Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày

Cho đuổi mèo, mèo rượt chuột, chuột sa chỉnh gạo, gạo tải vô xe... thế rồi... xe cán chó!!!

Moderators: CNN, khieulong

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Quê Nhà Tháng Tư
TRẦN KHẢI .
Việt Báo Chủ Nhật, 4/29/2007, 12:02:00 AM


Một điều hết sức lạ năm nay: lần đầu tiên người ta thấy nhà nước CSVN không ầm ĩ chỉ thị tổ chức các lễ mừng ngày 30 tháng 4. Tuy đã trải qua 32 năm, nhưng ngày 30 tháng 4 năm 1975 vẫn là một dấu mốc lớn trong lịch sử đất nước, ngày miền Nam sụp đổ, ngày miền Bắc chiến thắng, ngày toàn quốc thống nhất. Theo lệ các năm trước kia, các chỉ thị mừng lễ 30 tháng 4 luôn luôn ban ra trước một tuần, và có năm chuẩn bị lễ tới cả tháng. Vì sao năm nay Đảng CSVN cố ý bỏ quên như thế? Tại sao lại bày mâm trái cây nhang đèn đầy đủ bên bàn thờ tổ sư kinh tế toàn cầu WTO, mà lại cố ý để lạnh lẽo phía bàn thờ "làm ngọn cờ đầu của ba dòng thác cách mạng, hoàn thành cách mạng dân tộc để tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa…" như thế?

Khi những dòng chữ này được viết hôm Thứ Sáu 27-4-2007, các báo điện tử trong nước vẫn không nhắc gì tới ngày lễ 30-4. Thế mới lạ. Có phải vì Bác Hồ về thăm các nhà ngoại cảm và xin chuyển lời năn nỉ bí mật gì với Đảng CSVN?

Thử đọc lướt một số trang báo nhà nước ấn hành vào buổi sáng Thứ Sáu 27-4-2007 như sau.

Trang "Website Chính phủ" nơi trang đầu hoàn toàn không nói gì về lễ 30-4, và phần "Tin tức nổi bật" là các tin nhan đề thứ tự sau:

- Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh thăm và làm việc tại Phú Thọ.

- Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: Xây dựng Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh thành trung tâm đào tạo nguồn nhân lực trọng điểm quốc gia.

- Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng rời Vientiane bắt đầu chuyến thăm Campuchia…

Trang báo "Đảng CSVN" nơi trang nhất, vào đầu ngày Thứ Sáu cũng hoàn toàn không nói gì về lễ 30-4, và phần tin chính yếu là, theo thứ tự:

- Tổng công ty Viễn thông Quân đội: 18 năm xây dựng và trưởng thành.

- Mỹ phải có trách nhiệm với các nạn nhân chất độc da cam/điôxin Việt Nam.

- Bão lớn ở Mỹ làm 83 người chết và bị thương…

Tới trưa Thứ Sáu báo DCSVN mới có 2 tin:

- Mít tinh trọng thể kỷ niệm 32 năm thống nhất đất nước và 121 năm ngày Quốc tế lao động.

- Hà Nội: Giảm án và tha tù trước thời hạn cho 199 phạm nhân trong dịp lễ 30/4 và 1/5.

Trên báo Công An Nhân Dân, nơi trang nhất hoàn toàn không tin nào về 30/4, kể cả tin thả phạm nhân. Hay là các tin này được đưa vào một góc trang nào khó thấy?

Trang báo Nhân Dân nơi trang đầu cũng hoàn toàn không nói gì về lễ 30-4, và phần tin và bài chính yếu là, theo thứ tự:

- Lễ dâng hương tưởng niệm các Vua Hùng tại Phú Thọ.

- Bình Thuận lo nhà ở cho người nghèo.

- Xã Bảo Lâm xin ra khỏi diện nghèo.

Tới buổi trưa, báo Nhân Dân mới trang trọng đăng tin ở vị trí trang trọng nhất là:

"Mít tinh chào mừng Ngày thống nhất đất nước và Ngày quốc tế lao động."

Trong tin này, ghi nhận mít tinh với "gần 1000 đại biểu đại diện nhân sĩ, trí thức và các tầng lớp nhân dân thủ đô Hà Nội." Tính cách tuyên truyền đã giảm rồi.

Vào buổi sáng Thứ Sáu 27-4-2007, nếu độc giả vào các báo Tiền Phong, Tuổi Trẻ cũng không thấy nơi trang nhất nói chuyện tổ chức lễ 30-4 gì hết. Duy có báo Thanh Niên thực hiện bản tin về buổi mít tinh nói trên, và cũng đăng ở nơi trang trọng nhất. Báo Tuổi Trẻ tới chiều thì có bài ký sự về ngày 30-4-1975.

Còn báo VietNamNet hôm Thứ Sáu trang nhất cũng có nhắc tới lễ 30 tháng 4, nhưng là nói chuyện ngành du lịch hốt bạc trong ngày này. Báo điện này trang nhất hôm Thứ Sáu hoàn toàn không nói chuyện lễ 30-4, và có các tin chính xếp thứ tự sau:

- Đột phá từ triết lý phát triển.

- Mở sàn giao dịch bản quyền: Tác phẩm có lên hương?

- ĐHQG phải là "trọng điểm của trọng điểm"

Và chỉ duy một tin duy nhất nơi trang nhất có liên hệ là tin:

- 30/4, nô nức du lịch "ta ba lô".

Tại sao như thế? Các cụ, các bác, các chú lãnh đạo trong Bộ Chính Trị CSVN có oan khuất gì thì cứ nói ra chứ, cứ ghi tên tụng kinh mà giải oan chứ, sao lại cùng nhau lặng lẽ làm cho có lệ ngày 30 tháng 4 là nghĩa lý gì?

Hay, có phải quên chỉ thị làm lễ 30-4 năm nay chỉ vì Bộ Chính Trị CSVN đang bận rộn bịt miệng Linh Mục Nguyễn Văn Lý, bận rộn xiết họng hai luật sư Nguyễn Văn Đài và Lê Thị Công Nhân, và bận rộn xua công an vây bắt dân oan? Hay là chưa soạn xong màn kịch bầu cử Quốc Hội kỹ lưỡng? Hay là đang lo sợ "Thánh Vật" khi sắp đào bới khu di tích Hoàng Cung và Cấm Thành cổ để xây nhà quốc hội mới?

Tuy nhiên, trong số các nhân vật nổi tiếng trong Đảng CSVN lại nổi bật một người bày tỏ "đàn ngang cung" trong ngày 30-4 năm nay. Và ông đã chọn lên tiếng trên làn sóng phát thanh BBC. Bản tin đài BBC hôm 19-4-2007 ghi như sau, trích:

"Phỏng vấn Cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt

Trong cuộc phỏng vấn lần đầu tiên với đài BBC, Cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã thẳng thắng đề cập đến một loạt vấn đề chính trị của Việt Nam từ 1975 đến nay.

Nói đến cuộc bầu cử quốc hội sắp tới, ông cho biết ông ủng hộ mạnh chuyện để các ứng viên tự ứng cử và muốn người dân được "tự do lựa chọn,"

Ngoài ra, ông hoan nghênh việc người Việt ở nước ngoài có hai quốc tịch và được tham gia ứng cử ở Việt Nam…(…)

Ông nói "Có hàng trăm con đường yêu nước khác nhau. Tổ quốc Việt Nam không của riêng một đảng, một phe phái, tôn giáo nào"… (hết trích)

Hóa ra vẫn có một tiếng nói trong Đảng CSVN như thế, vẫn có một người công khai nói rằng bên hàng ngũ bên kia, của hàng trăm con đường khác con đường CS, vẫn là yêu nước theo cách riêng.

Vì sao năm nay toàn đảng CSVN im lặng như tờ khi cận ngày 30 tháng 4, mà duy có ông Võ Văn Kiệt lên tiếng với ngôn ngữ "cấp tiến" như thế?

Điều hết sức lạ lùng, rằng Đảng CSVN gần đây đang có hướng đi lùi về lập trường bảo thủ, đã và đang thô bạo đàn áp mọi tiếng nói dị biệt. Trường hợp ông Kiệt bây giờ mới nói lên lập trường "có vẻ đa nguyên" như thế, tuy là chậm mất 32 năm, nhưng hiển nhiên là trái nghịch với lập trường chính thức của Đảng CSVN.

Thế là, đất nước lại thêm một ngày 30 tháng 4 đầy bí hiểm. Thử hỏi các nhà ngoại cảm xem vì sao như thế, có phải vì Bác Hồ đang chịu oan khuất nhiều thập niên vì bị con cháu moi ruột móc gan để nhồi thuốc làm xác ướp, mà họ Nông vẫn ngoan cố không chịu ghi tên Bác Hồ vào đàn tràng giải oan cho cầu siêu?

Thêm câu hỏi nữa: có phải Đảng CSVN đã chỉ thị cho tất cả báo đài, cho toàn đảng nín thở qua sông để trôi qua đi một tháng 4 hiểm trở năm nay? Bởi vì nếu đảng CSVN không chỉ thị, thì cũng phải có báo làm chủ đề gì đặc biệt cho ngày này chứ… Sao lại chỉ có một buổi mít tinh, mà ở mức độ còn thua nhiều show văn nghệ trong nước?

Lại thêm một ngày 30 tháng 4 đầy bí hiểm.

Ông bà thường nói, khi các nỗi đau, hay các nỗi oan cao ngất trời, thì các tầng trời cũng chấn động. Đó là lý do, trong phim “Chuyện Tình Lương Sơn Bá- Chúc Anh Đài” cho chúng ta thấy hình ảnh: khi một người quá đau đớn khóc, thì mưa giông sẽ tới, sấm sét vây phủ, và ngôi mộ sẽ nứt ra...

Vì sao dân oan tới vườn hoa Mai Xuân Thưởng hàng ngaỳ than khóc, mà Lăng Ông Hồ vẫn chưa bị sét đánh, vẫn chưa bị nứt ra? Hay là ông đã bị sét đánh nhiều phen rồi, mà Đảng CSVN vẫn còn giấu nhẹm?

Đó cũng là một bí hiểm của chuyện ngaỳ 30 tháng 4.

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Mỗi độ tháng tư về . .


Lê Minh Ngọc - 04/28/07


Hàng năm, cứ mỗi độ tháng tư về, thiên hạ lại thấy xuất hiện trên báo chí và mạng lưới điện toán những tin tức, hình ảnh liên quan đến biến cố tháng tư năm 1975. Năm nay, cuốn “Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên” của tác giả Phạm Huấn bỗng được thấy đặc biệt chiếu cố, được khai thác, trích dẫn rộn ràng trên các mạng lưới toàn cầu. Tên tuổi Phạm Huấn được đặc biệt nhắc nhở, đề cao và đặc biệt hơn nữa, ngay cả chữ nghĩa trong cuốn “Đại Thắng Mùa Xuân” của răng-đen-mã-tấu Văn Tiến Dũng cũng được trang trọng trưng bày, xen kẻ với chữ nghĩa của Phạm Huấn! Lý do tại sao, xin dành quyền thẩm định, phê phán khách quan lại cho quý độc giả, sau khi đọc xong bài viết nhỏ bé này.

Khoan thai mà nhận diện tin tức, chúng ta thấy có hai phần khác nhau trong các bài phóng lên mạng. Phần 1 là những trích dẫn từ ngay trong chính cuốn “Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên” của tác giả Phạm Huấn và phần 2, những bài viết khác, nhưng cũng nhằm vào một hướng -mạt sát Miền Nam Việt Nam ngày trước!

Hãy bắt đầu bằng những trích dẫn từ ngay trong cuốn “Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên”. Trong phần này, trên nhiều mạng lưới, nhiều trích đoạn, mô tả các diễn tiến dồn dập, ào ạt, nóng bỏng, vào những ngày cuối của miền Nam Việt Nam. Trong dòng diễn tiến cuồn cuộn đó, có một đoạn trích dẫn “bắt mắt” tôi nhất. Bắt mắt tôi, một phần vì cường độ chữ nghĩa được xử dụng và phần khác, vì giá trị xác tín của nguồn tin. Xin chép lại nguyên văn đoạn này:

“Lữ đoàn 3 Nhẩy Dù tăng phái cho Mặt trận Khánh Dương, buông súng trưa ngày 1.4.1975, sau khi vỡ tuyến, bị tràn ngập, và không còn được tiếp tế, liên lạc được với quân đoàn II. Lữ Đoàn 3 Nhẩy Dù bị tổn thất 70% lực lượng. Đó là thực trạng và tinh thần chiến đấu của các đơn vị chủ lực Quân Đoàn II, và Lữ Đoàn 3 Nhẩy Dù trong những ngày sau cùng trên chiến trường Cao Nguyên, Pleiku, Kontum, Nha Trang: Chưa đánh đã bỏ chạy! Đúng!” . . .

Nếu là kẻ bàng quang, đọc thoáng qua, chắc tôi cũng chỉ dững dưng đọc tiếp. Nhưng riêng tôi, không là người dưng nước lã với Lữ Đoàn 3 Nhảy Dù (LĐ3ND). Tôi đã có những tháng năm phục vụ trong đơn vị này. Sự thật không phải như vậy! Hoàn toàn không! Nhân đây, tôi cố gắng trình bày lại, hầu quý độc giả, tất cả những diễn tiến, mà các đơn vị Nhảy Dù Việt Nam có tham dự trong những tháng ngày cuối cùng của cuộc chiến. Trước khi mổ xẻ đoạn văn của Phạm Huấn trên đây, cũng xin thưa trước một điều: vì nhu cầu trình bày mạch lạc tin tức và dữ kiện (để Quý Vị dễ theo dõi), có đôi lúc tôi phải viết lên mối liên quan mật thiết của cá nhân tôi với các đơn vị này. Xin đừng hiểu lầm là người viết muốn nói về “cái tôi” của mình. Trong biển lửa mênh mông và cường độ khốc liệt của cuộc chiến bất hạnh đó, tôi nghĩ, và tôi chắc rằng, mỗi chúng ta chưa đáng là con đom đóm. Mỗi cá nhân chúng ta chỉ là hạt cát vô nghĩa bị xoay cuồng trong giòng định mệnh oan khiêng của dân tộc. Từ các cấp lãnh đạo, chỉ huy của Việt Nam, cho đến cả Đại Sứ Mérillon của Pháp, ngay cả chính Đại sứ Graham Martin của Mỹ, cũng chỉ là nạn nhân, phục vụ cho quyền lợi kinh tế và chiến lược tối thượng của Hoa Kỳ và Trung Cộng.


Ra hải ngoại, “cái tôi” là điều mà đại đa số qúy vị độc giả, trong đó có chính tôi, đã quá kinh tởm, trong rừng lúc nhúc các “bút ký chán chường”!

