Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Người Em Sầu Mộng
Nhạc : Doãn Bình
Thơ : Lưu Trọng Lư

Em là gái bên khung cửa
Anh là mây bốn phương trời
Anh theo cánh gió chơi vơi
Em vẫn năm trong nhung lụa

ĐK:
Em chỉ là em gái thôi
Người em sầu mộng muôn đời
Tình như tuyết giăng đầu núi
Vằng vặc muôn thu nét tuyệt vời

Ai bảo em là giai nhân
Cho đời anh đau buồn
Ai bảo em ngồi bên song
Cho vương vấn nợ thi nhân

Ai bảo em là giai nhân
Cho lệ đêm dâng tràn
Cho tình giăng đầy trước ngõ
Cho mộng tràn gối chăn

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Image

Nguyễn Mạnh Trinh
Tháng Mười Hai, ký ức Giáng Sinh



Mấy ngày hôm nay trời đã vào mùa Ðông. Buổi sáng, sương mù giăng trước mặt và xa lộ chảy dài như một dòng sữa loãng. Buổi chiều trở về, dãy núi xám nâu đã trở thành mầu đen của bóng tối. Vặn radio nghe nhạc, những bản nhạc giáng sinh, biết một năm đã qua, và mình già thêm một tuổi. Ở xứ người, sao cứ tưởng như mình đang ở Sài gòn thuở nào. Có mưa, có nắng, có tình buồn, tình vui. Có đời lúc trầm, lúc động. Tạm ngụ ở đây hơn hai chục năm, vẫn không bỏ quên được con người xưa cũ. Gánh vai nặng quá những quá khứ. Mà, ở lúc cuối năm, là những dong tay kéo về thuở nào, từ thời tiết đến con người.



Mỗi lúc, cứ tới tháng 12, khi ngày ngắn đêm dài, không hiểu tại sao tự nhiên trong lòng tôi lại nhen lên một cảm giác bâng khuâng. Ở vào thời điểm ấy, khi ngồi vào bàn viết lên những tấm thiệp giáng sinh, tôi vẫn nghĩ là mình đang sống lại một thuở nào đã xa nhưng lại thân gần trong ký ức. Ðời sống thật nhanh, một tuần, thứ Hai tới thứ Sáu, vùn vụt. Hai ngày cuối tuần, không đủ để nhìn lại, không đủ một giây để “ngồi lại bên cầu thương dĩ vãng”...



Tháng 12, khi tóc đã điểm bạc, khi những con đường lóng lánh ánh đèn điểm tô cho hang đá Noel, khi những bản nhạc thánh ca mừng chúa Hài Ðồng xuống thế, nhắc nhở nao nao một nỗi niềm.Tôi tưởng như mình vẫn còn trẻ, trẻ lắm, của những tháng ngày xưa cũ.



Hôm nay, ngồi trang trí mấy mẫu thiệp giáng sinh trên máy điện toán, tình cờ tôi thấy hình bìa của tập thơ “Chuông mơ” trước mặt. Thơ của thi sĩ này thường có hình ảnh của Chúa và họa sĩ trình bày bìa sách, chị Nguyễn Thị Hợp, đã dùng hình ảnh tà áo dài và ngôi giáo đường để chuyên chở ý tình ấy. Áo trắng, mái tóc xõa dài, tháp chuông cao vút, với hoa lá viền quanh, tất cả gợi một không khí thật thơ mộng và bàng bạc chất thi ca. Nhìn sách tự nhiên nhớ đến người, nhớ đến những câu thơ làm thơm hương cuộc sống...



Và, năm nay, tôi lấy tranh bìa của tập thơ, sửa đổi đôi chút để làm thiệp giáng sinh cho cá nhân riêng mình gửi đi cho bằng hữu bạn bè và các người cộng sự trong sở. Tôi chọn kiểu chữ, chọn mầu sắc để có một tấm thiệp giáng sinh như ý muốn. Nhất là, như một cách để nhớ lại người đã ra đi từ thập niên trước. Người có bài thơ được phổ nhạc mà mỗi khi tôi vào quán khi còn ở Pleiku thì Tiểu Lan lại cho máy quay đúng bắt đầu bản nhạc này với một nụ cười. Thà như giọt mưa. Vỡ trên tượng đá. Nguyễn Tất Nhiên.



Thơ của Nguyễn Tất Nhiên hay có hình ảnh Chúa và ngôi giáo đường. Nhưng không phải là hình ảnh của cứu rỗi trong thơ Hàn Mặc Tử:


“Maria! Linh hồn tôi ớn lạnh
Run như run thần tử thấy long nhan
Run như run hơi thở chạm tơ vàng
Nhưng lòng vẫn thấm nhuần ơn trìu mến

Lạy bà là Ðấng tinh tuyền thanh vẹn
Giàu nhân đức, giàu muôn hội từ bi
Cho tôi dâng lời cảm tạ phò nguy
Cơn lâm lụy vừa trải qua dưới thế...” ;




Và, cũng chẳng phải là chân dung Ðức Mẹ Ðồng Trinh trong bài thơ “Madonna” của Puskin mà bản dịch của Văn Khôi diễn tả:


“Tôi không treo trong trai phòng đạm bạc
Những bức tranh của danh họa cổ xưa
Ðể khách thăm phải tôn kính sững sờ
Ðứng lặng nghe lời phẩm bình uyên bác

Trong góc đơn sơ bộn bề sách vở
Tôi hằng mong chiêm ngưỡng một bức tranh
Dõi nhìn tôi trìu mến tự mây xanh
Mẹ Ðồng Trinh bồng Hài Ðồng cứu thế

Nàng trang nghiêm ánh mắt Người thông tuệ
Trong hào quang thanh thoát vẻ nhân từ
Dưới gốc cọ Sion lặng lẽ suy tư
Chỉ hai người không thiên thần hộ vệ

Ðiều ước nguyện giờ đây thành sự thật
Tạo hóa ban em giáng tự trên trời
Tuyệt tác hình ngươi đẹp xinh thanh khiết
Em! Ðức Mẹ Ðồng Trinh của lòng tôi...”




Yêu người yêu để thấy rằng người tình của mình giống hình Ðức Mẹ trong bức tranh cổ của Raphael “Madonna” thì hạng nhất phải là Puskin. Tình yêu ấy, thanh khiết và đẹp đẽ dường nào...

Còn với Nguyễn Tất Nhiên, thơ có hình ảnh khác hơn. Chúa, có vóc dáng khác, chẳng những có tính cách cứu rỗi, che chở mà có khi còn là hình tương đau đớn của tình yêu chịu nạn cho đời.

Nhiên in tập thơ “Chuông Mơ” vào đúng dịp Giáng Sinh năm 1988. Nhanh thật, lật bật mà đã gần 20 năm. Những bài thơ của tình buồn, của những ngôn ngữ chân phương và gần cận cuộc sống. Tôi nhớ, Nguyễn Tất Nhiên là người có nhiều mộng ước và những đấng thần linh tôn giáo như Chúa hay Phật thường bị anh bắt đóng vai làm người chứng cho những chia ly, khổ đau. Với anh, Chúa hay Phật ở gần thêm một đoạn đường những chia sẻ. Các ngài không đứng cao trên bệ nữa, mà, đứng gần cạnh nhân sinh. Và, nếu có thể, chúng ta cũng thể đối thoại với lời nói bình thường.

Người thơ viết:


“Chúa cũng lắc đầu vô phương cứu rỗi
(Cứu rỗi làm gì một thứ nghênh ngang
Cứ nổi cơn đòi Thượng Ðế ngang hàng
Ðấng ngàn tuổi tim già khô độ lượng)

Ta phải chết cho Nước Trời thịnh vượng
Cho thánh thần chúc phúc bình an
Cho em còn mãi mãi dịu hiền ngoan
Mà hãnh diện có thằng đen đúa.

Luôn nhăn nhó mặt mày chê Chúa khó
Nhưng cắn răng không mở miệng trách em!”




Thơ của anh có cái nỗi niềm của một người quá nhiều hối tiếc. Thi sĩ có lúc cảm thấy tuyệt vọng, cũng như, có những ý nghĩ thật kỳ lạ của một người như muốn từ chối bước đi vào cõi nhân sinh náo nhiệt ngoài kia. Thơ, là ngôn ngữ để đối thoại được với những u uẩn đã ngầm chứa trong cuộc sống. Giữa tự tôn và tự ti, giữa đời hoa mộng thơ văn và sống thô nhám đời thương, thi sĩ đu dây giữa hạnh phúc và bất hạnh. Thơ, là đoạn đường tàu để hai bên hai gót chân chàng bám víu. Và, cho đến lúc, hai đường tưởng là song song gặp gỡ nhau, là một cuộc ra đi...

Người làm thơ đầy tưởng tượng. Chàng nghĩ ra trò vui. “Kẻ tự đóng tim mình”. Chúa, bỗng dưng xuống thế, làm người nhân chứng:


“Vì chẳng được cầm tay nhau kể lể
Nên chuyện tình cứ thế, thảm hơn
Chúa cũng cau mày ngắm nỗi cô đơn
Của một kẻ đóng tim mình trên thập giá...”



Ghê gớm chưa? Ai đã đóng vai khổ hình trên thập giá như thế. Nhưng, chỉ là một cách nói của một người làm thơ thất tình:


“...Chiều em đi học về, thơm tóc thả
Áo suông eo trinh bạch cả giáo đường
Ta ngọt ngào gọi khẽ người đi luôn
Nên lũ thiên thần bỗng nhiên thất chí

Bay xuống trần gian làm thi sĩ
Nâng Thánh Kinh mà hát thơ tình
Có con chiên nào thoáng ngạc nhiên
Rồi lại đắm chìm trong vần nhã nhạc...”



Thi sĩ có phải là lũ “thiên thần bỗng nhiên thất chí” bay xuống trần gian không? Hay còn hơn thế nữa, có lúc thi sĩ nghĩ mình là một tượng chúa, trân mình oằn vai nặng gánh khổ đau. Và, em, có lúc thành tín đồ để ta đóng vai thập giá chịu tội thay em.


“...chiều em đi học về, chim trắng bước
ngang giáo đường nhòe nhạt màu vôi phai
có động lòng xin hãy rút khăn tay
lau giùm mắt kẻ xương bày trên thánh giá

là ta đó, em ơi, đang tầm tã
mưa đầy hồn đau đớn thương thân
lỡ yêu tín đồ phải chấp nhận gian truân
phải muối mặt giao du cùng quỷ sứ

tính nhân hậu đã hồi nào hóa dữ
chỉ vì em đành đoạn quên chàng
chỉ vì em... gõ nhẹ cửa thiên đàng
bình thản gửi cho hai hàng bím tóc...”



