Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Asia - 53 “Bốn Mùa - Màu Sắc Của Tình Yêu”
Tạ Xuân Thạc - Việt Hải

Có lẽ nhiều người đồng ý rằng Trung tâm Asia ngày càng mạnh tiến, những bước nhảy vọt thật dài và càng rõ nét về chiều sâu nghệ thuật, nhất là sự thành công vừa qua được khán giả ca ngợi khi Asia - 52 - Huyền Thoại Lê Minh Bằng trình diễn tại thành phố Houston, Texas tháng sáu 2006. Nay đến Asia - 53 Bốn Mùa - Màu Sắc Của Tình Yêu được lưu diễn vào ngày 7 tháng 11-2006 tại Long Beach Terrace Theater, miền Nam California, theo nhận xét chung của nhiều khán thính giả hiện diện đã tán thưởng, không thiên nhiên có bốn mùa biến đổi ngoạn mục trên sân khấu hoành tráng, ánh sáng lại tân kỳ, âm thanh nổi thật linh động như tiếng sấm sét gào thét hay tuyệt diệu như tiếng mưa rơi lồng vào âm nhạc v.v. Thêm vào đó là sự diễn đạt tư tưởng rất trôi chảy của các MC Nam Lộc, Trịnh Hội chững chạc nhưng dí dỏm, và Leyna Nguyễn thì duyên dáng hơn bao giờ khi giới thiệu chương trình, điều này đã đủ làm khán thính giả vui tươi và hồi hộp chờ đón những tiết mục nối tiếp nhau với chương trình chủ đề: Bốn Mùa - Mầu Sắc Của Tình Yêu.
Image Tôi và Việt Hải trao đổi nhiều đề tài khi viết văn, chúng tôi có cái nhìn chung hay tương hợp về yếu tố: Bốn mùa của thiên nhiên, mà trong cái thế giới hữu hình của chúng ta đang sống, hiển nhiên có âm nhạc, màu sắc và yếu tố vô hình như tình yêu, như sự rung cảm và sự lãng mạn của con tim. Nói đến Tình yêu, một đề tài đã xưa thật xưa, xưa như trái đất được Tạo hóa cấu tạo, ấy thế mà lúc nào cũng mới mẻ bởi lẽ chẳng ai cắt nghĩa nổi tình yêu như thơ Xuân Diệu:
Làm sao cắt nghĩa được tình yêu.
Có nghĩa gì đâu một buổi chiều,
nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt,
bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu.

hay,

Tình yêu muốn hóa vô biên
Một ngày yêu, muốn kết liền ngàn năm
Kể từ khi có trái tim
Những đôi người vẫn triền miên với đời
(Tình Yêu Muốn Hóa Vô Biên – Xuân Diệu)
Image Ca ngợi về khía cạnh tình yêu trong âm nhạc, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn là một dẫn dụ điễn hình qua nhiều sáng tác tình ca xoay quay đề tài này mà hôm nay các ca sĩ nổi danh cộng tác với TT Asia như Don Hồ, Y Phương, Y Phụng, Thiên Kim, Nguyên Khang, Diễm Liên và Minh Thông đã hát lên liên khúc đưa mọi người bước qua chu kỳ của cả bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, và Đông, để rồi thiên nhiên cho thấy mùa nào cũng bàng bạc màu sắc của mùa đó trong tình yêu, trong những tình tự khúc của Trịnh Công Sơn. Nhạc Trịnh Công Sơn mà lời ca thật khúc chiết và da diết:
Bốn mùa như gió
Bốn mùa như mây
Những dòng sông nối đôi tay
liền với biển khơi

Đêm chờ ánh sáng
Mưa đòi cơn nắng
Mặt trời lấp lánh trên cao
Vừa xa vừa gần
(Bốn Mùa Thay Lá – TCS)
Nhà thơ Huy Cận thì trong Vạn Lý Tình đã viết như sau:
Người ở bên trời, ta ở đây;
Chờ mong phương nọ, ngóng phương nầy.
Tương tư đôi chốn, tình ngàn dặm,
Vạn lý sầu lên núi tiếp mây.
Nắng đã xế về bên xứ bạn;
Chiều mưa trên bãi, nước sông đầy.
Trông về bốn phía không nguôi nhớ,
Dơi động hoàng hôn thấp thoáng bay.
Cơn gió hiu hiu buồn tiễn biệt,
Xa nhau chỉ biết nhớ vơi ngày.
Chiếu chăn không ấm người nằm một
Thương bạn chiều hôm, sầu gối tay.
Cứ mỗi năm, tiết trời chia ra làm bốn mùa, Xuân, Hạ Thu, Đông. Từng mùa cho ta mỗi đặc tính rõ rệt: Mùa Xuân ấm áp, cây cỏ hoa lá xanh tươi làm cho lòng người vui tươi. Mùa hè nóng bức, nhưng lại có cái vui tươi trong nắng hạ, trong không khí rộn ràng của những ngày nghỉ dài của học sinh. Mùa Thu tiết trời thay đổi, đang từ nắng hạ chuyển biến làm khí trời dịu mát, có lúc se lạnh, làm cho cây đang xanh tươi hoá úa vàng, rồi rụng rơi tơi tả, trong cảnh huống đó cũng làm cho lòng người sắt se thay đổi nỗi buồn vui. Mùa Đông đến cây trút lá, cành trơ trọi tang thương. Bằng vào những cảnh vật biến đổi theo mùa ấy mà các nhà thơ, nhà văn cũng như các nhạc sĩ cảm tác theo mùa.
Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cũng sáng tác những nhạc khúc đã mở đầu, đưa chúng ta bước qua chu kỳ một năm Xuân Hạ Thu Đông mà ta thấy trong đó màu sắc của tình yêu và cuộc đời đó là nhạc khúc Những Tình Khúc Bốn Mùa.

Và để đón mùa Xuân tới hai nhạc phẩm Câu Chuyện Đầu Năm và Tâm Sự Ngày Xuân sáng tác của Hoài An với các diễn viên trẻ biểu diễn võ thuật gần đền dại Phật quang là những môn sinh của võ đường Đặng Huy Đức di chuyển từng thế võ linh hoạt, nhịp nhàng cùng với bốn giọng ca đang được khán thính giả mến mộ đó là Thanh Phong, Phương Hồng Quế, Phương Vũ và Ngọc Huyền.

Leyna Nguyễn và Trịnh Hội đã giới thiệu ca sĩ Thùy Dương hát bài Bến Xuân của nhạc sĩ Văn Cao. Trong script chuyện về Văn Cao, MC Trịnh Hội còn tìm tòi một chi tiết khá đặc biệt là theo lời kể lại của bà Nghiêm Thuý Băng, người phối ngẫu của nhạc sĩ Văn Cao thì bài Bến Xuân này có tới hai lời đều là do ông sáng tác. Lời mà ông soạn lần thứ nhất được đặt tên là Bến Xuân viết vào năm 1941, rồi sau đó ông sáng tác thêm một lời thứ nhì nữa thì lại đặt tên cho bài hát này là Đàn Chim Việt vào khoảng năm 1943. Ta thấy bài Bến Xuân có một đọạn lời lẽ như sau: “sương mênh mông che lấp tiếng Oanh ca”, nhưng vì Oanh là một thiếu nữ mà ông quen đã khá lâu, sau này nàng lại trở thành một phu nhân của một vị tướng đương thời, do đó vì sự tế nhị uyển chuyển khiến ông phải tự ý đổi lời thành “sương mênh mông che lấp kín non xanh” đề phòng những điều không hay có thể xẩy ra trong cuộc sống lứa đôi của bà Oanh. Ca sĩ Thùy Dương được ủy thác trình diễn bài Bến Xuân của Văn Cao đã làm cho tình tự mùa Xuân tiền chiến thêm phần hào hứng, làm nao nức nhớ xuân xưa của khán thính giả nào đã từng qua thời kỳ ngày xưa ấy, bây giờ tiềm thức dĩ vãng chợt sống dậy làm thổn thức lòng người.

Để thay đổi không khí, các MC Leyna Nguyễn và Trịnh Hội đã khéo léo dẫn nhập đưa khán thính giả vào một sáng tác của thế hệ trẻ, những người lớn lên tại hải ngoại được thưởng thức những mùa Xuân mới có tên là Above and Beyond, được Trish Thùy Trang trình bày cùng với các vũ công tung bước nhảy rất điêu luyện.
Image Một tiết mục về Xuân đáng ghi nhận khi MC Nam Lộc cùng đứng chung với Đại úy Thủy Quân Lục Chiến Mỹ gốc Việt là Đại Úy Michael Đỗ, khán thính giả đã vỗ tay hoan hô nhiệt liệt. Trong khi MC Nam Lộc nhắc lại quá khứ, đến những mùa đông lạnh lẽo ở quê nhà trước biến cố tháng Tư đen năm 75. Chúng ta không thể nào không nhắc đến những hình ảnh oai hùng của các chiến sĩ QLVNCH, những người lính trận chiến đấu trong khắp các mặt trận chống lại quân xâm lăng Bắc phương, cùng những nỗi lòng của những người con không thể bỏ tiền đồn để về thăm mẹ già thân thương nơi quê nhà vào những ngày Xuân về Tết đến. Tình cảnh này đã khiến cho nhiều nhạc phẩm ghi lại nỗi niềm đau xót kể trên, nhưng lại cũng ít ai ngờ được rằng chính ngay giờ đây, sau hơn ba thập niên chinh chiến tàn rồi mà những bài hát đó vẫn chính là những tâm sự của những chiến binh Hoa Kỳ đang chiến đấu ở những quốc gia xa quê hương của họ, trong số đó cũng có một phần tâm hồn hoàn toàn Việt Nam góp phần bảo vệ tự do cho nhân loại, đã phải xa gia đình có khi nửa vòng trái đất. Đại Úy Michael Đỗ làm hành động ngoạn mục cho lá cờ vàng ba sọc đỏ phô trương ngay trên xứ dầu hỏa Iraq. MC Nam Lộc đã trang trọng giới thiệu một trường hợp thành công điển hình của tập thể tị nạn người Mỹ gốc Việt là Đại Úy Michael Đỗ, đôi nét về anh, nguyên là một thuyền nhân, theo gia đình đến định cư tại Hoa Kỳ năm 1980 khi vừa 4 tuổi. Và là con trai duy nhất của một cựu Đại úy QLVNCH từng trải qua bao tháng năm trong trại tù trá hình được mệnh danh là “học tập cải tạo”, vì thế sau khi học xong Trung Học, Michael Đỗ đã quyết định tiếp tục xứ mạng dở dang của thân phụ mình để gia nhập quân dội Hoa Kỳ. Anh đã tốt nghiệp trường đại học nổi tiếng về quân sự là West Point, và đồng thời anh còn theo đuổi việc học để trở thành một kỹ sư ngành chế tạo hỏa tiễn hay phi đạn (missile design); Ngoài ra, anh cũng có bằng Tiến sĩ ngành Quản trị Hành chánh.

Vào năm 2005, Đại úy Michael Đỗ nhận lệnh đi chiến đấu tại Iraq, và đồn trú tại một thành phố đầy biến động là Fallujah. Với tư cách là một kỹ sư quân đội, anh được biệt phái làm việc trong Bộ Tham Mưu của Thiếu tướng Stephen Johnson. Anh tham gia trong những kế hoạch bình định xứ sở nhiểu nhương Iraq. Anh cũng có dịp đón tiếp một người cựu chiến binh tại Việt Nam là cựu Trung tá Olivier North, khi hai người trao đổi kinh nghiệm Iraq và Việt Nam. Điều quý hóa của người trẻ gốc Việt này, anh mang canh cánh trong lòng về nguồn cội Việt Nam và nhớ về quê Cha đất Tổ, nơi mà máu xương của các chiến binh QLVNCH đã anh dũng hy sinh để bảo vệ giang sơn bờ cõi, nên để ghi nhớ công ơn của thế hệ đi trước anh luôn luôn dựng ngọn cờ vàng ba sọc đỏ tại Bộ Chỉ Huy hành quân của đơn vị mình. Thật đáng khen cho một tấm lòng rất Việt Nam.

Trong tiếng vỗ tay vang dội, tiếng hoan hô đón chào Người về từ chiến trương Iraq: Tiến sĩ, Kỹ sư Đại úy Micheal Đỗ, MC Nam Lộc đã bắt tay anh, và tiếp sau đó là hai giọng ca kỳ cựu của nền âm nhạc Việt Nam thì Thanh Tuyền và Chế Linh lần lượt đã cất cao tiếng hát qua hai nhạc khúc Tình Chết Theo Mùa Đông của nhạc sĩ Lam Phương và Nhớ Một Chiều Xuân của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông. Lời nhạc dẫn dắt chúng về với quê hương ngày cũ:
Chiều buồn ngồi một mình
Nhìn mây trôi mênh mang
Nhìn đôi chim lang thang, lang thang

Trời buồn người càng buồn
Trông mây nước thêm bâng khuâng
Nhớ em từng phút mong từng giây em ơi

Biết rằng cuộc tình đầu
Thường gây bao thương đau
Càng yêu nhau càng xa nhau mãi mãi

Thà rằng người đừng về
Cho nuối tiếc thêm dâng cao
Để cho tình chết theo mùa Đông năm nao

Người đến tìm tôi một đêm trời bão bùng
Giọng nói người xưa như hờn oán
Đừng nhắc người ơi mười năm rôì còn gì
Anh sợ anh sợ những ngày biệt ly

Thế rồi tình lại buồn
Vì ai gây chia ly
Vì ai em ra đi mãi mãi
Giờ thì còn lại gì
Hay muôn kiếp khóc cho nhau
Chúc em hạnh phúc trong tình duyên mai sau
Tình chết Theo Mùa Đông – Lam Phương

Image
Qua Xuân là vào Hạ, mùa của rực rỡ nắng vàng, có cảnh đi rong chơi phiêu lãng cuối trời, với tình yêu phơi phới, nhạc sĩ Lê Hựu Hà đã viết lên nhạc phẩm Vào Hạ thật rộn ràng, được Trúc Hồ pha trộn âm thanh và phối khí khiến nhạc vang theo nhịp samba vui bước của vùng Nam Mỹ, cho thấy sự kỳ thú khi ca khúc này được hát lên bởi ba tíếng hát của Vina Uyển Mi, Thùy Hương và Dạ Nhật Yến.
Ta rong chơi phiêu lãng cuối trời,
đời bọt bèo phù du kiếp người,
dù qua bao nhiêu đắng cay vẫn cười,
và đời còn mùa hạ tươi vui
Và lòng còn nhiều điều muốn nói.
Hãy thắp sáng tâm hồn
cháy lên trong tim mỗi người
những yêu thương cho cuộc đời,
mùa hạ ơi, tình phơi phới!
Bạn ơi xin hãy vứt hết nỗi buồn,
xóa tan đi bao đêm trường,
bước ung dung trong cuộc đời .... hạ ơi...

Image
Nói về nhạc sĩ Phạm Đình Chương, hai MC Nam Lộc và Trịnh Hội đã thay phiên nhau trình bày cho khán thính giả biết rằng nhạc sĩ Phạm Đình Chương đã diễn tả thật hay và thật trọn vẹn một xóm nghèo trong đêm tối kể cả những hoạt cảnh sinh hoạt trong xóm đêm. Nhạc phẩm Xóm Đêm đã được phơi bày ra hết, rồi MC Nam Lộc mời khán thính giả thưởng thức nhạc phẩm Xóm Đêm của nhạc sĩ Phạm Đình Chương qua phần trình bày qua 3 giọng nam truyền cảm Anh Khoa, Tường Nguyên và Tường Khuê. Riêng tíếng hát ca sĩ Anh Khoa vẫn trầm buồn muôn thuở, khiến người nghe hình như ai cũng bâng khuâng, chạnh nhớ có những cơn mưa về khi xóm đêm buồn trong hiu hắt.
Đường về canh thâu.
Đêm khuya ngõ sâu như không mầu,
qua phên vênh có bao mái đầu
hắt hiu vàng ánh điện câu.

Đường dài không bóng.
Xa nghe tiếng ai ru mơ màng.
Mưa rơi rơi xóa lối đi mòn.
Có đôi lòng vững chờ mong.
Kế tiếp là bài Hoang Vắng do nhạc sĩ Quốc Dũng sáng tác, được ca sĩ Dalena chính gốc người Mỹ hát bằng tiếng Việt nhuần nhuyễn, cô hát với ca sĩ Henry Chúc, một ca sĩ người Việt gốc hoa. Có một điểm đặc biệt là nhạc phẩm Hoang Vắng qua phần hòa âm mới lạ. Ca khúc Mưa Nửa Đêm và Mưa Đêm Ngoại Ô sáng tác do nhạc sĩ Trúc Phương và Đỗ Kim Bảng, đó cũng là những ca khúc lãng mạn nói về - Mưa - mà hai giọng ca một nam và một nữ đó là ca sĩ Tuấn Vũ và Mỹ Huyền trình bày cũng thật điêu luyện.
Đêm chưa ngủ nghe ngoài trời đổ mưa
Từng hạt rơi gác nhỏ đèn le lói bóng dáng in trên tường loang
Anh gối tay tôi để ôn chuyện xưa cũ gói trộn trong tuổi nhớ
. . .
Khi trót gửi những hình ảnh của tim vào lòng đêm
Những kỷ niệm cho nhau nếu mất đi xin đừng quên
Tôi thích đi trong niềm vui và đêm rớt những giọt mưa cuối cùng
Mưa nửa đêm mưa vào gác nhỏ ...
Mưa buồn mưa lạnh vào tim
(Mưa Nửa Đêm – Trúc Phương)

Image
Tiếp đến một trích đoạn vở tuồng cải lương Chung Vô Diệm do ba nghệ sĩ Tuấn Hùng, Hương Huyền và Ngọc Huyền trình diễn thật xuất sắc. Kế tiếp thì khi nói đến Đoàn Chuẩn và Từ Linh là nói đến Nhạc mùa Thu. Mùa Thu lại có âm nhạc Đoàn Chuẩn Từ Linh. Ngược lại, nhạc của Đoàn Chuẩn Từ Linh đã thực sự đi liền với mùa Thu. Những yếu tố bất khả phân ly. Nhạc Đoàn Chuẩn Từ Linh hầu hết đều mang hình ảnh mùa Thu như Lá Đổ Muôn Chiều, Gởi Gió Cho Mây Ngàn Bay, Lá Thư, Tà Áo Xanh, Thu Quyến Rũ, v..v..., mà trong đó dáng Thu về có khi chỉ phảng phất, nhưng có khi thì lại thật rõ rãng, với lời ca trữ tình, lãng mạn, nhưng giản dị và dễ nhớ khiến cho ai cũng có thể hát được một vài câu như: “Nhớ tới mùa Thu năm xưa gửi nhau phong thư ngào ngạt hương, nét bút đa tình lả lơi…”.

Hai ca sĩ Diễm Liên và Nguyên Khang đã hát Liên Khúc Mùa Thu của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn và Từ Linh rất chuẩn, đưa khán thính giả cảm giác như đang sống trong không khí mùa Thu.

