Quán Vắng không Người ...3
Moderator: khieulong
-
Nguyễn_Sydney
- Posts: 2581
- Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
- Been thanked: 1 time
Ngày Công Lý cho Việt nam
The Victims of Communism Memorial Foundation ,một tổ chức Quốc tế có sự tham dự của người Việt Tị nạn đang xây dựng một Tượng Đài tại thủ đô Washington ,dự trù khánh thành vào tháng 6 /2007
Đây là Tượng Đài Tưởng niệm Nạn Nhân Cộng sản Quốc tế đầu tiên trên Thế giới mà người VN đã có Vinh dự góp mặt.Và Ngày Công Lý cho nạn nhân Cộng sản sẽ là cơ hội để chúng ta xác nhận lòng y6eu chuộng Tự Do ,tinh thần đấu tranh ,tình đoàn kết và nghĩa vụ đạo đức với hơn 1 triệu đồng bào bị giết hại vì sự tàn bạo của Cộng sản.
Một buổi Đại nhạc Hội Ngoài Trời gây quỷ yểm trợ sẽ được tổ chức tại Bolsa Garden Westminter vào ngày 15 tháng 4 /2007 tới đây.
Phần Âm nhạc sẽ do Trung tâm Asia đảm nhận sẽ bao gồm nhiều Ca sĩ Nổi tiếng ở Nam Cali tham dự.Và sự tham gia của phong trào hưng Ca Người điều khiển chương trình sẽ là MC Nam Lộc.
Mọi chi tiết xin lạc với Nghệ sĩ Nam Lộc hay Trung tâm Asia.
The Victims of Communism Memorial Foundation ,một tổ chức Quốc tế có sự tham dự của người Việt Tị nạn đang xây dựng một Tượng Đài tại thủ đô Washington ,dự trù khánh thành vào tháng 6 /2007
Đây là Tượng Đài Tưởng niệm Nạn Nhân Cộng sản Quốc tế đầu tiên trên Thế giới mà người VN đã có Vinh dự góp mặt.Và Ngày Công Lý cho nạn nhân Cộng sản sẽ là cơ hội để chúng ta xác nhận lòng y6eu chuộng Tự Do ,tinh thần đấu tranh ,tình đoàn kết và nghĩa vụ đạo đức với hơn 1 triệu đồng bào bị giết hại vì sự tàn bạo của Cộng sản.
Một buổi Đại nhạc Hội Ngoài Trời gây quỷ yểm trợ sẽ được tổ chức tại Bolsa Garden Westminter vào ngày 15 tháng 4 /2007 tới đây.
Phần Âm nhạc sẽ do Trung tâm Asia đảm nhận sẽ bao gồm nhiều Ca sĩ Nổi tiếng ở Nam Cali tham dự.Và sự tham gia của phong trào hưng Ca Người điều khiển chương trình sẽ là MC Nam Lộc.
Mọi chi tiết xin lạc với Nghệ sĩ Nam Lộc hay Trung tâm Asia.
CHUYỆN THỂ DỤC CỦA CÁC ÔNG
Kathy Trần
Đây không phải là chuyện giỡn chơi mà là chuyện quan trọng, nghiêm trang, trí thức và khoa học đàng hoàng.
Chuyện đang nói đây là cuộc khảo cứu cuả một bà bác sỹ: Bác sỹ Karen Weatherby, chỉ huy chương trình khảo cứu cho cơ quan y tế Đức. Kết quả cuộc khảo cứu về vấn đề ...thể dục bằng mắt của các ông được cho đăng trên New England Journal, một tờ báo rất có uy tín và đàng hoàng.
Tiểu muội xin trình lại kết quả khảo cứu cuả bà như sau:
Khích động tình dục khiến tim đập nhanh, gia tăng lưu lượng máu. Do đó, khi nhìn ngắm những bộ ngực đồ sộ, hấp dẫn làm các ông khoẻ mạnh hơn lên.
Cuộc nghiên cứu khoa học còn ghi chép kỹ lưỡng về thời gian cần dùng trong việc tập thể dục rất thích thú này:
Cuộc nghiên cúu cuả chúng tôi cho thấy nếu các ông luyện tập theo phương pháp này chừng 10 phút mỗi ngày thì có thể giảm nguy cơ nhồi máu cơ tim (heart attack) hay đứt mạch máu não (Stroke) tới 50%.
Ông Bồ Hòn đọc đến đó thì... đã quá, bèn kêu ầm lên rằng từ ngày ông đọc được bài báo thì ông đâm ra chăm chỉ tập thể... dục bằng mắt lắm. Bởi vì môn thể dục này thích hợp với ông lắm, rằng nhất cử tam tứ tiện, rằng chỉ xử dụng có đôi mắt, hai tay vẫn rót rượu, nâng ly nhâm nhi mà thấy máu chảy ào ào trong huyết quản.
Ðàn ông chỉ cần được ngắm những người đẹp với thân hình bốc lửa (?) trong vòng 10 phút là đủ tốt như các ông tập thể dục trong 30 phút.
Ông khoe rằng mới đầu ông theo đúng lời dậy của bác sỹ là chỉ tập đúng 10 phút vì sợ bắt đầu mà vất vả quá thì không nên nhưng sau thấy 10 phút ngắn ngủi, phù du quá, chưa đã. Hơn nữa, kết quả tốt quá nên ông tự động tăng tập thể dục thêm lên mãi.
Theo ông Bồ Hòn, Tập thể dục kiểu này đã lắm, chẳng những máu chạy nhanh mà cholesteron xấu tan đi ào ào. ông Bồ Hòn chỉ lo rằng các bà không cho phép các ông tập thể dục theo phương pháp KAREN thôi. Thứ nhất là tốn tiền mua... dụng cụ thể dục như: Play Boy, PenHouse vv...
Thứ nhì là trong khi các ông tập thể dục mặt mũi cứ phớn phở hay cứ đờ ra vì sung sướng thì các bà ứa gan lắm dù nghiên cứu nhấn mạnh:
Chúng tôi tin rằng nếu các ông chịu khó luyện tập cách này thì họ sẽ thọ thêm được từ 4 tới 5 năm.
Vì có hiệu quả tốt như vậy nên các ông phải kiên nhẫn thuyết phục đối phương rằng phương pháp thể dục này rất tốt, rất khoa học, rất thực tế...
Hơn nữa, ông Bồ Hòn còn khuyến khích các ông nên tìm cách cải thiện phương pháp tập thể dục bằng cách ... nhìn... của thật thì chắc chắn hiệu quả tốt bằng mấy lần ...xem hình.
Quan trọng nhất là làm sao để các bà cũng được hưởng cái lợi cuả môn thể dục này cơ thì họ mới vui lòng chuẩn y cho phe ta được chính thức tập thể... dục, khoan khoái hay hì hục tập thể dục!
Sau cùng ông nhân danh các ông đàn ông, trịnh trọng cám ơn bà bác sỹ Karen đã cho các ông cơ hội sống vui, sống khoẻ, sống sướng thêm 4, 5 năm nữa!
***
Bà Hoạn Thư tân thời nghiến răng: - Cái thằng cha đoản hậu, vợ con đùm đề mà còn dê!
Ông Nể Vợ nhìn quanh, không thấy bóng bà vợ đâu mới nhỏ nhẹ: - Bà chỉ nói quá. Ông Bồ Hòn chỉ nói chuyện khoa học, có nhân sự, có nghiên cứu, có bằng chứng được đăng báo rõ ràng chứ có phải phóng bút nói bừa, nói dóc để lừa gạt vợ nhà đâu? Hơn nữa, ông ấy chỉ tập thể dục bằng mắt theo đúng lời bác sỹ Karen, theo đúng nghiên cứu khoa học chứ có làm gì đâu mà bà kết tội rằng ông ấy dê?
Bà Hoạn Thư trợn mắt: - Này, ông có ý đồ gì mà bênh nó chằm chằm vậy? Tập thể dục gì mà mắt thì dán vào hình khoả thân, tay cầm ly ruợu nhâm nhi, mặt thì thộn ra! Thật chẳng ra cái thống chế gì cả!
Ông Nể Vợ gắt nhỏ: - Xin bà nói nho nhỏ cho tôi nhờ. Chẳng ý đồ với ý đạc gì cả. Tôi chỉ nói công bằng thôi. Khoa học, bác sỹ người ta bảo làm ...thế là tốt cho sức khoẻ thì chúng tôi làm, chẳng có gì sai trái cả. Còn chuyện sướng thì ...thấy khoẻ trong người thì chúng tôi phải vui, phải sướng, có gì bà phải phàn nàn?
Bà Hoạn Thư hứ lên một tiếng: - Khoa học đâu thì tôi không biết, chứ tập thể dục kiểu bà Karen với ông Bồ Hòn thì còn lâu tôi mới cho lão họ Thúc nhà tôi bắt chước. Thà chồng chết sớm mấy năm còn hơn mua ...dụng cụ thể thao kiểu đó cho lão.
Ông Nể Vợ kêu lên: - Thế là các bà không biết lo cho tương lai, sức khoẻ cuả chồng rồi, thế là các bà không biết yêu thương, quý mến chồng.
Bà Hoạn Thư nói ngọt như mía: - Ai yêu thương quý mền chồng thì mặc kệ người ta. Tôi thì tôi cứ phải canh lão cho kỹ, tôi theo đúng lời các cụ đấy: Kiến trong miệng bát có bò đi đâu. Thế, bỏ ngay vào trong bát mà còn chưa xong đấy. Mai em Kiều này, mốt em Kiều nọ, huống gì thêm chuyện tập thể dục bằng mắt này.
Bà tò mò: - Thế bà vợ ông bằng lòng cho ông tập thật đấy à?
- Không, làm gì tôi có diễm phúc có người vợ lý tưởng thế. Ấy, cứ lúc nào không có bà vợ tôi ở nhà tranh thủ tập ngay.Đấy là tôi biết lo xa. Tôi lo cho thân tôi, tôi lo cho sức khỏe và tuổi thọ của tôi nên phải vội vã lo cho xong 10 phút thể dục phù du kẻo bà ấy về thì còn lâu.
Bà Hoạn Thư bĩu môi: - Gớm, các ông gian dối thế đấy.
- Gian dối gì, có tí quyền tập thể... dục mà cũng cấm, thế mà dám đòi nói chuyện nhân quyền! Chỉ sướng mấy ông độc thân, thà hồ mà thể dục, thể thao.
Ông chợt nhỏ giọng xuống, vội vã thì thầm: - Chết, xin bà. Vợ tôi nó vào đấy, chúng ta chấm dứt cuộc tranh luận nhá.
***
Trên là chuyện y học cho các ông, dưới là chuyện viên thuốc ngừa thai của các bà.
Từ mấy chục năm nay, những viên thuốc ngừa thai xinh xinh vẫn được coi như là một bước tiến lớn cuả cuộc cách mạng tình dục.
Nhờ có viên thuốc, người phụ nữ trẻ gần như hoàn toàn điều khiển được việc thai nghén cuả mình: Khi nào muốn có con? Mấy đứa? Cách nhau bao lâu.
Riêng các bà nưả chừng xuân thì nhờ viên thuốc có chất kích thích tố nữ Estrogen nên kéo dài thêm sự tươi trẻ sau khi ...em dứt đường tơ!
Viên thuốc từ lâu vẫn bị nghi ngờ là thủ phạm cuả chứng ung thư nhưng mới đây, theo các cuộc nghiên cứu mới thì lại càng bị đặt câu hỏi nhiều hơn. Tuy nhiên, cũng có các bà đã kết duyên nợ với những viên thuốc từ vài chục năm thì nhất định không chịu từ bỏ viên thuốc bé bỏng, đáng yêu nhưng cũng không kém phần rắc rối trên.
***
Khoa học đang làm những chuyện mà ngày xưa mình coi như chuyện hoang đường. Con khỉ Tề Thiên Đại Thánh nhổ hàng nắm lông, hoá phép cho mỗi sợi lông trở thành một con khỉ khác, giống hệt mình để có thể cùng lúc làm nhiều việc khác nhau hoặc để hổ trợ cho nhau trong nhiều cuộc chiến đấu.
Hãy coi chiếc Computer trước mặt chúng ta, không cần phải mầu mè, hô phong, hoán vũ. Nếu bạn bấm cái nút nhỏ, ngồi xuống gõ vài cái: Thời gian trôi đi, không gian nhỏ hẳn lại, bạn sai comp cuả bạn làm biết bao nhiêu việc qua những mệnh lệnh viết sẵn cho hàng triệu máy chạy cùng lúc trên trái đất?
Có kém Tề Thiên Đại Thánh chăng?
***
Nguyệt san Newsweek tháng 6 năm 2002, người ta nói tới con mắt computer thay thế mắt thật cho những người khiếm thị bẩm sinh hay bị tàng tật vì tai nạn.
Người ta nói tới máy móc giúp những người bị câm có thể dùng máy phát âm để họ có thể nói được một cách khá hơn cuả những máy cũ, tạo ra những âm thanh nghe như người máy nói.
Người ta nói tới máy trợ tim gắn trong lồng ngực để giúp những trái tim bệnh hoạn vì bẩm sinh hay vì bị làm việc nhiều quá nên đã không còn trinh.
Người ta nói tới máy móc tìm ra những hư hoại trong bộ óc con người để có thể nhặt ra những tế bào hư và thay thế bằng những tế bào tốt được cấy từ tế bào gốc cuả con người.
Chưa kể tới những thành công cuả con người trong việc sao sinh, việc cấy trứng cuả ông bà này vào bà nọ... rất nhiều.
Tất cả những khám phá khoa học đều nhằm mục tiêu kéo dài sức khoẻ, hạnh phúc và tuổi thọ cuả con người.
Cùng lúc, con người đang nghiên cứu cách thức tiêu diệt con người qua những nghiên cứu về vũ khí giết người hàng loạt: Vũ khí nguyên tử, vũ khí hạch nhân,vũ khí hoá học, vũ khí vi trùng...
Trên thế giới, những lò dầu hoả sôi sục ở Trung Đông trong cuộc chiến tranh giữa nhóm những quốc gia Hồi Giáo và Do Thái hứa hẹn triền miên những đau thương, tang tóc, kinh hoàng và dã man.
Điều đau lòng hơn hết là cuộc chiến ngày càng lan rộng địa bàn và tăng thêm cường độ dã man.
Tương lai con người sẽ ra sao nếu trong cuộc chạy đua khoa học, cái ác sẽ không thắng cái thiện như thực tế vẫn thường xẩy ra?
KATHY TRẦN
__._,_.___
Kathy Trần
Đây không phải là chuyện giỡn chơi mà là chuyện quan trọng, nghiêm trang, trí thức và khoa học đàng hoàng.
Chuyện đang nói đây là cuộc khảo cứu cuả một bà bác sỹ: Bác sỹ Karen Weatherby, chỉ huy chương trình khảo cứu cho cơ quan y tế Đức. Kết quả cuộc khảo cứu về vấn đề ...thể dục bằng mắt của các ông được cho đăng trên New England Journal, một tờ báo rất có uy tín và đàng hoàng.
Tiểu muội xin trình lại kết quả khảo cứu cuả bà như sau:
Khích động tình dục khiến tim đập nhanh, gia tăng lưu lượng máu. Do đó, khi nhìn ngắm những bộ ngực đồ sộ, hấp dẫn làm các ông khoẻ mạnh hơn lên.
Cuộc nghiên cứu khoa học còn ghi chép kỹ lưỡng về thời gian cần dùng trong việc tập thể dục rất thích thú này:
Cuộc nghiên cúu cuả chúng tôi cho thấy nếu các ông luyện tập theo phương pháp này chừng 10 phút mỗi ngày thì có thể giảm nguy cơ nhồi máu cơ tim (heart attack) hay đứt mạch máu não (Stroke) tới 50%.
Ông Bồ Hòn đọc đến đó thì... đã quá, bèn kêu ầm lên rằng từ ngày ông đọc được bài báo thì ông đâm ra chăm chỉ tập thể... dục bằng mắt lắm. Bởi vì môn thể dục này thích hợp với ông lắm, rằng nhất cử tam tứ tiện, rằng chỉ xử dụng có đôi mắt, hai tay vẫn rót rượu, nâng ly nhâm nhi mà thấy máu chảy ào ào trong huyết quản.
Ðàn ông chỉ cần được ngắm những người đẹp với thân hình bốc lửa (?) trong vòng 10 phút là đủ tốt như các ông tập thể dục trong 30 phút.
Ông khoe rằng mới đầu ông theo đúng lời dậy của bác sỹ là chỉ tập đúng 10 phút vì sợ bắt đầu mà vất vả quá thì không nên nhưng sau thấy 10 phút ngắn ngủi, phù du quá, chưa đã. Hơn nữa, kết quả tốt quá nên ông tự động tăng tập thể dục thêm lên mãi.
Theo ông Bồ Hòn, Tập thể dục kiểu này đã lắm, chẳng những máu chạy nhanh mà cholesteron xấu tan đi ào ào. ông Bồ Hòn chỉ lo rằng các bà không cho phép các ông tập thể dục theo phương pháp KAREN thôi. Thứ nhất là tốn tiền mua... dụng cụ thể dục như: Play Boy, PenHouse vv...
