Tin Trong Nước

Xin nhớ: tin cần có "nguồn", trích từ đâu ra!!!
Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

Tết Đinh Hợi sắp đến

Theo tin tức của Người Viễn Xứ Online cho biết Ngày hôm qua tại Sân bay Tân sơn Nhất ,đã làm lễ xuất phát nhóm Tình nguyện để chào đón Việt kiều về Quê Ăn Tết Đinh Hợi 2007 .Nhóm tình nguyện này sẽ sẵn sàng giúp đỡ cho các Việt kiều làm thủ tục nhanh chóng về mọi phương diện. Theo dự trù sẽ có khoảng 140.000 người Việt về Quê Ăn Tết . Nhưng riêng tại Sài gòn sẽ có 450.000 người qua cửa khẩu tân sơn Nhất .

cái gì kỳ lạ quá vậy. doạn trên Dự trù cả nước có 140.000 người , đoạn dưới lại nói riêng tại Sân bay Tân sơn nhất có tới 450.000 người. Như vậy con số dư 310.000 người ở đâu ra . Bắc Thang lên hỏi Ông Trời .Số dư
[/B]ở đâu ra.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Lao Động Xuất Khẩu Từ VN Sắp Vào Mỹ Một số công ty tại Hoa Kỳ đã đưa “đơn hàng” nhằm đón nhận “lao động xuất khẩu” từ Việt Nam. Và Bộ Lao Động Thương Binh & Xã Hội VN đã đồng ý cho hai công ty thực hiện việc “xuất khẩu lao động.”

Bản tin đăng trên báo Tuổi Trẻ hôm Thứ Ba 9-1-2007, từ nguồn “Theo Thế Lê Vinh - VietNamNet” với tựa đề đơn giản “Sắp xuất khẩu lao động sang Mỹ” nhưng chắc chắn sẽ dấy lên một cơn sốt mới về tình hình lao động xuất khẩu tại quê nhà. Bản tin viết:

“Công ty Cổ phần tiến bộ Quốc tế AIC và Trung tâm XKLĐ Viracimex vừa được Bộ LĐTB&XH đồng ý đưa lao động sang Mỹ làm việc thí điểm, các nghề thợ hàn, cắt cỏ và hái cam...

Lương 5.000 USD/tháng, thời hạn 1-3 năm

Theo bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn - Chủ tịch HĐQT kiêm TGĐ Công ty Cổ phần tiến bộ Quốc tế AIC, Công ty đã có một vài đơn hàng với đối tác đưa lao động sang Mỹ làm việc ở lĩnh vực hàn, cắt cỏ, trang trại (hái cam)...

Để đủ tiêu chuẩn sang Mỹ làm việc, lao động phải trong độ tuổi từ 20-40, đã lập gia đình. Lương tháng của lao động từ 5.000 USD trở lên, chi phí đi XKLĐ tuỳ thuộc vào mức lương. Đặc biệt, trong một nhóm lao động cùng quốc tịch, cùng làm một nơi thì chỉ cần 1, 2 người biết tiếng Anh để phiên dịch cho cả nhóm.

Một thuận lợi của các hợp đồng này là LĐ ký theo từng năm một nhưng mỗi năm được về nước một lần, hết hợp đồng, nếu làm tốt được ký tiếp đến hết 3 năm. Nếu làm tốt và chủ sử dụng có nhu cầu thì được cấp thẻ xanh (thẻ lưu trú) và nhiều ưu đãi khác.

Cả AIC và Viracimex đều đang xúc tiến những hợp đồng đầu tiên. Trước mắt là 8 thợ hàn đi đợt đầu cho cả 2 DN, sau đó là 40 lao động làm vườn. Hiện các DN đang cho lao động đợt 2 tập huấn cắt cỏ ở các sân golf.

Dự kiến, đầu năm 2007, sẽ đưa lao động đợt đầu đi và trong năm sẽ đưa nhiều hợp đồng đi làm y tá.

Ngừa LĐ bỏ trốn: Đặt cọc lên tới trên 15.000 USD!

Theo ông Đặng Mạnh Sức - GĐ Trung tâm XKLĐ Viracimex, 2 DN cùng Bộ LĐTB&XH, Lãnh sự quán Việt Nam và nhiều Việt kiều tại San Francisco (Mỹ) đã mất khá nhiều thời gian để nghiên cứu, thăm dò và xúc tiến việc đưa thí điểm lao động Việt Nam sang bang này làm việc.

Trước đó, Bộ LĐTB&XH đã thành lập đoàn sang San Francisco khảo sát thị trường và làm việc với phía bạn. Bộ LĐTB&XH cũng như Cục Quản lý lao động ngoài nước đã đánh giá tốt về thị trường này cũng như khả năng các DN Việt Nam có thể thực hiện.

''Chúng ta kiểm soát tốt được các đối tác, họ phải là người Mỹ chứ không qua công ty môi giới nước nào khác... Tuy nhiên, luật pháp Mỹ bao giờ cũng quy định rất chặt chẽ về lao động nước ngoài: thủ tục xin visa "nhiêu khê", các quy định nghiêm ngặt về chế độ làm việc, nơi lưu trú, bảo hiểm... " - ông Sức nói.

Thế nên, mối lo lắng của cả 2 DN là LĐ bỏ trốn. Ông Sức cho biết thêm: "Nếu có LĐ bỏ trốn, họ sẽ cắt luôn thị trường. Đã có một số nước châu Á từng bị rồi...''.

Theo bà Nhàn và ông Sức, 2 DN và Bộ LĐTBT&XH cũng đã có những giải pháp phòng ngừa việc bỏ trốn. Đó là đề ra mức đặt cọc cao (15.000 USD trở lên), yêu cầu gia đình làm cam kết, kết hợp với chính quyền địa phương...”

Theo nhận xét của một doanh gia Quận Cam, thực tế tình hình “lương 5.000 USD/tháng” có lẽ là ghi nhầm lẫn, vì lương này thường là của chuyên gia kỹ thuật chứ không phải các nghề “thợ hàn, cắt cỏ và hái cam...” như bản tin viết, vì lương cao như thế không hề có ở các nghề này.

Nhận xét thứ nhì là chưa nghe gì về văn bản hợp đồng, nêu các trường hợp xử lý như các công nhân xuất khẩu này muốn kết hôn với công dân Mỹ, hay ngay cả trường hợp bất ngờ là không hôn thú mà có bầu và sinh con tại Hoa Kỳ -- vì theo luật Mỹ, tất cả trẻ em sinh trên đất Mỹ đều tự động có quốc tịch Mỹ.

Theo lời doanh nhân này, nhà nứơc CSVN có thể tham khảo với chính phủ Phi Luật Tân về các chính sách “xuất khẩu lao động,” vì hiện nay Phi là nguồn cung cấp y tá rất lớn cho các bệnh viện Mỹ. Còn một thực tế khác, đặt cọc 15.000USD là quá lớn...

dacung
Posts: 409
Joined: Tue Dec 13, 2005 6:26 am
Location: USA
Contact:

Post by dacung »

10 Tháng 1 2007 - Cập nhật 13h25 GMT
(BBC)

Dân sự hóa nghĩa trang Biên Hòa

Image
Nghĩa trang Biên Hòa vốn nằm dưới sự quản lý của Quân khu 7

Trong một quyết định không được truyền thông trong nước loan tải rộng rãi, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đã chỉ thị dân sự hóa khu nghĩa trang Biên Hòa.
Nghĩa trang này, nay nằm tại xã Bình An, huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương, là nơi chôn cất hàng chục ngàn binh lính và sỹ quan của chế độ Việt Nam Cộng hòa.

Từ sau khi cuộc chiến Việt Nam kết thúc, nghĩa trang này vẫn nằm dưới sự quản lý của Quân khu 7 thuộc Bộ Quốc phòng.

Quyết định số 1568/QĐ - TTg của Thủ tướng Chính phủ viết: "Đồng ý chuyển mục đích sử dụng 58 hecta đất khu nghĩa địa sang sử dụng vào mục đích dân sự".

Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Bình Dương được giao trách nhiệm ra quyết định thu hồi đất trong tháng 12/2006 và thực hiện quản lý, sử dụng khu nghĩa trang này "bình thường như các nghĩa địa khác" ở Việt Nam.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng yêu cầu các bộ ngành liên quan trong quyết định này báo cáo kết quả thực hiện trước ngày 30/7/2007.

Hòa hợp, hòa giải

Ông Võ Văn Cư, Chánh Văn phòng UBND tỉnh Bình Dương, nói với đài BBC phải tới tháng 7/2007, tỉnh mới chính thức nhận bàn giao khu nghĩa trang xã Dĩ An.

"Hiện nay chúng tôi đang lập kế hoạch để quản lý khu đất này như một nghĩa trang dân sự".

Image
Nghĩa trang đã lâu không được trùng tu

Dưới sự quản lý của quân đội, tuy người dân vẫn có thể vào thăm mộ thân nhân, khu nghĩa trang hàng chục năm nay không được trùng tu và nhiều nơi đã xuống cấp khá trầm trọng.

Cộng tác viên Nguyễn Vi Túy của ban Việt ngữ, vừa có chuyến thăm tới Nghĩa trang Biên Hòa, mô tả rằng khung cảnh nơi đây khá tiêu điều.

Người dân đã định cư xung quanh khu nghĩa trang, quân đội cũng làm vườn và chăn nuôi tăng gia ngay bên cạnh.

Nghĩa trang Biên Hòa lâu nay đã nằm trong tâm điểm các khuyến nghị của người Việt hải ngoại, những người cho rằng chính phủ trong nước phải tu sửa nơi chôn cất tử sỹ của chế độ cũ trước khi có thể nói đến hòa hợp, hòa giải dân tộc.

Một trong các cựu lãnh đạo của chế độ VNCH, tướng Nguyễn Cao Kỳ, cũng đã trực tiếp yêu cầu chính phủ Việt Nam phải trùng tu nghĩa trang Biên Hòa.

Cuộc chiến tương tàn

Ông Nguyễn Văn Hoành, một người từng phục vụ trong quân đội VNCH, nói với BBC rằng quyết định của chính phủ Việt Nam là "một điều tốt đẹp".

"Khi đi ngang qua nghĩa trang Biên Hòa, thấy có sự xây cất mới, tôi cũng thấy vui".

Tuy nhiên, cựu trung tá không quân VNCH Nguyễn Phúc Tửng, hiện đang sống tại Pháp, nhận xét điều này vẫn còn chưa đủ.

"Tôi muốn tất cả những người chiến sỹ miền Nam cũng như miền Bắc phải được tôn trọng, vinh danh như nhau".

"Chỉ trùng tu nghĩa trang Biên Hòa mà thôi chưa bù đắp nổi các mất mát của các chiến binh cộng hòa".

Chiến tranh Việt Nam, kết thúc năm 1975, đã gây ra mất mát to lớn về nhân mạng. Một triệu binh lính người Việt của cả hai bên đã thiệt mạng.

Nguyên thủ tướng Việt Nam Võ Văn Kiệt, khi nói về kết thúc cuộc chiến này, đã bình luận đó là sự kiện mà "khi nhắc lại, có hàng triệu người vui, mà cũng có hàng triệu người buồn".

Ông Kiệt cũng nói đó là "vết thương chung của dân tộc cần được giữ lành".

---------------------------------------------

Le, HCM
Tuy là người VN nhưng khi xảy ra nội chiến thì việc "được làm vua, thua làm giặc" là lẽ đương nhiên. Quyết định của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là thể hiện tính nhân đạo của Nhà nước Việt Nam.

Nay Cui
Hoan hô TT Dũng!Đây là một cố gắng của Thủ Tướng trong việc hàn gắn lại vết thương dân tộc mặc dù vẫn còn nhiều chống đối từ phiá phe bảo thủ. Cám ơn nhà báo, nhà thơ Trần Tiến Dũng cho câu nói để đời: "Một dân tộc cao thượng không có núi lạnh" trong ký sự "Núi Lạnh — Hành trình tìm về những nấm mồ hoang" Có lẽ đây là lúc chúng ta những người trên diễn đàn này bước ra đường xin lỗi tất cả gia đình có người mất mát trong cuộc chiến vừa qua mà không phân biệt Cộng Hòa hay Cộng Sản. Có như vậy nỗi oan khiên kia mới vơi đi.

Truong Hanh, Sài Gòn
Nếu thật sự đây là quyết định của nhà nước VN nhằm mục đích trùng tu nghĩa trang quân đội VNCH và mong hàn gắn vết thương chiến tranh thì tôi xin hoan nghênh và ủng hộ việc làm này của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Huynh Đệ, USA
Tôi là một cựu sỹ quan QLVNCH. Cuộc chiến tranh cốt nhục tương tàn ở VN không do người VN mong muốn và quyết định. Chúng ta đã bị hai thế lực cộng sản và tư bản chi phối. Lúc bấy giờ như ngài thủ tướng Võ Văn Kiệt đã nói "không bên này thì cũng bên kia" và "vết thương chung của dân tộc cần được giữ lành".

Thưa quý vị, nếu quý vị là người chiến thắng trong cuộc chiến khốc liệt và đẫm máu trong suốt 30 năm thì quý vị sẽ làm gì với đối phương? Công bằng mà nói chắc chúng ta cũng làm như vậy thôi.

Cá nhân tôi xin hoan hô và ủng hộ quyết định của ngài thủ tướng vì đó là quyết định tốt, có lợi cho dân tộc. Là người VN chúng ta nên quên hết quá khứ đau buồn và dị biệt để cùng nhau xây dựng một nước VN văn minh và hùng cường. Tôi cũng xin cảm ơn cựu phó tổng thống Nguyễn Cao Kỳ đã có yêu cầu chánh đáng và hòa giải với chính phủ hiện tại.

Solitary Trần, HCMC
Tôi đã từng cầm súng đánh lại chế độ SG vì Ngô Đình Diệm không chịu tổng tuyển cử thống nhất đất nước và truy bức, tù đày, giết hại những người tham gia Việt Minh kháng chiến chống thực dân Pháp, giành độc lập cho Tổ quốc, trong đó có cha mẹ tôi.

Chính chế độ SG của Ngô Đình Diệm đã thúc đẩy tôi tham gia kháng chiến chống Mỹ và trở thành một người cộng sản. Đã hơn 30 năm rồi, tất cả đã là quá khứ! Bây giờ những người như tôi chỉ muốn mọi người VN yêu thương nhau, đùm bọc nhau mà sống, mà xây dựng đất nước VN giàu mạnh, để người VN không còn phải hổ thẹn là con dân của một nước nghèo nàn, lạc hậu.

Vì vậy, tôi hoan nghinh quyết định của chính phủ về việc dân sự hóa nghĩa trang Biên Hòa. Chỉ tiếc rằng việc này xảy ra hơi muộn.

Giấu tên
Quyết định bây giờ thật là quá muộn, khi người dân đã mất lòng tin và quá mệt mỏi. Liệu có là một thế chẳng đặng đừng nào không? Dẫu sao tôi cũng có lời cám ơn như mẹ tôi đã dạy ngày nào. Đó là lời tôn trọng dù là kẻ thù.

Tuệ Mai, Vũng Tàu
"Mục đích dân sự " phải hiểu như thế nào đây? "Bình thường như các nghĩa địa khác" ở Việt Nam có nghĩa là khi cần thì nhà nước vẫn có thể giải toả thu hồi để phục vụ cho các mục đích khác phải không? Tôi e rằng chỉ thị này chưa hẳn đã là một tín hiệu mừng ở tại VN đã có biết bao nhiêu nghĩa trang đã bị giải toả rồi. Hãy đề phòng những gì ở sau chỉ thị ấy.....


Người Việt Hải ngoại
Hoan nghênh sắc lệnh mới của TT Nguyễn Tấn Dũng. Tuy nhiên đây chỉ là bước ngoặt nhỏ trong cục diện mới. Nếu thực lòng muốn hòa giải tôi xin đề nghị chính quyền Hà Nội cho phép thương phế binh hai miền Nam Bắc cộng tác xây dựng Đài Tưởng niệm Liệt sỹ với hai màu cờ tại Hà Nội và Sài Gòn. Nếu ý kiến này được chính phủ chấp nhận, chúng tôi tại hải ngoại sẽ quyên góp tài chánh về xây dựng tượng đài.

