Chiến Sĩ QLVNCH

User avatar
Vivi
Posts: 177
Joined: Thu Jul 06, 2006 7:38 pm

Post by Vivi »

THÀNH KÍNH PHÂN ƯU


Image
THANH GƯƠM SÁNG NGỜI
NGÀN NĂM LƯU SỬ
Ba mươi hai năm quá rõ
Em còn lầm nữa sao em?!

User avatar
Vivi
Posts: 177
Joined: Thu Jul 06, 2006 7:38 pm

Post by Vivi »

Re: LẠI THÊM MỘT TIN BUỒN : CỰU ĐÔ ĐỐC CHUNG TẤN CANG QUA ĐỜI #3
Cảnh Sát Dã Chiến


Joined: 2006/12/13
From
Posts: 15 Thành kính phân ưu cùng gia đình cố Đô Đốc Chung Tấn Cang , gia đình Hải Quân VN và đại gia đinh QLVNCH .
Nguyện xin Thiên Chúa ban cho linh hồn cố Đô Đốc sớm đưọc hưởng nhan Thánh Chúa .

Một cựu quân nhân

Cựu Đô Đốc Chung Tấn Cang qua đời (có cập nhật những tin tức mới)Jan 24, 2007

Cali Today News – Tin buồn đến một lần nữa: Đầu tuần này, cựu Trung tướng Ngô Quang Trưởng vừa tạ thế, và ngày mai thứ năm, lễ hoả thiêu sẽ được cử hành, thì sáng nay, tin tức cho biết cựu Đô đốc Chung Tấn Cang đã mệnh chung vào lúc 9:45 sáng ngày 24 tháng 1, năm 2007, tại tư gia ở thành phố Bakersfield, tiểu bang California, hưởng thọ 81 tuổi.

Được biết, từ thứ sáu đến chủ nhật này, lễ thăm viếng sẽ được tổ chức, và vào ngày thứ hai tới từ lúc 9 giờ sáng thì quan tài sẽ được đưa ra nhà thờ làm lễ và sau đó sẽ được hỏa táng.

Theo tin của Tổng Hội Trưởng Tổng Hội Hải Quân và hàng hải VNCH, ông Nguyễn Xuân Đức, thì nguyện vọng của đô đốc là tang lễ cử hành như một tang lễ thường, không có nghi lễ và quân cách của quân đội, như phủ cờ, quân nhân mặc quân phục.

Và nếu có phúng điếu thì trao toàn bộ số tiền phúng điếu cho Hội Cửu Long để chăm sóc thương phế binh Hải Quân của quân lực VNCH còn kẹt ở quê nhà.

Nhật báo Cali Today sẽ cập nhật tin tức trong các bản tin tới.

Nguyễn Dương

------------------------------------------------------
THÀNH KÍNH PHÂN ƯU CÙNG GIA ĐÌNH
Đô Đốc Chung Tấn Cang




Trước khi chết Đô Đốc vẫn nghĩ đến TPBVNCH tại quê nhà

Hơi Thở Cuối

Hơi thở cuối cùng, Vang vang vọng
Thương Phế Binh lệ đọng quê nhà
Lưu danh hậu thế ngàn xa
Tình người nghĩa cử đậm đà thâm ân


Vivi
Ba mươi hai năm quá rõ
Em còn lầm nữa sao em?!

User avatar
Vivi
Posts: 177
Joined: Thu Jul 06, 2006 7:38 pm

Post by Vivi »

Khi nghĩa trang Quân Đội VNCH bị VC lăng nhục vả hủy diệt

User Rating: / 5
PoorBest Topics - Cộng đồng
Written by Mường Giang
Sunday, 28 January 2007

ÐỒNG BÀO VÀ TẬP THỂ CHIẾN SĨ VNCH TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
PHẢI LÀM GÌ, KHI NGHĨA TRANG QUÂN ÐỘI BIÊN HÒA
ÐANG BỊ VIỆT CỘNG LĂNG NHỤC VÀ HỦY DIỆT


MƯỜNG GIANG

Từ khi xuất hiện tại VN tới nay, hơn 70 năm qua, nhờ lợi dụng được xương máu của đồng bào cả nước, để làm nghĩa vụ quốc tế, nên Cộng Sản Hà Nội, mới liếm được gót giầy ngoại bang Nga-Tàu và nay dựa hơi thêm Tây Phương, Nhật, Mỹ... Do đó, chúng mới dám ngạo mạn, tàn bạo dã man, hành động đâu có khác gì bọn phát xít Ðức, gây nên muôn ngàn tội ác thiên cổ đối với Dân Tộc, đưa quê hương đến thảm trạng nghèo đói lạc hậu và suy đồi đạo đức như hôm nay. Nhưng trên hết, niềm đau tột cùng của các thế hệ VN, cũng vẫn là sự chia rẽ hận thù, không biết tới bao giờ mới hàn gắn được, dù lúc nào đảng cũng nói tới chuyện "đổi mới, hòa hợp hòa giải dân tộc".

Sự phá sản của chủ nghĩa Lê-Mác, kéo theo cuộc sụp đổ của Liên Bang Sô Viết, Ðông Âu và nhiều nước Cộng Sản khắp thế giới vào thập kỷ cuối của thế kỷ XX, đã khiến cho bọn chóp bu đảng ý thức được những tội ác đã làm, nhưng chỉ vì địa vị và quyền lợi bản thân, cho nên cứ nhắm mắt làm càn, mỗi lúc mỗi lún sâu thêm vào tội ác.

Bởi vậy, không phải đợi tới bây giờ, Nghĩa Trang Quân Ðội của QLVNCH tại Biên Hòa, mới bị Thủ Tướng VC là Nguyễn tấn Dũng, ký Quyết Ðịnh số 1568, để mà hợp thức hóa vụ mua bán 58 mẫu đất trên, theo thời giá có thể tính bằng vàng ký, qua cái gọi "Dân Sự Hóa Nghĩa Trang, chuyển nhương cho Tỉnh Bình Dương, để phát triển kinh tế xã hội". Chỉ bấy nhiêu thôi, cũng đủ để cho những ai hiện nay, còn đang mơ tưởng, về chuyện "Xóa Bỏ Hận Thù để Hòa Hợp Hòa Giải Dân Tộc, hầu xây dựng Quê Hương Ðất Nước, qua thể chế Dân Chủ Tự Do, trong lúc Ðảng VC còn nắm trong tay TIỀN VÀ SÚNG ÐẠN... ", cần phải suy nghĩ lại, vì "Ðừng Tin Những Gì Cộng Sản Nói, Mà Hãy Nhìn Những Chuyện Cộng Sản Ðã, Ðang và Sắp Làm". Giản dị như vậy, mà hơn bảy mươi năm qua, Người Việt cả nước cứ mải loay hoay, trong khi đi tìm hạnh phúc cho chính mình và tương lai của đất nước, vẫn cứ bị Cộng Sản lừa bịp và bán đứng, không biết tới bao giờ, mới tự mình giải thoát được cùm gông, địa ngục đỏ, thật sự do chính đồng bào và trí thức chuốc họa vào thân.

Câu chuyện "Nghĩa Trang QÐ. Biên Hòa, làm sực nhớ tới vụ "Cầy Mồ tại Nghĩa Ðịa Lầu Ông Hoàng ở Phú Hài, Phan Thiết" đã gây nên sự căm hận tột cùng của đồng bào địa phương, khiến cho bọn lãnh đạo Tỉnh Bình Thuận phải chùn tay và ra lệnh đình chỉ. Ðể trấn an cơn phẫn nộ của người dân, ngày 15-12-2004 vừa qua, báo Người Lao Ðộng trong nước đã viết: "Hà Nội chưa duyệt dự án, quyết định thu hồi đất cũng không ban hành một văn kiện nào liên quan tới vụ việc trên. Còn Tỉnh Ủy Bình Thuận, thì đổ thừa tại đồng bào, chỉ mới nghe loan tin trên đài phát thanh và truyền hình địa phương, tự mình tới bốc dỡ mộ chí, làm cả thành phố Phan Thiết hỗn loạn". Tất cả luận điệu trên, chẳng qua chỉ là lời nói cuội, hầu lấy vải thưa che mắt thánh, vì thực tế, ai cũng biết, VC đã ra lệnh dời mả cầy mồ tại khu nghĩa địa trên, để chúng lấy đất bán cho Việt Kiều và Tư bản nước ngoài xây khách sạn, khu du lịch, sân golf và Casino, theo kế hoạch đã vạch sẵn, để mở rộng các tụ điểm ăn chơi, từ Lầu Ông Hoàng, Rạng, Mũi Né tới Hòn Rơm.

Cũng theo báo trên viết rằng, nhà nước lấy đất làm gì thì ai đâu biết, người dân địa phương chỉ nhận lệnh trên đài, phải chạy đi dời mả thân nhân. Ðây không phải là lần đầu, làm hệ luy đến con cháu đời sau vì người chết cứ bị dầy mồ liên tục. Tại đây có hơn 10.000 ngôi mộ, đã có từ trước năm 1975, nhiều mả mới chôn một vài tháng. Qua kinh nghiệm này, để mọi người đừng hấp tấp, khi chỉ mới nghe tin Ðài BBC mao tôn cương, mà cái máy nói này, từ lâu đã khét tiếng là bịa chuyện, nói bậy và cò mồi cho Cộng Sản VN, rồi tự mình sa vào lưới rập của kẻ thù. Rốt cục chúng chỉ đứng ngoài vỗ tay thu lợi, mà còn có cơ hội "biện minh" với dư luận trong ngoài nước cũng như thế giới, rằng là "Tự Họ Dời mả Bốc Mộ Lính Ngụy", Ðảng và Nhà Nước đâu có chủ trương phân chia, thù hận... "

Nay thì ai cũng biết, đâu phải đợi tới bây giờ VC mới trả thù người sống và lăng nhục đồng bào và các thành phần quân, công, cán, cảnh Nam VN, mà ngay khi Tổng Thống Dương Văn Minh ban lệnh, bắt QLVNCH buông súng rã ngũ vào trưa ngày 30-4-1975. Giữa lúc các đơn vị thuộc Sư Ðoàn 18 Bộ Binh của Tướng Lê Minh Ðảo và Lực Lượng III Xung Kích của Tướng Trần Quang Khôi, theo lệnh bỏ Biên Hòa rút về Sài Gòn, thì xe tăng của Cộng Sản Bắc Việt tràn vào các vị trí trên. Hành động đê tiện đầu tiên, là chúng đã ủi sập Pho Tượng "Tiếc Thương" trước cổng vào Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa, để trả thù cho hơn 10.000 ngàn cán binh, đã bị phơi xác tại các Mặt Trận Khánh Dương, Phan Rang, Phan Thiết, Biên Hòa, Tây Ninh, Long An... Phước Tuy-Vũng Tàu... nhưng hận nhất là tại Mặt Trận Xuân Lộc-Long Khánh. Sau ngày 1-5-1975, Nghĩa Trang QÐ Biên Hòa, được đặt dưới quyền quản lý của Quân Khu 7 VC, nên chúng đã ra lệnh cho bộ đội Miền Nam, gốc nghĩa vụ quân sự, tới đào xới phá hoại mồ mả trong Nghĩa Trang. Chưa hết, bọn chóp bu Ðảng, cũng đã ký bán 58 mẫu đất trên, cho một Công Ty Nam Hàn. Nhưng tất cả giống như Huyền Thoại, đầu tiên là tên VC lái xe tăng ủi tượng bị hộc máu chết tại chỗ, kế tiếp là những bộ đội Nghĩa Vụ chống lại lệnh "Cầy Mồ". Sau rốt là Công Ty Nam Hàn dù đã mua trọn khu đất trên, nhưng cũng vẫn bỏ hoang từ ấy đến nay, vì không dám làm gì cả. Kể luôn những đồng bào vô gia cư, trốn từ các vùng kinh tế mới về, tới Nghĩa Trang chiếm đất che chòi để ở, nhưng họ cũng không dám léo hánh vào khu vực bên trong. Ðiều này cho thấy sự linh thiêng và uy vũ của người Lính VNCH, lúc sống đã làm cho Rợ Hồ kinh hồn bạt vía, tới khi chết vẫn còn đủ hùng khí, chính danh, khiến cho kẻ thù tàn ác dã man nhất trên đời này, vẫn khiếp sợ dù miệng cứ luôn ba hoa cao ngạo.

Phạm Hòa, một sĩ quan thuộc binh chủng Lôi Hổ, từng vào sinh ra tử, đã tâm tình về đời lính, rất là cảm động "Bất cứ người Lính VNCH nào đã hy sinh vì nước, trước ngày 1-5-1975. Khi nhắm mắt lìa đời, ngay tại chiến trường hay trong bệnh viện, ai cũng đều mang chung trong tâm khảm, sự hãnh diện cao quí của người Quốc Gia, những người đã nhân danh Dân Tộc VN, trong suốt cuộc chiến, ngăn chống lại kẻ thù xâm lăng của đế quốc CSQT. Tất cả đã đi vào lòng đất, mang theo niềm hãnh diện thiêng liêng trên, làm nhiệm mầu thêm cho đời những trai hùng cao qui đất Việt, nên họ đâu cần gì quan tâm tới những cuộc đổi đời sau này". Kiếp sống của đời người ý nghĩa là vậy đó, dù thực chất cũng chỉ là cõi phù du mênh mông trống vọng biển dâu. Còn những ngôi mộ muôn đời, thử tính được bao người, vinh hạnh hưởng được cái phước "trơ gan cùng tuế nguyệt", hay rồi cũng cát bụi trở về với cát bụi? Lăng Hồ tại Ba Ðình, cùng với những đền đài tượng tạc mồ mả bọn chóp bu Cộng Sản đang hiện hữu khắp nơi trên đất Việt, sẽ tồn tại được bao lâu, cho dù không có cuộc đổi đời?

Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa của QLVNCH, ngoài ý nghĩa thiêng liêng là nơi gặp gỡ giữa người sống và kẻ chết, còn là một biểu tượng giúp cho các thế hệ chúng ta, soi sáng cuộc đời của những chiến sĩ đã hy sinh vì nước, đang nằm yên trong lòng đất. Nghĩa Trang QÐ Biên Hòa, cũng giống như Lá Cờ Vàng Ba Sọc Ðỏ của Quốc Dân VN. Lá cờ là hồn thiêng sông núi, còn Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa là khí phách của Anh Hùng Ðất Việt. Ðể mất hai biểu tượng thiêng liêng này, thì Hội này Ðảng nọ của Người Việt Quốc Gia Hải Ngoại, cũng sẽ mất hết sự linh ứng lý tưởng, chỉ còn là những hội thân hữu, là nơi gặp gỡ nhau để tay bắt mặt mừng, cụng ly và ôm nhau đi vào tiếng nhạc... Tóm lại, chúng ta hầu như ai cũng đều mang một món nợ tinh thần đối với người Lính, vì họ đã hy sinh để bảo vệ cho mọi người, nên nhất định phải trả, dù chẳng ai tới đòi nợ ai. Ðó là trách nhiệm, đòi hỏi chúng ta phải làm gì, để đối phó với hành động dã man tàn độc của Cộng Sản VN, hiện chỉ còn biết tới địa vị và lợi lộc, nên nhắm mắt làm càn, hết bán biên giới biển đảo cho Trung Cộng, cưỡng chiếm đất đai của chùa, nhà thờ, ruộng vườn tài sản của đồng bào, cướp công khố nhà nước, mua bán lao động và thân xác phụ nữ Việt... Nay lại vói tới 58 mẫu đất tại Nghĩa Trang Quân Ðội Biên Hòa, mà nếu VC thật tâm muốn xóa bỏ hận thù để hòa hợp hòa giải dân tộc, xây dựng đật nước, thì không bao giờ dám hành động kẻ cướp một cách công khai theo tinh thần thông cáo mới phổ biến.

