Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày

Cho đuổi mèo, mèo rượt chuột, chuột sa chỉnh gạo, gạo tải vô xe... thế rồi... xe cán chó!!!

Moderators: CNN, khieulong

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Ngửi

Song Thao
Bạn biết ngửi từ lúc nào? Câu hỏi thiệt… khó ngửi. Ấm a ấm ớ! Từ khi có cái mũi chứ từ lúc nào! Cái mũi có từ khi bào thai tượng hình trong bụng mẹ, bộ nằm trong cái nôi đầu đời đó đã biết hít hà rồi chăng? Chưa đâu! Phải vài ngày sau khi oe oe chui ra, chúng ta mới ngửi được. Ngửi cái gì? Ngửi được sự khác nhau giữa hơi mẹ và hơi người đàn bà khác. Nhà tâm lý học Hilary Schmidt, thuộc Trung tâm Monell Chemical Senses, đã làm thí nghiệm để chứng minh rằng trẻ sơ sinh biết chọn mùi mà chúng ưa thích. Bà thu hình nhiều trẻ sơ sinh, cả trai lẫn gái, khi chúng được trao cho những đồ chơi lúc lắc có tẩm ba loại mùi khác nhau: mùi gỗ thông, mùi bytyric acid rất hôi và mùi dầu lửa. Bà Schmidt nhờ 8 bà khác quan sát kỹ xem các em bé phản ứng như thế nào. Dĩ nhiên các bà này không được cho biết đồ chơi nào tẩm mùi gì. Cả 8 bà đều thấy rằng bọn trẻ rõ ràng thích mùi gỗ thông. Có bé mỉm cười sung sướng, có bé đưa cái lúc lắc sát vào miệng, hoặc kê sát vào mũi mà hít. Những đồ chơi có tẩm các mùi khác bị các bé ném ra xa, hoặc lơ đi không thèm sờ tới.

Lớn lên, chúng ta cứ thế mà làm.

Thằng Bờm có cái quạt mo
Còn em có cái trời cho thơm lừng
Na thân xuống biển lên rừng
Cái thơm lừng vẫn tưng bừng nở bông
Em đừng thơm nữa được không?
Kẻo tôi chết sững hai tròng con ngươi
(Quan Dương)


Cái thơm lừng ở đâu ra? Giáo sư Vật lý học A. Galopin, người Pháp, đã tìm ra là mùi hương đặc trưng của mỗi người đàn bà tùy thuộc vào màu tóc của họ. Người có tóc màu vàng thì tiết ra long diên hương, tóc hạt dẻ tiết ra hương violet, tóc màu nâu tiết mùi xạ hương. Nhưng ông Galopin chẳng nói gì tới tóc màu đen. Thật là một thiếu sót khó tha thứ! Cái thiếu sót nữa của nhà vật lý học này là chỉ biết có tóc. Còn các chỗ khác để làm gì? Bà Janet L. Hopson là đàn bà nên chắc biết rõ đàn bà hơn. Trong cuốn Hương đàn bà, ngôn ngữ thầm lặng của tình dục, bà liệt kê khá đầy đủ các nguồn thơm lừng. Theo bà, trên thân thể phụ nữ, cho dù được che đậy bằng mỹ phẩm cách mấy, cũng còn những khu vực tiết mùi. Đó là ở nách, chung quanh âm đạo, nếp gấp ở âm vật, phần ngực giữa đôi gò bồng đảo, phần quanh đỉnh non bồng, trên khuôn mặt, trên lòng bàn tay và gan bàn chân. Cô đào sexy thường được coi là biểu tượng của tình dục trong thập niên 1960 Brigitte Bardot có sức phát tiết mạnh đến kỳ lạ. Bác sĩ Richard Gordon thường đến xem các cảnh quay mà cô vừa diễn xong cho biết, hoa của những người ái mộ tặng cô đều bị héo úa nhanh, do sự tỏa hương cực mạnh của các tuyến nội tiết nơi cô. Ông thừa nhận, trong những năm hành nghề y khoa, ông chỉ gặp một vài trường hợp tỏa hương mạnh mẽ như vậy! Trong một cuộc phỏng vấn các đấng mày râu, James Hassett thấy quá nửa số các ông cho biết mùi hương phụ nữ là “cực kỳ quyến rũ”. Tôi e rằng con số này hơi thấp!

Cái “cực kỳ quyến rũ” đó có tên đàng hoàng. Pheromone. Người phát hiện ra pheromone là nhà sinh học Winnifred Cutler. Pheromone là hương thơm tự nhiên mà cơ thể toát ra. Ở loài động vật, pheromone có tác dụng thu hút bạn tình. Nơi các cô gái trẻ, hương thơm tự nhiên này toát ra mạnh mẽ hơn những bà có tuổi. Vì vậy, các nhà nghiên cứu ở Mỹ đã bổ sung mùi hương này vào nước hoa của những phụ nữ lớn tuổi. Kết quả thật khả quan. Nó có tác dụng hồi xuân cho những bà không còn trẻ, và làm phong phú hơn cuộc sống tình cảm của họ. Một nghiên cứu của Joan Friebely (Đại Học Harvard) và bác sĩ Susan Rako (Newton, Massachusetts) được thực hiện với 44 phụ nữ đã mãn kinh. Một nửa dùng nước hoa có pheromone athena 10:13, được chiết xuất từ mồ hôi nách của một cô gái. Nửa còn lại sử dụng nước hoa chứa giả dược. Họ được theo dõi và tự ghi nhật ký trong 6 tuần thí nghiệm. Kết quả cho thấy 41% những người sử dụng pheromone được đối tượng nam ôm hôn và âu yếm nhiều hơn so với 14% người dùng giả dược. Ngoài ra, 68% người sử dụng nước hoa có pheromone có sự gia tăng trong các hành vi tình dục của mình so với 41% của nhóm kia.

Đã có mùi hương thơm thiếu nữ tự nhiên, nhưng số đông các cô ngày nay vẫn xịt trên người những thứ nước thơm nhân tạo. Nó là một cách “đánh dấu” mình trong đám đông. Kỹ nghệ sản xuất nước hoa ngày nay là một kỹ nghệ hái ra tiền nên nhiều cạnh tranh. Thuộc được tên tất cả các loại nước hoa của các hãng sản xuất là một công phu vất vả. Thường một người chỉ dùng một loại nước hoa họ đã kết, để có mùi thơm đặc trưng, không lẫn với ai. Cái mùi đặc trưng này là cái mùi… chết người. Cùng một loại nước hoa, nhưng mỗi người dùng lại có một hương thơm khác nhau. Sở dĩ như vậy là vì da của mỗi người có một phản ứng khác nhau, điều tiết sự biến đổi khi tiếp xúc với nước hoa. Nếu các nàng lại biết những điểm… chiến lược, để nước hoa tỏa hương mạnh và lâu thì ăn đứt. Những điểm trời cho để thoa nước hoa là những điểm có thân nhiệt cao và khá kín đáo: sau tai, cổ, cườm tay, khuỷu tay và khe ngực. Nếu dùng bình xịt để xịt nước hoa, nên xịt vào không khí trước mặt, rồi bước vào làn sương đó. Hơi nước hoa sẽ thấm đều và hương vương trên tóc, sẽ lưu giữ được suốt ngày.

Nước hoa là tên gọi chung chung. Rành mạch hơn, chúng ta phải biết những thuật ngữ mà các nhà chế tạo thứ nước thơm này dùng. Nếu chúng ta không rành thì điên cái đầu trước những parfum, eau de parfum, eau de toilette, eau de cologne! Chúng là cái chi chi vậy? Đó là trò chơi chữ của các nhà sản xuất, biểu trưng cho độ tập trung khác nhau của tinh dầu thơm thực sự chứa đựng bên trong.

Parfum, Perfume hay Extrait là dạng tập trung nhất, thơm bền bỉ nhất, với từ 12% đến 30% tinh dầu thơm, đồng thời cũng là dạng mềm mại, nhẹ nhàng nhất của mùi hương, vì nó chứa nhiều tinh dầu thơm thực sự tinh khiết. Eau de parfum hay Esprit de parfum có độ tập trung gần giống như chiết xuất truyền thống, nhưng đã được pha loãng với một lượng nước tinh khiết nhất định. Eau de toilette hay Eau de cologne là dạng nhẹ nhàng hơn, chỉ có từ 4% đến 8% tinh dầu. Cũng là Eau de cologne, nhưng nếu được sản xuất tại Âu Châu thì lại chỉ còn từ 1% đến 3% tinh dầu thơm!

Mùi thơm của nước hoa khi vừa được xịt ra khỏi lọ không phải là mùi thơm đích thực. Vì vậy khi chọn mua nước hoa, bạn nên thử bằng cách xịt vào tay, phe phẩy độ vài phút rồi hãy ngửi. Loại nước hoa càng đậm đặc thì lại càng lâu tỏa đúng mùi. Nhanh nhất cũng phải mất 10 phút. Những… nữ chuyên viên mua nước hoa còn kỹ hơn. Họ không bao giờ thử ngay tại chỗ, vì nước hoa sẽ bị nhiễu các mùi khác trong môi trường của tiệm bán hàng. Cách họ thử là xịt nước hoa trên một miếng giấy, sau đó đưa vào một môi trường cách ly để ngửi.

Chúng ta ngửi thua loài vật bốn chân từ khi con người có tư thế đứng thẳng và biết sử dụng các vật dụng săn bắn. Bốn trong năm giác quan căn bản, gồm thị giác, thính giác, xúc giác và vị giác, đều phải đi qua một khu vực não gọi là vùng đồi (thalamus) trước khi được kết nối với những tế bào thần kinh ở các khu phát triển hơn nơi trung tâm não. Như vậy, chúng phải đi qua một bộ phận lọc tín hiệu, rồi mới đến khu vực não tư duy để được phân tích. Riêng khứu giác được ưu đãi hơn, không phải đi lòng vòng như vậy. Nó đi thẳng tới vùng não được thành hình sớm nhất.

