Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày

Cho đuổi mèo, mèo rượt chuột, chuột sa chỉnh gạo, gạo tải vô xe... thế rồi... xe cán chó!!!

Moderators: CNN, khieulong

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Phiếm luận - Nam ăn Bắc chửi

Thanh Văn
LGT: Tác giả là dân "Bắc kỳ" chính cống. Ông hiện cư ngụ tại Sydney, Úc.

Nói chuyện ăn uống hay chửi bới nhau thì sự thật viết ra hàng chục cuốn sách chưa chắc đã hết huống chi trong phạm vi một bài viết ngắn ngủi như bài này. Thế cho nên ở đây tác gỉa chỉ xin mạn phép "bàn" tới một vài món ăn mà đa số dân ăn nhậu ngày nay không những ở miền Nam Việt Nam bây giờ mà ở khắp nơi trên thế giới có dân Việt "gốc" miền Nam đều khoái. Còn chuyện chửi thì hẳn quý độc gỉa cũng đã từng nghe nhắc đến chuyện dân "Bắc kỳ" chửi mất gà, chửi trong cơn ghen v..v.. họ chửi có bài có bản đến độ gần đây một nhà văn, nhà báo, cũng là nhà tranh đấu cho tự do dân chủ khá nổi tiếng ở trong nước là Tiến sĩ Nguyễn Xuân Tụ có bút hiệu là Hà Sĩ Phu đã gọi là "văn hóa chửi" khi đề cập đến chuyện chửi của người Việt nhất là người Việt miền Bắc.

Bây giờ thì xin nói chuyện ăn uống của dân miền Nam trước. Miền Nam Việt Nam được gọi là miền có mưa năng hai mùa. Thời tiết hay ông trời "dường như" có vẻ ưu đãi người miền Nam, không bắt chịu đựng nhiều sự thay đổi của thời tiết nên chỉ cho miền Nam có 2 mùa mưa nắng. Quanh năm khí hậu ôn hòa khiến thời tiết "hình như" như cũng làm tâm tinh người miền Nam thoải mái, chân thật và không "thớ lợ" như dân miền Bắc, "sắc mắc" như dân miền Trung. Bởi bản tính hiền hòa và "đơn giản" người miền Nam ăn uống cũng giản đơn như sống. Ngày xưa khi những người di dân đầu tiên từ "đàng ngoài" và “đàng trong” theo chân các đạo quân Nam tiến của Chúa Nguyễn. Những người đầu tiên sống ở miền Nam đã phải biến chế thực phẩm tại địa phương thành những món ăn theo nhu cầu sinh tồn. Rồi vì một mặt vừa phải chống trọi với thiên nhiên, một mặt phải chiến đấu với giặc gĩa cho nên dù có muốn bầy vẽ cho đủ thứ như khi còn sống ở quê xưa cũng không thể làm được nên "phải" đơn giản bớt đi cho dễ dàng và nhanh chóng. Riết rồi lâu ngày thành quen, nếp sinh hoạt dần dần ăn sâu vào tiềm thức trở thành bản tính lưu truyền đời này đến đời khác mà ngày nay người miền Nam có vậy.

Một trong những món ăn rất phổ thông và cũng rất "khoái khẩu" của dân miền Nam là món canh chua. Món canh chua không phải là món "độc đáo" của miền Nam, Miền Bắc cũng có nhưng gọi là "riêu", miền Trung cũng có vậy nhưng 2 miền Bắc, Trung nấu nướng cần kỳ, vật liệu tuyển lựa kỹ càng làm cho món ăn mỗi khi muốn ăn phải chuẩn bị kỹ lưỡng, đôi khi hóa thành nhiêu khê khiến không phổ biến rộng rãi được.

Miền Nam như đã ghi ở trên vì bản tính người miền Nam xuề xòa, vật liệu địa phương lại đa dạng nên nồi canh chua của người miền Nam cũng vì thế mà thay đổi đa dạng theo từng địa phương. Nhưng tựu trung mục đích là cung cấp một món ăn với cách nấu nướng đơn giản nhưng lại hợp khẩu vị của đại đa số khiến món ăn trở thành phổ biến và được khai thác trong mọi tình huống của những cuộc ăn nhậu. Người ta có thể "đãi" canh chua cá bông lau, canh chua cá bống mú, canh chua cá chẽm. trong bữa tiệc cưới, trong các bữa tiệc quan trọng khác như cúng giỗ, cỗ bàn đãi đằng quan chức, khách sang đến canh chua cá chốt, canh chua tép, canh chua mắm ruốc chỉ cốt làm cớ để chuyên chở khối lượng cơm cần phải nuốt trôi xuống bao tử mà có sức ra làm đồng, đi đánh cá v..v.. Nói khác đi là hoàn cảnh nào cũng có thể có một nồi canh chua trong một thời gian thích hợp cho nhu cần ăn uống.

Nếu miền Bắc nấu "riêu" với trái sấu, trái nhót trái me thì miền Trung nấu canh chua với trái khóm, trái khế, trái me. Miền Nam thì chả kiếm đâu ra các trái sấu, trái nhót, có gì nấu nấy nên có me thì nấu với me, có khế thì nấu với khế, có khóm thì nấu với khóm, chẳng có những thứ đó thì ít trái chùm ruộc, vài nắm lá me non, vài trái cóc, thậm chí nếu chỉ có độc nhất ít trái cà chua thì nấu nồi canh chua đơn giản gọi là "nấu xuông" cũng được vậy. Cái quan trọng của nồi canh chua là "ngon" và "vừa miệng" chứ không phải để "trình diễn". Một chi tiết nữa thiết nghĩ cũng phải nhắc đến là như trên đã viết miền Nam mưa nắng hai mùa nên canh chua ăn mùa nào cũng được, trong hoàn cảnh nào cũng thấy ngon miệng và nhiều khi rất thống khoái là đằng khác.

Kẻ viết bài này có một vài kinh nghiệm ăn canh chua ở miến Nam như sau: Hồi trước năm 1975, khi phục vụ tại tỉnh Bến Tre tôi thường nhân dịp về tỉnh công tác hay có dịp thường tìm đến một quán ăn có một người đầu bếp Việt gốc Hoa ở gần khu chợ để thưởng thức món canh chua cá bông lau do người đầu bếp này nấu. Cá bông lau là loại cá giống cá tra tức là cá da trơn nhưng khác cá tra là đuôi nó có xọc mầu đỏ sống ở vùng nước lợ (tức là nước ngọt có pha nước mặn từ biển tràn vào). Vào mùa nước sông Cửu Long cạn, nước biển tràn vào sông Hàm Luông, ngược lên đến tận tỉnh lỵ nên cá bông lau lúc này dân đánh cá có thể đánh bắt ngay tại khúc sông trong phạm vi tỉnh lỵ, cá bắt được nhiều khi còn tươi rói đã được nhà hàng mua ngay để nấu canh chua bán cho thực khách, vì nguyên liệu tươi tốt, lại do tài nấu nướng giỏi, món canh chua của nhà hàng tôi ghi trên rất nổi tiếng ở Bến Tre thời bấy giờ. Trước đó ít năm khi còn phục vụ ở Bình Dương, tôi được ăn món canh chua lươn ở nhà hàng của một vị giáo sư trường mỹ nghệ Bình Dương cũng rất là đặc sắc, ăn một lần là khó thể quên thế nào cũng tìm đến ăn nhiều lần tiếp theo. Ngay tại quận lỵ Mỏ Cày thời tôi làm việc khoảng các năm 1972-1974 có một vị Trưởng chi Thanh Niên, anh này ngoài tài nghệ chuyên môn về thể thao như đánh tennis rất hay trước 1975 từng làm huấn luyện viên môn này cho các quan đầu quận, sau 1975 nghe nói cũng nhờ cái tài này mà anh vẫn được các quan chức của chế độ mới "trọng dụng" như xưa, anh còn một tài vặt là nấu ăn và món ruột của anh là món canh chua thịt gà. Tôi đã được vài lần ăn canh chua gà do anh nấu, qủa là xuất sắc và đặc biệt. Bà gìa anh thì có món "dưa lỗ tai heo" cũng là món "đặc sản" mà sau nay dù đã đi khắp năm châu bốn bể tôi cũng không tìm thấy ở đâu có bán.

Canh chua chủ yếu là phải có vị chua, vị chua này như trên đã trình bầy có thể là do vị chua tiết ra từ qủa me, qủa sấu, qủa nhót của miền Bắc, của trái me, trái dứa, trái khế của miền Trung, trái cóc, trái me, trái bần, trái chùm ruộc, nắm lá me, lá vang chua của miền Nam, nhưng nồi canh sẽ mang vị ngon khác nhau tùy theo cái món làm cho nó mang tên như nấu với cá bông lau thì thành canh chua cá bông lau, nấu với gà thì thành canh chua gà, nấu với lươn thì thành canh chua lươn, nếu chỉ nấu với nấm rơm và đậu hủ thì thành canh chua chay. Gọi là món chay nhưng không phải chỉ giành riêng cho nhà chùa mà dân nhậu khắp nơi miền Nam ai nhậu với canh chua chay cũng đều khoái hết, do đó nó không "độc quyền" của nhà chùa mà phổ biến khắp dân gian miền Nam.

Một món ăn bình dân nữa tưởng cần phải nhắc đến ở đây là món mực khô nướng. Hồi năm 1954 khi mới từ Bắc di cư vào Nam tôi chỉ thấy một số người Việt gốc Hoa có những xe bán khô mực nướng trên xe có một dụng cụ chuyên dùng để "cán" cho con khô mực vừa mỏng ra vừa gần đứt thành từng sợi nhỏ cho dễ ăn. Sau này đi khắp miền Nam tôi thấy không phải chỉ ở thành phố mới có các xe bán khô mực nướng như thế người dân miền Nam ăn khô mực nướng ở khắp mọi nơi, nướng khô mực bằng nhiều cách khác nhau, không hẳn "phải" trên bếp than củi kiểu của các xe bán khô mực của người Việt gốc Hoa mà nhiều khi chỉ cần một đống lửa có sẵn nhân đốt lên vì một mục đích khác cũng có thể nướng khô mực để có một món nhậu rất "bắt" vậy. Thỉnh thoảng cũng có người "cấu kỳ" cho rằng nướng khô mực bằng vỏ sọ dừa khô mới "ngon" vì vỏ sọ dừa khô khi cháy còn bốc mùi thơm của dầu dừa, mùi thơm này "quện" vào con khô mực nướng khiến ăn vừa có mùi mực, lại có thêm mùi thơm của dầu dừa nữa. Điều quan trọng ở đây là món ăn bình dân này có thể tìm thấy ở bất cứ đâu ở miền Nam Việt Nam. Món ăn này tuyệt đối không "kỳ thị" giầu nghèo, sang hèn, nam nữ, tuổi tác, nghĩa là bất cứ ai cũng có thể "xực" và khoái nó hết.

Điều đáng nói ở đây là ngày nay hai món ăn kể trên không những phổ biến rộng rãi khắp nước từ Nam ra Bắc (tất nhiên ở miền Nam thì phổ thông hơn) mà nó còn ra hải ngoại. Thử vào các nhà hàng Việt Nam ở Mỹ, ở Canada, ở Pháp, ở Úc mà xem, món canh chua là một món nhất định không thể thiếu trong thực đơn của các nhà hàng đó. Thậm chí nếu ai du lịch lên tận Bắc Âu, như Na Uy, Thuỵ Điển, Đan Mạch, Phần Lan, hay Nhật bản nếu vào các nhà hàng ăn Việt Nam ở những xứ này thì nhất định cũng sẽ thấy thực đơn có món canh chua. Nói chung là món canh chua của Việt Nam nhất là miền Nam Việt Nam nay đã thành một món ăn "quốc tế" xuất hiện không những khắp nơi trong nước mà còn khắp thế giới đấy. Còn món khô mực nướng thì bất cứ xiêu thị Á Châu nào cũng có bán, người ta "đóng bao" bằng nylon bán dưới nhiều dạng và trọng lượng khác nhau. Khô mực nướng không hoàn toàn chỉ do Việt Nam chế tạo mà ngày nay nhiều nước Á Châu khác như Tầu, Đại Hàn, Nhật và cả Indonesia, Malaysia cũng đều có sản xuất và bán.

Ngày nay ở miền Nam Việt Nam cái vụ ăn uống đã trở thành bùng phát dữ dội : nhà hàng tiệm ăn mọc ra như nấm, đường nào, phố nào cũng đầy rẫy các tiệm ăn, nhà hàng. Người ta “thi đua” kéo nhau đến các tiêm quán ăn nhậu với bất cứ lý do gì.

Nói chuyện ăn cũng là "từ" ăn, tiếng Việt là loại đơn âm nhưng lại đa nghĩa. Chỉ một chữ ăn thôi nhưng nếu nó đi kèm một chữ khác thì nó lại có nghĩa khác. Thí du: ăn thuốc là hút thuốc, ăn dầu là xe hay máy tiêu thụ xăng dầu, ăn bớt là lén bớt tiền dùng vào mục chi nào đó, ăn quit là vay nợ lấy tiền rồi "chém vè" bỏ chạy, không chịu hoàn trả, ăn đút lót là nhận tiền hay đồ vật hối lộ v..v.. nhiều lắm, kể sao cho xiết, nhưng có một điều rất rõ ràng là các quan chức nhà nước Việt Nam, và những kẻ sống bám vào đám cầm quyền này mà ăn nên làm ra nay trở thành "tư bản đỏ" thì tiền vào thì có, tiền ra nhất định là KHÔNG. Thử nhìn xem hàng chục năm nay rồi, thiên tai bão lụt hàng năm xẩy ra trong nước năm nào mà không có; người chết hàng đống, người mất nhà mất cửa hằng hà xa số có thấy các"nhà tư bản đỏ" bỏ ra một xu nào cứu trợ các nạn nhân, đồng bào ruột thịt khốn khổ đó hay không? Hay chỉ thấy họ lớn họng kêu gọi "khúc ruột ngàn dặm" hãy vì tình lá lành đùm lá rách, móc hầu bao mà cứu giúp nạn nhân thiên tai trong nước mà thôi!

Ấy thế mà có một giới hiện nay ở miền Nam "ăn" được tiền của "tư bản đỏ" đấy. Xin thưa ngay là giới "gõ đầu trẻ", tức là giới thầy cô giáo đấy ạ! Các thầy cô bầy ra chuyện "dậy kèm" để moi tiền của bọn "tư bản đỏ". Chúng "muốn con hay chữ" thì "phải yêu lấy thầy", do đó nay phải biếu, mai phải xén, phải móc hầu bao cho con học kèm với các thầy cô. Bởi các thầy cô áp dụng "chiến thuật" "tiền nào của nấy" tiền chi đến đâu, dậy đến đó. Lương nhà nước trả không đủ sống thì dậy theo kiểu"chết đói". Các thầy cô cần sống nên phải "vẽ" ra chuyện dậy kèm để vừa kiếm sống, vừa có dịp móc túi bọn "tư bản đỏ". Có điều tội nghiệp cho con em các nhà nghèo không có thể theo đuổi các lớp học kèm đành mang phận "dốt" vậy. Thành thử có lẽ ngày nay ở trong nước chỉ có giới này là giới "ăn" được tiền của đám "tư bản đỏ" đấy qúy vị ạ!

Bây giờ "bàn" đến cái chi tiết thứ hai nêu lên ở đề tài bài viết, đó là "Bắc chửi". Chuyện chửi mất gà, chửi vì ghen có bài bản đến độ Tiến sĩ Nguyễn Xuân Tụ gọi là "văn hóa chửi" thì xin miễn bàn ở đây. Chỉ xin nêu ra ở đây chuyện dân Miền Bắc ngày nay chửi đảng cộng sản Việt Nam và các quan chức nhà nước tham nhũng như chửi chó. Sự kiện này nó phổ thông đến độ bất cứ ai từ hải ngoại về thăm Việt Nam, nếu ra Bắc đi thăm các thắng cảnh ở miền Bắc, nếu gợi chuyện với tài xế dù là Taxi hay xe ca, xe khách hay xe của các công ty du lịch thì sẽ lập tức được nghe các bác tài này "mở máy" chửi dảng cộng sản và các quan chức nhà nước tham nhũng "như chớp". Họ chửi cũng "có bài có bản", có căn nguyên, lý do, có dẫn chứng cụ thể chứ không phải chửi vu vơ cho xướng miệng. Người mới về thăm quê sau nhiều năm xa xứ mới nghe họ chửi sẽ ớn, nghi là công an cố tình gài bẫy Việt kiều anh nào "dại dột" mở miệng chửi theo thì sẽ gặp rắc rối về sau. Thực sự không phải như vậy; họ chửi thật đấy, ai tò mò len lỏi vào các khu dân nghèo, như lê la ở chợ Đồng Xuân, "đấu" với mấy bà bán hàng ở chợ mà xem hay tham gia những bữa ăn nhậu có các cựu bộ đội, cựu công nhân viên nhà nước vốn là đảng viên đảng cộng sản Việt Nam thì sẽ thấy là họ chửi nhà nước, chửi đảng cộng sản ào ào, chửi thẳng thừng, chửi vung "xích chó" chả nể nang gì hết.

Nếu ai có thắc mắc hỏi tại sao họ dám chửi như thế thì họ cho hay là :"ối dào! Thiên hạ chửi tùm lum đã lâu, chúng nó nghe riết "chai" lỗ tai rồi nên mặc kệ. Chỉ khi nào "có hành động hay ý định chống đối cụ thể" nhằm lật đổ chế độc tài do chúng đang nắm giữ thì sẽ thấy chúng phản ứng rất dữ dội. Chúng sẽ "thẳng tay" đàn áp sẽ dùng "chuyên chính vô sản" không nương tay. Còn ngoại gỉa chúng mặc kệ coi như đó là cái nút an toàn của nồi xúp de mà thôi.

Dưới đây xin nêu ra một vài thí dụ để chứng minh cho nhận định trên như sau:

Ngày xưa Chiêu Lỳ có bài thơ yết hậu rất nổi danh và rất phổ thông trong làng "chai lọ" là :

Sống ở dương gian đánh chén nhè,
Chết xuống âm phủ cắp kè kè !
Diêm Vương phán hỏi mang gì đấy?
Be !

Ngày nay dân miền Bắc và nhất là Hànội đã nhại bài thơ của Chiêu Lỳ ghi trên thành những bài như sau :

Bài nhại thứ nhất :

Sống ở dương gian nói huyên thuyên,
Chết xuông âm phủ rủng rỉnh tiền;
Diêm Vương phán hỏi nghề gì vậy?
Đảng viên !

Bài nhái thứ hai :

Sống ở dương gian chẳng sợ tù,
Chết xuống âm phủ vẫn ô dù !
Diêm Vương phán hỏi từ đâu tới?
Bắc Bộ Phủ !

Rồi nữa các đảng viên "cốt cán" nhưng nay thuộc nhóm không có "ô dù", cay cú cũng làm thơ chửi đảng như bài thơ "Thường dân" dựa theo câu "quan nhất thời dân vạn đại" :

Đông thì chật, ít thì thưa,
Chẳng bao giờ thấy dư thừa thường dân.
Quanh năm chân đất, đầu trần,
Tác tan sau những vũ vần bão giông.
Trước là cây mác, cây chông,
Đánh giặc cứu nước... nay không là gì!
Thấp cao đâu có xá chi;
Ngàn năm cỏ vẫn xanh rì cỏ thôi!
Ăn của đất uống của trời,
Dốc lòng cởi dạ cho người mình tin.
Ồn ào mà vẫn lặng im;
Mặc ai voi chó nổi chìm thiệt hơn!
Chỉ mong ấm áo no cơm,
Chắt chiu dành dụm thảo thơm ngọt lành.
Hòa vào trời đất mà xanh;
Vô tư mấy kiếp mới thành "thường dân" !