Tội ác này, nếu đem so sánh với 1000 năm bị giặc Tàu đô hộ hay 100 trong cùm gông thực dân Pháp, thì những năm tháng, dân tộc Việt được sống trong thiên đàng xã nghĩa, còn ác ôn đắng cay gấp trăm lần. Ðó là sự thật, vì nô lệ Tàu, Tây hay Nhật, người Việt đâu có bi giặc cầy mồ cuốc mả, đâu có bị giặc đốt sách cướp phá chùa nhà thờ, đâu có bị giặc xô đẩy ra biển làm mồi cho cá mập hay xuất cảng người để lấy vàng đô la, đâu có bị giặc bắt đi nô lệ lao động hay làm đĩ bốn phương, đâu có bị giặc chà đạp nhân cách con người và sau rốt đâu có bị giặc đem đất nước VN cắt xén dâng hiến cho ngoại bang hay thế chấp cho tư bản, để lấy vàng đô la cùng nhau chia chác hưởng thụ?

Tháng giêng trên hải đảo, tiết trời như đã vào xuân. Khắp nơi, cây cỏ hoa lá đều đâm chồi nảy lộc, như khoe hương sắc rực rỡ nõn nường. Buổi sáng tình cờ theo bạn tới thăm viếng mộ phần của người thân, nguyên là Ðại Tá phục vụ trong Quân Ðội Hoa Kỳ, chôn tại Nghĩa Trang Quốc Gia ở Hawaii. Ðứng nhìn những tia khói mỏng manh, vươn lên từ các bó nhang thơm, mới được đốt cắm trước các ngôi mộ, mà hồn lâng lâng một nỗi buồn đứt ruột. Khắp nơi trùng trùng mộ chí, có điều mộ nào cũng sạch sẽ khang trang, rực rỡ phơi mình dưới ánh nắng chói chang, giữa cơn gió thoảng, như đang tận hưởng cái không gian bình an vĩnh cửu. Còn ta đâu có khác gì những đàn sếu đang mỏi cánh trên nền trời xanh thẳm, bâng khuâng một lối đi về, cuối cùng cũng chỉ biết thở dài trong ngấn lệ, nghĩ tới phận lính già sống nhục trên đất người, tới bạn bè đồng đội đang quằn quại kiếp sống cỏ rêu bên lề xã hội VN và trên hết là những nắm xương tàn của những người lính cũ, mai này sẽ ra sao, trước cơn bão đời sắp đến.

Người đời thật quá bất công, cũng là kiếp lính, sao thiện hạ lúc nào cũng được đãi ngộ xứng đáng, từ lúc sống cho tới khi qua phần. Còn chúng ta, thân phận của người Lính VNCH, chỉ gặp toàn những đau hờn thảm tuyệt, biệt ly trong thời loạn lạc. Người lính, lúc sống thì chịu không biết bao nhiêu thua thiệt. Tới khi chết cũng vẫn là buồn, đến nỗi năm xương tàn, tưởng đâu được yên nghĩ trong lòng đất lạnh của quê hương. Nhưng giặc Hồ đâu có chịu tha những người đã chết. Nghĩ tới cái cảnh "Cầy mồ cuốc mộ" không xa, có ai mà không rơi nước mắt, khi bên tai như vẳng lại tiếng than oán lồng lộng trong gió sương, trời đất:

"Hồn tử sĩ gió ù ù thổi
Mặt chinh phu trăng dõi dõi theo
Chinh phu tử sĩ mấy người
Nào ai mạc mặc, nào ai gọi hồn?! "

1- VIỆT CỘNG CƯỚP 58 MẪU ÐẤT CỦA NGHĨA TRANG QUÂN ÐỘI VNCH TẠI BIÊN HÒA, QUA CHIÊU BÀI DÂN SỰ HÓA:

Bất cứ việc gì VC cũng đã làm, nay thêm chuyện cướp đất trong Nghĩa Trang QÐ.VNCH tại Biên Hòa, đem sang nhượng cho ngoại quốc, lấy vàng đô la chia chác hưởng thụ. Có như vậy, mới đủ ngàn trang tội ác trong dòng sử Việt. Dù câu chuyện không có gì mới lạ đối với một kẻ cướp chuyên nghiệp, nhưng chúng ta cũng cần phải tìm hiểu nguyên cớ nào, đã thúc đẩy bọn ác quỷ tại Bắc Bộ Phủ, lại nhúng tay vào máu xương người, để gây thêm một cơn phong ba bão táp, vì chúng đã thật sự khơi động nỗi đau nhức nhối của Tập Thể QLVNCH, cùng với thân nhân và bè bạn của những người Lính đã khuất, sau 32 năm quốc hận.

Ðầu tiên, là câu chuyện cũ rích của Nguyễn Cao Kỳ, khi được VC cho phép về VN vinh qui bái tổ. Ngoài việc tuyên bố lung tung trên Ðài Á Châu Tự Do, gây nên sự công phẫn tột cùng trong các Cộng Ðồng Người Việt Tị Nạn tại Hải Ngoại, đến nỗi các vị tướng lãnh và Tổng Hội Không Lực VNCH, đã ra tuyên cáo, loại bỏ Kỳ ra khỏi hàng ngũ của QLVNCH. Nhưng quan trọng nhất là bài viết của Hồ Văn Ðồng vào tháng 1-2004, đăng trong tờ KBC Hải Ngoại số 26 (tháng 2-2004), trang 26, rằng"... trong số những dư luận đồn đoán, về chuyến đi VN của Kỳ, có những lời đồn cho rằng bà vợ hiện thời của Kỳ, đã làm ăn thua lỗ với quân khu 7 ở VN, nên Kỳ phải về, để xem có thể làm gì giúp cho vợ?.. " Ai cũng biết Quân Khu 7 Việt Cộng là đơn vị, đang quản trị và canh chừng Nghĩa Trang Quân Ðội của VNCH tại Biên Hòa. Bởi vậy sau đó mới phát xuất ra nguồn tin, 58 mẫu đất trong nghĩa trang, đã được môi giới bán cho một công ty Nam Hàn, sau vụ mua bán với Ðài Loan bị thất bại vào năm 1991.

Theo các văn kiện đã được phổ biến, ta mới biết trước khi CS Hà Nội cưỡng chiếm được Miền Nam VN, qua lệnh đầu hàng của TT Dương Văn Minh vào trưa ngày 30-4-1975, thì Ðỗ Mười cùng với một số cán bộ đảng trung kiên Miền Bắc, không có thân nhân sống ở Miền Nam, đã soạn thảo sẵn kế hoạch "tắm máu" các thành phần quân công cán cảnh VNCH, y chang đường lối của Mao, mà Polpot đã đem thi hành tại xứ Chùa Tháp. Trong kế hoạch này, CSBV chẳng những giết người sống, mà còn trả thù cả những người lính đã chết, bằng cách ra lệnh dầy mồ, san bằng các Nghĩa Trang Quân Ðội Miền Nam từ Quảng Trị vào tới Cà Mau, mà cái đích vẫn là Nghĩa Trang Quốc Gia tại Biên Hòa. Tuy nhiên sau ngày 1-5-1975, bọn lãnh đạo CS tại Bắc Việt, còn đủ sáng suốt và khôn ngoan, để biết rằng "QLVNCH dù bị Dương Văn Minh dùng quyền Tổng Thống và Tổng Tư Lệnh Quân Ðội, bắt rã ngũ và buông súng nhưng thực chất họ đâu có đầu hàng. Ðó là lý do Hà Nội đã thay đổi kế hoạch tắm máu Miền Nam, bằng trò dụ khị "trình diện học tập cải tạo", còn Nghĩa Trang QÐ tại Biên Hòa, thì giao cho Quân Khu 7, canh chừng, từ đó cho tới nay không thấy ban hành một chính sách nào để giải quyết.

Ðó cũng là sự thắc mắc của mọi người, qua câu hỏi là tại sao Ðảng VC lại muốn giấu giếm một sự kiện lịch sử quan trọng trên, đợi tới khi Ðài BBC loan báo vào ngày 11-1-2007, mới ấp úng bung ra cái gọi là "quyết định chuyển mục đích sử dụng khu nghĩa trang". Theo báo chí đăng tải, thì ngày 27-11-2006, Thủ Tướng của Ðảng VC là Nguyễn Tấn Dũng, đã ký quyết định số 1568/QÐ-TTg với đại ý là giao Nghĩa Trang QÐ/VNCH tại Biên Hòa, từ lâu thuộc Quân Khu 7, nay cho Tỉnh Bình Dương, để sử dụng phát triển kinh tế xã hội.

Nghe và đọc qua bản thông cáo kỳ cục trên, ai cũng thấy ngớ ngẩn, vì trong Nghĩa Trang chỉ có mồ mả của Người Lính VNCH, ngoài phần đất đỏ được dùng để nung gạch, đâu còn tài nguyên gì có giá để khai thác kinh tế, xã hội? Họa chăng ra lệnh dời mả để lấy đất trống, đem bán đổi thành tiền, xây dựng kinh tế xã hội... Ý nghĩa của quyết định chỉ có vậy. Ngoài ra đâu có thấy một chữ gì, nói tới hòa hợp hòa giải dân tộc, mà chỉ thấy có máu, có hận và có cả biển nước mắt của VN lầm than, trong kiếp nô lệ, phải nhắm mắt cúi đầu, nuốt nỗi đau vào tim ruột, để mà tự gậm nhắm nỗi đau nhược tiểu của đất nước.

Chưa hết, tiếp theo quyết định trên là Thông Báo khác đăng trên tờ Nhân Dân với đại ý "Bộ Xây Dựng đang soạn thảo dự án về xây dựng, quản lý và sử dụng nghĩa trang nhân dân phải theo qui hoạch". Còn nữa, dự thảo trên được thi hành theo đúng điều 4, chương 1, với luật lệ bắt buộc như sau "Diện tích 8 m2/ 1 ngôi mộ cá nhân, kiểu dáng và bia mộ, phải theo đúng qui định chung. Ngoài ra còn phải đóng thuế chỗ nằm của người chết cho địa phương... ". Ðó là tất cả sự thật, vậy mà một số người mới nghe tin đồn, đã vội cám ơn VC đã xóa bỏ hận thù? Tóm lại dù có bắt buộc dời hết mộ lính để bán đất, hay cho duy trì các phần mộ lính đã chỉnh trang theo luật đảng, để thu thuế chỗ nằm, thì VC cũng hốt được một số tiền lớn. Ðó không phải là sử dụng Nghĩa Trang QÐ/VNCH vào dịch vụ kinh tế, xã hội, lại là cái gì?

Cuối cùng là lý do chính trị, một điều mà đảng VC lo lắng nhất. Thật vậy, mấy năm gần đây phong trào phục hưng danh dự cho QLVNCH gần như sống lại và bành trướng khắp nơi, trong cũng như ngoài nước, chẳng những nơi tâm tư người Việt mà cả người ngoại quốc, nhất là Mỹ và Âu Châu. Tại Hoa Kỳ, qua sự đấu tranh bền bỉ của các vị lãnh đạo tôn giáo, trí thức, tập thể quân công cán cảnh VNCH và đồng bào tị nạn, nên người Việt Quốc Gia đã cắm được ngọn cờ vàng ba sọc đỏ, gần như khăp nước Mỹ, xây dựng được nhiều tượng đài tưởng nhớ và vinh danh người lính VNCH nhưng thành công vĩ đại nhất, là dẹp bỏ được ảnh Hồ Tặc và lá cờ máu của CSQT tại Little Sài Gòn. Cũng từ đó, ngọn lửa đấu tranh quang phục đất nước, được các thế hệ chuyền tay nhau, vinh danh, tưởng nhớ những người lính đã nằm xuống và cám ơn guíp đỡ những thành phần Thương Phế Binh, Cô Nhi Quả Phụ VNCH, hiện đang quằn quại trong địa ngục đỏ.

Góp phần làm bừng sáng ngọn lửa đấu tranh, là sự đóng góp to lớn của các Văn Nghệ Sĩ Hải Ngoại, trong đó có Trung Tâm ASIA đã thực hiện nhiều cuốn Video vô cùng giá trị về sự chiến đấu an dân bảo vệ đất nước của người Lính VNCH, ngăn chống sự xâm lăng của VC, mà Nhạc Ca Sĩ Nhật Trường ốTrần Thiện Thanh, là một trong những con chom đầu đàn. Những nhà văn quân đội cùng các sử gia như Phạm Phong Dinh, Nguyễn Ðức Phương, Giao Chỉ, Phạm Trần, Nguyễn Hữu Chế, Phan Nhật Nam, Huy Phương, Vương Hồng Anh, Nguyên Huy, Lê Tường Vũ, Nguyễn Tấn Phát, Tô Phạm Thái, Ðặng Phúc, Vi Anh, Vũ Ánh, Việt Dzũng, Nam Lộc... cùng với các tờ báo KBC Hải Ngoại, Hồn Việt, Viễn Ðông, Việt Báo Kinh Tế, Người Việt, Ðặc San Tập Thể Chiến Sĩ VNCH và nhiều tờ báo khác... thi nhau đăng tải những chiến công hiển hách của QLVNCH, suốt 20 năm binh lửa. Tất cả các văn hóa phẩm trên, được đồng bào đem về phổ biến ngay trong nước, làm sống lại hình ảnh hiên ngang của người Lính Miền Nam, trong lòng mọi người, khiến cho ai cũng tràn đầy hy vọng một ngày không xa, đồng bào trong và ngoài nước sẽ đoàn kết, tiêu diệt Cộng Sản, giải trừ tai họa diệt vong cho đất nước. Ðó là lý do chính mà Hà Nội phải gồng mình, hủy diệt cho bằng được Nghĩa Trang QÐ/VNCH tại Biên Hòa, được giặc đánh giá là một vị trí chiến lược còn sót lại của Miền Nam VN, vì sự uy nghi, thần thánh của biểu tượng.

2- DÂN SỰ HOÁ NGHĨA TRANG QÐ/VNCH TẠI BIÊN HÒA:

Muốn biết thế nào nghĩa trang dân sự dưới chế độ Xã Nghĩa, không có tài liệu nào xác thực cho bằng vào thăm hai khu nghĩa địa, được coi như là tượng trưng cho cả nước: Nghĩa địa Vân Ðiển (Hà Nội) và Bình Hưng Hòa (Sài Gòn).

Sau ngày 30-4-1975, nhờ cách mạng đổi đời và sự thống nhất hai miền đất nước. Nhờ vậy, người dân miền nam mới biết được cũng như chính mình phải đối mặt với cái giá phải trả, khi muốn được an giấc nghìn thu, nơi thiên đàng xã nghĩa. Theo Bùi Tín viết trong tác phẩm "Sự Thật", thì tại miền Bắc, các cán cao trong đảng, ngoài sự bày mưu kiếm kế để xâm lăng cưỡng chiếm cho được VNCH, còn lăn xả vào nhau tranh giành quyền lợi, chức tước, cái ăn và quan trọng nhất là làm sao cũng phải kiếm cho được một chỗ nằm, để được an giấc nghìn thu, trong nghĩa trang "Mai Dịch "tại Hà Nội, thay vì phải vào chung chạ với thường dân, người nghèo tại nghĩa địa Vân Ðiển ở ngoại ô.

