Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Tìm hồn tính dân tộc

Ngô Nhân Dụng

Ngày hôm qua, mục này đã giới thiệu cuộc thảo luận ở nước Nhật nhân cuốn sách Phẩm Cách Quốc Gia (Kokka no Kinkaku) của Mashahiko Fujiwara, bản tiếng Anh dịch là The Dignity of a State. Cuốn sách của ông bán trên 2 triệu bản trong vòng một năm đầu. Ðọc những lời bàn luận chung quanh cuốn sách đó, chúng ta thấy một nước Nhật Bản đang đặt những câu hỏi nền tảng: Người Nhật còn giữ được hồn tính đân tộc hay không? Ông Shinzo Abe, thủ tướng Nhật hiện nay, đang đưa ra khẩu hiệu “Xứ Nhật Bản tuyệt đẹp” để cổ võ tinh thần, khích lệ toàn dân. Nhưng một dân tộc không thể chỉ sống bằng những khẩu hiệu. Khẩu hiệu nào cứ nói mãi cũng trở thành trống rỗng.

Có những người rất âu lo, như Naohiro Kurihara, mấy đời bán đồ cổ ở giữa khu Omotesando trong thành phố Tokyo. Ông viết trên Herald Tribune, một tờ báo ở Âu châu, than rằng “Người Nhật không biết nước Nhật Bản,” viết bốn kỳ trong vòng ba tháng, từ cuối năm ngoái. Ông cho biết cửa hàng của ông ở khu Harajaku-Omotesando, Tokyo, là dấu vết duy nhất của những sản phẩm Nhật Bản trong một khu phố toàn những thời trang nhập cảng, với những bảng hiệu viết bằng mẫu tự La Tinh. Ông than rằng những thành phố du lịch như Kyoto, Nara thu hút du khách nhưng đó chỉ là những “màn dựng cảnh” cho có vẻ Nhật Bản cổ truyền mà thôi - ông ví các cố đô này với những khu dành riêng cho người da đỏ ở Mỹ! Ông than ngày nay chưa tới 30% dân Nhật đi coi tuồng Noh cổ truyền (Ở Việt Nam có bao nhiêu người đi xem hát chèo hay cải lương?)

Kurihara nhắc đến nước Nhật xuất cảng bao nhiêu thứ hàng hóa ra thế giới, nhưng ông nghĩ người Nhật Bản nên cống hiến cho các nước khác những thứ gì là tốt đẹp nhất của họ, đó là “tinh thần Nhật Bản,” thí dụ, đức chính trực. Mà chính ở trong nước Nhật Bản, người ta cũng phải truyền lẫn cho nhau để bảo vệ đức tính đó. Naohiro Kurihara tự hỏi khi ông thủ tướng đề cao “Xứ Nhật Bản tuyệt đẹp” thì thế nào là một Xứ Sở? Ðó không phải là một lãnh thổ, một tổ chức, ông nói. Một xứ sở tạo thành là do tình tự của mỗi con người đối với lịch sử, đối với nền văn hóa chung trong nguồn gốc của họ. Thế nào là “Tinh thần Nhật Bản,” mà người Nhật cần phải bảo vệ? Ông cũng lo ngại, như Mashahiko Fujiwara, là trong cục diện kinh tế toàn cầu hóa, thứ “tinh thần” đó sẽ bị mất. Vì người ta sẽ bỏ mất đức Từ Ái mà dân Nhật đã nuôi dưỡng trong bao nhiêu thế hệ, đức tính đó có thể bị mất đi, cả nền tảng Tinh Thần Dân Tộc cũng mất theo.

Kurihara còn trách đồng bào ông là trong mấy thập kỷ qua hầu như họ đã đánh mất cả khái niệm về Tâm Hổ Thẹn, thay vào đó họ chỉ chú trọng đến “Thể diện bên ngoài.” Khi có người nước ngoài hỏi gì về nước Nhật, người Nhật bây giờ không biết nhưng không dám thú nhận. Nhưng, Kurihara viết, “Thú nhận mình không biết là bước đầu tiên để được công nhận xứng đáng làm người - vì lòng khiêm cung nói mình không biết sẽ giúp mình học hỏi để biết sau này.”

Như đã trình bày trong bài hôm qua, cuốn Phẩm Cách Quốc Gia của Mashahiko Fujiwara (Ðằng Nguyên Chính Ngạn, đọc theo chữ Hán Việt) chủ trương nước Nhật phải trở về với tinh thần Võ Sĩ Ðạo, với những đức tính nghĩa hiệp, chính trực, thành tín, từ bi, nhẫn nại, dũng cảm. Fujiwara tỏ ra nghi ngờ cả hệ thống chính trị dân chủ kiểu Tây phương và kinh tế thị trường. Là một giáo sư toán ở đại học, nhưng ông không tin người ta nên sống thuần lý, mà đó là một nền tảng của văn minh Tây phương.

Trước Fujiwara, nhiều người Nhật Bản đã nêu lên vấn đề đặc tính dân tộc. Ông nguyên thị trưởng Tokyo nổi tiếng với cuốn sách “Người Nhật Bản biết nói Không!” Cựu Thứ Trưởng Tài Chánh Eiseku Sakakibara đã viết một cuốn sách “Vượt Tư Bản” để trình bày mô hình kinh tế Nhật Bản khác với hệ thống kinh tế ở Mỹ như thế nào. Ngay sau khi ông viết xong cuốn “Beyond Capitalism” (bản tiếng Anh in năm 1993) thì kinh tế rơi vào cảnh trì trệ trong một thập kỷ, bắt buộc phải cải cách cho dần dần giống mô hình kinh tế Anh Mỹ hơn.

Hiện giờ cuộc cải cách đó vẫn tiếp tục, nhưng những vấn đề ông Sakakibara đặt ra vẫn còn đó, không những người Nhật mà tất cả mọi người phải tự hỏi. Thí dụ: Một xí nghiệp là gì? Ðó là một tập họp tạm thời giữa nhiều người làm việc với nhau để cùng hưởng lợi? Hay đó là một tập thể hữu cơ tìm cách sinh tồn? Con người làm việc chỉ là “dụng cụ” cho xí nghiệp, một thực thể trừu tượng? Hay đó chỉ là những người ký hợp đồng theo đúng pháp luật? Hay phải coi mỗi con người giống như một tế bào trong cơ thể là xí nghiệp?

Những câu hỏi cơ bản đó, cũng như những câu hỏi về nền tảng văn hóa của dân tộc Nhật, người Việt chúng ta cũng đã nhiều lần đặt ra. Vào đầu thế kỷ 20, ở nước ta có cuộc tranh luận nên theo nền văn minh Tây phương, tiêu biểu là nước Pháp, hay nên phục hồi truyền thống cũ. Ngày nay đọc lại những bài thảo luận của tiền nhân, chúng ta có thể thấy các cụ có nhiều ý kiến nông nổi hoặc kiến thức hạn hẹp hơn con cháu bây giờ, nhưng chúng ta phải cảm phục bầu nhiệt huyết và tấm lòng yêu nước thương nòi của tiền nhân. Ðiều quan trọng là từ một trăm năm trước sĩ phu Việt Nam đã đặt vấn đề và tranh luận về vấn đề tìm con đường đi cho dân tộc, và cuộc thảo luận rất nghiêm chỉnh, hăng hái nhưng giữ được thái độ tương kính. Sang thế kỷ này, đây là lúc chúng ta nên đặt những vấn đề tương tự. Ngay cả khi chính quyền trong nước cứ khăng khăng ôm lấy một chủ nghĩa lạc hậu, lỗi thời, giới sĩ phu mới vẫn cứ bàn bạc với nhau, như Phan Khôi, Huỳnh Thúc Kháng thời xưa.

Phan Khôi (1887-1959) là một người tiêu biểu. Trong những bài viết trên Ðông Pháp Thời Báo, xuất bản ở Sài Gòn năm 1928, Phan Khôi đã đặt ra các vấn đề xây dựng nền móng mới cho nước Việt Nam (Các bài báo này đã được in lại trong một tập sách, do Lại Nguyên Ân sưu tầm và chú thích). Một bài về “Tư tưởng của Tây phương và Ðông phương,” cụ Phan đã trình bày rất giản lược sự khác biệt, đối chọi giữa hai truyền thống. Quan trọng nhất là câu kết luận: “Nay nếu ta muốn theo cách sinh hoạt mới của Tây phương mà ta lại còn giữ cả tư tưởng cũ của Ðông phương thì quyết không thể có được!” Viết thế chưa đủ mạnh, Phan Khôi còn viết tiếp một bài “Bác cái thuyết tân cựu điều hòa” vì nó không thể thực hiện được mà về mặt lý luận thì nó cũng không vững! Phan Khôi công nhận lúc đó bên Âu Châu đang có phong trào nhìn nhận sự “suy đồi” của nền văn minh của chính họ, chính họ đang tìm học bên Ðông phương. Nhưng, cụ nói, “Người Tây nói điều hòa thì còn có lẽ; chớ người mình nếu đã quyết đi theo con đường văn minh ấy mà còn toan dùng trước điều hòa thì thật là thất sách!”

Ðể cho lý luận, chủ trương của mình vững chắc hơn, Phan Khôi còn viết về “Học thuyết cũ và Vận mạng nước Tàu,” rồi tiếp theo, một bài nữa bài bác chủ trương của Khang Hữu Vi, Cô Hồng Minh, hai học giả Trung Quốc thời đó muốn phục hưng Khổng Giáo. Nhà văn đất Quảng kết luận rất quyết liệt: “Dân Á Châu mà khôn ra thì nên gác những lời của Cô Hồng Minh để ngoài tai; bỏ những thi tập của Tagore vào giỏ rác; cho đến Khổng Tử, Thích Ca cũng mời các ngài ngồi đó đã, để chúng tôi lo tập rèn khoa học, đúc súng, đóng tàu, làm máy xay gạo; đặng có sống!”

Ngày nay chúng ta có thể thấy những lời lẽ đó là nông nổi, nhưng chúng ta phải hiểu hoàn cảnh của tác giả, vào năm ngoài 40 tuổi, đang nóng lòng muốn đất nước theo Tây phương để tiến thật nhanh cho kịp họ. Sau thế hệ Phan Khôi, đến thời Tự Lực Văn Ðoàn tinh thần thay đổi triệt để cũng vẫn còn. Cuốn Mười Ðiều Tâm Niệm của Hoàng Ðạo, viết trên báo sau những bài trên của Phan Khôi khoảng hơn 10 năm, vẫn viết điều tâm niệm thứ nhất cho thanh niên là Theo Mới, hoàn toàn theo mới không chút do dự! Ông trẻ hơn Phan Khôi 20 tuổi, còn nói rõ phải bác bỏ chủ trương Trung Dung của Khổng Giáo. Sau đó, là những điều tâm niệm Tin ở sự tiến bộ; Luyện lấy bộ óc khoa học; Cần sự nghiệp, Không cần công danh. Ông khuyên thanh niên “luyện tính khí”, “làm việc xã hội”, “thân thể cường tráng”, “có trí xếp đặt” (óc tổ chức), vân vân. Nói chung, hai thế hệ Phan Khôi và Hoàng Ðạo đều chủ trương người Việt Nam phải dứt bỏ quá khứ, thay đổi hoàn toàn. Tuy nhiên, cả hai nhà trí thức đó vẫn mặc nhiên công nhận những quy tắc nền tảng của luân lý cũ, như đức thành tín, vị nghĩa, trọng danh dự, sống có lý tưởng, và đề cao tinh thần dân tộc.

Nhưng không có chủ trương thay đổi nào triệt để như chủ nghĩa Cộng Sản. Không những chủ nghĩa này bác bỏ nền tảng tinh thần Nho Giáo, Phật Giáo, những người cộng sản còn muốn thay thế cả hệ thống luân lý cũ bằng các quy tắc mới của chủ nghĩa Lê Nin, tư tưởng Mao Trạch Ðông. Ðảng Cộng Sản từ thập niên 1930 đã muốn thay đổi cách sống của người Việt Nam, từ năm 1950 họ đã quyết liệt thay đổi hết. Ngay cả những quy tắc sống bình thường giữa con người với nhau, giữ cha mẹ và con cái, giữa thầy giáo và học trò, giữa hàng xóm láng giềng, họ đã thay đổi hết. Hậu quả là nước ta hiện nay đang lâm vào cảnh “Thượng vô đạo quỹ, hạ vô pháp thủ,” trên không có đạo lý nào mà theo, dưới không sợ pháp luật ràng nào buộc. Thói quen gian dối đã tràn lan, tinh thần duy lợi, vị kỷ trở thành tiêu chuẩn sống. Cho đến bây giờ, đảng Cộng Sản vẫn nhất định bảo vệ chủ nghĩa Mác Lênin, trong lúc đang chạy theo kinh tế tư bản. Trên thì các lãnh tụ hoan hô cụ Mác, cụ Lenin, dưới thì đàn em lo chất đầy túi tham, lo sắp đến ngày hết cơ hội. Ngay cả thanh niên trong nước, họ cũng lo chạy theo đồng tiền, mong làm sao giàu có như Bill Gates. Nhưng họ không biết người Mỹ phải tranh đấu cho một xã hội dân chủ tự do, sống trong pháp luật, sau bao nhiêu thế hệ xã hội mới tạo cơ hội nảy sinh được những Bill Gates.

Những cuộc thảo luận của người Nhật chung quanh cuốn sách Phẩm Cách Quốc Gia ở khiến chúng ta phải cùng ngẫm nghĩ. Người Nhật Bản có can đảm đặt những câu hỏi căn bản, tự hỏi hồn tính dân tộc họ có còn không. Trong thế kỷ 21 này, người Việt Nam sẽ đặt những câu hỏi nào?

Ngô Nhân Dụng

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

Xuất cảnh.


Nếu có dịp đi ngang qua đường Nguyễn Du - gần Thủ khoa Huân , bạn sẽ gặp một ngôi nhà lớn ,đối diện Nhạc viện (trường Quốc gia Kịch nghệ trước 75) đó là Tòa Tổng lãnh sự Hàn quốc. Mỗi buổi sáng trước giờ mở cửa 9 giờ sáng ,bạn sẽ thấy rất nhiều cô gái rất Trẻ khoảng 18, 19,20 đang đứng xếp hàng chờ được vào bên trong để làm giấy tờ Xuất cảnh hầu về với chồng Người Đàn hàn.

Hiện giờ các Tổng lãnh sự Đài Loan , Singapore , Malaysia ,Đài Loan , Trung quốc rất đông người Nữ Trẻ xin nhập cảnh để về với Chồng.

Nếu giấy tờ xuông xẻ khoảng 6 tháng là có thể xuất cảnh đoàn tụ với chồng.

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Anh Đã Về

Trương Sĩ Lương

Dưới đây là một bài viết ngắn trích từ tuyển tập “Lý Tống Trong Lòng Dân Tộc” — Thế Giới Mới xuất bản vào năm 1992 — nhân chuyến trở về VN đầu tiên của người hùng Lý Tống, rải 50,000 tấm truyền đơn tại thành phố Saigon. Sau đó anh bị bắt và bị tù 6 năm. Đầu tháng 9 năm 1998, Lý Tống được trở về Mỹ trong một đợt gọi là “Ân xá” của CSVN.

Đến tháng 11 năm 2000, một lần nữa, Lý Tống lại bay về VN bằng một chiếc phi cơ nhỏ thuê mướn từ Thái Lan, rải 5000 truyền đơn, kêu gọi đồng bào tổng nổi dậy lật đổ chế độ CSVN. Hoàn tất phi vụ, Lý Tống bay về Bangkok, Thái Lan và đáp an atoàn xuống phi trường Utapao. Thế nhưng, nơi đây anh đã gặp nạn, phải chịu giam cầm hơn 6 năm, qua nhiều phiên tòa kéo dài trên đất Thái vì bạo quyền CSVN đòi dẫn độ Lý Tống về VN để xét xử về tội xâm phạm không phận VN.

