(Trường Sơn Lê-Xuân-Nhị)
"Thành kính tưởng niệm các chiến sĩ Địa Phương Quân anh dũng đồn Dak Seang"
"Đường ra trận mùa này đẹp lắm" Đại úy Ngọc thòng một câu đùa trong chiếc Phi Cơ L19 ở cao độ 8 ngàn bộ, hôm chúng tôi cất cánh từ Nha Trang đi Kontum với hành trang cho 15 ngày biệt phái. Đồng ý đó là một câu đùa, nhưng tôi không cười được chút nào cả vì lòng tôi đang héo hon như cái vỏ xe bị xì lốp.
Đang vui vẻ với đám bạn bè từ Ban-Mê-Thuột về Nha Trang nghỉ mát, ngày nào cũng sáng tiểu yến với cà phê, phở, thuốc lá 3 số 5. Chiều đại yến với la de, nem nướng, sò huyết mà phải khăn gói qủa mướp ra đi như thế này thì thật là đau khổ vô cùng, lại mới bị Thủy giận, tôi chưa có dịp làm hòa. Tính vốn lo xa, tôi đâm ra hãi. Đi biền biệt 15 ngày mà không từ gĩa em được, em tưởng mình... rớt máy bay chết rồi bèn đi cặp * khác thì hết một đời trai. Cứ tưởng tượng cái cảnh Thủy cặp tay một * chết tiệt nào đó đi coi hát bóng, đi nhảy đầm vung vít là tôi cảm thấy... hết muốn bay bổng. Đời phi công sao khổ thế nầy, tôi than thở. có lẽ thấy được những cái vẻ đau khổ khó chịu trên khuôn mặt * Thiếu úy trẻ, anh Ngọc cười. Nhìn thấy cái bản mặt táo bón của chú mầy tao nhớ đến cái thuở huy hoàng của những ngày..chưa lấy vợ. Tôi phản đối "ở Phi Đoàn 114 mà không biết phản đối thì chẳng bao giờ lớn được". Chưa lấy vợ thì khổ bỏ xừ đi chứ huy hoàng gì anh?. Bị đào hành lên hành xuống, quay vòng vòng như con mắm có gì mà huy hoàng,. Lại còn phải đi biệt phái lâu ngày như thế này, xát thân ở nơi tiền tuyến không sợ mất mà chỉ sợ... mất đào ở nhà. Đại úy Ngọc bật cười lên khoái chí. Hậu sinh.... chẳng biết mẹ gì cả. Mày lấy vợ đi rồi mới thấy cái gía trị của những ngày biệt phái. này nhé, ở nhà với vợ, có * chó nào dám ti teo, đi phải thưa về phải trình, tiền bạc phải "báo cáo"đầy đủ. Ấy là chưa nói đến chuyện ở gần mặt trời thì phải sống có qui củ, có nề nếp, gặp xếp từ xa là phải cung tay chào rốm rốp. * nào cũng muốn kiếm thêm tí điểm thì phải biết điếu đóm v..v.. Đi biệt phái, nói một cách văn chương, đó là "những ngày nghỉ mát" vì thứ nhất mình thoát khỏi vòng cương tỏa... bà tư lệnh , muốn làm gì thì làm, gặp bất kỳ cô thôn nữ yêu kiều nào cũng có quyền đấu tưới hột sen, muốn khoe mình chưa vợ hay vợ... mới chết thì đó là quyền của mình. Các cô thôn nữ vốn dễ dãi và cả tin, chẳng ai thèm khiểm chứng hay thắc mắt lôi thôi. Thứ hai, đi biệt phái, cuộc sống không gò bó như ở phi đoàn. Mình tự chỉ huy lấy, đời sống thoải mái hơn, chỉ làm sao đừng bê trể công việc, thứ ba, làm việc trực tiếp với bộ binh có nhiều cái thú. Mười tám tuổi bỏ nhà đăng lính đâu phải để suốt ngày dòm ba cái đồng hồ phi cơ rồi cứ hết cất cánh rồi hạ cánh. Phải có "Action" phải có đánh bomb, có ăn pháo kích v..v. Nghe anh Ngọc thuyết một lúc là tôi đã thấy xiêu lòng. Mẹ, tôi đâu biết là lấy vợ sẽ khổ như thế này. Sống bị kềm kẹp vậy chả trách gì ông nào cũng có vẻ chán đời. Anh Ngọc cảm thấy hình như tôi đã thấm ý,
nên kết luận.
- Đó là những cái khác nhau giữa hai thế hệ, Thế hệ chưa vợ và thế
hệ có vợ. Bây giờ nhìn lại mấy chú, anh thấy tiếc hùi hụi.
Rồi hứng tình, anh chơi thêm hai câu thơ, giọng vịt cồ nghe không có tính chất...văn học chút nào hết.
Tình chỉ đẹp khi còn dang dở
Đời hết vui khi đã vẹn câu thề
Sau hai câu thơ là một chuỗi cười hì hì nghe rất ngứa lỗ tai. Men rượu của buổi tiệc gĩa từ tối hôm qua còn ngây ngất trong máu tôi, làm đầu óc cứ dật dờ. Tôi tắt radio, bảo anh Ngọc:
- Anh bay hộ, em buồn ngủ quá.
Anh Ngọc dễ dãi:
- Ngủ đi, tao bay cho. Ráng ngủ lấy sức, xuống đến Kontum chuyến này có nhiều chuyện lắm.
Tôi kéo tuột ghế ra sau, nhắm mắt làm một giấc ngon lành.... Biệt đội Kontum lần ấy, các phi hành đoàn ở trong cư xá vãng lai Sĩ Quan của Tiểu Khu. Cả thành phố Kontum như một trại lính khổng lồ, đi đâu cũng chỉ gặp toàn lính là lính. Từ lính không quân đến lính bộ binh, lính nhảy Dù, lính Lôi Hồ, lính Biệt Động Quân, lính Biệt Kích.....,ai nấy võ khí trang bị tới răng trông phát khiếp. Lâu lâu, phải chịu khó tìm tòi và chờ đúng giờ tan học mới nhìn thấy được vài tà áo dài phất phơ cuả các em nữ sinh, Những tà áo dài bé nhỏ xinh xinh coi có vẻ vừa lạc lõng vừa hiền lành làm sao trong cái thế giới đầy dẫy súng đạn của thành phố địa đầu này. Cũng như một con én không làm được mùa xuân, một chiếc áo dài tha thướt cũng không làm mất đi được cái vẻ chinh chiến của quê hương khốn khổ. Đứng nhìn ngắm những tà áo này, tôi thấy nhớ Thủy chi lạ, buổi chiều cơm nước xong về khu tạm trú thắp đèn cầy đánh bài cho hết giờ. Buổi tối, cái khổ nhất của chúng tôi là hai cây cà nông 175 ly to tổ bố của thiết đoàn 14 Kỵ Binh đặt cách dẫy nhà chúng tôi ở chừng 500 thước. Hai cây súng mắc dịch này, ban đêm, giữa lúc mọi người đang ngủ say, cứ thỉnh thoảng nổ một vài phát bắn quấy rối rồi nằm im. Đang mơ màng giấc diệp, tiếng súng đại bác ở sát bên bắn một phát làm chúng tôi nẩy tung muốn văng ra khỏi giường " Đêm hôm khuya khoắc, bắn con C...gì mà bắn độc thế? Sao không về nhà mà bắn... bà xã cho được việc", một giọng càu nhàu cất lên. Lại có giọng khác hăm dọa " ngày mai tao phải "phản đấu"mới được. Đó là tiếng nói của Đại úy Bá, trưởng biệt đội. Ông đại úy này người dân xứ Quảng, lâu lâu phải để cho ông ấy "phản đấu" ai một lần thì ông ăn cơm mới ngon. Mất cả tiếng sau mới dỗ được giấc ngủ. Nhiều khi vừa mới chợp mắt thì lại "ầm" một tiếng như trời long đất lở tiếp theo, lỗ tai như bi ai tống vào một cây đinh. Đến lúc này thi đại úy Bá không nhịn được nữa, chửi thề um sùm "Đ.." mọa nó, bén chi mà bén miết..". Thế là hết mẹ nó một tiếng đồng hồ nữa rồi... Tôi không hiểu các anh em bộ binh làm sao mà sống được như vậy không phải chỉ trong 15 ngày biệt phái như tôi mà tháng này qua tháng khác, năm này qua năm khác.
Phải đi biệt phái những nơi như vầy mới hiểu được và thương các anh em bộ binh. Người lính bộ binh Việt Nam khổ qúa. Khổ đến độ sự khác biệt giữa sự sống và cái chết hầu như không có ranh giới. Cuộc đời là địa ngục thì chết chắc cũng chẳng có ai sợ. Và có lẽ, chết sẽ là một giải thoát. Tôi đã tận mắt nhìn thấy nhiều người sống suốt mấy tháng trong giao thông hào nước ngập tới háng. Đó là nơi mà anh em vừa ăn, ỡ ngủ v.v.. Các anh cũng là người với những cảm giác bình thường, biết lạnh, biết nóng, biết thèm ăn ngon, biết sợ đau khổ, sợ chết. Mãnh lực nào. sức lôi cuốn nào đã khiến anh em từ bỏ gia đình ôm cây M16 để trở thành người lính bộ binh. Trở thành người linh bộ binh để "chết thay dùm dân tộc" để chấp nhận mọi đắng cay, mọi hiểm nguy, Chắc chắn không phải để lãnh số lương mười mấy ngàn , chỉ đủ mua bao gạo. Cũng không phải vì sợ cảnh sát bắt đi quân dịch ở đầu ngõ. Cũng càng không phải vì mủi lòng bỡi vài cái bích chương kêu gọi rẻ tiền của chính phủ dán trong thành phố, hay vì câu hát của Hùng Cường , Mai Lệ Huyền. Tôi nghĩ, anh em đã ra đi chỉ vì lòng yêu nước. Vì, anh em nghĩ rằng cầm súng chiến đấu là bổn phận của ngững người trai thời ly loạn. Chỉ biết rằng đi để thể hiện chữ "Yêu" yêu Quê Hương yêu Tổ Quốc, không cần tính toán, không đo lường gía cả. Chỉ vài ngày đi bay mà anh em ai cũng bị hốc hác thấy rõ. Đêm mất ngủ, lên trời gió mát, chỉ muốn nhắm mắt. Cùng tắc biến, biến tất thông, mấy hôm sau chúng tôi biết cách trị.. Pháo Binh. Trước khi leo lên giường ngủ, chúng tôi lấy bông gòn nhét kín hai lỗ tai. Thế là mấy chú thiết giáp cứ mặc sức mà bắn. Có *... Thiếu úy tên On nằm gần giường tôi, mới được cho đi hành quân lần đầu nên lẩm cẩm không chịu được. Tên nghe đã lẩm cẩm mà người lại còn lẩm cẩm hơn. Đang đêm, tôi thấy nó thỉnh thoảng ngồi dậy, móc bông gòn ra khỏi hai lỗ tai, nghe ngóng một chút rồi lại nhét vào, nằm xuống. Mặt mày nó làm ra vẻ quan trọng lắm. Trằn trọc không ngủ được, tôi thắc mắc:
- Mày làm cái trò khỉ gì đó ông Thiếu úy On?
