TIN TỨC PHIM ẢNH CA NHẠC

Phim ảnh, âm nhạc đưa người ta vào thế giới ảo mộng quên đi bao nỗi muộn phiền của đời thường... Nơi đây chỉ ghi lại một phần nào đó của cái thế giới muôn mầu sắc và âm thanh đó mà thôi.

Moderator: Nguyễn_Sydney

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Ðại hội điện ảnh... Dustin Nguyễn?
Tuesday, May 01, 2007

Vũ Quí Hạo Nhiên/Người Việt

LOS ANGELES, Califonia (NV) - Trong một trường hợp hy hữu, tài tử Dustin Nguyễn sẽ xuất hiện trong Phim Việt Nam tại ÐHÐA Visual Communications

Ba phim truyện dài được chọn chiếu tại Ðại Hội Ðiện Ảnh Visual Communications tại Los Angeles sẽ mở đầu Thứ Năm, 3 tháng Năm, trong đó có cả phim khai mạc lẫn phim bế mạc.

Tại đại hội điện ảnh Visual Communications kỳ thứ 23, Dustin Nguyễn sẽ có mặt trong phim khai mạc “Finishing the Game” của đạo diễn Justin Lin, phim bế mạc “The Rebel” tức “Dòng Máu Anh Hùng” của đạo diễn Charlie Nguyễn, và trong phim “Saigon Eclipse” tức “Sài Gòn Nhật Thực” của đạo diễn Othello Khanh. Dustin Nguyễn là con trai tài tử Xuân Phát, và trước đây cũng là ngôi sao của phim truyền hình “21 Jump Street,” từng xuất hiện trên hệ thống truyền hình Fox TV mỗi tuần suốt 3 năm, từ 1987 tới 1990.

Như nhận ra sự hiện diện khắp nơi của tài tử này, đại hội điện ảnh Visual Communications đồng thời tổ chức một buổi nói chuyện riêng dành cho anh.

Cuốn phim khai mạc “Finishing the Game” là một phim hài, lấy bối cảnh lúc Lý Tiểu Long (Bruce Lee) vừa qua đời, để lại một cuốn phim quay dở dang là cuốn “Game of Death” (tựa tiếng Việt: Tử Vong Du Hý). Phim hài “Finishing the Game” xoay quanh 5 diễn viên tranh nhau để được tuyển vào đóng tiếp vai của Lý Tiểu Long. Dustin Nguyễn đóng vai Troy Poon, một trong năm người này.

Ðạo diễn phim “Finishing the Game” là đạo diễn Mỹ gốc Á sáng giá nhất hiện nay. Sau khi đột phá vào thị trường điện ảnh Hoa Kỳ với cuốn phim “Better Luck Tomorrow” năm 2002 với dàn diễn viên hoàn toàn người gốc Á, Justin Lin trong năm 2006 thực hiện liên tiếp hai cuốn phim cho các xưởng phim dòng chính Hollywood: “Annapolis”; và “The Fast and the Furious: Tokyo Drift.”

Cuốn phim bế mạc, “The Rebel” tức “Dòng Máu Anh Hùng,” mới đây chiếu ra mắt world premiere tại Ðại Hội Ðiện Ảnh Việt Nam Quốc Tế (ViFF), hiện đang chiếu rộng rãi tại Việt Nam.

Phim lấy bối cảnh thời Pháp thuộc, với Dustin Nguyễn trong vai Sỹ, một kẻ làm mật thám cho Pháp; Ngô Thanh Vân trong vai Thúy, một nữ nghĩa quân và con gái người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa; Johnny Trí Nguyễn trong vai Cường, một mật thám bỏ tà theo chánh; và ca sĩ Nguyễn Thắng trong vai mật thám Danh.

Bắt được Thúy, Sỹ và Danh hy vọng dùng người tù này để bắt vị thủ lãnh, nhưng Cường lại muốn cô ta dẫn mình về với nghĩa quân. Ba viên mật thám và một nữ tù kháng Pháp dẫn khán giả đi qua một cuộc phiêu lưu đầy mạo hiểm, và rất nhiều pha đấm đá ngoạn mục.