Ngày 3 tháng 4 năm 2007 vừa qua, Tòa án tối cao của Thái Lan đã xét lại trường hợp của người hùng Lý Tống, và đã bác bỏ việc đòi dẫn độ của CSVN, đồng thời trả tự do cho anh về Mỹ. Chúng tôi, trích đăng lại bài viết của tác giả TSL, là một người bạn của Lý Tống để quý độc giả tìm hiểu thêm về con người phi thường Lý Tống.

Và lần này, anh sẽ trở về Hoa Kỳ vào ngày thứ bảy nay.

Thức khuya đến bốn năm giờ sáng đã trở thành thói quen đối với tôi. Có lẽ những bạn đồng nghiệp trong nghề làm báo trên đất người cũng đều mắc phải cái bệnh thông thường này. Buổi sáng, nếu một người bạn nào đó gọi điện thoại đến quá sớm, chắc chắn tôi sẽ đàm thoại một cách rất là mê ngủ... Nhiều lúc, sau khi thức dậy đã quên lững những gì mình nói với người ta! Bình thường, mỗi tối thứ Bảy trước khi đi ngủ tôi rút dây điện thoại trong phòng, ai gọi đến sớm vào sáng Chủ Nhật thì chắc chắn chỉ nghe máy trả lời.

Tối thứ Bảy 5-9-92, tôi và nhà tôi về quá khuya từ một buổi sinh nhật ở ngoại ô thành phố Dallas, mệt mỏi, lăn ra ngủ vùi. Mới nằm xuống chừng vài ba tiếng đồng hồ, thì có tiếng điện thoại reo ba lần! Nhà tôi (Thục) bực mình:

— Quên rút dây điện thoại rồi phải không?

Tôi không trả lời Thục, chậm chạp vớ lấy ống nghe trong mệt mỏi:

— Hê...hê...lô?

— Có tin giựt gân, dậy nghe đi anh?

Tôi vẫn còn mê ngủ:

— Xin lỗi ai đằng dây?

— Em, Kh. đây.

— Gì đó?

— Bản tin trong phần World Briefly của tờ Star Telegram sáng nay nói rằng, trên một chuyến bay hàng không dân sự Air Vietnam, cất cánh từ Bangkok đi Sàigòn; khi đến không phận Việt Nam, một người thanh niên uy hiếp phi hành đoàn, buộc họ phải bay thật thấp vòng quanh thành phố nhiều lần, rải hàng ngàn tấm truyền đơn xuống thành phố Sàigòn rồi nhảy dù ra ngoài.

Thằng em đọc nguyên văn bản tin cho tôi nghe bằng Anh ngữ như vậy. Tôi tỉnh người:

— Còn gì nữa không? Chết cha!

— Bản tin chỉ chừng đó thôi. Em nghĩ là anh ấy...

— Ừ.

Tôi gác điện thoại và không kịp bye bye, phóng khỏi giường trong chiếc quần lót, chạy xuống cầu thang, hấp tấp té nhào xuống mấy tầng cấp. Đau quá! Nhưng tôi vẫn tiến ra cửa trước. Hé cửa, vớ lấy tờ báo Chủ Nhật 6-9-92 nằm trước thềm nhà, lật thật nhanh và đọc ngấu nghiến. Đúng, chỉ một đoạn tin ấy thôi, nhưng chắc chắn rồi. Nó rồi chứ chẳng còn ai trồng khoai đất này! Tôi bỗng đâm bối rối, tim đập mạnh, hồi hộp, lo lắng ...

Tôi trở về phòng, leo lên giường, đốt điếu thuốc nằm suy nghĩ. Chừng 15 phút sau, tôi vói tay lấy mảnh giấy note book trên bàn mà đứa con gái út Vina, thường ghi những messages khi tôi đi vắng: “Ba, please call Bác Nghia ở Canada immediately.” Chữ Nghĩa không có dấu ngã và nội dung của message bao giờ cũng Việt Mỹ lẫn lộn. Tội nghiệp cho nó, sinh trên đất người từ 75 nên viết tiếng Việt thường không biết bỏ dấu!

Tôi gọi ngay Nguyễn Hữu Nghĩa, chủ bút tờ Làng Văn ở Canada, anh ấy đọc nguyên văn bài báo của tờ South China Post có nhiều chi tiết hơn. Không còn nghi ngờ gì nữa, tôi gọi ngay cho anh Võ Văn Ân, anh ấy lật đật chạy qua với bản tin tương tự trong tay. Chúng tôi nhìn nhau không nói, miệng đắng như ngậm ngải.

— Làm gì bây giờ anh?

— Thì cứ bình tĩnh làm ly cà phê uống đã.

Tôi đang nhấm nháp ly cà phê và thổi khói thuốc lên trần nhà thì có tiếng điện thoại reo. Tiếng người bên kia đường dây nghe thật rõ:

— Tôi là Chử Bá Anh, xin cho gặp anh Lương?

— Dạ thưa tôi đây.

— Thông báo cho anh biết thêm và chi tiết nhiều hơn:“Theo hãng thông tấn xã AFP thì người uy hiếp chuyến bay Air Bus 310 do Vietnam Airline thuê của hãng Jess, Bulgary chính là anh Lý Tống. Trên chuyến bay VN-850 từ Bangkok đi Việt Nam, khi đến gần không phận Sàigòn, Lý Tống đã dùng sợi dây điện tròng vào cổ một nữ tiếp viên, lôi cổ cô ấy vào phòng lái và ra lệnh cho hai viên phi công người Bulgary phải bay thật thấp nhiều vòng trên vòm trời Sài gòn, rải hàng ngàn tấm truyền đơn xuống thành phố. Làm xong nhiệm vụ, Lý Tống ra lệnh mở cửa hông để nhảy ra ngoài, nhưng gió đập quá mạnh và sợ bị hút vào máy phản lực, Lý Tống quay trở lại phòng lái, mở cửa sổ và nhảy dù ra ngoài.”Hiện tại tôi chưa biết tình trạng anh ấy ra sao! Có tin gì thêm, tôi sẽ cho anh biết. Đúng là một hành động phi thường, ít ai làm được”.

Tôi đã nghe hết, nghe thật rõ từng chữ một. Tôi cám ơn anh, gác điện thoại rồi nói với anh Ân:

— Anh Chử Bá Anh vừa cho biết người uy hiếp và rải truyền đơn kêu gọi tổng nổi dậy chính là Lý Tống. Các hãng thông tấn xã đã xác nhận như thế.

Có lẽ anh Ân biết tính tình “nói là hành động” của Lý Tống nên anh ấy rất bình tĩnh. Còn tôi, tôi không thể giữ nổi được cơn xúc động, cũng không còn nhớ tôi đã làm gì lúc đó. Có lẽ tôi không khác một người đang mê ngủ, chạy lên gác, lấy thùng đồ của Lý Tống gởi hơn nửa tháng qua với lời dặn: “Chỉ khui thùng khi thấy cần”. Thật ra, không khui thì tôi cũng đã đoán biết Tống đã gởi những gì rồi. Tôi quyết định khui nó trước mặt anh Ân. Anh ấy giục:

— Khui lẹ lên coi thử nó gởi cái gì?

Tôi khui thật lẹ, trên mặt những phong bì màu vàng kaki là một lá thư và một chúc thư có con dấu nổi của luật sư. Tôi lướt thật nhanh qua nội dung và trao cho anh Ân. Soạn đồ ra khỏi thùng: giấy tờ, hình ảnh, băng nhựa video, cassettes, diskets, tập truyện Black Eagle đã lay out và nhiều thứ khác... Cho băng vào máy video, hình ảnh của Lý Tống hiện ra trong bộ võ phục Thái Cực Quyền thật oai hùng, hắn đeo đai đen đệ nhất đẳng đang song đấu với một võ sư to lớn người Mỹ da đen. Tôi buột miệng:

— Nó giỏi thật, đúng là văn võ kiêm toàn!

Anh Ân nhìn vào màn ảnh một cách chăm chú mà không có ý kiến. Hết đoạn đấu võ, phim quay sang một đoạn khác, đoạn này Hùng Cường giới thiệu Lý Tống có đôi lời với cử tọa đang tham dự đêm vận động nhân quyền cho hai người em kết nghĩa của anh ta, đó là Dương Ngọc Cư và Trần Văn Bé Tư. Lý Tống nói và phát biểu ý kiến trong phim rất chân thành đến công cuộc đấu tranh đòi tự do cho quốc gia dân tộc; nói đến những kẻ nội thù đang làm tay sai cho bạo quyền Hà Nội...Lý Tống thao thao bất tuyệt với công cuộc trừ khử những thành phần phá hoại cộng đồng người Việt quốc gia tại hải ngoại. Thứ đó càng ngày càng nhiều, càng lan tràn như một chứng bịnh dịch hạch.

Tôi đứng dậy tắt video, cố lấy lại bình tĩnh để gọi thông báo cho một vài người bạn ở xa. Khi nghe câu chuyện về hành động can đảm của Lý Tống, ai cũng xúc động; có người cứ tưởng là tôi nói giỡn chơi, có người ngạc nhiên đến nổi phải buông những tiếng chửi thề. Lại cũng có người chưa hiểu câu chuyện ra đi của Lý Tống đã vội chê trách là một hành động điên rồ, phi chính trị. Tôi chỉ cười, chẳng thèm tranh luận, bởi Lý Tống đã dùi mài kinh sử hơn tám năm tại đại học UNO về môn chính trị học mà lại bảo người ta “phi chính trị” thì quả là mình mới phi chính trị, nếu không muốn nói là mình chẳng biết đếch gì về chính trị.

Tôi đã từng tranh luận, đấu láo đủ các đề tài với Lý Tống khi còn ở New Orleans, mỗi lần gặp nhau là bàn luận lung tung về thời sự, mỗi ngày anh phải dán mắt vào đài truyền hình trên những mục bình luận để viết bài tham luận thời sự chiến cuộc và tình hình thế giới.

Vụ Thiên An Môn xảy ra ở Trung Hoa Lục Địa, Tống đã mất ngủ nhiều đêm. Dạo đó, thiên hạ cho rằng, nếu phong trào đấu tranh cho tự do dân chủ ở quốc gia này thành công thì chắc chắn Cộng Sản Việt Nam cũng sẽ tiêu tùng. Việt Nam và Tàu như răng với môi, “môi hở răng lạnh”. Nửa đêm Tống kéo tôi dậy:

— Ê, cho mượn một ngàn, ngày mai tôi mua vé đi Bắc Kinh nhập cuộc phong trào sinh viên đang đấu tranh đòi tự do dân chủ?

Tôi đang mê ngủ, nhưng cũng cố nói cho qua chuyện:

— Mai rồi tính, chuyện bên Tàu mắc mẹ gì mình mà lo!

— ĐM, Cộng sản Tàu hay Việt Cộng cũng vậy thôi, tôi muốn bay qua đó nhân danh sinh viên Mỹ xuống đường hợp lực đấu tranh với anh em sinh viên tự do quá! Hàn sĩ thật khổ, muốn thực hiện cái mẹ gì cũng khó! Chiều nay coi Tivi thấy chiến xa bọn Cộng sản dàn trận đàn áp sinh viên, muốn điên người lên.

— Ừ, ngày mai đem credit card đi “cà ” một cái là xong ngay! Nhưng chắc gì bạn được nhập cảnh, tụi nó đang đuổi người ngoại quốc ra khỏi nước để tính chuyện nội bộ của họ đó. Vả lại, mi chưa có quốc tịch Mỹ làm sao vô được Trung Cộng, nhất là trong tình trạng rối ren hiện tại.

Lý Tống vẫn cố nài nỉ:

— Cách nào mà ta qua đó được thì thôi.

Thế rồi Lý Tống không thực hiện được chuyến đi đó vì hai ngày sau Thiên An Môn đổ máu, công an và quân đội đang lùng bắt hàng ngàn sinh viên đưa vào tù. Tình hình chính trị tại Trung Cộng trở nên phức tạp, người chết không còn đếm được, xe tăng Cộng quân chạy bừa lên xác người... Hồi đó, ai cũng hi vọng, cao trào dân chủ tự do đang cháy bùng tại những quốc gia Cộng sản và bộ mặt thế giới sẽ đổi thay. Sinh viên Bắc Kinh làm cú này chắc sẽ thành công.

Cả mấy tuần lễ Lý Tống thở ra thở vào:

— Bọn nó khát máu thật, Cộng sản Tàu hay Cộng sản Việt cũng chỉ một thứ thôi! Đù mẹ giận không thể chịu được.

Lý Tống lấy tay đấm vào cánh cửa. Tôi an ủi:

— Thôi đợi khi nào tình hình Việt Nam coi bộ thuận lợi, cụ mi làm một chuyến cũng chưa muộn. Chắc chắn lúc đó chúng ta sẽ có rất nhiều việc để làm. Tao nghĩ là ngày đó cũng không còn xa nữa đâu.

Ngày bức tường ô nhục ở Bá Linh sụp đổ, Lý Tống vui mừng và nhậu suốt đêm với bạn bè, hàn huyên chuyện dài Cộng sản thế giới. Những ngày biến chuyển trọng đại tại Liên Sô, Lý Tống thức suốt đêm để theo dõi tin bình luận trên các hệ thống cable và gọi liên miên cho tôi về những triển vọng thành công vượt mức của trào lưu dân chủ tự do tại quốc gia này. Ngày tượng Lenin bị dân chúng kéo xuống, Lý Tống khề khà bên kia đường dây điện thoại với ly rượu:

— ĐM, đã quá, sẽ viết một bài bình luận cho tờ báo của bạn đó.

Con người của Lý Tống là vậy, anh chọn con đường chính trị và đã triền miên thao thức, ưu tư vì quê hương đang ngụp lặn trong gông cùm tủi nhục. Từ những thao thức đó, anh đã trui rèn cho chính con người anh một hướng đi rõ ràng:

— Mỹ nhân là họa thủy, anh hùng mới thiên thu. Gia đình là gánh nặng cho bước chân đi tới của mình, nhất là trong giai đoạn hiện tại. Đất nước đang cần những người trai không bị một ràng buộc nào cả. Mình phải thực hiện tư tưởng khác người, sự lựa chọn khác người mới xứng đáng làm trai khi đất nước đang cần bàn tay của mình đóng góp một cách tích cực. Sanh sanh, hoá hoá chỉ làm khổ cho tha nhân. Trên thế giới này có rất nhiều người sống độc thân với tâm nguyện hiến dâng đời mình cho đất nước; nhất là một quê hương dân tộc đang sống trong nghiệt ngã khổ đau, cả một thế hệ thanh thiếu niên đang bị những tên lừa bịp quăng vào sọt rác, Lý Tống sẽ phải làm một cái gì đó. Cái đó là cái hạnh phúc nhất trong nội tâm tôi.

— Chứ không phải ở vậy để chôm được nhiều người đẹp sao?

— Cũng già rồi, còn mẹ gì nữa! Hơn nửa đời người mà chưa làm gì được cả!

Lý Tống là một mẫu người rất có chiều sâu trên nhiều phương diện. Bề ngoài, người ta chỉ nhìn anh qua lăng kính thâu hẹp của những cuộc vui, nhảy đầm, yêu đương loạn xạ ....Thế nhưng, trong nội tâm anh là cả một vòm trời bao la về quê hương đất nước. Không làm thì thôi, làm gì thì chỉ có trời cao mới hiểu nổi.