Giáo Sư Sten Grillner, thành viên trong Hội đồng Giám khảo của giải Nobel Y khoa năm 2004, cho rằng khứu giác là thành phần bí ẩn nhất trong số các giác quan của con người, và cơ chế của nó hoàn toàn là một ẩn số. Cái ẩn số này đã được hai nhà khoa học Mỹ Richard Axel và Linda B. Buck giải đáp được. Họ không làm việc chung với nhau. Ông Richard Axel, 58 tuổi, cộng tác tại Viện Nghiên cứu Y khoa Howard Hughes và Đại học Columbia ở Nữu Ước. Còn bà Linda B. Buck, 57 tuổi, làm việc tại Trung tâm Nghiên cứu Ung thư Fred Hutchinson. Người ở miền Đông, người ở miền Tây, nhưng họ cùng… ngửi được chung một vấn đề. Hai người đã cùng công bố các phát hiện về gene khứu giác vào năm 1991. Sau đó họ tiếp tục nghiên cứu riêng rẽ và đưa ra nhiều phát hiện quan trọng liên quan tới hệ khứu giác của con người. Họ tìm ra được một họ, gồm một ngàn loại gene khác nhau (chiếm 3% tổng số gene của con người), kiểm soát một lượng lớn các protein trong mũi, có chức năng cảm nhận những mùi khác nhau và liên lạc với não. Các nghiên cứu của hai nhà khoa học này đã chỉ ra rằng mỗi tế bào khứu giác thể hiện một và chỉ một gene khứu giác. Mỗi gene khứu giác lại chỉ có thể cảm nhận được một số mùi nhất định. Do đó, phạm vi hoạt động của mỗi tế bào khứu giác được chuyên môn hóa đối với những mùi này. Những nghiên cứu tiếp theo của Axel và Buck chỉ ra cơ chế tổ chức đưa các mùi do mũi ngửi được về não như thế nào. Trạm nhận tín hiệu mùi sử dụng khoảng 2000 tiểu khu thần kinh gọi là glomeruli, được lập trình sẵn để xác định các mùi khác nhau. Mỗi loại tế bào khứu giác truyền thông tin tới phần glomeruli tương ứng. Các thông tin này lại được một loại tế bào thần kinh khác truyền tới những khu vực nhất định trong não, từ đó giúp con người ghi nhớ được cảm giác về các mùi hương khác nhau. Con người có khả năng tiếp nhận và ghi nhớ được khoảng 10 ngàn mùi khác nhau, từ mùi thịt ôi tới mùi hương của người yêu!

Từ mũi lên đầu, con đường gần xịt, vậy mà rắc rối như tơ vò. Phải đợi tới thế kỷ 21 con người mới vẽ được… tấm bản đồ tí hon đó! Tí hon như vậy mà lại đi xa: hai nhà khoa học Richard Axel và Linda B. Buck đã được trao tặng giải thưởng Nobel 2004 về Y khoa. Những phát hiện mới này của họ có gì quan trọng? Chúng lý giải tại sao chúng ta có thể ngửi một loại hoa vào mùa xuân, và sau đó tới mùa khác vẫn nhớ và tưởng tượng được mùi hương đó. Khả năng này rất quan trọng đối với các loài động vật, bởi nó giúp xác định các chất, các vật thể xung quanh, để từ đó quyết định thứ nào tốt, thứ nào có hại cho cơ thể. Riêng đối với con người, khả năng này còn ảnh hưởng trực tiếp tới việc hưởng thụ chất lượng cuộc sống và tiếp nhận những dấu hiệu cảnh báo nguy hiểm, chẳng hạn như mùi khói của một đám cháy.

Các nhà khoa học đều cho rằng mùi có thể tạo cảm xúc mạnh và gợi lại ký ức của chúng ta. Ký ức với mùi của tôi là cái mùi nhẹ nhàng thanh thoát, tỏa ra từ chiếc quạt trầm mà mẹ tôi phe phẩy ru tôi ngủ trong những trưa hè oi ả của miền Bắc. Lớn hơn một chút là mùi trầm thơm lừng trong các buổi lễ trong nhà thờ Hàm Long, mùi trầm gợi nhớ tới một trong các vật liệu quý giá mà các nhà thông thái phương Đông lặn lội bao nhiêu dặm đường gian truân, để đến kính dâng lên Chúa Hài đồng trong hang đá Bê Lem.

Trầm hương đã được con người biết đến từ thời Ai Cập cổ đại, và được xem là “cây của các vị thần” trong mọi nền văn hóa, từ Trung Cận Đông cho đến Á Châu. Trầm hương chứa một dạng chất nhựa màu đen gọi là oleoresin. Hàm lượng oleoresin cao là yếu tố quan trọng, quyết định đẳng cấp của trầm hương. Công ty JD của Trung Quốc thường phân loại trầm hương cấp 1 khi trầm hương có thể chìm trong nước. Nhưng cách phân loại khoa học nhất vẫn là dựa vào hàm lượng oleoresin. Loại cao cấp nhất có hàm lượng oleoresin lên tới từ 60% đến 80%. Trầm hương quý hiếm có chất lượng cao được gọi là kỳ nam. Với tính chất định hương rất bền, một thớ trầm hương mục rã trong tự nhiên hàng ngàn năm vẫn không mất mùi. Vì vậy, tinh dầu trầm hương được sử dụng trong việc chế tạo mỹ phẩm giúp tăng giá trị sản phẩm lên gấp nhiều lần.

Trong vùng rừng núi nguyên sinh của dãy Trường Sơn, vùng Tây Nguyên nước ta, chúng ta có cả trầm hương và kỳ nam. Đây là sản vật được kết tinh tự nhiên với thời gian hàng trăm năm từ nhựa của cây dó bầu, tên khoa học là aquilaria agallocha. Cây này thuộc loại đại mộc, cao khoảng 40 tới 50 thước, vỏ màu xám, có nhiều sợi. Tùy theo chất lượng, trầm hương có giá đến 4 ngàn đô Mỹ một ký, trong khi kỳ nam giá tới mức từ 30 ngàn đến 35 ngàn đô một ký trên thị trường quốc tế. Ngày 26 tháng 3 vừa qua, bốn tay săn trầm của làng Mỹ Hảo, xã Đại Phong, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam đã trúng lớn khi đào được 49 kí vừa trầm vừa kỳ nam. Bốn thanh niên may mắn trở thành tỷ phú này là các anh Doãn Thành Tài, Doãn Xuân Tuấn, Lê Phước Giác và Trương Văn Lợi. Tìm trầm và kỳ nam nghe tưởng dễ dàng, nhưng “ngậm ngải tìm trầm” là cả một công phu đầy nguy hiểm.

Nhà văn Hoàng Du Thụy rất mặn mà với trầm. Bà đã có ba cuốn truyện có tựa đề dính dáng tới thứ gỗ quý này: Trầm hương hạnh phúc, Một dây trầm và Bạn trầm! Nhưng trầm của Hoàng Du Thụy không chỉ là trầm mà chính là hạnh phúc. Tìm hạnh phúc cũng gian nan vất vả như tìm trầm.

“Người ta ví kẻ đi tìm hạnh phúc giống như người ngậm ngải tìm trầm. Lúc còn làm ở sở Ngoại thương, Tịnh nghe mấy người bạn trầm kể kẻ đi tìm trầm phải chịu ngậm ngải. Có khi mặt đã xanh, nanh đã vàng, gần hóa hổ rồi mà trầm vẫn không thấy. Dân bạn trầm tin rằng phải được mệ cho thì mới gặp được trầm, bằng không đứng ngay dưới gốc trầm vẫn không hay biết. Có người chỉ cần đạp được một gốc trầm thôi là đủ giầu to. Tịnh ví vợ mình như gốc trầm còn ẩn, biết có đó mà tìm hoài không thấy. Cũng có thể, với lòng tham của con người, Tịnh đã thấy trầm rồi lại ước được kỳ nam! Mỗi người có một cung cách đi tìm trầm riêng, không ai giống ai. Người nóng nảy thì sẵn dao rựa trong tay cứ gạt phăng cây cỏ mà đi. Người điềm đạm thì kiên trì vẹt từng đám lá non để lỡ có gốc trầm trong đó thì không thiệt hại trầm. Quanh quẩn hoài, tìm không ra hạnh phúc, người kiên nhẫn thì cố đi cho suốt cuộc, người nóng tính bỏ ngang. Tịnh là người nóng tính, cẩu thả nên mười mấy năm qua chàng cứ dẫm bừa lên những gốc trầm.”

Hạnh phúc trầm, con người cứ mải mê đi tìm, đôi khi trầm nằm trước mặt mà chẳng thấy. Trầm hay ngải, chúng nằm ngay trên môi trên ngực người yêu. Tìm đâu nữa!