Dustin Nguyễn cũng xuất hiện trong một phim khác tại đại hội điện ảnh Visual Communications, phim “Saigon Eclipse” tức “Sài Gòn Nhật Thực,” cùng với Johnny Trí Nguyễn và Trương Ngọc Ánh. Ðạo diễn Othello Khanh, một người Pháp có gốc Việt, viết kịch bản phim này dựa trên truyện Kiều của Nguyễn Du.

Trong phim, người đạo diễn Pháp gốc Việt gán cho tài tử Mỹ gốc Việt Dustin Nguyễn đóng vai một... đạo diễn Mỹ gốc Việt tên Kim. Và gán cho tài tử Trương Ngọc Ánh vai một... tài tử, tên Kiều. Kim về Việt Nam quay phim, tuyển Kiều đóng phim, với Bà Tú là mẹ Kiều (Như Quỳnh đóng) trong vai trò sản xuất. Như Quỳnh là khuôn mặt quen thuộc trong nhiều phim, như “Indochine,” “Cyclo” của Trần Anh Hùng, “Hạt Mưa Rơi Bao Lâu (Bride of Silence)” của Ðoàn Minh Phượng và Ðoàn Thành Nghĩa, và “Áo Lụa Hà Ðông” của Lưu Huỳnh.

Không những xuất hiện trong phim, Dustin Nguyễn còn xuất hiện trong một buổi nói chuyện riêng. Người điều hợp buổi nói chuyện này cũng là một nhân vật gốc Việt trong giới điện ảnh: Anderson Lê, giám đốc Ðại Hội Ðiện Ảnh Quốc Tế Hawaii.

Ngoài ba cuốn phim có Dustin Nguyễn đóng, đại hội điện ảnh Visual Communications còn chiếu hai cuốn phim Việt Nam nữa, cả hai đều là phim tài liệu, đều có đề tài vượt biên.

Phim tài liệu “Bolinao 52” của đạo diễn Ðức Nguyễn sẽ chiếu tại đại hội điện ảnh Visual Communications. Bolinao 52 là tên gọi một chiếc thuyền vượt biên. Tên gọi này trở thành quen thuộc với cả thế giới khi Hải Quân Hoa Kỳ truy tố vị hạm trưởng tàu chiến USS Dubuque ra tòa án quân sự vì đã không vớt người trên chiếc thuyền này, mặc dù ông có cung cấp nước uống và thực phẩm cho họ.

Máy hỏng, bị trôi dạt trên biển, nguời trên thuyền phải ăn thịt người để sống sót. Phải đến 37 ngày sau khi khởi hành, chiếc thuyền bé con, khi đi thì chứa 110 người, mới được ngư phủ Philippines cứu. Họ được đưa về đảo Bolinao của nước này. Tới lúc đó, chỉ còn 52 người sống sót.

Cũng chiếu tại đây là phim tài liệu “The Story of Spirits” của đạo diễn Tien Nguyen. Trong phim, một gia đình đi di tản từ năm 1975 bỏ lại người mẹ tại Việt Nam vì đang mang bầu. Người mẹ sau này dắt đứa con còn lại đi vượt biên thì thiệt mạng.

Cô con gái lớn lên ở Mỹ, dằn vặt với chuyện mẹ mình, đi tìm sự an ủi qua trung gian một người gọi hồn chính là mẹ kế của mình. Với sự giúp đỡ của người mẹ kế, cô con gái trở về Việt Nam tìm dấu tích gia đình và nguồn gốc.

Ðại hội điện ảnh Visual Communications sẽ diễn ra liên tục từ ngày 3 Tháng Năm tới ngày 10 Tháng Năm. (H.N.V.)

User avatar
tieuvuvi
Posts: 2912
Joined: Sun Nov 26, 2006 1:29 pm
Been thanked: 3 times
Contact:

Post by tieuvuvi »

TÌNH HOÀI HƯƠNG trong tác phẩm

“BÀI CA VỌNG CỔ”


Nói về nhà văn Tiểu Tử, dân chúng ở Tây Ninh không ai mà không biết. Sau này khi tác phẩm “ Những Mảnh Vụn” được ra mắt tại Hoa kỳ, không những chỉ dân Tây Ninh mà dân Việt nam ở hải ngoại đều biết, nhất là giới văn học nghệ thuật.