Lý Tống mê đọc sách hơn mê mỹ nhân. Trong tủ sách tràng giang đại hải về môn chính trị mà anh theo học hàng ngày, cặm cụi chăm chỉ, nhưng anh cũng dành thì giờ để nghiên cứu văn chương thi phú. Phải nói là anh thuộc lòng cả những bài cổ văn mà tôi nghĩ là rất khó nhớ ở những lớp trung học.

Có tiếng điện thoại của tiến sĩ Stephen Ambrose, người cùng đứng tên với tôi trong chúc thư số một, gọi đến từ New Orleans đầy những lo lắng của tình thầy trò:

— Xin giới thiệu, tôi là giáo sư Ambrose, cho tôi gặp ông Lương?

— Hân hạnh được gặp giáo sư, tôi đây.

— Anh nhắn tin trong máy ghi âm về chuyện Lý Tống?

— Giáo sư đã nghe về chuyện Lý Tống rồi chứ?

Tôi kể sơ qua chuyến về của Lý Tống, ông ấy thở ra đầy vẻ lo lắng:

— Không biết Lý Tống nhảy dù xuống rồi ra sao rồi!

— Tôi cũng không rõ, có gì tôi sẽ gọi cho giáo sư ngay.

GS. Ambrose nói rất thận trọng:

— Để rồi tính, chắc chắn là chúng ta phải làm gì cho Lý Tống.

— Dạ, còn cuốn tự truyện Black Eagle thì ông nghĩ sao?

— Chừng nào nhà xuất bản ở New York chịu phát hành thì họ sẽ gọi chúng ta. Tôi nghĩ nhân vụ này, sách của Lý Tống sẽ có giá hơn.

— Tôi cũng hy vọng như vậy. Còn vấn đề an toàn cho Lý Tống, ông có giúp gì được không?

— Tôi sẽ vận động, sẽ gọi anh sau.

Gác điện thoại, tâm hồn tôi bỗng dưng rối loạn như lửa đốt. Tôi lại đốt thuốc lá, nhìn anh Ân như muốn được chia sẻ những ưu tư lo lắng đang rối bời trong trí óc. Tôi soạn những món đồ kỷ niệm mà Lý Tống gởi, đặt lên bàn. Một phong bì đầy hình ảnh cũ mới: hình màu, hình đen trắng, chụp chung với bạn bè, chụp một mình với phi cơ huấn luyện, với dù, với bộ đồ pilot màu cam mà anh rất ưa. Tất cả những thứ đó như nhảy múa trước mắt tôi, tôi nghĩ:

— Mày gan thật, mày oai hùng thật, chuyện mới nghe chắc chắn người ta cứ tưởng mày đang đóng phim, một loại phim sống mà người quay phim là dân, là công an, bộ đội súng ống ập tới dúi vào người mày thay vì những chiếc cameras tinh vi ở Hollywood.

Tôi gọi cho người chị ruột của Tống ở Tulsa, Oklahoma. Bên kia đường dây, chị ấy lặng thinh khi nghe tôi nói về bản tin. Có lẽ những giọt nước mắt nóng đang trào ra trên đôi má hiền lành của một người thân cật ruột. Tôi chẳng biết gì hơn, chỉ còn an ủi chị ấy, không biết tôi an ủi chị ấy hay tôi đang an ủi cho chính tâm hồn tôi. Cố dằn cơn xúc động, nhưng vẫn thấy đắng họng, bởi những cảm xúc tự nhiên của tình bạn, tình anh em, tình người...

Bên kia đường dây chị ấy kể:

— Qua đây được một năm rồi, cứ trông cậu ấy qua thăm một chuyến, nhưng cứ nói bận học không đi được! Bây giờ thì hết rồi!

Chị lại im lặng! Tôi nghe những quặn thắt trào dâng trong lòng. Tôi nói để trấn an:

— Chị ạ! Tống nó ra đi vì đại cuộc, đành rằng mình thương thì mình lo sợ...Nhưng tôi nghĩ chẳng thằng nào làm gì Tống được đâu. Với cái tinh thần bất khuất đó, tôi nghĩ không sao đâu.

— Cách đây hơn một tháng, cậu ấy có gọi và nói đến cái vụ này...tôi có can và đòi phải qua thăm tụi tui một chuyến...rồi tính gì thì tính...25 năm rồi chưa gặp được em! Chừ trên đất người hi vọng được gặp, thì lại không gặp được! Lần cuối cùng...tui năn nỉ cậu ấy, nhưng cậu nói đừng mềm yếu và sau đó cúp luôn đường dây điện thoại. Đó là lần cuối tôi nghe giọng nói của Tống.

Tôi lại an ủi, biết rằng những lời an ủi trong lúc này chẳng có một giá trị nào cả trước nỗi đau quặn thắt của một người thân. Nhưng biết nói gì ngoài những lập luận thông thường để trấn an chị ấy. Tôi chào tạm biệt chị, đốt điếu thuốc, lặng người suy nghĩ vu vơ một lát thì tiếng anh Ân đánh thức tôi quay về thực tại:

— Coi thử còn gì nữa không?

— Hai bản thảo luận án tiến sĩ dày cộm nằm riêng trong một phong bì.

— Phong bì kia?

— Những lá thư tình của H. của N. của M...

Tôi không còn trí óc để đọc những lá thư tình giấu kín này nữa. Anh Ân không còn đặt những câu hỏi về Lý Tống, ngồi yên lặng trên chiếc sa-lông đưa mắt qua cánh cửa kiếng sau nhà. Buổi sáng trời mùa Thu âm u và buồn. Gió đổi mùa mang theo những giọt mưa bay bay tạt vào cửa kiếng nghe thật rõ. Chúng tôi im lặng, mỗi người đang thả hồn về một khoảng thời gian nào đó trong ký ức, tự mình vẽ lại những bức tranh thật đẹp về Lý Tống. Im lặng! Không còn lời nào để nói với nhau nữa. Anh Ân thở dài, có lẽ anh ấy đang quay về quá khứ xa gần với Tống: đời phi công chiến đấu hào hùng trên vòm trời đất mẹ, một mình một con tàu tung mây lướt gió... và những ngày buồn vui tại thành phố buồn New Orleans. Còn tôi, mang đầy ân hận là đã không vui với Tống qua điện thoại trước khi lên đường. Tôi nhớ lại hôm đàm đạo sau cùng:

— Làm gì cũng phải có hậu thuẩn mới thành công được? Hãy suy nghĩ thật kỹ?

— Hậu thuẩn từ chỗ nào? Ai? Gần mười tám năm rồi, hải ngoại làm được cái gì? Chỉ biết nói, nói, nói và nói nhiều!

Hắn cúp điện thoại, có lẽ tôi đã làm nó cụt hứng. Tối hôm đó, Tống gọi cho nhà tôi nói chuyện thật vui vẻ, chào tạm biệt và hẹn ngày tái ngộ khi đất nước hồi sinh. Chúc các cháu học hành thành tài để mai này trở về phục vụ cho quốc gia sau khi CS sụp đổ. Tôi vẫn tin là Tống không bao giờ giận tôi, dù là những đóng góp nhiều khi rất nghịch ý.

Lại nhớ tới hôm đàm đạo với Tống vào giữa tháng Bảy về hai bản di chúc. Đó là một sáng Chủ Nhật, Tống cũng đánh thức tôi dậy sớm:

— Ê, giờ này mà còn trên giường thì đấu tranh, đánh trâu cái mẹ gì?

— Ừ, tối hôm qua thức khuya viết bài, ngày mai báo lên khuôn ông nội ơi! Đúng là cái nghề mệt mỏi nhất trong xã hội tạm dung này!

— Cho xin số social security của anh có chút việc?

— Làm gì?

— Thì ĐM. Làm gì cũng được. Sợ tui black mail chuyện tình hay sao? Nói đưa là cứ đưa, không nên thắc mắc, được không?

Tôi cười rồi đọc số an sinh xã hội cho nó và cũng chẳng thèm hỏi tới mục đích của bạn. Cũng chẳng cần biết nó làm mẹ gì với cái con số đó, nhưng tôi cũng đoán biết là Tống đang có dự định làm gì lớn lắm nên mới hỏi tới số an sinh xã hội. Hai hôm sau hắn gọi lại:

— Xong rồi.

— Xong chuyện gì?

Lý Tống im lặng một giây lâu rồi cất tiếng rất chững chạc:

— Tôi đã ra luật sư nhờ họ viết một văn kiện ủy quyền và một chúc thư cho anh.

Tôi ngạc nhiên:

— Để làm gì? Chuyện gì mà có vẻ trọng đại như thế?

— Tôi sắp đi xa, không biết có còn ngày gặp lại anh hay không!

Tôi giữ im lặng. Lại nghĩ chắc nó nổi máu “Thiên An Môn” nữa rồi:

— Cứ giỡn hoài, có chuyện thì cứ nói đại lên đi?

Lý Tống nói rất bình tĩnh:

— Chuyến đi này chết bảy phần, thành công và sống sót chỉ có ba phần.

— Không chắc ăn như vậy thì sao lại làm?

— Mọi việc trên đời này nhiều khi đều do định mệnh an bài, nhưng việc cần làm thì phải làm, chúng ta không thể ngồi chờ sung rụng được nữa! Tôi phải làm một cái gì đó cho quê hương đất nước. Anh hiểu điều tôi nói chứ gì? Đã đến lúc tôi phải ra đi...Điều tôi làm chắc chắn rồi đây anh sẽ hãnh diện là đã có một thằng bạn như tôi.

Tôi có cảm tưởng như anh ấy đang chán đời vì một sự việc gì đó, nên mới gọi tôi để thổ lộ tâm tình. Tôi nói ngay:

— Làm gì thì cũng phải bình tĩnh. Vả lại, đang chờ ra hội đồng để đội áo mão tiến sĩ lại đòi đi đâu nữa đây?

— Anh đã biết nhiều về con người tôi rồi, cần gì phải giải thích mất thì giờ và tốn tiền điện thoại. Tôi đã sửa soạn cho cuộc hành trình này gần cả năm nay rồi. Tất cả đều đã chuẩn bị chu đáo, chỉ chờ ngày lên đường. Tuần sau anh sẽ nhận đồ tôi gửi và nhớ làm theo lời dặn là tôi vui rồi. Nếu được thì về đây chơi với tôi ít ngày có được không?

— Mới về thăm các bạn hôm tháng Năm rồi. Đi mãi bỏ công việc không ai làm!

— Vậy thì thôi, hẹn ngày gặp lại...

Suốt mấy ngày liên tiếp tôi sững sờ như một người lạc hồn. Báo lên khuôn, tôi chẳng viết lách gì được cả! Điện thoại bạn bè tới tấp gọi về thăm hỏi. Các tờ báo bạn ở xa muốn biết thêm tin để lên khuôn. Tôi không biết phải làm gì lúc đó! Trường Sơn Lê Xuân Nhị liên lạc thường xuyên và thúc giục phải lên tiếng để đốc thúc tinh thần đấu tranh của tập thể người Việt quốc gia tại hải ngoại. Ngọn lửa Lý Tống đã đốt lên trong lòng dân tộc, chúng ta quyết chí gom sức để tiếp nối ngọn đuốc ấy đang bừng bừng bốc cháy:

— Anh thấy không? Có ai so sánh được với Lý Tống? Những ngày cuối cùng với chúng tôi bên này, anh ấy rất bình tĩnh, lộ trình hành động cũng được sửa soạn rất kỹ càng.

Tôi thở dài:

— New Orleans là nơi xuất phát của Lý Tống, bên đó anh em đã làm gì chưa?

— Lu bu nhiều chuyện quá, chắc phải đợi vài ngày nữa coi tin tức ra sao rồi gặp anh em bàn chuyện cũng chưa muộn.

— Tuần sau tụi tao xuống.

Cuối tuần đó, anh Ân, Thục và tôi đi New Orleans để gặp gỡ anh em bạn bè. Sau gần 10 tiếng đường bộ, từ xa lộ I-20, băng qua 49 rồi vào I-10. Ngồi trên xe, chúng tôi nghe hết hai cuốn băng cassette mà Tống thâu lại từ nhiều cuộc đàm thoại với một người bạn cùng khóa 65A mới qua định cư tại Cali. Trong cuốn băng đàm thoại ấy, có lẽ được thu vào khoảng tháng Ba năm 1992, nội dung của nó có rất nhiều mẫu chuyện khác nhau: chuyện hoạt động của những anh em mà Lý Tống móc nối bên nhà, chuyện ưu tư về quê hương đất nước...

Người bạn trong cuốn băng tiết lộ rằng, trước khi ra đi theo diện HO, anh đã bị bọn công an kêu lên điều tra nhiều lần vì những thành tích hoạt động của Lý Tống. Có lẽ hai lá thư mà Lý Tống đã gởi: một cho Nguyễn Văn Linh năm ngoái và một lá thư khác gởi cho Võ Văn Kiệt đã làm anh ấy bị kêu lên phòng điều tra chăng? ” Tụi nó coi mày (Lý Tống) và tướng Lê Quang Lưỡng là thành phần cực kỳ nguy hiểm...” Đó là lời nói của người bạn Lý Tống trong băng.

Chúng tôi đã nghe đi nghe lại nhiều lần về hai cuốn băng. Trong đó, anh đã sửa soạn rất kỹ cho chuyến về quê hương đầy dũng cảm này.

Đến nửa đêm chúng tôi mới mò vào thành phố New Orleans. Thành phố về đêm đã buồn, lại càng buồn hơn khi anh Ân cho xe chạy vào những con đường cũ quen thân. Mười mấy năm ở đó, dù không phải là nơi chôn nhau cắt rốn, nhưng tôi vẫn cảm thấy như có một cái gì đó lâng lâng ở trong tâm hồn. Kỷ niệm những ngày đầu tiên đặt chân lên thành phố này hiện ra rõ ràng như một bức tranh sống.

Một sớm một chiều quẳng gánh ra đi, rồi đến nơi này, ở nơi này 13 năm, buồn vui với những người đồng cảnh ngộ. Ôi nhiều quá! Khó mà nhớ hết...

Băng qua con đường Canal, khu vực Chinatown bây giờ đã trở thành một bãi đậu xe, chẳng còn một dấu tích nào của một khu phố Tàu hồi trước. Ở đó, ngày xưa thật vui, cuối tuần có quán Làng Văn, bà con thường ghé lại nghe nhạc thính phòng, có Dancing Club do Lý Tống đảm trách một giai đoạn. Lý Tống và khuôn mặt “coi trời như ngọn rau má” của nó lại hiện ra trước mắt tôi. Tôi nhắc đến Tống, anh Ân bảo đừng, sợ nó nhảy mũi. Giờ này nó đang nằm trong tù chắc phải nhảy mũi lia lịa vì hàng triệu người Việt trên thế giới dù quen hay không quen cũng đang nhắc tới sự trở về đầy dũng cảm hào hùng của nó. Tên tuổi của Lý Tống đã đi vào lòng dân tộc kể từ đây.

Phố xá của nước Mỹ luôn luôn có những đổi thay theo nhu cầu sinh sống của cư dân, xe cộ càng ngày càng nhiều thì đường sá phải sửa sang, mở rộng để giải quyết vấn đề lưu thông ứ đọng. Hồi mới qua năm 75, từ Đông ngạn thành phố New Orleans, qua con sông Mississippi để tới vùng Tây ngạn chỉ có một cây cầu mà người Việt mình thường gọi là cầu con Cò. Cây cầu này có 4 lane, thế mà xe cộ lúc nào cũng ứ đọng, nhiều khi chờ cả tiếng đồng hồ mới qua được cầu!