+ Nghĩa Trang tại Bắc Việt:

Từ trước tới nay, Hà Nội có nhiều nghĩa trang lớn và thêm 100 bãi tha ma nhỏ khác, nằm rải rác khắp nơi trong thành phố và các vùng ngoại ô như nghĩa trang cạnh công viên Thủ Lê, hai cái khác ở thị trấn Nghĩa Tân và đường Minh Khai. Năm 1954 cộng sản vào Hà Nội và đã ra lệnh giải tỏa tất cả các nghĩa trang cũ trong thành phố, di chuyển ra tận các vùng ngoại ô xa xôi. Các khu Thủ Lê, Nghĩa Tân và Minh Khai trở thành công viên hay khu phố. Hiện Hà Nội chỉ còn duy nhất nghĩa trang Mai Dịch nằm trong nội thành, dành riêng cho các cán bộ và quan chức cao cấp đảng có quyền thế. Ngoài ra có một nghĩa trang lớn ở phía nam là Vân Ðiển, cùng hai nghĩa trang mới tân lập là Thanh Tước (Mê Linh-Phúc Yên) và Ba Vì (Bất Bạt-Sơn Tây).

Cũng theo Bùi Tín qua sách dẫn trên, thì các cán bộ có quyền thế tại Bắc Bộ Phủ, đã tranh dành nhau quyết liệt, để khi về chầu tổ Mác-Lê, được vào nằm ở Mai Dịch. Cũng vì vậy nhiều cán cao cuối đời bị thất sủng mất chức, đã phải vào nằm chung với dân thường ở Vân Ðiển. Ðó là thân phận của các tướng VC Chu văn Tấn, Ðặng kim Quang, Trần Tử Bình... Kể cả những nhà khoa bảng, nhà văn nổi tiếng của Bắc Hà như Phan Khôi, Ðào Duy Anh, Vũ Ngọc Phan, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Hồng, Nguyễn Tuân, Lưu Quang Vũ, Bùi Xuân Phái, Nguyễn Gia Trí... cúc cui tận tuỵ cho đảng, cuối cùng cũng bị đi Văn Ðiển.

Thật ra thì khu nghĩa trang Mai Dịch, cũng chẳng có gì quý báu và trang trọng, ngoài việc được nằm giữa các cơ quan nhà nước như Cư xá Ðoàn Văn Công, Trường Ðại Học Sư Phạm và Thương Nghiệp. Chính vậy, nên các ngày nghĩ và đêm khuya thanh vắng, trai gái thường rủ nhau từng cặp, ra đó vừa giải quyết bầu tâm sự cũng như những ẩn ức tình cảm. Theo tin mới dây, người Hà Nội vì căm ghét tên Lê Ðức Thọ, cặp bịp bài trùng với Kissinger, trong cái gọi là hiệp định ngưng bắn Ba Lê 1973, nên rủ nhau vào phóng uế trên lăng của y trong Mai Dịch. Vì không làm gì được ai, cuối cùng thân nhân tên đại ác phải tức tốc bốc mộ Thọ, đem về quê tại Nam Ðịnh chôn, để tránh sự xấu hổ và miệng đời bôi bác hằng ngày.

Riêng Văn Ðiển tới nay trên 30 tuổi và là một đia danh thân quen trên đầu môi chót lưỡi của ngưòi Hà Thành. Với các cụ già sắp theo chầu tiên tổ, thì ví von gọi mình là "mầm non của Văn Ðiển". Báo tin người quá cố mới chết... thì gọi là "đi Văn Ðiển". Tất cả sự trào phúng ví von trên, mục đích cũng chỉ để quảng cáo Văn Ðiển là nơi chốn, mà người Hà Nội cần để đăng ký hộ khẩu nơi miền âm cảnh.

Theo tài liệu, thì nghĩa trang Văn Ðiển nằm về phía nam Hà Nội, giữa hai con sông nhỏ Tô Lịch và Kim Ngưu. Vùng này có rất nhiều ao hồ và đồng ruộng, cũng là khu ngoại thành, phát triển vì nạn tăng dân số tại thủ đô từ nhiều năm qua, nhất là sau thời kỳ VN mở cửa. Theo báo chí thì vùng này được coi là dơ bẩn, độc địa và bị ô nhiễm nhất nước. Nguyên nhân vì suốt mấy chục năm qua, đã phải hứng chịu mấy chục ngàn tấn phân hủy, từ tử thi người chôn dưới đất, ngấm qua các nguồn nước quanh Văn Ðiển, tới các giếng nước dùng ăn uống, ao nuôi cá và các vườn rau xanh. Văn Ðiển hiện nay đã quá tải, hết đất, nên đảng cho áp dụng nguyên tắc, chỉ cấp hộ khẩu cho người chết ba măm. Quá thời hạn trên, nếu bất cứ một lý do gì mà thân nhân chưa kịp hốt cốt lên nghĩa địa Mê Linh hay Ba Vì. Những ngôi mộ đó lập tức sẽ bị xe cầy tới dầy mồ, để có chỗ cho cư dân khác tới tạm trú.

Dưới chế độ xã nghĩa, mọi việc đều làm theo kiểu chiếu lệ, chỉ cần có báo cáo đầy đủ trên công văn giấy tờ, là yên chuyện. Bởi vậy tại nghĩa trang Văn Ðiển, dù rằng có ban quản lý nhưng từ cổng bước vào, nơi nào cũng la liệt những vải liệm, ván mỏng, đồ tẩn táng và cả xương vụn. Những thứ này sau đó vào mùa mưa, sẽ biến thành một lớp bùn đen đặc quánh, gây nỗi kinh hoàng khủng khiếp, cho những ai nhỡ vì bắt buộc, phải bước vào nghĩa trang. Mấy lúc gần đây, cán bộ đảng lại có phép mở thêm dịch vụ rửa các hài cốt khi bị bốc mộ. Nước rửa xương từ các bệ xi măng, được phóng vào các cống rãnh, thông vào các ao rạch, sông hồ quanh vùng. Ðây chính là nguồn nước mà người dân sống quanh vùng Văn Ðiền hằng ngày, dùng để ăn uống và tưới các vườn rau xanh.

+ Nghĩa Trang Bình Hưng Hòa tại Bình Chánh (Gia Ðịnh):

Ðược thành lập trước năm 1975, nghĩa trang Bình Hưng Hoà có diện tích trên 40 mẫu tây, tọa lạc tại quận Bình Chánh, tỉnh Gia Ðịnh. Vì nghĩa địa này nằm sát thành phố, nên đêm ngày cũng rộn rịp theo sinh hoạt của người sống, chứ không hoang vắng lạnh lẽo như các nơi khác. Trước đây Bình Hưng Hoà được phân chia thành từng khu vực riêng biệt, căn cứ theo tín ngưỡng tôn giáo.

Sau ngày 30-4-1975, tất cả đều đổi đời nên hầu như không ai còn dám nghĩ tới những gì mình đã cố giữ trước kia, theo truyền thống luân lý xã hội. Tất cả chỉ còn biết bám víu vào đời, để sống được phút nào hay phút đó. Cho nên cái không khí trần tục cũng được con người, mang từ ngoài xã hội xô bồ vào trong cái thế giới cô tịch của cõi âm, làm phiền lòng những người đang nghìn thu an giấc.

Từ sau năm 1979, trong Bình Hưng Hòa đã có thêm lò thêu và những băng đảng thầu, lo việc mai táng và xây các phần mộ. Mỗi nhóm có một khu vực riêng biệt, được chia phân ngầm bằng những luật lệ bất thành văn nhưng chắc hơn đinh đóng cột. Dĩ nhiên phần tốt, béo bở phải là khu vực của các đại ca, có thế lực với công an địa phương, có thực lực mạnh. Ở đây dành cho giới quan quyền, nhà giàu, nên chỗ nằm rất tốt, hạp với phong thổ địa lý, sát đường lộ chính. Những người nghèo khổ, không có tiền hay nhiều tiền, cam phận hẩm hiu nơi tận cùng, chẳng khác gì số kiếp của họ lúc sống.

Cho nên giữa chốn âm âm dương dương này, gần như không có sự phân biệt đâu là mồ của người chết, hay chốn ở của người cõi trần. Thật vậy, xuyên suốt con đường đất đỏ dẫn vào nghĩa trang, ở đâu cũng thấy xen kẽ lớp lớp mộ chí trùng trùng và những hàng quán ăn uống, tiệm đóng hòm, khu bán vật dụng xây cất, đúc bia đá, đồ tẩn liệm, kể cả các lều tạm bợ to bằng hai ngôi mả, của các bà chuyên môi giới những liên hệ tới sự chết. Ngoài ra đây cũng là nơi cây cao bóng mát, chốn thiên đường để người địa phương vào tránh cái nóng chết người, trong những căn nhà cá hộp của họ ở bên ngoài.

Cứ tưởng sự phân chia giai cấp, cảnh giàu nghèo chỉ có ờ chốn phàm tục nhưng dâu ngờ nó vẫn tiến nhanh tiến mạnh một cách vững chắc ngay trong nghĩa địa. Cứ nhìn những ngôi mộ lát đá hoa cương, những nhà mồ lầu, còn hơn cả lăng tẩm của vua chúa ngày xưa, chung quanh có có tường gạch, rào sất cao và cổng sơn son thiếp vàng đóng kín, vì ở trong đó có cả gia đình người sống được mướn để săn sóc và canh giữ mộ đêm ngày. Tóm lại ở đây không thiếu những ngôi mộ to đẹp mà thời giá lên tới cả trăm triệu tiên Hồ. Tuy nhiên tuyệt đại mồ mả ở đây, có nhiều cái rẻ tới mức không còn gì rẻ hơn. Ðó là những nấm đất sè sè lăn lóc bên vệ đường, có cái trơ trọi không bia, có ngôi hoang tịch đến nỗi cỏ còn không mọc nổi, đây là mồ người nghèo, chết rồi không ai chôn nên được mọi người vùi làm phước.

Trong nghĩa trang Bình Hưng Hoà, ngoài cảnh sống chung hòa bình, hòa hợp hòa giải giữa hai thế giới âm âm dương dương, hồn ai nấy biết, mạng người nào thì kẻ ấy lo, lại còn có rất nhiều con ma sống. Chúng giống như những hình nộm vật vờ, thường vào đây để hút chích và tìm của lạ. Ma sống nhiều quá, gần như nơi nào cũng thấy hiện diện, qua cảnh tưọng những ống tiêm chích, nằm ngổn ngang bừa bãi. Nhiều kim chích còn nguyên những giọt máu tươi, chứng tỏ ma sống vừa mới thăng đâu đó.

Ở đây cũng không khác gì nghĩa trang Văn Ðiển trên đất bắc... Ðó là nguồn nước mà người địa phương trong vùng, dùng để ăn uống đã bị nhiễm độc một cách trầm trọng nguy hiểm, dù các giếng nước đã khoan sâu quá 30m, vẫn có mùi bùn. Bởi vậu nước dù đã đun sôi và pha trà, nhưng mùi thì không thay đổi, lại khó uống. Thế nhưng vì hoàn cảnh, không uống nước này, không sống ở đây, thì uống và sống chỗ nào nơi thiên đàng xã nghĩa?

Dân sự hóa nghĩa trang là vậy đó, nên đừng ảo tưởng là VC sẽ để nguyên các phần mộ cũ của QLVNCH, như một số người đang mong đợi...

3- NGHĨA TRANG QUỐC GIA VNCH TẠI BIÊN HÒA:

Người Mỹ, dù thuộc thành phần hay thế hệ nào, trong thâm tâm ai cũng ao ước được một lần tới chiêm ngưỡng Nghĩa Trang Quốc Gia Hoa Kỳ tại Arlington, để biết ơn tấm lòng hy sinh cáo quý của những anh hùng đã xả thân hy sinh cho quốc dân gấm vốc.

Trước tháng 5-1975, Nam VN cũng có một nghĩa trang Quốc Gia tại Biên Hòa, là chốn an giấc nghìn thu của hằng vạn chiến sĩ QLVNCH, đã hy sinh bản thân, gia đình mình, để ngăn chống lại cuộc xâm lăng của cộng sản đệ tam quốc tế. Tất cả muôn đời trong dòng lịch sử Việt, những chiến binh "vị quốc vong thân", còn ai xứng đáng hơn họ?

Ðược thành lập vào năm 1965, giữa một khu đất rộng, nằm trên một ngọn đồi thấp, khoảng giữa xa lộ Biên Hòa-Sài Gòn. Khi VNCH bị cưỡng chiếm, trong nghĩa trang có hơn 16.000 mộ phần (8000 mộ đã xây xong), gồm đủ mọi binh chũng, thành phần, từ hàng binh sĩ tới cấp tướng. Ðã có 8 vị tướng lãnh được chôn tại đây (Tướng Trí, Hiếu, Ánh, Soạn, Ðổng, Phước...)

Nghĩa trang được thiết kế theo mô hình con ong. Trước cổng ngay lối vào có thiết kế pho tượng hình một người lính trận cao 5m, ngồi trên một bệ cao 3 m, tất cả bằng đồng đen. Pho tượng mang tên là "tiếc thương", với ngụ ý là chỉ có người lính, mới biết thương cho thân phận của chính mình và các chiến hữu đồng đội, giữa một cái thế giới bạc đen vong ân bạc nghĩa của người miền nam lúc đó. Trước khi vào khu vực nghĩa trang, mọi người phải qua một cổng tam quan, phái trước Ðền Thờ Liệt Sĩ. Dựng trên một ngọn đồi thấp. Từ đó con đường chính, được chia thành hai lối và chạy vòng khắp khu vực, gặp nhau ở phần lô cuối cùng. Cũng trên ngọn đồi này, còn có Nghĩa Dũng Ðài, bên trên được xây một bia ký có hình lưỡi lê. Ngoài các tướng lãnh khi qua phần với bất cứ lý do gì, được an giấc trong một khu vực riêng kế Ðài. Còn tất cả chiến sĩ QLVNCH, không phân biệt quân binh chủng, cấp bậc. Nghĩa trang QÐ Biên Hòa được hoàn thành qua sự phối hợp của nhiều đơn vị gồm có: Bộ Công Chánh, Trường Kỹ Thuật Phú Thọ, Cục Công Binh, Liên Ðoàn 5 Công Binh Kiến Tạo... Riêng DD541 thuộc TD54CBKT l2 đơn vị trực tiếp thực hiện xây dựng. Khởi công từ tháng 11-1967 và dự trù hoàn tất vào ngày Quân Lực 19-6-1975.

Theo tài liệu, thì Nghĩa Trang QD. Biên Hòa chiếm một diện tích 125 ha, có thể chôn được 30.000 phần mộ, chia thành những vòng cung, với những mộ phần mang danh hiệu như A1, A2... B1, B2... Tính đến tháng 4-1975 đã có hơn 16.000 chiến sĩ QLVNCH các cấp an giấc tại đây, trong số này hơn 8.000 ngôi mộ, đủ cấp bậc, đã xây cất hoàn toàn rất đẹp và trang trọng. Công trình xây cất nghĩa trang được dự trù sẽ khởi công tiếp giai đoạn 2, với ngân khoản lên tới 100 triệu tiền VNCH năm 1973, do Ðiêu Khắc Sư Lê Văn Mậu phụ trách trong 6 năm, để thực hiện một tác phẩm nghệ thuật vĩ đại, trên chiếc vành khăn tang, trên Nghĩa Dũng Ðài. Tác phẩm nghệ thuật này, sẽ ghi lại những trang lịch sử huy hoàng nhất trong dòng Việt Sử, gồm 16 giai đoạn quan trọng nhất, từ buổi bình minh các Tổ Hùng dựng nước Văn Lang... cho tới các thành quả ngăn chống xâm lăng cộng sản, của QLVNCH. Một công trình lịch sử vĩ đại, tiếc thay đã chìm theo giấc mơ quang phục và thống nhất đất nước, khi giặc Hồ tràn vào.