Trước khi có vài nhận xét về tác phẩm “Bài Ca Vọng Cổ”, tưởng cũng nên đề cập đôi nét về tiểu sử của nhà văn Tiểu Tử.

“Tác giả tên là Võ Hoài Nam, trước năm 75 ông là Giám đốc kho xăng Shell Nhà Bè. Sơ lược về nhà văn Võ Hoài Nam thì ông sinh quán tại quận Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh, ông là con của nhà cách mạng và cũng là nhà giáo Võ Thành Cứ của tỉnh Tây Ninh. Ông Võ Hoài Nam du học tại Pháp, tốt nghiệp ngành kỹ sư, năm 1955 ông về nước đầu tiên nhận nhiệm sở dạy học tại trường trung học Petrus Ký. Rồi vào làm việc cho công ty Shell từ 1956. Sau ngày 30-04-75 ông bị kẹt lại tại quê nhà, ông đã chứng kiến những thảm cảnh đất nước suy đồi, những giá trị xã hội đảo lộn, nền luân lý tan hoang, khi được sang Pháp định cư với vợ con, ông dành khoảng đời còn lại để ghi nhận đoạn đường mà ông đã đi qua dưới bút hiệu khiêm cung là Tiểu Tử.”

Sau khi ra mắt tác phẩm “Những Mảnh vụn”, nhờ ông Yên-Sĩ- Phi- Lý-Thuần (Inspiration) thúc dục, thừa thắng xông lên, nhà văn Tiểu Tử lại tiếp tục cho ra đời đứa con tinh thần thứ hai là “Bài Ca Vọng Cổ”.Thật tuyệt vời!

Với cái tuổi gần đất xa trời, việc hoàn thành một tác phẩm văn học không phải là chuyện dễ . Vậy mà ông đã hoàn thành , ông đã viết xong một tác phẩm nữa: Bài Ca Vọng Cổ.

Bài Ca Vọng Cổ là tên của một truyện ngắn tác giả lấy làm tựa đề cho tác phẩm.

Đọc tác phẩm Bài Ca Vọng Cổ, ta thấy tình hoài hương bàng bạc khắp nơi trong nhiều truyện ngắn. Vì nhớ nhà, nhớ quê cha đất tổ, nhớ giếng nước bờ ao, nhớ luỹ tre xanh bao bọc quanh làng , lòng tác giả đã quặn thắt để rồi buồn vời vợi mấy chục năm trời vì nghìn trùng xa cách, quê nhà vẫn biền biệt lâu rồi.

Vì tình hoài hương dễ làm xúc động lòng người nên bất kỳ ai xa quê hương cũng nhớ nhà ,nhớ quê da diết. Không nơi nào bằng quê nhà, không nơi nào bằng nơi chôn nhau cắt rún. Cho dù đang ở trên tháp ngà cao ngất trời xanh giữa chốn phồn hoa đô hội nơi đất khách quê người, cho dù đang được hưởng thụ nền văn minh vật chất tối tân nhất của nhân loại giữa thủ đô ánh sáng Paris hay tại thành phố Newyork, nhưng tất cả mọi người trên trái đất này, không phân biệt chủng tộc, tôn giáo, không phân biệt nam nữ hay trẻ già, mỗi lần nhắc đến quê hương ai ai cũng cảm thấy nhớ nhà da diết, ai ai cũng cảm thấy xúc động trong lòng. Chính điểm này khiến thi-sĩ Anh quốc Lord Byron khi quá nhớ nhà đã không ngần ngại hạ bút viết:

“Home, home, home, sweet home !
How humble the home may be !
There is no place like home !”

Chúng ta cũng tìm thấy sự tương đồng trong văn chương hay ca dao Việt ngữ là:

"Ta về ta tắm ao ta

Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn”

Tôi chợt nhớ ra nhà thơ Viêt Hải có phóng tác bài thơ "Homesick" của thi sĩ Hoa Kỳ Ella Goodwin qua đề tựa "Nhớ Nhà", bài thơ mang nhiều xúc cảm về tình tự quê hương như sau:

“Đêm nay sao bỗng nhớ nhà,
Nghe hồn tư lự thiết tha nữa kìa
Nhìn trăng ánh tỏa ngoài kia
Bên thềm cửa bếp lòng dìa bâng khuâng...