Thơ có nỗi buồn thê thảm nhưng cũng có nét hồn nhiên của một chàng tuổi trẻ muôn năm không bao giờ biết tuổi già.Chàng đổ thừa cho tình yêu của mình, vì nó mà chàng giao du cùng quỷ sứ và mất đi tính nhân hậu sẵn có của trời. Tội lỗi duy nhất của chàng chỉ là bởi... biết yêu mà thôi. Tội trời dành...

Thi sĩ có lúc thành... linh mục. Là người hay tưởng tượng, chàng thấy mình tự nhiên như một người:


“dĩ vãng là địa ngục
giam hãm đời muôn năm
tôi - người yêu dĩ vãng
nên sống gần Satan

ngày xưa nghe lời quỷ
giáng thế thêm một lần
trong kiếp người linh mục
xao gầy cơn điên trăng...”



Có đoạn thơ bỗng thành khúc nhạc. Tôi chợt nghĩ đến câu nói của nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng khi sinh tiền: “Thơ của Nhiên chữ nghĩa mềm mại và nhiều nhạc tính nên phổ nhạc không làm mất đi ý nghĩa của thi ca”. Quả thật nhạc sĩ Nguyễn Ðức Quang đã bắt gặp trong thơ Nguyễn Tất Nhiên những yếu tố để thành một ca khúc bất tử. “Vì tôi là linh mục” có những câu thơ làm xao động hồn người:


“...Vì tôi là linh mục
không mặc chiếc áo dòng
nên suốt đời hiu quạnh
nên suốt đời lang thang

vì tôi là linh mục
giảng lời tình nhân gian...”


hay


“tín đồ là người tình
người tình là ác quỷ
ác quỷ đầy quyền năng
quyền năng là tín đồ”



Nếu có một thứ tôn giáo thì tôn giáo của Nguyễn Tất Nhiên chỉ dành riêng cho những kẻ si mê tình yêu mà thôi. Không có bổn đạo mà cũng chẳng có giáo đường, kinh thánh của chàng chỉ là những lời tình của nhân gian, của những câu thơ buồn bã:


“vì tôi là linh mục
giảng lời tình nhân gian
nên không có thánh kinh
nên không có bổn đạo
nên không có giáo đường
(một tín đồ duy nhất
vừa thiêu hủy lầu chuông!)

vì tôi là linh mục
phổ lời tình nhân gian
thành câu thơ buồn bã
nên hạnh phúc đâu còn
nên người tình duy nhất
vừa thiêu hủy lầu chuông

vì tôi là linh mục
không biết mặt thánh thần
nên tín đồ duy nhất
cũng là đấng quyền năng!”



Nghe bản nhạc này, trong một lúc chiều tà vừa tối, hé một chút cửa kính, để thấy cái lạnh len vào trong từng thớ thịt, để nghe tâm thức mình vời vợi trên cao. Quả là đã thiệt! Những giây phút hiếm hoi ấy có phải đáng trân quý không trong cái dòng sống biền biệt kéo dài không ngơi như xa lộ về tối ánh đèn dằng dặc. Tôi nhớ những cái Noel khi còn trẻ. Ở những xóm đạo, không khí giáng sinh thật rộn ràng. Nhà thờ với hàng cờ nhiều màu đã làm rộn ràng hơn những tiếng thánh ca réo rắt của ca đoàn sửa soạn cho những ngày lễ trọng. Những tà áo trắng. Những nóc thánh đường. Làm sao quên vóc dáng người con gái mà tôi đạp xe đi theo cả năm trời rụt rè với lời tình không thể ngỏ. Ngày giáng sinh năm ấy, cũng chỉ là đôi mắt ngó theo em, rưng rưng không nói...

Kết một chuyện tình buồn. Như bài thơ “Chuông Mơ” với những câu:


“...chiều nay anh ở đất bon chen
cái mộng tan theo cái thấp hèn
cái thực lem theo ngày sống vội
không cách chi dài phút nhớ em

chiều nay em bước ngang giáo đường
mắt Chúa chắc buồn thăm thẳm hơn
chắc cây thánh giá thành di tích
chuyện một người chuộc tội hoài công...

chiều nay em bước trên quê hương
chắc tóc không còn óng ả chuông
chắc chuông không mượt nâng bờ tóc
chắc tóc và chuông đã... đoạn trường

chiều nay em bước trên quê hương
chắc Chúa chẳng nhìn như mọi hôm
bởi vì mắt Chúa và em đã
lóng lánh vùi chôn ngấn lệ lòng...”


Qua những cuộc biển dâu, Chúa vẫn ở cạnh nhân gian dù bất cứ vóc dáng nào. Với người thơ, hình ảnh Ðức Mẹ và Chúa hài đồng trong đêm Noel lạnh lẽo muôn đời vẫn là hình ảnh thiêng liêng và thơ mộng, nhất là của đôi lứa yêu nhau. Tình cảm ấy, có những bậc thiêng liêng làm nhân chứng trong cái không khí lễ hội xôn xao có lẽ là những kỷ niệm khó quên của cuộc đời nhiều người...

Riêng với Nguyễn Tất Nhiên, anh đã mang vào thơ mình hình ảnh thiêng liêng ấy một cách lãng mạn và tưởng vọng nhiều hơn. Và tôi cũng biết thêm một điều, lúc cuối đời anh đã viết Minh Khúc với nỗi đau có thực và phảng phất bóng dáng của tình yêu một người mang thập giá trên vai.
.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Nhạc Bất Quần... Giữa Chốn Nhân Gian

Triều đại nhà Minh ở Trung Hoa từ Thái Tổ Chu Nguyên Chương đến Tư Thông Chu Do Kiểm kéo dài gần ba trăm năm (1368-1644), vào cuối đời nhà Trần sang đời nhà Lê của nước ta. Trong “Bình Ngô Đại Cáo”, vị anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi đã viết:

“Quân cường Minh đã thừa cơ tứ ngược
Bọn gian tà còn bán nước cầu vinh!...
Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ”.

Triều đại nhà Minh, ngoài đời Hiếu Tôn và Thế Tôn, bọn hoạn quan, thái giám lộng hành triều chính, nhà vua bị bọn hoạn quan vây bọc. Nhiều đại thần trong triều bị hoạn quan vu oan, giết hại. Điển hình như hoạn quan Ngụy Trung Hiền tàn ác vô đạo, lập bọn gian tà thành đảng thế lực thống lĩnh triều chính. Vì vậy, tham vọng bởi uy quyền thống trị của bọn hoạn quan ảnh hướng đến tham vọng của con người nơi chốn võ lâm.
Thời điểm của Tiếu Ngạo Giang Hồ với “ngũ nhạc kiếm phái” lấy năm ngọn núi nổi danh: Thái Sơn, Tung Sơn, Hành Sơn, Hằng Sơn, Hoa Sơn.

Hằng Sơn ở Bắc nhạc với chưởng môn Định Nhàn.
Hoa Sơn ở Tây Nhạc với chưởng môn Nhạc Bất Quần.
Thái Sơn ở Đông nhạc với chưởng môn Thiên Môn chân nhân.
Hành Sơn ở Nam nhạc với chưởng môn Mạc Đại tiên sinh .
Tung Sơn ở Trung nhạc với chưởng môn Tả Lãnh Thiền.

Trong năm chưởng môn của ngũ nhạc kiếm phái đó, Định Nhàn là bậc tu hành, Mạc Đại tiên sinh thuộc bậc chính nhân quân tử. Với ba nhân vật thuộc loại “tâm xà khẩu Phật” còn lại, Thiên Môn thuộc loại võ công kém cỏi, hai tay cao thủ võ lâm cáo già Nhạc Bất Quần - Tả Lãnh Thiền “ngoài thì hiệp ước trong thì dao găm” lại nằm trong tay Tả Lãnh Thiền nắm quyền minh chủ của Ngũ Nhạc Kiếm Phái; dưới tay Tả lãnh Thiền có khuôn mặt Đại Tung Dương Thủ Phí Bân - kẻ đồ tể do Tả Lãnh Thiền mài dao - với võ công siêu quần bạt chúng nhưng trở thành nhân vật tế thần dưới ngọn đao của Mạc Đại tiên sinh.
Nhạc Bất Quần (không chơi với ai) chưởng môn phái Hoa Sơn, nơi có ngọn Ngọc Nữ thơ mộng. Nhạc tiên sinh được anh hùng võ lâm tôn xưng danh hiệu Quân Tử Kiếm. Con người tướng mạo thanh tao, mặt đẹp như ngọc, chính khí hiên ngang, ăn nói nhã nhặn, không tranh cãi thị phi, không xuất chiêu lén lút. Tuy tuổi đã lục tuần với năm chòm râu dài, nhờ luyện nội công thâm hậu, khai sáng khí tông, sống cuộc sống điều độ nên trông còn trẻ. Về nội công thâm hậu, nổi danh hắc bạch, giang hồ khiếp vía với Hỗn Nguyên Thần Công và Tử Hà Thần Công. Về kiếm pháp với Tiêu Sử Thừa Long, Xung Linh Kiếm Pháp, Lộng Ngọc Xuy Tiêu, Lãng Tử Hồi Đầu... làm rạng danh phái Hoa Sơn.

Bên trong, Nhạc Bất Quần là kẻ ngụy quân tử, con người gian manh thủ đoạn, khôn ngoan đáo để, ham danh tột cùng. Tả Lãnh Thiền cài đệ tử thân tín của mình là Lao Đức Nặc vào làm nội tuyến trong phái Hoa Sơn. NBQ biết được nhưng làm ngơ và giả vờ tín nhiệm giao phó công việc truy tìm Tịch Tà Kiếm Phổ, với 72 đường Tịch Tà kiếm pháp, đệ nhất kiếm pháp thế gian do Độ Nguyện thiền sư, tục danh là Lâm Viễn Đồ, thân phụ của Lâm Chấn Nam, tu luyện sau khi có con, lưu danh hậu thế. Lâm Viễn Đồ học lại võ công tuyệt thế biến thiên như Quỳ Hoa Bảo Điễn, trong đó phải “muốn luyện chân kinh phải tự thiến mình” nếu không, khi đến mức thượng thừa, lửa dục thiêu đốt ruột gan. Và, Tịch Tà Kiếm Phổ cũng vậy.

Lợi dụng thời cơ phái Thanh Thành tàn sát Phước Oai tiêu cục của Lâm Chấn Nam, NBQ cho đệ tử hạ san để truy lùng cho được Tịch Tà Kiếm Phổ. Con trai duy nhất dòng họ nhà Lâm còn sống sót là Lâm Bình Chi, trên đường tìm kiếm cha mẹ. NBQ âm thầm theo dõi và đợi cho lúc lâm nguy, ra tay cứu vớt, nhận làm đệ tử. Cướp được Tịch Tà Kiếm Phổ trong tay, NBQ vu oan cho đại đệ tử của mình là Lệnh Hồ Xung, vu cáo đệ tử giao kết với phường tà đạo và đuổi ra khỏi Hoa Sơn.

