Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày
Một câu hỏi đã có từ lâu : Con người Tào Tháo . . Gian hùng hay anh hùng?
Từ đầu thế kỷ trước, Tam Quốc đã được dịch sang tiếng Việt và được các thế hệ người đọc Việt Nam nhiệt liệt đón chào. Tại Trung Quốc, nơi sinh ra bộ sử thi - tiểu thuyết số một này, Tam Quốc bao giờ cũng được giữ nguyên sức sống mãnh liệt.
Mới đây, Đài THHN lại đưa người xem về với một không khí Tam Quốc "thứ thiệt" qua bộ phim hoành tráng, dài trên 80 tập mà chắc chắn được xem là tốt nhất trong các bộ phim cùng đề tài trước đây. Bằng diễn xuất tuyệt vời của mình, nghệ sỹ Bào Quốc An một lần nữa đã gieo vào lòng những người hâm mộ Tam Quốc một câu hỏi đã tồn tại lâu nay và tưởng chừng vẫn chưa có câu trả lời thỏa đáng:
Tào Tháo là kẻ gian hùng hay là người anh hùng? Quả vậy, cho tới nay, các chuyên gia về Tam Quốc của Trung Quốc vẫn còn đang "bất phân thắng bại" ở đề tài này, cho dù dường như các bên đều thừa nhận Tào Tháo là một vĩ nhân lỗi lạc. Với lòng hâm mộ tác phẩm, chúng tôi xin được lạm bàn đôi nét, rất mong được các bậc đại khoa chỉ giáo.
1. Tam Quốc bao quát cả một thời kỳ lịch sử gần một thế kỷ (từ 184 đến 280 sau công nguyên), tại đó, ba nước Ngụy, Thục, Ngô đã hình thành thế chân vạc trong quá trình đánh dẹp cuộc khởi nghĩa nông dân và trong cuộc chiến tranh giữa các chư hầu với nhau. Bắt đầu từ cuộc khởi nghĩa của ba anh em Trương Giốc mà lịch sử gọi là cuộc khởi nghĩa Hoàng Cân (Khăn vàng) cho tới khi Tư Mã Viêm, cháu tướng Ngụy Tư Mã Ý, thống nhất được Trung Quốc để lập nên nhà Tấn và chấm dứt cục diện tam quốc phân tranh.
Tác giả La Quán Trung viết Tam Quốc với quan điểm "chính thống" phò Hán Yên Lưu mà tư tưởng chủ yếu được hình thành do ảnh hưởng của học thuyết Khổng giáo kết hợp với vài yếu tố của Phật giáo và Đạo giáo. Với ông, họ Tào không phải dòng dõi họ Lưu (Hán) nên được xem là đối nghịch với Lưu Bị và người dòng dõi Trung Sơn Tĩnh Vương. Đứng trên quan điểm tiến bộ, La Quán Trung nói lên nguyện vọng của nhân dân được sống trong hòa bình và dưới triều của một ông vua anh minh. Vì thế, đương nhiên kẻ đối nghịch là Tào Tháo phải được mô tả như một tên gian thần.
Tháo khôn ranh từ nhỏ. Vốn nghịch ngợm nên hay bị người chú mách với cha là Tào Tung. Vì thế, Tháo nghĩ ra ngay một kế để lừa chú. Thấy chú đến, Tháo giả vờ nằm quay ra đất như kẻ bị trúng phong. Chú Tháo thấy vậy sợ quá liền chạy vào báo với Tào Tung. Tung ra thấy con không làm sao bèn hỏi:
- Chú mày nói trúng phong, khỏi rồi à?
- Thưa cha, từ nhỏ có bao giờ con bị bệnh ấy đâu! Chẳng qua chú ghét con mới đặt điều ra thế.
Từ đấy, Tào Tung tưởng thật và không bao giờ tin người em khi ông này mách tội Tào Tháo nữa.
Người ta đã quá quen thuộc với các giai thoại về Tào Tháo với châm ngôn "chết người": "Thà ta phụ người còn hơn để người phụ ta", chẳng hạn, Tháo giết cả nhà Lã Bá Sa, mượn đầu Vương Hậu để yên bụng quân, giả vờ ngủ say để rồi giết cả lính hầu... Trong cái "bảy thực ba hư" của Tam Quốc, tác giả mượn Tào Tháo để mô tả một cách khái quát và sống động tính gian hùng, đa nghi, tàn ác, xảo quyệt của giai cấp thống trị đương thời và của nhiều thời đại.
Người đời Tấn là Lục Cơ có nói: "Tuy công lao của Tào Tháo đầy khắp cả cõi Trung Hoa, nhưng ông ta lại tàn ác vô cùng, dân chúng ai ai cũng oán ghét".
Tào Tháo kỳ thị người hiểu rõ gan ruột mình mà Dương Tu, Tuân Úc, sau này đều là các nạn nhân. La Quán Trung đã dành trọn ác cảm với họ Tào qua bài hịch hùng hồn do Trần Lâm soạn khi Viên Thiệu chuẩn bị khởi binh đánh Tào Tháo... Phải chăng với tư tưởng chủ đạo của Tam Quốc, ở Tào Tháo, chữ nhân - yếu tố đầu tiên của Ngũ thường, được xem là thiếu hụt hơn hết so với các mặt khác. Điều này không khó giải thích khi chứng kiến ác cảm với ông ta của nhiều thế hệ người đọc. Nhưng...
2. Dù cho tác giả có mô tả Tào Tháo như một kẻ gian thần ác độc, một mẫu nhân vật có thể khiến người đời phải khiếp đảm khi nghĩ đến ông ta, song điều nghịch lý lại ở chỗ La Quán Trung vẫn cứ phải dùng những lời lẽ tốt đẹp nhất để nói về Tào Tháo, kể cả việc viết nên rất nhiều chi tiết xúc động lòng người để mô tả tài năng xuất chúng và cả lối hành xử rất quân tử của con người ấy.
Ngay khi xuất hiện lần thứ nhất, tác giả đã đặc biệt ưu ái Tào Tháo rồi: "... Bỗng thấy một toán binh mã kéo toàn cờ đỏ xông ra chặn đường. Một tướng đi đầu mình cao bẩy thước, mắt nhỏ râu dài. Tướng ấy là ai? Tức là quan kỵ đô úy, người ở Tiêu quận nước Bái, họ Tào tên Tháo, tự là Mạnh Đức". La Quán Trung kể tiếp: Bấy giờ có người tên là Kiều Huyền bảo Tháo rằng:
- Thiên hạ sắp loạn, trừ phi có tay tài giỏi hơn đời thì mới mong dẹp được loạn. Làm được như thế chắc chỉ có bác.
Hà Ngung ở Nam Dương, một hôm trông thấy Tháo đi qua cũng tán tụng rằng:
- Nhà Hán sắp mất, yên được thiên hạ chỉ có người này!
Gian hùng mà không phải gian thần (bản dịch của Phan Kế Bính - Bùi Kỷ). Đó mới là lối miêu tả qua tướng mạo nhìn người của chính tác giả với nhân vật trung tâm của mình. Tuy thế, phải đến lúc mô tả lối hành xử khi đã cầm quân của họ Tào, ngòi bút của La Quán Trung mới thể hiện được một cách xuất sắc điều ông muốn nói.
Ngay từ khi mới ra làm quan, Tào Tháo nổi bật tính thanh liêm và luôn tôn trọng luật pháp với phương châm "luật pháp bất vị thân" nên rất được dân nể sợ. Là người hết sức coi trọng tài năng, bất kể "quý - tiện", Tào Tháo tỏ ra có quan điểm tiến bộ nhất trong đám quan lại hồi đó. Cũng chỉ một mình Tào Tháo xung phong vào cung hành thích tên gian tặc Đổng Trác, việc không thành, bỏ trốn bị Trần Cung bắt được, Tháo dõng dạc:
- Ông cha ta đời đời ăn lộc nhà Hán, nếu ta không nghĩ cách báo quốc, có khác chi giống muông thú. Nay việc không xong, cũng là lòng Trời!
Tào Tháo nổi bật nhất so với mọi tướng lĩnh cùng thời về cách hiểu và dùng người. Ông là người anh hùng nên cũng trọng người anh hùng và chuyện "Uống rượu luận anh hùng" của Tam Quốc chỉ là một ví dụ. Hết sức coi trọng tài năng và giữ tín nghĩa, đấy cũng là phẩm chất số một của họ Tào. Chả thế mà chưa có một tướng nào bỏ Tào Tháo mà đi. Hãy nghe Tào Hồng nói với ông khi thấy Tào Công chẳng muốn dùng ngựa của mình để chạy thoát thân lúc bị giặc vây hãm - "Ta chạy đi rồi giặc sẽ giết ngươi mất".
- Ông đi đi! Thiên hạ có thể không có tôi nhưng không thể không có ông!
Biết Quan Công là danh tướng, Tào Tháo đãi cực hậu: Thượng mã đề kim, hạ mã đề ngân (lên ngựa tặng vàng, xuống ngựa tặng bạc); năm ngày một tiệc lớn, ba ngày một tiệc nhỏ.
Biết Trương Phi tài giỏi, bảo các tướng ghi tên Dực Đức vào vạt áo, sau gặp không được khinh địch. Thấy Tử Long xuất chúng, Tào Tháo sai Tào Hồng cầm lệnh tiễn phi ngựa xuống truyền các tướng sĩ không được bắn trộm, Tử Long cũng thoát hiểm từ đó...
Màn ảnh nhỏ mới đây đã cho người xem thấy rõ hơn về Tào Tháo. Ông ra đón Quan Công với con mắt thán phục sâu sắc, quỳ xuống đất vái kẻ hàng tướng. Trận Quan Độ, khi hai tướng của Viên Thiệu là Trương Cáp, Cao Lãm tới doanh trại, dù tả hữu khuyên nên đề phòng, Tào Tháo vẫn tự mình bước ra tận nơi vái chào. Có lẽ vì thế các tướng giỏi như Từ Hoảng, Trương Liêu, Vân Trường, Trương Cáp... lần lượt về với Tào Tháo.
3. Đối với các quan văn, những mưu sĩ, tượng trưng cho trí tuệ của nghệ thuật quân sự Trung Hoa một thời, Tào Tháo bộc lộ sự trân trọng từ phía người trong cuộc. Trước tiên, chính ông cũng là một mưu sĩ cực giỏi. Tào Tháo tự đi tìm người hiền mà không như Lưu Bị phải "Tam cố thảo lư" để vời Khổng Minh theo giới thiệu của Tư Mã Huy, hay Tôn Quyền dùng Trương Chiêu theo lời ủy thác lúc lâm chung của anh là Tôn Sách và giới thiệu của Chu Du. Với chú cháu Tuân Du, Tuân Úc, với Trình Dục, Đổng Chiêu... đều như thế.
Chỉ cần một hồi, miêu tả trận đại chiến Quan Độ, người xem đã thấy rõ thế nào là lời khen tặng "Thừa tướng dụng binh như thần" của tướng lĩnh dành cho Tào Tháo.
Ông sáng suốt đã đành, nhưng cũng là người duy nhất ở Tam Quốc không bao giờ kết thúc trận đánh ngay sau khi còn có thể, dù chỉ là một hy vọng nhỏ, để chuyển bại thành thắng. Xem Tam Quốc, chỉ thấy mỗi Tào Tháo, trong tên đạn bời bời ở sông Vị, lửa thiêu thành Bộc Dương hay giữa lúc mất áo, trụi râu vẫn đủ sức chuyển bại thành thắng ngay trong khoảnh khắc bằng những quyết đoán sáng suốt. Vì thế, câu nói "Không ngờ lại mắc mưu Tào Tháo" chẳng phải của riêng một ai ở Tam Quốc.
Tháo không kịp xỏ giày, chân không ra đón Hứa Du, khóc tiễn Trần Cung, lưu luyến Thẩm Phối, Thư Thụ, tế lễ Điển Vi và cả khi tế Viên Thiệu. Tào Tháo dùng Trần Lâm mặc dù đó chính là người viết lời hịch sỉ nhục ba đời nhà mình. Trên đường đi đánh Viên Hy, Viên Thượng vẫn chăm sóc Quách Gia lâm bệnh, khi Hạ Hầu Đôn bị mất mắt đã vào tận giường hỏi thăm...
Tháo đặc biệt ghét bọn bán chúa cầu vinh mà việc chém Miêu Trạch là một ví dụ. Ở vào thời đại của mình, lịch sử đã ghi rằng ba cha con Tào Tháo, Tào Phi và Tào Thực đều là những nhà thơ có tên tuổi. Tào Tháo tinh thông cầm-kỳ-thi-họa, thơ phú ngay cả trong lúc gian nan, hài hước khi thua trận (đường Hoa Dung, Xích Bích), giỏi đàn nơi doanh trại. Tào Tháo là người sành kiến trúc: từ việc lớn như "duyệt" phương án xây đền Đồng Tước cho tới tiểu tiết về cái cổng của vườn hoa nơi chính điện. Đi đánh Mặc Đặc xa xôi, trên đường vẫn ghé lại thăm nhà cố sử gia Sái Ung rồi ra tận bia mộ đọc văn bia với một chi tiết cực kỳ sâu sắc của trí tuệ Tào Tháo, liệu đã có ai bằng?
Xưa nay ai cũng hiểu rằng làm một người anh hùng thời loạn là việc cực kỳ khó.
Càng khó hơn, nếu người ấy vẫn giữ được thân và lại yên thiên hạ. Sách Tam Quốc kể rằng năm Kiến An thứ 15, mùa xuân, Tào Tháo ở Nghiệp Quận bày tiệc mừng đền Đồng Tước. Đêm ấy, các quan văn có tiếng trong triều như Trần Lâm, Vương Xán, Chung Do, Vương Lãng đã làm thơ để ca ngợi công đức Thừa tướng. Ông xem qua rồi trả lời bằng đoạn tự bạch nổi tiếng sau: "Các ông văn hay khen ta quá lời. Ta vốn là người ngu lâu, khi xưa may mà đỗ Hiếu Liêm. Sau gặp lúc thiên hạ đại loạn, có dựng cái nhà đọc sách cách phía Đông của Tiêu thành năm mươi dặm, lòng những muốn mùa xuân mùa hạ đọc sách, mùa thu mùa đông săn bắn, đợi thiên hạ thái bình mới ra làm quan. Không ngờ triều đình gọi ta ra, phong làm Điển quân Hiệu úy, ta mới đổi nguyện vọng xưa, quay ra giúp nước mong dẹp giặc lập công; chỉ mong sau khi chết đi, trên mộ được ghi mấy chữ "Đây là mộ Tào hầu, cố chinh Tây tướng quân" cũng đã là mãn nguyện. Ta vẫn còn nhớ đến lời đức Khổng Tử khen đức lớn của vua Văn Vương đời nhà Chu, lời xưa ta vẫn canh cánh bên lòng. Nhưng nếu lại muốn cho ta bỏ binh quyền tất sẽ bị kẻ khác hãm hại. Ta mà bị hại thì nhà nước tất sẽ lâm nguy. Bởi thế ta không thể mến cái tiếng hão để chuốc lấy vạ thật. Chắc các ông chưa ai hiểu hết bụng ta"...
Cách đây chừng ba chục năm, trên văn đàn Trung Quốc đã xuất hiện một khuynh hướng xem xét lại sự đánh giá với các nhân vật trong Tam Quốc. Theo đó, Lưu Bị vốn có đức nhưng kém tài, lại nhu nhược và giả dối. Khổng Minh tài năng siêu tuyệt, nhưng lại chỉ là nhân vật mang nét huyền thoại với tài hú gió gọi mưa, biết phép độn giáp dâng sao, biết chế ra trâu gỗ, ngựa gỗ và chính ông đã cùng Lưu Bị cố tình kéo dài cuộc nội chiến đẫm máu.
Chỉ có Tào Tháo với tài năng và cả những mặt hạn chế đã trực tiếp góp phần đẩy nhanh tiến trình phát triển của lịch sử Trung Hoa, đồng thời có nhiều công lao trong những cải cách xã hội cho đất Trung nguyên vào thời ấy. Được biết, khuynh hướng nói trên đã được cố nhà văn Quách Mạt Nhược ủng hộ và đề cao. Phải chăng vì thế, bộ phim "Tam Quốc diễn nghĩa" mà chúng ta đã xem là một tác phẩm điện ảnh với những sáng tạo mới xuất sắc tiếp theo
Nguyễn Lưu
Mới đây, Đài THHN lại đưa người xem về với một không khí Tam Quốc "thứ thiệt" qua bộ phim hoành tráng, dài trên 80 tập mà chắc chắn được xem là tốt nhất trong các bộ phim cùng đề tài trước đây. Bằng diễn xuất tuyệt vời của mình, nghệ sỹ Bào Quốc An một lần nữa đã gieo vào lòng những người hâm mộ Tam Quốc một câu hỏi đã tồn tại lâu nay và tưởng chừng vẫn chưa có câu trả lời thỏa đáng:
Tào Tháo là kẻ gian hùng hay là người anh hùng? Quả vậy, cho tới nay, các chuyên gia về Tam Quốc của Trung Quốc vẫn còn đang "bất phân thắng bại" ở đề tài này, cho dù dường như các bên đều thừa nhận Tào Tháo là một vĩ nhân lỗi lạc. Với lòng hâm mộ tác phẩm, chúng tôi xin được lạm bàn đôi nét, rất mong được các bậc đại khoa chỉ giáo.
1. Tam Quốc bao quát cả một thời kỳ lịch sử gần một thế kỷ (từ 184 đến 280 sau công nguyên), tại đó, ba nước Ngụy, Thục, Ngô đã hình thành thế chân vạc trong quá trình đánh dẹp cuộc khởi nghĩa nông dân và trong cuộc chiến tranh giữa các chư hầu với nhau. Bắt đầu từ cuộc khởi nghĩa của ba anh em Trương Giốc mà lịch sử gọi là cuộc khởi nghĩa Hoàng Cân (Khăn vàng) cho tới khi Tư Mã Viêm, cháu tướng Ngụy Tư Mã Ý, thống nhất được Trung Quốc để lập nên nhà Tấn và chấm dứt cục diện tam quốc phân tranh.
Tác giả La Quán Trung viết Tam Quốc với quan điểm "chính thống" phò Hán Yên Lưu mà tư tưởng chủ yếu được hình thành do ảnh hưởng của học thuyết Khổng giáo kết hợp với vài yếu tố của Phật giáo và Đạo giáo. Với ông, họ Tào không phải dòng dõi họ Lưu (Hán) nên được xem là đối nghịch với Lưu Bị và người dòng dõi Trung Sơn Tĩnh Vương. Đứng trên quan điểm tiến bộ, La Quán Trung nói lên nguyện vọng của nhân dân được sống trong hòa bình và dưới triều của một ông vua anh minh. Vì thế, đương nhiên kẻ đối nghịch là Tào Tháo phải được mô tả như một tên gian thần.
Tháo khôn ranh từ nhỏ. Vốn nghịch ngợm nên hay bị người chú mách với cha là Tào Tung. Vì thế, Tháo nghĩ ra ngay một kế để lừa chú. Thấy chú đến, Tháo giả vờ nằm quay ra đất như kẻ bị trúng phong. Chú Tháo thấy vậy sợ quá liền chạy vào báo với Tào Tung. Tung ra thấy con không làm sao bèn hỏi:
- Chú mày nói trúng phong, khỏi rồi à?
- Thưa cha, từ nhỏ có bao giờ con bị bệnh ấy đâu! Chẳng qua chú ghét con mới đặt điều ra thế.
Từ đấy, Tào Tung tưởng thật và không bao giờ tin người em khi ông này mách tội Tào Tháo nữa.
Người ta đã quá quen thuộc với các giai thoại về Tào Tháo với châm ngôn "chết người": "Thà ta phụ người còn hơn để người phụ ta", chẳng hạn, Tháo giết cả nhà Lã Bá Sa, mượn đầu Vương Hậu để yên bụng quân, giả vờ ngủ say để rồi giết cả lính hầu... Trong cái "bảy thực ba hư" của Tam Quốc, tác giả mượn Tào Tháo để mô tả một cách khái quát và sống động tính gian hùng, đa nghi, tàn ác, xảo quyệt của giai cấp thống trị đương thời và của nhiều thời đại.
Người đời Tấn là Lục Cơ có nói: "Tuy công lao của Tào Tháo đầy khắp cả cõi Trung Hoa, nhưng ông ta lại tàn ác vô cùng, dân chúng ai ai cũng oán ghét".
Tào Tháo kỳ thị người hiểu rõ gan ruột mình mà Dương Tu, Tuân Úc, sau này đều là các nạn nhân. La Quán Trung đã dành trọn ác cảm với họ Tào qua bài hịch hùng hồn do Trần Lâm soạn khi Viên Thiệu chuẩn bị khởi binh đánh Tào Tháo... Phải chăng với tư tưởng chủ đạo của Tam Quốc, ở Tào Tháo, chữ nhân - yếu tố đầu tiên của Ngũ thường, được xem là thiếu hụt hơn hết so với các mặt khác. Điều này không khó giải thích khi chứng kiến ác cảm với ông ta của nhiều thế hệ người đọc. Nhưng...
2. Dù cho tác giả có mô tả Tào Tháo như một kẻ gian thần ác độc, một mẫu nhân vật có thể khiến người đời phải khiếp đảm khi nghĩ đến ông ta, song điều nghịch lý lại ở chỗ La Quán Trung vẫn cứ phải dùng những lời lẽ tốt đẹp nhất để nói về Tào Tháo, kể cả việc viết nên rất nhiều chi tiết xúc động lòng người để mô tả tài năng xuất chúng và cả lối hành xử rất quân tử của con người ấy.
