Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày

Cho đuổi mèo, mèo rượt chuột, chuột sa chỉnh gạo, gạo tải vô xe... thế rồi... xe cán chó!!!

Moderators: CNN, khieulong

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Các Ông Coi Chừng từ Chết đến Bị Thương
Thám Tử Tư
Hoàng Đức

Các bạn có bao giờ nghĩ là mình đang bị thám tử tư theo dõi trong từng sát na của cuộc sống không? Ở các nước văn minh, rất nhiều văn phòng thám tử tư hoạt động giúp dân chúng những dịch vụ liên quan đến mọi sinh hoạt trong cuộc sống bon chen, lắm lừa lọc phản trắc, nhiều bấp bênh, đầy dẫy hiểm nguy mà cơ quan công quyền hay cảnh sát không đủ nhân lực và thời giờ để giúp người dân của họ. Vì thế mà sản sinh ra những văn phòng thám tử tư.

Bạn nghi ngờ vợ bạn đang cắm sừng trên chiếc trán thông minh nhưng cù lần của bạn chăng?

Bạn thấy những triệu chứng khác thường trong lối sống của người phối ngẫu: anh chàng độ rày siêng năng tắm rửa, cạo râu xong, xức "after shave" thơm sực nức, đi ăn cưới, lựa màu cà vát trông đĩ ngựa hơn trước, thỉnh thoảng lại tỏ ra o bế bạn theo kiểu nịnh đầm, khen bạn đẹp, khen bạn mặc áo trông thon thả, "mignone", thỉnh thoảng anh chàng lại đứng mỉm cười một mình trước gương, ca nho nhỏ nhạc tình:

"Tôi có người em nhỏ,
xinh xinh đôi hàng mi"

Muốn điều tra cho rõ trắng đen trước khi nổi cơn tam bành lục tặc cho đúng thuyết chính danh chăng! Dễ ẹt! Mở niên giám điện thoại tìm một văn phòng thám tử tư, nhờ theo dõi người bạn đường sát nút, chụp một vài tấm hình trong khung cảnh thật ngựa, thật lãng mạn tình tứ và khi đã có những bằng chứng hiển nhiên đó trong tay, bạn muốn làm gì thì cứ làm miễn là đừng gây thương tích cho anh chàng bội bạc như vợ ông Bobbit đem quăng bộ phận chiến lược của chồng vào bụi cây trong công viên cho chó gặm đỡ buồn, hay như bà nọ ở Thái Lan buộc lủng lẳng cái của nợ của phu quân vào chiếc bong bóng cho bay vào quỹ đạo sao Hôm, sao Mai, hay tàn nhẫn hơn, quăng cái "cán cân tạo hóa" của chồng vào toilet bowl, báo hại công ty rút hầm cầu phải vất vả kỳ cọ rửa ráy trước khi mang vào bệnh viện khâu vá, phục hồi chức năng trượng phu.

Nghe đâu các văn phòng thám tử tư này cũng đã bắt đầu hoạt động nhiều ở Việt Nam của chúng ta vì mấy ông cán bộ, sau thời gian ở rừng, ở rú, nay lắm của nhiều tiền đã phản bội các chiến sĩ gái, các cán bộ hộ lý, các bạn đường do Bác và Đảng tổ chức cưới hỏi tập thể thuở hàn vi lúc còn trên răng dưới dép râu, chuẩn bị vào Nam đánh Mỹ cứu nước. Dịch vụ thám tử tư điều tra hành vi và công tác mật của các ông tai to mặt lớn đã bắt đầu thịnh hành trên quê hương của chúng ta. Các ông già dịch ở hải ngoại về thăm quê hương, kiếm bồ nhí bằng tuổi cháu ngoại cũng nên lưu ý coi chừng các đấng hiền phụ thuê thám tử điều tra những sinh hoạt phòng the lúc độc thân tại chỗ trên quê hương đầy cạm bẫy ái tình nhé!

Đấy là nói đến các thám tử tư ẩn mặt, dấu tên mà mình không biết đến, do phe đối nghịch thuê mướn không có sự thỏa thuận của phe ta! Ngoài ra, còn một loại thám tử tư do chính các bạn tự nguyện để họ theo bên mình mà các bạn vô tình không biết đến cái họa bên lưng. Cái họa này cũng tai hại vô cùng, giống y hệt Công Chúa Mỵ Châu vô tình rải lông ngỗng trên đường bôn tẩu để cho Trọng Thủy đem quân Triệu Đà truy đuổi đến phải mang tội với tổ quốc cho thế hệ đời sau đàm tiếu pha lẫn xót thương cho mối tình vương giả đầy toan tính chính trị này. Các bạn đang mang trong người một anh chàng thám tử tư điện tử, cái cell phone, vật bất ly thân của các bạn, các bạn không biết à! Theo với đà tiến bộ của khoa học, của ngành viễn thông, chiếc cell phone thật là hữu ích muôn phần. Bây giờ, khi đã quen với tiện nghi này, hôm nào đó, bỗng tuổi già lên tiếng, bạn sắp bị Alzheimer, bạn rời nhà ra đi bù khú với bạn bè mà quên mang theo chiếc cell phone, chắc chắn bạn sẽ thấy bứt rứt, tâm hồn bất an như thiếu thốn một cái gì thật quan trọng trong đời sống. Đôi lúc thật oái oăm, lúc có cell phone trong túi thì không cần phải sử dụng mà nếu quên mang theo cái anh bạn nhỏ tí dễ thương này là y như rằng có chuyện cần phải gọi phone cho vợ, cho con, cho bạn bè, cho người tình nhỏ bé, cho sở làm vv... Khổ không chịu được, bất tiện vô cùng! Chiếc cell phone yêu dấu, tiện nghi tối cần mà cũng là một nỗi nguy ám ảnh bạn mà lắm lúc bạn quên béng đi mất. Có bao giờ bạn tưởng tượng ra một lời nhắn trong điện thoại di động như thế này chưa:

"Em gọi cưng mà cưng không bắt phone, chắc cell phone cưng để trong túi quần mà lúc này cái quần cưng đã móc đâu đó ngoài tầm tay với của cưng phải không. Nhận được lời nhắn này cưng về ngay nhé!"

Thế bạn có teo không? Lời nói nhỏ nhẹ ngọt ngào, ngọt lịm như đường thốt nốt, mát như chè đông sương, nhưng ngầm chứa biết bao nhiêu là sóng gió. Hoạn Thư cũng dịu ngọt đến như thế là cùng! Chao ôi là dễ thương! Bạn làm thế nào để chạy tội đây, để thanh minh thanh nga đây? Một bằng chứng hiển nhiên như những tấm hình thám tử tư chụp lén bạn đang hồi du dương cụp lạc thì chỉ có từ chết đến bị thương thôi chứ làm sao mà chạy án cho an toàn như các quan lớn của ta trong vụ PMU18. Thế có phải là bạn mang bên mình một anh thám tử tư kinh nghiệm đầy mình mẩy không nào?

Đã có lắm trường hợp để quên cell phone trên bàn ngủ bị "bà chủ" lấy ra kiểm soát, thấy không hiểu tại sao ông chồng mình liên lạc cái gì, mần ăn cái gì với cái số phone mắc dịch, phải gió này mà một ngày gọi mấy chục lần. Thế là vì tò mò (tò mò chứ không phải muốn điều tra chồng mình, vì cái thằng cha già dịch này mấy lâu nay trên bảo dưới không nghe, đã về hưu non, hưu già từ lâu rồi, không còn nước mẹ gì ráo trọi mặc dù bên cạnh nó, mình sờ sờ ra đó điện nước còn đầy đủ) bà chủ thử bấm số phone này, gọi thử ra răng và bên kia đầu dây một giọng nói ỏn thót:

"Anh hở, đang nhớ anh đây, đến liền nhé, em chờ!"
- Chờ cái mụ nội cô chứ chờ gì! Thằng chả về đây, biết tay tôi!

Đừng giận dữ ném cái cell phone đi nhé! Bằng chứng rành rành trong đó. Thám tử tư trứ danh đó!

Tôi về Việt Nam, thấy số lượng điện thoại sử dụng trên quê hương mà phát ngợp. Có thể nói không ngoa, từ học sinh, sinh viên, tư chức, công chức, tiểu thương cho đến đại gia, ai cũng có điện thoại di động. Họ xài điện thoại thật tối tân, thật sang trọng, điện thoại có tất cả mọi functions. Điện thoại di động được xem như một món đồ trang sức thời thượng, một thuộc tính của con người văn minh trong một xã hội tân tiến. Họ mày mò tìm những kiểu điện thoại thật tối tân, thật nhiều functions nhưng trên thực tế họ chỉ cần nghe được những lời nhắn, để lại lời nhắn, nói và nghe. Như vậy đã quá đủ cho đời sống của họ. Họ đâu cần chụp hình vì đã có máy hình chữ số tối tân, họ đâu cần gửi điện thư vì đã có "lap top" mang theo bên người.

Trong quán ăn, nhất là quán café, nhà hàng điểm tâm, điện thoại reo inh ỏi, trên đường phố, xe đang chạy ngon trớn, điện thoại reo giật thót cả người, đang chơi tennis trên sân, điện thoại réo liên hồi trên ghế ngồi. Mỗi máy điện thoại là một lối reo độc đáo, một điệu nhac thời trang gồm có rap, rock, jazz, cổ điển êm dịu vv... một khúc nhạc không lời của một bài ca thịnh hành như Quỳnh Hương:

"Em mang cho anh một đóa quỳnh,
quỳnh thơm hay môi em thơm..."

Mỗi người tự chọn cho mình một bài ca, một điệu nhạc theo sở thích của mình để thay thế cho tiếng reo của điện thoại di động, nghe thật thích thú. Tôi không hiểu người thuê điện thoại di động trả tiền thuê máy như thế nào mà họ dùng thật thoải mái, không hề tiếc tiền. Họ dùng bất cứ lúc nào, cần thiết cũng như không cần thiết. Ngồi trong quán ăn, bạn tôi hỏi tôi: Mầy có nhớ thằng X trước học cùng lớp với mình, mầy có quen thằng Y trước làm ở Bộ Canh Nông không? Thế là không đợi tôi trả lời, bạn tôi đã mở máy, mày mò tìm số phone, địa chỉ, rồi gọi ngay cho X, cho Y:

"Allo, mày có nhớ thằng T không, tau đang ngồi với nó ở nhà hàng Phượng Các đây này. Mầy nói chuyện với nó nhé, hay mầy ra đây chơi với tụi tau đi, tụi tau chờ mầy."

Thế rồi, bạn tôi chuyển điện thoại cho tôi để nói chuyện cùng với anh bạn đã bao năm trời xa cách không liên lạc được hay một ông bạn không nằm trong ký ức của tôi. Ôi, thật thân thiết làm sao! Tình bạn thắm thiết thì thôi! Và chỉ trong vòng 15 phút sau, anh bạn vừa được gọi đã tà tà phóng xe gắn máy đến gặp chúng tôi. Chuyện trò nổ như pháo, nhắc lại chuyện xưa, chuyện học sinh ngỗ nghịch phá thầy, ghẹo cô, chuyện phá làng phá xóm, chuyện cua gái lăng nhăng vv... Nói sao cho xiết tình bằng hữu thân thiết vừa nối lại được nhờ chiếc điện thoại di động, nhờ anh chàng thám tử tư vừa tìm ra tông tích của người mình muốn kiếm để gặp gỡ, để hàn huyên.

Bên cạnh những lợi ích của chiếc điện thoại di động liên quan đến công ăn việc làm, giao dịch thương mại, thông tin liên lạc với mọi người trong mọi dịch vụ, chiếc cell phone còn là một con dao hai lưỡi đối với người sử dụng vì nó là một nơi lưu trữ 36 ngàn thứ hồ sơ trên cõi đời này. Nếu bạn không biết gạn đục khơi trong, không biết giữ lại những gì cần thiết, những gì vô thưởng vô phạt, không chịu xóa bỏ những gì tai hại cho bản thân, nếu bạn ham giữ nhiều dữ kiện không tối ư cần thiết thì chiếc cell phone sẽ phản lại bạn ngay như một người bạn xấu vì chiếc phone di động này có thể đóng vai trò thám tử tư theo lệnh của phe địch mà không phải địch, một người thân thiết với bạn nhưng luôn luôn theo dõi, dò xét bạn trong mọi tình huống. Chắc bạn không quên là điện thoại di động còn chụp được hình thật rõ ràng, một phương cách điều tra hữu hiệu nhất, tối cần thiết của các điệp viên. Vậy nếu bạn có thể chụp được hình của người khác thì người khác cũng dễ dàng chụp được hình của bạn một cách lén lút mà bạn không thể nào ngờ được trong những hoàn cảnh trớ trêu mà sướng ngất ngư. Do đó, không những bạn cần lưu ý đến cell phone của bạn mà bạn còn phải luu tâm đến cell phone của người khác, những người đang ở gần kề bên bạn vì biết đâu bạn đang bị người ta dò xét bằng máy móc điện tử tối tân, thật dễ thương như chiếc điện thoại nhỏ xíu, đặt ơ hờ trên bàn một cách vô hại mà thật tai hại nếu bạn ló mòi "gian dối".