Mạnh mẽ hơn nữa, nữ văn sĩ Dương Thu Hương, một người tự nhận là một nhà tranh đấu cho dân chủ ở trong nước, trong một bài viết về cuộc đấu tranh dân chủ cho Việt Nam, khi bàn đến vụ bắt bớ hàng loạt những người tranh đấu cho dân chủ kể từ năm 2002 và nhất là vụ xử án ông Phạm Quế Dương. Ông Dương bị kết tội làm gián điệp. Bà đã viết về bản luận tội của nhà cầm quyền Việt Nam như sau:

“tính chất phi lý, phi pháp, phi nhân biểu hiện ở bản luận tội vừa tàn bạo, vừa đê tiện của người đại diện cho chính quyền và ban văn khố tư tưởng Việt Nam. Cái thứ tổ chức đặc trưng cho các nhà nước xây dựng theo mô hình phát xít. Tôi chỉ bàn tới tính ngạo ngược hiển hiện ra trong từng lời từng chữ của họ. Vu khống sỉ nhục, tàn diệt vốn là hành xử tự nhiên của kẻ cầm quyền ở những xứ sở chưa phát triển, dân trí thấp kém”.

Cũng trong bài viết đó bà Dương Thu Hương đả nhận định về nhà cầm quyền Việt Nam như sau: “Nhà nước Việt Nam một chính quyền thồi rữa một cách công khai, vô năng một cách hiển nhiên trên nhiều lãnh vực và tàn bạo một cách ngạo ngược trong việc đàn áp dân chúng”.

Bà cũng nêu lên dân chúng bêu rếu nhà nước và đảng CSVN như vụ nông dân Hải Hưng đã đặt tên mới cho đảng CSVN là đảng cộng đớp Việt Nam, rồi bà còn ghi thêm là đám dân đen ở các thành phố, đô thị tục tĩu hơn đã đổi thành đảng cộng mút”.

Chửi như thế thì thật là cạn tầu ráo máng rồi còn gì nữa. Đúng là chửi hay chỉ có dân Bắc kỳ.

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Image

Phở quát, cháo mắng Hà Nội

Hà Nội có những món ăn mới nghe đã nổi cả da gà như bún chửi, phở quát, cháo mắng. Đến đây, khách phải cun cút ăn, cấm xin thêm, miễn nói nhiều, không ngồi lâu, khỏi hỏi.
Văn hóa ẩm thực Hà Nội sẽ bị bôi xấu nếu còn tồn tại những loại phở quát, cháo mắng



Bớt đi, xin thêm: Cút

Quán bún chửi nằm lọt thỏm trong khu chợ nhỏ ở phố Ngô Sỹ Liên, dưới chiếc ô thấp lè tè và vòi nước chảy rỉ rả. Tôi đang loay hoay không biết dựng xe thế nào, một giọng nữ chua như giấm réo rắt: “Ở đây không thừa chỗ để xe đâu, nếu không nhét xe vào đâu được để mà ngồi ăn thì cút ”.

Tôi và đồng nghiệp cố dựng chiếc xe, ngơ ngác chưa biết ngồi đâu, bà chủ quắc mắt: “Muốn ngồi rộng rãi lên Châu Long mà ăn, đây không có chỗ”. Ăn được non nửa bát nước xáo, chúng tôi xin thêm tô bún không, cô bồi bàn quằu quặu đi ra ngoài một lúc rồi buông lời trống không “hết”.

Cô bạn tôi xin thêm bát xì dầu, cô quay ngoắt lại quát: “Gọi lắm thế. Đã hết đâu mà xin. Ăn cho bằng hết đi rồi gọi”. Chạy bàn chưa dứt lời, bà chủ lại réo ông ổng vào trong: “Bảo hai chị xin thêm bún vừa rồi về đi, hết bún rồi, ngồi thêm năm phút tính thêm năm nghìn nữa”.

Chúng tôi ngơ ngác nhìn nhau vì đã kịp ăn xong đâu, thậm chí hai cốc trà đá vừa gọi ra cũng chưa kịp uống. Thế là vừa xách túi, ngậm tăm, vừa rút tiền trả vội nếu không tiếp tục bị ăn chửi.

Kể cả khách không có tiền lẻ để trả, cũng bị bà ta chửi cho té tát. Lúc này tôi mới kịp nhìn vào bàn để hàng, hai thúng bún vẫn đầy nguyên vẹn nhưng họ đuổi chúng tôi để đón mấy ông khách, thế cho nhanh.

Một món còn nổi tiếng hơn cả bún chửi là phở quát. Đến phở quát ở phố Bát Đàn tầm buổi trưa, thực khách phải xếp hàng rồng rắn. Đợi đến khi bưng được bát phở thì chân chùng gối mỏi, lọ mọ đi tìm chỗ ngồi.

Cung cách phục vụ cũng chẳng khác gì mấy quán bún chửi, cháo chửi, khách ăn cứ ăn, chửi cứ chửi, chẳng ai dám hé răng nói nửa câu. Khách nào ăn mặc điệu đà, ăn nói nhỏ nhẹ một chút thì bị chì chiết: “Khiếp điệu chảy nước”.
Còn tại phở quát phố Nguyễn Như Đổ, ông khách cạnh tôi muốn xin bát phở có ít bánh, chủ quán chừng mắt quát một thôi một hồi: “Không ăn được thì biến, ở đây không có xin thêm hay bớt”.

Cực chẳng đã tôi mới chửi

Theo thứ tự của những quán mang tiếng chửi, tôi tìm đến một quán cháo gà khá nổi tiếng trước đây ở Lý Quốc Sư. Khách vắng teo, tôi gọi mấy câu không thấy ai trả lời: Bấm chuông, không thấy ai. Một bà hàng xóm trễ kính xuống tận mũi, nhìn tôi: “Muốn ăn cháo hử. Lên khu nhà thờ ý”.

Tôi lại lên khu nhà thờ tìm quán cháo chửi. Lác đác vài khách, bà chủ quán ghếch chân lên ghế thu tiền. Hình như cô nhân viên làm ca tối chưa ngủ dậy. Chỉ có hai cô ca sáng đang nhẩn nha.

Một chị khá trẻ, được biết là con gái bà chủ, đang ngồi lọc xương, dáng vẻ hơi mệt mỏi. Tôi gọi một bát cháo ăn kèm trứng muối. Phải công nhận thịt gà ở đây ngon, không quá mềm không quá dai, ngọt mát. Chén hết bát cháo chẳng thấy ai chửi mắng gì, hơi chột dạ, tôi cố ăn nhanh để ra hỏi bà chủ quán vài câu.

Nhân lúc vắng khách, tôi lân la hỏi về tục của quán, bà chủ cười: “Cực chẳng đã tôi mới chửi chứ già rồi sức đâu mà chửi hả cô”. Cô con gái đế thêm: “Bọn chị mang tiếng lắm em ạ. Tầm 10 giờ đêm đổ về khuya, khách rất đông, đặc biệt là thanh niên.

Chúng nó kéo đến, ngồi tràn ra cả vỉa hè. Đợi lâu không thấy bưng cháo ra, chúng nó quát tháo ầm ĩ: “Này mụ già có bán không thì bảo”. Mẹ chị già từng này tuổi đầu còn bị mấy đứa trẻ con chửi là mụ nọ mụ kia, không mắng nó mới là chuyện lạ. Nhiều người không hiểu, cứ thổi phồng lên là cháo chửi”.

Không chấp nhận văn hóa chửi

Khi được hỏi vì sao bị chửi như vậy nhưng thực khách vẫn cắm cúi ăn, một số người già cho là họ thích cảnh chen lấn, chờ đợi khi đi ăn để nhớ lại thời bao cấp. Người thì bảo ăn đúng nơi mới sành điệu. Có người quái dị hơn cho rằng lâu dần thành quen, nếu thiếu những tiếng chửi đó như thức ăn thiếu muối.

Đến các quán bún chửi, cháo chửi, phở quát vào buổi trưa oi bức, nhìn cảnh mọi người chen lấn, chờ đợi mới thấu hiểu sự nhẫn nhịn của thực khách. Hầu như ai đến đây cũng thấm một câu phương châm không nghe, không thấy, không biết. Chờ đợi có được một suất ăn, cố chen lấn tìm được một chỗ ngồi nhưng không ai dám kêu ca phàn nàn.

Tôi có anh bạn, sau khi đi ăn phở quát một lần, về kêu trời kêu đất. Anh vốn là người Hà Nội gốc, rất sành ăn, được phong là bách khoa toàn thư về ẩm thực nhưng theo như lời anh nhận xét: “Anh không bao giờ đặt chân đến nơi này nữa. Không thể chấp nhận thứ văn hóa xin – cho trong khi bây giờ khách hàng là thượng đế.”

Ăn uống là thưởng thức, chứ cái kiểu ngồi ăn mà thần kinh căng thẳng như sợi dây đàn làm mất đi nét lịch sự của người Tràng An
(theo GĐ&XH).

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

ĐÁP LẠI CÂU ĐỐI TẾT ĐINH HỢI CỦA HÀ SĨ PHU

HÀ PHƯƠNG

1) Đối (HSP)- ( Mừng Xuân con Lợn)
-Tổ quốc hỡi bay lên, Lợn đến, đóng Đinh vào lịch sử
(Năm Đinh Hợi)
1) Đáp (HP) – ( Nhớ Tết con Heo)
-Đồng bào ôi tỉnh dậy, Heo về, Đinh tháo, sáng tương lai!
(Heo về = Heo là Hợi, còn được nhân cách hóa là chú "thiến heo". Về là về vườn. Đinh tháo = Đinh là một trong 10 Can, đinh tháo là cây đinh được tháo ra.
Sáng tương lai = Tương lai sáng lạn. Cả câu ý nói " Kêu đồng bào dậy để xem năm Đinh Hợi chú "thiến heo" sẽ về vườn, quyền lực cực đoan sẽ bị tháo gỡ, tương lai của dân tộc sẽ được sáng lạn)

2) Đối (HSP)- (Vịnh con heo)
-Nửa nạc, nửa mỡ, hết cỡ ngu si, giỗ Tết đến kỳ, lên bàn thờ Tổ
2) Đáp (HP) - ( Bình quẻ giò gà đầu năm của chú"thiến heo")
-Vừa mỏ, vừa giò, tối mò lụn bại, kê ba chụm lại, chỉ cái hại tôn
(Mỏ gà (rút cái tách gà ra xem) chỉ về ngôn từ, giao thiệp. Giò gà chỉ về gia đạo.
Màu u tối là điềm xấu, thất bại mọi việc. Kê ba là ba ngón chân giữa. Kê ba chụm lại là ba ngón chân giữa đấu vào nhau là điềm tệ hại, chỉ cho thấy nội bộ lủng củng, gia đạo bất hòa. Chỉ cái là ngón chân cái chỉ thẳng vào ngón giữa là điềm tối kỵ, ám chỉ có tiểu nhân khuấy phá, người ngoài can thiệp vào, gia chủ bất an. Hại tôn là gây ảnh hưởng bất ổn trong con cháu, thuộc hạ. Tóm lai: "Một quẻ giò gà rất tồi tệ!")

3) Đối (HSP)- Hoạn lợn thẳng tay, vào ngay Hoạn lộ
(Hoạn lợn = Người thiến heo. Hoạn lộ = Đường làm quan)
3) Đáp (HP)- Quan cai co cẳng, rút lặng Quan Trường
(Quan cai = Tên cai đồn điền lên làm quan. Rút lặng = âm thầm rút lui. Quan trường = Chỗ làm việc của quan lớn)

4) 4) Đối (HSP)- Ỷ thế làm CÀN, thân BÈO bọt vẫn là ĐINH rĩ
(Ỷ = Tên gọi của con heo. CÀN = Một trong tám quẻ của Bát quái Phương Vị BÈO = Chỉ con heo. ĐINH = Một trong 10 Can. Đinh rĩ = Cây đinh bị rỉ sắt)

4) Đáp (HP)- Khuyên Thìn khiêm TỐN, Số LONG đong, đành phải MẬU binh
(THÌN = Năm con rồng. TỐN = Một trong tám quẻ của Bát Quái Phương Vị. LONG= Rồng. MẬU = Một trong 10 Can. MẬU binh = Không còn cách nào tốt hơn)

5) Đối (HSP)- Heo chẳng may, gặp gió heo may, lăn cổ chết, Ỷ có thầy LANG cũng chết
(Ỷ = Tên gọi của con heo. Ỷ có = Ỷ lại. LANG = Tên gọi của con heo)
5) Đáp (HP)- Chó chờ thiến, nhìn ông thiến chó, muốn người tha, CẦY nhầy một MỰC không tha.
(CẦY = Tên gọi của con chó. Cầy nhầy = Nói càm ràm trong miệng. MỰC = Tên gọi của con chó)

HÀ PHƯƠNG

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Hạnh Phúc và Đời Sống

Thanh Vân
Người ta thường than cuộc đời là bể khổ và hạnh phúc thật phù du. Cuộc sống quá máy móc và bon chen nhiều khi làm cho chúng ta cảm thấy bỡ ngỡ muộn phiền. Làm sao dung hòa được đời sống tinh thần của người Á Đông với cuộc sống vật chất, vội vàng, nhiều cạm bẫy của người Tây Phương ?

Sống và hưởng thụ trọn vẹn những gì cuộc đời đem lại cho mình phải chăng là mục đích của tất cả mọi người ? Nhưng con người, thật ra, tự nó, đã là một bài toán quá nhiều phức tạp. Để đi đến Hạnh Phúc trọn vẹn, mình phải hiểu mình trước đã. Theo văn hào Pháp Pascal, con người là "cây sậy biết suy tư" (L’homme est un roseau pensant), mỗi con người là một thế giới riêng biệt, Hạnh Phúc của mỗi người vì thế cũng tùy thuộc theo trình độ, giai cấp và nhu cầu của mỗi cá nhân. Nếu "con người" nói chung là một cậy sậy nghiêng ngã theo chiều gió thì người phụ nữ nói riêng còn phức tạp, khó hiểu đến đâu ?

Ai trong đời không có những ước mơ thầm kín, nhưng hình như ước mơ nào cũng quá tầm tay với, cái mà người này xem là tầm thường có thể là ước mơ khó đạt của người khác... Vì vậy, đi tìm Hạnh Phúc trong đời sống vật chất ngày nay phải chăng là cuộc chạy theo ảo ảnh ? Ít ai tự bằng lòng với cái mình đang có, nhất là đối với phụ nữ chúng ta. "Cỏ bên kia núi khi nào cũng xanh hơn". Tâm hồn người phụ nữ tuy mềm yếu nhưng sự đổi thay thì vô chừng vì vậy chúng ta hay cảm thấy bất mãn và mơ ước viễn vông. Ít người cảm thấy mình hạnh phúc hoàn toàn vì luôn luôn trong lòng vẫn mang nặng một ước mơ chưa thành đạt.

Giám đốc hãng thời trang danh tiếng Christian Dior, Mac Bohan, đã trả lời cuộc phỏng vấn của tuần báo Paris Match trong ngày lể kỹ niệm ba mươi năm thành lập hãng của ông như sau : "Phụ nữ và thời trang khi nào cũng đi đôi với nhau và thời trang là đem đến cho người phụ nữ những cái gì hoàn toàn trái ngược với cái mà họ yêu thích ngày hôm qua" (La mode, c’est offrir aux femmes le contraire de ceux qu’elles ont aimé la veille). Đông hay Tây, tâm hồn người phụ nữ khi nào cũng đầy mâu thuẫn và ưa thích sự đổi thay. Vậy làm sao "đi suốt đường trần" mà tâm hồn thanh thản và trong tim cảm thấy hạnh phúc tràn đầy ?

Trước nhất, chúng ta nên có một cái nhìn lạc quan và một "giấc mộng bình thường" trong tầm tay với. Gặp một chuyện gì không vừa ý hay một sự xui xẻo nhỏ nhoi nào đó, chúng ta đừng nên quan trọng hoá vấn đề và hãy cố tìm ra cái khía cạnh tốt đẹp của nó. Người Pháp có câu "Prendre la vie du bon côté" người mình cũng có câu có ý tương tự như vậy "của đi thay người", cái xui này, cái bực mình này sẽ giúp ta tránh được cái xui khác, cái bực mình khác quan trọng hơn nhiều. Nghĩ được như vậy, tâm hồn ta sẽ trở lại thư thái, nhẹ nhàng hơn. Vì vậy, hạnh phúc ở đời này, phải chăng là bằng lòng với những gì chúng ta đang có, nâng niu và hưởng thụ nó đến tận cùng ? Nói vậy, không có nghĩa là chúng ta nên áp dụng thuyết "hiện sinh" một cách bừa bãi, mặc dù thuyết đó chẳng có chi xấu xa hay vô luân như chúng ta lầm tưởng. Một số người đã lợi dụng thuyết này, thuyết nọ để sống thác loạn, không có ngày mai, cho rằng mình đang sống theo trào lưu tiến bộ. Thật ra thuyết "hiện sinh" (existentialisme) hay thuyết "hưởng thụ" (épicurisme) đã có từ lâu, épicurisme từ thế kỷ thứ mười sáu với thi hào Ronsard và những câu thơ bất tử khuyên con người hãy hưởng đi những gì đang có trong tay :

"Cueillons dès aujourd’hui les roses de la vie"

Hoa hồng đang tươi đẹp, các bạn hãy hái đi đừng để đến ngày mai hoa sẽ tàn mất, tuổi trẻ trôi nhanh, hãy sống tràn đầy để khi về già khỏi ngồi nhìn kỹ niệm mà tiếc nuối :

Quand par un soir d’ été
Tu seras seule à méditer
Que ce souvenir te dise tout bas
Ne m’ oublies pas!

Tuổi trẻ không hưởng thụ, ngày về già chỉ còn lại chút kỹ niệm chắt chiu của một thời hoa mộng đã trôi nhanh.

Vậy hưởng thụ là gì ? Hưởng thụ là ý thức, là sống trọn vẹn với cái mình đang nắm giữ trong tay.

Trong cuốn tiểu thuyết "Bonjour Tristesse", Francoise Sagan, người đã cùng Jean Paul Sartre và Simone de Beauvois khơi mào ra thuyết "hiện sinh" đã một thời gây sóng gió, cho ta một khái niệm tổng quát về ý thức hưởng thụ của nàng. Sống là ý thức được sự hiện hữu của chính mình. Chúng ta hãy nghe Cécile, nhân vật nữ chính của "Bonjour Tristesse" diễn tả cái hạnh phúc sống, sự hưởng thụ trọn vẹn nhưng đơn sơ của nàng : Buổi sáng mùa hè ở miền bể, Cécile thức giấc với tách cà phê nóng hổi và trái cam mát lạnh trong tay. Nàng ngồi đó, nh nắng mặt trời chan hòa trên mặt, trên người, đầu óc nàng còn đặc sệt với giấc ngủ vừa qua. Nàng ngồi đó, tràn đầy hạnh phúc, không suy tư, không mơ ước, nàng nhắm ngụm cà phê bỏng cháy và cắn ngập răng vào quả cam mát lạnh. Cuộc sống trở về tràn đầy, với cái nóng của cà phê đang trôi dần vào miệng cùng với cái mát lạnh, ngọt ngào của nước cam đang đánh thức mọi khứu giác của nàng. Hai trạng thái tương phản đó đã cho Cécile ý thức được rằng nàng đang sống, đang thực sư hiện hữu và nàng hạnh phúc vô cùng với cảm nghĩ đó. Cái ý chính của thuyết "hiện sinh" là ở đó. Sống và ý thức được sự sống của mình. "Hiện sinh" không phải là cứ sống bừa bãi, thác loạn, tàn phá đời mình như độ nào có một số người đã sống, để rối trả lời những sự trách móc chê bai bằng cách khoác cho mình bộ vó "trí thức" hay "triết gia" (philosophe).Triết lý đem đến cho ta một phương thức sống, để cho ta có thể tìm hiểu được mình rõ ràng hơn. Không có triết thuyết nào xui khiến ta tự tàn phá đời mình hay đời người khác, có chăng chỉ có những người cố tình hiểu sai đi để tự ý làm bậy...

Đời sống của người phụ nữ như đóa hoa, sớm nở tối tàn. Vậy chúng ta phải làm sao kéo dài những ngày tươi đẹp và hưởng trọn vẹn những gì mà thời gian ngắn ngủi đó đem lại cho ta.