Ngay khi xuất hiện lần thứ nhất, tác giả đã đặc biệt ưu ái Tào Tháo rồi: "... Bỗng thấy một toán binh mã kéo toàn cờ đỏ xông ra chặn đường. Một tướng đi đầu mình cao bẩy thước, mắt nhỏ râu dài. Tướng ấy là ai? Tức là quan kỵ đô úy, người ở Tiêu quận nước Bái, họ Tào tên Tháo, tự là Mạnh Đức". La Quán Trung kể tiếp: Bấy giờ có người tên là Kiều Huyền bảo Tháo rằng:
- Thiên hạ sắp loạn, trừ phi có tay tài giỏi hơn đời thì mới mong dẹp được loạn. Làm được như thế chắc chỉ có bác.
Hà Ngung ở Nam Dương, một hôm trông thấy Tháo đi qua cũng tán tụng rằng:
- Nhà Hán sắp mất, yên được thiên hạ chỉ có người này!
Gian hùng mà không phải gian thần (bản dịch của Phan Kế Bính - Bùi Kỷ). Đó mới là lối miêu tả qua tướng mạo nhìn người của chính tác giả với nhân vật trung tâm của mình. Tuy thế, phải đến lúc mô tả lối hành xử khi đã cầm quân của họ Tào, ngòi bút của La Quán Trung mới thể hiện được một cách xuất sắc điều ông muốn nói.
Ngay từ khi mới ra làm quan, Tào Tháo nổi bật tính thanh liêm và luôn tôn trọng luật pháp với phương châm "luật pháp bất vị thân" nên rất được dân nể sợ. Là người hết sức coi trọng tài năng, bất kể "quý - tiện", Tào Tháo tỏ ra có quan điểm tiến bộ nhất trong đám quan lại hồi đó. Cũng chỉ một mình Tào Tháo xung phong vào cung hành thích tên gian tặc Đổng Trác, việc không thành, bỏ trốn bị Trần Cung bắt được, Tháo dõng dạc:
- Ông cha ta đời đời ăn lộc nhà Hán, nếu ta không nghĩ cách báo quốc, có khác chi giống muông thú. Nay việc không xong, cũng là lòng Trời!
Tào Tháo nổi bật nhất so với mọi tướng lĩnh cùng thời về cách hiểu và dùng người. Ông là người anh hùng nên cũng trọng người anh hùng và chuyện "Uống rượu luận anh hùng" của Tam Quốc chỉ là một ví dụ. Hết sức coi trọng tài năng và giữ tín nghĩa, đấy cũng là phẩm chất số một của họ Tào. Chả thế mà chưa có một tướng nào bỏ Tào Tháo mà đi. Hãy nghe Tào Hồng nói với ông khi thấy Tào Công chẳng muốn dùng ngựa của mình để chạy thoát thân lúc bị giặc vây hãm - "Ta chạy đi rồi giặc sẽ giết ngươi mất".
- Ông đi đi! Thiên hạ có thể không có tôi nhưng không thể không có ông!
Biết Quan Công là danh tướng, Tào Tháo đãi cực hậu: Thượng mã đề kim, hạ mã đề ngân (lên ngựa tặng vàng, xuống ngựa tặng bạc); năm ngày một tiệc lớn, ba ngày một tiệc nhỏ.
Biết Trương Phi tài giỏi, bảo các tướng ghi tên Dực Đức vào vạt áo, sau gặp không được khinh địch. Thấy Tử Long xuất chúng, Tào Tháo sai Tào Hồng cầm lệnh tiễn phi ngựa xuống truyền các tướng sĩ không được bắn trộm, Tử Long cũng thoát hiểm từ đó...
Màn ảnh nhỏ mới đây đã cho người xem thấy rõ hơn về Tào Tháo. Ông ra đón Quan Công với con mắt thán phục sâu sắc, quỳ xuống đất vái kẻ hàng tướng. Trận Quan Độ, khi hai tướng của Viên Thiệu là Trương Cáp, Cao Lãm tới doanh trại, dù tả hữu khuyên nên đề phòng, Tào Tháo vẫn tự mình bước ra tận nơi vái chào. Có lẽ vì thế các tướng giỏi như Từ Hoảng, Trương Liêu, Vân Trường, Trương Cáp... lần lượt về với Tào Tháo.
3. Đối với các quan văn, những mưu sĩ, tượng trưng cho trí tuệ của nghệ thuật quân sự Trung Hoa một thời, Tào Tháo bộc lộ sự trân trọng từ phía người trong cuộc. Trước tiên, chính ông cũng là một mưu sĩ cực giỏi. Tào Tháo tự đi tìm người hiền mà không như Lưu Bị phải "Tam cố thảo lư" để vời Khổng Minh theo giới thiệu của Tư Mã Huy, hay Tôn Quyền dùng Trương Chiêu theo lời ủy thác lúc lâm chung của anh là Tôn Sách và giới thiệu của Chu Du. Với chú cháu Tuân Du, Tuân Úc, với Trình Dục, Đổng Chiêu... đều như thế.
Chỉ cần một hồi, miêu tả trận đại chiến Quan Độ, người xem đã thấy rõ thế nào là lời khen tặng "Thừa tướng dụng binh như thần" của tướng lĩnh dành cho Tào Tháo.
Ông sáng suốt đã đành, nhưng cũng là người duy nhất ở Tam Quốc không bao giờ kết thúc trận đánh ngay sau khi còn có thể, dù chỉ là một hy vọng nhỏ, để chuyển bại thành thắng. Xem Tam Quốc, chỉ thấy mỗi Tào Tháo, trong tên đạn bời bời ở sông Vị, lửa thiêu thành Bộc Dương hay giữa lúc mất áo, trụi râu vẫn đủ sức chuyển bại thành thắng ngay trong khoảnh khắc bằng những quyết đoán sáng suốt. Vì thế, câu nói "Không ngờ lại mắc mưu Tào Tháo" chẳng phải của riêng một ai ở Tam Quốc.
Tháo không kịp xỏ giày, chân không ra đón Hứa Du, khóc tiễn Trần Cung, lưu luyến Thẩm Phối, Thư Thụ, tế lễ Điển Vi và cả khi tế Viên Thiệu. Tào Tháo dùng Trần Lâm mặc dù đó chính là người viết lời hịch sỉ nhục ba đời nhà mình. Trên đường đi đánh Viên Hy, Viên Thượng vẫn chăm sóc Quách Gia lâm bệnh, khi Hạ Hầu Đôn bị mất mắt đã vào tận giường hỏi thăm...
Tháo đặc biệt ghét bọn bán chúa cầu vinh mà việc chém Miêu Trạch là một ví dụ. Ở vào thời đại của mình, lịch sử đã ghi rằng ba cha con Tào Tháo, Tào Phi và Tào Thực đều là những nhà thơ có tên tuổi. Tào Tháo tinh thông cầm-kỳ-thi-họa, thơ phú ngay cả trong lúc gian nan, hài hước khi thua trận (đường Hoa Dung, Xích Bích), giỏi đàn nơi doanh trại. Tào Tháo là người sành kiến trúc: từ việc lớn như "duyệt" phương án xây đền Đồng Tước cho tới tiểu tiết về cái cổng của vườn hoa nơi chính điện. Đi đánh Mặc Đặc xa xôi, trên đường vẫn ghé lại thăm nhà cố sử gia Sái Ung rồi ra tận bia mộ đọc văn bia với một chi tiết cực kỳ sâu sắc của trí tuệ Tào Tháo, liệu đã có ai bằng?
Xưa nay ai cũng hiểu rằng làm một người anh hùng thời loạn là việc cực kỳ khó.
Càng khó hơn, nếu người ấy vẫn giữ được thân và lại yên thiên hạ. Sách Tam Quốc kể rằng năm Kiến An thứ 15, mùa xuân, Tào Tháo ở Nghiệp Quận bày tiệc mừng đền Đồng Tước. Đêm ấy, các quan văn có tiếng trong triều như Trần Lâm, Vương Xán, Chung Do, Vương Lãng đã làm thơ để ca ngợi công đức Thừa tướng. Ông xem qua rồi trả lời bằng đoạn tự bạch nổi tiếng sau: "Các ông văn hay khen ta quá lời. Ta vốn là người ngu lâu, khi xưa may mà đỗ Hiếu Liêm. Sau gặp lúc thiên hạ đại loạn, có dựng cái nhà đọc sách cách phía Đông của Tiêu thành năm mươi dặm, lòng những muốn mùa xuân mùa hạ đọc sách, mùa thu mùa đông săn bắn, đợi thiên hạ thái bình mới ra làm quan. Không ngờ triều đình gọi ta ra, phong làm Điển quân Hiệu úy, ta mới đổi nguyện vọng xưa, quay ra giúp nước mong dẹp giặc lập công; chỉ mong sau khi chết đi, trên mộ được ghi mấy chữ "Đây là mộ Tào hầu, cố chinh Tây tướng quân" cũng đã là mãn nguyện. Ta vẫn còn nhớ đến lời đức Khổng Tử khen đức lớn của vua Văn Vương đời nhà Chu, lời xưa ta vẫn canh cánh bên lòng. Nhưng nếu lại muốn cho ta bỏ binh quyền tất sẽ bị kẻ khác hãm hại. Ta mà bị hại thì nhà nước tất sẽ lâm nguy. Bởi thế ta không thể mến cái tiếng hão để chuốc lấy vạ thật. Chắc các ông chưa ai hiểu hết bụng ta"...
Cách đây chừng ba chục năm, trên văn đàn Trung Quốc đã xuất hiện một khuynh hướng xem xét lại sự đánh giá với các nhân vật trong Tam Quốc. Theo đó, Lưu Bị vốn có đức nhưng kém tài, lại nhu nhược và giả dối. Khổng Minh tài năng siêu tuyệt, nhưng lại chỉ là nhân vật mang nét huyền thoại với tài hú gió gọi mưa, biết phép độn giáp dâng sao, biết chế ra trâu gỗ, ngựa gỗ và chính ông đã cùng Lưu Bị cố tình kéo dài cuộc nội chiến đẫm máu.
Chỉ có Tào Tháo với tài năng và cả những mặt hạn chế đã trực tiếp góp phần đẩy nhanh tiến trình phát triển của lịch sử Trung Hoa, đồng thời có nhiều công lao trong những cải cách xã hội cho đất Trung nguyên vào thời ấy. Được biết, khuynh hướng nói trên đã được cố nhà văn Quách Mạt Nhược ủng hộ và đề cao. Phải chăng vì thế, bộ phim "Tam Quốc diễn nghĩa" mà chúng ta đã xem là một tác phẩm điện ảnh với những sáng tạo mới xuất sắc tiếp theo
Nguyễn Lưu
Chồng hay là... "con"?
Đàn ông thường không thích sự ràng buộc, tù túng. Thay vì yêu chồng, không ít bà đã sai lầm khi thể hiện tình cảm với chồng như với… con.
Anh Liêm, một đồng nghiệp được mệnh danh là “người chồng… mẫu” trong công ty tôi. Nhưng anh chẳng thích thú gì với cái danh xưng đầy vinh dự ấy bởi chúng tôi biết rõ cuộc sống hôn nhân của anh “hoàn cảnh” như thế nào.
Yêu chồng như con
Vợ anh chỉ là một phụ nữ trung bình về mọi mặt, chỉ ở nhà nuôi con nhưng lại được chồng cưng như trứng. Hơi tí là nghe anh nhắc “vợ anh thế này, vợ anh thế nọ” làm bọn phụ nữ chúng tôi phải ghen tỵ vì chị ấy tốt số quá! Có điều, chị săn sóc anh kỹ đến mức chúng tôi cũng… mệt mỏi lây.
Nếu anh không ăn sáng ở nhà thì quà sáng của anh bao giờ cũng được chị gói theo, lúc cái bánh bao, lúc gói xôi, lúc ổ bánh mì. Chị không muốn anh ăn sáng ở ngoài. Hôm nào cũng vậy, vừa vô công ty là điện thoại di động của anh reo. Biết trước nên anh không trả lời mà lấy điện thoại bàn gọi lại cho chị thấy số điện thoại của công ty cho biết anh đã đến công ty chứ không phải chỗ nào khác!
Buổi trưa, vừa bưng mâm cơm ra là điện thoại anh lại reo, anh vừa trò chuyện với chị vừa ăn cơm để chị an tâm là anh đang ăn cơm tại căng-tin chứ không phải… cơm trưa văn phòng kiếng đen máy lạnh với ai khác. Chị còn hay gọi vào điện thoại di động của bọn tôi và nhờ… chuyển máy cho anh. Chị gọi cho anh thường đến nỗi chỉ cần nghe điện thoại anh reo là chúng tôi biết chị gọi chứ không ai khác.
Chưa hết, cứ cách ngày lại thấy chị gọi kêu nhức đầu, hôm thì đau bụng, lúc… ăn không tiêu và đòi anh về. Anh bảo ở nhà thiếu gì người nhưng chị chỉ thích được chồng chăm sóc. Anh bảo lúc đầu thấy chị hay làm nũng cũng thích vì trông chị có vẻ nữ tính, nhưng khi đã có tuổi, con đã lớn, anh lại thấy phiền phức vì đâu còn son trẻ gì. Đám cưới, tiệc tùng gì anh cũng mang chị theo. Chỉ cần thấy bóng chị là mọi người nháy nhau: “Mẫu hậu của anh Liêm kìa!”.
Giữ chồng mọi lúc mọi nơi
Thời còn lái taxi, có lần anh Khoa sơ ý đụng một phụ nữ gãy chân phải nằm viện hàng tháng trời. Đó là một phụ nữ đẹp, vừa ly dị chồng, hoàn cảnh đầy tâm trạng. Sau thời gian lui tới thăm nạn nhân, anh Khoa trở thành “ân nhân” của người phụ nữ nọ vì mối quan hệ của họ đã chuyển sang trạng thái khác.
Chuyện này bị vợ anh Khoa phát hiện và dập tắt nhanh chóng nhưng cũng từ đó, vợ anh bắt đầu quản lý anh chặt hơn. Anh đi đâu chị cũng đòi đi theo. Nghĩ mình có lỗi nên thời gian đầu anh ngoan ngoãn chấp hành để chứng tỏ mình trong sạch nhưng dần dần, anh bắt đầu khó chịu vì cảm giác bị kiểm soát quá đáng.
Mỗi lần các chiến hữu hẹn gặp là chị nằng nặc đòi theo, không cho thì chị nghi ngờ, làm mình làm mẩy, đưa chị theo được hai lần đám bạn cạch anh luôn. Chẳng ai dám rủ anh nữa dù có khi chỉ gặp nhau bàn chuyện làm ăn, công việc. Thấy anh phản ứng, chị áp dụng chiêu khác tuy cũ nhưng vẫn khá hiệu quả. Chị huấn luyện những đứa con thay mẹ giám sát bố vì chị biết anh rất cưng con. Thấy anh ra khỏi nhà là mấy đứa con đòi đi theo.
Có lần, sau đám cưới một đồng nghiệp, cả nhóm rủ đi karaoke. Anh hăm hở định tham gia thì con bé con níu áo bố: “Mẹ dặn bố mấy giờ về bố không nhớ sao?” làm mọi người ái ngại về hết. Nghe đâu anh đòi ly dị mấy lần không chỉ vì sự thiếu tin tưởng của vợ mà vì cảm thấy lòng tự trọng bị tổn thương nặng nề.
Phụ nữ vốn thích được yêu bằng sự quan tâm, chăm sóc tỉ mỉ và theo bản năng, họ cũng yêu với cung cách của một người mẹ chăm con. Những ông “ngoan ngoãn” thường có khuynh hướng chịu phép cho vui cửa vui nhà. Còn những ông chồng bản lĩnh lại bị đưa vào thế muốn sổ lồng càng sớm càng tốt. Hành động của hai người vợ trên đây đều xuất phát từ tâm lý sợ mất nhưng họ không nghĩ rằng với cách yêu và giữ chồng như thế, họ đã vô tình đẩy chồng ra xa mình hơn.
Đỗ Thu Vân
Anh Liêm, một đồng nghiệp được mệnh danh là “người chồng… mẫu” trong công ty tôi. Nhưng anh chẳng thích thú gì với cái danh xưng đầy vinh dự ấy bởi chúng tôi biết rõ cuộc sống hôn nhân của anh “hoàn cảnh” như thế nào.
Yêu chồng như con
Vợ anh chỉ là một phụ nữ trung bình về mọi mặt, chỉ ở nhà nuôi con nhưng lại được chồng cưng như trứng. Hơi tí là nghe anh nhắc “vợ anh thế này, vợ anh thế nọ” làm bọn phụ nữ chúng tôi phải ghen tỵ vì chị ấy tốt số quá! Có điều, chị săn sóc anh kỹ đến mức chúng tôi cũng… mệt mỏi lây.
Nếu anh không ăn sáng ở nhà thì quà sáng của anh bao giờ cũng được chị gói theo, lúc cái bánh bao, lúc gói xôi, lúc ổ bánh mì. Chị không muốn anh ăn sáng ở ngoài. Hôm nào cũng vậy, vừa vô công ty là điện thoại di động của anh reo. Biết trước nên anh không trả lời mà lấy điện thoại bàn gọi lại cho chị thấy số điện thoại của công ty cho biết anh đã đến công ty chứ không phải chỗ nào khác!
Buổi trưa, vừa bưng mâm cơm ra là điện thoại anh lại reo, anh vừa trò chuyện với chị vừa ăn cơm để chị an tâm là anh đang ăn cơm tại căng-tin chứ không phải… cơm trưa văn phòng kiếng đen máy lạnh với ai khác. Chị còn hay gọi vào điện thoại di động của bọn tôi và nhờ… chuyển máy cho anh. Chị gọi cho anh thường đến nỗi chỉ cần nghe điện thoại anh reo là chúng tôi biết chị gọi chứ không ai khác.
Chưa hết, cứ cách ngày lại thấy chị gọi kêu nhức đầu, hôm thì đau bụng, lúc… ăn không tiêu và đòi anh về. Anh bảo ở nhà thiếu gì người nhưng chị chỉ thích được chồng chăm sóc. Anh bảo lúc đầu thấy chị hay làm nũng cũng thích vì trông chị có vẻ nữ tính, nhưng khi đã có tuổi, con đã lớn, anh lại thấy phiền phức vì đâu còn son trẻ gì. Đám cưới, tiệc tùng gì anh cũng mang chị theo. Chỉ cần thấy bóng chị là mọi người nháy nhau: “Mẫu hậu của anh Liêm kìa!”.
Giữ chồng mọi lúc mọi nơi
Thời còn lái taxi, có lần anh Khoa sơ ý đụng một phụ nữ gãy chân phải nằm viện hàng tháng trời. Đó là một phụ nữ đẹp, vừa ly dị chồng, hoàn cảnh đầy tâm trạng. Sau thời gian lui tới thăm nạn nhân, anh Khoa trở thành “ân nhân” của người phụ nữ nọ vì mối quan hệ của họ đã chuyển sang trạng thái khác.
Chuyện này bị vợ anh Khoa phát hiện và dập tắt nhanh chóng nhưng cũng từ đó, vợ anh bắt đầu quản lý anh chặt hơn. Anh đi đâu chị cũng đòi đi theo. Nghĩ mình có lỗi nên thời gian đầu anh ngoan ngoãn chấp hành để chứng tỏ mình trong sạch nhưng dần dần, anh bắt đầu khó chịu vì cảm giác bị kiểm soát quá đáng.
Mỗi lần các chiến hữu hẹn gặp là chị nằng nặc đòi theo, không cho thì chị nghi ngờ, làm mình làm mẩy, đưa chị theo được hai lần đám bạn cạch anh luôn. Chẳng ai dám rủ anh nữa dù có khi chỉ gặp nhau bàn chuyện làm ăn, công việc. Thấy anh phản ứng, chị áp dụng chiêu khác tuy cũ nhưng vẫn khá hiệu quả. Chị huấn luyện những đứa con thay mẹ giám sát bố vì chị biết anh rất cưng con. Thấy anh ra khỏi nhà là mấy đứa con đòi đi theo.
Có lần, sau đám cưới một đồng nghiệp, cả nhóm rủ đi karaoke. Anh hăm hở định tham gia thì con bé con níu áo bố: “Mẹ dặn bố mấy giờ về bố không nhớ sao?” làm mọi người ái ngại về hết. Nghe đâu anh đòi ly dị mấy lần không chỉ vì sự thiếu tin tưởng của vợ mà vì cảm thấy lòng tự trọng bị tổn thương nặng nề.
Phụ nữ vốn thích được yêu bằng sự quan tâm, chăm sóc tỉ mỉ và theo bản năng, họ cũng yêu với cung cách của một người mẹ chăm con. Những ông “ngoan ngoãn” thường có khuynh hướng chịu phép cho vui cửa vui nhà. Còn những ông chồng bản lĩnh lại bị đưa vào thế muốn sổ lồng càng sớm càng tốt. Hành động của hai người vợ trên đây đều xuất phát từ tâm lý sợ mất nhưng họ không nghĩ rằng với cách yêu và giữ chồng như thế, họ đã vô tình đẩy chồng ra xa mình hơn.
Đỗ Thu Vân
-
Nguyễn_Sydney
- Posts: 2581
- Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
- Been thanked: 1 time
Những điều vô lý của Cộng sản (tiếp theo )
Một khách du lịch Mỹ đến thủ đô Warsaw ,Ba lan bằng xe hơi dừng lại hỏi công an giao thông đường đi về hướng Công viên có trình diễn nhạc Chopin.Công an rất lịch sự nói :
-Thưa tướng quân ,Ngài cứ đi thẳng ,đến ngã tư đầu thì rẽ tar1i,thẳng một đoạn nữa là Ngài thấy ngay công viên từ xa.