Bây giờ thì đã khác rồi, kinh tế Louisiana gần 10 năm nay cũng suy sụp theo cơn lốc dầu lửa như các tiểu bang Texas, Oklahoma... nhưng chính phủ vẫn phải gồng mình bắc thêm một chiếc cầu song song với chiếc cầu cũ để phục vụ người dân thành phố. Nghe nói, bắc cầu xong là đã giải quyết được nạn kẹt xe. Hồi trước hẹn hò với ai ở phía bên kia cầu thì phải coi chừng trễ hẹn.

Còn nhớ, hồi Lý Tống ở chung với tôi ở Marrero, vùng Tây ngạn, anh ta cứ càm ràm về nạn kẹt xe mỗi ngày từ nhà tới trường. Ban đêm thì cặm cụi với đèn sách đến hai ba giờ sáng. Sáng mò qua cầu đi học mà trễ giờ là cả một vấn đề bất tiện. Lý Tống sắp đặt thời khóa biểu rất thứ tự: giờ đi học, giờ làm bài, giờ giao báo, giao hàng, giờ hẹn đào, giờ điện thoại... Tất cả đều tự mình đặt theo khuôn mẫu mực thước. Cuối tuần sau khi đã hoàn tất bài vở là có thể ghé chơi với bạn bè khề khà vài ba ly, thế nhưng gặp mùa thi cử thì Lý Tống gác lại tất cả những chuyện lẩm cẩm... Một cô bạn gái nào đó vô phước gọi anh vào những ngày thi cử thì coi như ...đi luôn.

Bạn bè gần xa thường cho rằng Lý Tống không bao giờ bỏ mất cơ hội khi gặp một mỹ nhân nào đó, nhưng tôi cho là không có nghĩa gì với Lý Tống cả, bởi tôi đã chứng kiến cái gọi là “kiếm sĩ vô tình” của anh. Anh vẫn thường lý luận: “Cái hạnh phúc nhất là sống thật cho mình”. Rất hiện sinh. Anh thường cho rằng thiên hạ cứ luẩn quẩn mãi trong cái vô thường của trời đất... Cứ thế mà đi tìm kiếm những cái “có” để thoả mãn những nhu cầu bình thường của con người. Tại sao lại không đi tìm những cái “không” để được hạnh phúc trong những cái “không” đó. Tình yêu cũng vậy, có đó mà không đó, có cái gì là vĩnh cửu đâu!

Nói thì nói, nhưng người tình của Lý Tống nhiều lắm, thế mà anh vẫn thường tâm sự: “Rốt cuộc chẳng thấy yêu ai cả”! Ta đã thắng ta, trận chiến quyết liệt nhất của con người là mình thắng được bản thân mình, chống lại được những cám dỗ của chính mình. Nghĩa là trước mắt Lý Tống chẳng có gì là quan trong cả, ngoại trừ những khắc khoải về quê hương, dân tộc.

Những cuộc tình của Lý Tống đến và đi như trời đất đổi mùa. Thế nhưng, bao giờ cũng sôi nổi ghê gớm và được mô tả là những cuộc tình lớn. Ngoài Hạnh, tôi cho là một cô Giang của người anh hùng dân tộc Nguyễn Thái Học, Lý Tống còn những cuộc tình lớn nhỏ mà tôi biết qua. Trong đó có NB, một nhân vật khá nổi tiếng, đã từng thư đi tin lại với những bài thơ “nhập cuộc” đầy lãng mạn, da diết...

Có lần tôi đã phụ họa với anh một vài câu thơ mà chắc anh ấy sẽ không bao giờ quên:

“Ngải Thần đây sẽ sẵn sàng”

“Đưa em lên dạo thiên đàng một phen”

“Thử một lần, rõ trắng đen”

“Tiếc chi bình rượu lên men uổng đời”.

Lý Tống với cái đa tình, lãng mạn, yêu thơ, yêu nhạc; nhưng không có nghĩa là không dứt khoát, bởi anh ấy không đặt con tim cho những cuộc tình riêng tư trên tình yêu đất nước:

“Mỹ nhân vẫn là họa thủy, anh hùng mới thiên thu”.

Anh ấy thường nhắc đi, nhắc lại sau những cuộc tình ngắn, tình dài... nhưng anh nhất định sống độc thân để tránh những ràng buộc gia đình, vì bổn phận của chồng, cha.

“Nhưng mà Thượng đế đã tạo ra ta thì âm dương phải hòa hợp, Lý Tống không phải là Thánh, ĐM. ai nói như vậy là đạo đức giả”.

Trong những lá thư cuối cùng gởi bạn bè trước khi lên máy bay để thực hiện chuyến về lịch sử, Lý Tống cũng đã sống rất thật cho mình:

“Làm và hưởng, hai việc không thể tách khỏi nhau.”

Cái quan niệm rất người đó đã nói lên tinh thần dứt khoát của anh. Ngày mai lên đường để đi vào lòng địch với muôn ngàn nguy hiểm, nhưng hôm nay ta vẫn sống bình thản và vui để người khác cùng vui... “mỹ nhân đã không làm cho ta chùng bước và cũng chẳng làm cho ta tiếc nhớ một đêm”...

Buổi sáng đầu Thu, trời New Orleans bỗng âm u và buồn lạ lùng. Có lẽ mùa Thu là mùa của chia ly, tan vỡ cũng đúng. Tống đi rồi, con đường mang tên West Bank Expressway quen thuộc, với lối đi về biết bao nhiêu năm qua, không còn rộn tiếng cười của những người anh em, bạn bè đã từng “chén tạc chén thù” để đốt cháy những ngày tháng dư thừa trên phần đất tạm dung. Chúng tôi gặp lại Nhị, Đông, Đức, Cường, Tâm, Thanh... bên chén trà để ôn lại những ngày cuối cùng với Lý Tống. Cường kể:

“Những ngày cuối với anh Lý Tống, trong căn nhà đầy kỷ niệm này. Đây là chỗ anh ấy nằm, chỗ anh ấy khề khà dăm ba ly rượu tiễn của bạn bè cùng chí hướng thân quen.”

Cường kể lại bằng những cảm xúc của một đứa em bên cạnh Lý Tống vào những chiều sau giờ tan sở, những đêm dài tâm sự về kế hoạch của chuyến trở về.

Lập Đông ngậm ngùi ôn lại kỷ niệm bên Tống và những chuyến lang thang đầy thích thú với một con người sống thật cho mình, lột tung cái nhân sinh quan của cuộc đời. Đôi khi, với cái quá “đàn ông tính” của anh đã làm cho một số người không ưa. Nhưng thiết nghĩ ở đời thiếu gì những người sống giả tạo với cái bề ngoài, sau lớp mặt nạ bôi son thoa phấn, nhưng thật sự bên trong là cả một đống sình. Lý Tống đã sống rất thật, sống cho mình và sống cho tha nhân, không câu nệ, không chấp nhứt, không hoa lá cành.

Buổi tối ở nhà Nhị với những ly rượu buồn:

“Ly này cho Tống, anh em tao ngồi đây để kể cho nhau nghe về con người có một không hai của bạn... Bây giờ bạn đang nằm trong một khám đường cùm xích nào đó ngay chính trên quê hương mình, nhưng mà có thấm béo gì với ý chí dũng cảm, với tinh thần vô úy mà anh đã đạt được. Uống đi bạn! Không phải là ly rượu tiễn mà là những ngậm ngùi, hãnh diện, chia sẻ với anh từ trong đáy lòng của những chiến hữu dù đang cách xa một nửa trái đất, nhưng luôn luôn nằm sẵn trong ký ức của anh, của chúng tôi cho đến hơi thở sau cùng.”

Ngày mai trời sẽ sáng, quê hương rồi một ngày không xa, ánh sáng tự do sẽ bùng dậy. Trên lối về rợp bóng cờ bay, chúng tôi sẽ hát lên khúc “Anh Đã Về” mà anh vẫn ưa nghe nhất:

“Anh đã về, vui mừng me trông đợi”

“Hoa tự do đã trẩy nhánh ruộng đồng”

“Khắp thôn làng, rộn ràng luồng gió mới”

“Quê hương ơi! Ngày nắng ấm đã hồi sinh.”

Tôi muốn viết về anh thật nhiều, nhưng không thể viết được nữa, bởi anh có quá nhiều chuyện để viết, và ngòi bút của tôi không đủ khả năng để viết về con người phi thường của anh. Thật sự, tôi cũng không biết phải bắt đầu từ đoạn nào để kể lại con người và nếp sống hào hùng của anh.

Anh đã sinh ra và lớn lên trên một quê hương chiến tranh ly loạn. Từ khi mở mắt chào đời, anh đã ngửi mùi thuốc súng, làm quen với đạn bay bom nổ cày nát xóm làng. Nhưng trong lòng anh, bao giờ cũng mơ được nhìn thấy một quê hương no ấm, thanh bình, không chiến tranh, không hận thù, cởi bỏ xiềng xích để xây dựng lại một Việt Nam thịnh vượng, tạo dựng một thế hệ con em cường tráng từ tinh thần đến thể xác để ngẩng mặt lên với cộng đồng thế giới.

Anh cũng thường mơ thấy, ở đó là quê hương với hồn thiêng sông núi... mẹ già, em bé, một sáng ra đồng chăm sóc những bó lúa mạ xanh non đang vươn mình trong nắng Tự Do. Và bên kia dòng sông, một điệu hò Mái Đẩy vút cao trong gió thanh bình.

Tôi cũng mơ thấy, một ngày không xa sẽ gặp lại anh trong tiếng cười rộn rã, nhắc lại những ngày lưu lạc trên xứ tạm dung. Và chắc chắn tôi sẽ cùng anh làm nốt bài thơ một thời dang dở...

Trương Sĩ Lương


---

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

Hệ thống Taxi -ở Sàigon

Ở Sàigon hiện nay có nhiều hệ thống Taxi . Trên đường phố lúc nào cũng có Taxi ,loại 4 chỗ ngồi , 7 chỗ ngồi hoặc 12 chỗ ngồi .

Ai muốn xử dụng Taxi để đi lại ,ở nhà dùng Điện thoại gọi 6 số trùng nhau ,chỉ 5 phút hay 10 phút sẽ có xe tới tận cửa nhà đón .Tỉ dụ 28.28.28 hay 45.45.45.Vì khi bạn gọi số điện thoại qua Tổng đài , ở Tổng đài sẽ gọi cho các Taxi đang di chuyển trên các đường phố.Xe nào trống ở gần nơi khách gọi. nên xe đến mau chóng.

Trước cửa phi trường có rất nhiều Taxi đón Khách Việt kiều về nước ,nhà ga Xe lửa hay các bến xe Miền Tây - Miền Đông.

Theo tôi nhận thấy hệ thống Xe Taxi màu xanh lá cây của Công Ty Mai Linh mạnh nhất .Ở Tỉnh nào cũng có . Ở Sàigon nhiều nhất.
Bạn cần đi Miền Tây bất cứ Tỉnh nào cũng có xe chạy 1 tiếng đồng hồ có 1 chuyến.

Tỉ dụ đi Cần Thơ .Chỉ cần ra Ngã bảy đầu đường Lê hồng Phong là nơi bán Vé. Mua vé xong , sẽ có taxi chở ra bến xe Miền Tây miễn phí.Tới nơi ,tìm kiếm số xe hợp với vé đã mua là có quyền lên xe. Xe 12 chỗ ngồi , nếu không đủ ,tới giờ xe vẫn chạy .

Đa số tài xế là bộ đội phục viên. nên Tài xế lái rất cao bồi. Chạy bạt mạng , thậm chí chạy vượt mặt ngược chiều với xe khác Tỉnh bơ.

Nghe nói Công Ty xe Mai Linh ,là tên con gái.Con của một Tổng bí Thư đã chết Nguyễn văn Linh.

Công Ty Mai Linh còn hợp tác với Công Ty Phương Trang ở Nha Trang , xử dụng loại xe 50 chỗ người để chở Tây ba lô đi du lịch các Tỉnh.

Thậm chí , cần xe thuê bao cũng có. Tỉ dụ đi Sàigon -Vũng tàu đi về trong ngày là 1 Triệu đồng VN gần 100
dollars Úc .

Khi lên Taxi , tài xế sẽ bấm đồng hồ để tính Tiền. Tuyệt đối đừng tiết lộ mình là Việt kiều sẽ bị chém. Tiền dư sẽ không thối lại.Xe Taxi nào cũng gắn máy lạnh.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

CẦN THIẾT MỘT BẢO TÀNG VIỆN VỀ TỘI ÁC ĐẢNG CSVN
Nguyễn Gia Tiến ( Thụy Sĩ)