Trọn năm 1973, tôi là Lữ Đoàn Phó LĐ3ND này, hành quân liên tục trong vùng “Động Ông Đô”â, Quảng Trị. Đụng chạm với địch suốt name với nhiều kỷ niệm mồ hôi, xương máu, ký ức còn nóng hổi như mới ngày hôm qua. Tháng giêng năm 1974, Bộ Tư Lệnh Nhảy Dù bổ nhậm tôi làm Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 2ø, thay thế Đại Tá Nguyễn Thu Lương, Khóa 4 Thủ Đức. LĐ2ND ở lại bắc Quảng Trị, trách nhiệm vùng khoảng phía tây Phong Điền/La Vang, dưới sự phối hợp và kiểm soát hành quân của Thiếu Tướng Bùi Thế Lân, Tư Lệnh/TQLC. Còn lại, SĐND(-) được Trung Tướng Ngô Quang Trưởng TL/QĐI điều động về nam đèo Hải Vân để giúp trấn giữ Đà Nẵng.

Hòa Đàm Ba-Lê kết thúc ngày 27 tháng giêng năm 1973 và trở thành bản án bức tử cho “đồng minh” Nam Việt Nam, vì quyền lợi chính trị và chiến lược của chính “đồng minh” Hoa Ky. Henry Kissinger và Lê Đức Thọ được giải “Nobel Hòa Bình” sau đó! Cộng sản Hà Nội không còn nhu cầu nhắm chiếm Huế để làm “thủ đô” cho Nguyễn Hữu Thọ và Nguyễn Thị Bình nữa. Chúngï dồn áp lực tối đa vào Đà Nẵng và Ban Mê Thuột, và mục tiêu tối hậu là .. Saigòn.

Sau đúng 1 năm ở lại Quảng Trị, tháng 12 năm 1974, bất thần tôi lại được Chuẩn Tướng Lê Quang Lưỡng, Tư Lệnh Dù sau cùng, cho lệnh bàn giao LĐ2ND ngược lại cho ĐTá Nguyễn Thu Lương. Tôi trở về BTL/Phòng 3 Hành Quân (ở Non Nước, Đà Nẵng) nhận lệnh mới. Tiễn tôi ra trực thăng chỉ huy là “Moshe Dayan” Tr/tá Lữ Đoàn Phó Trần văn Sơn Khóa 8 TĐ. Anh em Dù gọi Sơn như vậy, vì Sơn đã bị thương mất một mắt, ngày còn là Đại Đôi Trưởng ở Tiểu Đoàn 5, nhưng vẫn tình nguyện ở lại với đơn vị.

Tại căn cứ Non Nước, công việc của tôi hằng ngày là bay đi kiểm soát phần huấn luyện của các đơn vị Dù “Đa Năng”. Đây là những trung đội và đại đội, được rút ra từ 6 tiểu đoàn Nhảy Dù kỳ cựu đang tham chiến trong vùng Thường Đức và Đại Lộc, phía tây Đà Nẵng, thuộc các LĐ1ND (Tr/Tá Nguyễn Văn Đỉnh Khóa 15 Võ Bị) và LĐ3ND (ĐT Lê Văn Phát Khóa 4 TĐ). Khi tôi còn trách nhiệm LĐ2ND tại bắc Hải Vân trong năm 1974, chính tôi cũng nhận được lệnh rút các trung đội và đại đội từ các tiểu đoàn cơ hữu của tôi (TĐ5, 7, và 11ND), gởi đi huấn luyện “Đa Năng”. Mục đích mở khoá huấn luyện “Đa Năng” là để cấp tốc hình thành môt Lữ Đoàn mới. Địa điểm huấn luyện nằm ngay trong vùng trách nhiệm hành quân của LĐ3ND, phía tây Đà Nẵng, nên tôi gặp “Bố Già” Phát (ĐTá Lê Văn Phát) rất thường xuyên. Các đơn vị huấn luyện, đi “bứng chốt” ban ngày, và chạm địch ban đêm như cơm bữa.

Hạ tuần tháng giêng năm 1975, tôi được lệnh Chuẩn tướng LQ Lưỡng, đưa, đơn vị được đào luyện từ lò luyện thép “Đa Năng” và có cái tên mới cáo cạnh“Lữ Đoàn 4 Nhảy Dù”, về Saigon nhận lệnh Bộ Tổng Tham Mưu (vì Bộ Tư Lệnh/SĐND còn ở Đà Nẵng). Khi kéo quân ra khỏi vùng hành quân của LĐ3ND, tôi hỏi “Bố Già” Phát: “ĐTá Lương đang ở đây, sao ông Tướng không để ĐT Lương đi, mà kéo tới kéo lui chi rắc rối vậy, ĐTá có biết gì không”?. Tôi hỏi vậy, vì các tướng Bùi Thế Lân, tướng Lê Quang Lưỡng, tướng Ngô Quang Trưởng, và hai ông Đại Tá này là bạn cùng Khóa 4TĐ với nhau. Giọng Bố Già Phát bỗng nghiêm trọng hơn thường ngày: “Ở đây nặng, nhưng đơn giản. Chỉ có thằng việt cộng trước mặt thôi. Mấy năm nay, TQLC và Dù không được về Saigòn. Về đó, Ngọc nhớ phải thận trọng mọi mặt . .”

Sáng ngày 20 tháng giêng năm 1975, tôi đang ngồi trên xe Jeep tại bến tầu Đà Nẵng để xem các Tiểu đoàn chuyển quân xuống chiến hạm của HQVN để về Vũng Tầu, thì Chuẩn Tướng Lưỡng đến nơi bằng xe. Ông hỏi diễn tiến công việc ra sao. Tôi trình bày vắn tắt, là suông sẻ như kế hoặch. Và nhân đó, có hỏi “mi mí” ông tướng, xem nhiệm vụ của tôi ở Saigon trong vài ngày sắp tới, đại khái như thế nào.

Tướng LQ Lưỡng đăm chiêu: “Đánh rắn, phải đánh giập đầu. Đáng lẽ phải có Tổng Trừ Bị bảo vệ Biệt Khu Thủ Đô và Tổng Tham Mưu từ sớm hơn, như hồi Mậu Thân vậy. Anh về đó, tình hình sẽ không nhẹ nhàng gì hơn ngoài này đâu. Khác với các Lữ Đoàn còn lại đây, là tình hình có thể đột biến bất ngờ, mà anh chỉ có một mình. Ngoài việc điều binh ra, anh phải cảnh giác luôn luôn, báo cáo chặt chẻ với tôi. Trường hợp thật đặc biệt, phải có lệnh của tôi”. Ông Tướng không nói rõ, nhưng tôi đã hiểu mi mí, qua câu nói của ông anh “Bố Già” Lê Văn Phát. Dĩ nhiên, chuyện loại này, chả ông nào nói rõ trước cả! May mắn thay, thời cuộc không xoay chuyển về hướng “phải cảnh giác” đó. Sau này, đọc hồi ký của Tướng Lê Quang Lưỡng ở hải ngoại, mới thấy ông nói rõ hơn.

Truyền lệnh xong, ông tướng vội vả ra đi, trước khi bảo tôi giao cho các Tiểu Đoàn Trưởng đôn đốc việc hải hành. Còn tôi, thì ra ngay phi trường, đã có nhân viên BTL/Phòng Tư lo phương tiện C-130 bay về trước, trình diện Bộ Tổng Tham Mưu nhận lệnh. Tôi ghi lại đoạn này, để quý độc giả theo dõi mạch lạc hơn, vì trong những biến cố sau cùng, các LĐ2ND và LĐ4ND vừa kể, lại sẽ còn dính líu đến hoạt động của LĐ3ND, đơn vị đã bị Phạm Huấn khai tử trước, trong cuốn “Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên”, trước khi lịch sử của cuộc chiến tranh lạnh thế kỷ thứ 20 bức tử Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa .

Tôi rời Bố Già Phát, nhưng không phải vì thế mà tôi “mất dấu” LĐ3ND. Tình hình điều động và tham chiến của các Lữ Đoàn và Tiểu Đoàn bạn trong binh chủng, tôi đều được ban tham mưu Lữ Đoàn thuyết trình hằng ngày. Sau nhiều trận chạm địch, các tiểu đoàn được hoán chuyển, để binh sĩ được về thăm gia đình và đơn vị được bổ sung, chỉnh bị. Vì vậy, tại vùng hành quân, ít khi các Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn có được đủ mặt các tiểu đoàn cơ hữu của mình. Thường thì mỗi Lữ Đoàn Nhảy Dù tham dự hành quân với 3 Tiểu đoàn tác chiến, một Tiểu đoàn Pháo Binh ND, một Đại đội Công Binh ND, một Đại đội Truyền Tin ND, một Đại đội Quân Y ND, một đại đội Trinh sát ND, và Đại đội Chỉ Huy Công Vụ (gồm các ban tham mưu Lữ Đoàn, quân cảnh, an ninh, súng cối ..)

Đúng 2 tháng sau khi tôi rời Vùng I Chiến Thuật, SĐND cũng được Bộ TTM điều động về Saigòn. LĐ3ND xuống tầu Hải Quân, rời Đà nẵng ngày 15 tháng 3. Đang lênh đênh trên biển, thì được lệnh tấp vào Cầu Đá Nha Trang: LĐ3ND được tăng phái cho QĐII, theo đơn xin của Thiếu Tướng Tư Lệnh Phạm Văn Phú. Bộ Tư Lệnh/SĐND cùng các Lữ Đoàn 1 và 2 tiếp tục hải hành về hướng nam. ĐT Lê Văn Phát được lệnh di quân gấp lên đèo Khánh Dương, lập phòng tuyến. Nhiệm vụ: trì hoãn trục tiến của các đơn vị cộng quân, bọc hậu cho các đơn vị bạn trong vùng giao phó.

Sau khi Ban Mê Thuột thất thủ, lực lượng cộng quân ào ạt trên các trục đông tiến này, gồm có các sư đoàn F10, 316 và 320 CSBV. Trục chuyển quân của địch đi ngay vào tuyến án ngữ của LĐ3ND trên đèo Khánh Dương chính là Sư đoàn F10, cùng với một trung-đoàn chủ lực miền, và đặc công, giao liên. Tổng cộng quân số địch đông gấp 5 lần lực lượng Nhảy Dù tại đây. Cộng quân có đầy đủ pháo yểm, trong khi LĐ3ND chỉ có hỏa lực của 1 Tiểu Đoàn pháo binh 105 ly cơ hữu. Đó là tương quan lực lượng chính xác tại đèo Khánh Dương ngày 17/3/75.

Lúc bấy giờ LĐ3ND của Bố Già Phát gồm có TĐ2ND (Th/tá Trần Công Hạnh Khóa 20/VB), TĐ5ND (Tr/Tá Bùi Quyền Khóa 16/VB), và TĐ6ND (Tr/tá Nguyễn Văn Thành, Khóa 9/TĐ). Th/tá Nguyễn Ngọc Triệu là TĐT/TĐ2 Pháo Binh/ND. Lữ Đoàn Phó là Tr/tá Trần Đăng Khôi Khóa 16/VB. Quân Nhảy Dù giữ vững đèo Khánh Dương, chận đứng Sư Đoàn F10 tại đây cho đến ngày 22 tháng 3. Sáng hôm đó, địch giảm cường độ tấn công, chỉ bám sát tuyến đang chạm, nhưng lại tung 2 Trung đoàn đánh bọc hông. ĐT Phát xin không yểm. Tướng Phú chấp thuận, nhưng lại không có phi tuần để thỏa mãn yêu cầu. Tướng Phú cho lệnh LĐ3ND tuần tự lui quân về Nam, xa nhất là dừng lại Cam Ranh chờ lệnh. Khi về ngang Huấn Khu Dục Mỹ, ĐT Phát có gặp ĐT Nguyễn Hữu Toán, Chỉ Huy Trưởng Huấn Khu Dục Mỹ, ĐTá BĐQ Nguyễn Văn Đại, CHT/Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân, Khóa 8/VB.

ĐT Phát cho ĐT Nguyễn Văn Đại BĐQ biết về tình hình địch trước mặt, nói thẳng với ĐT Đại hai điều. Một là, địch đông hơn mình nhiều lần, có đủ tiếp liệu và hỏa yểm hùng hậu. Còn mình thì đến hôm nay, khó còn trông cậy gì vào “ở trên” và “sau lưng” nữa. ĐT Phát hỏi ĐT Đại có phụ giúp được gì trong việc giữ an ninh trục lộ phía sau, dẫn về Ninh Hòa hay không, vì địch thế nào cũng bọc hông đặt chốt để gây khó khăn cho việc điều động chung các đơn vị thuộc Huấn khu này. ĐT Đại đồng ý, và gửi Viễn Thám BĐQ đi thi hành. Nhờ vậy, cuộc lui binh tại đây thảm cảnh ở Quốc Lộ 7 đã không xảy ra.

LĐ3ND chưa về đến Cam Ranh. Ngày 30 tháng 3, mới về đến đèo Rù Rì, phía bắc Nhatrang, thì mất liên lạc với Bộ Tư Lệnh/QĐ II. ĐT Phát không còn cách nào khác hơn, là phải liên lạc thẳng về BTL/SĐND ở Saigon bằng máy GRC-106 để xin lệnh. Lệnh của Tướng Lưỡng cho LĐ3ND: trực chỉ phi trường Bửu Sơn, Phanrang, để phối hợp với Chuẩn Tướng Phạm Ngọc Sang, Tư Lệnh SĐ6KQ tổ chức phòng thủ phi trường này, và tái lập an ninh trật tự tại hai thị xã Phanrang và Tháp Chàm. Ổn định vừa được Nhảy Dù phục hồi tại đây thì Trung Ương cử Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi ra đến, đặt Bộ Tư Lệnh nhẹ của Quân Đoàn III tại Bửu Sơn đúng ngày 1 tháng 4 năm 1975. Trước mặt Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, LĐ3ND vẫn còn cầm súng trên tay, và đang hiển hiện là niềm tin tưởng, là nỗi vững tâm của quân dân Tháp Chàm, Phanrang, của Tiểu Khu Ninh Thuận. Vậy LĐ3ND nào chưa đánh, đã buông súng bỏ chạy, đầu hàng?!

Ngày 4 tháng 4, LĐ3ND được tướng LQ Lưỡng cho thay thế bằng LĐ2ND do ĐT Nguyễn Thu Lương đưa ra Bửu Sơn bằng vận tải cơ C-130. Không Quân VN chuyển các Tiểu đoàn 3, 7 và 11 Nhảy Dù đến Bửu Sơn, và bốc các Tiểu đoàn 2, 5 và 6 Nhảy Dù về Tân Sơn Nhất. Lập tức LĐ3ND được bổ sung và chỉnh bị nhanh chóng. Tr/tá Trần Đăng Khôi được bổ nhậm làm Lữ Đoàn Trưởng/LĐ3ND, thay thế Bố Già Phát (lên Tham Mưu Phó Hành Quân BTL/SĐND).