Khi xe du lịch đi khuất ,một công an khác hỏi đồng nghiệp :
-Hay nhỉ , khách chẳng nói gì về mình mà sao cậu biết ông ta là tướng.-
-Cậu ngốc thật ! thế cậu không nhìn thấy hàng chữ "General Motors" trên ô tô à?
++++++++++
Nột quan chức Cộng sản có thú câu Cá .Một hôm lão tóm được chú Cá chép lớn ,gỡ lưỡi câu định cho cá vào giỏ thì lão chợt nghe thấy cá năn nỉ :
-thưa ông ,tôi không phải là cá thường ,là cá Tiên.hãy thả tôi xuống sông ,tôi sẽ cho ông thực hiện ba điều ước.
-Trời đất ! thật vậy sao ?
-Lão kêu lên - nhưng làm sao ta có thể tin nhà ngươi được? Bây giờ ta ước điều thứ nhất mà đúng , ta sẽ thả ngươi ngay.
-Vâng ,ông cứ ước đi ,chỉ cần nghĩ trong đâu cũng được !
-Lão quan nghĩ ngay đến cái biệt thự nhà mình cần thay bằng cung điện nguy nga.Ai ngờ lão vừa chớp mắt ,cung điện đã hiện ra .Lão khoái chí quá ,vuốt ve cá trước khi thả xuống :
-Tuyệt ,tuyệt ,nhà người lại về với nước nghe ! Nhớ ta còn hai điều ước đấy.
Rồi lão ta nói lớn :
"-Chả lẽ chỉ có lâu đài trống rỗng.Phải có tiền.Thật nhiều tiền. Hãy cho ta đầy vàng bạc châu báu trong lâu đài .
Vừa nói xong lão thấy tiền bạc châu báu bay vào lâu đài như mưa sa.
Nhà cao ,cửa rộng , quen tật hàng ngày ,vốn vẫn thích tìm gái còn trinh ,ân ái với các em chân dài ,lão ta nghĩ thầm :giá mà lúc nào cũng được áp mặt vào chỗ mềm mại ấy của các em thì ta hàon toàn tại nguyện.
Ngay lập tức lão bị biến thành miếng băng vệ sinh của phụ nữ.
Một khách du lịch Mỹ đến thủ đô Warsaw ,Ba lan bằng xe hơi dừng lại hỏi công an giao thông đường đi về hướng Công viên có trình diễn nhạc Chopin.Công an rất lịch sự nói :
-Thưa tướng quân ,Ngài cứ đi thẳng ,đến ngã tư đầu thì rẽ tar1i,thẳng một đoạn nữa là Ngài thấy ngay công viên từ xa.
Khi xe du lịch đi khuất ,một công an khác hỏi đồng nghiệp :
-Hay nhỉ , khách chẳng nói gì về mình mà sao cậu biết ông ta là tướng.-
-Cậu ngốc thật ! thế cậu không nhìn thấy hàng chữ "General Motors" trên ô tô à?
++++++++++
Nột quan chức Cộng sản có thú câu Cá .Một hôm lão tóm được chú Cá chép lớn ,gỡ lưỡi câu định cho cá vào giỏ thì lão chợt nghe thấy cá năn nỉ :
-thưa ông ,tôi không phải là cá thường ,là cá Tiên.hãy thả tôi xuống sông ,tôi sẽ cho ông thực hiện ba điều ước.
-Trời đất ! thật vậy sao ?
-Lão kêu lên - nhưng làm sao ta có thể tin nhà ngươi được? Bây giờ ta ước điều thứ nhất mà đúng , ta sẽ thả ngươi ngay.
-Vâng ,ông cứ ước đi ,chỉ cần nghĩ trong đâu cũng được !
-Lão quan nghĩ ngay đến cái biệt thự nhà mình cần thay bằng cung điện nguy nga.Ai ngờ lão vừa chớp mắt ,cung điện đã hiện ra .Lão khoái chí quá ,vuốt ve cá trước khi thả xuống :
-Tuyệt ,tuyệt ,nhà người lại về với nước nghe ! Nhớ ta còn hai điều ước đấy.
Rồi lão ta nói lớn :
"-Chả lẽ chỉ có lâu đài trống rỗng.Phải có tiền.Thật nhiều tiền. Hãy cho ta đầy vàng bạc châu báu trong lâu đài .
Vừa nói xong lão thấy tiền bạc châu báu bay vào lâu đài như mưa sa.
Nhà cao ,cửa rộng , quen tật hàng ngày ,vốn vẫn thích tìm gái còn trinh ,ân ái với các em chân dài ,lão ta nghĩ thầm :giá mà lúc nào cũng được áp mặt vào chỗ mềm mại ấy của các em thì ta hàon toàn tại nguyện.
Ngay lập tức lão bị biến thành miếng băng vệ sinh của phụ nữ.
Vũ Trung Hiền tâm sự với các bạn
Trước khi tôi từ giă VN, một thân hữu ở Mỹ viết Email, yêu cầu tôi mua hộ một số CD, DVD. Tôi biết chắc chắn, muốn cho CD và DVD qua khỏi Hải Quan phi trường Tân Sơn Nhất, có hai cách: một là đem những CD, DVD này đến cơ quan kiểm duyệt thuộc Sở Văn Hoá Thông Tin, đóng lệ phí xin kiểm duyệt, hẹn ngày tới nhận gói văn hoá phẩm đã niêm phong; hai là hối lộ cho nhân viên Hải Quan khi đưa hành lý qua máy kiểm soát. Cả hai cách này, tôi đều không ưa. Nên tôi trả lời anh bạn, là rất tiếc tôi không thể thực hiện lời yêu cầu đó được.
Rất may cho tôi, là tôi không cả nể, và đã có can đảm từ chối. Một số người cứ tưởng mình có thể xếp CD, DVD theo chiều đứng trong vali, thì khi qua máy, máy sẽ không “nhì́n” thấy, và sẽ không gặp trở ngại ǵì .
Một thân hữu của tôi đã lầm tưởng như vậy! Bà mua một số CD, DVD ở nhà sách quốc doanh trên đường Nguyễn Hue, kèm theo vài DVD Thúy Nga Paris, Asia ,..bán rẻ rề (không đến 2 đô la một cái) ở hầu hết những tiệm băng nhạc tại Saigon. Bà bỏ tất cả số dĩa nhạc này vào vali. Ngày rời VN, bà đẩy vali đến quầy vé, làm thủ tục check in. Nhân viên hăng hàng không cân xong, gắn dấu hiệu, cho hành lý lên vòng chuyền, chuyển ra máy bay . Bà yên trí, bước ra khu vực chờ đợi lên phi cơ. Khoảng nửa tiếng trước giờ khởi hành, bà nghe thấy tên mình trên loa phóng thanh. Họ yêu cầu bà trình diện Phọ̀ng Hải Quan Sân Bay gấp. Bà tất tả trở lại đó. Người ta yêu cầu bà mở va li, cho bà thấy mấy chiếc CD, DVD bà mua về Mỹ làm quà cho con cháu. Người nữ cán bộ Hải Quan hỏi bà có giấy phép mang những thứ này ra khỏi VN không. Bà hỏi lại “Mấy băng nhạc này bán công khai ở Nhà Sách, đầy đường đầy phố, sao lại phải có giấy phép?” . Người cán bộ nói:Tôi chỉ hỏi bà có giấy kiểm duyệt hay không, bà trả lời đi . Bà nói không, và cho chị cán bộ biết bà khỏi cần đem theo những thứ đó nữa. Bà bảo, bà sẵn lọ̀ng bỏ lại, và yêu cầu chị cán bộ tịch thu đi . Nhưng người cán bộ Hải Quan không bằng lòng tịch thu. Chị cười mỉa mai “Chúng tôi lấy mấy của nợ này làm gì, hở bà?” Chị cho biết bà đã vi phạm luật, đã mang văn hóa phẩm chưa kiểm duyệt ra khỏi nước. Chị yêu cầu bà chờ chị làm biên bản vi phạm, và tŕnh cấp lănh đạo xử lý! Bà bực mình lắm, vì biết chị cán bộ Hải Quan trạc tuổi con bà muốn làm khó dễ. Bà biết, nếu chờ “làm biên bản, trì́nh cấp trên xử lý”, chắc chắn bà sẽ trễ chuyến bay về Mỹ. Nên bà đành móc bóp, đưa mấy chục đô la cho chi.nhân viên Nhà Nước, và xin được “nộp phạt”. Chị cán bộ Hải Quan“thông cảm” ngay lập tức. Nhận tiền xong, chị bỏ tất cả tang vật vào lại va li. Từ xưng “Tôi”, chị chuyển thành xưng “Con”, cám ơn rối rít, và chúc bà lên đường mạnh giỏi!
Riêng tôi, khi đưa túi xách tay vào máy kiểm soát, tôi cũng chẳng biết là mình đã để chiếc máy thu băng nhỏ và vài cuốn minicassette trongđó. Khi người cán bộ Hải Quan yêu cầu tôi đứng riêng ra, hỏi “Trong túi này có CD, DVD gì không?”, tôi vẫn tin nơi sự “vô tội” của mình, mạnh bạo đáp: Không, chẳng có gì cả !
Và tôi lần lượt lôi ra từ trong túi ra cho anh ta xem những chiếc bánh ít nhân đậu xanh, mấy chiếc gương sen tươi đầy hột, hai ổ bánh mì thịt nguội...
Lúc đó, thật tình tôi không biết rằng mình đã đem theo thứ đồ quốc cấm, là mấy cái minicassette thu tiếng nói của những đồng bào tôi đã có dịp tiếp xúc trong lúc tháp tùng chuyến đi cứu trợ của MS Bảo!
Chiếc máy kiểm soát của Hải Quan ở phi trường Tân Sơn Nhất tối tân không thua bất cứ chiếc máy nào ở những phi trường quốc tế khác. Chắc hẳn nó đã nhìn thấy mấy cuộn minicassette của tôi !!
Nhưng rất may cho tôi, một hành khách đi phía sau tôi đã để lên dây chuyền một túi xách đựng khá nhiều DVD vừa bị máy phơi ra trên màn ảnh !
Người cán bộ Hải Quan thấy tôi đã lôi ra gần hết những vật trong xách tay, nên bảo tôi bỏ đồ vào lại, và quay ra khai thác con mồi thứ nhì, coi bộ béo bở hơn.
Thực ra, nếu không có người hành khách ấy cứu nguy cho tôi, và nhân viên Hải Quan nhìn vào túi xách, thấy mấy cuộn băng nhỏ xíu đó, chắc chắn tôi sẽ gặp rắc rối không ít !
Từ kinh nghiệm này, tôi xin nhắn các thân hữu, nếu có về VN, chẳng nên nhận mang sang Mỹ cho ai bất cứ một loại văn hoá phẩm nào, nhất là cassette, CD, DVD, ...vì các bạn không đoán biết được những phiền nhiễu sẽ gặp với Hải Quan ở phi trường Tân Sơn Nhất đâu.
Quê Hương ở Nơi Nào?
Tại sao mỗi lần về VN, gặp lại những người cùng dòng giống, nói chung một tiếng mẹ đẻ, các ông các bà công an ở Hải Quan Tân Sơn Nhất, rồi ra trình diện các vị công an Phường nơi tạm trú, tôi đều có cảm giác bất an, lo sợ?
Phải chăng những năm tháng bị ngược đãi, kỳ thị, phân biệt đối xử, tù tội... trên quê hương, sau 1975, luôn luôn có bóng dáng những người công an phường, công an quận, công an tỉnh... ẩn hiện?
Lần từ giă VN, tháng 5, 2006, trước khi vào khu vực chờ lên máy bay, tôi trì́nh passport cho môt viên đại úy công an Hải Quan. Tôi nhớ rõ ràng tên ông ta là Phạm Đãng Lâm, vì cùng tên với một nhà ngoại giao VNCH trong thập niên 60, 70. Đứng trước quầy làm việc của viên công an này, tôi đã bỏ mũ, cầm trên tay, đưa giấy tờ cho ông ta, và cất tiếng:
- Chào ông !
Ông ta khoảng ngoài bốn mươi, rắn chắc, mặt mũi đen đủi, đằng đằng sát khí. Không nói một lời, cũng không ngước lên nhìn, viên đại úy công an giật lấy passport, bên trong có tờ giấy khai màu vàng, lẳng lặng kiểm soát hồ sơ của tôi trên màn hình computer.
Chừng năm bảy phút sau, ông ta quăng passport lên quầy, trả lại tôi, hất tay ra hiệu cho tôi đi
Tôi nói:
- Cám ơn ông !
Người sĩ quan công an VC nghếch mắt nhìn đi nơi khác, không nhận tiếng cám ơn.
Tôi thầm nghĩ, nếu Bộ Công An thuyên chuyển ông đại úy này về pḥòng điều tra tội phạm, hoặc nơi cần đánh đập, tra tấn bọn phản động, chống đối Nhà Nước, thì́ có lẽ thích hợp với khả năng của ông ta, và có lợi cho Nhà Nước hơn.
Thái độ của ông công an Hải Quan mang tên Phạm Đãng Lâm, và những ông bà công an Phường nơi tôi tạm trú, hạch hỏi tôi rời VN năm nào, ra đi theo diện nào, tại sao về tới nhà chiều hôm qua không trì́nh diện ngay, lại chờ đến sáng nay... khiến cho niềm háo hức, mong trở lại thăm quê hương trong tôi đã không c̣òn tha thiết như trước đây nữa
Tôi thường tự hỏi tại sao, khi về đến phi trường Tom Bradley, Los Angeles , người sĩ quan Sở Di Trú lại lịch sự, niềm nở hỏi thăm tôi đã đi những đâu, và còn nói “Welcome Back”; trong lúc trở lại quê hương VN thân yêu, mình lại được người đồng chủng đối xử như vậy
Vậy thì quê nhà tôi, đất nước tôi ở đâu . Đâu mới là nơi chốn tôi cảm thấy thoải mái, không lo sợ khi đến và đi ?
*
* *
Một tác giả nào đó, tôi không nhớ tên, đã viết đại ý “Quê hương không phải luôn luôn là nơi bạn đã mở mắt chào đời, nơi thân nhân, bạn bè bạn đang sống, nơi bạn đã lớn lên, và có những kỷ niệm vui buồn.
Quê Hương là bất cứ nơi nào bạn được chấp nhận, không bị xua đuổi, kỳ thị
Đó là nơi, mỗi đêm đặt mình nằm xuống, nghe tiếng chó sủa, bạn không nghĩ ngay đến chuyện công an sắp sửa gõ cửa, còng tay bạn mang đi
Đó là nơi con cháu bạn có cơ hội phát triển hết mức những tiềm năng của chúng, mà không sợ bị kỳ thị, chèn ép, vì cha mẹ chúng đã lỡ thuộc về lớp người bại trận...”
Pasadena, tháng 6, 2006
Vũ Trung Hiền
Trước khi tôi từ giă VN, một thân hữu ở Mỹ viết Email, yêu cầu tôi mua hộ một số CD, DVD. Tôi biết chắc chắn, muốn cho CD và DVD qua khỏi Hải Quan phi trường Tân Sơn Nhất, có hai cách: một là đem những CD, DVD này đến cơ quan kiểm duyệt thuộc Sở Văn Hoá Thông Tin, đóng lệ phí xin kiểm duyệt, hẹn ngày tới nhận gói văn hoá phẩm đã niêm phong; hai là hối lộ cho nhân viên Hải Quan khi đưa hành lý qua máy kiểm soát. Cả hai cách này, tôi đều không ưa. Nên tôi trả lời anh bạn, là rất tiếc tôi không thể thực hiện lời yêu cầu đó được.
Rất may cho tôi, là tôi không cả nể, và đã có can đảm từ chối. Một số người cứ tưởng mình có thể xếp CD, DVD theo chiều đứng trong vali, thì khi qua máy, máy sẽ không “nhì́n” thấy, và sẽ không gặp trở ngại ǵì .
Một thân hữu của tôi đã lầm tưởng như vậy! Bà mua một số CD, DVD ở nhà sách quốc doanh trên đường Nguyễn Hue, kèm theo vài DVD Thúy Nga Paris, Asia ,..bán rẻ rề (không đến 2 đô la một cái) ở hầu hết những tiệm băng nhạc tại Saigon. Bà bỏ tất cả số dĩa nhạc này vào vali. Ngày rời VN, bà đẩy vali đến quầy vé, làm thủ tục check in. Nhân viên hăng hàng không cân xong, gắn dấu hiệu, cho hành lý lên vòng chuyền, chuyển ra máy bay . Bà yên trí, bước ra khu vực chờ đợi lên phi cơ. Khoảng nửa tiếng trước giờ khởi hành, bà nghe thấy tên mình trên loa phóng thanh. Họ yêu cầu bà trình diện Phọ̀ng Hải Quan Sân Bay gấp. Bà tất tả trở lại đó. Người ta yêu cầu bà mở va li, cho bà thấy mấy chiếc CD, DVD bà mua về Mỹ làm quà cho con cháu. Người nữ cán bộ Hải Quan hỏi bà có giấy phép mang những thứ này ra khỏi VN không. Bà hỏi lại “Mấy băng nhạc này bán công khai ở Nhà Sách, đầy đường đầy phố, sao lại phải có giấy phép?” . Người cán bộ nói:Tôi chỉ hỏi bà có giấy kiểm duyệt hay không, bà trả lời đi . Bà nói không, và cho chị cán bộ biết bà khỏi cần đem theo những thứ đó nữa. Bà bảo, bà sẵn lọ̀ng bỏ lại, và yêu cầu chị cán bộ tịch thu đi . Nhưng người cán bộ Hải Quan không bằng lòng tịch thu. Chị cười mỉa mai “Chúng tôi lấy mấy của nợ này làm gì, hở bà?” Chị cho biết bà đã vi phạm luật, đã mang văn hóa phẩm chưa kiểm duyệt ra khỏi nước. Chị yêu cầu bà chờ chị làm biên bản vi phạm, và tŕnh cấp lănh đạo xử lý! Bà bực mình lắm, vì biết chị cán bộ Hải Quan trạc tuổi con bà muốn làm khó dễ. Bà biết, nếu chờ “làm biên bản, trì́nh cấp trên xử lý”, chắc chắn bà sẽ trễ chuyến bay về Mỹ. Nên bà đành móc bóp, đưa mấy chục đô la cho chi.nhân viên Nhà Nước, và xin được “nộp phạt”. Chị cán bộ Hải Quan“thông cảm” ngay lập tức. Nhận tiền xong, chị bỏ tất cả tang vật vào lại va li. Từ xưng “Tôi”, chị chuyển thành xưng “Con”, cám ơn rối rít, và chúc bà lên đường mạnh giỏi!
Riêng tôi, khi đưa túi xách tay vào máy kiểm soát, tôi cũng chẳng biết là mình đã để chiếc máy thu băng nhỏ và vài cuốn minicassette trongđó. Khi người cán bộ Hải Quan yêu cầu tôi đứng riêng ra, hỏi “Trong túi này có CD, DVD gì không?”, tôi vẫn tin nơi sự “vô tội” của mình, mạnh bạo đáp: Không, chẳng có gì cả !
Và tôi lần lượt lôi ra từ trong túi ra cho anh ta xem những chiếc bánh ít nhân đậu xanh, mấy chiếc gương sen tươi đầy hột, hai ổ bánh mì thịt nguội...
Lúc đó, thật tình tôi không biết rằng mình đã đem theo thứ đồ quốc cấm, là mấy cái minicassette thu tiếng nói của những đồng bào tôi đã có dịp tiếp xúc trong lúc tháp tùng chuyến đi cứu trợ của MS Bảo!
Chiếc máy kiểm soát của Hải Quan ở phi trường Tân Sơn Nhất tối tân không thua bất cứ chiếc máy nào ở những phi trường quốc tế khác. Chắc hẳn nó đã nhìn thấy mấy cuộn minicassette của tôi !!
Nhưng rất may cho tôi, một hành khách đi phía sau tôi đã để lên dây chuyền một túi xách đựng khá nhiều DVD vừa bị máy phơi ra trên màn ảnh !
Người cán bộ Hải Quan thấy tôi đã lôi ra gần hết những vật trong xách tay, nên bảo tôi bỏ đồ vào lại, và quay ra khai thác con mồi thứ nhì, coi bộ béo bở hơn.
Thực ra, nếu không có người hành khách ấy cứu nguy cho tôi, và nhân viên Hải Quan nhìn vào túi xách, thấy mấy cuộn băng nhỏ xíu đó, chắc chắn tôi sẽ gặp rắc rối không ít !
Từ kinh nghiệm này, tôi xin nhắn các thân hữu, nếu có về VN, chẳng nên nhận mang sang Mỹ cho ai bất cứ một loại văn hoá phẩm nào, nhất là cassette, CD, DVD, ...vì các bạn không đoán biết được những phiền nhiễu sẽ gặp với Hải Quan ở phi trường Tân Sơn Nhất đâu.
Quê Hương ở Nơi Nào?
Tại sao mỗi lần về VN, gặp lại những người cùng dòng giống, nói chung một tiếng mẹ đẻ, các ông các bà công an ở Hải Quan Tân Sơn Nhất, rồi ra trình diện các vị công an Phường nơi tạm trú, tôi đều có cảm giác bất an, lo sợ?
Phải chăng những năm tháng bị ngược đãi, kỳ thị, phân biệt đối xử, tù tội... trên quê hương, sau 1975, luôn luôn có bóng dáng những người công an phường, công an quận, công an tỉnh... ẩn hiện?