Thứ nhì là trong khi các ông tập thể dục mặt mũi cứ phớn phở hay cứ đờ ra vì sung sướng thì các bà ứa gan lắm dù nghiên cứu nhấn mạnh:
Chúng tôi tin rằng nếu các ông chịu khó luyện tập cách này thì họ sẽ thọ thêm được từ 4 tới 5 năm.
Vì có hiệu quả tốt như vậy nên các ông phải kiên nhẫn thuyết phục đối phương rằng phương pháp thể dục này rất tốt, rất khoa học, rất thực tế...
Hơn nữa, ông Bồ Hòn còn khuyến khích các ông nên tìm cách cải thiện phương pháp tập thể dục bằng cách ... nhìn... của thật thì chắc chắn hiệu quả tốt bằng mấy lần ...xem hình.
Quan trọng nhất là làm sao để các bà cũng được hưởng cái lợi cuả môn thể dục này cơ thì họ mới vui lòng chuẩn y cho phe ta được chính thức tập thể... dục, khoan khoái hay hì hục tập thể dục!
Sau cùng ông nhân danh các ông đàn ông, trịnh trọng cám ơn bà bác sỹ Karen đã cho các ông cơ hội sống vui, sống khoẻ, sống sướng thêm 4, 5 năm nữa!
***
Bà Hoạn Thư tân thời nghiến răng: - Cái thằng cha đoản hậu, vợ con đùm đề mà còn dê!
Ông Nể Vợ nhìn quanh, không thấy bóng bà vợ đâu mới nhỏ nhẹ: - Bà chỉ nói quá. Ông Bồ Hòn chỉ nói chuyện khoa học, có nhân sự, có nghiên cứu, có bằng chứng được đăng báo rõ ràng chứ có phải phóng bút nói bừa, nói dóc để lừa gạt vợ nhà đâu? Hơn nữa, ông ấy chỉ tập thể dục bằng mắt theo đúng lời bác sỹ Karen, theo đúng nghiên cứu khoa học chứ có làm gì đâu mà bà kết tội rằng ông ấy dê?
Bà Hoạn Thư trợn mắt: - Này, ông có ý đồ gì mà bênh nó chằm chằm vậy? Tập thể dục gì mà mắt thì dán vào hình khoả thân, tay cầm ly ruợu nhâm nhi, mặt thì thộn ra! Thật chẳng ra cái thống chế gì cả!
Ông Nể Vợ gắt nhỏ: - Xin bà nói nho nhỏ cho tôi nhờ. Chẳng ý đồ với ý đạc gì cả. Tôi chỉ nói công bằng thôi. Khoa học, bác sỹ người ta bảo làm ...thế là tốt cho sức khoẻ thì chúng tôi làm, chẳng có gì sai trái cả. Còn chuyện sướng thì ...thấy khoẻ trong người thì chúng tôi phải vui, phải sướng, có gì bà phải phàn nàn?
Bà Hoạn Thư hứ lên một tiếng: - Khoa học đâu thì tôi không biết, chứ tập thể dục kiểu bà Karen với ông Bồ Hòn thì còn lâu tôi mới cho lão họ Thúc nhà tôi bắt chước. Thà chồng chết sớm mấy năm còn hơn mua ...dụng cụ thể thao kiểu đó cho lão.
Ông Nể Vợ kêu lên: - Thế là các bà không biết lo cho tương lai, sức khoẻ cuả chồng rồi, thế là các bà không biết yêu thương, quý mến chồng.
Bà Hoạn Thư nói ngọt như mía: - Ai yêu thương quý mền chồng thì mặc kệ người ta. Tôi thì tôi cứ phải canh lão cho kỹ, tôi theo đúng lời các cụ đấy: Kiến trong miệng bát có bò đi đâu. Thế, bỏ ngay vào trong bát mà còn chưa xong đấy. Mai em Kiều này, mốt em Kiều nọ, huống gì thêm chuyện tập thể dục bằng mắt này.
Bà tò mò: - Thế bà vợ ông bằng lòng cho ông tập thật đấy à?
- Không, làm gì tôi có diễm phúc có người vợ lý tưởng thế. Ấy, cứ lúc nào không có bà vợ tôi ở nhà tranh thủ tập ngay.Đấy là tôi biết lo xa. Tôi lo cho thân tôi, tôi lo cho sức khỏe và tuổi thọ của tôi nên phải vội vã lo cho xong 10 phút thể dục phù du kẻo bà ấy về thì còn lâu.
Bà Hoạn Thư bĩu môi: - Gớm, các ông gian dối thế đấy.
- Gian dối gì, có tí quyền tập thể... dục mà cũng cấm, thế mà dám đòi nói chuyện nhân quyền! Chỉ sướng mấy ông độc thân, thà hồ mà thể dục, thể thao.
Ông chợt nhỏ giọng xuống, vội vã thì thầm: - Chết, xin bà. Vợ tôi nó vào đấy, chúng ta chấm dứt cuộc tranh luận nhá.
***
Trên là chuyện y học cho các ông, dưới là chuyện viên thuốc ngừa thai của các bà.
Từ mấy chục năm nay, những viên thuốc ngừa thai xinh xinh vẫn được coi như là một bước tiến lớn cuả cuộc cách mạng tình dục.
Nhờ có viên thuốc, người phụ nữ trẻ gần như hoàn toàn điều khiển được việc thai nghén cuả mình: Khi nào muốn có con? Mấy đứa? Cách nhau bao lâu.
Riêng các bà nưả chừng xuân thì nhờ viên thuốc có chất kích thích tố nữ Estrogen nên kéo dài thêm sự tươi trẻ sau khi ...em dứt đường tơ!
Viên thuốc từ lâu vẫn bị nghi ngờ là thủ phạm cuả chứng ung thư nhưng mới đây, theo các cuộc nghiên cứu mới thì lại càng bị đặt câu hỏi nhiều hơn. Tuy nhiên, cũng có các bà đã kết duyên nợ với những viên thuốc từ vài chục năm thì nhất định không chịu từ bỏ viên thuốc bé bỏng, đáng yêu nhưng cũng không kém phần rắc rối trên.
***
Khoa học đang làm những chuyện mà ngày xưa mình coi như chuyện hoang đường. Con khỉ Tề Thiên Đại Thánh nhổ hàng nắm lông, hoá phép cho mỗi sợi lông trở thành một con khỉ khác, giống hệt mình để có thể cùng lúc làm nhiều việc khác nhau hoặc để hổ trợ cho nhau trong nhiều cuộc chiến đấu.
Hãy coi chiếc Computer trước mặt chúng ta, không cần phải mầu mè, hô phong, hoán vũ. Nếu bạn bấm cái nút nhỏ, ngồi xuống gõ vài cái: Thời gian trôi đi, không gian nhỏ hẳn lại, bạn sai comp cuả bạn làm biết bao nhiêu việc qua những mệnh lệnh viết sẵn cho hàng triệu máy chạy cùng lúc trên trái đất?
Có kém Tề Thiên Đại Thánh chăng?
***
Nguyệt san Newsweek tháng 6 năm 2002, người ta nói tới con mắt computer thay thế mắt thật cho những người khiếm thị bẩm sinh hay bị tàng tật vì tai nạn.
Người ta nói tới máy móc giúp những người bị câm có thể dùng máy phát âm để họ có thể nói được một cách khá hơn cuả những máy cũ, tạo ra những âm thanh nghe như người máy nói.
Người ta nói tới máy trợ tim gắn trong lồng ngực để giúp những trái tim bệnh hoạn vì bẩm sinh hay vì bị làm việc nhiều quá nên đã không còn trinh.
Người ta nói tới máy móc tìm ra những hư hoại trong bộ óc con người để có thể nhặt ra những tế bào hư và thay thế bằng những tế bào tốt được cấy từ tế bào gốc cuả con người.
Chưa kể tới những thành công cuả con người trong việc sao sinh, việc cấy trứng cuả ông bà này vào bà nọ... rất nhiều.
Tất cả những khám phá khoa học đều nhằm mục tiêu kéo dài sức khoẻ, hạnh phúc và tuổi thọ cuả con người.
Cùng lúc, con người đang nghiên cứu cách thức tiêu diệt con người qua những nghiên cứu về vũ khí giết người hàng loạt: Vũ khí nguyên tử, vũ khí hạch nhân,vũ khí hoá học, vũ khí vi trùng...
Trên thế giới, những lò dầu hoả sôi sục ở Trung Đông trong cuộc chiến tranh giữa nhóm những quốc gia Hồi Giáo và Do Thái hứa hẹn triền miên những đau thương, tang tóc, kinh hoàng và dã man.
Điều đau lòng hơn hết là cuộc chiến ngày càng lan rộng địa bàn và tăng thêm cường độ dã man.
Tương lai con người sẽ ra sao nếu trong cuộc chạy đua khoa học, cái ác sẽ không thắng cái thiện như thực tế vẫn thường xẩy ra?
KATHY TRẦN
__._,_.___
Chuyện Văn Chương Nhân Ngày Sinh Nhật 84
của Nhà Văn/Nhà Giáo Doãn Quốc Sỹ
Hôm Chủ Nhựt, Mùng Một Tết Đinh Hợi, Văn Đàn Đồng Tâm đã tổ chức một buổi hội ngộ đầu xuân để mừng sinh nhựt thứ 84 của nhà văn Doãn Quốc Sỹ và ra mắt quyển Đồng Tâm số 4 cùng với quyển sách đặc biệt về nhà văn Doãn Quốc Sỹ. Buổi lễ được tổ chức tại Emerald Bay Restaurant ở Santa Ana, California, với 28 bàn hay gần 280 người tham dự, phần đông là văn nghệ sĩ trong văn đàn Đồng Tâm, cùng những bạn bè thânn hữu và học sinh cũ của nhà văn Doãn Quốc Sỹ. Trong số tham dự viên có những người rất nổi tiếng từ lâu như nhà văn Võ Phiến, luật sư Trần Thanh Hiệp trong Nhóm Sáng Tạo (từ Paris qua).
Buổi lễ khai mạc lúc 12 giờ trưa. Sau phần chào cờ Việt, Mỹ và phút mặc niệm, trưởng ban tổ chức là chị Hồng Vũ Lan Nhi mở đầu với bài diễn văn chào mừng quan khách và trình bày mục đích của buổi gặp gỡ. Tiếp theo đó MC Chu Tất Tiến giới thiệu giáo sư tiến sĩ Nguyễn Thanh Liêm trình bày về cuộc đời của nhà văn Doãn Quốc Sỹ. Giáo sư Liêm nói:
"Đây là lần đầu tiên tôi được hân hạnh tham dự buổi tiệc lớn vào ngay ngày Mùng Một Tết với rất nhiều người nổi tiếng hiện diện. Đây không phải là buổi ăn TẾT thường có, mà là buổi hội ngộ đầu xuân thật đặc biệt để đón mừng hai tác phẩm của Văn Đàn Đồng Tâm, và quan trọng hơn nữa là để mừng Sinh Nhựt thứ 84 của mhà văn Doãn Quốc Sỹ, bậc đàn anh hay bậc thầy của văn đàn Đồng Tâm, một nhà văn lớn của Miền Nam tự do, và một người anh hùng của nước Việt. Tôi nói anh hùng ở đây là tôi nói theo ý nghĩa anh hùng mà nhà văn Romain Rolland hồi thế kỷ trước đã nói. Ông bảo anh hùng không phải là những kẻ đã chiến thắng bằng vũ lực hay bằng tư tưởng mà là những người có tâm hồn cao thượng. Theo nghĩa đó, Doãn Quốc Sỹ là một anh hùng đối với tôi, và hôm nay tôi vô cùng sung sướng được nói về cuộc đời của người anh hùng này. "
Tưởng cũng nên ghi nhận GS Liêm nguyên là hiệu trưởng trường trung học Petrus Trương Vĩnh Ký, sau nhiệm chức Thứ trưởng Bộ Văn Hóa Giáo Dục. Ông đậu tiến sĩ về ngành Giáo dục tại Hoa Kỳ. Ông là Sáng lập viên Hội Lê Văn Duyệt Foundation, tổ chức cổ xúy việc bảo tồn văn hóa Việt Nam. Là một diễn giả hôm nay về chủ đề nhà văn/nhà giáo Doãn Quốc Sỹ thì:
"Doãn Quốc Sỹ sinh ngày 17 tháng 2, năm 1923, theo dương lịch, đó là nhằm ngày Mồng Hai Tết năm Quí Hợi theo âm lịch. Năm nay, năm Đinh Hợi này, ngày sinh theo dương lịch và ngày sinh theo âm lịch của Doãn Quốc Sỹ suýt soát ở bên nhau. Hôm qua Thứ Bảy là ngày 17/2, và ngày mai Thứ Hai là ngày Mùng Hai Tết. Giữa ngày Thứ Bảy hôm qua và ngày mai Thứ Hai, hôm nay, ngày Chủ Nhựt, chúng ta tổ chức mừng sinh nhựt của ông thì không còn gì thích hợp hơn nữa. Doãn Quốc Sỹ ra đời tại xã Hạ Yên Quyết, tục gọi là Làng Cót, huyện Từ Liêm, Phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông. Tuy, trên phương diện hành chánh, Làng Cót thuộc tỉnh Hà Đông, nhưng về địa lý làng này chỉ cách Hà Nội có 6 km, vừa đủ để hằng ngày Doãn Quốc Sỹ đạp xe đạp lên Hà Nội học, xem như tập thể dục mỗi bửa. Ông sinh ra trong một gia đình trung lưu gia phong, nề nếp. Thân phụ là cụ Doãn Hưu, một nhà tân nho học, mà Doãn Quốc Sỹ đã ít nhiều thừa hưởng di sản tinh thần, và thân mẫu là cụ bà Hoàng Thị Đức. Doãn Quốc Sỹ lúc nhỏ cũng đã từng học chữ Nho trong gia đình, nhất là với ông bác, anh ruột của cụ Doãn Hưu."
Về thuở thiếu thời đến giai đoạn thanh niên thời đất nước loạn ly, GS Liêm nói tiếp:
"Sau những năm Tiểu học, ông vào học đến hết bậc Trung học ở trường Lyceum Gia Long, một trung học đệ nhị cấp tư thục có tiếng ở Hà Nội hồi thời đó. Giáo sư Nghiêm Toản, cũng như giáo sư Nguyễn Khắc Kham, những giáo sư có tiếng của Đại Học Văn Khoa sau này, đều đã từng dạy ở Lyceum Gia Long này.
Năm 1945, cũng như tất cả thanh niên trí thức khác, ông “xếp bút nghiên theo việc kiếm cung”, dấn thân vào phong trào Kháng Chiến chống Pháp. Ông gia nhập “Đoàn Thanh Niên Cứu Quốc” không phải với tay súng tay gươm để tiêu diệt kẻ thù, mà với nhiệm vụ tuyên truyền, sưu tầm tài liệu nghiên cứu tình hình địch và dịch các tài liệu Anh Pháp ra tiếng Việt. Khi sắp có chiến dịch đấu tố, kết tôi tiểu tư sản, ông bắt đầu ý thức sự phản bội của Cộng Sản đối với những người yêu nước thật sự, ông nhất định rời bỏ hàng ngủ kháng chiến, dinh tê, qua Bắc Ninh, rồi về Hà Nội đi học lại."
Về gia đình và sinh hoạt chương của nhà văn Doãn Quốc Sỹ thì:
"Ông lập gia đình năm 1946, kết hôn cùng bà Hồ Thị Thảo, con gái của nhà thơ trào phúng Tú Mở Hồ Trọng Hiếu.
Năm 1954 ông vào Nam, mang theo bản thảo truyện ngắn Sợ Lửa. Ông hoạt động trong Đoàn Sinh Viên Hà Nội Di Cư do Trần Thanh Hiệp làm chủ tịch. Đoàn ra đặc san “Xuân Chuyển Hướng” và tác phẩm Sợ Lửa của ông được chọn đăng trong tờ đặc san xuân này. Tác phẩm này không phải là tác phẩm quan trọng trong sự nghiệp văn chương của Doãn Quốc Sỹ, nhưng sự kiện Sợ Lửa được lựa chọn để đăng trên đặc san đã trỡ thành một yếu tố quyết định vô cùng quan trọng trong cuộc đời làm văn của ông. Nó là một khích lệ, một thúc đẩy để ông mạnh dạn dấn thân vào con đường sáng tác, vào cái nghiệp cầm bút như ông nói.