Dầu gì chăng nữa thì cell phone đã và đang mang lại cho ta thật nhiều lợi ích mà ngày xưa ta không bao giờ nghĩ đến dù trí tưởng tượng của ta có phong phú bao nhiêu đi chăng nữa. Tôi không nhớ văn hào Jules Verne, tiểu thuyết gia nổi tiếng của Pháp trong các câu chuyện khoa học giả tưởng của ông có bao giờ tưởng tượng ra cái cell phone nhỏ nhắn xinh xắn, đa dạng và đa dụng như chúng ta hiện có trong tay không. Chân thành cảm ơn người sáng chế ra cell phone. Xin cảm ơn em, chiếc điện thoại thật dễ thương anh nâng niu trên tay hằng ngày vì em chưa hề phản bội anh qua vai trò thám tử tư của em. Mong rằng mãi mãi em sẽ là người bạn thân thiết của anh, luôn đứng về phe anh, em nhé!



Hoàng Đức

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Cha tôi

Một ngày của cha tôi bắt đầu vào lúc bốn giờ. Cha tôi dậy sớm để nấu cơm, nấu nước, rồi sắp vào một cái khay con, một đôi đũa, một cái bát… xong hết mới gọi tôi dậy ăn.

Cha đã để sẵn nước sôi trong nhà tắm, dắt sẵn xe đạp ra ngoài sân… Làm xong hết những việc ấy, cha đi học bài.

Cha học cho đến lúc mẹ dậy. Học thơ, thơ từ cổ chí kim, của bất cứ ai, miễn đáng gọi là thơ, học kịch, học văn, học văn chương và học cả những gì dường như văn chương không bao giờ thèm đụng tới. Cho đến lúc gần bảy mươi, cha tôi vẫn là một học trò ngoan, bất chấp tuổi già mà len lỏi vào bất cứ góc nào của khu vườn văn hóa.

… Khoảng bảy rưỡi, cha, mẹ ăn sáng. Rồi cha tôi ngồi vào bàn, cái bàn mà tôi học bây giờ, ngày ấy ít ai dám đến gần khi cha đang viết. Trên bàn đầy giấy và sách, lâu lâu bình mực quên không đậy đổ một lần, khi ấy loạn cả nhà. Không ngày nào cha không ngồi viết, cả khi gãy tay, bó bột, ngày trước, ngày sau đã nguệch ngoạc viết bằng tay trái. Đôi lúc tôi thấy, nghề văn như một cái ách, người ta lúc nào cũng áy náy lo âu, sợ mình chưa đọc đủ, chưa viết đủ, chưa viết xong lại thấy bực bội như thể có điều gì oan trái trong lòng chưa nói ra hết được. Và tôi nghĩ, có lẽ cha tôi chọn cho mình một cái ách nặng. Cha luôn luôn tất bật, yêu hoa cỏ nhưng chưa bao giờ dám bỏ hàng giờ ra để ngồi uống trà thưởng hoa. Cha sợ những quán cà phê, nhìn chúng như nhìn những nấm mồ chôn thì giờ. Chỉ những đêm rằm, vườn nhà tôi đầy trăng, cha bảo: “Tắt đèn! Ra ngoài hè ngồi xem!”. Chị em tôi theo ra, ngồi khen trăng được vài phút, cha lại quay sang bàn chuyện văn chương với mẹ, rồi tranh luận, có khi cãi cọ, quên cả trăng !

Cứ vậy, đầu óc của cha tôi không lúc nào thảnh thơi, đôi lúc tôi nghĩ, cha đã già rồi, đã có một vị trí ít ai dám mơ tới trong văn học rồi, sao cha không nghỉ ngơi một chút. Cha dạy chúng tôi: “Phải học, học không phải để vui, mà để không ai giết được mình!”. Cha cũng muốn tôi học, tôi đã có gần một chục quyển vở chép tay của cha, ở bìa ghi rõ: “sách dạy cho Vàng Anh”, cha muốn hàng ngày đều có ít thì giờ để giảng cho tôi, nhưng tôi, vì đã không ý thức được những giờ học ấy quý như thế nào, tôi đã trốn bằng đủ mọi cớ, khi ấy, tôi chỉ thích làm thơ chứ không thích học thơ. Chỉ khi cha tôi vào nằm bệnh viện, tôi biết cha bệnh nặng, khó mà qua khỏi, mỗi chiều, sau khi đi học về, tôi vào thăm, cha luôn để dành cho tôi bánh kẹo hoặc một quả cam, và tôi dù mệt đến mấy cũng đề nghị cha giảng bài, không tiếp thu được bao nhiêu, nhưng tôi muốn cha được an tâm. Ở bệnh viện, cha tôi đã làm một phong bì to đựng các bài học của tôi, giờ đây chép thành giấy rời, cuối mỗi bài đều ký: “Cha: Chế Lan Viên”, và ghi: “Chợ Rẫy ngày… tháng… năm…” như đánh dấu từng chặng của một cuộc chạy đua tàn khốc.

… Thời khóa biểu của cha tôi cho một ngày thế nào cũng có giờ làm vườn. Thường vào khoảng mười giờ, khi viết lách, đọc sách đã mệt. Ra vườn, cha tôi đắp đất, làm cỏ như một nông dân, và cha tự hào về điều đó. Vườn nhà tôi rộng đủ để mọi người “thí nghiệm” trồng cây này, cây nọ, kết quả là cây cối mọc lung tung. Một cây dừa mọc trên mô đất cao, nước quanh năm không với tới, những cây mận, cây cam tranh giành nắng, xúm xít cạnh nhau. Tuy vậy, tôi yêu khu vườn, bởi vì nó là nơi thân thiết nhất của cha, mẹ tôi, bởi vì, ở đâu trong vườn cũng có dấu tích của cha, những chậu phong lan cha tôi đem từ rừng về, một cây ổi cha trồng riêng cho tôi gần giếng nước, bụi hương nhu bên bờ ao cha trồng cho cả nhà gội đầu… Người ngoài ít ai biết rằng cha tôi lại có thể làm những việc li ti như vậy, còn chúng tôi vì quá quen với những việc li ti ấy nên lại thường không biết cha tôi có thể làm được những việc lớn như thế nào. Thỉnh thoảng, tôi đi theo cha đến các hội nghị hoặc các lớp học cha giảng thơ văn. Ở đấy, người ta dành cho cha ghế hàng đầu, rồi các cô, các chú đến chào, nhắc về vài bài viết, hay quyển sách mới của cha, tôi nghe và lần nào cũng lặp lại cái ý nghĩ: “Tệ thật! Mình chẳng biết gì về cha cả!”. Khi ấy, tôi theo cha chỉ để đi chơi, cũng không để ý cha tôi giảng bài gì, phát biểu điều gì, chỉ để ý cha đã chải đầu chưa, cổ áo đã bẻ xuống chưa, có quên kính không… Trong những chuyện này, cha nhất nhất nghe tôi. Một lần khi tôi học lớp năm, theo cha xuống Cổ cò, người ta đón bằng một bữa tiệc, cha tôi uống rượu, thỉnh thoảng hỏi tôi: “Mặt cha đỏ chưa?”. Tôi bảo “Chưa!”, mấy phút sau lại nghiêm mặt bảo cha: “Đỏ rồi! Cha đừng uống nữa!” Và cha tôi ngưng liền.

Cha tôi nóng tính, điều đó ai cũng nói. Ở nhà không ai dám đùa với cha, ngoài chị Thắm. Chị là người duy nhất dám nhờ cha tôi dịch hộ bài học rồi ngang nhiên ngủ gật ngay bên cạnh. Chị Thắm cũng là người duy nhất biết nhổ tóc sâu và lấy ráy tai, và làm cũng tùy hứng, bất kể lúc đó cha tôi đang bận bịu đọc sách hay học bài. Ra trường, chị đi thực tập một năm ở An Giang, lâu lâu mới về một lần, thời gian đó, tóc cha tôi bạc hẳn. Tôi nhớ, khi chị đi được mấy ngày, một buổi tối, người yêu chị đi thăm về, tả lại cho cha tôi nghe cái cảnh lạ nước lạ cái của chị dưới quê, cha bảo: “tội nghiệp!” Rồi hai người sụt sịt khóc, khi ấy, hai mẹ con tôi thấy cha thật là ủy mị !

Rồi cha tôi bệnh nặng, những tháng cuối cùng, cha chỉ nằm trong phòng, không nói được, không biểu lộ tình cảm gì trên mặt, chỉ ngơ ngác nhìn trời qua cửa sổ. Vậy mà, theo thói quen, thấy tờ báo nào ở cạnh cha cũng cầm lên đọc, khi thấy mẹ tôi cầm quyển sách nào đi ngang cha cũng nhìn cho được cái gáy sách, dù đã không hiểu được gì nữa. Bạn của cha tôi đông lắm, họ đến thăm và ai cũng thấy rằng ông Trời sao thật tàn bạo, bắt một con người thông minh như cha phải sống như một đứa trẻ mới sinh. Tôi đi học về, vào giường ngồi chơi, nắm tay cha, gầy guộc, và khóc, có lần, cha tỉnh ra, nhìn tôi cau mày và cũng khóc theo. Sau đó ít ngày, cha mất.

Sau lễ hỏa táng, anh Định và tôi được giao nghi lễ cuối cùng là đem tro của cha thả xuống sông. Tôi ngôi sau, ôm chặt cái túi còn ấm nóng. Đây là cha tôi, ngày nào còn ôm tôi, đứa trẻ con ngủ gật trên xe; đây là thầy giáo tôi… giờ thu lại trong hũ cốt và một bao tro. Chúng tôi ra sông Sài Gòn, khi tro được thả xuống, tôi biết từ nay mình đã mồ côi cha, chỗ dựa lớn nhất đời tôi đã mất, và tôi sẽ phải học, như cha dạy: “Học không phải để vui, mà để không ai giết được mình!”. Học để thành người.

PHAN THỊ VÀNG ANH

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

PHONG LIỆT SĨ vì HIV

Tin báo trong nước cho biết , một chiến sĩ Công An vừa mới chết vì HIV được Thủ tướng Chính phủ phong tặng là Liệt sĩ .
Chiến sĩ Công An đã bị nạn nhân của HIV tấn công.khi thi hành nhiệm vụ ở Quận 11 (Không thấy nói kẻ địch tấn công ra sao ).Vợ của người Công an đã chết từ năm ngoái ,do chồng truyền bệnh.Đến nay , mới tới lượt người chồng chết. Cả hai vợ chồng chết đi để lại một đưa con 10 tuổi hiện sống với bà ngoại.

Đây là lần đầu tiên một người chết vì HIV đươc phong là Liệt sĩ .

nguồn Dân trí .

Miễn bàn .

CNN
Posts: 1017
Joined: Wed Dec 01, 2004 8:18 am

Post by CNN »


Ai Ra Xứ Huế Mà...Ôm

Đoàn Dự


Thưa quý bạn, trước năm 75 cố nhạc sĩ Duy Khánh có bản nhạc "Thương về xứ Huế", trong đó có những câu mọi người nghe nhiều nên rất quen, gần như thuộc lòng: "Ai ra xứ Huế thì ra...Ai về núi Ngự ai về Văn Lâu...." và "Cầu Tràng Tiền sáu vài mười hai nhịp, thương nhau rồi cho kịp về mau...". Đến sau năm 75, lại có bài "Huế tình yêu của tôi" của nữ nhạc sĩ Trương Tuyết Mai, mặc dầu mang tính "chiến đấu", tàn dư máu lửa vẫn còn lẩn khuất đâu đây nhưng trong đó có những câu đặc biệt được mọi người thuộc: "Huế của ta, ta ôm Huế vào lòng, sẻ chia đắng cay gian khổ mặn nồng..." và "Nặng lòng với Huế, xin hát tặng bài ca gửi trọn tình ta về Huế thương yêu...".

Vâng, thưa quý bạn, xin bạn hãy nhớ lấy, là người Việt Nam, đã về chơi thăm quê hương nhân tiện đi du lịch thì bạn phải ra Huế để.... ôm Huế vào lòng nè, phải tiện đường ra ngoài Bắc, đi thăm chùa Hương để "Lần tràng hạt niệm Nam mô Phật, cửa từ bi công đức biết là bao, càng trông phong cảnh càng...yêu" nè, phải đi thăm vịnh Hạ Long để... thưởng thức "đồ biển" nè (có thể đó cũng là "đồ" Hà Nội nhưng bạn cứ coi như đồ biển cho thêm phần "rô-men-tích"). Nhiều, nhiều lắm; còn những chuyện như đi chơi Vũng Tàu, Mũi Né, Đà Lạt, Nha Trang, động Phong Nha, phố cổ Hội An ..vv.., đó là... chuyện nhỏ, bạn muốn đi lúc nào cũng được.