Ơn em ngực ngải môi trầm
Cho ta cỏ mặn trăm lần lá ngoan
Ơn em hơi thoảng chỗ nằm
Dấu quanh dấu quẩn nỗi buồn một nơi.
(Du Tử Lê)

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Ước gì tôi... thất nghiệp! Một dạo đi qua đầu phố Đường Thành - Hà Nội, lần nào cũng thấy có một tốp người trai tráng lẫn trung niên, vai vác cưa, tay xách túi đồ nghề đứng túm năm tụm ba, tôi lấy làm ngạc nhiên, sau hỏi ra thì biết đó là cánh thợ mộc - thường là quê ở Hà Nam, đang đứng chờ việc. Ngẫm ra cũng đúng, không phải khi nào người hàng phố cũng có công lớn việc to, nhiều khi nhà có chiếc tủ mộng mẹo lâu ngày vênh váo, có cái cánh cửa tự dưng rơi bản lề, rồi ghế gãy, bàn hỏng... "bỏ thì thương, vương thì tội" thế là mấy anh thợ trở nên hữu dụng. Ới một cái là đến ngay, sửa chữa vặt..., xong lại vác cưa đi. Làm ngay tại nhà, giá cả phải chăng. Hoá ra khi cuộc sống xuất hiện một nhu cầu thì lập tức lại xã hội lại sản sinh ra một khả năng để đáp ứng. Nhưng cho ngẫm kỹ thì vào lúc sự vận hành của văn minh đã đưa lại nhiều khả năng đáp ứng hơn thì có loại nhu cầu vẫn tồn tại hàng ngày mà cái nghề để đáp ứng nó lại dần dà vắng bóng, như nghề nghiệp của bác "phó cối" chẳng hạn, con người vẫn cần tới thóc gạo, nồi cơm vẫn phải sôi lên hàng hàng, vậy mà sự có mặt của các chiếc máy xay xát chạy bằng động cơ điện chẳng mấy chốc đã thay thế những chiếc cối xay lúa, cối giã gạo và làm cho bóng bác "phó cối"... mất nghề. Lại có những nghề mà tôi tin ngày nào con người còn sinh tồn thì nghề ấy không thể mất đi. Như nghề của thợ may, thợ cắt tóc chẳng hạn. Thử hình dung một ngày nào đó con người không cần sửa sang râu tóc, không cần tới quần lượt áo là? Vậy là vẫn cần có những anh suốt ngày "xoa đầu thiên hạ" (như có lần một anh thợ cắt tóc ở trên Sa Pa kể với tôi rằng anh ta "đã xoa đầu hơn 32 quốc tịch"!), hay lại có người suốt ngày đo kích cỡ nhân gian để làm ra tấm áo, chiếc quần, bất chấp việc dân gian vẫn truyền bá câu tục ngữ: "Thợ may ăn giẻ, thợ vẽ ăn hồ"!.

Nghĩ về các loại nghề nghiệp trong cuộc đời lại quay ra nghĩ về nghề nghiệp của mình, hoá ra tôi cũng có nghề nghiệp đàng hoàng ra phết - nghề "lý luận - phê bình", nghe vừa trừu tượng lại vừa sang, đến mức hẳn là sẽ có người không hiểu đó là cái nghề gì! Vậy mà cái nghề của tôi lại sống tốt, thậm chí nhiều khi còn trở thành tiêu điểm trong sinh hoạt tinh thần của xã hội, ăn đứt sự cặm cụi của mấy bác phó mộc, phó nề hay mấy anh cúp-phơ múa kéo bằng "bàn tay vàng". Ngoài việc có bài vở, ý kiến đăng tải trên mặt các báo trong Nam ngoài Bắc, thi thoảng người làm lý luận - phê bình còn được lên ti-vi nói những điều có vẻ uyên bác, hùng hồn, kèm theo những cái khoát tay như là muốn coi sự đời quá ư đơn giản. Mà cái "đời sống văn chương - học thuật" xứ ta cũng phức tạp, bên những cuốn sách hay, những bài thơ đáng đọc, các công trình nghiên cứu tử tế, các ý kiến nghiêm túc và lành mạnh, lại có những sự, vụ chẳng ra làm sao, nên hầu như ngày nào cũng có một việc gì đấy khiến công chúng phải để mắt, lưu tâm. Nơi thì bác này la thất thanh là "bị đánh tơi bời". Nơi thì anh kia nức nở khen một tập thơ mà nếu không có anh nức nở thì cũng chẳng mấy ai biết tới sự có mặt của nó. Lại có vị chẳng có mẩu chữ nào viết ra mà chưa được in, vậy nhưng đăng đàn ở đâu cũng kêu gọi phải làm thế nào để có "tự do sáng tác". Rồi ông nhà thơ này "đạo thơ", nhà khoa bảng kia "đạo sách". Rồi những công trình nghiên cứu "dở dơi dở chuột" vẫn được khẳng định là "tài liệu tham khảo đặc biệt". Lại có vị vốn chỉ tồn tại trong đời sống văn chương - học thuật như "cây lưu niên" nhưng lại cứ nhầm tưởng mình là "cây đại thụ", nếu ai động tới là nhảy dựng lên, không cần xem xét lại bản thân mà vội vàng viết thư, gọi điện đến nơi có trách nhiệm để… "mách bố"! Thậm chí có vị không được trao giải thưởng liền hối hả viết thư "tâm tình" với người có trách nhiệm chỉ nhằm chứng minh bản thân đủ công tích nhận giải… Nghĩa là đời sống văn hương - học thuật nước nhà luôn luôn thêm phần sinh động vì những sự, vụ có cả bi lẫn hài, khiến người ta có thể cười và có thể khiến người ta phải nhăn nhó. Có lẽ vì vậy mà cái nghề lý luận - phê bình tôi đeo đuổi bấy nay mới có thêm đất để… hành nghề!

Mà tôi tự thấy bản thân mình cũng là một tay "bất thường". Thà cứ như nhiều đồng nghiệp khác chuyên chọn kế "mũ ni che tai", ai viết gì mặc họ, người ta nói gì mặc người ta, im ỉm một mình có khi lại được tiếng là người cao đạo, thâm trầm. Thà cứ như một số vị thấy tác phẩm nào "khác thường" là ơrêka ầm ĩ cả lên, vừa được tiếng là người mau thích ứng với "cái mới", vừa chứng tỏ là có "con mắt xanh", biết đâu lại chẳng được lưu danh là người "đỡ đầu". Thà cứ như một số cây bút khác, lúc nào cũng lủng liểng bên hông một "bi-đông nước đường", gặp tác phẩm nào (nhất là tác phẩm của chiến hữu cánh hẩu) là tặng luôn vài "muôi", ngọt ngào mật ngọt, vẹn cả đôi đường. Thà cứ như một số người làm lý luận - phê bình nhưng chuyên về "khảo cố", sắm bút nghiên thì ít, sắm xẻng cuốc thì nhiều, nhất là có vị khảo được tác phẩm cổ lại ngỡ là của mình, làm cho bản quyền trở thành khái niệm hư ảo… Đằng này tôi lại chọn cái lối lý luận - phê bình chuyên "nhè" vào các sự, vụ văn chương - học thuật mà "phê", nên dễ làm cho kẻ ghét thì nhiều người ưa thì ít. Vậy mới diễn ra cái sự có người hôm trước vồn vã bắt tay, hôm sau lạnh mặt. Vậy tôi mới được đọc cái lá đơn được gửi đi chỉ để khẳng định Nguyễn Hoà dám cả gan "đánh các tiến sĩ" - đội ngũ trí thức tinh hoa của đất nước. Vậy mới có chuyện người ta dựng đứng ra tình huống bỉ ổi rằng Nguyễn Hoà không được ghi danh trong công trình "ngâm cứu" của họ nên… phẫn nộ, tìm mọi cách để hạ uy tín cuốn sách! Vậy nên tôi mới có vinh dự được người ta tặng cho đủ loại phẩm chất "cao quý", từ vô lối, ngô nghê, mộng du, hoang tưởng, mê ngủ, lẩn thẩn, rồ dại… đến ngông cuồng, vô sinh, ngạo mạn, ngu ngơ, hồn nhiên, ếch ngồi đáy giếng…, đọc lên mà thấy ghê hết cả người, lại quay ra nghi ngờ có khi chính mình cũng mang các phẩm chất như thế thật! Rồi là còn đặt ra câu hỏi: không biết văn chương - học thuật nước nhà có cần tới một "công ty vệ sinh môi trường văn chương" như dòng chữ trên máy tính của nhà tôi vẫn thường chạy vèo vèo mỗi khi "đang ngủ" hay không? Lại mong xã hội có một đời sống văn chương lành mạnh. Lại mong ai đó không mượn văn chương - học thuật chỉ để thoả mãn thói háo danh. Lại mong mọi người đều thấu hiểu thế nào là "chính danh" để từ đó mà yên "phận vị". Lại mong các vị "đạo chích" không lai vãng đến làng văn. Lại mong, lại mong… và nếu những "lại mong" ấy trở thành hiện thực, thì lại ước gì tôi sẽ được… thất nghiệp như mấy bác "phó cối" hay mấy anh "bơm mực bút bi"!

Nguyễn Hoà

(Bài đã đăng Kiến thức gia đình, số 2 (461), ra ngày 11.1.2007

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Những bản chỉ dẫn bằng Anh ngữ tại Trung Cộng làm cho du khách ngoại quốc lúng túng

Tại Hoa lục hiện nay, các du khách ngoại quốc thường bị lâm vào tình trạng khá lúng túng vì những bảng chỉ dẫn bằng tiếng Anh đã không dùng những từ ngữ quen thuộc vốn được dịch ra theo nguyên văn Hoa ngữ, chẳng hạn như trạm xăng thay vì gọi là gas station, thì bản chỉ dẫn viết là oil gate, lối thoát ra khỏi xa lộ là exit thì được viết là export, và và đồn cảnh sát thì được viết là works stations.





Những bản chỉ dẫn vừa khôi hài vừa gây sự lầm lẫn này đã được thầy giáo Liu Yongli ở Bắc Kinh sưu tầm. Ông Liu Yongli đã sưu tầm trong suốt 3 năm qua, và ông đã chụp được trên 1000 tấm hình của những bảng chỉ dẫn bằng Anh ngữ sai văn phạm, chính tả, sai cả ý nghĩa ở thủ đô Bắc Kinh và tại nhiều thành phố khác ở Hoa lục. Ngoài những lỗi chính tả và văn phạm, còn có nhiều chữ dài như Volunteer hoặc information đã bị cắt ra làm đôi. Nhiều chữ đã được dịch nguyên ngữ khiến cho du khách không thể nào hiểu được ý nghĩa của chúng, chẳng hạn như hàng trả lại là refund thì được viết là goods return. Ông Liu Yongli nói rằng tấm bảng chỉ dẫn gây cho ông lý thú nhất đó là To take notice of safe, the slippery are very crafty, có ý báo động cho các du khách hãy thận trọng khi lái xe lên con đường dốc để đến một tòa cao ốc. Thay vì viết là Taxi pick-up point, thì bản chỉ dẫn viết là On the taxi the guest stands forward.