Sau ngày VNCH bị cưỡng chiếm, VC thẳng tay trả thù người sống lẫn kẻ chết. Hầu hết các nghĩa trang quân đội tại miền Nam từ Quảng Trị vào Hà Tiên, trong đó có Nghĩa Trang Quốc Gia Biên Hòa, đều bì dầy mồ, tàn phá đồng thời ngăn cấm gia đình thân nhân lính đến thăm viếng sửa sang mộ phần. Nhưng thê thảm nhất là việc mấy chục xác chết của tử sĩ VNCH, còn quàng tại Ðại Ðội Chung Sự, chưa kịp chôn cất thì mất nước. Sau đó VC bắt dân chúng đào ba hầm lớn, trên phần đất gần cuối nghĩa trang, đề vùi dập và san bằng không cho đắp mộ.

Sau ngày 30-4-1975, VC cho xe tới kéo Tượng Thương Tiếc, đã bị xe tăng ủi sập từ trước, tới bỏ dưới sông Ðồng Nai trên xa lộ nhưng xe bị mắc lầy, vì vậy pho tượng được bỏ lại sát bờ sông. Năm 1976, VC lại kéo tượng bỏ trong sân vận động quận Dĩ An (Biên Hòa), sát Quốc Lộ 1 và không ai ngờ Tượng Người Lính này, lại trở nên thiêng liêng, được mọi người tới cúng vái cầu phước và xin bảo hộ. Chính vì vậy nên VC đem một thùng xe cũ tới úp kín pho tượng nhưng vẫn không ngăn cấm nỗi mọi người tới cúng vái càng ngày càng thêm đông đảo, khiến cho VC ói gan, nên kéo đi mất dạng.

Tới năm 1983, theo lời kể của Lính Già Giữ Mộ, thì hầu hết các mộ bia Lính đều bị VC đập nát hình, chỉ còn để lại chữ. Gần một nửa bia bị xô ngã, số còn lại cũng bị nghiêng ngả xiêu vẹo. Riêng bia tại phần mộ của 8 vị tướng lãnh, bị phá hủy hoàn toàn. Tàn độc hơn, vào năm 1985, VC còn tới nghĩa trang, cho nậy các phần mộ hình chữ nhật đúc bằng ciment trắng, đem về lót các lối đi, tại các cơ quan ở Sài Gòn, trong số này có bệnh việnTừ Dũ. Lạ hơn là trong Nghĩa Trang, gần Trung Nghĩa Ðài, qua cuộc đời dâu bể trầm thống nhưng vẫn còn có một chòm bông giấy nhỏ, vẫn cứ vươn mình tồn tại với thời gian. Theo những người biết chuyện, thì nơi này là phần mộ của Cố Trung Uý Phi Công Ngô Quang Lý, con trai trưởng của Cựu Ðại Tá Ngô Tấn Nghĩa, Tỉnh Trưởng Bình Thuận. Năm 1985, VC làm lễ ăn mừng 10 năm cưỡng chiếm được Miền Nam VN, có một số phóng viên ngoại quốc được mời vào quay phim chụp ảnh. Nhờ vậy Họ mới lẻn vào chụp lén được cảnh Nghĩa Trang bị tàn phá, đem ra ngoài phổ biến. Chắc vậy, nên VC mới đình chỉ hành động trả thù đê tiện trên. Sau đó là dịch vụ làm tiền của đảng, trả tiền cho cán bộ, để được dựng lại mộ bia và quét vôi mới trên các phần mộ đã bị đập phá trong máy năm vừa qua. Cuối năm 1988, VC lai loan tin sẽ ủi bằng Nghĩa Trang QÐ Biên Hòa, nên thân nhân Lính kéo tới bốc hơn 2000 ngôi mộ cho người thân.

Tóm lại Nghĩa Trang QÐ Biên Hoà bây giờ, cỏ cây lau sậy gần như bịt kín các lối đi, tất cả chỉ còn lại cảnh tiêu điều hoang phế, ai nhìn thấy cũng phải đau lòng. Năm 1978 em ruột Lê Ðức Thọ là Mai Chí Thọ, lúc đó làm thành ủy Sài Gòn, đã cùng với trùm công an Mười Hương, ra lệnh giải tổ Nghĩa Trang Mạc Ðỉnh Chi nằm giữa hai con đường Hiền Vương và Phan Thanh Giản. Nói cho văn chương là giải tỏa để lấy đất làm Cung Thiếu Nhi Lê Văn Tám, nhưng theo Bùi Tín, thì mặt thật là cướp mộ. Ai cũng biết nghĩa trang này tuy chỉ có khoảng 300 ngôi mộ nhưng lại toàn là thành phần thượng lưu giàu có của Miền Nam lúc đó. nên đồ tẩn liệm trong quan tài, có rất nhiều châu báu vàng ngọc vô cùng quý giá. Nhờ vậy, Mai Chí Thọ cùng Mười Hương đã hốt của người chết rất nhiều vàng tiền.

Ký giả Gordon Dillow người Mỹ, trong một chuyến đi VN, ông đã tới tận Nghĩa Trang QÐ/VNCH ở Biên Hòa, nhìn tận mắt, nghe tại chỗ. Sau đó trở về Hoa Kỳ, đã viết một bài phóng sự, đăng trên tờ Orange Register ngày 22-3-1995, trùng hợp với thời gian Cộng Ðồng Người Việt Tị Nạn đang xây dựng Ðài Tưởng Niệm Chiến Sĩ VNCH tại Little Sài Gòn. Ông viết "... Nhưng có lẽ không có nơi nào cần một Ðài Tưởng Niệm, cho bằng nơi một bãi đất ở Biên Hòa mà 20 năm trước, đây là Nghĩa Trang Quốc Gia lớn nhất, với Ðài Tưởng Niệm, dành cho các chiến sĩ Miền Nam VNCH chết trận. Bây giờ bãi đất này hoang vu, không được chăm sóc. Ðài tưởng niệm bị tróc sơn, hình thì không nguyên vẹn. Biết bao nhiêu mồ mả bị đào xới tan hoang, mất vĩnh viễn. Cũng theo bài viết, người ký giả Mỹ cho biết Cộng Sản đã cho khai quật nhiều ngôi mộ của QLVNCH, dùng dao đâm xác và móc mắt người đã chết, để trả thù? "Tất cả những hình ảnh thương xót nghẹn ngào trên, tin rằng bất cứ ai cũng phải căm hờn oán hận VC, cho tới giờ này, vẫn không chịu buông tha Những Nấm Xương Tàn, để cho Họ được nằm yên trong lòng đất. Trước thảm cảnh mộ phần của đồng đội, đang bị giặc tiếp tục lăng nhục, giầy xéo và hủy diệt. Ðồng bào và tập thể Chiến Sĩ VNCH trong và ngoài nước, hãy đứng lên, xiết chặt vòng tay, để bảo vệ cho Những Chiến Sĩ Kính Yêu năm nào, đã xả thân liều mình, bảo vệ cho đồng bào và Miền nam VN, suốt 20 năm ngăn chống CSQT, để họ khỏi bị Rợ Hồ, làm cho xương cốt vất vưởng, hồn phách vật vờ. Ðược như vậy, cũng là một tấm lòng trả lại ân tình cho những người Lính Miền Nam bất hạnh.

Hỡi ôi "Nghĩa tử là nghĩa tận", chết coi như hết thù hận và xí xóa tất cả nợ nần mà người đó lúc sống đã gây ra. Nhưng cộng sản thì chết vẫn chưa hết, vẫn phải trả thù, trả nợ. Nên nói đông tây vẫn có thể gặp nhau là một chân lý. Còn cộng sản và quốc dân VN, thì vĩnh viễn không bao giờ có thể hòa hợp, hòa giải được. Bởi một đàng có tim óc tình người, còn một phía thì không tim óc và đã mất đi nhân tính, khi trót bị chủ thuyết vô thần Lê-Mác-Mao-Hồ đầu độc, nay lại thêm lòng tham vô đáy, nên không còn thuốc thang gì cứu được, ngoại trừ chúng chịu từ bỏ hẳn độc tài, độc đảng, độc trị và sự thù hận đồng loại, đồng bào, để trở về với truyền thống ngàn đời của dân tộc Việt. Nhưng chuyện này chăc không bao giờ xảy ra, trừ phi Người Việt trong và ngoài nước, nối gót Ðông Âu, Ðức Quốc và Liên Xô cũ, đồng tâm đoàn kết, mới mong lật đổ được chế độ Cộng Sản bạo tàn, còn sót lại trong thế giới văn minh của nhân loại.

"Mai, nếu có cuộc đổi đời lần nữa
ta xin dành phần: đăng báo, phân ưu
đồng đội xưa đã chết trận, chết tù
thảm thiết quá những hồn ma vất vưởng... "

Xóm Cồn
Tháng Giêng 2007
Mường Giang
Ba mươi hai năm quá rõ
Em còn lầm nữa sao em?!

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Chiến hữu


Tưởng Năng Tiến

Tôi nhân danh sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hoà xin hứa sẽ trở lại với đồng bào.
Trung úy Đỗ Lệnh Dũng



Tưởng gì chứ sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hoà, cấp bực làng nhàng, như ông Dũng, tôi quen cả đống. Bạn cùng khoá cũng độ vài trăm, cùng đơn vị khoảng vài chục, và cùng trại (tù) thì chắc … vài ngàn!

Tôi đã nghe vô số thằng kể lại những giờ phút cuối cùng của đơn vị mình nhưng chưa thấy ai bị lâm vào hoàn cảnh bi đát, và giữa lúc thập tử nhất sinh, đã tuyên bố một câu (ngon lành) dữ vậy.


Cỡ Trung Tướng Nguyễn Văn Thiệu (vào giờ phút chót) cũng chỉ âm thầm … đào ngũ thôi, chứ chả hề có mở miệng nói năng gì ráo trọi - với bất cứ ai. Còn Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ thì ồn ào hơn chút đỉnh, rồi cũng chuồn êm – không lâu – sau đó.

Trường hợp của Đỗ Lệnh Dũng thì hơi khác. Cách hành xử của ông cũng khác. Bảnh hơn thấy rõ.

Đúng nửa đêm 24/11/1974, trái đạn 82 ly đầu tiên rót vào trong vòng đai Đồng Xoài. Với đại pháo và T-54 yểm trợ, hai trung đoàn của Sư Đoàn 7 của Bắc Quân - sử dụng chiến thuật tiền pháo hậu xung - đã chiếm được chi khu này, vào rạng sáng 7/12/1974.

Buổi chiều cùng ngày, trong khi đang cùng những quân nhân còn sống sót tìm cách thoát khỏi vòng vây, trung úy Đỗ Lệnh Dũng (bỗng) thấy một đoàn người - toàn là đàn bà và trẻ con nhếch nhác, với tay nải hòm xiểng, lôi thôi, lếch thếch - nằng nặc đòi đi theo toán quân của ông, để trốn ra khỏi vùng đất (sắp) được … hoàn toàn giải phóng.

Trước nguy cơ dân chúng có thể bị thiệt mạng oan uổng trong lúc giao tranh, và để thuyết phục mọi người nên ở lại nhà cho được an toàn, trung úy Dũng đã dõng dạc tuyên bố với đám đông: ”Tôi nhân danh sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hoà xin hứa sẽ trở lại với đồng bào.”

Và Đỗ Lệnh Dũng đã trở lại thực, chỉ vài ngày sau, như là một … tù binh! Rồi ông bị đấu tố trước Toà Án Nhân Dân Huyện Đôn Luân Luân, một tên gọi khác (mỹ miều hơn) của Đồng Xoài, và đưa từ Nam ra Bắc - theo đường mòn Hồ Chí Minh - để đi cải tạo. Gần muời năm sau, năm 1982, trung úy Đổ Lệnh Dũng được chuyển trại từ Bắc vào Nam – và tiếp tục … ở tù!

Cuộc đời (rõ ràng và hoàn toàn ) không may của trung úy Đỗ Lệnh Dũng đã được viết lại bởi nhà văn Lê Thiệp, bằng một cuốn sách - dầy đến bốn trăm trang - lấy tên của chính ông làm tựa. Nhà xuất bản Quê Hương đã cho phát hành phẩm này (1) vào cuối năm 2006, với lời giới thiệu - như sau:

“Đỗ Lệnh Dũng không chỉ là câu chuyện về chiến tranh, dù nhân vật chính là một chiến binh mất tích giữa chiến khu D sau một trận đánh dữ dội.” Đây là câu chuyện về những oan khiên khắc nghiệt mà người dân Việt Nam phải trải gần trọn thế kỷ qua cho đến ngày nay.

Nhân vật chính giã từ cha mẹ khi tròn 18 tuổi và úc được gặp lại cha mẹ thì đã gần tới tuổi ngũ tuần. Thời gian xa cách là lửa đạn, là những ngày lê gót trên con đường mòn vượt rừng núi Trường Sơn từ Nam ra Bắc, là những năm tháng đoạ đầy tại những trại tù …

Dù chỉ là một góc cạnh giữa muôn ngàn góc cạnh của một thời bão táp, câu chuyện vẫn là bằng cớ vô giá về thảm trạng con người bị tước đoạt trọn vẹn tuổi trẻ, tình yêu gia đình và mọi điều kiện an bình của cuộc sống.

Cuốn Đỗ Lệnh Dũng được ra mắt vào ngày 21 tháng 1 năm 2007, ở thành phố San Jose, California. Hôm đó, tôi đã hân hạnh được nhìn thấy Trung Úy Dũng và Thiếu Tá Đặng Vũ Khoái - chỉ huy trưởng Chi Khu Đôn Luân - người mà không mấy ai tin là còn có thể sống sót, sau khi đơn vị này thất thủ.

Thiếu tá Khoái cho biết nhờ tác phẩm này mà trong mấy tuần qua, một số những người lính năm xưa - đang tản mát khắp năm Châu - đã tìm lại được nhau. Và ông nghẹn ngào khi giới thiệu với mọi người, vài quân nhân khác của đơn vị - hiện cũng đang có mặt tại hội trường.

Tôi ngồi ở xa, không nhìn rõ nét mặt của những nhân vật này nhưng có thể đoán được rằng mắt họ đều đang ngấn lệ. Tôi cũng là một cựu chiến binh, cũng có cái may mắn lớn lao là còn sống sót sau cuộc chiến vừa qua, và thoát thân đến được một quốc gia an bình phú túc nên cảm thông (thấm thía) sự xúc động của họ.

Trong giây phút đó (có lẽ) mọi người đều cảm thấy an ủi và ấm lòng, trước cảnh trùng phùng bất ngờ (và khó ngờ) đến thế. Cái cảm giác sung sướng vì sự may mắn (hiếm hoi) của mình đã theo tôi suốt cả buổi chiều hôm ấy, và đã cùng với tôi đi vào giấc ngủ.

Nửa khuya, tôi thức dậy. Đêm nào tôi cũng thức dậy vào giấc đó. Và đó cũng là lúc mà tôi thường lò mò trở về … chốn cũ. Như một công dân “part – time” của nước Hoa Kỳ, tôi chưa bao giờ sống hết mình và hết tình nơi quê hương mới. Gần ba mươi năm lưu lạc, tôi vẫn cứ sống (một cách mộng mị) đều đều - theo kiểu “ngày ở / đêm về” - như thế.