Lần từ giă VN, tháng 5, 2006, trước khi vào khu vực chờ lên máy bay, tôi trì́nh passport cho môt viên đại úy công an Hải Quan. Tôi nhớ rõ ràng tên ông ta là Phạm Đãng Lâm, vì cùng tên với một nhà ngoại giao VNCH trong thập niên 60, 70. Đứng trước quầy làm việc của viên công an này, tôi đã bỏ mũ, cầm trên tay, đưa giấy tờ cho ông ta, và cất tiếng:
- Chào ông !
Ông ta khoảng ngoài bốn mươi, rắn chắc, mặt mũi đen đủi, đằng đằng sát khí. Không nói một lời, cũng không ngước lên nhìn, viên đại úy công an giật lấy passport, bên trong có tờ giấy khai màu vàng, lẳng lặng kiểm soát hồ sơ của tôi trên màn hình computer.
Chừng năm bảy phút sau, ông ta quăng passport lên quầy, trả lại tôi, hất tay ra hiệu cho tôi đi
Tôi nói:
- Cám ơn ông !
Người sĩ quan công an VC nghếch mắt nhìn đi nơi khác, không nhận tiếng cám ơn.
Tôi thầm nghĩ, nếu Bộ Công An thuyên chuyển ông đại úy này về pḥòng điều tra tội phạm, hoặc nơi cần đánh đập, tra tấn bọn phản động, chống đối Nhà Nước, thì́ có lẽ thích hợp với khả năng của ông ta, và có lợi cho Nhà Nước hơn.
Thái độ của ông công an Hải Quan mang tên Phạm Đãng Lâm, và những ông bà công an Phường nơi tôi tạm trú, hạch hỏi tôi rời VN năm nào, ra đi theo diện nào, tại sao về tới nhà chiều hôm qua không trì́nh diện ngay, lại chờ đến sáng nay... khiến cho niềm háo hức, mong trở lại thăm quê hương trong tôi đã không c̣òn tha thiết như trước đây nữa
Tôi thường tự hỏi tại sao, khi về đến phi trường Tom Bradley, Los Angeles , người sĩ quan Sở Di Trú lại lịch sự, niềm nở hỏi thăm tôi đã đi những đâu, và còn nói “Welcome Back”; trong lúc trở lại quê hương VN thân yêu, mình lại được người đồng chủng đối xử như vậy
Vậy thì quê nhà tôi, đất nước tôi ở đâu . Đâu mới là nơi chốn tôi cảm thấy thoải mái, không lo sợ khi đến và đi ?
*
* *
Một tác giả nào đó, tôi không nhớ tên, đã viết đại ý “Quê hương không phải luôn luôn là nơi bạn đã mở mắt chào đời, nơi thân nhân, bạn bè bạn đang sống, nơi bạn đã lớn lên, và có những kỷ niệm vui buồn.
Quê Hương là bất cứ nơi nào bạn được chấp nhận, không bị xua đuổi, kỳ thị
Đó là nơi, mỗi đêm đặt mình nằm xuống, nghe tiếng chó sủa, bạn không nghĩ ngay đến chuyện công an sắp sửa gõ cửa, còng tay bạn mang đi
Đó là nơi con cháu bạn có cơ hội phát triển hết mức những tiềm năng của chúng, mà không sợ bị kỳ thị, chèn ép, vì cha mẹ chúng đã lỡ thuộc về lớp người bại trận...”
Pasadena, tháng 6, 2006
Vũ Trung Hiền
Ở CUỐI HAI CON ĐƯỜNG
(Một câu chuyện hoàn toàn có thật. Tác giả xin được kể lại nhân dịp 30 năm từ ngày miền Nam thất thủ)
Những năm "cải tạo" ở miền Bắc, tôi được chuyển đi khá nhiều trại. Từ Lào Cai, xuống Hoàng Liên Sơn, rồi Nghệ Tĩnh. Khi mới đến Hoàng Liên Sơn, tôi được đưa đến trại Hang Dơi, nằm sâu trong núi. Đây là một vùng sơn lâm chướng khí, nên chỉ mới gần hai năm mà tôi đã có hơn 20 người bạn tù nằm lại vĩnh viễn ở dưới sườn đồi.
Sau đó, tôi được chuyển về trại 6/ Nghĩa Lộ. Trại này nằm gần Ban chỉ huy Tổng Trại, và cách trại 5, nơi giam giữ gần 30 tướng lãnh miền Nam, chỉ một hàng rào và mấy cái ao nuôi cá trám cỏ. Ban ngày ra ngoài lao động, tôi vẫn gặp một vài ông thầy cũ, kể cho nhau nghe đủ thứ chuyện vui buồn.
Ngày nhập trại, sau khi "biên chế" xong, cán bộ giáo dục trại đưa 50 thằng chúng tôi vào một cái láng lợp bằng nứa, nền đất, ngồi chờ "đồng chí cán bộ quản giáo" đến tiếp nhận.
Vài phút sau, một sĩ quan mang quân hàm thượng úy đi vào láng. Điều trước tiên chúng tôi nhìn thấy là anh ta chỉ còn một cánh tay. Môt nửa cánh tay kia chỉ là tay áo bằng kaki Nam Định, buông thỏng xuống và phất phơ qua lại theo nhịp đi của anh. Không khí trở nên ngột ngạt. Không nói ra, nhưng có lẽ trong đám tù chúng tôi ai cũng có cùng một suy nghĩ : - Đây mới đích thực là nợ máu đây, biết trả như thế nào cho đủ ?.
Nhưng bất ngờ, người cán bộ quản giáo đến trước chúng tôi , miệng nở nụ cười. Nhìn khuôn mặt hiền lành, và ánh mắt thật thà, chúng tôi cũng bớt lo âu.
Bằng một giọng đặt sệt Nghệ Tỉnh, anh quản giáo giới thiệu tên mình: Nguyễn văn Thà, rồi "báo cáo" môt số nội quy, yêu cầu của Trại. Anh đưa cho anh đội trưởng một tập vở học trò, phát cho anh em mỗi người một tờ giấy để làm bản "lý lịch trích ngang".
Tôi đang ngồi hý hoáy viết cái bản kê khai lý lịch ba đời với bao nhiêu thứ "tội" dưới biển trên trời mà tôi đã thuộc lòng từ lâu lắm - bởi đã phải viết đến cả trăm lần, ngay cả những lần bị đánh thức lúc nửa đêm - bỗng nghe tiếng anh quản giáo hỏi:
- Trong này có anh nào thuộc Sư 23 ?
Tôi im lặng giây lát rồi lên tiếng :
- Thưa cán bộ, có tôi ạ,.
- Anh ở trung đoàn mấy
- Trung Đoàn 44
- Vậy anh có tham dự trận đánh Trung Nghĩa ở KonTum đầu mùa hè 1972?
- Vâng, có ạ.
Anh quản giáo đưa cánh tay bị mất một nửa, chỉ còn cái tay áo đong đưa, lên ;
- Tôi bị mất cánh tay này trong trận đó.
Nhìn qua anh em, thấy tất cả mọi con mắt đều dồn về phía tôi. Để lấy lại bình tĩnh, tôi làm ra vẻ chủ động:
- Lúc ấy cán bộ ở đơn vị nào ?
- Tôi ở trung đoàn xe tăng thuộc Sư 320.
Anh quản giáo rảo mắt nhìn quanh, rồi hạ giọng tiếp tục:
- Trận ấy đơn vị tôi thua nặng. Cả một tiểu đoàn tăng của tôi còn có 2 chiếc. Chiếc T54 của tôi bị bắn cháy. Tôi thoát được ra ngoài, nhưng bị các anh bắt làm tù binh.
- Sau đó cán bộ được trao trả ? tôi hỏi .
- Tôi bị thương nặng lắm, do chính đạn trong xe tôi phát nổ. Tôi được các anh đưa về quân y viện Pleiku chữa trị . Nhờ vậy mà tôi còn sống và được trao trả tù binh đợt cuối cùng năm 1973, sau khi có hiệp định Ba Lê.
Dạo đó, miền Bắc, đặc biệt trên vùng Hoàng Liên Sơn, trời lạnh lắm. Mỗi láng được đào một cái hầm giữa nhà, đốt những gốc cây được anh em nhặt ngoài rừng, sau giờ lao động, mang về sưởi ấm. Tối nào, anh quản giáo cũng xuống sinh hoạt với anh em. Gọi là sinh hoạt, nhưng thực ra anh chỉ tâm tình những chuyện vui buồn đời lính, thăm hỏi hoàn cảnh của anh em tù, và khuyên anh em nên cố gắng giữ gìn sức khỏe, đừng làm điều gì sai phạm để không phải nghe mấy ông cán bộ nặng lời. Anh thường nói :
- Tôi rất đau lòng, khi thấy các anh phải nghe những lời thô lỗ. Tôi biết các anh đều là những người có trình độ văn hóa và ai cũng đã từng chỉ huy.
Mùa đông, không trồng trọt được, nên khẩu phần ăn của một nguòi tù chỉ có một miếng bánh mì đen bằng hai ngón tay, hoặc lưng một bát bắp hạt. Phần thiếu ăn, một phần ẩm ướt thiếu vệ sinh, nên nhiều anh em tù bị bệnh kiết lỵ. Thuốc men hoàn toàn không có, nên bệnh kéo dài lâu ngày. Nhiều người đứng không vững.
Một buổi chiều cuối đông, mưa phùn rả rích, sương mù giăng kín cả thung lũng trại tù, cả đám tù chúng tôi ngồi co ro trong láng, cố nhai từng hạt bắp cứng như viên sỏi, nhìn ra cánh đồng phía trước, thấp thoáng một người mang áo tơi (loại áo mưa kết bắng lá cây) chạy lúp xúp từ chỗ này đến chỗ khác, cho đến khi trời tối.
Đêm đó, như thường lệ, anh Thà xuống sinh hoạt với anh em bên bếp lửa. Anh bảo nhỏ anh đội trưởng :
- Tôi để một giỏ cá đàng sau láng. Trước giờ ngủ, anh ra mang vào, chia cho mấy anh bị bệnh kiết lỵ đang mất sức để các anh bồi dưỡng. Nhớ giữ kín, đừng để trên biết.
Bây giờ anh em mới hiểu, người mà chiều nay, đặt lờ bắt cá ngoài đồng ruộng chính là quản giáo Thà. Ai cũng cảm động.
Biết là anh em tù bị đói triền miên, nhất là sau mùa đông dài, một buổi sáng đầu mùa xuân , quản giáo Thà đưa cả đội 50 người tù lên một đồi trồng toàn sắn của một hợp tác xã nào đó. Sắn đầu mùa, củ còn nhỏ. Anh chỉ cho anh em cách đào lấy củ mà thân sắn vẫn còn nguyên; đào mấy cái bếp "Hoàng Cầm" để luột sắn mà không ai phát hiện có khói. Anh dắt hai anh tù xuống đồi xách hai thùng nước mang lên, căn dặn anh em thay phiên nhau luột sắn ăn cho no. Anh đích thân ở lại đứng gác, nếu có ai vào, anh vờ ra lệnh "chuẩn bị đi về", anh em tức khắc dấu hết "tang vật" xuống một cái hố đã đào sẵn.
Dường như đó là cái ngày duy nhất mà 50 người tù chúng tôi được no -dù chỉ là no sắn-
Không biết tối hôm ấy, trong giờ "giao ban" , quản giáo Thà đã báo cáo với ban chỉ huy trại là đội tù của chúng tôi đã phát được bao nhiêu hecta rừng ?
Mỗi lần ra bãi thấy anh em lao động nặng nhọc, anh Thà bảo nhỏ :
- Anh em làm việc vừa phải, khi nào mệt thì ta nghỉ. Nhớ giữ gìn sức khỏe, vì thời gian cải tạo còn dài lắm.
Vào một dịp Tết, cầm giấy nghỉ phép trong tay, nhưng anh không về nhà, mà ở lại với anh em. Số tiền lương vừa lãnh được, anh mua mấy bánh thuốc lào, vài ký kẹo lạc, biếu anh em ăn tết. Lần ấy, anh tâm sự thật nhiều với anh em :
- Lần bị thương năm 1972 ở Kontum, tôi nghĩ là tôi đã chết. Vết thương quá nặng, lại phải nằm trong rừng rậm một mình, không có thức ăn, nước uống. Trong lúc tuyệt vọng nhất, tôi bất ngờ được một đơn vị của Sư 23 các anh phát giác. Các anh băng bó vết thương, cho tôi ăn uống, tận tình săn sóc tôi như một người đồng ngũ. Các anh luân phiên khiêng tôi ra khỏi khu rừng rậm, gọi máy bay tản thương đến đưa tôi về bệnh viện. Trời tối, máy bay chưa xuống được, đảo mấy vòng, thì vị trí bị lộ. Các anh bị pháo kích, may mà không có ai bị thương. Các anh lại phải vội vàng di chuyển đi nơi khác. Cả khu rừng chỉ có một khe đá là nơi trú ẩn an toàn, các anh lại dành cho tôi, rồi phân tán mỏng. Tôi được hai anh y tá săn sóc suốt cả đêm . Người chỉ huy hôm ấy là một anh rất trẻ, mang quân hàm trung úy, mấy lần ôn tồn hỏi thăm tôi và khuyên tôi cố gắng để được đưa về quân y viện chữa trị. Anh còn cho tôi nửa bao thuốc lá còn lại của anh, bảo tôi hút thuốc để quên bớt cơn đau của vết thương.
Sáng sớm hôm sau, tôi được máy bay tản thương đưa tôi về quân y viện Pleiku. Ở đây, mặc dù tôi phải nằm riêng, nhưng được bác sĩ các anh chăm sóc tận tình. Tất cả đã đối xử với tôi như người đồng đội. Có lần, một phái đoàn đến ủy lạo thương binh các anh, họ cũng đến thăm, cho tôi quà, và an ủi tôi thật chân tình. Vết thương vừa lành, thì tôi được lệnh trao trả tù binh. Khi chia tay, bệnh viện còn cho tôi nhiều thuốc men và một số đồ dùng. Lòng tôi tràn ngập cảm xúc. Tôi nghẹn ngào trước tình con người, tình dân tộc mà các anh đã dành cho tôi. Tình cảm ấy tôi chôn chặt tận đáy lòng, không dám tâm sự cùng ai, vì lòng tôi lúc nào cũng nghĩ đến vợ con tôi, và nhất là người mẹ già gần tuổi 80 đang ngày đêm mong chờ tôi trở về.
Anh cố gắng giữ bình tĩnh, nhưng rõ ràng là giọng nói của anh sắp nghẹn ngào.
- Khi về lại ngoài Bắc, người ta có còn tin cậy anh không? - một anh tù hỏi.
- Ngay sau khi được trao trả, tôi phải vất hết thuốc men và những thứ các anh cho. Tôi cố dấu mấy viên thuốc trụ sinh phòng nhiễm trùng, nhưng họ khám xét kỹ quá, tôi phải tìm cách vất đi. Trước khi đưa về Bắc, chúng tôi được học tập hơn một tháng, làm kiểm điểm và lên án sự đối xử tàn ác của các anh. Tôi thấy xấu hổ lắm khi nói điều ngược lại, nhưng rồi ai cũng thế, không thể làm khác hơn. Chính vì vậy mà lòng tôi cứ dằng vặt mãi cho đến hôm nay.
Thời gian vàng son của năm mươi người tù đội 4 trại 6/ Nghĩa Lộ, Hoàng Liên Sơn, kéo dài không quá sáu tháng.
Một buổi sáng sớm, khi sương mù còn vương trên thung lũng trại tù, một người đạp chiếc xe đạp vội vã rời ban chỉ huy trại. Sau xe đèo theo một cái rương bằng gỗ và một túi đeo lưng bộ đội. Một vài anh em nhận ra anh Thà và báo cho anh em. Cả một đội năm mươi người tù vừa mới thức dậy, còn ngái ngủ, chạy ùa ra sân, vẫy tay gọi. Anh Thà không nhìn lại, đưa cánh tay chỉ còn một nửa lên vẫy vẫy, rồi biến dạng trước cổng trại.
Chiếc thuyền nhỏ mang theo trên 30 người vượt biển, trong đó có tôi và ba người bạn cùng tù ở Nghĩa Lộ ngày trước, ra đến hải phận quốc tế hai ngày thì gặp bão. Chúng tôi may mắn được một chiếc tàu chuyên chở dầu hỏa của vương quốc Nauy, trên đường từ Nhật sang Singapore, cứu vớt. Hai ngày đêm trên tàu là cả một thiên đường. Từ vị thuyền trưởng đến anh thủy thủ, chị bác sĩ, y tá, đều hết lòng săn sóc lo lắng cho chúng tôi. Hôm rời tàu để được chuyển đến trại tị nạn Singapore, chúng tôi quá xúc động không ai cầm được nước mắt. Tất cả thủy thủ đoàn đều ra đứng thành hai hàng dài trên boong tàu, ai nấy đều khóc sướt mướt ôm lấy từng người chúng tôi mà chia tay. Rồi những ngày sống trong trại, chúng tôi được thầy cô giáo và ông đại sứ Nauy, thường xuyên có mặt lo lắng cho chúng tôi đủ điều. Chúng tôi vừa xúc động vừa đau đớn. Nỗi đau của một người vừa mới bị anh em một nhà hành hạ, đuổi xô đến bước đường cùng, phải bỏ nhà bỏ xứ để thoát thân trong cái chết, bây giờ lại được những kẻ xa lạ không cùng ngôn ngữ, màu da, màu tóc, lại hết lòng đùm bọc yêu thương. Mang cái ân tình đó, chúng tôi chọn Nauy là nơi tạm gởi phần đời còn lại của mình.
Bốn anh em, những người cùng tù Nghĩa Lộ năm nào, được sắp xếp ở gần nhau. Mỗi ngày gặp nhau đều nhắc lại những năm tháng khốn khổ trong tù. Đặc biệt khi nhắc tới quản giáo Thà, ai trong chúng tôi cũng ngậm ngùi, nghĩ đến một người không cùng chiến tuyến mà còn có được tấm lòng. Sau lần bị "hạ tầng công tác" ở trại tù Nghĩa Lộ, không biết anh đi về đâu, nhưng chắc chắn là bây giờ cũng vất vả lắm.
Sau hai năm theo học, tôi được nhận vào làm trong ngân hàng bưu điện trung ương. Tại đây, tôi quen với Kenneth Hansen, một bạn đồng nghiệp còn trẻ tuổi, lại ở gần nhà, nên sau này trở nên thân tình. Anh ta là sinh viên đang theo học về kinh tế, chỉ làm việc thêm ngoài giờ hoc. Làm chung gần một năm, thì anh bạn Nauy này lại được nhận vào một công ty lớn và sang làm việc ở chi nhánh bên Ấn Độ.
Bẵng đi vài năm, bất ngờ một hôm anh gọi điện thoại báo là sẽ đến thăm tôi và đem đến cho tôi một bất ngờ. Và đúng là bất ngờ thật, vì cùng đến với anh là một người con gái Việt nam. Anh giới thiệu với vợ chồng tôi, đó là vị hôn thê của anh.
Cô gái tên Đoan, nói giọng Hà Nội chính tông. Gặp chúng tôi ở một nơi xa lạ, cô vui mừng lắm, nhưng khi nhìn thấy tấm ảnh của tôi treo trên tường, mang quân phục và cấp bậc của quân đội VNCH, cô có vẻ ái ngại. Biết vậy, chúng tôi cũng niềm nỡ , đùa cợt cho cô được tự nhiên. Cô cho biết cô là bạn thân với nữ ca sĩ Ái Vân từ lúc hai người còn đi học ở Hà Nội. Sau sáu năm du học ở Đông Đức, rồi Liên Xô, cô được sang thực tập tại Ấn Độ. Chính tại đây cô có dịp gặp và quen với chàng trai Nauy này. Khi ấy cô đã có chồng và một đứa con trai. Người chồng trước cùng du học ở Liên Xô, sau này trở thành một cán bộ cao cấp trong ngành dầu khí tại Hà Nội. Sau thời gian thực tập ở Ấn Độ trở về, cô được bạn bè và người thân cho biết là anh chồng đã cặp một cô gái khác chỉ một vài tuần sau ngày cô đi. Cô đem việc này nói phải trái với chồng, lại bị anh ta hành hung và nói những lời thô lỗ. Cô vừa buồn vừa giận, bỏ chồng, xin sang học tiếp chương trình Tiến sĩ tại một đại học ở Đông Đức.
Sau ngày bức tường Bá Linh ô nhục bị nhân dân Đức phá sập, nước CHND Đức (Đông Đức) bỗng chốc không còn nữa. Cô không về nước mà tìm cách trốn sang Tây Đức. Qua một thời gian hết sức khó khăn, cô may mắn liên lạc được với anh Kenneth Hansen, để được bảo lãnh sang Nauy. Biết cô thuộc gia đình một đảng viên cộng sản cao cấp, bởi cô được du học ở nhiều nước thuộc khối cộng sản trước đây, nhưng tôi không hỏi vì sợ cô ngại. Sau này chính Kenneth Hansen, cho biết, bố của cô trước kia là đại sứ Việt Nam tại Liên Xô cũ. Sau ngày Liên Xô sụp đổ, kéo theo sự tan vỡ của toàn khối cộng sản Đông Âu, ông xót xa nhìn ra được một điều gì đó. Trở về Việt Nam, ông không còn được nhà nước Cộng sản trọng dụng, trở thành kẻ bất mãn, cả ngày nằm nhà không tiếp xúc một ai.
Sau một thời gian, được cấp quốc tịch Nauy, cô Đoan trở về Việt Nam thăm gia đình, đặc biệt là người cha già đang ốm nặng. Nhân tiện xin mang đứa con trai sang Nauy với cô.