Nó đáp tỉnh queo :
- Tao phải thức dậy để nghe ngóng xem có pháo kích không.
Tôi suýt bật cười. Đúng là * lẩm cẩm, nó làm như Việt Cộng chờ nó tháo bông gòn ra khỏi hai lỗ tai rồi mới thèm pháo. Tôi phịa một câu :
- Tao có ý kiến này hay hơn. Mày chỉ cần rút bông gòn ra khỏi một lỗ tai thôi. Một tai bịt kín để khỏi nghe pháo binh mình, tai kia bỏ trống để nghe VC pháo kích.
Một thoáng êm lặng, rồi như biết được câu móc lò của tôi, * On chửi thề:
- Đ.. M.. * mất dạy. Mày mà đòi móc lò tao sao được. Tao đâu có ngu.
Thấm thoát mà 15 ngày biệt phái của tôi trôi qua mau. Con người qủa thật là dể thích ứng với hoàn cảnh mới. Tôi chỉ còn nhớ Thủy... sơ sơ thôi chứ không còn "nồng nàn da diết" như những ngày mới đến đây nữa. Cuộc đời biệt phái cũng có nhiều niềm vui khác như đi uống cà phê đêm, nhậu nhẹt, gặp lại bạn bè cũ, kết bạn bè mới. Với lại, chúng tôi vừa khám phá ra một quán cà phê mới khai trương. Cô Cashier coi xinh không chịu được. Thế là chiều chiều cơm nước xong, chúng tôi bảy tám người chất nhau lên chiếc xe Jeep ra quán cà phê ngồi... lì đến tới tối. Giữa khu rừng núi hoang dại này, dể gì kiếm được một cành hoa. Tôi để ý thấy Thiếu úy On yêu đời ra mặt. Không hiểu nó tính dợt le với ai mà đi biệt phái ở nơi rừng sâu núi thẩm này cũng mang theo được mấy cái khăn quàng cổ đủ các màu. Đi uống cà phê những lần sau này nó nhất định phải đóng thêm cái khăn quàng cổ màu tím vào cho ra cái điều như là... màu tím hoa sim, coi chán đời không chịu được. Vào quán cà phê, Thiếu úy On ăn nói chững chạc đàng hoàng, không láu cá nham nhở như tôi.. Có mấy lần tôi tính thò tay ra sờ mông em thì bị nó gạt phắt đi, điệu hung hãn làm như nó... chưa sờ đít ai bao giờ. Nó muốn mang khăn quàng màu gì hay tán tỉnh gì thì kệ nó, tôi không để ý tới. Cái làm
tôi thích thú nhất là mỗi lần ra về, cu cậu nhất định dành trả tiền cho kỳ được. Di nhiên, tôi không bao giờ phản đối cái mục này. Tôi biết * khỉ này nó có bao giờ trả tiền cà phê cho ai đâu. Hóa ra là con người khi yêu ai cũng trở thành dễ thương hết. Chả trách gì nhà văn Shakespeare đã phán một cau "everybody loves the lover". Cả thế giới đều yêu một kẻ si tình. Đúng thật. Tôi ước giá phi đoàn có chừng chục * như Thiếu úy On thì tôi khỏi sợ tốn tiền cà phê thuốc lá. Được trớn, tôi xúi dại nó, bảo hay là mầy xin ở lại Kontom luôn cho anh em nhờ. Nhưng nó quắc mắt lên, cười khỉnh " Vừa phải thôi... tám. Tao tuy ngu nhưng đâu có ngu hơn mày."
Lần biệt phái này, trái với lời anh Ngọc tiên đoán, sư đoàn 23 BB không có đụng trận nào ra hồn cả. Thỉnh thoảng một bọn " giặc cỏ" đến quấy rối rồi lặn mau như chuột. Dường như cả hai bên đang nghỉ ngơi dưỡng sức. Dưới đất mà không thèm đánh nhau thì trên trời biết ăn thua với ai. Những phi vụ air cover nhàn rỗi, tôi hỏi đại úy Ngọc đi " duy trì khả năng" bắn rocket. "duy trì khả năng" là một danh từ không quân dành cho những anh chàng phi công văn phòng, sợ lâu quá không bay thì lúc leo lên tàu, thì quên béng nó mất cái cần lái nằm chỗ nào nên phải bay "duy trì khả năng" cho khỏi quên. Tôi thì khoái tập bắn rocket sao cho nó đẹp như 'Dăng gô" bắn súng. Chỉ đâu bắn trúng đó. Cái kiểu bắn rocket của tôi phi đoàn ai cũng chán vì lối bắn mất dạy. Bay trên mục tiêu, Tôi cắt ga cho tàu rơi cái rào nhiều khi gần như cắm đầu thẳng xuống. Cứ thế mà bóp cò. Bắn thì dể nhưng khi kéo tàu lên mới là cực hình. "G" đâu mà lắm thế , mặt mũi cứ dài ra cả thước. nhưng đại úy Ngọc chịu chơi, lần nào cũng cho tôi bắn. Nhiều khi anh còn nhìn "tác phẩm" của tôi phê bình "Số mày sinh ra để bay khu trục mà bị trời bắt lái .. L19. Đúng là con nhà vô phúc". Ngày cuối cùng của cuộc biệt phái, chúng tôi cất cánh phi vụ thứ hai vào khoảng 3 giờ chiều. Lên trời, làm vài vòng, tôi hỏi đại úy Ngọc :
- Hay mình làm vài vòng, nếu không có gì thì đi kiếm cái chòi thượng nào đó "duy trì khả năng" rồi về đáp. Mai đổi biệt đội khác
rồi.
Đại úy Ngọc tự nhiên phản đối:
- Thôi cứ để đó, mày bay dọc lên Dak Pek đi. Tao đi quan sát lần chót để bàn giao vùng trách nhiệm cho phi hành đoàn mới.
Có cái gì thắc trong đầu anh mà tôi không nghĩ ra. Lát sau anh nói:
- Mày để ý thấy chiến trường lần này, đặc biệt là cách mấy ngày hôm nay yên lặng một cách quá đáng không?
Tôi chả biết gì, trả lời:
- Yên thì có yên đó, nhưng mà có gì không anh?
- Thường thường mà yên quá như thế này là thế nào cũng có đánh lớn.
Tôi nói xuôi:
- Mai mình về rồi, nhằm nhò gì.
Khoảng 5 giờ chiều tôi đang lơ lửng gần một cái đồn nhỏ gọi là đồn Dakseang, phía Nam của Dakto. Đại úy Ngọc chợt giật cần lái, quẹo một vòng.
- Để tao coi. Đ.M. hình như đồn này đang bị pháo kích.
Chỉ một thoáng sau anh la lên:
- Đ.M. đúng rồi. Đ.M. nó đang pháo vô đồn.
Anh Ngọc gọi máy về Trung Tâm Hành Quân, báo cáo những gì mình thấy và xin tần số liên lạc ngay. Chỉ trong vài phút, Trung Tâm Hành Quân xác nhận với chúng tôi là đồn bị pháo kích, và có nhiều dấu hiệu cho thấy đồn sẽ bị tấn công. Chúng tôi được chỉ thị ở lại làm việc với đồn. Bắt được liên lạc, trao đổi danh hiệu xong là chúng tôi giảm cao độ. Vừa tà tà bay vô thì bổng hàng chục cây phòng không nhắm vào chúng tôi nổ tới tấp. Chắc chắn phải có vài viên trúng tàu vì tôi nghe lên vài tiếng bụp bụp. Tôi càu nhàu: " 15 ngày biệt phái không sao, ngày cuối cùng mà lãnh một viên vào.. đít là xui quảy.." vô không nổi, tôi quẹo ra. Đại úy Ngọc phê bình:
- Trên trời mà phòng không "kèm cứng một rừng" như vậy là dưới đất nó đã chuẩn bị trận địa pháo rồi. Lạng quạng thì đồn này chắc mất tối nay. Anh giở tấm bản đồ, ba cái FM trên phi cơ được sử dụng liên tục. Cái gọi pháo binh, cái trực với đồn Dakseang, cái nói thẳng với Bộ Tư Lệnh chiến trường. Cường độ pháo kích càng ngày càng trở nên khốc liệt, Tôi lên cao chút xíu rồi rình rình lại chui vào từ một hướng khác. Bố khỉ, tôi lúc ấy mới khám phá ra là khu vực làm việc bị mây "broken" từng cụm nhỏ bao
phủ khoảng từ 5 đến gần 8 ngàn bộ trên trời. Đang quan sát, tàu chui vào mây là coi như mù. Ra khỏi mây thì phải mất một lúc mới trở lại được chổ quan sát cũ. Đại úy Ngọc chửi thề "Đ.M. mây mà cũng bị VC dụ dỗ đâm sau lưng chiến sĩ. Trời đất bao la sao không kiếm chỗ bay mà cứ lẩn quẩn làm con C.. ở đây." Tôi đã cắt ga xuống dưới trần mây mấy lần nhưng vừa xuất hiện là bị hàng chục họng phòng không thổi rào rào vô mặt, đuổi trở lên "súng đâu mà chúng nó lắm thế" Tôi đành vật lộn với mấy cụm mây...VC này. Bi thảm hơn, giặc bắt đầu nả 130 ly vào đồn, Hai cây đại pháo, một cây đặt ở ven làng cách đó chừng 15 cây số, cây kia ở hướng đối diện cứ tà tà nã từng trái một vào đồn. Từ trên, tôi nhìn thấy rõ ràng những quả đạn rơi rất chính xác vào trong đồn. Cứ mỗi quả đại bác rơi xuống là có chừng mười mấy trái súng cối nổ kèm theo "phụ diễn". Tôi và anh Ngọc lồng lộn trên tàu bay. Máy vô tuyến gọi đến gần nát cả họng, nhưng bất ngờ quá, chả thấy phi tuần xuất hiện, anh Ngọc gọi pháo từ căn cứ pháo binh gần đó nhất để yểm trợ. Vừa nhận được tọa độ, đã nghe ở dưới đất kêu trời:
- Vô ích bạn ơi. Xa quá, bắn tới... Têt cũng huề.
- Thì bạn quay nòng xuống thổi đại cho một chục tràng đi, bắn dọa
nó cũng được.
- Xong rồi, để tôi cho yếu tố tác xạ
- Yếu tố mẹ gì, bắn đi bạn....
Khoảng 5 giờ rưỡi chiều, người chỉ huy đồn Dakseang có vẻ bối rối:
- Bạch Ưng, đây Thanh Trị.
- Nghe 5 bạn
- Báo cho bạn biết đến giờ phút này con cái tôi đếm được là 500 trái rồi đó bạn. Hầm hố tôi 50% thiệt hại.