Kỹ thuật âm nhạc của Asia nghe hay, lạ tai người ta không quên những nhạc sĩ đã miệt mài làm việc sau hậu trường đã trau chuốt phần hòa âm, phối khí cho toàn bộ những nhạc phẩm trong chương trình hôm nay được thăng tiến hơn, những tay phù thủy âm nhạc trẻ đó không ai khác hơn là bộ ba Trúc Sinh, Trúc Hồ và Sỹ Đan. Ngoài ra cũng ghi nhận sự hiện diện của một lực lượng khá hùng hậu gồm các nhạc sĩ ưu tú của dàn nhạc thính phòng thuộc Hội Hiếu Nhạc Việt Mỹ, dưới sự điều khiển của nhạc trưởng Nguyễn Khánh Hồng, hợp cùng The Asia Band.

Sau Liên Khúc Mùa Thu của Đoàn Chuẩn và Từ Linh, đã được gởi tới khán thính giả thì Leyna Nguyễn và Trịnh Hội giới thiệu về mùa Thu có những lá vàng bay, có những cảnh chia ly như cảnh chiếc lá lìa cành qua bản nhạc Mùa Thu Lá Bay, mà nó cũng tựa đề của cuốn phim làm rung động hằng triệu con tim, dựa theo cuốn tiểu thuyếtt trùng tên của nhà văn Quỳnh Dao. Trịnh Hội trình bày video script ngắn về nhà văn Quỳnh Dao. Nhạc phẩm Mùa Thu Lá Bay đã được soạn lời Việt từ đầu thập niên 1970 và cũng đã được rất nhiều ca sĩ trình bày. Tuy nhiên, vào giữa thập niên 1980 nữ ca sĩ Kim Anh đã làm sống lại ca khúc bất hủ này tại hải ngoại. Nhưng chính Kim Anh nhìn nhận nhạc phẩm Mùa Thu Lá Bay đã mang tên tuổi của cô đến với người yêu nhạc. Đó là lý do mà người ta thường gọi cô là “Kim Anh Mùa Thu Lá Bay”. Và một trong những điều ngạc nhiên nữa mà ít người biết được tác giả lời Việt của bài hát Mùa Thu Lá Bay này lại là nhạc sĩ Nam Lộc, vì lời Việt rất trau chuốt, mượt mà và rất tình tự. Nhưng Nam Lộc không ghi tên mình, mà lại lấy bút hiệu là Lệ Thanh, sở dĩ anh lấy tên này vì rạp Lệ Thanh lúc đó là nơi đang chiếu bộ phim Mùa Thu Lá Bay đầu tiên tại Việt Nam. Nhạc phẩm bất hủ Mùa Thu Lá Bay, nhạc Hoa, mà lời Việt của Nam Lộc, qua phần trình bày do đôi song ca, bằng song ngữ Hoa và Việt với Kim Anh và Thái Doanh Doanh. Thái Doanh Doanh chính là ái nữ của hai nhà thơ Thái Tú Hạp và Ái Cầm, cũng là nhà báo rất nghệ sĩ tính tại miền nam Cali.

Khi mà nhà thơ Hữu Loan đã rất tâm đắc câu Kiều của văn hào Nguyễn Du là “Chữ Tâm Kia Mới Bằng Ba Chử Tài”. Trịnh Hội đã dùng câu nói bất hủ của đức Đạt La Lạt Ma là: “Dance like no one is watching. Work like you never have to get paid and love like you’ll never get hurt”, tạm dịch là “Hãy Nhảy Như Không Một Ai Nhìn Bạn, Hãy Làm Việc Như Bạn Không Bao Giờ Cần Được Trả Tiền và Hãy Yêu Như Bạn Sẽ Không Bao Giờ Bị Đau Khổ”. Hãy yêu cho đến tận cùng như tình yêu cuối cùng, như chiếc lá cuối cùng đã rơi theo chiều gió. Như vậy đó, xin hãy nghe nhạc phẩm Chiếc Lá Cuối Cùng của Nhạc Sĩ Tuấn Khanh qua hai tiếng hát của Y Phương và Bảo Yến.

Trong bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông khi thiên nhiên thay hoa, đổi lá, khi người ta phải vất vả xúc tuyết để dọn đường đi, nhưng cũng được hưởng cái thú trượt băng trong không khí tươi vui nhộn nhịp, thì dường như chúng ta chỉ nhắc đến cuộc sống tại hải ngoại, chứ thật ra ở trong nước, ngoại trừ miền bắc mà Hà Nội là tiêu biểu có bốn mùa. Còn miền Trung và miền Nam Việt Nam thường chỉ có hai mùa Mưa và Nắng, hay mùa Khô và mùa con nước dâng cao làm cho lũ lụt tàn phá mùa màng hoa trái. Riêng miền Trung năm nay, đã có biết bao nạn nhân của thiên tại phải trải qua những mất mát, những khổ đau do lụt lội gây ra. Trước sự khốn khổ cùng cực này, các nạn nhân bão lụt miền Trung vẫn còn đang phải hứng chịu dài dài! MC Nam Lộc và Leyna Nguyễn đã nói: xin hãy nghe một ca khúc tiêu biểu diễn tả về số phận hẩm hiu cùng hoàn cảnh nghiệt ngã của người dân miền Trung yêu dấu Việt Nam. Đó là nhạc phẩm Tiếng Sông Hương trích từ trường ca Hội Trùng Dương, sáng tác của nhạc sĩ Phạm Đình Chương, qua sự diễn tả của ca sĩ Ngọc Hạ:
Miền Trung vọng tiếng, em xinh em bé tên là Hương giang, đêm đêm khua ánh trăng vàng mà than. Hò ơi, phiên Đông Ba buồn qua cửa chợ, bến Vân Lâu thuyền vó đơm sâu. Hỡi hò, hỡi hò. Quê hương em nghèo lắm ai ơi, mùa đông thiếu áo hè thì thiếu ăn. Trời rằng, trời hành cơn lụt mỗi năm à ơi, khiến đau thương thấm tràn, lấp Thuận An để lan biển khơi, ơi hò ơi hò.

Hò ơi… Ai là qua là thôn vắng, nghe sầu như mùa mưa nắng cùng em xót dân lều tranh chiếu manh. Hò ơi... Bao giờ máu xương hết tuôn tràn, quê miền Trung thôi kiếp điêu tàn cho em vang khúc ca nồng nàn. Ngày vui, tan đao binh, mẹ bồng, con sơ sinh, chiều đầu xóm xôn xao đón người trường chinh. Ngậm ngùi hân hoan tiếng cười đoàn viên.

(Tiếng Sông Hương - Phạm Đình Chương)
Nhạc sĩ Trúc Hồ sáng tác bài Khi Ta Xa Nhau hôm nay được Lâm Thuý Vân trình diễn cũng được khan thính giả hưởng ứng nhiệt liệt.

Khi MC Leyna Nguyễn đã thay áo dài, cô mặc chiếc áo dài mùa Đông ra sân khấu giới thiệu chương trình cùng với MC Nam Lộc. Điều này cho thấy mùa Đông đã đến để khi nhắc đến áo lạnh mùa Đông thì người ta phải nhắc đến hình ảnh của người phụ nữ Việt Nam ngồi đan áo ấm cho chồng, cho con trông thật là dễ thương điển hình cho sự hiền thục và là hình ảnh thi vị nhất.

Trong thời khói lửa chiến chinh, người ta đã mục kích bao nhiêu cảnh đời những hình ảnh của biết bao nhiêu thiếu nữ hậu phương hoặc giữa chốn thị thành, âm thầm chong đèn, ngồi đan từng chiếc áo len gởi ra tiền tuyến. Những người vợ, người yêu của các anh lính chiến đã gởi gấm cả tấm lòng thương yêu, nhung nhớ của mình vào từng đường kim, mũi chỉ. Nàng ngồi đan mà nghĩ đến cái rét của người chiến sĩ nơi xa xôi vạn dặm. Nhìn ra cửa sổ thấy từng chiếc lá rơi như mang theo nỗi buồn nhung nhớ. Và nỗi khổ sầu còn sâu đậm hơn khi biết rằng mùa Đông năm đó sẽ không có người yêu bên cạnh trong đêm Noel khi Thiên Chúa giáng sinh. Để gợi nhớ lại những mối tình đẹp đẽ và cao thượng đó trên sân khấu là những hình ảnh mùa Đông. Và qua hoạt cảnh với hai nhạc phẩm, Chuyện Tình Đan Áo sáng tác của Trường Sa và Bài Thánh Ca Buồn của Nguyễn Vũ, qua phần trình bày của Băng Tâm và Đặng Thế Luân, chính phần trình bày thật xuất sắc của đôi ca sĩ đã làm khán thính giả gần gủi với kỷ niệm, của không khí Giáng Sinh hơn bao giờ.
Bài thánh ca đó còn nhớ không em
Noel năm nào chúng mình có nhau
Long lanh sao trời thêm đẹp môi mắt
Áo trắng em bay như cánh thiên thần
Giọt môi hôn dưới tháp chuông ngân

Cùng nhau quỳ dưới tượng Chúa cao sang
Xin cho đôi mình suốt đời có nhau
Vang trong đêm lạnh bài ca Thiên Chúa
Khẽ hát theo câu đêm thánh vô cùng
Ôi giọng hát em mênh mông buồn...
. . .
Rồi mùa giá buốt cũng qua mau
Lời hẹn đầu ai nhớ dài lâu
Rồi một chiều áo trắng phai màu
Em qua cầu xác pháo bay sau...
Image Sau đó Nam Lộc và Trịnh Hội đã giới thiệu ca sĩ Ánh Minh và Don Hồ trình diễn bài Bên Em Là Biển Mộng của nhạc sĩ Bảo Chấn. Còn Dalena thì mời khán giả thưởng thức nhạc phẩm Phiên Khúc Mùa Đông, sáng tác do nhạc sĩ Nguyễn Trung Cang của Ban Nhạc Phượng Hoàng năm xưa, giờ đây sẽ được trình bày qua 3 tiếng hát của Minh Thông, Khải Tuấn, và Dạ Nhất Yến.

Những MC thay cách giới thiệu qua trang phục Noel. Leyna Nguyễn trong chiếc mũ Santa Clause ra sân khấu để giới thiệu nhạc Thánh ca mừng Giáng Sinh. Nhạc Anh Mỹ có rất nhiều bài hát thật quen thuộc mà ta thường nghe trong mùa Giáng Sinh về như: Jingle Bell, First Noel, Joy to the world, Deck the hall, Silent Night, Sleigh Ride... Nhưng mà nhạc về Giáng Sinh của Việt chúng ta cũng không thiếu gì những ca khúc Giáng Sinh như: Đêm Thánh Vô Cùng, Giáng Sinh Kỷ Niệm, Hai Mùa Noel, Bài Thánh Ca Buồn, Lời Người Ngoại Đạo v..v... Nam Lộc đã mời khán thính giả nghe lại những ca khúc Giáng sinh quốc tế, đã được sáng tác gần 70 về trước, mà Noel nào chúng ta cũng được nghe đi, nghe lại như một truyền thống mà hằng năm vẫn được trình diễn. Màn trình diễn thật hào hứng của the Asia 4 qua liên khúc những bài ca Giáng Sinh Medley Christmas Songs qua nghệ thuật trình diễn thật vui tươi và trẻ trung.

Ca sĩ Phương Hồng Quế được mời giới thiệu về nhạc sĩ Tâm Anh, ca sĩ Phương Hồng Quế là một trong số những ca sĩ đã được nhạc sĩ Tâm Anh chú ý ngay từ những bước khởi đầu của sự nghiệp ca hát của cô, bởi vì giọng hát của cô rất thích hợp với những sáng tác của nhạc sĩ Tâm Anh. Phương Hồng Quế đã có kỷ niệm tình bạn nghệ sĩ với Tâm Anh trước khi anh qua đời tại VN, thật cảm động mà cứ mỗi lần nhắc đến Phương Hồng Quế đều rơi nước mắt. Đó là một kỷ niệm của một kỷ vật, một tấm áo lạnh để phủ thân hình tiều tụy của một người nhạc sĩ tài hoa. Kế đến là hai trong số những tình khúc nổi tiếng của ông: nhạc phẩm Chuyện Tình Không Suy Tư và Phố Đêm, qua phần trình bày của hai giọng hát ngọt ngào Thiên Kim và Y Phụng.
Tình yêu mới vừa hôm qua
Mà nay mắt trông mắt cay
Lệ nhòa tan nguồn tin yêu
Lệ nhòa trôi cơn mê đầy

Người yêu giờ xa xôi lắm
Cướp mất thương yêu
Em khóc cho ai đêm nay
Ai khóc cho em ngày mai ...
Người yêu khóc tình ngu si
Lệ khô đắm môi tím mi
Lệ tràn trôi tình yêu anh
Lệ tràn suy tư mang về
Rồi đến bài Phố Đêm chuyên chở tâm hồn mọi người về màn đêm giăng lên những con phố trong tiềm thức cũ và với nỗi buồn man mác.
Phố đêm đèn mờ giăng giăng
Màu trắng như vì sao gối đầu ngủ yên
Phố đêm nhiều lần suy tư
Ghi nhớ còn trong đời
Những ngày thương tích lớn

Mây đen làm úa trăng gầy
Cho nên còn tiếng say mềm
Trước thềm ngàn lời vu vơ
Vì người hay mơ dòng đời như thơ
Khi tình yêu vừa trở lại trong vườn Xuân tươi sáng, một sáng tác mới nhất cuả nhạc sĩ trẻ Cardin. Bài ca của tuổi trẻ vì khi mùa Xuân đến làm người ta yêu nhau đã gợi lòng cảm hứng để nhạc sĩ sáng tác nhạc phẩm Thầm Yêu này. Bài hát lại qua giọng hát chính tác giả là nam ca sĩ Cardin.

Sau đó Nam Lộc và ca sĩ Thiên Kim giới thiệu một vở kịch vui nhộn có tựa đề là VÀO XUÂN, với sự góp mặt của Neil Đặng, Thi Phan, đồng thời chúng ta sẽ tái ngộ với đôi danh hài rất dễ mến và cũng là cặp vợ chồng hạnh phúc nhất hiện nay vì đã luôn luôn lo lắng, giữ gìn sức khoẻ cho nhau: Cặp nghệ sĩ Quang Minh và Hồng Đào.

Mục đặc biệt sau cùng là các Nam Lộc, Leyna Nguyễn và Trịnh Hội, cả ba MC, trong y phục cổ truyền áo dài khăn đống ra trình diện với khán giả. Sau hơn 3 tiếng khán giả đã trải qua một vòng của một năm với bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông. Để rồi sau cùng chúng ta trở lại với những cảm hứng của chu kỳ thiên nhiên là mùa Xuân. Đối với người Việt chúng ta, nói đến Xuân là phải nói đến Tết, vì Tết là thời điểm chuyển mùa, tiễn năm cũ đi đón mừng năm mới đến. Xuân đến là Tết đến, cũng là thời điểm để sum họp gia đình, bạn hữu, để cùng đón mùa Xuân mới. Mỗi năm nhạc phẩm Xuân và Tuổi Trẻ vẫn được nghe đi nghe lại, bây giờ bài nhạc này được trình bày do cặp uyên ương song ca Phương Thảo và Ngọc Lễ nghe như rung động tâm tư và vui tươi không gian khi Xuân thực sự trở về.
Ngày thắm tươi bên đời xuân mới,
Lòng đắm say bao nguồn vui sống.
Xuân về với ngàn hoa tươi sáng,
Ta muốn hái muôn ngàn đóa hồng.

Ngày thắm tươi bên đời xuân mới,
Lòng đắm say bao nguồn vui sống.
Xuân về với ngàn hoa tươi sáng,
Ta muốn luôn luôn cười với hoa .

… Hát vang lên đời ta thắm tươi,
Tiết xuân huy hoàng muôn sắc hoa
Tiết xuân êm đềm muôn tiếng ca,
Xuân tưng bừng...
Kết thúc màn trình diễn Asia 53 là một không gian vui tươi, tất cả các nghệ sĩ ca sĩ cùng với đoàn lân nhảy múa tưng bừng mừng Xuân mới với tiếng ca chan hoà, pháo nổ đì đùng để Chúc Mừng Xuân Mới. Asia không quên gửi đến khách tham dự những bao lì xì lấy hên đầu năm.


Image
Với Asia - 53 đem lại cho khán thính giả một cảm giác lâng lâng, nôn nao được đón Mùa Xuân Mới thật sớm, vì khi thưởng ngoạn live show trời bên ngoài vẫn còn Đông, nhưng bên trong rạp hát đã thấy không khí Tết rộn ràng. Chủ đề Bốn Mùa - Màu Sắc Của Tình Yêu của ASIA -53 đã gặt hái thêm thành công rực rỡ, chẳng những cho khán thính giả thưởng ngoạn tại Long Beach Terrace Theater, mà còn sẽ đem mùa Xuân về thực sự với mọi người trong gia đình khi xem ASIA - 53 để được dịp chứng kiến tận mắt âm nhạc bốn mùa. Một trong điều cần ghi nhận là sân khấu được thiết trí vô cùng hoành tráng, cảnh vật thiên nhiên lộng lẩy, mùa Đông có tuyết rơi, mùa Xuân hoa nở, mùa Hạ hoan ca hay mùa Thu lá bay,... Đó là nội dung của Asia -53 vậy.

Quý độc giả hãy đón coi DVD -53 sẽ phát hành vào đầu năm 2007 trước Tết Đinh Hợi, một tác phẩm nên có trong mỗi gia đình.


Cung Chúc Tân Xuân

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Ai Ra Xứ Huế
Nhạc và Lời : Duy Khánh
Tiếng Hát : Lily Doiron



Ai ra xứ Huế thì ra
Ai về là về núi Ngự
Ai về là về sông Hương
Nước sông Hương còn vướn chưa cạn
Chim núi Ngự tìm bạn bay về
Người tình quê ơi người tình quê thương nhớ lắm chi

Ai ra xứ Huế thì ra
Ai về là về Vỹ Dạ
Ai về là về Nam Dao

Dốc Nam Dao còn cao mong đợi
Trăng Vỹ Dạ ngọt lời câu thề
Người tình quê ơi người tình quê có nhớ xin trở về

À ơi à ơi !
Chứ cầu Tràng Tiền sáu vài mười hai nhịp
Vì thương nhau rồi chớ xin kiếm về mau
À ơi ơi à! Hò ơi!
Kẻo rồi mai tê bóng xế qua cầu
Thì bạn còn thương bạn chứ biết gởi sầu về nơi mô
À ơi ơi à!

Ai ra xứ Huế thì ra
Ai về là về núi Ngự
Ai về là về Vân Lâu

Bến Vân Lâu còn sâu thương nhớ
Thuyền Bến Ngự còn đợi anh về
Người tình quê ơi người tình quê, có nhớ xin trở về
Người tình quê ơi người tình quê, chứ có nhớ xin trở về...