Hãy lạc quan, yêu đời và tin đời :

“I believe in angel
Something good in everything I see"…

Đời sống không chỉ là lọc lừa, gian dối mà đời sống còn tràn đầy chuyện thần tiên, ta hãy tin rằng trong mọi sự đề có khía cạnh tốt đẹp của nó. Tâm hồn yên vui, ta sẽ cảm thấy hạnh phúc. Tại sao cứ tự làm khổ mình bằng cách chạy theo ảo ảnh, dằn vặt mình bằng những phù phiếm giả tạo, hay trong cuộc sống vật chất này, bằng những món nợ xa hoa không cần thiết ? Cuộc sống đã quá nhiều rắc rối, hãy giản dị hóa nó bằng cách sống thật với chính mình, hãy nhìn bầu trời xanh cao chan hòa ánh nắng và nhủ lòng đây là một ngày nắng đẹp, đừng tự làm khổ mình bằng những ý tưởng bi quan hay lập dị. Câu văn giản dị trong sáng vẫn làm cho người đọc xúc động hơn những câu tối nghĩa không ngoài mục đích làm cho người đọc thắc mắc và biết đâu họ sẽ cảm phục mình. Các bạn ạ, nước mắt khi nào cũng chảy xuôi và sông khi nào cũng trôi ra biển, tại sao cứ tự cho mình là "con cá lội ngược giòng" để mong được người đời khâm phục ? Ta hãy sống tự nhiên như ta thở và hưởng thụ cái ta đang nắm chắc trong tay. Ta hãy mua sắm những gì mà túi tiền ta cho phép, như vậy ta mới thoải mái hưởng thụ mà khỏi bạc đầu lo chạy tiền trả nợ, ta hãy viết những gì mà ta hiểu để khỏi ngỡ ngàng khi bị người khác yêu cầu giải thích ý nghĩa câu nói của ta. Sống thật, sống lạc quan, sống giản dị, phải chăng đó là chìa khóa của hạnh phúc đúng nghĩa nhất ? Đừng để ước mơ biến thành ảo mộng nếu không là ác mộng !

Cát bụi rồi ta sẽ trở về cát bụi, hãy giản dị hóa cuộc dời mình để có cuộc sống vô tư, để có những giây phút thần tiên cho riêng mình, để tận hưởng những gì êm đẹp mà đời sống đem lại cho ta mỗi ngày.

Ngày tháng trôi nhanh, ta cũng trôi theo dòng đời, nhưng lòng thanh thản. Hạnh phúc là ở đó. Yves Montand, một ngôi sao màn bạc nổi tiếng của nước Pháp nay đã lìa trần nhưng khi ông còn sống và lớn tuổi ông có tâm sự với báo chí là đời sống của ông là một chuỗi ngày dài hạnh phúc mặc dù ông đã trải qua rất nhiều sóng gió trong đời.

Ông đã dễ dàng vượt qua được tất cả vì ông nói "Ta không bao giờ làm lại cuộc đời mà ta chỉ tiếp tục sống cuộc đời đó..." (On ne refait jamais sa vie, on la continue ...). Ông không có gì ân hận cho những ngày và những việc đã qua trong đời ông nên tương lai vẫn là cuộc sống đang tiếp diễn, ông không bao giờ nghĩ rằng sẽ làm lại cuộc đời vì cuộc đời đã qua của ông không làm cho ông ân hận, tiếc nuối nên ông chỉ tiếp tục cuộc sống mà thôi. Ông không có gì để oán trách dĩ vãng và cũng không có gì để lo sợ cho tương lai. Ông sống với "mộng ước trong tầm tay" nên ông hưởng thụ đời sống hiện tại thật an bình, êm ả.

Vậy thì bạn cũng sống thật hạnh phúc đi, bằng cách hái ngay hoa hồng của đời sống đang hé nở, bạn hãy cắn ngập răng vào quả cam mát lạnh ngọt ngào đang nằm trong tay bạn, bạn hảy nhìn bầu trời ngập nắng và cám ơn đời đã còn cho bạn cặp mắt nguyên vẹn... Đó bạn đang hưởng thụ, đang tràn đầy hạnh phúc, cái hạnh phúc tuyệt vời và tuyệt đỉnh của một đời sống giản dị bình thường.

"I have a dream
A song to sing
To help me cope
With anything…"

Hãy sống tự tin và lạc quan, hãy lựa cho mình một giấc mơ, một bài hát, bạn sẽ dể dàng đối phó với mọi bất trắc mà tương lai có thể dành cho bạn.

Đời sống ngắn ngủi thật, nhưng nếu biết cách hưởng thụ, hạnh phúc của ta cũng đã tràn đầy rồi, hạnh phúc sẽ không còn là "phù du" mà sẽ trở thành vĩnh cửu vì ta đã làm ra cái hạnh phúc đó. Lê văn Trương đã viết trong "Cô gái mới" như sau :

"Hạnh phúc ở lòng ta, chẳng ai có thể gây cho ta hạnh phúc được. Người ngoài chỉ có thể giúp ta làm nẩy nở cái hạnh phúc thêm ra mà thôi. Còn ta, ta cũng chẳng dại gì đem đặt hạnh phúc vào tay ai vì ai cũng không bằng ta..."

Hãy tin vào lòng mình và ngày mai sẽ đến với bạn đẹp hơn ngày hôm nay thật nhiều. Hạnh Phúc đâu còn là "bóng mây" nếu ta biết cách nắm nó, phải không bạn ?

Thanh Vân

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

NHÌN

Song Thao
Bia lên ta thấy thân người
Thấy ta thấy địch thấy đời lãng du
Thấy tay dư thấy chân thừa
Thấy tai nghễnh ngãng mắt mù óc không
Một đời phơ phất hình nhân
Thấy còn thấy hết sau cùng thấy đau
Bia lên thấy mẹ u sầu
Giấy bồi tơi tả cúi đầu trong ta
Trời cao ngó xuống thịt da
Bia lên mây cũng vật vờ cỏ xanh
Bia lên tìm chỗ ta nằm
Non cao duỗi cẳng em còn thấy đâu
Hầm bia buồn đến mộ sâu
Nghìn cây nến thắp trên đầu đạn bay.
Những ai đã từng đổ mồ hôi trong quân trường, nếu không trốn giờ thực hành tác xạ, chắc không thể quên được những tấm bia lên. Đó là những hình nhân bằng giấy bồi, được gắn trên một khúc cây dài, được những khóa sinh núp dưới hầm bia giơ lên cho những khóa sinh ghì súng ở phía trên bắn tập. Mỗi lần có tiếng hô “Bia Lên”, những hình nhân được giơ lên ngang tầm súng hứng những viên đạn bay vèo vèo trên không trung. Mỗi vị trí bắn được đánh số tương đồng với số của hình nhân. Bắn xong, cứ đếm lỗ đạn trên hình nhân để tính điểm. Đếm xong, những vết đạn được dán kín lại để toán sau tiếp tục bắn. Khóa sinh trên xạ trường khi nhìn thấy bia lên chỉ nhìn thấy đó là mục tiêu phải nhả đạn tới cho thật chính xác. Nhưng thi sĩ Nguyên Sa, nhìn bia lên, đã thấy được rất nhiều hình ảnh. Đó không phải chỉ là cái nhìn bằng mắt nhưng còn nhìn bằng ký ức, tâm tưởng, tình cảm, suy tư...

Không phải là thi sĩ, không có một tâm hồn thơ, phần lớn chúng ta chỉ nhìn thấy những gì hiển hiện trước mắt. Đó là hình thể, chuyển động, ánh sáng, màu sắc... Cái nhìn bằng mắt như vậy nặng về phần cơ học. Nhưng ánh mắt nhìn lại khác, nó... gửi gấm lắm. Nhìn ánh mắt, người ta nhìn được lòng dạ nhau. Con mắt bỗng có đuôi.
Hai mươi bốn năm sau
Tình cờ đất khách gặp nhau
Đôi cái đầu đều bạc
Nếu chẳng quen lung, đố có nhìn ra được
Ôn chuyện cũ mà thôi.
Liếc đưa nhau đi rồi,
Con mắt còn có đuôi.

(Phan Khôi)
Con mắt sa đà vào lòng dạ có nhiều chuyện đáng nói. Mỗi chúng ta hầu như đều có kinh nghiệm về chuyện này. Hãy giữ riêng những con mắt có đuôi đó cho mình. Cái nhìn tôi muốn... phiếm ở đây, nó chỉ là cái nhìn. Trơ trụi có vậy thôi.

Chỉ nguyên việc nhìn được, đó đã là một hạnh phúc. Chúng ta có được đôi mắt nhìn rõ được thế giới quanh ta, chúng ta cứ nghĩ đó là chuyện đương nhiên, ai cũng vậy. Nhưng nhan nhản quanh chúng ta có thiếu gì người không còn đôi mắt để nhìn. Họ sống trong một thế giới khác, thế giới chỉ có một tấm màn đen. Trong một lần gặp gỡ Đại Úy Giám Đốc trường Khiếm Thị ở Saigon trước đây, ông đã chua xót nói bằng một giọng vừa ngậm ngùi vừa oán than. “Trên đời chỉ có hai hạng người: những người mắt sáng và những người mù!” Nhiều năm sau, khi bị dồn vào cái gọi là trại Cải Tạo Long Thành, tôi thấy lại ông. Ông đã từ Đại Úy leo lên tới Đại Tá nhưng mắt ông vẫn tối thui như cũ. Trong trại, ngày ngày ông cõng một ông Đại Tá khác bị cụt chân tham gia những sinh hoạt trong trại. Một người có mắt, một người có chân, họ dựa vào nhau để sống!

Trong những xã hội chúng ta đang sống, người khiếm thị dựa vào chó. Đó là những con chó đã được huấn luyện để dắt người mù. Những con chó dễ thương này lại không hoàn toàn dựa vào đôi mắt của chúng. Theo một cuộc khảo sát ở Tân Tây Lan thì cứ mười chú khuyển này thì có ít nhất một chú bị cận thị khá nặng. Nếu là người thì chú đã phải sắm một cặp kính trắng, nhưng là chó, không có khả năng đeo kính, chú dựa vào tài đánh hơi và khả năng ngửi của mình để hành hiệp. Hai cái khả năng trời cho này của loài khuyển lại không đủ để “nhìn” thấy một chiếc xe hơi đang phóng tới. Như vậy các nhà nghiên cứu đã ngửi thấy sự nguy hiểm, họ nghĩ ra là một dụng cụ điện tử để dẫn dắt người mù sẽ chắc ăn và đỡ phiền toái hơn nhiều. Những chú khuyển nghĩa hiệp chắc sẽ có ngày phải sắp hàng đi xin trợ cấp thất nghiệp!

Đôi mắt, cái bộ phận để nhìn của chúng ta, thường vẫn được ví von một cách thơ mộng là cái cửa sổ của tâm hồn. Nghe đẹp như vậy mà chúng ta hình như chưa o bế chúng một cách phải phép. Khi con người đạt tới cái tuổi 40 thì mắt đã có thể có vấn đề. Nó lụi đi không còn nhìn được rõ ràng nữa. Nó cần có một anh bạn: cái mục kỉnh. Vậy mà, theo một cuộc thăm dò của hãng Léger Marketing với 755 người Canada trong tháng 8 vừa qua, thì dân Canada ở cái tuổi cần thăm hỏi đôi mắt đã chú trọng tới răng và tóc nhiều hơn. Hớt tóc, săn sóc tóc, xịt thuốc tóc, gel chải tóc thì OK nhưng mắt thì... hạ hồi phân giải. Họ không cần biết là, với tuổi tác, mắt nhìn không rõ nữa là chuyện đương nhiên, chẳng ai tránh được. Cũng vẫn theo cuộc thăm dò trên thì 76% người trên 40 tuổi nhìn không rõ và lên tới tuổi 45 thì 82% công nhận là mắt cặp bờ lời. Vậy mà 27% số người này không thèm đi khám mắt và 24% có đeo kính nhưng là thứ kính làm sẵn bán trong các cửa tiệm tạp hóa!

Tuổi càng cao, cái nhìn càng... lờ mờ nhân ảnh như người đi đêm. Không có cặp kính lão dễ gây ra những sự lầm lẫn tai hại. Nhưng không có cặp kính lão nhiều khi lại dễ chịu hơn. Vì cứ lờ mờ mà còn thấy mình dễ thương, lắp cặp kính vào thấy rõ những nét nhăn trên da, những vết thời gian trên người, những chân chim quanh mắt, những đồi mồi trên mặt, những tóc bạc trên đầu, mất vui đi! Đời có được bao lăm, trốn chạy được cái anh thời gian vô duyên lúc nào hay lúc đó. Cứ làm như thời gian bị hóa đá từ lúc anh và em, chúng ta e ấp dắt nhau vào cuộc sống lứa đôi.

Đôi vợ chồng trở lại nhà hàng nơi họ từng hưởng đêm tân hôn 50 năm trước. Ông chồng nhớ lại:

“Mình còn nhớ tiết mục tạp kỹ có thằng cha đập vỡ được ba quả hạt dẻ trong tiệc cưới của chúng mình không?”

“Em nhớ chứ! Quên làm sao được hở mình!”

“Bây giờ vẫn còn tiết mục trình diễn đó, đêm nay mình lại được sống lại cái đêm thần tiên của chúng mình hồi đó.”

Buổi diễn đêm đó, vẫn anh nghệ sĩ cũ trình diễn tiết mục cũ, nhưng hai vợ chồng thấy anh đã thay ba hạt dẻ bằng ba trái dừa. Ông chồng lấy làm ngạc nhiên hỏi:

“Lão nghệ sĩ này! Tôi thấy tiết mục trình diễn của ông đã thay đổi lớn hơn, vượt xa những gì chúng tôi được xem cách đây 50 năm!”

Lão nghệ sĩ gật đầu:

“Cũng đành phải thế thôi, ông bạn. Với tuổi tác, mắt tôi nhìn càng ngày càng kém!”

Mắt kém, mắt đau cứ tìm tới mấy ông bác sĩ chuyên môn về mắt. Y học ngày nay đã tiến rất xa trong tất cả các ngành, trong đó có ngành nhãn khoa. Nhưng đem thiền vào nhãn khoa thì mới chỉ là một thử nghiệm đơn độc. Người mặn mà với công trình độc đáo này là một bác sĩ nhãn khoa Việt Nam, Bác Sĩ Nguyễn Hùng trong tổ hợp United Eye Care. Bác Sĩ Hùng năm nay mới 30 tuổi, là người Việt Nam đầu tiên tốt nghiệp cùng một lúc hai văn bằng Tiến Sĩ về Nhãn Khoa và Cao Học Y Tế Công Cộng (Master of Public Health) của Đại Học Nova Southeastern University. Ông cũng đã tốt nghiệp Cử Nhân Sinh Hóa của Đại Học UCLA từ năm 1997.

Do đâu mà vị Bác Sĩ trẻ tuổi này lại nghĩ tới thiền và áp dụng thiền vào ngành chuyên môn của mình? Ngay từ thuở nhỏ, Bác Sĩ Hùng đã có những phút ngồi cầu nguyện do tự nhiên không từ một ảnh hưởng của tôn giáo hay nền giáo dục nào cả. Ông cho đó là một “cơ duyên”. Những phút cầu nguyện này không phải là muốn cầu xin một ơn huệ nào cả mà chỉ là những phút tĩnh tâm cho tâm trí thư thả. Sau những phút tĩnh tâm như thế, ông đều cảm thấy có điều gì như sáng hơn trong trí óc. Sau khi tìm hiểu thêm về Thiền ở Nhật Bản và Ấn Độ để nắm bắt được cái vi diệu của Thiền, ông đã tĩnh tâm đưa sự suy tưởng vào việc chữa trị trong nhãn khoa. Ông nhận thấy sau một thời gian chữa trị cho các bệnh nhân, các bệnh về mắt thường ít nhiều do từ nhãn áp mà ra. Cũng theo Bác Sĩ Hùng thì trong việc điều trị các bệnh về mắt, người ta chỉ chữa ngọn mà bỏ quên gốc. Ông chú trọng vào việc chữa trị từ gốc. Việc định ra được ảnh hưởng của nhãn áp trên các bệnh về mắt là một điểm mới vì chính nhãn áp là nguyên nhân của những trường hợp bị mù mà người bệnh thường không biết. Đó là sự chết từ từ của mắt. Theo nghiên cứu của ông thì nguyên nhân đưa đến mù lòa do tự nhiên chỉ có khoảng tứ 14% đến 15% do di truyền, một phần do tiểu đường và một phần do hút thuốc, còn hầu hết là do nhãn áp, do những điều hành sinh học không tự nhiên trong mắt khiến thần kinh mắt bị ảnh hưởng tạo nên áp nhãn gây mù.

Ông giải thích là theo nguyên lý âm dương, có đi thì phải có về mới hợp theo lẽ tự nhiên. Vậy mà, trong nhiều bệnh về mắt, nước tiết ra trong mắt thường không trở về đầy đủ khiến ảnh hưởng đến thần kinh mắt trên các phần giác mạc và võng mạc. Từ đó ông tạm kết luận là nhãn áp rất quan trọng và ông nghiên cứu theo hướng này. Ông thấy rõ sự khác biệt giữa những người có tập thiền và những người không tập thiền trong các bệnh về mắt. Sau nhiều trường hợp thử nghiệm bằng cách chỉ dẫn cho bệnh nhân tập thiền, ông thấy kết quả trong việc điều trị rất khả quan. Phương pháp thiền ông tập cho bệnh nhân rất giản dị. Chỉ cần ngồi kiết già, giữ thân cho thẳng, hai tay để thoải mái trên đầu gối, bàn tay ngửa và đôi mắt chỉ mở 1/3 rồi từ từ thở ra hít vô thật sâu. Mỗi nhịp thở là một lần dừng lại đếm. Cứ tập như thế trong khoảng 20 phút mỗi ngày.

Theo vị Bác Sĩ tuổi trẻ tài cao này thì đây là nghiên cứu đầu tiên trên thế giới về áp dụng thiền trong điều trị nhãn khoa. Tháng 6 năm 2005 tới đây, công trình nghiên cứu của ông sẽ được trình bầy trước Hàn Lâm Viện Nhãn Khoa Hoa Kỳ.

Khi chúng ta nhìn, màu sắc là cái đập vào mắt chúng ta trước tiên. Nhà thiết kế thời trang Lisa Fisher ở Cape Town, Nam Phi cho rằng màu sắc luôn ở quanh ta và là điều thiết yếu của cuộc sống, có ảnh hưởng tới tâm trạng và sức khỏe của mỗi chúng ta từ cơ thể tới đầu óc và tinh thần. Mầu sắc chẳng phải chỉ để nhìn cho vui mắt. Nó quan trọng hơn nhiều. Cũng vẫn theo Lisa Fisher thì mỗi mầu sắc có một sự tác động khác nhau tới hệ chakra. Hệ chakra, nó là cái chi chi? Chakra có nghĩa là vòng quay hoặc cơn xoáy, ám chỉ tới một trong bẩy loại năng lượng mà hệ ý thức và sức mạnh của cơ thể chúng ta được tạo nên. Nó hoạt động như một cái bơm hoặc van đễ điều chỉnh dòng chảy năng lượng trong cơ thể. Khi hệ chakra bị mất cân bằng, nó dẫn tới sự thiếu hoặc thừa năng lượng và ảnh hưởng tới sức khỏe. Khi năng lượng khỏe mạnh, rộng mở và cân bằng, nó sẽ chảy dễ dàng qua hệ chakra. Khi chúng ta mặc quần áo, chúng ta cần phải hiểu được mỗi mầu có ý nghĩa gì và sử dụng nó thế nào để có thể hồi phục sức khỏe bằng cách cân bằng hệ chakra.

Chúng ta thử lấy một vài ví dụ. Nếu chúng ta cảm thấy thiếu tự tin hoặc mất tinh thần về một buổi họp quan trọng sắp tới chẳng hạn, chúng ta hãy mặc mầu đỏ. Mầu đỏ là mầu đầy sinh lực và mạnh mẽ, mang tới sự quyết đoán và năng động. Dưới mầu đỏ một nấc là mầu hồng, một mầu cũng mạnh mẽ nhưng không nhiều năng lượng như mầu đỏ.

Nếu chúng ta cảm thấy lo lắng trước một cuộc họp thì mầu vàng sẽ loại bớt được sự lo âu. Đó là mầu của ánh nắng và sự sống. Mầu đen là mầu của đất, sự che chở và nữ tính. Mầu trắng đầy tính thuần khiết và thanh tao.