Huế, tình yêu của ta! Nơi thơ mộng của ta! Ngày trước các cụ có câu: "Học trò trường Quảng ra thi, thấy cô gái Huế chân đi không rời" (cũng có người ghi là "chân đi không đành" nhưng hai chữ "không đành" mới quá, không hay bằng "không rời"). Sau này, câu ca dao đó hiện đại hơn, được đổi thành: "Việt kiều bên nớ về chơi, vừa ra tới Huế là thôi, ở lì". Tại sao lại ở lì như vậy? Tại vì người ta muốn... ôm Huế vào lòng đấy quý bạn ạ. Bây giờ tui kể chuyện "Huể" cho quý bạn nghe chơi, bảo đảm là rất say sưa ngây ngất, giống như bài Thuyền trăng của nhạc sĩ Nhật Bằng hồi nào "Thuyền trôi trên sông lững lờ...." chứ không ồn ào xác thịt như ở miền Nam đâu. Miễn sao bạn còn giữ được cái bóp. Người Huế ưa nói thách, giá cả vậy mà không phải vậy, bạn giữ được cái bóp là chắc ăn rồi, muốn ở bao lâu thì ở, càng lâu càng tốt chẳng ai cấm đoán...

ÁI TÌNH TRÊN SÔNG HƯƠNG

Huế vốn là chốn kinh thành, vì vậy ngày trước người Huế lịch sự tới mức phụ nữ đi bán hàng rong cũng mặc áo dài, còn nữ sinh Đồng Khánh thì ôi thôi, tóc thề lả lướt, nón bài thơ nghiêng nghiêng, giọng nói líu lo như chim, trong như hạt ngọc, nghe mê muốn chết luôn. Ấy vậy mà thời đó, ngay cả thời xa xưa nữa, các cụ ta vẫn "Vỹ Dạ đò trăng" như thường: "...Nhớ từ thuở đăng khoa ngày trước. Vẫn sớm hôm tôi bác cùng nhau. Kính yêu từ trước tới sau. Thú vui con hát, lựa chầu cầm xoang...". Thơ của cụ Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến khóc cụ nghè Dương Khuê ông nội của nhạc sĩ Dương Thiệu Tước "Đêm tàn Bến Ngự" hồi nọ và cụ nội của nhạc sĩ Dương Thụ "Họa mi hót trong mưa" bây giờ. Cụ kể lể việc các cụ đi hát ... karaoke trên sông Hương hồi còn trẻ tuổi, giống như nhà thơ Tô Đông Pha đời Tống thả thuyền ngắm trăng trên sông Xích Bích rồi nổi hứng lên, mần hai bài Tiền Xích Bích phú và Hậu Xích Bích phú danh để ngàn đời, còn nhà thơ Âu Dương Tu thì mần bài phú "Tiếng thu" (Thu thanh phú), danh cũng để ngàn đời luôn. Thì ra, đi hát... karaoke với các cô đào gõ sênh gõ phách trên sông Hương cũng có điều lợi. Còn sau khi hát xong, các cụ làm gì thì có mà trời biết! Only God knows that thing! - Giờ đây, thời buổi kinh tế thị trường, đánh mau đánh mạnh, con cháu của các cụ đi hát karaoke trên dòng sông Hương thì chỉ sử dụng phần thứ hai thôi, tức phần "Trăng tà tiếng quạ kêu sương, lửa chài cây bến còn vương giấc hồ..." chứ....hổng thèm hát! Hát chi mất công! Phần thứ hai đó kêu là...chợ tình trên sông Hương, hay nói khác đi, đó là kiểu mại dâm đặc biệt thơ mộng của đất cố đô!

Những du khách tìm đến "chợ tình trên sông Hương" có cả các vị khách nước ngoài nữa. Khách nước ngoài thì họ tò mò lắm, cái gì cũng muốn biết. Hình như họ muốn coi... đêm trăng trên sông Hương chứ không phải họ muốn thưởng thức chuyện nọ chuyện kia. Cũng như Đoàn Dự tui đây, tui chỉ khoái chụp hình để về Sài Gòn viết bài chứ gầy còm ốm yếu ho hen, mắt mũi lèm nhèm, bước chân xuống thuyền là run lẩy bẩy chỉ sợ bị té thì còn hát với sướng gì được nữa? Mấy ẻm nói vô đây đi anh, anh cứ lo chụp hình em liệng máy của anh xuống sông đó. Tui vẫn cứ chụp. Quý bạn thấy các bức hình tui chụp bức nào cũng đề tên là... huyền thoại, bởi vì tui thấy cái gì cũng rất...huyền thoại. Hình màu, đẹp lắm chứ không phải đen trắng như khi đăng trên báo đâu. Ví dụ cô receptionist khách sạn, ban đêm cổ mặc chiếc áo gió màu xanh ngọc bích mới toanh trông rất bắt mắt chứ xám ngắt như bạn thấy trong hình trên báo thì huyền thoại huyền thiếc cái gì! Trên thuyền bồng bềnh, dưới ánh trăng sáng mênh mông của dòng sông rộng cũng thế, "mái tóc dạ hương" trông đẹp tuyệt vời. Nhưng đến lúc "mái tóc dạ hương" dọa liệng tui xuống sông thì tui sợ, bèn vào... nghe hát karaoke. Nhưng thôi, tôi chả kể thêm nữa, kể thêm rồi quý bạn lại phải bay ngay về "Huể" mất công!

Cách đây ít lâu, từ cầu Gia Hội xuống bến Bạch Đằng, dù muốn hay không quý bạn cũng phải đi qua "chợ tình sông Hương". "Chợ" đó khá dài và nằm ở phần đầu bến Bạch Đằng. Dưới sông, thuyền đậu san sát. Trên bờ, có những cô gái ẩn hiện phía sau những cây cổ thụ. Gặp khách, cô ta mời chào với những câu khá ý nhị: "Buồn chi xuống đò em ru cho, anh", hoặc: "Tặng em một dù đi anh" ...v.v... Đấng tu mi nam tử nào gật đầu đồng ý thì ngay lập tức, có người bắc thang từ bờ xuống thuyền; khách bước xuống, tròng trành giây lát và sau đó thuyền đi ra xa, "nàng" tắt ngọn đèn dầu. Chả có tiếng tơ tiếng trúc, văn nghệ văn gừng gì ở trên thuyền cả. Xong mối này "nàng" còn phải đi kiếm mối khác.... Nhưng dù sao thì cũng là giọng Huế. Ra Hà Nội tôi mê giọng Hà Nội. Xuống Bến Tre tôi mê giọng Mỹ Tho. Ra Huế tôi mê giọng Huế. Thôi kệ, không mê được mới "stress" chứ mê nhiều đã chết ai đâu! Cam đoan với quý bạn là tại mê giọng Huế tui mới xuống thuyền chớ lòng tui trong sạch như nước sông Hương (chẳng ai dám uống!), tui không xuống thuyền với mục đích khác, xin bạn đừng hiểu lầm tui tội nghiệp! - Cách đây ít lâu, một người bạn "Nữ sinh Gia Long U.60" ngày trước, về chơi, hỏi nhà tôi: "Ông xã mày là Đoàn Dự viết cho mấy tờ báo bên ấy phải không?", nhà tôi nói ừa, cô bạn nói: "Tao như mày tao xé xác ổng ra. Ổng viết "sex" ghê lắm chớ không hiền đâu". Nhà tôi thở dài: "Tao đâu có biết ổng viết cái gì, vì ở bên này tụi tao có báo bên ấy đâu mà đọc. Tao thấy ổng hiền như cục đất, suốt ngày ngồi trên lầu", người bạn cười: "Hiền và ngây thơ... đáng đem xử tử!". Kinh hãi quá, đem xử tử thì Đoàn Dự tui đâu còn đi tới nơi này nơi kia, "thăm dân cho biết sự tình" để ... kiếm đề tài được nữa. Ngay anh Văn Quang cũng nói viết thì dễ, kiếm đề tài viết mới khó. Rất đúng. Xé xác tui ra làm chi, để tui... mần quen với mấy cổ cho vui chớ! Không có tui thì mấy cổ... buồn!

Mấy năm gần đây, dân tứ xứ đổ về kiếm ăn nên bến Bạch Đằng trở thành tạp nhạp. Những cô gái các làng vạn chài hết thời xuân sắc, rồi đôi ba chị tàng tàng, ban ngày bán rau bán cỏ ở chợ Đông Ba, buổi tối cũng tham gia đội quân "đứng dưới gốc cây" để kiếm ăn thêm. Đối với các em thuộc loại cao cấp thì "khách sộp" chủ yếu là dân du lịch. Còn đối với các em thuộc loại "bình dân", khách hàng là các bác xích lô, các chú xe thồ, thợ hồ..., giá rẻ mạt.

Rồi dần dà nạn "quái nữ sông Hương" xuất hiện. Có những vị khách nghe các em đẹp như tiên mời chào, bèn xuống thuyền. Thuyền chèo ra khoảng giữa sông hay đến chỗ vắng cho thêm phần bảo đảm an toàn. "Hành sự" xong, các em nhỏ nhẹ đòi... 500 ngàn hay 600 ngàn đồng, bấy giờ khách mới tá hỏa tam tinh, biết mình mắc bẫy, bởi vì giá trung bình một "dù" trên sông Hương thường là 150 ngàn đồng, nhiều lắm là 200 ngàn đồng kể cả tiền đò, "quái nữ" lột khách như vậy thật ... hết chỗ nói. Có những quái nữ "chơi" tàn nhẫn hơn, tính khách tiền triệu, khách lỡ có thiếu thì bắt giao đồng hồ, giao mắt kiếng, thậm chí có người bị lột cả quần áo nữa, đành phải nhảy lên xe xích lô về khách sạn làm như vừa đi... tập thể dục về, rồi lủi nhanh lên phòng lấy tiền xuống trả. Những món đồ bị quái nữ lột thì thôi, coi như bỏ vì không thể phân biệt được thuyền nào với thuyền nào, mà cũng chẳng nhớ mặt quái nữ nữa.

Khi nạn trấn lột này đến tai các nhà chức trách, họ ra sức truy quét bằng cách kiểm tra giấy tờ thường xuyên trong các chiến dịch, đồng thời cũng cho những người ăn mặc giả làm khách hàng để bắt tại trận những em quá đáng. Nhờ vậy nên nạn quái nữ không còn nữa, nhưng chuyện "văn nghệ văn gừng" trên sông Hương đã có từ nhiều đời nay vẫn còn đấy, không thể chấm dứt được. Mà cũng chẳng cần chấm dứt làm gì, chuyện "tình kỹ nữ" trên sông Hương coi bộ cũng thu hút khách du lịch và... đậm đà bản sắc dân tộc!

Một buổi tối khác, tôi nhảy lên xe xích lô đi "chụp hình" và đi kiếm cái gì nhậu lai rai ở khu Gia Hội. Anh xích lô háy mắt bảo tôi: "Ăn xong, muốn gì thì kêu em út chở tiếp nghe anh Hai". "Biết chú ở đâu mà kiếm?". "Có, em phải chờ anh Hai chớ! Em quen với mấy cổ mà!". Thì ra thế, ở ngoài này khách tương đối ít, không đông như trong Sài Gòn nên cái gì cũng phải có "đường dây" thì mới kiếm ăn được.

Tôi kêu một dĩa cơm hến, một chai Heineken và mấy chiếc nem Huế. Vừa sắp đặt cô chủ quán vừa nói bóng bẩy: "Anh Hai ở trong nớ ra, muốn đặc sản Huế thì em giới thiệu cho, anh Hai?". "Sao, chị còn đặc sản gì nữa?". Chị cười, lại vẫn giọng Huế nghe trong như hát: "Chừ "đặc sản cố đô là cô gái Huế" đó anh!". "Già lụ khụ rồi, tui đâu còn cần đặc sản làm gì nữa". "Anh mà già răng? Càng già càng dẻo càng dai...". Rồi chị kêu một cô gái còn rất trẻ, ăn mặc gọn gàng với chiếc áo thun màu vàng và chiếc quần jeans, trông dáng dấp như sinh viên, đang ngồi gần đấy: "Nì, em bưng giùm chị chút cưng. Bưng tới rồi ngồi đó cho ảnh coi xem em có phải là "đặc sản cố đô" không". Cô gái khá đẹp, gương mặt thông minh, đôi mắt dịu dàng và đen lay láy như mắt các cô gái Huế khác, mỉm cười nhìn tôi và khẽ cúi đầu chào. Người Huế vẫn lịch sự như vậy. Tôi chăm chăm nhìn vào gương mặt sáng trưng đó và tự nghĩ chắc mình chết đến nơi quá! Tôi bèn để tay lên

ngực, nhắm mắt làm bộ gục xuống xỉu. Cô gái mỉm cười khe khẽ lắc đầu còn chị bán hàng thì cười lớn: "Đó, anh đã già mô, còn đẹp đôi chán!". Trời đất, còn đẹp đôi ư? Tui...gấp ba tuổi cô ta là cái chắc, ở đấy mà đẹp đôi! Nhưng thôi, kệ, nhờ cái bóp khá nặng ở túi quần sau - tiền nhuận bút bên ấy gửi về đổi ra tiền Việt - tôi thấy tôi cũng trẻ bằng nàng và cũng ... đẹp đôi thiệt. Hay, mấy ông chủ nhiệm vậy mà hay, cứ sai tôi lang thang khắp nơi "kiếm đề tài" đi, miễn sao gởi đủ tiền xài tôi sẽ xung phong... mệt nghỉ!...