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Viện Bảo Tàng Thuyền Nhân Việt Nam tại Canada


Đào Văn Bình, Jan 13, 2007

Khi cộng sản tràn vào Miền Nam lập tức lưới sắt được buông màn, rừng cờ đỏ phủ màu tang tóc, cường bạo lên ngôi thống trị, hận thù trở thành quốc sách, vét vơ tài sản trở thành hãnh diện của kẻ chiến thắng, nhà tù nhiều hơn trường học, hằng triệu người bị lùa vào các trại cải tạo, vùng kinh tế mới giết chết đời dân đô thị, đánh tư sản để bần cùng hóa nhân dân…cho nên người dân đã kinh hoảng lao ra Biển Đông để tìm lẽ sống. Bằng những chiếc thuyền con mong manh, bằng những chiếc ghe bàu chạy đường sông, thậm chí bằng cả những chiếc canoe du lịch ven biển …với bao hiểm nguy chờ đón.. người ta lướt càn lên sóng nước …để mưu tìm Tự Do. Theo thống kê của Liên Hiệp Quốc, chỉ nội đợt vượt biển thứ nhì 1978-1982 đã có 700,000 người Việt bỏ xác trên bước đường đi tìm Tự Do. Lịch sử thế giới sau chuyến Exodus của người Do Thái cách đây 3200 năm lại chứng kiến một Exodus bi tráng thứ hai của người Việt bằng con đường quá hải và Boat People trở thành tên lừng danh thế kỷ. Thế nhưng Exodus thứ hai này lại là hiện thân của một thảm kịch nhân loại với bao chết chóc, hãi hùng cho nên Liên Hiệp Quốc đã phải lập diễn đàn khẩn cấp, các quốc gia Hoa Kỳ, Canda, Úc Châu, Pháp, Bắc Âu, Tân Tây Lan v.v.. đã mở rộng cửa từ bi để đón nhận hằng triệu người Việt khốn khổ.

Sau khi định cư vào xứ người, vật lộn với cuộc sống áo cơm, thích nghi với văn hóa mới, chỉ sau hơn một thập kỷ, do đức tính cần cù, nhẫn nại, thông minh cố hữu- người Việt đã thành công vượt bực - điển hình tại các quốc gia như Hoa Kỳ, Canada và Úc Châu. Sau khi cuộc sống đã ổn định, trong những lúc rảnh rỗi, người ta bắt đầu hồi ức lại chặng đường quá khứ và giật mình khi thấy đứa con còn ẵm ngửa ngày nào trên bước đường vượt biển nay đã khôn lớn, do phải hội nhập và phấn đấu trong xã hội mới…đang có nguy cơ quên mất bản sắc dân tộc, quên những ngày tháng đau thương của cha mẹ nó. Chính vì thế mà bao hồi ký, truyện ngắn, thơ, nhạc đã được viết ra để ghi lại biến cố lịch sử trọng đại này. Thế nhưng những tác phẩm văn chương, dù muốn dù không vẫn chỉ nằm trong thư viện, trong tủ sách gia đình và nó chưa phải là một biểu tượng sống động, nguy nga được phơi bày ngay cho công chúng biết. Do đó ý tuởng tạo dựng một tượng đài thuyền nhân hình thành. Có thể nói đây là một ý tưởng can đảm, gian nan và đòi hỏi rất nhiều đóng góp. Thế nhưng Thành Phố Ottawa, Canada, với số lượng người Việt cư trú năm đó là 3000 người đã làm được chuyện phi thường là tạo dựng được một tượng đài tưởng niệm thuyền nhân sớm nhất tại hải ngoại. Vào ngày 30-4-1995 tôi đã được vinh dự tới đây tham dự lễ khánh thành bức tượng Nguời Mẹ Ôm Con Vượt Biên.

Có thể nói hôm đó là một ngày hội lớn của người Việt tại Canada. Các phái đoàn người Việt khắp nơi từ Hoa Kỳ cũng đổ về để chia vui trong ngày trọng đại. Đoàn diễn hành kéo dài cả cây số với hai ban nhạc kèn đồng của thành phố tháp tùng khởi hành từ trụ sở Liên Hội Canada nằm tại Đường Rochester để kéo tới ngã tư Sommerset & Preston – là nơi bức tượng Người Mẹ Ôm Con Vượt Biên đang chờ giờ khánh thành. Anh Lê Duy Cấn- một sinh viên du học trước năm 1975, Tiến Sĩ Kinh Tế, Phụ Tá Thứ Trưởng Khoa Học & Kỹ Thuật Canada, với sự hỗ trợ của Liên Hội Người Việt và tất cả các hội đoàn tại Canada đã hoàn tất kỳ công này. Hình ảnh của buổi lễ khánh thành cảm động đó hôm nay vẫn sống động rộn ràng trong tôi – bởi tôi là một thuyền nhân. Thế rồi bẵng đi một thời gian, vào ngày 20-8-1998, nhân dịp viếng thăm Canada tôi đã được Đặng Văn Nghiêm ở Kingston lái xe đi Ottawa để thăm anh Lê Duy Cấn và nhất là được nhìn lại bức tượng Người Mẹ Ôm Con Vượt Biên. Lúc bấy giờ trời đã chớm thu, hàng phong bắt đầu rụng lá, trong ánh chiều chạng vạng, tôi, Đặng Văn Nghiệm, quý anh Lê Duy Cấn, Lê Quảng Trị và Lê Quốc Uy đã chia nhau nhặt những chiếc lá vàng rơi rụng dưới chân bức tượng và dọn dẹp sạch sẽ chung quanh mà…nước mắt cứ rưng rưng vì nhớ lại chặng đường vượt biên gian khổ của hằng triệu người – trong đó có chính mình.

Sau ngày đó tôi cứ tưởng Ottawa đã thỏa mãn. Một đài tượng đài tưởng niệm thuyền nhân đứng đó, sẽ tồn tại mãi với thời gian- vừa là một di sản văn hóa của Canada vừa là chứng tích tội ác của cộng sản- mà tôi có nói đùa là “chừng nào nước Canada chìm xuống đáy biển thì bức tượng này mới bị dời đi” vậy thì chúng ta còn mong muốn gì nữa ? Nhưng không, tham vọng của người Việt tại Canada không dừng lại nơi đây. Mới đây, qua Đặng Văn Nghiêm tôi được biết dự án thiết lập Viện Bảo Tàng Thuyền Nhân Việt Nam (Vietnamese Boat People Museum) tại Canada đã và đang được Liên Hội Người Việt Canada tiến hành, cho nên trong chuyến viếng thăm Canada từ ngày 27-06 tới 1-8-2006 vợ chồng tôi đã nhờ Đặng Văn Nghiêm lái xe đi Ottawa để thăm anh Lê Duy Cấn để hỏi thêm chi tiết về dự án này. Chúng tôi và Đặng Văn Nghiêm gặp anh Lê Duy Cấn và anh Hoàng Song An (Liên Hội Cựu Quân Nhân) tại trụ sở Liên Hội Người Việt vào lúc 5:30PM ngày Chủ Nhật 30-7-2006. Chúng tôi được biết thêm một số chi tiết như sau: Đây là một dự án “ Để trình bày dữ kiện lịch sử của cuộc di cư mưu tìm tự do của người Việt tỵ nạn trong đó phần lớn là thuyền nhân và sự đón nhận của thế giới, để quảng bá các đóng góp của cộng đồng người Việt tại các quốc gia định cư. ” bao gồm hình ảnh, kỷ vật, phim ảnh, sách báo, thơ, nhạc, truyện nói về thời kỳ thuyền nhân nằm trong một Viện Bảo Tàng toạ lạc trên đất công tại Ottawa. Đây là một kiến trúc khá đồ sộ, tráng lệ, hình cánh cung, với các góc cạnh kỷ hà, phần lớn bằng kính, bên trên là một cánh chim hình chữ V biểu tượng cho Việt Nam và Victory . Họa đồ do con trai của anh Lê Duy Cấn là Kiến Trúc Sư Lê Trường Sơn hiện ở Maryland vẽ kiểu tặng không và sau này khi thực hiện công trình sẽ có kiến trúc sư Canada giám sát, dự trù khánh thành vào khoảng từ 2008-2010. Kinh phí 2 triệu Gia-kim mà tới ngày hôm nay mới chỉ thu được 50,000 Gia-kim. Sau khi chụp hình lưu niệm trước tấm hoạ đồ kiến trúc, tôi trao tặng anh Lê Duy Cấn ba cuốn Thiên Sử Thi Của Người Vượt Biển xuất bản năm 2004 để hy vọng sau này sách sẽ được trưng bày trong viện bảo tàng, tôi hứng khởi đọc một vài bài thơ trong trường thi này trong bầu không khí - tuy ít người nhưng vô cùng cảm động. Sau khi vợ chồng tôi và Đặng Văn Nghiêm mỗi người ký tặng dự án một số tiền nho nhỏ, chúng tôi được anh Lê Duy Cấn huớng dẫn ra thăm bức Tượng Người Mẹ Ôm Con Vượt Biên. Sau bao năm, bà mẹ vẫn còn đứng đó:

Em đứng ôm con bồng mưa nắng,

Sắt son dũng cảm đến Kỳ Cùng

(Cung Trầm Tưởng)

Anh Lê Duy Cấn cho biết nơi này đã trở thành thắng cảnh nổi tiếng của Thành Phố Ottawa. Cảnh trí chung quanh đã được trang trí đẹp mắt hơn. Đã có ghế ngồi cho bà con ta ra đây nghỉ trưa hoặc ngắm cảnh. Một ông bà người Canada tên Gordon và Sue vì quá thương người Việt Nam nên đã đổi tên mình thành Đức Anh và Mỹ Hạnh, cứ mỗi tuần đều tới đây tình nguyện làm cỏ và dọn dẹp sạch sẽ chung quanh tượng đài. Ông bà đã là biểu tượng của lòng nhân ái, cảm thông của người Canada đối với người Việt Nam và cũng là biểu tượng chiến thắng của văn hoá và con người Việt Nam trên xứ lạ quê người. Tuy nhiên nhìn bức tượng Người Mẹ Ôm Con Vượt Biên, sau bao mưa nắng dãi dầu và tuyết phủ, mái tóc của bà vẫn không thay đổi nhưng…mái tóc của thế hệ người Vượt Biển đã nhuốm bạc. Thế hệ thuyền nhân của chúng ta đã đi vào lúc tuổi già bóng xế và sắp sửa qua đi ! Chúng ta phải làm gì đây khi cộng sản, với dã tâm đã và đang nỗ lực bôi xóa lịch sử, vẽ lại thân trạng của người tỵ nạn. Bức tường ghi dấu tích thuyền nhân tại Galang, Indonesia đã bị phá bỏ, văn hóa phẩm độc hại của cộng sản đang tràn ngập hải ngoại. Đã có những nỗ lực bảo tồn lịch sử ở Hoa Kỳ để đời đời con cháu chúng ta mai sau được biết “tại sao chúng ta có mặt ở đây ? ” như tượng đài thuyền nhân ở Los Angeles, tuyển tập Hành Trình Biển Đông (Risking Death to Find Freedom) đồ sộ đã được dịch qua Anh, Pháp và Đức Ngữ. Nhưng chúng ta cần có thêm các Viện Bảo Tàng Thuyền Nhân ở khắp nơi – điển hình như Ottawa. Và dĩ nhiên với dân số tỵ nạn nhỏ bé 7,000 người Ottawa khó chu toàn trách nhiệm nếu không có sự đáp ứng từ Hoa Kỳ, Úc Châu cùng khắp nơi trên thế giới. Chỉ cần một tượng đài, một viện bảo tàng thuyền nhân được dựng lên- bất cứ ở nơi nào trên Thế Giới Tự Do thì cộng sản không thể bôi xóa đi lịch sử. Thế hệ chúng ta dù có qua đi thì chứng tích lịch sử còn đó. Con cháu chúng ta sẽ biết và chúng nó sẽ thay chúng ta dựng đài tưởng niệm thuyền nhân ở cửa biển Vũng Tàu hay cửa Sông Sài Gòn khi chế độ cộng sản xụp đổ. Đó là nghiã vụ cao cả của những người đã một lần đùa rỡn với cuộc tử sinh, lướt càn lên sóng nước để đi tìm Tự Do.

Chính vì thấu cảm được ý nghĩa quan trọng của việc xây dựng Viện Bảo Tàng Thuyền Nhân mà ngày Chủ Nhật 28-1-07 tới đây vào lúc 5 giờ chiều, một số thân hữu ở San Jose sẽ đứng ra tổ chức một bữa Tiệc Gây Quỹ tại Nhà Hàng Grand Fortune Seafood 4100 Monterey Rd. San Jose, CA 95111. Anh Lê Duy Cấn sẽ từ Ottawa tới đây để tường trình truớc quý vị việc thực hiện dự án này. Chỉ với 35 $ một phần ăn, đồng bào San Jose sẽ có dịp cùng với đồng bào Canada đóng góp phần mình trong công tác thật cao đẹp và cũng là dịp để đồng hương San Jose - được mệnh danh là “Thủ Phủ Của Tình Thương” chứng tỏ tấm lòng hào hiệp của mình đối với những vị khách ở phương xa. Muốn biết thêm chi tiết về dự án này quý vị có thể vào website: www.vietfederation@bellnet.ca ./.

Đào Văn Bình

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Tản Mạn về DVD Asia-53
Việt Hải

Chiều thứ ba 9 tháng Giêng, 2007 vừa qua, anh bạn Peter Morita rủ tôi đi xem Asia-53 preview. Mặc dù đã xem trình diễn live trước đây rồi nhưng khi chương trình Asia-53 được đưa vào DVD thì càng tuyệt vời hơn, vì người xem được quan sát tổng thể sân khấu dưới đủ mọi góc cạnh. Trong khi xem live thì nhìn sân khấu từ góc độ nào đó mà thôi. Hơn nữa, người làm công tác cắt xén và ráp nối cũng thật khéo, từ nhiều băng thu hình nguyên thủy họ xem và ráp nối lại thành một tác phẩm hoàn hảo và thật trọn vẹn, phải gọi đây là một kỳ công. Nghe dâu cô Thy Vân là mastermind trong công tác này, người “editor thầm lặng” mà quần chúng không biết nhiều. Hình như nhóm điều hành Asia quen tác phong cặm cụi, âm thầm làm việc chuyên môn mà họ thích, và tránh né sự phô trương.

Asia-53 mang chủ đề “Bốn Mùa - Màu Sắc Của Tình Yêu”.

Từ màn mở đầu với tiết mục cho thấy bốn mùa sặc sở của thiên nhiên, qua âm nhạc chứa chan tình yêu, một sân khấu nguy nga, trang hoàng bao sắc thắm khi Xuân, Hạ, Thu, Đông lần lượt về với chúng ta. Ba yếu tố: Bốn mùa của thiên nhiên, màu sắc và tình yêu chắc chắn có mối liên hệ chặt chẽ trong các phạm vi văn học, nghệ thuật và âm nhạc, để cho đời sống của con người càng thăng hoa, thăng tiến mãi mãi kể từ thuở khai thiên lập địa.

Image

Bài viết này chỉ chú trọng đến một số yếu tố khác ra xa hơn là bài nhận định mà Nhà văn Tạ Xuân Thạc đã viết với cái nhìn thuần túy từ khía cạnh âm nhạc. Lý do là vì sau khi nói chuyện với nhạc sĩ Nam Lộc trong bài phỏng vấn đầu năm, tôi được biết mỗi chủ đề của băng Asia nếu xem kỹ và nhìn từ chiều sâu ta sẽ thấy nó có thể ẩn chứa những vấn đề thời sự nào đó. Ví dụ trong Asia-53, đưa hình ảnh đại úy Michael Đỗ người trẻ gốc Việt tham dự cuộc chiến Iraq, như hình ảnh thế hệ trẻ tiếp nối xứ mệnh dở dang cuả Cha, Anh. Hay vấn đề dân chủ nhân quyền, lương tâm con người, sự yêu chuông tự do như hình ảnh của các Thi sĩ Hoàng Cầm, Hữu Loan trong những bộ DVD trước, hoặc sự lên tiếng cuả Hoà thượng Thích Quảng Độ lần này.

Sự Hâm Nóng Toàn Cầu (Global Warming):

Khi đọc một cuốn sách, xem một cuốn phim, một show TV hay một điã DVD có thể chúng ta biết về cái thế giới xung quanh, về khía cạnh trên địa cầu hay gần hơn một mối lo ngại về sự đổi thay mới, mà điều đó đã gây ra bao tai ương, bao sự tổn thất về vật chất hay nhân mạng. Asia-53 đề cập sự thay đổi mùa màng vì Sự Hâm Nóng Toàn Cầu mối lo ngại tại sao nhân loại đã trải qua những thiên tai Tsunamis, Katrina, bão Xangsane hay bão Durian...

Image

Trong Asia-53 Trịnh Hội soạn đoạn video clip nói về Sự Hâm Nóng Toàn Cầu, Hội dẩn chứng qua sách viết của cựu Phó Tổng thống Hoa Kỳ Al Gore, cuốn "Một Sự Thật Bất Lợi" (An Inconvenient Truth). Theo đó thì sách được quay thành phim như lời cảnh giác nhân loại những sự thật bất lợi sẽ xảy ra cho thế giới nói chung. Phim cho thấy sự di chuyển của một lằn đỏ trên biểu đồ gây nhiều lo âu cho mọi người. Khi biểu đồ dự báo về mức gia tăng nhiệt độ trong bầu khí quyển trong những năm tới. Trên biểu đồ dự báo lằn đỏ càng đi lên thì tương lai của Trái Đất càng đi xuống. Khi biểu đồ trên màn ảnh mờ đi, đập vào mắt khán giả là cảnh băng hà tan thành một dòng nước cuồn cuộn với xác một con gấu trắng bồng bềnh trôi, rồi tiếp theo là cảnh những trận cuồng phong, lũ lụt, hạn hán và cái nắng thiêu đốt. Thưa bạn, đó chẳng phải là những hình ảnh trong một cơn ác mộng mà là hiện thực do khí hậu trái đất đang ấm dần lên như lời cảnh giác của ông Al Gore trong bộ phim "Một Sự Thật Bất Lợi". Ông cảnh báo rằng nhân loại chỉ có 10 năm để chặn đứng thảm trạng môi sinh này, nếu không thực hiện được những điều cần thiết thì Trái Đất này sẽ suy thoái tệ hại quá mức mà có thể phục hồi như xưa.

Cựu Phó Tổng thống Hoa Kỳ Al Gore vốn là nhà chính trị nổi tiếng tích cực cổ võ cho vấn đề bảo vệ môi trường (environmentalist), trong suốt 20 năm qua, trong nhiều nổ lực cảnh giác mọi người, ông Gore đã liên tục gửi đi những thông điệp báo động về hậu quả tiêu cực của tình trạng thay đổi thời tiết, mà dường như chẳng ai thèm nghe cả.