Nhìn lại các thảm kịch trong lịch sử Thế giới gần đây, người ta thấy vài sự kiện nổi bật như cuộc diệt chủng 6 triệu dân Do Thái (gọi là Shoah hay Holocaust) bởi chủ nghĩa Nazism của Phát Xít Đức, cuộc tàn sát 2 triệu dân Cam Bốt bởi nhóm Cộng Sản Khmer Đỏ Pol Pot …
Các tội ác đối với Nhân loại này đã được ghi lại, không phải chỉ trên tài liệu sách vở tản mác khắp nơi, mà bằng những Viện Bảo Tàng trưng bày các chứng tích cụ thể liên quan đến các thảm trạng, thiết lập ngay tại các địa điểm đã xảy ra cuộc tàn sát.
Nói đến cuộc diệt chủng Pol Pot, người ta được nhìn thấy tận mắt những căn nhà trưng bày hàng đống sọ người, các phòng giam với những dụng cụ tra tấn, hình ảnh hàng trăm nạn nhân trên vách tường. Nói đến cuộc diệt chủng Nazism người ta có viện bảo tàng thiết lập ngay tại trại tập trung Auschwitz, Ba Lan, nơi đã xây dựng các lò thiêu xác, các phòng hơi ngạt, mà nay vẫn còn được giữ nguyên ve.n. Thảm trạng do Phát Xít Đức gây ra đã hằn sâu trong tâm khảm người dân Âu Châu, khiến một vài quốc gia đã phải đặt thành luật, kể như một tội trạng vi phạm luật pháp, nếu người nào đưa ra những lời tuyên bố công khai phủ nhận thảm kịch Holocaust.
Vừa qua Cộng Đồng Âu Châu còn thảo luận việc đặt điều kiện cho nước Thổ Nhĩ Kỳ (Turquie) muốn gia nhập Liên Âu, thì phải xác nhận cuộc diệt chủng đối với người dân Armeniens hồi đầu Thế kỷ 20. Đầu năm 2005 vừa qua, Âu Châu cũng tổ chức long trọng kỷ niệm 60 năm giải phóng trại tập trung Auschwitz. Các trường học tổ chức nhiều phái đoàn học sinh đi thăm viện bảo tàng Auschwitz để cho giới trẻ thấy tận mắt các lò thiêu xác.
Các hành động trên đây không phải xuất phát từ sự « hận thù » các kẻ gây tội ác. Đây chính là để đánh động cái « Bổn phận phải nhớ », người Pháp gọi là « Devoir de mémoire », nơi các thế hệ thanh niên mai sau. Nếu các cuộc diệt chủng này luôn luôn được nhắc nhở, được ghi nhớ, không bị rơi vào quên lãng, người ta hy vọng chúng sẽ bớt xảy ra trong tương lai.
Tháng 1 năm 2006 vừa qua, nghị viện Âu Châu cũng đã thông qua nghị quyết 1481, chính thức lên án trước dư luận Quốc tế những tội ác do các chế độ Cộng Sản gây ra. Mặc dầu chậm trễ nhưng đã được cả thế giới hoan nghênh, vì thực là mỉa mai khi chỉ ghi nhớ 6 triệu nạn nhân Do Thái, mà lãng quên 100 triệu nạn nhân của chủ nghĩa Cộng Sản !
Tin tức rất thời sự là mấy ngày vừa qua, ngay tại Thủ đô Washington, nguời Mỹ đang sửa soạn xây cất một đài kỷ niệm nạn nhân các chế độ Cộng Sản. Các nước Đông Âu từng là nạn nhân sẽ tích cực tham gia. Cộng đồng Tị nạn Việt Nam chắc chắn sẽ có phần đóng góp vào việc xây dựng tượng đài này.
Trở lại Lịch sử Việt Nam gần đây, thảm kịch gây ra cho đất nước bởi tập đoàn Cộng Sản Hồ Chí Minh đã không thua kém các cuộc diệt chủng của Pol Pot, của Hitler. Ngoài trận chiến nồi da sáo thịt 1960-1975 do Hồ Chí Minh khởi xướng khiến hơn 3 triệu người Việt bị giết, sử sách còn ghi chép những vụ trầm trọng khác như các cuộc tàn sát trong Cải Cách Ruộng Đất, trong Tết Mậu Thân Huế, các thảm kịch về Thuyền Nhân, về Trại Tù Tập trung … Người Cộng Sản kỳ cựu Trần Độ đã phải ví von các tội ác của Cộng Sản Việt « bằng cả Hitler lẫn Tần Thủy Hoàng cộng lại » !
Cho nên người ta không ngạc nhiên khi từ mấy chục năm nay, tập đoàn Cộng Sản Hà Nội tìm đủ mọi cách để tẩy xóa các thảm kịch này trong ký ức người dân Việt và quốc tế. Vừa qua chúng đã làm áp lực để đục bỏ đài kỷ niệm Thuyền nhân tại Mã Lai, tại Indonesia. Gần đây nhất chúng đang sửa soạn san bằng nghĩa trang Quân Đội Biên Hòa.
Và chúng ta đừng quên rằng Cộng sản rất không ngoan trong việc tuyên truyền, là đã xây ngay bảo tàng « Tội ác Mỹ Ngụy » sau khi chúng chiếm được Sài Gòn.
Mỉa mai hơn cả là tại Hải ngoại lại có những luận điệu tiếp tay, lên tiếng phụ họa, kêu gọi « xóa bỏ quá khứ », coi như chẳng có thảm kịch nào xảy ra trên đất Việt trong hơn nửa thế kỷ qua !
Lưu vong ra nước ngoài từ hơn ba chục năm nay, người Việt tị nạn đã có những nỗ lực nào để ghi nhớ các thảm kịch xảy ra trên đất nước mình ? Họ đã làm gì để giải thích với Quốc tế vì sao có 3 triệu người Việt phải rời bỏ quê hương, phân tán khắp thế giới, một hiện tượng chưa hề có trong Lịch sử Nhân loại ?
Gần đây, một số tượng đài kỷ niệm đã được dựng lên. Tiêu biểu nhất là Tượng đài Chiến sĩ tại Little Saigon Miền Nam California, các bia tưởng niệm Thuyền nhân tại Thụy Sĩ, tại Bỉ, tại Đức quốc … Mùa Hè năm 2006, tại Quận Cam, người viết bài được tham dự cuộc triển lãm những chứng tích về các chủ đề như Việt Nam Cộng Hòa, Quân Đội VNCH, về Người Tị Nạn vượt biển. Được biết các chứng tích này sẽ đem trưng bày tại một Viện bảo tàng về các chủ đề kể trên, đang được xúc tiến thành lập tại San José Miền Bắc California.
Trên đây là những biểu hiệu đầy ý nghĩa, đáng ca ngợi của Cộng Đồng Hải Ngoại, trong những nỗ lực nhằm làm sáng tỏ chính nghĩa của Miền Nam, ghi nhớ những thảm trạng đã xảy ra cho người Tị nạn vượt biển. Cũng là để nhắc nhở cho các thế hệ Việt Nam tương lai đề phòng, cảnh giác về các thảm kịch tương tự rất có thể còn xảy ra. Như người Âu Châu đã luôn luôn nhắc nhở con em của họ về cái « Bổn Phận Phải Nhớ ».
Tuy nhiên, vẫn chưa có một Viện Bảo tàng đặt trọng tâm vào chủ đề « Các tội ác của Cộng Sản Việt Nam », tương tự như bảo tàng Auschwitz tại Ba Lan, hay Phòng trưng bày sọ người tại Cam Bốt. Một Viện Bảo Tàng như vậy sẽ là những biểu hiệu đánh động mạnh nhất vào ký ức, vào tâm khảm người xem, và duy trì lâu dài những ấn tượng về một thảm kịch trầm trọng chưa hề có trong Lịch sử Việt Nam.
Một Viện Bảo Tàng như vậy, thích hợp nhất sẽ được thiết lập tại vùng Little Saigon,Thủ đô Tị Nạn, để người Việt Nam và người nước ngoài, mỗi khi đi du lịch, « hành hương », không quên ghé vào. Chỉ trong một buổi thăm viếng, người xem có thể nắm bắt được gần như trọn vẹn, tấn bi kịch lịch sử Việt Nam vừa diễn ra trong nửa thế kỷ qua.
Tại đây sẽ trưng bày những chứng tích, hình ảnh, về các thảm kịch, khởi sự từ thập niên 1930-40 khi tập đoàn Cộng Sản Hồ Chí Minh có mặt trên đất nước.
Các tội ác lớn nhỏ được ghi lại với mọi chứng tích, mọi hình ảnh. Từ việc Hồ Chí Minh làm tay sai cho Quốc Tế Cộng Sản, phản bội bán Cụ Phan Bội Châu cho Pháp. Từ các cuộc tàn sát chiến sĩ quốc gia đối lập với Việt Minh năm 1945-46, qua Cải Cách Ruộng Đất, Huế Mậu Thân. Từ khi Cộng sản thống trị cả nước, với thảm cảnh Thuyền nhân, Trại Tập trung, đàn áp Tôn giáo, Nhân quyền, dâng đất , dâng biển cho Tàu Cộng … Trước đó, thư của Phạm Văn Đồng dâng hiến đảo Hoàng Sa cho Bắc Kinh, trong khi Hải Quân VNCH anh dũng chiến đấu bảo vệ. Rồi núi rừng, môi sinh, bị chúng tàn phá, ô nhiễm. Văn hóa triền miên suy đồi, bán rao đàn bà trẻ em cho ngoại bang. Xuất cảng lao công nô lệ …
Biết bao sự kiện đau thương cần ghi la.i. Chỉ cần các tài liệu về những thảm kịch liệt kê trên đây, nếu tập trung lại, đã đủ xây dựng một Viện Bảo Tàng phong phú. Chứng tích về các bi kịch lịch sử sẽ được nhắc nhở, phơi bày đầy đủ trong một gian phòng. Người Việt Nam khắp mọi nơi, trong và ngoài nước, sẽ tiếp tục thu thập tài liệu, hình ảnh, gửi đến trưng bày, triển lãm, làm cho Bảo Tàng Viện ngày càng hoàn thiê.n.
Không có Bảo tàng lưu giữ, để những chứng tích, những tội ác này chìm vào quên lãng, không hề được đem ra xét xử, sẽ là điều vô cùng bất hạnh cho Dân tộc, vô cùng bất công đối với những người đã bỏ mình oan khuất.
Một khía cạnh quan trọng khác cần gợi ý, là khi thu thập các chứng tích cho Viện Bảo Tàng này, ta có thể nhân đây lập một hồ sơ kiện tập đoàn lãnh đạo Cộng Sản Hà Nội hiện nay về tội « diệt chủng » (génocide) trước Tòa Án Quốc Tế La Haye. Một tiền lệ vừa qua đã xảy ra cho Pinochet, cho Milosevic, và một số thủ lãnh trong cuộc chiến Kosovo. Khi đó, những tên lãnh đạo Hà Nội chắc sẽ phải suy nghĩ, cân nhắc, trước khi chúng bước chân ra nước ngoài.
Ngoài ra, « Viện Bảo Tàng về Tội Ác CSVN » cũng là nơi giải thích sáng tỏ cho Quốc tế, cho người nước ngoài hiểu rõ về cuộc chiến Việt Nam. Đây cũng là câu trả lời thích đáng, hùng hồn, để phản bác lại chiến dịch tuyên truyền bịp bợp của Cộng Sản và giới báo chí ngu xuẩn Phương Tây, luôn luôn xuyên tạc rằng chiến tranh Việt Nam vừa qua là « chống Mỹ giành độc lập » !
Với vận hội may mắn là các phương tiện truyền thông nhanh chóng hiện nay và Internet, chúng ta gửi lời kêu gọi đến 3 triệu người Việt hải ngoại và 80 triệu người dân trong nước. Chắc chắn còn bao người đang sống thầm lặng, đang lưu giữ cơ man những tài liệu, những chứng tích lịch sử. Họ chỉ chờ đợi cơ hội, chỉ mong có một Viện Bảo Tàng như vậy, để gửi tới góp phần, lưu trữ, ghi nhớ một giai đoạn đau thương của Dân tô.c.
Đây là thời điểm quyết đi.nh. Nếu không hành động, các thế hệ sẽ trôi qua, các chứng nhân, chứng tích của Lịch sử cũng sẽ tàn lụi, biến mất. Cộng Sản Việt Nam chỉ mong có vậy, để các thảm kịch chúng gây ra được vĩnh viễn rơi vào quên lãng.
Nhưng ngược lại, nếu vận nước hanh thông, khi quê hương sạch bóng tập đoàn Cộng Sản, thì Bảo Tàng Viện sẽ được di về Thủ đô Hà Nô.i. Địa điểm thuận lợi hơn cả sẽ là Ba Đình, ngay trên nền đất nơi lăng Hồ Chí Minh đã được phá bỏ đi. Bảo Tàng sẽ như ngọn đuốc rọi sáng lại những trang sử đen tối, gột rửa, xua đuổi cái không khí ô uế, tù hãm, đã mấy thập niên bao trùm lên Thủ Đô và đất nước.



Nguyễn Gia Tiến
Tháng 3. 2007

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

Tây Ba Lô

Khu Tây Ba Lô nằm trong khu vực Ngã Tư Quốc Tế bao gồm Ngã Tư Đề Thám và Bùi Viện ,hết con đường Bùi Viện , Đề Thám từ Ngã tư Trần hưng Đạo đến ngã 3 Đề Thám -Phạm ngũ Lão và con đường Đỗ quang Đẩu .

Không biết khu Ngã Tư Quốc Tế biến thành khu Tây Ba Lô từ năm nào , chỉ biết một vài người Tây ngoại quốc ,trên lưng mang một ba lô to tướng đeo lưng quân áo giản dị đến đường Đỗ quang Đẩu mướn phòng với giá nhất so với Khách sạn. Tất cả chỉ cần chỗ nghỉ lưng ban đêm , còn ban ngày Du lịch đây đó hoặc đi Tỉnh chơi.

Không ai , bảo ai , những người Tây ba Lô khắp nơi trên Thế giới đều đến đây để mướn phòng. Càng ngày càng đông , nên rất nhiều Khách sạn mọc lên trên các con đường Bùi Viện ,Đề Thám và Đỗ quang Đẩu.

Và từ đó thêm nhiều Văn phòng Du lịch mở ra để đưa các Tây Ba Lô đi du lịch Từ Nam ra Bắc hoặc ngược lại và các Tỉnh Miền Tây.

Chỉ cần 5 hay 10 , hay 20 dollars USA là có quyền đi Tour Đà lạt , Nha Trang , Huế , Đà nẵng hay Hà nội .
Đa số Tây Ba Lô , chỉ cần có xe đưa họ đến các Tỉnh họ muốn , đến nơi họ sẽ lựa chọn khách sạn ở ,chứ không bao trọn gói .

Ở Khu Tây Ba Lô ,đa số các nhà hàng bán đồ ăn Tây ,và những người chạy xe honda Ôm , Xích lô ,những trẻ lang thang bán hàng lại rành nói Tiếng Anh không do một trường lớp nào đào tạo .Họ vừa nói vừa quơ tay phụ hoạ.


Image

Ngã Tư Quốc Tế - Bùi Viện - Đề Thám


Image

Đường Đề Thám khúc này mới nhộn nhịp nhất là ban Đêm

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

Thị Trường chứng khoán

Image

Hình trên là mặt tiền của ngôi nhà Chứng khoán của thành phố Sàigon trên đường Nguyễn công Trứ - nay gọi là Wall Street Sàigon. Nơi này đã co người dở khóc ,dở cười vì tham gia Mua Cổ phiếu Chứng khoán. Cuối tuần Cổ phiếu đã bị xuống giá.

Image

Người ta đếm tiền ngay tại chỗ để mua Cổ phiếu.Vì chỉ chậm trong giây phút là mất Lời.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Thư độc giả: Vài ý nghĩ về bài phân định lập trường của Ls TH với Cộng Đồng Úc Châu trong Show nhạc “Người ấy và Tôi Em chọn Ai“

Pham Dung, Apr 08, 2007

Trong hai ngày qua tôi đã đọc trên báo chí và các diễn đàn có đề cập đến chương trình ca nhạc với chủ đề “ Người Ấy và Tôi Em chọn Ai” sẽ trình diễn tại Úc Châu vào ngày 13,14 và 15 tháng 04/07 tại Brisban, Sydney và Melbourne do LS Trịnh Hội và Nguyễn Cao Kỳ Duyên làm MC, với ba nghệ sĩ đến từ Việt Nam: Ca Sĩ Lưu Chí Vĩ và hai danh hài Tấn Beo, Tấn Bo cùng các Ca Sĩ hải ngoại Nguyễn Hưng, Đặng Thế Luân, Lưu Bích và Băng Tâm.

Chúng tôi đọc qua bản phân định lập trường của Luật Sư Trịnh Hội và những nhận xét của toàn thể cộng đồng người Việt hải ngoại có cả đúng sai, thương ghét, mỗi người đều có quan niệm và lý lẽ riêng của họ. Chúng tôi luôn tôn trọng, vì chúng ta đang sống trên xứ sở tự do dân chủ ai cũng có quyền phát biểu quan điểm riêng của mình và hành động theo đường hướng mà họ nghĩ là đúng và hợp lý. Chúng tôi không muốn tạo cuộc tranh cãi gây chia rẽ trong Cộng Đồng có lợi cho CS. Chúng tôi muốn góp ý để suy gẫm cuộc đời và thân phận người lưu vong của bậc cha mẹ và lớp con cái của mình. Chúng tôi muốn góp một vài ý kiến thô thiển với mục đích xây dựng và góp thêm kinh nghiệm trong cuộc sống của người Việt Nam đã trải qua nhiều thăng trầm của cuộc sống, đã trải qua quá nhiều đắng cay của vận nước và nỗi bất hạnh của một Tổ Quốc đã chịu đựng hàng ngàn ngàn năm với chiến tranh và đói khổ.

Với cá nhân Luật Sư Trịnh Hội, chúng tôi đã đặt khá nhiều cảm tình và quí mến với những việc làm của anh cho Cộng Đồng người Việt tị nạn CS tại Phi Luật Tân trong những năm qua. Nhưng sau mấy ngày qua, chúng tôi đọc bài “phân định lập trường” của Luật Sư Trịnh Hội bày tỏ thái độ của mình với Cộng Đồng Úc Châu trong một Show nhạc nhỏ. Chúng tôi quá ngỡ ngàng và đau xót. Chính vì niềm đau này đã thôi thúc chúng tôi viết lên những ý nghĩ của riêng mình, với thiện ý kêu gọi mọi người hãy nhìn lại chính bản thân mình, soi rọi ánh sáng vào con tim và nhìn lại căn cước thật sự của mình đã bị mục nát hay chưa sau ba mươi năm làm người tị nạn.