Biết được Lao Đức Nặc nằm vùng, NBQ chép bản Tịch Tà Kiếm Phổ giả rồi tạo dựng cơ hội cho Lao Đức Nặc đánh cắp đem về hiến dâng cho Tả Lãnh Thiền tu luyện. Điều nguy hiểm trong Tịch Tà Kiếm Phổ, muốn tu luyện đến mức vi diệu phải “dẫn đao tự cung”, tự thiến bộ phận sinh dục. Trở thành “hoạn quan” nhưng kiếm pháp vào bậc nhất võ lâm để thống lĩnh quần hùng. Bản giả của NBQ bớt đi cái uyên thâm của phần cuối và không ghi “dĩ đao tự cung” nơi đầu kiếm phổ để chuẩn bị tư thế luyện kiếm.

NBQ luyện TTKP, lơ là chăn gối với vợ là Ninh Trưng Tắc, mệnh danh Hoa Sơn Ngọc Nữ Ninh, kiếm pháp tuyệt vời, NBQ trở thành ái nam ái nữ, râu dần dà rơi rụng, tiếng nói lại cái, dáng điệu yểu lả... nhưng cố gắng hóa trang trông bề ngoài như cũ. Nghe lời vợ năn nỉ khuyên nhủ, NBQ tạm thời vứt TTKP xuống thung lũng ngọn Thiên Thanh, chẳng may Lâm Bình Chi phục kích theo dõi, nhặt được bí kiếp, vì muốn báo thù Lâm Bình Chi tự thiến để luyện. Không thấy dấu vết tấm áo cà sa mang bí kiếp TTKP, NBQ nghi ngờ đệ tử Lâm Bình Chi nên đem con gái là Nhạc Linh San vừa ngoan vừa đẹp, võ công cao cường, gả cho chàng họ Lâm thổ tả. Tuy không hưởng được giây phút ái ân, tình nghĩa vợ chồng nhưng khi bị NBQ tra hỏi dọ ý, Nhạc Linh San nói dối có hạnh phúc. Tưởng đâu con gái bị Lâm Bình Chi xơ múi rồi nên yên tâm chàng rể không luyện TTKP, nếu biết được, NBQ sẽ thủ tiêu chàng rể của mình. Sau nầy, Lâm Bình Chi bị mù mắt vì khi cận chiến giết chết cao thủ Mộc Cao Phong, lưng gù của MCP là túi chất độc cực kỳ liền bắn vào mắt, vô phương cứu chửa. Lâm Bình Chi nổi điên, giết vợ là Nhạc Linh San, đầu quân Tả Lãnh Thiền rồi cũng vào vòng nghiệt ngã.

Luyện được kiếm phổ, Tả Lãnh Thiền hí hửng mở cuộc tranh hùng. Trong lần tranh hùng ở Phong Thiên Đài trên ngọn Tung Sơn vào ngày rằm tháng 3 theo ý đồ của Tả Lãnh Thiền để chọn minh chủ của ngũ nhạc kiếm phái. Tả Lãnh Thiền đã bỏ ra mấy chục năm tu luyện bí kiếp của phái Tung Sơn nhưng trong lần giao đấu một mất một còn để “tranh bá đồ vương”, hai tên cáo già đều xử dụng TTKP. Nhạc Bất Quần dùng TTKP chính hiệu đâm đui mắt đối thủ Tả Lãnh Thiền đang xử dụng TTKP giả mạo... NBQ trở thành minh chủ ngũ nhạc.
*
Theo những thăng trầm, đắng cay, oan nghiệt của dòng đời, đại đệ tử Lệnh Hồ Xung của Hoa Sơn nhận diện được khuôn mặt ngụy quân tử của sư phụ năm xưa, những biến loạn đau thương trong chốn võ lâm do sư phụ dàn dựng gieo tai họa cho võ lâm bá tánh. Thời gian thọ hình phạt của sư phụ NBQ, Lệnh Hồ Xung học được chân truyền của thái thúc sư tổ Phong Thanh Dương, tiêu biểu cho kiếm tông, với 9 thế kiếm trong Độc Cô Cửu Kiếm của Độc Cô Cầu Bại “kiếm khí miên man bất tận như nước chảy mây trôi” trong hang động trên ngọn Hoa Sơn. Lòng tham lam thống lĩnh đệ nhất võ lâm làm NBQ trở thành kẻ mất nhân tính. Khi bộ mặt thật bị lột, NBQ cũng bất kể thị phi vẫn theo đuổi mộng bá quyền võ lâm nhưng rốt cuộc, kẻ gian tà phải đền tội ác. Cùng với người tình Lệnh Hồ Xung, Nhậm Doanh Doanh đem độc dược khống chế NBQ và ni sư Nghi Lâm kết thúc cuộc đời quân tử kiếm với đường kiếm nhẹ nhàng.
So với nhiều nhân vật thời đại, suy cho cùng, Nhạc Bất Quần chưa đến nỗi vô luân, lấy vợ của bạn, dụ dỗ con cháu bằng hữu để thỏa mãn thú tính. NBQ cam tâm tự thiến để đoạt được danh vọng như bọn thái giám tự ý cắt bỏ của quiù để hưởng bổng lộc trong triều đình phong kiến.
Đó, hình ảnh của Nhạc Bất Quần. Ông bà ta thường nói, tên giữ chữ đọc, cây ngay không sợ chết đứng, thế nhưng khi có chính khứa mồm loa mép giải nghe thoảng thoảng tên NBQ, nộ khí xung thiên, kéo bè kéo nhóm đào bới lung tung.

Thấy thiên hạ né tránh, tại hạ nhào vô. Đầu thập niên 90, viết lai rai “Chuyện Cuối Tuần” trên Saigon Times và Thời Mới, thật thà, chân phương. Mùa hè 93, ông bạn vong niên kéo vào viết phiếm “Chuyện Ruồi Bu” trên tờ Viet Nam Press, tại hạ nhận lời, bèn lấy tên Nhạc Bất Quần để xông pha nơi chốn ruồi bu, nhưng... vẫn an bình tự tại. Lỡ chọn chốn “gió tanh mưa máu” làm quê hương, cáng đáng thêm thị phi với đời thêm mõi mệt! Chán cảnh hồng trần, qui ẩn. Nhưng! nợ trần khó thoát nên đành mang nghiệp vào thân.

Đã một thời say mê tác phẩm Kim Dung nên đã lượm đôi ba nhân vật của ông để múa bút, kể cả nhân vật lão bà xấu xí, nhân vật võ lâm làm giang hồ bá tánh xôn xao. Thời gian trôi qua, nó dần dà trôi theo dòng nước phẳng lặng, khi sóng gió ba đào mới ẩn hiện đó đây.

Chọn bản nhạc làm pho võ công tuyệt tác với mối tình trai gái non trẻ ngang trái nhưng cao cả và tuyệt vời. Bên cạnh hình ảnh đệ tử chân dung sư phụ Nhạc Bất Quần với mối tình chồng tà, vợ chính. Thương thay cho Ninh Trung Tắc tài hoa, đức độ, đầu ấp tay gối bên chồng nhưng rồi sống trong sự lừa dối, không biết được dã tâm của Nhạc lang quân, huống hồ bá tánh.

Than ôi! nhân tình, biết bao người vợ hiền phải lâm vào tình cảnh như Ninh Trung Tắc cho đến khi vở kịch phơi bày, ôm hận buồn đau. Vợ chồng như vậy thì tình bạn sá gì trong cuộc đời ô trọc, khi biết nhau chỉ ôm hận trách thân!
Tác phẩm Cô Gái Đồ Long của Kim Dung xuất hiện tại Việt Nam vào đầu thập niên 60 qua ngòi bút dịch thuật của Tiền Phong Từ Khánh Phụng trên nhật báo Đồng Nai. Từ đó, nhiều tác phẩm của Kim Dung được nhiều dịch giả cho xuất hiện trên trang báo và in thành sách. Nhiều nhân vật do Kim Dung xây dựng đã đi vào tên tuổi của giới cầm bút, trong đó hình ảnh Cái Bang đã tạo dựng sóng gió trong đạo luật bóp nghẹt báo chí trong thời điểm 70.
Nhân vật Nhạc Bất Quần của ông trở thành hình ảnh quen thuộc trong chính giới, trong đời sống xã hội để bày tỏ khuôn mặt nào đó mang diện mạo quân tử mà bụng dạ tiểu nhân, nhẹ nhàng nhưng vô cùng thấm thía.
Trong đời sống chúng ta, không ít thì nhiều cũng gặp phải khuôn mặt Nhạc Bất Quần đưa đường dẫn lối với bao ngỏ ngách, lúc thịnh lúc suy nhưng chung cuộc rồi cũng bị phơi bày trong màn đêm bao phủ.
Vương Trùng Dương

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Cuối năm nói chuyện với đầu gối
Tưởng Năng Tiến

Đi hỏi già, về hỏi trẻ
Tục ngữ VN



Tôi sinh ra trong một cái xóm rất nghèo, và (tất nhiên) rất đông con nít. Cùng lứa với tôi, có chừng vài chục đứa tên bắt đầu bằng chữ út: Út Lé, Út Lác, Út Lồi, Út Hô, Út Còi, Út Ghẻ, Út Mập, Út Sún, Út Sứt, Út Méo, Út Đen, Út Ruồi, Út Xẹo, Út Trọc … Cứ theo cách thấy mặt đặt tên như vậy, người ta có thể nhận dạng và biết được thứ tự của đứa bé trong gia đình mà khỏi phải giới thiệu - lôi thôi - theo như kiểu cách trong xã hội Âu Mỹ:


- Còn đây là thằng út, nó tên là Út Rỗ. Chả là ngay sau khi lọt lòng, cháu bị rơi vào một cái … thùng đinh!


Riêng trường hợp của tôi thì hơi (bị) khác. Tôi tên Út Khùng. Nếu nhìn mặt mà bắt hình dong thì khó ai có thể biết được là tôi bị khủng. Bây giờ thì (than ôi) tôi trông tàn tạ và héo úa lắm rồi, chớ hồi nhỏ - nói thiệt nha - cả xóm ai cũng phải công nhận là Út Khùng ngó đẹp trai và coi dễ thương hết biết.



Chỉ có cái kẹt là lúc mới biết đi, tôi bi rơi xuống giếng. Khi tìm ra con, nắm tóc kéo lên, thấy thằng nhỏ chân tay xụi lơ, bụng chương xình, mặt mày tím ngắt, má tôi chỉ kêu lên được một tiếng “rồi” và lăn ra bất tỉnh.