Image

Có những lúc quá chán nản ông tự cho là mình đã thất bại khi thuyết phục người khác, nhưng gần đây thông điệp "Một Sự Thật Bất Lợi" đã được công chúng đón nhận như một hồi chuông cảnh tỉnh. Theo đó thì nhiệt độ trung bình của bầu khí quyển gần mặt đất đã tăng trong khoảng 0,4 đến 0,8 độ C trong thế kỷ 20. Phần lớn giới khoa học gia chuyên nghiên cứu về lãnh vực này cho rằng phần lớn mức gia tăng được ghi nhận trong 50 năm qua là do những hoạt động của con người thải ra thán khí CO2 qua nhiều ngõ ngách như các nhà máy, xe cộ, cháy rừng v..v... Khi CO2 bay lên không gian dần dần bào mòn lớp ozone trên thượng tầng khí quyển, tức tấm lá chắn ngăn chận sức nóng của mặt trời. Một khi sức hâm nóng địa cầu càng gia tăng, nó sẽ làm thay đổi thời tiết trở nên bất thường, khí hậu bị xáo trộn tạo ra bao thiên tai từ hạn hán, động đất, bão lụt,...
(hình Tsunamis 2004)
Về đề tài "Sự Hâm Nóng Toàn Cầu", tôi tham khảo bài viết của Tiến sĩ Mai Thanh Truyết, các cuộc nghiên cứu do hai khoa học gia Karl và Trenberth trên tạp chí Sciences số tháng 12/2003 nói lên tính cách cấp thiết của vấn đề này. Theo ước tính của hai ông thì từ 1990 đến 2100, nhiệt độ trên mặt địa cầu sẽ tăng từ 3,1 đến 8,9oF (1,6 đến 4,2oC). Và sự tăng nhiệt độ nầy sẽ làm nóng chảy hai tảng băng ở Greenland và Antartica và có thể làm ngập lụt các bờ biển. Điều sau nầy sẽ làm thu hẹp diện tích sống của con người trên quả địa cầu. Để rồi từ đó sinh sản ra nhiều hệ lụy đang dồn dập xảy ra như sau:

• Trái đất sẽ chịu đựng những luồng khí nóng bất thường;

• Hạn hán sẽ thường xuyên hơn và xảy ra ở nhiều nơi;

• Mưa to, bão tố xảy ra bất thường cũng như không thể tiên liệu trước như hiện nay;

• Hệ thực vật, sinh vật bị thay đổi; và sau cùng mực nước biển sẽ dâng cao ở nhiều nơi ước tính khoảng 75cm vào năm 2100.
(hình bão Katrina 2005)
Cảnh báo khẩn cấp: Vào cuối tháng 2, 2004, Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ có cho công bố một báo cáo khoa học quan trọng liên quan đến an ninh quốc phòng về việc thay đổi thới tiết đột ngột do hai khoa học gia về tương lai học (futurist) nghiên cứu. Báo cáo cảnh báo rằng, nhiệt độ sẽ giảm 5oF ở Á Châu, Bắc Mỹ, và Bắc Âu Châu; và sẽ tăng 40F ở Úc, Nam Phi, và Nam Mỹ kéo theo hạn hán, giông tố vào mùa đông, và gió mạnh ở những vùng kể trên. Báo cáo còn ghi nhận thêm sự thay đổi nhiệt độ sẽ có một tiến trình nhanh chóng chứ không thay đổi tiệm tiến như dự liệu. Có thể xảy ra trong vài thập niên tới đây. Các cuộc nghiên cứu ở lòng biển sâu có chỉ dấu cho thấy dòng chảy của luồng nước ấm chảy chậm lại. Và điều nầy có thể làm cho thời tiết không còn thay đổi theo như sự vận chuyển định kỳ và được tiên liệu như trước đây.

Image

Những sự kiện kể trên có thể xảy ra ở những vùng khác nhau, tuy nhiên việc ảnh hưởng lên toàn cầu sẽ làm xáo trộn tình hình an ninh xã hội của thế giới. Vì vậy, các quốc gia giàu cần phải chuẩn bị để tránh tình trạng bi thảm có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Hoa Kỳ với kỹ thuật tiên tiến có thể chịu đựng và chế ngự được những thay đổi trên do nước nầy có một hệ thống nông nghiệp đa dạng thích ứng với nhiều điều kiện thời tiết khác nhau. Điều nầy không thể có được đối với các quốc gia khác ở Á và Âu châu. Tình trạng thiếu lượng thực, nước uống và năng lượng có thể xảy ra và từ đó sẽ phát sinh ra một hiện tượng di cư vĩ đại đến từ Á Châu và các quốc gia Trung và Nam Mỹ.

Sau cùng, báo cáo tiên đoán rằng Âu Châu sẽ phải chiến đấu gay go với tình trạng kể trên. Á Châu đối mặt với những khủng hoảng lương thực và nước sinh hoạt. Tất cả sẽ làm xáo trộn xã hội hoàn toàn và tạo ra thêm nhiều tranh chấp liên quốc gia không thể tiên liệu được. Theo nhận định của GS Phil Jones, Đại học East Anglia, Anh Quốc, năm 2007 sẽ là năm khí hậu toàn cầu nóng kỷ lục so với năm nóng 1998. Mức nóng có thể vượt qua cơn nóng năm 2006 tại Hoa Kỳ. TS Jim Hansen, Hoa Kỳ cũng tiên đoán sự hâm nóng toàn cầu sẽ dẫn đến những thay đổi không lường trước trên trái đất trong những năm sắp đến. Hạn hán và lũ lụt sẽ xảy ra thường xuyên hơn nữa, các tảng băng ở Bắc Cực và Nam Cực bị tách rời và tan dần trong bioển cả làm cho mực nước biển sẽ tăng nhanh hơn...

Sự cảnh tỉnh quốc tế tạo ra Nghị Định Thư Kyoto năm 1997 nhóm họp gần 166 nước thành viên trên thế giới, rồi mới đây Ủy ban Khí hậu của Liên Hiệp Quốc muốn mỗi năm các nước hội viên hãy cắt giảm mức độ sa thải chất thán khí CO2 và các chất khí đốt khác trên thế giới tính đến năm 2050. Mới gần đây Tổ chức Nghiệp Đoàn Lao Động Quốc Tế (ITUC) vừa biểu quyết đòi hỏi cần cắt giảm 25% các chất thải làm ô nhiểm môi trường, làm thay đổi khí hậu, và chỉ tiêu 75% trên toàn thế giới đến năm 2050. Trên thực tế vì quyền lợi kinh tế và tham vọng chính trị giữa các nước vẫn là một trở ngại cho việc hợp tác bảo vệ môi trường nghiêm chỉnh. Khi thế giới cố tình lơ là với "Một Sự Thật Bất Lợi" thì những bất lợi được trả bằng giá của Tsunamis, Katrina, bão số 6 Xangsane hay bão số 9 Durian,... mà Asia-53 đề cập về Sự Hâm Nóng Toàn Cầu.

Vinh danh Hòa thượng Thích Quảng Độ:

Người Việt chúng ta không mấy ai quên được việc làm từ bi, bác ái của Hòa thượng Thích Quảng Độ khi ngài bị CSVN bắt bớ dịp ra miền Trung cứu trợ và ủy lạo đồng bào nạn nhân bão lụt năm xưa. MC Nam Lộc giới thiệu về nhà tranh đấu cho tự do và nhân quyền, khi ngài đề cập về hai mối đe dọa người dân Việt Nam là thiên tai và nhân tai, hay nguy cơ phá sản dân tộc do nhà cầm quyền CSVN gây ra.
Hòa thượng Quảng Ðộ, là nhà thơ, dịch giả, từng là giảng sư tại Ðại Học Vạn Hạnh trước tháng 4/1975. Ngài bị bắt lần đầu tiên vào năm 1977, biệt giam đến tháng 12/1978 và bị đưa ra tòa vế tội "phá hoại đoàn kết dân tộc và lợi dụng tôn giáo để phá rối trật tự công cộng". Tháng 2/1982, Ngài bị bắt và đưa về quản thúc tại nơi sinh quán ở Vũ Ðoài, tỉnh Thái Bình. Ngài được trả tự do vào năm 1992, rồi bị bắt lại vào tháng 11/1994 khi Ngài tổ chức cuộc ủy lạo đồng bào nạn nhân lũ lụt. Ngài rời khỏi nhà tù năm 1998, rồi bị quản thúc trong lâu dài tại Thanh Minh Thiền Viện, tỉnh Bình Định. Sự tranh đấu bất khuất của ngài được quốc tế theo dõi và ghi nhận.ngày 24/07/2002 tại New York, trong số 37 người thuộc 19 quốc gia được tổ chức Human Rights Watch trao Giải Nhân Quyền Hellman/Hammett có 5 người Việt Nam đã được chọn. Trong đó có Hòa thượng Thích Quảng Ðộ. Giải này có từ năm 1989, được thực hiện với di sản của hai nhà văn quá cố Hoa Kỳ là Lillian Hellman và Dashiell Hammett nhằm hỗ trợ cho những nhà văn trên thế giới đang bị áp bức chính trị vì đã can đảm trình bày quan điểm của mình. Trị giá của giải thưởng này lên đến 175 ngàn Mỹ kim.
Image
Đề cử Giải Nobel Hòa Bình năm 2007:


Từ văn phòng bà Mairead Corrigan Maguire, đọat Giải Nobel Hòa bình 1976, người Ái Nhĩ Lan, hôm 01-01-2007 đã công bố bản Thông Cáo Báo Chí, dưới tiêu đề "Đề nghị tăng sĩ Việt Nam, Hòa thượng Thích Quảng Độ lãnh Giải Nobel Hòa Bình năm 2007", cho biết Hòa thượng Thích Quảng Độ đã được bà Maguire đề cử lãnh Giải Nobel Hòa Bình năm 2007. Hòa thượng là Viện trưởng Viện Hóa Đạo, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất hiện bị nhà cầm quyền CSVN ngăn cấm hoạt động.
Trong bức thư gửi đến Ủy ban Nobel Hòa bình ở Oslo , bà viết: "Hòa thượng Thích Quảng Độ đã đem hết cuộc đời ngài phục vụ cuộc đấu tranh bất bạo động cho dân chủ, tự do tôn giáo và nhân quyền tại Việt Nam . Ở Việt Nam , 80% dân chúng trong dân số 83 triệu người theo Phật giáo, nhưng hiện nay Giáo hội PGVNTN bị đặt ngoài vòng pháp luật, hàng giáo phẩm bị đàn áp, sách nhiễu, giam cầm. Năm 1982, nhà cầm quyền Cộng sản đặt Giáo hội này ra ngoài vòng pháp luật, một hệ thống to rộng trên các lãnh vực giáo dục học đường, đại học, bệnh xá, nhiều trung tâm văn hóa và từ thiện của Giáo hội bị nhà cầm quyền tịch thu; hàng giáo phẩm bị bắt, giới cư sĩ bị sách nhiễu. Hòa thượng Viện trưởng Thích Quảng Độ, 77 tuổi, bị cấm cố gần 30 năm chỉ vì Hòa thượng ôn hòa bênh vực cho tự do tôn giáo, dân chủ và nhân quyền. Ngày nay, Hòa thượng là tù nhân ngay trong ngôi chùa của mình, bị giam cầm không lý do hay xét xử. Ngày mà Hòa thượng bị lưu đày về nơi sinh trưởng ở tỉnh Thái Bình, miền Bắc, bọn công an Việt Nam chỉ nại cớ rằng "làm tôn giáo là làm chính trị".
Tôi tin rằng Hòa thượng Thích Quảng Độ là người xứng đáng lãnh Giải Nobel Hòa bình và là ứng viên đáng kính vì suốt cuộc đời hoạt động ngài tận tụy cho mục tiêu tự do và hòa bình. Mặt khác, tôi tin rằng vấn đề tự do tôn giáo là vấn đề sinh tử, mà ở lãnh vực này, Hòa thượng là người đóng vai trò duy nhất. Phật giáo đứng ở tuyến đầu trong cuộc đấu tranh cho hòa bình, cho các quyền của nhân dân Việt Nam, đồng thời đặt nền móng cho phong trào dân chủ hóa Á châu, như đã minh chứng qua các hoạt động của Đức Dalai Lama và Bà Daw Aung San Suu Kyi..."

Giải thưởng Rafto năm 2007:

Ông Arne Lynngard, Chủ tịch Sáng hội Rafto giải thích ý nghĩa tại sao lại trao giải thưởng cao quý này cho Việt Nam là: "Bằng cách tôn vinh Giải Rafto lần thứ 20 cho Hòa thượng Thích Quảng Độ, chúng tôi đánh giá cao những khó khăn thật to tát mà các nhà hoạt động dân chủ Việt Nam đang đối diện, với quyết tâm đấu tranh ôn hòa nhằm thay thế chế độ độc đảng Cộng sản bằng một thể chế dân chủ, một nhà cầm quyền đa đảng xây dựng trên pháp quyền và tuân thủ các tiêu chuẩn về quốc tế nhân quyền."

Ông Lynngard kết luận rằng: "Ngày hôm nay đây tại thành phố Bergen, nhân dân Na Uy cùng với chư liệt vị quan khách nắm lấy tay những bằng hữu Việt Nam để cùng chia sẻ toàn thể viễn kiến dân chủ của Hòa thượng Thích Quảng Độ".

Thật vậy, với sự tranh đấu cho tự do và nhân quyền, Hoà thượng Thích Quảng Độ qủa thật là ánh sáng hy vọng của người dân Việt trong và ngoài nước. Cuộc đời của ngài là một biểu tượng rõ ràng nhất của sự tranh đấu không ngừng qua bao thời gian và là niềm khát vọng của dân tộc. Chúng ta có thể nhìn vào những thử thách mà Hòa thượng Thích Quảng Độ khi ngài dã dỏng dạc nói thẳng với nhà quyền CSVN những sai lầm mà họ gây ra trên quê hương Việt Nam .

Năm nay nhân dân Na Uy kỷ niệm một trăm năm ngày mất của kịch tác gia lừng danh Henrik Ibsen, ông đã từng viết rằng: "Dễ biết bao cho ta ẩn náu trong lâu đài trên mây. Và cũng dễ biết bao để xây dựng những lâu đài như thế!". Và rồi ngày 4 tháng 11 năm 2006 tại thành phố Bergen này, người dân Na Uy đã trân trọng đưa lâu đài trên chín từng mây kia xuống xây trên mặt đất. Ông Lynngard nói tiếp về Hòa thượng Thích Quảng Độ khi trích dẫn mấy câu thơ tặng Henrik Ibsen khi sáng ra hội Rafto:

Hòa bình là một nụ hoa,
nở giữa tình yêu và tiếng hát
Ôi cho tôi xin thêm muôn nghìn Đôi Mắt
để tôi khóc lớn Niềm Vui,
và nhìn quanh
mong manh bông hoa nhỏ
chưa một lần ngưng nở đã thiên thu.

DVD Asia-53 nêu lên sự kiện này vì đây là niềm hãnh diện cho mọi người dân Việt khi chúng ta đã có một nhà tranh đấu cho tự do, dân chủ và nhân quyền bất bạo động. Nếu nước Ấn có Mohamed Gandhi, nước Mỹ có Martin Luther King, thì Việt Nam có Hòa thượng Thích Quảng Ðộ được dư luận thế giới biết đến.

Cờ VNCH trên xứ Iraq:

Image

Băng video Asia thường đem những tấm gương sáng, những thành tích làm rạng danh cộng đồng của tuổi trẻ Việt Nam tại hải ngoại vào các sản phẩm của họ, ví dụ như Nữ Khoa học gia Dương Nguyệt Ánh, Giáo sư Đinh Việt,... Kỳ này tôi mục kích một người trẻ khác trong giới quân nhân Hoa Kỳ. Tuổi trẻ Việt Nam tại đây được xã hội này cưu mang, ngược lại họ đã ý thức được bổn phận và trách nhiệm của một thành viên trong xã hội, rất nhiều thanh niên nam, cũng như nữ đã tình nguyện gia nhập quân đội Mỹ, thậm chí đã có những người trai trẻ này đã anh dũng ra đi vì nghĩa vụ. Thật vậy, tuổi trẻ Việt Nam đáng ca ngợi. Trước mặt tôi là hình ảnh người trai trong quân phục camouflage của Thủy Quân Lục Chiến Mỹ.

Image

Được biết anh là Đại úy Michael Đỗ, nguyên là một thuyền nhân, theo gia đình đến định cư tại Hoa Kỳ năm 1980 khi vừa 4 tuổi. Và là con trai duy nhất của một cựu Đại úy QLVNCH đã từng trải qua bao tháng năm trong trại tù “học tập cải tạo”, vì thế sau khi học xong bậc trung học, Michael Đỗ đã quyết định tiếp tục xứ mạng dở dang của thân phụ mình để gia nhập quân đội Hoa Kỳ. Anh đã tốt nghiệp trường đại học quân sự nổi tiếng West Point, và đồng thời anh còn theo đuổi việc học để trở thành một kỹ sư ngành chế tạo hỏa tiễn hay thiết kế phi đạn (missile design). Ngoài ra, anh còn có bằng Tiến sĩ ngành Quản trị Hành chánh.

Image

Vào năm 2005, Đại úy Michael Đỗ nhận lệnh đi chiến đấu tại Iraq, và đồn trú tại một thành phố đầy biến động là Fallujah. Với tư cách là một kỹ sư trong quân đội, anh được biệt phái làm việc trong Bộ Tham Mưu của Thiếu tướng Stephen Johnson. Anh tham gia trong những kế hoạch bình định xứ sở nhiểu nhương Iraq . Anh cũng có dịp đón tiếp một người cựu chiến binh tại Việt Nam là cựu Trung tá Oliver North, khi hai người trao đổi kinh nghiệm về Iraq và Việt Nam . Điều quý hóa của người trẻ gốc Việt này, anh mang canh cánh trong lòng về nguồn cội Việt Nam và nhớ về quê Cha đất Tổ, nơi mà máu xương của các chiến binh QLVNCH đã anh dũng hy sinh để bảo vệ giang sơn bờ cõi, nên để ghi nhớ công ơn của thế hệ đi trước anh luôn luôn dựng ngọn cờ vàng ba sọc đỏ tại Bộ Chỉ Huy hành quân của đơn vị mình. Quả thật đáng khen cho một tấm lòng son sắt với cội nguồn Việt Nam.

Tôi thiết nghĩ dù Asia làm sản phẩm thương mại, nhưng những hãnh diện về Việt Nam nên được tiếp tục nêu lên đường hướng như vậy để khắp năm Châu cùng biết. Những vấn đề chung từ văn học có những nhà văn, nhà thơ tranh đấu cho ý nghĩa chung, những mối ưu tư chung trong cuộc sống như Tsunamis, Katrina, Xangsane hay Durian, hãy nhìn về quá khứ khổ đau, nhìn rõ thân phận con người Việt Nam khi vượt biên, dù xót xa vì thiên tài bị chôn vùi như Văn Cao, Hữu Loan, Hoàng Cầm hay vinh hiển lãnh giải Rafto với Hòa thượng Quảng Độ, để rồi ngày nay đây hãy nhìn về tương lai có những gương sáng của tuổi trẻ Việt Nam, những hãnh diện của Việt Nam ngày mai. Bài viết này xoay quanh cái nhìn cá nhân khi nhận xét về những nét đặc trưng của video giải trí Asia, kèm theo những khía cạnh sâu xa nào đó với những nhận định riêng tư trong ý nghĩ của tôi.

Một bông hồng cho Trung Tâm Asia vậy.

Việt Hải

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Một Góc Huế Xưa
Đã ba mươi năm đất nước của chúng ta bị nhuộm đỏ và đối với dân chúng Việt Nam bên này vĩ tuyến, dù đang ở trong nước hay đã di tản ra ngoại quốc, chúng ta cũng xem như đã ba mươi năm đánh mất Quê Hương, đang lưu vong ở xa hay bị lưu đày ngay trên chính quê cha đất tổ.

Ba mươi năm bao nhiêu đổi thay, ngày nào tóc còn xanh giờ đã ngả màu sương khói... Mùa Xuân, kỷ niệm chợt kéo về khuấy động tâm tư...

Xứ Huế của tôi, như mọi người thường nhận xét, ở gần thì thương, ở xa thì nhớ. Huế tuy nhỏ nhưng có những vùng riêng biệt: hai bên cầu Trường Tiền là hai miệt khác nhau. Một bên cầu có chợ Đông Ba, có Thượng Tứ, có Gia Hội, bên kia cầu là cầu Bạch Hổ, là Phủ Cam, là Đài Phát Thanh, là Đập Đá. Bên kia Đập Đá là Vĩ Dạ, Thuận An, bên ni Đập đá là Chợ Cống, Phú Xuân...

