái đầu. Đời sống vỡ mộng, người tù mỏi mòn lo âu cho thân phận mình, cho gia đình, cho cha mẹ, anh chị em, vợ con và những người thân. Càng về sau người tù càng hiểu ra đừng có mong ngày về. Bọn nó nói “phải luôn luôn yên tâm cải tạo, học tập chính trị tốt, lao động chân tay giỏi, bao giờ nhân dân thấy các anh đã trở thành con người mới của chế độ Xã hội Chủ nghĩa thì các anh được nhân dân khoan hồng cho về " . Ngày về không biết được, nghĩa là ở tù không có án tù.


Phần tôi, sau 6 năm di chuyển từ trại nầy qua trại khác, ngày về mịt mờ xa thẳm, mỗi ngày phải đốn tre, chặt gỗ xây thêm nhà ở, làm chuồng nuôi vài ba con heo nhỏ xíu, gieo hột rau muống , phá rừng làm rẫy để trồng khoai mì, cải thiện đời sống cho có một chút ít dinh dưỡng trong những tấm thân gầy còm.

Các hầm cầu được giữ phân lại để làm phân xanh tưới rau . Tù không có kêu án, tôi cảm thấy có cái gì khác lạ, tôi hoàn toàn không suy đoán được tương lai. Một lần trong khi đào giếng để lấy nước, tôi chỉ bên kia hàng rào kẽm gai đầy mìn và nói với người bạn tù: “Cứ xem ngọn đồi kia là nơi chôn chúng ta khi kiệt sức lìa đời, bây giờ phải lê lết cho qua ngày tháng, phải tìm những niềm vui nho nhỏ mà ta có thể có được để vui sống, dù sống không niềm tin, không hy vọng , tội gì mà buồn vì buồn cũng vô ích, không giải quyết được gì !” Nghe tôi nói thế, người bạn tù bật khóc, tôi an ủi và trấn an tinh thần người bạn tù của tôi và từ đó hai đứa trở thành bạn thân .

Về sau nhiều người rất ngạc nhiên khi thấy chúng tôi vẫn tỉnh bơ, vui vẻ cười đùa như không phải ở tù , xem đây như nơi tạm trú, nơi dừng bước giang hồ, nơi tạm nghỉ sau một khoảng đời .Mặc cho ngày tháng đi qua, chúng tôi gầy gò vì thiếu ăn, vì lao động cực khổ, sức khỏe càng ngày càng vơi , chúng tôi vẫn xem những bữa ăn kham khổ là những bữa yến tiệc cao lương mỹ vị, những ngày làm việc nhọc nhằn là những buổi tập thể dục cho thân hình được khỏe mạnh.

Trong lúc lao động trong rừng sâu, bắt được con nhái bé nhỏ, dấu đem về trại, tối đến nướng lên thơm ngậy, xé làm hai, tổ chức một bữa tiệc thưởng trăng . Hai đứa bí mật dự dạ hội trong đêm bên một gốc cây già . Gió mát dịu, ánh trăng huyền ảo mông lung len lỏi qua hàng thông rừng như an ủi vỗ về . Nghe thoang thoảng đâu đây tiếng cười của con thơ, ánh mắt của vợ nhà...



Sau đó tôi có thêm vài bạn khác xin gia nhập hội bạn tù . Chúng tôi tổ chức được những buổi văn nghệ bỏ túi cấp tốc. Bốn năm tù nhân hẹn nhau tại đám cỏ, sau toilettes... mở đại nhạc hội, hát nhạc vàng cho nhau nghe. Tôi nhớ đến bài hát mà thầy Hoàng bích Sơn đã dạy cho chúng tôi trong những giờ học nhạc dưới mái trường Phan châu Trinh: “Đường về quê tôi, con đường xa xôi, qua mấy con đò, quanh mấy ngọn đồi cao”.. , tôi hát cho các đệ tử của tôi nghe, lòng dạt dào mơ về quê xưa, nơi có con đò, có hàng dừa xanh, có tình tôi vừa mới lớn . Rồi cùng kể chuyện tiếu lâm về " bác Hồ " , hát nho nhỏ : ? Hôm qua em mơ gặp bác Hồ, râu bác dài, bác đạp xích lô “, kể chuyện Quỳnh Giao, chuyện Thần Điêu Dại Hiệp .Nhiều lúc cao hứng ngâm thơ và ca vọng cổ . Cứ như thế mọi nhọc nhằn lo âu biến mất, dù thời gian văn nghệ mỗi đêm chỉ được khoảng 25 phút, thời gian ấn định để được phép đi tiêu. Chúng tôi đã cố tìm được HẠNH PHÚC ở trong tù - Hạnh phúc đó thật đơn giản, thật dễ thương - để quên đi cái đau khổ luôn luôn chực chờ . Có những khi đi khiêng đất, hai đứa hai đầu, gánh nặng quầng cả hai vai nhưng vẫn đánh cờ tướng không bàn : pháo 2 bình 5, mã 7 tấn 6, xa 1 tấn 1 v . v....

Chơi mãi thành quen, tất cả đều trở thành cao thủ . Vào một đêm đang bị nhồi sọ trong những bài học chính trị “ lao động là vinh quang, đế quốc Mỹ là kẻ thù số một, đảng Cộng sản là cái nôi của nhân loại, là đỉnh cao trí tuệ của loài người “, chúng tôi ngồi giả bộ chăm chú nghe nhưng thật ra chúng tôi đang đánh cờ. Chợt một anh bạn tù buột miệng la :” Chiếu “, anh Quản Giáo đang hùng hồn giảng bài súng AK bắn nhào B52 của đế quốc Mỹ, khựng lại hỏi “Cái gì thế ? " Chúng tôi đáp: “Quản Giáo giảng bài hay quá! “ -Tại sao gọi là CHIẾU ? Chúng tôi giải thích:”' Chiếu là tiếng khen tặng của người miền Nam , cũng như các từ hồ hởi, phấn khởi của người miền Bắc . Anh Quản Giáo hồ hởi, phấn khởi cười xòa trong cái hãnh diện là mình giảng hay !!!