Tôi thường trở về Đà Lạt. Đây là nơi mà tôi đã lớn lên, và đã ướp đẫm tuổi thơ (cũng như tuổi trẻ của mình) bằng rất nhiều đặc sản của núi rừng: nuớc hồ Xuân Hương, sương mù, phấn thông vàng, mùi cỏ dại của Đồi Cù, và cả trăm loại hương hoa man dại.

Có dạo tôi hay trở về những đồi trà, đồi bắp, đồi khoai - bao quanh trại cải tạo Tân Rai - ở Blao. Tôi cùng lũ bạn tù cứ đi trong nắng sớm, trên những con đường mịn màng (thơm nồng mùi đất) sau một đêm mưa.

Cũng có khi tôi về lại Sài Gòn, ghé thăm một người bạn đồng đội mới, chỉ vừa biết sơ, qua một bài báo ngắn - của ký giả Bùi Bảo Trúc:

Sáng nay mở e-mail ra đọc, tôi nhận được từ một người không hề quen biết, không kèm theo một giòng chữ nào, bức hình một người đàn ông mà tôi cũng chưa gặp bao giờ. Hình chụp người đàn ông đang ngồi trên giường có trải chiếu, đằng sau là bức tường loang lổ, hoen ố những vết đen mốc. Ông có một bộ ria, tóc dầy và đen, một mắt to, một mắt nhỏ mà tôi nghĩ là bị hư, chỉ còn một con. Ông không còn chân tay. Hai chân bị cụt trên đầu gối. Và hai tay cụt ở trên khuỷu tay, gần nách.

Trong hình có ghi tên ông. Ông tên là Thìn, Nguyễn Văn Thìn. Năm sinh được ghi là 1952. Hàng chữ phía dưới cho biết ông là thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa. Ðơn vị cuối của ông là Trung Ðoàn 49, Sư Ðoàn 25 Bộ Binh. Cấp bậc của của ông là Trung Sĩ Nhất. Ông sinh năm 1952, tuổi Thìn nên tên cũng là Thìn. Ông không còn chân tay. Từ 30 năm nay, ông không có chân, cũng không có tay.

Ông làm sao sống nổi qua bằng ấy năm không có hai chân mà cũng không có cả hai tay. Tôi tưởng tượng, không khó khăn lắm, cũng vẫn thấy ra được những khó khăn của ông. Trong một chế độ thân thiện với ông, ông cũng đã vô cùng bất hạnh vì thiếu con mắt, thiếu hai tay, lại thiếu luôn cả hai chân. Huống chi trong một khung cảnh không thân thiện nếu không muốn nói là thù nghịch, thì ông còn khổ biết là bao nhiêu nữa. Tôi không dám tưởng tượng thêm ra những chuyện khác trong đời sống hàng ngày của ông, nếu đó có thể gọi được là một đời sống.

Ông Thìn luôn luôn nhìn tôi với đôi mắt u buồn và lắc đầu ra dấu, như có ý nói là đừng đến thăm nhau nữa: “muộn mất rồi.” Mãi sau này tôi mới biết là … muộn thật! Trong những trang sổ tay cũ, khi viết về trung sĩ Nguyễn Văn Thìn, cách đây vài năm, tôi đã có dịp phổ biến địa chỉ của ông: nhà số 9/8 đường Bông Sao, phường 5, quận 8, Sài Gòn.

Chừng một tháng sau, vài người báo cho tôi biết là họ đã gửi quà về biếu ông Thìn nhưng không còn … kịp nữa. Ông bạn đồng đội của tôi đã qua đời, vài tuần, trước đó!

Đêm nay thì tôi về miền Trung, phần quê hương khốn khó mà tôi chưa bao giờ có dịp ghé qua, để thăm một đồng đội khác:

Tôi phải vượt đường xa tít tăp từ Huế tìm đến nơi 1 anh Thương Binh mù hai mắt, cụt 2 tay lẫn 2 chân gần Lăng Cô … Tôi nhìn thấy anh Dương Quang Thương nằm xấp ngay ngạch cửa. Tôi lên tiếng chào, anh bật ngồi dậy hỏi tôi là ai?”

Qua những phút giây trao đổi, tôi thấy anh khóc, những dòng nước mắt lăn ra từ hai hố mắt sâu thẳm ấy làm tôi phải khóc theo. Nghe tiếng người lạ, vợ anh từ sau hè chạy lên trên tay còn cầm nắm rau dền hoang vừa mới ngắt về để lo bữa ăn chiều, chị chào hỏi tôi rồi rót nước mời tôi uống …

Thoạt đầu tôi chỉ nói tôi là người mang tiền và thuốc tây đến cho anh do bà con từ bên Úc đóng góp gửi về. Tôi gởi anh 100 đô Úc và 5 hộp thuốc tây. Anh đã rưng rưng khóc lần nữa và cảm ơn nhiều lắm đến bà con ở Úc và Hội.”

Sau một hồi tâm sự anh nhắn gửi lời cảm ơn đến người điều hành Hội mà gia đình anh thường thư từ qua lại nhiều năm nay. Tôi xúc động quá và cho biết là: Thưa anh chị chính tôi đây… Nghe đến đó anh quờ quạng hai cái cùi tay còn lại lết thật nhanh về hướng tôi và ôm lấytôi mà khóc.

Vợ anh cũng khóc, tôi cũng khóc, người chạy xe ôm cũng khóc theo… Sự hy sinh của anh quá lớn, hai mắt, hai tay và hai chân cho tổ quốc còn cá nhân chị đã hy sinh cả cuộc đời cho những người mà cả tổ quốc phải tri ân.

Chị đã khóc nhiều lắm vì những khó khăn đè nặng thân phận của người phụ nữ ốm o gầy còm cố vươn vai suốt hơn ¼ thế kỷ gánh gồng, ẵm bồng tắm rửa, đút ăn và những cơn lũ lụt khủng khiếp phải cõng chồng chạy tìm sinh lộ… Ra tới đầu ngõ, tôi và anh xe ôm vẫn còn khóc…

Ở VN, bây giờ, mà khóc nhiều như vậy e hơi (bị) lố. Làm người Việt thì dù ở vào hoàn cảnh tệ bạc đến đâu chăng nữa vẫn (có thể) được khối kẻ khát khao. Tôi liên tưởng đến số phận te tua, bầm dập của Đỗ Lệnh Dũng và không khỏi trạnh lòng nghĩ thêm rằng: đó là cảnh đời mà phế binh Dương Quang Thương có nằm mơ cũng không thấy được.

Và hiện tại ở quê tôi còn bao nhiêu chục ngàn cựu chiến binh khác nữa (cũng tàn phế đến độ không thể đi xin ăn được) đang nằm chờ chết ở một xó xỉnh nào đó, ước mơ đến ngày có người đồng đội cũ (chợt) nhớ đến mình và ghé thăm chơi - như chiến hữu Nguyễn Cảnh Tân đã ghé thăm bạn Dương Quang Thương, vào một buổi chiều cuối năm 2006.



Tưởng Năng Tiến

-----------------------------------------------------------

(1) - Cuốn Đỗ Lệnh Dũng giá 28 Mỹ Kim, kể cả cước phí, có thể đặt mua tại Tủ Sách Tiếng Quê Hương, P.O. Box 4653, Falls Church, VA 22044, USA.

(2) - Địa chỉ liên lạc của ông Nguyễn Cảnh Tân

Hội Thiện Nguyện Cứu Trợ Thương Phế Binh Bị Lãng Quên Ở Việt Nam 42 Cardwell St – Canley Vale. NSW, Australia.

Điện thoại: (02) 9728 3640,

Điện thư: VASFIVV@yahoo.com.au.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Quốc Hội Virginia Tuyên Dương
Tướng Ngô Quang Trưởng...
Theo tin từ Dân Sinh, Dự luật HJ846 của quốc hội tiểu bang Virginia đang nằm chờ để được đưa ra biểu quyết tại quốc hội tiểu bang Virginia tại miền Đông Hoa Kỳ. Nội dung như sau:

HJ846 tuyên dương cuộc đời
tướng Ngô Quang Trưởng.

- Xét rằng, Ông Ngô Quang Trưởng là vị tướng của miền Nam Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh vừa qua đời ngày 22 tháng 1-2007, và

- Xét rằng, Ông Ngô Quang Trưởng sinh ngày 19 tháng 12 năm 1929 tại Kiến Hòa, Việt Nam sau khi học trung học Mỹ Tho đã vào trường võ bị, gia nhập quân đội... và

- Xét rằng, Sau khi phục vụ trên 10 năm trong binh chủng Nhảy dù ưu tú, năm 1966 ông giữ chức Tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh tại Huế, năm 1971 ông là Tư lệnh vùng châu thổ Cửu Long... và

- Xét rằng, Các cố vấn Hoa Kỳ đối nhiệm nhận xét rằng ông là một tướng lãnh xuất sắc về chiến thuật, ông đã giữ vững tinh thần của đất Huế chống lại Bắc quân vào dịp tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968... và

- Xét rằng, Tướng Trưởng và gia đình phải rời bỏ Việt Nam năm 1975 khi Bắc quân chiến thắng, và sau khi đi đến nhiều nơi tại Hoa Kỳ, gia đình ông đoàn tụ và định cư tại Falls Church, và

- Xét rằng, Tướng Trưởng đã soạn thảo các tài liệu quân sử và làm phân tích gia điện toán cho Association of American Railroads trên 10 năm trước khi hồi hưu 1994, và

- Xét rằng, Ông Ngô Quang Trưởng mất đi để lại tiếc thương cho vợ và 5 người con, cùng với nhiều thân quyến, bè bạn, vì các lý do kể trên

Quyết định bởi đại biểu Hạ viện, Thượng viện trong khoáng đại hội nghị đồng thanh ghi nhận sự ra đi của ông Ngô Quang Trưởng là một mất mát to lớn và vì vậy Quyết nghị rằng, Tổng Thư Ký của Hạ viện soạn thảo bản nghị quyết này để gửi đến gia đình ông, ngõ hầu bày tỏ sự kính phục của Đại Hội Đồng Quốc Hội Tiểu Bang Virginia đối với cuộc đời tướng Ngô Quang Trưởng.

***
Bản đề nghị dự luật tuyên dương Trung tướng Ngô Quang Trưởng do Bob Hull soạn thảo ngày 2 tháng 2-2007 hiện nằm trên bàn của Tổng thư ký Hạ viện để chờ ra đại hội đồng biểu quyết.

Gia đình ông Ngô Quang Trưởng cư ngụ tại tiểu bang Virginia trên 20 năm qua. Hạ viện sẽ biểu quyết thuận trong nay mai để tuyên dương một cựu tướng lãnh miền Nam và đồng thời là một cư dân rất kiểu mẫu của tiểu bang Virginia từ nhiều năm qua.

Bản lược dịch của Dân Sinh News, San Jose
Print

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

CHIẾN THẮNG ÐẦU XUÂN 1971
Tác giả: Ðỗ Văn Phúc.


Năm 1971, trên các tờ báo lớn Saigon vào một ngày đầu xuân Tân Hợi, người ta đọc một giòng chữ lớn đậm nét chạy 6 cột: "Một quyết định táo bạo tại chiến trường ngoại biên: Phải cắm cờ Việt Nam trên làng ThPong Thpong Vietnam trước lúc hừng sáng," ca tụng chiến thắng lẫy lừng đầu xuân của các chiến sĩ Tiểu Ðoàn 4/8, Sư Ðoàn 5 Bộ Binh (BB) trên mặt trận Snuol, Cam Bốt. Các ông nhà báo quen nghề thi vị hóa, chứ thực sự thì trận đánh bắt đầu lúc hừng đông và kết thúc nhanh gọn vào lúc xế trưa. Tuy ngắn ngủi, nhưng đây là một trận đánh lớn và ngoạn mục, có ý nghĩa lớn vì đó là chiến thắng mở đầu của cuộc hành quân Toàn Thắng 71 Ngoại Biên do Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn 3 tổ chức đánh thọc sâu vào lãnh thổ Cam Bốt trên địa bàn tỉnh Kratie, nhằm phá nốt căn cứ hậu cần của Mặt trận Giải Phóng Miền Nam (MTGPMN).



Sau chiến thắng Mậu Thân 1968, tiêu diệt toàn bộ hạ tầng cơ sở của Việt cộng tại các tỉnh thành đô thị miền nam, quân ta hoàn toàn làm chủ chiến trường trên khắp 4 vùng chiến thuật, mở rộng thêm các khu bình định, đẩy các lực lượng Cộng quân còn sống sót trở về bên kia biên giới Việt-Miên. Sư đoàn tôi trấn giữ ba tỉnh phía Bắc Sai gòn, gồm Bình Dương, Bình Long và Phuớc Long. Những địa danh nổi tiếng như Bời Lời, Hố Bò, Tam giác sắt, Long Nguyên, Bù Na, nơi mới đây thôi đã từng diễn ra bao trận chiến kinh hoàng, chôn thây hàng ngàn quân sĩ đôi bên. Ngày nay chỉ còn là những vùng đất đầy hố bom. Cây chồi đã mọc lên chằng chịt, thay thế cho những cây già bị bom và pháo đốn gục.



Quân ta hành quân hàng tháng trời không gặp địch. Họa chăng vài ba người du kích còn sót lại trốn dưới những căn hầm ẩm mốc, chờ đêm đêm mò ra ven đường xe bò nhận chút lương thực do thân nhân từ các làng cạnh lén lút tiếp tế cho để sống cầm hơi. Lính tác chiến lâu ngày không đánh nhau cũng chán. Nhất là lúc tuổi trai đang hăng, đang mơ ước chiến công để có thêm vài tấm huy chương cài đỏ ngực hoặc nở thêm một bông mai vàng trên ve áo trận, để thấy đường binh nghiệp thênh thang hơn.



Tôi xuất thân khoá đầu tiên của trường Ðại Học Chiến Tranh Chính Trị Ðà Lạt, ra trường nhằm lúc chiến dịch Chân Trời Mới được phát động trong toàn quân mà Sư Ðoàn 5 là thí điểm. Anh em chúng tôi có 39 tân sĩ quan chia nhau về 39 đại đội tác chiến của sư đoàn. Lẽ ra chấp nhận làm đại đội phó rồi lên Trưởng Ban 5 tiểu đoàn, trung đoàn, đa số anh em chúng tôi tình nguyện xuất nghành Chiến Tranh Chính Trị (CTCT) để nắm các chức vụ chỉ huy chiến đấu.



Người đầu tiên làm đại đội trưởng là Dương Quang Bồi rất được tìn nhiệm. Tiểu đoàn tôi có 4 đại đội, thì dân Chiến Tranh Chính Trị nắm hết ba: Bồi nắm Ðại Ðội 16, Nhơn nắm Ðại Ðội Chỉ Huy, và tôi nắm Ðại Ðội 15.

Image

Tiểu đoàn trưởng lúc đó là Ðại Úy Nguyễn Chí Hiền, Khoá 17 Thủ Ðức, dân nhà giáo động viên, nhưng chịu đánh đấm và đã chuyển qua hiện dịch. Anh Hiền từ Ðại Ðội Trinh Sát Sư đoàn về, là con chủ bài của sư đoàn trong nhiều năm qua lối đánh táo báo, mưu trí và óc tổ chức tuyệt vời. Ðại Úy Hiền đưa Tiểu Ðoàn 4/8 từ hỗn danh "anh Tám né" lên hàng đơn vị thiện chiến nhất sư đoàn. Nhưng cũng vì thế mà chúng tôi khổ cực hơn hết, vì được sư đoàn sử dụng tận tình, giao cho những nhiệm vụ hóc búa nhất, chịu trách nhiệm những vùng căng thẳng nhất. Ðặc biệt, năm 1970, tiểu đoàn đã đặt chân vào trung tâm mật khu Long nguyên, xuyên qua một khu rừng đầy rẫy mìn bẫy, bình định một yếu điểm mà từ hàng chục năm trước chưa có đơn vị nào dù Việt hay Mỹ trấn ngự được.