Tôi muốn nhảy nhổm trong tàu bay. 500 trái vừa cối vừa pháo xuông một diện tích tí teo như thế kia thì còn hầm còn hố nào.
Anh Ngọc bổng nẩy ra một kế...chết người.
- Nếu để nó pháo điệu này thì chừng tí nữa quân mình chẳng còn gì hết. Mình phải "chiến tranh chính trị" mới được.
- Có học trường chiến tranh chính trị ngày nào đâu mà đòi...chiến tranh chính trị anh?
Người phi công chiến tranh chính trị bất đắc dĩ lên mặt dạy dỗ.
- Từ từ để tao cắt nghĩa. Chiến tranh chính trị nghĩa là...có là không, không là có. Bây giờ chưa có phi tuần thì mình phải làm như có phi tuần. Mình phải xuống ngay trên đầu mấy cây pháo làm bộ như phi tuần sắp tới thì pháo nó mới câm được.
- Xong rồi.
Mặc dù vẫn còn ngán mấy chục họng phòng không nhưng trong hoàn cảnh này, đạn tránh người chứ người làm sao tránh đạn? Tôi cắt ga cho tàu rơi cái rào, cứ nhắm họng đại bác bay tới. Đạn nổ tùm lum chung quanh tàu. Anh Ngọc trấn an tôi:
- Mầy đừng lo, tao có bùa nanh heo rừng. Đạn nó né tao.
Nghe sao mà chán đời, Tàu bay chỉ có 2 người, đạn nó bay vào đây mà né anh Ngọc thì nhất định nó phải kiếm người khác để chui vào. Người đó còn ai khác hơn tôi. Bỗng nhớ ra điều gì, anh sờ tay vô ngực quờ quạng rồi rú lên:
- Bỏ mẹ rồi, nanh heo rừng đíu có đem theo. Đ.M. hôm qua đi tắm treo nó chỗ phuy nước quên đeo vô rồi. Nhưng anh nói ngay:
- Nhưng tử vi nói tạo sống thọ lắm, yên chí lớn đi * em.
Tôi nghiệm ra rằng con người, lúc ở trong những hoàn cảnh nguy hiểm đều kiếm ra một lý do gì đó để tự tin và hy vọng. Càng đi xa đồn thì phòng không càng bớt dần. Thấp thoáng con gà cồ của giặc đã nằm ngay dưới cánh, chúng tôi xuống thấp thêm tí nữa, lượn vòng chung quanh cây pháo. Đúng y như anh Ngọc đoán, pháo im bặt. Rồi như một cơn mưa rào đổ xuống mùa hạn hán, một hợp đoàn Cobra của Tây xuất hiện. Đại úy Ngọc qua được tần số của Tây xí xa xí xồ một chập, tôi nghe được mấy tiếng "everywhere". Vừa vào vùng là mấy anh Cobra làm ăn liền. Tôi ngạc nhiên thấy họ thay phiên nhau bắn rào rào chung quanh đồn. Như vậy con cháu họ Hồ đang "tùng thiết" đi vô chăng? Dĩ nhiên phòng không giặc bây giờ đổi mục tiêu, nhắm mấy anh Cobra nhả đạn. Trận thư hùng coi rất đẹp mắt nhưng ngắn quá. Mấy ông Tây bắn chừng 5 phút là hết đạn, quay lui. Khốn nạn hơn cái món chiến tranh chính trị xem ra hết ép phe. Có lẽ giặc biết chúng tôi chỉ dọa giả nên cây pháo bắt đầu nổ trở lại. Đại úy Ngọc gầm lên:
- Đ.M. tụi mày, lát nữa khu trục lên tao cho nó...bỏ bomb thấy mẹ mày.
Tức quá mà không làm gì được thì...chửi cho đã tức. Chúng tôi chỉ có 4 quả Rocket khói, chẳng sơ múi gì được. Rồi Peacock gọi thông báo sẽ có phi tuần khu trục A-1 đang cất cánh khẩn cấp từ Pleiku lên làm việc với chúng tôi. Đại úy Ngọc hớn hở gọi máy:
- Thạnh Trị, đây Bạch Ưng
- Nghe 5 bạn, gần ngàn trái rồi. Tụi nó mới xung phong đợt đầu đó bạn.
- Có sao không bạn?
- Không, mấy * chuồn chuồn tới đúng lúc với lại con cái tôi đánh giặc còn "tới" lắm bạn ơi. Tụi nó rút hết rồi. Khoảng chùng 50 xác nằm dài dài. Mấy * Tây đánh đẹp lắm.
- Chúng tôi sẽ có 2 phi tuần lên liền bây giờ với bạn.
- Bạn ráng dùm, hầm hố gần nát hết rồi bạn.
- Tôi hiểu bạn.
Cây 130 ly quái ác vẫn đì dạch phọt ra từng cụm khói đen. Tôi bảo anh Ngọc.
- Anh để em lên làm đại một trái khói vô đó coi, may ra....
- Ờ, may ra....
Tôi làm vòng bắn, nghiêng cánh quẹo vào, nhắm và bóp cò. Oành cái Rocket nổ...gần cây đại pháo. L-19 mà bắn được vậy là nhất rồi, nhưng có chết * chó nào đâu? Không chết nhưng cây pháo lại im tiếng một lần nữa. Tốt! Tôi tính cứ lâu lâu nhào xuống xịt cho tụi nó một trái để mua thời gian chờ khu trục lên. Rồi tiếng rè rè thử vô tuyến của mấy ông khu trục A-1 nghe lên bên tai. Phải thú nhận, cái tiếng rè rè đực rựa lúc này nghe sao mà nó...đáng yêu thế. Đó là thứ tiếng nói của hy vọng, của niền tin, của sức mạnh, của tình chiến hữu. Anh Ngọc trao đổi vô tuyến với phi tuần khu trục rồi gọi máy cho quân bạn.
- Thạnh Trị, đây Bạch ưng
- Nghe bạn 5.
- Chim sắt của tôi lên rồi đó bạn. bạn muốn tôi đánh đâu?
- Bạn lo dùm mấy con gà cồ trước đi.
- OK! Roll
Phi tuần khu trục vừa xuất hiện thì cả bầu trời biến thành một biển lửa. Số lượng phòng không bây giờ không biết là bao nhiêu cây, nhưng dòm hướng nào cũng chỉ thấy lửa và lửa. Trời đã về chiều nên những viên đạn lửa bay vút lên cao càng được thấy rõ ràng hơn. Phi tuần đầu nhào lên nhào xuống mấy lần vẫn không làm câm họng được cây pháo phòng không vì trời quá xấu. Những đám mây...phản quốc, khốn nạn vẫn chình ình khắp nơi. Khó khăn lắm họ mới kiếm được cái lỗ chui xuống, bay giữa những loạt đạn phòng không trùng điệp, để tới mục tiêu, bấm rơi bomb, rồi kéo lên. Còn 2 trái cuối cùng, người phi công A-1 "để" vào ngay trên ổ súng chính xác như để bi vào lỗ. Ầm một tiếng vang lên rồi tiếp theo là nhiều tiếng nổ phụ. Cha con nó đang đền tội. Xong một cây. Anh Ngọc hướng dẫn phi tuần thừ hai đang làm ăn thì tôi nghe tiếng gọi:
- Bạch ưng, đây Thạnh Trị
- Nghe 5 bạn
- Báo bạn biết, hầm chỉ huy tôi xập rồi. Tôi ra giao thông hào với
mấy đứa con.
- Bạn nhớ giữ liên lạc với tôi.
- Bạn...
Không có tiếng trả lời. Tôi hoang mang. "ra giao thông hào với mấy đứa
con" vậy là bi đát lắm rồi. Anh Ngọc bảo tôi:
- Anh đang bận hướng dẫn khu trục, em qua FM gọi thẳng TTHQ xin gấpcho anh ít nhất là 2 phi tuần nữa, lên liền lập tức, nếu không kịp làtụi nó sẽ "over run" Dakseang trong vòng nửa tiếng đồng hồ.Tôi đổi tần số FM, Anh Ngọc cẩn thận dặn dò thêm:
- Phải nhớ la ơi ới lên như là đang bị bóp...dái thì cha con nó mới chịu chạy dùm.Tôi phì cười, ông đại úy nầy lúc nào cũng đùa được. Khỏi cần bị ai bóp dái tôi cũng la được vì hò hét và tả oán là sở trường của tôi. Tôi gọi máy và có kết qủa ngay. Anh Ngọc mừng rú lên khi được thông báo có một phi tuần F4 của Hải Quân Mỹ sẽ cất cánh ngay từ hàng không mẫu hạm vào làm việc. Giọng nói từ dưới đất bây giờ nghe có vẻ hốt hoảng:
- Bạch ưng, đây Thạnh trị
- Nghe bạn 5
- Bạn cho mấy con chim sắt đánh sát quanh đồn gấp đi bạn. Tụi nó đang "à lát xô" lên.
Anh Ngọc la ùm lên trong tần số khu trục. Hai chiếc khu trục A-1 còn mấy trái bomb bỏ dở cây, hối hả trở về đồn nhào xuống đánh sát chung quanh rào. Một ông la to khi kéo tàu lên.
- Tụi nó đông như kiến bạn ơi.
- Còn phải hỏi.
Khu trục đánh hết bomb nhưng vẫn bay trên mục tiêu để bắn hết những tràng cà nông 20 ly. Tình hình lúc này đã bi đát lắm rồi. Giặc xung phong lên ào ào. Thạnh trị thông báo là một góc phòng tuyến đã bị vỡ và con cái anh đang xáp lá cà với giặc. Tôi nghe Trung tâm hành quân "TTHQ" thêm ba căn cứ khác cũng bị tấn công một lúc. Anh Ngọc bảo tôi: Tao còn lạ gì cái trò này, tụi nó đánh nghi binh để dứt điểm Dakseang đó. Phải cẩn thận. Trong vô tuyến, tiếng tàu bay gọi nhau tiếng trao đổi gã trên trời và dưới đất nghe loạn cào cào.. Bởi trong những tiếng ồn ào đó, có tiếng gọi của mấy ông F 4 Hoa Kỳ. Mấy ông Tây trang bị vũ khí tận răng. Hai chiếc F4 mỗi chiếc mang 18 trái 500 pouds đang làm vòng chờ ở khoảng 20 ngàn bộ. Anh Ngọc chỉ "briefing" một tí, mấy ông "Roger" và "Sir"lia lịa nhào xuống làm ăn liền. Khu trục Việt Nam đánh đã đẹp, mấy ông Tây đánh cũng không thua ai. Từ khoảng 15 ngàn, mấy ông nhào xuống dưới trần mây, để những trái bomb thật chính xác. Phòng không bắn dữ dội nhưng xem ra không ăn thua gì với mấy chiếc F4 này. Đang đánh ngon lành thì tôi nghe tiếng gọi từ dưói đất:
- Bạch ưng, đây Thạnh trị
Giọng nói lúc này không có vẻ hốt hoảng mà bình tĩnh lạ thường.