Chúng tôi còn tổ chức những cuộc đấu kiến, đấu dế, bắt những con đấu thua bỏ vào hộp diêm cho chúng cải tạo .Chúng tôi tìm đủ mọi cách ,cố tạo ra những trò giải trí nho nhỏ để quên ngày tháng tù đày ..Thỉnh thoảng một vài người trốn tù trong đêm, gặp phải mìn nổ tan xác hay bị bắt lại để được nhốt riêng nơi hầm tối hoặc bị xử bắn về tội phản cách mạng. Và dĩ nhiên không thiếu những người tù chết vì bệnh không có thuốc chữa, xác được bó tròn trong chiếc chiếu khiêng ra chôn tận bìa rừng. Những thảm cảnh ghê rợn đó không làm cho chúng tôi sờn lòng . Đời người ai cũng một lần chết, cái chết đến với chúng tôi một cách dửng dưng. Chúng tôi cố gắng sống trong cái hạnh phúc nhỏ nhoi đã tìm được. Và chúng tôi cám ơn ơn trên đã cho chúng tôi nhiều nghị lực sống qua những năm tháng tù đày...



Ra khỏi tù giữa năm 81, tôi sống trong một nhà tù rộng rãi hơn .Tôi có cùng chung số phận cơ cực, bị đàn áp của mọi người vây quanh trong cái xã hội đổi mới quái đản Nhưng cay nghiệt hơn , dưới mắt bọn Cộng sản, tôi là thành phần thấp kém , chưa có quyền công dân, cuộc sống vẫn bị quản chế, mỗi tuần phải trình diện công an phường một lần để khai báo hoạt động trong tuần. Tôi đã sống những ngày đi công tác thủy lợi, lao động ngoài công trường, làm việc như trâu bò để mỗi ngày khi chiều xuống được lãnh hai kg BO BO đem về nhờ ơn Xã Hội Chủ Nghĩa ưu việt .Một lần , trong lúc được nghỉ ngơi, cởi trần mặc quần xà lỏn nằm phơi nắng, phơi gió hây hây, trăm sự gác qua một bên, chỉ một mình ta với đất trời bao la , tôi chuyện trò với một anh bộ đội giải ngũ về làm dân với bao năm gian khổ hy sinh diệt Mỹ Ngụy cứu nước ,có huy chương Dũng sĩ diệt Mỹ của bác Hồ. Anh bộ đội được đưa về làm cán bộ trong công trường thủy lợi nầy với ba tháng lương chưa mua nỗi chiếc xe đạp cho con, trong lúc các đồng chí của anh tiếp thu các dinh thự của Mỹ Ngụy , sống một đời sống xa hoa phè phỡn. Tôi hỏi anh lý do tại sao anh ở đây ? Anh trả loi:”+` Tớ vì lý do cha mẹ là điền chủ, tuy bị đấu tố tịch thu tất cả tài sản nhưng vẫn còn cái gốc là điền chủ , tuy tớ được vào Đảng nhưng còn phải phấn đấu nhiều hon” . Từ đó anh hay theo tôi để hỏi về cuộc sống của dân Miền Nam . Tôi hân hoan lên lớp với người bộ đội bị nhồi sọ này , và cảm thấy như mình đã làm được một việc thiện .



Một buổi chiều, tôi đạp xe đạp đi dạo trên đường Hồng thập Tự, bất ngờ tôi gặp thầy Tòng. Còn nỗi vui mừng, niềm hạnh phúc nào hơn khi gặp lại thầy cũ . Thầy vẫn nụ cười muôn thuở, nước da ngâm đen như thuở nào, mái tóc bồng bềnh, lãng tử. Hai thầy trò đạp xe đạp song song, chuyện ngày xưa, chuyện ngày nay, chuyện ngày mai ,tâm sự suốt một đoạn đường dài . Tội mời thầy vào một tiệm ăn nhỏ, hai tô phở nóng như tình thầy trò bỗng dưng gặp lại, hai ly cà phê sửa đá mát rượi như mái trường Phan châu Trinh thân yêu ngày xưa. Tôi hình dung lại những ngày tháng trước, xa quá rồi... Kỷ niệm lại về quanh tôi, quanh thầy, hình ảnh người thầy tươi vui sống động, người thầy mặc quần tây dài ống loa đầu tiên trong cái mode tân thời của Đà Nẳng, người thầy ham mê đá bóng mà một thời Đực 1, , Đực 2, Tam Lang, Rạng là thần tượng sân cỏ của thầy . Tôi nhớ có một lần tôi và bạn bè vui chơi ở Thanh Bồ, không có tiền ăn cà rem, chợt gặp thầy đi ngang qua, tôi lập mưu xì lốp xe đạp, rồi chạy lại thầy xin tiền vá xe. thầy vui vẻ móc bóp cho mấy đồng. Lần sau thằng bạn cùng lớp dùng mưu kế đó để kiếm tiền ăn quà, thầy biết được la rầy cho một trận. Thằng bạn mặt đỏ như say rượu, bẽn lẽn cúi đầu. Tuy vậy, thầy cũng thương tình cho mấy đồng với lời rầy la” lần sau không được lập mưu như vậy nữa, xấu lắm, em biết không? “ Tình thầy trò lấy gì đong cho hết, biết lấy gì gỡ cho ra. Thầy Tòng! Em ngồi đây viết về thầy thấy lòng vui theo ánh nắng chan hòa, vài nụ hoa vừa chớm nở, tiếng chim ríu rít trong mảnh vườn nhà em, hạnh phúc lan tràn trong ánh mắt, trên môi miệng, trong trái tim không chịu già theo với tuổi đời phôi pha những ngày cuối đông lạnh lẽo tiếp nối những ngày đầu xuân ấm áp của đất trời Phÿp . Em nhớ về thấy với hạnh phúc đó.