Chiến trường lắng dần trong năm 1970. Cuối năm, tiểu đoàn được lệnh về trấn đóng ven đô giữ an ninh cho đồng bào Saigon ăn tết. Ðêm đêm ngủ đứng trên bờ mương vùng sông lạch sình lầy Giồng Ông Tố, nhìn qua đô thành với hàng ngàn ánh đèn màu lấp lánh, với tiếng nhạc xuân văng vẳng, lòng chợt rộn lên ước mơ một hạnh phúc sum vầy ngắn ngủi bên bếp lửa nồng ngày xuân.

Gần mà rất xa, chỉ vài cây số đường chim bay thôi, nhưng nhiệm vụ và hiểm nguy từng giây ngăn trở, người lính trấn ven đô đành chế ngự ước muốn để tỉnh táo lắng nghe ngóng trong từng bụi dừa nước kia có động tịnh gì của quân du kích không. Trước chúng tôi, Tiểu Ðoàn 38 Biệt Ðộng Quân (BÐQ) đã mất vài sĩ quan chỉ vì ngứa chân, đêm mò về Saigon nhảy nhót. Khi trở ra bằng xuồng, bị Việt cộng phục kích bắn sẻ.



Tết ven đô xong, trên đường về hậu cứ ở Lai khê, tưởng sẽ có dăm ba ngày nghỉ dưỡng quân, tôi viết thư về nhắn vợ con lên ở chơi, ra lệnh cho thường vụ mua sắm cho anh em binh sĩ ăn Tết. Tới Lai Khê chưa kịp thở, áo quần vừa cởi ra, sửa soạn đi tắm đã nghe lệnh từ Ban 3 gọi về trung đoàn bộ họp gấp. Tôi chỉ cằn nhằn vài tiếng rồi lái xe đi.

Ðến nơi, vào thẳng văn phòng trung đoàn trưởng, đã thấy đủ mặt sĩ quan tiểu đoàn và các ban của trung đoàn. Ðại Tá Bùi Trạch Dần khui hai chai Hennessy rót ra mời tận tay từng anh em chúng tôi. trong khi Ban 2 phân phát những tấm bản đồ với những địa danh lạ, viết bằng thứ chữ Miên ngoằng nghèo như những con giun.



Vượt biên! Thế là vượt biên rồi. Ðiều này chúng tôi đã nghe đồn từ lâu. Tiểu đoàn cũng đã từng được lệnh hành quân thực tập trong các rừng cao su Lộc Ninh từ mấy tháng trước. Nhưng giây phút này thì quá bất ngờ. Ðơn vị đã hành quân liên tục hàng nửa năm, chưa được nghỉ dưỡng quân một ngày. Ðại Tá Dần tận tay mời từng người cốc rượu và nói: "Quân đoàn mở cuộc hành quân Toàn Thắng, trong đó Trung Ðoàn 9 là nỗ lực chánh yếu. Tiểu Ðoàn 4 được chọn tăng phái để bảo đảm thắng lợi cho trung đoàn ta. Sau giai đoạn 1 hoàn tất, toàn bộ trung đoàn ta sẽ thay thế họ. Ngay đêm nay các anh lên đường, chúc các anh chiến thắng lớn, đem vinh quang về cho đơn vị."



Chúng tôi lục tục ra về. Chưa đến nơi đã nghe tiếng gầm rú của đoàn chiến xa đủ loại của Thiết Ðoàn 1. Quân sĩ thì theo điều động của thường vụ, đang tập họp lãnh thêm đạn dược, lương thực, sửa soạn lên đường.

Giã nhà đeo bức chiến bào,
Thét roi cầu Vị, ào ào gió thu.

Ngày nay, người chiến sĩ ra đi không kịp từ giã gia đình, khoác lên người áo giáp, nón sắt, súng đạn và ba lô hành trang nặng hàng chục ký, giữa tiếng gầm của những chiến xa khổng lồ thay con chiến mã, lại chẳng có gió thu ào ào mà là hơi lạnh se người của một đêm đầu xuân. Lạnh ở ngoài trời và lạnh tận đáy tâm hồn. Ðoàn xe chuyển bánh lúc nửa đêm về sáng, mang theo đoàn trai trẻ trực chỉ hướng bắc dọc theo Quốc Lộ 13, tiến về biên giới Việt-Miên.



Ðến trưa hôm sau, đoàn xe dừng ở Lộc Ninh, quận lỵ địa đầu của tổ quốc ở phía Bắc Nam phần. Quân sĩ tấp nập bày binh bố trận. Mũ nâu Biệt Ðộng, mũ đen Thiết Giáp, mũ xanh Lực Lượng Ðặc biệt và mũ sắt bọc vải ngụy trang hoa rừng của Bộ Binh. Chúng tôi trao nhau những ánh mắt cảm thông và lời thầm chúc an bình. Tư lệnh quân đoàn, Trung Tướng Ðỗ Cao Trí, chắc nịch trong bộ chiến phục Nhảy Dù đang cùng các chỉ huy cao cấp bàn bạc, tấm bản đồ trải rộng trên mui xe Jeep. Tôi được lệnh, cho quân chuyển sâu về phía trái quốc lộ đến nơi sẽ là vị trí xuất phát. Hậu trạm báo tin vợ con tôi đang có mặt tại Lai khê, xin ý kiến. Tôi bồi hồi gửi lời chào và bảo quay về, hẹn sau hành quân sẽ gặp lại.



Rừng biên giới cây cao và thưa thớt. Trên đất cỏ mọc xanh rì, điểm những cụm hoa cúc vàng rải rác. Quân đi sâu vào lòng đất khách đầy trắc trở. Con sông Chlong uốn mình giữa hai hàng cây bằng lăng đang ra hoa màu tím nhạt. Phía bên kia sông, Chiến Ðoàn 333 Biệt Ðộng của Ðại Tá Nguyễn Văn Phúc cũng đang di chuyển. Tiếng người nói cười xen lẫn tiếng khô khan của vũ khí va chạm nhau. Trời cao, nắng vàng ấm áp. Trên vai là chiếc ba lô đựng 25 kí quân dụng: bảy ngày lương khô, ba cấp số hỏa lực, một mìn claymore, một chiếc xẻng, năm quả lựu đạn M26.



Mìn claymore bấy giờ là vũ khí đắc dụng để chống tấn công biển người. Mỗi người binh sĩ còn mang theo năm bao cát không để phòng thủ dã ngoại tránh mưa pháo. Ðạn pháo, hoả tiển thường chạm nổ từ những ngọn cây trong rừng, tỏa hàng trăm miểng đạn sắc bén xuống như pháo hoa. Ðơn vị tôi ít thương vong nhất vì tiểu đoàn trưởng đã dự trù đầy đủ phương tiện phòng thủ.


Những ngày đầu vô sự. Chỉ chạm địch lẻ tẻ khi bắt đầu vào sâu đất khách, đến gần quận lỵ Snuol. Ðọc trong nhật ký hành quân:


Ngày 4 tháng 2: Bắt đầu tiến vào lãnh thổ Cam Bốt. Trung Ðội 3 đi tiên phong. Hạ Sĩ Nguyễn văn Bô bắn chết một giao liên, thu một xe đạp, một AK-47 và nhiều tài liệu quan trọng chuyển cho Ban 2 khai thác.


Ngày 6 tháng 2: đánh chiếm một căn nhà do địch đang chuẩn bị ăn liên hoan. Giết hai cán binh tại trận. Thu một khẩu K-54, một AK và hai dãy bàn đầy thức ăn có rượu đế.


Ngày 8 tháng 2: Trong lúc đóng quân ở khu nhà phía nam quận lỵ Snuol, địch từ trong khu nhà dân bắn sẻ gây tử thương Hạ Sĩ Nghĩa và Hạ Sĩ Rô. Trung Ðội 2 truy kích tận làng Miên, bắt giữ tất cả thanh niên gom về cho trung đoàn khai thác.


Ngày 9 tháng 2: đại quân vào chiếm quận lỵ Snuol, lập căn cứ yểm trợ hỏa lực.


Tiểu đoàn được lệnh tiến về Tây Bắc, vượt qua đồn điền cao su bạt ngàn. Bảy giờ sáng, có một tiếng đạn AK vọng ra từ hướng trước mặt. Có lẽ địch bắn báo động. Tám giờ, tiếp cận mục tiêu. Ðây là hai khu nhà trong đồn điền, ngăn cách bởi một con đường đất đỏ. Khu bên trái là làng Thpong Cham gồm hàng chục nhà sàn bằng gạch, khu bên phải là Thpong Vietnam, đơn sơ nhà tranh vách đất. Tên làng nói lên sự phân biệt cư dân Chàm và Việt nam làm phu đồn điền tại đây.


Tin tình báo cho hay địch đang đóng quân cấp trung đoàn thuộc Công Trường 5 Cộng Sản Bắc Việt (CSBV). Ðại đội tôi chịu mặt phải, Ðại Ðội 16 của Bồi mặt trái, cùng tiến song song. Khi vừa nhìn thấy những mái nhà ngói đỏ làng Cham, địch khai hỏa bằng thượng liên và AK. Tiếng đạn chát chúa vang dội như uy hiếp tinh thần và làm cho ta khó phân biệt được nơi xuất phát.



[left]http://vietnam.ictglobal.net/webgraphic ... 71-003.jpg[/left]Quân ta đã chiếm hàng cây cao su trước mặt làng, bên kia con đường là hầm hố giao thông hào địch. Ở hai góc làng, hai lô cốt kiên cố có những cây đại liên bắn không ngừng vào đội hình quân ta. Lá cao su rụng từ mùa thu năm trước nay đã khô dòn, trải một lớp dày trên mặt đất. Ðịch nắm được điều này nên dùng kế hỏa công, bắn trái sáng đốt rừng. Lửa bắt cháy dữ dội, nhất là nương theo cơn gió thổi mạnh làm cả khu rừng ngập trong bão lửa.



Quân ta núng thế phải rút chạy tránh bị thiêu sống. Nhưng chẳng lẽ chạy hoài sao? Vì rừng thì bạt ngàn. Thế là lệnh ban ra: "Phải nhảy qua màn lửa tiếp tục tiến quân bao vây địch." Chúng tôi trở lại chiến tuyến khi mặt đất còn rát bỏng, những chiếc lá còn chút than hồng thỉnh thoảng cháy bùng lên sau mỗi cơn gió. Ðến gần trưa, tình hình như dậm chân tại chỗ. Hoả lực địch càng ráo riết. Quân ta chẳng nhúc nhích bước nào. Trung Tướng Trí nóng ruột, bay trực thăng lên trực tiếp chỉ huy. Chúng tôi mở thêm tần số để nghe đích thân ông ra lệnh. Giọng nói uy quyền của ông vang lên trong ống nghe: "Tôi cho lệnh phải chiếm mục tiêu trước khi trời tối. Liệu không làm được thì rút ra, cho đơn vị khác thay thế. Ðơn vị nào vào trước, cắm cờ, tôi cho chỉ huy thăng một cấp."



Hai giờ chiều, Bồi bị thương cánh tay phải, được băng bó và tải thương ngay. Hùng "đầu lâu" lên thay, nghe tiếng y oang oang vọng đến. Tôi bổng nghĩ ra một biện pháp táo bạo và trình ngay lên tiểu đoàn. Ðó là việc xin pháo binh yểm trợ tiếp cận, bắn từng tràng 10 trái từ phía cuối làng, kéo ngắn lại cho đến hệ thống giao thông hào trước mặt chúng tôi; quân sĩ ta sẽ xung phong ngay khi trái đạn chót vừa nổ. Pháo binh chiến đoàn từ chối, vì vấn đề an ninh cho đơn vị bạn.


Thông thường, pháo chỉ bắn khi quân ta rút ra khỏi một tầm an toàn tối thiểu, vì pháo không hoàn toàn chính xác đến phạm vi từng thước trong khi quân ta chỉ cách địch chừng mươi thuớc là cùng. Lại xin ý kiến tư lệnh. Tướng Trí "ô-kê" với điều kiện quân ta phải tận dụng các đường thoát nước để ẩn mình. Thế là lệnh ban ra. Các trung đôi nằm dán mình xuống, nón sắt, áo giáp phủ kín những điểm trọng yếu trên thân thể, lưỡi lê cắm lên đầu súng trong vị thế sẵn sàng xung phong.



Ðạn đại-bác bắt đầu ra khỏi nòng từ căn cứ hoả lực. Từng tràng mười trái. Tiếng nổ nghe gần lại dần dần cho đến tràng cuối cùng nổ ngay trên hầm hố địch đối diện chúng tôi. Mặt đất rung chuyển dữ dội, tưởng chừng thân thể bị bật tung lên, lục phủ ngũ tạng bị sức ép như vỡ ra, hai tai ù điếc. Nhưng vẫn cố gắng tỉnh táo đếm chính xác từng trái đạn ra khỏi nòng và nổ tung trên chiến hào địch. 96, 97, 98, 99 và ...100, ầm, ầm. Trái thứ 100 vừa nổ, nhào lên các bạn, chĩa mũi súng căm thù vào giặc.

- Xung phong!

Bất kể bất trắc là pháo binh có thể bắn nhầm thêm trái nữa hay không, cả trăm binh sĩ vùng lên, chạy vượt qua con đường đất đỏ, nhảy thẳng vào tuyến địch. Chúng tôi đứng trên những miệng hầm khi những cán binh Cộng Sản còn che tai cúi đầu chờ những trái đạn tưởng sẽ nổ sau đó. Bắn, đâm, lựu đạn tung xuống. Xương thịt người nhầy nhụa từng đống trong các giao thông hào. Phía bên trong, những cán-binh còn sống sót tháo chạy về hướng bắc.



Bên làng Thpong Cham, Ðại Ðội 16 cũng làm chủ trận địa. Phải treo cờ lên ngay, xác nhận chiến tích. Lấy đâu có cờ? quân ta đi hành quân cấp tiểu đoàn chẳng bao giờ mang theo quốc kỳ, quân kỳ. Chẳng có kèn đồng dù trong cấp số, mỗi đại đội có một lính kèn. Tôi tháo chiếc khăn quàng cổ nửa đỏ nửa tím trao cho Hạ sĩ Quí: "Kiếm cái gì treo lên cho ông tướng thấy."


Xác Cộng quân nằm la liệt khắp nơi. Những người trong hầm thì thịt xương trộn lẫn, máu óc văng tung toé, khó đếm được bao nhiêu. Những ai nằm phơi trên đất thì mình găm đầy lỗ đạn. Họ là bộ đội chính quy miền Bắc, trắng trẻo, mập mạp trong bộ áo quần màu xanh lá mạ còn mới nguyên, rộng thùng thình. Những khẩu súng AK-47 còn mới, báng gỗ bóng loáng đỏ tươi.



Thương thay, cũng con em đồng bào miền Bắc bị đem thây làm bia đỡ đạn cho giấc mộng xâm lược của những bạo quyền. Chín mươi bảy (97) xác để lại trên chiến trường. Khai thác tài liệu tịch thu, chúng tôi nhận diện đây là Trung Ðoàn 174 và một đơn vị đặc công Z27. Về sau, khi ở tù trại cải tạo Suối Máu, tôi gặp một thiếu úy Cộng Sản từng có mặt và sống sót trong trận này. Lúc tham chiến tại Snuol, anh ta chỉ là một hạ sĩ. Anh ta thú nhận quân ta đánh quá ác liệt và mưu trí.