Anh Ngọc bấm máy:
- Nghe bạn 5, cho biết tình hình đi bạn.
- Tôi yêu cầu Bạch ưng cho đánh ngay vào trong đồn.
Cả hai chúng tôi giật nẩy mình, chỉ hy vọng là mình nghe...lộn. Chúng tôi sững sờ không trả lời được. Người chỉ huy phía dưới đất xác nhận lại:
- Bạch ưng, tôi xác nhận lại, tôi xin bạn đánh xuống đầu tôi.
- Bạn nói bạn xin đánh thẳng vào đồn?
- Đúng 5. Hết hy vọng rồi bạn ơi. Cứ đánh vào đây để tụi nó chết chùm luôn với chúng tôi.
- Bạn suy nghĩ kỹ chưa?
- Giọng nói dưới đất lúc này nghe có vẻ hết kiên nhẫn:
- Không còn lựa chọn nào khác bạn ơi. Bạn đánh lẹ giùm. Chúc bạn may mắn. "Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi" mà bạn...
Đó là những tiếng nói cuối cùng tôi nghe được từ đồn Dakseang "Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi". Anh Ngọc hốt hoảng gọi máy về xin chỉ thị quân đoàn. Quân đoàn trả lời phải xác nhận với đồn Dakseang một lần nữa rồi cho biết kết qủa. Chúng tôi gọi muốn đứt hơi nhưng không còn liên lạc được với Thạnh Trị nữa. Báo cáo trở lại, quân đoàn quyết định: cho đánh thẳng vào đồn nhưng phải... cẩn thận. "Cẩn thận con C... ông" anh Ngọc lẩm bẩm chửi thề rồi gọi máy thong báo cho mấy ông Tây, bảo đánh thẳng vào đồn. Người phi công hải quân Mỹ vừa kéo con tàu lên sau một loạt tấn công cũng bối rối không kém:
- Roger! Sir, Did you say...right on it? Over
- Yes sir, it's all over. I said you salvo right on it. Over.
- Roger, sir, I understood, sir, Over.
Chỉ có vậy thôi, đồn Dakseang biến thành một biển lửa sau hai đợt bomb salvo của mấy chiếc Phantom. Tôi đang chứng kiến một hình ảnh mà có lẽ suốt đời sẽ không bao giờ quên được. Tôi biết nói gì lúc này đây cho những người chiến sĩ Địa Phương Quân QLVNCH? Tất cả những ngôn từ, những ý nghĩ đều trở thành vô nghĩa trước cảnh tượng bi thảm hào hung này. Bay cách đó chừng 5 cây số với cao độ 5 ngàn bộ mà con tàu tôi như rung lên dưới tiếng nổ và sức ép khủng khiếp của mấy chục trái bomb 500 cân Anh nổ một lần. Làm sao còn có ai sống sót sau cơn tàn phá khủng khiếp này?. Những thịt, những xương, những máu của các anh hùng Dakseang đã tung bay khắp nơi rồi rơi xuống lẫn lộn với bụi, với đá, với sắt, để rồi nằm im trên mặt đất. Cũng trên mặt đất nầy của quê hương, ở một nơi nào đó, những người vợ, những đứa con, những bà con thân bằng quyến thuộc của các anh đâu biết người thân của mình vừa anh dũng đền nợ nước, vừa " Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi" như lời trăn trối cuối cùng của người đồn trưởng, vừa chết để cho cả dân tộc được sống, được hít thở không khí Tự Do dù chỉ trong một khoảnh khắc... Ngày mai đây, những chiếc khăn tang trắng sẽ được chít vội vã lên đầu những người thiếu phụ nghèo nàn khổ sở kia, những khuôn mặt bầu bĩnh vô tội của trẻ thơ. Nước mắt nào khóc cho hết nỗi bi thương của người vợ lính VNCH đây hỡi ông trời xanh thẩm? hình ảnh nào có thể thay thế được hình ảnh ngọt ngào của Cha chúng nó, suốt khoản đời còn lại của những em bé hồn nhiên vô tội kia hỡi ông trời? Dân tộc tôi đã làm gì nên tội, "Tử biệt sinh ly" câu nói nghe được từ thuở học trò bầy giờ mới thấy trọn nghĩa ý đau thương. Máu nào chảy mà ruột không mềm, mắt tôi bỗng chan hòa nước mắt. Tôi tống ga bay trở lại đồn. Qua màn lệ nhạt nhòa, tôi chẳng còn thấy gì, ngoài những cụm khói đen bốc lên giữa đồn. Những cụm mây oan khiên vừa rồi vẫn còn vần vũ như những chiếc khăn tang trắng lồng lộng bao phủ cả bầu trời. Mây ơi là mây, còn sống chẳng chịu giúp nhau, bây giờ
người đã chết, đồn đã mất sao còn lảng vảng để khóc thương.
Trời chiều cao nguyên vốn đã thê lương cô quạnh lại càng trở nên tang tóc sầu thảm hơn. Hai chiếc Phantom Hoa kỳ ráp thành một hợp đoàn tác chiến bay những vòng tròn thấp chung quanh đám đất đá điêu tàn không hiểu để quan sát hay để chào vĩnh biệt những chiến sĩ gan dạ anh hùng của Địa Phương Quân QLVNCH. Dưới trời chiều nắng tắt, trông hợp đoàn Phantom như hai con chim hải âu ủ rủ lượn từng vòng quanh xác chết của đồng loại. Sau khi nhận kết oanh kích của anh Ngọc, giọng nói xúc động của người phi tuần trưởng Phantom vang lên:
- Sir, may I reach out across the fires and destructions of today to tell you this: Those people down there have fought like men and have gone in honor.
Giọng anh Ngọc run run nghẹn ngào:
- Yes sir, they have gone in honor. That was an Alamo by all means, sir. An ever greater Alamo than ours, Over.
Tôi thấy hai hàng nước mắt chảy dài trên má anh Ngọc.
- Roger! We have thousand of Alamo like that every day in our country.
- Roger, I believe that, sir, God bless you all. Over.
Hai chiếc Phantom liếc cánh chào vĩnh biệt rồi bốc lên cao, mất hút giữa bầu trời ảm đạm. Alamo, cái tên nghe đã đi vào huyền sử của dân tộc Hoa Kỳ mà bất cứ công dân Mỹ nào nghe cũng phải hảnh diện. Alamo, làm tôi nhớ đến bài học Anh văn năm đệ ngũ. Alamo, đúng ra là một ngôi nhà thờ "Y pha nho" mà hai ngàn chiến sĩ kỵ binh Hoa Kỳ đã tử thủ khi chống cự lại với hàng chục ngàn quân Mễ Tây Cơ cho đến giây phút cuối cùng. Không ai đầu hàng và tất cả đã bị tàn sát. Người Mỹ chỉ có một thành Alamo trong suốt 200 năm lập quốc mà cả thế giới đều biết, đều mến phục. Đất nước tôi có bao nhiêu thành Alamo còn tàn khốc hơn, đẩm máu gấp ngàn lần hơn suốt bao nhiêu năm chinh chiến.
Sáng hôm sau tôi và anh Ngọc bay thêm một phi vụ sớm trước khi bàn giao biệt đội. Tối đêm qua một trận mưa bomb của B52 đã cày nát khu tập trung quân giặc. Dù biết là vô ích, chúng tôi vẫn mở lại tần số cũ để gọi cho Thạnh trị. Nhưng chả còn Thạnh trị nào để trả lời cho Bạch ưng nữa. Đồn Dakseang chỉ còn là đống đất vụn điêu tàn. Gió thổi lên từng cơn cuốn theo những lớp bụi đỏ mù. Tôi nhìn xuống đó, tưởng nhớ đến những cái chết oai hùng chiều qua. Trong một quê hương khói lửa, kiếp người quả thật mong manh như gió, như đám bụi mù kia. Mới nói nói cười cười mà giờ đây đã ngàn thu vĩnh biệt. Bay thêm vài vòng quanh đồn để tưởng nhớ ngậm ngùi cho các anh rồi cũng đến lúc phải từ giã để ra đi. "Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi" Thôi thì xin thành kính nghiêm trang giơ tay chào vĩnh biệt các anh. Những người lính Địa Phương Quân âm thầm của một tiền đồn xó núi. Địa
Phương Quân, cái tên nghe khiêm nhường và hiền lành như đất, như bộ đồ xanh bạc màu của các anh. Địa Phương Quân, thứ lính...âm thầm nhất trong các thứ lính của quân lực; không màu mè, không áo rằn ri, không có những huyền thoại khủng khiệp, không "truyền thống, binh chủng" không có đến những khẩu hiệu nẩy lửa chết người. Nhưng Địa Phương Quân Pleiku chiều hôm qua đã bình tỉnh xin "cho nó nổ trên đầu tôi". "Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi bạn ơi" Xin vĩnh biệt và cảm tạ. Cảm tạ các anh đã đem cái qúi giá nhất của cuộc đời là mạng sống mình để đổi lấy cho quê hương dù đã rách nát tả tơi còn có được những ngày xanh hy vọng. Cho buổi hợp chợ ban mai, dù nghèo nàn thưa thớt vẫn còn được an bình. Cho ngôi trường quận lỵ thấp lè tè những mái tôn cháy nắng còn rộn tiếng trẻ thơ cười. Cho mái chùa cong cong nơi sườn núi còn được ngân lên những hồi chuông tín mộ. Và cho những người ở lại như tôi đây biết rằng mình sống tức còn nợ phải trả.... Các anh chính là những người được mô tả trong một bài học thuộc long tôi thuộc làu làu lúc còn là một đứa bé :
Họ là kẻ khi quê hương chuyển động
Dưới gót giày của những kẻ xâm lăng
Đã xông vào khói lửa quyết liều thân
Để bảo vệ tự do cho tổ quốc
Trong chiến đấu không nài muôn khó nhọc
Cười hiểm nguy bất chấp nỗi gian nan
Người thất cơ đành thịt nát xương tan
Những kẻ sống lòng son không biến chuyển
Tuy tên họ không ghi trong sử sách
Tuy bảng vàng bia đá chẳng đề tên
Tuy mồ hoang xiêu lạc dưới trời quên
Không ai đến khẩn nguyền dâng lễ vật
Nhưng máu họ đã len vào mạch đất
Thịt cùng xương trộn lẫn với non sông
Và linh hồn chung với tấm tình trung
Đã hòa hợp làm linh hồn giống Việt.
Xin thành kính viết lại một phần bài thơ của Đằng Phương để tặng các anh. Các anh chính là những "Anh Hùng Vô Danh". Tổ Quốc Việt Nam, dân tộc Việt Nam ngàn đời sẽ còn ghi ơn các anh. Xin vĩnh biệt và cảm tạ.
Tháng Tư,
Xin đốt nén hương lòng,
kính dâng những Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hoà
đã anh dũng hy sinh cho chính nghĩa, cho Tổ Quốc Việt Nam
Lòng tôi, một nén hương, thành kính
Xin thắp và xin tưởng nhớ Người
Hỡi những Anh Hùng dân tộc Việt
Máu xương Anh hiến dựng xây đời
Vì yêu dân, nước nên Anh nhận
Trách nhiệm người trai buổi nhiễu nhương
Tôi cảm ơn Anh, tôi ngưỡng phục
Tấm lòng son sắt với quê hương!