Ngày mai lại đi, tôi đã nhận lời lái một chiếc ghe chở người vượt biên . Buổi chiều đi trên con đường Trương minh Giảng để nhìn lần cuối khu phố đã một thời thân quen với tôi, ngang qua khu Đại Học VẠN HẠNH, tôi chợt nhìn một dáng ai quen quen trong hành lang Đại Học . Hình như người đó cũng nhìn ra tôi, kẻ chạy vào, người chạy ra, tay bắt mặt mừng sau một phút ngập ngừng, bỡ ngỡ... Sĩ ,Thầy Phạm văn Ấm. Hai tiếng gọi, hai nỗi lòng như nhập một. Thầy bảo: “Chúng mình vào quán cà phê bên cạnh nói chuyện. Tôi bao, tôi bao anh “.

- Anh uống gì nào?

Uống gì, tôi thầm nghĩ. Thưa thầy, em đã uống ánh mắt trìu mến của thầy, tấm lòng hiền hậu của thầy.
Tôi nghẹn ngào chẳng biết nói gì hơn!

-Cà phê, nghe Sĩ

Thầy vẫn như từ thuở nào, dáng người nho nhỏ, nghiêm nghị. Cái nghiêm nghị giống như thầy Ngọc, nghiêm nghị của một nhà mô phạm . Tiếng thầy vẫn sang sảng, rõ ràng như những lúc thầy dạy Anh Văn. Chuyện ngày xưa, chuyện ngày nay, chuyện hiện tại, chuyện tương lai, hai thầy trò, hai mái đầu chụm lại, nói gì đây, bao nhiêu lời để hỏi, bao nhiêu câu để trả lời, hai thầy trò tưởng mình đang sống trong mơ.
“ Từ ngày gặp anh nơi Viện Đại Học Huế rồi anh đi đâu mất, sao vậy anh? Anh đang học được mà! Tôi đã hỏi Bác Sĩ Quyến, anh Quyến nói anh đã bỏ học để vào Hải Quân, anh không muốn làm Bác sĩ à !” Tôi bật cười, thấy thầy đang vui, tôi tếu:
Em đã là Bác sĩ rồi, học làm gì!
Thầy ngạc nhiên, tôi giải thích:
Em có thằng em trai, nó lấy vợ, đẻ con, con nó phải gọi em bằng bác, em tên Sĩ, vậy không phải là Bác Sĩ sao?



Thầy cười xòa: “Anh lúc nào cũng vậy, chỉ biết chọc người khác cười “Thầy kể tôi nghe: “Thầy vẫn dạy Anh Văn Đại học Sư phạm Huế, sau nầy tôi vào Sài Gòn dạy Anh Văn tại Đại học Vạn Hạnh đến bây giờ “.Thầy nhắc lại: “Ngày xưa anh nghịch nhất trường, anh biết không? Anh đả phá tôi thế nào “.Ngày xưa, cái ngày xa lắc đó, lớp tôi có chị Thúy Oanh đẹp, giỏi Anh văn, được thầy Ấm cưng. Anh văn tôi chẳng thua gì chị Thúy Oanh, thế mà mỗi lần làm bài tập hay vấn đáp, lúc nào tôi cũng thua chị Thúy Oanh nữa điểm, nhất là những bài thi lục cá nguyệt tôi không thể nào vượt qua được chị Thúy Oanh . Lúc nào tôi cũng bị thua trong gang tấc. Tôi giận quá, một hôm trong buổi tan trường về, tôi khóa hai xe đạp của thầy Ấm và chị Thúy Oanh lại với nhau.. Lúc ra về, một nam một nữ, hai xe dính chặt, không cách nào mở ra được. Thầy nhăn mặt, chị Thúy Oanh khóc, cuối cùng phải nhờ bác Cai trường cưa cái khóa. Không biết thằng bạn nào thày lay mét với thầy thủ phạm là tôi .Thầy Ngọc gọi tôi lên văn phòng ngày hôm sau, thế rồi là phải kỷ luật ...Thầy ơi, sau này em đã hối hận chuyện này , lòng thầy rất bao dung , thầy vẫn thương em cho đến ngày hôm nay gặp lai, thầy trò thân ái kể cho nghe lại chuyện ngày xưa thương mến đó. Thầy vẫn ở nội trú trong Viện Đại Học Vạn Hạnh, thầy không nói chuyện gia đình của thầy và tôi cũng e ngại không dám hỏi, thầy hỏi địa chỉ nhà tôi để đến thăm, tôi nói nhỏ:

“Em ở gần đây nhưng ngày mai em vượt biên " . Thầy cầm chặt tay tôi chúc thượng lộ bình an . Thầy nói vài ngày nữa, thầy sẽ đi ngang nhà tôi để dò la tin tức. Xin từ giã người thầy kính yêu, biết đâu đây là gần gặp gỡ cuối cùng. Tôi thấy mắt mình như có hạt bụi bám vào và 2 mắt thầy buồn buồn nhìn vào cõi xa xăm. Hạnh Phúc đâu đây như ôm chặt lấy tình Thầy trò .#

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Tôi ra đi mùa Thu năm 81, bỏ lại đàng sau Sài Gòn ấp ủ hình ảnh của Việt Nam nước tôi Đến điểm hẹn tại Bà Rịa, tôi và gia đình được Công an chở bằng chiếc xe Honda dame đến bãi , để từ ghe nhỏ ra ghe lớn hơn. Chủ ghe nói với tôi, ghe dài 12 mét chở tối đa 65 người . Khi lên ghe lớn, đúng ghe dài 12 mét , ngang 4 mét, nhưng số người tôi thầm đếm hơn 100 . Đứng trên phòng lái nhìn xuống thấy toàn là đầu người với chiếc ghe mong manh trong đêm tối . Người Công an lái chiếc ghe đi, hai bên có hai ghe nhỏ hộ tống. Ra đến cửa Vũng Tàu, trời vẫn còn tối, anh ta giao tay lái cho tôi và một gói nhỏ đựng dụng cụ hải hành.