Năm giờ chiều cùng ngày, thiết giáp chở Tiểu Ðoàn 2/9 vào tiếp tế thêm đạn dược và tải thương binh. Tôi gặp lại Nguyễn Văn Duyến bạn cùng khoá, đang làm đại đội trưởng. Anh em gặp nhau vài phút ngắn ngủi, trao đổi tin tức bạn bè rồi đường ai nấy đi. Chúng tôi trú phòng qua đêm. Mỗi đại đội cho một trung đội ra nằm tuyến cách đó chừng cây số. Bốn giờ sáng, Ðại Úy Hiền cho lệnh báo động. Chưa kịp nhảy xuống hố cá nhân thì pháo địch nhả tới tấp. Ðịch tung đợt tấn công đầu tiên vào tuyến của quân-báo tiểu đoàn. Cả tiểu đội chín người hy sinh tại chỗ nhưng địch cũng khựng lại vì hàng rào mìn claymore.


Phía sườn đại đội tôi, địch cũng tấn công mạnh. Một số binh sĩ vì quá mệt mỏi lúc ban ngày nên không đào kịp hầm hố. Họ cứ chạy quanh gốc cao su nép mình chống trả. Thế mà không ai bị thương hay bỏ mạng. Tiểu đoàn bị tấn công cả thảy năm đợt, có lúc tưởng bị tràn ngập. Tôi phải nhảy ra khỏi hố, trực tiếp bắn súng cối 81 ly yểm trợ cho bạn.


Hết đạn, quăng súng vào hồ nước rồi nhảy ra phụ trợ cho Trung Ðội 2 đang chịu áp lực nặng nề nhất. Nhờ có 3 cấp số đạn, nhờ có mìn claymore, chúng tôi cầm cự cho đến khi trời lờ mờ sáng thì địch bắt đầu rút. Qua làn sương mỏng, chúng tôi thấy chúng dùng móc câu kéo xác đồng bọn và vũ khí. Lại có màn thi nhau bắn bia như lúc tập ở quân trường. Lệnh truy kích được ban ra. Tôi lầu bầu: "đạn còn đâu nữa mà truy với kích." Mặc, cứ tiến lên, địch đang rối trí bỏ chạy thì có hơi đâu mà chống trả.


Tiến về phía cuối rừng cao su, cách đó chừng trăm mét, chúng tôi phát hiện được vị trí chỉ huy hành quân của địch với hệ thống tổng đài và dây điện thoại chằng chịt tỏa ra như lưới nhện xung quanh trận liệt.


Tướng Trí và bộ Chỉ huy hành quân đón chúng tôi ở chợ Snuol điêu tàn. Ông bắt tay tôi khen ngợi và lệnh cho sĩ quan tùy viên lấy tên tuổi, số quân tôi và các chiến sĩ do tôi đề nghị. Chiếc bông mai ông hứa hẹn đem cho tôi vinh dự, nhưng không mấy hài lòng, vì tôi sắp đến ngày thăng cấp đương nhiên theo quy chế hiện dịch. Sau này, Bộ Tổng Tham Mưu ân thưởng cho tôi tấm Anh Dũng Bội Tinh với nhành dương liễu.


Nghỉ ngơi vài hôm, chúng tôi lên đường hành quân sâu về hướng bắc, đánh thêm vài trận cũng kinh hồn không kém. Có lần, chúng tôi vào tận nơi gọi là Trường Huấn Luyện của Cục R, tứ bề thọ địch, trên vai còn cõng theo thương binh và một số vũ khí tịch thu chưa có phương tiện chuyển vận về chiến đoàn. Nhờ phi cơ yểm trợ đắc lực, chúng tôi đã an toàn rút ra sau khi giết hết các bộ-đội hậu cần và đốt cháy rụi toàn bộ cơ sở địch.


Trận đánh ngày 27 tháng 2 là trận đại phục thù. Việt Cộng (VC) cho trinh sát theo dõi đường tiến quân ta từ cả tuần lễ, và chờ khi tiểu đoàn đi vào địa điểm bất lợi do họ dự liệu trước. Trung Ðoàn 174 VC được tăng cường thêm đơn vị của Trung Ðoàn 165, pháo lớn và đặc công từ mạn rừng tấn công ồ ạt ngay khi quân ta vừa dừng bên suối nước tạm nghỉ quân chuẩn bị ăn uống.

Image

Ðại Ðội Chỉ Huy đóng trong làng Trapeang Leak bị tràn ngập ngay. Binh sĩ tan tác chạy về chiến đoàn, nhưng tổn thất nhẹ. Hùng "đầu lâu" đang cởi trần tắm rửa, không kịp mặc áo, ôm bản đồ dọt về phía tôi. Nhìn lui thấy cả một rừng nón cối và áo quần xanh lá mạ, ôi người đâu là người. Chúng vừa chạy vừa hô to đòi bắt sống chúng tôi: "Cái thằng cao cao, cầm bản đồ kia, chỉ huy đấy, bắt sống nó."


Ðạn cối và pháo binh địch bắn chặn đường phía nam. Một đơn vị phía tây án ngữ lối ra. Tiểu đoàn trưởng kêu gọi ở lại cầm cự. Có một điều là đêm trước, chiến đoàn đã bị pháo kích trúng kho đạn, thông báo đến các đơn vị nếu có chạm địch sẽ không có pháo yểm trợ. Nhờ những gốc cao su lớn, chúng tôi có điểm tựa, cầm cự đến trưa và mở được đường máu rút về phía nam, tập trung quân số phản công trở lại. Thiếu Tá Nguyễn Ða dẫn Tiểu Ðoàn 2/9 lên tiếp trợ chiếm lại mục tiêu, thu nhặt chiến trường. Tiểu đoàn tổn thất ở mức trung bình. Riêng đại đội tôi chỉ có thương binh mà không có tử sĩ. Ai cũng bảo tôi cầm quân mát tay.


Tướng Trí tử nạn phi cơ một tháng sau đó. Tướng Minh từ Vùng 4 về thế, không có những phương lược chính xác và táo bạo, đưa Chiến Ðoàn 8 (thay thế Chiến Ðoàn 9 về nước vào giữa tháng 3 năm 1971) vào thế nan giải, một mình chịu áp lực của 3 công trường địch. Và thảm họa Snuol đã xảy ra. Sư Ðoàn 5 phải mất một thời gian dài mới khôi phục lại khí thế.


Trận Bình Long mùa hè đỏ lửa 1972, với Lê Văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ anh hùng, với hàng ngàn chiến sĩ quả cảm, sư đoàn đã ghi một chiến tích lẫy lừng vào quân sử. Giờ đây Tướng Hưng, Tướng Vỹ đã lấy cái chết dũng liệt để đền nợ nước, bảo toàn khí tiết, chiếm một chỗ đứng cao quý trong lòng tiếc thương của đồng bào, chiến sĩ.


Quách Kế Nhơn, Ðào Chính Tường, Nguyễn Trọng Thủy, Nguyễn Văn Mâu và bao người đã về lòng đất mẹ. Bồi trở về nếp sống dân thường sau chuyến du ngoạn Ðài Loan do được chọn là chiến sĩ xuất sắc nhất Quân Ðoàn 3. Anh may mắn không đi cải tạo, nhưng lại rủi không đủ điều kiện xuất cảnh HO. Mai Thanh Tòng (thuộc Ban 5) nay ở New Jersey. Nhớ lúc đem quân trở lại, cứu anh từ hố cá nhân đã lọt trong sự kiểm soát của địch, anh méo cả mặt: "Trời ơi, thấy cái ống quần của nó ngay trên miệng hố!" Nguyễn Chí Hiền thì ở Pháp, lâu lâu thư từ thăm nhau gắn bó như ngày xưa.


Còn Hùng "đầu lâu," còn bao nhiêu anh em khác, như bầy nghé tan đàn, kẻ tha phương, người ở lại âm thầm chịu cảnh sống đắng cay tủi nhục; có còn nhớ đến nhau không, có còn ngồi bên tách cà phê ôn lại quá khứ anh hùng, những ngày cơm sấy cá khô, chia sẻ gian lao sinh tử và tình đồng đội thắm thiết, và niềm tự hào của người chiến binh.

HẾT

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

VÙNG XÔI ĐẬU_ HỒI KÝ CB/XDNT
VUI XUÂN HẢI NGOẠI NHỚ ƠN CHIẾN SĨ VNCH
Image



Ghi ơn và tưởng nhớ Chiến Sĩ Áo Đen đã nằm xuống trên khắp nẽo đường đất nước

Hồi ký của Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn
Hương Quế & Hoàng Vũ



Thắm thoát đã 16 năm, rời quê hương theo chương trình nhận đạo H.Ọ Chúng tôi có chung kỷ niệm vui buồn với ngày tháng cũ "khoác áo màu đen xây dựng nông thôn". Lìa xa đất tổ trên cùng một chuyến bay, gạt lệ nhìn lại quê hương lần cuối khuất dần rồi mất hút... cho tới hôm nay, sau những tháng ngày vất vả để hội nhập vào nước Mỹ, chúng tôi mới có dịp nhớ lại những lần đụng độ với VC của Liên đoàn 2, Cán Bộ XDNT tỉnh Phước Tuy từ năm 1967 đến năm 1970.

Về chính sách và đường lối Xây Dựng Nông Thôn của Việt Nam Cộng Hòa, Gia đình CB/XDNT Bắc California có những bài viết và phổ biến trên Web Site: www.langchaị com. Dù thời gian đã qua lâu lắm rồi, hôm nay chúng tôi xin mạo muội tường thuật lại vài trận chạm trán với VC tại các xã "vùng xôi đậu" quận Đất
Đỏ - Phước Tuỵ

1- Tháng 4, 1967

Nguồn tin từ mật báo viên cho biết tối nay, VC sẽ về thu thuế và khủng bố dân làng tại ấp Hội Bài, xã Hội Mỹ. quận Đất Đỏ. Phối kiểm được nguồn tin đó, anh Liên đoàn trưởng (LĐT) LDD2, họp với BCH Đoàn PT/3, trú đóng cạnh Ủy Ban hành chánh Xã Hội Mỹ. Ngay sau đó, Đoàn trưởng (ĐT) Nguyễn Văn Ký, Đoàn
phó (ĐP) Trần Văn Hiền võ trang cho một toán cán bộ đến phục kích tại Lò Nước Mắm cách BCH Đoàn khoảng 300 mét.

Đúng như mật báo viên đưa tin, vào lúc 8 giờ30 tối, một toán VC võ trang đột nhập vào ấp, đi trên đường từ mật khu Minh Đạm, băng qua ruộng lên lộ 44, cách toán phục kích của ta độ 30 mét. ĐT Nguyễn Văn Ký phát lệnh bấm nút khai hỏa 2 trái mìn claymore, nổ súng và ném lựu đạn vào những bóng đen đang lù lù tiến tới. Chúng bị rơi vào toán phục kích của ta, bất ngờ và trở tay không kịp, chúng cố gắng bắn trả dữ dội trong vòng 10 phút rồi rút luị Anh em cán bộ đi lục soát, thấy có nhiều vết máu, tịch thâu được 2 võng nylon, một ống loa làm bằng thiếc, một số than cục và một biểu ngữ có nội dung: "giết một tên cán bộ XDNT bằng 3 tên xâm lược Mỹ".

Ngày hôm sau, mật báo viên của ta cho biết lực lượng của VC về đêm qua, chạm súng với CB/XDNT, đó là lực lượng cơ động của xã Long-Phướ c-Hội (tức là 3 xã Long Mỹ, Phước Hải và Hội Mỹ), chúng chết 2, bị thương 6. Tại sao chúng tôi biết rõ như vậy? Vì trong đêm đó bọn VC bắt anh Ba C. dân trong ấp, khiêng bị
thương vào mật khu Minh Đạm (xã Hội Mỹ , quận Đất Đỏ giáp ranh với xã Tam Phước, quận Long Điền). Cũng xin nói thêm, thành tích này là của 2 cán bộ lãnh đạo Đoàn PT/3:

1. ĐT Nguyễn Văn Ký, sau năm 1975 đi tù CS về, đau nặng qua đơì tại VN.
2. ĐP Trần Văn Hiền, sau năm 1975 đi tù CS về, qua Mỹ theo chương trình nhân đạo H.O, ba năm sau bị trọng bệnh mất tại Hoa Kỳ.


2- Tết Mậu Thân, 1968

Nguồn tin từ Trung ương đến tỉnh, quận cho biết Tết năm nay có hưu chiến mà Tỉnh đoàn lại đều động quân số cán bộ từ chỗ này tăng cường chỗ khác cho phù họp với tình hình chung. Thế là anh em cán bộ nhận nhiệm vụ lên đường công tác cũng như một số anh em đi phép theo thứ tự phân chia, trong những ngày áp Tết mà tiền lương chưa có. Chúng tôi còn nhớ một anh cán bộ thuộc Đoàn PT/I Phước Hải có sáng tác đoạn thơ chua (xin kể lại cho vui):

Tết nhất năm nay thấy phát eo
Tiền lương chưa có mua thèo lèo
Cho đàn em nhỏ ba ngày Tết
Bụng đói chân run dạ phát teo
Cán bộ lên đường nhăn nhó mặt
Văn phòng bó gối buồn chèo queo !

Bọn đầu sỏ CS Hànội vi phạm thỏa ước hưu chiến, tung các Sư đoàn thiện chiến với vũ khí cơ giới tối tân do Nga Tàu cung cấp, mở chiến dịch tổng công kích trên toàn lãnh thổ Việt Nam cộng Hoà từ Quảng Trị đến Cà Mau, các tỉnh, quận và thành phố lớn của ta trong dịp hưu chiến 48 giờ mà hai bên đã ký kết.

Đoàn PT1/CB/XDNT đóng tại miễu ông Chủ xã Phước Hải quận Đất Đỏ, tỉnh Phước Tuỵ Xã này nằm sát mật khu Minh Đạm, rừng núi hiểm trở giáp ranh với Nước Ngọt, xã Long Hải, quận Long Điền về hướng tây. Phước Hải là xã lớn nhứt, nhì trên 23 xã trong toàn tỉnh. Xã có 4: ấp Hải Lạc, Hải Trung, Hải An và Lộc An, dân số 9.830 người với 2.107 nóc giạ Phân loại: 187 gia đình có con em theo CS, 195 tên thuộc các loại du kích xã, chủ lực huyện, cơ động tỉnh. Về phía Quốc gia: Chủ lực quân và Địa phương quân 14 người, Nghĩa quân 63 người, Hành chánh xã, ấp 45 người, CB/XDNT 15 người (tài liệu kiểm tra tháng 11/1967), dân trong xã đa số sống bằng nghề chài lưới:

Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới
Nước bao vây cách biển nửa ngày sông
Khi trời trong gió nhẹ áng mây hồng
Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá ...
(Tế Hanh)

Xã Phước Hải, vùng cát, nóng gió mà Đoàn PT/I bị VC bao vây trong vòng 2 tuần lễ , không liên lạc được với đồng bào, với người thân. Cũng may, BCH Liên đoàn 2 đến sinh hoạt với Đoàn PT/1 và ở lại luôn cùng sống chết với anh em. Đoàn có chuẩn bị lương khô, nước có sẳn giếng tại hậu cứ đoàn, hệ thống phòng thủ khá, vũ khí thì VC không rõ Đoàn PT/I có loại gì? Chúng chỉ biết CB/XDNT có Carbine M1, garand M1, M.3A1 và 2 trung liên B.ẠR. (đầu bạc). Thêm vào đó xin được đơn vị bạn là Tr/Úy CTĐ,đại đội thuộc TĐ2/SĐ18 BB đóng tại ngã ba Phước Hải tặng 15 quả mìn claymore và 7 khẩu M-72, chừng đó đủ đánh với VC ở
cấp xã, huyện.