Ẩn danh
Tôi thấy dân tộc ta có câu "nghĩa tử là nghĩa tận". Đó là nói, còn giữa nói và thực hiện có một khoảng cách rất xa. Tôi hiện sống ở Hungary và một lần đi qua nghĩa trang của lính Đức phát xít được người Hung chăm sóc rất tử tế, du khách người Đức cũng vào đó đặt hoa.

Đi đến một đoạn nữa thì thấy khu nghĩa trang của lính Hồng Quân, trên tượng đài còn có cờ búa liềm hẳn hoi. Tôi không biết người Hung có câu nào như ta, "nghĩa tử là nghĩa tận không". Vừa rồi tôi đọc báo, thấy chính phủ họ còn ra một sắc lệnh về nghĩa trang cho lính các quốc gia đã bị giết trong chiến tranh thế giới lần I và II, đại ý là không phân biệt về chính trị mà tôn trọng tất cả, vì họ đều là những người lính.

Tùng, Cần Thơ
Không nên chính trị hoá việc làm này. Phải làm càng sớm càng tốt vì thể hiện cái đạo làm người.

Young
Tôi là con của một người lính VNCS. Bản thân ba tôi cảm thông đối với những người quốc gia VNCH. Cũng ra trận cả, ở đó không có sự lựa chọn, giết nhau để mà sống, dẫu là anh em một nhà.

Ba tôi là thương binh hạng 4/4, lúc tôi vào học ĐH được giảm học phí một nửa. Trong lớp cũng có nhiều người là con của những người lính VNCH khi xưa, nhà họ rất nghèo, lại mang tiếng ngụy. Có lần uống cà phê, tôi nhìn thấy một chú, cụt cả hai chân, tôi hỏi chú thương binh hạng 1 hả, chú cười bảo chú là "lính ngụy", làm sao được là thương binh hạng mấy hả cháu. Quả thật tôi rất buồn.

Cuộc chiến 55-75, dù có lý luận gì đi nữa thì hai miền cũng đã huynh đệ tương tàn, giết nhau bằng súng AK47 của LX và M16 của Mỹ mà thôi.

Tôi xin nói lời ủng hộ thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đối với quyết định của ông. Ông nên có những quyết định táo bạo hơn nữa.


Young

Tôi thấy mấy kẻ không ra chiến trường lại hay nói lý luận lý tưởng và kỳ thị này kia, chứ những người lính trực tiếp trải qua cuộc chiến như ba tôi lại khác. Ngay như tướng Nguyễn Chuông, một người cả cuộc đời chỉ có đánh trận, thế mà vẫn gọi người VNCH là "những người anh em".

Nhân đây tôi xin nói lời ủng hộ thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đối với quyết định của ông. Ông nên có những quyết định táo bạo hơn nữa, có lợi cho dân tộc. Những người trẻ tuổi như tôi rất tin vào ông.

Đỗ Minh Nam, Việt Nam
Bất hạnh cho đất nước ta là hai nửa nước chia làm hai miền, chính quyền mỗi miền theo một ý thức hệ đối kháng. Thế là nước ta thành bãi chiến trường của hai phe phải "một mất một còn" với nhau.

Rất nhiều nước bị chia cắt như vậy và phần thắng có thể thuộc phe này hay phe kia. Ở VN thì phần thắng thuộc phe theo ý thức hệ CS và kết quả là như ngày nay. Chiến sĩ hai bên đều hết lòng chiến đấu vì "lý tưởng" của mình, đều anh dũng, quả cảm, đều căm thù cao độ đối với bên kia.

Kết quả là nhiều triệu thanh niên chết, nhiều triệu mất tích, nhiều triệu gia đình thương đau, 30 năm không thể hoà giải và hoà hợp. Xin các bạn nói thêm: Hoà giải và hoà hợp thì cái nào phải làm trước, bên nào phải làm trước?

Lê Hữu Anh, Quảng Nam
Nếu đã nói hòa hợp hòa giải dân tộc thì chỉ thị của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là rất đúng. Cuộc chiến nào cũng vậy, không tham gia bên này thì phải tham gia bên kia. Tôi hoàn toàn hoan nghênh
thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký quyết định vì chúng ta là anh em một nhà Việt Nam cả.

Trần Nguyễn Hiển Thiện, Cần Thơ
Tôi đi tìm những linh hồn
Chết vì lý tưởng bảo tồn ước mơ
Hy sinh cho mỗi màu cờ
Khổ đau tủi nhục còn chờ khai sinh

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

Ca Sĩ Hải ngoại hát "Thương Nhớ VN "tại VN

Tin báo chí VN cho biết lần đầu tiên 15 Nam nữ Ca sĩ Hải Ngoại cùng xuất hiện trên sân khấu rạp Hoà Bình trong chương trình Ca nhạc kịch "Thương Nhớ VN " để gây quỹ
giúp Trẻ Em mồ côi.
Được biết chương trình ca nhạc này sẽ tổ chức trong hai đêm 12 /1 và 13/1 bao gồm các nam nữ Ca sĩ Hải ngoại như sau : Elvis Phương , Ái Vân , Thái Châu , Trường Vũ , Loan Châu , Trúc lam ,Trúc Linh , Linhda Trang đài , Tommy Ngô ,Tuấn Ngọc , Thái Thảo , Thanh Hà ,Quang Minh ,Hồng Đào, Hoài Linh.

Xin miễn bình luận

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

dacung wrote:10 Tháng 1 2007 - Cập nhật 13h25 GMT
(BBC)

Dân sự hóa nghĩa trang Biên Hòa

Image
Nghĩa trang Biên Hòa vốn nằm dưới sự quản lý của Quân khu 7

Trong một quyết định không được truyền thông trong nước loan tải rộng rãi, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đã chỉ thị dân sự hóa khu nghĩa trang Biên Hòa.
Nghĩa trang này, nay nằm tại xã Bình An, huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương, là nơi chôn cất hàng chục ngàn binh lính và sỹ quan của chế độ Việt Nam Cộng hòa.

Từ sau khi cuộc chiến Việt Nam kết thúc, nghĩa trang này vẫn nằm dưới sự quản lý của Quân khu 7 thuộc Bộ Quốc phòng.

Quyết định số 1568/QĐ - TTg của Thủ tướng Chính phủ viết: "Đồng ý chuyển mục đích sử dụng 58 hecta đất khu nghĩa địa sang sử dụng vào mục đích dân sự".

Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Bình Dương được giao trách nhiệm ra quyết định thu hồi đất trong tháng 12/2006 và thực hiện quản lý, sử dụng khu nghĩa trang này "bình thường như các nghĩa địa khác" ở Việt Nam.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng yêu cầu các bộ ngành liên quan trong quyết định này báo cáo kết quả thực hiện trước ngày 30/7/2007.

Tuệ Mai, Vũng Tàu
"Mục đích dân sự " phải hiểu như thế nào đây? "Bình thường như các nghĩa địa khác" ở Việt Nam có nghĩa là khi cần thì nhà nước vẫn có thể giải toả thu hồi để phục vụ cho các mục đích khác phải không? Tôi e rằng chỉ thị này chưa hẳn đã là một tín hiệu mừng ở tại VN đã có biết bao nhiêu nghĩa trang đã bị giải toả rồi. Hãy đề phòng những gì ở sau chỉ thị ấy.....

Cám ơn anh Ứng, tôi cũng nghĩ giống như độc giả Tuệ Mai ở trên, là miếng đất đó "ngon "quá xá, khó thoát khỏi mấy tên tai to mặt lớn, tư bản đỏ.

Một thời gian ngắn nữa thôi chắc sẽ có lịnh giải toả bốc mộ hốt cốt. Vài năm sau nữa thì các quan lại xúm vào "quy hoạch" chia chác với nhau. Cái chiêu cũ rích mà bọn Việt Cộng xài đi xài lại ở Sài Gòn mấy chục năm nay.


Cầu cho các vong linh tử sĩ vặn họng chết đám này hết cho rồi .