“Bắt đầu từ bây giờ anh lái, chúng tôi hết nhiệm vu”. Anh ta nói xong nhảy xuống ghe nhỏ và quay trở về.
Tài công phụ đâu? Tôi lên tiếng hỏi:

Chủ ghe trả lời:

“Vào phút chót nó không đi”. Thế là mình tôi trách nhiệm suốt hải trình, chủ ghe lo phần máy. Tôi mở gói đựng dụng cụ hải hành ra: một đèn pin, một ống dòm, một la bàn và một hải đồ. Tôi yên chí nhưng nhìn kỹ lại không phải là hải đồ mà là một bản đồ Sài Gòn Chợ Lớn. Tôi hỏi chủ ghe và được trả lời: “ Bọn nó đưa nhầm bản đồ rồi " .-Không sao!

Không khí trong lành của biển, ngọn gió ban mai thổi mát lòng, tôi cảm thấy vui . Trong đêm tối , theo chòm sao Bắc Đẩu lung linh, tiếng sóng rào rạt rủ tôi về với trời đất bao la, với bờ bến mộng ngày xưa. Tôi đưa chiếc ghe đi xuôi theo dòng nước, thủy triều bắt đầu rút xuống, hạnh phúc trong tôi dâng lên. Rạng đông, mặt trời to tròn bắt đầu mỉm cười với người thủy thủ trở về với biển khơi , tôi qua được mạng lưới tuần duyên của Công an biên phòng. Ghe vào hải phận quốc tế, thản nhiên trên đường đào thoát, không lo âu, để trí óc mình sáng suốt đi đúng lộ trình . Tôi tự nhủ, mình có cái gì phải lo, bị bắt thì tù lại, ở tù cũng có ngày ra tù, ra tù lại vượt biên, chỉ vậy thôi. Như kẻ ham chơi, thuyền vượt sóng ra khơi như đi du lịch, Tự do ơi! Tự do!

Tôi thầm hát khẽ : Ra Khơi biết mặt trùng Dương , biết trời mênh mông , biết ta hải hồ ...
Trước mặt tôi chân trời rộng, tôi ra đi tìm đất sống, dù chết cũng vui, còn hơn những người tù chết trong tay Cộng sản. Tôi không biết cảm ơn ai, cho tôi cảm ơn tất cả, kể cả những người Cộng sản đã đày đọa tôi suốt gần 7 năm dài, tôi đã thật sự đi tìm TỰ DO, điều mà tôi quyết tâm từ ngày vừa mới ra tù.

Sau bốn ngày lênh đênh, trời yên biển lặng, hải trình tôi đi không lệch một độ. Cái la bàn không xài được, lúc nầy còn cái vốn liếng hàng hải thiên văn đem ra dùng. Tôi đưa ghe vào giữa hải trình của các thương thuyền xuôi ngược, mong là không gặp tàu Liên Sô hay Trung Cong .Sau bốn ngày cầm tay lái , tôi bắt đầu thấm mệt . Chiều nay gió đổi hướng từ Tây Nam sang Đông Bắc, những đám mây bạc cuối chân trời đã bắt đầu đổi màu xám, mọi người đã nằm im không còn nghe tiếng đọc kinh cầu nguyện. Con tàu lặng thinh , chỉ còn gió và sóng biển lao xao. Tôi thầm nghĩ, đêm nay có bảo và con thuyền sẽ đi về đâu? Trời đã bắt đầu tối, một chút ánh trăng còn sót lại của những ngày gần cuối tháng đủ soi đường cho con tàu tôi đi . Ghe cứ lầm lũi theo chiều gió, gió càng lúc càng mạnh, sóng đã phủ mũi ghe . Tôi ghì tay lái và bắt đầu cảm thấy chơi vơi . Sức người, sức ghe như thế nầy làm sao chống chỏi với trời biển.... Chợt từ xa, xa tít trong bóng đêm có chút ánh sáng, niềm hy vọng len lỏi trong tôi, ánh đèn đài chỉ huy đã hiện rõ. Tôi chạy hết tốc lực về phía con tàu, dùng đèn pin để xin cấp cứu . Ánh đèn yếu quá nên không nhận được. Một khoảng thời gian trôi qua, tôi nhận được tín hiệu con tàu . Một chiếc tàu buôn của Pháp sử dụng truyền tin bằng ánh đèn, cho tôi biết đã nhìn thấy rõ chúng tôi hỏi cần gì, có hiểu được tín hiệu qua ánh đèn hay không . Còn nỗi mừng nào hơn. Tôi trả lời bằng ánh đèn pin yếu ớt ” Tôi hiểu, tôi hiểu, tôi xin cấp cứu vì ghe nước vào nhiều đang lâm nguy, chúng tôi là những người tị nạn khởi hành từ Việt Nam” . Chiếc thương thuyền Cargo của Pháp đã từ từ hiện rõ trước tôi, bảo chúng tôi đợi để xin lệnh trên. Cuối cùng tôi được phép cặp vào hông tàu . Những ánh đèn pha sáng rực chỗ ghe tôi và nhiệm sở cấp cứu được thực hiện . Mọi người lên tàu được bình yên . Chiếc ghe vượt biên bị đánh chìm . Tôi là người lên tàu lớn cuối cùng với cái la bàn kỷ niệm. Những tiếng hoan hô vang dậy, mọi người ôm lay tôi, công kênh tôi lên , tôi sung sướng vô cùng, niềm hạnh phúc vô biên . Tôi đã đưa 108 thuyền nhân đến bến bờ tự do. Đêm hôm đó, bảo cấp 5, qua cánh cửa kính của căn phòng ấm cúng bỗng tôi rùng mình, hơn 10 năm Hải Quân , lang thang khắp biển Đông nầy, lần đầu tiên tôi biết sợ người tình Biển yêu dấu của tôi nổi giận. Niềm tin và hy vọng đã cho tôi một ý chí tranh đấu không mỏi mệt cho một tương lai .