Trở lại với hai Lữ Đoàn Nhảy Dù kia tại Vùng III Chiến Thuật. Tôi từ Đà Nẵng đáp C-130 về Saigon ngày 20 tháng giêng/75, trình diện Bộ TTM. Gặp Chuẩn Tướng Trần Đình Thọ, Trưởng Phòng 3, ông ta hỏi tôi ngay về khả năng tham chiến của LĐ4ND. Tôi thưa, có 2 tiểu đoàn sẵn sàng ngay, ba tiểu đoàn nữa (15, 16 và 18) sẽ về đến và sẵn sàng khoảng 2 tuần sau. Tôi cũng không quên khai thật, là tôi chưa có hậu cứ, chưa có Lữ Đoàn Phó và nhất là chưa có pháo binh Nhảy Dù cơ hữu như các Lữ Đoàn cũ. Tướng Thọ vào đề: “Tôi ghi nhận những điều đó. TTM sẽ phối hợp với hậu cứ Sư Đoàn Nhảy Dù lo tiếp cho anh. Bây giờ tình hình phía Tây bắc Biệt Khu Thủ Đô nghiêm trọng. Địch đã vượt sông Vàm Cỏ, chiếm xã Lương Hòa. Đức Hòa Đức Huệ bị uy hiếp nặng nề. Phải nhờ anh lên đó giúp họ ngay. Anh sang Phòng 2 nghe tình hình chi tiết vùng này. Tôi nhờ Phòng Tư lo phương tiện cho anh lên đó”.

Hai ngày sau, 22 tháng giêng/ 75, tàu HQ cập bến Saigon. Tôi hướng dẫn hai Tiểu Đoàn 12 và 14/ND về tạm trú tại sân cờ của TĐ8/ND trong trại Hoàng Hoa Thám. Các Phòng sở của BTL/Hậu cứ đến lăng xăng giúp đỡ các trang bị cần thiết. Tôi gọi các Tiểu Đoàn Trưởng đến, trải bản đồ ra, chỉ tình hình và mục tiêu. Tôi nhấn mạnh về trang bị: bản đồ, điện trì, lựu đạn M-26 tối đa, phóng lựu M-79, và ống phóng M-72 (vì không có pháo binh, khi hữu sự, sẽ phải đánh như đơn vị khinh chiến). Đoàn xe đến, LĐ4ND “xuất hành” trận đầu tay, trực chỉ lên hướng Tây Ninh. Đến “Thành Ông Năm” (trại Công Binh), xưống xe, lấy đội hình hướng về mục tiêu Vàm Cỏ Đông. Quần thảo 2 ngày ven bờ con sông nổi tiếng, đẩy lui được đầu cầu vẹm về bên kia, tái chiếm được Lương Hòa, an ninh lại trục lộ. Trận đầu tay này, cũng như những lần chạm địch mấy tháng sau đóù, LĐ4ND đã “đánh khô”, vì không có pháo cối yểm trợ.

Hai Tiểu Đoàn 12 và 14ND bắt được rất nhiều vũ khí đạn dược, dọc theo dãy lùm bụi, ngay vùng đầu cầu mà địch vượt sông hai đêm trước, còn nguyên trong nhiều thùng gỗ bọc giấy dầu, bôi đầy mỡ bò màu vàng của Trung cộng: AK47, B-41, và “thượng liên nồi” mới toang (hộp băng đạn bự và tròn). Tôi cho Ban 2 và Ban 5 đi tìm, liên lạc với giới chức địa phương, để phối hợp việc an ninh, cứu trợ và bình định. Tưởng là ai, hóa ra người trai khói lửa, lại là Th/tá Tô Công Thất, cùng khóa với tôi ở Đàlạt! Bắt tay bắt chân qua loa, hỏi cần gì không? M-79, M-26, Claymore! Tôi kêu đệ tử để hết các loại này lại, rồi bái biệt người trai khói lửa, lội ngược ra quốc lộ, vì truyền tin báo có Ch/tướng Trần Đình Thọ sắp lên Thành Ông Năm. Tướng Thọ bắt tay tôi: “Đơn vị anh không cần huấn luyện nữa. Vả lại, tình hình không cho phép”. Và ông xỉa cho tôi một phóng đồ hành quân, cho đất đai làm ăn, án ngữ về hướng Bắc và Tây bắc thủ đô.

LĐ1ND vừa đặt chân đến hậu cứ khoảng giửa tháng 3/75, là liền được bổ sung, tái tiếp tế nhanh chóng. Và Tr/Tá Nguyễn Văn Đỉnh được lệnh trực chỉ lên Xuân Lộc ngay để tăng cường cho SĐ18BB. Theo dõi phần thuyết trình hằng ngày, tôi được biết TĐ8ND của Thanh Râu, tức Th/tá Nguyễn Viết Thanh Khóa 19VB, đã làm ăn một trận để đời tại “Vườn cây Ông Tỵ”. Trong tháng này, có Tr/tá Nguyễn Đình Ngọc cầm công điện mang tay, về trình diện tại Thành Ông Năm. Nội dung công điện: “Chỉ định Tr/tá NĐ Ngọc giữ chức vụ Phụ tá Hành Quân LĐ4ND. Quyết định hợp thức hóa Lữ Đoàn Phó sẽ theo sau”. Có ông này về, thật đỡ cho tôi quá. Khóa 19VB, nguyên TĐT/TĐ2ND ngày còn ở Động Ông Đô với LĐ3ND năm trước. Giữa tháng 3, Biệt Khu Thủ Đô cũng có yêu cầu đến giúp Tiểu Khu Gia Định, giải tỏa xóm Cư Xá Thanh Đa (bị một đại đội đặc công xâm nhập), đến đầu cầu thương cảng xa lộ. Th/tá Nguyễn trọng Nhi Khóa 20VB được gởi đi với 2 đại đội của TĐ12ND, và đã thanh toán xong trong cùng ngày 22 tháng 3.

Ngày 10 tháng 4, tôi được gọi về họp ở BTL/BKTĐ. Tại đây, tôi gặp Tr/tá Trần Đăng Khôi, LĐT/LĐ3 ND, cũng đến họp nhận lệnh. Lữ Đoàn 3 được tăng cường hoạt động cho BKTĐ, thay thế LĐ4ND. Còn tôi được lệnh di quân xuống tăng phái cho BTL/Quân Đoàn III, trách nhiệm khu vực từ Tam Hiệp, Biên Hòa, vắt qua sông Đồng Nai, hướng về Long Thành. Đấy là lần sau cùng tôi gặp, lần cuối tôi thấy LĐ3ND điều động đi thi hành một nhiệm vụ chiến thuật khác: bảo vệ khu kho xăng Nhà Bè, và an ninh trục thủy lộ Rừng Sát. Tối 13 tháng 4, tôi được tin LĐ2ND chạm địch nặng nề tại Bửu Sơn Phanrang. Lực lượng tấn công, vẫn là Sư Đoàn F-10 và đơn vị địch đã bị khựng lại. Ngày 15 tháng 4, Sư Đoàn 325 Cộng Sản Bắc Việt từ quốc lộ 11 tăng cường đến, cùng với đông đảo chiến xa và pháo nặng. Tối 16 rạng ngày 17, ĐT Nguyễn Thu Lương và Tr/tá Trần văn Sơn bị báo cáo mất tích, cùng với Tr/tướng Nguyễn Vĩnh Nghi và Ch/tg Phạm Ngọc Sang KQ. Bửu Sơn thất thủ, tiếp theo là Tháp Chàm và Phanrang!

Sau cùng, LĐ3ND cũng đã buông súng, cùng với tất cả các đơn vị khác, khi hai ông Vũ Văn Mẫu và Dương văn Minh tuần tự cho lệnh buông súng chiều 29 và sáng 30 tháng 4 năm 1975. Tôi không phải là người xa lạ đối với LĐ3ND; tuy nhiên, để đảm bảo sự chính xác của dữ kiện, tôi vẫn điện thoại kiểm chứng chi tiết kỹ lưỡng với những nhân vật trong cuộc, trước khi viết lại những diễn tiến cuối cùng của cuộc chiến, mà các đơn vị Nhảy Dù VN có can dự. Tất cả vẫn còn đấy, chỉ trừ có Ch/tướng Phạm Ngọc Sang SĐ6KQ đã qua đời cách đây 3 năm, và “Moshe Dayan” Trần Văn Sơn đã nằm xuống trong những năm tháng tù đày ngoài bắc.

Bây giờ, mời Quý Vị hãy nhìn lại câu chuyện kể về cùng một đơn vị đó, LĐ3ND, trong cùng thời gian đó, bởi đại ký giả chiến trường Phạm Huấn trong cuốn “Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên” được phổ biến khắp thế giới, để mà ngán ngẩm cho điều mà chính các ngài viết lách này gọi là. Lương Tâm Ngòi Bút:. . “buông súng trưa ngày 1.4.1975, sau khi vỡ tuyến, bị tràn ngập . . Lữ Đoàn 3 Nhẩy Dù trong những ngày sau cùng trên chiến trường Cao Nguyên,Pleiku, Kontum, Nha Trang: Chưa đánh đã bỏ chạy! Đúng!” !!! Trong khi đó, chính ĐTá Nguyễn văn Đại BĐQ, người cùng có mặt tại trận với LĐ3ND lúc bấy giờ, vừa nói điện thoại với tôi đêm qua: “Tình hình đó, địa thế đó, nhiệm vụ đó, LĐ3ND đã làm quá sức mình. Và ĐT Phát còn về ổn định lại Phanrang Tháp Chàm, giúp tướng Khánh, tướng Nghi nữa, trước khi được thay thế ..”. Đến tháng cuối cùng của chiến cuộc, tác giả Phạm Huấn vẫn còn lĩnh lương Thiếu Tá của QLVNCH, sao lại có thể ăn nói khinh bạc đến vậy?! Đành rằng, chung cuộc vẫn là sự sụp đổ của Miền Nam Việt Nam, nhưng xin hãy để cho sự thật vẫn còn được là sự thật ..

Chỉ trong một đoạn viết ngắn khoảng nửa trang giấy, tác giả đã đề cập đến diễn tiến và số phận của mấy chục đơn vị, một cách ngắn gọn, dễ dàng và tàn nhẫn. Phạm Huấn đã thảm sát hết bằng giấy mực từ các Trung đoàn 41, 42, 47 Bộ Binh, mấy Liên đoàn BĐQ, Lữ đoàn 2 Thiết kỵ, Liên đoàn 6 Công Binh Chiến Đấu, các đơn vị Pháo Binh, đến các đơn vị Lôi Hổ, Thám kích và LĐ3ND. Đơn vị Nhảy Dù này, sự thật ra sao, tôi là người trong cuộc, đã vừa thưa cùng Quý Vị. Từ sau ngày rời Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, tôi về Liên Đoàn Nhảy Dù và tuần tự phục vụ qua các TĐ3ND, TĐ7ND, LĐ3ND, LĐ2ND, LĐ4ND. Tôi chưa hề được gặp gở ký giả chiến trường Phạm Huấn lần nào, chỉ đọc sách, báo thấy hình ảnh ông ta mặc quân phục Nhảy Dù!

Đối với LĐ3ND đã như vậy thì còn mấy chục đơn vị khác, mà Phạm Huấn nêu tên ra trên đây, thì sao? Tôi không rõ Phạm Huấn hiểu biết thế nào về các đơn vị đó, càng không biết các đơn vị đó có được Phạm Huấn đến thăm viếng lần nào chưa?. Nhưng khi trên giấy trắng mực đen, đã viết truyện chiến trường như đoạn viết về LĐ3ND trên đây, thì nếu người đời họ có chọn “Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên”, để sắp chung với “Đại Thắng Mùa Xuân” của Văn Tiến Dũng, cũng là điều hiểu được mà thôi!

Thiếu tá Phạm Huấn suốt đời ở thiên cung, mới trở thành tiên đọa xuống trần-gian Quân Khu II, chỉ vài tháng trước cuộc dầu sôi lửa bỏng, làm sao nắm vững được từng ấy tin tức dữ kiện? Rừng dữ kiện này, nếu được trình bày bởi các Vị Đại Tá, chức vụ tối thiểu từ Trưởng Phòng Nhì, Trưởng Phòng 3 Quân Đoàn trở lên, thì họa may mới khả tín ..

Chua chát chưa chịu dừng lại tại đó. Mãi đến nay tại hải ngoại, vẫn có những nhà văn, nhà báo, viết theo, lên án gắt gao tất cả, từ lãnh đạo đến thứ dân, từ tướng xuống quân! Khôi hài đen ở chỗ là hầu hết đều nhập đề bằng câu “Có đọc Phạm Huấn, chúng ta mới thấy ..”, hoặc là: “Cuốn Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên” của tác giả Phạm Huấn đã phơi bày ra tất cả “sự thật ..”! . . Với các ông gọi là nhà báo, nhà bình luận này, chữ nghĩa trên đây của Phạm Huấn, đã trở thành chữ nghĩa của thánh kinh! Rồi tất cả những văn chương, tư tưởng siêu việt này, rốt cuộc hội tụ về một đoạn tiểu sử, được phổ biến rộng rãi trên khắp các mạng lưới toàn cầu.

Xin chép lại nguyên văn, để Quý Vị thưởng lãm:

“Phạm Huấn là một nhà báo quân đội và trong “Bộ Biên Tập Diều Hâu”. Thành viên Ban Liên Hợp Quân Sự 4 Bên và 2 Bên, đặc trách về Báo Chí, khi Hiệp Định Paris 1973 được ký kết. Chủ tịch Hội Phóng Viên Chiến Tranh Việt Nam, 1972-1975.

Tác giả đã theo học . . Trường Đại Học Quân Sự năm 1963. Và cả Trường Quân sự tại Hoa Kỳ: Infantry School (Fort Benning, GA, 1958), Civil Affairs School (Fort Gordon, GA) và Special Warfare School (Fort Braggs, NC, 1965).…Trong nghề phòng viên chiến tranh, Phạm Huấn có một chỗ đứng riêng biệt, dù đi chung với những phóng viên nổi tiếng hàng đầu của thế giới như Moshe Dayan, Dickey Chapel, hay chỉ đi có một mình, bao giờ anh cũng được đón nhận nồng nhiệt của mọi chiến hữu ở ngoài mặt trận .. ”.