Việc cô Đoan trở về Hà Nội, làm tôi nghĩ dến anh quản giáo Nguyễn văn Thà thưở trước. Tôi cùng với mấy người bạn tù cũ, góp một số tiền khoảng 800 đôla, nhờ cô Đoan về Nghệ Tĩnh tìm và trao lại cho anh, như để tỏ chút lòng biết ơn một người bao nhiêu năm sống trong đám bùn lầy nước đọng mà vẫn còn giữ sạch được tấm lòng. Việc tìm anh không phải dễ dàng, vì chúng tôi không biết nhiều về anh. Trong mảnh giấy nhắn tin, chỉ vỏn vẹn vài chữ : "ông Nguyễn văn Thà, gốc Nghệ Tĩnh, khoảng năm 1979 là thượng úy, làm quản giáo trại tù cải tạo số 6/ Nghĩa Lộ, Hoàng Liên Sơn ". Cô Đoan vui vẻ nhận lời và hứa sẽ tìm đủ mọi cách để gặp hoặc liên lạc anh Thà. Cô cũng cho biết là cô có ông chú họ hiện làm việc tại bộ quốc phòng. Cô sẽ nhờ ông ta tìm hộ.
Một tháng sau, cô Đoan trở lại Nauy, báo cho chúng tôi biết là ông chú của cô không tìm thấy tên Nguyễn văn Thà trong danh sách sĩ quan. Ông đoán là anh ta đã bị phục viên từ lâu lắm rồi. Cô đã đích thân vào Nghệ Tĩnh, hỏi thăm mọi cơ quan, nhưng không ai biết. Cuối cùng cô phải thuê mấy tờ báo địa phương đăng lời nhắn tin, trong đó có ghi số điện thoại của tôi. Cô còn cho biết là nhân tiện có mặt ở Nghệ Tĩnh thì cô nhờ họ thôi, chứ không có nhiều hy vọng gì, vì chỉ một ít người ở thành phố có báo đọc.
Thời gian trôi qua, bận bịu bao nhiêu việc làm ăn, lo cho con cái, để kịp hội nhập vào đời sống trên quê hương mới, chúng tôi không còn ai nhắc đến chuyện anh Thà.
Bỗng một hôm, khi đang say ngủ, nghe tiếng điện thoại reo, tôi giật mình tỉnh giấc. Xem đồng hồ, hơn hai giờ sáng. Mùa đông Bắc Âu, nhiệt độ bên ngoài cửa sổ chỉ - 20 độ C. Tôi ái ngại. Giờ này mà ai gọi điện thoại thì phải có điều gì khẩn cấp lắm. Tôi bốc ống nghe, Đầu giây bên kia là giọng một cô gái, nói tiếng Việt rất khó nghe. Cô hối hả, nhưng rất lễ phép, xin được gặp tôi. Cô cẩn thận nhắc lại tên tôi hai lần, với đầy đủ họ và tên.
- Xin lỗi, cô là ai và đang ở đâu ạ ? tôi hỏi.
- Dạ, cháu là Hà, Nguyễn Thị Hà, cháu đang ở Ba Lan ạ.
Tôi im lặng. Thoáng lục lọi trong trí nhưng tôi không nhớ là mình đã quen ai tên Hà. Bên kia đầu giây, cô gái lên tiếng:
- Bác có còn nhớ ông Thà, làm quản giáo ở Nghĩa Lộ không ạ?
- Ông Thà, Nguyễn văn Thà, Bác nhớ, nhưng cô là gì của ông Thà, và sao lại ở Ba-Lan ?
- Dạ, ông Thà là bố cháu. Cháu ở Ba-Lan với một đứa em trai. Bọn cháu khổ lắm Bác ạ. Tiếng cô gái sụt sùi.
- Cháu cho bác số phôn, bác gọi lại ngay, để cháu khỏi tốn tiền.
Tôi gọi lại, và nghe tâm sự não nề của cô gái. Cô và em trai, tên Tĩnh, được bố mẹ lo lắng, chạy vạy, bán hết đồ đạc trong nhà, kể cả chiếc xe đạp Trung quốc mà cha cô nâng niu như là một thứ gia bảo, vay mượn thêm, lo cho hai chị em cô sang lao động ở Ba-Lan. Sau khi chính quyền cộng sản Ba-Lan bị cuốn theo làn sóng dân chủ ở Đông Âu, chị em cô cùng hầu hết những người được chính quyền Việt Nam gởi sang lao động, đã không về nước, trốn ở lại. Vì sống bất hợp pháp, nên không tìm được việc làm chính thức. Hầu hết làm chui, buôn bán thuốc lá lậu. Một số trở thành ăn cắp, băng đảng, quay lại cướp bóc hoặc tống tiền chính những nguòi đồng hương, đồng cảnh. Số người Việt này trở thành mối bận tâm không nhỏ cho những chính quyền mới ở các nước Đông Âu.
Hai chị em cô Hà thuê một căn gác nhỏ trong thành phố Warszawa, nhận thuốc lá của một người khác, mang đi bán. Nhưng mỗi lần dành dụm được một ít, chưa kịp gởi về giúp gia đình thì bị cướp sạch. Một hôm, cậu em trai nhận thuốc lá mang đi bán, bị cảnh sát bắt và phát hiện là số thuốc lá kia vừa bị mất cắp tại một cửa hàng Ba-Lan. Vì vậy cậu em trai bị nhốt vào tù, còn cô Hà thì đang bị truy nã. Việc xảy ra một ngày trước khi cô Hà gọi điện thoại cho tôi .
- Bây giờ cháu đang ở đâu ? Tôi hỏi.
- Cháu đang trốn ở nhà một nguòi bạn, nhưng cô ta không dám chứa cháu lâu. Cháu không biết phải làm sao, thì bất ngờ nhớ đến lá thư của ba cháu gởi cho cháu cách nay vài tháng. Ba cháu bảo cháu trong trường hợp rất cần thiết mới gọi cho bác.
- Ba cháu bây giờ làm gì ?
- Ông bị ốm nặng. Cách nay hai năm bị tai biến mạch máu não, liệt nửa người, nên chỉ nằm một chỗ. Vì vậy nên chị em cháu trốn ở lại đây để kiếm tiền gởi về cho bố cháu điều trị và sống qua ngày bác ạ.
Tôi ghi số điện thoại, địa chỉ người bạn của Hà, tên nhà tù mà Tĩnh, em trai của Hà đang bị giam giữ, trấn an và hẹn sẽ gặp cô trong một ngày rất gần ở Ba-Lan.
Tôi nhớ tới một người bạn Ba-lan, anh Zbigniew Piwko. Chúng tôi quen khá thân lúc cả hai vừa mới đến Nauy. Anh ta lớn hơn tôi ba tuổi. Trước kia là một đại tá không quân, chỉ huy môt không đoàn chiến đấu thuộc quân đội cộng sản Ba-Lan. Về sau. anh ta ngầm ủng hộ Công Đoàn Đoàn Kết do ông Walesa lãnh đạo. Hành tung bại lộ, trong khi bị truy bắt, anh đã lấy một chiếc trực thăng, chở gia đình, gồm người vợ và hai đứa con, bay sang Tây Đức. Theo sự thỉnh cầu của anh, gia đình anh được chính phủ Nauy đặc biệt nhận cho tị nạn chính trị.
Anh và tôi học tiếng Nauy cùng một lớp, và sau đó có một thời gian chúng tôi cùng làm thông dịch cho Sở Cảnh Sát. Nhưng chỉ hơn một năm sau, thì tình hình chính trị ở Ba-Lan thay đổi bất ngờ. Công Đoàn Đoàn Kết của ông Walesa lãnh đạo đã thắng lợi vẻ vang . Ông được bầu làm Tổng Thống đầu tiên của nước Ba-Lan dân chủ. Anh Piwko, người bạn tị nạn của tôi, được mời về nước để giữ môt chức vụ khá lớn trong ngành cảnh sát. Vào những dịp Giáng sinh, nhớ đến tôi, anh gởi thiệp mừng giáng sinh và năm mới. Anh kể đủ thứ chuyện về xứ sở của anh, về niềm vui và hy vọng của người dân Ba-Lan bây giờ. Sau tấm thiệp không đủ chỗ nên lúc nào anh cũng viết kèm theo vài trang giấy. Anh mời vợ chồng tôi có dịp thu xếp sang chơi với gia đình anh vài hôm và xem đất nước Ba-Lan của anh đang hồi sinh trong dân chủ.
Sáng hôm sau, tôi tìm lại số phôn và gọi cho anh. Anh rất vui mừng khi nghe tôi báo tin sang thăm . Vì đi vội, nên tôi chỉ đi một mình. Vợ chồng anh đón tôi ở phi trường, nơi dành cho VIP (thượng khách). Anh chị còn cho biết là rất thú vị khi có dịp được dùng lại ngôn ngữ Nauy để nói chuyện với tôi. Tôi thực sự xúc động trước sự tiếp đón nồng hậu mà gia đình anh đã dành cho tôi. Tôi ngại ngùng không dám nói với anh những điều muốn nhờ anh giúp. Nhưng rồi cuối cùng, tôi cũng phải tâm tình cùng anh về chuyện anh quản giáo Thà trong trại tù Nghĩa Lộ năm nào, và hoàn cảnh khốn cùng của hai đứa con hiện đang ở tại đây, ngay trên đất nước Ba-Lan của anh. Nghe tôi kể, anh ngậm ngùi giây lát rồi đứng lên ôm vai tôi, hứa sẽ hết lòng giúp tôi về việc này.
Anh đưa tôi đến gặp hai chị em cháu Hà. Đưa Hà về nhà ở với gia đình anh. Hai hôm sau anh làm thủ tục bảo lãnh Tĩnh, em của Hà từ trại tù về.
Trước khi về lại Nauy, tôi đã thức trọn một đêm để tâm tình khuyên lơn hai chị em Hà, biếu cho hai cháu một số tiền để tạm sinh sống và chuyển về Việt nam biếu anh Thà, bố hai cháu. Trên đường đưa tôi ra phi trường, vợ chồng Piwko bảo tôi yên tâm, anh chị xem hai chị em Hà như là cháu trong nhà và sẽ tận tình lo lắng cho hai cháu.
Hơn một tháng sau, Piwko gọi phôn báo cho tôi tin mừng: hai chị em Hà đã được Piwko bảo trợ, được cấp giấy tờ chính thức cư trú tại Ba-lan. Hai cháu đang được học ngôn ngữ Ba-lan. Hà, vì lớn tuổi, nên sẽ xin việc làm. Tĩnh, em Hà, sẽ được tiếp tục theo học tại một trường trung học.
"Các Anh thân quí,
Khi ngồi viết nhừng dòng này cho các anh, thực tình tôi không còn nhớ mặt các anh, nhưng tôi còn nhớ rất rõ thời gian tôi làm quản giáo ở trại Nghĩa Lộ. Vậy mà không ngờ hôm nay các anh còn nhớ đến tôi. Đọc thư của cháu Hà từ Ba-Lan gởi về, cùng với số tiền của các anh gởi cho, lòng tôi cảm xúc đến nghẹn ngào. Tôi và gia đình xin muôn vàn cảm tạ. Các anh làm tôi nhớ tới một câu nói của Các-Mác: Chỉ có loài súc vật mới quay lưng trước cảnh khốn khổ của đồng loại". Ngày nay, cả thế giới đều lên án Mác, những nước một thời lấy chủ nghĩa Mác làm ánh đuốc soi đường, bây giờ cũng đã từ bỏ Mác, chỉ còn một vài nơi lấy Mác làm bức bình phong để che đậy những mục nát ở phía bên trong, nhưng câu nói trên kia của Mác, với tôi, vẫn mãi mãi là một lời vàng ngọc. Điều tệ hại là những kẻ một thời theo Mác đã luôn luôn làm ngược lại lời nói này của Mác.
Chúng tôi mừng cho các anh đã đưa được gia đình ra khỏi nước. Mặc dù tôi biết một người phải bỏ quê hương mà đi, còn đau đớn nào hơn. Ngay cả con cái chúng tôi, vất vả biết chừng nào, mà tôi cũng đành khuyên các cháu phải ra đi để may ra còn tìm được một chút tương lai, giá trị nào đó của kiếp con người.
Phần tôi, sau khi bị kiểm điểm nặng nề ở trại Nghĩa Lộ, tôi bị điều ra mặt trận phương Bắc, trong thời kỳ giặc bành trướng Trung Quốc tràn qua biên giới . Nhờ thương tật, tôi được bố trí một công tác lặt vặt ở hậu cần. Mặt trận kết thúc, tôi bị phục viên về nhà. Tiền phụ cấp không đủ nuôi chính bản thân. Tôi chỉ còn một cánh tay mà phải phát rẫy trồng rau để phụ giúp gia đình.
Hơn ba năm nay, tôi bị ốm nặng, nằm liệt giường. Nhờ chị em cháu Hà gởi tiền về nuôi tôi và cả gia đình, tôi mới còn sống được đến hôm nay. Biết trốn lại Ba Lan, không có giấy tờ, hai cháu sẽ khó khăn ghê lắm, nhưng vẫn còn hơn là về lại bên này. Có làm suốt ngày cũng chẳng đủ ăn. May mà nhờ các anh hết lòng giúp hai cháu. Cái ơn này biết khi nào chúng tôi mới trả được cho các anh đây.
Tôi biết mình không còn sống bao lâu. Cuối đời một con người, tôi nghiệm rõ được một điều: Chỉ có cái tình con người với nhau mới thực sự quí giá và tồn tại mãi với thời gian. Những chế độ này, chủ nghĩa nọ, cuối cùng cũng chỉ là những đám mây đen bay trên đầu. Đôi khi che ta được chút nắng, nhưng nhiều lúc đã trút bao cơn mưa lũ xuống để làm khốn khổ cả nhân gian. .."
.......................
Không ngờ lá thư đầu tiên này cũng là lá thư cuối cùng chúng tôi nhận được từ anh Thà. Anh đã qua đời sau đó không lâu. Nghe cháu Hà kể lại. Khi hấp hối, anh bảo vợ anh mang mấy cái huy chương, anh được cấp trong thời chiến tranh, đào lỗ chôn xuống phía sau nhà. Anh thầm thì: xin hãy chôn chặt hộ tôi cái quá khứ đau thương và lầm lỡ đó lại. Chính nó đã gây biết bao chia lìa, tang tóc, và sự thù hận giữa những người anh em cùng một mẹ, không biết sẽ kéo dài cho đến bao giờ…
Phạm Tín An Ninh
Vương Quốc Nauy
(Một câu chuyện hoàn toàn có thật. Tác giả xin được kể lại nhân dịp 30 năm từ ngày miền Nam thất thủ)
Những năm "cải tạo" ở miền Bắc, tôi được chuyển đi khá nhiều trại. Từ Lào Cai, xuống Hoàng Liên Sơn, rồi Nghệ Tĩnh. Khi mới đến Hoàng Liên Sơn, tôi được đưa đến trại Hang Dơi, nằm sâu trong núi. Đây là một vùng sơn lâm chướng khí, nên chỉ mới gần hai năm mà tôi đã có hơn 20 người bạn tù nằm lại vĩnh viễn ở dưới sườn đồi.
Sau đó, tôi được chuyển về trại 6/ Nghĩa Lộ. Trại này nằm gần Ban chỉ huy Tổng Trại, và cách trại 5, nơi giam giữ gần 30 tướng lãnh miền Nam, chỉ một hàng rào và mấy cái ao nuôi cá trám cỏ. Ban ngày ra ngoài lao động, tôi vẫn gặp một vài ông thầy cũ, kể cho nhau nghe đủ thứ chuyện vui buồn.
Ngày nhập trại, sau khi "biên chế" xong, cán bộ giáo dục trại đưa 50 thằng chúng tôi vào một cái láng lợp bằng nứa, nền đất, ngồi chờ "đồng chí cán bộ quản giáo" đến tiếp nhận.
Vài phút sau, một sĩ quan mang quân hàm thượng úy đi vào láng. Điều trước tiên chúng tôi nhìn thấy là anh ta chỉ còn một cánh tay. Môt nửa cánh tay kia chỉ là tay áo bằng kaki Nam Định, buông thỏng xuống và phất phơ qua lại theo nhịp đi của anh. Không khí trở nên ngột ngạt. Không nói ra, nhưng có lẽ trong đám tù chúng tôi ai cũng có cùng một suy nghĩ : - Đây mới đích thực là nợ máu đây, biết trả như thế nào cho đủ ?.
Nhưng bất ngờ, người cán bộ quản giáo đến trước chúng tôi , miệng nở nụ cười. Nhìn khuôn mặt hiền lành, và ánh mắt thật thà, chúng tôi cũng bớt lo âu.
Bằng một giọng đặt sệt Nghệ Tỉnh, anh quản giáo giới thiệu tên mình: Nguyễn văn Thà, rồi "báo cáo" môt số nội quy, yêu cầu của Trại. Anh đưa cho anh đội trưởng một tập vở học trò, phát cho anh em mỗi người một tờ giấy để làm bản "lý lịch trích ngang".
Tôi đang ngồi hý hoáy viết cái bản kê khai lý lịch ba đời với bao nhiêu thứ "tội" dưới biển trên trời mà tôi đã thuộc lòng từ lâu lắm - bởi đã phải viết đến cả trăm lần, ngay cả những lần bị đánh thức lúc nửa đêm - bỗng nghe tiếng anh quản giáo hỏi:
- Trong này có anh nào thuộc Sư 23 ?
Tôi im lặng giây lát rồi lên tiếng :
- Thưa cán bộ, có tôi ạ,.
- Anh ở trung đoàn mấy
- Trung Đoàn 44
- Vậy anh có tham dự trận đánh Trung Nghĩa ở KonTum đầu mùa hè 1972?
- Vâng, có ạ.
Anh quản giáo đưa cánh tay bị mất một nửa, chỉ còn cái tay áo đong đưa, lên ;
- Tôi bị mất cánh tay này trong trận đó.
Nhìn qua anh em, thấy tất cả mọi con mắt đều dồn về phía tôi. Để lấy lại bình tĩnh, tôi làm ra vẻ chủ động:
- Lúc ấy cán bộ ở đơn vị nào ?
- Tôi ở trung đoàn xe tăng thuộc Sư 320.
Anh quản giáo rảo mắt nhìn quanh, rồi hạ giọng tiếp tục:
- Trận ấy đơn vị tôi thua nặng. Cả một tiểu đoàn tăng của tôi còn có 2 chiếc. Chiếc T54 của tôi bị bắn cháy. Tôi thoát được ra ngoài, nhưng bị các anh bắt làm tù binh.
- Sau đó cán bộ được trao trả ? tôi hỏi .
- Tôi bị thương nặng lắm, do chính đạn trong xe tôi phát nổ. Tôi được các anh đưa về quân y viện Pleiku chữa trị . Nhờ vậy mà tôi còn sống và được trao trả tù binh đợt cuối cùng năm 1973, sau khi có hiệp định Ba Lê.
Dạo đó, miền Bắc, đặc biệt trên vùng Hoàng Liên Sơn, trời lạnh lắm. Mỗi láng được đào một cái hầm giữa nhà, đốt những gốc cây được anh em nhặt ngoài rừng, sau giờ lao động, mang về sưởi ấm. Tối nào, anh quản giáo cũng xuống sinh hoạt với anh em. Gọi là sinh hoạt, nhưng thực ra anh chỉ tâm tình những chuyện vui buồn đời lính, thăm hỏi hoàn cảnh của anh em tù, và khuyên anh em nên cố gắng giữ gìn sức khỏe, đừng làm điều gì sai phạm để không phải nghe mấy ông cán bộ nặng lời. Anh thường nói :
- Tôi rất đau lòng, khi thấy các anh phải nghe những lời thô lỗ. Tôi biết các anh đều là những người có trình độ văn hóa và ai cũng đã từng chỉ huy.
Mùa đông, không trồng trọt được, nên khẩu phần ăn của một nguòi tù chỉ có một miếng bánh mì đen bằng hai ngón tay, hoặc lưng một bát bắp hạt. Phần thiếu ăn, một phần ẩm ướt thiếu vệ sinh, nên nhiều anh em tù bị bệnh kiết lỵ. Thuốc men hoàn toàn không có, nên bệnh kéo dài lâu ngày. Nhiều người đứng không vững.
Một buổi chiều cuối đông, mưa phùn rả rích, sương mù giăng kín cả thung lũng trại tù, cả đám tù chúng tôi ngồi co ro trong láng, cố nhai từng hạt bắp cứng như viên sỏi, nhìn ra cánh đồng phía trước, thấp thoáng một người mang áo tơi (loại áo mưa kết bắng lá cây) chạy lúp xúp từ chỗ này đến chỗ khác, cho đến khi trời tối.
Đêm đó, như thường lệ, anh Thà xuống sinh hoạt với anh em bên bếp lửa. Anh bảo nhỏ anh đội trưởng :
- Tôi để một giỏ cá đàng sau láng. Trước giờ ngủ, anh ra mang vào, chia cho mấy anh bị bệnh kiết lỵ đang mất sức để các anh bồi dưỡng. Nhớ giữ kín, đừng để trên biết.
Bây giờ anh em mới hiểu, người mà chiều nay, đặt lờ bắt cá ngoài đồng ruộng chính là quản giáo Thà. Ai cũng cảm động.