Đừng nghe những gì Cộng Sãn nói
Mà hãy nhìn kỹ những gì Cộng Sãn làm!!

(TT NVT)

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Báo Thụy Sĩ Đưa Tin Khẩn Cấp: ‘Phải Cứu Nguyễn Vũ Bình’ Bản Tin Liên Hội Nhân Quyền Việt Nam ở Thụy Sĩ viết như sau.

Sau nhựt báo LE COURRIER và diễn đàn TRIBUNE DES DROITS HUMAINS, đến lượt TRIBUNE DE GENÈVE, một trong những tờ báo lớn và lâu đời ở Thụy Sĩ, cho đăng ‘’Il faut sauver Nguyên Vu Binh’’ (Phải Cứu Nguyễn Vũ Bình) bài viết của Nguyễn Lê Nhân Quyền dưới đề mục đặc biệt ‘’La lettre du jour’’ (Lá thư hôm nay) trong số phát hành sáng sớm ngày 10 tháng giêng năm 2007. Đồng nghiệp của nhà dân chủ đối kháng Nguyễn Vũ Bình đang bị cầm tù nghiệt ngã vô nhân đạo, các nhà báo Thụy Sĩ và ngoại quốc nghĩ rằng trưởng phái bộ CHXHCNVN quan hệ với Liên Hiệp Quốc ở Genève cùng đại sứ CHXHCNVN tại Thụy Sĩ, sau khi đọc, sẽ chuyển tiếp bài báo này về bộ Ngoại giao của họ ở Hà nội.

Chuyển ngữ Pháp/Việt: Phải cứu Nguyễn Vũ Bình

Hội viên danh dự Trung tâm Văn Bút Thụy Sĩ Pháp thoại, nhà văn và nhà báo Nguyễn Vũ Bình, 38 tuổi, lâm bệnh nặng trong trại tập trung lao công cưỡng bách Ba Sao Nam Hà, Bắc Việt. Sinh mạng ông đang gặp hiểm nguy lớn. Ngày 10 tháng 10 năm nay, Ủy Ban Văn Bút Quốc Tế Bênh Vực Nhà Văn bị cầm tù đã yêu cầu khẩn cấp nhà cầm quyền Hà nội cho ông Nguyễn Vũ Bình được y sĩ chuyên khoa chẩn bệnh và chữa trị trong một bệnh viện. Đồng thời Văn Bút Quốc Tế đòi phóng thích ông tức khắc và vô điều kiện.

Ngày 2 tháng 11, bà Bùi Thị Kim Ngân, vợ ông Nguyễn Vũ Bình, chỉ có 35 phút để thăm chồng (thay vì một giờ qui định cho cuộc thăm tù mỗi tháng). Trở về, bà Bùi Thị Kim Ngân cho biết chồng bà cần được chữa trị gấp bệnh đường ruột kinh niên và áp huyết cao. Cho tới bây giờ, tù nhân đau yếu không hề được săn sóc thuốc men thích hợp trong lúc những điều kiện giam cầm thật tồi tệ.

Chúng tôi rất lo lắng về sự hiểm nguy khốc hại có thể xảy đến cho sinh mạng của nhà trí thức trẻ này. Ông là một nhà dân chủ đối kháng thuộc thế hệ mới ở Việt Nam. Ông Nguyễn Vũ Bình được biết tiếng trong số những nhà cầm bút liêm sĩ, can đảm dấn thân tranh đấu chống bất công xã hội và quốc nạn tham nhũng trong đất nước của họ. Ông Nguyễn Vũ Bình từng cộng tác gần mười năm với tạp chí ‘’Cộng Sản’’, tờ báo chính thức của đảng cộng sản Việt Nam.

Ông bị đảng này coi là ‘’kẻ thù của nhân dân’’ sau khi ông chọn làm nhà báo độc lập. Ông bị bắt từ ngày 25 tháng 9 năm 2002. Nhưng mãi đến 31 tháng 12 năm 2003 ông mới bị kết án 7 năm tù kèm theo 3 năm quản chế về cái gọi là tội ‘’làm gián điệp’’. ‘’Tội’’ của ông là đã phổ biến trên Internet từ năm 2001 nhiều bài ông viết cổ xúy và yêu sách thiết lập một nền dân chủ đích thực và một nhà nước pháp quyền. Trong số những bài báo bị coi là ‘’tội phạm’’ đó có bản điều trần về những sự vi phạm nhân quyền tại Việt Nam. Nhà dân chủ đối kháng đã trải qua 4 năm trong trại tù tập trung. Ông bị câu lưu chung với tù nhân thường phạm giữa một phòng giam nhỏ chật hẹp.

Giống như nhiều nhà dân chủ đối kháng Việt Nam khác, ông Nguyễn Vũ Bình đã bị một chế độ độc tài giam nhốt bất công. Ông bị trừng phạt chỉ vì đã hành sử quyền của ông được tự do phát biểu và thông tin.

NGUYỄN LÊ NHÂN QUYỀN

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Human Rights Watch tuyên bố vẫn chưa có tiến bộ nào về nhân quyền tại Việt Nam
Jan 12, 2007
Trong bản phúc trình thường niên về tình hình nhân quyền trên khắp thế giới công bố vào ngày hôm qua tại Washington, tổ chức bảo vệ nhân quyền Human Rights Watch nhận xét là chưa có tiến triển nào về mặt nhân quyền tại Việt Nam trong năm qua. Phần nói về nhân quyền Việt Nam, phúc trình năm nay của Human Rights Watch viết: "Đại hội 10 của đảng Cộng sản Việt Nam đã có sự thay đổi đáng kể trong thành phần bộ Chính trị, với các đảng viên trẻ thay thế những cán bộ già nua. Tuy nhiên, các khuôn mặt mới không mang lại cải thiện nào đáng kể về mặt nhân quyền. Bất chấp là đang có một trong các mức tăng trưởng kinh tế cao nhất châu Á, chuyện Việt Nam tôn trọng các quyền cơ bản của con người vẫn còn kém nhiều nước khác, và nhà nước độc đảng vẫn tiếp tục không khoan nhượng với những sự phê phán họ. Nhà cầm quyền vẫn tiếp tục truy bức các thành viên thuộc những giáo hội độc lập, thiết lập sự kiểm soát thông tin trên Internet và báo chí, giới hạn sự tập họp nơi công cộng và bắt giam nhiều người chỉ vì quan điểm chính trị hay niềm tin tôn giáo của họ. Ngành truyền thông, đảng phái chính trị, tổ chức tôn giáo và các công đoàn đều không được phép hoạt động nếu không có sự giám sát của Nhà nước, hoặc không được phép có các hoạt động bị xem là không phù hợp chủ trương của đảng. Năm qua đã chứng kiến những vụ đình công, tranh chấp lao động chưa từng có, những nỗ lực của quan chức nhằm bịt miệng phong trào đòi dân chủ và sự kiện Phật tử và các tín hữu Tin Lành sắc tộc ít người bị trấn áp vẫn còn tiếp diễn".

Bản phúc trình thường niên về tình hình nhân quyền thế giới 2007 phần Việt Nam tiếp tục nêu các chứng cớ trong những lãnh vực phong trào dân chủ, tự do ngôn luận và Internet, sự kiện bất đồng chính kiến bị trấn áp, quyền tự do hội họp bị giới hạn, tự do tôn giáo chưa triệt để, tù giam và tra tấn, vẫn tiếp diễn và cần cải thiện. Bản phúc trình kết luận bằng đoạn các nước và tổ chức quốc tế ghi nhận về tình hình nhân quyền Việt Nam: "Các tổ chức và quốc gia cấp viện cho Việt Nam như Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển Á châu và Nhật Bản đã nêu quan ngại sâu sắc hồi tháng Giêng khi có tin về các vụ biển thủ tiền viện trợ tại bộ Giao thông-Vận tải. Về phần Liên Hiệp Âu Châu, tuy có ghi nhận việc Việt Nam thả tù chính trị, nhưng vẫn xếp Việt Nam vào danh sách những nước cần quan tâm về nhân quyền trong bản báo cáo Nhân quyền của Liên minh Châu Âu năm 2006. Hồi tháng Năm năm ngoái, một phái đoàn nghị sĩ châu Âu đã thăm Việt Nam kêu gọi thả tù nhân lương tâm, cho báo chí quốc tế được tự do tìm hiểu vùng Tây Nguyên và hủy bỏ án tử hình. Vào tháng Chín, Anh Quốc ca ngợi thành quả xóa đói nghèo của Việt Nam nhưng cho biết sẽ ràng viện trợ với những tiến bộ trong lãnh vực nhân quyền, chống tham nhũng, cải cách hành chính và tài chính". Với các ghi nhận đó, tổ chức nhân quyền Human Rights Watch vẫn xếp Việt Nam vào chung với Saudi Arabia, Syria, cùng hình thức độc tài và không tôn trọng nhân quyền.