Ở trước một trường học chuyên dậy Anh ngữ tại thủ đô Bắc Kinh cũng đã trương lên một tấm bảng viết quảng cáo là "Speaking English Only!" Công an cũng đã lưu ý những người ngoại quốc về những kẻ lạ mặt, mà tiếng Anh thường viết là Beware of the strangers, thì tại thủ đô Bắc Kinh được viết là to receive strangers carefully; hoặc không lái xe khi mệt mỏi, thì viết là not to drive tiredly. Tại nhiều cơ sở, thay vì viết staff only thì du khách có thể nhìn thấy tấm bản viết là Guest go no further, hoặc emergency exit thì viết là no entry on peacetime.



Ông Liu đã để ý đến những lỗi lầm về Anh ngữ lần đầu tiên là vào năm 2003, mà ông gọi là Chinglish problem, khi ông đang theo học cao học tại Bắc Kinh. Một năm sau ông liền mua một chiếc máy chụp hình và bắt đầu chụp những tấm bảng có viết những hàng chữ ngộ nghĩnh. Ông nói rằng bây giờ mỗi khi đi đâu ông không bao giờ quên mang theo chiếc máy hình này. Ông nói rằng tuy hiện nay phong trào học Anh ngữ rất phổ biến tại Hoa lục, nhưng trong cuộc sống hàng ngày, có rất nhiều chữ trong tấm bảng hiệu không giống như sách vở; và những bài thi thì theo dạng chọn một trong những câu đúng, tức là multiple-choice, vì thế các học sinh đã không thực sự học được kỹ càng về ngoại ngữ.



[left]http://img.photobucket.com/albums/v519/ ... acist2.jpg[/left]Ông Liu cũng đã nên lên những nan đề với giới lãnh đạo địa phương và các giới chức giáo dục trong nước về tình trạng có những chữ cần phải được dịch khác nhau theo tiếng Trung hoa, như giữa chũ exit và export, mà theo Hoa ngữ chỉ có một nghĩa duy nhất là đi ra. Ông nói rằng thay vì thông báo là tiệm đang đóng cửa mà tiếng Anh viết là closed, đã được dịch thao Hoa ngữ là "business suspended", nghe thật khôi hài.



Ông nói rằng những tấm bản chỉ dẫn là để giúp cho mọi người sinh hoạt được dễ dàng và thuận lợi hơn thì khi đọc những bảng chỉ dẫn bằng tiếng Anh, chỉ khiến cho người ta càng trở nên lúng túng hơn. Hiện nay thành phố Bắc Kinh đang sửa sang bộ mặt để khai mạc Đại hội thể thao Thế Vận Hội Mùa Hè năm 2008, nhưng ông Liu nói rằng chính quyền đã không để ý đến những nan đề để tìm cách chỉnh đốn lại những bảng chỉ dẫn theo tiêu chuẩn của quốc tế để hướng dẫn cho các du khách ngoại quốc. Ông Liu nói rằng với việc Hoa lục ngày càng cởi mở, hiện nay có rất nhiều người ngoại quốc đang đến viếng đất nước này, và những tấm bảng hiệu bằng Anh ngữ cũng đang là một phong trào cần thiết; vì thế nhiệm vụ của ông là tìm ra những sai trái trong việc dịch từ Hoa ngữ qua Anh ngữ làm cho nhiều du khách bị lúng túng.


(Theo SBTN)

Image
Image
Image

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Ðừng Tin Lời Con Rắn Ðộc
The Fable of the Snake



Truyện cổ tích Da đỏ
Tặng cho những ai còn tin tưởng rằng Cộng sản thay đổi đường lối.




Xưa kia, theo tục lệ trong các bộ lạc da đỏ, người thanh niên khi đến tuổi trưởng thành phải lìa gia đình, một thân một mình ra đối chọi với thiên nhiên để chuẩn bị vào đời. Gấu Xám theo đúng truyền thống tốt đẹp đó, khăn gói lên đường. Ngày đầu tiên, chàng đến một thung lũng xanh tươi, với những hàng cây cao vút, với những loài hoa dại muôn sắc trải dài theo từng buớc chân đi. Chàng náo nức tiến bước nhanh hơn hòng khám phá thêm vẻ đẹp của thiên nhiên. đến ngày thứ ba, khi chàng ngước nhìn lên, thấy một đỉnh núi cao chót vót phủ đầy tuyết trắng.



“Ta sẽ thử sức mình leo lên đỉnh núi kia .” Chàng tự nhủ. Khoác lên người bộ áo da thú, lại coàng qua ngang vai tấm chăn thêu của mẹ cho, chàng hăm hở trèo lên đỉnh núi.



Ðứng trên chót núi cao, đưa mắt nhìn quanh cảnh vật trải rộng ra dưới kia, lòng chàng tràn ngập niềm tự hào của một người chinh phục. Bổng chàng nghe một tiếng rên dưới chân mình; chàng nhìn xuống và thấy một con rắn lục lạc. Biết gặp loài rắn độc, Gấu Xám dợm chân bước ra xa. Rắn sợ chàng bỏ đi, vội nói :

“Tôi sắp chết mất, nơi đây lạnh quá, toàn thân tôi đang cóng lên. Lại chẳng có thứ gì để ăn cả, mà tôi thì đói từ cả tuần nay. Anh hảy ủ tôi trong chiếc áo kia để tôi hưởng được tí hơi ấm của thân thể anh và đưa tôi xuống dưới thung lũng.”


“Không,” chàng thanh niên da đỏ trả lời, “ta phải biết cảnh giác, Ta biết quá rõ về mi. Mi là loài rắn độc nhất trên đời này. Nếu ta nhặt mi lên, mi sẽ cắn ta, còn gì đời ta nữa.”


“Chàng trai ơi,” rắn nói, “tôi sẽ cư xử với chàng trái lại. Nếu chàng cứu tôi, chàng sẽ là người ơn, nỡ nào tôi hại chàng.”


Chàng trai trẻ ngần ngừ trong giây lát, con rắn lại khéo ăn nói, ra sức ngọt ngào thuyết phục. Cuối cùng, chàng ta nhặt con rắn lên, cho vào trong áo mình và đem nó xuống núi. Vừa khi chàng nhẹ nhàng đặt nó xuống bãi cỏ êm, rắn cuộn mình lại và nhanh như chớp, mỗ vào bắp vế người ơn.


“Ô kià, ngươi đã hứa với ta...?” Chàng trai kêu lên đau đớn.

“Ngươi đã biết rõ ta là thứ gì trước khi ngươi nhặt ta lên kia mà.” Rắn đắc thắng trả lời và lũi vào bụi cây đi mất.

Đỗ Văn Phúc dịch

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Vụ giết người hàng loạt ghê rợn nhất Ấn Độ
Cha mẹ của những trẻ em bị sát hại trong vụ giết người rùng rợn nhất Ấn Độ đã khai quật thêm một số hài cốt của con em họ vào rạng sáng nay, làm dấy lên một làn sóng phản đối mới.

Các mẩu xương được tìm thấy trong những đống bùn mà cảnh sát đã móc lên từ một con mương thoát nước. Trước đó, cũng tại địa điểm này, cảnh sát đã tìm thấy 42 chiếc bao đựng các bộ phận thi thể người, ngay bên ngoài căn nhà của hung thủ Moninder Singh Pandher.

''Dường như đó là những mẩu hàm dưới song chúng tôi chưa chắc lắm'', nhà điều tra Jagdish Singh ở Noida - một thành phố vệ tinh của Delhi - cho biết.

Pandher và người giúp việc Surinder Koli của hắn ta đối mặt với 21 lời buộc tội hãm hiếp và giết người. Dân làng Nithari, nơi phần lớn nạn nhân sinh sống, cho biết 40 trẻ em đã biến mất kể từ năm 2004. Hài cốt của 21 người, đa số là trẻ em, đã được gửi đi xét nghiệm pháp y và lấy mẫu ADN.

Theo Cục điều tra Trung ương, Koli đã thừa nhận bắt cóc trẻ em từ Nithari và sau đó giết hại các em trong căn nhà hai tầng của ông chủ - nơi các phương tiện truyền thông gọi là ''Ngôi nhà ghê rợn''. Hắn cũng thừa nhận tội hiếp dâm và ăn thịt người và nói rằng hắn chỉ tuân theo lệnh của ông chủ.

Những mẩu xương mới được tìm thấy làm dấy lên các cuộc phản đối của hàng chục người ở Nithari - ngôi làng của 20.000 công nhân di cư nói tiếng Bengali. ''Treo cổ những kẻ giết con em của chúng tôi'', những người biểu tình hét lớn.

Sáu sĩ quan cảnh sát ở Noida đã bị sa thải và ba sĩ quan cấp cao khác đã bị đình chỉ công tác do phớt lờ đơn thư phản ánh của cha mẹ các trẻ em bị sát hại. Nhà chức trách cũng đã thuyên chuyển tổng thanh tra cảnh sát của Noida, Dinesh Yadav, sau khi có thông tin cho rằng ông ta đã dùng các mối quan hệ chính trị để bao che cho Pandher khỏi bị bắt hồi tháng 12.

Một đài truyền hình địa phương đưa tin Pandher đã thừa nhận tội ác hàng loạt này khi đối chất với cha mẹ của một số trẻ em mất tích. Ram Kishen, con trai của ông bị giết trong căn nhà của Pandher, cho biết Pandher đã thừa nhận ''sai lầm'' khi ông gặp tên thương gia này ở đồn cảnh sát. ''Tôi đã hỏi hắn tại sao hắn làm một điều khủng khiếp như vậy với trẻ em, hắn nói hắn đã phạm sai lầm'', Kishen cho biết.

Pappu Lal, một cư dân khác ở Nithari, cũng đã gặp Pandher và Koli. ''Tôi đã hỏi Koli đã làm gì với những trẻ em này, Pandher nói hắn đã giết trẻ em và sau đó quan hệ tình dục với các xác chết'', Lal cho biết. Cảnh sát Noida và Cục điều tra trung ương đã từ chối bình luận về tin tức trên.