Ôi sao nhớ quá, lâng lâng
Ngập hồn nhung nhớ ngàn lần tình quê
Nhịp tim hơi thở tìm về
Quê xưa cảnh cũ tràn trề tâm can
Lủy tre khóm trúc đầu làng
Cho ta tìm lại giang san gọi mời
Bình minh tỏa sáng trên trời
Lệ tràn nhung nhớ một đời: Quê Hương.”

(“Nhớ Nhà”, Việt Hải)

Bất cứ dân tộc nào khi xa quê cũ họ sẽ ngậm ngùi, nỗi nhớ quê hương gặm nhấm tâm hồn hay nỗi lòng viễn xứ khiến con người phải trả bằng nước mắt nhớ thương:

“I'm homesick to-night, just homesick,
O! how I long once more
Just to sit as of old in the twilight
On the step of the old kitchen door...

I'm homesick to-night, O how homesick,
Never my tongue may tell,
Tho' my heart may break with longing
For the scenes that I love so well;
But the dear old home in the valley
Will be mine, O never again:
No more will its sunshine cheer me,
And wishes and tears are in vain.”

(“Homesick”, Ella Goodwin)

Và cũng vì nhớ nhà đến xúc động con tim nên nhà văn Tiểu Tử đã cho ra đời tác phẩm “Bài Ca Vọng Cổ” để nói lên nỗi lòng của mình đối với quê mẹ Việt nam, cũng giống như thi sĩ Lord Byron đã bày tỏ nỗi lòng đối với quê hương của ông ta vậy.

Ngay trong truyện ngắn “Bài Ca Vọng Cổ”, tình hoài hương như đã làm sống dậy, thức tỉnh hai người thuộc hai thế hệ khác nhau : một thuộc thế hệ bậc cha, một thuộc thế hệ bậc con. Cả hai người khi nghe “Bài Ca Vọng Cổ” đã xúc động con tim khiến một người phải đi tìm cho ra người đang ca bài Vọng cổ, và một người vì quằn quại nhớ nhà, nhớ mẹ nên đã thường xuyên ca bài Vọng Cổ để cho khuây khoả nỗi lòng. Đặc biệt là sự kiện này xảy ra giữa rừng núi Phi châu mới độc đáo!

Thật đúng là “ Tư tưởng lớn gặp nhau” .Tác giả đã quyết chí đi tìm người đang ca bài ca Vọng Cổ và cuối cùng họ đã gặp nhau rồi ôm nhau vào lòng mừng mừng tủi tủi, để rồi thằng “Jean le Vietnamien” đã buột miệng nói theo sự xúc động của con tim:

- Trời ơi!... Con mừng quá! Mừng quá! Trời ơi!...Bác biết không? Bao nhiêu năm nay con thèm gặp người Việt để nói chuyện cho đã. Bây giờ gặp bác, thiệt…con “ mừng hết lớn” bác à!

(Trong Bài ca vọng cổ, trang12)

Hay là đoạn văn sau đây cho ta thấy nhân vật “Jean le Vietnamien” đã nhớ nhà, nhớ quê hương, thèm được gặp một người Việt Nam đến quằn quại như thế nào:

“Bỗng hắn trợn mắt có vẻ vừa ngạc nhiên, vừa mừng rỡ, rồi bật ra bằng tiếng Việt, giọng đặc sệt miền Nam, chẳng có một chút lơ lớ:

-Trời ơi! Bác là người Việt nam hả !

Rồi hắn vỗ ngực:

-Con cũng là người Việt nam nè !

(Trong Bài ca vọng cổ, trang 11)

Bởi vậy khi ở quê người đất khách, chỉ cần một biểu tượng nho nhỏ nào đó có liên quan đến nền văn hóa dân tộc xuất hiện, cũng có thể làm cho tình hoài hương vùng dậy trong lòng người xa xứ bất chấp cả thời gian lẫn không gian. Vì vậy mà Bài Ca Vọng Cổ đã làm cho tác giả cũng như thằng “Jean le Vietnamien” đã nhớ nhà đến nỗi con tim của họ thổn thức triền miên. Bởi vì …

“Vọng cổ là cái chất của miền Nam mà bác. Nó không có lai Âu lai Á gì hết. Nó có cái hồn Việt nam cũng như cá kho tộ, tô canh chua. Bác thấy không? Bởi vậy không có gì làm con nhớ Việt nam bằng bài ca vọng cổ hết”.