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Phân phát tiền cứu trợ nạn nhân bão Xangsane:
Được 500.000đ nhưng phải ký nhận 1.000.000đ !

HữuTrà

Image
Rất nhiều nhà sập đổ chưa được sửa chữa ở Điện Phước - ảnh: H.T


Hàng trăm nhà dân ở hai thôn Nhị Dinh 2 và Nhị Dinh 3, xã Điện Phước (Điện Bàn, Quảng Nam) bực tức về việc phân phát tiền cứu trợ bão số 6 hết sức tùy tiện và vô lý đến mức phẫn nộ.


Trao đổi với Thanh Niên vào sáng 11.1, bà T.H, nhà ở thôn Nhị Dinh 3 cho biết: "Từ khi bão xảy ra, gia đình tui không nhận được khoản trợ cấp nào. Mới đây, một số vị trong thôn mang danh sách nhận tiền đến tận nhà bảo tui ký. Mới hay, gia đình tui được nhận 1 triệu đồng, nhưng mấy ổng chỉ cho nhận 500 ngàn, nhưng bảo phải ký đã nhận đủ 1 triệu đồng. Họ bảo nếu không ký vào thì mất luôn 500 ngàn đồng. Bức quá, tui phải ký vào để nhận 500 ngàn".



Trường hợp của gia đình bà T.H không phải là ngoại lệ, 130 nhà dân ở thôn Nhị Dinh 3 cũng nằm trong trường hợp tương tự khi phải ký vào danh sách nhận đủ 1 triệu, song chỉ nhận được 500 ngàn đồng. Có những trường hợp ở thôn Nhị Dinh 2, người dân bị ảnh hưởng nặng nề của bão, đã được một đoàn cứu trợ đến trực tiếp trao quà là tiền mặt, mỗi suất 400 ngàn đồng. Sau này, xã chỉ phát 600 ngàn đồng và buộc người dân phải ký nhận đủ số tiền 1 triệu đồng theo tiêu chuẩn mà họ được Nhà nước hỗ trợ cho trường hợp nhà tốc mái hoàn toàn.



Khi chúng tôi có mặt tại xã Điện Phước để tìm hiểu tình hình, rất nhiều người dân đã tập trung cật vấn về số tiền 1 triệu đồng mà lẽ ra họ đã được nhận theo đúng danh sách hỗ trợ từ cấp trên. Bà con ở đây phản ảnh, có rất nhiều nhà chẳng sứt mẻ gì khi bão dữ tràn qua, song cũng được ưu ái nhận vài trăm ngàn hỗ trợ thiệt hại. Cũng có trường hợp như gia đình anh C., ở Nhị Dinh 3, nhà mới xây bị sập hoàn toàn, được hỗ trợ 2 triệu đồng. Lên xã nhận tiền, thì lãnh đạo bảo phải đóng lại 200 ngàn để hỗ trợ cho xã !?

Image
Người dân Điện Phước trình bày bực dọc với PV Thanh Niên

Theo UBND xã Điện Phước, số tiền mà xã nhận được từ huyện Điện Bàn chuyển về hỗ trợ cho nạn nhân bão số 6 là 1,2 tỉ đồng, đã giải ngân xuống các thôn. Từ thôn, sẽ lên danh sách các nhà được nhận để phân phát cho hợp lý. Ông Hòa - phụ trách văn phòng xã Điện Phước khẳng định: "Lãnh đạo xã không có chủ trương cho các trưởng thôn chia tiền cứu trợ theo ý thích của mình, mà yêu cầu phải làm đúng trình tự, thủ tục, đúng danh sách, đúng đối tượng được nhận tiền". Thế nhưng, khi chúng tôi đặt vấn đề về số tiền người dân bị trừ vì trước đó đã nhận từ các đoàn cứu trợ trực tiếp như trường hợp các nhà dân ở thôn Nhị Dinh 2, ông Hòa cho biết: "Đây là chủ trương từ trên đưa xuống". Hỏi chủ trương của ai, có văn bản chính thức không, thì ông Hòa không trả lời được.

Chiều 11.1, ông Tào Bạn - Chủ tịch UBND xã Điện Phước cho biết, xã đã chủ trì một cuộc họp khẩn cấp với các trưởng thôn để làm rõ những vấn đề liên quan đến việc cấp phát tiền cứu trợ bão số 6. Ông Bạn khẳng định: "UBND xã phải cho thu hồi tiền cấp phát sai đối tượng".

Dư luận ở xã Điện Phước hết sức bất bình về việc cấp phát tiền cứu trợ vô tội vạ và mong muốn lãnh đạo huyện Điện Bàn sớm có ý kiến về vấn đề này.

Hữu Trà

Báo ThanhNiên

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Ngoại tệ từ người Việt ở Hải ngoại (Kiều hối)
Nguyễn Quốc Khải, Jan 12, 2007

RFA - Kiều hối là nguồn ngoại tệ quan trọng hơn cả vốn đầu tư nước ngoài và tiền tài trợ ODA. Kiều hối sẽ tiếp tục gia tăng trong những năm tới nhờ chương trình xuất khẩu lao động.

Năm hết Tết đến, một lượng ngoại tệ sẽ lại đổ vào Việt-Nam nhiều hơn từ gần 3 triệu người gốc Việt-Nam định cư ở trên 90 quốc gia và lãnh thổ trên thế giới, và khoảng 400,000 công nhân xuất khẩu lao động. Bài viết này sẽ bàn về số lượng, ảnh hưởng của kiều hối đối với nền kinh tế và những yếu tố thúc đẩy người Việt gửi tiền về Việt-Nam.

Vì thời gian có hạn, bài này sẽ không đi vào những chi tiết như cách gửi tiền, chính sách xuất khẩu lao động của nhà nước CSVN, những sự lạm dụng trong việc gửi tiền và gửi công nhân ra nước ngoài. Tác giả mong những chuyên viên khác sẽ tiếp tay nghiên cứu về những đề tài này.

Kiều hối thảo luận trong bài này trên nguyên tắc không bao gồm số ngoại tệ của ngoại kiều dùng để đổi lấy dịch vụ, sản phẩm hay tích sản.

Trên nguyên tắc số ngoại tệ này không được xếp vào loại chuyển tiền tư nhân mà phải phải được xếp vào chương mục vốn như đầu tư trực tiếp nước ngoài (foreign direct investment) và đầu tư chứng khoán (portfolio investment).

Nhưng trên thực tế người ta không rõ số liệu về kiều hối của Việt-Nam có gồm một phần ngoại tệ với mục đích mua bán hoặc đầu tư hay không.

1. Số lượng kiều hối

Kiều hối là một đề tài được nghiên cứu khá đầy đủ tại nhiều quốc gia. Nhưng riêng đối với Việt-Nam, đề tài này gần đây mới được chú ý nhưng chưa được thảo luận cặn kẽ. Theo tài liệu của Ngân Hàng Thế Giới đã được tác giả cập nhật hóa, vào năm 2004, Việt-Nam nhận được 2.3 tỉ Mỹ kim (MK), xếp hạng thứ 20 trong số 20 nước tiếp nhận được số lượng kiều hối nhiều nhất thế giới. Đứng đầu danh sách là Ấn Độ (21.7 tỉ MK), tiếp theo sau lá Trung Quốc (21.3 tỉ MK), và Mễ Tây Cơ (18.1 tỉ MK).