Mầu sắc, như vậy, nó ảnh hưỏng tới tâm trạng của chúng ta. Lựa đúng mầu vào đúng lúc, đúng nơi, chúng ta sẽ cảm thấy thoải mái và an tâm. Mầu sắc cũng ảnh hưởng tới việc yêu đương. Điều này thật ra chẳng mới mẻ gì. Ngay từ thời cổ, các vương triều ở Trung Hoa và Ai Cập đã biết điều này từ khuya. Họ đã biết lựa mầu sắc cho cung điện và nhất là những nơi vua ngự giá tới ban ơn mưa móc cho các cung tần mỹ nữ. Theo sự phân tích của các nhà khoa học thì mầu sắc ảnh hưởng rất nhiều tới tâm lý và sinh lý của con người. Riêng về tình dục, mầu sắc còn có khả năng làm hưng phấn hay giảm thiểu sự kích thích trong ham muốn và sự hăng hái trong hoạt động tình dục. Mầu xanh tạo sự thanh thản, mát mẻ, nhẹ nhàng, khêu gợi. Mầu đỏ gây kích thích mạnh, tạo sự ấm cúng, hăng say, nhiệt tình, mạnh dạn. Những người hay lơ là trong việc chăn gối nên dùng đèn mầu đỏ trong phòng để tạo thêm hứng thú và hăng say. Các khách sạn tại Hong Kong lại ưa dùng vải sa tanh đen làm khăn trải giường. Mầu đen thực ra không có tác dụng gì nhiều trong việc chăn gối nhưng nó làm cho cơ thể con người nổi lên khiến khoái cảm tăng thêm.

Ánh sáng cũng là một yếu tố quan trọng. Trong một căn phòng tối thui, nhà tranh cũng như nhà gạch, mắt rất ít việc làm. Mà hình ảnh của người tình được ánh sáng soi sáng thường làm tăng thêm kích thích cho việc... đánh cờ. Các nhà tình dục học khuyên các cặp vợ chồng muốn đạt được khoái cảm thực sự trong ái ân nên dùng mầu hồng cho phòng ngủ, khăn trải giường mầu sậm và dùng đèn ngủ mầu đỏ hay mầu hồng. Chẳng nên không nhìn thấy nhau trong bóng tối.

Các nhà giáo dục tại các trường trung học và một số các trường tiểu học tại Montréal đang điên đầu về trò chơi mầu sắc của học sinh. Chúng đua nhau đeo những chiếc vòng nhựa có mầu trên tay. Ngặt một nỗi, những chiếc vòng này là những chiếc vòng biết nói. Chúng nói những điều mà các thầy cô nổi da gà! Khi một học sinh nhìn mầu sắc chiếc vòng trên tay một học sinh khác phái, chúng đọc được ý nghĩa trên mầu sắc chiếc vòng. Mầu cam: một cái hôn. Mầu vàng: một cái ôm. Mầu đỏ: hôn lưỡi. Mầu tím: hôn, nắm tay. Mầu hồng: sẵn sàng. Mầu xanh: dùng mồm miệng. Mầu lá cây: sex bên ngoài. Mầu đen: làm tình! Mầu sắc và cái nhìn đã sa đà vào chốn tối đen. Lối nhìn sống sượng nặng về tình dục trong chốn trường ốc đã lấy đi sự hồn nhiên của lớp tuổi học trò.

Tôi muốn thoát khỏi cái nhìn vướng víu đó để nghía vào một cái nhìn khác. Thơ hơn nhiều!
Em bơi nằm ngửa trong hồ
Nước trong thấy rõ ý đồ của anh
Ngày xưa đi học dốt văn
Nên giờ không biết tả tiên thế nào

Nước ôm hai mảnh xôn xao
Hồn nhiên hôn đại ngay vào chân lông
Anh đưa con mắt trời trồng
Ngó lơ chỗ khác như không thấy gì
Hồn nhiên hôn đại ngay vào chân lông
Anh đưa con mắt trời trồng
Ngó lơ chỗ khác như không thấy gì

(Quan Dương)



Song Thao

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Cộng sản cũng đảo chánh!


Wednesday, March 21, 2007

Vũ Quí Hạo Nhiên

Tin một cuộc đảo chánh hụt đã diễn ra ngay trong lòng một xã hội công an trị gắt gao, làm nhiều người ngạc nhiên vô cùng. Tin này rì rỏ ở hải ngoại cả hơn nửa tháng, mới có một hãng thông tấn Nhật kiểm chứng và đưa ra.

Lần đầu tiên tin này đưa ra là vào ngày 5 Tháng Ba. Một người chủ nhà hàng báo cho báo Người Việt biết là một cán bộ cộng sản trẻ, cấp tương đối cao, đang ngồi trong nhà hàng của ông và kể cho ông nghe là an ninh trong nước vừa dập tắt một âm mưu đảo chánh, liên quan đến vụ đặt bom tại 10 địa điểm trong Sài Gòn, kể cả trước cửa nhà riêng của thân mẫu Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng đối diện công viên Tao Ðàn.

Lần thứ nhì tin này lại nổi lên là qua một công chức Hoa Kỳ. Hôm 14 Tháng Ba, người công chức này, tuy cấp bậc không cao nhưng có tiêu chuẩn tiếp nhận tin mật, hỏi báo Người Việt có biết gì về tin Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng đã bị ám sát chết.

Cả hai lần, nhà báo gọi các nguồn tin thân cận, trong và ngoài nước, để kiểm chứng. Các nguồn tin này gồm các nhà báo trong nước, các nhân vật cấp quận, tỉnh, thành phố trong đảng Cộng Sản Việt Nam, cũng như một số nhân vật cựu đảng viên nay đang sống tại ngoại quốc. Cả hai lần, các nguồn tin này đều trả lời lại là không biết gì cả, thậm chí còn không nghe phong thanh chút nào.

Nhưng đến nay thì hãng thông tấn Kyodo của Nhật, trích dẫn nguồn tin ẩn danh, chính thức tung tin này ra và toàn thể thế giới nhận được sau khi thống tấn xã AP truyền lại tin của Kyodo.

Kyodo cho biết, vụ nổ diễn ra vào sáng sớm ngày 10 Tháng Hai ở phía trước tư gia Nguyễn Tấn Dũng ở Sài Gòn, có sức nổ tương đương với khoảng 300 gram TNT.

Bản tin này làm ta nghĩ ngay tới, như nhiều người từng phân tích, việc đảng Cộng Sản Việt Nam có đại khái hai “phe,” một “phe bảo thủ” và một “phe cấp tiến.” Ông Dũng thường được xem là người trong phe cấp tiến, và tạm thời có thể suy ra là kẻ đặt bom mưu sát ông là người trong phe bảo thủ.

(Cũng nên mở ngoặc ở đây để nói rằng có nhiều người khác không tin là có những phe bảo thủ hay cấp tiến trong nội bộ nhóm chóp bu đảng Cộng Sản mà sự phân chia đó chỉ là giả vờ.)

Tin này được rò rỉ ra hải ngoại, ít ra là từ ngày 5 Tháng Ba, và qua trung gian một người chủ nhà hàng mà khá nhiều người biết là quen thân với nhiều nhà báo đông độc giả trong cộng đồng người Việt Nam hải ngoại.

Tại sao một cán bộ trung cấp lại biết tin này? Tại sao, qua người cán bộ trung cấp đó, báo Người Việt đã nghe được tin này từ hôm 5 Tháng Ba? Mà cho tới sau ngày 14 Tháng Ba, nói chuyện với các nhà báo, các cán bộ có cấp bậc cao bằng hoặc hơn người cán bộ ngồi ở nhà hàng tại Bolsa, họ vẫn không hề nghe, đừng nói chi biết chi tiết hoặc kiểm chứng được vụ nổ bom này?

Nghi vấn lập tức được đặt ra là, “Có phải có một thế lực nào đó muốn đẩy tin này ra cho người Việt hải ngoại biết, hay không?”

Họ đẩy tin này ra hải ngoại để làm cái gì? Quận Cam chỉ có 200,000 người Việt Nam trong đó không có một ai có thế lực trong đảng Cộng Sản. Vậy nói cho hải ngoại nghe, thì được cái giải gì?

Một giả thuyết đã được đưa ra là, hải ngoại là nơi thuận tiện đưa tin cho các nhà đấu tranh dân chủ. Nếu cần bắn tiếng cho các nhà tranh đấu, làm việc này qua trung gian cộng đồng hải ngoại cũng là một cách hữu hiệu.

Theo giả thuyết này, thì điều mà người dân trong nước sợ nhất, sợ hơn cả sự trường tồn vĩnh viễn của nền cai trị cộng sản, là sự trở lại của thời kỳ trước đổi mới, còn gọi là thời bao cấp. Nếu cần các nhà đấu tranh dân chủ giảm bớt hoạt động trong một thời gian ngắn, cách hữu hiệu nhất là thuyết phục họ, “bác làm dữ quá, chúng nó hạ ông Dũng là dân mình còn khổ hơn nữa!”

Cũng theo giả thuyết này, tin ông Dũng bị mưu sát có tác dụng giúp cho ông thủ tướng không bị dính vào vụ các nhà tranh đấu bị bắt bớ. Bằng cách nhấn mạnh tích cách “hai phe” của đảng Cộng Sản, tin này cho “phe cấp tiến” khả năng chối bỏ trách nhiệm về việc bắt bớ hàng loạt các nhà tranh đấu.

Tiếp tục với lập luận này, thì tin ông Dũng bị mưu sát cũng giúp phía Việt Nam ăn nói với quốc tế. Tại sao các anh lại bắt người loạn xạ lên thế? Nói riêng đừng nhắc lại cho ai biết nhé, ông Dũng vừa bị mưu sát, chúng tôi đành nhịn cho phe bảo thủ lên gân một thời gian thôi, từ từ chúng tôi sẽ thả, đừng làm ép chúng tôi quá “chúng nó” lại đẩy nước Việt Nam về thời kỳ trước đổi mới!

Giả thuyết này có sức hấp dẫn của một thứ “conspiracy theory” - một giả thuyết về khả năng mưu thần chước quỷ của “bọn cộng sản” - nên được nhiều người lưu ý và quan tâm, nhất là trên Internet, nơi thường xuyên sản sinh “conspiracy theory” lớn bé các loại.

Tuy nhiên, đối với người yêu chuộng tự do dân chủ cho Việt Nam, cái hay ở đây là chúng ta không cần biết cái giả thuyết này có đúng hay không.

Vì dù giả thuyết đó đúng hay sai, thì rốt cuộc chuyện đảo chánh hay lật đổ hay mưu sát giữa các nhân vật chóp bu cộng sản với nhau, vẫn là chuyện của đảng Cộng Sản, không phải là chuyện của người yêu tự do dân chủ. (Nếu có thể chia đơn giản thế giới ra làm hai phe, thì chuyện này là chuyện của “địch” không phải chuyện của “ta”.)

“Phe” nào trong đảng Cộng Sản Việt Nam thắng thế, không thể quan trọng hơn việc Việt Nam cần tiến tới tự do, dân chủ. Ðã yêu chuộng tự do dân chủ thì phải đặt mục tiêu đó cao hơn là việc nhìn ngó “phe” này “phe” kia thắng hay thua.

Và ngược lại cũng vậy. Chúng ta cũng không nên quên rằng, cho dù đảng Cộng Sản có bao nhiêu “phe” đi nữa, và dù họ có đang giận và ghét nhau tới mức nào đi nữa, rốt cuộc thì họ vẫn bênh nhau hơn là bênh người đấu tranh cho dân chủ. Vì sao? Vì dù “phe” này có làm sứt mẻ quyền lợi của “phe” khác tới mức nào đi nữa, đối với người trong giới lãnh đạo đảng Cộng Sản, vẫn còn không nguy hiểm bằng một thể chế chính trị tự do, dân chủ, sẽ tước đi hết tất cả đặc quyền đặc lợi của toàn thể đảng.

Ðường cộng sản không thể trùng với đường đi tới tự do dân chủ, chính là ở chỗ
đó.


---

dacung
Posts: 409
Joined: Tue Dec 13, 2005 6:26 am
Location: USA
Contact:

Post by dacung »

Nguyễn Thanh Nam
(Chuyền từ bạn TQ Thái)

Mỗi mùa xuân về trên quê hương Việt Nam, chúng ta lại nhớ đến địa danh Sài Gòn.

Sài Gòn, tự nó đã đầy đủ ý nghĩa. Không cần phải thêm thủ đô hay thành phố gì cả. Hai chữ Sài Gòn đã in sâu vào từng tâm hồn của ngưòi dân Việt Nam mà còn quen thuộc với người ngoại quốc với tên gọi không có dấu: “Saigon”. ...

... Để rồi từ đó mọi người đều có thể viết chữ Sài Gòn dính liền lại với nhau mà không bỏ dấu “SAIGON”.

Không biết bao nhiêu bài luận văn của các em học sinh từ tiểu học đến trung học tả về Saigon. Không biết bao nhiêu thi sĩ, nhạc sĩ viết về Saigon. Saigon nằm soi mình bên dòng sông cùng tên Saigon, thật lãng mạng và kêu ngạo cùng tuế nguyệt.

Chúng ta hãy lắng động tâm hồn để tìm về sự mộc mạc của người Việt Nam đối với Saigon thân yêu.

1. Thưa cô đi đâu?
- Saigon.

2. Bà ngoại đi đâu?
- Lên Saigon.

3. Mầy từ đâu về?
-Từ Saigon.

Chỉ cần một chữ Saigon là đầy đủ rồi.

Nhưng trong 30 năm qua, Saigon bị mất tên, bị thay thế bằng tên của nhân vật Hồ Chí Minh. Sàigon ngậm ngùi tức tưởi, thổn thức với lời ca trong bài Vĩnh Biệt Saigon: “...ta mất người như người đã mất tên…”.

Người Cộng Sản Việt Nam rất lấy làm hãnh diện với cái gọi thành phố Hồ Chí Minh. Cái tên nghe vừa dài vừa chói tai, lúc nào cũng phải thêm chữ “thành phố”. Nếu thiếu chữ “thành phố” thì nguy to. Bởi vì kêu Hà Nội thì ai cũng hiểu là điạ danh Hà Nội, nhưng kêu Hồ Chí Minh khơi khơi thì có khi người ta không biết kêu cái quái gì?

Bây giờ xin mời những người Cộng Sản Việt Nam cùng chia xẽ có nên để tên Hồ Chí Minh hay nên trả tên lại cho Saigon. Nếu quí vị nhất định khư khư giữ nguyên tên Hồ Chí Minh, thì nên cùng thưởng thức những mẫu chuyện và truyền khẩu từ ngưòi này sang người khác, từ nơi này sang nơi khác mà tạm gọi là truyền khẩu dân gian, hãy xem như một cuộc trưng cầu dân ý có được không?

1. Bây giờ nói về tệ nạn xã hội:

- Người ta thường kêu là “Du Đãng Saigon” nay xin sửa lại: “Du Đãng Hồ Chí Minh]”

- Saigon ngày xưa ít thấy đĩ bây giờ đĩ Saigon nhiều quá. “Đĩ Saigon” xin đổi lại là “Đĩ Hồ Chí Minh]”

- Saigon ngày xưa ít thấy mấy thằng điếm bây giờ phải coi chừng mấy thằng điếm. ‘Điếm Sàigon” xin đổi lại là “Điếm Hồ Chí Minh”.

2. Bây giờ nói về dân gian:

Khi nói đến dân gian thì không phải như viết văn chương, chỉ nói tắt hiểu là được. Không cần chính tả hay văn phạm.

- Mầy lấy vợ ở đâu? dạ em lấy vợ Saigon. ”Lấy vợ Saigon" xin đổi lại là “Lấy vợ Hồ Chí Minh”.

- Chị mua gà ở đâu? mua gà Saigon. Gà Saigon xin đổi lại là “Gà Hồ Chí Minh”.

- Đi Saigon nhớ coi chừng chó, chó Saigon dữ lắm. “Chó Saigon” xin đổi lại là “chó Hồ Chí Minh”

- Má ơi lên coi truyền hình kìa xe đụng ghê lắm. Xe đụng chỗ nào? Xe đụng Saigon. Xe đụng Saigon xin đổi lại là “xe đụng Hồ Chí Minh.”

- Thịt chó Saigon ăn ngon quá. Thịt chó Saigon xin đổi lại là “thịt chó Hồ Chí Minh”

- Đừng làm giả đồ của Pháp bị bắt đó nghe. Vỏ Paris, ruột Saigon là phạm pháp. Xin đổi là: “Vỏ Paris, ruột Hồ chí Minh”.

- Saigon nóng đổ mồ hôi, xin đổi lại là “Hồ Chí Minh nóng đổ mồ hôi”.

- Saigon nóng muốn lột quần lột áo. Xin đổi là “Hồ Chí Minh nóng muốn lột quần lột áo”.

- Đi Saigon thì phải mua giầy da Saigon. Xin đổi lại “Giầy da Hồ Chí Minh”

- Gió thổi mạnh quá nên nhà Saigon bị sập. Xin đổi lại ‘nhà Hồ Chí Minh bị sập’.

Và còn nhiều nhiều lắm lắm……….

Hãy cùng nhau qua truyền khẩu dân gian để thay thế cái gọi là Hồ Chí Minh vào “Saigon” để cả 82 triệu người dân Việt Nam có dịp thi thố tài văn chương dân gian của mình để có những trận cười hả hê mà người ta gọi là chuyện cười dân gian.

Trăm năm bia đá cũng mòn,
Ngàn năm bia miệng vẩn còn trơ trơ

Để người cộng sản Việt Nam hiểu được sức mạnh của quần chúng. Ai đã đổi tên Saigon? Bây giờ họ phải gánh chịu “gậy ông đập lưng ông”.

Các địa danh như, Hà Nội, Huế, Nha Trang, Vũng Tàu, Cần Thơ, Cà Mau… Mà hình như tất cả các điạ danh ở Việt Nam chỉ cần nói tên là người ta hiểu được liền đâu cần phải thêm chữ: thành phố hay tỉnh…. Vây nói khơi khơi Hồ Chí Minh thì là cái con khỉ khô gì? Thật là cười ra nước mắt.

Chú lơ xe đò gọi hành khách: Saigon không? Saigon đây? Hành khách đứng dưới đường vẫy tay trả lời : Saigon, Saigon….. Bây giờ sửa lại : Chú lơ xe đò gọi hành khách: Hồ Chí Minh, không? Hồ Chí Minh đây? Hành khách đứng dưới đường vẫy tay trả lời: Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh… Có thể trong đám hành khách đó có cả đảng viên đảng CSVN.

Việc đổi tên Saigon và áp đặt cái gọi là Hồ Chí Minh là do chính những người công sản Việt Nam tạo ra. Nay chỉ xin được dùng cái gọi là Hồ Chí Minh để thay thế những lời nói dân gian. Nghĩa là cứ chỗ nào có chữ Saigon thì thay vào đó là chữ Hồ Chí Minh. Quí vị CSVN nghĩ sao? Quí độc giả nghĩ sao?

Người cộng sản Việt Nam đã sai lầm giữa địa danh và tên nhân vật, mà cái ác nhất lại là tên của nhân vật được những người cộng sản Viêt Nam sùng bái. Cái thây ma nằm giữa Ba Đình, mỗi năm phải tiêu phí biết bao nhiêu tiền của nhân dân Việt Nam? Người cộng sản sống thì tham nhũng, tham lạm tài sản quốc gia. Người cộng sản chết cũng ăn bám nhân dân Việt Nam, đó chính là cái thây ma Hồ Chí Minh.

Người chết phải trở về cát bụi. Thây ma thì phải đem chôn hay thiêu. Có một người vào xem xác chết của Hồ Chí Minh, khi về nhà không dám ngủ, mà nhắm mắt lại là thấy ác mộng hay nói đúng hơn là thấy thây ma Hồ Chí Minh. Cuối cùng phải đi xem bác sĩ tâm lý. Bác sĩ tâm lý khuyên: bạn đừng nghĩ tới cái xác đó nữa, cứ xem như nhìn thấy xác của một con vật nào đó, thí dụ như xác con gà, con cá bán ở chợ là được rồi.”