(Trong Bài ca vọng cổ, trang 16)

Qua mấy câu văn thật mộc mạc, giản dị sau đây, ta thấy tác giả đã gói ghém tình hoài hương, nỗi nhớ nhà của mình bằng đoạn văn thật chân tình sau đây:

“ Tính ra, tôi bỏ xứ ra đi đã hai mươi bốn năm. Một phần tư thế kỷ! Trôi nổi đó đây với nhiều âu lo dằn vặt, thêm tuổi đời cứ chồng chất mãi lên…nên ký ức bị xói mòn theo năm tháng. Đến nỗi chuyện gì xảy ra hôm tuần rồi, hôm tháng trước…có khi không nhớ! Vậy mà hình ảnh của quê hương còn nằm nguyên đâu đó ở trong lòng, với những kỷ niệm vụn vặt của năm sáu chục năm về trước! Chỉ cần một chất xúc tác là nó bật lên rõ rệt, không thiếu một chi tiết, làm như mình đang sống trong đó mới hôm qua hôm kia…Tình yêu quê hương sao mà kỳ diệu như vậy được?”

(Trong Bài ca vọng cổ, trang22)

Không phải chỉ riêng trong truyện ngắn “Bài Ca Vọng Cổ”, mà bàng bạc trong nhiều truyện ngắn khác, ta thấy tác giả cũng luôn luôn đề cập đến tình hoài hương như canh cánh mãi bên lòng:

“Khi hắn buông tôi ra, tôi thấy hai má hắn ướt nước mắt. Tôi vội quay đi, lầm lủi bước nhanh về nhà ga mà nghĩ thương thằng “Jean le Vietnamien”, hồi nãy nó ôm tôi, có lẽ nó đã tưởng tượng như là nó đang ôm lại được một góc trời quê mẹ”

(Trong Bài ca vọng cổ)

Hay là:

“…cái quê hương đã mấy chục năm xa cách, cái quê hương mà ở đó ông không còn ai để nhớ, nhưng ông còn quá nhiều thứ để nhớ. Những thứ cũng mang dấu ấn “ Made in Viet nam”, từ con trâu cái cày, từ mảnh ruộng vườn rau, từ hàng cau rặng dừa, từ con đường đất đỏ đến con rạch nhỏ uốn khúc quanh quanh…Chao ơi! Bỗng nhiên sao mà nhớ thắt thẻo đến muốn trào nước mắt…”.

(Trong Made in Viet nam)

Rồi đoạn văn sau đây cũng cho ta thấy tình hoài hương vẫn làm cho tác giả xao xuyến mãi trong lòng:

“Từ bao lâu nay, người tỵ nạn chỉ nhờ tôi dạy Anh văn và Pháp văn. Đây là lần đầu tiên trong đời lưu vong tôi được người nhờ dạy quốc ngữ. Lại là một cô gái nhỏ, và cô muốn học chỉ để viết thơ về cho cha cô ở Việt nam! Giản dị như vậy. Vậy mà sao tôi có cảm tưởng như tôi vừa được nhắc tới quê hương, nhắc bằng chữ i chữ tờ…Và được thấy lại một nét quê hương qua hình ảnh người con muốn viết thơ về cho cha vì vẫn không muốn cắt lìa cuống rún!”.

(Trong Con Mén)

Vì nhớ quê hương, vì thương quê mẹ, cho nên khi thấy người nào có những cử chỉ hay ngôn ngữ hoặc những biểu tượng đi ngược lại nền văn hoá dân tộc, tác giả cảm thấy trong lòng buồn vời vợi. Chẳng hạn như tác giả có một người bạn thân từ thưở nhỏ còn ở tại quê nhà, nhưng sau thời gian sống lưu vong ở đất khách quê người lại viết thư hồi âm cho tác giả bằng tiếng Pháp làm tác giả tỏ ra phật lòng và khinh người bạn thân này ra mặt .