Đến trại tỵ nạn Hồng Kông, tàu Pháp vớt nên không vào trại Cấm, chúng tôi được cư ngụ tại một khách sạn ở Kao Luong . Mỗi ngày được đi dạo phố vài giờ, chờ phỏng vấn để định cư một nước thứ ba. Tôi tiếp tục sống với Hạnh Phúc của tôi, mỗi chiều tôi lên đồi nằm ngủ, mơ màng theo tiếng gió vi vu .Trời nóng thì xuống biển tắm, bắt những con dã tràng xe cát mà nhớ biển Đông, nhớ Huế, nhớ Đà Nẳng, nhớ Nha Trang cùng các bạn bè thân yêu từ thuở nào. Chiều về ăn cơn thật no, đầy đủ chất bổ dưỡng , đêm đêm đốt lửa nhắc chuyện Sài- Gòn, tâm hồn vô cùng thảnh thơi, . Thời gian ở đây như ngưng lại trong cái huyền ảo của cuộc đời, cuộc sống trở về với thiên nhiên vô tư như trẻ thơ. Tôi cảm thấy tôi là người sung sướng nhất trên cõi đời nầy, tôi nâng niu hạnh phúc trong vòng tay, Hạnh phúc … Hạnh phúc.



Đến Pháp giữa thủ đô Paris đồ sộ, tôi đi lang thang tìm việcQua đây vào mùa Đông giá lạnh, tuyết giăng đầy, tuyết rơi trên tóc, rơi trên vai. Đi hoài đi hủy tìm chưa được việc, tôi vẫn thấy mình là kẻ may mắn, sung sướng vì đang sống trong thế giới TỰ DO mà nhiều người thèm muốn . Tôi nghĩ dến bạn bè bà con đang khắc khoải trong gông cùm Cộng Sản, nghĩ đến nhiều người đã chết, đã bị cướp bóc hãm hiếp giữa biển Đông. Tôi tự trấn an từ từ rồi sẽ có việc, mình cứ tà tà hưởng tiền trợ cấp. Các con đã được vào trường nhập học với bạn bè là tốt rồi. Cho đến một hôm tôi tình cờ đi ngang qua một Võ đường Thái Cực Đạo. Đứng nhìn các em trong bộ võ phục cổ truyền đang luyện tập, tôi chợt nghĩ tại sao mình không thử thời vận . Tội tìm đến vị Giám Đốc xin làm Huấn luyện Viên võ thuật. sau khi nộp hồ sơ, bằng cấp và trắc nghiệm, tôi được thu nhận. Vậy là tôi đã có việc làm. Tuy là nghề tay trái nhưng tôi thấy bằng lòng và vui vẻ, hàng ngày chơi đùa và luyện tập với các môn sinh,đủ màu da: đen, trắng, vàng... Thế là lòng tràn niềm vui phơi phới, cuộc sống nơi xứ lạ quê người bắt đầu thích hợp với chúng tôi. Các con tôi đã vững vàng theo kịp được chương trình học ở một xứ sở văn minh. Tôi nhìn các con, lòng vui mừng đã đạt được niềm mơ ước từ lâu.
Như thế đó, đời tôi hơn 10 năm với biển thuở ban đầu, trong chiến tranh đau khổ , tuy phải chịu một vài thiệt thòi nào đó trong đời sống gia đình nhưng tôi cảm thấy mình tràn đầy hạnh phúc, được du lịch khắp đó đây, thả hồn theo sóng nước... Những đêm trăng sáng đầy trời , tôi hay ngước nhìn tìm một vì sao , vì sao BALANCE hộ mạng của tôi trong giải Thiên Hà và chợt nhớ về người Mẹ thương yêu đã một đời lam lũ chắt chiu nuôi con cho đến ngày khôn lớn :

MẸ ƠI BIỂN GỌI

Con ốc nhỏ thu mình chôn dưới cát
Mà trong lòng chứa cả một đại dương
Nghe vi vu từ ngàn xưa vất vưởng
Rồi thì thầm từ hồn ốc mênh mông
Mẹ sinh con bên bờ cong chữ S
Bài hát ru theo chiếc võng à ơi !
Lời mẹ êm thiết tha tình biển gọi
Võng tròng trành theo nhịp tàu đong đưa
Buổi chia tay tuổi học trò ra biển
Ngày xuống tàu hồn bỗng thấy lao xao
Ôm mẹ yêu, vòng tay đầy mộng ảo
Tiễn con đi quanh mẹ gió rì rào
Con dã tràng xe từng viên cát nhỏ
Giương cái càng che khuất nữa vầng trăng
Ánh trăng vàng rơi tràn trên biển vắng
Ngọt như dòng sữa mẹ đã nuôi con
Chiều xuống thấp mây rơi trên đỉnh núi
Cánh chim bay lãng đãng bóng hoàng hôn
Mẹ ơi mẹ giữa trùng khơi dậy sóng
Lòng mẹ bao la hơn biển Thái Bình dạt dào (*)