Năm 1956 tạp chí Sáng Tạo ra đời với một số nhà văn nhà thơ đại diện cho nền nghệ thuật mới gọi là “nghệ thuật hôm nay” mà người đầu đàn là Mai Thảo. Doãn Quốc Sỹ là người chủ trương, có bài trên Sáng Tạo ngay từ những số đầu và tiếp tục đóng góp đều đặn cho tạp chí cho đến khi Sáng Tạo đình bản sau số thứ 31. Năm sau, bộ mới ra đời, nhưng cũng chỉ tiếp tục được 7 số rồi đình bản luôn. Sáng Tạo không còn nhưng Doãn Quốc Sỹ thì vẫn tiếp tục sáng tác. Những tác phẩm lớn, quan trọng của ông tiếp tục ra đời. (U Hoài, Dòng Sông Định Mệnh, Gìn Vàng Giữ Ngọc, Khu Rừng Lau . . .) Song song với cuộc đời làm báo, viết văn, ông còn có cuộc đời của một nhà giáo, giàu kỹ năng sư phạm, hết lòng thương mến học trò, hết sức tận tuỵ với nghề. Ông từng dạy ở các trường trung học Trần Lục, Hồ Ngọc Cẩn, từng làm hiệu trưởng trường trung học Hà Tiên, trước khi lên đường du học tại Hoa Kỳ. Niên khoá 1966-67 ông học ở Florida State University, và niên khoá sau ông sang Nashville Tennessee lấy bằng Master về Education ở đó. Về nước ông tiếp tục nghề dạy học ở các đại học Văn Khoa và Sư Phạm Sài Gòn, ông cũng là giáo sư Đại Học Vạn Hạnh, cho đến ngày Cộng Sản xăm chiếm cả Miền Nam. Thành ra ông có hai cái nghiệp như ông thường nói, “cái nghiệp cầm phấn của nghề dạy học và cái nghiệp cầm bút của người yêu văn”. Cả hai cái nghiệp này, viết văn và dạy học, đều có thể có hậu quả tai hại dưới chế độ độc tài toàn trị của cộng sản, nếu người dạy học và viết văn chỉ biết đề cao tự do, tình người, đạo đức, nhân bản, mà không chịu tôn sùng ông Stalin, bác Mao, và cụ Hồ và cái xã hội chủ nghĩa của họ."
GS Liêm đề cập đế cái dũng khí của nhà văn Doãn Quốc Sỹ khi sa cơ vào chốn ngục tù Cộng Sản:
"Thế nên, năm 1976 trong khi ông đang dạy ở Đại Học Sư Phạm thì được gọi đi học tập, được chỉ thị mang theo đồ dùng trong 10 ngày. Nhưng ông không trỡ về sau 10 ngày học tập như chánh quyền đã nói mà bị đày đi Kontum, Pleiku, đến trại Gia Trung, ở đó lao động, không cho thăm nuôi, gần bốn năm trời dài đăng đẳng. Mãi đến năm 1980, ông mới được thả ra. Về nhà ông viết tiếp, dĩ nhiên là lén lút. Tác phẩm “Đi” được thai nghén trong hoàn cảnh đặc biệt này và được kín đáo gởi ra ngoại quốc. Tác phẩm được nhà Lá Bối xuất bản ở Pháp. Tưởng là việc viết lén và gửi chui ra ngoại quốc xuất bản, với cái tên tác giả là Hồ Khanh, là có thể qua mặt được con mắt cảnh sát của chính quyền, không ngờ tất cả việc làm của ông đều bị công an ghi nhận, tích luỷ để tóm ông vào lưới một lần nữa. Ông bị bắt lại hồi tháng 5, năm 1984 và bốn năm sau bị đưa ra toà, bị kết án 10 năm tù về tội là văn nghệ sĩ phản động, chóng phá cách mạng, đi ngược đường lối của đảng và nhà nước. Thật ra chỉ vì trong tác phẩm của ông, thay vì ca tụng đảng, đề cao xã hội chủ nghĩa, tôn sùng Hồ Chí Minh, thì ông lại ca tụng tình người, nói lên tinh thần nhân bản, tự do, tinh thần khai phóng, đề cao đạo đức, đề cao nghệ thuật hướng đến Chân Thiện Mỹ và tình yêu quê hương. Đó là một cái tội rất lớn trong xã hội toàn trị cộng sản mà con người chỉ được xem như một công cụ chớ không phải là một cứu cánh như ông chủ trương. Bị cộng sản giam cầm, hành hạ, ông không thù hận, mà chấp nhận với một thái độ bình thản, bất khuất, hết sức anh hùng không khác gì thái độ khắc kỷ của Vigny trong bài La mort du loup."
Giai đoạn ly hương ra nước ngoài nhà văn Doãn Quốc Sỹ vẫn gần gủi với phạm vi văn chương, ông cho ấn hành lại những tác phẩm cũ, có thể nhà văn cho ra một tác phẩm mới, nhưng hãy chờ xem.
"Năm 1991 ông lại được thả ra, ông sống ở Sài Gòn cho đến khi được con bảo lãnh sang Mỹ theo diện ODP hồi năm 1995. Từ khi sang Mỹ, ông không còn sáng tác nhiều như xưa, chỉ cho in lại những tác phẩm đã xuất bản. Ông có ý muốn gác kiếm, nghỉ ngơi, nhưng có thể cái nghiệp làm văn chưa cho phép ông trọn vẹn làm việc đó, và trong nay mai biết đâu những độc giả trung thành của ông lại chẳng có dịp đọc thêm những trang sách độc đáo nói về chuyện “Bác Trai, Bác Gái” của Doãn Quốc Sỹ hay của một Hồ Khanh nào khác nữa chăng? Thời gian sẽ trả lời."
Cuối cùng GS Liêm kết luận về cuộc hành trình mà nhà văn/nhà giáo Doãn Quốc Sỹ đã trải qua như sau:
"Cuộc đời 84 năm qua của Doãn Quốc Sỹ là một cuộc đời dồi dào những hoạt động cao đẹp của con người. Hoạt động học hỏi, hoạt động chính trị, hoạt động sáng tác văn chương, hoạt động “hối nhân bất quyện” (tức là dạy học), tất cả đều hướng thượng, hướng về chân thiện mỹ, hướng về tinh thần nhân bản, hướng về giá trị của con người, tình thương của con người và quê hương xứ sở.
Doãn Quốc Sỹ là một nhà văn lớn của Việt Nam tự do, một nhà giáo đáng kính của Việt Nam Cộng Hoà, người anh hùng dân tộc theo ý nghĩa anh hùng mà Romain Rolland đã nói."
Sau phần trình bày của GS Liêm là GS Trần Huy Bích diễn giảng về "Doãn Quốc Sỹ và sự đóng góp văn học của ông qua các các tác phẩm". Tác phẩm đầu tay của nhà văn Doãn Quốc Sỹ là truyện dài “ Giòng Sông Định Mệnh” và tập truyện " Sợ Lửa" được phát hành sau khi ông cùng gia đình di cư vào Nam năm 1954. Cùng các tác phẩm văn chương khác tuần tự xuất bản:
U Hoài (1957), Gánh Xiếc (1958), Gìn Vàng Giữ Ngọc (1959), Hồ Thùy Dương (1960), Trái Cây Đau Khổ (1963), Ngưởi Việt Đáng Yêu (1965), Cánh Tay Nối Dài (1966), Đốt Biên Giới (1966), Sầu Mây (1970), Vào Thiền (1970), Người Vái Tứ Phương (1982), Dấu Chân Cát Xoá, Mình Lại Soi Mình, Khu Rừng Lau, Tuyển Tập Văn Chương Nhi Đồng, và rất nhiều bài bình luận văn chương khác…
Diễn giả thứ ba là GS Phạm Cao Dương lên điểm sách tuyển tập "Kỷ niệm Về Nhà Văn Doãn Quốc Sỹ". Đây là một quyển sách gom góp những kỷ niệm của nhiều tác giả thuộc nhiều thế hệ, nhiều lứa tuổi từ những nhà văn, nhà giáo cùng thế hệ của nhà văn Doãn Quốc Sỹ đến nhiều thế hệ học trò, tựu trung họ viết về những dấu ấn, những cảm hứng viết lách bắt nguồn từ văn chương của Doãn Quốc Sỹ. GS Dương thấy ở Doãn quốc Sỹ là một vị Thầy đáng yêu, khi nhìn về những nhân vật trong tác phẩm của nhà văn. Cái làm nên Doãn Quốc Sỹ đáng yêu đó là cái Tâm uy vũ bất năng khuất trong ngòi bút của ông. Về lãnh vực sáng tạo giáo sư Dương lập lại ý kiến của nhiều người cho rằng "ông đã trải chiếc chiếu hoa riêng để ngồi trong văn đàn VN". Đồng thời, nhà văn Mặc Giao nói trên bìa sách "ông là l nhà văn có tầm nhìn ra thế giới bên ngoài nhưng vẫn gần gũi với tâm tình Việt Nam, cách ứng xử VN, trân trọng với những con cò lặn lội bờ sông, gánh gạo theo chồng tiếng khóc nỉ non. Doãn quốc Sỹ đúng là một vệ binh gìn giữ văn hóa dân tộc". Sách dầy khoảng 320 trang.
Diễn giả thứ tư là nhà văn nữ Bích Huyền trình bày sơ lược về tác phẩm Đồng Tâm 4. Đây là một tuyển tập có sự đóng góp của 37 tác giả, sách dầy 380 trang, các bài viết về nhiều đề tài. Hình bìa trước là tranh họa "Trẩy Hội Mùa Xuân" của họa sĩ Nguyễn Phước. Nhiều bài viết được ghi nhận như "Cái Chết của Một Người" của Doãn Quốc Sỹ, "Nhớ, Nghĩ về Thanh Tâm Tuyền" của Trần Thanh Hiệp, "Xã Hội Việt Nam trong Tiểu Thuyết Hồ Biểu Chánh" của Nguyễn Thanh Liêm, "Hương Ngâu" của Quyên Di, "Hạnh Phúc Bất Chợt" của Tiểu Thu, "Nguyễn Bính - Nhà Thơ của Hương Đồng Cỏ Nội" của Thái Tú Hạp, "Niềm Đau Cô Đơn" của Tạ Xuân Thạc, "Hồn Bướm Mơ Duyên" của Mùi Quý Bồng, "Hạnh Phúc Tràn Đầy" của Hồng Vũ Lan Nhi,... và còn nhiều, mỗi ngòi bút mang một đặc điểm riêng,...
Trong phần đóng góp bất ngờ của GS Lê Xuân Khoa đã gây ngạc nhiên cho quan khách là bản thư mục về sách của GS Doãn Quốc Sỹ mà ban tổ chức công bố nhân dịp ra mắt sách của VDDT còn thiếu hai cuốn sách: một cuốn tiểu thuyết được GS Doãn Quốc Sỹ dịch từ Anh văn ra Việt văn, tức là cuốn "Con Kỳ Lân Cuối Cùng", dịch từ cuốn "The Last Unicorn" của nhà văn Peter Beagle; cuốn thứ nhì là sách biên khảo nhan đề "William Faulkner: Cuộc Đời và Tác Phẩm", GS Doãn Quốc Sỹ viết chung với GS Nguyễn Văn Nhã. Cả hai cuốn này đều do Nhà Xuất Bản Hiện Đại, do GS Lê Xuân Khoa làm giám đốc, ấn hành năm 1972-1973.
GS Lê Xuân Khoa cho biết ông và GS Doãn Quốc Sỹ có một số kỷ niệm đáng ghi nhớ trong thời gian hai ông cùng theo học ngành triết học Đông Phương ở Đại Học Văn Khoa Hà Nội trước 1954, khi vào Nam lại là đồng nghiệp cho đến 1975. Năm 1993, GS Khoa là người bạn cố tri đầu tiên từ Mỹ đến thăm GS Sỹ sau khi ông được thả ra về với gia đình từ trại tù Cộng Sản. Tình bạn thâm niên giữa hai người từ văn chương đến giáo dục, từ dịch thuật đến kỷ niệm. Trong buổi ra mma('t sách và vui sinh nhật này, GS Khoa có chuyển đến ban tổ chức 50 cuốn "Bút Hoa" để chia sẻ đến anh chị em VDDT. Đây là tập thơ cổ xưa Hán-Việt của cụ nho sĩ Phan Mạnh Danh, xuất bản lần đầu ở Hà Nội năm 1942, với lời giới thiệu của học giả Nguyễn Tiến Lãng cùng với thư của cụ Thượng thư Phạm Quỳnh cám ơn và chuyển đạt huy chương cao quý Tam Hạng Kim Khánh do Hoàng đế Bảo Đại ban thưởng cho tác giả. Tưởng cũng nên nói thêm Cụ Phan Mạnh Danh là thân phụ của Giáo sư Phan Thế Roanh, giáo sư lâu năm của trường Chu Van An, Cụ đã từng giữ chức vụ Tổng thư ký Bộ Giáo Dục và Phó Tổng Giám Đốc Nha Trung, Tiểu học và Bình Dân Giáo Dục, cuối cùng là Trưởng ban Hán văn trường Đại học Văn khoa trước khi mất năm 1965, thọ 64 tuổi. Cuốn Bút Hoa được tái bản lần thứ ba năm 2006 tại Houston bởi con trai của GS Phan Thế Roanh là GS Phan Chừng Thanh, giáo sư dạy tại trường trung học Nguyễn Đình Chiểu và Lê Ngọc Hân ở Mỹ Tho từ 1954 đến 1975. Một ấn bản Bút Hoa được thi sĩ Hồng Vũ Lan Nhi trao đến GS Doãn Quốc Sỹ làm kỷ niệm.
Những quà tặng khác gồm một dĩa chưng bày thư họa mỹ thuật và tranh lụa thư họa với lời chúc sinh nhật 84 do họa sĩ Như Phong bên Dallas sáng tác, cả hai tặng phẩm này được Luật sư Trần Thanh Hiệp trao đến GS Doãn Quốc Sỹ. Nhà văn Võ Phiến nhận định về nhà văn Doãn Quốc Sỹ trong bài viết đăng trong sách Việt Nam Văn Học Tổng Quan, tái bản 1988:
"Còn Doãn Quốc Sỹ, ông làm chúng ta nghĩ đến một nhân vật của ông: Khiết. Khiết “kiên trì theo con đường văn hóa”, nhưng “đã trót đi vào con đường chính trị, biết những ngõ ngách của nó, âu cũng thành nghiệp chướng của mình, khó bỏ lắm.”. Khu Rừng Lau phơi bày cái hiểm ác của chế độ này, lột trần nền độc tài nọ. Thái độ chính trị của tác giả luôn luôn hiển lộ trong tác phẩm. Tuy vậy, ông Doãn cũng như Khiết, trước sau “kiên trì theo con đường văn hóa”: Ông chê cái này chống cái nọ vì nó xấu nó ác. Mà ông thì nhất tâm phục vụ cái thiện cái mỹ. Thiện tâm thiện ý của tác giả tỏa ra khắp tác phẩm: trong các truyện của ông Doãn nhân vật nào cũng tốt, việc gì cũng có khía cạnh hay. Ông bất lực không tạo nổi người xấu, kể nổi việc xấu. Đọc sách ông, thơm tho cả tâm hồn. Truyện ông Doãn vừa có luận đề chính trị vừa có chủ tâm giáo dục.". Bản họa chữ "Khiết" bằng Hoa văn được nhà văn Võ Phiến gửi cho nhà văn Doãn Quốc Sỹ. Một tặng phẩm khác là Bulova crystal clock do GS Liêm gửi tặng GS Sỹ. Từ hướng Đông Nam nước Hoa Kỳ nhà văn Chu Bá Yến gửi tặng hoa tươi đến Ban Tổ chức, và trong đó có bó hoa mà hai em Hải Việt và Uyển Diễm trao đến GS Doãn Quốc Sỹ.
Thay mặt anh chị em VDDT, Ban Tổ Chức chúng tôi xin cám ơn những đóng góp trân quý về văn học của quý GS Nguyễn Thanh Liêm, Trần Thanh Hiệp, Phạm Cao Dương, Trần Huy Bich, Đỗ Xuân Khoa, Phan Chừng Thanh, LM Trần Cao Tường, cùng các nhà văn Võ Phiến, Bích Huyền, Thái Tú Hạp, Đỗ Tiến Đức, Quyên Di, Vũ Hối, Như Phong và Chu Bá Yến. Về Văn nghệ, các ca sĩ Lệ Hằng, Kim Tước, Ngọc Hà, Quỳnh Giao, Hoàng Quân, ban kịch vũ Regina Pacis, nhạc sĩ Văn Bình về văn nghệ, cũng như về video, hình ảnh của quý anh Lê Hùynh, Vương Trùng Dương, Lê Văn Khoa, Nguyễn Ngọc Minh, Phong Vũ, Bùi Bỉnh Bân, Peter Morita, Trần Tiến Đạt, Khiếu Như Long, Ngọc Hoài Phương, Nguyễn Đức Nam, Nguyên Huy, Nguyễn Hiền, Nguyễn Kim Đào. Điều khiển sân khấu, hai MC Chu Tất Tiến, Nguyễn Phương Hùng, anh Trung Nguyễn, chủ nhân Emerald Bay và nhân viên. Sau hết, rất đông anh chị em lo phụ giúp trong ban tiếp tân, dưa rước khách phương xa, quý cụ cao niên dùm ban tổ chức. Sự thành công của Buổi Ra Mắt Sách VDDT và Lễ Sinh Nhật Thượng Thọ của GS Nhà văn Doãn Quốc Sỹ là chính nhờ sự thương yêu, dang tay đóng góp từ công sức đến hiện kim, tặng phẩm, những khuyến khích nâng đỡ tinh thần của tất cả quý vị, quan khách cũng như quý bằng hữu đã không đến được vì nhiều lý do, chúng tôi xin cám ơn tất cả. Nếu có những sai sót, xin quý vị bỏ qua cho.