Thực ra thì “chưa.” Tôi chưa bỏ mạng nhưng cuộc đời của tôi, kể từ giờ phút đó, là kể như … rồi – theo như lời chẩn đoán của những vị bác sĩ lo việc chữa trị cho tôi lúc ấy:


- Thằng nhỏ ở dưới giếng cả buổi, thiếu oxy nên một số tế bào não đã đi đoong rồi. Nó sẽ hơi khó nuôi và cũng sẽ hơi khác người chút xíu, nhưng hy vọng cũng sống (được) chớ không đến nỗi nào đâu.


Dù đã nghe trấn an như vậy, ba má tui rõ ràng (và hoàn toàn) không yên tâm tí nào về cái chỗ “hơi khác người chút xíu” như thế. Ông bà hẳn cũng khổ tâm vì cái tên gọi, nghe hâm thấy rõ, của đứa con … cầu tự!


Cả hai quyết định dọn nhà đi nơi khác – nơi mà không ai biết là tôi đã từng bị té giếng, và té lầu (không lâu) sau đó. Bố mẹ tôi quyết tâm tạo cơ hội cho con có một cái lý lịch mới, trắng tinh, để làm lại cuộc đời. Đây thực là một cố gắng phi thường, rất đáng qúi nhưng (tiếc thay) hoàn toàn … vô vọng!


Gia đình tôi dọn từ dưới đường Phan Đình Phùng lên tuốt đường Duy Tân, một con đường dốc, ngay trung tâm của thành phố Đà Lạt. Giữa đường là cửa hiệu chuyên bán vật liệu xây cất nhà cửa, tên Lưu Hội Ký, nên lúc nào cũng có một chiếc xe ba gác trước cửa tiệm.


Trò chơi mà đám trẻ con chúng tôi thích nhất là ban đêm nhẩy lên xe, thả cho chạy từ đầu xuống đến cuối dốc. Xong, cả lũ lại hè nhau hì hục đẩy xe lên lại. Tôi nhỏ bé và ốm yếu nên thường được ngồi trên yên cầm lái. Bao giờ cũng chỉ được một phần ba khoảng đường là cả bọn đều mệt bá thở, phải ngừng lại để nghỉ.

Có lần, một đứa nổi quạu:

- Biểu thằng Tiến xuống đẩy luôn đi, chớ nó ngồi không như cha người ta vậy chỉ thêm nặng thôi, chớ đâu có ích lợi gì.

Tôi vênh váo:

- Đ…má, bộ mày tưởng tao ngồi chơi chắc. Dốc cao thấy mẹ, tao phải bóp thắng không ngừng xe mới khỏi bị tụt lại, chớ không làm sao tụi mày đẩy được lên tới tận đây!

Tôi có cái tên mới, Tiến Khùng, thay cho Út Khùng, kể từ bữa đó.


Và từ bữa đó, cho đến bữa nay, đã gần nửa thế kỷ qua. Chiều nay, tôi bỗng nhớ lại những kỷ niệm vào thuở ấu thời, sau khi đọc tờ Việt Weekly - VOL. IV, NO.50 - phát hành từ Garden Grove, California, ngày 7 tháng 12 năm 2006. Số báo này có đăng lại bài tường thuật về cuộc gặp gỡ và trao đổi giữa ban biên tập Việt Weekly với ông Võ Văn Kiệt, trong thời gian họ trở về nước để làm tin về hội nghị APEC 16.


Vào dịp này, cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt của nước CHXHCNVN - một nhân vật tuy đã “out” nhưng chưa “down”- tuyên bố:

“Ít nhất phải để cho ba triệu đảng viên phải có chỗ đứng yêu nước trong dân tộc chứ, nếu phủ nhận, thực là quá đáng.” Và cũng chính ông Võ Văn Kiệt, ngay sau đó, bầy tỏ sự lo âu rằng: “Nguy cơ lớn nhất của Việt Nam là tụt hậu, nghèo nàn. Chúng ta phải làm sao bắt kịp thế giới.”


Cũng như phần lớn những người cộng sản khác, ông Kiệt thường hay nói chữ, và nói … khá ngu! Việt Nam là một trong những quốc gia đã được xếp vào hạng lạc hậu, độc tài và nghèo nàn nhất thế giới từ lâu lắm rồi - chớ còn có “nguy cơ” hay “cơ nguy” (khỉ khô) gì nữa, cha nội!



Ông Kiệt, hồi nhỏ dám (cũng) bị té giếng lắm nha. Thằng chả làm tôi nhớ đến cảnh mình ngồi rà thắng, trong khi bạn bè nhễ nhại mồ hôi đẩy cái xe ba gác lên dốc Duy Tân, ở Đà Lạt. Đã vậy mà còn lớn tiếng kể công:

- Đ… má, không nhờ tao bóp thắng (liên tục) để xe khỏi bị tụt dốc thì làm sao tụi bay đẩy xe lên được tuốt tận đây!

Thiệt nghe mà muốn ứa gan, và ứa …nuớc mắt! Những kẻ chủ trương yêu nước là yêu Xã Hội Chủ Nghĩa - cái chủ nghĩa (thổ tả) đã kềm hãm cả nước VN trong tối tăm, nghèo đói, cùng quẫn, áp bức, dốt nát, bênh tật, lạc hậu … hơn nửa thế kỷ qua – nay đang lớn tiếng đòi hỏi mọi người không được “phủ nhận” chỗ đứng của họ trong lòng dân tộc!


Có lần một sĩ phu Bắc Hà nói (nhỏ) với tôi rằng: “Người cộng sản giống như những kẻ lữ hành không biết dùng bản đồ nên hay bị sa xuống hố. Cứ mỗi lần như thế, sau khi lóp ngóp bò lên lại được mặt đất, họ lại tung hô chiến thắng.”


Nghe thiệt là ớn chè đậu. Chứng kiến cái thái độ “hơn hớn tự đắc” của những người cộng sản VN, khi mới chập chững bước chân vào WTO, khiến tôi thốt nhớ đến nhận xét vừa nêu và - không dưng - muốn ói.


Nếu cứ nghe theo như miệng lưỡi của ông Võ Văn Kiệt thì người ngoại cuộc dám tưởng rằng hiện tại, ở VN, có hàng trăm đảng phái đang tham chính - chỉ riêng có Đảng Cộng Sản là bị cấm cửa, không cho hoạt động, nên họ mới có chuyện đòi hỏi tội nghiệp xin một chỗ để … đứng (xớ rớ) cho vui. Sự thực, ai cũng biết, người cộng sản không chỉ “đứng” mà còn giành ngồi (độc quyền) trên đầu trên cổ của dân tộc Việt từ hơn nửa thế kỷ nay. Ông Võ Văn Kiệt còn “thẳng thắn” cho biết là họ sẽ … ngồi luôn như vậy, nếu thấy không có gì trở ngại!


Đây là nguyên văn câu hỏi của ban biên tập Việt Weekly“Trong điều 4 của Hiến pháp quy định chỉ có đảng cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất lãnh đạo quốc gia. Như ông đã nói, quốc gia là quốc gia chung của 80 triệu người, vậy quy định như vậy có nghịch lý không?”

Và ông Võ Văn Kiệt đã trả lời (lòng vòng) như sau:

“Đảng cộng sản Việt Nam đã có vai trò đối với lịch sử của đất nước. Đảng vì dân tộc, vì đoàn kết của dân tộc, tất cả thể chế đều dựa vào dân và phục vụ nhân dân. Nếu như đảng cộng sản làm đầy đủ mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh, mà đây là một đòi hỏi hết sức chính đáng, nếu đảng cộng sản Việt Nam tiếp tục giữ được vai trò này, được sự đồng thuận của dân tộc Việt Nam, tôi nghĩ rằng đảng cầm quyền như đảng Cộng sản Việt Nam là tin cậy được … Mong muốn lớn nhất của toàn xã hội là làm sao đất nước tiếp tục ổn định để tiếp tục đổi mới và phát triển, để không xảy ra rối rắm như nhiều nước khác.”


“Nhiều nước (nào) khác” đã “xẩy ra rối rắm” vì theo chính sách đa nguyên và đa đảng thì không nghe ông Võ Văn Kiệt nói (ra), và cũng không thấy ban biên tập Việt Weekly hỏi (tới). Đang xớ rớ ở Việt Nam mà biết giữ mồm giữ miệng như vậy là phải (giá). Hỏi han, ăn nói lạng quạng dám bị đụng xe hay… lỡ bị mà kẹt luôn thì chết (mẹ).


Tôi không có gì phàn nàn ban biên tập Việt Weekly về sự dè dặt như thế. Tôi chỉ lấy làm tiếc là anh em đã không có cơ may để thực hiện lời khuyên của ông bà chúng ta để lại: “Đi hỏi già, về hỏi trẻ.”


Khi rời khỏi VN, anh em đều còn rất trẻ nên đã đi theo gia đình, hoặc theo lời khuyên của những bậc trưởng thượng (trong gia đình) mình để … vuợt biên. Khi trở về, lẽ ra, nếu hoàn cảnh cho phép, anh em nên hỏi chuyện nước non với những người trẻ tuổi như Lê Chí Quang, Nguyễn Vũ Bình, Phạm Hồng Sơn, Bạch Ngọc Dương, Lê Trí Tuệ, Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Xuân Đài … Xuất lộ của VN, hy vọng, có thể bắt đầu từ những con người quả cảm và ưu tú như thế. Chớ mất thời giờ với những ông già gần đất xa trời nhưng vẫn đĩ miệng và láu cá (như cái thứ ông Võ Văn Kiệt) làm chi. Quyền lợi đã khiến cho những người cộng sản VN trở nên… khùng hết trơn rồi.


Lâu nay, họ vẫn kể công là “nhờ sự quyết tâm và dũng cảm đổi mới của Đảng” nên cả nước mới thoát khỏi cảnh cơ hàn, đói rách. Còn ai gây ra thảm cảnh này thì những người cộng sản đã (làm bộ) quên mất tiêu rồi.


Cứ theo giọng điệu tráo trở như thế, không chừng, những nạn nhân thoát chết sau vụ Cải Cách Ruộng Đất ở VN - hồi đầu thập niên 50 - rồi cũng phải ghi nhớ công ơn của Đảng luôn. Chính Đảng đã phát động Chiến Dịch Sửa Sai (sau khi đã sát hại vài trăm ngàn người) chớ còn ai khác.


Tương tự, có lẽ những cộng đồng người Việt ở hải ngoại (kể cả những phụ nữ đang đi làm thuê làm mướn hay làm nô lệ tình dục ở Đài Loan, và những em bé đang sống trong những nhà thổ ở Cao Miên) cũng đều phải ghi nhận “chỗ đứng” của người cộng sản - như là những ân nhân - chớ phủ nhận sạch trơn sao được. Nếu không nhờ vào những chính sách bất nhơn, ngu xuẩn, và sự hà khắc của Đảng (đến độ cái cột đèn - nếu có chân - cũng phải bỏ chạy) thì làm sao mấy triệu người Việt Nam có “cơ hội” xuất ngoại, đúng không?