ÔM HUẾ VÀO LÒNG

Không ở đâu đội ngũ xe ôm, xe xích lô lại đóng vai trò quan trọng trong đường dây "sex" như tại Huế, mặc dầu họ đều phải mặc đồng phục, có bảng tên đeo trên ngực và có sự quản lý đàng hoàng. Nguyên do có lẽ tại công an bắt đeo như vậy để họ khỏi bắt chẹt các khách du lịch chứ không phải để xử trí các chiêu "kiếm khách" của họ. Tôi ở một khách sạn khá lớn trên đường Lê Lợi. Mỗi lần ra cổng tôi đều nghe những câu mời chào của cánh xe ôm: "Đi "mát mẻ" không anh Hai?" hoặc: "Muốn ra bờ sông "ôm Huế vào lòng" không anh Hai?".

Tiếp thị nhiệt tình nhất là một anh xích lô khá bảnh, tôi thấy cái bảng đeo trên ngực anh tên là Trần Văn Chung: "Đi dạo không anh Hai? Trời nì đi dạo ngồi trên xích lô, có em út bên cạnh mà ôm đảm bảo lãng mạn hết chỗ nói". Tôi thấy lạ nên bật cười: "Sao, ở Huế có cả vụ đi "xích lô ôm" nữa sao? Cảnh sát không tóm hả?". "Không, thoải mái anh Hai. Khi đêm mô có cảnh sát". Và anh ta nói thêm: "Em út ở Huế giá nhẹ nhàng thôi anh Hai". Tôi tò mò, đã muốn biết thì cho biết luôn thể: "Nhẹ nhàng là bao nhiêu? Ví dụ đi một cuốc một tiếng đồng hồ?". "Anh Hai cho một trăm nghìn....À thôi, tám chục nghìn, tiền xe ba chục, tiền "em" năm chục". Tôi im lặng. Ở Sài Gòn tôi chưa từng thấy có chuyện đi "xích lô ôm" như ở Huế nên không hiểu giá "ôm" 50 ngàn đồng là đắt hay rẻ và "ôm" như thế nào. "Thôi được". Tôi ngần ngừ và bước lên xe.

Chiếc xích lô chạy được một khoảng, từ đường Lê Lợi tới đường Nguyễn Huệ thì từ từ chậm lại. Anh phu xe tên Chung rút điện thoại di động gọi và nói chuyện với người nào đó. Lát sau, tôi thấy một cô gái từ căn nhà nho nhỏ ở phía đằng trước đi ra, đứng đợi bên lề đường. Anh xích lô thắng xe lại. Cô gái cúi đầu chào tôi rồi thản nhiên bước lên xe, ngồi sát cạnh tôi như đã quen với tôi từ lâu lắm. Trông cô ta không đẹp không xấu nhưng còn rất trẻ, khoảng 18 - 19 tuổi với nước da trắng và thật mịn. "Ô kê không anh Hai?". Tôi mỉm cười không biết nên trả lời thế nào. Cô gái nũng nịu ngoẹo đầu vào ngực tôi, sờ tay lên mặt tôi: "Chừ mà anh Hai nói nô ô kê là anh Hai không thương em, không muốn ôm Huế vào lòng". Tự nhiên tôi nghĩ tới cái bóp: "Xinh thế này thì nô ô kê sao được. Nhưng vấn đề là giá cả. Hồi nãy anh ta nói với anh tám chục, tiền xe ba chục, tiền đi long dong hóng mát năm chục". "Dạ, đúng vậy, anh Chung có nói với em". "Nếu thấy tốt, anh tặng thêm là tùy ý anh, không được đòi hỏi gì đâu nhé". "Dạ". Thấy chuyện giá cả đã xong, anh xích lô nhảy xuống xe, tháo tấm bạt cánh gà ở bên cạnh, cài qua bên này cho xe kín đáo, chỉ để hở một khoảng ở phía trước mắt. Tôi thấy ở Sài Gòn lúc mưa người ta cũng che như thế cho nước khỏi tạt. Nhưng ở đây trời không có mưa... Cô gái cười và nhéo nhẹ vào đùi tôi: " Kẹo mô mà kẹo dữ! Bộ sợ em bắt địa như bọn nữ quái ngoài sông phải không?". "Ừ, một thân một mình ra đây thì phải cẩn thận. Nếu không cẩn thận có khi hết tiền, không mua vé xe lửa về được Sài Gòn". "Thì ở lại đây với em, em nuôi". Và nàng luồn tay ra phía sau lưng, dùng cả hai tay bắt đầu ôm qua mình tôi. ạ hay, thế này thì... Huế ôm tôi chứ đâu phải tôi ôm Huế? Tôi cười, cũng ôm lại và chỉ tay vào ngực nàng: "Huế của ta, ta có Huế tự hào, lập bao chiến công, Huế đi lên kiên cường....". Nàng cười ngặt nghẽo, nhéo tôi một cái thật đau: "Người mô mà ngộ dữ tề? Em thương anh quá đi. Đêm cho em vô khách sạn với anh được không?". Và nàng nói thêm: "Rẻ thôi, hai trăm ngàn, suốt đêm". Cái này thì... chưa hề có trong kế hoạch. Chắc tôi phải gửi email qua bển ... hỏi ý kiến mấy ông chủ nhiệm quá!

KHÁCH SẠN Ở HUẾ

Vào một khách sạn lớn ở Huế, bỗng nhiên bạn nhận được một cú điện thoại với giọng nữ lạ hoắc, mời đi "thư- giãn" hoặc đi "mát xa cho đỡ mệt". Nhiều người thắc mắc không hiểu tại sao người ở đầu dây bên kia biết rõ tên tuổi, số phòng của mình. Hỏi các nhân viên trong khách sạn họ cũng không biết luôn. Nhưng... xin bạn đừng hỏi cô receptionist. Chắc chắn cô ta biết mà biết cũng không nói. Cô receptionist là người giữ chứng minh nhân dân hoặc giấy passport của bạn.

Khi tôi mới đến thuê phòng tại khách sạn Lê Lợi, đến lúc 10 giờ sáng thì 13g 30 chuông điện thoại reo. Một giọng nữ Huế thân thiết: "Anh ơi anh à, anh có phải anh Đoàn Dự không". Rồi cúp máy. Chỉ vài giây sau nàng lại gọi tiếp và dặn: "Đến gặp em ở quán X. số Y. đường Điện Biên Phủ nghe anh. Anh nhớ nói gặp cô Bích, em sẽ đón. Em sẽ đi chơi với anh và làm cho anh có một kỳ du lịch ở Huế đầy thơ mộng, đượm chút... hữu tình. Em đẹp chớ không có xấu mô. Giá cả giao hữu. Người ta sống bằng tình cảm, không phải chỉ bằng tiền bạc, đúng không anh?".

Tôi đến quán X. Phải xông vào hang cọp mới "chụp hình" được cọp con. Đúng là có cô Bích thật mặc dầu cái tên đó có thể do nàng đặt ra. Và đúng là Bích đẹp thật. Việt Nam bây giờ con gái nhiều người đẹp. Họ từ các nơi đổ về thành phố. Không đẹp thì không khách sạn nào cho liên lạc điện thoại như vậy. Mà họ cũng không lừa đảo nữa. Nếu họ lừa đảo, khách sạn phải chịu phần nào trách nhiệm.

Các quán "bar" ở Huế, mặc dầu cũng được đầu tư rôm rả và có những cái tên nghe rất hấp dẫn: New Century, Queen Bee, Forget-me-not..vv.. và nằm trên những con phố chính nhưng hình như hoạt động không được mạnh bằng những khách sạn như Lê Lợi, Hương Giang, Thế Giới nằm hơi khuất ở đường Ngô Quyền, phía sau bệnh viện trung ương Huế. Đến Huế, khách du lịch thường ở khách sạn và đến những nơi ăn uống có những món ăn "đặc Huế" như ở An Cựu, Cầu Lin... chứ không thích đến các quán bar. Ngay cả nhảy nhót cũng vậy, các khách sạn lớn đều có, giá tương đối rẻ so với Sài Gòn nhưng khách thường là các cô các cậu trẻ tuổi địa phương, rất ít các khách du lịch.

Nghe nói đến Huế là nói đến sự mộng mơ, bởi vậy đất cố đô thường tạo cho con người ta những khái niệm đẹp. Nhưng, khi đến Huế rồi, "kỹ nghệ sex" làm cho môi trường du lịch Huế bớt đi sự thơ mộng. Thú thật, khi đi tham quan thực tế một quán hoạt động "từ A đến Z" ở đường Đào Duy Từ, tôi tưởng tôi lầm địa chỉ. Một chị phụ nữ mặt hoa da phấn, khoảng 40 tuổi, ăn mặc mỏng dính "biểu dương lực lượng". ạ hay, Huế của ta đây ư? Không, Huế của ta phải là "Mái tóc em bay theo gió chiều. Hoàng hôn nắng đổ, gió xiêu xiêu. Em đi, mái tóc vương màu nắng. Trong trái tim em có nhớ nhiều?". Huế của ta phải là "Gió đưa cành trúc la đà, tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương". Và Huế của ta phải là cô receptionist khách sạn trên đường Lê Lợi với đôi mắt trong vắt như nước hồ thu, gương mặt bỡ ngỡ giống như thiên thần đầu thai thế kỷ và với chiếc áo gió màu ngọc bích xinh tươi như trong truyện cổ tích, chứ không phải con mụ mặt hoa da phấn "biểu dương lực lượng": "Năm mươi ngàn thôi, rẻ mà anh Hai". "Anh Hai" chạy dài. Chẳng thà "anh Hai" để dành tiền đi du lịch Trung Quốc leo... Vạn Lý Trường Thành mệt đứ đừ đừ còn sướng thân hơn!

Xin chào và hẹn gặp quý bạn... trên dòng sông Hương khi đã trong sạch.

Đoàn Dự

Source: Take2Tango

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Mì Quảng ơi... tạm biệt

Du Lam
Lâu lắm chỉ biết ngồi lắng xem (lén xem thì đúng hơn) anh em người ta viết, vì bị nghi nan cấm đoán đủ thứ trên đời. Tưởng cái nghiệp dĩ tới hồi kết thúc, lòng thì cũng rười rượi buồn, hay đâu cái nghiệp chưa phải dứt, chỉ vì cái bài của anh Tưởng Năng Tiến là Vĩnh biệt mì Quảng, để rồi nỗi cái máu tiền nhân Quảng nôm hay cãi, nên cũng ráng thêm một bài hầu nói lại lời than khóc tự thuật của cái thằng mang tên…Bát mì quảng; đang bị thiên hạ xào nấu, pha trộn làm mất cái tên cúng cơm của hắn.

Hắn phải được xác định bản án cụ thể từ một người chính xứ Quảng Nam như Du Lam tui trước khi hắn bị xử trảm bằng lời…Vĩnh biệt mì Quảng của anh Tưởng Năng Tiến. Và cũng vì bênh vực cho cái bản sắc quê hương, tôi cảm ơn anh Tưởng Năng Tiến nhắc lại mà có khi là mượn bát mì Quảng hâm lại cái tô mì nào đó ở Đà lạt như anh Lâm Viên về bà bán mì già, bà bán mì trẻ (tui nghi bà trẻ ni hơn) còn bà Rùa mô đó thì chắc anh Tiến không còn ở Việt Nam nhất là xứ Đà Lạt để biết, xin gửi bà Rùa lại cho anh Lâm viên làm bạn vậy.


Thiệt là tội nghiệp cho cái thằng mang tên Bát mì Quảng của quê tôi bị xào nấu tứ chiến, để một ngày anh Tiến thầm rơi nước mắt vì chứng kiến một bà mập thù lù cùng đức lưng quần (lang quân) kéo theo cái rờ moóc tám đứa đi ăn mì, thọc cái muỗng múc, rồi húp tùng tí…, chính vì cái tính nông dân bảo thủ,tui không muốn mất cái nguyên thủy của Bát mì Quảng, bị nhạt phai qua thời đại, qua nhiều bàn tay chế biến, và không chỉ bởi những người Quảng tha phương tới tận miền Đà lạt, mà tại nơi chôn nhau cắt rún hắn cũng không còn. Nói chi tới xứ Xân phờ rân xít cô (Sanfrancisco) bên Huê Kỳ kia thì thủy thổ đã là vấn đề, nói chi tới mỗi thứ chi li trong bát mì cho đậm đà bản sắc.

Vì cái cục bộ địa phương mà tui phải rạch ròi từng việc, cả những thứ đi kèm theo cái bát mì Quảng một lần để…tránh ngộ nhận, nên tôi không bỏ sót ý kiến của một ai sau bài anh Tiến, tôi chẳng có tham vọng như Vũ Bằng về Miếng ngon Hà nội, hay Thạch Lam với cái ăn, cách ăn lòng lợn trong nhà Mẹ Lê, họ là những nhà văn, ở đây tui chỉ kể lại rằng…quê tôi, có cái thằng mang tên Bát mì Quảng để hầu quí bạn đọc khắp nơi.

Trước hết là cái tên cúng cơm của nó, Bát mì Quảng, hoàn toàn không gọi là tô mì, chữ tô là ngôn ngữ của một nơi khác, có lẽ từ miền Bắc, qua cuộc bể dâu người đời gán cho bát mì, cái tiếng gọi ấy nói lên tính địa phương rặt.