Anh đem dũng cảm, đem kinh lược
Chiến đấu, Anh ngăn bước giặc thù
Nguy hiểm không sờn, không nhụt chí
Cho dầu gục ngã giữa âm u ...
Dakto, An Lộc hay Rừng Sát
Quảng Trị, Pleime hoặc Hạ Lào
Anh đã hào hùng trong chiến thắng
Hào hùng trong cả bước gian lao!
Hoàng Sa, Bến Hải xuôi Đồng Tháp
Có dấu chân Anh khắp bốn vùng
Xương máu Anh trong từng mạch đất
Trong từng nhịp thở của non sông!
Hồn Anh hoà với hồn sông núi
Dẫu chẳng bia xanh, chẳng sử vàng
Nhưng đã muôn đơì dân tộc Việt
Nhớ ơn bồi đắp, giữ giang san!
Trong từng giọt nước, từng thân cỏ
Phảng phất như Anh đã mỉm cười
Có tháng Tư nào loang máu đỏ
Quê buồn như mắt lệ Anh rơi !!!
Tháng Tư, ôi tháng Tư oan nghiệt
Ai xé mà tan những mảnh đời
Những gói poncho không đất phủ
Những đau buồn muôn kiếp khôn nguôi
Tháng Tư, ôi tháng Tư đau xót
Có những người trai chết vội vàng
Và có những người không sống nhục
Chọn cho mình cái chết vinh quang!
Anh hy sinh thế vì dân, nước
Tôi biết ơn và thương tiếc anh
Anh, đã Anh Hùng dân tộc Việt
Cho dù hoang mộ có VÔ DANH ! Ngô Minh Hằng
***********
TƯỞNG NIỆM TƯỚNG LÊ VĂN HƯNG
THÁNG TƯ ĐEN,
XIN THẮP NÉN HƯƠNG
TƯỞNG NIỆM TƯỚNG LÊ VĂN HƯNG,
MỘT TRONG NHỮNG VỊ ANH HÙNG CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM.
LÊ VĂN HƯNG
Anh hùng An Lộc đã danh vang
Chấp nhận làm sao được lệnh hàng
Vì nước, tướng hùng, lòng tiết khí
Chọn đường oanh liệt, chết vinh quang
Ngô Minh Hằng
Tiểu sử Anh Hùng LÊ VĂN HƯNG
(Trích Anh Hùng Nước Tôi của Mặt Trận Quốc Gia Giải Phóng Việt Nam)
LÊ VĂN HƯNG là một tướng lãnh nổi tiếng cuả Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà. Ông đã từng giữ nhiều trách vụ quan trọng về hành chánh cũng như quân sự. Từ Trung Đoàn Trưởng thuộc Sư Đoàn 21 Bộ Binh. Ông được đề cử làm Tỉnh trưởng Phong Dinh và sau đó ông giữ trách vụ Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh.
Ở trách vụ này, ông đã tử thủ An Lộc, bẻ gãy cuộc tấn công của Việt Cộng vào tỉnh Bình Long muà Hè năm 1972. Tại mặt trận này, ông được thăng cấp tướng và được mệnh danh là: " Anh Hùng An Lộc"
Năm 1973, ông là Tư Lệnh Sư Đoàn 21 Bộ Binh và sau đó, giữ trách vụ Tư Lệnh Phó Quân Đoàn IV.
Tháng 4 năm 1975. khi Việt Nam Cộng Hoà sụp đổ và biết là không còn tiếp tục chiến đấu được nữa, tướng LÊ VĂN HƯNG đã tự sát tại Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn IV vào lúc 8 giờ 45 phút, ngày 30.4.1975 (nhằm ngày 20 tháng 3 năm Ất Mão) "Anh hùng An Lộc" đã trở thành "Anh hùng Dân tộc".
***********
TƯỞNG NIỆM TƯỚNG NGUYỄN KHOA NAM
THÁNG TƯ,
XIN THẮP NÉN HƯƠNG
TƯỞNG NIỆM TƯỚNG NGUYỄN KHOA NAM,
MỘT TRONG NHỮNG VỊ ANH HÙNG CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM.
NGUYỄN KHOA NAM
Đức độ tài năng đã rõ ràng
Báo đền nợ nước, NGUYỄN KHOA NAM
Nuí sông bức tử vào tay giặc
Thà chết vinh danh, chẳng nhục hàng!
Ngô Minh Hằng
Tiểu sử Anh Hùng NGUYỄN KHOA NAM
(Trích Anh Hùng Nước Tôi của Mặt Trận Quốc Gia Giải Phóng Việt Nam)
NGUYỄN KHOA NAM gốc là sĩ quan binh chủng Nhảy Dù, thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Ông là một tướng lãnh được quân dân các cấp kính nể vì nếp sống đơn giản, đức độ và rất tận tụy với công vụ Cuộc đời ông là cuộc đời của chiến phục, nón sắt và trận mạc.
Năm 1970, ông là Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh , cấp bậc Thiếu Tướng.
Năm 1974 ông là Tư Lệnh Quân Đoàn IV và Quân Khu IV.
Vào tháng 4 năm 1975, ông không chấp nhận lệnh đầu hàng của ông Dương Văn Minh và cố gắng tiếp tục chiến đấụ Nhưng lệnh đầu hàng đã làm nhiều binh sĩ hoang mang, nhiều đơn vị bị tan rã. Nhận thấy không còn có thể kháng cự được nữa, tớng NGUYỄN KHOA NAM đã tự sát tại Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn IV, lấy cái chết để báo đền ơn nước, giữ tròn danh dự của một tướng lãnh, vào lúc 6 giờ sáng, ngày 1/5/1975 (nhằm ngày 21tháng 3 năm Ất Mão).
Tưởng Niệm Đại Tá HỒNGỌC CẨN
THÁNG TƯ,
XIN THẮP NÉN HƯƠNG
TƯỞNG NIỆM CỐ ĐẠI TÁ HỒ NGỌC CẨN,
MỘT TRONG NHỮNG VỊ ANH HÙNG CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM.
HỒ NGỌC CẨN
Quyết chiến cùng dân giữ tỉnh nhà
Trả thù, giặc Cộng bắt ông ra
Cần Thơ bịt mắt đem hành quyết
"Cứ giết nhưng đừng bịt mắt ta
"Để ta nhìn nước, dân lần cuối "
Anh hùng muôn thuở sử hùng ca !
Tiểu sử Anh Hùng HỒ NGỌC CẨN
(Trích Anh Hùng Nước Tôi của Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam)
Là sĩ quan thuộc Sư Đoàn 21 Bộ Binh, Đại Tá HỒ NGỌC CẨN nổi tiếng nhờ khả năng tác chiến vững chãi và sự gan dạ của Ông. Ông là một trong những sĩ quan trẻ tuổi và thăng cấp mau lẹcủa Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà.
Vào những ngày chót của chiến cuộc, Ông là Tỉnh Trưởng Chương Thiện. Khi Việt Cộng tấn công, Ông không chấp nhận lệnh đầu hàng của ông Dương Văn Minh, quyết tâm bảo vệ tỉnh trách nhiệm. Cuối cùng, Ông bị giặc bắt. Vào ngày hành quyết, Việt Cộng dồn đồng bào tới pháp trường Cần Thơ và bắt cả gia đình Ông tới chứng kiến. Vốn cảm phục Ông, nên những người có mặt tại pháp trường đều vô cùng xúc động. Trước hình ảnh đó, Ông đã yêu cầu không bịt mắt để được nhìn đồng bào của Ông trước khi từ trần. Đó là ngày 14.8.1975 (nhằm ngày 8 tháng 7 năm Ất Mão)
***********
TƯỞNG NIỆM TƯỚNG TRẦN VĂN HAI
THÁNG TƯ,
XIN THẮP NÉN HƯƠNG
TƯỞNG NIỆM TƯỚNG TRẦN VĂN HAI,
MỘT TRONG NHỮNG VỊ ANH HÙNG CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM.
TRẦN VĂN HAI
Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh
Yêu dân, yêu lính trước yêu mình
Quê hương bức tử vào tay giặc
Thà chết cho tròn cái chết vinh !
Ngô Minh Hằng
Tiểu sử Anh Hùng TRẦN VĂN HAI
(Trích Anh Hùng Nước Tôi của Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam)
TRẦN VĂN HAI nguyên là sĩ quan binh chủng Biệt Động Quân. Ông đã từng là Chỉ Huy Trưởng của binh chủng nà. Vào những ngày chót của Việt Nam Cộng Hòa, Thiếu Tướng TRẦN VĂN HAI là Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh đóng tại vùng Đồng Tâm thuộc tỉnh Định Tường.
Sau khi nghe tin Tướng NGUYỄN KHOA NAM đã tự sát, Ông quay sang nói với toán cận vệ "Chúng ta không còn hy vọng gì nữa, các anh em có thể rời đơn vị mà trốn về quê quán, tôi xin theo gương cấp chỉ huy của tôi". Sau đó, tướng TRẦN VĂN HAI về phòng riêng uống thuốc độc tự vận.
***********
NÓI VỚI NHỮNG NGƯỜI NẰM XUỐNG CHO TỔ QUỐC VIỆT NAM
Tháng Tư Đen.
Kính dâng những linh hồn Tử Sĩ VN.
Anh vẫn đó, oai hùng như dáng núi
Ánh căm hờn trong lũng mắt đau thương
Hăm mốt năm qua, trời sầu đất tủi
Nơi đáy mồ anh khóc chuyện quê hương !
Anh có nhớ trong niềm đau mất nước
Nhìn Hiền Lương máu ngập đến Cà Mau
Vẫn anh dũng, anh kiên cường tiến bước
Viên đạn thù tàn nhẫn réo thương đau ?!
Tuổi thanh xuân anh bừng bừng khí thế
Trái tim hồng đỏ thắm máu Tiên Long
Cổ thành xưa anh đã từng ngạo nghễ
Gương hào hùng oanh liệt bốn nghìn năm !
Ôm hoài bảo và tình yêu sông núi
Anh hiên ngang đối diện với quân thù
Dù ngã xuống, bia vàng không tên tuổi
Nhưng trong lòng dân tộc đã thiên thu !
Anh không chết, muôn đời anh không chết
Và muôn đời Tổ Quốc mãi ghi công
Hỡi các anh ! những người trai tuất kiệt
Lấy máu đào anh rửa hận non sông !
Tôi nợ anh một lễ nghi quốc táng
Lời tuyên dương, truy điệu bậc anh hùng
Hăm mốt năm qua làm thân tỵ nạn
Tôi cúi đầu nghe nước mắt rưng rưng ...
Tôi nợ anh khúc quân hành rộn rã
Ánh đuốc thiêng và tiếng hát khải hoàn
Món nợ đó tôi rất mong được trả
Trả cho anh và Tổ Quốc VIỆT NAM !