Đọc đoạn văn sau đây ta thấy rõ được sự bất mãn của tác giả đối với người bạn cũ ngày trước:

“ Mười ngày sau, tôi nhận được lá thư hồi âm của nó. Thư đánh máy và bằng tiếng Pháp.

Tôi cảm thấy thật hụt hẫng. Tôi đâu có dè nó “mất gốc” đến độ như vậy ! Tôi chỉ còn nhìn ra được thằng bạn tôi ở cái chữ ký, còn lại là một thằng tây nào đó chớ không phải một thằngViệt nam ! Tôi chua xót, nhưng cũng ráng đọc cho hết bức thư trước khi thả nó rơi vào sọt rác. Tình bạn mà tôi đã dành cho nó từ thời tuổi nhỏ chắc cũng đã rơi theo vào sọt rác , nghe nhẹ như hơi thở dài…”

(Trong Chuyện chẳng có gì hết, trang 36)

Vì vậy khi thấy người nào phát huy hay cổ xuý những biểu tượng đi ngược lại với tập quán của dân tộc tác giả thường hay khuyên bảo hãy ngưng lại, không nên tiếp tục làm nữa. Trong truyện “Made in Việt nam”, đoạn văn sau đây cho ta thấy được điều ấy qua nhân vật “Bác sĩ châm cứu”:

“ Bác sĩ nói:

-Mình là người Việt nam, ăn mặc theo “punk” không hạp với con người với bản chất của mình chút nào hết. Cô đâu có xấu mà cô làm cho xấu đi, uổng lắm! Mình phải xứng đáng là Made in Viet nam, chớ cô.”

(Trong Made in Viet nam, trang 150)

Nhưng rồi lắm lúc tác giả tự hỏi không biết đồng hương lưu vong có ai nhớ lại rằng mình chính là người Việt nam không, hay đã lai căng mất gốc. Chính điểm này mà tác giả đã để cho nhân vật “Bác sĩ Lê”bày tỏ tâm trạng của tác giả trong đoạn văn sau đây:

“ Bỗng ông quay sang hỏi tôi mà nghe như ổng tự hỏi ổng:

-Không biết ở xứ Mỹ nầy, đồng hương lưu vong, có ai lâu lâu nhớ lại rằng mình “ Made in Vietnam”, không?

-Có chớ anh! Nhưng cũng có người chẳng những không nhớ mà còn tự đóng cho mình con dấu “Made in USA” nữa, anh à. Thứ đó bây giờ thấy cũng nhiều!

Tôi đưa tách lên môi uống ngụm cà phê cuối cùng, bỗng nghe cà phê sao mà thật đắng…”

(Trong Made in Vietnam, trang152)

Nói chung, trong tác phẩm “Bài Ca Vọng Cổ”, tác giả như cố ý chỉ nhắm vào ý chính là tình hoài hương. Tác giả như muốn bày tỏ nỗi lòng khắc khoải sầu thương, nỗi lòng quằn quại vì nhớ nhung chất ngất của mình đối với quê nhà yêu dấu khi đã xa quê nhà biền biệt mấy mươi năm trời. Thế nên những hình ảnh mang những biểu tượng của quê hương cứ mãi mãi hiện về trong trí của tác giả như đồng lúa chín, luỹ tre xanh, con sông nhỏ, buổi chợ chiều, con trâu cày, cây đa đầu làng, khói lam chiều sau mái nhà tranhvv….Vì thế khi chúng ta đang ở tại quê người đất khách, bất chợt nghe ai hát bản nhạc “Tình hoài hương” của nhạc sĩ Phạm Duy , lòng ta không thể nào không nhớ quê nhà được .Nhân đây, chúng ta thử nghe lại bài ca “Tình hoài hương” để cùng tác giả Tiểu Tử thả hồn về quê nhà yêu dấu mà mấy mươi năm rồi đã quằn quại vì nhung nhớ triền miên:

“Quê hương tôi, có con sông dài xinh xắn
Nước tuôn trên đồng vuông vắn
Lúa thơm cho đủ hai mùa
Dân trong làng trời về khuya vẳng tiếng lúa đê mê.
Quê hương tôi có con sông đào ngây ngất
Lúc tan chợ chiều xa tắp
Bóng nâu trên đường bước dồn
Lửa bếp nồng, vòm tre non, làn khói ấm hương thôn!
Ai về, về có nhớ, nhớ cô mình chăng?
Tôi về, về tôi nhớ hàm răng cô mình cười ơ ơ ớ!
Ai về mua lấy miệng cười
Để riêng tôi mua lại mảnh đời, thơ ngây thơ ơ ớ ơ ơ ờ!