Trong bài “ phân định lập trường” của LS. TH, với cách lý luận mới vừa nghe rất có lý và êm tai, nhưng càng đọc nhiều, càng suy nghĩ càng thấy đau lòng. LSTH nói đúng...Đây là xứ tự do, họ muốn làm gì thì làm, miễn là không phạm pháp thì thôi....xin LS Trịnh Hội nhìn lại vụ Trần Trường đã xảy ra trong mấy năm trước đây để làm câu trả lời và lấy thêm kinh nghiệm trang bị cho quan niệm tự do, công bằng của LS sau này nếu có hành nghề. Nếu LSTH vì bản thân mình để mưu cầu quyền lợi mà quên đi Cộng Đồng, đồng đội, bạn bè, quên đi những ước mơ của cha ông, của dân tộc, đất nước thì quả thật dân tộc VN sẽ còn nhiều bất hạnh. LSTH hãy nhìn lại sư hy sinh để bênh vực (nếu chỉ là tư cách cá nhân) thì điều đó có cần thiết, có xứng đáng không? Nếu điều đó LSTH cho là đúng thì xin LS hãy về VN nói tiếng tự do, dân chủ, công bằng xem họ đối xử thế nào với LS.

LS đã chê bai và hạ Cộng Đồng Úc Châu khá nặng tay là phải biết “động não” nếu họ không biết động não thì gia đình và bản thân LS không được an bình tự tại và giàu có như ngày hôm nay. Cuộc sống đời người là sự liên đối, để kết hợp, để tạo thành, chúng ta không nên qua cầu rút ván. LS đã cho rằng Cộng Đồng Úc Châu bất cứ chuyện gì cũng biểu tình. Biểu tình là hình thức bày tỏ lập trường trong ôn hòa, trật tự và văn minh. Biểu tình không có mục đích chống đối cá nhân mà là sự biểu dương lực lượng bày tỏ lập trường, ý chí cương quyết tranh đấu với chế độ CS trong âm mưu văn hóa vận của chúng trong Cộng Đồng người Việt tại hải ngoại. Sự tranh đấu nào mà không có lý do chính đáng, không có công sức mồ hôi nước mắt và máu. Đừng vì một business nhỏ mà giẫm đạp trên quyền lợi Cộng Đồng.

LS hãy nhìn lại quá trình hoạt động của Cộng Đồng Úc Châu trong nhiều năm qua họ đã hy sinh quá nhiều, họ đã đem cả nhiệt huyết lẫn của cải để phụng sự đại cuộc. để mưu cầu lợi ích cho đồng bào. Họ đã tranh đấu cho mục đích vá ý nguyện của cả một dân tộc là bằng mọi giá phải giải thể chế độ độc tài CS để mang tự do dân chủ cho đất nước, dân tộc. LSTH đã không nhìn thấy điều đó hay sao?

LS Trịnh Hội nên tìm đọc lại bản Nghị Quyết số 36 của Bộ Chính Trị Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng CSVN ban hành ngày 26/03/2004, nhà nước đã nói rỏ chủ trương..” Tố chức( cho các nghệ sĩ)...ra nước ngoài biểu diễn phục vụ cộng đồng...., thường xuyên tổ chức các chương trình giao lưu văn hóa...” như vậy dụng ý của CS như thế nào? đây có phải là cách CS ru ngủ đồng bào hải ngoại, đây có phải là bức màn che dấu tội ác của họ để Cộng Đồng hải ngoại không còn hoạt động chống đối họ nữa!?.

Có đoạn Trịnh Hội viết....Nói một cách ngắn gọn các đại diện Cộng Đồng xác quyết là họ sẽ lên tiếng phản đối việc các văn nghệ sĩ ở Việt Nam sang Úc Châu trình diễn, bất kỳ vì lý do gì và do ai đứng ra tổ chức......Xin lặp lại một lần nữa là Cộng Đồng không chống đối cá nhân một nghệ sĩ nào cả mà cộng đồng chống kế hoạch văn hóa vận của CS đang áp dụng qua nhiều hình thức. Họ (Nghệ Sĩ ) có thể là nạn nhân trong kế hoạch của CS, là nhịp cầu, là con chốt thí để CS làm đà bước sang lãnh vực sau này rộng lớn hơn. Họ bắt đầu từ cá nhân, gia đình, đoàn thể, hoại đoàn rồi lan rộng đến quốc gia v.v và v.v. Chúng ta đã có quá nhiều kinh nghiệm, từng là nạn nhân của chế độ, chúng ta đã hy sinh cả triệu triệu người trên xứ sở, đã chết hàng trăm trăm ngàn người trong những chuyến vượt biên trên biển cả, trong rừng sâu nước độc, trong trại tù không ánh sáng và còn cả 83 triệu dân VN đang sống trong đói nghèo đàn áp hiện nay. Nếu giả thử phải hy sinh hai người bạn của chúng ta trong 'business' nhạc mà có lợi cho cuộc tranh đấu hay quyền lợi cho Cộng Đồng, cho một dân tộc thì LS nghĩ sao, có nên lắm không?!.

Hãy thức tỉnh nhìn sự thật trước mặt đừng đem hai danh từ tự do, dân chủ của xứ người để làm bức bình phong trong lúc này thật chưa đúng lúc. Nước Mỹ sau hai trăm năm mới thực hiện được tự do dân chủ và công bằng. LS đòi hỏi Cộng Đồng thực thi điều đó cho hai người bạn văn nghệ của LS, thử hỏi điều đó có công bằng với Cộng Đồng và đúng với lương tâm của một người LS? Xin lỗi LSTrịnh Hội lòng thương xót, từ tâm của LS cần suy nghĩ lại. Sự biện minh tình trạng nghèo khổ, kiếm gạo của hai nghệ sĩ hề trong nước để đánh đổ lý tưởng chống cộng của Cộng Đồng thì quả là No Heart (xin lỗi lối nói tiếng bồi của tôi). LSTH nên nhìn lại kinh nghiệm trước năm 75 của chính phủ VNCH vì đã tôn trọng lý tưởng tự do dân chủ mà miền Nam đã mất vào tay CS, với sự hỗ trợ của những tay nằm vùng, núp bóng, nhân danh, lợi dụng mọi hoàn cảnh, mọi thủ đoạn và kết qủa là chúng ta đã trở thành người lưu vong. Những nghệ sĩ trong nước có thể là một quân cờ thí của chế độ, là nạn nhân cơm áo và cũng có thể họ sẽ trở thành một lỗ mội nhỏ trong con đê lớn nếu chúng ta không cảnh giác, ngăn đắp từ đầu thì một ngày nào đó đê sẽ vỡ cho dù con đê đó có kiên cố như Hoover Damở Nevada cũng không cản nỗi. Vết dầu đỏ đã lan tràn khắp nơi nếu không thức thời nhìn thấy thì sẽ có ngày nói câu “quá muộn”. Một cán bộ CS không bao giờ vỗ ngực xưng tên, họ núp trong hằng ngàn chiêu bài khác nhau để hành động. Hãy nhìn lại lịch sử sau năm 75 của đất nước, của từng người dân, từng em bé, mẹ già, từng đồng đội để nhận định khổ đau. Hãy nhìn trường học, hàng giậu bờ tre, mái nhà, chén cơm manh áo của dân nghèo, hãy nhìn những nghĩa địa nhà tù xem CS đã hành sử thế nào với quê hương dân tộc?. LSTH có thể lý tưởng trong mọi niềm tin, tôn trọng tự do và công bằng với CS hay khủng bố thì nên xét lại cẩn thận hơn. Nước Mỹ đã biết tôn trọng tư do, công bằng hơn nhiều quốc gia trên thế giới, cũng vì thế họ đã học một bài học quá khủng khiếp trong ngày 9/11 tại Trade World New York.

LSTH viết:Việc phản đối biểu tình các văn nghệ sĩ VN ra ngoại quốc kiếm tiền sinh sống với tư cách cá nhân là một việc làm không công bình và thiếu nhân tâm........ LSTH đã thấy một góc cạnh cá nhân mà quên cả một biển trời quê hương với 83 triệu người đồng bào sống dưới gông cùm CS, thiếu công bằng, tự do, dân chủ và không thấy được nhân tâm. Hãy nhìn lại đoạn Video của Linh Mục Nguyễn Văn Lý vừa ra tòa, hãy nhìn những bức hình trong ngày hôm qua để thấy rõ cách hành sử của cán bộ, công an CS với thân nhân những nhà tranh đấu trước cổng tư gia Đại Sứ Marine như thế nào để tìm sự so sánh và bênh vực cho đúng đạo lý và luật pháp.

Nếu LSTH cho rằng những nghệ sĩ đó là những nạn nhân đáng thương, xin LSTH cho biết điểm đáng thương như thế nào so với 83 triệu người dân đang sống trong nghèo đói hiện nay.(nếu cần địa chỉ nhà hay tài liệu của hai nghệ sĩ chúng tôi sẽ gởi cho)

Một vấn đề nữa mà nhiều người trong Cộng Đồng muốn LSTH trình bày sơ qua về lịch trình một nghệ sĩ hay một công nhân VN xin ra ngoại quốc đi làm kiếm tiền phải qua những thủ tục, giai đoạn, thuộc thành phần nào, đóng tiền thế chân bao nhiêu, giấy cam kết ra sao v.v.và v.v. mới được cấp giấy phép. Đây cũng là cách chứng minh tình trạng đáng thương nghèo khổ và thân phận của hai nghệ sĩ đó với mọi người. LS cho rằng sự chống đối đã làm hại đến cuộc mưu sinh của họ. Cám ơn lòng Bồ Tát của LS, tôi nghĩ hai nghệ sĩ đó còn giàu hơn vài chục triệu người ở VN. Xin LS dùng lòng từ tâm của mình để thương cho 83 triệu người, thương cho LM Nguyễn Văn Lý, cho những nhà tranh đấu đang bị hành hạ ở trong tù.

Còn một vấn đề khác mà nhiều người đang thắc mắc tiện đây xin LSTH trả lời để mọi việc sáng tỏ hơn về những hoạt động trong thời gian qua cho trung tâm băng nhạc Asia để làm những Clips hình ở VN xin LS cắt nghĩa thêm, đứng trên danh nghĩa nào, ai xin giấy phép, cơ quan nào cấp, phải liên hệ vớ ai v.v. mà LS tự do quay phim chụp hình phỏng vấn những nhân vật tên tuổi, hay thành phần bị chế độ trù dập? nhất là trung tâm Asia có thành tích chống Cọng nhất hiện nay. (nếu không nói được sự thật chúng tôi sẽ cố gắng giúp đỡ tài liệu giùm cho).

-LSTH đã ngụy biện là tại sao cộng đồng không chống đối những công tyTây Phương đầu tư ở VN. LS là người hiểu biết quá nhiều về lãnh vực đó, chúng ta là cộng đồng tị nạn (Minority) tài lực, nhân lực chúng ta chưa đủ để làm những công việc cản ngăn được ho, đối với tư bản họ đâu biết thương xót đến dân tộc mình, họ chỉ biết quyền lợi trên hết, mình phải tự đứng lên làm những gì trong khả năng của mình thôi. Còn những người làm từ thiện, họ làm với mục đích từ tâm và lòng yêu thương con người. Điều này đôi khi họ cũng bị lợi dụng, bị đặt vào hoàn cảnh chẳng đặng đừng, nhưng dầu gì đi nữa họ không phải là kẻ cầm dao đâm sau lưng đồng loại.

Còn vấn đề đồng bào về thăm quê hương đã mang tiền bạc về giúp thân nhân, đã vô tình thêm tay thêm cánh cho chế độ, điều này ai cũng biết nhưng tình cảm ruột thịt đã lấn áp lý trí và lòng cương quyết của con người, cho nên đã trên ba mươi năm mà trong lòng của nhiều người vẫn còn vết thương lịch sử, vẫn còn rướm máu hằng đêm.

Chúng ta ai cũng có cùng một ý nghĩ là mỗi người mỗi ý, kẻ tị nạn chính trị, người tị nạn kinh tế, kẻ tham danh, người tham tiền bạc, kẻ tiểu nhân người liêm sỉ, kẻ anh hùng người luồn trôn v.v.Tóm lại, điều này chúng ta đã nhìn thấy, nhưng vì hoàn cảnh của người thân, sự mềm yếu của con tim đã làm lý tưởng tranh đấu cho dân tộc bị mờ đi lằng ranh giới. Chính vì những khắc nghiệt đó mà đã hơn ba mươi năm chúng ta vẫn chưa tìm ra lối thoát. Đã là vậy, mà lại còn ảnh hưởng thêm một thứ khắc nghiệt khác ở thế hệ thứ hai, thế hệ có những người vuốt mặt, quay lưng trước những ước mơ của cha ông kỳ vọng. Rất tiếc họ không còn nhìn thấy những vết sẹo còn hằn trên trán cha ông mình vì bàn tay lông lá CS. Nhưng trong đời vẫn còn những trái tim biết sống vì tha nhân, vì đồng loại, vì đồng bào ruột thịt. Cộng Đồng Úc Châu tuy gặp khó khăn nhưng vẫn cương quyết tranh đấu , vẫn hoạt động ngày đêm để mang lại tự do công bằng thật sự cho quê hương. Họ không cúi đầu tiếp máu cho giặc dù là hình thức nào, họ không làm tay sai cho CS khi được miếng mồi lấp đầy miệng.

LSTH cho là luật lệ đều thay đổi theo thời gian điều đó không sai, nhưng LS chỉ muốn cộng đồng thay đổi luật lệ, phương hướng tranh đấu cho tự do dân chủ VN mà LS có bao giờ đứng lên đòi hỏi chế độ CSVN thay đổi chính sách cai trị cho người dân dễ thở hơn không? LSTH có dám đòi hỏi hay nói điều này tại VN không?. LSTH bênh vực cho hai người bạn nghệ sĩ mà quên đi 83 triệu người. Có lẽ LSTH nghĩ rằng sự ủng hộ hai nghệ sĩ là phương pháp duy nhất, là đường hướng mới cho cuộc đấu tranh. là chận đứng văn hóa vận, là công bằng cho cả Cộng Đồng, dân tộc, cho những nhà tranh đấu dân chủ, tự do, nhân quyền tại VN???.

LSTH đã nói lên ý nghĩ của mình trên xứ sở tự do để hành động hay tranh đấu cho vài người bạn mà LSTH không thấy được mình đang nằm trong hỏa mù văn hóa vận của CS. Tuổi 37 của LS chưa hẳn đã quá nhiều kinh nghiệm, mảnh bằng Luật Sư chưa phải là đỉnh cao của hiều biết. Một công việc làm cho người tị nạn ở Phi Luật Tân không phải là lớp sơn bao che vĩnh viễn tư cách một đời người. Việc tranh đấu của LS giúp người tị nạn ở Phi Luật Tân không một ai có thể phủ nhận việc làm đó, nhưng việc đó không phải chỉ có LSTH làm thôi mà có sự góp công sức của Cộng Đồng không ít.