Đất nước Việt Nam đã bị người cộng sản tàn phá. Không biết bao nhiêu bút mực của các nhà văn, nhà phê bình, nhà bình luận… của rất nhiều thế hệ lên án. Người cộng sản cần phải thức tỉnh một cách thật sự mà hãy trả lại những gì của Việt Nam cho dân tộc Việt Nam.

Cỏ cây còn biết hờn sông núi
Giang sơn gấm vóc phải ngậm ngùi.

Saigon phải được trân trọng trả lại tên cho Saigon. Saigon mãi mãi là Saigon.
__________________
Tiền không phải là vạn năng
Không tiền vạn vật bất năng

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Truyện Ngắn Hà Kỳ Lam
Núi Vẫn Xanh



[left]http://img.photobucket.com/albums/v519/ ... iendau.jpg[/left]CẢ BỐN TAY súng của toán thám sát Biệt Cách Nhảy Dù vẫn bố trí lưng chừng đồi theo hình cánh cung để bảo vệ người toán trưởng và hiệu thính viên đằng sau lưng họ trên đỉnh đồi từ nãy giờ đang hướng mặt về phía đối diện để quan sát đám người lố nhố dưới kia, trong thung lũng trãi dài hai bên con suối ngoằn ngoèo như con rắn bạc lấp lánh dưới ánh nắng ban trưa chói chan của một ngày đẹp trời tháng tư. Hết quan sát những người xê dịch dưới thung lũng lại cúi nhìn đồng hồ, người trưởng toán có vẻ nôn nóng.


- Ít nhất là một tiểu đoàn. Có thể là K 25B công binh như tin tình báo cho hay. Mẹ kiếp, máy bay lên chậm thế này để chúng di chuyển hết thì hoài công.

- Không sao đâu, ông thầy. Bọn nầy có vẻ còn ở đây lâu đấy, vì nhiều tên còn đang tắm, thậm chí giặt giũ nữa kia.

Bỗng hiệu thính viên Thịnh đưa ống liên hợp cho thiếu úy Tuấn:

- Thằng L 19 đang lên vùng và cần gặp ông thầy.

Tuấn bóp chặt ống liên hợp, đưa lên miệng:

- Họa Mi đây Thạch Ðộ, trả lời.

Giọng miền Nam của viên phi công vang lên trong ống nghe:

- Thạch Ðộ đây Họa Mi, bạn điều chỉnh hướng bay khi bắt đầu thấy tôi để xác định vị trí bạn, trả lời.

- Họa Mi đây Thạch Ðộ. Tình thế khẩn cấp lắm, tôi sẽ nháy mắt để anh có thể thấy tôi nhanh hơn, trả lời.

- Tôi nhận bạn năm trên năm, và trực máy.

Tuấn đưa tay vẫy Tâm, một toán viên dưới lưng chừng đồi đang ngoái đầu nhìn lên anh. Khi người lính vừa bò đến gần Tuấn khẻ ra lệnh:

- Mày ra chỗ lúc nãy chờ, khi thấy thằng L 19 thì chiếu kiếng cho nó thấy mình.

Lần hành quân nào cũng vậy, Tuấn chỉ giao công tác chỉ điểm này cho Tâm. Không hẳn vì anh chàng làm công việc này giỏi hơn các toán viên khác - Tuấn có bao giờ sát hạch môn này cho cả toán đâu mà chấm điểm được - nhưng tình cờ một lần giao công việc này cho anh lính và thấy được việc nên Tuấn chẳng muốn "thay đổi nhân sự".

Gài khẩu M 16 vào khoen leo núi móc gần vai bên phải, Tâm bò về phía mõm đồi cỏ tranh cách xa bên trái của Tuấn khoảng một trăm thước. Lúc mọi người vừa thoáng thấy chiếc máy bay quan sát màu trắng ở nẽo xa thì Tâm cũng vừa quỳ tại bải cỏ tranh ngập nắng, rút từ túi áo trên cái kiếng hình chữ nhật chỉ hơi lớn hơn chiếc hộp quẹt Zippo và nâng lên ngang mắt, nhìn từ phía sau kiếng qua lổ nhắm ở trung tâm kiếng để hướng cái chấm đỏ của tia mặt trời nằm thẳng hàng với phi cơ đang bay. Ðoạn anh ta khẻ lắc nhẹ để tạo sự nhấp nháy. Bỗng một tràng tiếng nổ dòn vang lên, cùng lúc Tâm bật ngữa ra sau rồi nằm bất động. Cả toán biết điều không lành đã đến với người đồng đội, ghìm súng ở tư thế đối đầu với mọi hướng. Thịnh nằm cạnh Tuấn khẻ nói:

- Ð.M. tụi nó ở đầy cả rừng rồi!

Tuấn chưa kịp đáp lời người lính mang máy truyền tin thì những quả đạn sơn pháo 75 ly, đạn cối 82 ly, và những loạt AK 47 thi nhau đổ về phía toán đang bố trí trên đồi. Cành cây, đất đá bắn tung tóe vào thầy trò Tuấn. Không cần lệnh của người toán trưởng, mỗi toán viên nằm thủ tại chỗ. Họ biết trong tình thế loại này tháo chạy hoặc co cụm lại với nhau chỉ tổ lãnh thêm thiệt hại. Tuấn nhìn qua các toán viên và thấy tất cả còn "nguyên". Thịnh trao ống liên hợp cho Tuấn:

- L 19 gọi.

Tuấn chụp máy :

- Họa Mi đây Thạch Ðộ.

- Ðây Họa Mi, tôi vẫn chưa thấy bạn nhưng thấy nhiều cột khói và nhiều lằn chớp dưới đó.

- Ðang bị ném đá. Tôi đang ở hướng ba giờ của anh.

Sau hai lần "bẻ góc" nữa, chiếc máy bay quan sát từ xa gióng chính hướng ngọn đồi lướt tới. Tuấn cho viên phi công biết đang bay đúng hướng và sẽ báo cho anh ta biết khi nào máy bay vừa ngang qua đỉnh đồi. Súng địch vẫn nổ dòn, mưa đạn vẫn tới tấp đổ về ngọn đồi, khiến công việc điều không của anh càng khó khăn. Nằm dài trên mặt đồi để tránh tầm đạn đi, bên chiếc máy truyền tin, tay cầm ống nói áp sát một bên tai, mắt vẫn ngước lên dõi theo chiếc L 19 trên không đang tiến gần vị trí mình, rồi ngay lúc nó vừa ở trên đầu, Tuấn bóp ống liên hợp, nói như reo:

- Họa Mi, anh đang ở ngay trên đầu tôi, trả lời!

- Thạch độ đây Họa Mi. Nhận bạn rõ năm. Rất tốt.

- Họa Mi đây Thạch Ðộ. Cứ trực máy, tôi sẽ có việc cho anh.

[right]http://img.photobucket.com/albums/v519/ ... uc/A37.jpg[/right]Tuấn vừa trao ống liên hợp cho Thịnh tiếp tục liên lạc với máy bay để bò gần về phía bìa rừng quan sát trãng cỏ tranh, thì thình lình tiếng súng im bặt. Mấy giây sau cả rừng vang tiếng thét "xung phong". Rồi trước mặt Tuấn, từ hướng mõm đồi cỏ tranh nơi Tâm quì chỉ điểm cho phi cơ vừa rồi, và từ hướng trước mặt toán lố nhố người cứ ùn ùn tiến tới. Hóa ra đợt bắn phá vừa rồi là trò đánh phủ đầu để bộ binh tiến sát. Bóng dáng những bộ quân phục kaki màu lá cây, nón tai bèo cứ xông lên bất kể những tràng đạn M 16 đốn ngã từng đợt người. Khoảng một trung đội địch tiến hàng ngang đã lên tới đỉnh đồi, cách bọn anh không đến mười thước, với tiểu liên AK kẹp nách bắn xối xả. Một tên địch gần Tuấn hơn ria một tràng đạn về phía anh, nhưng, như một phép lạ, anh vô sự. Thịnh nhanh tay siết cò súng hạ hắn đo đất. Nhiều tràng M 16 đáp lễ ngăn được chốc lát sự "tiếp cận" kia. Lúc này hai chiếc A 37 cũng vừa xuất hiện và bay cao hơn chiếc L 19. Trung sĩ Hiến báo cáo hai sự kiện dồn dập: Châu bị nguyên một tràng đạn AK vào ngực, chết ngay trên đồi, và địch bây giờ tràn lên đông hơn. Tuấn ra lệnh cả toán rút xuống triền dốc về phía thung lũng. Anh biết thung lũng đang có một đơn vị lớn của địch. Anh chỉ muốn bỏ ngọn đồi, men theo triền dốc, rồi xin phi pháo đánh ngay trên đồi để toán tiện bôn tẩu. Nhưng di chuyển một đoạn ngắn thì nhiều tràng AK từ dưới chân đồi khạc đạn xối xả về phía bọn anh. Không xong. Tứ bề thọ địch. Chỉ vỏn vẹn bốn tay súng mà tử thủ với biển người hay liều mạng phá vòng vây trùng trùng của địch thì phỏng ích lợi gì? Tuấn bấm ống liên hợp:

- Họa Mi đây Thạch độ.

- Họa Mi nghe. Bạn cho biết cần gì?

- Anh cho đánh ngay trên đầu chúng tôi.

- Không được! Bạn xác nhận lại, đánh ở đâu?

- Tôi, thẩm quyền Thạch Ðộ nhắc lại đánh ngay trên đầu chúng tôi và bất cứ chỗ nào có người. Ðịch tràn ngập rồi, không chần chờ gì nữa. Ðánh ngay đi. Dứt!

Tuấn trả máy cho Thịnh trước vẻ mặt hốt hoảng của anh này. Không có thì giờ và cũng không cần giải thích về quyết định của mình với người lính truyền tin của toán, Tuấn nép sau một thân cây to để tránh các tràng tiểu liên AK từ dưới chân đồi vẫn không ngừng quạt lên. Trên đỉnh đồi bây giờ đã lố nhố người của đối phương. Bốn người thám sát Biệt Cách Dù chỉ còn biết tử thủ: Hiến và Sắc chĩa súng về hướng đỉnh đồi, còn Tuấn và Thịnh quay súng xuống chân đồi. Cả bốn tay súng chiến đấu trong một ô vuông mỗi cạnh khoảng mười thước. Họ bắn dè xẽn từng ba phát một nhưng rất hiệu quả, và nhờ vậy đã làm chậm bước tiến của địch. Trong khi đó chiếc L 19 vẫn chưa chịu thi hành điều Tuấn yêu cầu, cứ bay lòng vòng bên trên. Anh "thông cảm" cho người phi công, nhưng không khỏi tức giận vì cảnh dầu sôi lửa bỏng của mình. Anh ta phải xin lệnh từ Trung Tâm Không Trợ về điều yêu cầu "điên khùng" kia, và chắc đang chờ trả lời. Tuấn cũng lấy làm lạ lần này không có biệt đội trưởng hay một sĩ quan của Liên Ðoàn bay L 19 hay trực thăng C&C như mọi lần. Thình lình mọi người cùng nghe rõ âm thanh "chéo-éo-éo ... đoành!". Một cột khói trắng bốc cao và cuồn cuộn tỏa ra như một đám mây, vươn lên khỏi tàng cây rừng ngay đỉnh đồi mà toán thám sát vừa rời bỏ. Tuấn biết viên phi công quan sát vừa bắn một trái khói chỉ điểm mục tiêu oanh kích. Ðiều yêu cầu của anh đang được đáp ứng. Tuấn vẫn nếp sau thân cây. Rồi anh bỗng thấy hành động nấp sau thân cây rõ lẩm cẩm vì biết bom sẽ rơi hướng nào. Nhưng đành phó mặc cho may rũi, anh cứ ngồi bên gốc cây. Tuấn tưởng chừng như anh đang gồng mình lại, các bắp thịt toàn thân như rắn lại, chờ đợi sấm sét giết người từ trời cao ... Chiếc oanh tạc cơ thứ nhất đâm bổ xuống ngay trên đầu Tuấn, rồi hẳn nhiên đã đạt tới một độ thấp vừa đủ, con chim sắt ấy lại vút lên cao vài giây trước khi hai trái bom từ dưới cánh đâm thẳng xuống quả đồi của anh. Tuấn không dám tiếp tục ngẩng nhìn lên trời. Anh nằm cúi mặt xuống, thân chịu trên hai cùi chỏ để tránh áp ngực với mặt đất. Anh thấy vài con kiến ung dung bò trên nền lá khô. Thốt nhiên Tuấn cảm nhận được cái mong manh của thân xác mình lúc này - khác gì những cái kiến kia! Chỉ có mỗi một khác biệt là anh đau khổ chờ đón cái chết chóc, cái hủy diệt, còn chúng thì không hay biết gì cả, vẫn thản nhiên, vẫn ung dung cho đến khi nào cái chết xảy ra là xong, không còn cảm giác nữa. Chúng hạnh phúc hơn anh trong lúc này. Từng khuôn mặt thân yêu trong gia đình diễn hành nhanh qua trí anh: mẹ anh, các em, và chị. Rồi anh nghĩ đến Trinh thật xa xăm và cũng thật gần. Anh có còn trở lại cổng trường Trưng Vương nữa không? Rồi bên tai anh nghe mơ hồ giọng một ca sĩ quen thuộc với "em hỏi anh, em hỏi anh bao giờ trở lại. Xin trả lời mai mốt anh về..." Tuấn lại nghĩ đến tập thể tuổi trẻ Sài Gòn: không có anh trong đó! Và trong cái khoảnh khắc chờ đón một sự hủy diệt khủng khiếp sắp giáng xuống mọi người, một khoảnh khắc rất ngắn nhưng cũng rất thiên thu, giác quan anh đón nhận cả một trình tự ngoại vật lướt qua chóng vánh: âm thanh động cơ phản lực gầm thét qua đầu, tiếng bom xé gió, hàng loạt tia chớp lóe lên, từng tràng tiếng nổ kinh hồn, và mă? đất rung chuyển. Tuấn bị nhiều nguồn lực từ mọi hướng đẩy bật ngữa rồi xô tới trước hoặc xoay vòng; anh có cảm giác ngực bị ai đấm một quả rõ mạnh, tức đến khó thở. Ðất, sỏi ùn lên hắt vào người anh. Khói đen tỏa ra chung quanh, không khí khét lẹt mùi thuốc nổ. Tuấn biết một trái bom đã đáp cách anh không xa, đào một hố rõ to và làm dạt một mớ cây nhỏ bên trái anh, tung tóe đất lên quần áo anh. Riêng thân cây to vẫn đứng vững và hiển nhiên đã hứng hết những mãnh bom, đất đá và sức ép cho anh. Anh sờ khắp người để thấy mình vô sự. Trái bom khác rơi trên đỉnh đồi đã bật gốc một cây cổ thụ, tạo nên một âm thanh phụ nghe đánh ầm và làm trống hẳn một khoảng rừng.

Tuấn bò qua những cành cây gãy đổ ngổn ngang, tìm Thịnh nhưng không thấy hắn đâu cả. Trong mọi tình huống anh phải có máy bên cạnh mình. Nhưng chiếc A 37 lại đang đâm bổ xuống đầu Tuấn một lần nữa. Anh vội ngồi nấp sau một thân cây. Có lẽ đây là chiếc thứ hai, đang theo gót phi tuần trưởng của nó vừa rồi. Dù sao thì anh sắp hứng chịu một "trận đòn thù" nữa. Lại "ầm! ầm!" rồi mấy tiếng "ầm" phụ nổi lên. Tuấn lại bị lộn nhào một lần nữa, và anh giật bắn người khi thấy một cây cổ thụ vừa bật gốc ngã sóng soài cách anh không đầy một thước. Giá mà nó phang ngay anh thì còn gì nữa! Ngọn đồi bỗng "đổi mới"; cây ngã la liệt. Tuấn vẫn tìm Thịnh, tìm trung sĩ Hiến - người toán phó - và Sắc. Toán may ra thì còn được bốn mạng, kể cả anh. Tâm và Châu đã ra đi rồi! Nhưng sao thế này: im phăng phắc - địch đâu rồi, và ta đâu rồi? Bỗng lá cây lay động sột soạt sau lưng. Tuấn quay phắt lại, khẩu M 18 dưới nách chỉ thẳng vào bóng người từ trong bụi rậm vừa đứng lên.

- Sắc đây ông thầy.

Tuấn thở phào một cách dễ chịu. Anh khẻ nói:

- Mày không sao chứ?

Anh lính khẻ lắc đầu thay lời đáp. Tuấn biết mình vừa hỏi một câu không cần trả lời; nó chỉ có nghĩa của một câu xác định, "à, may quá còn có mày." Anh đang lo cho số phận của các toán viên.

- Trung sĩ Hiến và Thịnh có sao không?

Sắc vừa nói vừa đưa tay chỉ về hướng hơi chếch đỉnh đồi:

- Ông Hiến bị thương nằm ở đằng kia. Ổng hỏi thăm ông thầy, và bảo em đi tìm.

Tuấn muốn đến gặp ngay trung sĩ Hiến xem tình trạng thương tích của ông ta ra sao, nhưng anh phải tìm Thịnh trước vì máy móc truyền tin là linh hồn của toán. Hai chiếc phản lực bây giờ đang ở tít trên mây; tiếng động cơ của chúng nghe nghe rất xa và đứt đoạn. Chiếc L 19 vẫn quầng trên đầu hai người. Có lẽ viên phi công đang gọi Thạch Ðộ khàn cả tiếng, Tuấn nghĩ thế. Quái, Thịnh biến đâu mất với chiếc máy truyền tin. Tuấn vẫn nhớ hắn chạy theo sau anh và nấp gần đây trước khi bom rơi. Tuấn bỗng nẩy ra ý nghĩ bới tìm trong mớ cây cối đổ ngổn ngang ngay cạnh hố bom. Và trong lúc hai thầy trò đang len lõi bò vào từng đống cây lá nằm bên trên hoặc bị vùi lấp dưới lớp đất mới thì phía trảng cỏ tranh một tiếng nổ phát ra và một cột khói trắng bốc cao. Anh biết viên phi công máy bay quan sát vừa bắn một trái chỉ điểm cho phản lực đánh bom xuống nơi anh ta vừa thấy địch ẩn núp đâu đó.

Trong tiếng rít của hai chiếc A 37 trên đầu, tiếng rền và chấn động liên hồi của bom, Tuấn chợt nghe giọng gọi đầy khích động của Sắc:

- Ông thầy ơi.

Tuấn nguớc nhìn theo ngón tay trỏ của người lính và thấy cách họ vài thước khúc cần ăng-ten của chiếc máy PRC 25 nhú ra khỏi mớ đất vàng tươi mới tinh khôi dưới mấy cành cây phủ lên. Anh lặng người mấy giây, cảm thấy đôi chân như không đứng vững nỗi. Giọng nói Tuấn nghe yếu ớt qua hơi thở:

- Moi đất ra.

Hai người hì hục lôi các cành cây bỏ sang một bên, dùng tay bới mớ đất bột lên. Chiếc máy truyền tin bị thủng, móp méo, vỡ nhiều chỗ, từ từ lộ ra, rồi màu áo rằn ri bày ra, dính đất và máu. Tuấn và Sắc cùng nâng người Thịnh đang nằm sấp lên. Xông pha trận mạc đã nhiều, đã trông thấy bao nhiêu xác chết của cả đôi bên, nhưng anh phải nhận chưa bao giờ thấy một xác người như thế này, nói chi xác ấy là đồng đội, là thuộc cấp của mình. Cả người Thịnh từ bụng lên vai bị mất tùng mãng thị lớn, và xương vai một bên bị gãy. Nhưng cái chân, ôi cái chân trái, anh không biết phải nói thế nào ... đứt đến trên đầu gối, chỉ còn dính tòn teng với toàn thân bằng một mãnh da rộng bằng một bàn tay, và thịt chỗ hai đầu bị cắt lìa trở nên xám đen giống như vừa bị nướng trên lửa!