Để có một bát mì, hay một bữa mì trong gia đình, cả những quán mì đúng quốc hồn quốc túy xứ Quảng, người ta phải bắt đầu từ chọn gạo để xay bột, gạo phải là loại gạo cũ để khi xay và lấy trùng (tiếng địa phương) là để đạt tiêu chuẩn có con mì ngon,cái màu vàng khó tả của anh Tưởng Năng Tiến chính là nghệ củ tươi giã nhỏ vắt nước, pha vào trong thau bột loãng theo công thức quen tay chuyên nghiệp để có được cái màu khó tả ấy mà anh ta kiên quyết không phải là nghệ, có lẽ anh ấy ui cô hàng mì Quảng rồi nhơ nhớ là như thế.

Một cái lò xây bằng đất thịt vàng pha rơm rạ, được bắt lên cố định là một cái nồi, ngày xưa là nột đồng đúc xứ Điện Phương, Điện Bàn, nay là nồi nhôm, trên là miếng vải Tám dệt ở chợ Chùa Duy Xuyên cũng gần xứ đúc nồi đồng, trùm phẳng trên nguồn hơi nước nóng xông lên trong nồi,một cái gáo dừa có cán dài đít gáo hơi dẹt vừa dùng múc bột, vừa dùng cái đít gáo tráng ra cho đều với độ mỏng dày phù hợp, rồi đậy vung lại cho bột gạo chín tới thành lá mì, (lá mì có nhiều công dụng chứ không chỉ là làm mì,lấy nó, rập lên một bánh tráng nướng gấp lại thì gọi là bánh tráng đập, món nầy ở Hội an hiện nay như món đặc sản, chấm với mắm nêm. Cũng lá mì ấy canh ra vĩ tre, phơi đi là bánh tráng, miền Bắc gọi là bánh đa).

Khi lá mì chín tới, người tráng mì dở vung, dùng một que tre dài dát mỏng lần xuống giữa lớp vải và mì, lật lá mì lên trên que tre rồi mang ra,trên cái trẹt (như cái mâm đan bằng tre) có lót lá chuối tươi , trải lá mì lên đó, lá thứ hai và những lá kế tiếp, được chồng lên nhau sau khi đã dùng lá chuối tươi tước nhỏ để kẹp biên từng lá cho dễ tách sau nầy. Đó là công đoạn hình thành lá mì.

Tiến trình hình thành một bát mì Quảng, cho nguyên… thuở ban đầu lưu luyến ấy, không phải cầu kỳ chi lắm, nhưng lại hơn cả cầu kỳ mới có được bát mì nhìn thoáng qua biết ngay rằng nó như thuở ban đầu. Cái bát đựng mì bây giờ đi tìm quá khó, là một cái bát đất có men trắng ngà ngà chứ không trắng,điểm những hoa văn một màu xanh mực giản đơn như người dân quê xứ Quảng,nó chắc chắn không chấp nhận tô sứ tráng men dù có bắt mắt hơn nhiều lần. Món rau dưới đáy bát lại là một phiền toái, rau muống, chẻ sợi nhỏ, thêm rau húng, rau quế cũng thái vừa, búp chuối là đoạn sau của buồng chuối chưa nỡ thành nải chuối, có hình như mũi quả đạn pháo, màu nâu tím, thái nhỏ trộn lẫn vào đặt dưới đáy bát.

Trước khi thái lá mì thành con mì, người chế biến không bao giờ được phép bỏ sót cung đoạn là cho dầu phụng (dầu ăn ép bằng đậu phộng, và phải chính hiệu dầu phụng cũ) vào soong phi thơm, nó có mùi đặc trưng khó tả, chế ra chén, rồi dùng đầu ngón tay, chấm dầu thoa lên mặt lá mì, trước khi gấp lại ba bốn lần đặt lên thớt,một con dao phay lưỡi hơi bằng, tay phải cầm cán, tay trái cầm mũi, thoăn thoắt xén đều,sau đó cho vào cái rỗ lót lá chuối tươi sạch, bốc từng nắm cho vào bát, chần trên mớ rau dưới đáy.

Nhưng mì, là một hỗn hợp được chế biến từ những con tôm tươi Hội An (tôm biển nầy mới ngon) băm với thịt heo ba chỉ đã xắt lát, không nát lắm, chứ không phải giã như anh Tưởng Năng Tiến nói, xèo vào chảo dầu nóng già, thêm gia vị, tạo ra một hổn hợp sền sệt, lấy vá múc chế lên trên mì, nhưng … chưa phải xong đâu quí vị, nếu bỏ sót một thứ nước chan khác gọi là nước lèo, được chế biến từ khử dầu phụng, phi thơm hành mỡ, một tí ớt bột cho có màu, một ít thịt mỡ băm,rồi đổ nước lã vào đun sôi,cho them cọng hành lá xanh vào rồi nhắc xuống, chan lên trên mì.Kể như từ đây bạn có một bát mì và…ăn.

Để khắc họa cho đúng và đặc trưng xứ Quảng thì có lẽ người xơi bát mì ấy sẽ chê người chế biến, nếu trong bát mì, không kèm theo vài quả ớt xanh, là một giống ớt tui thấy ở Quảng Nam, vừa và mì nhai ngộm ngoạm, môi miệng ánh đầy dầu mỡ, tay cầm săm se trái ớt cho vào giữa hai hàm răng cắn ngang, kêu đánh bụp một tiếng thì bữa mì xem như thiếu một thứ vị quê hương, văn hóa mì Quảng quyện từ mọi công đoạn và kèm cả tiếng bụp người chưa quen nghe rờn rợn.

Lại nói tới phần sân khấu cho vai diễn bát mì,thì hình như bát mì không phù hợp với sân khấu hoành tráng âm thanh nỗi , ánh đèn màu lắm,quán mì là một túp nhà tranh, sườn bằng tre ngâm, chung quanh thưng phên tre đan trục trịch, dù chủ nhân nó thừa khả năng xây cất,trong góc là cái lò tráng mì,vài ba bộ bàn, mà ghế đi kèm là vài cái ghế dài đóng không cầu kỳ kiểu cọ, như kiểu thợ tre mà thôi, không trải khăn, không Formica sáng bóng, nó xỉn màu thời gian như nước da ngăm đen của người nông dân xứ Quảng,chiếc áo bà ba cổ kiềng, và chiếc tà loỏng dây lưng rút, sẵn sàng sà vào quán mì ăn ngon lành với bộ ăn chơi quá thú như thế,nó bình dị đến mức không ai thắc mắc gì dù quán mì cũng là nơi công chúng, thực khách đủ bề,chân thì trên ghế chân thì thõng xuống nền đất,sau khi ăn xong, mở chiếc đãy trong cạp quần lấy vài lá thuốc lá, một thứ đặc sản khác, quấn sâu kèn rồi cho vào mồm phì phà hôi mù trời đất, nhưng nó khắc họa bản chất Quảng, dù thuốc mang tên Cẩm Lệ,trong khi nơi đây là quê tôi, mấy mưoi năm tuổi tôi không hề thấy trồng bao nhiêu cả,chỉ là nơi chế biến thôi,mà nó được trồng ở vùng Thanh Quít thuộc Điện Bàn, ở đây cả phụ nữ cũng xài tất nên có câu ca rằng:

Tiếng đồn con gái Điện Hòa
Mất mùa thuốc lá chết ba ngàn người

Chết là vì thèm thuốc đó quí vị, chớ không đề cập tới chuyện thiếu ăn mô, nó quan trong như có ai đó ví von bánh tráng có duyên, có nợ với người Bình Định vì là món lương khô cho đoàn quân của Vua Quang Trung Nguyễn Huệ khi Bắc tiến.Và trong lúc phì phà như tàu lửa chạy than ấy,một chiếc ấm tích cũng bằng đất men ngà như cái bát mì, chế ra cũng trong bát, loại bát uống nước, một bát chè xanh cô đặc, được nấu từ lá chè tưoi già keo quánh,như thế mới đủ đô cho một bữa mì Quảng mang đậm bản sắc quê hương.

Nếu nói tới đây rồi ngừng thì bát mì xứ Quảng chưa mặn mà lắm, Du Lam tui cũng xin góp một vài chuyện nho nhỏ chung quanh bát mì Quảng trên mọi miền đất nước hầu quí độc giả coi thêm.

Những năm đầu tui đi bộ đội cho Cộng sản, đơn vị tập trung ở Tây nguyên chuẩn bị sang Căm bốt, nhớ nhà dễ sợ, nhưng chẳng biết làm gì, lang thang chợ quán vừa quê vừa núi nơi xứ Mang Yang của tỉnh Gia Lai, ở nới đây có một làng tên là Lệ cần, toàn người Quảng Nam, họ giữ nguyên giọng nói như chưa hề tới xứ người, số là những năm 1960 cho tới 1963, ông Ngô Đình Diệm mở chính sách Di dân lập ấp(1) (Nay gọi là kinh tế mới) di người Quảng lên Tây nguyên, có lẽ mấy bà già, bà trẻ bán mì xứ Đà Lạt của anh Tưởng Năng Tiến cũng như thế chăng? Cũng điếu thuốc sâu kèn ấy , cũng kiểu ăn mặc y chang như nói ở trên ngồi trong một quán nhỏ cũng có bảng nguệch ngoạc hai chữ Mì Quảng, biết là đồng hương và món mì bản sắc, tôi sà vào ngồi kêu một tô(ở đây họ kêu là tô). Khi bà chủ quán đã sồn sồn bưng ra, tôi hơi ngạc nhiên, nhìn quanh mấy đồng hương không quen ngồi quanh đó, quán giống Quảng Nam, người thì đích thị Quảng Nam, mà mì thì không phải, vì thứ nước gọi là nước lèo ấy, chan tới miệng tô như bún hay phở, tôi là thằng cắc cớ, gọi giật bà chủ lại hỏi: Tô nầy là món gì đây dì? Bà ấy trả lời như nằm sẵn đầu lưỡi, mì Quảng, chú không thấy cái bảng à? Hơi chột dạ vì giọng bà ấy cũng Quảng mà không phải Quảng Nam, tôi cúi xuống xì xụp tô mì, cũng như tô phở, tô bún, không hề dâng ngập long mình thứ văn hóa làng mà mình đã chung chạ với nó cả cuộc đời, không có trái ớt xanh cắn kêu cái bụp, nước trà sao kiểu công nghiệp uống bằng ly, tôi nán lại chờ cho đồng hưong đi khỏi, tôi cắc cớ không buông tha cho bà chủ quán.

Tôi hỏi thăm một lần nữa rằng mì ni không phải mì Quảng dì ơi? Bà ấy cũng đáo để không kém, cậu biết rùi, tui nói mì Quảng, tui là người Bình Sơn Quảng Ngãi, thì mì nầy sao không là mì Quảng chớ? À thì ra là thế, mì Quảng còn có cái bao la hơn tôi tưởng, có thứ mì Quảng…ngãi nữa, tôi nghẹn lòng trả tiền bước đi, mình hẹp hòi xấu tính hay chăng? Là cục bộ địa phương hay rạch ròi minh bạch? Có lẽ là cả hai nên thua đứt một bà già, từ góc cạnh tô mì nghĩ chuyện thế nhân đôi khi cũng thế, hẹp hòi, bảo thủ không nhận thấy cái sai,như một ai đó trong những ý kiến theo dòng bài anh Tưởng Năng Tiến, trên đời nầy chỉ đúng mình ta, nhà ta, phe ta, làng ta, và… đành phải xem lại mình, như tôi tạm biệt mì Quảng mà thôi, vì đời còn có Phở Hà nội, hủ tiếu Mỹ tho, suy rộng ra hơn còn có pizza của Ý, MacDonald’s của Mỹ, trứng cá Hồi của Nga, hoành thánh của Tàu, uống thì có rượu vang Pháp, sake Nhật, Coca Cola Mỹ, không cứ chỉ tô mì Quảng y chang từ nguyên thủy để rồi thiên hạ chê cừơi.


Du Lam
Đà Nẵng ngày bão gió

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Image

Tản Đà và món ốc nướng





Có câu "Sống ở trên đời ăn miếng dồi chó". Lại có câu: "Cua nướng, ốc lùi/Sống cũng đáng đời ăn những của ngon". Ốc lùi, ốc nướng, các món ăn quê mùa và bình dân ấy đã được một nhà thơ lớn của nước ta hồi đầu thế kỷ - nhà thơ Tản Đà - Nguyễn Khắc Hiếu rất thích.


Trong cuốn ký ức “Tôi với Tản Đà” của nhà văn Nguyễn Văn Phúc (1918-1983) do Nhà xuất bản Đời mới - xuất bản từ năm 1944, ở bài “Những cuộc hộ ẩm” có những trang đoạn rất đặc sắc miêu tả việc tác giả “Thề non nước” chế biến và thưởng thức món ốc nướng.
Nhà văn Nguyễn Văn Phúc là con di phúc của ông Tú Ngọ (ông Tú Ngọ là con thứ ba của cụ Phó bảng Nguyễn Tái Tích, anh ruột của Tản Đà) nên phải gọi Tản Đà bằng ông chú (ông trẻ). Tuy là cháu, nhưng vì cùng là dân thơ phú, văn chương, nên Nguyễn Văn Phúc được nhà văn coi như bạn, cho được thù tạc mỗi khi gặp nhau.