Ngày xưa tôi ở bên ni cầu, bên ni Đập Đá, khu có hai trường trung học nổi tiếng miền Trung là Trường Đồng Khánh và Trường Quốc Học, tôi ở bên ni Đập Đá quẹo phải đi về Chợ Cống. Không hiểu sao lại có cái tên Chợ Cống quê mùa như rứa mặc dù Chợ Cống đã đào tạo ra thật nhiều nhân tài, xấu tốt tùy người nhưng ít nhất cũng có danh tiếng.

Tướng Tôn Thất Đính, nhạc sĩ Lê Mộng Nguyên đều lớn lên và qua tuổi thanh niên ở Chợ Cống, đạo diễn Lê Mộng Hoàng cũng lớn lên từ Chợ Cống và hiện vẫn còn ở lại quê hương. Các danh ca Ngọc Cẩm, Nguyễn Hữu Thiết cũng trú ngụ ở Chợ Cống khi hai người mới bắt đầu sự nghiệp cầm ca ở Đài Phát Thanh Huế. Đầu năm tôi kể hầu bạn đọc sinh hoạt Chợ Cống của tôi, biết đâu không mang lại cho quý bạn một vài phút giây mơ mộng của một góc nhỏ xứ Huế giờ tuy còn đây nhưng đã thật xa trong quá khứ.

Tôi lớn lên trong căn nhà của ông nội tôi nằm ven bờ sông Hương nhìn ra Đập Đá, trên con đường Chợ Cống giờ được đổi tên là Nguyễn công Trứ -con đường Chợ Cống chạy dài xuống tận Phú Xuân. Đời sống ở cái góc nhỏ xứ Huế này thật khép kín, thật êm đềm nhưng bên trong là cả một trời kỷ niệm tuy đầy sóng gió. Người Huế khép cửa trong nhà nói chuyện hàng xóm. Tuy thầm thì với nhau nhưng... không thiếu chi tiết dù có dặm thêm mắm muối cho câu chuyện đậm đà, gay cấn hơn. Ông nội tôi có bảy người con, hai trai đi kháng chiến trong đó có cha tôi và năm cô con gái. Ngày cha tôi đi tôi chỉ mới ra đời có mấy tháng, các cô săn sóc tôi... và bao nhiêu chuyện xứ Huế, nhất là ở góc Chợ Cống này các cô đều thầm thì bàn tán, tôi biết chuyện to chuyện nhỏ của góc Chợ Cống từ khi tôi chưa biết nói.

Mà Chợ Cống, Đập Đá của tôi thì thật nhiều chuyện. Người đẹp Chợ Cống thì có nữ ca sĩ Hương Thủy con giáo sư Tôn Thất Lương dạy Hán Văn trường nữ Trung Học Đồng khánh, có Tôn nữ Minh Đức của mối tình đầu thơ ngây với Nhạc sĩ Lê Mộng Nguyên trước khi chàng du học qua Pháp. Xa nhau tình cũng xa luôn, chàng ngưng liên lạc, nàng ở Quê Hương lên xe hoa với chàng sĩ quan trẻ sau này là Trung tướng Lữ Lan... Chuyện một chàng trai khác đi Pháp bỏ lại vị hôn thê là chị của nữ ca sĩ Hương Thủy nhưng cũng có đoạn kết màu hồng. Chàng đi du học, nghe tin chàng mê phồn hoa lấy vợ đầm, cô hôn thê con ông giáo sư nghèo ở đầu Đập Đá xin bạn bè chung góp lấy tiền đi tàu thủy qua Pháp đòi chồng. Nàng qua đến kinh đô ánh sáng thì chàng đã có vợ tóc vàng nhưng con gái Việt ngày đó không có nhiều nên một chàng bác sĩ Việt cưới nàng làm vợ. Họ sống bên nhau hạnh phúc đến ngày hôm nay... Lại còn thêm mối tình của cô tiểu thư trưởng nữ của tiệm vải Thuận Long lớn nhất cố đô Huế với chàng sĩ quan trẻ Tôn Thất Đính. Ngày mới trung úy chàng đi hỏi nàng làm vợ, nàng từ chối để cho chàng có động lực tiến thân, chỉ sau đó vài năm chàng được Tổng thống Ngô đình Diệm cho lên đến Trung tá và được nàng nhận lời làm vợ, cả xứ Huế ồn ào vì cái đám cưới của đôi trai hùng gái sắc vừa có quyền vừa có tiền nhất cố đô. Ngày đó, Trung tá to lắm, xứ Huế nhỏ xíu nên cô tôi kể chàng được đề cử đi làm tư lệnh một đơn vị quân đội ở Đà nẳng và hai vợ chồng được cả xứ Huế tiễn đưa đi làm quan xa.

Ôi cái xóm Đập Đá, chợ Cống của Huế xưa đã cho tuổi thơ của tôi thật nhiều niềm nhớ. Bên ni Đập Đá thì chuyện này, bên kia Đập Đá là Vĩ Dạ lại có chuyện khác... Tôi lớn lên với những chuyện tình của các cô gái đẹp Vĩ Dạ, chị em cô Dạ Khê nước da ngăm ngăm, dáng dấp mảnh mai đã làm cho nhiều chàng phải thức đêm nắn nót thư tình, chị em các cô Trà Mi, Diệm Mi ở Hàng Me một thời là Hoa khôi xứ Huế, bao nhiêu giấy mực đã được xử dụng để ca tụng nhan sắc của những nàng Mi.
Sao anh không về chơi thôn Vĩ
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền
Hàn Mặc Tử khen con gái gốc Vĩ Dạ có khuôn mặt chử điền, riêng tôi lớn lên không học chữ nho nên không biết "chữ điền" có phải là "vuông" hay không mà thấy các chị em cô Dạ Khê khuôn mặt vuông thật với nước da ngăm ngăm, đôi mắt lá dăm và thân hình mềm như cành trúc. Hình như các nàng thôn Vĩ này đã qua định cư ở quận Cam, chị em các cô Mi trắng như trứng gà bóc thì đang ở Pháp. Những người đẹp này bây giờ đã có tuổi, không biết họ có bao giờ thương nhớ cái góc Huế nhỏ xưa của một thời con gái đẹp như thơ ?

Xứ Huế ở miền Trung nghèo đất cầy lên sỏi đá thật nhưng sao đời sống mặn nồng êm ả, một đời sống mà ta không thể nào tìm thấy ở những đất nước văn minh sang giàu, ngay cả những năm tôi ở Saigon cũ cũng không thể nào tìm thấy được. Ngày tôi còn nhỏ, thật nhỏ, tối nào có trăng, mẹ tôi thường cho tôi đi theo bà ra Đập Đá đón những gánh cá tươi do mấy bà gánh từ Thuận An lên Huế bán, những con cá ngừ tươi rói đem về kho với dứa và ớt ăn với bún sao mà ngon tuyệt vời. Còn cái mưa ở Huế thì Nguyễn Bính cũng phải thua:
Giời mưa ở Huế sao buồn thế
Cứ kéo dài ra đến mấy ngày
Thềm cũ nôn nao đàn kiến đói
Giời mờ ngao ngán một loài mây

Trường Tiền vắng ngắt người qua lại
Đập Đá mênh mang bến nước đầy

(Giời mưa ở Huế)
Mưa chừng ba ngày nước sông Hương dâng cao, tràn qua Đập Đá, chúng tôi lại được lội nước, nước tràn vô nhà, bàn ghế chất chồng lên, cả gia đình sống trên cao, chợ búa ngưng họp, chúng tôi lại được ăn cơm nóng với thịt, cá hộp... giờ thấy đồ hộp mà ngao ngán nhưng những ngày lụt lội bé bỏng xưa kia, cá hộp Maroc xào mặn với tiêu hành nước mắm sao mà ngon thế. Vài ngày sau nước hạ cô tôi lại đón ghe thuyền đi câu trên sông Hương chạy ngang qua nhà để mua những rổ cá mờm vừa tươi vừa ngọt đem nấu canh với me đất mọc sau vườn. Canh cá mờm tươi, tôm tươi rim với thịt ba chỉ ăn với cơm nóng, chẳng có món ngon nào trên thế giới này bì được... Tuổi thơ ơi, sao mà nhớ quá !

Ngày ba tôi đi kháng chiến, mẹ tôi là cô giáo còn trẻ đẹp. Các cô tôi kể cho tôi nghe ngày đó học sinh trường Quốc Học Huế rất thương ba mẹ tôi. Ba tôi đi, mẹ tôi ở nhà với ba đứa con còn nhỏ. Trong những dịp liên hoan của trường Quốc Học, những nam học sinh thường lên hát tặng mẹ tôi bài "Đợi anh về" của Phạm Duy để an ủi mẹ tôi. Khi tôi biết đọc, tôi thấy trong nhật ký của chị tôi có bài hát đó, bài hát rộn ràng tình yêu Quê Hương của một xứ Huế bừng bừng khí thế kháng chiến chống thực dân.
Đợi anh về
Em ơi đợi anh về
Đợi anh về em nhé
Mưa có rơi dầm dề
Ngày có buồn lê thê
Thì em ơi, em cứ đợi
Đợi anh anh lại về
trong tiếng cười ngạo nghễ,
Anh của em lại về...
Thanh niên Huế ngày đó mơ một ngày Quê Hương giải phóng, họ an ủi người cô phụ có chồng đi xa để rồi ngày Huế-Saigon-Hànội thông thương thì người rủ nhau ra biển vượt biên, người khăn gói giã từ vợ con đi tù không hẹn ngày trở lại.

Chỉ vài năm sau, vấn đề áo cơm cũng làm cho Mẹ tôi quên ba tôi và đem chúng tôi rời khỏi Huế vào Saigon...

1975 ba tôi trở về không làm sao cười nổi vì gia đình đã tan nát, con thì đứa đi xa, đứa vào trại cải tạo và bỏ xác ngoài Vĩnh Phú xa xôi. Tiếng cười ngạo nghễ chẳng bao giờ vang lên trong căn nhà trống vắng với bàn thờ ông bà nội khói hương nhạt nhòa. Các cô tôi viết thư qua Mỹ kể rằng suốt ngày chỉ nghe cha tôi thở dài như xót xa như hối tiếc... Tôi lại lạc đề mất rồi, tôi đang kể chuyện Đập Đá, Chợ Cống một góc Huế xa xưa cho các bạn nghe trong những ngày đầu Xuân cơ mà!

Cái góc Huế ngày xưa đó đã để lại cho tôi bao nhiêu kỷ niệm êm đềm, đã an ủi tôi thật nhiều trong những ngày xa xứ.

Đập Đá cũng là nơi chôn nhau cắt rốn của Bà Thân thị Nhân Đức vợ Giáo sư Hoàng Ngọc Thành... Đập Đá của tôi đáng nhớ thật phải không các bạn ?

Ngày tôi học đệ tứ gia đình tôi đổi về Đànẵng, tôi học một năm ở trường Lycée. Vào dịp nghỉ hè tôi đi xe lửa về Huế thăm gia đình ông nội. Tôi đã sống những ngày hè thật vui bên ông và các cô trong căn nhà cạnh bờ sông, các bạn ngày nhỏ của tôi vẫn yên lành sống ở Chợ Cống và đi học trường Đồng Khánh, chỉ có tôi theo gia đình vô Saigon, lên Dalat ở nội trú rồi về Đà nẵng một năm. Về lại Huế tôi thấy mình như nhỏ bé lại trong tình thương của tất cả những người trong xóm Chợ Cống đã biết tôi từ khi mới ra đời cho đến ngày Mẹ tôi đem chị em tôi vô Nam. Cô bạn Giao Cầm ở đầu Đập Đá mỗi lần gặp lại tôi đều trêu chọc. Cô hay hỏi tôi ''Bộ ông nội mi đi làm công chức hay răng mà sáng mô cũng đúng tám giờ là thấy ông vác dù đi ngang nhà, chiều năm giờ vác dù về rứa? Hỏi ra mới biết ông nội tôi ngày ngày đi bộ từ Đập Đá lên chùa Tường Vân ở chân núi Ngự Bình để thăm bà cố. Ngày mô ông cũng đi về thật đúng giờ. Ngày nhỏ tôi nghĩ là núi Ngự Bình xa lắm, không biết ông tôi đi bộ bao lâu mới đến Chùa. Tôi muốn nhìn lại nhà ga Huế vì thăm ông xong khi tôi rời Huế vô lại Đànẵng, tàu rời ga lúc 12 giờ trưa, buổi sáng sớm ông tôi đã xách dù đi bộ lên nhà ga, ông cho tôi tiền đi cyclo nên mười một giờ trưa tôi mới đi. Ông tôi là vậy đó, nuôi con khôn lớn, hai con trai đi kháng chiến lại chăm lo cho các cháu nội ngoại. Vậy mà khi ông tôi mất tôi đã không được có mặt cạnh ông, ba tôi đi kháng chiến về ông cũng không hết buồn vì anh tôi đi cải tạo và tôi thì xa mịt mù. Chuyến này về thăm Huế tôi muốn nhìn lại nhà ga để nhớ lại bao sự hy sinh và thương mến của ông nội tôi đã dành cho tôi từ ngày tôi còn thơ ấu.

Sau ba mươi năm nhà ga Huế đổi khác rất nhiều, rộng rãi và tiện nghi hơn xưa. Tôi gọi cyclo ngã giá về Chợ Cống, người phu xe đòi tám ngàn, chỉ có năm mươi xu Mỹ. Xe đi ngang hai trường Quốc Học, Đồng Khánh rồi Đài Phát Thanh, ngang qua cầu Trường Tiền rồi đến Tòa Khâm mới về Đập Đá và quẹo vào Chợ Cống. Con đường ngày xưa giờ vẫn êm mát, đã tháng chín nên những hàng cây phượng vĩ không còn hoa đỏ và cũng vắng tiếng ve sầu. Đập Đá của tôi cũng thay đổi nhiều, nhà những người bạn nhỏ ngày xưa đã được thay thế bằng những mini hotels và quán giải khát. Những căn nhà kiểu biệt thự nằm trong hẻm đường Chợ Cống chạy dọc theo bờ sông Hương giờ đã biến thành quán Càphê đèn mờ. Chỉ môt cái hẻm nhỏ mà có đến ba quán Càphê, ghế bàn đặt dọc theo bờ sông, buổi chiều vào giờ tan học các học sinh từng cặp đưa nhau đến ngồi tâm tình cho đến khuya. Nam nữ học sinh Huế bây giờ dạn dĩ không thua chi học sinh Mỹ, Pháp, nói chi đến học sinh, sinh viên Saigon ngày xưa. Họ tỏ tình nhau cụ thể chứ không qua lá thư e ấp của "Ngày xưa Hoàng thị" nữa. Huế của tôi giờ cũng như Saigon, Tân Định, cũng quán cóc, cũng hột vịt lộn bày bán khắp nơi, cũng ăn nhậu, các cô gái cũng mặt đồ bộ ra đường như con gái trong Nam.

Một tuần ở Huế với cô tôi, tôi được đưa đi thăm mộ ông bà nội và cha tôi ở chân núi Ngự Bình... Nó không xa như tôi tưởng, từ Chợ Cống đi taxi chừng hai mươi phút đã đến... Mộ ba tôi nằm cạnh mộ ông bà nội, cạnh đó có ngôi mộ của anh tôi được cô tôi ra trại cải tạo Vĩnh Phú hốt cốt về chôn. Ông Bà nội, ba tôi, anh tôi... ba thế hệ một cuộc chiến tương tàn. Ngày trở về sao mà buồn quá!

Từ Chợ Cống tôi cũng kêu cyclo qua chợ Đông Ba, ông phu xe đòi ba ngàn, chưa đầy hai mươi xu Mỹ, tôi lau chau trả giá hai ngàn xong vội vàng nói "Ông ơi, tui quen miệng chứ mấy (bao nhiêu) cũng được". Tôi nặng có hơn bốn mươi kílô vậy mà lên dốc cầu trường tiền ông phu xe phải xuống đẩy chứ không đạp nổi. Lòng tôi chợt xót xa cho dân Việt thật nhiều. Hai mươi xu, bên Mỹ chẳng mua được gì...

Bảy ngày trôi qua thật mau. Rồi tôi cũng phải rời xóm Chợ Cống, rời xứ Huế của tôi để vào Saigon và đi về Mỹ. Buổi sáng đầu Thu đầy nắng vàng cô tôi và các em đưa tôi lên ga... Lần này ra đi không biết khi nào gặp lại, cô tôi đã già, tóc bạc phơ. Nhìn cô tôi nhớ lại không biết bao nhiêu là kỷ niệm. Xứ Huế là cô ngày xưa với dáng dấp mảnh mai và mái tóc dài thật dầy, thật đen, Chợ Cống, Đập Đá là cô với những câu chuyện đầu xóm cuối xóm, là những bát canh cá ngạnh nấu măng chua, canh cá mờm nấu me đất. Cô là tuổi thơ, là dĩ vãng êm đềm...

Tiếng còi tàu vang lên, tôi ngậm ngùi nhìn cô, nhìn xứ Huế thương yêu một lần cuối... Sân ga Huế buổi sáng đầu Thu đầy nắng vàng sao mắt tôi rưng rưng lệ...
Ôi ! Nắng vàng sao mà nhớ nhung!
Có ai đàn lẻ để tơ chùng?
Có ai tiễn biệt nơi xa ấy,
Xui bước chân đây cũng ngại ngùng
(Huy Cận)
THANH VÂN

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

TIỆC MỪNG THƯỢNG THỌ 100 TUỔI
GIÁO SƯ NGUYỄN KHẮC KHAM

Nguyễn Khanh, Jan 16, 2007


Cali Today News - Trong không khí bồi hồi của tình nghĩa thầy trò, tôn sư trọng đạo, nhà hàng Kobé của cựu luật sư dân biểu Đinh Thành Châu đã đón tiếp mấy trăm quan khách trong buổi tiệc mừng thượng thọ giáo sư Nguyễn Khắc Kham tròn 100 tuổi.

Giáo sư Nguyễn Khắc Kham sinh năm 1908 tại Hà Nội, theo tuổi dương lịch thì 99 tuổi nhưng theo tuổi âm lịch thì được một trăm. Ông đã đậu bằng cử nhân Văn Chương và Luật Khoa tại Pháp vào năm 1934. Về nước bắt đầu dạy học từ năm 1937 tại các trường trung học tại Hà Nội, rồi đại học Văn Khoa Hà Nội. Viết cho nhiều báo như Trung Bắc Tân Văn, Tiểu Thuyết Thứ Bảy, L’Annam Nouveau… dưới nhiều bút hiệu khác nhau.

Năm 1954 vào Nam và dạy tại các trường trung học Chu Văn An, Petrus Ký, giáo sư đại học Văn Khoa Sài Gòn, đại học Vạn Hạnh, đại học sư phạm Sài Gòn. Từng làm giám đốc Nha Văn Khố và Thư Viện Quốc Gia, đại diện VNCH đi dự nhiều cuộc họp về văn hóa thế giới, dạy tại đại học ngọai ngữ Tokyo, Nhật Bản.

Sau năm 1975, giáo sư Kham sang Pháp rồi định cư tại Oakland, California, Mỹ Quốc vào năm 1977. Hiện là hội viên hội học giả độc lập của đại học Berkeley và cố vấn cho hội Việt Học.