Trong thư toà soạn, của số báo thượng dẫn, ban biên tập Việt Weekly đã nêu lên một chủ trương đứng đắn và hợp lý: “Chúng ta là những người đã từng can đảm cầm súng chiến đấu cho niềm tin của mình. Đã từng can đảm giăng buồm đi vào biển xanh âm u cho niềm tin của mình. Thì chúng ta phải có đủ can đảm nhìn thẳng vào niềm tin của mình, nhìn thẳng vào đối phương, để tìm ra tương lai. Tương lai không phải cho riêng ai, mà cho cả dân tộc.”


Tôi xin cảm ơn anh em đã tạo cơ hội cho nhiều người “nhìn thẳng vào đối phương” (thêm một lần nữa) để nhận ra rằng CS là loại người vô phương đối thoại, nếu không có súng để dí súng vào đầu của họ!


Từ trong nước, nhà báo Huỳnh Việt Lang - người sinh năm 1968, cùng thế hệ với anh em chủ trương tuần báo Việt Weekly – đã khẳng định như thế, trước đây, vào ngày 30 tháng 10 năm 2005: “Tập đoàn cầm quyền phản động Hà nội đã khước từ cơ may đối thoại... chúng tôi sẽ tranh đấu đến cùng, hoặc toàn bộ chúng tôi bị giết, hoặc chế độ cộng sản đểu cáng vô nhân tính tại Việt Nam này phải bị đánh sập”.


Mười hai tháng sau, “chế độ cộng sản đểu cáng vô nhân tính tại Việt Nam (chưa) bị đánh sập” thì Huỳnh Việt Lang (đã) bị họ bắt giam rồi. Chúng ta đang ở tình trạng đánh không nổi, hoà không xong, và đàm cũng không được nốt.

Chuyện tìm ra tương lai cho cả dân tộc, theo như sự quan tâm và cách nói của anh em Việt Weekly, xem chừng, còn nhiều chông gai lắm.

Copyright © 2006 DCVOnline

Tưởng Năng Tiến

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Mời quý vị thưởng thức 12 loại rượu, cocktail do Fay McKay trình bày trong 12 ngày của Xmas, hehehe

---------------------------------





Image


The Drunken 12 days of Christmas– Fay McKay

ImageImageImageImage

On the first day of Christmas my true love gave to me a partridge in a pear tree.

On the second day of Christmas my true love to me 2 Cutty Sarks, and a partridge in a pear tree.

On the third day of Christmas my true love gave to me 3 Old Crows, 2 Cutty Sarks, and a partridge in a pear tree.

On the fourth day of Christmas my true love gave to me 4 Old Fitzgerald's, 3 Old Crows, 2 Cutty Sarks, and a partridge in a pear tree.

On the fifth day of Christmas my true love gave to me- 5 dry riiiiigh - rye (giggles), 4 Old Fitzgerald's, 3 Old Crows, 2 Cutty Saaarks (belching the word Sarks), and a partridge in a pear tree.

On the sixth day of Christmas my true love gave to me 6 Cuba Libre's, 5 dry riiiiigh rye, 4 Old Fitzgerald's, 3 Old Crows, 2 Cutty Saahhh , and a tree, and a bird with the fruit on the limb.

ImageImageImageImage

On, on the seventh day of Christmas my true love gave to me 7 Johnny Walkers, 6 Cuba Libre's, 5 dry rye, 4 Old Fitzgerald's , 3 Old Crows, 2 Cutty Sss, and a tree, and a tree, and a tree in the meadow.

On the eighth day of Christm, on the eighth day of Christmas my true love gave me 8 Sea Old Fashions, 7, 7, 7 Johnny Walkers, 6 Cuba Libre's, ah (skips 5), 4 Old Fitzgerald's, 3 Old Crows, 2 Cut, and a, and a surrey with the fringe on the top.

On the ninth day of Christmas my true love gave meeee 9 my, my, 9 my, mine eyes have seen the glory of the coming of the- 9 mar- margaritas, 8 Sea Old Fashions, 7 Johnny Walkers, 6 Cuba Libre's, aaahh, 4 Old Fitzgerald's, 3 Old Crows, eed uuh, uh, doo doo doo dee do (whistles).

On the tenth day of Christmas my true love gave 10 rum mai hai, 9 ria 9 ris, 9, 9 roto rotors, 8 Sea Old Fashions, 7 Johnny Walkers, 6 Cuba, iah, oh, chucka chucka chucka, aaahh, (whistles).

On the eleventh day of Christmas my true gave love to meeeeeee 11, 11, 11 (makes puking sounds and coughs thank you) bloody mary's, 10 rum mai hai, 9 ria, 8 Sea (quickly runs through the rest of it making gibberish noises then whistles)

On twelfth day of Christmas my true love gave meeeee 12 by my sweetie, 11 of that green stuff, 10 mai mahama, 9 rigor mortis, 8 Sea Old Fash, 7 somma, 6 shuue, ohh uuhhh, 4, 4 Old Fitz, 4, 4 Old Fitzgerald's, 3 Old Crows, 2 City Parks and a cartridge in a pear treeeee.

ImageImageImageImage

The Drunken 12 days of Christmas– Fay McKay

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Truyền thống chính là khuynh hướng chính trong mùa Lễ Giáng Sinh


Theo bản thăm dò của hãng thông tấn AP và AOL được công bố ngày hôm nay, thì khuynh hướng truyền thống vẫn là khuynh hướng đa số, khuynh hướng phổ biến trong mùa Giáng Sinh.

Theo kết quả thăm dò nói trên, chúng ta có thể ghi nhận như sau:

1. Gửi thiệp Giáng sinh qua email hay qua thư thường?: Kết quả thăm dò cho thấy đa số người Mỹ (64%) vẫn chọn gửi thiệp Giáng sinh qua bưu điện hơn là số người chọn cách chúc Giáng Sinh qua email (chỉ 16%).

2. Rất nhiều người Mỹ muốn nói “Merry Christmas” hơn là câu nói rất chính trị (politically correct) là “Happy Holidays”. Sáng nay, TT Bush gọi điện thoại chúc mừng Giáng sinh cho binh sĩ nhưng lại dùng chữ “Happy Holidays” thay vì Merry Christmas!

3. 64% số người Mỹ vẫn theo thói quen cũ là gọi điện thoại chúc mừng Giáng sinh và năm mới cho nhau, thay vì gửi email (chỉ 33%).

4. Dầu số người mua sắm quà Giáng sinh qua internet đã gia tăng đáng kể (70%), nhưng không vì thế mà không đi đến các tiệm để mua sắm. Thói quen cũ vẫn khiến các tiệm và khu thương mại vẫn rất bận rộn.

5. 90% số người Mỹ vẫn muốn nhìn thấy các toà nhà công cộng trưng bày Giáng sinh, cho dù việc trang trí này nhiều khi tạo ra rắc rối như khiếu nại, phản đối hay thưa kiện.

Qua thăm dò nói trên, báo USA Today đã chạy hàng tựa trong số báo ra hôm nay là khuynh hướng truyền thống vẫn thắng thế trong mùa Giáng sinh năm nay (Christmas tradition trumps trendy).

Cũng trong dịp này, trên tờ The Daily Dispatch của Anh cũng chạy hàng tít: Christmas is the time for tradition, not innovation (Giáng sinh là thời điểm của truyền thống, chứ không phải điều mới lạ).

Trong cái nhìn đó, từ châu Âu đến Mỹ châu, khuynh hướng truyền thống vẫn chiếm ưu thế trong mùa Giáng sinh năm nay.

Nguyễn Dương

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Ngôi sao giáng sinh
Đây là Giáng sinh đầu tiên bà tôi không có ông bên cạnh. Đêm trước Giáng sinh, bà gần như không ngủ để đợi gia đình chúng tôi đến. Khi đến nơi, ôm chào bà xong, Donna, Karen, Kristivà tôi chạy ào vô nhà. Khôngc ó ông, căn nhà trống vắng hẳn đi, và chúng tôi biết nhiệm vụ của mình là làm sao cho ngày lễ Giáng sinh năm nay trở nên tậht đặc biệt đối với bà như đã hứa với ông trước khi ông qua đời.

Đầu tiên chúng tôi ráp cây thông mà ông cất trong tủ. Mặc dù là thông giả nhưng nó trông chẳng khác gì cây thật. Ông để rất nhiều đồ trang trí tuyệt đẹp chung với cấy thông, trông đó có rất nhiều thứ đã được ông lưu giữ rất lâu từ khi chúng tôi còn bé. Có lẽ mỗi món đồ đều gắn với 1 kỷ niệm nào đó của ông. Mẹ tôi gắn lên cây thông mấy dây bóng đèn trắng và đỏ, mấy chị em tôi cẩn thận treo các món đồ trang trí xinh xắn lên cây, và cuối cùng bố tôi chịu trách nhiệm thắp sáng cây thông.

Chúng tôi lùi lại chiêm ngưỡng thành quả của mình. Với chị em tôi nó trông lộng lẫy không kém cây thông Giáng sinh trưng bày ở khu trung tâm thành phố. Nhưng dường như nó còn thiếu gì đó.
- Ngôi sao của Bà đâu rồi ạ ? - Tôi hỏi. Tất cả chúng tôi đều biết ngôi sao là vật trang trí yêu thích nhất của bà trên cây thông.
- Chắc hẳn nó ở đâu đây thôi. - Bà nói và bắt đầu lục lọi trong mấy cái hộp lần nữa. - Ông của các con luôn gói ghém cẩn thận mọi thứ khi hạ cây thông xuống.

Sau khi lục tung hết thùng này đến thùng khác, chúng tôi chuyển sang tìm kiếm trong tủ áo quần của ông nhưng vẫn không tìm thấy ngôi sao, tôi thấy mắt bà bắt đầu ngấn nứơc và gương mặt đầy vẻ thất vọng. Ngôi sao của bà không phải là một vật trang trí thông thường, mà là một ngôi sao mạ vàng rất tinh xảo, gắn thêm những món trang sức nhiều màu và bóng đèn xanh chớp tắt. Đây là món quà ông mua tặng bà từ năm mươi năm trước, nhân ngày lễ giáng sinh đầu tiên họ được ở cạnh nhau. Giờ đây, ngôi sao cũng mất luôn ngay dịp lễ giáng sinh đầu tiên không có ông bên cạnh.

- Chúng cháu sẽ mua cho bà một ngôi sao mới. - Kristi đề nghị.
- Hay cháu sẽ lấy giấy làm thành một ngôi sao thay thế nhé ! - Karen nói thêm.
- Không ! - Bà nói - Năm nay chúng ta sẽ không gắn ngôi sao.