Đọc qua đoạn trên, quý vị có thấy độc giả bị coi thường quá hay không? Cùng một “văn phong” này, tôi nhớ đã được đọc đâu đó vài lần. Lần đầu, năm 2005 thì phải. Anh bạn Bùi Đăng cùng khóa với tôi ở San Jose, bắc Cali, gởi cho tôi nguyên một trang nhật báo khổ lớn. Nguyên trang báo, là bài Phân Ưu Trung Tá Phạm Huấn. Với nửa trang trên, đầy đủ sự nghiệp vĩ đại của người nằm xuống. Toàn là các khóa du học ngoại quốc, và các việc văn phòng. Anh Huấn quả đã được quân đội đãi ngộ, ưu ái, và đầu tư vào kỹ hơn ai hết. Và nửa trang dưới, đầy đủ tên tuổi quân nhân Nhảy Dù, từ Đại Tướng Cao văn Viên, Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi . . cho đến em út cấp úy, và cũng có cả tên tôi trong đó. Cầm tờ báo, tôi mới hay tin ông anh qua đời vì bạo bệnh. Anh bạn Bùi Đăng gởi báo cho tôi, không họ Bùi, mà cũng chẳng tên Đăng. Mùa hè 1972, anh dẫn TĐ6ND nhảy xuống Đồi Gió Bình Long, mở đường máu vào cứu An Lộc. Bị trận địa pháo, Phạm Kim Bằng bỏ lại Đồi Gió một con mắt, đi vào An Lộc với một con. Trở thành Bằng đui, nhưng Bùi Đăng không chịu rời tiểu đoàn tác chiến Nhảy Dù.

Đầu năm 2007, Trung Tướng Ngô Quang Trưởng lại ra đi. Trên Internet và báo chí, liền ngay dưới sự nghiệp của Trung Tướng Trưởng, lại có hàng chữ: “tài liệu của Đại Tá Phạm Huấn, Chủ Tịch Hiệp Hội Ký Giả Chiến Trường”(!). Ông lỏi tì nào đó ơi, “văn phong” này nặng mùi lắm, xin ông dừng tay lại, đừng đem tên tuổi của ông anh mình ra mà diễu dở. Cấp bậc, thì ai cho bằng Thiếu Tướng Nguyễn cao Kỳ và Đại Tướng Nguyễn Khánh. Chức vụ, thì ai sánh nổi với Quốc Trưởng Nguyễn Khánh và Thủ Tướng Nguyễn cao Kỳ! Có thơm tho chi đâu. Phải nói ngay từ bây giờ, kẻo nay mai, có một vì sao sáng nào khác rơi rụng, ông lỏi tì lại lôi ông anh Phạm Huấn dậy, mà truy thăng lên Chuẩn Tướng! Tội nghiệp cho ông anh. Ông anh đã và đang sám hối về cuốn “Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên” dưới kia. Khó ăn, khó ở khi “hội ngộ” với anh em lính tráng người phàm, đã tham dự Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên ngày xưa lắm. Hởi ông lỏi tì ơi, hãy để cho ông anh được yên nghỉ.

Dậu đổ, bìm leo! Viết lách chưởi bới, mạt sát, mọi thứ thuộc Miền Nam Việt Nam ngày trước, đã và vẫn đang là kiểu thời trang thịnh hành. Có nhiều người viết để vẽ lên hình ảnh mình là .. người hùng! Một số khác viết lên, để tỏ ra mình là người trí giả, là nhà tư tưởng, dựa vào cuốn Kinh Tân Ước Phạm Huấn! Riêng nhà báo vĩ đại Phạm Huấn, thì hùng dũng tỏ ra mình là nhà siêu quân sự, siêu lãnh đạo, chê bai xoa đầu từ trên xuống dưới, chả chừa một ai. Chỉ nửa trang giấy, dẹp hết cả lực lượng một quân đoàn! Phạm Huấn luận về các ông anh, ông thầy, các ân nhân của chính anh ta, như Gia Cát Khổng Minh nói về các mạt tướng Trương Phi, Ngụy Diên!

Anh Phạm Huấn chỉ quên có một đôi điều nho nhỏ. Thật nhỏ. Nhỏ xíu. Vì tầm mắt anh không thấy, mặc dù anh mặc quân phục tác chiến Nhảy Dù, mang lon Thiếu tá của QLVNCH làm việc tại Ủy Ban Quân Sự 2 bên, 4 bên. Đó là việc Lập Pháp Mỹ, qua Quốc Hội Dân Chủ ngày đó, đã cúp hết viện trợ quân sự cho QLVNCH từ mùa hè 1973! Đó là việc Hành Pháp Mỹ, qua tên Do Thái nói ngọng Henry Kissinger, đã công khai đứng về phía Lê Đức Thọ và Nguyễn Thị Bình, để bức thúc Hòa Đàm Ba Lê, bức tử VNCH. Cho nên, chuyện gì phải đến, đã đến. Trong hoàn cảnh đó, nếu rước đại ký giả Phạm Huấn vào Dinh Độc Lập, liệu đương sự gồng được mấy phút? Nếu mời nhà báo Phạm Huấn sang Bộ Ngoại Giao, liệu ông anh gồng được mấy giờ? Nếu phong cho Thiếu tá Phạm Huấn thay thế Đại Tướng Cao Văn Viên, Thiếu Tá Huấn có lãnh đạo một tiểu đội ngày giờ nào chưa?

Các ông lính thợ vịn, ăn lương quân đội Miền Nam, mạt sát các đơn vị quân đội Miền Nam, nhưng chả bao giờ biết chút gì về các đơn vị này. Mạt sát, vì ganh tị, vì mất mác. Bất cứ ai thật sự có trải qua những tháng ngày gạo xấy nước ruộng, đều biết rằng, cùng một cỡ đơn vị, cùng hỏa lực xấp xỉ nhau, bộ đội cộng sản chưa hề là đối thủ của Quân Đội Quốc Gia, dù là chính quy, hay địa phương, dù là TQLC, BĐQ, hay Bộ Binh, Không Quân, Hải Quân. Chiến thuật của cộng sản, có hai chữ “biển người”, là vì vậy. Một phần ba thế kỷ đã trôi qua, bao nhiêu tài liệu đã được giải mật. Bây giờ mà còn nói vuốt theo Văn Tiến Dũng, là vô liêm, là bất trí.

Thảm cảnh tháng tư, người khách quan, không ganh tị, không càm ràm bệnh hoạn, ai cũng thấy là vì hai lý do: Dân chúng kinh hoảng, đưa tới náo loạn. Các đơn vị quân đội lại không có được những tiếp liệu, yểm trợ, hỏa lực tối thiểu để chu toàn nhiệm vụ chiến thuật được giao phó, vì QLVNCH đã bị cúp quân viện từ năm 1973, chỉ “liệu cơm gắp mắm”. Mùa hè năm sau, Trung Tướng Tùy Viên Quân Sự tòa Đại Sứ Anh Quốc ra thăm hỏa tuyến, có ghé qua Bộ Chỉ Huy/LĐ2ND ở phía nam sông Thạch Hãn. Nghe thuyết trình xong, ông đứng lên trước bản đồ, quay lại nói trước mặt tôi và đông đủ sĩ quan tham mưu hiện diện: “Giới quan sát quốc tế cho rằng, các ông không tồn tại nổi quá 6 tháng, sau Hiệp Định Ba Lê. Bây giờ, hơn một năm đã trôi qua ..”. Bấy giờ, là tháng 7 năm 1974.

Suốt chiều dài cuộc chiến, người lính đổ mồ hôi, xương máu. Người dân quằn quại, thống khổ điêu linh. Còn các ông thợ vịn, lính kiểng, sống phè phỡn ngay trong lòng Hòn Ngọc Viễn Đông, ăn tục nói phét, làm chơi ăn thiệt. Bây giờ, mồ ma Miền Nam Việt Nam không còn nữa, các ông muốn ăn thiệt, thì phải bò ra làm thiệt, dù là ăn .. welfare! Vì vậy nên các ông tiếc nuối cái thời vàng son, sáng Thanh Thế, trưa Givral, chiều Đồng Khánh. Và các ông cay cú, các ông hằn học.. Có nhiều lý do làm sụp đổ Miền Nam. Trước hết, là bàn tay lông lá của Mỹ, Nga, Tàu, và xuẩn vọng của tên đồ tể họ Hồ. Kế đến, là những tham nhũng thối nát, mà các ông đã ngoắc mồm ra chửi bới ba chục năm qua. Hoa Kỳ, Pháp, Nga, Tàu v. v., có thối nát tham nhũng hay không? Lý do thứ ba là ai? Là đám làm chơi ăn thiệt, là lũ kiêu binh hàm thụ. Là đám sâu bọ, dòi mọt, cặn bã của một Quân Đội hào hùng. Quân Đội “cao số” đã bị lịch sử cận đại trao cho một sứ mạng oan khiên, một “mission impossible”.. Những tên né tránh, đánh bóng chữ thọ, không có tư cách mở mồm về đoàn quân này.

Các cụ thường nói “Tiên trách kỷ, hậu trách nhân”. Các ông chỉ suốt đời chỉ trích ta bà thế giới. Sao các ông không dám nói, chính các ông mới là thủ phạm, mới là tội đồ thiên thu, làm Miền Nam nước Việt sụp đổ vào tay cộng sản. Nhân vô thập toàn, ai cũng có lúc lầm lỗi. Câm mồm lại đi thì vẫn là anh em. Chửi Miền Nam hơn ba mươi năm rồi, bây giờ sao còn hùa theo Văn Tiến Dũng mà chửi bới nữa! Gần xuống lổ rồi, các ông vẫn chưa chịu phục thiện, chưa dám soi gương lại cái bản mặt của mình, sờ lại cái gáy của chính mình. Các ông vẫn đè Miền Nam Việt Nam ra mà xỉa xói, mà kiêu binh cái lổ mồm! Thê thảm thay, chỉ vì một lý do: dối gạt luôn chính lương tâm mình!

Tội nghiệp cho Miền Nam Việt Nam, đã bao năm tháng cưng kiu, cưu mang, đãi ngộ các ông, kaki cũng như dân chính! Hít thở không khí tự do của Miền Nam, Trịnh Công Sơn đã dệt lên được những tình khúc bất hủ. Ngày Miền Nam sụp đổ, Trịnh Công Sơn lên đài phát thanh, phừng phừng guitar hát bài “Nối Vòng Tay Lớn”. Lặn ngụp trong vòng tay lớn của xã hội chủ nghĩa một thời gian, Trịnh Công Sơn đã mửa ra một ca khúc, chưa bao giờ nghe thấy trong âm nhạc nhân gian: “Tiến Thối Lưỡng Nan” !

Sau cùng, trên đỉnh cao trí tuệ của thời trang mạt sát Miền Nam Việt Nam, là các .. chiến lược gia. Thôi thì, xuân thu nhị kỳ, luận đủ thứ chuyện chiến lược thiên trời địa đất. Cũng chỉ cùng một kiểu: mạt sát hết mọi sự của Miền Nam Việt Nam để mình cố nhón cao lên, vì biết chắc rằng mình không đủ cao. Để tỏ ra mình là người thức giả, vì biết mình đang tơ lơ mơ, không thức thật. Càng phải trực diện với việc áo cơm thân phận hằng ngày, nổi nuối tiếc mất mác thời vàng son, càng điên cuồng gào thét dằn vặt. Khổ một điều, không biết đọc địa bàn, nên không phân biệt nổi hướng Đông với hướng Tây, để mà bắn cái hỉ-nộ ái-ố vô duyên đó đi. Cứ nhắm mắt nhằm Miền Nam Việt Nam mà phạng!

Đại Sứ Graham Martin, không như vậy. Ông đâu có muốn sự nghiệp ngoại giao trọn đời của ông kết thúc cái kiểu này. Giờ phút cuối của Miền Nam Việt Nam, ông cũng chỉ kịp cuốn lấy lá cờ hoa. Bộ Tư Lệnh Quân Sự Mỹ (MACV) tại Saigon thì đã nhanh chân “rút lui trong danh dự” ra soái hạm của Đệ Thất Hạm Đội từ name trước! Cho nên, xin lỗi Quý vị, ông Đại Sứ cũng chạy sút quần, ra tàu USS Blue Ridge ngoài biển đông, bước đến boong tàu ngồi thở. Được cái là, ông Đại Sứ biết đọc địa bàn. Ông biết rõ phương hướng, để mà khen tặng, để mà trách móc. Thở xong, ông chỉ vào lá cờ hoa, mà mắng cho mấy mắng:

“That’s not the way I saw American Honor!”

Tháng 4/2007.



------------ --------- --------- --------- ----

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

HOA XUÂN
Tôi là một người yêu hoa. Thời Saigon, có chợ hoa ngày Tết năm nào vắng mặt tôi. Có năm, vừa mới chân ướt chân ráo từ Manila về vào chiều ngày 29 Tết, buổi tối tôi cũng đã chen chân với mọi người trong đêm cuối của chợ hoa. Hoa nào tôi cũng thích. Hồng, Huệ, Lan, Cúc, Mai, Đào... Vậy thì cớ gì tôi không thích hoa hậu? Thích đứt đuôi đi ấy chứ! Nghe quảng cáo cuốn băng Asia Mùa Hè Rực Rỡ có tụ tập trên hai chục hoa hậu từ nhiều nơi trên thế giới đổ về, tôi vội vàng đánh cả cụm. Vội vàng không phải là tính tôi. Tôi chỉ vội vàng có cái. Lần này là vì vâng lời người xưa. Ngày xưa cổ nhân chưa biết có trò thi hoa hậu, cho nên cứ người đẹp là được gọi là giai nhân tuốt luốt hết.

Giai nhân tự cổ như danh tướng
Bất hứa nhân gian kiến bạch đầu.

Thơ chữ Nho mà dễ hiểu như thơ chữ Nôm, chẳng cần phải phiên dịch lôi thôi. Cũng may, người đẹp chẳng thèm hứa cho bàn dân thiên hạ coi cái đầu bạc! Vậy thì, coi người đẹp thì phải coi liền, để tới khi đầu trắng tóc, uổng! Người đẹp 2003 của Việt Nam hải ngoại ai thấy sao tôi thấy vậy. Mắt nào cũng như nhau. Cái gì đáng thấy đều đã thấy. Chỉ có ý nghĩ có thể là khác. Tôi thì tôi nghĩ hai chuyện.