Trong những người lên phát biểu có giáo sư Lưu Khôn, Nguyễn Văn Sâm cũng đã từng theo học thầy Kham. Ngay cả cố giáo sư Nguyễn Đình Hòa đã viết những lời trang trọng về thầy Kham của mình: “Đại lão giáo sư họ Nguyễn có một sự nghiệp văn hóa thật vẻ vang cả trong nước lẫn ngòai nước. Cụ là một nhà mô phạm đúng nghĩa của danh từ này và đã từng tận tụy đào tạo nhiều thế hệ học sinh sinh viên người Việt và người nước ngòai….”

Giáo sư Nguyễn Khắc Kham, sức khỏe suy giảm, phải ngồi xe lăn nhưng ông lấy làm xúc động trước nghĩa cử của đám môn sinh, vẫn còn nhớ ơn thầy và tổ chức lễ mừng thượng thọ cho ông. Khách tham dự tòan tuổi đã cao, là những tinh hoa trí thức của đất nước Việt Nam, đa số đã từng là học trò của ông, đang sống lưu vong xứ người, nhưng vẫn còn giữ tinh thần nhớ ơn thầy.

Trong không khí cảm động đó, có ngừơi nghĩ tới hòan cảnh đất nước bên kia khốn khó, nghèo hèn và tinh thần lương sư hưng quốc đã không được tôn trọng và một nền giáo dục xuống cấp về cả hai mặt trí dục và đức dục.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Xuân Về Lại Nhớ Những
Tết Tha Hương của Lính

MƯỜNG GIANG
TD 1/ TrD 43 /SD 18 BB - Kbc 4424
viết nhớ các bạn cùng khóa đã gục ngã ở chiến trường.


Chợt nhớ xuân nào trên chiến địa,
Tao mày hiu hắt đón xuân chơi
Một thằng lính bộ đời như bỏ
Một đứa nhảy dù cũng tả tơi..


Bốn câu thơ củ mới đó mà đã mấy mươi mùa thương nhớ,càng khiến cho người lính già thêm trơ trọi , lạc lõng giữa tối ba mươi lạnh lẽo nơi chón quê người... Trong quán khách bên đường, ta một mình sóng đôi với ngọn đèn hiu hắt, qua đêm lại một năm buồn. Rượu chưa nhắp mà môi dã muốn cay sè, ngoài trời con chim kỹ niệm vẫn như thiết tha giục giã dù khói lửa đã ngưng trên chiến địa, bạn bè cũng không còn quan hà cạn chén ly bôi , sau những tiếng tỳ bà nhặt khoan nức nỡ. Tan tác, chia xa,giờ đây chúng ta đang lang thang như mây chiều, sau những năm tháng đã giốc ngược đời mình cho quê hương. Lính là thế đó, buồn nhiều vui ít,với một chút nhun nhén tình cờ bắt gặp, trên các nẽo đường hành quân vô định, qua dăm ba ngày Tết dưỡng quân hay canh giặc chốn tiền đồn,lẽ loi ngoài quan tái. Ai đã từng là lính, mới cãm thông cho lính, sống thật cô đơn lếch thếch và chết cũng rất hiu hắt ngậm ngùi. Thời gian và không gian đời lính cũng chẳng qua chỉ là một cái mốc vô tình để biết ta hiện hửu. Nhưng thôi tiếc làm gì ai biểu ta sinh ra làm trai hùng đất Việt ? nên phải chấp nhận kiếp lính ôm yên gối trống đã chồn, nằm vùng cát trắng ngủ cồn rêu xanh để rồi thui thủi đêm từng đêm ngó mông lung, vỗ bờ kiếm thép hát rừng mà nghe.

Mười ba năm lính, tết nào cũng tết tha hương, xuân nào cũng xuân lữ thứ. Đêm trừ tịch giữa tối ba mươi, cái khoảnh khắc năm củ sắp tàn, khi mà mọi nhà chặt then kín cửa, để sửa soạn đón giao thừa, trong niềm hạnh phúc của gia đình, thì lính cũng đón chào năm mới trong chiếc hầm trốn đạn hay mái chòi canh giặc đen tối lạnh lùng. Nhớ từ đâu bổng kéo tới, vây kín cái không gian nhỏ hẹp này. Ngoài trời mưa xuân đến sớm nhưng sao buốt lạnh quá chừng,khiến cho ta thêm buồn rầu trong bóng tối một tết tha hương. Dường như có ai đang hát ru một khúc tình ca của lính, nhắp một chút men nồng để thấy lại ngày xưa, để ta dìu ta trở về những mùa xuân củ, những tết không bao giờ quên được trong cuộc đời .

1-TẾT LÍNH ĐẦU TIÊN VỚI NGƯỜI KOHO TRÊN RỪNG NÚI MIỀN TÂY BẮC BÌNH THUẬN:

Ma Lâm xưa nay vẫn là cửa ngỏ để nhập vào vùng tây bắc Bình Thuận hùng vĩ và đầy huyền thoại. Ma Lâm là thủ phủ của quận Thiện Giáo, nằm giữa châu thổ phì nhiêu của con sông Cả (Quao), phát nguyên tại Di Linh và ra biển Đông tại cửa Phú Hài, có quốc lộ 12 hay còn gọi là Liên tỉnh lộ 8 , hoàn thành ngày 1-10-1914, từ Phan Thiết đi Di Linh chạy ngang qua. Đây là biên địa cuói cùng của Vương quốc Chiêm Thành trước khi mất nước vào năm 1693, nên có nhiều người Chàm và Thượng Ba Phủ, sống tại các xã Ma Lâm Chàm, Phú Nhiêu,Sông Trao, Trịnh Hòa, Tịnh Mỹ. Nhiều địa danh như Rừng Đú,Mang Tố, Làng Chão, Vũng Dao..và các câu chuyện xưa về người Chàm, trên mãnh đất Bình Thuận,theo thời gian tan biến vào cát bụi nhưng vẫn còn là huyền thoại của một thời vang bóng. Cũng vì địa thế hiểm trở, chinh chiến triền miền nên quốc lộ gần như bị bỏ hoang, cũng như hầu hết miền tây bắc bi quên lãng, để mặc cho người Thượng tha hồ đốt rừng bừa bải làm rẫy, dù vùng này nếu ruộng đất được khai thác, cũng đủ cung ứng nhu cầu lúa gạo cho nhiều người trong tỉnh.

Cuối năm 1963, chúng tôi gồm mười lăm đứa mãn khóa, từ Sài Gòn bổ sung cho Trung Đoàn 43 biệt lập, lúc đó do Thiếu Tá Võ văn Cảnh (sau lên chuẩn tướng là tư lệnh SD23BB năm 1972), làm Trung Đoàn Trưởng,kiêm Biệt Khu Trương Biệt Khu Bình Lâm, trách nhiệm ba tỉnh Bình Tuy-Bình Thuận-Lâm Đồng. BCH biệt khu đóng tại quân Di Linh với DD trọng pháo của Đại Uý Ngô Tất Tống và Tiểu đoàn 3/43 của DU Công. Riêng TD 1 của Đại Uý Ngô văn Diệp (tử trận năm 1965 tại Trảng Bàng) và TD 2/43 của DU.Hai, thì hành quân thường trực tại Bình Tuy-Phan Thiết.

Ngày đầu tiên về đơn vị cũng là ngày cuối năm, nên khi xe lủa tới Đà Lạt, cũng là lúc thiên hạ đang rộn rịp đón giao thừa. Cao nguyên Lâm Viên mùa Tết, nên trời rét căm căm. Chúng tôi tát cả là dân miền biển và miền nam,nên chịu không thấu với cái lạnh miền núi,cát da tím thịt, trong bộ đồ trận mõng manh, qua đêm đầu tiên tại nhà vãng lai của Tiểu Khu Tuyên Đức. Viết sao cho hết nổi buồn rầu của bọn lính xa nhà trong đêm Tết ? dù đêm Xuân Đà Lạt thật tuyệt vời, khiến ta cứ ngở như mình đang lạc lối đào nguyên, giữa hoa và người đẹp, cả hai sắc hương đường như cùng với mây trời ngạt ngào trong sương giá. Đà Lạt đêm xuân thú vui không kể xiết, khắp phường phố thiên hạ quần áo là lượt hạnh phúc, gắn bó từng cặp, từng đôi trong muôn màu đam mê rực rỡ nhưng với bọn lính mới đầu đời, Đà Lạt lại vô tình hờ hửng. Bởi vậy cả bọn đều mong mau sáng, để sớm trả lại cái thiên đường hạnh phúc mà trời trót dành cho những giai nhân tài tử.

Rồi thì chia tay, dăm đứa gọi là kém may mắn khi về TD 3/43 gần mặt trời. số còn lại bổ sung cho TD 1 và 2/43. Một cuộc hành quân mở ra vào ngày mùng ba tết nguyên đán, mục đich khai thông quốc lộ 12, đưa lính mới và quân trang quân dụng bổ sung cho hai đơn vị tại Bình Thuận. Nhờ vậy mới có dịp hưởng được một cái tết núi rừng vui nhộn với người Koho, quanh bếp lửa hồng. Bộ tộc Koho sống đông đảo tại cao nguyên nam Trung Phần, có nguồn gốc pha trộn từ nhiều sắc dân Chàm, Mã Lai, Chà Và,Chân Lạp..gồm các bộ lạc Churu, Noang, Sre,Maa, Sil, Toa, Queyong,Lat,Nop,Kodiong, Nam..chủ yếu sống tại các tỉnh Quảng Đức,Tuyên Đức,Lâm Đồng,Bình Thuận,Bình Tuy và Long Khánh. Được vui Tết với người Koho là một thích thú tột cùng, vì ngoài việc được ăn uống tự do, còn hưởng được tình người qua cử chỉ, một hành động đối với người Việt trong thời chinh chiến, hầu như đã mất mát hay nếu còn cũng chẳng qua sự giả tạo, lớp phấn hào nhoáng bên ngoài.

Vì lộ trình bị bỏ hoang lâu ngày,không được sửa chữa và xử dụng nên khắp nơi đầy ổ voi ổ gà. Thêm vào đó là nhiều đèo cao với vô số khúc quanh co lên trời, xuóng lủng, do đó đoàn xe di chuyển rất chậm vì phải mở đường và tu bổ quan lộ, nên đêm đó phải đóng quân và cũng là dịp ngàn năm một thuở được chủ làng trong buôn Koho, tai thung lũng Klonodium sát quốc lộ mời ăn Tết. Lễ hội theo truyền thống được tổ chức giữa sân nhà Hội Đồng. Tất cả đều là sự quyên góp chung từ củi đốt, trâu bò tới rượu cần. Quang cảnh đêm Tết thật hấp dẫn với đống củi cao như núi đủ rực sáng suốt đêm, mấy trăm hủ rượu cần và ba con trâu cột sẳn quanh các hàng cộc được chạm trổ. Khắp nơi còn có những cây phướng, nêu và cờ xí càng tăng thêm nét đẹp và trang nghiêm trong ngày Tết. Rồi lúc ráng chiều vừa khuất sau rặng Núi Ông cao đen thăm thẳm đầy huyền bí, cũng là lúc chiêng trống nơi nhà Hội Đồng trổi dậy, thúc dục dồn dập như tiếng trống trận xua quân, kêu gọi mọi người trong Buôn tề tựu nời bếp lửa hồng vừa cất cao ngọn. Tiếng lửa lách tách nổ vui tai, cộng với tiếng người chuyện trò huyên náo. Nam nử, già trẻ vui Tết ăn mặc quần áo đẹp và mới nhất của họ, dù chỉ là thứ vải bâu thô thiển. Ở đây hoa nhiều không đếm hết nhưng cũng không có hoa gì đẹp hơn hoa mai làm đêm thêm ngát, làm cho lính đã ngây ngất bên ché rượu cần, lại càng ngẩn ngơ hóa bướm vì tiếng hát ngây thơ hồn nhiên của các cô gái vùng cao,khiến cho mấy chục năm qua rồi, mà trong hồn mỗi lần chợt nhớ, như muốn khựng vì mùi chua của rượu cần và muì hương của núi rừng tây bắc. Sáng tới lính lại lên đường, không được như người Koho, sung sướng tiếp tục cuộc vui Tết quanh các gia đình, cho đến hết tháng giêng mới chấm dứt khi cả Buôn không còn rượu và thịt.:

Ớ chàng trai lính ơi,
đùng quên đêm nay bên vũ điệu Lam Tơi,
đôi ta tình cờ quen nhau ngắn ngũi
nhưng em nguyện chờ chàng trở về ..


2- TIỀN ĐỒN VUI TẾT NEN BƯƠN TIÊN VỚI NGƯỜI THÁI Ở TÙNG NGHĨA, TUYÊN ĐỨC:

Sau hiệp định Genève 1954 chia đôi đất nước , một số người Thái sinh sống tại tỉnh Lai Châu đã từ bỏ thiên đàng xã nghĩa Việt Cộng, di cư vào Nam để tìm tự do và lập nghiệp tại Xã Tùng Nghĩa,quận Đức Trọng, tỉnh Tuyên Đức, gần phi trường Liên Khương, ngả ba Di Linh-Đà Lạt-Đơn Dương.
Thời tiền chiến,Hoàng Ly đã viết bộ tiểu thuyết trường thiên dã sử nổi tiếng Lửa hận rừng xanh, hư cấu cuộc đời của Tù trường Đèo văn Lang, vua của người Thái đen Thái trắng, miền tây bắc Lai Châu rộng lớn , từ Phong Thồ, Nậm Nà,tới Mường Lay,Mường Tè,Bản Pháp..xứ sở của hoa ban, loài hoa trắng mọc chênh vênh ven vách núi, mùa xuân nở trắng núi đồi xứ Thái.

Đón giao thừa một phiên gác đêm
chào xuân đến súng xa vang rền
Xác hoa tàn rơi trên báng súng..
ngở pháo tung bay, ngở tóc em vương..


Bài hát củ của nhạc sỹ Nguyễn văn Đông, mấy chục năm về trước ,nay sao vẫn nhớ như niềm nhớ về một cái tết xa xưa rất tình cờ với đồng bào Thái Trắng, khi tiểu đoàn nằm tiền đồn, giữ an ninh ngoài vòng đai Tùng Nghĩa. Theo phong tục cổ truyền, hầu như tất cả các dân tộc thiểu số vùng thượng, trung Bắc Việt cũng như cao nguyên Trung Phần, hằng năm đều có nhiều lễ hội. Người Thái cũng vậy nhưng quan trọng hơn hết đối với họ vẫn là Tết Nguyên Đán NEN BƯƠNG TIÊN, thường được tổ chức tiếp theo Lệ ăn cơm mới và uống rượu Kim Lao Mao, mừng trúng mùa, cũng như ngày Tết Thần Táo vào tối đêm 23 tháng chạp, cũng giống như người Việt, rất trọng thể khắp mọi nhà, mọi đình làng với lễ vật gồm gà, xôi, rượu, vàng giấy và hoa quả.

Người Thái sống lâu năm trên đất Việt nên Tết Nguyên Đán gần giống người Kinh, nhất là từ khi họ di cư vào miền Nam. Đêm giao thừa, mọi người đều ăn mặc quần áo mới. Sặc sở và diêm dúa nhất vẫn là các cô gái chưa chồng, trong lễ hội Tung Cầu với thanh niển chưa vợ, để rồi sau đó từng cắp sóng sánh cười vui, qua cuộc tình đầu xuâa chồng, trong nở.

Chốn biên thuỳ này xuân tới chi, tình lính chiến khác chi bao người ., nên đêm tiền đồn được vui ké với bản làng một cái tết vui nhộn từ đầu thôn tới cuối ấp, nơi nào cũng vang vang tiếng pháo, khiến người lính trẻ xa nhà chạnh lòng để rơi nước mắt, khi nhớ về những ngày xuân củ, nhớ màu hoa cúc hoa mai, tết đến nở tròn như mắt môi em một thời tuổi học tay anh ghì nhẹ trên bán súng, cứ ngở cùng em sóng bước xu⠓ Chốn

3- ĐÊM CHỜ TÊT NGOÀI VÒNG ĐAI ÁP CÂY BÀI (CỦ CHI) :

Cuối năm 1964, toàn bộ Trung Đoàn 43 biệt lập từ Di Linh, tăng phái hành quân cho khu 32 chiến thuật, trách nhiệm tỉnh Hậu Nghĩa nhưng chủ yếu là tại quận Củ Chi, khắp các xã Bình Mỹ, Tân Thạnh, Trung An, Phú Hòa Đông, Phước Vĩnh An,Tân Phú Trung, Tân Thông, Nhuận Đức,Trung Lập, Phước Hiệp, Thái Mỹ,An Nhơn Tây, Phú Mỹ Hưng và huyện lỵ Tân An Hội. Lúc đó, BCH Trung đoàn đóng tại Tân Thông, các tiểu đoàn 2 và 3/43 nằm tiền đồn khắp các xã xôi đậu, chỉ riêng TD 1/43 được dưởng quân ba ngày Tét tại Quận, vì đã lội suốt một năm, khắp các chiến trường Phan Thiết, Bình Tuy, Long Khánh, Bình Dương, Bình Long và Hậu Nghĩa.

Cũng vì vậy, Ban 5 /TĐ đã soạn thảo nhiều chương trình để lính và gia đình vui một cái Tết đặc biệt tại hậu phương. Ngày ba mươi tháng chạp, TĐ xuất tiền hành quân, công thêm tiền thưởng của Tỉnh và Trung Đoàn, giao cho Ban 4 ra chợ Củ Chi, mua sắm gà, vịt, heo, bò, bánh trái và rượu đế Bà Điểm , làm tiệc tất niên. Lúc đó, đa số lính của TD là người Trung, nên trong dịp Tết chỉ có một số nhỏ có gia đình tại Sài Gòn và vùng lân cận được phép miệng về thăm gia đình, còn hầu như là ở lại với đơn vị. Vì khỏi trực gác, nên lính tha hồ rong chơi khắp hàng quán, dù phố lỵ Củ Chi nhỏ xiú và buồn hiu, lưa thưa vài hàng quán và cái lồng chợ cũng bé bỏng khiêm nhượng. Cũng may, quận nằm trên quốc lộ 1, nên có rất nhiều xe đò xuội ngược Sài Gòn-Trảng Bàng-Tây Ninh..cũng như ngả rẽ tới Bầu Trai, Hiệp Hòa, Đức Huệ..Đứng bên đường,nhìn trộm những người đẹp ngồi trên xe, đang hối hả mua quà vật khi xe ngừng, hồn lính cũng cảm thấy phần nào vơi đi nổi nhớ nhà. Ở đây mùa đông không lạnh lắm so với Phan Thiết nhưng gío nhiều nên cũng tái tê, se sắt. Bao nhiêu năm lính, lần đầu được vui một cái tết thị thành cũng thấy an ủi phần nào .

Nhưng Tết chưa tới, tiệc cũng còn đang sửa soạn, thì lệnh hành quân khẩn cấp từ BCH Trung Doàn ban xuống. Quân báo và an ninh TD lái xe ruồng bố khắp nơi để gom lính,làm cho người Củ Chi ngạc nhiên tuá ra đường dòm ngó, như thể họ đang xem hát tuồng. Và rồi nửa giờ sau, TD lại lên đường, lính chỉ mang theo súng đan và nước uóng với nhiệm vụ giải toả Ấp Cây Bài vừa bị giặc lợi dụng lệnh hưu chiến, từ mật khu Hố Bò tràn vào chiếm Ấp và bắt đồng bào làm con tin đỡ đạn. Quân ra đi như bóng ma đói, ai cũng phờ phạc buồn rầu thấy rõ, đầu gục xuống, súng vác vai, bất kể đội hình kỹ luật, im lặng như hến. Thế là thêm năm nửa, tàn mộng tết-xuân.