Sau việc làm LS đã trở thành niềm tin yêu của cộng đồng và biết bao lòng quí mến. Nhưng hôm nay sau lời tuyên bố lập trường của mình, LSTH đã vô tình hay cố ý bán tên tuổi của mình với một giá quá rẻ. Đứng trên phương diện khách quan mà suy nghĩ, nếu chẳng may mình làm hại đến một người thì lương tâm mình cũng ít nhiều cắn rứt huống chi hành động đó ảnh hưởng cả một cộng đồng, cả một ước mơ của 83 triệu người, nhất là trong giai đoạn tranh đấu quyết liệt hiện nay của những nhà tranh đấu ở quốc nội thử hỏi LSTH làm việc đó có nên không? có thấy đau lòng không?

Nếu phân tích từng câu từng chữ trong bài viết “phân định lập trường” của LSTH thì còn phải viết nhiều lắm lắm. Nhưng càng nói càng gây mất lòng nhau trong cộng đồng, chúng tôi hy vọng bài viết này sẽ kêu gọi mong mọi người hãy nhìn lại thân phận mình, cha mẹ hãy nói với con cái mình tại sao mình có mặt trên xứ sở xa lạ này. Để kết luận tôi xin dùng câu Nam Lộc đã từng chia xẻ với LS TH “ Chúng ta không thể nào đạp giẫm lên lẽ phải và sự công bằng để tranh đấu cho công bằng và lẽ phải” Đây có phải là cách gài độ của LS, để có người đứng về phe mình hay chủ trương đồng hội đồng thuyền mà Cộng Đồng đang bàn tán.”không ý kiến” Với tôi nếu phải hy sinh cả tính mạng để cứu một dân tộc thì tôi sẵn sàng chứ nói gì một lẽ phải hay công bằng. Theo ý nghĩ chúng tôi thì việc làm của LSTH có công bằng hay lẽ phải đâu mà không giẫm đạp lên.

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

Cà phê Vỉa Hè

Image

Hình trên ,chụp từ trên xe hơi cho thấy các nam nữ Sinh viên đang ngồi bệt xuống vỉa hè để uống cà phê không cần bàn ghế .Người bán cà phê chỉ cần một bàn nhỏ để vài chai nước ngọt hay nước suối , hay chai chanh muối vài cái ly , hủ đường . Còn cà phê và ấm đun nước sôi thì được để dưới gốc cây .

Các nam nữ sinh viên của trường Đai học ngoại ngữ .Rất nghèo nên giá tiền một ly cà phê ở đây khoảng 5.000 đồng VN .

Trái lại , cũng trên con đường Nguyễn đình Chiểu khúc đường ngược lại chỗ cà phê Vỉa Hè , có một tiệm Cà phê rất lớn mang tện M.G.M được trang bị bàn ghế rất sang trọng , nơi đây tập trung toàn giới Trẻ từ 18,19,20 tuổi.Giá tiến một ly cà phê đá là 50.000 đồng ,cà phê ít đá nhiều. Ly Cà rốt xay là 40.000 đồng VN . Nếu cộng tiền 2 ly cà phê dá và ly cà rốt xay ,thì một gia đình nghèo có thể đi chợ trong 3 ngày. Hay bằng 2 Tô phở Tàu bay với cà phê đá hay có thể mua được 10 tô Bún Bò Huế.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

30-4-1975 Tại Đơn Vị: Ngày 41 Giờ

SAPY NGUYỄN VĂN HƯỞNG .



Với bút ký “Giọt Nước Mắt” tác giả Nguyễn Văn Hưởng kể về Đài Tưởng Niệm Chiến Tranh Việt Nam tại tiểu bang New Jersey, do một kiến trúc sư Việt Nam vẽ kiểu, ông nhận giải chung kết Viết Về Nước Mỹ 2004.

Sau đây là một hồi ký đặc biệt của ông kể về biến cố 30-4-1975 tại doanh trại Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn 21 Truyền Tin thuộc sư đoàn 21 Bộ Binh VNCH tại ngoại ô tỉnh lỵ Bạc Liêu, nơi mà buổi sáng ngày 30 tháng Tư “Cửa tiệm nào cũng tấp nập khách ra vào, bóng dáng chiến tranh tưởng chừng còn quá xa với người dân thành phố hiền hòa này.”

. . .

Mọi người dân Miền Nam Việt Nam đều không thể nào quên được biến cố 30-4. Tùy hoàn cảnh, tùy góc độ nhìn mà mỗi người đón nhận nó một cách khác nhau. Biến cố ấy diễn ra dài hay ngắn cũng vượt khỏi ý niệm thông thường về thời gian. Có người nó chỉ lướt qua vài giây phút ngắn ngủi, có người dài đủ hai mươi bốn giờ và có người ngày ấy chính là ngày cuối đời.

- Ngày 9-3-1975 biến cố 30-4 đến với người dân sống trên Ban Mê Thuột.

- Ngày 24-3-1975 diễn ra với người dân xứ Huế.

- Ngày 29-3-1975 đến lượt người dân Đà Nẵng...

Còn thủ đô Sàigòn và các tỉnh miền Tây, biến cố lịch sử ấy đến đúng vào ngày 30-4-1975.


Hàng năm cứ đến 30-4, tôi lại muốn ghi chép ra những điều chất chứa trong lòng. Nhưng lần nào cũng vậy, viết được đôi ba trang, tôi lại buông bút, bởi cảm thấy mình vẫn chưa lột tả hết thực trạng về biến cố ấy của đơn vị tôi.

30-4 năm nay lại về và lần này, tôi nhất quyết làm cho xong cái điều tôi hằng ấp ủ. Tôi tự giam mình trong phòng suốt mấy ngày liền, ngồi trước máy vi tính, gõ luôn một mạch tất cả những gì còn lưu trong ký ức. Tôi thở phào nhẹ nhõm khi đánh lên bàn phím dấu chấm cuối cùng. Tiến sang giai đoạn sửa chữa ý tứ, câu văn cho mạch lạc. Thì vợ tôi lại lôi đâu ra quyển sổ được tôi ghi chép những diễn biến xảy đến trong cuộc đời tôi lúc còn tạm trú nơi trại Tỵ Nạn Mã Lai năm 1976.

Tôi đã tưởng những giờ phút đau thương nhất trong đời, phải luôn mãi hằn sâu trong tâm tư để không bao giờ phai nhạt. Nhưng khi đọc lại bút tích do chính tay tôi viết từ hơn một phần tư thế kỷ qua, tôi mới hay mình lầm. Quả thật, không một thứ gì có thể tồn tại mãi với thời gian.

Nếu ví biến cố 30-4 như một căn nhà, thì trong trí tôi giờ đây chỉ còn lưu lại được căn nhà, mà hầu như mọi đồ đạc bên trong đã bị lớp bụi thời gian phủ kín. Tôi có cảm tưởng, quyển vở cũ là chiếc khăn giúp tôi phủi sạch đi lớp bụi thời gian, làm quá khứ hiển hiện như vừa mới xảy ra.

Cuốn sổ giúp tôi thấy lại từng giờ. Và ngày 30 tháng Tư ấy, với tôi, là một ngày dài liên tục 41 giờ.

Kể lại chuyện cũ, tôi muốn được dùng ngôn từ cũ để làm sống lại quá khứ.
Đoạn Một
Phút Giây Định Mệnh
Tôi, Trung úy Nguyễn Văn Hưởng số quân 68/409398. Tốt nghiệp khóa 1/69 Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức. Giữ chức vụ Sĩ Quan An Ninh Chiến Tranh Chính Trị Tiểu Đoàn 21 Truyền Tin, một đơn vị kỹ thuật chuyên đảm trách việc thiết lập hệ thống liên lạc cho Sư Đoàn 21 Bộ Binh, biệt danh Sét Miền Tây.

Sư Đoàn tôi giữ nhiệm vụ bảo vệ an ninh lãnh thổ 6 tỉnh: Cần Thơ, Chương Thiện, Rạch Giá, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau, thuộc Vùng IV Chiến Thuật. Thiếu tá Lương Duy Thanh Tiểu Đoàn Trưởng, người chỉ huy đơn vị cho đến phút giây cuối cùng. Tiểu Đoàn có 3 Đại Đội: Đại Đội Chỉ Huy Công Vụ do Đại úy Trần Duy Chinh làm Đại Đội Trưởng. Đại úy Thân Văn Vui, Đại Đội Trưởng Đại Đội Khai Thác Chỉ Huy. Và Đại úy Nguyễn Văn Hiền, Đại Đội Trưởng Đại Đội Khai Thác Hành Quân.

Tám dãy nhà tôn được phân chia làm đôi, mỗi bên bốn dãy, sắp thành hai hàng, ngăn bởi cái sân rộng ở giữa có dựng một kỳ đài. Đó là doanh trại Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn 21 Truyền Tin, nơi tôi phục vụ gần sáu năm trong cuộc đời binh nghiệp.

Đứng từ ngoài Quốc Lộ số 4, con đường huyết mạch nối liền Sàigòn - Cà Mau nhìn vào, toàn doanh trại được bao bọc bằng lớp hàng rào kẽm gai cao khỏi đầu người. Chính giữa là cái cổng lớn, hai cánh làm bằng sắt ấp chiến lược luôn đóng kín, chỉ được mở mỗi khi có xe cộ ra vào. Phía cánh trái còn một cổng phụ nhỏ dành cho người đi bộ và xe hai bánh. Bên cánh phải có một tháp canh thật cao, nơi tôi thích leo lên ngồi nói dăm ba câu chuyện với anh lính gác, đưa mắt ngắm nhìn đồng lúa mênh mông chạy đến tận chân trời.

Bên dưới tháp canh là phòng Tiếp Tân, nơi còn ghi đậm nét trong tim tôi, hình ảnh cô nữ sinh áo trắng đến thăm và ngồi chờ tôi ngày nào. Cô ta chính là vợ tôi, người đã và đang cùng tôi chia ngọt sẻ bùi trên những bước thăng trầm của cuộc sống.

Hai bên cổng ra vào còn có hai cái ao thật lớn thả đầy rau muống, như hai đường giao thông hào trải dài giúp cho việc phòng thủ mặt trước Tiểu Đoàn. Những ngày trực, tôi thường đem cần ra bờ ao ngồi câu cá giải khuây.

Đơn vị tôi tuy đóng cách tỉnh lỵ Bạc Liêu chỉ hơn hai cây số, nhưng đã được xem là vùng ngoại ô, là tiền đồn bảo vệ hậu cứ Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 21 Bộ Binh nằm ngay trung tâm tỉnh lỵ.

Nói đến Bạc Liêu, người ta thường hay thêm vào hai chữ "công tử" phía trước, rồi nhắc lại chuyện Hắc - Bạch công tử thi nhau đốt tiền dê gái, nghĩ đến một vùng đất có ruộng đồng bao la...Tôi đổi xuống Bạc Liêu cuối năm 1969, thời huy hoàng của các chàng công tử đã hết, nhưng ruộng đồng "cò bay thẳng cánh" vẫn còn nguyên đấy.

Để giới thiệu thành phố với tôi, một anh lính gốc gác miệt dưới này, đọc cho tôi nghe hai câu lục bát được lưu truyền:

"Bạc Liêu kênh lưới, ruộng lờ

Dưới sông cá chốt

trên bờ Triều Châu".

Cuộc đời binh nghiệp tôi gắn liền với doanh trại đầy ắp kỷ niệm ấy nơi miền Bạc Liêu sông nước hiền hòa. Là một người lính chuyên ngành, nghe không mấy hào hùng, nhưng cũng góp một phần nhỏ vào việc bảo vệ Tự Do cho quê hương đất nước. Tôi yêu doanh trại đơn vị tôi nhiều lắm, yêu nhất những buổi sáng dậy thật sớm, dậy trước cả mặt trời, bước ra hít thở không khí trong lành của đồng lúa rồi trở vào Câu lạc bộ, ngồi chờ ngửi mùi cà phê mới pha thơm ngát. Hớp trọn hương vị ấy bên điếu thuốc thơm Quân Tiếp Vụ. Chỉ cần có thế, là đủ cho tôi có một buổi sáng đẹp.

*

Kể từ 24-3-1975, ngày quân dân Huế được lệnh di tản, hàng đêm tôi đều phải vào ứng chiến trong đơn vị.

Sáng nay, 30-4-1975, cũng như mọi ngày, tôi thức dậy đánh răng rửa mặt xong là xuống thẳng Câu lạc bộ nhâm nhi ly cà phê buổi sáng. Nhưng ly cà phê và điếu thuốc sáng nay sao quá nhạt nhẽo, mất hết hương vị, nên tôi ra lấy xe về nhà sớm hơn thường ngày. Tôi cho xe chạy thật chậm để những cơn gió ban mai mặc tình mơn man da thịt, làm mát lại tâm hồn. Cả tháng nay, đầu óc tôi luôn trĩu nặng bởi những cuộc "di tản chiến thuật" liên tiếp của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Đêm qua Cộng quân lại tấn công vào phi trường Sóc Trăng khiến một số hệ thống liên lạc bị tê liệt, Quốc Lộ 4 vừa bị cắt đứt. Chẳng biết bao giờ đến lượt Bạc Liêu nhỏ bé này? Miên man suy nghĩ, xe về đến nhà lúc nào tôi cũng không hay.

Từ khi có lệnh cấm quân, hàng ngày vợ chồng tôi chỉ gặp nhau vào buổi sáng sớm và hai bữa cơm trưa, chiều. Chúng tôi không còn chở nhau ra đồng hóng mát, đưa nhau đi xem chiếu bóng. Ở nơi tỉnh lẻ này chỉ có vài thú vui ấy, vậy mà chúng tôi cũng phải từ bỏ nốt vì tình hình chiến sự sôi động.

Vợ tôi có mang đã hơn bảy tháng, tôi không muốn nàng vướng nhiều ưu phiền, sợ ảnh hưởng đến đứa con sắp chào đời, nên mọi ưu tư trăn trở tôi cố giữ trong lòng.

Hai vợ chồng sửa soạn ra phố. Nhìn vợ bước đi chậm chạp nặng nề, tôi vội ra kéo chiếc xe lại sát mé hàng ba cho vợ tôi dễ ngồi lên.

Sáng nay phố xá Bạc Liêu tấp nập người qua kẻ lại, chợ búa sinh hoạt vẫn bình thường như mọi ngày. Quán cà phê hủ tíu nào cũng đầy khách, hai tôi phải khó khăn lắm mới tìm ra chỗ ngồi. Tôi không thích những nơi ồn ào như vầy, vừa tốn tiền vừa dễ gây bực mình. Lương lính và công chức của cả hai vợ chồng chỉ vừa đủ sống, nên cũng hiếm khi đưa nhau ra tiệm. Tôi gọi hai tô hủ tíu, trong lúc chờ thức ăn dọn ra, vợ tôi kể lể:

- Ông Phó Giám Đốc Ngân Hàng em về Sàigòn từ mấy hôm nay. Ông ấy thường than: "tình hình cứ suy đồi mãi như thế này, chắc Việt Nam sẽ bị lọt vào tay Cộng Sản mất".

Tôi chỉ ngồi trầm ngâm lắng nghe. Lúc người bồi mang thức ăn đến, thấy tôi vẫn thừ người ra đấy, vợ tôi giục:

- Anh ăn mau đi kẻo nguội.

Vừa nặn chanh, tôi vừa dọ hỏi vợ:

- Mấy ngày nay người ta rút tiền gởi ngân hàng ra có nhiều không em?

- Cũng thường vậy thôi.

- Anh lo, nếu phòng tuyến Xuân Lộc mà bị chọc thủng, Sàigòn sẽ biến thành tiền đồn mất. Đài BBC và đài VOA đêm hôm qua cũng như sáng nay bình luận rất bi quan. Hồi hôm, phi trường Sóc Trăng bị tấn công. Anh không biết bao giờ đến lượt Bạc Liêu mình. Anh dặn trước, nếu lỡ mà có đánh nhau trong tỉnh, em phải tự lo liệu xoay xở một mình vì lúc đó anh phải ở trong đơn vị.