Một lần, từ Hà Nội về thăm quê, làng Khê Thượng, xã Sơn Đà, huyện Bất Bạt, Sơn Tây - nơi Tản Đà ở, ông đã được thi sĩ mời thưởng thức một món nhậu đặc biệt. Tản Đà nói với ông:
- Đã lâu rồi lại mới uống rượu với anh. Tôi vừa mới chế được mấy món uống rượu rất ngon. Tôi sẽ tự làm cho anh ăn.
Nói rồi Tản Đà gọi gia bộc lên hỏi:
- Thế nào, chỗ ốc mày ngâm nước gạo từ hôm qua, nó đã thả hết rêu và chất bẩn ra chưa? Lấy khăn lau khô từng con một. Lau cả những vỏ sò đi nhớ.
Đoạn, cụ hướng về phía khách:
- ốc nướng bằng vỏ sò, một món ăn rất ngon. Nhưng phải là con nhà tửu đồ mới biết cách làm.
Cách làm và thưởng thức món ốc nướng của Tản Đà được nhà văn vong niên mô tả như sau:
“Ngày đã ngả về chiều, gió thu lành lạnh, ánh trăng non đã chếch lờ mờ sau rặng tre. Thi sĩ nhìn trời gật gù: “Thời tiết được như hôm nay thì món ốc này kể cũng tạm được, nhưng giá có đôi hạt mưa phùn và lạnh hơn nữa mới thực hợp”.
Một lát sau, người gia bộc đã từ trong nhà bưng ra một đĩa tây đựng đến vài chục chiếc vỏ sò lớn vừa khô ráo, vừa trắng sạch và một rá ốc nhồi, con nào con nấy đã lau kỹ, bóng loáng. Đặt rá ốc vào mâm, người gia bộc quay vào nhà lấy ra một liễn mỡ và một đĩa hành hoa đã thái sẵn. Sau đó, một chiếc lò than đã rực hồng được trân trọng đặt vào giữa chiếc mâm đồng sáng loáng. Tiệc rượu bắt đầu.
Thi sĩ mở bình rượu hồng ngâm khởi tử rót vào hai chiếc chén bạch định nhỏ như hạt mít. Men rượu bay, tỏa hương...
Bốn chiếc vỏ sò được đặt vào trong “hỏa lò”. Trong khi chờ những chiếc vỏ sò nóng, thi sĩ dùng chiếc dùi sắt nhể lấy 4 con ốc, đặt vào một chiếc đĩa. Đoạn múc mỡ đổ vào những chiếc vỏ sò. Vỏ sò nóng, mỡ sôi ngay, liền đó nhà thơ cho ngay mấy nhánh hành hoa bỏ vào, mỡ gặp hành, hành gặp mỡ, mùi thơm bốc lên phưng phức. Những con ốc lập tức được gắp bỏ kịp thời vào từng chiếc vỏ sò...
Ốc vừa chín tới, liền được thi sĩ gắp ra. Và sau mỗi ngụm rượu là một con ốc kèm theo mấy cọng rau thơm”.



Nhà văn Nguyễn Văn Phúc viết tiếp: “Chưa bao giờ tôi thấy một tửu đồ ăn uống một cách ngon lành và hào hứng như vậy. Thi sĩ uống rượu và ăn ốc trước để ra kiểu cho tôi. Tôi đã theo hệt như người. Trong đời tôi đã ăn ốc nhiều, nhưng xin thú thực, bữa ốc đầu tiên ấy thưởng thức với Tản Đà đã để lại cho tôi một kỷ niệm kỳ thú mà mãi mãi không bao giờ tôi có thể quên được. Tôi không thể nào tỏ rõ được vị ngon và lạ của món ốc nướng bằng vỏ sò mà Tản Đà đã tự nghĩ cách chế biến ra. Tôi chỉ có thể nói rằng món ốc ấy là món không giống một món ốc nào mà tôi đã được ăn”.
Nghề ăn cũng lắm công phu, Tản Đà nói vậy và cụ giải thích với người thực khách trẻ hôm ấy rằng, vì sao ốc nướng chỉ ăn khi trời lạnh và phải ăn lúc còn thật nóng? Đơn giản bởi ốc là thứ thức ăn có tính hàn. Tiên sinh còn phân tích vì sao phải dùng vỏ con sò để nướng con ốc, vì sao phải có mỡ, hành, rau thơm?... Vì như thế ốc sẽ giữ được vị của ốc, không bị chín quá, không bị dính tro than. Và có hành hoa, có lá thơm vào món ốc sẽ làm cho ốc thêm thơm, thêm vị, thêm đậm đà! ốc nướng chỉ là một trong rất nhiều món ăn mà thi sĩ đã từng chế biến và thưởng thức.
Sinh thời, Tản Đà không chỉ nổi tiếng vì thơ mà còn nổi tiếng là một người sành điệu trong nghệ thuật ẩm thực. Ngay từ đầu thế kỷ, tiên sinh đã sáng tác nhiều món ăn dân tộc “siêu đặc sản”, từng mơ ước có những hãng chế biến thức ăn Việt Nam, trong đó có một “hiệu tương ớt” mang tên mình... với một quan điểm thật rõ ràng: “Ăn là một nghệ thuật, mà nghệ thuật ăn, nhiều khi còn khó hơn nghệ thuật viết văn”.

Thu An
Báo Hà Tây

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Cái chết của một ngôn ngữ : tiếng Việt Sài Gòn cũ Vấn đề ngôn ngữ là vấn đề của muôn thuở, không riêng gì của người Việt. Trong bài viết này, tôi muốn bàn về một thực trạng của tiếng Việt mà đã đến lúc, chúng ta không thể không suy nghĩ về nó một cách nghiêm túc. Đó là nguy cơ diệt vong của một thứ tiếng Việt mà người miền Nam Việt Nam dùng trước năm 1975 hay còn được gọi là tiếng Việt Sài Gòn cũ. Thứ tiếng Việt đó đang mất dần trong đời sống hàng ngày của người dân trong nước và chẳng chóng thì chầy, nó sẽ biến thành cổ ngữ, hoặc chỉ còn tìm thấy trong tự điển, không còn ai biết và nhắc tới nữa. Điều tôi đang lo lắng là nó đang chết dần ngay chính trong nước chứ không phải ở ngoài nước. Người Việt hải ngoại mang nó theo hành trình di tản của mình và sử dụng nó như một thứ ngôn ngữ lưu vong. Nếu người Việt hải ngoại không dùng, hay nền văn học hải ngoại không còn tồn tại, nó cũng âm thầm chết theo. Nhìn tiếng Việt Sài Gòn cũ từ từ biến mất, lòng tôi bỗng gợn một nỗi cảm hoài. Điều tôi thấy, có lẽ nhiều người cũng thấy, thấy để mà thấy, không làm gì được. Sự ra đi của nó âm thầm giống như những dấu tích của nền văn hoá đệ nhất, đệ nhị cộng hoà VN vậy. Người ta không thể tìm ra nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi, Cổ Thành Quảng Trị, nghĩa trang Quận Đội, trường võ bị Thủ Đức, v.v... Tất cả đã thay đổi, bị phá huỷ hoặc biến đi như một sắp xếp của định mệnh hay một định luật của tạo hoá.

Nhắc đến tiếng Việt Sài Gòn cũ là nhắc tới miền Nam Việt Nam trước 1975. Vì cuộc đấu tranh ý thức hệ mà Nam, Bắc Việt Nam trước đó bị phân đôi. Sau ngày Việt Nam thống nhất năm 75, miền Nam thực sự bước vào sự thay đổi toàn diện. Thể chế chính trị thay đổi, kéo theo xã hội, đời sống, văn hoá và cùng với đó, ngôn ngữ cũng chịu chung một số phận. Miền Bắc thay đổi không kém gì miền Nam. Tiếng Việt miền Bắc đã chịu sự thâm nhập của một số ít ngữ vựng miền Nam. Ngược lại, miền Nam chịu ảnh hưởng trực tiếp sự chi phối của ngôn ngữ miền Bắc trong mọi lãnh vực. Nguời dân miền Nam tập làm quen và dùng nhiều từ ngữ mà trước đây họ không bao giờ biết tới. Những: đề xuất, bồi dưỡng, kiểm thảo, sự cố, hộ khẩu, căn hộ, ùn tắc, ô to con, xe con, to đùng, mặt bằng, phản ánh, bức xúc, tiêu dùng, tận dụng tốt, đánh cược, chỉ đạo, quyết sách, đạo cụ, quy phạm, quy hoạch, bảo quản, kênh phát sóng, cao tốc, doanh số, đối tác, thời bao cấp, chế độ bao cấp, chế độ xem, nâng cấp, lực công, nền công nghiệp âm nhạc, chùm ảnh, chùm thơ, nhà cao tầng, đáp án, phồn thực, sinh thực khí, từ vựng, hội chứng, phân phối, mục từ, kết từ, đại từ, nghệ sĩ ưu tú, nghệ sĩ nhân dân,v.v...dần dà đã trở thành những từ ngữ quen thuộc trong đời sống hàng ngày của người dân miền Nam.

Có những từ ngữ miền Nam và miền Bắc trước 75 đồng nghĩa và cách dùng giống nhau. Có những từ cùng nghĩa nhưng cách dùng khác nhau. Tỷ như chữ "quản lý" là trông nom, coi sóc. Miền Nam chỉ dùng từ này trong lãnh vực thương mại trong khi miền Bắc dùng rộng hơn trong cả lãnh vực cá nhân như một người con trai cầu hôn một người con gái bằng câu: "Anh xin quản lý đời em". Hoặc từ "chế độ" cũng vậy, miền Nam chỉ dùng trong môi trường chính trị như "chế độ dân chủ". Miền Bắc dùng bao quát hơn trong nhiều lãnh vực như "chế độ xem", "chế độ bao cấp". Có những từ miền Bắc dùng đảo ngược lại như đơn giản - giản đơn; bảo đảm - đảm bảo; dãi dầu - dầu dãi; vùi dập - dập vùi. v.v...

Song song với việc thống nhất đất nước, chính quyền Việt Nam đã thống nhất hoá tiếng Việt và gọi đó là "tiếng Việt toàn dân". Cuối năm 1979, đầu năm 1980, Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam đã phối hợp với Viện Khoa học Giáo dục tổ chức một số cuộc hội thảo về vấn đề chuẩn hoá tiếng Việt. Bộ Giáo dục cũng thông qua một số quy định về chính tả trong sách giáo khoa cải cách giáo dục. Ngày 01/7/1983, Quyết nghị của Hội đồng chuẩn hoá chính tả và Hội đồng chuẩn hoá thuật ngữ đã được ban hành và áp dụng cho các sách giáo khoa, báo và văn bản của ngành giáo dục.

Khi tiếng Việt được thống nhất và chuẩn hoá, toàn quốc sử dụng chung một thứ ngôn ngữ theo một tiêu chuẩn, mẫu mực nhất định. Tiếng Việt Sài Gòn cũ, gồm những từ ngữ mà tiếng Việt miền Bắc đã có từ ngữ thay thế, sẽ bị quên đi hoặc bị đào thải. Những từ ngữ thông dụng cho cuộc chiến trước đó sẽ biến mất trước tiên. Những: trực thăng, cộng quân, tác chiến, địa phương quân, thiết vận xa, xe nhà binh, lạnh cẳng, giới chức(hữu) trách, dứt điểm, phi tuần, chào bãi, tuyến phòng thủ, trái bộc pha, viễn thám, binh chủng, phi hành, gia binh, ấp chiến lược, nhân dân tự vệ, chiêu hồi, chiêu mộ, v.v… hầu như ít, thậm chí không được dùng trong hiện tại. Những từ ngữ thông dụng khác như ghi danh, đi xem đã bị thay thế bằng đăng ký, tham quan. Nhiều từ ngữ dần dần đã bước vào quên lãng như:sổ gia đình, tờ khai gia đình, phản ảnh, đường rầy, cao ốc, bằng khoán nhà, tĩnh từ, đại danh từ, túc từ, giới từ, khảo thí, khán hộ, khao thưởng, hữu sự, khế ước, trước bạ, tư thục, biến cố, du ngoạn, ấn loát, làm phong phú, liên hợp, gá nghĩa, giáo học, giáo quy, hàm hồ, tráng lệ, thám thính, tư thất, chẩn bệnh, chi dụng, giới nghiêm, thiết quân luật, v.v...

Ở hải ngoại, khi bắt đầu cầm bút, trong tâm thức một người lưu vong, viết, đối với tôi, là một động tác mở để vỡ ra một con đường: Đường hoài hương. Nhiều người viết hải ngoại cũng tìm đến con đường về cố hương nhanh nhất này như tôi. Hơn nữa, để đối đầu với cơn chấn động văn hóa thường tạo nhiều áp lực, tôi xem viết như một phương pháp giải toả và trám đầy nỗi hụt hẫng, rỗng không của một người vừa ly dị với quê hương đất tổ sau một hôn phối dài. Tôi không bao giờ để ý đến việc mình viết cho ai, loại độc giả nào, trong hay ngoài nước, và họ có hiểu thứ ngôn ngữ mình đang dùng hay không vì lúc đó, chỉ có một vài tờ báo điện tử liên mạng mới bắt đầu xuất hiện ở hải ngoại. Sau này, nhờ kỹ thuật điện toán ngày một phát triển, cầu giao lưu giữa trong và ngoài nước được nối lại, độc giả trong và ngoài nước đã có cơ hội tiếp xúc, thảo luận, đọc và viết cho nhau gần như trong gang tấc. Đó là lúc tôi được tiếp xúc với dòng văn học trong nước và làm quen với nhiều từ ngữ mới lạ chưa từng được nghe và dùng. Ngược lại, trong nước cũng vậy, số người lên mạng để đọc những gì được viết bởi người cầm bút ngoài nước cũng không ít.