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Đêm 7 Ngày 3 Vô Ra Khỏi Đếm



Một người đàn ông tên là Stephen Tame 29 tuổi ở Suffolk vừa được một khoản bồi thường gần 6 triệu đô la. Tòa án Luân Ðôn truyền cho công ty bảo hiểm bồi thường cho anh số tiền này sau một tai nạn xẩy ra ở sở làm.

Tai nạn xẩy ra hồi tháng 2 năm 2002 khiến anh phải nằm nhà thương trong nhiều tháng và ở trong tình trạng hôn mê suốt hai tháng. Các y sĩ tại bệnh viện nói rằng anh sống được là một chuyện lạ.

Nhưng chuyện sống lại thực ra cũng chưa phải là chuyện lạ.

Chuyện lạ là chuyện xẩy ra sau khi anh tỉnh dậy và về nhà.

Stephen Tame cho biết trước khi bị tai nạn, anh là một tín đồ Thiên Chúa thuần thành, một người chồng gương mẫu. Nhưng sau khi được cho xuất viện về nhà, Stephen trở thành một người khác. Anh kể trước tòa rằng vợ anh không chịu nổi cái thành tích mới của anh mà anh nói là "night seven, day three, in out no count" (đêm bẩy ngày ba, vào ra không kể) của anh. Vợ anh chịu thua, phải bỏ anh chạy lấy người.

Bị vợ bỏ, anh phải tìm an ủi nơi hai phụ nữ mà cũng không đủ (?). Anh kiện sở cũ vì việc làm tại sở cũ đã biến anh thành một con người khác, khiến cuộc hôn nhân của anh tan vỡ và đẩy anh đến chỗ phải có những liên hệ không bình thường với hai phụ nữ cung cấp nhũng dịch vụ phải trả tiền mới có được.

Những khổ đau của Stephen Tame được toà công nhận, và chánh án Michael Harris, sau khi truyền công ty Professional Cycle Marketing ở Sussex bồi thường cho Stephen Tame 3 triệu 100 ngàn bảng Anh (tương đương với gần 6 triệu đô la Mỹ) có tuyên bố tại tòa rằng tai nạn đã khiến cho cuộc đời của anh và của vợ anh tan nát.

Người đàn ông 29 tuổi này nói rằng anh chỉ muốn sống cuộc đời bình thường tử tế cơm nhà quà vợ như những người đàn ông Ăng lê khác, nhưng tai nạn đã khiến anh thay đổi để phải đi ăn quà ở những nơi khác hơn là của vợ.

Tin vừa loan trên báo thì rất nhiều luật sư chuyên về tai nạn xe cộ đã chạy tới Essex và Suffolk để tìm hiểu thêm về tai nạn và các luận cứ dùng tại tòa của các luật sư dại diện cho Stephen Tame.

Người ta muốn biết tai nạn xẩy ra làm sao, té như thế nào mà té hay thế vân vân.

Stephen Tame có thể sẽ không còn phải đi làm nghề lắp ráp xe đạp nữa mà vẫn có thể kiếm được tiền dễ dàng bằng cách khác.

Thí dụ đi nói chuyện về cách té tại nhiều nơi ở nước Mỹ cho những người mua xổ số từ nhiều năm vẫn không trúng chẳng hạn.

Stephen cũng có thể dậy cho các phụ nữ học cách làm sao xô các ông chồng té đúng cách để giúp gìn giữ hạnh phúc gia đình chứ không tính thưa kiện ai hết.

Những viên thuốc xanh hình quả trám của công ty Pfeizer chỉ có hiệu lực khoảng một tiếng đồng hồ thì nay, một cai xô té có thể có hiệu lực cả chục năm. Phen này Pfeizer lại thua nặng thêm một lần nữa sau khi thất bại với loại thuốc giảm cholesterol mới đây.

Nhưng tin hay nhất cho thế giới là nếu những người đàn ông được dậy để té hay bị xô té đúng lúc, thì loài tê giác sẽ có cơ thoát nạn tuyệt chủng.

Sẽ không ai còn cần sừng tê giác, dương vật của hải cẩu, hay dê ông thầy.... nữa.

Lúc ấy, không còn thuốc thang làm gì cho mệt xác. Cứ chồng té vợ khen hay là được rồi.

Một loại trường mói sẽ mở ra, đó là trường dậy làm sao té cho đúng cách.

Nhưng Stephen Tame vẫn là người may mắn nhất.

Vừa có tiền lại còn vừa tài giỏi nữa.

Ðúng là nhất nghệ tinh, nhất thân vinh.

Ðó cũng lại còn là lớp viền bạc, a silver lining của đám mây u tối vậy.


Bùi Bảo Trúc

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Một Ngày...Cà Phê Bolsa Phía hàng hiên sau của quán cà phê mái tây Hiên một buổi sáng Thứ Bảy cuối tuần, nhiều người ngồi thưởng thức hương vị cà phê sau môt tuần miệt mài với công việc.

Gã thanh niên trẻ vừa từ tiểu bang lạnh về Bolsa, tâm sự với tôi ở hàng hiên một cửa tiệm cạnh ngã tư quốc tế: "Đã sống ở đây một thời gian rồi, có đi làm hãng xưởng tiểu bang xa, nhất định rồi cũng bỏ hết trơ về. Nhớ nắng ấm, nhớ không khí Việt mình quay quắt không thể nào chịu nổi!". Hỏi nhớ gì nhất, anh đáp "cà phê", rồi trầm tư với khói thuốc như mơ màng ngày tháng cũ...

Một chàng khác nhăn răng cười thú nhận: -Chú ơi, lương thì lương tối thiểu, mà ngày nào cháu cũng "xé" tờ hai chục: cà phê, gói thuốc lá, típ, và... chơi keno. Vậy mà không hiểu sao vẫn đủ sống phây phây! Phây phây là giảng theo nghĩa của chàng. Khi hỏi ra, chàng ở nhờ mái ấm cha mẹ, thỉnh thoảng phải "vớt" thêm ngày Thứ Bảy overtime ở một hãng điện tử cho tấm paycheck nằng nặng thêm chút, và tiền đổ xăng lắm khi nhờ mẹ cho.

Có mấy người trung niên khác thú nhận: "Ai bảo đờn bà lắm chuyện, người xưa nói hễ 2 bà ngồi lại với thêm 1 con vịt kêu cạp cạp nữa, là trở thành cái chợ. Chớ tôi thấy cánh đờn ông mình cũng kháo lắm chuyện chẳng kém mấy bà. Ở vài quán cà phê của Bolsa, đàn ông giải tỏa đầu óc bằng cách nói huyên thuyên ồn như chợ vỡ!"

Còn một ông nhà báo phóng sự được tiếng là "thổ công Bolsa", cellphone thường để thất lạc nên khi cần thăm hỏi thì thật khó biết đang ở đâu. Hỏi bà xã ổng, được chỉ "cứ đến các quán cà phê có keno". Trời đất, xứ Bolsa này có cả trăm quán cà phê kiêm thêm trò chơi loto, đường phố, mall nào cũng có, biết phương trời nào mà tìm? Những quán cà phê này thu hút đông đảo người Việt đủ tầng lớp, đa số là giới trẻ. Giờ thì ông nhà báo này bớt mê cà-phê-keno rồi, thường đạp xe đạp...dưỡng sinh, tuy còn la cà, song lui tới các quán Cafe chớ chẳng phải Coffe. Bởi quán mang chữ Cafe, bán thức ăn là chính, còn ly cà phê được kể vô loại nước giải khát thường tình. Ổng cần ăn để duy trì tuổi thọ hầu trả nghiệp dĩ viết chuyện thế thái nhân tình cho bà con đọc đỡ buồn nơi đất khách.

Đó là số ít. Phần đông, kể với tôi, ngồi uống cà phê, thú vị không thể tả! Có người uống cà phê với phong thái điềm nhiên, tư lự. Chẳng cần nói năng với ai, hình như đang tận hưởng hương vị cà phê VN, Pháp, Orseeni hay Starbucks nhập từ châu Phi, nam Mỹ. Không ít người qua dịp đi uống cà phê,kín đáo ngắm những đường cong diễm kiều của thiếu nữ "live", nói vẫn hơn mò vô bảo tàng viện xem tranh hay pho tượng tạc phái đẹp. Người khác trao đổi,thì thầm chuyện riêng tư, chuyện xe cũ mới, công việc làm hãng xưởng, chuyện mới về Việt Nam, đi hát karaoké thả dàn mà rẻ. Tôi chưa bắt gặp cảnh những cặp tình nhân tuổi học trò vào quán cà phê tâm tình, như thế hệ tuổi thanh xuân của mình: nàng thì bao giờ cũng chọn đá chanh hay cam vắt, còn chàng thì nhịp tim đang đập nhanh hơn nhịp giọt cà phê đen đậm rơi xuống cái lọc bằng nhôm, hoặc ly trà lipton, tách trà cúc thơm thơm. Nhiều người đứng tuổi hồi tưởng: Ở La Pagode, Brodard, quán Văn, quán Bình Minh, Hoàng Hôn, Hồng.. của Saigon, trong nhà thủy tạ hồ Xuân Hương, quán Domino ven khu hòa bình Dalat, hay Nội thành Huế, tình tự lứa đôi qua giọt cà phê hay tìm nơi nghe nhạc tình êm dịu đều giống nhau là tìm giây phút thanh bình ấm áp giữa lúc cảnh lửa đạn đang phủ vây, đợi chờ tương lai đời mình. Hồi ấy, một nhà báo Mỹ từng nhận ra "các snackbar đèn màu đường Tự Do Nguyễn Huệ đã đốt cháy tuổi xuân của nhiều lính trẻ Mỹ và thanh niên Việt", chứ đâu hề bảo các quán cà phê. Đi uống cà phê quả là thú giải trí thanh tao, tình tứ, có khi là nơi khởi đầu mối tình thơ mộng. Có lúc để kết thúc một chuyện tình lứa đôi éo le.