Bốn giờ rưởi chiều ba mươi Tết, TD 1đã có mặt ngoài vòng đai Ấp, trong khi đó toàn bộ Trung Đoàn đều tham dự cuộc hành quân này và các đơn vị đang dần xiết vòng vây. Súng nổ khắp bốn hướng giữa ta và địch, từ trong Ấp cho tới Làng Paris Tân Qui, Bến Cỏ, Phú Hòa, Ấp Nhà Việt..chổ nào cũng có đụng lớn. Riêng TD 1/43 án ngử ngay con đường tỉnh lộ dẫn vào Ấp, đường đã bỉ cày xới tan nát. Ấp nằm trong tầm ngó nhưng mù mịt vì bom đạn lửa khói và rừng cao su ngút ngàn che phủ. Cánh đồng lúa ven làng đang bắt đầu ươm hạt, mùi thơm sữa lúa theo gió thoang thoảng khắp nơi, mũi mòng từng đàn đáp đậu trên da thịt, tha hồ xơi tái lính. Trong cảnh buồn rầu thê thiết, ai cũng thẩn thờ quên đau vì muỗi chích, khi nghĩ tới đồng bào vô tôi đang nằm giữa dao thớt chiến tranh, khi mà các nơi khác, mọi nhà đang rộn ríp náo nức đón xuân về. Thời gian qua thật chậm, chiến trường vẫn sôi xục bom đạn. Còi thúc quân vang dậy dồn dập nhưng lính vẫn không tiến nổi vì các khẩu súng cộng đồng của giặc từ các cao điểm trong Ấp bắn chận dữ dội, khiến cho lính TD lần hồi rụng tã tơi như mấy cánh mai vàng trước gió xuân tơi tả., khi tiệc tất niên chưa kịp hưởng, đã vội về với đất lạnh, đời lính như vậy sao mà không buồn ?.

Không thể làm gì hơn, nên BCH hành quân đã xin Khu chiến thuật nhờ không quân can thiệp. Màn đêm hững hờ buông rèm gói trọn vạn vật,chỉ còn nghe tiếng L19 và Khu trục cơ Skyraider vần vũ dội bom bắn phá mục tiêu. Xa xa về hường Sài Gòn, trời sáng hồng trong đêm tói, giờ này thiên hạ đang vui say chè chén nhảy nhót và hạnh phúc, chắc không ai ngờ tới , tại một thôn xóm hẻo lánh nghèo nàn, có không biết bao nhiêu người, dân cũng như lính, địch lẫn ta đang lặn lội trong bom đan, chỉ mong được phép lạ để sống còn. Suốt đêm trừ tịch, máy bay liên tục dội bom, Ấp Cây Bài đắm chìm trong biển lửa, bên ngoài TD nằm chờ trời sáng. ai cũng đói lạnh nên nhiều người mặc kệ lăn kềnh trên đất ngáy khò, bất kể cái chết kề cận.

Tờ mờ mồng một Tét, quân vào Ấp trong nổi thê lương tận tuyệt, khắp nơi chỉ là cảnh chết từ người tới trâu bò heo chó. Giặc đã chém vè bằng các đường giao thông hào, bỏ lại nhiều tử thi lõa lồ bất động. Chiến tranh tàn nhẩn, oan nghiệt khiến suốt đời lính không quên được hình ảnh chết chóc của những người dân lành vô tội, giữa nhang đẻn bánh mứt..chờ đón xuân về.

4-CHUYẾN TÀU BA MƯƠI TẾT :

Chiều hăm chín tết năm 1978, trại cải tạo Huy Khiêm của tỉnh Thuận Hải rộn hẳn lên vì ngày mai cho tới mồng hai Tết, đoàn tù khổ sai của VNCH tạm nghĩ lao tác, được đổi khẩu phần Tết với đường, thịt heo, cơm trắng không độn và một bao thuốc có cán. Nhưng quan trọng nhất vẫn là cái danh sách phóng thích tù nhân vào mỗi dịp Tết về, sẽ được cán bộ gọi trong buổi sinh hoạt hôm nay.

Đúng 1 giờ trưa chiều ba mươi tết năm đó, trại có mười người được nhận giấy phóng thích về nguyên quán trình diện. Quỹ trại không có tiền cho tù nhân mua giấy xe đò xe lửa, nên ai lo mạng nấy bằng cách lội bộ, từ Huy Khiêm tới Ga Suối Kiết xa chừng 30 cây số. Tám giờ tối cả bọn tới nhà ga thì đã lở chuyến tàu chợ, nên đành phải chờ chuyến tàu suốt Bắc-Nam, Nam Bắc vào lúc 11 giờ khuya cuối năm. Trong bọn chỉ có tôi về Phan Thiết, còn lại đều ở rất xa tận Sài Gòn, Nha Trang..Chia ly rồi sắp chia ly nữa, anh em chỉ đành ngậm ngùi trao gởi, hưa hẹn. Trong khoảnh khắc năm củ sắp tàn, mọi nhà cài then đóng cửa đón mừng năm mới, thì chúng tôi cũng đang chờ phút giây thay đổi của đất trời.

Ga Suối Kiết nằm cheo leo trong rừng lá, cạnh vách núi Ông cao ngất hùng vỹ, bao quanh vài chụp nếp nhà lá lụp xụp của các công nhân hỏa xa và dân làm gổ. Có lẽ hôm nay mọi người đã về quê ăn tết nên xóm nhỏ thật đìu hiu không có một chút sinh khí, chứng tỏ nàng xuân chưa ghé chốn này. Cũng may Suối Kiết là một ga lớn trên tuyén đường xe lửa Nam-Bắc, nên tất cả các chuyến tàu chợ và suốt đều phải ngừng lại, dù khách có hay không. Về đêm, núi rừng càng buốt cóng lạnh căm. Bộ quần áo trận năm nào dù đã được đắp thêm chục mãnh vá, vẫn không ngăn nổi cái sắt se xa xót, như từ một cõi mộ địa, theo cái lạnh xâm chiếm tâm hồn những bóng ma đang lạc lõng trong đêm xuân, không biết rồi sẽ về đâu, để kiếm chút hơi ấm của tình quê. Trong cái hiu hắt của đêm buồn, cũng đủ để mọi người nhìn rõ hình ảnh của sự cô đơn nơi ga lẽ, từ những thanh sắt han rĩ tróc sơn trước quầy bán vé, cho tới hàng ghế gổ mọt đầy vết bẩn. Tất cả bổng dưng được trùng phùng một cách ngẩu nhiên với những người tù không bản án , những quân, công ,cán cảnh của VNCH bại trận , vùa được phóng thích trong đêm tết quạnh quẽ, buồn rầu. Phải vui lên một chút để mừng năm mới, thay vì mượn rượu phá thành sầu, cả bọn lại chụm đầu vào nhau , rít chung vài bi thuốc lào ăn tết, trong khi bên ngoài gió núi lồng lộng thổi, tạt sương muối vào mặt mũi da thịt, khiến cho cơn lạnh đói càng thêm hành hạ mọi người.

Hình như giao thừa sắp đến, trong mông mênh cùng tận, như những năm nao, tôi lại âm thầm lâm râm cầu nguyện cho mẹ già, em gái, cho ngươi yêu củ, bạn bè, đồng đội, đồng bào..được may mắn an bình trong buổi hổn mang dâu bể. Hởi ơi giờ này không biết mẹ già em thơ, có còn như những ngày xuân dấu ái trước năm 1975, giao thừa đi lễ chùa, xin xăm hái lộc, nhà có vui xuân đón tết hay gia đình cũng lại như tôi, tại sân ga nơi rừng núi thẳm tăm tối lạnh lẽo này, cô đơn, đói lạnh và nhục nhã trùng trùng.

Kỹ niệm xưa từng mảng lại trôi bềnh bồng trên mắt, lén lút đẩn dắt đưa tôi về thuở hoa niên, khi những cánh hoa phượng đỏ ối nối hàng, dọc theo con đường Nguyễn Hoàng dẫn vào lớp học, đã bắt đầu rụng rơi lã tã giữa các trang lưu bút, trên từng rèm mắt ô môi, cũng là lúc bọn học trò nghĩ hè làm gã giang hồ lãng tử, trên những chuyến tàu hỏa chui Phan Thiết-Sài Gòn rồi Sài Gòn-Phan Thiết, đi hoài vẫn không thấy chán.

Rồi những ngày dài chinh chiến, định mệnh lại đẩy đưa tôi về chốn cũ Long Khánh-Bình Tuy-Phan Thiết. Tuy tàu hỏa đã bị gián đọan nhưng suốt con đường sắt từ Mường Mán về Gia Ray, con đường mòn Võ Xu tới Suói Kiết, kể cả những suối rạch, bải đá ven sông La Ngà, đều là những lối lại qua quen thuộc , đã cùng tôi chắt chiu suốt đoan đường tuổi trẻ. Làm sao quên được những ngày dừng quân ở Văn Phong, Mường Mán ? ngày ngày ngồi ngâm nga tách cà phê đen ngon tuyệt nơi quán lẽ ven sông, ngó nhìn các chuyền tàu xuôi ngược. Giờ đây cảnh xưa vẫn nguyên vẹn, riêng tôi thì ôm một tầng trời sầu thảm không đáy, lạc lõng trên quê hương hận thù với kiếp sống nào hơn loài cỏ cây.Rồi thì tàu cũng đến, chúng tôi chia tay trong nước mắt, cuói cùng ai nấy hấp tấp lên tàu như kẻ trốn nợ trong đêm trừ tịch, giữa tiếng còi tàu lanh lãnh thét vang, phá tan cảnh tịch mịch của rừng núi âm u, nghe sao quá ảo nảo lạnh lùng.

Chuyến tàu suốt Sài Gòn-Phan Thiết đêm nay ế ẩm, nhiều toa hành khách vắng ngắt lạnh tanh, không như ngày thường chen chân không lọt. Có lẽ mai là mồng một tết nguyên đán, nên ai cũng muốn ở nhà để xum họp với gia đình. Đất trời buồn mênh mông quá, thêm gió thổi vi vút từ hai bìa rừng thả hơi lạnh khắp nơi, nhưng tôi vẫn muốn ngồi ngoài hành lang để được nhìn lại quang cảnh cũ Trong các toa tàu, đèn đóm tối om, dăm ba hành khách nằm dài trên ghế như đã ngũ tụ lâu rồi. Mặc kệ, tàu vẫn chạy xiết trên đường sắt như con thú điên , với hai ánh đèn pha phá tan màn đêm tăm tối. Hởi ơi cuộc đời sao oan nghiệt quá, trong lúc nhà nhà đang đầm ấm chờ đón chúa xuân, thì tôi trong một tối ba mươi tết, buồn rầu nơi toa xe lửa lạnh lẽo này, yên lặng nép mình trong cô quạnh , để đón một mùa xuân vàng úa nữa, sắp rơi xuống bờ vai của cuộc đời.

Trong giờ phút năm củ sắp tàn, con tàu cũng hối hả lướt qua từng ga vắng Sông Dinh, Sông Phan,Suối Vận, Mường Man rồi Phú Hội vừa đúng 12 giờ rưởi sáng . Thế là năm mới đã qua và tôi cũng đã lở dịp nghiêng mình chào đón nàng xuân mới trên quê hương mình. Trên tàu , ai nấy đều thức dậy, đang chuẩn bị xuống ga Phan Thiết. Tất cả đều xa lạ, hờ hững, buồn rầu, im lặng như bóng tối, không ai chúc nhau một lời ngắn ngủi dù là ngày tết. Bổng đâu đấy nơi một thôn xóm nào đó, dọc theo con đường sắt vang lên mấy tràng pháo chuột, bóng sáng lập lòe như muốn đưổi theo con tàu, khiến cho hồn thêm buồn rầu thương tiếc. Nổi náo nức thầm kín vừa lóe lên, chợt tắt hẳn khi nghĩ đến thực tại não nùng.

Hởi ôi mấy chục năm về trước, tôi , người lính trẻ xa nhà vẫn đam mê chạy đuổi theo những giọt mưa xuân giữa trời lửa loạn. Nay trong buổi xuân về, người lính già lội ngược thời gian tìm vết ngày thơ như còn giấu đâu đó, nơi vòm trời đồng đội, và em, và những tết cuối cùng trong quân ngũ, để ngẩn ngơ bàng hoàng xúc động, như thể vừa bước chân lên con tàu về quê hương, của những tết ấm yên hạnh phúc đầu đời -/-

Cuối Chạp 2006

Mường Giang
viết từ xóm Cồn
Hạ Uy Di

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Câu đối Tết con Lợn
(Đinh Hợi-2007)


Phạm Đỉnh: Tết âm lịch lại sắp đến. Mùa Tết cũng là mùa chơi câu đối tết của Hà Sĩ Phu.

Khi trời trở gió, con người nhà văn trong ông lại rộn ràng nguồn hứng cho những câu đối tết. Mời bạn đọc khắp nơi cùng tham gia thú “ăn tết chữ” với tác giả.

Câu 1: (Chó đi, Lợn đến)

* CHÓ gâu gâu, nghe pháo Dân chủ cúp đuôi, “bấn xúc xích, chạy vung xích CHÓ” !

* HEO ủn ỉn, nhìn xấp Đô la híp mắt, “cuống cà kê, nói toạc móng HEO” !


Câu đối dùng toàn thành ngữ dân gian :

“bấn xúc xích”= thành ngữ chỉ sự nguy cấp

“chạy vung xích chó”= thành ngữ chỉ sự hoảng loạn, tất tưởi

“cuống cà kê”= thành ngữ chỉ sự luống cuống, vội quýnh lên.

“nói toạc móng heo”= thành ngữ chỉ sự nói thẳng bật ra, không còn giữ gìn.

Câu 2:

* Đêm ba mươi Ỷ tiếp HẢI NAM, thân BÈO bọt còng lưng “Xia nỉ “!

* Sáng mồng một LANG ôm ĐẠI BẠCH. câu CÁM ơn luôn miệng “Thanh kiu” !


- Ỷ, Lang = tên hai giống lợn nội.

- Hải Nam = một giống lợn Trung quốc, Đại bạch = một giống lợn Bắc Mỹ

- Xia nỉ, thanh kiu = Cảm ơn (tiếng Tàu và tiếng Anh).

Câu 3: (Dán cổng một trại nuôi lợn):

Lũ Ỉn cứ an tâm, “Quốc khố” đã gom vài tấn CÁM !

Chú Trư càng phấn khởi, “Dân sinh” rộng mở một ao BÈO !


* * *



Mời đối (năm Đinh Hợi 2007)


Câu 1: (Mừng Xuân con Lợn)

Tổ quốc hỡi bay lên, Lợn đến, đóng ĐINH vào lịch sử ?

Câu 2: (Vịnh con lợn)

Nửa nạc nửa mỡ, hết cỡ ngu si, giỗ tết đến kỳ, lên bàn thờ tổ!

( Ngày giỗ lớn thường để nguyên cả con lợn luộc, bày trên một chiếc mâm đồng lớn, đặt lên bàn thờ tổ)

Câu 3:

Hoạn lợn thẳng tay, vào ngay Hoạn lộ !

(năm Lợn, tặng những chính khách có duyên với con lợn: vốn hành nghề Hoạn lợn mà sau thẳng tiến trên đường Hoạn lộ, làm đến chức quan đầu triều. Hoạn lộ là đường làm quan).

Câu 4:

Ỷ thế làm CÀN, thân BÈO bọt vẫn là ĐINH rỉ !

( Chữ Ỷ và chữ Bèo gắn với loài Heo. Khi bộc lộ sự khinh bỉ, ta thường dùng một thành ngữ mới : Mày thì tao coi là cái đinh gì (hay cái đinh rỉ gì. Lưu ý năm nay là năm Đinh Hợi).

Câu 5:

HEO chẳng MAY gặp gió HEO MAY, lăn cổ chết, Ỷ có thầy LANG cũng chết !

Hà Sĩ Phu

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

LỊCH SỬ NGHĨA TRANG QUÂN ĐỘI BIÊN HÒA
Theo Tài Liệu cơ quan IRCC

Trước năm 1965, các tử sĩ QLVNCH được chôn cất tại các nghĩa trang tiểu khu. Tại Sài Gòn - Gia Định chôn tại Nghĩa Trang Mạc Đĩnh Chi hoặc Nghĩa Trang Quân Đội Gò Vấp.

Từ năm 1965, Nghĩa Trang Quân Đội tại Biên Hòa được thành lập dự trù chỗ cho 30,000 mộ phần. Qua các trận Mậu Thân 1968, mùa hè 1972 đã chôn trên 10,000 tử sĩ. Tính đến 1975 đã có 16,000 tử sĩ chôn tại đây.

Lúc mới thành lập gọi là Nghĩa Trang Quân Đội nhưng sau đó dự trù sẽ hoàn tất để thành Nghĩa Trang Quốc Gia. Sẽ là nơi chôn cất không riêng tướng lãnh, sĩ quan và chiến binh mà dành làm nơi yên nghỉ cho các thành viên chính phủ hành pháp, lập pháp và tư pháp.

Phần bang đất làm đường, tượng Thương Tiếc, Cổng Tam Quan, Đền Tử Sĩ đã hoàn tất trước năm 1970.

Nghĩa Dũng Đài với ngọn tháp cao đã làm xong, Vành Khăn Tang vĩ đại chung quanh gần đến giai đoạn cuối vào tháng 4-1975.
Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu lên thăm công trình xây cất vào tháng 11-1974 đã nói rằng đây là công trình ông để lại cho quân đội.

Dự trù hoàn tất để khánh thành đợt đầu vào ngày Quân Lực 19 tháng 6-1975. Tuy nhiên không thực hiện được.

Sau ngày 30 tháng 4-1975, Nghĩa Trang Quân Đội bị phá hoại dưới nhiều hình thức nhưng nói chung vẫn còn tồn tại trong hoang phế.

Bắt đầu từ năm 1980 mới có các thân nhân lên thăm mộ, đặc biệt là những người chuẩn bị vượt biên.

Qua thập niên 90, các chiến binh cải tạo được tự do bắt đầu trở lại thăm viếng bạn đồng ngũ, và lên từ giã trước khi HO qua Hoa Kỳ.
Việt kiều bắt đầu trở về thăm viếng các mộ phần.

Nhiều gia đình bốc mộ hoặc sửa sang lại phần mộ.
Có tin đồn về việc chính quyền giải tỏa để làm khu kỹ nghệ do các công ty Đài Loan và Đại Hàn. Tuy nhiên các dự án này không thực hiện.

Cũng từ thập niên 90 chính quyền cộng sản bắt đầu công tác xây cất nghĩa trang liệt sĩ tại các địa phương miền Nam, từ Trường Sơn đến Duyên Hải. Nhưng họ vẫn làm ngơ đối với các nghĩa trang quân đội cũ kể cả nghĩa trang Biên Hòa.

Năm 1994 cơ quan IRCC, Inc. cho người về thăm lại Nghĩa Trang Quân Đội và ghi nhận phần lớn còn tồn tại nhưng rất hoang phế. Một trung tá Công Binh đã đi một vòng đem về các báo cáo sơ khởi.