Tuy nhiên tính trung bình cho mỗi người lượng kiều hối của Việt-Nam là 27.8 MK, cao hơn Ấn Độ (16.7 MK), Trung Quốc (19.8 MK), Pakistan (24.5 MK), Bangladesh (24.1 MK), nhưng thua xa Phi Luật Tân (134.5 MK). Cũng theo số liệu này, Việt-Nam là một trong 34 nước nhận được số lượng kiều hối trên 1 tỉ MK vào năm 2004. Hoa Kỳ là một nước cung cấp một số lượng kiều hối lớn nhất (24.3%) cho toàn thế giới ở vào khoảng 39 tỉ MK vào năm 2004.

Việt-Nam mới thu thập số liệu và tiếp nhận kiều hối bắt đầu từ khoảng cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 1990 mặc dù một số công nhân Việt-Nam đã xuất khẩu qua những nước thuộc khối Tương Trợ Kinh Tế (Council for Mutual Economic Assistance – CMEA) bao gồm cựu Cộng Hòa Liên Bang Xô Viết và Tiệp Khắc, Ba Lan, và Hung Gia Lợi từ thập niên 1970.

Việc làm tạm thời tại nước ngoài thông thường kéo dài 2-3 năm. Tuy nhiên một số công nhân tìm cách ở lại lâu hơn để kiếm thêm tiền trả phí tổn chuyên chở, lệ phí cho các cơ quan nhà nước và tổ chức trung gian liên quan đến khế ước và giấy phép làm việc.

Kể từ thập niên 1980, để giảm nạn thất nghiệp nghiêm trọng và kinh tế suy xụp, Việt-Nam xuất khẩu công nhân sang những vùng đất mới như Đông Á, Tây Âu và Trung Đông. Trong khoảng thời gian này, số kiều hồi không đáng kể.

Số lượng kiều hối chỉ được nhà nước báo cáo chính thức về cán cân chi phó (balance of payments) kể từ năm 1991 qua các kênh chính chức bao gồm hệ thống ngân hàng, những công ty chuyển tiền có giấy phép, sở bưu điện và quan thuế.

Do đó số lượng kiều hối không bao gồm số ngoại tệ đáng kể trong thập niên 1990 gửi bằng những cách không chính thức.

Sau khi Hoa-Kỳ bãi bỏ lệnh cấm vận Việt-Nam vào năm 1994 và tái lập bang giao với Việt-Nam vào năm sau, nhờ có thêm số ngoại tệ do những người Việt định cư ở nước ngoài gửi về, số lượng kiều hối tăng mạnh mẽ từ 170 triệu MK vào năm 1994 lên gần 500 triệu MK vào năm 1995. Trong những năm gần đây, số lượng kiều hối gia tăng một cách đáng kể. Số lượng kiều hối từ 2.1 tỉ MK vào năm 2003 đã tăng lên 2.3 tỉ MK, 3.1 tỉ MK, và 3.5 MK vào ba năm kế tiếp.

Kể từ sau biến cố 11/9/2001, các nước tăng cường biện pháp an ninh, kiểm soát chặt chẽ việc chuyển ngân để chống nạn khủng bố và rửa tiền. Đây cũng là một trong nhiều lý do làm cho số ngoại tệ gửi chính thức gia tăng. Kết quả là việc chuyển ngân không chính thức giảm xuống. Nhưng trước đó, nhà nước Việt-Nam đã cải tổ luật lệ chuyển tiền và xuất ngoại kể từ giữa thập niên 1990 và đầu thập niên 2000 như bài này sẽ bàn đến trong phần dưới đây.

Tuy nhiên, số ngoại tệ chuyển không chính thức không thể biết được chính xác. Theo một ước tình dựa trên những cuộc thăm dò, số lượng kiều hối không chính thức ít nhất vẫn bằng nửa con số tiền chuyển chính thức, nhất là đối với Việt-Nam, một nước chưa có một hệ thống ngân hàng tân tiến. Hàng năm khoảng 300,000 - 400,000 người Việt ở hải ngoại về thăm quê nhà và trao tiền mặt hay tặng vật cho thân nhân và bạn bè.

Bài nghiên cứu này không bàn về đề tài phức tạp là cách chuyển tiền, nhưng cũng cần trình bầy một cách vắn tắt rằng một số lượng kiều hối không rõ, được chuyển qua những đường giây không chính thức, không thật sự được chuyển về Việt-Nam mà giữ lại tại nước ngoài.

Một số lượng ngoại tệ tương đương có sẵn ở trong nước được chuyển giao cho người nhận. Trong trường hợp này cả người gửi lần người nhận đều hài lòng, nhưng quốc gia thất thoát một số ngoại tệ.

2. Những biện pháp khuyến khích kiều hối

Số lượng kiều hối gia tăng trong vài năm vừa qua nhờ một số biện pháp khuyến khích người Việt ở hải ngoại và người trong nước ra hải ngoại làm việc gửi tiền về nước như miễn thuế, cho phép lưu trữ và sử dụng ngoại tệ dễ dàng, v.v.

Sau đây là một số những biện pháp tích cực mà Việt-Nam đã áp dụng.

a. Chấm dứt những quyết định tuỳ tiện bao gồm cả việc tịch thu số ngoại tệ gửi về Việt-Nam và theo rõi chặt chẽ việc chuyển tiền.

b. Nhà nước ban hành trong khoảng thời gian 1995-2000 một số luật lệ khuyến khích việc di dân, xuất ngoại, xuất khẩu lao động, và gửi tiền về nước
c. Hủy bỏ 5% thuế đánh vào kiều hối kể từ năm 1997 và chấm dứt thuế lợi tức đánh vào kiều hối kể từ năm 1999.

d. Hủy bỏ luật lệ bắt buộc phải nhận tiền Việt khi rút kiều hối ra khỏi ngân hàng kể từ năm 1999. Hiện nay, kiều hối có thể được lưu trữ trong ngân hàng hay rút ra bắng ngoại tệ một cách dễ dàng.

e. Những công ty chuyển tiền lớn như Western Union và Moneygram được phép hoạt động tại Việt-Nam.

f. Bãi bỏ hệ thống hai giá.

g. Nhà nước ban hành Nghị Định số 81-2001-ND-CP cho phép Người Việt hải ngoại được mua nhà để ở tại Việt-Nam.

h. Quyết Định 78 của Thủ Tướng Chính Phủ chỉ thị tăng gia số cơ sở được nhận và chuyển kiều hối ở trong nước.

i. Thông tư liên bộ số 02-2005-TTLT-BKH-BTP-BNG-BCA tái xác nhận quyền mua nhà và giản dị hoá điều kiện đầu tư của Người Việt hải ngoại (thí dụ bỏ mức đầu tư tối đa 30% đối với một công ty nếu công ty này không bị luật Doanh Nghiệp Nhà Nước chi phối.)

Một trong những cách khác để thu hút kiều hối là khuyến khích những người hải ngoại cùng quê quán thiết lập và tài trợ những dự án phát triển quê quán của họ như xây dựng trường học, cầu, giếng nước, bệnh xá, cứu trợ thiên tai, v.v.

Hiện nay ở hải ngoại đã có một số tổ chức từ thiện tư nhân đứng ra làm một số dự án này ở những nơi khác nhau, nhưng mức độ còn nhỏ bé. Lý do là chế độ Việt-Nam hiện nay không có tự do, dân chủ, không tôn trọng nhân quyền, tham nhũng trầm trọng và xã hội đầy rẫy bất công.

Những sự kiện này làm nản lòng đa số người Việt ở nước ngoài khiến họ chưa muốn tích cực tham gia. Ngoài ra nhà cầm quyền Hà-Nội và chính quyền địa phương còn gây trở ngại cho những công tác từ thiện do những tổ chức phi chính phủ ở nước ngoài, đặc biệt là những tổ chức do người gốc Việt ở hải ngoại hoặc ngay ở trong nước chủ xướng.

Phi Luật Tân vào năm 1974 chỉ nhận được một số lượng kiều hối vào khoảng 103 triệu MK. Vào năm 2004, nước này tiếp nhận được gần 11.6 tỉ MK từ gần 8 triệu công nhân Phi (9% dân số) làm việc tại trên 100 quốc gia gửi về nước. Trung bình là 134.5 MK cho mỗi đầu người.