Sắc mở thử máy truyền tin. Chỉ là một cục kim khí im thin thít vô dụng. Chợt nhớ tới trung sĩ Hiến, hai người thận trọng di chuyển, và Sắc dẫn đường ngược lên đồi. Họ bước qua nhiều xác lính Bắc Việt nằm đủ vị thế - nghiêng, ngữa, sấp, hay cong queo. Tuấn cúi xuống bên người toán phó, xem xét vết thương ở bụng. Có vẻ một mãnh bom đã cứa một đường dài và sâu trước bụng. Anh thử xốc người thương binh lên nhưng anh ta nhăn nhó một cách đau đớn:

- Ối, ông thầy để tôi nằm đi.

- Trước khi bom nổ anh đã rút xuống triền dốc với toán mà sao lại ở đây?

Trên gương mặt tái xanh vì mất nhiều máu của Hiến Tuấn thấy một sự cố gắng dùng sức mới bật ra thành tiếng:

- Tôi chạy lên để.. kéo xác thằng Châu xuống.. kẻo bom dần nát mất nhưng..

Hiến ngưng nói, vẻ mệt nhọc, đưa lưỡi liếm quanh vành môi tái nhợt và khô khốc. Sắc mở nắp bi-đông, khẻ nâng đầu anh lên và kề miệng bình nước vào môi. Tuấn nhắc:

- Cho uống ít thôi để giữ cho máu bớt chảy.

Trong khi tháo cuộn băng cá nhân để băng cho trung sĩ Hiến, Tuấn vẫn thận trọng quan sát chung quanh. Anh thấy nhiều xác chết đối phương rãi rác khắp nơi. Xác Châu nằm cách trung sĩ Hiến khoảng năm thước, mắt còn nhìn lên trừng trừng. Anh rón rén bò đến bên người toán viên vẫn hay di chuyển hàng đầu trong các cuộc xâm nhập của toán, đoạn từ từ vuốt cho đôi mắt nhắm lại. Rừng im phăng phắt. Có lẽ chúng chỉ di tản những kẻ bị thương. Những người nằm kia đều "câm nín". Sau khi đảo lại mấy vòng để bắn rocket và đại liên mười hai ly bảy xuống một điểm mới dưới thung lũng do phi cơ quan sát chỉ điểm, hai chiếc phản lực đã rời vùng. Chiếc L 19 vẫn còn lượn trên không phận hành quân. Tuấn vừa quay sang bảo Sắc lấy chiếc pa-nô tìm cách trãi để ra hiệu cho máy bay biết mình có mặt tại chỗ thì bỗng rừng núi lại rền vang từng tràng nổ. Tuấn nói:

- Mười hai ly bảy.

Chiếc L 19 vụt cất cao lên và mất hút vào khoảng không. Tuấn đề nghị khiêng trung sĩ Hiến men theo triền dốc về hướng Bắc cho xa vùng giao tranh được bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Anh đoán địch sẽ chiếm lại đồi này. Bỗng dưng trung sĩ Hiến quàng một tay ôm chặt chân Tuấn và thều thào nói:

- Ông thầy đi đâu anh em cũng đi theo ông thầy. Bây giờ ông thầy bỏ

anh em ...

Tuấn định thốt một lời an ũi, hay trấn an nhưng bàn tay trung sĩ Hiến đã buông rơi khỏi cổ chân anh, đầu ngoẹo sang một bên, mắt nhắm nghiền như đi vào một giấc ngủ. Anh lay mạnh vai Hiến:

- Anh Hiến! anh Hiến!

Chỉ có tiếng gió ngàn xào xạt đáp lại. Rừng chiều hửng nắng ở những đồi xa. Sắc bỗng vỗ vào cạnh sườn Tuấn và chỉ về hướng trãng cỏ tranh. Lố nhố một đoàn quân dàn hàng ngang đang tiến lên đồi của anh. Họ vận kaki xanh, nón tai bèo, súng kẹp nách, vai đeo ba lô. Hai thầy trò vội lom khom chạy về phía triền dốc, rồi di chuyển về hướng Bắc men theo sườn đồi.

Ði được một giờ, vượt qua vài con suối, mấy quả đồi thấp, Tuấn dừng lại xem bản đồ, đoạn bảo Sắc đổi hướng, đi về đông theo phương giác 1800. Năm giờ chiều. Ðêm rừng bao giờ cũng đến nhanh. Trong ánh sáng nhá nhem hai thầy trò kẻ trước người sau cứ tiếp tục luồn lách qua cây lá, bụi rậm. Rồi sực nhớ phải có một độ quan sát tối thiểu mới có thể chọn một vị trí ngủ đêm an toàn, Tuấn khẻ nói với người toán viên đồng hành:

- Ta lên đỉnh đồi trước mặt tìm chỗ nghỉ đêm.

Mới hơn bốn giờ sáng Tuấn đã thức giấc. Bao giờ người lính hành quân cũng thức giấc sớm, vì giấc ngủ đến vào khoảng bảy giờ chiều thay vì một hai giờ sáng ở những "đêm đô thị". Trời còn tối mịt. Anh nằm nghe ngóng một lát, đoạn đưa tay sờ lưng võng của Sắc. Một giọng nói rất khẻ:

- Ông thầy thức rồi hả?

Rồi ánh sáng nhờ nhờ đổi dần sang trắng đục. Rồi mọi vật bỗng hiện rõ trước một ngày đang lên. Có vài tiếng chim hót. Có vài tiếng hú đâu đó bên một ngọn đồi khác, rồi không biết bao nhiêu tiếng hú cất lên vang cả một vùng đồi núi, cơ hồ như tiếng hú này lây sang tiếng hú khác, và cứ thế truyền đi khắp nơi. Tuấn đã quá quen với các tấu khúc bình minh của rừng núi. Hai người cuốn võng bỏ vào ba lô, dọn dẹp "sạch sẽ" chỗ đất dưới chân, lùa mớ lá cây chung quanh phủ lên, không để lại một dấu vết nào có thể tố cáo sự hiện diện của hai thầy trò. Sắc mở một bịch gạo sấy, rót nước từ bi-đông vào bao làm một bửa ăn sáng. Tuấn chẳng thấy đói, tuy suốt ngày hôm qua anh chỉ ăn có một gói cơm sấy vào buổi sáng. Tâm trí anh quay về với những gì đã xãy ra. Bị lộ, trận oanh kích, những xác đồng đội bị bỏ lại, và bây giờ hai nguời lạc lỏng giữa rừng không máy móc liên lạc để biệt đội biết tung tích. Anh có trách nhiệm gì với những thuộc cấp vừa ra đi vĩnh viễn kia? "Ông thầy đi đâu anh em cũng theo ông thầy. Bây giờ ông thầy bỏ anh em ..." Tuấn thấy miệng đắng khi nuốt nước bọt. Anh thèm một điếu thuốc, và một ly cà phê. Anh nhìn Sắc đang ngồi ăn, nhìn xuống khẩu M 18 gác trên đùi mình, ngước nhìn bầu trời xanh biếc ban mai. Sắc vụt hỏi:

- Bây giờ tính sao, ông thầy?

- Không có máy móc, không biết ở nhà thế nào, còn ở nhà cũng chẳng biết mình sống chết ra sao. Cứ tiếp tục đi về hướng Ðông, được bao nhiêu hay bấy nhiêu, càng gần nhà càng tốt. Có trực thăng thì trãi pa-nô cho nó thấy mình. Thế nào biệt đội cũng cho máy bay đi tìm.

- Cha con nó bị thiệt hại nặng. Hai chiếc A 37 đánh hiệu quả thật. Sườn đồi bên kia và trãng cỏ tranh lãnh trọn mấy trái bom. Em thấy chung quanh chỗ ông Hiến nằm ít nhất cũng cả chục xác nằm la liệt. Ông thầy có để ý không? Ðợt bom đầu tiên chận đứng ngay cuộc tấn công. Em nghĩ có lẽ chúng kêu phòng không đến tiếp cứu sau này, vì suốt trong khi oanh kích đâu có khẩu mười hai ly bảy nào hoạt động đâu.

Tuấn đồng ý với phần lớn những lập luận của Sắc, nhưng anh chẳng thấy hứng thú bàn luận về chiến trận vừa qua. Tỷ số tử vong của chiến trường và tỷ số tử vong của lòng mình, cái nào làm nên chiến thắng? Ðợi cho người lính ăn xong và đào đất lấp mọi dấu vết, Tuấn đề nghị lên đường.

[left]http://img.photobucket.com/albums/v519/ ... doibom.jpg[/left]Sang đến ngày thứ ba hai người vẫn tiếp tục băng rừng, ngày đi đêm nghỉ. Còn khoảng hai chục cây số đường chim bay nữa mới về đến bộ chỉ huy của Liên Ðoàn. Cả hai đều thấy ngao ngán. Hai mươi cây số đường chim bay, điều đó có nghĩa là bốn, năm mươi cây số đường núi, mà tốc độ di chuyển băng rừng - chứ không phải theo theo đường mòn - có nhanh lắm cũng chỉ đạt tới bảy cây số một ngày. Nhưng điều bất ổn trong lòng họ không phải đường về dịu vợi, đầy đe dọa, bất trắc, lương thực cạn. Cái bất ổn là không trung vắng lặn. Từ cái buổi sáng đầu tiên sau khi bỏ ngọn đồi và đồng đội ở lại anh và Sắc không hề thấy thấp thoáng, dù xa, bóng dáng một chiếc máy bay. Lạ thật. Không một chiếc trực thăng, không một chiếc L 19, không một chiếc vận tãi, không một chiếc oanh tạc cơ phản lực, thậm chí không một chiếc máy bay dân sự, không có gì ráo trên bầu trời quang đảng. Chưa bao giờ như thế, ít ra từ ngày Tuấn vào lính; chưa bao giờ có một ngày không có một hoạt động nào của không quân. Anh ngồi nghỉ mệt trên một ngọn đồi, tựa lưng vào một thân cây, dựng súng bên cạnh. Sắc ngồi xếp bằng trên mặt đất, cạnh Tuấn. Người lính cảm thấy bồn chồn khi nhìn vẻ tư lự của người chỉ huy. Anh ta không dám hỏi bất cứ điều gì lúc này. Tại sao bầu trời vắng lặn thế này? Sao không nghe một tiếng đại bác, một tiếng bom nổ xa xa? và vân vân. Cuối cùng, không nén nỗi những băn khoăn trong lòng, Sắc lên tiếng:

- Em thật không hiểu nổi. Chắc có chuyện gì đây, chứ không thể nào Liên Ðoàn đem con bỏ chợ như thế này.

- Tao cũng chịu thua, không hiểu nổi. Ðành rằng mình không có phương tiện liên lạc, không biết tình hình ở nhà hay các đơn vị bạn ra sao, nhưng Liên Ðoàn vẫn có thể cho trực thăng đi tìm. Ðằng này bặt vô âm tín. Mà cái điều lạ lùng nhất là không có bóng dáng một chiếc máy bay nào cả, chứ đừng nói trực thăng C&C của biệt đội. Tao cũng nghĩ như mày: chắc có biến cố gì đây. Ðiều cần nhất bây giờ là bằng mọi cách phải gắng về tới bộ chỉ huy Liên Ðoàn. Mầy còn mấy gói gạo sấy?

- Dạ ba gói, và không tới nửa chai xì dầu.

- Tao còn năm gói. Tao sẽ đưa thêm cho mày một gói. Mỗi thằng như vậy có bốn gói.Tao ước tính từ đây về tới Liên Ðoàn có thể mất sáu, bảy ngày nữa. Bây giờ tao tạm ấn định kỷ luật dùng lương khô là mỗi thằng chỉ được ăn nửa gói một ngày. Cố gắng chịu đựng như vậy thì mới đủ sức mà lết về tới nhà. Tao nói sáu, bảy ngày là trong giả thuyết di chuyển vô sự, không đụng địch.

Ðiều Tuấn nói sau cùng nhắc lại sự bất an của hai người. Trong ba ngày qua thầy trò anh đã né tránh mấy đoàn quân dài dằng dặc. Trong đời nhảy toán của mình Tuấn chưa bao giờ thấy địch chuyển quân rầm rộ như thế. Một điều lạ lùng nữa là những đoàn người cứ nườm nượp hướng về Ðông, cùng chiều với anh và Sắc, chỉ khác là họ dùng đường mòn. Tuấn đứng dậy tháo ba lô đặt xuống đất, lôi một gói gạo sấy đưa cho Sắc, đoạn cả hai lên đường.

*

* *

Tuấn nhìn đồng hồ tay: ba giờ chiều. Tuy gần cuối ngày, cái nắng như nung như đốt của tiết trời đầu tháng Năm vẫn chưa dịu đi chút nào. Ðưa bi đông lên miệng tu một ngụm nước xong, anh xoay xoay tấm bản đồ, nhìn thật kỷ những vòng cao độ nâu lẫn xanh nhạt, rồi ngước nhìn địa thế chung quanh. Cho chắc chắn, anh mở cái địa bàn, xoay cho hướng bắc của bản đồ trùng với hướng mũi tên của địa bàn, đoạn anh đối chiếu chi tiết bản đồ với địa thế một lần nữa. Anh hân hoan nói với Sắc:

- Tới vùng Tân Uyên rồi!

- Chắc không, ông thầy?

- Bảo đảm!

Hai thầy trò bỗng thấy khỏe khoắn trong người, mặc dù mới trước đó mấy phút họ cảm thấy gần kiệt sức sau sáu ngày băng rừng lội suối với những cơn đói triền miên làm bủn rủn chân tay, hoa cả mắt. Nhìn lại đoạn đường dài gian nan, hiểm nguy, Tuấn thấy thương hại Sắc. Hắn ta to con, ăn khỏe, nên trong mấy ngày qua quả thật là một chuỗi ngày khốn khổ "tận cùng bằng số" đối với hắn. Tuấn bảo:

- Bây giờ mày có thể ăn nốt nửa bịch gạo sấy cuối cùng cho đỡ đói. Còn vài cây số nữa là tới chi khu rồi, tha hồ mà gọi mì, phở, hủ tiếu...

- Lạ thật, không thấy thèm nữa ông thầy ơi. Thôi, mình đi lẹ tới chi khu đặng báo Liên Ðoàn đón.

Hai người lội qua một con suối, tiếp tục đi về Ðông. Họ bước đi vững vàng hơn những ngày còn lếch thếch giữa rừng. Sau khoảng một tiếng đồng hồ di chuyển, nhìn xuyên qua một khoảng rừng thưa, hai người thoáng thấy mấy nóc nhà lợp tôn của chi khu Tân Uyên ở tít đằng xa, bên kia sông. Cùng với bước tiến của Tuấn và Sắc, mọi vật rõ dần. Rồi lá cờ phấp phới trên trụ cờ tuy vẫn còn mờ mờ trong quãng xa nhưng đã đủ để thấy không phải lá cờ vàng ba sọc đỏ quen thuộc. Hai người không tin nổi mắt mình: làm thế nào mà lá cờ nửa đỏ nửa xanh với ngôi sao ở giữa lại ngang nhiên tung bay nơi này. Thầy trò nhìn nhau, nhưng mỗi người theo đuỗi những suy nghĩ riêng. Sắc bỗng vỗ vai Tuấn chỉ về phía con sông trước mặt, vẫn ở nẽo xa và chen vào giữa khoảng cách từ chỗ họ đến chi khu: vài chiếc ghe cũng treo loại cờ đó. Nhìn qua mấy mái nhà tranh gần bờ sông cũng lại thấy những lá cờ đó. Sắc khẻ nói:

- Chắc chúng chiếm vùng Tân Uyên rồi. Không khéo Biên Hòa cũng di tản chiến thuật nốt.

Tuấn nói, để tự trấn an hơn là làm yên lòng người thuộc cấp:

- Không thể có chuyện đó được.

Chợt nhìn bên trái, qua một khoảng rừng chồi lưa thưa, thấy có mấy người nông dân đang cuốc đất trong một thữa ruộng, anh chợt nẩy ra ý nghĩ đến tiếp xúc họ để dò hỏi tình hình. Tiến sát mãnh ruộng, để Sắc ngồi lại trong một bụi cây yểm trợ, Tuấn cầm khẩu M 18 trong tay phải, bước đến bên bốn người đang làm việc đồng áng. Họ ngừng tay, nhìn anh chằm chặp. Tuấn hỏi người lớn tuổi nhất trong nhóm người, một ông già khoảng năm mươi, xương xẩu nhưng còn nhanh nhẹn:

- Thưa Bác, hình như chi khu đã rút đi rồi, phải không ạ?

Gương mặt thoáng bối rối, ông nhìn Tuấn từ đầu đến chân rồi nói rất khẻ:

- Chú là biệt kích 81 trong rừng mới ra hả?

- Dạ phải.

- Ông Dương Văn Minh ra lệnh đầu hàng từ năm, sáu ngày nay rồi, từ hôm ba mươi tháng Tư. Ai nấy đều buông súng trở về nhà hết. Chính phủ Cách Mạng chẳng làm khó dễ gì cả. Anh em còn bao nhiêu người?

Tuấn chẳng còn nghe rõ ông già hỏi gì nữa. Anh cúi đầu rất lâu. Giòng ý thức của anh bỗng như ngừng lại - không hẳn là nó đặc quánh lại, cũng không hẳn nó trống rổng, chỉ biết nó tuồng như không còn khả năng suy nghĩ rõ ràng, mạch lạc nữa. Tuấn có cảm tưởng sau bao nhiêu suy đoán, thắc mắc, giờ đây được thực tế trả lời, trí não mình bỗng thấy "no" rồi, không đòi hỏi nữa, cũng không nhận dữ kiện nào từ ngoại giới nữa! Sắc từ trong bụi vội bước ra. Nhìn dáng điệu của người toán trưởng anh đã đoán tình hình hẳn là rất xấu. Trong ánh mắt ái ngại, ông cụ lặp lại cho người lính thứ hai nghe:

- Ông Dương Văn Minh ra lệnh đầu hàng hôm ba mươi tháng Tư rồi. Các chú nên bỏ súng ống đi, trở về gia đình thôi.

Ðến lược Sắc đứng đờ người ra. Lúc ngồi trong bụi anh đã đoán tình hình phải xấu, anh đã lờ mờ phát họa một vài viễn anh tệ hại, nhưng "xấu" như ông già này cho biết thì thật vượt quá xa dự tưởng của anh.

Ðột nhiên Tuấn ngước lên chào từ giã:

- Tụi cháu cám ơn Bác. Thôi, tụi cháu về.

Tuấn bước đi trước, và Sắc theo sau. Họ tiến về phía bờ sông. Hai người đứng nhìn giòng sông êm ả, trong vắt một hồi lâu. Rồi Tuấn nhìn Sắc, ngập ngừng vài giây, nói với một giọng hơi lạt đi, nhưng không kém dứt khoát:

- Qua bên kia sông, có thể đi bộ ra đến xa lộ, từ đó đón xe về Sài Gòn. Sắc, thôi thầy trò mình chia tay. Kể từ giờ phút này tao không còn là trưởng toán của mày nữa. Cứ tự do về với gia đình. Tao chỉ muốn nói một điều. Trong những ngày mày theo toán, nếu tao có làm những gì khiến mày buồn lòng, hoặc vì trách nhiệm, hoặc vì sai lầm, tao mong mày bỏ qua cho. Cầu chúc mày thật nhiều may mắn.

Sắc cố bậm môi để giữ cho miệng khỏi bị méo xệch. Anh ta muốn nói cả nghìn lời nhưng không thốt được một tiếng. Cúi gầm mặt xuống một lúc như cố đè cơn xúc động cứ chực bật ra thành tiếng nấc, cuối cùng anh ta hỏi:

- Còn ông thầy?

- Tao không thể bỏ toán còn nằm lại trong đó.

- Nhưng họ chết hết rồi mà.

- Chính vì vậy mà tao thấy mình không thể về nhà được. Lời nói sau cùng của trung sĩ Hiến rất đúng.

Tuấn ngập ngừng một lát, định nói thêm điều gì nữa nhưng lại thôi. Anh sẽ mang những đắng cay trong lòng mình vào rừng núi. Có lẽ anh chỉ cần nói điều đó với toán của anh vẫn còn lại trong rừng: người lính ở đâu cũng thế, chỉ là công cụ; thắng bại không phải do họ định đoạt, và vinh quang của chiến thắng cũng không thuộc về họ - có thuộc về họ chăng chỉ là những đau khổ của chiến bại và của hy sinh!