Thứ nhất, cô nào cũng cao ráo đẹp đẽ. Cao như đầm, đẹp như... hoa hậu. Hồi xưa, thời ông Trần Ngươn Phiêu còn làm Tổng Trưởng Xã Hội, ông có nói một điều mà báo chí làm rùm beng lên. Ông là một Bác Sĩ Quân Y, nhân nói về con lai, ông đã dựa theo khoa học, nói với các phóng viên đại khái là lai giống làm cho giống nòi khỏe mạnh, cao lớn hơn, nên lắm! Phút nói thật của ông Tổng Phiêu đã thành đề tài cho các cây viết phiếm móc đi móc lại ngoắt ngoéo, làm vui cả làng báo trong một thời gian. Nay, thấy vóc dáng các hoa hậu, tôi mới biết ông Tổng Phiêu chỉ đúng có một nửa. Chẳng cần lai giống, cứ sống ở những nước dư ăn dư mặc, tự do thoải mái, con người vẫn cứ phổng phao, láng coóng như thường!

Thứ hai, thừa hưởng được cái phổng phao, các hoa hậu lại có cái miệng nói tiếng Việt như Tây nói tiếng Việt. Thì phải vậy chứ sao! Chúng ta đã quen với hoàn cảnh con em còn nói được tiếng Việt là mừng. Ngây ngô một chút có sao? Nhiều khi cái ngây ngô cũng có cái dễ thương của sự ngây ngô. Lên sân khấu, run thấy mồ, vậy mà lại phải trả lời trực tiếp bằng thứ tiếng không phải là ngôn ngữ dùng hàng ngày, dù đó là tiếng mẹ đẻ, nói được là ngon rồi. Mà nói vui nữa là khác. Một em được hỏi nghĩ thế nào về người chồng tương lai, trả lời ngay tức khắc là phải cao ráo, đẹp trai. Bị hỏi tiếp không cần nhiều tiền, nghề nghiệp vững chắc hay sao, em tỉnh bơ trả lời không cần, có em làm nhiều tiền nuôi được rồi. Đã đẹp mà lại biết nuôi chồng, quý hóa quá! Chứ có ai lại như Bao Tự cứ ngồi xé vải cười khanh khách, tốn biết bao nhiêu tiền của chồng cho kể! Người đẹp ngày nay hơn hẳn người đẹp ngày xưa!

Bởi vậy phải siêng năng đi tìm người đẹp. Ở trong nước đang làm tốt chuyện này. Nhà cầm quyền mọi cấp đều rất thích tổ chức những cuộc thi hoa hậu. Ngày xưa, thời Việt Nam Cộng Hòa, họa hoằn lắm mới tổ chức cho các người đẹp đeo số đi ra đi vào cho các vị giám khảo ngắm nghía. Vậy mà, sau cái gọi là giải phóng, “cách mạng” cứ ra rả công kích cái trò mất thuần phong mỹ tục của “ngụy”. Ngày nay, thi hoa hậu, thi người mẫu và bao nhiêu thứ thi phơi bày thân thể thiếu nữ được tổ chức hà rầm trong nước. Nước thi theo nước, tỉnh thi theo tỉnh, ngành thi theo ngành, tất cả cứ há miệng chảy nước miếng mà coi thi. Lại còn quay video gửi ra hải ngoại cho chúng coi kẻo tội! Hoa hậu đăng quang lung tung xòe khiến nhà nước phải quy định là chỉ có các thí sinh trúng tuyển cuộc thi hoa hậu báo Tiền Phong, cấp quốc gia, mới được gọi là hoa hậu. Các thứ khác chỉ được gọi là Hoa Khôi hay hoa gì không cần biết tới, nhưng cấm là Hoa Hậu! Tốt thì khoe ra, đẹp thì phải khuyến mãi, các hoa hậu, hoa khôi được gửi đi thi vung vít ở nước ngoài. Thật là thoáng! Thoáng đến quên khuấy câu châm ngôn cách mạng “trước sau như một”. Cách mạng nước ta cứ vô tư cho người đẹp mặc áo tắm đi phô bày nhan nhản ở các nước, chẳng có vấn đề gì cả. Lạc hậu như A Phú Hãn mới có vấn đề.

Phụ nữ của nước Hồi giáo A Phú Hãn bị các thầy cai trị choàng cho chiếc burqua kín mít từ đầu tới chân, chỉ hở hai con mắt. Vòng số 1, số 2, số 3, cấm ngoại thủy không ai được biết. Chỉ có một anh đàn ông A Phú Hãn được biết thôi! Mà cái ông này lại có quyền biết tới bốn cái ngoại thủy phải mù tịt này! Vậy mà bây giờ, tự nhiên mấy cái nõn nường này đổ đốn giơ hình giơ hài cho bàn dân thiên hạ coi cho đã, chịu gì thấu!

Ông Fazel Ahmad Manawi, Phó Chánh Án Tòa Án Tối Cao A Phú Hãn, phồng mang trợn mắt chỉ mặt cô Vida Samadzai, 23 tuổi, đồng bào của ông, sinh viên ở California, là đã phản bội nền văn hóa A Phú Hãn, đồng thời vi phạm luật pháp A Phú Hãn. Cô này làm gì để ông phải rung râu dọa dẫm? Cô đã mặc áo tắm hai mảnh dự thi Hoa Hậu Trái Đất ở Phi Luật tân. Tại sao cô dự thi? Cô cho biết là để gióng lên một tiếng chuông cảnh tỉnh về thân phận người phụ nữ ở quê nhà A Phú Hãn. Có chính nghĩa quá đi chứ! Ban tổ chức đã trao cho cô giải “sắc đẹp vì chính nghĩa”.

Thành phố Montréal của tôi, vào ngày 29 tháng 11 năm nay, cũng có đêm chung kết cuộc thi Hoa Hậu Địa Cầu, một cuộc thi nhỏ, đàn em của các cuộc thi Hoa Hậu Hoàn Vũ, Hoa Hậu Thế Giới, Hoa Hậu Trái Đất, Hoa Hậu Quốc Tế.Vậy mà cũng có 40 thí sinh, có người tới từ Tân Tây Lan, Thụy Sĩ, Panama và Kenya. Điều vui là có hai cô sinh viên người A Phú Hãn, hiện ở Toronto và Vancouver, tham dự. Và màn mặc áo tắm lại đã gây ra phiền phức. Hai cô bị áp lực mạnh của các thầy Hồi ở đây nên nhượng bộ chút xíu. Các cô đã che phần dưới thân thể bằng một tấm voan mỏng. Thi cử như vậy thì thi làm chi? Cô Arezo Ronah giải thích. Tôi chỉ muốn nói lên một điều là phụ nữ A Phú Hãn không thể bị đàn áp. Để cho chính nghĩa cứng hơn, cô viện dẫn kinh Koran. Không có một điều nào được viết trong kinh Koran là phụ nữ không được tham dự các cuộc thi sắc đẹp. Cứng quá đi chứ! Ai dám cãi kinh Koran?

Chẳng biết có còn ai trong chúng ta nhớ là vào tháng 11 năm ngoái, cuộc thi Hoa Hậu Thế Giới được tổ chức ở Nigeria đã bị giới Hồi giáo quá khích chống đối bằng bạo động gây ra cái chết của hơn hai trăm người sau khi một ký giả địa phương viết là nếu Mohamed còn sống, chắc ông cũng ủng hộ cuộc thi hoa hậu và có thể còn lấy một cô làm vợ nữa!

Thật là nhảm nhí! Cả cô Arezo Ronah cũng nhảm nhí! Ông Salam Elmenyawi, Chủ Tịch Hiệp Hội Hồi Giáo Montréal, vạch rõ rằng: kinh Koran có viết là phụ nữ phải che kín thân thể ở nơi công cộng. Cô Biniaz, 18 tuổi, một trong hai thí sinh A Phú Hãn, nói lại. Nếu phần nào da dẻ của tôi được phô bày ra, thì đó là điều chứng tỏ là tôi đã dùng kem dưỡng da tốt như thế nào. Sự phô bày thân thể không có liên quan gì đến tình dục. Nó chỉ là thân thể con người, mà thân thể là một đền thờ sống. Chẳng biết ai ra sao chứ tôi, vốn tính cả nể, tôi đứng về phe hoa hậu. Ai đứng về phe mấy ông râu rậm chùm khăn thì tùy ý, tôi chẳng lấy làm điều. Tuy nhiên tôi chán mấy ông thầy này lắm rồi. Tôi nói chuyện khác. Tôi lại trở về với cây nhà lá vườn.

Ta lại sắp có hoa hậu của ta, hoa hậu “Vietnam USA 2004”. Lần này đánh lớn. Lớn nhất trong 28 năm di tản, đó là tuyên bố của ban tổ chức. Cuộc thi sẽ diễn ra tại The Grove of Anaheim vào ngày 20 tháng 12 năm 2003. Lớn vì có tới 300 thí sinh tham dự, lọc được vào chung kết còn 60 cô. Lớn vì phần thưởng của hoa hậu trúng tuyển: 20 ngàn Mỹ Kim cộng thêm chiếc xe Mercedes đời 2004! Lớn nhưng không nên để thành lớn chuyện khi cuộc thi kết thúc. Như cuộc thi hoa hậu của Phi Luật Tân ở Montréal.

Cuộc thi được tổ chức vào tháng 10 vừa qua. Cái đuôi của cuộc thi là một vụ kéo nhau ra tòa án. Hai mẹ con cô Đệ Nhất Á Hậu lôi ban Giám Khảo ra tòa vì tội thiên vị trong khi chấm điểm. Lý do là ai cũng thấy là Á Hậu mới xứng đáng là Hoa Hậu. Bên nguyên đòi một số tiền bồi thường hơn ba ngàn Gia Kim gồm tiền may áo dự thi, tiền son phấn, tiền thiệt hại tinh thần của cả bà mẹ lẫn cô Á hậu. Không biết tòa sẽ xử mần răng? Chẳng lẽ quan tòa chấm thi lại? Rắc rối!

Hình như những gì dính tới người đẹp đều rắc rối. Tết này tôi nhất định không mua cái rắc rối vào người: tôi sẽ không sắm hoa hậu! Lại vẫn chỉ Hồng, Huệ, Lan, Cúc, Mai, Đào... Cho chắc ăn!

SongThao

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Trên Vỉa Hè Sài Gòn: Tính chất con người
Sunday, May 13, 2007

Liêu Tú

Sáng nay, anh em cà phê vỉa hè chúng tôi gặp nhau ở cái quán đối diện một tiệm chuyên sửa xe hơi các đời cũ, loại xe có mặt ở Sài Gòn từ trước 30 Tháng Tư, 1975. Ðường phố đã treo đầy băng-rôn biểu ngữ, dải cờ đỏ sao vàng, chào mừng ngày bầu cử 'đại biểu quốc hội'. Một chiếc xe 'La Dalat', khách hàng chính hiệu của tiệm sửa xe ấy, xuất hiện ngay trước mắt anh em chúng tôi. Hóa ra chủ nhân chiếc xe 'La Dalat' là một nhân vật quen thuộc đối với các bạn học đại học Văn Khoa Sài Gòn, những năm 1960, Hà Huy Ðỉnh.

Anh em chúng tôi khẽ nhắc nhau, rằng đừng kêu Hà Huy Ðỉnh vào quán cà phê. Nhưng Hà Huy Ðỉnh nhìn thấy chúng tôi, từ tiệm sửa xe bước sang quán. Vừa ngồi xuống, Hà Huy Ðỉnh chỉ trỏ băng-rôn khẩu hiệu dải cờ đỏ phố phường, nói: “Nhà nước cộng sản ưa 'lể ốc gạo', cứ luôn chào mừng 'lể' quanh năm.”

Không ai hưởng ứng để nối tiếp câu ‘khôi hài đen’ của anh, vì anh em cảnh giác những người cộng sản. Biết đâu nhân vật ‘con cháu Hà Huy Tập’ này thảy mồi lửa cho chúng tôi cháy bùng lên. Nhưng cái việc vui vẻ mời chào một cách thành thật người bạn ‘đồng song’ cũ uống cà phê, là chuyện bình thường, là tính chất người Sài Gòn.

Khi Hà Huy Ðỉnh rời quán cà phê để trở lại tiệm sửa xe, một bạn kể câu chuyện cũ:

“Có một lần, sau ‘Sài Gòn giải phóng’ vài năm, tôi gặp anh ta trong một quán nhậu. anh ta nói đi nói lại, rằng mình bây giờ ăn uống rất chay tịnh, thanh cảnh, đạm bạc, mỗi bữa có thể chỉ ăn một hạt đậu phộng mà thôi! Lúc ấy tôi đang uống ‘bia lên cơn’, và đồ mồi là dĩa hạt điều tôi được người bà con tặng, chứ lúc đó hạt điều quý hiếm lắm, giá bán rất mắc. Tôi nghe anh ta vừa nói, mỗi bữa có thể chỉ ăn một hạt đậu phọng mà thôi, là tay anh ta vừa lấy một hạt điều bỏ vào miệng. Trong thoáng chốc, dĩa hạt điều sạch sẽ, trống trơn! Phải nói, anh ta đã đạt tới nghệ thuật cao về việc ăn uống thanh cảnh, đạm bạc! Anh ta làm hết dĩa hạt điều của tôi, để minh chứng hùng hồn việc mình có thể chỉ ăn mỗi bữa một hạt đậu phọng là đủ. Anh ta làm tôi nhớ lại một truyện ngắn trong tập truyện ‘Người tù’ của nhà văn Võ Phiến, một người có nhiều kinh nghiệm về cộng sản. Ông đưa nhận xét về một nhân vật theo cộng sản, qua một bữa ăn. Thông thường, có người gắp thức ăn ở dĩa một cách chọn lựa, có người gắp đại. Anh ta thì không vậy, lặng lẽ nhắm trước miếng ngon nhất. Rồi như thể vô tình, anh ta đưa đũa gắp trúng miếng đó, giống như người gắp đại, chứ không như người chọn lựa miếng ngon, đưa đũa gạt bới tìm kiếm, thấy tham tục. Nghĩa là anh ta tỏ ra một thực khách chẳng để ý gì việc chọn miếng ăn nào, trong khi thật sự anh ta ngược lại như vậy. Tôi nhận thấy tính chất chung của những con người cộng sản giống như vậy: chứng tỏ ở mình cái điều ngược lại. Nghĩa là trá ngụy, không trung thực.”

Một bạn cười rộ, nói: “Bởi vậy, con cháu cán bộ thì sang Mỹ học, con cháu quần chúng nhân dân ở trong nước ráng học cho thông tư tưởng bác, lịch sử đảng! Có câu thành ngữ này: “Ăn như tư bản, sống như Lão Trang, nói như cộng sản.”