Yếu tố thành công là Phi đã dự đoán trước và thi hành những chiến lược thu hút kiều hối một cách hiệu quả. Trong 20 năm qua Phi luôn luôn ban hành những luật lệ khuyến khích di dân, xuất cảng lao động, và dành đặc quyền cho những người gửi tiền về nước trong những lãnh vực đầu tư, mua bán đất đai, và miễn trừ thuế, v.v.

Một ưu thế của dân tộc Phi là họ nói thông thạo Anh ngữ và có những trường huấn nghệ để dậy nghề cho dân Phi muốn làm việc ở nước ngoài. Việt-Nam nên học hỏi kinh nghiệm thành công của Phi Luật Tân.

3. So sánh hai nguồn kiều hối: Người Việt hải ngoại và công nhân xuất khẩu
Theo một ước tính dựa vào các dữ kiện của những ngân hàng thương mại, và những cơ sở tài chánh, có khoảng gần 3 triệu Người Việt hải ngoại sống ở 90 quốc gia và lãnh thổ. Khoảng 1.5 triệu người ở Hoa-Kỳ và Canada, nửa triệu người sống tại Tây Âu, và vào khoảng 300,000 người sống ở mỗi vùng như Đông Âu, Úc Châu, và Á châu.

Thu nhập của những Người Việt hải ngoại tương đối cao hơn những công nhân xuất khẩu. Do đó số ngoại tệ gửi về Việt-Nam trung bình của nhóm người này cao hơn con số trung bình của công nhân xuất khẩu.

Số ngoại tệ của nhóm Người Việt hải ngoại chuyển về Việt-Nam chiếm 90% tổng số ngoại tệ của cả hai nhóm. Tuy nhiên tỉ lệ của số ngoại tệ do Người Việt hải ngoại so với số thu nhập tương đối thấp hơn con số tương tự của nhóm công nhân xuất khẩu bởi vì đa số thân nhân của nhóm Người Việt hải ngoại cũng đang ở nước ngoài.

Người Việt hải ngoại có khuynh hướng chỉ gửi tiền vài lần trong nỗi năm, trong những dịp đặc biệt như Tết và những dịp có quan hôn tang tế trong gia tộc.

Theo ước tính của những ngân hàng thương mại, và những cơ sở chuyển tiền, mỗi Người Việt hải ngoại chuyển về Việt-Nam khoảng 500 – 1,000 MK hàng năm qua các ngả chính thức. Như vậy tổng số kiều hối do Người Việt hải ngoại gửi chính thức về hàng năm vào khoảng 1.5 – 3.0 tỉ MK.

Trong số 400,000 công nhân xuất khẩu tại 40 nước và lãnh thổ, đa số làm việc tại Mã Lai Á, Đài Loan, Nam Hàn, Nhật Bản, và Trung Đông. Thị trường lao động xuất khẩu gần đây bành trướng qua Tây Âu. Tin mới nhất cho biết Việt-Nam chuẩn bị gửi công nhân sang làm nghề hàn, cắt cỏ, và y tá tại Hoa-Kỳ trong 2007 từ một đến ba năm.

Có hai loại công nhân xuất khẩu. Loại I kiếm khoảng 100 – 350 MK trung bình mỗi tháng vì ít chuyên môn. Loại II kiếm khoảng 500-600 MK. Ngoài lương bổng, ăn ở được công ty bao thầu. công nhân xuất khẩu có khuynh hướng gửi tiền nhiếu lần và mỗi lần một ít cho gia đình tiêu dùng.

Mỗi công nhân xuất khẩu chuyển về Việt-Nam khoảng 300 – 500 MK hàng năm qua các ngả chính thức. Như vậy tổng số kiều hối do công nhân gửi chính thức về hàng năm vào khoảng 100 – 200 triệu MK. Con số này không kể tiền tiết kiệm do công nhân tích lũy được đem vào Việt-Nam khi họ trở về nước.

Tổng số kiều hối của hai nhóm gửi về việt-Nam hàng năm ở trong khoảng 1.6 – 3.2 tỉ MK. Con số cao ăn khớp với số liệu của cán cân chi phó. Nhà nước tiên đoán kiều hối của năm 2006 là 4 tỉ MK bao gồm 1.5 tỉ từ nguồn xuất khẩu lao động.

Theo cuộc nghiên cứu của Ngân Hàng Thế Giới, 60% kiều hối được chuyển về miền Nam (Saigon xuống đến Cà Mâu), 15% về miền Trung (Đà Nẵng xuống đến Ninh Thuận), và 25% còn lại phân phối về miền Bắc (Quảng Ninh, Hải Phòng và Hà Nội).

Một cuộc nghiên cứu của Viện Nghiên Cứu Xã Hội Học tại Hà Nội ước tính rằng trong số kiều hối khoảng 4 tỉ MK gửi về Việt-Nam trong năm 2004, 90% của số kiều hồi này được gửi dưới dạng tiền mặt và 10% còn lại dưới hình thức tặng vật.

4. Tầm quan trọng của kiều hối đối với việc phát triển kinh tế

Phân tích cán cân chi phó, người ta thấy ngay là kiều hối đóng một vai trò quan trọng trong việc làm giảm sự thiếu hụt cán cân vãng lai (current account balance) cũng như nói chung là cán cân chi phó (balance of payments).

Trong hai năm 2005-2006, số lượng kiều hối lớn hơn gấp hai lần vồn ngoại quốc thực sự đầu tư vào Việt-Nam và gần gấp hai lần tiền Việt-Nam vay từ nguồn ODA (Official Development Assistance) cộng với tiền viện trợ chính thức (official transfers).

Ngoài ra kiều hồi là nguồn ngoại tệ quan trọng đối với nền kinh tế Việt-Nam, đặc biệt đối với nhu cầu nhập cảng máy móc và nguyên liệu cần thiết trong giai đoạn phát triển.

Trong năm 2006, số lượng kiều hối tương đương với 5.7% GDP và đủ khả năng tài trợ 72% cán cân mậu dịch thiếu hụt. Số lượng kiều hối tương đối ổn định hơn những nguồn ngoại tệ khác như vốn vay nợ, tiền viện trợ, v.v.

Ngoài ra số ngoại tệ này thường gia tăng khi có tai biến hoặc kinh tế suy trầm. Do đó kiều hối giúp làm giảm mức độ xáo trộn đột biến có thể ảnh hưởng đến mức tiêu thụ và số lượng ngoại tệ từ những nguồn khác.

Việt-Nam là một nước sản xuất dầu thô và vừa nhận được số lượng kiều hối đáng kể. Do đó Việt-Nam là một trường hợp điển hình để so sánh lợi ích của kiều hối và thu nhập từ nguồn tài nguyên thiên nhiên.

Trong khi số thu nhập về dầu thô lên đến 7.4 tỉ MK trong năm 2005. Số tiền lớn này hoàn toàn nằm trong tay nhà nước với một chế độ độc đảng toàn trị. Việc sử dụng số tiền này một cách hữu hiệu không tránh khỏi những mâu thuẫn liên hệ đến chính trị, giữa quyền lợi của đảng và của nhân dân. Ngược lại, kiều hối gồm nhiều triệu món tiền nhỏ, được phân phối rộng rãi và không qua trung gian nhà nước. Do đó kiều hối không bị ảnh hưởng tiêu cực như số lượng thu nhập từ dầu thô.

Một cuộc nghiên cứu 74 nước nghèo đang phát triển cho thấy rằng trung bình số di dân tăng khoảng 10% sẽ làm cho mức nghèo đói ở nước liên hệ giảm 1.6%.

Tương tự, khoảng 10% gia tăng của tỉ lệ mức kiều hối so với tổng sản phẩm nội địa (Gross Domestic Product – GDP) sẽ làm mức nghèo đói giảm 1.2%. 10/
Mặt tiêu cực của kiều hối là nếu số lượng kiều hồi gia tăng đáng kể có thể đem lại một rủi ro là làm tăng giá trị đồng bạc Việt-Nam và như vậy sẽ làm giảm sức cạnh tranh của sản phẩm Việt-Nam qua sự gia tăng giá xuất cảng. Cho đến nay Việt-Nam tiếp tục thành công trong việc duy trì một chế độ hối suất uyển chuyển một cách quân bình, chưa có dấu hiệu về rủi ro này và tiếp tục hưởng được những lợi ích cuả kiều hối.