Tuấn quay lưng đi về hướng khi nãy hai thầy trò từ trong rừng ra. Trong một thoáng cõi lòng Sắc như hứng chịu bão táp tơi bời từ mọi hướng. Tìm về xa lộ sao ngập ngừng bước chân. Anh muốn rão bước theo sau người toán trưởng, nhưng hình ảnh những đường phố Sài Gòn thân thuộc giờ đây không xa lắm như níu chân anh, dù anh nghĩ nơi ấy chắc cũng đang phấp phới những lá cờ này. Rồi hình ảnh mẹ anh hiện ra thật rõ và bao trùm cả không gian. Sắc gọi:

- Ông thầy!

Tuấn quay lại. Sắc đứng ở thế nghiêm, đưa bàn tay phải lên ngang mày chào. Tuấn chào đáp lễ, đoạn quay gót tiến bước. Người lính đứng nhìn theo cái dáng gầy, phong sương xa dần rồi khuất sau ngàn lá. Anh ta lại nhìn những dãy núi xa xa ở chân trời. Núi ở chân trời bao giờ cũng xanh lơ. Chắc toán của anh đang nằm trên một trong những dãy núi đó. Chắc người trưởng toán lại trèo lên nơi ấy. Sắc không sao ngăn nổi mấy giọt nước mắt từ từ lăn xuống, quyện với mồ hôi làm lưỡi anh mặn chát.

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Việt Nam - 30 Năm Nhìn Lại



ĐỖ THỊ VÂN ANH

Tác giả chỉ mới 29 tuổi, cư dân Houston-Texas, cô từng là một thành viên tích cực sinh hoạt với Hội Chuyên Gia Việt Nam tại Houston.



Ngày gia đình mười người chúng tôi bước lên máy bay vào một buổi trưa Sài Gòn cuối tháng hai nóng nực và oi bức năm 1990 để sang định cư ở Mỹ, tôi chỉ là một cô bé 15 tuổi.

Cảm giác của cô học trò lớp 9 lúc ấy háo hức nhiều hơn là lo lắng, hy vọng nhiều hơn chán ngán. Tôi mơ tưởng đến một đất nước văn minh và sạch đẹp hơn nơi tôi đang sống. Qua tranh ảnh báo chí và những lá thư của người quen gởi về cho bố mẹ tôi, nước Mỹ là một thế giới hoàn toàn khác hẳn. Tôi ngỡ rằng vùng đất rất xa xôi mà tôi sắp đến đặc biệt lắm vì từ đầu những năm 80 qua năm 90, đi đến đâu cũng nghe thiên hạ thì thầm bàn tán hay lén lút xin xỏ, chạy chọt để được đi Mỹ.

Mãi cho đến sau khi qua đây và được nghe câu chuyện ‘‘sau năm 75, cây cột đèn nếu có chân cũng đi vượt biên’’, tôi mới hiểu sự kiện năm 75 đối với hàng triệu người trong nước lúc bấy giờ đánh dấu một tương lai mù mờ, bất định, và đáng sợ.

Thoáng đó mà 15 năm nữa đã trôi qua. Giờ đây nhìn lại, đời sống tị nạn ở Hoa Kỳ đối với tôi là một quãng thời gian thú vị. Thú vị không phải vì cuộc sống của tôi bình lặng, thoải mái, và sung túc như nhiều người khác.

Những năm tháng đầu của cuộc đời tị nạn đối với gia đình tôi tương đối khó khăn và buồn nhiều hơn vui. Người anh trai duy nhất của tôi, hiện đang sống tại Pháp, đã xa gia đình hơn hai mươi mấy năm qua. Mẹ tôi sức khỏe yếu kém và nửa cơ thể gần như liệt hoàn toàn.

Nhắc đến mẹ, tôi nhớ mãi một kỷ niệm trong năm đầu tiên chúng tôi đặt chân đến Mỹ. Bỏ ngoài tai lời khuyên của bố và tôi, mẹ tôi nhất quyết nhờ bác tôi tìm cho mẹ một việc làm assembly. Nhưng công việc kiểu dây chuyền assembly đòi hỏi tay chân phải nhanh nhẹn và phải đứng cả ngày. Mẹ tôi vì sợ hãng cho nghỉ việc nên thức khuya dậy sớm tập cho bàn tay điều khiển khéo léo hơn bằng cách nhặt ra rồi lại bỏ vào khay những hột nui khô thật nhỏ. Nỗi lo mất việc của mẹ rồi cũng thành sự thật. Nhưng điều làm tôi xúc động và khó quên nhất là mẹ đã dùng tấm check lương ít ỏi đầu tiên và duy nhất ấy để mua một cái máy cassette nghe nhạc nhỏ cho tôi.

Vì thương bố tôi phải gồng gánh cả gia đình, tôi bắt đầu đi làm thêm từ năm lớp 9 dù chưa đủ tuổi. Việc làm đầu tiên của tôi là tiệm fast-food Jack-In-The- Box. Công việc của tôi bao gồm từ chiên khoai tây, sửa soạn bánh, tính tiền, chạy bàn, cho đến rửa chén. Rất nhiều lần tôi làm việc suốt năm ngày một tuần và không về đến nhà trước 12 giờ khuya. Cả người từ đầu đến chân nhem nhuốc và mệt mỏi rã rời. Lần đầu tiên phải lau chùi các phòng vệ sinh ở chỗ làm, khi bước chân vào một phòng vệ sinh đàn ông, cái cảm giác vừa bỡ ngỡ vừa xấu hổ xen lẫn chút tủi thân thật khó diễn tả. Nhưng dần rồi cũng quen.

May mắn cho tôi là tuy vừa học vừa làm, tôi đã đạt được những thành tích rất khích lệ: Tốt nghiệp trung học trong 5% số học sinh với điểm cao nhất trong gần 500 học sinh; được cấp nhiều giải thưởng trong nhiều năm liền như Who’s Who Among American High School Students, United States Achievement Academy Award, National Leadership and Services Award, United States Mathematics Achievement Award, và Lamar Education Scholarship & Award.

Điều thú vị mà tôi muốn nói đến về cuộc sống của mình trong 15 năm qua là: Tôi tin rằng tất cả những gì đã xảy ra trong đời sống của tôi đều có lý do riêng của nó. Có niềm vui nhưng cũng đầy nước mắt. Có thành công nhưng cũng không ít hối tiếc. Nhưng điều quan trọng là những gì tôi học hỏi được từ những kinh nghiệm đó là vô giá.

Nếu không trải qua những gì mình đã trải qua, tôi chưa chắc có được ngày hôm nay. Nhân dịp này, tôi cũng xin được nói lên lời biết ơn kính cẩn và chân thành nhất đến bố mẹ tôi. Đến bây giờ tôi mới thấu rõ công lao và những hy sinh trời biển mà bố mẹ đã cho hai anh em chúng tôi. Tôi hy vọng rằng những thành quả anh em chúng tôi đạt được trong thời gian qua một phần nào đã làm bố mẹ tôi vui lòng và hãnh diện.

Tôi sinh ra tại Sài Gòn năm tháng sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 khi đất nước rơi vào tay cộng sản. Năm tôi vào lớp một, đó cũng là năm đầu tiên ‘‘nhà nước’’ đưa vào trường học chương trình mới ‘‘cải cách giáo dục’’. Tất cả các sách giáo khoa thời còn Việt Nam Cộng Hoà đều bị thay đổi.

Thế hệ của tôi và hàng triệu người trẻ cùng trang lứa trên khắp đất nước mỗi ngày đều được dạy những bài bản và được ‘‘giáo dục’’ trong một thứ môi trường giống nhau. Tôi còn nhớ một trong những điều được lặp đi lặp lại nhiều lần là chúng tôi có ‘‘bổn phận’’ phải ‘‘yêu Bác Hồ’’. ‘‘Nhà nước’’ và các thầy cô giáo dạy bọn trẻ học trò chúng tôi điều gì, chúng tôi chỉ biết nghe và làm theo như vậy.
Đối với tôi, một cô bé 15 tuổi thơ ngây, chẳng có gì là bất bình thường với cuộc sống của tôi và mọi người xung quanh. (Ngoại trừ năm tôi 7 tuổi, có nhiều lần giữa đêm hôm mẹ tôi hốt hoảng đánh thức tôi và run rẩy nhét vào quần trong của tôi cái túi vải nhỏ màu xanh lá cây trong đó có vài chỉ vàng là tất cả tài sản của gia đình tôi. Tôi còn nhớ lần nào mẹ cũng khẽ dặn tôi chỉ một câu: ‘‘Công an đang đi xét nhà đó. Con cứ nằm yên ngủ thì họ không làm gì đâu.’’ Nghĩ lại chuyện này, tôi mới hiểu tại sao cộng sản còn bị gọi là ‘‘bọn cướp’’.)

Nơi tôi ở đâu có chiến tranh hay bắt bớ tù đày vô cớ? Tôi tưởng rằng mọi người đang thực sự sống trong ‘‘hòa bình’’ và ‘‘tự do’’ như lời rêu rao của ‘‘Đảng và nhà nước’’. Mười lăm năm ở Sài Gòn cứ thế mà bình thản trôi qua. Tôi đâu biết mười lăm năm sau tôi được tận mắt chứng kiến và được thở chung bầu không khí với những người thuộc về một thế giới hoàn toàn khác hẳn. Thế giới của sự TỰ DO.
Suốt 15 năm sống trong nước, tôi không nghe bố mẹ tôi nói gì nhiều về cái ngày mà cả thế giới bàng hoàng trong khi hàng triệu người Việt Nam rơi nước mắt trong kinh hoàng và tuyệt vọng. Tôi hoàn toàn không biết sự thay đổi lớn lao của ngày 30 tháng 4 năm 1975 (theo lời rêu rao của cộng sản là một ‘‘chiến thắng vẻ vang’’) đối với hàng triệu đồng bào Việt Nam mong muốn tự do và dân chủ, đó là sự bắt đầu của một thời kỳ đen tối nhất trong lịch sử.

Sau khi đất nước được ‘‘giải phóng’’ để toàn dân được sống trong ‘‘độc lập, tự do, hạnh phúc’’ như lời ‘‘Bác’’ và ‘‘Đảng’’ hứa, thực tế xã hội và đời sống người Việt Nam là như thế nào đằng sau lớp sơn dỏm mà bọn người cộng sản cố tình bôi trét bên ngoài? 15 năm - chúng tôi không khác gì những con ếch bị nhốt thật lâu dưới đáy giếng sâu tối và hoàn toàn không biết gì về thế giới bên ngoài. Sự thật là chỉ có những con ếch sống bên ngoài giếng mới biết ánh sáng của vũ trụ màu gì.
Trước ngày 30 tháng 4 năm 1975, biết bao máu xương đã đổ và thân xác đã nằm xuống trong cuộc chiến đấu giành lại tự do và dân chủ. Sau khi chiến tranh kết thúc, xương máu vẫn tiếp tục đổ xuống trong những nhà tù cộng sản. Hàng triệu người đã bỏ mạng ngoài biển khơi hay trong rừng núi hoang vu trên đường đi tìm tự do. Những con ếch ngồi dưới đáy giếng như chúng tôi làm sao biết những gì đang xảy ra chính là tội ác của bọn người đương cầm quyền?

Mười lăm năm qua, những con ếch ngày nào rồi cũng may mắn tìm được một cuộc sống mới bên ngoài hố giếng sâu tối.

Bên cạnh những buồn vui của đời sống tị nạn, điều may mắn lớn nhất cho tôi là được làm chứng nhân của hai xã hội hoàn toàn khác nhau. Dĩ nhiên không ai trong chúng ta muốn làm nhân chứng cho một quá trình lịch sử đầy đau thương, nghèo nàn, bóc lột, và áp bức dưới một chế độ cai trị tàn ác, nham hiểm, thối tha, và ngu dốt. Nhưng phải có như vậy chúng ta mới nhận ra sự khác biệt giữa trắng và đen, giữa ánh sáng và bóng tối. Mười lăm năm qua, những gì chúng tôi được đọc, được nghe, và được chứng kiến về thực trạng một đất nước Việt Nam luôn luôn khơi lại một vết thương nhức nhối và chưa bao giờ lành.

Mỗi ngày ở khắp các nẻo đường phố Sài Gòn, có biết bao nhiêu đứa trẻ chưa một ngày được cắp sách đến trường, phải lăn lộn ngược xuôi với dòng đời tìm miếng cơm lót dạ. Sự hiện hữu đầy dẫy của các em trong những quán ăn, tại các chùa chiền, hay trước cửa những khách sạn sang trọng đôi khi làm một số Việt Kiều chúng ta cau mày tránh né, trong khi hình ảnh một đứa trẻ 3, 4 tuổi mò bới thức ăn ngay giữa một bãi rác khổng lồ và ô uế hoặc những bé gái 10, 11 tuổi thân thể gầy còm nhỏ bé bó gối ngồi chờ ‘‘khách’’ trong những ổ mại dâm lại làm chúng ta phẫn nộ và thương tiếc.

Không, thật ra tất cả các em đều là nạn nhân của một chế độ đã từ lâu bỏ mặc tương lai đất nước. Có một người bạn của tôi sau vài lần về nước thăm thân nhân đã nhận xét rằng ở Việt Nam, sinh mạng con người rẻ hơn bèo. Tại Việt Nam, quy định và luật lệ giao thông chỉ là những hàng mực in trên giấy. ‘‘Đảng và nhà nước’’ không có nỗ lực rõ ràng nào trước tình hình tai nạn giao thông leo thang một cách đáng ngại trên toàn cả nước. Rừng bị tàn phá vô tội vạ. Đất đai sông ngòi bị tẩm đủ thứ độc hại đang chết dần. Mức độ ô nhiễm môi trường tác hại trầm trọng tới sức khỏe, là thứ có thể thấy bằng mắt. Nhưng mức độâ tàn phá khủng khiếp nhất của chế độ ấy nhắm ngay vào con người: đạo đức xã hội bị tàn mạt, các thế hệ tương lại bị nhồi nhét toàn những điều dối trá, vô bổ. Chưa có thời kỳ nào mà số lượng phụ nữ Việt Nam bị bán ra nước ngoài lại thê thảm và nhục nhã tới vậy.

Có nhiều người Việt trong nước cũng như ở hải ngoại phạm một sai lầm to lớn khi kết luận rằng Việt Nam đã phát triển và giàu mạnh hơn trước rất nhiều. Thật ra, họ không nhìn ra rằng bên dưới cái lớp vỏ bóng loáng không trung thực mà Việt Kiều chúng ta nhìn thấy ở những thành phố lớn như Sài Gòn, thực chất phần đông người dân Việt Nam vẫn còn quá nghèo đói. Người nghèo không có tiền chữa bệnh chỉ nằm chờ chết. Lũ lụt hạn hán mỗi năm khiến hàng trăm ngàn dân đã nghèo càng nghèo hơn. Hình ảnh người đàn bà xếp hàng trước bệnh viện chờ bán máu kiếm tiền mua sữa nuôi con trong bài thơ ‘‘Bà mẹ điên’’ của nhà thơ Trần Trung Đạo đủ nói lên thực tế đời sống khó khăn vô lối thoát hiện tại của hàng triệu đồng bào trong nước. Trong khi đó, ‘‘Đảng và nhà nước’’ đã làm gì để thật sự cải thiện đời sống người dân? Hay họ quá bận rộn ‘‘cải thiện’’ thêm nhiều nhà cao tầng mới và xe đắt tiền cho chính họ? Báo chí trong nước không biết bao nhiêu lần đề cập đến vấn đề tham nhũng và đưa ra những dữ kiện liên quan đến tài sản lên đến hàng tỉ đô la của mỗi nhân vật cao cấp nhất trong nước, nhưng rồi đâu lại vào đó vì sự tham nhũng ở Việt Nam là có hệ thống và hiện diện ở mọi cấp. Nhưng vấn đề lớn nhất hiện nay tại Việt Nam là con người không có tự do ngôn luận, tự do tôn giáo, và tự do chính trị. Những người thường xuyên theo dõi tin tức tại quê nhà không ai là không biết chính quyền cộng sản Việt Nam trong mấy chục năm qua, và nhất là trong thời gian 10 trở lại đây, đã vô cớ quản chế, bắt giam, cầm tù và tra tấn không biết bao nhiêu những nhà đấu tranh cho tự do dân chủ.

Dưới chế độ của ‘‘Bác’’ và ‘‘Đảng’’, khen thì không sao. Nhưng một câu nói nếu bị cho là ‘‘chống đối chế độ’’ thì người nói lập tức bị gây phiền hà và đưa vào những hậu quả khó lường.

Nhưng tại sao tiếng nói đòi hỏi tự do và quyền làm người, quyền được tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận lại bị coi là chống đối chế độ? Tại sao?
Năm đầu tiên ở đại học cũng là thời gian tôi bắt đầu tìm đến cộng đồng người Việt.

Cách đây tám năm, một người quen mở lời nhờ tôi giúp dạy một lớp ESL (English as a Second Language) vào hai đêm mỗi tuần do một hội thiện nguyện tổ chức. Tôi không chần chừ và nhận lời ngay. Đã từ lâu tôi rất muốn được làm một điều gì đó cho đồng bào Việt Nam của tôi, nhất là những người kém may mắn và cần sự giúp đỡ.

Ý tưởng giúp đỡ đồng bào trong nước của tôi lúc bấy giờ chưa được cụ thể hóa bằng hành động vì tôi chưa biết phải bắt đầu từ đâu. Vì vậy tôi thấy không có gì thiết thực hơn là giúp đỡ chính những người đang sống chung quanh mình.
Suốt bốn năm dài miệt mài với từng buổi học, từng bài giảng phát âm và văn phạm, và từng gương mặt những học trò của tôi (có người đáng tuổi cha chú) trở thành một phần đời sống của tôi.

Suốt bốn năm, số học trò của tôi không hề thay đổi vì dù hoàn cảnh thay đổi hay bận rộn cách mấy, họ cũng không bỏ lớp. Cho nên thầy trò càng gắn bó nhiều hơn. Đó là quãng thời gian khó quên và niềm vui lớn lao trong đời tôi vì tôi biết mình đã làm được chút gì để giúp họ vượt qua những khó khăn trong đời sống hội nhập.

Song song với việc dạy ESL vào buổi tối, tôi cũng tìm đến những sinh hoạt tuổi trẻ và thiện nguyện khác trong cộng đồng từ cuối năm 1998. Tôi còn nhớ lần đầu tiên là trong một buổi sinh hoạt Hội Quán Giao Điểm do Hội Chuyên Gia Việt Nam (HCGVN) tại Houston tổ chức. Hội Quán Giao Điểm là một sinh hoạt thường xuyên (mỗi tháng một lần) của HCGVN với mục đích tạo môi trường cho người Việt thuộc mọi tầng lớp, lứa tuổi, hoàn cảnh, và ngành nghề trao đổi suy nghĩ, quan niệm, kinh nghiệm, cũng như kiến thức chuyên môn về nhiều đề tài khác nhau, như ‘‘Generation Gap: Sự Khác Biệt Giữa Hai Thế Hệ’’, ‘‘Quan Hệ Hôn Nhân Với Người Không Cùng Màu Da và Tôn Giáo’’, ‘‘Phương Pháp Đầu Tư’’, ‘‘Thế Nào Là Tình Bạn Thật Sự?’’, v.v..

Sau buổi hội thảo đầu tiên ấy, tôi thật sự bị cuốn hút bởi tinh thần hoạt động hăng say, thái độ cởi mở, thân thiện, và tấm lòng nhân ái của các anh chị trong hội. Thế là tôi trở thành hội viên dự bị trẻ nhất (và sau đó là thủ quỹ cho Hội Chuyên Gia Việt Nam và Mạng Lưới Tuổi Trẻ Việt Nam tại Houston).