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

Xếp hàng cả ngày

Bẩy điều kỳ diệu của chế độ Xã hội chủ nghĩa :
1/ Không có người thất nghiệp nhưng chẳng ai làm việc cả
2/không làm việc nhưng vẫn hoàn thành kế hoạch sản xuất
3/kế hoạch sản xuất hoàn thành mà chẳng có gì mua
4/Chẳng mua được gì mà người ta vẫn xếp hàng rồng rắn cả ngày
5/Chỗ nào cũng xếp hàng nhưng đất nước vẫn được đánh giá là ngày một phát triển
6/ Đất nước phát triển nhưng không ai thấy hài lòng
7/Không ai hài lòng vậy mà lãnh đạo vẫn giành được 100% sự "ủng hộ "trong các cuộc bầu cử .
***************8************8

Dòng người xếp hàng rồng rắn trước cửa hàng mua thực phẩm.Một người đàn ông tức giận chửi thề :
-Mẹ kiếp ,ai là người đã gây ra cảnh này?
-Thì Tổng bí thư Đảng CS của chúng ta chứ ai.
Một người đứng trong hàng trả lời
-Tôi sẽ giết chết thằng cha đó
Người đàn ông hầm hầm bỏ đi.Hơn một tiếng đồng hồ sau anh ta quay lại.Mọi người xúm vào hỏi han :
-thế nào ông , ông đã giết được Tổng bí thư chưa ?
-Chưa , thì ra số người xếp hàng để vào
giết Tổng bí thư còn đông hơn cả ở đây !!!


+++++++++++

Hồ chí Minh muốn kiểm tra xem những người nông dân sống ra sao? Ông đi tới một ngôi làng.
-Các đống chí ,cuộc sống ra sao?
-Dạ thưa đồng chí ,trước kia chúng tôi có 2 bộ quần áo còn bây giờ thì chỉ có một thôi ạ
-Quần áo không thể dùng để đánh giá mức sống được.Các đồng chí có biết rằng ở châu Phi có những nơi người ta hoàn toàn cởi truồng không?
-Thật tội nghiệp ! Chắc ở đó họ còn có chủ nghĩa Cộng sản trước cả chúng ta

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

Sở Thuế Vụ Na Uy Sờ gáy

Tin Na Uy . Bộ Trưởng Tài Chánh Na Uy vừa lên tiếng sẽ Thu Thuế khi vào Xem Vũ Thoát Y lên đến 25%.

Trước đây Ở Na Uy mọi người có quyền vào Xem Biểu Diễn Vũ Thoát Y không cần trả tiền , vì cho rằng Biểu diễn Thoát Y cũng như trình diễn Vũ Ba Lê hay trình diễn một nghệ thuật đẹp đẽ . nay thì không được miễn nữa. Do đó từ nay trở đi khi vào xem Biểu diễn Vũ Thoát Y ,người xem phải trả tiền và sẽ tăng lên 25% giá cả.

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Nói Như Vẹt
Nguyễn Quý Đại
Từ nhỏ tôi từng nghe người ta nói, nuôi con nhồng hay con sáo cho nó ăn thịt mỡ, ăn ớt, lấy lá tre cắt một chút lưỡi, dạy nó sẽ nói được tiếng người. Tôi chỉ nghe tiếng chim ca hót trên cây lá thiên nhiên nhưng chưa được nghe các loại chim nói tiếng người. Xuân vừa qua, gia đình tôi tới thăm anh chị ở San Jose, các con của anh chị trưởng thành ra trường đi làm xa, nhà rộng và trở nên vắng lặng. Lúc trước tới thăm còn hai con chó rất đẹp và hiền đến ngồi dưới chân tôi, giờ nầy không còn nữa, anh chị cho biết đi làm cả ngày ngoài tiệm, để 2 con chó ở sân sau, đã bị bọn ăn trộm bỏ thuốc độc 2 con chết, cạy cửa vào nhà cuỗm hết đồ dùng... nên bây giờ nuôi chim cho vui.

Ở Việt Nam đời sống còn nghèo nên có người ăn trộm, sang xứ văn minh nầy cũng không thiếu người lười biếng, không muốn đi làm mà thích đi ăn trộm mới là chuyện lạ… thỉnh thoảng cũng có những trường hợp cướp cuả giết người để bị ngồi tù rục xương hay trên ghế điện. Đời sống tập hợp xã hội là vậy, sống đàng hoàng ở đâu cũng phải đổ mồ hôi để trả nợ áo cơm, tiền không phải rơi từ trên trời xuống. Người Việt tị nạn đến Mỹ với 2 bàn tay trắng đã làm nên sự nghiệp sau 32 năm thật đồ sộ, nơi nào có người Việt sinh sống nơi đó trở nên phồn thịnh, nhà cửa vườn tược, xe đều to lớn, có thể xứ Mỹ đất rộng nên đời sống phát triển và hội nhập dễ hơn các quốc gia Âu Châu? Ngoài vườn, những cây hoa đào, cây táo đang nở rộ màu hồng mơn mởn thật đẹp, bên hồ nước xanh dưới đáy hồ còn những chiếc lá khô và rong rêu... Chủ nhà không có thời giờ dọn dẹp thay nước vì sáng từ 9 gìờ đi cho đến 21 giờ về nhà, làm sổ sách cho tới nửa đêm, tuần lễ 7 ngày không nghỉ.

Nhà rộng hơn 300 m², trong khi ở Đức hai người chỉ cần khoảng 70-80 m² là đủ. Nhà của anh chị dù không có trẻ em, bỗng nhiên tôi nghe tiếng nói thánh thót cuối phòng khách “ba mẹ về“, bà chị từ bếp bưng ly cafe bốc mùi thơm để lên bàn, và nói đó là con vẹt nuôi được 3 năm lúc nó còn nhỏ, dạy nó nói được mấy câu thông thường, phải nhốt nó trong cái lồng lớn, để nó bay ra ngoài là cắn phá tùm lum. Con vẹt lấy mỏ kéo trên song sắt chuồng làm tiếng chuông điện thoại reo và nó nói tiếp “VC Việt cộng“. Cả nhà đều cười, Cộng Sản VN thường kết tội những người đối lập là phản động…. Còn con vẹt nầy gọi họ Việt cộng, chắc họ làm thịt cho một bữa nhậu, khỏi tốn thì giờ nhức đầu, rình mò theo dõi …..Tôi hỏi ai dạy con vẹt nói và có phải cắt lưỡi nó không? Chị trả lời :

- “Anh mua, nuôi hàng ngày cho nó ăn lúc còn nhỏ, nhưng chị dạy nó nói, chị ghét bọn CS sau 30.4.1975 đã cướp tài sản của gia đình chị và đuổi đi kinh tế mới, mẹ chị phải xuống Vĩnh Long làm nhà lá nhỏ ở bên một dòng sông. Đứa em gái út không bơi giỏi, tắm sông bị nước cuốn chết đuối. Người em khác vượt biên bị mất tích trên biển Đông…..Gia đình chị có các em trai còn nhỏ, không có ai tham gia chính quyền VNCH, ba chị mất sớm, mẹ chị mở tiệm bán vải và áo quần để nuôi các em ăn học, “giải phóng miền Nam“ đã trở nên nạn nhân của chế độ bị kết tội “tư sản mại bản“…May mắn, sau khi chị thành hôn với anh cùng vượt biển tới Thái lan, định cư Hoa Kỳ từ năm 1979. Lúc nào chị cũng bị ám ảnh, buổi sáng thuở ấy một đám thanh niên nam nữ tới lục soát, niêm phong nhà và ở ngay trong phòng khách, kiểm soát sợ tẩu tán tài sản, sau đó tịch thu nhà đuổi đi kinh tế mới. Dù 31 năm trôi qua, hơn 27 năm sống ở đất nước tự do nầy, nhưng vẫn còn ghét CS vừa ăn cướp vừa la làng. Sau khi thống nhất đất nước, Đảng CS đã cai tri sai lầm trầm trọng như: cải cách công thương nghiệp, đánh tư sản, đổi tiền, bế môn toả cảng, làm tàn lụi nền kinh tế miền Nam đi ngược lại với lợi ích dân tộc VN, nên chị dạy con vẹt chửi VC cho đỡ buồn….“

Mỗi gia đình đều phải gánh chịu, hoàn cảnh khác nhau. Sĩ quan, Cán bộ làm việc dưới chế độ VNCH bị kết tội “ngụy quân, ngụy quyền“ tập trung đi cải tạo, có nhiều điạ phương tịch thu cả tài sản đuổi vợ con họ đi kinh tế mới……Ngày nay nếu về thăm Việt Nam, trở lại căn nhà cũ không khỏi ngậm ngùi rơi nước mắt, tài sản của mình trước đây bị sang đoạt cho cán bộ CS… Dù có tin đồn có thể lấy lại được nhà, nếu có lấy lại nhà cũ phải tốn tiền hối lộ, đút lót còn đắt hơn mua một căn nhà mới!

Những câu chuyện nói như vẹt trong đời sống tại miền Nam sau năm 1975, có lẽ chúng ta khó quên. Cán bộ CS, họ tuyên truyền, nói như một cái máy, người nào cũng một luận điệu như nhau, “xã hội chủ nghiã ưu việt“, “đỉnh cao trí tuệ...“. Trong các trại tập trung cải tạo thì cán bộ quản giáo, chính trị viên cũng nhai đi nhai lại nhũng đề tài giống nhau, đảng bảo sao nói vậy . Không khí sinh hoạt miền Nam bị chùng xuống, thảm thương bởi đàn vẹt bay từ phương Bắc vào Nam. Thời trước người quốc gia không thích CS thì gọi “nói như vẹm“, ngày nay phải bổ túc thêm cho hoàn hảo, phải nói là „cộng sản nói như vẹt“

Người làm việc cho cơ quan nhà nước như: Bưu điện viễn thông, du lịch... muốn tiến thân phải vào đảng, trường đảng đào tạo phải nói như đảng, đã biến con người trở thành một công cụ, tư tưởng và suy nghĩ phải một chiều theo đảng dạy… Hiện nay chúng ta thấy nhà nước tổ chức bầu cử Quốc Hội, đó chỉ là trò giả dối và lừa bịp. Với hình thức bầu cử Quốc Hội, những dân biểu đều do đảng đưa ra "Khi Đảng đồng ý, chấp nhận thì mới thực hiện quyền tự ứng cử, đảng cử dân bầu." cử tri không biết mặt người được ứng cử là ai, họ đã, đang và sẽ làm được gì cho dân, cho nước. Cử tri không có quyền lựa chọn nào hơn là bỏ cho người đã ghi sẵn trong danh sách, thật là trò hề thời đại. Tại sao chính phủ Việt Nam không dám cho phép thế hệ trẻ tài giỏi có đạo đức ra ứng cử, tranh cử độc lập để cử tri chọn lựa có thể lãnh đạo đất nước. ?

Nhìn bề ngoài Việt Nam cũng có Quốc Hội, dân biểu đại diện cho dân (!!!) nhưng đều là dân biểu bù nhìn, nghị gật. Họ cũng giống như chim chỉ việc hót, hót theo khả năng, mà hót hay được thì càng tốt! Những con chim đã quen với cái lồng của mình đâu có biết bên ngoài là bầu trời bao la tươi đẹp, như con ngựa bị bịt mắt chỉ nhìn thấy một quãng đường... Việt Nam của thế kỷ 21 vẫn còn những con vẹt làm người của xã hội chủ nghĩa.

Thế giới văn minh, các quyền tự do được tôn trọng bảo đảm, đều được ghi trong Công ước Quốc tế về quyền dân sự và chính trị. Dù Việt Nam đã chính thức tham gia Công ước này vào năm 1982 nhưng những quyền tự do đó bị gạt bỏ ra ngoài, theo chủ trương cai trị giáo điều của đảng CSVN. Nếu người dân đấu tranh bất bạo động hay phê bình việc cai trị của chính phủ một cách ôn hòa trong xây dựng, thường bị truy tố về những tội danh gọi là “tội tuyên truyền chống nhà nước”, “lợi dụng các quyền tự do dân chủ để xâm hại quyền lợi của nhà nước”, và “làm gián điệp cho ngoại bang“. Đảng Cs chủ trương vu khống, chụp mũ người bất đồng chính kiến với các tội danh “chống phá nhà nước CHXHCNVN và gây chia rẻ đoàn kết dân tộc, v.v.. Việt Nam không có tự do báo chí, không có những cơ quan truyền thông độc lập mà hầu hết báo quốc doanh, đều do chính quyền và đảng kiểm soát. Báo chí các đài truyền hinh, tuyền thanh là phương tiện tuyên truyền cho đảng CS mà thôi.

Sau 32 năm thống nhất đất nước, đảng CS cai trị không đa nguyên chính trị, không hệ thống đa đảng, và không đối lập chính trị." người Việt Nam trong nước chỉ có quyền ăn, không có quyền nói. Nói ra thì bị bịt miệng, bằng chứng như Linh Mục Nguyễn Văn Lý trong phiên tòa tại Huế, đã bị công an bịt miệng kéo ra khỏi phòng xử trước các giới truyền thông thế giới. Đó là một hình ảnh chứng minh chế độ độc tài của CS Việt Nam không để cho bất kỳ ai khác nói lên tiếng nói đối lập. Hình ảnh nầy ở trong nước chuyện đó bình thường, vì nó xãy ra khắp nơi trên đất nước, nên người dân và cả Giáo Hội Công Giáo trong nước cũng yên lặng !! Nhưng bức hình bịt miệng nầy đối với người Việt sống ở các quốc gia tự do trên thế giới nó là một sự sỉ nhục đối với dân tộc Việt Nam. Người ti nạn trả lời với con cháu trưởng thành nơi đây, hiểu tại sao đời cha mẹ phải bỏ nước ra đi, tại sao thường biểu tình vào ngày 30 tháng 4 hàng năm, và biểu tình chống các chương trình văn nghệ của CSVN tổ chức đưa ra nước ngoài, không ngoài mục đích để tuyên truyền, đánh bóng cho chế độ, ru ngủ những người còn nhẹ dạ. CSVN nhìn thấy người Việt hải ngoại đã an cư lạc nghiệp cơm no áo ấm, thì nhu cầu của con người chuyển sang hưởng thụ, nên CSVN lợi dụng các phần tử tay sai tổ chức những đêm văn nghệ như „Duyên dáng Việt Nam“ để kiếm tiền và ngầm tuyên truyền Việt Nam ngày nay cũng tự do về văn nghệ....Nếu ai cũng ý thức âm mưu của CS, không đi xem văn nghệ để giải trí mua vui, thì CSVN không thể nào quấy rối cộng đồng chúng ta được. Hình Lm. Nguyễn Văn Lý bị bịt miệng, chứng minh với thế giới rằng Việt Nam đã và đang đàn áp những người đối lập và đàn áp tôn giáo. Chính quyền CS Việt Nam vi phạm Công Ước Quốc Tế về Nhân Quyền trước đây đã từng ký.