Quần tụ tại Little Saigon, nhiều loại quán cà phê nay mọc lên đông đảo, mà quán nào cũng đông khách. Có quán cà phê dành cho các bác 'Hát Ô' nói chuyện hưởng già, đi các tour du lịch, tiệm mở cửa sớm nhất và có nơi mở 24/24 giống như nhiều quán ăn khu trung tâm Bolsa.

Có quán chỉ là dăm ba cái bàn ở hàng hiên tiệm 'food to go,' tiệm bánh mì thịt nguội, bánh ngọt, bánh kem kể cả donut. Những quán lộ thiên này đáp ứng nhiều lớp tuổi, trông ít thơ mộng nhưng được cái là vừa uống cà phê vừa phì phèo khói thuốc khỏi canh chừng cảnh sát phạt vi cảnh. Loại bàn cà phê này thật bình dân, người uống cà phê có khi xen lẫn thực khách độc thân ăn vội bữa trưa chỉ tốn vài đồng bạc, hay lớp trẻ ghé mua phần ăn mang theo vào hãng xưởng.

Các quán chuyên nghiệp thì bài trí đẹp hơn, có nữ tiếp viên xinh xắn, có nhiều ti vi và máy chơi lô tô chung tiền tại chỗ. Những quán này hấp dẫn giới trẻ đến trung niên, còn giới cao niên thì chọn nơi khác, thường vẫn là khu vực Phước Lộc Thọ. Có người đến để làm nơi hẹn với bà con tiểu bang hoặc thành phố xa về, người thì đốt thời gian nhàn hạ qua ván cờ, hay nhìn vẩn vơ ông đi qua bà đi lại, giải khuây. Có bác uống cà phê để đợi con gái đi làm tóc đâu đó. "Nó phát cho tôi cái phone, dặn ra phố chơi cho khuây khỏa tuổi già, đợi nó làm tóc xong sẽ ghé chở về, ở nhà xem ti vi hoài không tốt !", một bác kể.

Ở những quán người lớn tuổi thường lui tới, ngưới ta nhận ra khách đủ thành phần: nghề tự do như sửa nhà, cắt cỏ,nghề môi giới địa ốc, cò thẫm mỹ, nghệ sĩ, nhà báo , nhà văn, họa sĩ, công nhân hãng Mỹ, cựu quân nhân hưu trí, thương tật. Người đi uống cà phê bàn chuyện làm ăn thì ít, mà để gặp nhau, thăm hỏi, bàn chuyện thời sự, giải trí, thì nhiều. Nhờ thế, các quán này luôn tấp nập, và quán nào nằm chỗ dễ đậu xe, thì thu hút đông hơn. Nhiều khu thương mại chật, phải đến buổi tối quán cà phê mới đông đúc, bởi lúc ấy hầu hết tiệm khác đều nghỉ, tha hồ đậu xe.

Tại vài quán người lớn, người ta say sưa nói chuyện râm rang, ồn ào, thì ngược lại, nhiều quán cà phê giới trẻ, thường rất yên tĩnh. Huyên náo hay tĩnh lặng, nhìn cách ra về của giới uống cà phê, là biết ngay họ đang có những phút giây thoải mái. Vậy mà nhiều phụ nữ không thích ông chồng trẻ hoặc già của mình đi uống cà phê ngoài phố. "Trời, sao chị lại để ổng đi uống cà phê ?". Có bà sồn sồn đã thốt lên với vợ tôi như vậy. Có lẽ bà ta nghĩ đi uống cà phê đồng nghĩa với hút thuốc lá, chơi may rủi keno, trồng cây si hoặc mạnh tay bỏ típ với người đẹp trong khi hà tiện tiền hớt tóc cạo râu. Bà không biết ông chồng cũng như đông đảo đàn ông VN khác đi uống cà phê để thư dãn thần kinh, thảng hoặc để gặp bạn hữu cũng "lắm chuyện" như các bà. Nói nhại theo sách cổ kể lại lời ông Kim Thánh Thán: nhắp hớp cà phê mocha trộn cream của Starbucks (đang mọc lên nhan nhãn khắp nơi), hay bước vào tiệm sách Mỹ xem giới trẻ vừa uống cà phê vừa ăn bánh ngọt đọc sách cọp đến 11 giờ khuya mới đóng cửa, hoặc ghé quán Orseeni, Mái tây Hiên, Chez Rose, Factory, Li Li, Gala…tán dóc với bầu bạn, ngó thiên hạ giữa tiết trời đẹp, cũng chẳng sướng sao!

Uống cà phê ở Bolsa, quả thú tiêu khiển không tốn kém là bao. Nơi xứ người này, ăn nhiều thịt tôm sợ phì, mỡ bọc cuống tim. Uống bia rượu sợ hư gan, hút thuốc sợ ung thư phổi. Đi chơi đêm sợ tên bay đạn lạc. Cứ coi như đúng đi, cứ nghe y lời danh y Bành Nhất Chỉ mượn sách Nội Kinh Hoàng Đế mà khuyên Lệnh Hồ Xung "muốn thọ thì đoạn trừ 3 thứ, nghĩa là bất đấu, bất dục, bất tửu" (Không bon chen hơn thua, kiêng sắc dục, cử rượu)

Song, sách y và danh y chưa hề khuyên ...bất đáo cà phê quán, có đúng không?

NGUYỄN HÙNG NHIÊN

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Buồn năm phút



Bất chấp sự khập khiễng tưởng như chẳng ăn nhập gì lại là sự chính xác đến tuyệt đối khi so về bản chất của hai hiện tượng và kèm theo sự chính xác này là nỗi khổ của những người phải chịu hậu quả của sự "giãy chết".

Chẳng hiểu thế quái nào mà cánh đàn ông trong lúc trà dư tửu hậu lại có thể nghĩ ra và đem một khái niệm hoàn toàn nghiêm túc ấy để gán cho sự lấp ló trước khi vụt tắt nhan sắc của mấy bà quá tứ suýt ngũ. Chỉ biết rằng, bất chấp sự khập khiễng tưởng như chẳng ăn nhập gì ấy lại là sự chính xác đến tuyệt đối khi so về bản chất của hai hiện tượng và kèm theo sự chính xác này là nỗi khổ của những người phải chịu hậu quả của sự "giãy chết".

Ở đời, ai chẳng thích sự hoàn thiện, ai lại không mê sự chân-thiện-mỹ, chỉ có kẻ tâm thần mới đi yêu và ngưỡng mộ cái xấu, cái thô kệch. Nhưng, giá mà sau một thời gian chữa trị, cái mặt đầy mụn hay xám ngoét như thịt trâu được tái thay thế bằng sự mịn màng, hồng hào; hoặc giả vòng hai đang từ 100 giảm đi còn 80 sau mươi tháng tập luyện; hoặc giả cỗ đùi voi ngót đi chỉ còn bằng đùi trâu thì người chồng đáng thương chỉ có thể hơi ngạc nhiên trong nỗi vui mừng. Nhưng sự thể lại không như vậy.

Biết bao đức ông chồng đã phát khiếp khi thấy mấy bà "trẻ vừa qua, già vụt đến" chỉ có chuyên môn thiện nghệ nhất là buôn dưa lê bỗng dưng nảy nòi rủ nhau tập thẩm mỹ. Ban đầu là những bộ quần áo tập ngoại cỡ, những chiếc vòng mây như những chiếc cạp nia, cạp nong, những đôi giày tập và những cuộc bàn luận về một thời gian biểu tập luyện... siêu khoa học! Tiếp đến là các cuộc hội thảo khoa học về sự lợi ích của luyện tập và tất nhiên là sự bất lợi tương tự khi thân thể lười nhác. Cuối cùng là cuộc xuống đường tập thể, một cuộc đổ bộ nhằm tăng doanh thu cho các trung tâm luyện tập thẩm mỹ.

Hậu quả đầu tiên của công cuộc đổi mới là cứ sau mỗi buổi chiều trút hết việc nhà cho ôsin là những bữa vô cùng khó nuốt. Khó nuốt phần vì trình độ thấp kém của kẻ mới hôm nào còn chuyên phụ bếp ở tầm nhặt rau rửa bát chuyển sang công việc xào nấu của đầu bếp chính. Khó nuốt vì ngay trên đi-văng là một đống phì nộn của các bà sau mấy chục năm ì thần xác đã bở hơi tai khi tái vận động. Thà rằng cứ án ngữ mà "tắt đài' thì lại còn dễ ở, đằng này cái đống to ngần ấy lại không ngớt huyên thuyên về những háo hức của buổi tập ban đầu. Tóm lại là khó nuốt mọi nhẽ, nhưng đó chỉ là màn đầu tiên và mới chỉ là một phần nghìn nỗi khổ!

Sau vài tuần tập luyện, năng lượng tiêu thụ tăng lên, đầu vào cũng phải tăng tương ứng và một hệ quả tiếp theo là sau khi mệt do tập, đẫy tễ sau bữa chiều là giấc ngủ sâu của người trên đường trở thành khoẻ (cứ cho là kiên trì tới lúc khoẻ). Hơi thở nặng nề phải từ sâu tít trong cuống họng chui qua nhiều ngoắt ngoéo của các tầng mỡ lưu cữu qua nhiều thập kỷ tạo nên những tiếng ngáy ở tầm “super bass” về quãng âm và nhiều đề - xi - ben ở độ ồn, ăn không đặng, ngủ không yên, nhưng chớ tưởng đấy đã là khổ, nhất định cần phải biết rằng cuộc hành xác của đối tác bắt đầu ở quãng... chặng đầu của quá trình khởi động!

Tiếp theo là những tưởng tượng thật sinh động sau những lời hứa hẹn của các nhân viên hướng dẫn tập thẩm mỹ về một tương lai tươi sáng cho những thân hình khó tả. Nhưng, trước tiên là thay vì những phần phải co đi ngót lại sau quá trình tập luyện là sự nở ra của những cơ thể hấp thu thực phẩm tốt ở mức ưu việt. Không thể phản khoa học rằng tập thể dục thẩm mỹ khiến cơ thể to ra mà chẳng qua là hiệu ứng cơ sau quá trình tái vận động trong khi chúng chưa kịp ngót theo định hướng của tương lai. Sau vài tháng tập luyện, hậu quả sẽ đến ngay với kẻ không bền chí khi tự mình viện ra ngàn lẻ một lý do để thôi không tập nữa là mỏi nhức, là chảy xệ tới mức tệ hơn nhiều lần ngày háo hức ban đầu.