Việt Hải & Lan Nhi, VDDT Nam
của Nhà Văn/Nhà Giáo Doãn Quốc Sỹ
Hôm Chủ Nhựt, Mùng Một Tết Đinh Hợi, Văn Đàn Đồng Tâm đã tổ chức một buổi hội ngộ đầu xuân để mừng sinh nhựt thứ 84 của nhà văn Doãn Quốc Sỹ và ra mắt quyển Đồng Tâm số 4 cùng với quyển sách đặc biệt về nhà văn Doãn Quốc Sỹ. Buổi lễ được tổ chức tại Emerald Bay Restaurant ở Santa Ana, California, với 28 bàn hay gần 280 người tham dự, phần đông là văn nghệ sĩ trong văn đàn Đồng Tâm, cùng những bạn bè thânn hữu và học sinh cũ của nhà văn Doãn Quốc Sỹ. Trong số tham dự viên có những người rất nổi tiếng từ lâu như nhà văn Võ Phiến, luật sư Trần Thanh Hiệp trong Nhóm Sáng Tạo (từ Paris qua).
Buổi lễ khai mạc lúc 12 giờ trưa. Sau phần chào cờ Việt, Mỹ và phút mặc niệm, trưởng ban tổ chức là chị Hồng Vũ Lan Nhi mở đầu với bài diễn văn chào mừng quan khách và trình bày mục đích của buổi gặp gỡ. Tiếp theo đó MC Chu Tất Tiến giới thiệu giáo sư tiến sĩ Nguyễn Thanh Liêm trình bày về cuộc đời của nhà văn Doãn Quốc Sỹ. Giáo sư Liêm nói:
"Đây là lần đầu tiên tôi được hân hạnh tham dự buổi tiệc lớn vào ngay ngày Mùng Một Tết với rất nhiều người nổi tiếng hiện diện. Đây không phải là buổi ăn TẾT thường có, mà là buổi hội ngộ đầu xuân thật đặc biệt để đón mừng hai tác phẩm của Văn Đàn Đồng Tâm, và quan trọng hơn nữa là để mừng Sinh Nhựt thứ 84 của mhà văn Doãn Quốc Sỹ, bậc đàn anh hay bậc thầy của văn đàn Đồng Tâm, một nhà văn lớn của Miền Nam tự do, và một người anh hùng của nước Việt. Tôi nói anh hùng ở đây là tôi nói theo ý nghĩa anh hùng mà nhà văn Romain Rolland hồi thế kỷ trước đã nói. Ông bảo anh hùng không phải là những kẻ đã chiến thắng bằng vũ lực hay bằng tư tưởng mà là những người có tâm hồn cao thượng. Theo nghĩa đó, Doãn Quốc Sỹ là một anh hùng đối với tôi, và hôm nay tôi vô cùng sung sướng được nói về cuộc đời của người anh hùng này. "
Tưởng cũng nên ghi nhận GS Liêm nguyên là hiệu trưởng trường trung học Petrus Trương Vĩnh Ký, sau nhiệm chức Thứ trưởng Bộ Văn Hóa Giáo Dục. Ông đậu tiến sĩ về ngành Giáo dục tại Hoa Kỳ. Ông là Sáng lập viên Hội Lê Văn Duyệt Foundation, tổ chức cổ xúy việc bảo tồn văn hóa Việt Nam. Là một diễn giả hôm nay về chủ đề nhà văn/nhà giáo Doãn Quốc Sỹ thì:
"Doãn Quốc Sỹ sinh ngày 17 tháng 2, năm 1923, theo dương lịch, đó là nhằm ngày Mồng Hai Tết năm Quí Hợi theo âm lịch. Năm nay, năm Đinh Hợi này, ngày sinh theo dương lịch và ngày sinh theo âm lịch của Doãn Quốc Sỹ suýt soát ở bên nhau. Hôm qua Thứ Bảy là ngày 17/2, và ngày mai Thứ Hai là ngày Mùng Hai Tết. Giữa ngày Thứ Bảy hôm qua và ngày mai Thứ Hai, hôm nay, ngày Chủ Nhựt, chúng ta tổ chức mừng sinh nhựt của ông thì không còn gì thích hợp hơn nữa. Doãn Quốc Sỹ ra đời tại xã Hạ Yên Quyết, tục gọi là Làng Cót, huyện Từ Liêm, Phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông. Tuy, trên phương diện hành chánh, Làng Cót thuộc tỉnh Hà Đông, nhưng về địa lý làng này chỉ cách Hà Nội có 6 km, vừa đủ để hằng ngày Doãn Quốc Sỹ đạp xe đạp lên Hà Nội học, xem như tập thể dục mỗi bửa. Ông sinh ra trong một gia đình trung lưu gia phong, nề nếp. Thân phụ là cụ Doãn Hưu, một nhà tân nho học, mà Doãn Quốc Sỹ đã ít nhiều thừa hưởng di sản tinh thần, và thân mẫu là cụ bà Hoàng Thị Đức. Doãn Quốc Sỹ lúc nhỏ cũng đã từng học chữ Nho trong gia đình, nhất là với ông bác, anh ruột của cụ Doãn Hưu."
Về thuở thiếu thời đến giai đoạn thanh niên thời đất nước loạn ly, GS Liêm nói tiếp:
"Sau những năm Tiểu học, ông vào học đến hết bậc Trung học ở trường Lyceum Gia Long, một trung học đệ nhị cấp tư thục có tiếng ở Hà Nội hồi thời đó. Giáo sư Nghiêm Toản, cũng như giáo sư Nguyễn Khắc Kham, những giáo sư có tiếng của Đại Học Văn Khoa sau này, đều đã từng dạy ở Lyceum Gia Long này.
Năm 1945, cũng như tất cả thanh niên trí thức khác, ông “xếp bút nghiên theo việc kiếm cung”, dấn thân vào phong trào Kháng Chiến chống Pháp. Ông gia nhập “Đoàn Thanh Niên Cứu Quốc” không phải với tay súng tay gươm để tiêu diệt kẻ thù, mà với nhiệm vụ tuyên truyền, sưu tầm tài liệu nghiên cứu tình hình địch và dịch các tài liệu Anh Pháp ra tiếng Việt. Khi sắp có chiến dịch đấu tố, kết tôi tiểu tư sản, ông bắt đầu ý thức sự phản bội của Cộng Sản đối với những người yêu nước thật sự, ông nhất định rời bỏ hàng ngủ kháng chiến, dinh tê, qua Bắc Ninh, rồi về Hà Nội đi học lại."
Về gia đình và sinh hoạt chương của nhà văn Doãn Quốc Sỹ thì:
"Ông lập gia đình năm 1946, kết hôn cùng bà Hồ Thị Thảo, con gái của nhà thơ trào phúng Tú Mở Hồ Trọng Hiếu.
Năm 1954 ông vào Nam, mang theo bản thảo truyện ngắn Sợ Lửa. Ông hoạt động trong Đoàn Sinh Viên Hà Nội Di Cư do Trần Thanh Hiệp làm chủ tịch. Đoàn ra đặc san “Xuân Chuyển Hướng” và tác phẩm Sợ Lửa của ông được chọn đăng trong tờ đặc san xuân này. Tác phẩm này không phải là tác phẩm quan trọng trong sự nghiệp văn chương của Doãn Quốc Sỹ, nhưng sự kiện Sợ Lửa được lựa chọn để đăng trên đặc san đã trỡ thành một yếu tố quyết định vô cùng quan trọng trong cuộc đời làm văn của ông. Nó là một khích lệ, một thúc đẩy để ông mạnh dạn dấn thân vào con đường sáng tác, vào cái nghiệp cầm bút như ông nói.
Năm 1956 tạp chí Sáng Tạo ra đời với một số nhà văn nhà thơ đại diện cho nền nghệ thuật mới gọi là “nghệ thuật hôm nay” mà người đầu đàn là Mai Thảo. Doãn Quốc Sỹ là người chủ trương, có bài trên Sáng Tạo ngay từ những số đầu và tiếp tục đóng góp đều đặn cho tạp chí cho đến khi Sáng Tạo đình bản sau số thứ 31. Năm sau, bộ mới ra đời, nhưng cũng chỉ tiếp tục được 7 số rồi đình bản luôn. Sáng Tạo không còn nhưng Doãn Quốc Sỹ thì vẫn tiếp tục sáng tác. Những tác phẩm lớn, quan trọng của ông tiếp tục ra đời. (U Hoài, Dòng Sông Định Mệnh, Gìn Vàng Giữ Ngọc, Khu Rừng Lau . . .) Song song với cuộc đời làm báo, viết văn, ông còn có cuộc đời của một nhà giáo, giàu kỹ năng sư phạm, hết lòng thương mến học trò, hết sức tận tuỵ với nghề. Ông từng dạy ở các trường trung học Trần Lục, Hồ Ngọc Cẩn, từng làm hiệu trưởng trường trung học Hà Tiên, trước khi lên đường du học tại Hoa Kỳ. Niên khoá 1966-67 ông học ở Florida State University, và niên khoá sau ông sang Nashville Tennessee lấy bằng Master về Education ở đó. Về nước ông tiếp tục nghề dạy học ở các đại học Văn Khoa và Sư Phạm Sài Gòn, ông cũng là giáo sư Đại Học Vạn Hạnh, cho đến ngày Cộng Sản xăm chiếm cả Miền Nam. Thành ra ông có hai cái nghiệp như ông thường nói, “cái nghiệp cầm phấn của nghề dạy học và cái nghiệp cầm bút của người yêu văn”. Cả hai cái nghiệp này, viết văn và dạy học, đều có thể có hậu quả tai hại dưới chế độ độc tài toàn trị của cộng sản, nếu người dạy học và viết văn chỉ biết đề cao tự do, tình người, đạo đức, nhân bản, mà không chịu tôn sùng ông Stalin, bác Mao, và cụ Hồ và cái xã hội chủ nghĩa của họ."
GS Liêm đề cập đế cái dũng khí của nhà văn Doãn Quốc Sỹ khi sa cơ vào chốn ngục tù Cộng Sản:
"Thế nên, năm 1976 trong khi ông đang dạy ở Đại Học Sư Phạm thì được gọi đi học tập, được chỉ thị mang theo đồ dùng trong 10 ngày. Nhưng ông không trỡ về sau 10 ngày học tập như chánh quyền đã nói mà bị đày đi Kontum, Pleiku, đến trại Gia Trung, ở đó lao động, không cho thăm nuôi, gần bốn năm trời dài đăng đẳng. Mãi đến năm 1980, ông mới được thả ra. Về nhà ông viết tiếp, dĩ nhiên là lén lút. Tác phẩm “Đi” được thai nghén trong hoàn cảnh đặc biệt này và được kín đáo gởi ra ngoại quốc. Tác phẩm được nhà Lá Bối xuất bản ở Pháp. Tưởng là việc viết lén và gửi chui ra ngoại quốc xuất bản, với cái tên tác giả là Hồ Khanh, là có thể qua mặt được con mắt cảnh sát của chính quyền, không ngờ tất cả việc làm của ông đều bị công an ghi nhận, tích luỷ để tóm ông vào lưới một lần nữa. Ông bị bắt lại hồi tháng 5, năm 1984 và bốn năm sau bị đưa ra toà, bị kết án 10 năm tù về tội là văn nghệ sĩ phản động, chóng phá cách mạng, đi ngược đường lối của đảng và nhà nước. Thật ra chỉ vì trong tác phẩm của ông, thay vì ca tụng đảng, đề cao xã hội chủ nghĩa, tôn sùng Hồ Chí Minh, thì ông lại ca tụng tình người, nói lên tinh thần nhân bản, tự do, tinh thần khai phóng, đề cao đạo đức, đề cao nghệ thuật hướng đến Chân Thiện Mỹ và tình yêu quê hương. Đó là một cái tội rất lớn trong xã hội toàn trị cộng sản mà con người chỉ được xem như một công cụ chớ không phải là một cứu cánh như ông chủ trương. Bị cộng sản giam cầm, hành hạ, ông không thù hận, mà chấp nhận với một thái độ bình thản, bất khuất, hết sức anh hùng không khác gì thái độ khắc kỷ của Vigny trong bài La mort du loup."
Giai đoạn ly hương ra nước ngoài nhà văn Doãn Quốc Sỹ vẫn gần gủi với phạm vi văn chương, ông cho ấn hành lại những tác phẩm cũ, có thể nhà văn cho ra một tác phẩm mới, nhưng hãy chờ xem.
"Năm 1991 ông lại được thả ra, ông sống ở Sài Gòn cho đến khi được con bảo lãnh sang Mỹ theo diện ODP hồi năm 1995. Từ khi sang Mỹ, ông không còn sáng tác nhiều như xưa, chỉ cho in lại những tác phẩm đã xuất bản. Ông có ý muốn gác kiếm, nghỉ ngơi, nhưng có thể cái nghiệp làm văn chưa cho phép ông trọn vẹn làm việc đó, và trong nay mai biết đâu những độc giả trung thành của ông lại chẳng có dịp đọc thêm những trang sách độc đáo nói về chuyện “Bác Trai, Bác Gái” của Doãn Quốc Sỹ hay của một Hồ Khanh nào khác nữa chăng? Thời gian sẽ trả lời."
Cuối cùng GS Liêm kết luận về cuộc hành trình mà nhà văn/nhà giáo Doãn Quốc Sỹ đã trải qua như sau:
"Cuộc đời 84 năm qua của Doãn Quốc Sỹ là một cuộc đời dồi dào những hoạt động cao đẹp của con người. Hoạt động học hỏi, hoạt động chính trị, hoạt động sáng tác văn chương, hoạt động “hối nhân bất quyện” (tức là dạy học), tất cả đều hướng thượng, hướng về chân thiện mỹ, hướng về tinh thần nhân bản, hướng về giá trị của con người, tình thương của con người và quê hương xứ sở.
Doãn Quốc Sỹ là một nhà văn lớn của Việt Nam tự do, một nhà giáo đáng kính của Việt Nam Cộng Hoà, người anh hùng dân tộc theo ý nghĩa anh hùng mà Romain Rolland đã nói."
Sau phần trình bày của GS Liêm là GS Trần Huy Bích diễn giảng về "Doãn Quốc Sỹ và sự đóng góp văn học của ông qua các các tác phẩm". Tác phẩm đầu tay của nhà văn Doãn Quốc Sỹ là truyện dài “ Giòng Sông Định Mệnh” và tập truyện " Sợ Lửa" được phát hành sau khi ông cùng gia đình di cư vào Nam năm 1954. Cùng các tác phẩm văn chương khác tuần tự xuất bản:
U Hoài (1957), Gánh Xiếc (1958), Gìn Vàng Giữ Ngọc (1959), Hồ Thùy Dương (1960), Trái Cây Đau Khổ (1963), Ngưởi Việt Đáng Yêu (1965), Cánh Tay Nối Dài (1966), Đốt Biên Giới (1966), Sầu Mây (1970), Vào Thiền (1970), Người Vái Tứ Phương (1982), Dấu Chân Cát Xoá, Mình Lại Soi Mình, Khu Rừng Lau, Tuyển Tập Văn Chương Nhi Đồng, và rất nhiều bài bình luận văn chương khác…
Diễn giả thứ ba là GS Phạm Cao Dương lên điểm sách tuyển tập "Kỷ niệm Về Nhà Văn Doãn Quốc Sỹ". Đây là một quyển sách gom góp những kỷ niệm của nhiều tác giả thuộc nhiều thế hệ, nhiều lứa tuổi từ những nhà văn, nhà giáo cùng thế hệ của nhà văn Doãn Quốc Sỹ đến nhiều thế hệ học trò, tựu trung họ viết về những dấu ấn, những cảm hứng viết lách bắt nguồn từ văn chương của Doãn Quốc Sỹ. GS Dương thấy ở Doãn quốc Sỹ là một vị Thầy đáng yêu, khi nhìn về những nhân vật trong tác phẩm của nhà văn. Cái làm nên Doãn Quốc Sỹ đáng yêu đó là cái Tâm uy vũ bất năng khuất trong ngòi bút của ông. Về lãnh vực sáng tạo giáo sư Dương lập lại ý kiến của nhiều người cho rằng "ông đã trải chiếc chiếu hoa riêng để ngồi trong văn đàn VN". Đồng thời, nhà văn Mặc Giao nói trên bìa sách "ông là l nhà văn có tầm nhìn ra thế giới bên ngoài nhưng vẫn gần gũi với tâm tình Việt Nam, cách ứng xử VN, trân trọng với những con cò lặn lội bờ sông, gánh gạo theo chồng tiếng khóc nỉ non. Doãn quốc Sỹ đúng là một vệ binh gìn giữ văn hóa dân tộc". Sách dầy khoảng 320 trang.
Diễn giả thứ tư là nhà văn nữ Bích Huyền trình bày sơ lược về tác phẩm Đồng Tâm 4. Đây là một tuyển tập có sự đóng góp của 37 tác giả, sách dầy 380 trang, các bài viết về nhiều đề tài. Hình bìa trước là tranh họa "Trẩy Hội Mùa Xuân" của họa sĩ Nguyễn Phước. Nhiều bài viết được ghi nhận như "Cái Chết của Một Người" của Doãn Quốc Sỹ, "Nhớ, Nghĩ về Thanh Tâm Tuyền" của Trần Thanh Hiệp, "Xã Hội Việt Nam trong Tiểu Thuyết Hồ Biểu Chánh" của Nguyễn Thanh Liêm, "Hương Ngâu" của Quyên Di, "Hạnh Phúc Bất Chợt" của Tiểu Thu, "Nguyễn Bính - Nhà Thơ của Hương Đồng Cỏ Nội" của Thái Tú Hạp, "Niềm Đau Cô Đơn" của Tạ Xuân Thạc, "Hồn Bướm Mơ Duyên" của Mùi Quý Bồng, "Hạnh Phúc Tràn Đầy" của Hồng Vũ Lan Nhi,... và còn nhiều, mỗi ngòi bút mang một đặc điểm riêng,...