Những năm kế tiếp trôi qua thật nhanh nhưng cũng đầy ắp những kỷ niệm vui buồn khó quên và rất nhiều sinh hoạt đầy ý nghĩa. Tôi hăng say lao mình vào tất cả những sinh hoạt không chỉ do HCGVN đề xướng mà rất nhiều sinh hoạt khác trong cộng đồng, như ngày kỷ niệm Quốc Hận 30 tháng 4 mỗi năm, Tết Trung Thu, Món Quà Mùa Giáng Sinh, Ngày Quê Hương và Tuổi Trẻ, Hội Chợ Tết, các buổi xuống đường xin chữ ký hỗ trợ những nhà đấu tranh bị giam cầm trong nước, gây quỹ giúp đồng bào bị bão lụt, các kỳ Đại Hội Chuyên Gia Bắc Mỹ và Thế Giới, v.v.. Qua đó, tôi học hỏi được nhiều kinh nghiệm quý báu và bài học giá trị. Trong bài viết này, tôi chỉ xin được nêu lên vài điểm mà tôi cho là quan trọng và tiêu biểu nhất.

Điểm thứ nhất là tinh thần thiện nguyện chân chính thật sự đòi hỏi rất nhiều. Khác với suy nghĩ của nhiều người, những người dấn thân vào sinh hoạt cộng đồng không phải đều ‘có tiền‘‘ quá rảnh rỗi’’, và ‘‘chẳng vướng bận gì’’. Ngược lại tôi thấy hầu hết những người có lòng và sinh hoạt tích cực nhất lại là những người thuộc tầng lớp lao động chân tay bình thường. Họ có rất nhiều bổn phận và trách nhiệm với con cái và gia đình. Nhưng chính vì vậy sự hy sinh của họ để cùng góp tay với tập thể càng lớn lao và đáng trân quý hơn.

Một người quen của tôi có lần đã hỏi: ‘‘Tôi thấy sinh hoạt là tốt, nhưng ai cũng có hoàn cảnh riêng. Sao họp hành gì mà tuần nào cũng có vậy?’’

Đây là câu trả lời của tôi: Sinh hoạt thiện nguyện thật ra không khác gì công việc làm của chúng ta, nếu không muốn nói là nó đòi hỏi ở chúng ta một thái độ và kỷ luật càng nghiêm túc và khắt khe hơn. Người có tinh thần thiện nguyện chân chính hiểu rằng nếu ai cũng ‘‘thích thì đi sinh hoạt không thích thì thôi’’ thì công việc chung của tập thể không thể nào hoàn thành một cách tốt đẹp, hay nếu có thì nó đòi hỏi sự hy sinh càng lớn hơn từ một số ít những người có trách nhiệm, khả năng, và tinh thần sinh hoạt nghiêm túc. Sức mạnh thật sự của một tập thể hay hội đoàn không thể chỉ nằm trên vai của một vài cá nhân mà là trách nhiệm chung của mọi người trong tập thể đó.

Có đôi lúc tôi nhìn những bạn trẻ cùng trang lứa chung quanh mình và không thể không thắc mắc là có bao giờ họ e ngại rằng những gì chúng tôi biết về lịch sử đất nước, về cuộc chiến tranh Việt Nam, về phong tục tập quán của dân tộc Việt Nam, v.v. thật sự quá ít ỏi hay không?

Chúng ta dường như không quan tâm mấy đến việc yêu cầu những người thuộc thế hệ trước chia xẻ với chúng ta những kinh nghiệm và kiến thức quý giá của họ. Tôi biết chắc một điều là đôi lúc sự thờ ơ của chúng ta làm họ lo lắng và đau lòng.

Điểm thứ hai tôi muốn nói đến ở đây là, ngoại trừ những năm gần đây, giới trẻ Việt Nam ở hải ngoại (cũng như trong nước) chưa thật sự có ý muốn dấn thân vào sinh hoạt thiện nguyện cũng như chính trị. Khi được hỏi tại sao, những người trẻ đưa ra nhiều lý do khác nhau. Theo suy nghĩ riêng của tôi, nhìn chung lý do lớn nhất vẫn là giới trẻ chưa ý thức được công cuộc đấu tranh cho tự do và dân chủ cho đất nước trong tương lai là trách nhiệm của họ. Trong một tương lai gần, các bậc cha chú chúng ta là những người đang gồng gánh trọng trách này sẽ không thể tiếp tục vì lý do tuổi tác và sức khỏe. Thế hệ nối tiếp không ai khác hơn là chính chúng ta. Nếu chúng ta ngoảnh mặt đi cũng tức là chúng ta quay lưng lại và thờ ơ với vận mạng của dân tộc.

Điểm sau cùng và quan trọng nhất chính là thái độ đấu tranh của người Việt ở hải ngoại. Nếu chúng ta đã biết rõ ràng tập đoàn cộng sản là một khối người gian trá mưu mô thì chúng ta dứt khoát không thể để mình trở thành nạn nhân của họ. Nếu những bất đồng và đánh phá lẫn nhau giữa các cá nhân hay hội đoàn là vì lợi ích riêng tư thì chúng ta đã phung phí quá nhiều thời gian và nhân lực. Đồng thời chúng ta cũng tạo cơ hội cho tai mắt cộng sản ở hải ngoại phân tán sức mạnh đoàn kết tập thể của chúng ta. Nhưng nếu những đánh phá và thù nghịch giữa các hội đoàn là một trong những cách đối phó có tổ chức dưới sự điều khiển của tập đoàn cộng sản trước tình hình đấu tranh mạnh mẽ của người Việt ở khắp nơi trên thế giới thì hơn bao giờ hết chúng ta cần phải bình tĩnh và sáng suốt.

Tất cả những chương trình ‘‘giao lưu văn hóa’’, ‘‘tiếp đón kiều bào về ăn Tết’’, ‘‘mở cửa cho Việt Kiều về nước làm ăn’’, ‘‘trại hè giao lưu giữa thanh niên Việt Kiều và thanh niên trong nước’’, v.v., trước là để chiêu dụ Việt Kiều đổ thêm ngoại tệ vào Việt Nam, hay nói đúng hơn là vào túi riêng của các cấp lãnh đạo nhà nước, sau hết đó chỉ là những chính sách lọc lừa của cộng sản nhằm xoa dịu sự thù hận cũng như để gây cảm tình với cộng đồng người Việt tị nạn. Lẽ nào chúng ta lại quên 30 năm trước họ cũng đã từng lợi dụng sự mềm yếu trong tình cảm của chúng ta để chúng ta mở cửa cho cọp vào nhà? Đáng tiếc rằng hiện nay vẫn còn một số cá nhân và cơ sở thương mại ở hải ngoại chỉ vì lợi ích tầm thường và nhỏ nhoi trước mắt lại tiếp tay cho cộng sản Việt Nam và tai mắt bè lũ của chúng.

Chặng đường đấu tranh cho tự do dân chủ là một chặng đường dài và đầy khó khăn. Hơn bao giờ hết, chúng ta dứt khoát phải giữ vững lập trường và ý chí đấu tranh mạnh mẽ. Chúng ta phải thật sự đoàn kết trong tinh thần lẫn hành động. Và theo quan điểm của tôi, điều quan trọng nhất là chúng ta phải thật sự sáng suốt và nhạy bén, và luôn ở vị trí tấn công để dồn chính quyền cộng sản Việt Nam vào nhiều thế yếu và khó xoay sở (như trường hợp chính quyền Việt Nam bị áp lực phải thả một số tù nhân lương tâm vừa qua).

Đẹp biết bao hình ảnh một thân cây nhỏ bé sau trận bão tuyết dập vùi vẫn cố vươn mình tìm sự sống. Khâm phục biết bao câu chuyện về một phụ nữ Việt Nam suốt 33 năm nằm dài khổ cực nằm đan thúng nuôi con khôn lớn dù cơ thể bệnh hoạn tật nguyền. Trong bất cứ hoàn cảnh nào hay dù ở tận cùng của sự đau thương, bi quan, và tuyệt vọng, mỗi người chúng ta nên nhớ niềm tin và hy vọng mạnh mẽ sẽ thắng. Chặng đường đấu tranh lật đổ chế độ độc tài cộng sản Việt Nam ngắn hay dài là tùy thuộc vào chúng ta. Nhìn lại chặng đường 30 năm đã qua và hướng về tương lai phía trước, xin được trích dẫn câu nói của Edmund Burke để chúng ta cùng suy ngẫm:

‘‘The only thing necessary for the triumph of evil is for good men to do nothing.’’
(Tạm dịch: Điều duy nhất cần thiết cho sự chiến thắng của kẻ xấu là khi người tốt chẳng làm gì.’’)

Trong suốt thời gian còn đi sinh hoạt, tôi may mắn được sự yêu thương, hướng dẫn, và dìu dắt của bố mẹ và các cô chú bác và anh chị đi trước. Từ ngày đầu tiên tham gia sinh hoạt, tất cả những gì tôi học hỏi được về thảm trạng của đất nước và đồng bào Việt Nam trong suốt thời gian dài chiến tranh và kéo dài đến 30 năm sau khiến tôi càng muốn tìm hiểu nhiều hơn.

Mười lăm năm qua, trong lòng tôi lúc nào cũng âm ỉ ngọn lửa yêu thương đất nước và đồng bào của tôi, dù đôi lúc tôi không tránh khỏi cảm giác mệt mỏi và chán chường với những gì tôi chứng kiến xảy ra trong cộng đồng và giữa những người tự xưng là hy sinh vì lợi ích chung. Tôi biết chắc rằng ngọn lửa đó chưa và sẽ không bao giờ tắt trong tôi. Cho nên giờ đây, tuy hoàn cảnh hiện tại không cho phép tôi đóng góp sức mọn vào việc chung của cộng đồng, tôi đã, đang, và sẽ tiếp tục dùng hết khả năng của mình để giúp một tập thể nhỏ, một gia đình, hay một cá nhân nào đó ở quê nhà.

Trước đây, sự giúp đỡ với tư cách cá nhân của tôi tới những gia đình nghèo trong nước có phần giới hạn về tài chánh. Trong dịp lễ Giáng Sinh vừa qua, tôi đã vận động từ gia đình, người quen, bạn bè, và bạn chung sở được một số tiền khá lớn để giúp đỡ hai gia đình rất khó khăn và đáng thương mà tôi tìm được qua hệ thống báo chí trên mạng (gia đình chị Mai ở tỉnh Quảng Bình, người phụ nữ đã hy sinh tính mạng để cứu người sắp chết đuối và để lại người chồng bịnh tật và bảy đứa con thơ, và bà Thanh 60 tuổi và đàn cháu nội ngoại nheo nhóc ở Sài Gòn). Tôi hy vọng và tự hứa sẽ tiếp tục việc làm có ý nghĩa này ít nhất là mỗi năm một lần.

Nếu có ai hỏi tôi em muốn biết hay có ao ước gì cho đất nước, lịch sử, xã hội, và con người Việt Nam, tôi sẽ không ngần ngại trả lời rằng ao ước lớn nhất của tôi là được tiếp tục sinh hoạt đấu tranh cho đến một ngày được tận mắt nhìn thấy đồng bào tôi ở quê nhà thật sự có những quyền lợi cơ bản của một con người và đời sống sinh hoạt của phần đông dân chúng được thoải mái ổn định như ở một số quốc gia hùng mạnh trên thế giới như Ức, Hoa Kỳ, v.v..

Nhân dịp kỷ niệm ba mươi năm 1975-2005, xin được một lần nữa cùng với hàng triệu đồng bào Việt Nam ở khắp mọi nơi và tất cả những ai còn quan tâm đến Việt Nam thắp lên ngọn lửa đấu tranh và ngọn lửa của yêu thương và hòa bình.
Hãy đánh thức trái tim chúng ta.

Hãy cùng cầu nguyện cho đất nước và toàn dân Việt Nam sớm có ngày sống trong tự do, thanh bình, và ấm no hạnh phúc.


ĐỖ THỊ VÂN ANH

---

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Mỗi bà vợ bằng ba cảnh sát ? Đàn ông là người nhóm lửa, đàn bà là người giữ lửa. Tôi không nhớ câu ấy có xuất xứ từ đâu nhưng càng ngẫm càng thấy phải. Có điều, rất nhiều người trong chúng ta không (hoặc chưa) ngộ ra được điều ấy nên "tổ ấm" đã trở thành "tổ kiến lửa". Khi xảy ra sự cố, phần đông phụ nữ cảm thấy mình bị đối xử tệ bạc, bất công, thiệt thòi. Có lẽ cũng không phải là sai, nhưng cũng không hoàn toàn đúng. "Tiên trách kỷ..."

Chị A, anh H là một cặp đẹp như mộng. Chị xinh đẹp, anh tài giỏi. Họ đã có một thời yêu nhau lãng mạn, rồi đám cưới tưng bừng, sau đó hai đứa con trai ra đời. Kinh tế gia đình họ xưa cũng gian khó như mọi nhà, rồi dần dần đi lên, nay đã bề thế lắm. Người ngoài nhìn vào cứ bảo hạnh phúc thật là đủ đầy như trăng mười sáu (còn hơn cả trăng rằm nhé).

Ấy thế mà... Khổ thế, các cụ nói cấm có câu nào sai "Nằm trong chăn mới biết chăn ... không êm chẳng ấm". Anh H âm thầm ôm sầu khổ đã bao năm. Chỉ vì chị A thuộc nòi "sư tử, thứ thiệt. Chị đẹp, tự biết mình đẹp, lại đảm nhà sạch cơm ngon chờ chồng mỗi ngày. Nhưng ngần ấy ưu thế mà vẫn ghen chồng dữ dội. Anh đi hội họp ở đâu chị cũng ngấm nguýt "Đi đàn đúm chứ họp hành cái gì! Họp nửa ngày thì các ông chơi bời hai ba ngày". Anh đi làm về muộn mà không kịp báo là chị gọi đến cơ quan "truy nã", hỏi hết người này đến người kia, làm cho anh phát ngượng về cái tư cách dường như "kẻ đào tẩu” của mình. Lâu dần, cả cơ quan anh biết máu "Chúa sơn lâm Hà Đông" của chị, có đi đâu họ lại tìm cách trưng "chứng cớ ngoại phạm" giúp anh: nói vài câu qua điện thoại lúc chị gọi đến kiểm tra hay kéo nhau về nhà anh nếu việc đột xuất. Anh nhận sự "chi viện" của đồng nghiệp mà ngấm ngầm sượng sùng.

Chưa hết, chị còn làm anh hoang mang, chẳng biết đường nào mà cư xử cho ổn. Bữa cơm nào anh mệt mỏi kém ăn thì chị cật vấn "Hôm nay đi ăn "phở" đâu rồi mà bỏ cơm thế”? Gặp lúc anh ngon miệng chị lại sinh ngờ vực "Hôm nay vất vả với cô nào mà đói ghê thế? Ngày 8/3 hay những dịp kỷ niệm, anh về muộn, hay chậm mồm, chậm miệng chúc mừng, thì chị dỗi "Có thèm để tâm đâu mà nhớ!!!", anh mà chu đáo, ân cần thì chị lại nghi "Làm việc gì có lỗi với vợ hay sao mà tử tế thế để chuộc tội? Điện thoại di động của anh, chị thỉnh thoảng lại "mượn" để kiểm soát. Chị xét nét nhất là bản kê cước hàng tháng, cuộc gọi nào dài, tiền nhiều là chị tra xem số ấy của ai, ở đâu "Nói gì mà lâu thế? Tán tỉnh nhau hả"?

Lâu dần, vẫn biết được vợ yêu, vợ chăm mà anh H sinh chán nản. Anh bỏ di động để vợ thôi kiểm tra. Anh thường kiếu những cuộc vui nơi công sở để về nhà đúng giờ, không muốn ăn cũng cố đủ khẩu phần, mà có muốn ăn thêm cũng bớt miệng để vợ khỏi quy kết... Cho đến một ngày, anh gặp một đối tác làm ăn phái nữ. Chị không đẹp, không đảm bằng vợ anh, nhưng sắc sảo, hiểu biết, có duyên và quan trọng nhất là rất thông cảm với anh, tôn trọng anh. Thế là chuyện gì phải đến đã đến. Từ chỗ không bồ bịch gì mà cứ bị vợ nghi tối ngày, nay anh có bồ thật mặc dù vẫn đóng vai ông chồng “chỉn chu lương nộp đủ, tối ngủ ở nhà".

Cũng "họ nhà Hoạn" như chị A, bà U lại dùng chiêu khác. Trời sinh ra bà nhan sắc "thường thường bậc trung mà lại lấy được ông chồng tài hoa, đẹp trai nên bà phải lo mà giữ rịt lấy. Bà khá khôn ngoan nên đã nghĩ ra cách thật "độc" là quyết không chịu học đi xe máy đế bắt ông đưa đón hàng ngày. Thế là lịch của ông phải phụ thuộc vào lịch của bà. Sáng ông phải đưa vợ đến cơ quan rồi mới đi làm việc của mình. Chiều đón vợ về, ra cổng chợ đứng đợi bà mua thức ăn rồi đưa bà về nhà. Đôi khi buổi trưa bà cũng gọi ông đón về nhà hoặc đi ăn hoặc đèo đến nhà bạn bè. Tóm lại, ông thấy mình giống... xế "xe ôm" đến mãn đời của bà. Bạn bè có định bù khú hoặc thăm hỏi nhau một tý ông nài bà tìm phương tiện khác bà nhất quyết không chịu, đòi đi theo. Lâu ngày ông thấy như bị giam lỏng, dù là trong vòng tay của vợ thì vẫn bí bách lắm. Hậu quả là những dịp "xổ lồng" đi công tác ngoại tỉnh, ông ăn nhậu và chơi "tới bến".

Cô L cũng là một bậc "nữ lưu tài trí” trong việc quản chồng. Cô tư duy hơi khác hai đàn chị kể trên nên chủ trương "thả rông" mà chỉ quản ví. Lập luận của L là: gái chỉ mê tiền của các ông thôi. Ví mà nhẵn nhụi thì có "thả” đến đâu cũng chả đứa nào theo. Nói là làm, L theo dõi và thu vén mọi khoản thu nhập của chồng. Hai vợ chồng cùng ở một cơ quan (tuy khác đơn vị) nên cô có điều kiện "soi" chồng về kinh tế. Hôm nào anh chồng về muộn, khoản lương vừa lĩnh hơi hao một tẹo vì vài cốc bia đãi bạn là cô cằn nhằn, "cấm vận”. Ngoài những khoản thu nhập cố định L còn sát sao cả những cuộc chồng đi hội họp mà cô cho là có phong bao. Cô không bao giờ để ví của anh có quá 50.000 đồng. Thu vào hết như thế nhưng L đánh vần chữ "chi" một cách rất khó khăn, nhất là những khoản cho gia đình bên nội. Chồng L phải giấu vợ, cặm cụi nhận một công trình làm thêm để lấy tiền mua quà mừng thọ mẹ. Ngày nhận tiền thù lao, anh mua một chiếc vòng vàng, định tâm tặng mẹ. Cái hộp nữ trang giấu trong cặp chưa kịp nóng đã bị L lục thấy. Cô tịch thu luôn và tra hỏi hết một tuần về nguồn gốc và mục đích của chiếc vòng.

Những bà, những chị quản lý chồng kiểu ấy thường giải thích nhân danh tình yêu - một lý do thật là cao cả. Họ cũng yêu chồng thực. Nhưng họ đã biến cuộc sống của người mình yêu thành những tháng ngày khổ sở. Có ông chồng làm ngành Công an đã định nghĩa mang đậm màu sắc nghề nghiệp thế này: Mỗi bà vợ là cảnh sát kinh tế, cảnh sát trại giam và cảnh sát điều tra tổng hợp lại. Tất nhiên đấy là nói quá thôi. Mỗi bà thường chỉ "hun đúc" được một phẩm chất: Cô L đúng là giống cảnh sát kinh tế. Bà U hệt cảnh sát trại giam. Còn chị A thì đích là cảnh sát điều tra. Nhưng chỉ một phẩm chất thôi thì người chung sống với họ đã thấy quá sức chịu đựng. Và già néo đứt dây, các bà các chị tưởng buộc chồng thế là chặt ngờ đâu họ chỉ "giữ bóng", phần hồn (đôi khi cả phần xác) của các ông đã chạy theo bóng hình khác mất rồi!

Đàn ông là người nhóm lửa - rất quan trọng, nhưng đàn bà mới lãnh trọng trách dài lâu - điều chỉnh hành vi, gìn giữ cho ngọn lửa tình nghĩa đượm mãi. Cuộc sống gia đình thật khó, hỡi chị em.

Liên Hà

Post Reply