Thế hệ chúng tôi được người ta âu yếm gọi là thế hệ một rưỡi, thế hệ ba rọi hay nửa nạc nửa mỡ, cái gì cũng một nửa. Nửa trong nửa ngoài, nửa tây nửa ta, nửa nam nửa bắc, nửa nọ nửa kia, cái gì cũng một nửa.

Do đó, nhiều lúc tôi phân vân không biết mình nên dùng nửa nào để viết cho thích hợp nữa. Nửa của những từ ngữ Sài Gòn cũ hay nửa của tiếng Việt thông dụng trong nước? Mình có nên thay đổi lối viết không? Tôi nghĩ nhiều người viết hải ngoại cũng gặp khó khăn như tôi và cuối cùng, mỗi người có một lựa chọn riêng. Không chỉ trong lãnh vực văn chương, thi phú mà ở các lãnh vực phổ thông khác như giáo dục và truyền thông cũng va phải vấn đề gay go này. Việc sử dụng nhiều từ ngữ thông dụng của quốc nội ở hải ngoại đã gặp nhiều chống đối và tạo ra những cuộc tranh luận liên miên, dai dẳng.

Các cơ quan truyền thông như báo chí, truyền thanh, truyền hình thường xuyên bị chỉ trích và phản đối khi họ sử dụng những từ trong nước bị coi là "chữ của Việt Cộng" và được yêu cầu không nên tiếp tục dùng. Nhất là ở Nam Cali, báo chí và giới truyền thông rất dễ bị chụp mũ "cộng sản" nếu không khéo léo trong việc đăng tải và sử dụng từ ngữ. Chiếc mũ vô hình này, một khi bị chụp, thì nạn nhân xem như bị cộng đồng tẩy chay mà đi vào tuyệt lộ, hết làm ăn vì địa bàn hoạt động chính là cộng đồng địa phương đó.
Trong cuốn DVD chủ đề 30 năm viễn xứ của Thúy Nga Paris, chúng ta được xem nhiều hình ảnh cộng đồng người Việt hải ngoại cố gìn giữ bản sắc văn hoá Việt Nam bằng cách mở các lớp dạy Việt ngữ cho các con em. Khắp nơi trên thế giới, từ nơi ít người Việt định cư nhất cho tới nơi đông nhất như ở Mỹ, đều có trường dạy tiếng Việt. Riêng ở Nam California, Mỹ, hoạt động này đang có sự khởi sắc. Ngoài những trung tâm Việt ngữ đáng kể ở Little Saigon và San José, các nhà thờ và chùa chiền hầu hết đều mở lớp dạy Việt ngữ cho các em, không phân biệt tuổi tác và trình độ. Nhà thờ Việt Nam ở Cali của Mỹ thì rất nhiều, mỗi quận hạt, khu, xứ đều có một nhà thờ và có lớp dạy Việt ngữ. Chùa Việt Nam ở Cali bây giờ cũng không ít. Riêng vùng Westminster, Quận Cam, Cali, đi vài con đường lại có một ngôi chùa, có khi trên cùng một con đường mà người ta thấy có tới 3, 4 ngôi chùa khác nhau. Việc bảo tồn văn hoá Việt Nam được các vị hướng dẫn tôn giáo như linh mục, thượng tọa, ni sư nhắc nhở giáo dân, đại chúng mỗi ngày. Lớp học tiếng Việt càng ngày càng đông và việc học tiếng Việt đã trở thành một trong những mối quan tâm hàng đầu của cộng đồng lưu vong. "Tại Trung tâm Việt ngữ Hồng Bàng, năm nay số học sinh nhập học tiếng Việt lên tới 700 em. Những thầy cô dạy tiếng Việt đều làm việc thiện nguyện hoàn toàn, đã hết lòng chỉ dạy cho các em, nhất là các em vừa vào lớp mẫu giáo tiếng Việt" (trích Việt báo, Chủ nhật, 9/24/2006)
Về vấn đề giáo trình thì mỗi nơi dạy theo một lối riêng, không thống nhất. Sách giáo khoa, có nơi soạn và in riêng để dạy hoặc đặt mua ở các trung tâm Việt ngữ. Còn ở đại học cũng có lớp dạy tiếng Việt cho sinh viên, sách thường được đặt mua ở Úc. Một giảng sư dạy tiếng Việt tâm sự với tôi: "Khi nào gặp những từ ngữ trong nước thì mình tránh đi, không dùng hoặc dùng từ thông dụng của Sài gòn cũ trước 75 vì nếu dùng cha mẹ của sinh viên, học sinh biết được, phản đối hoặc kiện cáo, lúc ấy phải đổi sách thì phiền chết."

Sự dị ứng và khước từ việc sử dụng tiếng Việt trong nước của người Việt hải ngoại có thể đưa tiếng Việt ở hải ngoại đến tình trạng tự mình cô lập. Thêm nữa, với sự phát triển rầm rộ của kỹ thuật điện toán và thế giới liên mạng, báo chí, truyền thông của chính người Việt hải ngoại đến với mọi người quá dễ dàng và tiện lợi. Độc giả cứ lên mạng là đọc được tiếng Việt Sài Gòn cũ nên họ dường như không có nhu cầu tìm hiểu tiếng Việt trong nước. Kết quả là tiếng Việt trong và ngoài nước chê nhau!!!

Việc người Việt hải ngoại chống đối và tẩy chay ngôn ngữ Việt Nam đang dùng ở trong nước có vài nguyên do:

Thứ nhất là do sự khác biệt của ý thức hệ. Những người Việt Nam lưu vong phần lớn là người tị nạn chính trị. Họ đã từ bỏ tất cả để ra đi chỉ vì không chấp nhận chế độ cộng sản nên từ chối dùng tiếng Việt trong nước là gián tiếp từ chối chế độ cộng sản.

Thứ hai, sự khác biệt của từ ngữ được dùng trong cả hai lãnh vực ngữ nghĩa và ngữ pháp. Đây là một thí dụ điển hình. Trong cùng một bản tin được dịch từ một hãng thông tấn ngoại quốc, nhà báo ở trong nước và ngoài nước dịch thành hai văn bản khác nhau:

Trong nước:

Tàu ngầm hạt nhân Nga bốc cháy

Interfax dẫn một nguồn tin Hải quân Nga cho hay ngọn lửa bắt nguồn từ phòng điện hóa và dụng cụ bảo vệ lò hạt nhân đã được kích hoạt, do đó không có đe dọa về nhiễm phóng xạ. Phát ngôn viên hạm đội này cho hay: "Lửa bốc lên do chập điện ở hệ thống cấp năng lượng phần mũi tàu.
(http://vnexpress.net/Vietnam/The-gioi/2006/09/3B9EDF89/)

Ngoài nước:

Hỏa hoạn trên tàu ngầm Nga

Hải quân Nga nói rằng lò phản ứng hạt nhân trên tàu Daniil Moskovsky đã tự động đóng lại và không có nguy cơ phóng xạ xảy ra. Chiếc tàu đã được kéo về căn cứ Vidyayevo. Nguyên nhân hỏa hoạn có thể do chạm giây điện.
(http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/an ... 48362&z=75)

Một người Việt hải ngoại khi đọc văn bản thứ nhất sẽ gặp những chữ lạ tai, không hiểu nghĩa rõ ràng vì sự khác biệt như những chữ: phòng điện hoá, được kích hoạt, chập điện, hệ thống cấp năng lượng...

Hơn thế nữa, Việt Nam mới bắt đầu mở cửa thông thương giao dịch với quốc tế; những từ ngữ mới về điện toán, kỹ thuật, y khoa, chính trị, kinh tế, xã hội, ồ ạt đổ vào. Có nhiều từ ngữ rất khó dịch sát nghĩa và thích hợp nên mạnh ai nấy dịch. Ngoài nước dịch hai ba kiểu, trong nước bốn năm kiểu khác nhau, người đọc cứ tha hồ mà đoán nghĩa. Có chữ thà để ở dạng nguyên bản, người đọc nhiều khi còn nhận ra và hiểu nghĩa nó nhanh hơn là phiên dịch.

Trong việc phiên dịch, theo tôi, địa danh, đường phố, tên người nên giữ nguyên hơn là phiên dịch hay phiên âm. Nếu có thể, xin chú thích từ nguyên bản ngay bên cạnh hay đâu đó bên dưới bài viết sẽ giúp người đọc dễ theo dõi hay nhận biết mặt chữ. Tỷ như việc phiên âm các địa danh trên bản đồ trong sách giáo khoa của Bộ Giáo dục trong nước là việc đáng khen nhưng tôi nghĩ, nếu đặt từ nguyên thủy lên trên từ phiên âm thì các em học sinh chưa học tiếng Anh hoặc đã học tiếng Anh sẽ dễ nhận ra hơn. Xin lấy tỉ dụ là những địa điểm được ghi trên tấm bản đồ này. (http://i12.photobucket.com/albums/a215/ ... uonJPG.jpg)

Tôi thấy một hai địa danh nghe rất lạ tai như Cu dơ Bây, Ben dơ mà không biết tiếng Mỹ nó là cái gì, ngồi ngẫm nghĩ mãi mới tìm ra: đó là hai địa danh Coos Bay và Bend ở tiểu bang Oregon, nước Mỹ!

Ngôn ngữ chuyển động, từ ngữ mới được sinh ra, từ cũ sẽ mất đi như sự đào thải của định luật cung cầu. Tiếng Việt Sài Gòn cũ ở trong nước thì chết dần chết mòn; ở ngoài nước, nếu không được sử dụng hay chuyển động để phát sinh từ mới và cập nhật hoá, nó sẽ bị lỗi thời và không còn thích ứng trong hoạt động giao tiếp nữa. Dần dà, nó sẽ bị thay thế bằng tiếng Việt trong nước. Nhất là trong những năm gần đây, sự chống đối việc sử dụng tiếng Việt trong nước ngày càng giảm vì sự giao lưu văn hoá đã xảy ra khiến người ta quen dần với những gì người ta đã phản đối ngày xưa. Tạp chí, sách, báo đã đăng tải và phổ biến các bản tin cũng như những văn bản trong nước. Người ta tìm được nhiều tài liệu, ấn phẩm, sách nhạc quốc nội được bày bán trong các tiệm sách. Các đài truyền thanh phỏng vấn, đối thoại với những nhà văn, nhà báo, chính trị gia và thường dân trong nước thường xuyên. Đặc biệt, giới ca sĩ, nhiều người nổi tiếng ra hải ngoại lưu diễn, đi đi về về như cơm bữa. Giới truyền thông bây giờ sử dụng từ ngữ trong nước rất nhiều, có người mặc cho thiên hạ chỉ trích, không còn ngại ngùng gì khi dùng từ nữa. Khán thính giả có khó chịu và chê trách, họ chỉ giải thích là thói quen đã ăn vào trong máu rồi, không chịu thì phải ráng mà chịu.

Sự ra đi của một chế độ kéo theo nhiều thứ: con người, tài sản, nhà cửa, vườn tược, lịch sử… nhưng có cái bị lôi theo mà người ta không ngờ nhất lại là "cái chết của một ngôn ngữ". Đau lòng lắm thay!

Trịnh Thanh Thuỷ© 2006 talawas

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Image



Lượm tấm hình ở bài trên, tên tấm hình là thua luôn, hehehe
.

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

If Then Else
LTS:

Có rất nhiều điều để nói về dịch thuật.

Dịch là trò chơi trí tuệ giữa những cọ sát ngôn ngữ. Đôi khi chuyện dịch Việt-Anh, Anh-Việt trở nên phức tạp, như một cuộc dàn xếp các xung đột giữa hai thứ tiếng hoàn toàn xa lạ. Dịch thuật là tự đặt mình vào thế dằng co giữa chữ và nghĩa, là đối mặt với những câu hỏi: phiên dịch hay phỏng dịch? chuyển dịch hay thông dịch? dịch ý hay dịch lời? dịch sát hay dịch thoát? dịch là hư hao hay thêm vào? dịch là phản, là giết, hay dịch là bơm vào văn bản một dòng máu mới?

Chúng ta chỉ biết chắc một điều: Không có hai bản dịch hoàn toàn giống nhau. Thử nghiệm dưới đây của ban biên tập damau.org, sử dụng một bài thơ tiếng Anh của Phùng Nguyễn và các bản dịch Việt ngữ của Trần Mộng Tú, Hồ Như, Lê Đình Nhất Lang, Lưu Diệu Vân, Đỗ Lê Anhdao, Đặng Thơ Thơ, Nguyễn Hoàng, hy vọng nói lên được đôi điều về điều đã được nói về.


--------------------------------------------------------------------------------


If Then Else
poem
Phung Nguyen

The other day I told my lover,
"If you can't bear the thought of having to squeeze your blood
into my heart,
ever beating irregularly since the 'bypass',
then you should travel light;

If you can't bear the responsibility of being God
- having to toy with [MY] happiness and miserIES,
then you should travel light;

If you can't bear the burden of loving and being loved,
then you should travel light".