Trong phần đóng góp bất ngờ của GS Lê Xuân Khoa đã gây ngạc nhiên cho quan khách là bản thư mục về sách của GS Doãn Quốc Sỹ mà ban tổ chức công bố nhân dịp ra mắt sách của VDDT còn thiếu hai cuốn sách: một cuốn tiểu thuyết được GS Doãn Quốc Sỹ dịch từ Anh văn ra Việt văn, tức là cuốn "Con Kỳ Lân Cuối Cùng", dịch từ cuốn "The Last Unicorn" của nhà văn Peter Beagle; cuốn thứ nhì là sách biên khảo nhan đề "William Faulkner: Cuộc Đời và Tác Phẩm", GS Doãn Quốc Sỹ viết chung với GS Nguyễn Văn Nhã. Cả hai cuốn này đều do Nhà Xuất Bản Hiện Đại, do GS Lê Xuân Khoa làm giám đốc, ấn hành năm 1972-1973.
GS Lê Xuân Khoa cho biết ông và GS Doãn Quốc Sỹ có một số kỷ niệm đáng ghi nhớ trong thời gian hai ông cùng theo học ngành triết học Đông Phương ở Đại Học Văn Khoa Hà Nội trước 1954, khi vào Nam lại là đồng nghiệp cho đến 1975. Năm 1993, GS Khoa là người bạn cố tri đầu tiên từ Mỹ đến thăm GS Sỹ sau khi ông được thả ra về với gia đình từ trại tù Cộng Sản. Tình bạn thâm niên giữa hai người từ văn chương đến giáo dục, từ dịch thuật đến kỷ niệm. Trong buổi ra mma('t sách và vui sinh nhật này, GS Khoa có chuyển đến ban tổ chức 50 cuốn "Bút Hoa" để chia sẻ đến anh chị em VDDT. Đây là tập thơ cổ xưa Hán-Việt của cụ nho sĩ Phan Mạnh Danh, xuất bản lần đầu ở Hà Nội năm 1942, với lời giới thiệu của học giả Nguyễn Tiến Lãng cùng với thư của cụ Thượng thư Phạm Quỳnh cám ơn và chuyển đạt huy chương cao quý Tam Hạng Kim Khánh do Hoàng đế Bảo Đại ban thưởng cho tác giả. Tưởng cũng nên nói thêm Cụ Phan Mạnh Danh là thân phụ của Giáo sư Phan Thế Roanh, giáo sư lâu năm của trường Chu Van An, Cụ đã từng giữ chức vụ Tổng thư ký Bộ Giáo Dục và Phó Tổng Giám Đốc Nha Trung, Tiểu học và Bình Dân Giáo Dục, cuối cùng là Trưởng ban Hán văn trường Đại học Văn khoa trước khi mất năm 1965, thọ 64 tuổi. Cuốn Bút Hoa được tái bản lần thứ ba năm 2006 tại Houston bởi con trai của GS Phan Thế Roanh là GS Phan Chừng Thanh, giáo sư dạy tại trường trung học Nguyễn Đình Chiểu và Lê Ngọc Hân ở Mỹ Tho từ 1954 đến 1975. Một ấn bản Bút Hoa được thi sĩ Hồng Vũ Lan Nhi trao đến GS Doãn Quốc Sỹ làm kỷ niệm.
Những quà tặng khác gồm một dĩa chưng bày thư họa mỹ thuật và tranh lụa thư họa với lời chúc sinh nhật 84 do họa sĩ Như Phong bên Dallas sáng tác, cả hai tặng phẩm này được Luật sư Trần Thanh Hiệp trao đến GS Doãn Quốc Sỹ. Nhà văn Võ Phiến nhận định về nhà văn Doãn Quốc Sỹ trong bài viết đăng trong sách Việt Nam Văn Học Tổng Quan, tái bản 1988:
"Còn Doãn Quốc Sỹ, ông làm chúng ta nghĩ đến một nhân vật của ông: Khiết. Khiết “kiên trì theo con đường văn hóa”, nhưng “đã trót đi vào con đường chính trị, biết những ngõ ngách của nó, âu cũng thành nghiệp chướng của mình, khó bỏ lắm.”. Khu Rừng Lau phơi bày cái hiểm ác của chế độ này, lột trần nền độc tài nọ. Thái độ chính trị của tác giả luôn luôn hiển lộ trong tác phẩm. Tuy vậy, ông Doãn cũng như Khiết, trước sau “kiên trì theo con đường văn hóa”: Ông chê cái này chống cái nọ vì nó xấu nó ác. Mà ông thì nhất tâm phục vụ cái thiện cái mỹ. Thiện tâm thiện ý của tác giả tỏa ra khắp tác phẩm: trong các truyện của ông Doãn nhân vật nào cũng tốt, việc gì cũng có khía cạnh hay. Ông bất lực không tạo nổi người xấu, kể nổi việc xấu. Đọc sách ông, thơm tho cả tâm hồn. Truyện ông Doãn vừa có luận đề chính trị vừa có chủ tâm giáo dục.". Bản họa chữ "Khiết" bằng Hoa văn được nhà văn Võ Phiến gửi cho nhà văn Doãn Quốc Sỹ. Một tặng phẩm khác là Bulova crystal clock do GS Liêm gửi tặng GS Sỹ. Từ hướng Đông Nam nước Hoa Kỳ nhà văn Chu Bá Yến gửi tặng hoa tươi đến Ban Tổ chức, và trong đó có bó hoa mà hai em Hải Việt và Uyển Diễm trao đến GS Doãn Quốc Sỹ.
Thay mặt anh chị em VDDT, Ban Tổ Chức chúng tôi xin cám ơn những đóng góp trân quý về văn học của quý GS Nguyễn Thanh Liêm, Trần Thanh Hiệp, Phạm Cao Dương, Trần Huy Bich, Đỗ Xuân Khoa, Phan Chừng Thanh, LM Trần Cao Tường, cùng các nhà văn Võ Phiến, Bích Huyền, Thái Tú Hạp, Đỗ Tiến Đức, Quyên Di, Vũ Hối, Như Phong và Chu Bá Yến. Về Văn nghệ, các ca sĩ Lệ Hằng, Kim Tước, Ngọc Hà, Quỳnh Giao, Hoàng Quân, ban kịch vũ Regina Pacis, nhạc sĩ Văn Bình về văn nghệ, cũng như về video, hình ảnh của quý anh Lê Hùynh, Vương Trùng Dương, Lê Văn Khoa, Nguyễn Ngọc Minh, Phong Vũ, Bùi Bỉnh Bân, Peter Morita, Trần Tiến Đạt, Khiếu Như Long, Ngọc Hoài Phương, Nguyễn Đức Nam, Nguyên Huy, Nguyễn Hiền, Nguyễn Kim Đào. Điều khiển sân khấu, hai MC Chu Tất Tiến, Nguyễn Phương Hùng, anh Trung Nguyễn, chủ nhân Emerald Bay và nhân viên. Sau hết, rất đông anh chị em lo phụ giúp trong ban tiếp tân, dưa rước khách phương xa, quý cụ cao niên dùm ban tổ chức. Sự thành công của Buổi Ra Mắt Sách VDDT và Lễ Sinh Nhật Thượng Thọ của GS Nhà văn Doãn Quốc Sỹ là chính nhờ sự thương yêu, dang tay đóng góp từ công sức đến hiện kim, tặng phẩm, những khuyến khích nâng đỡ tinh thần của tất cả quý vị, quan khách cũng như quý bằng hữu đã không đến được vì nhiều lý do, chúng tôi xin cám ơn tất cả. Nếu có những sai sót, xin quý vị bỏ qua cho.
Việt Hải & Lan Nhi, VDDT Nam
Tình Đời, Tình Dục
Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh
Chữ tình thật bao la trong cuộc đời con người, muôn hình vạn trạng không sao kể xiết. Ở đây tôi muốn nói đến một khía cạnh sâu sắc nhất của chữ tình khi nhớ lại chuyện một chàng trai ôm đầu nhỏ lệ với lời than "Chữ tình là cái chi chi, làm sao tôi thấy khổ đau thế này". Đó là tình yêu trai gái. Ở khía cạnh cao thượng đẹp đẽ nhất và cũng nên thơ nhất, tình yêu suởi ấm lòng người, nhưng khi gặp trắc trở nó cũng làm trái tim tan vỡ như dáng hoa ti-gôn, để rồi khối tình si đi đến tuyệt vọng. Vậy mà cũng chữ tình này, ở một khía cạnh khác nó lại xấu xa và tệ hại. Đó là tình dục bệ rạc, thác loạn với thói nghiện ngập chất kích thích, xì-ke ma túy, thường đưa đến kết quả thảm khốc. Tôi muốn nói đến cái chết của nàng Anna Nicole Smith đã lôi cuốn dư luận theo dõi vì truyền thông Mỹ vốn ưa chuyện giật gân, TV, radio đã ra rả mấy tuần liền.
Từ nhiều năm qua Smith là một người đẹp có thân hình rất hấp dẫn đã lừng danh trong chốn ăn chơi của Mỹ. Nàng đã là ngôi sao sáng của những tạp chí với hình ảnh khêu gợi tình dục, thường được gọi là báo lá cải vì khổ nhỏ của nó. Nàng cũng là những diễn viên có hạng của những "sô" rất hấp dẫn trên TV. Trong thế giới ăn chơi của Mỹ, người ta phải kể đến những loại hộp đêm thứ dữ, với các màn trình diễn strip-tease, có các nàng khiêu vũ trên bục nhảy uỡn ẹo khêu gợi, vừa múa vừa cởi dần áo quần trên người, rút cục chỉ còn ba mảnh vải nhỏ bằng bàn tay để che cơ thể. Vào đúng lúc kết quả "xổ số" này, hội trường quán đêm đông nghẹt người bỗng rú lên như bị ma làm, những ông ngồi quanh sát bục nhảy há hốc mồm ra nhìn, giơ tay chới với dưới ánh đèn màu chớp chớp, nhạc kích thích ré lên từng chập. Người ta đã say rượu, say các chất sì-ke ma-túy nên bị kích thích tình dục đến cao độ. Các cô hầu bàn bưng rượu thường phải né tránh bàn của các ông vào những lúc dâm dật điên loạn này.
Simith đã chết bất ngờ đêm 8-2 vừa qua trong phòng ngủ riêng một mìmh, trong một khách sạn tại Florida, ở một thành phố có tên gợi cảm Hollywood. Nàng hưởng dương 39 tuổi. Người ta thường nói chết là hết chuyện. Nhưng Smith chết không hết chuyện, mà lạ lùng thay còn nhiều chuyện làm người ta biết đến nàng hơn lúc còn sống. Hãy trở lại cuộc đời của nàng. Anna Nicole Smith, nhũ danh Vicky Lynn Hogan, ra đời tại Mexia, Texas, khi nàng còn nhỏ đã gặp cảnh cha mẹ bỏ nhau. Năm 17 tuổi Smith lấy một anh bồ nhí có 16 tuổi làm nghề nấu bếp cho một quán gà chiên. Nàng cũng làm hầu bàn ở quán đó. Nàng có một đứa con trai, nhưng bỏ chồng ngay sau đó, để con nhỏ lại cho bà mẹ, đi làm kỹ nữ nhẩy trần, không áo trên trong một hộp đêm tại Houston. Cuộc sống thác loạn từ đó và vẻ đẹp nàng gia tăng nhờ các kỹ thuật sửa sắc đẹp, như bơm, đắp, nén, vá. Từ đó cuộc sống huy hoàng của nàng vọt lên trong giới làng chơi. Năm 26 tuổi (1994), nàng lấy một ông bằng tuổi ông cố nội của nàng. Đó là nhà tỷ phú Howard Marshall II, 89 tuổi. Lúc lễ cưới, cụ Marshall phải ngồi xe lăn, vì đứng không nổi. 14 tháng sau, bố già Marshall lăn cổ ra chết mặc dù Smith không sống chung với cụ chồng đêm nào. Smith kiện đòi chia đôi gia sản lối nửa tỷ đô-la, nhưng người con trai của Marshall đưa ra Tòa phản kháng. Đến nay nội vụ chưa xử xong.
Sau khi Marshall chết, Smith không lấy ông chồng nào khác, tuy nhiên bồ bịch bạn trai không thiếu và 5 tháng trước đây nàng sinh ra một bé gái. Vậy cha đứa bé là ai? Vụ này nổ lớn, có đến 3 ông nhẩy ra nhận nó là con, chỉ vì đứa bé có thể thừa hưởng cái gia tài nửa tỷ đô mà mẹ nó đòi của Marshall. Ba ông này gồm có một ông bồ cũ từng chung sống với nàng một thời gian trước đây, ông thứ hai là một chàng trai trẻ vẫn đi theo nàng bén gót với danh nghĩa thợ nhiếp ảnh nhưng ai cũng biết anh là người tình của nàng. Và thứ ba, một già có dán nhãn hiệu Hoàng tộc, hiện là chồng của một nữ minh tinh màn ảnh Mỹ, đã gồng mình lên "thú nhận" ông vẫn là người tình của Smith từ hơn 10 năm qua tùy lúc tùy cơ cho đến nay, nên ông cũng có thể là cha đứa nhỏ tỷ phú tương lai. Chưa biết có hay không, còn phải chờ thử nghiệm DNA, nhưng trước đây bé gái không ai nhận, nay nó có đến 3 cha. Rõ thật máu tham hễ thấy hơi đồng thì mê, tình đời thật bỉ ổi. Hiện nay bé gái được Tòa trao cho một người giám hộ trên pháp lý.
Lại nữa Smith chết rồi, cái xác của nàng cũng không yên. Người ta đem xác nàng ướp trong phòng lạnh chờ khám nghiệm để tìm rõ nguyên nhân cái chết, mặc dù người ta cho rằng rất có thể nàng chết vì dùng ma-túy kèm thêm với thuốc chống trầm cảm quá độ. Việc chôn cất cái xác của nàng cũng bị tranh chấp vì vấn đề chôn nàng ở đâu. Quan Tòa xử vụ này quyết định trao cho ba phe tranh nhau gồm có hai ông bồ chính thức cũ và mới, và bà mẹ ruột của Smith đã xa nàng từ lâu, muốn đem nàng về chôn ở sinh quán tại Texas. Phiên tòa cũng độc đáo, ông Tòa đã khóc khi tuyên án và nghẹn ngào ngỏ ý mong xác của Smith được đem đến Bahamas, chôn bên cạnh ngôi mộ của đứa con trai đầu lòng của nàng mới chết ở đó hồi tháng 12 năm ngoái, như nàng đã từng mong ước khi còn sống.
Chuyện Anna Smith làm tôi liên tưởng đến nàng Đạm Tiên trong truyện Kiều của cụ Tiên Điền Nguyễn Du. Đó cũng là một kỹ nữ lừng danh tài sắc một thời. Nghe danh tiếng nàng, một khách hào hoa ở xa sắm sửa lễ vật, đi đường thủy đến xin diện kiến. Nào ngờ "Thuyền tình vừa ghé tới nơi, thì đà trâm gẫy bình rơi bao giờ". Đến nơi chẳng may nàng đã bạo bệnh chết, chàng khách phong lưu hào hoa đau lòng đem lễ vật đến lạy trước mồ nàng thương khóc. "Đau đớn thay chút phận đàn bà, lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung". Và cụ Nguyễn Du còn hạ một câu thấm thía "Sống làm vợ khắp người ta, khéo thay thác xuống làm ma không chồng". Tôi muốn hỏi ở nước Mỹ văn minh hiện đại cao ngất trời xanh như ngày nay và cả ở Việt Nam đổi mới tụt hậu, những tay mới nổi lên giầu có, nhất là một số cán bộ, đang đua nhau chạy theo nếp ăn chơi thác loạn của tư bản, liệu có tìm đâu được một khách làng chơi có đủ phong độ và tư cách làm người như ông khách đa tình đã quỳ lạy trước mồ Đạm Tiên hay không?
SƠN ĐIỀN NGUYỄN VIẾT KHÁNH
Chữ tình thật bao la trong cuộc đời con người, muôn hình vạn trạng không sao kể xiết. Ở đây tôi muốn nói đến một khía cạnh sâu sắc nhất của chữ tình khi nhớ lại chuyện một chàng trai ôm đầu nhỏ lệ với lời than "Chữ tình là cái chi chi, làm sao tôi thấy khổ đau thế này". Đó là tình yêu trai gái. Ở khía cạnh cao thượng đẹp đẽ nhất và cũng nên thơ nhất, tình yêu suởi ấm lòng người, nhưng khi gặp trắc trở nó cũng làm trái tim tan vỡ như dáng hoa ti-gôn, để rồi khối tình si đi đến tuyệt vọng. Vậy mà cũng chữ tình này, ở một khía cạnh khác nó lại xấu xa và tệ hại. Đó là tình dục bệ rạc, thác loạn với thói nghiện ngập chất kích thích, xì-ke ma túy, thường đưa đến kết quả thảm khốc. Tôi muốn nói đến cái chết của nàng Anna Nicole Smith đã lôi cuốn dư luận theo dõi vì truyền thông Mỹ vốn ưa chuyện giật gân, TV, radio đã ra rả mấy tuần liền.