Biết là anh em tù bị đói triền miên, nhất là sau mùa đông dài, một buổi sáng đầu mùa xuân , quản giáo Thà đưa cả đội 50 người tù lên một đồi trồng toàn sắn của một hợp tác xã nào đó. Sắn đầu mùa, củ còn nhỏ. Anh chỉ cho anh em cách đào lấy củ mà thân sắn vẫn còn nguyên; đào mấy cái bếp "Hoàng Cầm" để luột sắn mà không ai phát hiện có khói. Anh dắt hai anh tù xuống đồi xách hai thùng nước mang lên, căn dặn anh em thay phiên nhau luột sắn ăn cho no. Anh đích thân ở lại đứng gác, nếu có ai vào, anh vờ ra lệnh "chuẩn bị đi về", anh em tức khắc dấu hết "tang vật" xuống một cái hố đã đào sẵn.
Dường như đó là cái ngày duy nhất mà 50 người tù chúng tôi được no -dù chỉ là no sắn-
Không biết tối hôm ấy, trong giờ "giao ban" , quản giáo Thà đã báo cáo với ban chỉ huy trại là đội tù của chúng tôi đã phát được bao nhiêu hecta rừng ?
Mỗi lần ra bãi thấy anh em lao động nặng nhọc, anh Thà bảo nhỏ :
- Anh em làm việc vừa phải, khi nào mệt thì ta nghỉ. Nhớ giữ gìn sức khỏe, vì thời gian cải tạo còn dài lắm.
Vào một dịp Tết, cầm giấy nghỉ phép trong tay, nhưng anh không về nhà, mà ở lại với anh em. Số tiền lương vừa lãnh được, anh mua mấy bánh thuốc lào, vài ký kẹo lạc, biếu anh em ăn tết. Lần ấy, anh tâm sự thật nhiều với anh em :
- Lần bị thương năm 1972 ở Kontum, tôi nghĩ là tôi đã chết. Vết thương quá nặng, lại phải nằm trong rừng rậm một mình, không có thức ăn, nước uống. Trong lúc tuyệt vọng nhất, tôi bất ngờ được một đơn vị của Sư 23 các anh phát giác. Các anh băng bó vết thương, cho tôi ăn uống, tận tình săn sóc tôi như một người đồng ngũ. Các anh luân phiên khiêng tôi ra khỏi khu rừng rậm, gọi máy bay tản thương đến đưa tôi về bệnh viện. Trời tối, máy bay chưa xuống được, đảo mấy vòng, thì vị trí bị lộ. Các anh bị pháo kích, may mà không có ai bị thương. Các anh lại phải vội vàng di chuyển đi nơi khác. Cả khu rừng chỉ có một khe đá là nơi trú ẩn an toàn, các anh lại dành cho tôi, rồi phân tán mỏng. Tôi được hai anh y tá săn sóc suốt cả đêm . Người chỉ huy hôm ấy là một anh rất trẻ, mang quân hàm trung úy, mấy lần ôn tồn hỏi thăm tôi và khuyên tôi cố gắng để được đưa về quân y viện chữa trị. Anh còn cho tôi nửa bao thuốc lá còn lại của anh, bảo tôi hút thuốc để quên bớt cơn đau của vết thương.
Sáng sớm hôm sau, tôi được máy bay tản thương đưa tôi về quân y viện Pleiku. Ở đây, mặc dù tôi phải nằm riêng, nhưng được bác sĩ các anh chăm sóc tận tình. Tất cả đã đối xử với tôi như người đồng đội. Có lần, một phái đoàn đến ủy lạo thương binh các anh, họ cũng đến thăm, cho tôi quà, và an ủi tôi thật chân tình. Vết thương vừa lành, thì tôi được lệnh trao trả tù binh. Khi chia tay, bệnh viện còn cho tôi nhiều thuốc men và một số đồ dùng. Lòng tôi tràn ngập cảm xúc. Tôi nghẹn ngào trước tình con người, tình dân tộc mà các anh đã dành cho tôi. Tình cảm ấy tôi chôn chặt tận đáy lòng, không dám tâm sự cùng ai, vì lòng tôi lúc nào cũng nghĩ đến vợ con tôi, và nhất là người mẹ già gần tuổi 80 đang ngày đêm mong chờ tôi trở về.
Anh cố gắng giữ bình tĩnh, nhưng rõ ràng là giọng nói của anh sắp nghẹn ngào.
- Khi về lại ngoài Bắc, người ta có còn tin cậy anh không? - một anh tù hỏi.
- Ngay sau khi được trao trả, tôi phải vất hết thuốc men và những thứ các anh cho. Tôi cố dấu mấy viên thuốc trụ sinh phòng nhiễm trùng, nhưng họ khám xét kỹ quá, tôi phải tìm cách vất đi. Trước khi đưa về Bắc, chúng tôi được học tập hơn một tháng, làm kiểm điểm và lên án sự đối xử tàn ác của các anh. Tôi thấy xấu hổ lắm khi nói điều ngược lại, nhưng rồi ai cũng thế, không thể làm khác hơn. Chính vì vậy mà lòng tôi cứ dằng vặt mãi cho đến hôm nay.
Thời gian vàng son của năm mươi người tù đội 4 trại 6/ Nghĩa Lộ, Hoàng Liên Sơn, kéo dài không quá sáu tháng.
Một buổi sáng sớm, khi sương mù còn vương trên thung lũng trại tù, một người đạp chiếc xe đạp vội vã rời ban chỉ huy trại. Sau xe đèo theo một cái rương bằng gỗ và một túi đeo lưng bộ đội. Một vài anh em nhận ra anh Thà và báo cho anh em. Cả một đội năm mươi người tù vừa mới thức dậy, còn ngái ngủ, chạy ùa ra sân, vẫy tay gọi. Anh Thà không nhìn lại, đưa cánh tay chỉ còn một nửa lên vẫy vẫy, rồi biến dạng trước cổng trại.
Chiếc thuyền nhỏ mang theo trên 30 người vượt biển, trong đó có tôi và ba người bạn cùng tù ở Nghĩa Lộ ngày trước, ra đến hải phận quốc tế hai ngày thì gặp bão. Chúng tôi may mắn được một chiếc tàu chuyên chở dầu hỏa của vương quốc Nauy, trên đường từ Nhật sang Singapore, cứu vớt. Hai ngày đêm trên tàu là cả một thiên đường. Từ vị thuyền trưởng đến anh thủy thủ, chị bác sĩ, y tá, đều hết lòng săn sóc lo lắng cho chúng tôi. Hôm rời tàu để được chuyển đến trại tị nạn Singapore, chúng tôi quá xúc động không ai cầm được nước mắt. Tất cả thủy thủ đoàn đều ra đứng thành hai hàng dài trên boong tàu, ai nấy đều khóc sướt mướt ôm lấy từng người chúng tôi mà chia tay. Rồi những ngày sống trong trại, chúng tôi được thầy cô giáo và ông đại sứ Nauy, thường xuyên có mặt lo lắng cho chúng tôi đủ điều. Chúng tôi vừa xúc động vừa đau đớn. Nỗi đau của một người vừa mới bị anh em một nhà hành hạ, đuổi xô đến bước đường cùng, phải bỏ nhà bỏ xứ để thoát thân trong cái chết, bây giờ lại được những kẻ xa lạ không cùng ngôn ngữ, màu da, màu tóc, lại hết lòng đùm bọc yêu thương. Mang cái ân tình đó, chúng tôi chọn Nauy là nơi tạm gởi phần đời còn lại của mình.
Bốn anh em, những người cùng tù Nghĩa Lộ năm nào, được sắp xếp ở gần nhau. Mỗi ngày gặp nhau đều nhắc lại những năm tháng khốn khổ trong tù. Đặc biệt khi nhắc tới quản giáo Thà, ai trong chúng tôi cũng ngậm ngùi, nghĩ đến một người không cùng chiến tuyến mà còn có được tấm lòng. Sau lần bị "hạ tầng công tác" ở trại tù Nghĩa Lộ, không biết anh đi về đâu, nhưng chắc chắn là bây giờ cũng vất vả lắm.
Sau hai năm theo học, tôi được nhận vào làm trong ngân hàng bưu điện trung ương. Tại đây, tôi quen với Kenneth Hansen, một bạn đồng nghiệp còn trẻ tuổi, lại ở gần nhà, nên sau này trở nên thân tình. Anh ta là sinh viên đang theo học về kinh tế, chỉ làm việc thêm ngoài giờ hoc. Làm chung gần một năm, thì anh bạn Nauy này lại được nhận vào một công ty lớn và sang làm việc ở chi nhánh bên Ấn Độ.
Bẵng đi vài năm, bất ngờ một hôm anh gọi điện thoại báo là sẽ đến thăm tôi và đem đến cho tôi một bất ngờ. Và đúng là bất ngờ thật, vì cùng đến với anh là một người con gái Việt nam. Anh giới thiệu với vợ chồng tôi, đó là vị hôn thê của anh.
Cô gái tên Đoan, nói giọng Hà Nội chính tông. Gặp chúng tôi ở một nơi xa lạ, cô vui mừng lắm, nhưng khi nhìn thấy tấm ảnh của tôi treo trên tường, mang quân phục và cấp bậc của quân đội VNCH, cô có vẻ ái ngại. Biết vậy, chúng tôi cũng niềm nỡ , đùa cợt cho cô được tự nhiên. Cô cho biết cô là bạn thân với nữ ca sĩ Ái Vân từ lúc hai người còn đi học ở Hà Nội. Sau sáu năm du học ở Đông Đức, rồi Liên Xô, cô được sang thực tập tại Ấn Độ. Chính tại đây cô có dịp gặp và quen với chàng trai Nauy này. Khi ấy cô đã có chồng và một đứa con trai. Người chồng trước cùng du học ở Liên Xô, sau này trở thành một cán bộ cao cấp trong ngành dầu khí tại Hà Nội. Sau thời gian thực tập ở Ấn Độ trở về, cô được bạn bè và người thân cho biết là anh chồng đã cặp một cô gái khác chỉ một vài tuần sau ngày cô đi. Cô đem việc này nói phải trái với chồng, lại bị anh ta hành hung và nói những lời thô lỗ. Cô vừa buồn vừa giận, bỏ chồng, xin sang học tiếp chương trình Tiến sĩ tại một đại học ở Đông Đức.
Sau ngày bức tường Bá Linh ô nhục bị nhân dân Đức phá sập, nước CHND Đức (Đông Đức) bỗng chốc không còn nữa. Cô không về nước mà tìm cách trốn sang Tây Đức. Qua một thời gian hết sức khó khăn, cô may mắn liên lạc được với anh Kenneth Hansen, để được bảo lãnh sang Nauy. Biết cô thuộc gia đình một đảng viên cộng sản cao cấp, bởi cô được du học ở nhiều nước thuộc khối cộng sản trước đây, nhưng tôi không hỏi vì sợ cô ngại. Sau này chính Kenneth Hansen, cho biết, bố của cô trước kia là đại sứ Việt Nam tại Liên Xô cũ. Sau ngày Liên Xô sụp đổ, kéo theo sự tan vỡ của toàn khối cộng sản Đông Âu, ông xót xa nhìn ra được một điều gì đó. Trở về Việt Nam, ông không còn được nhà nước Cộng sản trọng dụng, trở thành kẻ bất mãn, cả ngày nằm nhà không tiếp xúc một ai.
Sau một thời gian, được cấp quốc tịch Nauy, cô Đoan trở về Việt Nam thăm gia đình, đặc biệt là người cha già đang ốm nặng. Nhân tiện xin mang đứa con trai sang Nauy với cô.
Việc cô Đoan trở về Hà Nội, làm tôi nghĩ dến anh quản giáo Nguyễn văn Thà thưở trước. Tôi cùng với mấy người bạn tù cũ, góp một số tiền khoảng 800 đôla, nhờ cô Đoan về Nghệ Tĩnh tìm và trao lại cho anh, như để tỏ chút lòng biết ơn một người bao nhiêu năm sống trong đám bùn lầy nước đọng mà vẫn còn giữ sạch được tấm lòng. Việc tìm anh không phải dễ dàng, vì chúng tôi không biết nhiều về anh. Trong mảnh giấy nhắn tin, chỉ vỏn vẹn vài chữ : "ông Nguyễn văn Thà, gốc Nghệ Tĩnh, khoảng năm 1979 là thượng úy, làm quản giáo trại tù cải tạo số 6/ Nghĩa Lộ, Hoàng Liên Sơn ". Cô Đoan vui vẻ nhận lời và hứa sẽ tìm đủ mọi cách để gặp hoặc liên lạc anh Thà. Cô cũng cho biết là cô có ông chú họ hiện làm việc tại bộ quốc phòng. Cô sẽ nhờ ông ta tìm hộ.
Một tháng sau, cô Đoan trở lại Nauy, báo cho chúng tôi biết là ông chú của cô không tìm thấy tên Nguyễn văn Thà trong danh sách sĩ quan. Ông đoán là anh ta đã bị phục viên từ lâu lắm rồi. Cô đã đích thân vào Nghệ Tĩnh, hỏi thăm mọi cơ quan, nhưng không ai biết. Cuối cùng cô phải thuê mấy tờ báo địa phương đăng lời nhắn tin, trong đó có ghi số điện thoại của tôi. Cô còn cho biết là nhân tiện có mặt ở Nghệ Tĩnh thì cô nhờ họ thôi, chứ không có nhiều hy vọng gì, vì chỉ một ít người ở thành phố có báo đọc.
Thời gian trôi qua, bận bịu bao nhiêu việc làm ăn, lo cho con cái, để kịp hội nhập vào đời sống trên quê hương mới, chúng tôi không còn ai nhắc đến chuyện anh Thà.
Bỗng một hôm, khi đang say ngủ, nghe tiếng điện thoại reo, tôi giật mình tỉnh giấc. Xem đồng hồ, hơn hai giờ sáng. Mùa đông Bắc Âu, nhiệt độ bên ngoài cửa sổ chỉ - 20 độ C. Tôi ái ngại. Giờ này mà ai gọi điện thoại thì phải có điều gì khẩn cấp lắm. Tôi bốc ống nghe, Đầu giây bên kia là giọng một cô gái, nói tiếng Việt rất khó nghe. Cô hối hả, nhưng rất lễ phép, xin được gặp tôi. Cô cẩn thận nhắc lại tên tôi hai lần, với đầy đủ họ và tên.
- Xin lỗi, cô là ai và đang ở đâu ạ ? tôi hỏi.
- Dạ, cháu là Hà, Nguyễn Thị Hà, cháu đang ở Ba Lan ạ.
Tôi im lặng. Thoáng lục lọi trong trí nhưng tôi không nhớ là mình đã quen ai tên Hà. Bên kia đầu giây, cô gái lên tiếng:
- Bác có còn nhớ ông Thà, làm quản giáo ở Nghĩa Lộ không ạ?
- Ông Thà, Nguyễn văn Thà, Bác nhớ, nhưng cô là gì của ông Thà, và sao lại ở Ba-Lan ?
- Dạ, ông Thà là bố cháu. Cháu ở Ba-Lan với một đứa em trai. Bọn cháu khổ lắm Bác ạ. Tiếng cô gái sụt sùi.
- Cháu cho bác số phôn, bác gọi lại ngay, để cháu khỏi tốn tiền.
Tôi gọi lại, và nghe tâm sự não nề của cô gái. Cô và em trai, tên Tĩnh, được bố mẹ lo lắng, chạy vạy, bán hết đồ đạc trong nhà, kể cả chiếc xe đạp Trung quốc mà cha cô nâng niu như là một thứ gia bảo, vay mượn thêm, lo cho hai chị em cô sang lao động ở Ba-Lan. Sau khi chính quyền cộng sản Ba-Lan bị cuốn theo làn sóng dân chủ ở Đông Âu, chị em cô cùng hầu hết những người được chính quyền Việt Nam gởi sang lao động, đã không về nước, trốn ở lại. Vì sống bất hợp pháp, nên không tìm được việc làm chính thức. Hầu hết làm chui, buôn bán thuốc lá lậu. Một số trở thành ăn cắp, băng đảng, quay lại cướp bóc hoặc tống tiền chính những nguòi đồng hương, đồng cảnh. Số người Việt này trở thành mối bận tâm không nhỏ cho những chính quyền mới ở các nước Đông Âu.
Hai chị em cô Hà thuê một căn gác nhỏ trong thành phố Warszawa, nhận thuốc lá của một người khác, mang đi bán. Nhưng mỗi lần dành dụm được một ít, chưa kịp gởi về giúp gia đình thì bị cướp sạch. Một hôm, cậu em trai nhận thuốc lá mang đi bán, bị cảnh sát bắt và phát hiện là số thuốc lá kia vừa bị mất cắp tại một cửa hàng Ba-Lan. Vì vậy cậu em trai bị nhốt vào tù, còn cô Hà thì đang bị truy nã. Việc xảy ra một ngày trước khi cô Hà gọi điện thoại cho tôi .
- Bây giờ cháu đang ở đâu ? Tôi hỏi.
- Cháu đang trốn ở nhà một nguòi bạn, nhưng cô ta không dám chứa cháu lâu. Cháu không biết phải làm sao, thì bất ngờ nhớ đến lá thư của ba cháu gởi cho cháu cách nay vài tháng. Ba cháu bảo cháu trong trường hợp rất cần thiết mới gọi cho bác.
- Ba cháu bây giờ làm gì ?
- Ông bị ốm nặng. Cách nay hai năm bị tai biến mạch máu não, liệt nửa người, nên chỉ nằm một chỗ. Vì vậy nên chị em cháu trốn ở lại đây để kiếm tiền gởi về cho bố cháu điều trị và sống qua ngày bác ạ.
Tôi ghi số điện thoại, địa chỉ người bạn của Hà, tên nhà tù mà Tĩnh, em trai của Hà đang bị giam giữ, trấn an và hẹn sẽ gặp cô trong một ngày rất gần ở Ba-Lan.
Tôi nhớ tới một người bạn Ba-lan, anh Zbigniew Piwko. Chúng tôi quen khá thân lúc cả hai vừa mới đến Nauy. Anh ta lớn hơn tôi ba tuổi. Trước kia là một đại tá không quân, chỉ huy môt không đoàn chiến đấu thuộc quân đội cộng sản Ba-Lan. Về sau. anh ta ngầm ủng hộ Công Đoàn Đoàn Kết do ông Walesa lãnh đạo. Hành tung bại lộ, trong khi bị truy bắt, anh đã lấy một chiếc trực thăng, chở gia đình, gồm người vợ và hai đứa con, bay sang Tây Đức. Theo sự thỉnh cầu của anh, gia đình anh được chính phủ Nauy đặc biệt nhận cho tị nạn chính trị.
Anh và tôi học tiếng Nauy cùng một lớp, và sau đó có một thời gian chúng tôi cùng làm thông dịch cho Sở Cảnh Sát. Nhưng chỉ hơn một năm sau, thì tình hình chính trị ở Ba-Lan thay đổi bất ngờ. Công Đoàn Đoàn Kết của ông Walesa lãnh đạo đã thắng lợi vẻ vang . Ông được bầu làm Tổng Thống đầu tiên của nước Ba-Lan dân chủ. Anh Piwko, người bạn tị nạn của tôi, được mời về nước để giữ môt chức vụ khá lớn trong ngành cảnh sát. Vào những dịp Giáng sinh, nhớ đến tôi, anh gởi thiệp mừng giáng sinh và năm mới. Anh kể đủ thứ chuyện về xứ sở của anh, về niềm vui và hy vọng của người dân Ba-Lan bây giờ. Sau tấm thiệp không đủ chỗ nên lúc nào anh cũng viết kèm theo vài trang giấy. Anh mời vợ chồng tôi có dịp thu xếp sang chơi với gia đình anh vài hôm và xem đất nước Ba-Lan của anh đang hồi sinh trong dân chủ.
Sáng hôm sau, tôi tìm lại số phôn và gọi cho anh. Anh rất vui mừng khi nghe tôi báo tin sang thăm . Vì đi vội, nên tôi chỉ đi một mình. Vợ chồng anh đón tôi ở phi trường, nơi dành cho VIP (thượng khách). Anh chị còn cho biết là rất thú vị khi có dịp được dùng lại ngôn ngữ Nauy để nói chuyện với tôi. Tôi thực sự xúc động trước sự tiếp đón nồng hậu mà gia đình anh đã dành cho tôi. Tôi ngại ngùng không dám nói với anh những điều muốn nhờ anh giúp. Nhưng rồi cuối cùng, tôi cũng phải tâm tình cùng anh về chuyện anh quản giáo Thà trong trại tù Nghĩa Lộ năm nào, và hoàn cảnh khốn cùng của hai đứa con hiện đang ở tại đây, ngay trên đất nước Ba-Lan của anh. Nghe tôi kể, anh ngậm ngùi giây lát rồi đứng lên ôm vai tôi, hứa sẽ hết lòng giúp tôi về việc này.
Anh đưa tôi đến gặp hai chị em cháu Hà. Đưa Hà về nhà ở với gia đình anh. Hai hôm sau anh làm thủ tục bảo lãnh Tĩnh, em của Hà từ trại tù về.
Trước khi về lại Nauy, tôi đã thức trọn một đêm để tâm tình khuyên lơn hai chị em Hà, biếu cho hai cháu một số tiền để tạm sinh sống và chuyển về Việt nam biếu anh Thà, bố hai cháu. Trên đường đưa tôi ra phi trường, vợ chồng Piwko bảo tôi yên tâm, anh chị xem hai chị em Hà như là cháu trong nhà và sẽ tận tình lo lắng cho hai cháu.
Hơn một tháng sau, Piwko gọi phôn báo cho tôi tin mừng: hai chị em Hà đã được Piwko bảo trợ, được cấp giấy tờ chính thức cư trú tại Ba-lan. Hai cháu đang được học ngôn ngữ Ba-lan. Hà, vì lớn tuổi, nên sẽ xin việc làm. Tĩnh, em Hà, sẽ được tiếp tục theo học tại một trường trung học.