Kiều hối có thể dùng để bảo đảm vay vốn với lãi suất thấp một cách hữu hiệu và đã áp dụng ở một số nước như Thổ Nhĩ Kỳ, Ba Tây, Mễ Tây Cơ, El Salvador, Peru, v.v. Đây là một lợi ích khác của kiều hối cần đề cập đến để sau này Việt-Nam có thể áp dụng khi hệ thống ngân hàng đã được cải tổ và phát triển. Thủ tục tiến hành có thể diễn giải qua một thí dụ về một ngân hàng muốn vay tiền.

Ngân hàng này phát hành trái khoán bảo đảm bằng số kiều hối mà ngân hàng này ước tính sẽ nhận được. Những nhà đầu tư nước ngoài có thể cho ngân hàng vay tiền trước bằng cách mua trái khoán.

Khi kiều hối thật sự chuyển đầy đủ qua một ngân hàng trung gian ở nước ngoài, một phần kiều hối này sẽ được dùng để thanh toán vốn nợ và tiền lời cho các nhà đầu tư. Ngân hàng vay nợ nhận số kiều hối còn lại và lúc đó chuyển tiền đầy đủ cho những người nhận. Ngoài ích lợi là tìm được nguồn tài trợ, ngân hàng vay nợ còn tạo thêm được tín nhiệm trong doanh nghiệp.

5. Kết luận

Để thiết lập được một chính sách kiều hối thich hợp, trước hết Việt-Nam cần phải cải thiện hệ thống thu thập số liệu về kiều hối đồng thời phát triển chương trình di dân và xuất khẩu lao động.

Quan trọng hơn cả, trên phương diện thực tế, kiều hối trực tiếp giúp nhiều gia đình nghèo có phương tiện sinh sống và vốn làm ăn. Như vậy kiều hối giúp giảm mức nghèo đói ở Việt-Nam, đặc biệt tại khu vực nông thôn vì phần đông công nhân xuất khẩu lao động phát xuất từ đây.

Kế hoạch xuất khẩu lao động cần phải cải tổ sâu rộng để chấm dứt tình trạng lạm dụng và bóc lột nhân công qua các trung gian tư nhân hay nhà nước và người sử dụng lao động nước ngoài mà báo chí đã đề cập đến rất nhiều.

Việt-Nam nên hợp tác với những nước xuất cảng lao động như Bangladesh, Trung Quốc, Ấn Độ, Nam Dương, Nepal, Phi Luật Tân, Pakistan, Sri Lanka, và Thái Lan để ấn định chính sách chung nhắm bảo vệ quyền lợi của công dân thuộc nước mình ở hải ngoại. Do sáng kiến của Sri Lanka, một hội nghị đầu tiên của 10 quốc gia xuất khẩu lao động đã được tổ chức tại nước này vào năm 2003.

Những tin tức nhận được từ những công nhân xuất khẩu lao động ở Mã Lai, Đài Loan, Ba Lan, và Tiệp Khắc cho thấy các viên chức thuộc Đại Sứ quán Việt-Nam ở những nước này đã không giúp đỡ công dân Việt-Nam khi họ gặp hoạn nạn. Trái lại những viên chức này còn lợi dụng cơ hội để đòi tiền hối lộ của đồng bào.
Kiều hối sẽ tiếp tục gia tăng trong những năm tới nhờ chương trình xuất khẩu lao động của Việt-Nam tiếp tục phát triển, trong khi số kiều hối do Người Việt hải ngoại gửi về tương đối ổn định. Việt-Nam dự kiến tăng số công nhân xuất khẩu lao động từ 70,000 người đến 100,000 người mỗi năm kể tử 2007.

Do đó vào cuối năm 2010, Việt-Nam sẽ có khoảng 800,000 công nhân làm việc tại nước ngoài, Với hơn một triệu người mới cần việc làm mỗi năm, chương trình xuất khẩu lao động giúp làm nhẹ bớt nạn thất nghiệp ở trong nước.

Chú thích:

1. Theo Ủy Ban Việt Kiều (2005), trong số 2.9 triệu người Việt ở nước ngoài, có: 240,000 ở Úc, 1,300,000 người ở Hoa-Kỳ, 200,000 người ở Canada, 250,000 ở Pháp, 100,000 người ở Đức, 300,000 người ở Nga và Đông Âu, 40,000 người ở Anh quốc, 15,000 người ở Hòa Lan, 12.000 người ở Bỉ, 30,000 người ở Bắc Âu, 12,000 người ở Nhật Bản, 110,000 người ở Đài Loan, và 100,000 người ở Thái Lan.

2. The World Bank, “Global Economic Prospects – Economic Implications of Remittances and Migration” Washington, DC: 2006.

3. Những con số này lấy từ tài liệu về cán cân chi phó (balance of payments) do Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF) cung cấp. Những số liệu về kiều hối của nhà nước Việt-Nam thường cao hơn số liệu của IMF.

4. IMF, “Vietnam: Selected Issues,” Country Report No. 06/20, Washington DC: January 2006.

5. Dang Nguyen Anh, “Enhancing the Development Impact of Migrant Remittances and Diaspora: The Case of Vietnam,” institute of Sociology, Hanoi: August 24, 2005.

6. Việc thi hành luật này cho tới nay chưa được rõ ràng.

7. Việc thi hành luật này cho tới nay chưa được rõ ràng. Vụ bắt bớ hai nhà đầu tư Trịnh Vĩnh Bình (Hòa Lan) và nguyễn Đình Hoan (Hoa-Kỳ), và nhiều vụ chưa được tiết lộ đã gây ra ảnh hưởng xấu cho việc đầu tư.

8. Raul Hernandez-Cross, “The Canada-Vietnam Remittances Corridor – Lessons from on Shifting from Informal to Formal Transfer Systems,” The World Bank, Washington, DC,: November 15, 2004.

9. Dang Nguyen Anh, “Enhancing the Development Impact of Migrant Remittances and Diaspora: The Case of Vietnam,” institute of Sociology, Hanoi: August 24, 2005.

10. John Page, Richard H. Adams, “International Migration, Remittances, and Poverty in Developing Countries,” World Bank Policy Research Working Paper, No. 3179: Washington, DC: 2003.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Thủ Tướng VN sẽ gặp Ðức Giáo Hoàng tại Vatican
Jan 14, 2007
VOA - Theo loan báo chính thức của Tòa Thánh Vatican thì Thủ Tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng sẽ hội kiến với Đức Giáo Hoàng Benedicto 16, nội trong tháng này.

Đây sẽ là cuộc tiếp xúc ở cấp cao nhất giữa nhà cầm quyền Cộng Sản Hà Nội và Tòa Thánh Vatican từ trước đến nay.

Theo tin chi tiết thì ông Nguyễn Tấn Dũng sẽ viếng thăm Đức Giáo Hoàng Benedicto 16 vào ngày 25 tháng này.

Cuộc viếng thăm này đã được xem như là một dấu hiệu nữa cho thấy rằng các mối quan hệ giữa đôi bên đang được cải thiện sau nhiều thập niên căng thẳng.

Cuộc viếng thăm cũng có thể là một hành động tiến gần hơn đến việc thiết lập các mối quan hệ ngoại giao chính thức giữa Tòa Thánh Vatican và Việt Nam.

Trong quá khứ, Hà Nội đã nhấn mạnh đến việc phải có tiếng nói quyết định trong hầu hết mọi sự đề cử của Giáo Hội, và đây là một thách thức đối với thẩm quyền của Tòa Thánh Vatican.

Tuy nhiên trong tháng 11, năm 2005, chính phủ Việt Nam, lần đầu tiên, đã cho phép một Hồng Y của Tòa Thánh Vatican đến Việt Nam để làm lễ thụ phong cho 57 linh mục Việt Nam.

Post Reply