The day after [the other day]
I packed my things into a thermos,
travelled light,
and alongside,
fucked away
the remains of my life!


--------------------------------------------------------------------------------


Nếu Như Vậy Thì
{đỗ lê anhdao phỏng dich}

Có một ngày nọ tôi nói với người tình,
“Nếu như em không cách nào chịu nổi ý tưởng đành phải vắt máu em
Vào trong tim anh,
Trái tim vẫn nhịp đập thất thường từ ngày ‘nới van mạch’,
Thì thôi em cứ ra đi nhẹ nhàng;
Nếu như em không cách nào chịu nổi trách nhiệm của Trời
-phải đùa chơi với những niềm hạnh phúc và sự đau khổ [CỦA TÔI],
Thì thôi em cứ ra đi nhẹ nhàng;
Nếu như em không cách nào chấp nhận gánh nặng của yêu và bị yêu
Thì thôi em cứ ra đi nhẹ nhàng;
Một ngày sau [một ngày nọ]
Tôi dọn hành trang vào trong cái bình thủy,
Ra đi nhẹ nhàng,
Và nhân tiện,
Đéo đụ cho hết
Những gì còn sót lại của đời tôi



--------------------------------------------------------------------------------


Vậy Thì Thôi
Trần Mộng Tú (phỏng dịch)

Một hôm tôi đã hỏi
-Người yêu ơi có phải
em không sao chịu nổi
ý tuởng vắt máu mình
cho tim tôi lỗi nhịp
sau một lần thông tim
Vậy thì thôi em nhé
cứ ra đi nhẹ nhàng
- Nếu em không mang nổi
trách nhiệm làm Chúa Trời
đùa giỡn với hạnh phúc
và nỗi đau riêng tôi
Vậy thì thôi em nhé
cứ ra đi nhẹ nhàng
- Nếu em thấy nặng quá
khi yêu và được yêu
làm sao mà mang vác
Vậy thì thôi em nhé
cứ ra đi nhẹ nhàng
Ngày sau, ngày nào đó
tôi thu xếp đời mình
trong một chiếc bình thủy
bỏ đi nghe nhẹ tênh
Tôi phung phí trên đường
những tôi còn sót lại.



--------------------------------------------------------------------------------


Nếu Vậy Thì
đặng thơ thơ phỏng dịch


Ngày kia tôi nói với nàng:

“Nếu ý tưởng phải vắt máu em truyền vào tim anh
vẫn thường thất nhịp từ khi mổ van
là khôn kham
thì em cứ việc nhẹ nhàng mà đi;

Nếu nhận trách nhiệm Chúa Trời
dùng hạnh phúc và khổ đau (ANH) làm trò chơi
là khôn kham
thì em cứ việc nhẹ nhàng mà đi

Nếu yêu và bị yêu là gánh nặng
khôn kham
thì em cứ việc nhẹ nhàng mà đi.”

Ngày hôm sau [cái ngày kia]
tôi xếp đồ vào trong bình thủy
nhẹ nhàng mà đi
mà đéo dài dài
phần đời còn sót lại!



--------------------------------------------------------------------------------



Nếu vậy thì thôi
Lưu Diệu Vân chuyển ngữ

Ngày kia tôi nói với người tình của mình,
“Nếu em không thể chịu đựng được ý tưởng phải vắt cạn máu em
vào trong trái tim tôi,
luôn đập rất thất thường suốt từ dạo phải mổ xẻ
thì em hãy mang theo hành trang nhẹ nhàng;

Nếu em không gánh vác được trách nhiệm của thượng đế
phải đùa giỡn với hạnh phúc và nỗi khốn khổ [của tôi]
thì em hãy mang theo hành trang nhẹ nhàng;

Nếu em không chịu nỗi sức nặng của yêu và được yêu,
thì em hãy mang theo hành trang nhẹ nhàng.”

Ngày đó sau [ngày nọ]
tôi xếp vật dụng vào chiếc lọ nhiệt độ,
mang theo hành trang nhẹ nhàng
và đồng thời,
vứt mẹ đi hết
phần còn lại của đời mình!


--------------------------------------------------------------------------------


Nếu vậy Thì / Không phải vậy Thì
Nguyễn Hoàng chuyển ngữ


Một ngày nọ tôi nói với người yêu

Nếu em không chịu nỗi ý tưởng phải vắt máu em
vào tim tôi
vẫn đập thi thoảng trật nhịp
kể từ cú mổ van mạch
thì em nên đi hành trang nhẹ thảnh thơi;

Nếu em không kham nỗi trách nhiệm làm Trời
- phải đánh vật với hạnh phúc và thống KHỔ [CỦA TÔI]
thì em nên đi hành trang nhẹ thảnh thơi;

Nếu em không kham nỗi gánh nặng yêu và được yêu
thì em nên đi hành trang nhẹ thảnh thơi;

Ngày sau {cái ngày nọ}
tôi xếp thức uống vào một cái bình thủy
đi hành trang nhẹ thảnh thơi
thì thấy
bên cạnh mình
chết đíu tôi rồi
phần còn lại của đời tôi.



--------------------------------------------------------------------------------



Nếu... Thì... Còn Không...
Lê Ðình Nhất-Lang chuyển ngữ

Hôm kia tôi nói với người yêu,
“Nếu em chịu không nổi ý tưởng phải vắt máu mình
vào tim anh,
vẫn luôn loạn nhịp từ khi mổ nối,
thì ra đi em hãy cứ nhẹ tênh;

Nếu em mang không nổi trách nhiệm làm trời
– phải ban [CHO ANH] hạnh phúc hay [NHỮNG] nỗi đau,
thì ra đi em hãy cứ nhẹ tênh;

Nếu em gánh không nổi nỗi yêu và được yêu,
thì ra đi em hãy cứ nhẹ tênh.”

Ngày sau [hôm kia]
đồ đạc tôi bỏ hết vào phích nước,
ra đi nhẹ tênh,
và dọc đường,
đéo văng
mảnh đời tôi còn lại!



--------------------------------------------------------------------------------


Nếu…Thì
Hồ Như dịch

Ngày nọ tôi bảo người yêu,

“Nếu em không thể nghĩ đến phải ép máu mình nhỏ vào tim tôi,
Đập cầm chừng từ chuyến mổ ‘đường vòng’,
Thì em đi đừng nên mang mểnh;

Nếu em không dám nhận trách nhiệm ngôi cao Thượng Đế
- lay hoay với hạnh phúc (tôi) và khổ não (tôi),
thì em đi đừng nên mang mểnh;

Nếu em không kham nổi cái gánh yêu và được yêu
Thì em đi đừng nên mang mểnh”.

Ngày hôm sau (ngày nọ)
Tôi nhét mọi thứ vào bình thủy
Đi không mang mểnh
Lần theo bên lề
Tung hê luôn
Cho hết kiếp!

Source:Da màu

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

F..k và Đéo

Nguyễn Đức Nguyên


Da Màu số 12 có một mục mà tôi đọc rất là thích thú. Đó là mục bảy thi sĩ cùng phiên dịch, phỏng dịch, một bài thơ Anh ngữ của Phùng Nguyễn. Chuyện một bài thơ được nhiều người dịch có thể là một chuyện thường tình; nếu cứ đọc các bài bình thơ thì thể nào các bạn cũng gặp được một số trích dẫn về những bản dịch khác nhau về cùng một bài thơ, nhất là dịch thơ Đường, thơ chữ Hán, chữ Nôm. Tuy nhiên, phần lớn các bài dịch thường được dịch qua nhiều thời điểm khác nhau, và người dịch đã có chọn lựa khi cảm nhận bài thơ, thích thú để ra tay dịch.

Cái thích thú ở đây, thứ nhất, là bẩy người dịch thơ, (ngoại trừ một hai người trong BBT) chắc đã không có quyền chọn lựa bài thơ; chỉ được lệnh từ BBT là đây là bài thơ, anh chị dịch thế nào thì tùy hỉ, và phải dịch cho nhanh để kịp ngày lên mạng.

Cái thích thú thứ hai là cả bảy người có thể được coi là sống cùng một thời, trẻ có, trung trung có (tính viết chữ già nhưng viết như vậy sợ mất lòng, với lại không biết rõ tuổi tác của các vị ra sao), nam có, nữ có, ở Bắc Bán Cầu có, ở Nam Bán Cầu có; có thể coi là đại diện tiêu biểu cho giới dịch giả.

Cái thú thứ ba, là khi đọc những giòng cuối bài

The day after [the other day]
I packed my things into a thermos,
travelled light,
and alongside,
fucked away
the remains of my life!


tôi bật cười (không phải là vì bài thơ) mà là nghĩ tới không biết các thi sĩ dịch giả sẽ dịch các chữ ‘fucked away…’ ra sao; quý vị sẽ dịch ‘fucked away…’ hay sẽ dịch ‘fucked away…’ và sẽ dịch như thế nào.

Tôi bật cười vì có lý do. Lý do là như vầy; tôi là người ít chửi thề, từ hồi nhỏ đã bị cha mẹ ông bà cấm; bạn bè trung học, đại học cũng không mấy người chửi thề, nên nếu nói tục thì không quen, ngượng miệng. Nhưng cũng phải thú thật là có một khoảng thời gian ngắn, tôi chửi thề không thể tưởng tượng được. Cứ hai ba chữ là ‘fucking this, fucking that’. Thời gian đó là khi đi làm hè giữa hai niên học đại học tại một xưởng lao động kiếm thêm tí tiền còm. Công việc thì dễ thôi, trông coi mấy cái máy nén, nhưng gã thợ làm chung người Nam Tư, gã nói và chửi thề luôn miệng. Làm việc tám tiếng một ngày, trừ nửa tiếng ăn trưa, thế là bảy tiếng rưỡi nghe tới nghe lui, chỉ vài tuần thấm hồi nào không biết; thế là tôi cũng chửi thề tiếng đệm thao thao như là môt người lao đông Úc. Được môt cái là, khi nói chuyện với bạn bè lúc đó, thường vẫn nói chuyện với nhau bằng tiếng Việt (vì nói tiếng Anh chưa thạo) và không chửi thề nên bạn bè không biết. Cũng may là khi nghỉ việc làm đó cũng bỏ được cái tật ấy ngay.

Cho nên khi đọc những hàng chữ đó, tôi thoáng nghĩ là không biết có vị nào có gan, không ngượng miệng và dùng những chữ tục trong bản dịch của mình hay không? Nếu có, thì có lẽ sẽ là một người nam.

Đọc xong những bài phỏng dịch, chuyển ngữ, kiểm kê thì chỉ thấy có một Đỗ Lê Anh Đào, một người nữ mới [là] chết [người chứ!], là bạo gan bạo phổi nhất, dám dùng cả hai chữ đéo và đụ trong bài của cô. Hai người khác, một nam, một nữ (Lê Đình Nhất Lang, Đặng Thơ Thơ) chỉ dùng chữ đéo. Bốn vị còn lại tránh không dùng những từ tục; Nguyễn Hoàng có ý nhưng không lộ liễu và dùng chữ “đíu”. Như vậy đa số (4 người) đã tránh dùng những từ tục, có lẽ vì tuổi đời hay chăng?

Một điều lạ nữa là, bản dịch của ĐLAĐ, và ĐTT được ghi chú là phỏng dịch, nhưng lại dịch khá sát nghĩa, không như là bài của chị Trần Mộng Tú.

Cũng cho người đọc biết, để chắc ăn, tôi kiểm tra một số tự điển trên mạng và có ở nhà để coi chữ “fuck” được dịch ra sao, và khám phá ra những điều như sau:

a) Tự Điển Anh-Việt , Nguyễn Văn Khôn, Nhà Sách Khai Trí (năm ấn hành không rõ) - tìm không ra chữ “fuck”.
b) Trong 3 tự điển Anh-Việt trên mạng, chữ “fuck” được dịch với những từ thanh (“giao cấu”, “làm tình”); chỉ có một tự điển cho thêm chữ tục khác là “địt”.
c) Ngược lại, cả ba chữ tục (“đéo, đụ, địt”) đều có trong cuốn Tự Điển Việt Anh – Sanh Phúc - Ngọc Tùng – Quang Thụy - NXB Đồng Nai – và tiếng liệt kê Anh Ngữ là “fuck”

Cũng cần phải nói ở đây là dường như chỉ có người Bắc mới dùng chữ “đéo”, chứ tôi ít hoặc chưa nghe người Nam, người Trung dùng chữ này. Chữ này cũng thường dùng để chửi đổng, và có lẽ cái tục của chữ cũng đã bớt đi đôi chút; vì thỉnh thoảng có nghe một số cha mẹ người Bắc mắng yêu con cái qua câu “đéo mẹ chúng mày chứ…”.

Nhưng thôi, nói về những chữ tục như vậy là đủ. Nhân dịp đang đọc một cuốn sách về tử thi (death poems) của Nhật Bản qua một vài thể dạng thơ Nhật như tanka, haiku; và để quân bình sĩ số (cho thành 4 thanh, 4 tục), xin mạo muội chuyển thể, chuyển dịch những dòng thơ cuối của Phùng Nguyễn sang haiku , một thể 17 chữ, 3 hàng (5,7,5) như sau

ngày nọ (sau ngày đó)
bình thủy đầy, thơ thới bên đường
đi đéo đời còn lại


NDN
24/11/2006

Post Reply