Trong những ngày dầu sôi lửa bỏng đó, Đoàn PT/I đêm nào cũng nghe VC phát loa kêu gọi đầu hàng, không theo giặc Mỹ v.v...và thỉnh thoảng có vài tên bò sát hàng rào phòng thủ, bi cán bộ phát hiện, nổ súng và bắn phóng lựu vào chỗ ẩn núp là chúng im re (đồng bào ban đêm đều ngủ dưới hầm). BCH Liên đoàn và
Đoàn Phó Trần S. thức trắng đêm lo tuần tiểu canh gác chung quanh hậu cứ để kịp thời ứng chiến. Có một điểm nổi bật mà chúng tôi không bao giờ quên, là một nữ cán bộ trẻ tên LB,hát hay, đờn giỏi, thông minh, lanh lợi, biết tháo vác, biết tính toán mọi việc. Nàng tình nguyện về Đoàn PT/I, cùng chung kham khổ, sống chết với anh em, mỗi lần sinh hoạt nàng đàn cho anh em hát bài Nông Thôn Quật Khởi:

... Cán bộ với Dân tuy hai mà một
Cán bộ với Dân góp một thành hai
Dân tin yêu mến thương Cán bộ
Vui bên nhau vững lòng tranh đấu
Cùng đấp xây Việt Nam ...

Cuộc tổng công kích của Cộng sản Bắc Việt vào Tết Mậu thân 1968 -phá vỡ thỏa hiệp ngưng bắn vào những ngày Tết linh thiêng của dân tộc, đã thất bại hoàn toàn trên các mặt trận, do sự chiến đấu anh dũng của quân, dân miền Nam, và cuối cùng đã phải rút về ẩn trốn trong những núi rừng Trường Sơn trùng trùng điệp điệp...

CS đã thể hiện cho đồng bào Miền Nam thấy rõ bộ mặt tráo trở, lật lọng của chúng, như lời Cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã từng nói: "Đừng nghe những gì CS nói mà hãy nhìn kỹ những gì CS làm"

3- Tháng 9, 1969

Ấp Hội Cửu, xã Hội Mỹ, quận Đất Đỏ, nằm ngay trên trục lộ 44, đông giáp ruộng và rừng chồi sát biển; tây giáp ruộng rừng, đến mật khu Minh Đạm; nam giáp đồi cát có đồn Lò Gốm (Trung đội Địa phương quân trú đóng) đến xã Phước Hải; bắc giáp cánh đồng ruộng xã Phước Lợi (Gò Tre).

Ấp này là một trục lộ chiến lược, vì VC thường xuyên từ mật khu Minh Đạm di quân qua mật khu Mây Tào và ngược lại, là một con đường giao liên, tiếp tế trọng yếu của địch. Ấp có 67 nóc gia với dân số khoảng 750 người, 97% sống về nghề ruộng, rừng. Ban ngày từ quận Đất Đỏ muốn đến xã Hội Mỹ, Chi khu trưởng phải cho lệnh Th/tá H. đưa Địa phương an ninh và mở đường mới đến nơi an toàn. Thế mà, sau phiên họp tại tỉnh, Chủ tịch Hội đồng XDNT (Tr/Tá HBS), và Tỉnh đoàn trưởng CB/XDNT (Đ/Úy DND), đã quyết định đưa đến đây một Đoàn CB/XDNT 30 người vào ngày 3/9/1969.

Vừa đến nơi, ĐT Đặng Hướng và ĐP TTM đôn đốc anh em tranh tối tranh sáng lo xây vọng gác bằng bao cát, đào giao thông hào phòng thủ và hàng rào cản concertina có gài mìn, lựu đạn vào ban đêm (mới vừa kéo được một lớp kẽm gai). Biết vị trí đóng quân của Đoàn PT/9 rất quan trọng và nguy hiểm, nên chiều
ngày 5/9/1969, BCH Liên đoàn 2 đến sinh hoạt và ở lại đêm với Đoàn. Chúng tôi còn nhớ rất rõ, khoảng 5 giờchiều, anh LĐT gọi anh Hướng, anh M. cùng 2 anh Toán trưởng Dân quân và Xây dựng họp ngay, kế đó, cho cán bộ nghiên cứu tình hình chung quanh, bắn thử trái khói trắng vào mục tiêu khả nghi có thể VC ẩn
nấp tấn công Đoàn, anh em chọn lầm (thay vì trái khói màu trắng ra trái khói màu) nên Quận hỏi thăm có chuyện gì?

Anh Liên đoàn trưởng không phải mê tín dị đoan, nhưng anh tối kỵ nhất là tiếng te te kêu và thấy ban chiều anh em chọn lầm trái khói đỏ, nên trong dạ cứ bồn chồn, linh tính như báo trước điềm gì, anh nghi là đêm nay hoặc đêm mai VC có thể về đây để đánh ta (tin từ mật báo viên xã Phước Hải cho biết).
Thế là tất cả chuẩn bị lau chùi súng đạn, hỏa lực cá nhân mang tối đa, súng phóng lựu Grand-M1, trung liên B.ẠR (Browning Automatic Rifle), mìn claymore đặt đúng vị trí, cán bộ phụ trách bấm nút khi có tín hiệu, cũng như các phần vụ khác... Ngoài ra, BCH Liên đoàn đã chấm tọa độ ở những nơi trọng yếu, nhứt là gò mã vôi của người Trung hoa, trình về tỉnh, quận để xin yểm trợ pháo binh khi cần thiết.

Lúc 10giờ 45 phút, đêm 5 rạng 6/9/1969, bên ngoài bỗng trở gió mạnh, mây đen bao phủ trên vòm trời, cảnh vật chung quanh thấy rợn người. Trong tít tắt, công quân bắt đầu pháo kích vào hậu cứ Đoàn, bằng các loại súng B40, B41 và súng cối 61 với 35 trái đạn đủ loại, còn tiếp tục bắn trung liên, tiểu liên đồng thời hô to "xung phong" có thổi kèn tiến quân từ 3 mặt giáp công, chúng bám sát càng lúc càng gần, cán bộ An gác cổng chính tử thương, chúng tôi còn nghe rõ băng carbine anh An bắn trả lại VC, cùng lúc anh Huỳnh Muội thủ cây trung liên ở vọng gác số 2 cũng tử thương, lúc này VC đã đến sát hàng rào kẽm gai, bọn chúng bị anh em cán bộ bắn trả lại, bấm mìn claymore, ném lựu đạn ... trong đêm tối cát bay mù mịt, mùi thuốc súng bốc lên khét nghẹt, địch áp dụng chiến thuật "tiền pháo hậu xung", tấn công chớp nhoáng, BCH Liên đoàn 2, trực tiếp ở hầm truyền tin gọi pháo binh yểm trợ

Khoảng 5 phút sau, pháo binh 105 ly từ Chi khu Đất đỏ rót đạn xuống đúng mục tiêu, địch im dần tiếng súng ... bầu trời lúc bấy giờvẫn tối đen như mực, chúng tôi nghe anh LĐT bảo anh Đoàn trưởng và Đoàn phó bò ra giao thông hào kiểm tra xem tình hình chung như thế nào và trở lại báo cáo ngay để có biện pháp thích ứng. Trong vòng 10 phút , hai anh vào cho biết:
- 2 cán bộ An và Muội tử thương
- 6 cán bộ bị thương đang băng bó .

Một cuộc họp chớp nhoáng được diễn ra tại chỗ :
- phân bổ cán bộ đều khắp trạm gác và giao thông hào
- còn lại 2 thùng lựu đạn chia đều cho anh em
- chỉ chơi lựu đạn với VC, vì súng bị cát vào nòng không xử dụng được
- liên lạc tỉnh, quận xin trực thăng để tãi thương khi tình hình cho phép.

Quả như tiên liệu, đúng 11 giờ 30, VC trở lại lần nữa, thổi kèn và phát loa kêu gọi "hàng sống, chống chết" vừa dứt tiếng loa, tiếp theo là một phóng lựu VC bắn vào hậu cứ Đoàn và hô to "xung phong", ĐT Đặng Hướng đang kiểm soát tình hình bên ngoài thì bị trúng thương nặng. Lúc bấy giờ anh LĐT gọi pháo binh của Tr/Úy S. bắn yểm trợ tiếp tục và đạn pháo binh rơi xuống thật chính xác, nên chúng câm họng rút lui và tình hình trở nên yên tĩnh.

Trong khi chờ sáng, anh em CB/XDNT ngơ ngẩn nhìn nhau xót xa, trước mắt là 3 xác đồng đội máu me lai láng còn nằm đó, cán bộ bị thương được y tá đoàn băng bó nằm ở hầm truyền tin chờ đợi tãi thương, đất cát tung tóe, miểng đạn nằm ngổn ngang, vách tường chùa kế bên đoàn bị sập, quang cảnh trông thật tang thương!

Đúng 6 giờsáng ngày 6/9/1969, như thường lệ CB/XDNT phải khai thông lộ 44, nhưng hôm nay khác thường một chút, là đồng bào xôn xao bàn tán tình hình đêm qua Đoàn CB/XDNT bị VC cấp Tiểu đoàn bao vây và tấn công. Anh LĐT bảo anh em kéo concertina cho xe đò qua lại, rồi cùng nhau đi kiểm soát chung quanh hậu cứ. Trung Tâm Hành Quân tỉnh Phước Tuy , do Tr/Tá Tỉnh trưởng HBS, Đ/Uy DND, TDDT/CBXDNT và Tiểu khu băng qua cánh đồng ruộng khô, đến với
Đoàn PT/9, cũng như Chi khu trưởng Đất Đỏ cũng có mặt an ủi và ủy lạo anh em cán bộ đã trãi qua trận đụng độ hải hùng mà vẫn thủ được thành!

Kết quả tại hiện trường như sau:

Về phía địch. -

Tại gò mã vôi cách vọng gác số 3 của Đoàn PT/9 chừng 18 m, VC bỏ lại:
- 1 xác tại chỗ, lấy giấy tờ trong túi ra xem, tên là Trần Hồng, Tiểu đoàn trưởng TĐ. D-45 tỉnh Bà Long (Ba Rịa - Long Khánh).
- 1 cây cờ hiệu vải đỏ
- 1 K- 54 với 6 gắp đạn
- 1 võng nylon và 600 đồng tiền VNCH
- nhiều vết máu trên mặt đất, VC lơi dụng đêm tối tải thương đi nên không nắm vững số thương vong chính xác của địch.
- 3 quả mìn DH-10 Trung cộng (như cái nón lá nhỏ) gài trước cổng chính hậu cứ Đoàn..

Về phía tạ-
- 3 cán bộ tử thương: DT Đặng Hướng, CB Huỳnh Văn An và Huỳnh Muội .
- 6 cán bộ bị thương, được trực thăng tải thương về bệnh viện Vũng Tàu điều trị

Đoàn CB/XDNT 30 người vừa nhận vị trí mới, vỏn vẹn có 2 ngày, công sự phòng thủ rất sơ sài, giao thông hào đang đào dỡ dang thế mà phải lấy "trứng chọi đá " đương đầu với một Tiểu đoàn VC tấn công "tiền pháo hậu xung" chớp nhoáng như vây.
Kinh nghiệm của anh LĐTrưởng đang có mặt tại chỗ làm tăng thêm tinh thần và ý chí chiến đâu của anh em khiến địch không thể tràn vào bắt sống hoặc xóa sổ Đoàn PT9/CB/XDNT.

Quan tài 3 cán bộ tử thương, được quàn tại Hội trường Tỉnh và sau đó thân nhân đưa về an táng tại nơi sinh sống. Số cán bộ Đoàn PT/9 còn lại, nhận sự đãi ngộ xứng đáng (mục tiêu chót trong 11 Mục Tiêu CB/XDNT) của Đại Tá Nguyễn Bé CHT.TTHL/CB/XDNT đưa về an dưỡng, tuyên dương tại Vũng Tàu và ba ngày
sau trở về tỉnh Phước Tuy tiếp tục công tác. Trận đánh này cũng là đề tài nóng bỏng mà anh LĐT/ LĐ2 được mời tường trình lại cho khóa sinh đang thụ huấn tại Trung Tâm. Trung ương, Tỉnh, Quận đều có văn thư khen ngợi Đoàn PT/9 Cán bộ Xây dựng Nông Thôn Phước Tuy, chiến đấu một cách hào hùng với cấp số địch áp đảo.

Đoàn CB/XDNT- VNCH âm thầm đi vào "vùng xôi đậu " bằng công tác thu phục nhân tâm, đem ánh sáng niềm tin chính nghĩa, đem tự do và phúc lợi cho nhân dân. Họ đâu có ngờ công tác của họ bị VC treo giá quá đắt "giết một cán bộ XDNT bằng 3 tên xâm lược Mỹ", nên Đoàn CB/XDNT bị VC rình rập, bám sát ngày đêm để triệt hạ bằng mọi giá hầu "dành dân chiếm đất - lấy nông thôn bao vậy thành thị - dùng rừng núi khống chế đồng bằng."

Trên ba mươi năm lạnh lùng trôi qua, giờ đây chúng tôi đã ngoài lục tuần, trên hình thức XDNT tuy không còn nữa, nhưng hình ảnh của màu áo đen lam lũ, của đồng đội thân thương "vì dân chiến đấu - vì nước vong thân", đã gục ngã trong lòng đất mẹ Việt Nam, là kỷ niệm muôn đời khắc ghi trong tim não.

Xin một lần viết và nhắc đến tên các anh: Phạm Công Ngọc Hải, Bùi Thiện Thọ, Đặng Hướng, Huỳnh Văn An, Huỳnh Muội ...
Bài Ca Truy Điệu này chúng tôi, những người CB/XDNT còn lại, đồng kính cẩn nghiêng mình, chiêu hồn tử sĩ trở về với nhũng "Đêm Suy Tư" dưới ánh đuốc bập bùng giữa núi đồi Chí Linh - Lam Sơn - Hồng Lĩnh:

Hồn thiêng ngút cao trên mây ngàn đời
Kết hoa tinh anh một nền hòa bình
Giờ đây phút giây trang nghiêm nhìn về
Lớp sau xin dâng trọn đời vì Dân
Hồn ơi dù thác có linh thiêng
Mồ kia đã kết nắm trong tim
Gian nguy chẳng sờn chúng tôi xin dâng
lời thề nguyện dựng xây quê hương ...

Hương Quế - Hoàng Vũ
Gia Đình Cán Bộ XDNT Bắc California
Tháng giêng 2007

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Dạ tiệc 30 năm hội ngộ SĐ18BB

Phần 1
[video width=400 height=350][/video]

Phần 2
[video width=400 height=350][/video]

dacung
Posts: 409
Joined: Tue Dec 13, 2005 6:26 am
Location: USA
Contact:

Post by dacung »


Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

LÝ TỐNG KHÔNG BỊ DẪN ĐỘ

Tin tức mới nhất ,vừa nhận được từ Thái lan của hãng thông tấn ẠP , Chiến sĩ Không Quân LÝ TỐNG KHÔNG BỊ DẪN ĐỘ VỀ VIỆT NAM trong phien toà kháng án vào sáng hôm nay thứ ba 3 tháng 4 năm 2007. Như vậy khoảng 10 ngày nữa Không Quân Lý Tống sẽ trở về Hoa kỳ .

(tin này của website Cánh Thép và của thân hữu Lý Tống ở Sydney )

Post Reply