ttps
(*) Lòng Mẹ - Y Vân



Tôi không ngờ, cuộc đời có những cái bất ngờ mà mình không thể ngờ được, tôi đã gặp lại Cô LIỂNG dạy Pháp Văn ngày xưa. Các bạn ơi , ai đã học với Cô LIỂNG ắt vẫn còn nhớ Cô không những là một cô giáo hiền, linh hoạt vui tính mà còn là một người mẹ của chúng mình. Cô không bao giờ la rầy học trò, chỉ nhỏ nhẹ khuyên răn khi tụi mình phạm lỗi hay lười biếng học hành . Với Cô tụi mình không phải chỉ là học trò của cô, mà còn như những đứa con trong lòng cô. Ngày tôi gặp lại Cô, Cô đã già lắm rồi, hai mẹ con nhận ra nhau trong mùi hương thơm dịu dưới chân tượng Phật. Cô lấy tay xoa đầu tôi, xoa đầu đứa học trò ngỗ nghịch ngày xưa. Cô chỉ nói được:” Cô không ngờ ! “ Rồi Cô khóc. Có lẽ qua hình ảnh của tôi, Cô đã sống lại thời làm cô giáo ngày xưa , cũng giống như tôi bây giờ, đang ngồi viết những dòng chữ nầy gởi đến Thầy Cô và các Bạn, tôi đang sống lại một thuở vàng son lưu luyến đẹp nhất trong đời: Tuổi Học Trò, Thời Dạy Học. Tôi Chia tay Cô Liểng trong lời hẹn gặp lại . Tôi cho Cô biết ngày mai tôi phải đi xa . Ngày tôi đi, mưa bay bay như bụi, vương mái tóc tôi, mái tóc ngày hôm qua Cô Liểng, bàn tay mẹ dịu dàng xoa trên đầu con, lòng tôi man mát buồn và mong cho mau kết thúc chuyến di xa để về tâm sự cùng Cô. Nhưng hai tháng sau tôi về, Cô đã bỏ tôi ra đi vĩnh viễn. Còn nỗi buồn nào hơn ! Tôi gặp lại cô có một lần là lần cuối rồi xa ngàn đời. Cô ơi! Người Thầy dạy Pháp Văn đầu đời của con, mỗi mùa Phật Đản đến, con sẽ về chùa Khánh Anh Pháp để thắp hương tưởng niệm Cô. Di ảnh và tro cốt của Cô Liểng được thờ tại đây. Các bạn thân mến, ai có dịp ghé qua Paris ,xin tìm về thăm Cô, thắp nén hương lòng để dâng lên Người Thầy thương mến.


Mùa Xuân 2003 tôi được về hưu - 60 tuổi - 60 năm cuộc đời . Chợt nhớ bài hát 60 năm cuộc đời của nhạc sĩ Y Vân :

Em ơi có bao nhiêu
60 năm cuộc đời
20 năm đầu - Sung sướng không bao lâu
20 năm sau , tình yêu cao vòi vợi
20 năm nữa có là bao ...


Người nhạc sĩ đã mất vừa đúng 60 tuổi Bài hát đã an bài một định mênh . Riêng tôi , 60 năm đã qua , cuộc đời lên xuống sướng khổ đã qua , giờ đây còn lại là những tháng ngày thong dong , không bận tâm suy nghĩ nhiều . Tôi sống trong hạnh phúc cuối đời . Buổi sáng tôi thức dậy sớm đến hồ tắm bơi lội vui đùa trong dòng nước nóng . Mỗi ngày tôi dọn dẹp nhà cửa cho sạch sẽ để vui lòng bà xã . Rồi tôi lang thang tìm vần thơ để viết thơ tình hồi tưởng lại những tháng ngày hoa mộng tuổi 20 :

Cuối đời giấc ngủ không còn mộng
Trời vẫn xanh xanh mãi trong hồn
Bỏ lại đằng sau tình diệu vợi
Hạt bụi mờ trong cõi hư không

ttps



Tháng 8-2004

Một buổi sáng bầu trời trong xanh như mắt mèo , đang cắt cỏ ngoài vườn , tôi nghe chuông điện thoại reo ,rồi một giọng nói nhẹ nhàng bên kia dầu dây:

-Phú Sĩ có biết ai đây không ?
-Thưa không biết , dạ xin cho biết quý danh .
-Cô Liệu đây , Cô Bên Mỹ vừa mới qua thăm Paris .

Tôi mừng quá , xin địa chỉ , thay áo quần , dọt như tên bắn đến thăm Cô .
Cô Đặng thị Liệu , người Thầy dạy Anh Văn của tôi thuở là học trò đệ lục , đệ ngũ Phan Châu Trinh .


Cô vẫn như ngày nào . Gần nữa thê kỹ mới gặp lại Cô , vui buồn lẫn lộn . Thầy trò cùng nhau kể chuyện xa xưa . Được biết Cô lưu lại Paris một tuần , tôi đến thăm Cô mỗi ngày . Thầy trò lang thang thăm viếng các thắng cảnh Paris . Gia đình Tôi có mời Cô Liệu đến nhà chơi một hôm , và theo lời yêu cầu của cô tôi có mời người bạn dồng môn Nguyễn hữu Viện cùng dến . Nhờ có Cô Liệu tôi mới biết được Nguyễn hữu Viện cũng cư ngụ gần Phÿp mấy chục năm qua . Viện đến chơi đem theo em bé trai con của Viện . Viện dáng người ốm và cao , tươi cười hoạt bác . Thầy trò vui ơi là vui trong một ngày hè đầy nắng , gió mát và mây xanh . Cuộc vui rồi cũng tàn và từ dấy dến nay tôi không hề gặp lại Viện .Tôi vẫn mong một ngày đẹp trời nào đó gặp lại người bạn dồng môn mà tôi chỉ được diện kiến dung nhan một lần trong đời .Một tuần lễ rồi cũng qua nhanh, Cô Liệu giã từ Paris , để lại cho tôi một nỗi buồn mang mác . Tôi nhớ Thầy, nhớ tuổi học trò dẹp trân quý .