Từ nhiều năm qua Smith là một người đẹp có thân hình rất hấp dẫn đã lừng danh trong chốn ăn chơi của Mỹ. Nàng đã là ngôi sao sáng của những tạp chí với hình ảnh khêu gợi tình dục, thường được gọi là báo lá cải vì khổ nhỏ của nó. Nàng cũng là những diễn viên có hạng của những "sô" rất hấp dẫn trên TV. Trong thế giới ăn chơi của Mỹ, người ta phải kể đến những loại hộp đêm thứ dữ, với các màn trình diễn strip-tease, có các nàng khiêu vũ trên bục nhảy uỡn ẹo khêu gợi, vừa múa vừa cởi dần áo quần trên người, rút cục chỉ còn ba mảnh vải nhỏ bằng bàn tay để che cơ thể. Vào đúng lúc kết quả "xổ số" này, hội trường quán đêm đông nghẹt người bỗng rú lên như bị ma làm, những ông ngồi quanh sát bục nhảy há hốc mồm ra nhìn, giơ tay chới với dưới ánh đèn màu chớp chớp, nhạc kích thích ré lên từng chập. Người ta đã say rượu, say các chất sì-ke ma-túy nên bị kích thích tình dục đến cao độ. Các cô hầu bàn bưng rượu thường phải né tránh bàn của các ông vào những lúc dâm dật điên loạn này.
Simith đã chết bất ngờ đêm 8-2 vừa qua trong phòng ngủ riêng một mìmh, trong một khách sạn tại Florida, ở một thành phố có tên gợi cảm Hollywood. Nàng hưởng dương 39 tuổi. Người ta thường nói chết là hết chuyện. Nhưng Smith chết không hết chuyện, mà lạ lùng thay còn nhiều chuyện làm người ta biết đến nàng hơn lúc còn sống. Hãy trở lại cuộc đời của nàng. Anna Nicole Smith, nhũ danh Vicky Lynn Hogan, ra đời tại Mexia, Texas, khi nàng còn nhỏ đã gặp cảnh cha mẹ bỏ nhau. Năm 17 tuổi Smith lấy một anh bồ nhí có 16 tuổi làm nghề nấu bếp cho một quán gà chiên. Nàng cũng làm hầu bàn ở quán đó. Nàng có một đứa con trai, nhưng bỏ chồng ngay sau đó, để con nhỏ lại cho bà mẹ, đi làm kỹ nữ nhẩy trần, không áo trên trong một hộp đêm tại Houston. Cuộc sống thác loạn từ đó và vẻ đẹp nàng gia tăng nhờ các kỹ thuật sửa sắc đẹp, như bơm, đắp, nén, vá. Từ đó cuộc sống huy hoàng của nàng vọt lên trong giới làng chơi. Năm 26 tuổi (1994), nàng lấy một ông bằng tuổi ông cố nội của nàng. Đó là nhà tỷ phú Howard Marshall II, 89 tuổi. Lúc lễ cưới, cụ Marshall phải ngồi xe lăn, vì đứng không nổi. 14 tháng sau, bố già Marshall lăn cổ ra chết mặc dù Smith không sống chung với cụ chồng đêm nào. Smith kiện đòi chia đôi gia sản lối nửa tỷ đô-la, nhưng người con trai của Marshall đưa ra Tòa phản kháng. Đến nay nội vụ chưa xử xong.
Sau khi Marshall chết, Smith không lấy ông chồng nào khác, tuy nhiên bồ bịch bạn trai không thiếu và 5 tháng trước đây nàng sinh ra một bé gái. Vậy cha đứa bé là ai? Vụ này nổ lớn, có đến 3 ông nhẩy ra nhận nó là con, chỉ vì đứa bé có thể thừa hưởng cái gia tài nửa tỷ đô mà mẹ nó đòi của Marshall. Ba ông này gồm có một ông bồ cũ từng chung sống với nàng một thời gian trước đây, ông thứ hai là một chàng trai trẻ vẫn đi theo nàng bén gót với danh nghĩa thợ nhiếp ảnh nhưng ai cũng biết anh là người tình của nàng. Và thứ ba, một già có dán nhãn hiệu Hoàng tộc, hiện là chồng của một nữ minh tinh màn ảnh Mỹ, đã gồng mình lên "thú nhận" ông vẫn là người tình của Smith từ hơn 10 năm qua tùy lúc tùy cơ cho đến nay, nên ông cũng có thể là cha đứa nhỏ tỷ phú tương lai. Chưa biết có hay không, còn phải chờ thử nghiệm DNA, nhưng trước đây bé gái không ai nhận, nay nó có đến 3 cha. Rõ thật máu tham hễ thấy hơi đồng thì mê, tình đời thật bỉ ổi. Hiện nay bé gái được Tòa trao cho một người giám hộ trên pháp lý.
Lại nữa Smith chết rồi, cái xác của nàng cũng không yên. Người ta đem xác nàng ướp trong phòng lạnh chờ khám nghiệm để tìm rõ nguyên nhân cái chết, mặc dù người ta cho rằng rất có thể nàng chết vì dùng ma-túy kèm thêm với thuốc chống trầm cảm quá độ. Việc chôn cất cái xác của nàng cũng bị tranh chấp vì vấn đề chôn nàng ở đâu. Quan Tòa xử vụ này quyết định trao cho ba phe tranh nhau gồm có hai ông bồ chính thức cũ và mới, và bà mẹ ruột của Smith đã xa nàng từ lâu, muốn đem nàng về chôn ở sinh quán tại Texas. Phiên tòa cũng độc đáo, ông Tòa đã khóc khi tuyên án và nghẹn ngào ngỏ ý mong xác của Smith được đem đến Bahamas, chôn bên cạnh ngôi mộ của đứa con trai đầu lòng của nàng mới chết ở đó hồi tháng 12 năm ngoái, như nàng đã từng mong ước khi còn sống.
Chuyện Anna Smith làm tôi liên tưởng đến nàng Đạm Tiên trong truyện Kiều của cụ Tiên Điền Nguyễn Du. Đó cũng là một kỹ nữ lừng danh tài sắc một thời. Nghe danh tiếng nàng, một khách hào hoa ở xa sắm sửa lễ vật, đi đường thủy đến xin diện kiến. Nào ngờ "Thuyền tình vừa ghé tới nơi, thì đà trâm gẫy bình rơi bao giờ". Đến nơi chẳng may nàng đã bạo bệnh chết, chàng khách phong lưu hào hoa đau lòng đem lễ vật đến lạy trước mồ nàng thương khóc. "Đau đớn thay chút phận đàn bà, lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung". Và cụ Nguyễn Du còn hạ một câu thấm thía "Sống làm vợ khắp người ta, khéo thay thác xuống làm ma không chồng". Tôi muốn hỏi ở nước Mỹ văn minh hiện đại cao ngất trời xanh như ngày nay và cả ở Việt Nam đổi mới tụt hậu, những tay mới nổi lên giầu có, nhất là một số cán bộ, đang đua nhau chạy theo nếp ăn chơi thác loạn của tư bản, liệu có tìm đâu được một khách làng chơi có đủ phong độ và tư cách làm người như ông khách đa tình đã quỳ lạy trước mồ Đạm Tiên hay không?
SƠN ĐIỀN NGUYỄN VIẾT KHÁNH
Chiếx xe phở đầu tiên tại miền bắc California
Nguyễn Dương, Cali Today Daily News
Cali Today News – Ra đi mang theo kỷ niệm, mang theo cả một quê hương. Trong ý nghĩa đó, nhà hàng Nhà Tôi đã về Việt Nam mang qua một chiếc xe phở, một hình ảnh mà người Sài Gòn không thể quên khi đi ăn phở Hiền Vương, phở Pasteur, phở Công Lý,...
Sáng nay, thứ bảy, trời San Jose bỗng se lạnh, thế nhưng nhiều người đã ngồi trên vĩa hè đường William, cách tòa soạn nhật báo Cali Today một căn, để nhăm nhi cà phê và thưởng thức phở từ chiếc xe phở vừa nhập cảng từ Sài Gòn.
Hình ảnh quê hương còn đậm nét hơn khi một số người như ký giả Lê Bình mặc áo dài truyền thống và khăn đóng hay ký giả Bạch Phụng, cô Thanh Nga mặc áo tứ thân,...
Bỗng dưng giữa thung lũng điện tử Silicon valley một con phố nhỏ quê nhà...
Mời qúy khán giả và độc giả xem qua phóng sự truyền hình sau đây.
Nguyễn Dương
Xin bấm vào đây để xem video
Nguyễn Dương, Cali Today Daily News
Cali Today News – Ra đi mang theo kỷ niệm, mang theo cả một quê hương. Trong ý nghĩa đó, nhà hàng Nhà Tôi đã về Việt Nam mang qua một chiếc xe phở, một hình ảnh mà người Sài Gòn không thể quên khi đi ăn phở Hiền Vương, phở Pasteur, phở Công Lý,...
Sáng nay, thứ bảy, trời San Jose bỗng se lạnh, thế nhưng nhiều người đã ngồi trên vĩa hè đường William, cách tòa soạn nhật báo Cali Today một căn, để nhăm nhi cà phê và thưởng thức phở từ chiếc xe phở vừa nhập cảng từ Sài Gòn.
Hình ảnh quê hương còn đậm nét hơn khi một số người như ký giả Lê Bình mặc áo dài truyền thống và khăn đóng hay ký giả Bạch Phụng, cô Thanh Nga mặc áo tứ thân,...
Bỗng dưng giữa thung lũng điện tử Silicon valley một con phố nhỏ quê nhà...
Mời qúy khán giả và độc giả xem qua phóng sự truyền hình sau đây.
Nguyễn Dương
Xin bấm vào đây để xem video
Đàn Bà Muốn Gì?
thơ Kim Addonizio
Đỗ Lê Anhdao chuyển ngữ
Tôi muốn một cái áo đầm màu đỏ.
Tôi muốn nó mỏng manh và rẻ tiền.
Tôi muốn nó rất bó sát người, tôi muốn mặc nó
đến khi có một người xé rách nó xuống khỏi người tôi.
Tôi muốn nó sát nách và hở lưng,
cái áo đầm này, để không ai phải đoán mò
ở dưới có gì. Tôi muốn bước ngang
con đường trước tiệm Thrifty’s và tiệm bán đồ ngũ kim
với tất cả những chùm chìa khóa lấp lánh trong cửa sổ,
băng qua chỗ Ông Bà Wong đang bán những cái bánh donut
cũ một ngày trong cửa hàng của họ, băng qua chỗ hai anh em Guerra
đang quăng những con heo từ xe tải xuống cái gánh đẩy,
gác những mõm heo bóng láng qua bả vai của họ.
Tôi muốn cất bước như tôi là
người đàn bà duy nhất trên địa cầu và tôi muốn ai cũng được.
Tôi thèm thuồng cái áo đầm đỏ đó.
Tôi muốn nó xác nhận
những điều lo ngại to lớn nhất của anh,
để anh biết tôi không quan tâm đến anh
hoặc bất cứ gì khác
trừ những điều tôi muốn.
Và khi tôi tìm được nó, tôi sẽ kéo lớp vải
xuống từ móc treo như tôi đang chọn một người
để đem tôi vào đời, trải qua chung
những than khóc sinh thành và chết chóc,
và tôi sẽ mặc nó như xương, như da,
nó sẽ là cái áo
mà người ta sẽ phải chôn chung với tôi.
thơ Kim Addonizio
Đỗ Lê Anhdao chuyển ngữ
Tôi muốn một cái áo đầm màu đỏ.
Tôi muốn nó mỏng manh và rẻ tiền.
Tôi muốn nó rất bó sát người, tôi muốn mặc nó
đến khi có một người xé rách nó xuống khỏi người tôi.
Tôi muốn nó sát nách và hở lưng,
cái áo đầm này, để không ai phải đoán mò
ở dưới có gì. Tôi muốn bước ngang
con đường trước tiệm Thrifty’s và tiệm bán đồ ngũ kim
với tất cả những chùm chìa khóa lấp lánh trong cửa sổ,
băng qua chỗ Ông Bà Wong đang bán những cái bánh donut
cũ một ngày trong cửa hàng của họ, băng qua chỗ hai anh em Guerra
đang quăng những con heo từ xe tải xuống cái gánh đẩy,
gác những mõm heo bóng láng qua bả vai của họ.
Tôi muốn cất bước như tôi là
người đàn bà duy nhất trên địa cầu và tôi muốn ai cũng được.
Tôi thèm thuồng cái áo đầm đỏ đó.
Tôi muốn nó xác nhận
những điều lo ngại to lớn nhất của anh,
để anh biết tôi không quan tâm đến anh
hoặc bất cứ gì khác
trừ những điều tôi muốn.
Và khi tôi tìm được nó, tôi sẽ kéo lớp vải
xuống từ móc treo như tôi đang chọn một người
để đem tôi vào đời, trải qua chung
những than khóc sinh thành và chết chóc,
và tôi sẽ mặc nó như xương, như da,
nó sẽ là cái áo
mà người ta sẽ phải chôn chung với tôi.
Tản mạn về truyền thống
" khăn đóng áo dài "
Văn Ngọc

Thầy giáo "khăn đóng áo dài"
(Kho ảnh trường VĐBCP) Chỉ cần nhìn bằng con mắt của một người có trình độ văn hoá bình thường, cũng đủ nhận thấy sự lỗi thời của cái mốt "khăn đóng áo dài" của đàn ông Việt Nam, nhất là ở thời đại ngày nay. Sự lỗi thời đó nằm ở trên cả hai mặt : mỹ thuật và ý nghĩa biểu trưng.
Đứng về mặt mỹ thuật, tôi chưa từng thấy một dân tộc nào có một bộ y phục đàn ông nào, được coi gần như là "quốc phục", mà trông lại xấu đến thế ! Nó gần với một bộ "đồng phục", hơn là một bộ y phục thông thường, bởi nó gồm bốn bộ phận gần như "bất di bất dịch", không thể thay đổi được, đó là : chiếc áo dài (màu và vật liệu có thể thay đổi tuỳ theo trường hợp, nhưng cũng chỉ giới hạn ở ba màu chính : đen (thâm), trắng, và xanh lam ; còn vật liệu có thể là : vải, lụa, the, nhiễu , hay gấm) ; chiếc khăn xếp (thường thường là màu đen, có thể được thay thế bằng chiếc khăn quấn bằng nhiễu) ; chiếc quần ta bằng vải, hay lụa trắng ; cuối cùng, là đôi giầy Gia Định bằng da láng màu đen. Tuy thực chất chỉ là một bộ "thường phục", nhưng nó lại hay được sử dụng trong những dịp lễ lạc, hay giao tiếp long trọng, bởi hầu hết các tầng lớp trong xã hội, từ các vị chức sắc cho đến người dân thường ; từ ông thầy đồ làng cho đến các cậu học trò nhỏ tuổi. Thậm chí, các "liền anh" Quan Họ cũng đã bị cái mốt này chinh phục. Đứng bên cạnh chiếc áo tứ thân của các "liền chị", trông các "liền anh" quả là cứng nhắc, không tự nhiên chút nào. Ngay cả mấy ông vua cuối cùng của triều Nguyễn, từ Hàm Nghi đến Bảo Đại cũng đã từng có lúc "khăn đóng áo dài".

Vua Hàm Nghi
(Trung tâm lưu trữ ảnh
Aix-en-Provence)

Ông đồ viết câu đối ngày Tết
(Ảnh trường VĐBCP) Trong cuốn sách " Huế, Cité impériale du Viet Nam" của Ann Helen Unger và Walter Unger, NXB Abbeville, Paris, 1995), có hình ông Bảo Đại trong bộ y phục này trên một tấm ảnh gia đình chụp cùng với bà Từ Cung, mẹ ông, và vợ con ông. Ông Bảo Đại mặc một chiếc áo dài trông như thể bằng nhung, khăn xếp chắc cũng bằng nhung, bà Từ Cung, bà Nam Phương và đứa con nhỏ thì mặc áo dài gấm thêu, rất là lộng lẫy. Nhìn tấm ảnh, trước hết người ta không khỏi nhận xét thấy một sự thiếu hài hoà rõ ràng. Không còn nghi ngờ gì nữa : đây đúng là một cái mốt "truyền thống" đã được ngay cả hoàng gia tôn sùng và áp dụng, dù cho có thấy hay không thấy rằng nó rất xấu. Ngay cả một ông vua nhỏ tuổi (vua Duy Tân lúc vừa bị chính quyền bảo hộ đặt lên ngôi, lúc lên 8 tuổi) cũng cùng với hai em của mình "khăn đóng áo dài", như những đứa trẻ con nhà thường dân (Sđd). Điều đó có ý nghĩa gì ?

Vua Bảo Đại
"khăn đóng áo dài" (sđd)Phải chăng, bộ đồng phục "khăn đóng áo dài" tượng trưng cho sự tôn trọng cái bề ngoài ngăn nắp của một xã hội phong kiến, cái tính cách nghiêm cẩn ngoài mặt của một cá nhân, có giá trị đối với tất cả mọi người ? Bộ đồng phục ấy, không những vừa che kín được thân xác, mà đồng thời lại vừa che lấp đi được phần nào những khác biệt về mặt đẳng cấp giữa các cá nhân trong xã hội ? Phải chăng, đó cũng là một cách mị dân ? Có lẽ cũng vì thế mà trong một thời gian dài, ít nhất vài ba thế kỷ, nó đã được sử dụng một cách phổ biến từ nông thôn đến thành thị, từ trong giới các nhà nho, các chức sắc, đến những người dân bình thường.Vô hình trung, người ta đã coi nó như một bộ "quốc phục".