Quyền ăn ở đây dành cho Cán bộ, tức ăn của dân, tham nhũng hối lộ.. các khẩu hiệu tuyên truyền, toàn dân tham gia đấu tranh chống tham nhũng, tham nhũng được đẩy lùi là do tai mắt của dân’… nhiều người đã tham gia chống tham nhũng, nhưng không tránh khỏi bị trù dập, bị phản ứng ngược lại? bởi vì tham nhũng từ trên xuống dưới, cái dù che cái cán. Bè lũ bao che lẫn nhau, để ăn cướp làm giàu trên xương máu của nhân dân. Nếu nhìn vào lương tháng của các cán bộ đảng cs VN bao nhiêu? mà họ đã đưa con, cháu du học tại các đại học Mỹ đắt tiền, không dưới 30 ngàn dollar một năm, mua nhà, mua xe, sống vương giả, xài tiền như nước. Trong lúc đó bên quê nhà, nhiều người đời sống không đủ ăn, con cái thất học đi bán vé số, đánh giày, kiếm tiền sống lây lất qua ngày!!

Kỷ niệm 32 năm Việt Nam sống dưới chế độ CS, phóng viên kỳ cựu Xuân Hồng đài BBC đã dành thì giờ phỏng vấn cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt về qúa khứ cũng như hy vọng nào đó ở tương lai, để có thể khép kín vết thương cuộc chiến. Nghe qua thật cởi mở. Ông Kiệt nói "Có hàng trăm con đường yêu nước khác nhau. Tổ quốc Việt Nam không của riêng một đảng, một phe phái, tôn giáo nào"

Lúc ông làm thủ tướng thì ngậm miệng ăn tiền, bây giờ nói “để mà nói”, nếu như những lãnh tụ đang cầm quyền mà cũng tuyên bố như ông Kiệt, thì vấn đề cai trị đất nước sẽ không còn là nan đề.. Có thể ông Kiệt hối hận khi có quyền không làm được đến tuổi gần đất xa trời, ông Võ Văn Kiệt nếu còn ảnh hưởng thế lực với đảng, với người kế tiếp, tại sao ông không dám, lên tiếng bênh vực các phong trào dân chủ trong nước, khuyến khích và tôn trọng quan điểm chính trị của mọi công dân Việt Nam? kêu gọi nhà nước trả lại tài sản cho Giáo Hội các Tôn giáo, trước đây chính quyền địa phương đã cướp đoạt? Cái chủ chốt để mở ra cánh cửa cho mọi người cùng làm việc, là phải từ bỏ chủ nghiã độc tài CS. Thật sự đổi mới

Đảng CSVN luôn đánh bóng chế độ có tự do, nhưng thực tế đảng chủ trương đàn áp các nhà bất đồng chính kiến, cũng như đường lối của đảng CSVN vẫn tiếp tục kiên định lập trường xây dựng chế độ XHCN, chế độ đã lỗi thời và tiếp tục thi hành chính sách độc tài, bắt bỏ tù Lm Nguyễn Văn Lý, luật sư Nguyễn Văn Đài, Lê Thi Công Nhân… vì họ dám nói lên sự thật. „chủ trương đòi đa nguyên chính trị tại Việt Nam. Họ cũng có quan điểm rằng tham nhũng sâu rộng ở Việt Nam có nguyên nhân từ độc quyền chính trị của một đảng“. Trong khi đó xã hội Việt Nam ngày nay phần lớn người ta đua nhau chạy theo vật chất, vì danh lợi….

Tháng 11 năm 2006, TT. Bush sang Việt Nam món quà „hữu nghị“ đã đề nghị đưa Việt Nam ra khỏi danh sách đen CPS . Sau khi Việt Nam vào được Tổ chức Thương mại Thế giới WTO, chính sách cai trị còn hà khắc hơn. Gần đây, Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế vừa lên tiếng kêu gọi đưa Việt Nam vào lại danh sách CPC các nước gây quan ngại về nhân quyền / Countries of Particular Concern. Đã 32 năm qua, đảng CSVN cai trị đưa đất nước trở nên nghèo đói lạc hậu, ngày nay Việt Nam „mở cửa đổi mới“, bởi vì chủ nghiã cộng sản chỉ còn ở Bắc Hàn, Cu ba, Trung cộng và Việt Nam, CSVN mở cửa để hưởng tiền viện trợ, cứu đói giảm nghèo của các quốc gia Tây Phương và nhất là thu được ngoại tệ lớn của cộng đồng người Việt ở hải ngoại ….nhờ có ngoại tệ, CSVN đã giữ vững chế độ, còn sinh hoạt về tự do dân chủ thì khép kín ! Dân Không được nói đến dân chủ, bàn luận về hiến pháp hay lấy luật mà cãi với toà án CSVN, vì luật của đảng là trên hết. Tất cả bộ máy chính quyền nằm trong tay đảng rồi, nên việc Luật sư bào chữa chỉ là hình thức, bản án của thân chủ đã có trước rồi.! Tù nhân chính trị, đối lập thì bó tay trước điều 88 Bộ Luật Hình, đều bị kết án chụp mũ “xuyên tạc lịch sử đấu tranh cách mạng và chính sách cũng như luật pháp của đảng và nhà nước, tuyên truyền chống nhà nước ”. .Bởi vậy phần lớn luật sư chỉ làm dịch vụ tư vấn, hay cãi các vụ án hình sự nhỏ

Dân tộc VN đã chịu quá nhiều khổ đau, biết bao giờ Việt Nam thoát được chế độ độc tài, để có đời sống đủ các quyền tự do căn bản như các quốc gia tiến bộ trên thế giới.. Kinh nghiệm như ở các quốc gia Đông âu như : Đông Đức, Balan, Tiệp, Hung Gia lợi…. các dân tộc nầy đã đoàn kết, đồng loạt đứng lên đấu tranh lật đảo bộ quyền, đem lại tự do gần 2 thâp niên qua họ không cần đến súng đạn. Đối với nước Việt Nam, hy vọng vào giới trẻ trong và ngoài nước, cùng toàn dân đoàn kết tranh đấu bất bạo động, có thể đưa đất nước sớm có tự do và dân chủ.

Nguyễn Quý Đại

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Một Câu Chuyện Dân Sinh, nhân ngày lễ Mẹ 2007
NGƯỜI CON GÁI ĐÀ NẴNG

Giao Chỉ –
Chiều thứ Ba tuần qua, đài PBS đã chiếu một phim tài liệu kết hợp với chuyện kể có tên là Người Con Gái Đà Nẵng. Phim nói tiếng Mỹ.
Phim bắt đầu bằng các tài liệu liên quan đến những chuyến bay di tản trẻ em mồ côi và cả trẻ em có cha mẹ, được gửi đi Hoa Kỳ làm con nuôi vào những ngày cuối tháng 4 năm 1975.

Một trong các em bé năm 75 nay đã hơn 30 tuổi, lai Mỹ, tình cờ tìm được tin tức bà mẹ và gia đình hiện ở Đà Nẵng. Sợi dây tình nghĩa mong manh được nối lại.

Lẫn với các phim tài liệu, đạo diễn đã dựng lên một câu chuyện kể lại tâm sự bà mẹ ở Việt Nam và cô con gái lai tại Hoa Kỳ. Cô bé hoàn toàn không biết tiếng Việt, không còn nhân dáng Việt, không biết tin tức về người cha là lính Mỹ một thời ở miền Trung. Cô kết hôn với một sĩ quan Hải Quân Hoa Kỳ đã có hai con. Bà mẹ Việt Nam ở Đà Nẵng ngày nay kết hợp lại với người chồng Việt Nam cũ, có nhiều con trai và gái. Đó là anh chị em với cô gái lai đã được gửi đi làm con nuôi tại Hoa Kỳ. Tất cả đều là các nhân vật thật, đóng lại cuộc đời của họ.

Cả nhà chờ đợi ngày về thăm quê của người con gái Đà Nẵng. Từ hai đầu câu chuyện, nói tiếng Anh, có nhiều đoạn bằng Việt ngữ được phụ đề Anh ngữ, việc gặp gỡ tại Việt Nam được thực hiện. Đó là chuyến trở về quê hương lần đầu và rất có thể là lần duy nhất.

Hình ảnh gia đình Việt Nam ở Đà Nẵng là hình ảnh rất thông thường như đa số người Việt hiện nay đã biết. Đại gia đình nhiều anh em, bần hàn nhưng không quá nghèo đói.

Hoàn cảnh gia đình cô gái lai tại Hoa Kỳ cũng thuộc giới trung lưu, không giàu có gì. Tuy nhiên rõ ràng là hai nếp sống khác biệt. Cô gái lai trở về tuy đã có chuẩn bị học nói những lời thương yêu bằng Việt ngữ: “ Con yêu mẹ. Con xin chào mẹ v.v... Những rõ ràng là cô đang ở tâm trạng tò mò và không hề được hướng dẫn tâm tư cho việc đoàn tụ. Đó có thể là diễn tiến tự nhiên, hoặc là đạo diễn muốn câu chuyện cứ xẩy ra như vậy.

Sau buổi gặp gỡ cảm động tại phi trường, tiếp đến những ngày sống bên nhau tuy ngắn ngủi nhưng rất nhiều gượng gạo. Cô gái không thích ứng được cuộc sống thiếu tiện nghi tối thiểu. Không khí nóng nực, những buổi đi chợ quê mùi thịt cá hôi tanh, trong khi bà mẹ muốn khoe con gái ở Mỹ mới về, nên cứ la cà đây đó. Người con gái Đà Nẵng chỉ muốn ra khỏi ngôi chợ xa lạ.

Trong câu chuyện kể lại, các anh chị nói về những ngày thơ ấu, vất vả nuôi cô em lai, rồi lo cho bà mẹ mà cô gái đã bỏ lại. Đã có những lời lẽ kể công và những đòi hỏi ràng buộc trách nhiệm mà cô gái lai ngày nay, đã hoàn toàn trở thành một phụ nữ Mỹ vô tư, không thể cảm nhận được.

Buổi họp mặt gia đình lần cuối trước khi chia tay đã đưa câu chuyện lúc mở đầu trùng phùng cảm động sau 30 năm xa cách, nay trở thành một bi kịch.

Các anh chị em, qua thông dịch viên, đã đặt thẳng vấn đề yêu cầu cô em lai đưa mẹ qua Mỹ để lo cho bà có cuộc sống đã từ lâu mong đợi. Và trong hiện tại thì cô em cần cho biết là mỗi tháng giúp cho gia đình được bao nhiêu. Xin nói cho cả nhà được rõ.

Và người con gái Đà Nẵng không thể hứa hẹn, không thể tài trợ được, nên đã gần như khóc lóc và bỏ chạy.

Rồi chuyến trở về Hoa Kỳ được tiễn đưa gượng gạo. Hình ảnh đưa người con gái lai về Mỹ khác xa cảnh những đứa trẻ ngày xưa lên xe Bus qua Hoa Kỳ. Đạo diễn tiếp tục cho hai đầu câu chuyện nối tiếp. Người con gái Đà Nẵng trở về Mỹ, thất vọng với quá khứ và cũng không thể chia sẻ với chồng con. Trong khi đó tại Việt Nam, anh em than thở vì cho là ngôn ngữ bất đồng. Bà mẹ Đà Nẵng vẫn tiếp tục khóc. Và câu chuyện ngưng lại ở đó. Khán giả sẽ tự tìm ra câu trả lời.

Vâng, khán giả sẽ tìm ra ngay. Câu chuyện đưa đến kết luận là đám bà con nghèo khổ ở Việt Nam chỉ nhìn thấy người ở Mỹ là một cái kho bạc. Họ chỉ nã tiền. Tất cả lời nói tình cảm thương yêu đều là đầu môi chót lưỡi. Đó không phải là thương yêu thực. Chuyện phim đã đưa ra một thông điệp như thế.

Đạo diễn của phim truyện “Người Con Gái Đà Nẵng” cũng đã có cùng một cảm nhận và đã dựng nên câu chuyện theo chiều hướng này để bảo vệ cho luận án. Đó là một đề tài hấp dẫn. Và cuốn phim đã được khen ngợi. Nhưng vì đây là phim tài liệu nên chúng ta có thể thắc mắc. Thực sự gia đình cô gái lai này đã có trắng trợn đòi hỏi như vậy hay không. Cô gái có vì vậy mà chán nản cho tình nghĩa gia đình mẹ con anh em ở Việt Nam hay không? Chúng ta không biết.

Duy có điều đáng lưu ý là phần kết luận của cuốn phim. Phần thông điệp chính của cuốn phim có thể làm cho chúng ta bất bình và đau đớn. Phải chăng đây là cuộc sống thực sự của các gia đình Việt Nam tan tác trong chiến tranh và đoàn tụ trong hòa bình.

Chúng ta cần có sự thảo luận.

Hơn 30 năm qua, tất cả chúng ta đều đã có kinh nghiệm của bản thân, của bà con, bè bạn về cái chuyện kẻ ở người đi û. Gửi tiền về Việt Nam cho bà con. Đem tiền về Việt Nam làm quà. Đó là chuyện đời thường của dân tỵ nạn. Việc bảo lãnh anh em, vợ chồng, cha mẹ, con cái, bạn bè qua Mỹ. Tại sao lại bảo lãnh? Tại sao lại không? Thậm chí vấn nạn được đem cả vào văn nghệ: “Anh đã lầm đưa em sang đây...” Và có thực sự là những bà con, bạn bè, anh em, cha mẹ của chúng ta nghèo khổ ở Việt Nam không có tình nghĩa gì cả, chỉ biết xoay xở tìm mọi cách xin tiền?

Trên thực tế thư từ xin tiền, trực tiếp, gián tiếp, xa gần với ngàn vạn lý do: “Cần bung ra làm ăn, cần đóng tiền học, cần mua máy khâu, cần đi mổ ruột.” Tất cả đều thường tình. Người ở nhà cầu cứu người đi trước. Đến lượt người ở nhà ra đi lại nhận thư xin tiền của người còn lại. Bao nhiêu giận dữ tranh cãi đã xảy ra. Chúng ta chẳng xa lạ gì.

Nhưng đó chỉ là bề mặt. Tình cảm sâu xa nếu có, vẫn luôn luôn tiềm ẩn. Đó là kinh nghiệm mà trải qua30 năm trong ngành xã hội dân sinh chúng tôi đã ghi nhận được.

Sau đây là các điểm căn bản đưa ra để quý vị cùng suy nghĩ:

-Cô gái Đà Nẵng nói rằng chuyện đưa bà mẹ qua Mỹ là chuyện không thể thực hiện được. Điều đó có thể đúng, bởi vì ở thị trấn hẻo lánh nơi cô ở toàn người Mỹ trắng, đưa bà mẹ quê mùa Đà Nẵng qua đó làm gì?