Góc Chiến Trường Xưa: Tình trong thời chiến
Người lính thời chiến trong những hy sinh mất mát, có lẽ thấm thía và đau xót nhất là trong tình yêu. Thi sĩ Tô Thùy Yên đã tả trong thơ của ông, bài “Chiều trên Phá Tam Giang” mà nhạc sĩ Nhật Trường Trần Thiện Thanh đã phổ rất thoát trong bài nhạc cùng tên và từng được ca sĩ Thanh Lan nức nở bao lần. Bài thơ và nhạc ấy có đoạn mô tả tâm trạng thương nhớ da diết đến người yêu ở nơi hậu tuyến, để mà tưởng tượng ra biết bao hình ảnh đẹp và lãng mạn xiết bao: “Giờ này chắc hẳn chiều đang nắng. Em rời thư viện đi rong chơi, hàng cây viền ngọc thạch len trôi, nghĩ đến ngày thi tương lai thúc hối... Căn phòng nhỏ trong cao ốc vô danh... lại nghĩ đến anh... nghĩ đến anh...”
Ðể rồi một đoạn sau, thê thiết sầu thảm biết bao khi nghĩ đến người tình đang: “Giờ này có thể trời đang mưa. Em đi dưới hàng cây sướt mướt. Nhìn bong bóng nước chảy trên hè. Em nhớ hoa nở muộn. Giờ này thành phố chợt bừng lên, em! dòng lệ nước mắt chảy tuôn... lại nghĩ đến một người em không rõ... một người em sợ không dám nghĩ... đến một người đi giữa chiến tranh... Lại nghĩ đến anh... nghĩ đến anh.”
Ðó là một nhà thơ, một nhạc sĩ nói hộ cho người lính dù nhà thơ ấy, người nhạc sĩ ấy cũng là những người lính.
Còn người lính đích thực nơi chiến trường, đang đối mặt với nỗi chết, người lính ấy kể lại cuộc tình của mình ra sao? Trang Cựu Chiến Binh/Người Việt xin được trích một đoạn trong cuốn “Người lính không có vũ khí” của Nguyễn Mạnh An Dân để thấy cuộc tình của người lính nơi trận tiền đau đớn, hy sinh và mất mát thế nào, cho cả người lính và người yêu lính.
.......
Tùng sững người, tròn mắt ngạc nhiên và vui mừng. Ba tháng liền, anh chưa rời khỏi đơn vị được một giờ, cũng không có thời giờ để viết một lá thư nào cho đúng nghĩa, chỉ có mấy lần ghi vội đôi hàng, lúc trên bao thuốc, khi sau bìa báo, gửi xe tiếp tế về hậu cứ để chuyển về Sài Gòn cho Thiên Kim. Chuyện gặp nhau chỉ có trong mơ, sao giờ này lại có nàng ở đây?
Tùng hình dung ra hình ảnh cô sinh viên đài các và nhí nhảnh của Sài Gòn, nghĩ đến nỗi đau dai dẳng và dịu dàng của mình. Nàng là một đóa hoa quý, dường như vượt quá tầm với của một sĩ quan trôi nổi như anh, nhưng tình yêu vẫn cố giữ hai người, dù cả hai đều mơ hồ nhận thấy về một kết thúc không mấy tốt đẹp.
Tùng vội vàng bật chiếc cần nhỏ, chuyển tần số liên lạc ra khỏi hệ thống chung và hấp tấp gọi lớn:
- Trung Liệt, Trung Liệt! Ðây Thành Tín gọi, nghe rõ trả lời?
Có tiếng cười khúc khích và giọng nói nhí nhảnh của Thiên Kim:
- Alô, alô, anh đấy phải không. Em đây. Anh nói kiểu gì mà “vui” vậy?
Tùng cũng cười lớn và hân hoan giải thích:
- À, xin lỗi cô bé. Em cứ nói bình thường như gọi điện thoại đi. Anh quen kiểu liên lạc truyền tin quân đội. Ðừng để ý. Mừng Công Chúa giá lâm.
Thiên Kim nói nhỏ lại, giọng không còn vẻ tinh nghịch đùa cợt nữa:
- Anh ở đâu vậy. Em ra chỗ anh được không?
Tùng im lặng một chút. Câu hỏi của Thiên Kim đã kéo anh về với thực tế. Anh nói, giọng buồn buồn:
- Không được đâu em. Anh đang ở tuyến trên.
- Tuyến trên là ở đâu. Có nguy hiểm gì không. Sao anh ở được mà không cho em lên.
- Ðừng hỏi, bé, cũng bình thường thôi, nhưng em không lên được.
Giọng Thiên Kim như sắp khóc:
- Vậy anh ra chỗ em đi, anh biết chỗ em không? Em muốn gặp anh.
Tùng nhìn xuống bản đồ, nhìn hai cái chấm đỏ ghi vị trí đóng quân của tiểu đoàn và điểm đứng của mình. Khoảng cách một phần ba ô vuông, ba trăm năm chục mét, một khoảng ruộng trống, một con lộ nhỏ, một cái mương cạn. Gần quá nhưng làm sao nói để Thiên Kim hiểu là có những lúc, mỗi tấc đất, mỗi bước đi ngoài mặt trận là máu xương, là sống chết, là danh dự và trách nhiệm. Giọng Thiên Kim khẩn thiết pha chút hờn dỗi:
- Alô, anh còn đó không? Sao em hỏi không trả lời? Có gì mà không muốn gặp em, bộ anh không vui khi có em lên sao?
Trời ơi! Ðừng nói nữa bé. Sao anh lại không muốn gặp em. Còn hạnh phúc nào hơn được nhìn thấy em lúc này. Ước gì anh có thể bỏ hết mọi thứ trên đời để có em. Nhưng hiểu cho anh, anh sẽ không còn gì hết, nếu anh bỏ đi lúc này. Ðừng nói với anh về lý tưởng, về tổ quốc gì hết, anh nhỏ nhoi lắm, đừng nói những chuyện to tát quá. Nhưng anh đang có một trăm hai chục người lính lẻ loi và tội nghiệp. Họ đang gồng mình để hứng hàng trăm quả pháo, đang ghìm súng để đối phó với cả tiểu đoàn địch quân lăm le nghiền nát họ. Anh đang có mặt ở đây. Anh có trách nhiệm phải chia sẻ và có thể cũng bị nghiền nát. Không có cách nào khác. Hiểu cho anh!
Tùng suy nghĩ rất nhiều.Chưa kịp nói gì thì Thiên Kim đã nói tiếp:
- Em hiểu rồi. Anh đang bị vây phải không. Anh ở xa lắm phải không? Anh có sao không? Về với em một chút không được sao? Nói cho em biết đi.
“Về với em một chút không được sao?” Ðừng làm anh khổ tâm bé ơi. Một chốc, không là gì hết. Thiếu gì người có thể bỏ cả cuộc đời để hoang phí, để vui chơi. Nhưng hiểu cho anh, có những lúc với người lính, một phút là quá nhiều, là tất cả. Hiểu cho anh. Tùng nói ngậm ngùi:
- Em lên, anh mừng lắm. Anh sẽ ra ngay khi có thể, nhưng bây giờ thì chưa được. Chờ anh một chút. Nói gì với anh đi, cười cho anh nghe đi...
Tùng đang nói bỗng dừng lại đột ngột. Anh ngồi thụp người xuống, cố thu mình trong chiếc áo giáp theo một phản xạ tự nhiên. Kinh nghiệm chiến trường giúp anh nhận biết được tầm đạn pháo đang bay qua đầu, hay đang hết tầm, rơi gần vị trí. Một tiếng nổ lớn làm bắn tung cát, sỏi mịt mù giữa một vùng khói đen. Tùng thấy bỏng rát, khó thở và gần như mất cảm giác trong mấy giây. Trái nổ quá gần và sức ép của nó như muốn hất tung người Tùng lên khỏi mặt đất. Tùng định thần, anh đưa tay vuốt mặt và nhìn vào lòng bàn tay lấm lem khói bụi. Không có máu. Không sao cả.
Tùng nhỏm người nhìn bao quát một vòng vị trí đóng quân và khắp vùng trước mặt. Tất cả đều lặng lẽ, không dấu hiệu gì sẽ có những đột biến lớn. Có tiếng rên và tiếng gọi nhau nho nhỏ. Tùng nhìn về phía đóng quân của PC đại đội. Một số anh em đang bu lại thành một vòng tròn lớn. Thường vụ đại đội đang dáo dác tìm kiếm và đang lớn tiếng gọi y tá. Tùng bước nhanh lại gần, một binh sĩ trong khẩu đội súng cối đã trúng đạn và hy sinh.
Người lính trẻ nằm nghiêng trong một vũng máu lớn, mắt mở trừng trừng như thảng thốt, như ngạc nhiên, như tiếc rẻ và uất ức. Một mảnh đạn pháo lớn vắt dọc từ mang tai đến dưới cổ, dính lại bên trong, chỉ lòi một phần cạnh sắt ra ngoài. Máu bị mảnh đạn chặn nghẽn lại không chảy ra được, rịn từng giọt nhỏ, liên tục. Hai binh sĩ khác bị thương ở vai và bụng, không nặng lắm. Tùng lặng lẽ nhìn đi chỗ khác. Bao năm lăn lộn đã chứng kiến không biết bao nhiêu cái chết, mà Tùng vẫn không sao giữ được bình tĩnh trước sự hy sinh của những binh sĩ gần gũi, dưới quyền mình. Tùng đứng nghiêm chào. Anh ra lệnh giải tán đám đông, chỉ giữ lại một số người cần thiết, dặn dò thường vụ bọc poncho cẩn thận cho tử thi và anh cầm máy gọi tiểu đoàn. Thiên Kim vẫn còn ở đầu máy. Nàng khóc ngất lên, nghẹn ngào:
- Tiếng gì nổ vậy anh? Sao tự dưng anh bỏ máy? Anh bị bắn phải không? Anh có sao không?
Tùng hơi bất ngờ. Những sự kiện liên tiếp xảy ra làm anh hầu như quên hẳn sự có mặt của Thiên Kim. Anh cười nhẹ và gượng gạo trấn an:
- Không có gì đâu em. Tiếng nổ ở xa, không sao hết. Cho anh gặp người trực máy một chút đi, rồi mình nói chuyện tiếp.
Máy im lặng. Rồi có tiếng quen thuộc của âm thoại viên tiểu đoàn:
- Trung Liệt, tôi nghe Thẩm Quyền.
- Năm Mươi Mốt đây, báo 45 biết gia đình tôi bị phốctro-kilo, hai kiến cắn, một rách áo. Xin Tư Tưởng gấp, trả lời.
- Nhận rõ, một rách áo, hai kiến cắn.
Tùng tần ngần một chút rồi nói nhỏ vào máy:
- Ðừng nói gì với Bắc Bình-Xuân Phong của tôi hết, rõ không. Trao máy cho cô ấy một chút đi.