"Các Anh thân quí,
Khi ngồi viết nhừng dòng này cho các anh, thực tình tôi không còn nhớ mặt các anh, nhưng tôi còn nhớ rất rõ thời gian tôi làm quản giáo ở trại Nghĩa Lộ. Vậy mà không ngờ hôm nay các anh còn nhớ đến tôi. Đọc thư của cháu Hà từ Ba-Lan gởi về, cùng với số tiền của các anh gởi cho, lòng tôi cảm xúc đến nghẹn ngào. Tôi và gia đình xin muôn vàn cảm tạ. Các anh làm tôi nhớ tới một câu nói của Các-Mác: Chỉ có loài súc vật mới quay lưng trước cảnh khốn khổ của đồng loại". Ngày nay, cả thế giới đều lên án Mác, những nước một thời lấy chủ nghĩa Mác làm ánh đuốc soi đường, bây giờ cũng đã từ bỏ Mác, chỉ còn một vài nơi lấy Mác làm bức bình phong để che đậy những mục nát ở phía bên trong, nhưng câu nói trên kia của Mác, với tôi, vẫn mãi mãi là một lời vàng ngọc. Điều tệ hại là những kẻ một thời theo Mác đã luôn luôn làm ngược lại lời nói này của Mác.
Chúng tôi mừng cho các anh đã đưa được gia đình ra khỏi nước. Mặc dù tôi biết một người phải bỏ quê hương mà đi, còn đau đớn nào hơn. Ngay cả con cái chúng tôi, vất vả biết chừng nào, mà tôi cũng đành khuyên các cháu phải ra đi để may ra còn tìm được một chút tương lai, giá trị nào đó của kiếp con người.
Phần tôi, sau khi bị kiểm điểm nặng nề ở trại Nghĩa Lộ, tôi bị điều ra mặt trận phương Bắc, trong thời kỳ giặc bành trướng Trung Quốc tràn qua biên giới . Nhờ thương tật, tôi được bố trí một công tác lặt vặt ở hậu cần. Mặt trận kết thúc, tôi bị phục viên về nhà. Tiền phụ cấp không đủ nuôi chính bản thân. Tôi chỉ còn một cánh tay mà phải phát rẫy trồng rau để phụ giúp gia đình.
Hơn ba năm nay, tôi bị ốm nặng, nằm liệt giường. Nhờ chị em cháu Hà gởi tiền về nuôi tôi và cả gia đình, tôi mới còn sống được đến hôm nay. Biết trốn lại Ba Lan, không có giấy tờ, hai cháu sẽ khó khăn ghê lắm, nhưng vẫn còn hơn là về lại bên này. Có làm suốt ngày cũng chẳng đủ ăn. May mà nhờ các anh hết lòng giúp hai cháu. Cái ơn này biết khi nào chúng tôi mới trả được cho các anh đây.
Tôi biết mình không còn sống bao lâu. Cuối đời một con người, tôi nghiệm rõ được một điều: Chỉ có cái tình con người với nhau mới thực sự quí giá và tồn tại mãi với thời gian. Những chế độ này, chủ nghĩa nọ, cuối cùng cũng chỉ là những đám mây đen bay trên đầu. Đôi khi che ta được chút nắng, nhưng nhiều lúc đã trút bao cơn mưa lũ xuống để làm khốn khổ cả nhân gian. .."
.......................
Không ngờ lá thư đầu tiên này cũng là lá thư cuối cùng chúng tôi nhận được từ anh Thà. Anh đã qua đời sau đó không lâu. Nghe cháu Hà kể lại. Khi hấp hối, anh bảo vợ anh mang mấy cái huy chương, anh được cấp trong thời chiến tranh, đào lỗ chôn xuống phía sau nhà. Anh thầm thì: xin hãy chôn chặt hộ tôi cái quá khứ đau thương và lầm lỡ đó lại. Chính nó đã gây biết bao chia lìa, tang tóc, và sự thù hận giữa những người anh em cùng một mẹ, không biết sẽ kéo dài cho đến bao giờ…
Phạm Tín An Ninh
Vương Quốc Nauy
-
Nguyễn_Sydney
- Posts: 2581
- Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
- Been thanked: 1 time
TRuyện " Ở cuối hai con đường " ...rất tình người .QLVNCH lúc nào cũng đối xử nhân đạo với tù binh VC. đoạn cuối câu chuyện , trước khi chềt Thà đã biết hối hận mà bảo vợ đem mấy cái huy chương đi chôn ,để chôn quá khứ đau thương lầm lỡ .vì chính nó đã gây biết bao chia lìa ,tang tóc và sự thù hận giữa những người anh em cùng một Mẹ Việt nam.
Giả và thật...
Phan Lạc Phúc:
Trong bài "Một vài ý kiến về giáo dục tại VN hiện nay" trên mục này vài tuần trước chúng tôi có nêu trường hợp "một ông tiến sĩ mà chưa học xong tiểu học". Chuyện cứ như là "con cá tháng tư" (1) nhưng nó là chuyện thật 100%, ông bạn thân của tôi nhà thơ Hà Thượng Nhân kể cho tôi nghe khi mới đi tù cải tạo về (1987) còn bây giờ thì nó là "chuyện thường ngày ở huyện".
Hà Thượng Nhân là bút hiệu (ông vốn dân Thanh Hóa, người làng Hà Thượng, huyện Hậu Lộc) là bạn đồng song với nhà thơ Hữu Loan từ quê Thanh Hóa ra Huế học thi tú tài Tây khoảng đầu thập niên 40 thế kỷ trước. Thực dân Pháp trong thời kỳ đô hộ nước ta (1884-1945) thi hành chế độ ngu dân (obscurantisme), 90% dân ta mù chữ nên đậu tú tài (Baccalauréat) thời đó rất hiếm và rất quí. Dân ta vốn trọng khoa hơn hoạn (trọng chữ nghĩa hơn chức tước) đỗ tú tài thời đó ở miền Trung có thể ra làm quan hay công chức cao cấp nhưng hai ông Hữu Loan và Hà Thượng lại chỉ đi dạy học, phổ biến một chút tư tưởng, một chút tri thức cho đàn em nên được mọi người trọng vọng. Theo truyền thống xưa người dân Thanh Hóa thời đó không gọi thế danh các ông mà gọi "ông Tú Nga Sơn" (vì Hữu Loan người huyên Nga Sơn), Hà Thượng Nhân là "ông Tú Hậu Lộc. Thanh Hóa vốn là địa linh nên nhân kiệt cũng nhiều. Có thể kể một số nhân vật nổi danh thời Đệ nhất và Đệ nhị Cộng hòa như nhà báo kiêm Giáo sư Phạm Việt Tuyền, Luật sư kiêm lãnh tụ VNQDĐ Lê Ngọc Chấn, người cầm đầu chế độ an ninh thời TT Ngô Đình Diệm, Bác sĩ Trần Kim Tuyến v.v...
Về phương diện gia đình, nhà thơ Hà Thượng Nhân và Luật sư Lê Ngọc Chấn là anh em "cột chèo", ông Lê lấy bà chị, ông Hà lấy bà em. Hai ông này sau tháng 4 "đen" (1975) đều phải đi cải tạo. Vì đã giải ngũ rồi nên ông Hà được về tương đối sớm (1982). Ông Lê (tổng trưởng quốc phòng thời Đệ nhất, đại sứ VNCH tại Anh quốc thời Đệ nhị) cũng được tha vào khoảng đó. Ông Lê có một người em ruột Lê Ngọc C. không di cư vào Nam năm 1954. Ông C. đậu Diplôme thời Pháp, ở lại làm nghề dạy học. Nghe tin ông anh mới được tha về, ông C. mới từ ngoài Bắc vào thăm anh sau mấy chục năm xa cách. Nhân ngày kỵ cụ thân sinh nên hai anh em ông Lê năm đó có mời khá đông người đồng hương Thanh Hóa tới ăn giỗ.
Tất nhiên ông bạn già của tôi, Hà Thượng Nhân, có mặt trong buổi tiệc. Lên chơi nhà ông Hà (chúng tôi thường gọi đùa là Hà chưởng môn) ở cuối đường Trương Minh Giảng cũ bây giờ gọi là đường Lê văn Sĩ (tôi có biết Lê Văn Sĩ là thằng cha căng chú kiết nào đâu) tôi đôi lần nghe bà Hà dặn ông Hà: "Ông có đi đâu, gạp ai thì cũng nên tiết kiệm lời nói, thời buổi khó khăn, bút sa gà chết". Tôi và ông Hà làm việc bên nhau bao nhiêu năm rất giống nhau về tính nết có nghĩa là chúng tôi đều hết sức tuân lời vợ dặn. Trong bữa tiệc, ông Hà chỉ nghe mà không nói.
Hà chưởng môn kể rằng, có khá đông nhân vật tỉnh Thanh tham dự, cả nhân vật bên này và nhân vật bên kia. Rượu vào lời ra, rôm rả. Ông C. lấy cái thế một ông thầy dạy học lâu năm ở tỉnh nhà mới ngưng chén rượu, nhìn về phía một nhân vật lớn đương thời mà đủng đỉnh: 'Chắc anh còn nhớ, năm xưa anh có học tôi?". Nhân vật lớn chợt nghiêm sắc mặt mà gật đầu: "Anh nhớ đúng". Ông thầy C. soắn suýt: "Nếu tôi nhớ không nhầm anh mới học đến lớp nhì Moyen 1ère année (tương đương với lớp 4 tiểu học). Sau anh vào du kích, thoát ly vô bộ đội rồi phục viên làm cán bộ huyện rồi lên tỉnh. Thời gian công tác của anh chúng tôi đều rõ. Anh chưa có thời gian nào bổ túc văn hóa. Thế mà vài năm trước đây, anh đi Liên Sô có chừng 3 năm mà khi về anh đă là phó tiến sĩ. Anh học xong tiểu học, trung học, đại học lúc nào, ở đâu mà nhanh thế?'. Nhân vật lớn đương thời liền khoanh tay, hắng giọng, nhìn thẳng vào ông thầy cũ mà lên tiếng: "Anh là thầy cũ của tôi, ở với Cách mạng mấy chục năm mà, xin lỗi anh, anh chưa hiểu thế nào là vô sản chuyên chính". Ông thầy C. nổi giận: "Tôi thầy giáo ưu tú, dạy bao nhiêu lứa học trò mà anh dám bảo tôi là không hiểu vô sản chuyên chính. Không hiểu làm sao tôi dạy được anh?'. "Có thể anh chỉ hiểu cái bề ngoài của chuyên chính vô sản mà anh chưa hiểu thực chất của nó. Người Bôn xê vích chúng tôi có nhiệm vụ cuối cùng và chính yếu: thực hiện một thế giới đại đồng. Do vậy giai cấp vô sản chúng tôi ở đâu và lúc nào cũng phải là giai cấp lãnh đạo. Để lãnh đạo, Đảng phải cung cấp cho chúng tôi phương tiện. Xưa kia chúng tôi không có cơ hội học hành, không có học vị, bằng cấp. Bây giờ hết chiến tranh, Đảng tạo cơ hội cho chúng tôi có học vị, có bằng cấp để tiếp tục lãnh đạo. Không lẽ người Cách mạng chúng tôi trăm chết một sống dành độc lập, thống nhất bây giờ lại nhờ trí thức các anh lãnh đạo à?'.
Đây là sự tích một ông phó tiến sĩ, mấy năm gần đây phó tiến sĩ đều nhất loạt thành tiến sĩ cả rồi, mà chưa học xong tiểu học. Ông đó không phải là trường hợp cá biệt. Hồi đầu thập niên 80 (thế kỷ trước) tại trại tù cải tạo Thanh Phong (Thanh Hóa) nhân dịp ông Phạm Văn Đồng sang thăm Âu châu, tôi đọc báo thấy trong tiểu sử của ông, ngoài chức danh thủ tướng còn là tiến sĩ triết học, tiến sĩ kinh tế, rồi kiến trúc sư. Không biết ông học ở đâu, lúc nào mà nhiều bằng đến thế, trước đây tôi chưa từng nghe nói đến bao giờ. Không lẽ ông Phạm văn Đồng mà cũng tự ti mặc cảm như thế hay sao?
Cái truyền thống bằng thật, bằng giả, bằng thật, người giả ấy theo thời gian không bị triệt tiêu mà còn phổ biến vô cùng mạnh mẽ thời gian gần đây. Tin từ VN mới gửi sang cho hay bà Trương Mỹ Hoa, phó chủ tịch nước(?) chả cần thi cử học hành gì vẫn có 6 tấm bằng đại học trong tay. Bà Nguyễn thị Hằng, bộ trưởng thương binh xã hội, cần 7 bài báo để xét tiến sĩ theo qui chế, đã 7 lần bỏ tiền thuê người viết hộ rồi đăng báo, đem ra báo cáo, lĩnh bằng. Cho nên mới có thơ truyền miệng: "Ôi VN xứ sở lạ lùng. Đến Trương Mỹ Hoa cũng có 6 tấm bằng, Nguyễn Thị Hằng cũng hóa thành tiến sĩ, dốt như Nông cũng cưỡng chiếm ngai vàng".
Cái bi kịch tại VN bây giờ là thật giả khó phân mà nhiều khi thằng giả lại làm thầy thằng thật.
Phan Lạc Phúc
Chú thích:
(1) Con cá tháng tư: Trò chơi truyền thống của giới truyền thông phao một tin "giật gân" không có thực vào ngày 1 tháng 4 hằng năm đùa vui cùng độc giả.
Phan Lạc Phúc:
Trong bài "Một vài ý kiến về giáo dục tại VN hiện nay" trên mục này vài tuần trước chúng tôi có nêu trường hợp "một ông tiến sĩ mà chưa học xong tiểu học". Chuyện cứ như là "con cá tháng tư" (1) nhưng nó là chuyện thật 100%, ông bạn thân của tôi nhà thơ Hà Thượng Nhân kể cho tôi nghe khi mới đi tù cải tạo về (1987) còn bây giờ thì nó là "chuyện thường ngày ở huyện".
Hà Thượng Nhân là bút hiệu (ông vốn dân Thanh Hóa, người làng Hà Thượng, huyện Hậu Lộc) là bạn đồng song với nhà thơ Hữu Loan từ quê Thanh Hóa ra Huế học thi tú tài Tây khoảng đầu thập niên 40 thế kỷ trước. Thực dân Pháp trong thời kỳ đô hộ nước ta (1884-1945) thi hành chế độ ngu dân (obscurantisme), 90% dân ta mù chữ nên đậu tú tài (Baccalauréat) thời đó rất hiếm và rất quí. Dân ta vốn trọng khoa hơn hoạn (trọng chữ nghĩa hơn chức tước) đỗ tú tài thời đó ở miền Trung có thể ra làm quan hay công chức cao cấp nhưng hai ông Hữu Loan và Hà Thượng lại chỉ đi dạy học, phổ biến một chút tư tưởng, một chút tri thức cho đàn em nên được mọi người trọng vọng. Theo truyền thống xưa người dân Thanh Hóa thời đó không gọi thế danh các ông mà gọi "ông Tú Nga Sơn" (vì Hữu Loan người huyên Nga Sơn), Hà Thượng Nhân là "ông Tú Hậu Lộc. Thanh Hóa vốn là địa linh nên nhân kiệt cũng nhiều. Có thể kể một số nhân vật nổi danh thời Đệ nhất và Đệ nhị Cộng hòa như nhà báo kiêm Giáo sư Phạm Việt Tuyền, Luật sư kiêm lãnh tụ VNQDĐ Lê Ngọc Chấn, người cầm đầu chế độ an ninh thời TT Ngô Đình Diệm, Bác sĩ Trần Kim Tuyến v.v...
Về phương diện gia đình, nhà thơ Hà Thượng Nhân và Luật sư Lê Ngọc Chấn là anh em "cột chèo", ông Lê lấy bà chị, ông Hà lấy bà em. Hai ông này sau tháng 4 "đen" (1975) đều phải đi cải tạo. Vì đã giải ngũ rồi nên ông Hà được về tương đối sớm (1982). Ông Lê (tổng trưởng quốc phòng thời Đệ nhất, đại sứ VNCH tại Anh quốc thời Đệ nhị) cũng được tha vào khoảng đó. Ông Lê có một người em ruột Lê Ngọc C. không di cư vào Nam năm 1954. Ông C. đậu Diplôme thời Pháp, ở lại làm nghề dạy học. Nghe tin ông anh mới được tha về, ông C. mới từ ngoài Bắc vào thăm anh sau mấy chục năm xa cách. Nhân ngày kỵ cụ thân sinh nên hai anh em ông Lê năm đó có mời khá đông người đồng hương Thanh Hóa tới ăn giỗ.
Tất nhiên ông bạn già của tôi, Hà Thượng Nhân, có mặt trong buổi tiệc. Lên chơi nhà ông Hà (chúng tôi thường gọi đùa là Hà chưởng môn) ở cuối đường Trương Minh Giảng cũ bây giờ gọi là đường Lê văn Sĩ (tôi có biết Lê Văn Sĩ là thằng cha căng chú kiết nào đâu) tôi đôi lần nghe bà Hà dặn ông Hà: "Ông có đi đâu, gạp ai thì cũng nên tiết kiệm lời nói, thời buổi khó khăn, bút sa gà chết". Tôi và ông Hà làm việc bên nhau bao nhiêu năm rất giống nhau về tính nết có nghĩa là chúng tôi đều hết sức tuân lời vợ dặn. Trong bữa tiệc, ông Hà chỉ nghe mà không nói.
Hà chưởng môn kể rằng, có khá đông nhân vật tỉnh Thanh tham dự, cả nhân vật bên này và nhân vật bên kia. Rượu vào lời ra, rôm rả. Ông C. lấy cái thế một ông thầy dạy học lâu năm ở tỉnh nhà mới ngưng chén rượu, nhìn về phía một nhân vật lớn đương thời mà đủng đỉnh: 'Chắc anh còn nhớ, năm xưa anh có học tôi?". Nhân vật lớn chợt nghiêm sắc mặt mà gật đầu: "Anh nhớ đúng". Ông thầy C. soắn suýt: "Nếu tôi nhớ không nhầm anh mới học đến lớp nhì Moyen 1ère année (tương đương với lớp 4 tiểu học). Sau anh vào du kích, thoát ly vô bộ đội rồi phục viên làm cán bộ huyện rồi lên tỉnh. Thời gian công tác của anh chúng tôi đều rõ. Anh chưa có thời gian nào bổ túc văn hóa. Thế mà vài năm trước đây, anh đi Liên Sô có chừng 3 năm mà khi về anh đă là phó tiến sĩ. Anh học xong tiểu học, trung học, đại học lúc nào, ở đâu mà nhanh thế?'. Nhân vật lớn đương thời liền khoanh tay, hắng giọng, nhìn thẳng vào ông thầy cũ mà lên tiếng: "Anh là thầy cũ của tôi, ở với Cách mạng mấy chục năm mà, xin lỗi anh, anh chưa hiểu thế nào là vô sản chuyên chính". Ông thầy C. nổi giận: "Tôi thầy giáo ưu tú, dạy bao nhiêu lứa học trò mà anh dám bảo tôi là không hiểu vô sản chuyên chính. Không hiểu làm sao tôi dạy được anh?'. "Có thể anh chỉ hiểu cái bề ngoài của chuyên chính vô sản mà anh chưa hiểu thực chất của nó. Người Bôn xê vích chúng tôi có nhiệm vụ cuối cùng và chính yếu: thực hiện một thế giới đại đồng. Do vậy giai cấp vô sản chúng tôi ở đâu và lúc nào cũng phải là giai cấp lãnh đạo. Để lãnh đạo, Đảng phải cung cấp cho chúng tôi phương tiện. Xưa kia chúng tôi không có cơ hội học hành, không có học vị, bằng cấp. Bây giờ hết chiến tranh, Đảng tạo cơ hội cho chúng tôi có học vị, có bằng cấp để tiếp tục lãnh đạo. Không lẽ người Cách mạng chúng tôi trăm chết một sống dành độc lập, thống nhất bây giờ lại nhờ trí thức các anh lãnh đạo à?'.
Đây là sự tích một ông phó tiến sĩ, mấy năm gần đây phó tiến sĩ đều nhất loạt thành tiến sĩ cả rồi, mà chưa học xong tiểu học. Ông đó không phải là trường hợp cá biệt. Hồi đầu thập niên 80 (thế kỷ trước) tại trại tù cải tạo Thanh Phong (Thanh Hóa) nhân dịp ông Phạm Văn Đồng sang thăm Âu châu, tôi đọc báo thấy trong tiểu sử của ông, ngoài chức danh thủ tướng còn là tiến sĩ triết học, tiến sĩ kinh tế, rồi kiến trúc sư. Không biết ông học ở đâu, lúc nào mà nhiều bằng đến thế, trước đây tôi chưa từng nghe nói đến bao giờ. Không lẽ ông Phạm văn Đồng mà cũng tự ti mặc cảm như thế hay sao?
Cái truyền thống bằng thật, bằng giả, bằng thật, người giả ấy theo thời gian không bị triệt tiêu mà còn phổ biến vô cùng mạnh mẽ thời gian gần đây. Tin từ VN mới gửi sang cho hay bà Trương Mỹ Hoa, phó chủ tịch nước(?) chả cần thi cử học hành gì vẫn có 6 tấm bằng đại học trong tay. Bà Nguyễn thị Hằng, bộ trưởng thương binh xã hội, cần 7 bài báo để xét tiến sĩ theo qui chế, đã 7 lần bỏ tiền thuê người viết hộ rồi đăng báo, đem ra báo cáo, lĩnh bằng. Cho nên mới có thơ truyền miệng: "Ôi VN xứ sở lạ lùng. Đến Trương Mỹ Hoa cũng có 6 tấm bằng, Nguyễn Thị Hằng cũng hóa thành tiến sĩ, dốt như Nông cũng cưỡng chiếm ngai vàng".