Những ngày hè Paris yêu dấu
Nắng ươm màu lụa dòng sông Seine
Thầy trò ngồi ôn bao kỷ niệm
Cùng kể nhau nghe chuyện buổi đầu

Thuở hai mươi Cô con chim nhỏ
Giữa đám học trò tuổi măng non
Phan châu Trinh mái trường xưa ấy
Giờ chỉ còn da diết trong hồn
Hồi đó các em thật dễ thương
Cô vui trong nắng đẹp sân trường
Nhìn mắt Cô khung trời hoa mộng
Cánh phượng hồng rơi trong mắt ai
Tôi dìu Cô đi giữa phố phường
Buồn vui tôi gởi đến muôn phương
Cô ơi ! Paris sao đẹp lạ
Phan châu Trinh , trường tôi vấn vương

ttps



Cuối năm 2004 : Chị Tôi

Tôi chưa một lần thấy mặt chị tôi. Chị vẫn ở xa tôi vạn dặm . Chị... như một chiếc bóng .Nhờ cái duyên lạ lẫm cuộc đời ban tặng cho tôi , chị Kim Thành đã từ ngôi vị một cô giáo của Đại Gia đình Trường Trung Học Phan Châu Trinh Đà Nẳng , trở thành người chị vô vàn thương mến trong lòng tôi sau khi tôi khám phá ra chị chính là vợ của anh Trần Phước Hải, người Anh kết nghĩa của tôi ngày xưa , thuở còn bé tí , mà hoàn cảnh sống đã đưa đẩy mấy mươi năm lạc mất nhau.Nhớ cái Tết Ất Dậu 2005 , vào ngày Mồng Một Paris tức đêm Giao Thừa Cali , tôi nhận được email của chị với bài thơ khai bút đầu năm HONG TÌNH vỏn vẹn 4 câu :

Đêm Ba Mươi ngồi ôm bóng tối
Đốt hương trầm mở lối Sông Tương
Anh ơi xin hãy mau về
Cùng em thắp nến ta hong cuộc tình


Giữa ngày Xuân, đất trời rạng rỡ, mắt tôi bỗng dưng cay. Tôi nghĩ đến chị đang cô đơn giữa đêm Trừ tịch, ngồi đốt trầm hương chờ bóng Anh về. Tôi nhớ Anh... tôi thương chị , viết vội cái email “Chị ơi, em thương chị quá ! Chị đừng làm em khóc ".


Đấy, tình cảm của tôi và chị Kim Thành của tôi là thế đấy. Dù ở trong tình cảnh nào , cái tình cảm dễ thương đó chỉ có tăng chứ không hề giảm. Có lần tôi đã viết thư cho người em đồng môn tâm giao Lê Mạnh Trùy “ Trùy ơi, ngày xưa Trùy học với cô Kim Thành , Trùy có sợ cô Kim Thành không? Mình thì sợ chị Kim Thành lắm ! “ “Thật đó chị ơi, em sợ em không đền đáp đủ tấm lòng thương mến chị đã dành cho em mặc dầu với em bây giờ chị đã là tất cả, không gì có thể so sánh được . Tôi tiếc thầm sao ngày xưa tôi không có cái may mắn được làm học trò của cô Kim Thành. Năm chị về dạy Phan Châu Trinh cũng chính là năm tôi phải rời trường cũ ra Huế học sau khi đậu Tú tài 1 . Tôi nghĩ biết đâu được làm học trò chị Kim Thành, được chị dạy dỗ thương yêu , tôi sẽ không hoang nghịch làm phiền lòng Thầy Cô như tôi đã từng làm trong những năm tháng sống dưới mái trương Phan Châu Trinh đầy ắp kỷ niệm .Giờ đây đã 62 tuổi , đã là Ông Nội Ông Ngoại , nhưng sao đối với chị Kim Thành tôi vẫn thấy mình là đứa trẻ thơ hay vòi vĩnh . Chị tôi rất nuông chiều tôi nhưng đôi khi cũng răn đe khiếp lắm. Tôi thường gọi CHỊ ƠI để cầu cứu những khi gặp chuyện buồn phiền không may , giống như ngày xưa tôi hay gọi MẸ ƠI để cầu cứu Mẹ . Trong tôi , chị Kim Thành là tổng hợp hình ảnh của người Thương cô đơn, người Thầy cao quí trong Đại Gia Đình Phan Châu Trinh thân ái , người Chị vô cùng trìu mến và người Mẹ nuông chiều tha thứ bao dung”.. Chị ơi chị ! em muôn vàn cám ơn trái tim bao dung tha thứ... của chị , em muôn vàn cám ơn chị đã cho em Hạnh phúc lớn cuối đời “.