Song, xã hội Việt Nam đã có nhiều thay đổi, kể từ Cách mạng tháng Tám. Cái ý nghĩa ước lệ xưa kia của bộ đồng phục "khăn đóng áo dài" lẽ ra cũng phải mất đi, nhưng trên thực tế nó đã tồn tại dai dẳng cho đến ngày hôm nay. Ở một số nơi, trong nước cũng như ngoài nước, có những người vẫn coi đây là một bộ y phục "truyền thống", và cứ vào các dịp lễ lạc trong nhà, hay ngoài chỗ công cộng, ngay cả trên sân khấu, hoặc trên đài truyền hình, là lại lấy ra mặc và coi như thế là đúng khuôn phép đạo đức. Người ta không cần xét đến khía cạnh thiếu thẩm mỹ của nó. Bằng chứng là nhân dịp tổ chức Hội nghị thượng đỉnh các nguyên thủ quốc gia ở Hà Nội, người ta đã đem cái bộ đồng phục "khăn đóng áo dài" đó ra để cho các nguyên thủ các nước mặc. Không những thế, lại còn áp dụng cả những ước lệ có từ thế kỷ XVIII về ý nghĩa tượng trưng của mỗi màu áo : màu vàng là dành cho nhà vua, v.v.

Chiếc áo dài nữ ở đầu thế kỷ XIXĐể thấy được đâu là những khuyết điểm của cái mốt "khăn đóng áo dài", chúng tôi thấy cần phải phân tích cả bốn bộ phận của nó : cái áo dài, cái khăn xếp, cái quần ta, và đôi giầy Gia Định. Tuy nhiên, hai bộ phận đầu mới là chính, hai bộ phận sau chỉ là phụ, vì nằm khuất hơn, ít được nhìn thấy hơn.
Nguồn gốc của chiếc áo dài
Người ta thường tự hỏi nguồn gốc của chiếc áo dài từ đâu mà ra. Ở đây, ta hãy tạm thời không phân biệt chiếc áo dài nữ với chiếc áo dài nam, ít ra về mặt hình dạng, chứ chưa xét đến chất liệu vội, bởi trên thực tế, ở khoảng cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chiếc áo dài của phụ nữ thành thị vẫn chưa được chiết eo, và hình dạng không khác gì chiếc áo dài đàn ông. Có khác chăng, là chỉ về mặt chất liệu. Áo dài đàn ông thường bằng vải, lụa, the, hay, gấm, và thường được gọi là : áo dài ta, áo the, hay áo gấm. Màu sắc của chiếc áo dài đàn ông, trừ áo gấm, cũng chỉ giới hạn ở các màu : đen, trắng, xanh lam. Còn áo dài phụ nữ có thể may bằng nhiều thứ vật liệu, từ vải, lụa, nhiễu, nhung, đến len, gấm, v.v., với nhiều màu sắc, và nhiều chất liệu trang trí.

Y phục của hai ngọc nữ ở chùa Dâu, Hà Bắc (thế kỷ VI-XIV)Nhìn những bức tranh Tố Nữ, hay tranh thờ đạo Mẫu, của dòng tranh Hàng Trống, ta thấy các cô Tố Nữ và Cô Ba, một thần linh của đạo Mẫu, đều mặc áo dài thuần tuý Việt Nam. Xem như vậy, mẫu hình của chiếc áo dài cổ điển này phải có ít nhất từ khi có các tranh Tố Nữ và tranh thờ Cô Ba ở Hàng Trống, nghĩa là ít ra cũng phải từ thế kỷ XVIII, khi đạo Mẫu đã phát triển mạnh, ít ra ở vùng đất Thăng Long.
Mặt khác, ở một vài ngôi chùa cổ nổi tiếng, như chùa Dâu, thuộc huyện Thuận Thành, tỉnh Hà Bắc (được xây dựng từ thế kỷ VI, sau được trùng tu bởi Mạc Đĩnh Chi ở thế kỷ XIV), trên điện thờ Bà Dâu, người ta nhận xét thấy trên hai pho tượng ngọc nữ đứng hầu ở hai bên, y phục mang những nét rất Việt Nam, chiếc áo dài bó lấy người, tuy không thấy rõ là có chiết eo hay không, nhưng có thắt lưng có dải bó người lại, và dáng dấp giống như chiếc áo tứ thân, hay áo tân thời của đời nay, xiêm áo hình cánh sen chùng tới gần gót chân. Chiếc khăn vấn tóc của hai ngọc nữ này cũng rất đáng chú ý . Đó có thể là hình tượng chiếc khăn vấn tóc truyền thống của người phụ nữ Việt Nam (với tiết diện tròn) còn được truyền mãi đến sau này. Nếu những pho tượng nói trên đã không bị hư hỏng, hoặc bị sửa lại từ thời ông Mạc Đĩnh Chi, thì rõ ràng niên đại của chúng phải ít nhất từ thế kỷ XIV, nếu không xưa hơn nữa. Cũng như bốn pho tượng ngọc nữ ở điện thờ chùa Keo (Thái Bình - đầu thế kỷ XVII) đều được tạc với áo dài cổ cao, thắt lưng có dải, và khăn vấn tóc.
Chi tiết ngọc nữ chùa Dâu Nguồn gốc của chiếc áo dài phụ nữ, có thể còn xa xưa hơn nữa, song vì thiếu tài liệu cụ thể, nên ta chưa thể biết hơn được. Nguồn gốc của chiếc áo dài đàn ông lại còn phức tạp hơn, vì không những ít tài liệu, mà lại có tới hai, ba kiểu áo khác nhau : có chiếc áo dài cổ điển vùng đồng bằng mà ta quen biết, lại có kiểu áo dài "Đề Thám", có thể là một phong cách địa phương của người vùng Yên Thế chăng, lại còn có áo thụng, tay áo rộng và dài. Trong cuốn sách "Huế, la cité impériale du Viet Nam" đã dẫn ở trên, có bức chân dung của vua Gia Long mặc áo thâm cổ cao, trông như áo dài ta. Như vậy truyền thống mặc áo dài ta của đàn ông có ít nhất từ cuối thế kỷ XVIII.
Cái đẹp và... cái xấu của chiếc áo dài
Phải trải qua nhiều đợt cải tiến, chiếc áo dài phụ nữ mới có được cái diện mạo bay bướm, gợi cảm, như ngày hôm nay. Ta khỏi cần phải nhắc lại những chi tiết của các cuộc cải tiến này, chỉ cần ghi nhớ tên của ba người đã có công trong việc cải cách này : người đầu tiên là nhà thiết kế mẫu Cát Tường, vào khoảng những năm 1932-1934 đã đưa ra những mẫu áo dài "tân thời" đầu tiên (áo Le Mur), mang nhiều ảnh hưởng của thời trang Pháp. Sau đó, ở Hội chợ Nữ công Đà Nẵng, năm 1934, hoạ sĩ Lê Phổ đã đưa ra một mẫu áo có cải tiến thêm một bước nữa : vai không bồng, cổ kín, cài khuy bên phải, thân áo ôm sát người ; áo may bằng vải màu, mặc với quần trắng, tóc búi lỏng, vấn trần, hay vấn khăn nhung. Cuối cùng, cũng vào những năm cuối thập niên 30 này, bà Trịnh thị Thục Oanh, hiệu trưởng trường Hàng Cót, đưa ra một sáng kiến, mà tôi cho là vô cùng quan trọng : đó là việc chiết eo, để tôn cái đẹp của thân hình người phụ nữ lên. Sau này, chiếc áo dài phụ nữ ngày càng được cải tiến thêm, để tăng thêm tính chất bay bướm, năng động, tươi vui, của nó. Tuy nhiên, chiếc áo dài chỉ thật sự đẹp, khi người phụ nữ mặc nó có một thân hình đẹp : eo nhỏ, người thanh, chân cao, dáng đi uyển chuyển, động tác nhanh nhẹn, v.v. Và đây cũng là một điểm son của chiếc áo dài : nó rất kín, mà cũng rất hở, nhưng nó không khoan dung bất cứ một sự giả trá nào.
Áo dài đàn ông không chiết eo, và có thể từ trước đến giờ vẫn như thế, từ chiếc áo vải thâm của các ông thầy đồ, hay của các cậu học trò nhỏ ngày xưa, cho đến chiếc áo của "liền anh" Quan Họ, hoặc chiếc áo gấm của nhà quyền quý. Chiếc áo dài đàn ông không bó sát người, nên không cho phép người ta thấy được hình dạng cơ thể của người mặc nó. Quả là nó rất kín ! Nhưng ngược lại, nhất là khi đội cái khăn xếp vào, thi nó tạo ra một thứ "đồng phục", không những che lấp cả cái cơ thể của con người, mà còn che lấp cả cái phong cách, điệu bộ, dáng dấp, của người đó, khiến cho người ta không còn phân biệt được ai vào với ai nữa ! Tôi chỉ xin nêu một hình ảnh để so sánh. Bạn hãy tưởng tượng, trong một phòng hội, hay một phòng "salon" lớn, mọi người đều mặc "complet smoking" hết. Không ai thấy chướng cả, mặc dầu nó cũng là "đồng phục" , vì sao vậy ? Vì bộ "smoking", về mặt thẩm mỹ, có cái kiểu dáng riêng của nó : gọn gàng, thanh lịch, kín đáo, không che dấu cơ thể con người, và từ ít ra hơn một thế kỷ nay đã được sự đồng thuận của nhiều người, thuộc nhiều nền văn hoá khác nhau : nó có một chức năng rõ ràng, và có một giá trị thẩm mỹ đã được thử thách và được nhiều người nhìn nhận, từ hơn một thế kỷ nay.
Về mặt thẩm mỹ, không như chiếc áo dài phụ nữ, chiếc áo dài đàn ông không dựa vào đâu để có thể đẹp được, chắc chắn là không dựa được vào cái thân hình của người đàn ông rồi. Không lẽ bó eo lại, thì lại thành ra ẻo lả. Chiếc áo dài đàn ông chỉ tiện là vào mùa rét, nhất là ở miền bắc và miền trung nước ta, mặc áo dài ta ấm hơn và có thể thủ tay dưới vạt áo được ! Nó không thể nào "bay bướm" được, ngược lại nó chỉ có thể khiến cho người đàn ông đi đứng càng thêm chậm chạp, nhất là với đôi giầy Gia Định lê lẹp kẹp !

Chiếc áo dài của ông Đề Thám (Tư liệu Trung tâm lưu trữ Aix-en-Provence)Tuy nhiên, cũng có một ngoại lệ : chiếc áo dài "Đề Thám". Tôi tạm gọi như thế, vì vì ông Đề Thám lúc sinh thời chỉ mặc có chiếc áo dài này thôi, và khi ông chít khăn thì cũng không bao giờ dùng khăn xếp, mà dùng khăn quấn, cho nên rất hợp với chiếc áo dài vốn sẵn có đầy nếp của ông. Về mặt thẩm mỹ, chiếc áo dài "Đề Thám" có dáng dấp và phong cách rất độc đáo. Nó giống như thể một chiếc khăn lớn có những nếp nhăn xếp theo một chiều, tạo nên những đường nét mạnh mẽ. Rõ ràng "chủ nhân" của nó là một người có gu, từ đầu đến chân ! Nhịp điệu của những nếp áo, tự chúng đã có một giá trị thẩm mỹ rồi. Nhờ đó mà chiếc áo có một vẻ đẹp sinh động, phù hợp với một con người thường hay phải di chuyển như ông Hoàng Hoa Thám. Đối với con mắt người ngày nay, chúng ta có thể cảm nhận được dễ dàng cái đẹp đó. Đó là cái đẹp của nhịp điệu và của chất liệu. Ông Đề Thám dùng loại áo vạt ngắn này để tiện cho việc đi lại, di chuyển, nhưng người ta có thể hình dung một kiểu áo cũng như thế, nhưng với vạt dài hơn, chắc cũng không xấu.
Cái gì làm cho bộ y phục " khăn đóng áo dài" của nam giới xấu ?
Chiếc áo dài đàn ông không có gì là hấp dẫn cả. Điều đó, chúng ta đã thấy. Nó cũng không che đậy được cái hình dạng thật của cơ thể con người. Song, dù không có cá tính đến đâu, thì cũng không phải vì thế mà toàn bộ cái mốt "khăn đóng áo dài" trông không những khô khan, mà còn ngây ngô, nếu không muốn nói là lố bịch nữa. Vậy cái xấu nằm ở chỗ nào, và cái lố bịch nằm ở chỗ nào ?
Chiếc khăn quấn bằng nhiễu Theo tôi, đầu mối là ở chiếc khăn xếp (khăn đóng). Không phải tự nhiên, mà các cụ ta đã có cái thành ngữ rất chính xác và cũng rất là hài hước : " khăn đóng áo dài ". Chỉ riêng chữ " đóng ", cũng đủ gợi lên cái hình ảnh, nói lên cái ý nghĩa trịnh trọng, bó buộc, không thoải mái, của toàn bộ cách ăn mặc này (đóng khuôn, đóng khung, đóng bộ, v.v.). Chiếc khăn xếp, không như chiếc khăn quấn, mà mỗi người quấn theo một cách, người quấn to, người quấn nhỏ, người dùng vải, lụa, người dùng nhiễu. Do đó, có thể nói rằng, khăn quấn không cái nào giống cái nào, từ những cái nếp khăn, cho đến hình dạng chung. Chiếc khăn xếp, ngược lại, được sản xuất hàng loạt, ngày xưa nó là hàng thủ công nghệ, có cùng một hình dạng, khuôn mẫu, không thể thay đổi được. Tôi đã từng được xem người ta làm khăn xếp ở phố Hàng Nón ngày xưa. Khăn xếp đội lên đầu, là che lấp hết tóc ở đằng trước cho đến trán. Trông từ phía trước, hai bên cạnh của chiếc khăn hình trụ này là hai đường thẳng song song với nhau, càng làm tăng thêm vẻ khô khan cho toàn bộ khuôn mặt và chiếc áo dài (hay chiếc áo nửa dài, nửa thụng, ở Hội nghị thượng đỉnh APEC 2006, chẳng hạn). Về mặt thẩm mỹ, chiếc khăn xếp (khăn đóng) không đem lại được một đường nét nào làm "tôn" khuôn mặt lên được, ngược lại, nó tạo ra một hình tượng khô khan, trịnh trọng một cách giả tạo, và không mấy thanh lịch. Cũng như thể chiếc "vương miện" của các bà, các cô theo mốt bà Nhu một thời, được đưa vào bộ y phục cưới của phụ nữ !
Quả là, chỉ "sai một ly đi một dặm". Từ chiếc khăn vấn của các nàng ngọc nữ ở chùa Dâu, đến cái mốt vương miện của bà Nhu, cũng như từ chiếc khăn quấn mềm mại, thoải mái, giàu cá tính, đến chiếc khăn xếp cứng đơ, đơn điệu, khoảng cách thẩm mỹ quả là rất lớn.
Văn Ngọc
" khăn đóng áo dài "
Văn Ngọc

Thầy giáo "khăn đóng áo dài"
(Kho ảnh trường VĐBCP) Chỉ cần nhìn bằng con mắt của một người có trình độ văn hoá bình thường, cũng đủ nhận thấy sự lỗi thời của cái mốt "khăn đóng áo dài" của đàn ông Việt Nam, nhất là ở thời đại ngày nay. Sự lỗi thời đó nằm ở trên cả hai mặt : mỹ thuật và ý nghĩa biểu trưng.
Đứng về mặt mỹ thuật, tôi chưa từng thấy một dân tộc nào có một bộ y phục đàn ông nào, được coi gần như là "quốc phục", mà trông lại xấu đến thế ! Nó gần với một bộ "đồng phục", hơn là một bộ y phục thông thường, bởi nó gồm bốn bộ phận gần như "bất di bất dịch", không thể thay đổi được, đó là : chiếc áo dài (màu và vật liệu có thể thay đổi tuỳ theo trường hợp, nhưng cũng chỉ giới hạn ở ba màu chính : đen (thâm), trắng, và xanh lam ; còn vật liệu có thể là : vải, lụa, the, nhiễu , hay gấm) ; chiếc khăn xếp (thường thường là màu đen, có thể được thay thế bằng chiếc khăn quấn bằng nhiễu) ; chiếc quần ta bằng vải, hay lụa trắng ; cuối cùng, là đôi giầy Gia Định bằng da láng màu đen. Tuy thực chất chỉ là một bộ "thường phục", nhưng nó lại hay được sử dụng trong những dịp lễ lạc, hay giao tiếp long trọng, bởi hầu hết các tầng lớp trong xã hội, từ các vị chức sắc cho đến người dân thường ; từ ông thầy đồ làng cho đến các cậu học trò nhỏ tuổi. Thậm chí, các "liền anh" Quan Họ cũng đã bị cái mốt này chinh phục. Đứng bên cạnh chiếc áo tứ thân của các "liền chị", trông các "liền anh" quả là cứng nhắc, không tự nhiên chút nào. Ngay cả mấy ông vua cuối cùng của triều Nguyễn, từ Hàm Nghi đến Bảo Đại cũng đã từng có lúc "khăn đóng áo dài".