- Nhận hiểu, 51.
Thiên Kim khóc lớn khi trở lại máy. Nhưng rồi nàng đã kìm lại và nói chậm rãi, rành mạch, không có vẻ phiền hà trách móc như mấy phút trước:
- Em hiểu rồi. Ðừng giấu em. Tình hình khó khăn lắm phải không anh. Em định nói nhiều lắm, chuyện dài dòng lắm nhưng thôi, đại khái thế này... nhà đã đi Vũng Tàu hết rồi, em...
.......
Ðó là thời gian những ngày cuối của cuộc chiến. Gia đình Thiên Kim, người yêu của lính đã xuống Vũng Tàu hết để tìm đường di tản. Một mình Thiên Kim lặn lội tới tuyến đầu, nơi người yêu đang chặn địch để hỏi ý kiến người yêu nhưng lại gặp tình trạng như đã kể.
Câu chuyện kết thúc thế nào, cuộc tình của người lính ngoài mặt trận, xin quý độc giả tìm đọc cuốn “Người lính không có vũ khí” của Nguyễn Mạnh An Dân do Làng Văn ấn hành, Tháng Hai năm 1995 tại Gia Nã Ðại.
Để riêng tỏ lòng ngưỡng phục và thay lời cảm ơn trong ngày lễ Thank's Giving sắp tới, NMH xin gởi đến đồng bào Việt Nam tị nạn khắp năm châu trước công cuộc Dựng Lá Cờ Vàng
Hoan hô Tị Nạn, Đồng Bào
Chung lòng quyết chí dựng cao Cờ Vàng
Đấu tranh không ngại gian nan
Trung thành với nước Việt Nam, với Cờ
Từ ai bức tử cõi bờ
Xa quê, nhớ Mẹ Âu Cơ ngậm ngùi
Xót sông, xót núi đau vuì
Ngục tù, trăm trứng thương đời lầm than
Giận người gây cảnh hờn oan
Suy đồi đạo lý, tiêu tàn nhân luân
Mị lừa, tráo trở, vô thần
Gian tham, tàn ác, bất nhân, độc tài
Nên dù nắng sớm mưa mai
Cờ Vàng chẳng để nhạt phai bên lòng
Đấu tranh cho đến thành công
Dựng cờ trong mọi cộng đồng Việt Nam
Lòng người, ngọn lửa hiên ngang
Như sao Bắc Đẩu giữa màn trời đêm
Nhiệt thành, chân cứng, đá mềm
Cho cờ rạng mặt, vang tên giữa đời
Hoan hô người Việt khắp nơi
Kiên cường, bất khuất, giữ tươi màu cờ
Để ngày mai, Mẹ Âu Cơ
Vui cùng trăm trứng đợi giờ hồi sinh
Núi sông ghi tạc ân tình
Công người giữ lửa, dấn mình, đấu tranh !
BS. Trần Đức Tường
Cựu Y Sĩ Trưởng SĐND
Tin Nhật Trường ra đi đã làm tôi thẫn thờ như người mất hồn. Như mất một người thân, rất thân trong gia đình. Ngồi nhìn những tấm hình chụp chung với Nhật Trường ở Hawaii năm nào khi Nhật Trường mới ra hải ngoại, mà lòng man mác buồn, nhớ những kỷ niệm xa xưa, của những năm 60, 70 thế kỷ trước....
Là một người lính, tôi yêu những bài hát của Nhật Trường Trần Thiện Thanh vì nó nói lên tâm sự của người lính. Những lời ca, điệu nhạc của anh sao mà gần gũi với cuộc đời xông pha chiến trận đến thế. Có ai trong chúng tôi, trong những lúc dừng quân ngồi bên ven rừng hay những cồn cát..., không từng ngắm những bông hoa "mắc cỡ" mầu tím nhạt, tua tua như hoa mimosa, không từng lấy ngón tay đụng nhẹ vào những nhánh lá dễ thương như lá me để thấy nó khép lại ? Thế mà Nhật Trường đã đặt cho nó cái tên rất gợi hình, gợi cảm : "Hoa Trinh Nữ". "Nâng nhẹ một cây, lá khéo trong tay, lá ngủ thật mê say...". Thật là tài tình.
Và như thế, từ những cuộc hành quân Lam Sơn ở Đông Hà, Chợ Cạn, Khe Sanh, Ashao... đến Khamjei ở Kontum, Đakto, Võ Định, Chu Pao..., bước chân tôi đi cùng nhịp với những nét nhạc của Trần Thiện Thanh. Tôi biết Trần Thiện Thanh quen với nhiều anh em trong đơn vị của tôi. Nhưng phải thú thật, sau cuộc hành quân Lam Sơn 719, nghe bài ca khóc Nguyễn Văn Đương, tôi mới hiểu được sự gắn bó của Trần Thiện Thanh với binh chủng Nhẩy Dù. Từng lời ca cho người nghe cái cảm giác Trần Thiện Thanh đang có mặt trên đồi 31, lúc địch quân tràn ngập. "Ôi tiếng súng sau cùng đó, anh còn nghe tầm đạn đi không anh ?". Tiếng súng sau cùng đó không phải là tiếng đại bác ! Anh đã yêu lính Nhẩy Dù. Anh đã thương Nguyễn Văn Đương, đã thương Nguyễn Đình bảo bỏ mình trên đồi Charlie. "Anh ! Anh ! Hỡi anh ở lại Charlie"... Anh đã yêu cô nhi quả phụ ngậm ngùi đưa tiễn chinh phu về nơi an nghỉ... "Đợi anh về chỉ còn trơ vầng trán đứa bé thơ tấm khăn sô... Bơ vơ, người góa phụ cầu được sống trong mơ"...
Tôi gần gũi nhiều với Nhật Trường trong Mùa Hè Đỏ Lửa. Lúc đó, thương binh nhiều, Nhật Trường hay vào Sư Đoàn trong các đoàn văn nghệ quân đội giúp vui, ủy lạo thương bệnh binh của Bệnh viện Đỗ Vinh. Mỗi lần anh tới là chúng tôi đã có những lần gập gỡ, hàn huyên ở Quán Hoa Dù hay ở ngay trong Câu Lạc Bộ Tiểu Đoàn Quân Y của tôi. Lúc làm Tiểu Đoàn Trưởng, tôi theo Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn ra hành quân ở căn cứ Hiệp Khánh, Huế, nơi tôi có 1 bệnh viện dã chiến dưới hầm và một bệnh viện tản thương ở Phú Bài. Tôi lại có nhiều dịp gập Nhật Trường trong các đoàn văn nghệ trung ương ra tiền tuyến giúp vui thương binh.
Chúng tôi mất liên lạc khi Sài Gòn thất thủ. Tôi đi tù "cải tạo". Trong tù anh em hay bắt tôi hát những bài quen thuộc của Trần Thiện Thanh. Được thả về, sở y tế thành phố điều tôi về bệnh viện Phước Kiến, cải danh thành Nguyễn Trãi làm việc trong khoa Tai Mũi Họng. Nơi đây tôi lại có dịp tái ngộ Trần Thiện Thanh. Câu chuyện gặp lại người xưa cũng khá ly kỳ. Vào năm 1978, tình cờ 1 hôm, có một thiếu phụ vào trong khoa xin được khám bệnh. Tôi ra gặp và nhận ra là kịch sĩ Kim Cương. Sau khi chẩn bệnh và điều trị, cô đưa tôi 2 vé mời xem kịch. Cô là giám đốc đoàn kịch Bông Hồng. Mấy hôm sau chúng tôi đi xem kịch. Tôi không nhớ đêm đó đoàn diễn vở gì. Nhưng tôi nhớ rõ Nhật Trường đã xuất hiện với bài hát "Con Kinh Ta Đào", nhạc "cách mạng" ! (Ối giời ơi !). Sau khi hạ màn, tôi vào hậu trường hỏi Kim Cương xin gập Nhật Trường và hẹn anh hôm sau vào bệnh viện chỗ tôi làm việc.
Chúng tôi đã gâp lại nhau sau mấy năm xa cách. Mừng mừng tủi tủi. Vẫn dáng người hào hoa, Sơ mi trắng bỏ trong quần ủi thẳng. Vẫn cặp kính đen ray ban thật to. Tôi hỏi :
- Gớm sao diện thế ? À mà đeo kính đen, họ kỵ lắm đấy
Cũng vẫn bằng một giọng Bắc không chê vào đâu được, Nhật Trường trả lời :
- Đến gặp ông anh thì phải ăn mặc tử tế chứ. Mấy năm rồi anh nhỉ ? Em thây kệ ai muốn nói gì thì nói, em đeo kính đen có chết thằng chó nào đâu ?
- Được đi hát từ bao giờ ?
- Mới hai tháng nay thôi anh ạ.
- Dạo này có sáng tác gì không ? Sao lại đi hát bài của "cách mạng" vậy ? Tôi thấy cậu hát mà không thể tưởng tượng được đó là Nhật Trường.
- Em cũng nghĩ thế anh ạ. Em không được đi hát từ ngày "giải phóng" đến tận bây giờ mới được đó. Hát có điều kiện đấy. Từ 30/4 đến nay, em không viết bài nào cả. Em đã từng viết những bài cho Nguyễn Văn Đương, cho Nguyễn Đình Bảo thì làm sao em có thể viết cái gì được bây giờ ?
Đó là cái tâm sự thầm kín của Trần Thiện Thanh. Tôi nói thêm :
- Thì viết những bài tình tự dân tộc. Chứ viết tình ca, họ bảo là "nhạc vàng" thì cũng mệt.
- Nếu tình trạng như bây giờ thì em không viết là yên thân.
Từ đó, Nhật Trường vào bệnh viện tôi mỗi tuần một hoặc 2 lần. Buổi trưa, chúng tôi thường ra chợ An Đông cùng với mấy cô y tá Tàu ăn cơm gà xiu xiu. Phòng tôi có máy lạnh, những ngày hè oi bức, Nhật Trường hay ngủ một giấc ngon lành đến chiều đi làm thẳng, không về nhà. Tôi làm ở đây, mỗi tháng lãnh lương được 80 đồng. Nhật Trường lãnh ít hơn. Vì thế mỗi khi đi khám bệnh "chui" cho những người Hoa bị đi "kinh tế mới" trồi về thành phố, không có hộ khẩu nên bệnh hoạn không vào bệnh viện được, kiếm được chút đỉnh, anh em chia nhau xài.
Cuối năm 1979, thấy có nhiều bác sĩ vượt biên, họ cho phép tổ chức văn nghệ trong ngành y tế và được hạt những bài hát cũ. Họ đưa cho tôi cây kèn clarinette của Phạm Mạnh Cương để tập dượt. Thế là tôi đã thổi cho Nhật Trường hát. Nhật Trường có viết nhạc đệm cho tôi nữa. Có lần Như Thủy, em gái Nhật Trường vào thăm tôi. Cô bé vẫn nhớ câu nói của tôi : "Tiếng hát Như Thủy nhẹ như một làn khói thuốc Ruby". Và tôi cũng đã thổi kèn đệm để Như Thủy hát những bài của Trần Thiện Thánh...