Nhưng nếu được như vậy, nhất định đức ông chồng đó là người hạnh phúc, nỗi bất hạnh sẽ rơi đúng vào đầu ông nào khi các bà chưa kịp gọn lại nhưng đã chuẩn bị (rất sớm) phần "mặt tiền" phù hợp với thân thể ở mức "ngon" sau này. Nhất định các ông sẽ phải thất kinh la lên khi bỗng sau một lần đi công tác về bỗng thấy vợ mình... trông hơi lạ! Cái cửa sổ tâm hồn vốn hùm hụp dưới túi mỡ nặng nề sau năm tháng lăn lộn kiếm sống bỗng thấy trở thành hai mí rõ nét sau nhát dao phẫu thuật. Hai bộ lông mày kẻ thì thưa như lông chuột cống, kẻ thì như hai chiếc lá lốt bỗng như hai đường chỉ trên mặt và kéo dài tới mức đáng ngờ để mang hình lá liễu. Nào là nâng cằm, gọt má cắt túi măët, xăm môi... tóm lại là những thứ mà các ông đã lâu lắm rồi không còn để ý tới có nhiều nét phảng phất như thể bà vợ đang diễn tuồng tại gia vậy!

Khen thì trở thành kẻ nói dối, chê thì rước hoạ vào thân, trong khi đang lưỡng lự không biết nên khen hay chê thì sự lạ lẫm đã chiếm đầy cảm giác của người chiêm ngưỡng bất đắc dĩ. Sự lạ lẫm ấy cứ đeo đẳng mãi, thà rằng cứ ngắn choằn, cứ thưa như lông chuột cống già, cứ ục ịch và cứ hùm hụp đi đã có ai tự tử đâu mà phải “tư bản giãy chết”? Người bạn đời bao năm đồng cam cộng khổ, thân thiết là vậy bỗng chốc trở thành người quen không ra quen, lạ chẳng ra lạ, không lẽ cứ mỗi lần ngước nhìn lại phải tự vấn một câu rằng: " Bà ấy đeo mặt nạ" cho đỡ sợ!





=======

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

Image

Khi có dịp về thăm Sài gon , các bạn có dám lái xe hơi hay xe gắn máy ????

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Luận Về... Cái Sự Học Đã gọi là thầy (sư) thì không phân biệt cao thấp, cứ hơn một tí tẹo là có thể làm thầy (nhất tự vi sư, bán tự vi sư). Chung quy chia làm hai hạng. Hạng “tiên sư” và hạng “tục sư.”

Hạng tiên sư vì người mà dạy cách làm người. Hạng tục sư vì tiền mà dạy cách làm tiền. Hạng tiên sư “lôi” kiến thức (vốn có sẵn) trong bụng học trò ra. Hạng tục sư “nhét” kiến thức từ ngoài vào. Tin theo tiên sư thì con người là tiểu vũ trụ. Tin theo tục sư thì con người là cái thùng chứa sách. Hạng tiên sư chỉ cho học trò thấy cái chỗ thiếu của mình. Hạng tục sư chỉ cho học trò thấy cái chỗ giỏi của mình. Thấy thiếu thì lo lắng, muốn được bổ sung, vì thế kiến thức tăng tiến. Thấy giỏi thì hung hăng, muốn được thi thố, vì thế kiến thức dừng lại. Hạng tiên sư nương theo con người mà hành đạo. Hạng tục sư nương theo chính trị mà hành nghề. Nước có đạo lý thì tiên sư nhiều hơn tục sư. Nước vô đạo lý thì tục sư nhan nhản, có khi bói không ra một mống tiên sư nào. Chính trị đứng đắn chú trọng đến tiên sư. Chính trị lưu manh chú trọng đến tục sư.

Bởi thiên hạ ai cũng quan tâm đến việc làm người thì chính trị khó bịp, ngôi vua nguy như đèn ra trước gió, phải tử tế lắm mới mong giữ được. Thiên hạ ai cũng quan tâm đến việc làm tiền thì chính trị tha hồ bịp, ngôi vua chả cần tử tế vẫn có thể muối mặt mà cố đấm ăn xôi. Giáo dục cốt làm thay đổi dân trí. Song không phải bao giờ cũng theo hướng nâng cao. Giáo dục vì dân nhằm vào cái chỗ sáng suốt của dân. Giáo dục lừa dân nhằm vào cái chỗ mê lú của dân. Huống chi cái việc học làm người kia lại vô cùng khó khăn. Bậc tiên sư dù cố đến mấy, rốt cuộc chỉ mang tiếng vẽ đường cho hươu chạy. Mấy ngàn năm càng vắng ngắt bóng người... Vẫn “Lời tựa” trong “Luận ngữ tân thư”. Sau đây lại xin trích một phần của bộ sách đó:

Khổng Phu Tử một hôm đang thư thái, bỗng buột mồm nói ra câu:

“Hành tương tựu mộc tác nhân nan” (Người ta thường sắp chui vào quan tài rồi, mới biết làm người là một việc khó).

Các học trò nhao nhao thắc mắc. Ai cũng cho rằng Ngài nói vậy là hơi bi quan. Làm người mà khó đến như thế, thì chẳng lẽ cuộc đời này toàn... khỉ hết hay sao? Rằng cứ theo cái thuyết chữ “Nhân” của Ngài, thì miễn sao sống cho tử tế, có hiếu với bố mẹ, ông bà, không ăn cắp ăn trộm, không lừa đảo hay hại ngấm hại ngầm ai... là thành người được rồi. Chứ có gì ghê gớm mà Ngài phải kêu khó.

Khổng Tử bèn thuyết liền một hồi:

- Các ngươi chỉ biết một mà chưa biết hai. Làm người trước tiên cần phải biết phân biệt. Mà phân biệt đâu phải là một kiến thức đơn giản. Không biết phân biệt sẽ không bao giờ cho ra cái hồn người. Kẻ không biết phân biệt có ba việc mù mờ (nguyên văn: tam sự bất tri) như sau: Thứ nhất, ăn không biết thế nào là ngon, uống chẳng biết thế nào là dở... như thế gọi là: “thực bất tri kì vị”. Thứ hai, nói không biết nên nói với ai, nghe chẳng biết nên nghe ai nói... như thế gọi là: “xử bất tri kì nhân”. Thứ ba, đi không biết nên đi theo đường nào. Ngồi chẳng biết nên ngồi chỗ nào cho đúng... như thế gọi là: “hành bất tri kì đạo”.

Huống chi các ngươi chỉ biết nghe theo một chiều, hiểu theo một chiều, tin theo một chiều... duy nhất. Trên đời này không cái ngu nào sánh bằng ngu đó. Không cái lười nào sánh bằng lười đó... Vừa ngu, vừa lười đến tận cùng như thế, thì làm sao có thể tự hiểu được mình. Kẻ không hiểu được mình thì đứng không biết mình đang đứng chỗ nào, đi chẳng biết mình sẽ đến đâu... Thế rồi tự cao tự đại, thế rồi vỗ ngực xưng danh... tự cho là mình khôn nhất thiên hạ. Lời nói hay chẳng bao giờ lọt vào tai nữa, cứ một mực tin theo những hạng đểu giả. Kiến thức như thế thì dẫu cao mấy, thực chất cũng chẳng khác gì kiến thức của một anh hoạn lợn. Không những tự gây họa cho mình, mà còn gây họa cho người khác. Có khi gây họa cho cả thiên hạ chưa biết chừng.

Các học trò nghe đến đó thì sợ toát mồ hôi. Bèn hỏi:

- Thế nào là tự gây họa cho mình?

Khổng Tử bảo:

- Người ta vạch ra cái chỗ dở của mình để mong mình sửa, thì lại tưởng là người ta chửi. Người ta nịnh cái chỗ đểu của mình để hòng kiếm chác, thì lại tưởng là người ta khen... Rốt cuộc người đáng lẽ là bạn, thì lại nghĩ là thù. Kẻ đáng lẽ là thù, thì lại cho là bạn... Lẫn lộn, u tối đến như thế mà không gặp họa thì xưa nay chưa ai từng nghe nói đến bao giờ.

Các học trò nghe thấy thế thì càng sợ hơn nữa. Lại hỏi tiếp:

- Thế nào là gây họa cho thiên hạ?

Khổng Tử bảo:

- Hạng người ấy mà làm tướng thì mất toi thành. Làm quan phủ, quan huyện nào thì dân trong phủ, huyện ấy điêu đứng. Làm vua thì cả nước khốn nạn, thậm chí còn mất nước vào tay ngoại bang. Làm thầy thì ngu đến cả trăm đời sau... Thế gọi là gây họa cho thiên hạ.

Các học trò hỏi tiếp:

- Vậy cứ theo ý Phu Tử thì bao giờ chúng tôi mới có thể học thành người?

Khổng tử trả lời:

- Ta có thể dạy các ngươi hiểu thấu được lẽ đời (nhi bất hoặc – hết ngờ vực). Song không thể dạy các ngươi hiểu thấu được lòng trời (tri thiên mệnh – biết mạng trời).

Ta có thể dạy các ngươi hiểu thấu được lòng trời. Song không thể dạy các ngươi hiểu thấu được lòng người (nhi nhĩ thuận – nghe thuận tai).

Ta có thể dạy các ngươi hiểu thấu được lòng người. Song không thể dạy các ngươi hiểu thấu được lòng mình (tòng tâm kì dục, bất du củ – tùy lòng muốn mà vẫn không thay đổi quy củ).

Ta có thể dạy các ngươi hiểu thấu được lòng mình. Song không thể dạy các ngươi khiến được lòng mình (lạc dĩ vong ưu – vui (theo đạo lý) mà quên hết buồn phiền).