Hình như Giáng sinh năm ấy tuyết rơi nhiều hơn.
Sáng hôm sau, chúng tôi thức dậy sớm để xem ông già Noel đã để lại gì ở gốc cây Giáng sinh tối hôm qua. Sau bữa ăn sáng truyền thống gồm bánh táo và gà tây, cả nhà bắt đầu mở quà. Bố tôi có nhiệm vụ chuyển quà cho mọi người để ai cũng có thể mở quà cùng một lúc. Ông già Noel tặng tôi một bộ đồ chơi gia đình mà tôi ao ước, Donna được một con búp bê biết cười. Chị Karen mừng rỡ đón con búp bê cưỡi ngựa và Kristi có một bộ ấm trà bằng sứ.

- Món quà cuối cùng là của ông gửi cho bà. Bố nói với một vẻ bí mật.
- Của ai ? - Giọng bà lộ vẻ ngạc nhiên.
- Con nhìn thấy gói quà trong ngăn tủ của bố khi lấy cái cây xuống. - Mẹ tôi giải thích - Do nó đã được gói lại nên con đặt ở bên gốc cây. Con nghĩ đó là quà của mẹ.
- Bà mở quà nhanh lên đi. - Karen hào hứng giục.
Bà run run mở hộp quà. Gương mặt bà sáng bừng hạnh phúc khi bà lấy ra một ngôi sao mạ vàng sáng lấp lánh. Bà run run mở tấm thiệp được đặt cẩn thận dưới đáy hộp :
" Đừng giận anh nhé. Anh lỡ làm vỡ ngôi sao của em khi dọn dẹp mấy món đồ trang trí, và không dám cho em biết mặc dù cũng đã đến lúc cần có một cái mới. Anh hy vọng ngôi sao này cũng mang lại cho em nhiều niềm vui như cái đầu tiên. Chúc mừng Giáng sinh.
Thương yêu,
Bryant"

Vậy là cuối cùng cây thông Giáng sinh của bà cũng có một ngôi sao, ngôi sao của tình yêu mà ông bà đã dành cho nhau. Ngôi sao đã mang ông về trong tim của mỗi chúng tôi và lễ Giáng sinh năm ấy trở nên ý nghĩa hơn bao giờ hết.



- Thái Hiền-
Theo The Christmas Star



" Tình yêu mạnh hơn cái chết và vượt qua nỗi sợ hãi cái chết.
Chỉ có tình yêu mới làm cho cuộc sống có viễn cảnh và có sức sống hơn."
- Ivan Turgueniev-

User avatar
tieuvuvi
Posts: 2912
Joined: Sun Nov 26, 2006 1:29 pm
Been thanked: 3 times
Contact:

Post by tieuvuvi »

Image Bà Maria Minh Đức Vương Thái Phi tổ chức lễ Giáng Sinh đầu tiên năm 1643 trong dinh con là Tổng Trấn Nguyễn Phúc Khê.

Nguyễn Trọng


Muốn hiểu rõ tầm quan trọng của lễ Giáng Sinh đầu tiên được tổ chức long trọng tại tư dinh Hoàng tử Nguyễn Phúc Khê, người con trai thứ mười của chúa Nguyễn Hoàng, chúng ta cần phải đặt hiện tượng tôn giáo hiếm hoi này vào bối cảnh lịch sử, địa dư và chính trị của nó.

Năm ấy là năm 1643, cách nay đúng 363 năm. Gia phả nhà Nguyễn Phước, tức Phước tộc, không hề nói tới đêm Giáng Sinh này nhưng có nhắc tới tên bà Minh Đức Vương Thái Phi, mẹ của Hoàng tử Khê. Ông là người tài giỏi, có công phục vụ Phước tộc thời đó.

Buổi lễ được tổ chức vào thời kỳ Trịnh Nguyễn phân tranh, bắt đầu từ Trịnh Tùng (1570-1601). Ông là Chúa Trịnh thứ nhất, tự xưng làm Chúa, cha truyền con nối, nắm hết quyền hành ở miền Bắc, gọi là Đàng Ngoài. Các chúa Trịnh cai trị Đàng Ngoài trong suốt 216 năm, cho tới năm 1786 là lúc Trịnh Khải bị loạn kiêu binh đuổi, phải chạy về Sơn Tây thì bị bắt đem nộp cho nhà Tây Sơn. Giữa đường, Trịnh Khải tự tử. Cái chết của nhà chúa cuối cùng này chấm dứt vai trò của Chúa Trịnh ở miền Bắc, chạy dài được chín đời Chúa.

Còn Chúa Nguyễn hùng cứ ở miền Nam, Đàng Trong, bắt đầu từ Nguyễn Hoàng. Năm Mậu Ngọ (1558) đời vua Lê Anh Tông, Trịnh Kiểm là anh rể (lấy chị của Nguyễn Hoàng là Ngọc tâu vua cho Nguyễn Hoàng vào trấn đất Thuận Hoá. Nếu Chúa Trịnh có chín đời Chúa, thì Chúa Nguyễn có tất cả mười ba vua, bắt đầu từ vua Gia Long (1802-1820) cho tới nhà vua cuối cùng là Bảo Đại (1926-1945).

Còn nói về các Chúa Nguyễn ở Đàng Trong thì lạ lùng thay, người ta cũng đếm được tất cả chín đời, bắt đầu từ Nguyễn Hoàng cho tới nhà Chúa cuối cùng là Nguyễn Phúc Thuần (1765-1777). Lấy danh nghĩa phò vua Lê, Chúa Trịnh và Chúa Nguyễn chia nhau giang sơn đất nước, dùng sông Linh Giang (hay gọi tắt là sông Gianh) làm biên giới và lấy

“Hoành sơn nhất đại, vạn đại dung thân” như lời Nguyễn Bỉnh Khiêm viết trên giấy sau khi được Nguyễn Hoàng sai người đem vàng bạc làm lễ vật để hỏi kế giữ thân. (Hoành Sơn là Đèo Ngang ở tỉnh Quảng Bình).

Đó là nói về mặt chính trị và địa dư, còn nói về mặt tôn giáo thì dưới thời Minh Đức Vương Thái Phi (1568-1648) đạo Thiên Chúa đã bắt đầu bị cấm đoán và bách hại. Ở ngoài Bắc, tức Đàng Ngoài, Chúa Trịnh Tráng (1627-1658) đã ban hành 5 sắc chỉ cấm đạo, và ở Đàng Trong, Chúa Sãi (Nguyễn Phước Nguyên (1615-1635) cũng đã ra sắc chỉ cấm đạo từ năm 1625.



Vai trò của Minh Đức Vương Thái Phi

Ông Phạm Đình Khiêm, nói được là một sử gia chuyên viết về sự bành trướng ban đầu của Thiên Chúa giáo tại Việt Nam, đã viết cả một cuốn sách về Minh Đức Vương Thái Phi mà ông gọi là Lịch sử Khai Nguyên Công Giáo Việt Nam. Người viết đã căn cứ vào nhiều chi tiết trong cuốn sách sưu tầm và nghiên cứu rất công phu của ông để viết bài này hầu quí độc giả VNTP, nhân dịp mùa Giáng Sinh năm nay.

Theo sách nói trên thì “Hoàng Hậu” và “Vương Phi” là tiếng để chỉ vợ chính và vợ lẽ của bậc vua chúa. Còn tiếng “Phu nhân” dùng để chỉ vợ quan hay dân có ít nhiều địa vị. Sở dĩ bà Minh Đức được xưng hô là Vương Thái Phi vì bà đứng đầu hàng thứ phi. Theo nguồn dữ liệu nhà Nguyễn thì chỉ có vài chi tiết sơ lược về người đàn bà được các linh mục truyền giáo ngoại quốc coi là linh hồn của đạo Chúa lúc bấy giờ. Có một vài sử gia người Thiên Chúa giáo đã đề nghị Toà Thánh La Mã tôn vinh bà Maria Minh Đức vào bậc Thánh nhân nhưng cho đến nay, tên tuổi của bà chỉ được nhắc nhở nhiều trong các sử liệu viết theo dạng ký sự của các linh mục truyền giáo, đặc biệt là của linh mục Đắc Lộ, tiếng Pháp là Alexandre De Rhode, người đã có công đầu tạo ra chữ Quốc ngữ, phiên âm từ vần La Tinh. Vào thời đó, chữ La Tinh là văn tự chính thức của Toà Thánh La Mã, các lễ nghi phụng vụ đều được cử hành bằng ngoại ngữ này. Mãi về sau, theo nghị quyết của Cộng Đồng Vatican II bế mạc vào năm 1965, ngôn ngữ Việt mới được xử dụng trong Thánh Lễ. Người viết bài này nhớ lại thời còn thơ ấu, vào nhà thờ buổi sáng, chỉ nghe các linh mục người Việt dùng tiếng La tinh để cử hành Thánh lễ nghe lạ tai nhưng rất trang nghiêm và “thần thánh”. Bởi vậy, ngày nay theo lời yêu cầu của rất nhiều tín hữu cao niên, Toà Thánh Vatican đã cho xử dụng lại tiếng La tinh để cử hành Thánh lễ trong một vài trường hợp tùy nghi theo yêu cầu.

Chính linh mục Đắc Lộ đã rửa tội cho bà Minh Đức Vương Thái Phi vào năm 1625, khi tuổi bà đã ngoài ngũ tuần. Linh mục ngoại quốc đã lấy Tên Thánh là Maria Madalena để đặt cho bà và vì vậy, bà thường được gọi là bà Maria Minh Đức Vương Thái Phi.

Là một quả phụ, bà ở ngay trong dinh Tổng Trấn Nguyễn Phúc Khê là con ruột, trong một toà nhà đẹp xây trên bờ sông Hương. Hoàng tử này có lúc đã muốn nghe lời mẹ để theo đạo Chúa nhưng ông cứ lưỡng lự mãi. Là một vị đại công thần trong triều đình tinh thông võ bị và mưu trí hơn người, ông được chúa Tiên là Nguyễn Hoàng bổ nhiệm vào chức chưởng cơ. Khi Chúa Nguyễn Hoàng chết vào năm 1613 và người anh của ông là Nguyễn Phúc Nguyên lên nối nghiệp, ông được thăng tới chức Tổng Trấn khi tuổi đời chưa tới mươi. Khi Sãi Vương Nguyễn Phúc Nguyên qua đời, con của ông là Công Thượng Vương lên thay, Hoàng thúc là Hoàng Tử Khê được uỷ nhiệm hoàn chỉnh nền hành chính trong nước và phụ giúp tân vương trong mọi việc triều chính. Hoàng tử Khê chết năm 1646, thọ tuổi, đã từng giúp việc triều chính 40 năm, dưới 3 đời Chúa. Ông được chôn tại khu sĩ, tỉnh Thừa Thiên, có đền thờ ở làng Nam Phổ và được thờ tại Thái Miếu.