Chương trình dự án tảo mộ hàng năm bắt đầu từ cuối năm 1997 với các điểm chính như sau: Làm dưới hình thức thân hữu gia đình từng toán nhỏ. Giúp phương tiện cho anh em thương phế binh Sài Gòn thực hiện. Khích lệ Việt kiều về thăm và sửa sang phần mộ thân nhân.

Phần mộ vô danh được làm cỏ, sơn quét lại, dựng mộ bia. Cổng Tam Quan và Đền Liệt Sĩ cũng đã được dọn dẹp. Tuy nhiên chỉ làm từng phần và làm nhiều lần.

Chương trình tảo mộ đã hoàn tất qua các năm Mậu Dần (98 ), Kỷ Mão (99), Canh Thìn (00), Tân Tỵ (01), Nhâm Ngọ (02) và tiếp tục cho đến năm 2006 vừa qua.

Những năm sau này khó khăn hơn nhưng thật ra đối với người lạ ghé qua thường trở ngại. Các thân nhân thật sự có người nhà chôn cất tại đây thì họ biết cách giao thiệp hàng năm nên không gặp rắc rối.

Các thân nhân của tử sĩ còn tại Việt Nam đã bắt đầu trở lại thăm viếng và sửa sang phần mộ trong các dịp lễ tôn giáo, thanh minh, Tết hàng năm. Việc này đã tạo thành một dịch vụ cho số dân địa phương.\

AI LÀ NGƯỜI SÁNG LẬP NGHĨA TRANG QUÂN ĐỘI BIÊN HÒA

Qua một vài bài báo có người nói nghĩa trang là một công trình được bàn thảo từ thời tổng thống Ngô Đình Diệm. Tuy nhiên sau nhiều năm sưu tầm hồ sơ, chúng tôi không tìm thấy hoặc là chưa tìm thấy các chỉ dấu rõ rệt về tin tức kể trên.

Sau này, có người nói là do sáng kiến của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Quả thực khi dự án từ Cục Quân Nhu phối hợp với Công Binh trình lên Tổng Tham Mưu, Tổng Cục Tiếp Vận rồi lên Bộ Quốc Phòng lên thủ tướng rồi phải trình lên tổng thống quyết định. Dự án liên quan đến đất đai và nhiều lãnh vực khác trở thành một đề tài Liên Bộ. Từ Bộ Quốc Phòng, qua Bộ Công Chánh, Bộ Nội Vụ và liên quan cả đến Bộ Giáo Dục và Y Tế.

Tuy nhiên, một lần nữa, sáng kiến lập Nghĩa Trang Quân Đội cũng không phải xuất phát từ Tổng Thống Thiệu hay Phủ Tổng Thống. Chính những người tử sĩ đã phát sinh ra Nghĩa Trang Quân Đội.
Kể từ 1964 trở đi, Nghĩa Trang Quân Đội ở Gò Vấp vừa chật hẹp, vừa không đủ chỗ. Chiến tranh gia tăng, phần lớn sĩ quan của khu vực thủ đô đều chôn ở Nghĩa Trang Mạc Đĩnh Chi, Sài Gòn. Nơi đây đất cũng bắt đầu khan hiếm và rất tốn kém. Nhu cầu chôn cất tử sĩ, không phân biệt cấp bậc tại một nghĩa trang rộng lớn đã được nghĩ tới vì các chiến sĩ các cấp hy sinh tại mặt trận đặt ra vấn đề.

Đơn vị Chung Sự cần phải có cơ sở hoạt động. Từ cấp dưới trình lên Cục Quân Nhu, lên Tổng Tham Mưu, Tổng Cục Tiếp Vận. Các sĩ quan Quân Nhu, Công Binh, Địa Ốc Tổng Tham Mưu bay trực thăng trên không phận Thủ Đức, Bình Dương, Biên Hòa, tay cầm bản đồ không phải nghiên cứu địa thế hành quân mà đi tìm khu đất thật đẹp để làm nơi an nghỉ nhìn thu cho chiến hữu.

Vì vậy nên Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa là sáng kiến của những người đã vĩnh viễn nằm xuống.

Thanh Nam đã viết vần thơ sau đây cho các tử sĩ Việt Nam Cộng Hòa, sau 30 tháng 4-1975.

...Ta như người lính thua trận
Nằm giữa sa trường nát gió mưa
Khép mắt cố quên đời chiến sĩ
Làm thân cây cỏ gục ven bờ
Chợt nghe từ đáy hồn thương tích
Vẳng tiếng kèn, truy điệu mộng xưa...

Bây giờ thi sĩ cũng đã trở thành cây cỏ gục ven bờ, vì vậy phải ghi lại rằng chính người chiến sĩ đã chết là những người có sáng kiến thành lập Nghĩa Trang Quân Đội. Nơi yên nghỉ ngàn thu của chính anh em tử sĩ.

NGHĨA TRANG QUÂN ĐỘI TẠI BIÊN HÒA XÂY CẤT RA SAO?

Sau khi trình tới trình lui nhiều lần, sau cùng mô hình xây cất và đất đai xây cất nghĩa trang được Phủ Tổng Thống chấp thuận.
Khu đất rộng 125 mẫu Tây ở phía tay trái xa lộ Sài Gòn - Biên Hòa được dành riêng. Toàn thể khu nghĩa trang làm thành hình con ong vĩ đại nằm quay đầu ra xa lộ.

Giữa lưng con ong là Nghĩa Dũng Đài cao 43 thước. Đầu ong là đền thờ chiến sĩ, cũng có lúc gọi là Đền Tử Sĩ hay Đền Liệt Sĩ. Phía dưới chân đền là Cổng Tam Quan nối thẳng một đường dài ra xa lộ. Con đường này làm thành cây kim nhọn của con ong và đầu kim là bức tượng Thương Tiếc ngay cạnh xa lộ.

Từ chân Nghĩa Dũng Đài trên lưng ong chia làm hình nan quạt hướng ra 4 phía và làm thành lưới nhện. Phần đuôi ong hẹp, phần dưới dài ra như quả trứng. Các ngôi mộ giống nhau chia thành từng khu. Khu quốc gia dành cho các vị lãnh đạo, khu tướng lãnh, khu cấp tá, cấp úy và binh sĩ.

Vào một ngày đầu Xuân năm 1965, Thiếu tướng Đồng Văn Khuyên từ Bộ Tổng Tham Mưu gọi điện thoại cho Đại tá Nguyễn Thiện Nghị, Liên đoàn trưởng Liên đoàn 30 Công Binh Kiến Tạo đóng tại Hóc Môn.

Sau đó chiếc xe ủi đất đầu tiên của Tiểu đoàn 54 Công Binh bắt đầu công tác. Rồi doanh trại của Liên Đội Chung Sự và khu nhà xác được thiết dựng năm 1966 để nhận những di hài tử sĩ đầu tiên.

Nghĩa trang được xây dựng trong chiến tranh với sự phối hợp giữa Quân Nhu và Công Binh. Công Binh tiếp tục làm đường, phân lô, xây Cổng Tam Quan, xây Đền Liệt Sĩ, đúc các tấm Ciment và làm mộ bia.

Quân Nhu nhận tử sĩ từ các mặt trận chở về ngày đêm để chôn cất. Trận Mậu Thân, trận Mùa Hè, trận Hạ Lào, trận Campuchia. Tử sĩ của các đơn vị tổng trừ bị đem về từ 4 quân khu. Tử sĩ của quân khu thủ đô và các tiểu khu lân cận. Tử sĩ của các quân chủng, nữ quân nhân, thiếu sinh quân, tất cả đều nằm trong lòng đất Biên Hòa.

Tử sĩ chôn từ trung tâm Nghĩa Dũng Đài lần lượt ra các khu bên ngoài. Đã có trên 10 tướng lãnh nằm tại Nghĩa Trang Biên Hòa kể cả các vị đại tá vinh thăng sau khi tử trận.

Người có cấp bậc cao cấp nhất là cố Đại tướng Đỗ Cao Trí. Hiện nay ngôi mộ này đã được gia đình cải táng nhưng vị trí cũ vẫn còn di tích. Gia đình tướng Không quân Tư lệnh Quân đoàn 4 Cần Thơ có sửa sang phần mộ của Thiếu Tướng Ánh nhưng vẫn để nguyên tại chỗ.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Nhạc Sến

Nguyễn Kiến Quốc
Sàigòn, ngày....tháng...năm.....
Bạn mến,
Hôm qua, trong lúc đang thơ thẩn trong một hiệu sách, thì bỗng từ đâu đó một điệu nhạc trổi lên, điệu nhạc vô cùng quen thuộc nhưng nó làm tôi xúc động đến thẫn thờ. Nói ra sợ bạn cười, đó là bản "Việt Nam -Việt Nam" của nhạc sĩ Phạm Duy. Có lẽ bạn tự hỏi sức mạnh nào đã làm tôi xúc động như thế. Thực ra đó cũng là câu hỏi của tôi.

Chắc bạn cũng biết, những nhạc phẩm được sáng tác trước năm 75 vẫn chính thức không được công nhận và cho phép trính bày hoặc xuất bản, dù đây chỉ đơn thuần là những bản nhạc có nội dung ca tụng quê hương chứ không có ý chỉ trích chủ nghĩa, chế độ hoặc cá nhân nào. Tò mò đến gần thì mới biết đây là gian hàng bán băng, đĩa nhạc, và bài hát "quốc cấm" kia chỉ là nhạc dạo đầu của một CD học tiếng Việt xuất bản tại Hoa Kỳ, và sở dĩ có bài hát này chỉ vì đây là gian hàng nghe thử CD trước khi mua.

Chưa kịp định thần thì Sơn, người bạn đi cùng như đọc được suy nghĩ của mình mới hỏi :"Ngạc nhiên lắm hả bạn ? Ðứng đây một chút thì bạn sẽ còn ngạc nhiên hơn. Và nếu bạn ghé mắt vào các cuộn CD thì bạn sẽ còn nhiều thú vị hơn nữa"... Bản Việt Nam - Việt Nam vừa dứt, một người khách khác yêu cầu nghe thử một đĩa CD với bài Mưa Ðêm Ngoại Ô, rồi Trăng Tàn Trên Hè Phố, rồi Nỗi Buồn Hoa Phượng... Ðứng trong khu băng đĩa của một nhà sách lớn trong trung tâm Sài Gòn mà tôi ngỡ như đang ở phố Bolsa hoặc khu chợ 13 ở Paris... Bao nhiêu hình ảnh bỗng trở về chập chờn trước mắt.

Sơn đưa cho tôi xem một chồng CD, toàn những ca khúc được nhà nước đánh giá là ủy mị, là sến, có nội dung không lành mạnh hoặc cực kỳ phản động được xuất bản tại hải ngoại và được sao chép và báy bán một cách công khai trong các nhà sách, các tiệm bán băng, đĩa nhạc. Nhìn tôi say sưa trong các bản boléro mà anh em mình vẫn hay gọi là nhạc "cải lương", Sơn nói : "Ở đây lâu bạn sẽ hiểu ra một chân lý, đó là âm nhạc Việt Nam đã có nhiều loại và nhiều giai đoạn, từ nhạc tiền chiến, nhạc Trịnh Công Sơn, nhạc trẻ của Trường Kỳ, nhạc tình, nhạc thính phòng, v..v... tất cả đều có thời, nhưng chỉ có một loại nhạc vẫn vĩnh cửu và phổ cập trong mọi tầng lớp quần chúng, và từ thành thị đến thôn quê...". Tôi nhìn bạn mình đang thao thao bất tuyệt trong bài diễn văn hùng hồn, nửa say mê nửa buồn cười : "Nhạc gì?", tôi hỏi.

Sơn trả lời một cách chắc nịch và hãnh diện : "Nhạc Sến !".

***

Và quả đúng như nhận xét bình dị của Sơn, cái loại nhạc bị xếp vào hạng "gánh nước" này quả vẫn giữ một chỗ quan trọng trong lòng người Việt Nam. Bạn có thể nghe nó bất kỳ trong một quán cóc nào, tại các bến xe, tại các phòng trà và dĩ nhiên là tại nhà riêng. Có lần về Ðồng Nai, đang chán ngắt với cái loa của Ủy Ban Nhân Dân Xã thì ngay căn nhà đối diện bùng lên tiếng hát Thanh Tuyền với bài "Sao Không Thấy Hồi Âm":

"Theo năm tháng hoài mong, thư gởi đi mấy lần, đợi hồi âm chưa thấy
Anh ơi nhớ rằng đây, còn có em đêm ngày, lòng thương nhớ vơi đầy...

Gớm ! nằm chổng kền trên võng và giữa khung cảnh thôn quê với gió hiu hiu từ sân trước ra sân sau mà nghe mấy cái bài "gánh nước" này sao mà nó hay thế. Tiếng hát ngọt ngào phát ra từ giàn máy hi-fi hiện đại bóp chết tịt cái loa oe oé đang nhai đi nhai lại những tin tức mà chẳng ai hiểu nó muốn nói gì. Trong cái say sưa ấy tôi chợt cảm thấy một niềm vui...

Cũng trong một lần đi hát karaoké, tôi ngạc nhiên và sung sướng khi trong tập nhạc được chia ra làm nhiều loại, nhạc tình, nhạc ngoại quốc v..v... đồng thời có nguyên một mục nhạc sến với những bài ca quen thuộc. Hôm ấy nổi hứng ẩu, tôi thử chọn một bài nằm trong danh mục các bài ca "hồng hồng" như Dậy Mà Ði, Trường Sơn Ðông Trường Sơn Tây, thì các bạn đi cùng đã trợn mắt :"Thôi đi cha, hổng biết nhạc mới thì có một đống nhạc sến đó tha hồ mà lựa. Ở đây mà hát nhạc "cách mạng" này người ta tưởng cha điên đến nơi". Chưa bao giờ bị xỉa là điên mà tôi vui như thế. Những tác phẩm bình dị như Căn Nhà Ngoại Ô, Tình Lẻ Ðêm Buồn, Ðồi Thông Hai Mộ... này quả đã quất sụm những bài hát như Biết Ơn Chị Võ thị Sáu, anh hùng Núp, hoặc bóng cây Kơnia, v.v...

Lại cũng một lần khác tôi thấy một đám ma ngừng trước của một trường học, đội kèn tây chơi bài Trường Cũ Tình Xưa, hỏi ra mới biết người quá cố vốn là giáo sư của trường ấy. Tôi không biết thuở sinh thời ông giáo này có "sến" như tôi không nhưng tôi chợt nghĩ những bài hát này phải quen thuộc lắm khiến thân nhân mới chọn để đưa ông ta vào lòng đất...

Trong một lần khác khi đang đi thăm Hạ Long, thì bỗng một thằng bé chỉ 7, 8 tuổi nhảy lên khoang tàu và ê a một bài hát, mà vì cái giọng miền biển của nó mà mãi sau tôi mới nhận ra đó là bài "Nó và Tôi", cũng lại là một bài "sến" hạng nặng. Tôi say sưa nhìn thắng bé hát như trả bài.

"Nó quê ngoài kia từ lâu lắm chưa lần về,
Ngày tôi gặp nó nét đăm chiêu đêm nhập ngũ, thấy thương nhau nhiều quá..."

Tiên sư cái thằng hát láo. "Nó quê ngoài kia" phải chăng là ngoài Bắc, thế này đích thị một anh di cư 54 vào Nam đi lính quốc gia. Tôi nghĩ có lẽ thằng bé chẳng hiểu ý nghĩa bài hát nhưng có lẽ đây là "thị hiếu" của khách là nó hát kiếm tiền. Trong khi ấy bên cạnh nó là một ông đứng tuổi đội nón cối, ông ta nhìn thằng oắt con "phản động" một cách lơ đãng. Biết đâu chừng ở nhà ông ấy đã đầy một tủ "sến" và ông ta đã thuộc những Nỗi Buồn Gác Trọ, Hai Mùa Mưa, hay Ga Chiều... hơn tiểu sử của những Võ thị Sáu, những Ðoàn văn Bơ, Huỳnh văn Bánh... Nhạc "sến" quả đã vượt Trường Sơn đến khắp hang cùng ngõ hẻm và chinh phục đồng bào miền Bắc. Cách đây không lâu, vào đúng ngày 30/4/2001, tôi có đến thăm lại dinh Ðộc Lập, bùi ngùi xúc động nhớ lại hình ảnh xe tăng cộng sản Bắc Việt ủi sập cửa dinh. Nhưng ngày hôm nay, cho dù bị chèn ép, truy lùng, nhạc sến vẫn còn sống và đang ủi sập cánh cửa kiểm soát tư tưởng của nhà nước. Tư tưởng này phút chốc đã làm tôi nguôi ngoai và có vẻ hả hê sau cơn xúc động khi nhìn và nhớ lại những giây phút u buồn cách đây 26 năm.

***

Ở Việt Nam trong những năm gần đây, các phong trào ca nhạc nở rộ, nhưng vẫn chỉ là những nhạc phẩm ra đời sau năm 75. Trong các buổi sinh hoạt tại các trường, các quận, nhạc sáng tác ở hải ngoại vẫn bị cấm hát, làm như với một chế độ công an trị gắt gao như ngày nay cũng chưa đủ để quản lý tư tưởng con người. Có lần tôi ghé thăm ngôi trường cũ vào đúng thời điểm trường tổ chức hội thi ca nhạc. Ban tổ chức có ra điều lệ như sau :

"Các bài hát phải có nội dung ca ngợi Bác Hồ, Ðảng và Tổ Quốc Xã Hôi Chủ Nghĩa. Không được hát những bài ngoại ngữ và các sáng tác tại hải ngoại".

Tôi nực cười khi báo chí trong nước một mặt kịch liệt đả kích các "thành phần lưu vong ngoan cố" đã biểu tình chống các cuôc lưu diễn của các ca sĩ trong nước tại Hoa Kỳ và Úc, mặt khác lại ngăn chặn không cho trình diễn và tái phát hành các tác phẩm sáng tác tại hải ngoại, mặc dù nội dung chẳng có gì gọi là "chống phá cách mạng" cả. Nói gì thì nói, người ta vẫn có thể tìm mua các bài hát này trong bất kỳ một tiệm bán băng nhạc nào. Sự cấm đoán này chỉ có trên các phương tiện truyền thông và các sân khấu có tầm vóc và do nhà nước quản lý. Tôi còn nhớ có lần đang tìm mua nhạc trong một hiệu sách lớn thì có khách hỏi mua một cuộn CD với tiếng hát Ngọc Lan, và được trả lời : "nhạc hải ngoại không có bán ở đây". Tôi vô cùng ngạc nhiên vì ngỡ rằng sau 15 năm "đổi mới", chuyện phân biệt này đã biến mất. Nhưng tức khắc sau đó tôi đã tìm ra câu trả lời : trong studio nhạc, giữa những đĩa CD tình yêu, ngự trị trên cao, là chân dung Karl Marx và Lenin... Sự lưu tâm của các bậc ấy đối với tư tưởng nhân dân VN quả là toàn diện và tuyệt đối.

Trở lại chuyện nhạc sến, đã nhiều năm trôi qua, những bài hát bình dân ấy dù rằng không được phép xuất bản và trình diễn nơi công chúng, nhưng trong các tụ điểm ca nhạc nhỏ, các phòng trà, các quán karaoké, các quán ăn bình dân, và nhất là trong lòng mọi người, nó vẫn mãi là những kỷ niệm sâu đậm mà không có một bạo lực nào có thể tiêu diệt nổi.

Nguyễn Kiến Quốc

Post Reply