Ta có thể dạy các ngươi khiến được lòng mình. Song không thể dạy các ngươi (thấu suốt đạo lý) đến nỗi quên đi cả sự tồn tại của mình (bất tri lão chi tương chí – không hề biết tuổi già của mình sắp đến)...

Xem thế thì biết, cái sự học làm người kia là... không biết đến bao giờ.

Các học trò nghe như vịt nghe sấm. Bèn đề nghị:

- Phu Tử có thể giảng kĩ hơn một chút được không? Vẫn biết học làm người là một việc khó khăn, lâu dài. Song cớ sao lại rắc rối như thế?

Khổng Tử bảo:

- Đó là những thang bậc từ thấp đến cao của cái sự học (hạ học nhi thượng đạt). Cũng là những điểm “chết” (nguyên văn: tắc tử) của kiến thức. Vượt qua được những mốc ấy là một việc khó khăn nhất trong cái sự học của muôn đời. Dừng lại ở bất cứ mốc nào cũng lập tức biến thành người ngu.

Các học trò lại hỏi:

- Thế nào là biến thành người ngu?

Khổng Tử bảo:

- Kẻ ngu nhất trên đời là kẻ tự bằng lòng với kiến thức của mình. Dẫu đã thấu hết lẽ đời thì cũng không bao giờ hiểu được lòng trời. Dẫu đã thấu được lòng trời thì cũng không bao giờ hiểu được lòng người. Dẫu đã thấu được lòng người thì cũng không bao giờ hiểu được lòng mình... Từ khi làm thầy, ta kị nhất loại học trò học đến đâu giỏi đến đó. Học kiểu ấy nguy như trứng để đầu gậy. Bởi kiến thức có thể dừng lại bất cứ lúc nào. Kiến thức đã dừng lại, thì hậu quả tai hại sẽ không biết đâu mà lường được. Có khi còn biến thành một kẻ lưu manh trí thức lúc nào không hay.

Nói đến đó, Khổng Tử bỗng buột mồm thốt ra một câu than thở:

- Ôi! Kẻ học giả lúc nào cũng có sẵn sàng một cơ hội lớn để trở thành một tên... thậm ngu ngốc, thậm lưu manh.

Các học trò nghe vậy thì không ai bảo ai, tất cả đều nhất tề thở dài đánh sượt một cái. Lại hỏi tiếp:

- Phu Tử nói thế thì chúng tôi cũng đành cố gắng học được đến đâu hay đến đó, học mãi không dám dừng lại. Chứ còn biết làm thế nào. Không hiểu những đời sau này không có Phu Tử, thì rồi có ăn thua gì không? Hay là chỉ sinh ra rặt những hạng bịp bợm, kiến thức đã như anh hoạn lợn, mà đểu giả, bất lương thì không ai sánh bằng. Nhưng chẳng hay Phu Tử có thể lấy ví dụ về cái việc học làm người là rất khó ấy, cho chúng tôi nghe được không?

Khổng Tử bèn ví dụ bằng mấy câu chuyện sau đây:

Câu chuyện thứ nhất:

Ta (Khổng Tử) từng có một học trò xưng là Tử Hư. Y là một người rất say mê cây cối. Cây càng cổ thụ, y càng mê mẩn. Không ngày nào là y không tìm đến một nơi có cây cao bóng cả, có tán rộng như những chiếc dù vĩ đại, che rợp cả một vùng, cành lá xanh tốt sum xuê để ngắm nghía, xuýt xoa... Ngắm mãi không biết chán, xuýt xoa mãi không mỏi mồm. Lại tưởng tượng mỗi tán cây như một nước, mỗi nhánh, cành như một phủ, huyện, mỗi lá cây như một kiếp người... còn thân cây như một vị hoàng đế. Sự hâm mộ kể cũng đến thế là cùng.

Một hôm, y chợt phát hiện thấy từ một thân cây to lớn mà xưa nay y vẫn hâm mộ, vẫn ngắm nghía ấy bỗng nhú ra những mẩu gì tròn tròn, xam xám, mềm mại như lông thú. Những mẩu ấy cứ mỗi ngày lại thò dần ra. Vài hôm sau thì rõ là những cái đuôi chồn. Những cái đuôi chồn vắt vẻo, ngoe nguẩy ở thân cây nom đến kinh. Cây không mọc cành, đơm lá... mà lại mọc ra những cái đuôi chồn? Đó là điều mà y không thể chấp nhận, không thể tin được.

Y quyết tâm giữ gìn sự hâm mộ, còn hơn giữ gìn con ngươi của mắt mình. Nhưng những cái đuôi chồn thì cứ sờ sờ ra đấy, làm y không chịu nổi. Y bèn thắc mắc với ta. Ta bảo: “Ngươi đã có thể tin được rằng mỗi thân cây như một vị vua, thì tại sao lại không tin được rằng từ đó có thể mọc ra những cái đuôi chồn? Chớ vì sự hâm mộ mà sinh ra lú lẫn. Kiến thức của ngươi một khi đã cố chấp như thế thì khó có thể làm người được”.

Câu chuyện thứ hai:

Ông Mỗ làm quan tể ở ấp Trâu là một người có tiếng ngay thẳng, thanh liêm, rất ghét thói nịnh bợ. Vì thế pháp luật được thi hành. Dân ấp Trâu vui vẻ làm ăn, không tranh giành, đểu cáng với nhau. Trẻ con biết kính trọng người lớn, người lớn thương yêu, đùm bọc trẻ con. Ban ngày ra đường không ai nhặt của rơi. Tối về nhà không phải khoá cổng. Con trai, con gái đi riêng hai bên đường, không bậy bạ, sàm sỡ với nhau... Tất cả nhờ ở cái đức của ông quan Mỗ ấy mà có được như thế.

Tưởng làm người mà được như ông Mỗ thì ai còn nghi ngờ gì nữa. Tất nhiên xung quanh ông cũng không thiếu những kẻ xấu, những kẻ cơ hội, bất lương. Chúng tìm mọi cách để nịnh nọt, lung lạc cái đức của ông hòng kiếm chác này nọ. Song ông Mỗ không những không hề lay chuyển, mà còn thẳng tay trừng trị, khiến chúng không dám ho hoe gì nữa. Ấp Trâu ngày càng thịnh vượng.

Thế mà cũng chẳng được bao lâu. Có ai ngờ một người như ông Mỗ cũng đến lúc thay đổi. Ông bắt đầu thích những lời tâng bốc, ca ngợi. Ông bằng lòng và kiêu ngạo với những gì mình đạt được. Ông nhắm mắt, bịt tai trước những lời nói thẳng, những kẻ can gián. Thậm chí còn sai người bắt bớ, bỏ tù họ. Dần dần, ông biến hẳn thành một ông quan bịp bợm, lèo lá, vừa thích nịnh, vừa ăn của đút như ranh. Đám tay chân cũng nhanh chóng a dua theo. Chúng tha hồ nhân danh pháp luật để ăn cắp trắng trợn mọi thứ của dân, không cho dân được kêu ca, oán thán gì...

Ấp Trâu trở thành một nơi tăm tối nhất thiên hạ, chính trị đểu giả, lưu manh không nơi nào sánh bằng. Dân chúng bị cưỡi lên đầu lên cổ đã đành, lại còn không dám hó hé, suốt ngày phải ca ngợi, mở mồm ra là phải nói lời biết ơn cái lũ đầu trâu mặt ngựa, cầm đầu là ông quan Mỗ ấy (!) Biết ơn lũ kẻ cướp là một việc xưa nay chưa từng có. Chắc chỉ diễn ra ở nơi có cái thứ chính trị đã biến thành lưu manh như kiểu ấp Trâu mà thôi.

Tại sao ông Mỗ lại thay đổi nhanh chóng, lại trở thành một kẻ thối nát ghê tởm như vậy? Trong khi ông từng có tiếng là một người ngay thẳng, ghét cay ghét đắng bọn nịnh hót kia mà. Ai đã bỏ bùa mê thuốc lú cho ông?

Nguyên nhân té ra rất đơn giản. Tất cả chỉ tại lũ chó nhà ông. Trong nhà ông Mỗ nuôi một đàn chó, gầy, béo, đốm, khoanh, vàng, vện... đủ cả. Hàng ngày đi làm về, chúng tranh nhau vẫy đuôi mừng ông rối rít. Con thì liếm chân, liếm tay, con thì ngửi quần áo, con thì cố tru lên những tiếng sủa ra vẻ hớn hở, vui mừng... Chúng thi nhau nịnh ông bằng đủ các động tác, cử chỉ làm ông vô cùng hả hê.

Ông Mỗ từ chỗ thích cái sự nịnh nọt ấy của lũ chó, dần dần đâm ra thích được cả người nịnh. Nhất là những kẻ có cái lối nịnh cũng na ná như lũ chó kia thì ông lại càng thích. Mà những kẻ đó nào có thiếu gì. Tài bắt chước chó của họ thì không chê vào đâu được. Họ không những nịnh bằng giọng lưỡi, động tác, bằng sự liếm láp y hệt loài chó... mà còn nịnh bằng cả văn chương, nhạc, họa... Thậm chí sẵn sàng bóp méo cả sử sách để làm hài lòng ông...

Thế mới biết làm người quả là một việc khó khăn. Duy trì sự tử tế quả là một công phu nan giải. Có khi bị hỏng, bị dang dở giữa chừng chỉ vì lũ chó nuôi trong nhà. Vì thế, kẻ đã quyết chí làm người thì phải cảnh giác với từ con chó trở đi.

Những điều trên đây rút ra từ ghi chép của Nhan Hồi - một học trò yêu của Khổng Tử. Khổng Tử có lần đã nói: “Này Hồi! ta sở dĩ thích ngươi, chính bởi ngươi là một học trò học đến đâu thấy thiếu đến đó. Vì thế kiến thức không bao giờ dừng lại, cái ngu, cái xấu không có cơ hội đến gần được với ngươi...” (nguyên văn: tri nhi bất hạn, ngu xú bất cận).

Phạm Lưu Vũ(Trích Luận ngữ Tân Thư)

Post Reply