Hoàng tử đại công thần nhà Nguyễn này vẫn coi tôn giáo là việc riêng, lòng trung thành với ba đời Chúa Nguyễn mới là việc chung, và là sự nghiệp và nghĩa vụ cao cả, cho nên việc ông không theo đạo của hiền mẫu cũng là một chuyện dễ hiểu mà thôi.

Chỉ có một điều khác lạ và có thể được coi như “bất hiếu” là để chứng tỏ lòng trung thành với Chúa Nguyễn, sau khi bị Chúa Nguyễn có vẻ khiển trách ông quá gần gũi với các giáo sĩ ngoại quốc, ông đã cho người phá nhà thờ của bà Minh Đức xây trong tư dinh của mình, (xin xem đoạn sau) để chứng tỏ mình không quá gần gũi như vậy...

Tuy không theo đạo mẹ, Hoàng Tử Khê, theo ký sự để lại đời sau của Linh mục Đắc Lộ, vẫn tham dự lễ Giáng Sinh được tổ chức ngay tại tư dinh Tổng Trấn của mình vào năm 1643, chỉ hai năm trước khi ông qua đời. Theo ký sự này thì một đám đông người Công giáo và người lương dân (tức không theo đạo này) đã tham dự lễ Giáng Sinh cùng với bà Maria Minh Đức trong một ngôi nhà thờ nhỏ có thể chứa được 300 người. Linh mục viết tiếp: “Một máng cỏ được trang trí rất đẹp trong nhà thờ nhỏ của một bà quý phái, tên Maria, thân mẫu của chú nhà chúa (tức Sãi Vương Nguyễn Phúc Nguyên). Bà là một Kitô hữu kỳ cựu, có đức tin can trường qua nhiều biến cố thử thách. Lòng thành kính của bà nổi bật trong lễ Giáng Sinh năm nay, bà cho con bà (Hoàng tử Khê) và các cháu của bà đến thờ lậy và tôn vinh Vua Vinh Quang giáng trần, bà rao giảng lời Chúa cho những người từ nhiều nơi đến viếng Máng Cỏ Thánh. Lễ Giáng Sinh năm đó không có linh mục cử hành mà chỉ có sự hiện diện của các tín hữu và lương dân, bà Maria Minh Đức là người chủ tọa và giảng thuyết một cách xác tín và lưu loát.

Trên thực tế, đạo Chúa lễ Giáng Sinh không phải lễ quan trọng và ý nghĩa nhất. Lễ Phục Sinh, tức lễ Chúa sống lại, mới là lễ then chốt của đạo Chúa, vì nếu Chúa không sống lại từ cõi chết mà chết luôn không sống lại thì Chúa đâu có phải là Chúa, mà chỉ là một người phàm trần thế tục như mọi người khác, chết là hết..., buông tay nằm xuống luôn.

Nhưng đối với nhiều người Công giáo và nhất là vào thời Chúa Nguyễn, lễ Giáng Sinh thường mang nhiều mầu sắc huy hoàng rực rỡ. Hơn nữa, lễ này lại được tổ chức bất thường ngay trong tư dinh một quan đại thần, trong một bối cảnh thời gian mà đạo Công giao còn bị cấm đoán thì thật là hiếm có và lạ lùng. Bởi vậy, các linh mục ngoại quốc đã chú trọng nhiều tới lễ Giáng Sinh năm ấy và tường thuật một cách tỉ mỉ, coi đây như là một biến cố tôn giáo to lớn trong lịch sử bành trướng của đạo này lúc khởi thuỷ.

Và cũng chính vì những lý luận trên mà người viết đã cố công sưu tầm các sử liệu trong và ngoài nước để mô tả về lễ Giáng Sinh đầu tiên trong dinh Chúa Nguyễn vào năm 1643. Người viết coi đây là một biến cố tôn giáo có tính cách lịch sử vì đa số độc giả không phải là người theo đạo Chúa. Nhưng nếu không có lễ Giáng Sinh đó thì bài này không được thực hiện, như là một chứng tích lịch sử, để lại cho con cháu về sau.



Phá nhà thờ

Theo sử liệu và lời giải thích của các linh mục ngoại quốc thì vào năm 1644, chỉ một năm sau lễ Giáng Sinh lịch sử nói trên, bà Maria Minh Đức đã gặp lại linh mục Đắc Lộ để xưng tội và rước lễ. Theo sử liệu của các linh mục này thì Chúa Nguyễn bấy giờ là Nguyễn Phúc Lan, còn gọi là Chúa Thượng (1635-1648) lo sợ linh mục Đắc Lộ hiểu biết nhiều về khoa thiên văn địa lý, có thể giúp cho giòng họ Hoàng Tử Khê làm lớn. Linh mục này có thể chỉ dẫn cho giòng họ của Hoàng tử cách để mồ, để mả vì năm nay bà Minh Đức Vương Thái Phi đã ngoài thất tuần, có thể qua đời bất cứ lúc nào. Chính vì mối lo sợ này mà Chúa Nguyễn đã cho người canh gác tư dinh của bà và các giáo sĩ cũng e ngại không dám lui tới. Do đó, hy sinh chữ hiếu và quá trọng chữ trung, Hoàng Tử Khê đã phá nhà thờ nhỏ của hiền mẫu.

Bà Maria Minh Đức như điên như dại, rất đau khổ, bà đi lang thang trong tám ngày liền, không trở về nhà. Bà tự coi mình có lỗi trong việc nhà thờ bị phá, không còn nơi thờ tự, có lẽ vì bà đã tổ chức một lễ Giáng Sinh quá long trọng và đông đảo vào thời kỳ đạo Chúa vẫn còn bị cấm đoán và bách hại. Cha Đắc Lộ đã phải hết lời an ủi bà và cho bà biết người Công giáo từ nay có thể tụ họp ở nhiều nơi khác, không phải chỉ có nhà thờ trong dinh Tổng Trấn mới là chỗ hội họp duy nhất.

Từ ngày nhà thờ bị phá, bà Maria Minh Đức phải giữ đạo một cách lén lút tuy bà vẫn được coi như linh hồn của các tín đồ đạo Chúa lúc bấy giờ.



Những ngày cuối cùng


Sau khi nhà thờ bị phá ít lâu, không rõ vào thời gian nào, có một chiếc tàu chở ba nữ tu dòng Thánh Phan xi cô người Phi Luật Tân cùng hai cha tuyên úy người Tây Ban Nha bị bão đánh bạt, phải vào cửa Hội An. Bà Maria muốn đến xem mặt các nữ tu ngoại quốc, và để săn sóc phục vụ các nữ tu những gì cần thiết. Nhưng bà sợ làm phiền đến con là đại thần trong triều đình vẫn còn chủ trương cấm đạo, cho nên bà đã lén lút thuê một chiếc thuyền nhỏ từ Huế tới Hội An để thăm các nhà truyền giáo. Khi từ biệt các nữ tu, bà tỏ ý ao ước nhận được một áo dòng tu để dùng làm khăn liệm xác khi bà nằm xuống. Ý nguyện của bà đã được toại nguyện, không những bà đã nhận được chiếc áo của nữ tu trong dòng Thánh Phan xi cô mà bà còn được nhận là người của dòng tu này, tuy bà sống ở ngoài đời như một bà quả phụ, con nhà quý phái sang trọng.

Sau khi Hoàng tử Khê con bà, chết năm 1646 thì bà sống rất cô đơn, không người trong triều đình che chở. Năm 1648, Chúa Nguyễn phúc Lan cũng qua đời luôn. Người ta phỏng đoán bà Minh Đức Vương Thái Phi mất vào năm 1649 và người ta cố hình dung xác bà được liệm trong chiếc áo dòng nữ tu Thánh Phan xi cô, chiếc áo mà bà đã được các nữ tu dòng này trao tặng ở cửa Hội An mấy năm về trước. Bà chôn ở đâu không ai biết.

Theo các sử liệu ngoại quốc thì khi bà chết, các cháu của bà đã hỗn xược vào phòng bà để lục soát các đồ vật, trong đó có các ảnh Thánh nhân và một chiếc khăn nhỏ còn đẫm máu. Các cháu bà đều coi bà là một người đồng bóng phù thủy, thờ một chiếc khăn đẫm máu người.

Thật ra chiếc khăn nhỏ này có đẫm máu, nhưng máu đây là máu của các thánh tử đạo đã chết dưới thời Chúa Nguyễn mà con bà là Hoàng tử Khê đã hết lòng trung thành, đặt chũ trung lên trên chữ hiếu. Ông Hoàng này vẫn coi tôn giáo là một tín ngưỡng có tính cách riêng tư, Thiên Chúa thì ở xa mà nhà Chúa thì ở gần ngay trước mặt...

Dù sao, cuộc đời và sự nghiệp tôn giáo của bà Maria Minh Đức Vương Thái Phi cũng dính liền với đêm Giáng Sinh năm ấy, cách nay đúng 363 năm và cũng là thời gian mà bài này được thực hiện, với tất cả tấm lòng tôn vinh một quả phụ can đảm đã làm gương sáng cho những người theo đạo Chúa lúc đó, và mãi mãi về sau...

Nguyễn Trọng

(Mùa Giáng Sinh năm 2006)
Image

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Bài Thánh Ca Buồn

Nhạc và Lời : Nguyễn Vũ
Tiếng Hát : Đàm Vĩnh Hưng

"Bài Thánh ca buồn" được viết trong hai giờ đồng hồ, vào tháng 10/1972 và ngay lập tức được hãng đĩa Sơn Ca mua độc quyền, ca sĩ Thái Châu là người đầu tiên thể hiện... Để hiểu thêm về xuất xứ của ca khúc này, phóng viên đã có cuộc gặp gỡ với nhạc sĩ Nguyễn Vũ - tác giả của ca khúc "Bài Thánh ca buồn". Bài Thánh ca đó còn nhớ không em, Noel năm nào chúng mình có nhau, long lanh sao trời đẹp thêm môi, mắt. Áo trắng em bay tựa cánh thiên thần.... Giai điệu ngân vang đó đã khơi gợi biết bao điều.