Cái bi kịch tại VN bây giờ là thật giả khó phân mà nhiều khi thằng giả lại làm thầy thằng thật.
Phan Lạc Phúc
Chú thích:
(1) Con cá tháng tư: Trò chơi truyền thống của giới truyền thông phao một tin "giật gân" không có thực vào ngày 1 tháng 4 hằng năm đùa vui cùng độc giả.
Thân gởi bạn ta
Bùi bảo Trúc
Bạn ta,
Cách đây hơn một tuần, Richard Gere, người diễn viên mà tôi rất thích trong mấy cuốn phim như Pretty Woman, An Officer And A Gentleman, và cũng là người được đức Ðạt Lai Lạt Ma gần gũi đã bị chống đối dữ dội tại Ấn độ.
Tại mấy cuộc biểu tình ở vài ba thành phố lớn như Mumbai, Varanasi, New Delhi, đám đông đã đem hình nộm của người diễn viên này ra đốt.
Chưa bao giờ một diễn viên điện ảnh lại bị phản đối dữ dội như thế, nhất là tại một nước dân chủ, tự do và tương đối hiền lành như Ấn độ.
Ðọc những bản tin về vụ này, tôi cho là phản ứng của người dân Ấn có quá đáng, nhất là sau vụ một số người muốn làm khó dễ Elizabeth Hurley khi người phụ nữ này cử hành đám cưới với Arun Nayar, một người đàn ông Ấn tại Jodphur, nêu lý do hai người đã uống rượu trước khi hôn lễ diễn ra, một việc làm bị coi là xúc phạm Ấn giáo.
Richard Gere được mời tới New Delhi để tham gia vào một cuộc vận động chống bệnh AIDS tại Ấn, quốc gia có nhiều trường hợp nhiễm HIV nhất thế giới.
Richard Gere xuất hiện trên sân khấu cạnh một nữ diễn viên điện ảnh Ấn là Shilpa Shetty. Sau mấy câu trao đổi, Richard Gere ôm hôn lên má Shilpa Shetty mấy lần.
Ðồng ý Richard Gere có hơi quá một chút trong khi chỉ cần hôn hai cái lên hai má là đã đủ.
Việc làm đó liền bị phản đối dữ dội mặc dù Richard Gere đã xin lỗi và chính Shilpa Shetty cũng nói là chuyện không đáng chi.

Các ông Ấn độ quả là có làm quá thật. Shilpa Shetty là một nữ diễn viên điện ảnh. Trong đời diễn xuất của cô thế nào chẳng có những cảnh âu yếm với các nam diễn viên Ấn. Rõ ràng là những người biểu tình chỉ muốn bảo vệ "mùa màng" mà thôi. Với các diễn viên Ấn thì không sao cả. Nhưng Richard Gere là người Mỹ thì không được. Cũng như Elizabeth Hurley lấy chồng người Ấn. Nếu như cô dâu người Anh lấy một ông Ấn độ kéo xe nghèo khổ tại Calcutta thì có làm gì đi chăng nữa cũng không sao. Nhưng người diễn viên điện ảnh rất đẹp này lại lấy đúng một người đàn ông Ấn rất nhiều tiền và rất đẹp trai. Thế nên Elizabeth Hurley có làm gì cũng là sai, là quấy. Uống ly rượu với Arun Nayar là bị đổ cho tội xúc phạm Ấn giáo, làm như cả nước Ấn không đụng vào một giọt rượu nào không bằng.
Như vậy là tồi lắm. Văn minh khai phóng nỗi gì, tự do ở đâu. Mới hôn mấy cái đã hét nhắng lên làm cứ như trong thơ Trần Dạ Từ không bằng:
Lần đầu ta ghé môi hôn
Những con ve nhỏ hết hồn kêu vang...
Xem vậy mới thấy là người VIệt Nam chúng ta là dân tộc dễ mến. Chuyện Richard Gere làm ở New Delhi với Shilpa Shetty mà đã ăn thua gì.
Theo tin của mấy tờ báo trong nước, cách đây có vài ngày, ngày 23 tháng 4, tại Sài Gòn, hai người đàn ông Hàn quốc đã được mời tới một căn nhà có khoảng hơn sáu chục phụ nữ Việt Nam để các ông lựa chọn lấy làm vợ.
Những phụ nữ Việt Nam này đã phải thoát y để cho hai người đàn ông Hàn quốc này xem xét trước khi có quyết định.
Cảnh như thế thực ra, tại nước Mỹ cũng có. Các trại chủ ở Virginia, North Carolina... tới Annapolis, một hải cảng thuộc tiểu bang Maryland cũng đến tận nơi rờ nắn coi bắp thịt có chắc không, vú vê còn tốt không, các bộ phận sinh dục ra sao trước khi quyết định.
Có khác là những chuyện như thế là những chuyện diễn ra từ hơn hai trăm năm trước. Nhũng trại chủ này đến Annapolis để mua nô lệ về cho các nông trại của họ. Và những người phụ nữ ấy là những người da đen bị bắt từ Phi châu mang sang bán tại Bắc Mỹ khi chế độ mãi nô còn tồn tại.
Ở Việt Nam, theo báo Tiền Phong và báo VNExpress thì hai người đàn ông Hàn quốc này còn đến sát, ngó kỹ, vén quần áo của một số phụ nữ để xác nhận "chất lượng" cơ thể của các phụ nữ họ thấy vừa mắt.
Tưởng tượng chuyện như thế xẩy ra tại Ấn độ thì không biết hai công dân Hàn quốc có toàn thây để về nước hay không.
Người dân Ấn nhất định phải đem cả hai ra đốt thật chứ không có chuyện đốt hình nộm như trong vụ Richard Gere hôn Shilpa Shetty. Chính phủ New Delhi chắc chắn sẽ cấm cửa những công dân Hàn quốc tới Ấn độ với toan tính xem hàng như thế, đồng thời phạt nặng những thứ Tú Bà và ma cô, ma cạo tổ chức những trò ra mắt phụ nữ như vậy.
Nhưng ở Việt Nam, những chuyện như vậy đã diễn ra không biết bao nhiêu lần cho những người đàn ông Ðài Loan, Hàn quốc, Trung quốc. Vài ba người tổ chức những trò mất dậy khốn nạn đó bị bắt và chỉ bị phạt vi cảnh nhẹ.
Nhà nước bỏ qua những chuyện như thế, những chuyện mà nhân phẩm và danh dự của người Việt Nam bị xúc phạm, chà đạp tàn bạo vì có thể nhà nước không quan tâm, mà cũng có thể là không đủ người để có biện pháp với những chuyện đó.
Bởi vì bọn chó đẻ còn phải cho bọn côn quang đi bắt luật sư Lê thị Công Nhân và nhà văn Trần Khải Thanh Thuỷ và lo canh gác trước tư dinh đại sứ Mỹ để không cho các bà Vũ Thuý Hà và Bùi Thị Kim Ngân, hai người đàn bà chồng đang tù tội, khách mời của sứ quán vào gặp đại sứ Mỹ.
Chó má không thể tưởng tượng được.
Bùi Bảo Trúc
Bùi bảo Trúc
Bạn ta,
Cách đây hơn một tuần, Richard Gere, người diễn viên mà tôi rất thích trong mấy cuốn phim như Pretty Woman, An Officer And A Gentleman, và cũng là người được đức Ðạt Lai Lạt Ma gần gũi đã bị chống đối dữ dội tại Ấn độ.
Tại mấy cuộc biểu tình ở vài ba thành phố lớn như Mumbai, Varanasi, New Delhi, đám đông đã đem hình nộm của người diễn viên này ra đốt.
Chưa bao giờ một diễn viên điện ảnh lại bị phản đối dữ dội như thế, nhất là tại một nước dân chủ, tự do và tương đối hiền lành như Ấn độ.
Ðọc những bản tin về vụ này, tôi cho là phản ứng của người dân Ấn có quá đáng, nhất là sau vụ một số người muốn làm khó dễ Elizabeth Hurley khi người phụ nữ này cử hành đám cưới với Arun Nayar, một người đàn ông Ấn tại Jodphur, nêu lý do hai người đã uống rượu trước khi hôn lễ diễn ra, một việc làm bị coi là xúc phạm Ấn giáo.
Richard Gere được mời tới New Delhi để tham gia vào một cuộc vận động chống bệnh AIDS tại Ấn, quốc gia có nhiều trường hợp nhiễm HIV nhất thế giới.
Richard Gere xuất hiện trên sân khấu cạnh một nữ diễn viên điện ảnh Ấn là Shilpa Shetty. Sau mấy câu trao đổi, Richard Gere ôm hôn lên má Shilpa Shetty mấy lần.
Ðồng ý Richard Gere có hơi quá một chút trong khi chỉ cần hôn hai cái lên hai má là đã đủ.
Việc làm đó liền bị phản đối dữ dội mặc dù Richard Gere đã xin lỗi và chính Shilpa Shetty cũng nói là chuyện không đáng chi.

Các ông Ấn độ quả là có làm quá thật. Shilpa Shetty là một nữ diễn viên điện ảnh. Trong đời diễn xuất của cô thế nào chẳng có những cảnh âu yếm với các nam diễn viên Ấn. Rõ ràng là những người biểu tình chỉ muốn bảo vệ "mùa màng" mà thôi. Với các diễn viên Ấn thì không sao cả. Nhưng Richard Gere là người Mỹ thì không được. Cũng như Elizabeth Hurley lấy chồng người Ấn. Nếu như cô dâu người Anh lấy một ông Ấn độ kéo xe nghèo khổ tại Calcutta thì có làm gì đi chăng nữa cũng không sao. Nhưng người diễn viên điện ảnh rất đẹp này lại lấy đúng một người đàn ông Ấn rất nhiều tiền và rất đẹp trai. Thế nên Elizabeth Hurley có làm gì cũng là sai, là quấy. Uống ly rượu với Arun Nayar là bị đổ cho tội xúc phạm Ấn giáo, làm như cả nước Ấn không đụng vào một giọt rượu nào không bằng.
Như vậy là tồi lắm. Văn minh khai phóng nỗi gì, tự do ở đâu. Mới hôn mấy cái đã hét nhắng lên làm cứ như trong thơ Trần Dạ Từ không bằng:
Lần đầu ta ghé môi hôn
Những con ve nhỏ hết hồn kêu vang...
Xem vậy mới thấy là người VIệt Nam chúng ta là dân tộc dễ mến. Chuyện Richard Gere làm ở New Delhi với Shilpa Shetty mà đã ăn thua gì.
Theo tin của mấy tờ báo trong nước, cách đây có vài ngày, ngày 23 tháng 4, tại Sài Gòn, hai người đàn ông Hàn quốc đã được mời tới một căn nhà có khoảng hơn sáu chục phụ nữ Việt Nam để các ông lựa chọn lấy làm vợ.
Những phụ nữ Việt Nam này đã phải thoát y để cho hai người đàn ông Hàn quốc này xem xét trước khi có quyết định.
Cảnh như thế thực ra, tại nước Mỹ cũng có. Các trại chủ ở Virginia, North Carolina... tới Annapolis, một hải cảng thuộc tiểu bang Maryland cũng đến tận nơi rờ nắn coi bắp thịt có chắc không, vú vê còn tốt không, các bộ phận sinh dục ra sao trước khi quyết định.
Có khác là những chuyện như thế là những chuyện diễn ra từ hơn hai trăm năm trước. Nhũng trại chủ này đến Annapolis để mua nô lệ về cho các nông trại của họ. Và những người phụ nữ ấy là những người da đen bị bắt từ Phi châu mang sang bán tại Bắc Mỹ khi chế độ mãi nô còn tồn tại.
Ở Việt Nam, theo báo Tiền Phong và báo VNExpress thì hai người đàn ông Hàn quốc này còn đến sát, ngó kỹ, vén quần áo của một số phụ nữ để xác nhận "chất lượng" cơ thể của các phụ nữ họ thấy vừa mắt.
Tưởng tượng chuyện như thế xẩy ra tại Ấn độ thì không biết hai công dân Hàn quốc có toàn thây để về nước hay không.
Người dân Ấn nhất định phải đem cả hai ra đốt thật chứ không có chuyện đốt hình nộm như trong vụ Richard Gere hôn Shilpa Shetty. Chính phủ New Delhi chắc chắn sẽ cấm cửa những công dân Hàn quốc tới Ấn độ với toan tính xem hàng như thế, đồng thời phạt nặng những thứ Tú Bà và ma cô, ma cạo tổ chức những trò ra mắt phụ nữ như vậy.
Nhưng ở Việt Nam, những chuyện như vậy đã diễn ra không biết bao nhiêu lần cho những người đàn ông Ðài Loan, Hàn quốc, Trung quốc. Vài ba người tổ chức những trò mất dậy khốn nạn đó bị bắt và chỉ bị phạt vi cảnh nhẹ.
Nhà nước bỏ qua những chuyện như thế, những chuyện mà nhân phẩm và danh dự của người Việt Nam bị xúc phạm, chà đạp tàn bạo vì có thể nhà nước không quan tâm, mà cũng có thể là không đủ người để có biện pháp với những chuyện đó.
Bởi vì bọn chó đẻ còn phải cho bọn côn quang đi bắt luật sư Lê thị Công Nhân và nhà văn Trần Khải Thanh Thuỷ và lo canh gác trước tư dinh đại sứ Mỹ để không cho các bà Vũ Thuý Hà và Bùi Thị Kim Ngân, hai người đàn bà chồng đang tù tội, khách mời của sứ quán vào gặp đại sứ Mỹ.
Chó má không thể tưởng tượng được.
Bùi Bảo Trúc
CHUYỆN ĐÀO MỒ SAN MÃ
Báo Tuổi Trẻ trong nước đăng tin Tượng Đài Chiến Binh ở thủ đô Tallinn của quốc gia Estonia vừa bị tháo gỡ, hài cốt 13 lính Cộng Sản Liên Xô bị đào lên dời đi.
Báo Tuổi Trẻ thuật lại phản ứng của Nga, như Phát ngôn viên bộ Ngoại giao Nga chỉ trích chính phủ Estonia là “âm mưu viết lại những bài học của Thế Chiến Thứ Hai”, còn Thượng Viện Nga thì đề nghị cắt bỏ bang giao với Estonia.
Thật sự cũng khó hiểu được thâm ý của báo Tuổi Trẻ khi đăng bản tin này, có phải họ cố tình buộc bọn cầm đầu đảng Cộng Sản Việt Nam phải đọc tin để ngẫm nghĩ lại tội ác của chúng đối với Nghĩa Trang Quân Đội của Việt Nam Cộng Hòa ở Biên Hòa không? Hay báo Tuổi Trẻ đăng với mục đích hùa vào với nước Nga, hậu thân của Liên Xô?
Khi nghe tin Nguyễn Tấn Dũng sẽ lên làm Thú tướng nước Việt Nam Cộng Sản, hẳn một số người ở hải ngoại ươm lên chút hy vọng rằng với số tuổi chưa quá cao, nghĩa là tuổi đảng chưa đến nổi khiến cái đầu bị đống cục như xi măng, và với gốc người miền cận Nam vốn được coi là hiền hòa thật thà, Nguyễn Tấn Dũng sẽ khá hơn bọn tiền nhiệm về tình tự dân tộc.
Nhưng nối tiếp những hành động vô luân của bọn tiền nhiệm, như đập phá bức tượng Thương Tiếc đàng trước nghĩa trang, và phá hoại mồ mã chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa bên trong; thì mới đây Nguyễn Tấn Dũng ký lệnh giao khu Nghĩa Trang Quân Đội của Việt Nam Cộng Hòa cho đám đầu lĩnh tỉnh Bình Dương nhằm để khai thác kinh tế.
Với cái lệnh của Nguyễn Tấn Dũng, bọn đầu lĩnh tỉnh Bình Dương có thể san bằng hết mồ mã của những chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa, tức mồ mã thân nhân của những người dân Việt đang sống ở miền Nam, miền đất đang dẫn đầu cả nước trên con đường đưa Việt Nam vươn lên hàng phú cường.
Hành động của Nguyễn Tấn Dũng cho thấy rằng nước Việt Nam không chỉ có dân gốc Bắc, gốc Trung, gốc Nam, mà còn có một thứ gốc thối tha tồi tệ là gốc Cộng Sản. Dù gốc Bắc, hay gốc Trung, hay gốc Nam mà đã trở thành gốc Cộng Sản rồi thì đã trở thành loại gốc phế thải trong cộng đồng dân Việt.
Nước Nga đang căm hận nước Estonia như thế nào về vụ Estonia đào mã 13 lính Liên Xô chôn trên xứ họ, thì toàn thể dân chúng miền Nam căm hận bọn Việt Cộng như thế đó về cách đối xử vô luân với Nghĩa Trang Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa!
Từ khi các Vua Hùng dựng nước tới nay, nước Việt đã có bao nhiêu triều đại? Dĩ nhiên, không phải một. Vậy nhà Hồ Ly Tinh của Cộng sản sẽ có ngày sụp đổ không? Dĩ nhiên, có chắc! Đám cầm đầu đảng Cọng Sản Việt Nam có muốn mồ mã nhà mình bị dân chúng ba miền đào bới lên không, khi nhà Hồ Ly Tinh sụp đổ?
Cái gì mình không muốn người khác làm đối mình thì tốt nhất là đừng làm đối với người khác. Điều này, học sinh tiểu học thì được thầy cô dạy; còn Tổng bí thư đảng, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Cộng Sản thì chắc đợi cho toàn dân dạy cho một bài học nhớ đời ?!
ĐỖ SƠN
Báo Tuổi Trẻ trong nước đăng tin Tượng Đài Chiến Binh ở thủ đô Tallinn của quốc gia Estonia vừa bị tháo gỡ, hài cốt 13 lính Cộng Sản Liên Xô bị đào lên dời đi.
Báo Tuổi Trẻ thuật lại phản ứng của Nga, như Phát ngôn viên bộ Ngoại giao Nga chỉ trích chính phủ Estonia là “âm mưu viết lại những bài học của Thế Chiến Thứ Hai”, còn Thượng Viện Nga thì đề nghị cắt bỏ bang giao với Estonia.
Thật sự cũng khó hiểu được thâm ý của báo Tuổi Trẻ khi đăng bản tin này, có phải họ cố tình buộc bọn cầm đầu đảng Cộng Sản Việt Nam phải đọc tin để ngẫm nghĩ lại tội ác của chúng đối với Nghĩa Trang Quân Đội của Việt Nam Cộng Hòa ở Biên Hòa không? Hay báo Tuổi Trẻ đăng với mục đích hùa vào với nước Nga, hậu thân của Liên Xô?
Khi nghe tin Nguyễn Tấn Dũng sẽ lên làm Thú tướng nước Việt Nam Cộng Sản, hẳn một số người ở hải ngoại ươm lên chút hy vọng rằng với số tuổi chưa quá cao, nghĩa là tuổi đảng chưa đến nổi khiến cái đầu bị đống cục như xi măng, và với gốc người miền cận Nam vốn được coi là hiền hòa thật thà, Nguyễn Tấn Dũng sẽ khá hơn bọn tiền nhiệm về tình tự dân tộc.
Nhưng nối tiếp những hành động vô luân của bọn tiền nhiệm, như đập phá bức tượng Thương Tiếc đàng trước nghĩa trang, và phá hoại mồ mã chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa bên trong; thì mới đây Nguyễn Tấn Dũng ký lệnh giao khu Nghĩa Trang Quân Đội của Việt Nam Cộng Hòa cho đám đầu lĩnh tỉnh Bình Dương nhằm để khai thác kinh tế.
Với cái lệnh của Nguyễn Tấn Dũng, bọn đầu lĩnh tỉnh Bình Dương có thể san bằng hết mồ mã của những chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa, tức mồ mã thân nhân của những người dân Việt đang sống ở miền Nam, miền đất đang dẫn đầu cả nước trên con đường đưa Việt Nam vươn lên hàng phú cường.
Hành động của Nguyễn Tấn Dũng cho thấy rằng nước Việt Nam không chỉ có dân gốc Bắc, gốc Trung, gốc Nam, mà còn có một thứ gốc thối tha tồi tệ là gốc Cộng Sản. Dù gốc Bắc, hay gốc Trung, hay gốc Nam mà đã trở thành gốc Cộng Sản rồi thì đã trở thành loại gốc phế thải trong cộng đồng dân Việt.
Nước Nga đang căm hận nước Estonia như thế nào về vụ Estonia đào mã 13 lính Liên Xô chôn trên xứ họ, thì toàn thể dân chúng miền Nam căm hận bọn Việt Cộng như thế đó về cách đối xử vô luân với Nghĩa Trang Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa!
Từ khi các Vua Hùng dựng nước tới nay, nước Việt đã có bao nhiêu triều đại? Dĩ nhiên, không phải một. Vậy nhà Hồ Ly Tinh của Cộng sản sẽ có ngày sụp đổ không? Dĩ nhiên, có chắc! Đám cầm đầu đảng Cọng Sản Việt Nam có muốn mồ mã nhà mình bị dân chúng ba miền đào bới lên không, khi nhà Hồ Ly Tinh sụp đổ?
Cái gì mình không muốn người khác làm đối mình thì tốt nhất là đừng làm đối với người khác. Điều này, học sinh tiểu học thì được thầy cô dạy; còn Tổng bí thư đảng, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Cộng Sản thì chắc đợi cho toàn dân dạy cho một bài học nhớ đời ?!
ĐỖ SƠN