Vua Hàm Nghi
(Trung tâm lưu trữ ảnh
Aix-en-Provence)

Ông đồ viết câu đối ngày Tết
(Ảnh trường VĐBCP) Trong cuốn sách " Huế, Cité impériale du Viet Nam" của Ann Helen Unger và Walter Unger, NXB Abbeville, Paris, 1995), có hình ông Bảo Đại trong bộ y phục này trên một tấm ảnh gia đình chụp cùng với bà Từ Cung, mẹ ông, và vợ con ông. Ông Bảo Đại mặc một chiếc áo dài trông như thể bằng nhung, khăn xếp chắc cũng bằng nhung, bà Từ Cung, bà Nam Phương và đứa con nhỏ thì mặc áo dài gấm thêu, rất là lộng lẫy. Nhìn tấm ảnh, trước hết người ta không khỏi nhận xét thấy một sự thiếu hài hoà rõ ràng. Không còn nghi ngờ gì nữa : đây đúng là một cái mốt "truyền thống" đã được ngay cả hoàng gia tôn sùng và áp dụng, dù cho có thấy hay không thấy rằng nó rất xấu. Ngay cả một ông vua nhỏ tuổi (vua Duy Tân lúc vừa bị chính quyền bảo hộ đặt lên ngôi, lúc lên 8 tuổi) cũng cùng với hai em của mình "khăn đóng áo dài", như những đứa trẻ con nhà thường dân (Sđd). Điều đó có ý nghĩa gì ?

Vua Bảo Đại
"khăn đóng áo dài" (sđd)Phải chăng, bộ đồng phục "khăn đóng áo dài" tượng trưng cho sự tôn trọng cái bề ngoài ngăn nắp của một xã hội phong kiến, cái tính cách nghiêm cẩn ngoài mặt của một cá nhân, có giá trị đối với tất cả mọi người ? Bộ đồng phục ấy, không những vừa che kín được thân xác, mà đồng thời lại vừa che lấp đi được phần nào những khác biệt về mặt đẳng cấp giữa các cá nhân trong xã hội ? Phải chăng, đó cũng là một cách mị dân ? Có lẽ cũng vì thế mà trong một thời gian dài, ít nhất vài ba thế kỷ, nó đã được sử dụng một cách phổ biến từ nông thôn đến thành thị, từ trong giới các nhà nho, các chức sắc, đến những người dân bình thường.Vô hình trung, người ta đã coi nó như một bộ "quốc phục".
Song, xã hội Việt Nam đã có nhiều thay đổi, kể từ Cách mạng tháng Tám. Cái ý nghĩa ước lệ xưa kia của bộ đồng phục "khăn đóng áo dài" lẽ ra cũng phải mất đi, nhưng trên thực tế nó đã tồn tại dai dẳng cho đến ngày hôm nay. Ở một số nơi, trong nước cũng như ngoài nước, có những người vẫn coi đây là một bộ y phục "truyền thống", và cứ vào các dịp lễ lạc trong nhà, hay ngoài chỗ công cộng, ngay cả trên sân khấu, hoặc trên đài truyền hình, là lại lấy ra mặc và coi như thế là đúng khuôn phép đạo đức. Người ta không cần xét đến khía cạnh thiếu thẩm mỹ của nó. Bằng chứng là nhân dịp tổ chức Hội nghị thượng đỉnh các nguyên thủ quốc gia ở Hà Nội, người ta đã đem cái bộ đồng phục "khăn đóng áo dài" đó ra để cho các nguyên thủ các nước mặc. Không những thế, lại còn áp dụng cả những ước lệ có từ thế kỷ XVIII về ý nghĩa tượng trưng của mỗi màu áo : màu vàng là dành cho nhà vua, v.v.

Chiếc áo dài nữ ở đầu thế kỷ XIXĐể thấy được đâu là những khuyết điểm của cái mốt "khăn đóng áo dài", chúng tôi thấy cần phải phân tích cả bốn bộ phận của nó : cái áo dài, cái khăn xếp, cái quần ta, và đôi giầy Gia Định. Tuy nhiên, hai bộ phận đầu mới là chính, hai bộ phận sau chỉ là phụ, vì nằm khuất hơn, ít được nhìn thấy hơn.
Nguồn gốc của chiếc áo dài
Người ta thường tự hỏi nguồn gốc của chiếc áo dài từ đâu mà ra. Ở đây, ta hãy tạm thời không phân biệt chiếc áo dài nữ với chiếc áo dài nam, ít ra về mặt hình dạng, chứ chưa xét đến chất liệu vội, bởi trên thực tế, ở khoảng cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, chiếc áo dài của phụ nữ thành thị vẫn chưa được chiết eo, và hình dạng không khác gì chiếc áo dài đàn ông. Có khác chăng, là chỉ về mặt chất liệu. Áo dài đàn ông thường bằng vải, lụa, the, hay, gấm, và thường được gọi là : áo dài ta, áo the, hay áo gấm. Màu sắc của chiếc áo dài đàn ông, trừ áo gấm, cũng chỉ giới hạn ở các màu : đen, trắng, xanh lam. Còn áo dài phụ nữ có thể may bằng nhiều thứ vật liệu, từ vải, lụa, nhiễu, nhung, đến len, gấm, v.v., với nhiều màu sắc, và nhiều chất liệu trang trí.

Y phục của hai ngọc nữ ở chùa Dâu, Hà Bắc (thế kỷ VI-XIV)Nhìn những bức tranh Tố Nữ, hay tranh thờ đạo Mẫu, của dòng tranh Hàng Trống, ta thấy các cô Tố Nữ và Cô Ba, một thần linh của đạo Mẫu, đều mặc áo dài thuần tuý Việt Nam. Xem như vậy, mẫu hình của chiếc áo dài cổ điển này phải có ít nhất từ khi có các tranh Tố Nữ và tranh thờ Cô Ba ở Hàng Trống, nghĩa là ít ra cũng phải từ thế kỷ XVIII, khi đạo Mẫu đã phát triển mạnh, ít ra ở vùng đất Thăng Long.
Mặt khác, ở một vài ngôi chùa cổ nổi tiếng, như chùa Dâu, thuộc huyện Thuận Thành, tỉnh Hà Bắc (được xây dựng từ thế kỷ VI, sau được trùng tu bởi Mạc Đĩnh Chi ở thế kỷ XIV), trên điện thờ Bà Dâu, người ta nhận xét thấy trên hai pho tượng ngọc nữ đứng hầu ở hai bên, y phục mang những nét rất Việt Nam, chiếc áo dài bó lấy người, tuy không thấy rõ là có chiết eo hay không, nhưng có thắt lưng có dải bó người lại, và dáng dấp giống như chiếc áo tứ thân, hay áo tân thời của đời nay, xiêm áo hình cánh sen chùng tới gần gót chân. Chiếc khăn vấn tóc của hai ngọc nữ này cũng rất đáng chú ý . Đó có thể là hình tượng chiếc khăn vấn tóc truyền thống của người phụ nữ Việt Nam (với tiết diện tròn) còn được truyền mãi đến sau này. Nếu những pho tượng nói trên đã không bị hư hỏng, hoặc bị sửa lại từ thời ông Mạc Đĩnh Chi, thì rõ ràng niên đại của chúng phải ít nhất từ thế kỷ XIV, nếu không xưa hơn nữa. Cũng như bốn pho tượng ngọc nữ ở điện thờ chùa Keo (Thái Bình - đầu thế kỷ XVII) đều được tạc với áo dài cổ cao, thắt lưng có dải, và khăn vấn tóc.
Chi tiết ngọc nữ chùa Dâu Nguồn gốc của chiếc áo dài phụ nữ, có thể còn xa xưa hơn nữa, song vì thiếu tài liệu cụ thể, nên ta chưa thể biết hơn được. Nguồn gốc của chiếc áo dài đàn ông lại còn phức tạp hơn, vì không những ít tài liệu, mà lại có tới hai, ba kiểu áo khác nhau : có chiếc áo dài cổ điển vùng đồng bằng mà ta quen biết, lại có kiểu áo dài "Đề Thám", có thể là một phong cách địa phương của người vùng Yên Thế chăng, lại còn có áo thụng, tay áo rộng và dài. Trong cuốn sách "Huế, la cité impériale du Viet Nam" đã dẫn ở trên, có bức chân dung của vua Gia Long mặc áo thâm cổ cao, trông như áo dài ta. Như vậy truyền thống mặc áo dài ta của đàn ông có ít nhất từ cuối thế kỷ XVIII.
Cái đẹp và... cái xấu của chiếc áo dài
Phải trải qua nhiều đợt cải tiến, chiếc áo dài phụ nữ mới có được cái diện mạo bay bướm, gợi cảm, như ngày hôm nay. Ta khỏi cần phải nhắc lại những chi tiết của các cuộc cải tiến này, chỉ cần ghi nhớ tên của ba người đã có công trong việc cải cách này : người đầu tiên là nhà thiết kế mẫu Cát Tường, vào khoảng những năm 1932-1934 đã đưa ra những mẫu áo dài "tân thời" đầu tiên (áo Le Mur), mang nhiều ảnh hưởng của thời trang Pháp. Sau đó, ở Hội chợ Nữ công Đà Nẵng, năm 1934, hoạ sĩ Lê Phổ đã đưa ra một mẫu áo có cải tiến thêm một bước nữa : vai không bồng, cổ kín, cài khuy bên phải, thân áo ôm sát người ; áo may bằng vải màu, mặc với quần trắng, tóc búi lỏng, vấn trần, hay vấn khăn nhung. Cuối cùng, cũng vào những năm cuối thập niên 30 này, bà Trịnh thị Thục Oanh, hiệu trưởng trường Hàng Cót, đưa ra một sáng kiến, mà tôi cho là vô cùng quan trọng : đó là việc chiết eo, để tôn cái đẹp của thân hình người phụ nữ lên. Sau này, chiếc áo dài phụ nữ ngày càng được cải tiến thêm, để tăng thêm tính chất bay bướm, năng động, tươi vui, của nó. Tuy nhiên, chiếc áo dài chỉ thật sự đẹp, khi người phụ nữ mặc nó có một thân hình đẹp : eo nhỏ, người thanh, chân cao, dáng đi uyển chuyển, động tác nhanh nhẹn, v.v. Và đây cũng là một điểm son của chiếc áo dài : nó rất kín, mà cũng rất hở, nhưng nó không khoan dung bất cứ một sự giả trá nào.
Áo dài đàn ông không chiết eo, và có thể từ trước đến giờ vẫn như thế, từ chiếc áo vải thâm của các ông thầy đồ, hay của các cậu học trò nhỏ ngày xưa, cho đến chiếc áo của "liền anh" Quan Họ, hoặc chiếc áo gấm của nhà quyền quý. Chiếc áo dài đàn ông không bó sát người, nên không cho phép người ta thấy được hình dạng cơ thể của người mặc nó. Quả là nó rất kín ! Nhưng ngược lại, nhất là khi đội cái khăn xếp vào, thi nó tạo ra một thứ "đồng phục", không những che lấp cả cái cơ thể của con người, mà còn che lấp cả cái phong cách, điệu bộ, dáng dấp, của người đó, khiến cho người ta không còn phân biệt được ai vào với ai nữa ! Tôi chỉ xin nêu một hình ảnh để so sánh. Bạn hãy tưởng tượng, trong một phòng hội, hay một phòng "salon" lớn, mọi người đều mặc "complet smoking" hết. Không ai thấy chướng cả, mặc dầu nó cũng là "đồng phục" , vì sao vậy ? Vì bộ "smoking", về mặt thẩm mỹ, có cái kiểu dáng riêng của nó : gọn gàng, thanh lịch, kín đáo, không che dấu cơ thể con người, và từ ít ra hơn một thế kỷ nay đã được sự đồng thuận của nhiều người, thuộc nhiều nền văn hoá khác nhau : nó có một chức năng rõ ràng, và có một giá trị thẩm mỹ đã được thử thách và được nhiều người nhìn nhận, từ hơn một thế kỷ nay.
Về mặt thẩm mỹ, không như chiếc áo dài phụ nữ, chiếc áo dài đàn ông không dựa vào đâu để có thể đẹp được, chắc chắn là không dựa được vào cái thân hình của người đàn ông rồi. Không lẽ bó eo lại, thì lại thành ra ẻo lả. Chiếc áo dài đàn ông chỉ tiện là vào mùa rét, nhất là ở miền bắc và miền trung nước ta, mặc áo dài ta ấm hơn và có thể thủ tay dưới vạt áo được ! Nó không thể nào "bay bướm" được, ngược lại nó chỉ có thể khiến cho người đàn ông đi đứng càng thêm chậm chạp, nhất là với đôi giầy Gia Định lê lẹp kẹp !

Chiếc áo dài của ông Đề Thám (Tư liệu Trung tâm lưu trữ Aix-en-Provence)Tuy nhiên, cũng có một ngoại lệ : chiếc áo dài "Đề Thám". Tôi tạm gọi như thế, vì vì ông Đề Thám lúc sinh thời chỉ mặc có chiếc áo dài này thôi, và khi ông chít khăn thì cũng không bao giờ dùng khăn xếp, mà dùng khăn quấn, cho nên rất hợp với chiếc áo dài vốn sẵn có đầy nếp của ông. Về mặt thẩm mỹ, chiếc áo dài "Đề Thám" có dáng dấp và phong cách rất độc đáo. Nó giống như thể một chiếc khăn lớn có những nếp nhăn xếp theo một chiều, tạo nên những đường nét mạnh mẽ. Rõ ràng "chủ nhân" của nó là một người có gu, từ đầu đến chân ! Nhịp điệu của những nếp áo, tự chúng đã có một giá trị thẩm mỹ rồi. Nhờ đó mà chiếc áo có một vẻ đẹp sinh động, phù hợp với một con người thường hay phải di chuyển như ông Hoàng Hoa Thám. Đối với con mắt người ngày nay, chúng ta có thể cảm nhận được dễ dàng cái đẹp đó. Đó là cái đẹp của nhịp điệu và của chất liệu. Ông Đề Thám dùng loại áo vạt ngắn này để tiện cho việc đi lại, di chuyển, nhưng người ta có thể hình dung một kiểu áo cũng như thế, nhưng với vạt dài hơn, chắc cũng không xấu.
Cái gì làm cho bộ y phục " khăn đóng áo dài" của nam giới xấu ?
Chiếc áo dài đàn ông không có gì là hấp dẫn cả. Điều đó, chúng ta đã thấy. Nó cũng không che đậy được cái hình dạng thật của cơ thể con người. Song, dù không có cá tính đến đâu, thì cũng không phải vì thế mà toàn bộ cái mốt "khăn đóng áo dài" trông không những khô khan, mà còn ngây ngô, nếu không muốn nói là lố bịch nữa. Vậy cái xấu nằm ở chỗ nào, và cái lố bịch nằm ở chỗ nào ?
Chiếc khăn quấn bằng nhiễu Theo tôi, đầu mối là ở chiếc khăn xếp (khăn đóng). Không phải tự nhiên, mà các cụ ta đã có cái thành ngữ rất chính xác và cũng rất là hài hước : " khăn đóng áo dài ". Chỉ riêng chữ " đóng ", cũng đủ gợi lên cái hình ảnh, nói lên cái ý nghĩa trịnh trọng, bó buộc, không thoải mái, của toàn bộ cách ăn mặc này (đóng khuôn, đóng khung, đóng bộ, v.v.). Chiếc khăn xếp, không như chiếc khăn quấn, mà mỗi người quấn theo một cách, người quấn to, người quấn nhỏ, người dùng vải, lụa, người dùng nhiễu. Do đó, có thể nói rằng, khăn quấn không cái nào giống cái nào, từ những cái nếp khăn, cho đến hình dạng chung. Chiếc khăn xếp, ngược lại, được sản xuất hàng loạt, ngày xưa nó là hàng thủ công nghệ, có cùng một hình dạng, khuôn mẫu, không thể thay đổi được. Tôi đã từng được xem người ta làm khăn xếp ở phố Hàng Nón ngày xưa. Khăn xếp đội lên đầu, là che lấp hết tóc ở đằng trước cho đến trán. Trông từ phía trước, hai bên cạnh của chiếc khăn hình trụ này là hai đường thẳng song song với nhau, càng làm tăng thêm vẻ khô khan cho toàn bộ khuôn mặt và chiếc áo dài (hay chiếc áo nửa dài, nửa thụng, ở Hội nghị thượng đỉnh APEC 2006, chẳng hạn). Về mặt thẩm mỹ, chiếc khăn xếp (khăn đóng) không đem lại được một đường nét nào làm "tôn" khuôn mặt lên được, ngược lại, nó tạo ra một hình tượng khô khan, trịnh trọng một cách giả tạo, và không mấy thanh lịch. Cũng như thể chiếc "vương miện" của các bà, các cô theo mốt bà Nhu một thời, được đưa vào bộ y phục cưới của phụ nữ ! Quả là, chỉ "sai một ly đi một dặm". Từ chiếc khăn vấn của các nàng ngọc nữ ở chùa Dâu, đến cái mốt vương miện của bà Nhu, cũng như từ chiếc khăn quấn mềm mại, thoải mái, giàu cá tính, đến chiếc khăn xếp cứng đơ, đơn điệu, khoảng cách thẩm mỹ quả là rất lớn.
Văn Ngọc