Vẫn vô tư, vợ tôi hồn nhiên trả lời:

- Anh nói gì mà nghe ớn quá vậy, thôi ăn mau đi kẻo nguội.

Dù đã cố kềm hãm, nhưng không hiểu sao tôi vẫn nói những lời bi quan ấy ra. Tôi bèn chữa lại để vừa trấn an mình, vừa trấn an vợ:

- Anh cũng dặn hờ em vậy thôi.

Vợ tôi xoay sang chuyện khác:

- À hôm trước, em nghe nói có mấy người làm sở Mỹ đưa gia đình lên Cần Thơ. Ra đi họ bán đổ bán tháo đồ đạc trong nhà. Anh Bình làm một chỗ với em, mua được mấy cái giường và mấy cái tủ lạnh giá thật rẻ.

- Tới nước này rồi, em còn ham chi những thứ đó nữa!

Ăn xong, vợ tôi nhìn đồng hồ tay rồi lên tiếng:

- Còn cả nửa tiếng nữa mới đến giờ làm việc, chở em đi vòng vòng chợ một lát, lâu quá rồi anh không đưa em đi chơi.

- Ừ đi thì đi.

Phố xá Bạc Liêu tập trung quanh vài ba con đường chính, đảo xe chừng mươi phút là hết. Cửa tiệm nào cũng tấp nập khách ra vào, bóng dáng chiến tranh tưởng chừng còn quá xa với người dân thành phố hiền hòa này. Loanh quanh một lát, vợ tôi vỗ vỗ vào vai tôi:

- Anh cho em xuống tiệm đàng trước xem có khúc vải nào đẹp không, em định cắt may vài cái áo bầu vì bụng em càng ngày càng to.

- Thôi gần đến giờ làm rồi, đi trễ kỳ lắm. Tình hình này mà em còn lo may với mặc cái nỗi gì!

Thấy tôi lại bực mình, không tán đồng, vợ tôi cằn nhằn:

- Đi với anh chán thấy mồ, để lát nữa làm bớt việc, em rủ cô Nhung đi với em.

*

Đưa vợ đến Ngân Hàng xong, tôi cho xe phóng nhanh về đơn vị. Nhìn tôi bước vào ban, Thượng sĩ Nguyễn Văn Thanh, Hạ Sĩ Quan Chiến Tranh Chính Trị, ngưng việc quét bụi và dọn dẹp giấy tờ trên bàn, ông giơ tay lên chào tôi rồi cười hỏi:

- Sao hôm nay Trung úy vào sớm vậy?

- Sớm gì nữa, cũng gần đến giờ tập họp rồi!

Nhìn sang Ban 3 bên cạnh, Hạ sĩ Điệp đang ngồi cắm cúi học bài. Điệp siêng năng cần mẫn, không chịu để mất một chút thời giờ nào, hễ rảnh rỗi là đem sách ra học. Điệp nhất quyết lấy cho bằng được mảnh bằng Tú Tài Đôi để xin đi học khóa sĩ quan. Thấy Điệp chăm học, tôi thường chỉ bảo, nâng đỡ và khuyến khích tinh thần anh hạ sĩ hiếu học này. Nhưng hôm nay nhìn Điệp học, tôi buột miệng nói:

- Thôi Điệp, học hành làm chi nữa, chắc gì có thi cử năm nay!

Điệp tròn xoe đôi mắt nhìn tôi rồi kêu lên:

- Trời, Trung úy mà nói vậy thì còn gì nữa!

Trước đây, có bao giờ tôi nói với Điệp bằng giọng điệu bi quan ấy đâu. Lúc nào tôi cũng lạc quan tin tưởng vào sự tất thắng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Là một cán bộ Chiến Tranh Chính Trị, tôi còn phải quảng bá sự lạc quan ấy đến với mọi người. Hôm nay tôi nói với Điệp lời ấy, tức sự lạc quan trong tôi đã biến mất, và tôi cũng vừa lấy đi niềm tin tất thắng trong Điệp.

Điệp gấp quyển sách lại ngay sau câu tôi nói, ngồi thừ người chống tay lên cằm, gương mặt trẻ trung, yêu đời của Điệp hằn lên nỗi ưu tư, lo lắng. Tôi muốn nói đôi câu an ủi Điệp, nhưng chẳng biết nói lời gì!

Kẻng tập họp trỗi lên, mọi người lần lượt tiến ra sân cờ. Vẫn như thường ngày, điểm danh xong, lễ chào Quốc kỳ bắt đầu. Quân nhân các cấp vẫn hùng hồn đồng hát bản quốc ca trong lúc lá cờ vàng ba sọc đỏ từ từ được kéo lên rồi tung bay phất phới trong nắng sớm.

Lễ chào cờ xong, tôi lê những bước chân nặng nề về nơi làm việc. Nhân viên trong ban vào đầy đủ, chúng tôi lại bắt đầu một ngày làm việc trong nỗi chán chường. Không phải đến hôm nay tôi mới cảm thấy như vậy, nó đã gậm nhấm tôi hơn một tháng qua, từ khi các vùng Chiến Thuật lần lượt di tản, để mất dân mất đất. Giờ thì Cộng Quân lại sắp tiến vào Sàigòn. Tôi quay về thực tại khi Thượng sĩ Trần Quang Mẫn, Hạ Sĩ Quan An Ninh đến bên nhắc nhở:

- Trung úy coi lại mấy bản báo cáo tôi đặt trên bàn từ mấy ngày rồi. Xin Trung úy duyệt lại ngay giùm, để còn kịp đưa lên ban Văn Thư trình Thiếu tá Tiểu Đoàn Trưởng ký gởi đi trưa nay, tôi sợ báo cáo trễ quá bên Phòng An Ninh họ khiển trách mình.

Thượng sĩ Thanh cũng đưa cho tôi một chồng văn thư Đi và Đến. Tôi ngao ngán giở xấp hồ sơ ra. Những dòng chữ, những con số như nhảy múa trong đầu, tôi không biết mình đang đọc những gì. Cuối cùng như một cái máy, tôi đặt bút ký vào mọi giấy tờ, rồi trao hết cho hai người phụ tá.

*

Đầu óc tôi bây giờ hiện lên toàn những câu hỏi không lời giải đáp. Nghĩ đến ông Phó Giám Đốc Ngân Hàng, nơi vợ tôi làm việc đã bỏ nhiệm sở lên Sàigòn tìm đường ra đi, cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và nhiều tướng lãnh cao cấp cũng đã lìa xa quê hương. Tôi âu lo không biết số phận Quân-Dân-Cán-Chính Việt Nam Cộng Hòa sẽ ra sao nếu Miền Nam sụp đổ? Riêng tôi, phải tìm đường ra đi hay ở lại, đành cam chấp nhận mọi bất hạnh xảy đến với mình? Nếu đi thì đi đâu và đi bằng phương tiện nào? Cả hai nước Miên - Lào đã lọt vào tay Cộng Sản, nên đường bộ coi như bí lối. Đường hàng không thì không có! Chỉ còn mỗi con đường biển! Bạc Liêu tuy gần biển thật, nhưng tôi thì chẳng hiểu nhiều về đại dương.

Trong đời, tôi có hai lần đi biển. Lần đầu, xuống tàu rời Hải Phòng, theo bố mẹ vượt tuyến vào Nam tìm tự do năm 1955. Suốt ba ngày ba đêm lênh đênh, tôi không biết nước biển màu xanh hay màu đỏ. Mẹ tôi bảo: tôi chẳng ăn uống được gì, chỉ nằm bẹp một chỗ ói mửa rồi đòi nước uống. Lần thứ hai là ngày tôi nhập ngũ, xuống tàu đi từ Nha Trang vào Sàigòn. Ngày ấy, tôi là khách hàng của chiếc tàu Hải Quân, cũng chỉ nằm dưới sàn tàu để người ta đưa tới bến. Giờ đây, nếu muốn ra đi bằng đường biển, tôi phải là người điều động, phải hiểu biết về con tàu, phải hiểu biết về đại dương, và nhất là phải biết bến bờ nơi tôi định đến.

Ngồi nghĩ gần nát óc, tôi vẫn chưa tìm ra một tia sáng. Không có hướng đi nghĩa là tôi phải ở lại tử chiến với Cộng Sản hay phải chấp nhận hết những đòn thù của người phương Bắc. Nghĩ tới việc phải đối diện với người Cộng Sản tự nhiên tôi rùng mình không dám nghĩ thêm gì nữa. Đứng trước vực thẳm, tôi cố tìm cho mình một lối thoát bằng cách bám víu lại niềm tin vào Quân Lực mình. Vùng I, Vùng II, Vùng III Chiến Thuật có mất, nhưng chưa phải là thua toàn diện. Biết đâu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa sẽ đảo ngược lại tình thế. Tết Mậu Thân 1968, Miền Nam cũng đen tối. Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 cũng không mấy sáng sủa ở những ngày đầu. Nhưng cuối cùng, những trận chiến ấy, phần thắng vẫn về với Quân - Dân Miền Nam. Nghĩ đến đó, tôi như lấy lại được đôi chút niềm tin.

Tôi thấy cần có người tâm sự, chia bớt những âu lo trĩu nặng trong đầu. Ngẫm nghĩ một lát, tôi quay sang bảo Thượng sĩ Thanh:

- Ông xuống phòng Thường Vụ ghi tên cho tôi đi khám bệnh.

- Trung úy bệnh gì vậy?

Đột nhiên tôi xẵng giọng, như muốn trút bớt sự căng thẳng trong lòng:

- Đừng hỏi lôi thôi. Cứ đi ghi tên cho tôi.

Thượng sĩ Thanh đi rồi, tôi uể oải rời bàn làm việc, lê bước đi xin phép ông Đơn Vị Trưởng, ông cho tôi đi ngay rồi căn dặn tôi:

- Khám bệnh về, anh nhớ lo ngay chương trình sinh hoạt đơn vị vào lúc 9 giờ sáng ngày mai cho tôi.

Thật không còn gì khó khăn hơn cho tôi phải tổ chức sinh hoạt đơn vị trong lúc này. Tôi biết nói gì đây để giữ vững niềm tin cho anh em, trong khi chính tinh thần tôi đang bị suy sụp trầm trọng. Tôi phải trả lời sao cho thông suốt các câu anh em hỏi, bởi đó cũng là những câu tôi đang tự hỏi chính mình. Nhưng là một chiến binh, tôi chỉ biết tuân hành mệnh lệnh thượng cấp.

*

Bạn bè tôi trong giờ phút này, nếu không bận chuyện công sở, cũng đang bù đầu lo việc an ninh phòng thủ doanh trại mình. Tôi chẳng nghĩ ra một người nào rảnh rang sẵn sàng ngồi nghe tôi trút bầu tâm sự. Nhìn phố phường vẫn buôn bán nhộn nhịp, tôi tự hỏi: "Đứng trước một tình thế suy sụp đến như vậy mà người dân Bạc Liêu vẫn sống bình thản như không có chuyện gì xảy đến?" Tuy khai bệnh chỉ là cái cớ để tôi chạy loanh quanh cho đầu óc bớt căng thẳng, nhưng khi chẳng còn biết đi đâu, thấy cũng gần tới giờ khám bệnh, tôi cho xe chạy đến Tiểu Đoàn 21 Quân Y. Lúc tôi đang dựng xe, anh bạn Nha Sĩ Cao Trừ từ trong Câu lạc bộ bước ra. nhìn thấy tôi, anh tiến đến vỗ vai hỏi:

- Sao, bồ sang đây có việc gì hả?

- Tao qua hỏi xin bác sĩ vài viên thuốc cảm thôi.

- Mấy ông bác sĩ quýnh quáng lên hết cả rồi, còn khám khiết gì mấy ngày này nữa! Cần thuốc gì, lát nữa tao bảo y tá đem ra cho.

Tôi nhún vai:

- Được vậy thì tốt.

Cao Trừ vừa kéo tôi vào phòng nha khoa vừa lên tiếng:

- Mày có tính gì chưa?

Muốn Cao Trừ nói rõ thêm, tôi hỏi lại:

- Tính gì?

- Trốn đi hay ở lại chớ còn tính gì nữa! Tao thấy Việt Cộng sắp vào tới Sàigòn rồi!

Trầm ngâm một lát, tôi bảo Cao Trừ:

- Tao cũng biết vậy. Nhưng trong giờ phút này, tính càng nhiều hay chẳng tính toán gì, đều giống nhau cả, chúng mình đã thực sự bí lối rồi.

Trừ nhanh nhẩu phản bác:

- Mày sao bi quan quá, "còn nước còn tát", "có còn hơn không". Nói thiệt với mày, tao đang tìm đường dọt đây. Bây giờ chỉ còn duy nhất một con đường biển. Muốn đi đường này cần tiền và tàu, cả hai thứ tối quan trọng ấy, làm gì mà tao có. Tao biết, bên vợ bác sĩ Toàn ở Rạch Giá, có ghe đánh cá lớn, tao vừa qua rủ ông ấy đi, nhưng ông ta lưỡng lự.

Tôi lắc đầu thở dài:

- Nhưng sống sao cho đáng một con người, đó mới là điều cần nghĩ tới, nếu rủi Miền Nam bị lọt vào tay Cộng Sản chứ!

- Ôi ông ta chẳng hiểu gì về Cộng Sản cả, còn tao là người miền Nam, nói ông ấy không mấy tin. Ông ta còn đang ngồi bàn thời cuộc trong Câu lạc bộ, hay mày đi với tao qua đó, mày dân Bắc kỳ, từng trốn chạy Cộng Sản, nói vào biết đâu ông ta đổi ý.

Tôi và Cao Trừ vừa bước xuống đường, gặp ngay bác sĩ Toàn từ trong Câu lạc bộ bước ra. Ông nhìn Cao Trừ và tôi rồi lắc đầu, giơ hai tay thẳng lên trời nói với một giọng đầy thiểu não:

- Ông Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng rồi!

Tôi bàng hoàng cả người, nếu không có bức tường cạnh đó cho tôi đứng dựa lưng vào chắc tôi đã không đứng vững. Tuy cả tháng nay đầu óc tôi luôn lởn vởn nghĩ đến giây phút này. Nhưng nay nó đến thực sự, tôi vẫn không tránh khỏi kinh hoàng. Tin Miền Nam sụp đổ lan truyền thật nhanh, chỉ trong khoảnh khắc cả bệnh viện đều nhốn nháo. Các anh em thương bệnh binh mặt mày tái mét hớt hải rời giường bệnh bước ra ngoài hành lang. Có người cầm trên tay chai nước biển với dây nhợ lòng thòng, có người ôm theo bọc ruột bên mình...Họ hốt hoảng ngơ ngác, đứng bất động nghe ngóng. Tôi không tài nào biết được họ đang nghĩ gì trước hoàn cảnh trớ trêu này. Tôi cố gạt bớt những suy tư nặng đầu, quay sang bảo Cao Trừ:

- Thôi tao phải về đơn vị!

Cao Trừ nhìn tôi ngao ngán lắc đầu. Tôi vội đi lấy xe rồi phóng thẳng ra đường.

Lời Tướng Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng khiến dân chúng Bạc Liêu hốt hoảng như con thú bị sập bẫy. Ngoài phố chợ, các hàng quán ngưng ngay việc buôn bán, vội vã thu dọn đồ đạc, mau chóng đóng cửa tiệm. Nét kinh hoàng hiện rõ lên từng gương mặt. Trên đường mọi xe cộ đều phóng thật nhanh, người đi bộ cũng hối hả rảo bước.

(còn tiếp)

Post Reply