Nhạc sĩ Nguyễn Vũ tên thật là Nguyễn Tuấn Khanh, sinh năm 1944 tại Hà Nội nhưng suốt thời niên thiếu ông sống ở Đà Lạt. Chú ruột dạy vĩ cầm, bạn của bố ông cũng là nhạc sĩ, vì thế từ nhỏ Nguyễn Vũ đã hát cho Ban thiếu nhi Đài Phát thanh Đà Lạt. Năm 12 tuổi, cậu bé Khanh nhận được phần thưởng giải nhất đơn ca thiếu nhi của đài là một cây đàn mandollin - như là một định mệnh - cậu bé Khanh đã gắn bó với âm nhạc suốt gần nửa thế kỷ và trở thành nhạc sĩ Nguyễn Vũ sau này. Năm 23 tuổi, nhạc sĩ Nguyễn Vũ đã có tác phẩm đầu tay tạo được tiếng vang: ca khúc Huyền thoại chiều mưa rồi lần lượt là Lời cuối cho em, Bài Thánh ca buồn, Nhìn nhau lần cuối, Lời cuối cho người tình... thế nhưng người ta chỉ ấn tượng nơi ông với mỗi ca khúc Bài Thánh ca buồn.

Lão nhạc sĩ 61 tuổi bồi hồi nhớ lại: "Thuở ấy tôi là một cậu bé 14 tuổi ngày ngày đi lễ ở nhà thờ Con gà (TP Đà Lạt), sở dĩ tôi "chịu khó" đi lễ bởi vì phát hiện ra một cô gái rất xinh và ngoan đạo mỗi ngày vẫn ngang qua ngõ nhà tôi để đến nhà thờ. Trái tim vụng dại của thằng con trai mới lớn đập loạn nhịp trước bóng hình thiếu nữ tóc xõa vai mềm bềnh bồng trong gió cao nguyên.

Ngày lại qua ngày suốt hơn ba tháng trời tôi âm thầm, lầm lũi làm "cái đuôi" cô ấy, kẻ trước người sau đi về mỗi bận trên 3km đường đèo nhưng một lời bẻ đôi không dám thốt. "Lòng thành" của tôi chỉ được hưởng một "ân huệ" cỏn con: Tôi được biết cô ấy tên Th., lớn hơn tôi 2 tuổi... Thế rồi một buổi chiều gần lễ Giáng sinh, tan lễ ra thì trời đổ mưa to, "đối tượng" của tôi nép vội vào một mái hiên trú mưa, tôi cũng... trú tạm bên cạnh, hai người chỉ cách nhau độ một gang tay. Hòa lẫn trong tiếng mưa là giai điệu quen thuộc của bản Thánh ca Đêm Thánh vô cùng (Silent night) vẳng ra từ ngôi nhà gần đấy: Đêm Thánh vô cùng, giây phút tưng bừng, đất với trời, se chữ đồng, đêm nay Chúa con thần thánh tôn thờ.... Th. đưa tay hứng lấy những giọt nước mưa và khẽ hát theo.

Tôi lặng người. Giọng hát Th. sao mà buồn da diết. Tự dưng tôi cảm thấy hết... sợ quê, khẽ đưa tay vuốt nhẹ lên... những hạt mưa bụi li ti bám bên ngoài chiếc áo ấm của Th., bất chợt Th. quay sang tôi nhoẻn miệng cười: "Cảm ơn nghen!". Mưa tạnh, "người trong mộng" đã khuất dạng tự bao giờ mà thằng con trai 14 tuổi vẫn còn đứng ngẩn ngơ như "một nửa hồn tôi mất".

Ba ngày sau gia đình tôi chuyển vào Sài Gòn sinh sống, thế là hết. Tâm trạng tôi lúc đó y như người vừa đánh mất một vật quí giá. Từ đó mỗi khi chợt nghe bài Thánh ca Đêm Thánh vô cùng lòng tôi lại tái tê với ánh mắt, nụ cười hồn nhiên, thánh thiện tựa thiên thần của "người ấy"

Ôm hình bóng ấy cho đến mãi 14 năm sau, tình cờ nghe lại Đêm Thánh vô cùng từ chiếc máy đĩa bỗng dưng cảm xúc từ một mối tình thánh thiện, hồn nhiên như trẻ thơ - tưởng như đã vùi sâu dưới lớp bụi thời gian - chợt ùa về trong ký ức, thôi thúc tôi"

Và Bài Thánh ca buồn đã được viết trong hai giờ đồng hồ vào tháng 10 mùa Trung thu năm 1972 và ngay lập tức được hãng đĩa Sơn Ca mua độc quyền, ca sĩ Thái Châu là người đầu tiên thể hiện. Các ca sĩ hát thành công ca khúc này còn có Khánh Ly, Elvis Phương và Quang Minh. Khi Bài Thánh ca buồn trở nên phổ biến khắp Sài Gòn, đã đôi lần tôi quay về Đà Lạt mong tìm gặp "người xưa" nhưng nàng đã biền biệt nơi nào.

User avatar
tieuvuvi
Posts: 2912
Joined: Sun Nov 26, 2006 1:29 pm
Been thanked: 3 times
Contact:

Post by tieuvuvi »

Image
ĐIỀU ƯỚC ĐÊM GIÁNG SINH

Khi bé Amy Hagadorn vòng qua góc phòng họp bên cạnh lớp học, cô bé không để ý nên va phải một cậu bé học lớp 5 đi ngược lại.

Cậu này hét vào mặt cô bé : "Đi đứng thế hả, đồ dị hợm", sau đó với ánh mắt giễu cợt, cậu ta nhấc chân phải lên và bắt chước dáng đi cà nhắc của Amy.

Bị xúc phạm, nhưng cố hết sức, Amy tự nhủ "kệ xác hắn" và lầm lũi bước về lớp học. Thế nhưng khi đi học về, Amy cứ nghĩ mãi về hành động của đứa bé kia, và cậu ta không phải là đứa duy nhất. Kể từ lúc học lớp 3, Amy đã phải chịu đựng những lời giễu cợt của các bạn về cách phát âm và cái chân cà nhắc của mình. Amy cảm thấy tủi thân, trong phòng học đầy bạn bè, nhưng cô bé lúc nào cũng thấy mình đơn độc.

Bữa ăn tối hôm đó, Amy chẳng nói một lời nào. Mẹ cô bé đoán ngay là đã có gì không hay xảy ra. Để giúp bé vui hơn, bà thông báo: "Amy này, có một cuộc thi về điều ước Đêm Giáng sinh. Hãy viết thư cho ông già Noel và con có cơ hội đạt giải thưởng. Mẹ nghĩ cô bé tóc vàng đang ngồi trên bàn ăn có thể tham gia đấy."

Amy cười khúc khích, cuộc thi có vẻ thú vị. Amy bắt đầu miên man suy nghĩ về điều ước của mình. Chợt cô bé mỉm cười, biết mình phải ước gì. Lấy giấy và bút chì, cô bé bắt đầu viết về điều ước của mình bằng câu "Kính gửi ông già Noel".

Cả nhà bắt đầu đoán già đoán non Amy sẽ ước gì, chị Amy - Jamine và mẹ cô đoán Amy sẽ ước con búp bê có 3 chân, bố Amy lại đoán là một cuốn sách hình. Còn Amy thì vẫn giữ bí mật. Đây là bức thư Amy gửi ông già Noel.

"Kính gửi ông già Noel,
Cháu tên là Amy. Năm nay cháu 9 tuổi. Cháu có chuyện khó xử ở trường. Ông có thể giúp cháu không? Các bạn luôn chế giễu cách cháu phát âm và cái chân cà nhắc của cháu. Cháu bị bệnh liệt não. Cháu chỉ ước một ngày không bị cười nhạo...

Thương yêu ông
Cháu Amy"

Hôm ấy tại đài phát thanh WJTL ở Fort Wayne, bang Indiana, rất nhiều thư từ khắp nơi đổ về tham gia cuộc thi "Điều ước đêm Giáng sinh. Nhân viên đài đôi khi phải bật cười vì những món quà khác nhau mà các cô bé, cậu bé mong ước.

Đến lá thư của Amy, giám đốc Lee Tobin đọc đi đọc lại mãi. Ông biết liệt não là một căn bệnh rối loạn cơ, mà bạn bè của Amy chắc chẳng thể nào hiểu được. Ông cho rằng, cần phải cho mọi người ở Fort Wayne nghe về câu chuyện đặc biệt của cô bé học lớp 3 và điều ước khác thường của cô. Ông nhấc máy gọi một tờ báo địa phương đến.

Ngày hôm sau, hình Amy và lá thư cô bé gửi ông già Noel xuất hiện trên trang nhất của tờ News Sentinel. Câu chuyện nhanh chóng lan nhanh. Trên cả nước, báo chí, đài phát thanh và truyền hình đều tường thuật về câu chuyện của cô bé ở Fort Wayne, Indiana, cô bé chỉ mong một món quà đơn giản nhưng đầy ý nghĩa của đêm Giáng Sinh - một ngày không bị cười nhạo.



Hôm ấy như thường lệ bưu tá lại đến nhà Hagadorn. Rất nhiều thư được gửi cho Amy, cả trẻ em và người lớn trên khắp nước Mỹ. Đó là nhưng thiệp mừng hoặc những lời động viên khích lệ.

Suốt mùa Giáng sinh, hơn 2 ngàn người trên khắp thế giới đã gửi đến cho Amy những lá thư thân ái và động viên. Cả nhà Amy đọc từng lá thư một. Một số viết rằng họ cũng bị tật và bị chế giễu khi còn nhỏ. Mỗi lá thư là một lời nhắn gửi đặc biệt. Thông qua những lá thư và thiệp của mọi người, Amy phát hiện ra một thế giới toàn những bạn bè thực sự quan tâm và lo lắng cho nhau. Cô bé nhận ra rằng, không còn bất cứ lời chế giễu nào có thể làm cho cô cảm thấy bị bỏ rơi.

Nhiều người đã cảm ơn Amy đã dám mạnh dạn bày tỏ mong ước của mình. Những người khác động viên Amy bỏ ngoài tai những lời chế nhạo và phải luôn luôn ngẩng cao đầu. Lynn - một cô bé học lớp 6 ở Texas, đã gửi cho Amy: "Mình muốn làm bạn của cậu và nếu cậu muốn thăm mình, chúng ta có thể chơi đùa với nhau. Không ai có thể cười cợt chúng ta, và dù họ có làm như thế, chúng mình cũng chẳng thèm nghe."

Amy đã có một điều ước thật đặc biệt không bị giễu cợt ở trường tiểu học South Wayne. Hơn thế, tất cả mọi người ở trường được thêm một bài học. Cả thầy và trò cùng nói chuyện với nhau về việc chế nhạo đã làm cho người khác cảm thấy bị tổn thương như thế nào.

Năm đó, thị trưởng Fort Wayne chính thức tuyên bố ngày 21 tháng 12 là ngày Amy Jo Hagadorn trên khắp thành phố. Thị trưởng giải thích rằng, bằng cách dám đưa ra một điều ước đơn giản như thế, Amy đã dạy cho mọi người một bài học.

Thị trưởng phát biểu rằng "Mọi người đều mong muốn và xứng đáng được người khác đối xử tôn trọng, thân ái và quý mến".

Alan D. Shultz
Image

Post Reply