Tháng 09-2005 vừa qua, kỷ niệm ngày giỗ Anh năm thứ hai, tôi biết chị buồn lắm, tôi đã viết gửi chị bài thơ MÙA THU CỦA CHỊ :

Chị ơi chị !
Mùa thu đang vội đến
Tháng chín về trời trở gió se da
Hàng cây dại ven con đường dốc đứng
Cũng trở mình theo nắng hạ ra đi
Nhìn lá thu rơi lìa cành tức tưởi
Chắc chị nhiều tâm sự gửi về anh
Có phải chị đang thấy
Mây trời vương mái tóc
Mây bồng bềnh theo bước chị lang thang
Có phải chị đang mơ
Đôi mắt anh thật hiền
Ngồi kể chuyện trăm năm
Như trong chuyện thần tiên cổ tích
Anh về đây
Giữa thu vàng ngây ngất
Vòng tay ấm đưa nỗi buồn bay mất
Chị không còn ngồi khóc
Bởi bầu trời có muôn vạn ánh sao
Chị đã đọc được
Trên vầng trán anh
Vầng trán thông minh mà độ lượng
Chuyện tình xưa
Một sáng mùa xuân rực rỡ
Có mắt cười thay những nụ hôn

Anh ơi anh !
Xin anh hãy dìu em
Đến chân trời dịu mát
Nơi anh và em
Đã một lần ngồi hát
Bài hát ngày nào hai đứa yêu nhau
Hãy dìu em đi
Trên những con đường xưa hoa mộng cũ
Những con đường thuở đó lá me bay
Con đường đến giảng đường đại học
Quấn quít chân mềm áo lụa Thần Kinh
Con đường dẫn mình
Đến cầu Trường Tiền mười hai nhịp
Mà nhịp nào cũng một cõi riêng ta
Xin anh hãy kể em nghe
Kỷ niệm năm nào
Rộn ràng sân khấu sinh viên
Dưới ánh đèn lung linh mờ ảo
Em đóng vai nữ hoàng sầu não
Bên tình yêu điên đảo Ngô Phù Sai
Sông Hồ Phạm Lãi
Hay Bến Nước Ngũ Bồ áo chéo chân quê

Hôm nay
Mùa thu lại đến
Chị một mình bên mộ vắng đìu hiu
Ôn ngày tháng cũ
Thương mối tình thơ
Lòng nhớ khôn nguôi anh đi biền biệt
Hồn chị trôi dài theo sóng nước mông mênh
Tình thu sầu !
Tình thu sầu thấm vào lòng đất lạnh
Qua âm vang từ tiếc thương vọng lại
Anh nhận ra
Tiếng chị thì thầm
Chẳng bao giờ chị hết yêu anh

ttps



Niềm mơ ước của tôi giờ đây là mong có một lần được gặp mặt chị tôi . Tôi biết chắc chắn chị sẽ khóc và tôi cũng sẽ khóc ...
Tôi nghĩ là NHỮNG NĂM THÁNG VỀ SAU của một cuộc đời thăng trầm sẽ ngưng lại từ đây trong kỷ niệm êm đềm thương nhớ ...mơ hồ một chiếc bóng xa xôi.

Trên tàng cây đàn chim đua nhau hót
Bài ca dao ai hát giữa ban trưa
Em ngang qua che nụ cười khó hiểu
Anh nghĩ thầm gởi một chút riêng tư
Tuổi 18 tâm hồn nhiều bí ẩn
Ngỡ rằng em thầm kín lén trao lòng
Em hiện hữu nhưng chập chờn chiếc bóng
Ta lung tung dạo bước khắp thiên đường

Đứng ở đó mà ngu ngơ xao xuyến
Nhìn trời trong và mây trắng lang thang
Ta thấy được tình yêu vừa chạm nắng
Đã vỡ òa theo tiếng suối reo vui

Thôi biết rồi , em đừng tinh nghịch nữa
Thoáng bâng quơ một ảo ảnh lung linh
Trong mắt nhìn chứa lắm điều ngộ nghĩnh
Nụ cười tươi nhưng đầy ắp hững hờ
Nhiều tưởng tượng nên thấy đời tươi trẻ
Đầy chông gai , tình cảm vẫn còn nguyên
Đi lang thang thăm viếng khắp mọi miền
Tìm hình bóng ngày xưa dù mộng mị
Chiếc bóng đó là trăng hay là gió
Là muôn sao lộng lẫy giữa trời cao
Là tình yêu ôm ấp tự thuở nào
Đến bây giờ vẫn vấn vương trong nắng
Và hôm nay bỗng dưng ta gặp lại
........

Tôn Thất Phú Sĩ
Paris 10 Janvier 2006

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Chị Anh Thư gởi tặng quý anh chị một bài hay.
Cám ơn chị Anh Thư
Chúc chị một ngày vui.


Đọc thử xem
(PowerPoint slideshow)

KhanhVan
Posts: 800
Joined: Sat Dec 11, 2004 6:11 am

Post by KhanhVan »

[left]http://www.kurilka.com/cards/aircrash.jpg[/left]

Hello Dần ,

Đã nhận được hình Bạn gửi từ phi trường Utah - Sao phát tướng thế - Trông Bạn cứ tưởng là một Đại Gia Sếnh Sáng nào .... Nếu gặp nhau ngoài đường , có đánh nhau lủng đầu cũng không tài nào nhận ra Bạn . Ngày xưa Bạn ốm ốm đen đen . Cao cao trông đẹp giai lắm chứ . KV giở lại bức hình năm xưa khi ra Vũng Tầu cùng đám bạn gái trong đó có Bảo vân - Ngọc Oanh - Xuân Hương - Lệ Dung và chị Hồng ( chị BV ) Nhìn lại mình - có đôi chân " sì gà que " ốm tong ốm teo như vầy . Mà bây giờ thì to như đùi voi . Gác lên Ông Xã thì chỉ có bá thở . Ôi ôi cuộc đời . Mới nhắm mắt đã 40 năm qua . Một lần nưã cám ơn Bạn . Mong ngày được gặp lại hai vợ chồng bạn . Qua mục hình ảnh - Kv cho coi hình KV bây giờ và hiện tại muà Thu cuả vancouver . Hình mới chụp ngày hôm qua . Thân ái .

Post Reply