Năm 1980, tôi đi vượt biên. Điều làm tôi bực nhất là hôm tôi đi, Nhật Trường không vào bệnh viện để kéo anh cùng đi với tôi. Đâu dám nhắn nhe với ai. Thế là lại mất liên lạc cho đến một ngày...
Ngày đó là ngày Kỷ Niệm Quốc Tổ Hùng Vương tại Hawaii khi Nhật Trường mới ra hải ngoại. Ban tổ chức đã mời được Nhật Trường, Don Hồ tới hát. Tôi gập Nhật Trường và Mỹ Lan trong niềm vui khó tả. Tôi hỏi :
- Nhật Trường định hát những bài gì ?
- Em định hát bài đầu là bài "Chiếc áo bà ba" em sáng tác lúc sau này khi họ cho phép em viết bài hát.
- Cậu ơi ! Ở ngoài này, đồng bào còn giữ hình ảnh Nhật Trường với "Anh Không Chết Đâu Anh", "Người ở lại Charlie"..., chứ không ai biết "Chiếc áo bà ba" cậu mới sáng tác mà tôi tin chắc cũng sẽ rất hay. Vậy tôi đề nghị như thế này nhé.
- Thế ra anh muốn làm metteur en scène cho em đấy hả ?
- Không dám, nhưng tôi đề nghị thế này nhé : Sau khi MC giới thiệu một ca sĩ đã vắng bóng 18 năm, nay đã trở về với khán giả. Mở màn, sân khấu trống rỗng. Sẽ chiếu retro hình một thiếu phụ cắp nón lá đứng bên dậu tre đan nhìn ra xa như mong đợi chồng về thì nhạc sẽ trổi lên bài "Anh Về Với Em"... Và Nhật Trường sẽ hát nửa câu nhạc đầu trong hậu trường. Rồi vừa hát tiếp, vừa đi ra... Chịu không ?
- Hết xẩy anh ơi. Em "nhất trí" ngay thôi.
- Bỏ cái điệu nói đó đi nghe không ông tướng.
Buổi trình diễn của Nhật Trường đã được khán giả đứng lên vỗ tay hồi lâu, và mỗi lần bài mới được cất lên lại một lần những tràng pháo tay vang dậy.
Kể từ đó, mỗi lần ghé Nam Cali, tôi thường tới gập Nhật Trường ở trung tâm băng nhạc của anh. Nhật Trường tặng tôi nguyên bộ CD các bài của anh và của Mỹ Lan thu ở Hải Ngoại. Giờ đây, ngồi viết những giòng này, tai còn nghe "Lâu Đài Tình Ái", "Tình thư của lính"...
Nhật Trường Trần Thiện Thanh không còn nữa. Trong tang lễ anh, đại diện binh chủng Nhẩy Dù đã trịnh trọng đặt trên nắp quan tài chiếc mũ đỏ mà anh thương quý. Đã nhiều lần anh trình diễn với chiếc mũ này, với bộ quân phục hoa rừng của binh chủng. Lúc đó chỉ là diễn xuất. Bây giờ, chiếc mũ đỏ đã thật sự là của anh. Thật khó tưởng tượng Nhật Trường không đội chiếc mũ đỏ. Nếu anh đã từng nói Nguyễn Văn Đương "Anh không chết đâu anh"... vì người lính dù không bao giờ chết, anh ta chỉ khuất bóng mà thôi, thì "Nhật Trường ơi ! Anh không chết đâu anh ! Anh vẫn sống trong lòng chúng tôi, những người lính Dù, trong lòng mỗi người lính VNCH và nhất là trong lòng mọi người dân Việt Nam. Một ngày lính dù = Suốt đời lính dù. (Para un jour = Para toujours).
Trần Đức
Thấm thoắt đã 30 năm trôi qua kể từ ngày một đoạn đường số 1 dẫn từ Mỹ Chánh ra Quảng Trị đã được đặt cho cái tên là "đại lộ kinh hoàng". Một người lính nhẩy dù, nước mắt chan hòa, đứng lặng giữa hàng trăm, hàng ngàn xác chết bên cạnh những chiếc xe đạp, xe gắn máy, nằm ngổn ngang, chỏng gọng, những gồng gánh, bao bọc bị đạn pháo đổ ra tung tóe. Những chiếc xe jeep, xe thùng hồng thập tự, vết đạn xuyên lỗ chỗ. Ngọn gió Lào nóng rát mặt đẩy đưa cánh cửa xe cho thấy những xác người nằm trên băng ca, những cọng băng phất phơ chỉ còn bám vào bộ xương khô bởi mấy rẽ xương sườn. Có bộ xương em bé nằm trên bộ xương người mẹ dưới một bụi gai. Có xác khô đét như người tiền sử nằm giữa đám cỏ may bên lề đại lộ. Có xác nằm sấp, có xác nằm co như còn mong bờ đất dưới ruộng che chở cho mình thoát tầm đạn giặc...
Tất cả im lặng. Không có tiếng người, không có tiếng chim. Chỉ có những tiếng phành phạch của những tấm bạt xe, những mảnh quần, vạt áo cứng còng vì bê bết máu khô đang bị gió lùa bay lên như những cái vẫy tay kêu cứu. Thỉnh thoảng, có một mảnh vải, một mảnh băng tuột ra, bay bổng theo gió rồi mắc trên những bụi cây gai trên đồng trống khô cằn... Trên mặt lộ, mỗi xác chết như đã in hình dáng của mình trên nhựa đường bằng một quầng đen đậm.
Đó đây, giữa đám xác người, người ta còn nhìn thấy rải rác những đuôi đạn súng cối 61 lý và B40 là những vũ khí có tầm xa không quá 1 cây số nằm ngổn ngang. Thì ra cộng quân đã đứng rất gần để tác xạ vào đám dân Quảng Trị chạy loạn. Họ đã bắn như bắn bia. Bắn cho chết đến người cuối cùng. Bất kể đàn ông, đàn bà. Bất kể người già hay trẻ thơ. Thật là rùng rợn. Hình ảnh này trong trận tấn công "Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972" ghi sâu mãi mãi trong ký ức của những người đã chứng kiến thảm cảnh người dân Quảng Trị phải gánh chịu và tội ác chiến tranh của những người cộng sản. Đoàn quân tiến ra Quảng Trị, trả lại sự lặng yên, hiu quạnh cho đoạn đường chết chóc. Thoáng nhìn trong đội hình, có người làm dấu thánh giá, có người chắp tay niệm Phật. Chỉ tiếc không có nén hương, ngọn nến thắp lên để sưởi ấm những oan hồn mà thân xác còn phơi giữa đồng khô, cỏ cháy.
Đoạn đường mang tên "Đại Lộ Kinh Hoàng" nay không còn xác chết, không còn dấu vết của tội ác. Họ đã được thân nhân mang về mai táng ngay sau đó. Nhưng từ năm 1975 mỗi năm đến ngày giỗ tập thể, hàng ngàn gia đình ở vùng quê hương Quảng Trị chỉ âm thầm thắp nén hương thơm tưởng nhớ. Không ai dám hé răng nửa lời. Có những người không còn thân nhân thì mồ hoang, mả lạnh, không chút khói hương. Nghĩ đến xót xa làm sao! Họ đã chết tức tưởi mà đến nay họ còn u uất nơi bờ cao bụi rậm, không sao siêu thoát được. Hẳn họ không sao có thể ngờ dược là 30 năm sau, người đời vẫn còn nhớ thương họ.
Tin từ trong nước cho biết, trong thời gian từ ngày 28-4 đến ngày 2-5-2002 vừa qua, Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tỉnh Quảng Trị đã tổ chức tại chùa Long An thuộc quận Triệu Phong đàn tràng cầu siêu cho những nạn nhân bị Cộng Sản sát hại trong trận chiến Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972 tại Quảng Trị. Đại lễ được sự hộ niệm của quý thầy từ các vùng lân cận, đặc biệt của Tăng Đoàn Thừa Thiên - Huế. Người ta ghi nhận, có quý Hòa Thượng Thích Thiện Hạnh, Hòa Thượng Thích Như Đạt, Hòa Thượng Thích Phước Duyên cùng đông đảo quý Thượng Tọa, Đại Đức và Tăng Ni.
Trong suốt thời gian đại lễ, đồng bào hai tỉnh Thừa Thiên và Quảng Trị đã tề tựu rất đông để tham dự, có những buổi lên đến vài ngàn người, mặc dù chính quyền địa phương đã cho cán bộ đi từng nhà để ngăn cản, đe dọa, chặn đường, cấm cho thuê xe. Thượng tọa Thích Hải Tạng, trụ trì chùa Long An cho biết, nhân dịp này, đồng bào đã mang hàng trăm linh vị các nạn nhân của cộng sản trong Mùa Hè Đỏ Lửa đến chùa để xin được giải oan siêu thoát.
Trước khi khai đàn, theo nguyện vọng của đồng bào, quý Thầy đã vào tận Đại lộ kinh hoàng, từ Cầu Dài về phía Hải Lăng, để rước thỉnh các hương linh của nạn nhân cộng sản về đạo tràng chùa Long An. Một tiết mục đặc biệt khác của đại lễ là lễ Phóng sinh đăng, kết thuyền hoa đăng cúng ngay trên dòng sông Thạch Hãn. Vào ngày cuối của đại lễ, cũng có một trai đàn chẩn tế để giúp đỡ cho các gia đình nghèo khổ cơ nhỡ tại địa phương.
Người lính nhẩy dù của 30 năm trước, hôm nay cũng chan hòa lệ rơi khi được tin những oan hồn uổng tử trong Mùa Hè Đỏ Lửa trên Đại Lô. Kinh Hoàng đã được tăng ni phật tử tới tận nơi rước vong về chùa giải oan, siêu thoát. Họ không những được sự tế độ của chư tôn đức mà còn được sự tưởng nhớ của hàng ngàn Phật tử Thừa Thiên, Quảng Trị và hàng triệu đồng bào ta tưởng nhớ tới họ. Hơn 2 triệu người Việt sống tha hương trên đất khách quê người cũng hướng về Quảng Trị, hướng về Đại Lộ Kinh Hoàng và thắp nén hương lòng tưởng nhớ tới họ, cầu nguyện cho họ được siêu thoát và được tiêu diêu miền cực lạc.
Việt Nam còn nhiều oan hồn còn dật dờ nơi nhà tù, trại giam, ven rừng, ven suối, hoang đảo, đại dương. Việt Nam còn nhiều anh linh những người đã hy sinh để bảo vệ bờ cõi, chiến đấu giải phóng dân tộc. Những vị này đã bỏ mình vì sự độc ác của đảng và chế độ cộng sản trên quê hương thân yêu của chúng ta. Cả nước cần cầu siêu cho họ.
Nhưng điều cần phải làm là rửa hờn cho họ và tiếp nối ý chí anh dũng của họ. ******