Chỉ cần một cô gái Hậu Giang ở San Jose với 200 đồng US cho hồ sơ dịch vụ là đưa bà mẹ Hà Tiên qua Mỹ dễ dàng. Dù rằng cô mới nhập tịch và còn đang học ESL.

Còn chuyện gửi tiền về giúp bà con ở Việt Nam. Mỗi năm bây giờ người Việt gửi về ba tỷ Mỹ kim. Đó không phải là tình mẫu tử, tình anh em ruột thịt, tình vợ chồng thì chúng ta phải gọi là cái gì? Tại sao người ta làm được mà mình lại không làm được.

Một bà cụ cao niên ở đường Bascom đã nói với các con rằng: “Mẹ không muốn các con thương mẹ mà để trong lòng. Mẹ cũng không muốn các con thương mẹ rồi chỉ nói ra lời như người Mỹ. Các con thương mẹ thì mỗi tháng đưa tao hai trăm. Đứa nào thương nhiều hơn thì tùy ý. Tao góp tiền dành dụm gửi cho hai đứa ở nhà.” Bà cụ nói tiếp: “Tôi làm thế là để anh chị em nó phải đùm bọc lẫn nhau. Tình nghĩa nói mồm, thì ăn thua gì. Chính phủ có nói gì thương yêu ruột thịt mà mỗi tháng còn phát cho tám trăm.” Tao không cần hoa trắng hoa đỏ cho ngày của Mẹ. Cứ đưa tao tiền mặt.

Và thước đo tình nghĩa tỷ lệ thuận với việc gửi quà, gửi tiền và mở hồ sơ đoàn tụ.

Chẳng cần làm thống kê, chúng ta cũng biết giới bình dân gửi quà, gửi tiền và mở hồ sơ đoàn tụ mạnh hơn giới trí thức. Càng học giỏi, càng tài cao, càng đắn đo. Thiếu gì ông giáo sư nghe vợ nói gần xa đành phải im lặng giữ chữ hiếu ở trong lòng. Để bà mẹ già chờ mong trong nhà dưỡng lão Thị Nghè. Trong khi đó anh chồng thợ sơn, để nhẹ cô vợ lèo nhèo hai cái bạt tai, rồi đi gửi cho ông bố ở Hóc Môn dứt khoát năm trăm để ông cụ chạy giấy xuất cảnh.

Đợt di tản 75, tuy cũng có sự cố gắng nhưng nói chung hoạt động tình nghĩa hướng về quê nhà rất yếu.

Phải đến khi cánh thuyền nhân ra đi mới có sứ mạng rõ ràng. “Con ra đi một là con nuôi má, hai là con nuôi cá.” Và biết bao phen, vượt biên bị bể năm lần bảy lượt đi tù thì lại nhờ má nuôi con.

Bao nhiêu dân di tản nghèo, một chữ bẻ đôi không có, làm thật, làm chui. Welfare khai đúng, khai sai, chấp hết. Mỗi tháng là một thùng đồ. Sau này mỗi tháng đều gửi tiền chui. Những đồng tiền đầy mồ hôi và nước mắt tủi nhục đã mở thêm đường cho các con thuyền ra biển Đông, cho các chuyến vượt biên đường bộ qua Cam Bốt.

Biết bao nhiêu tiền cho đủ để người Việt trở thành người Việt gốc Hoa, ra đi có công an địa phương dẫn đường, công an biên phòng hộ tống.

Rồi tiền gửi về nhà để dựng vợ gả chồng, làm mồ, làm mả, xây nhà, mua ruộng.
Có ông già cải tạo đã không chịu đi, còn bạo gan điện qua là bây giờ cánh của ông không cần phục quốc. Ông nói các con gửi tiền về để ông mua tất cả. Cộng sản nó bán lại gần hết miền Nam rồi.

Các cơ sở dịch vụ, gửi tiền mở ra khắp các thương xá Việt Nam tại Hoa Kỳ. Hoạt động của họ là thước đo tình nghĩa của cộng đồng. Họ càng phát đạt là tình quê hương càng rạt rào. Người con gái Đà Nẵng không thể hiểu được cô phải có nghĩa vụ gửi tiền về Việt Nam vì cô không đọc được báo Việt ngữ và không nghe được radio Sài Gòn ở San Jose.

Nếu không thực sự nhường cơm sẻ áo thì lời lẽ thương yêu đầu môi chót lưỡi kiểu khách sáo Hoa Kỳ e rằng không có ý nghĩa.

Trong cộng đồng của chúng ta cũng có rất nhiều ông bà học rộng tài cao. Nhưng thực sự hình như các bậc trí thức chuyên gia rất ít khi là khách hàng của các cơ sở dịch vụ Việt Nam. Họ không thích đóng hụi chết cho cái bát hụi hạnh phúc mà mình đã hốt trọn một đời.

Chúng ta khó có thể hình dung các tiến sĩ, bác học, luật gia, nhân sĩ, chính khách của cộng đồng lại là người gửi tiền hàng tháng về cho thân quyến ở Việt Nam.

Khi chúng ta hội nhập thành công, chìm sâu vào xã hội tiền phong của nước Mỹ, có vẻ như chút tình nghĩa lẩm cẩm đã nhẹ nhàng hơn. Và ta có quyền nghĩ rằng mình đi làm đã phải đóng thuế. Rồi ra đã có Welfare của xã hội và EDD của Sở Thất Nghiệp lo cho anh em bà con. Phần bà mẹ già thì đã có Nursing Home.

Trong cái nghề nghiệp xã hội hơn 30 năm. Chúng tôi đã gặp rất nhiều gia đình Việt Nam qua trước tiến bộ vượt bực. Có nhà sản xuất đến 4 bác sĩ y khoa.

Hai con là khoa trưởng đại học ở Úc và Tân Tây Lan. Hai con làm cho các y viện danh tiếng ở Chicago và Boston. Giàu sang và danh vọng chẳng ai bì. Mỗi năm từ Thankgiving đến Christmas, các cháu bận rộn vô cùng. Nên Xuân này con lại không về. Hai cụ ngồi bên nhau xem tấm ảnh màu rực rỡ của con cháu danh tiếng bốn phương trời.

Trong khi đó, cái đám mới qua ở nhà bên cạnh. Cứ vài tháng lại đón người đoàn tụ. Nghề nghiệp thì đủ trăm thứ linh tinh. Từ Assembler đến bỏ báo. Chồng cắt cỏ, vợ may thuê. Mà sao đám này ăn nhậu tối ngày. Suốt bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông. Xe cộ đậu ngang dọc trên cả bãi cỏ. Trẻ con ở đâu ra mà nhiều thế.
Bà cụ hàng xóm, mẹ của 4 ông bác sĩ chỉ muốn ôm một đứa vào lòng. Hạnh phúc bỗng thật gần mà cũng thật xa. Ước chi một trong các đứa con của hai cụ, học hành dở dang về làm điện tử ở San Jose để đẻ cho ông bà một đứa cháu tóc đen nói tiếng Việt như máy. Cũng như những đứa trẻ nhà bên cạnh mà thôi. Như vậy là, ngày của Mẹ năm nay nhà ta lại chẳng có đứa nào dẫn cháu về chơi. Sao mà cái đám Mỹ nó làm gì mà quá ồn ào như vậy.

Giao Chỉ – San Jose

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

Image

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

SỰ TRẢ ƠN

Huy Phương
Chiều thứ hai tuần rồi, trên đường đến phi trường Houston, Texas để lên máy bay trở lại Los Angeles, chiếc xe của người bạn đưa chúng tôi đi thình lình bị nổ bánh trên xa lộ. Phải nói đây là lúc bối rối và lo lắng nhất, vì giờ máy bay cất cánh đã gần kề mà việc thay bánh xe trên xa lộ là một chuyện rất nguy hiểm. Bạn tôi đành gọi về nhà nhờ các con anh lên tiếp tay lo cho cái xe cũng như đưa chúng tôi đến phi trường, nhưng tôi nghĩ là thời gian đã quá trễ, thế nào đêm nay chúng tôi cũng phải nằm lại phi trường để chờ chuyến bay kế tiếp về nhà.

Thế rồi một chiếc xe Sequoia tấp vào lề, sau chiếc xe của chúng tôi, trên xe bước xuống một thanh niên Nam Mỹ, anh muốn giúp chủ nhân chiếc xe bể bánh thay bánh xe và vợ anh, trên xe còn bốn đứa con nhỏ, đưa chúng tôi đến phi trường cho kịp giờ phi cơ cất cánh. Thật là một vị cứu tinh đến với chúng tôi đúng lúc, nhưng thật là ngại ngùng, vì nếu một chiếc xe tow hay xe taxi lại là khác, ở đây lại là một người qua đường sẵn lòng giúp đỡ mà không đặt một điều kiện thù lao nào. Người thanh niên nói với chúng tôi đem hành lý sang xe, để vợ anh sẽ đưa chúng tôi lên phi trường cho kịp giờ, còn anh sẽ ở lại với bạn tôi. Trong khi chúng tôi đang ngần ngại, anh ta nói: -“Tôi muốn giúp ông bà, tôi là người Thiên Chúa giáo”.

Lúc đến phi trường, chúng tôi cố dúi vào tay người đàn bà tốt bụng một số tiền trả ơn, nhưng nhất định bà ta không nhận. Tôi thoáng có ý nghĩ là để tiền trên nệm xe, nhưng nghĩ đó là một điều bất nhẫn, sẽ làm cho người ra ơn phẫn nộ, và họ sẽ không có được một buổi chiều thư thái trong lòng sau khi đã giúp đỡ được một việc hữu ích cho người khác. Chúng tôi là những hành khách vào phi cơ cuối cùng, yên tâm trở lại nhà đúng chuyến bay nhưng đầu óc vẫn nghĩ đến hai vợ chồng tốt bụng mà tôi đã may mắn gặp giữ đường rất đúng lúc. Cũng tối hôm đó, bạn tôi ở Houston điện thoại cho biết người thanh niên sau khi thay bánh xe cho bạn tôi trên xa lộ, đã không nhận một đồng tiền công nào, mà chỉ yêu cầu để cho anh lái xe vào một tiệm Mac Donnal gần đó để gọi vợ anh ta đến đón về. Lắm lúc chúng ta cầu nguyện Quán Thế Âm nhưng Đức Mẹ lại cho một người đến giúp và nước Mỹ vẫn còn ấm áp tình người biết bao nhiêu.

Có một câu chuyện trả ơn như thế này: “Một buổi chiều nọ, trên đường phố một thanh niên có lòng tốt đã giúp một thiếu phụ sang trọng qua đường chữa cho chiếc xe hơi tắt máy của bà. Xong công việc, mặc dầu bà năn nỉ trao cho thanh niên một số tiền trả công, nhưng nhất định người này không nhận. Anh chỉ nói tóm tắt:- Giúp bà là bổn phận của tôi. Nếu được, có dịp bà giúp đỡ cho người khác là quý rồi.

Một này nọ, người thiếu phụ này vào một quán ăn nhỏ, bà thấy một người đàn bà đang chùi dọn trong nhà hàng. Người đàn bà này có vẻ tiều tuỵ, mệt nhọc và đang có bầu. Động lòng trắc ẩn, bà gọi người ấy ra góc quán ngỏ lời thăm hỏi và giúp đỡ cho người này một trăm đồng bạc. Người đàn bà quét dọn trong quán ăn, buổi chiều về nhà kể câu chuyện này cho người chồng nghe và mô tả hình ảnh người thiếu phụ này. Nhận ra đây là thiếu phụ mình đã giúp đỡ ngoài đường phố mấy tháng trước, anh chỉ mỉm cười và nói với vợ:- Thôi em hãy giữ lấy số tiền này, có dịp chúng ta sẽ san sẻ lại cho người khác.”

Thái độ muốn trả ơn vội vàng là một thái độ vô ơn. Nhiều người được người khác cho một món quà, muốn đi mua môt nón quà khác cho lại để khỏi phải mang ơn. Nhiều gia đình được bạn mời cơm, chưa đầy một tuần sau đã cố nài nỉ bạn lại nhà mình để trả lại một bữa cơm khác. Tâm lý chung là chúng ta thường nghĩ mình không hề mắc nợ ai và không muốn mắc nợ ai, nhưng thật ra chúng ta mắc rất nhiều món nợ mà chúng ta vô tình không biết. Chính vì vô tình không biết nên chúng ta thường là những kẻ vô ơn, mà lòng vô ơn thường đi theo lòng tự cao, tự đại. Nếu khi chúng ta nhìn xung quanh, thấy ai cũng là kẻ ra ơn cho mình, và mình mắc nợ rất nhiều người, thì hẳn lòng ta đã ấm áp trở lại và cảm thấy thương yêu tất cả mọi người. Tôi không biết giữa người bác sĩ và bệnh nhân của ông, ai phải mang ơn ai đây, nếu hai người cùng chịu ơn nhau, mối giao hảo sẽ rất bình đẳng và cộng đồng sẽ đối xử với nhau như anh em.

Có những việc mà ngày xưa chúng ta đã có dịp giúp người khác, mà thời gian làm cho chúng ta quên bẵng đi, ba bốn mươi năm sau, người được giúp đỡ có dịp gặp gỡ và nhắc lại. Cũng như trong đời, chúng ta đã mang ơn một vài người, vẫn nhớ và đi tìm họ, nhưng có những món nợ không bao giờ trả nỗi. Chúng ta quanh quẩn chuyện mang ơn và ra ơn. Ra ơn thì không bao giờ nhớ hết, mà mang ơn thì trong lòng canh cánh không quên, như lời Chu Tử: “Thi huệ vô niệm, thọ ân mạc vong- Làm ơn đừng nghĩ tới, mang ơn chớ khá quên.”

Tôi đã có lần giúp đỡ cho một vài người quen thuộc, nhưng được trả lại bằng sự vô ơn, tôi buồn bực vì tôi biết rõ những người ấy. Nhưng nếu tôi giúp cho ai đó mà tôi chẳng hề biết đến họ, coi như giúp cho một kẻ qua đường, có lẽ lòng tôi sẽ thanh thản hơn.

Có thể tôi cũng đã mang ơn ai đó, ở xa hay gần, trong quá khứ hay mới đây thôi, mà vô tình tôi không hề biết hay đã lãng quên và làm cho người ra ơn cũng không vui như vậy.

Mến gởi một người đặc biệt…

Người ta chỉ cần một phút để tìm xem ai là người đặc biệt, một giờ để thấy người ấy đáng quý, một ngày để quý mến, nhưng hết một đời đâu dễ đã quên.

Bạn hãy gởi mấy hàng này cho tất cả bạn hữu của mình, để nhắc rằng bạn không quên họ đâu.

...

Có ai nói được rằng, trên đời này mình chưa hề chịu ơn ai!

Huy Phương

Post Reply