Quê hương ơi! Bóng đa ôm đàn em bé
Nắng trưa im lìm trong lá
Những con trâu lành trên đồi
Nằm mộng gì? Chờ nghe tôi thổi khúc sáo chơi vơi.
Quê hương ơi! Tóc sương mẹ già yêu dấu
Tiếng ru nỗi niềm thơ ấu
Cánh tay êm tựa mái đầu
Ôi bóng hình từ bao lâu còn ghi mãi sắc mầu!

Tình hoài hương!
Khói lam vương tâm hồn chìm xuống
Chiều soay hương!
Sống vui trong mối tình muôn đường.
Tình ngàn phương!
Biết yêu nhau như lòng đại dương
Người phiêu lãng!
Nước mắt có về miền quê lai láng
Xa quê hương! Yêu quê hương... quê hương ấy!”

Riêng lời văn trong tác phẩm “Bài Ca Vọng Cổ”, ta thấy tác giả viết những câu văn thật dí dỏm, hài hước, thật bình dị, tự nhiên, không cầu kỳ mà thật sâu sắc và đầy ý nghiã.

Lời văn của tác giả gần giống như lối hành văn của nhà văn Nam bộ Hồ biểu Chánh trong tác phẩm “Ngọn Cỏ Gió Đùa” vậy.

Sau đây , ta thử nêu lên một vài đoạn để thấy rõ tính cách bình dị và tự nhiên trong lối hành văn của tác giả:

“ Hắn cầm ống quẹt vừa lật qua lật lại vừa nhìn một cách trìu mến :

-Của ông ngoại con cho đó! Ông cho hồi ổng còn sống lận.”

(Trong Bài ca vọng cổ, trang13)

Hay là câu:

“ Hôm nay trời tốt đó chứ, nhưng sao chẳng thấy ai đi”

(Trong Đá mòn nhưng dạ chẵng mòn, trang20)

Hoặc là câu sau đây:

“ Lần đầu tiên viết chuyện tình, chọn cái gì dễ dễ để viết cho nó…trơn”

(Trong Viết một chuyện tình, trang 231)

Hay là câu:

“Một bà già bán xôi thấy bọc ni lông dây thun con Mén nhét tòn ten ở lưng quần, bèn hỏi: “ Dây thun đâu nhiều vậy cháu?”. Nó trả lời là dây thun của nó. Bà ta cười hiền hoà: “Vậy hà. Chớ cháu có bán dây thun hôn, bà mua cho. Để cột mấy bọc xôi ý mà”

(Trong Con Mén, trang199)

Cũng cùng một lối hành văn thật tự nhiên qua câu sau đây:

“ - Khỏi lo! Tau ăn rồi. Để tau têm miếng trầu rồi tau với mấy đứa nhỏ soạn đồ ra coi có hư bể gì không cái đã”.

Hoặc là câu:

“Thiệt…không biết cái xứ gì mà ăn rồi cứ đi ra đi vô, hổng làm gì ráo”.

Tóm lại, qua tác phẩm “Bài Ca Vọng Cổ”, ta thấy nhà văn Tiểu Tử Võ thành Nam muốn gởi gắm tâm sự tình hoài hương của mình vào trong tác phẩm và khuyên một số người đừng bao giờ quên quê mẹ Việt nam dấu yêu vì đang thụ hưởng được nền văn minh vật chất ở đất khách quê người.

Dương viết Điền
California, một ngày cuối thu
Image

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Paris Hilton bị tù đến 45 ngày…
May 04, 2007
Cuộc sống “tốc độ cao” của người đẹp Paris Hilton có thể phải chậm lại rất mạnh trong thời gian sắp tới. Thứ sáu 4/5 cô phải ra tòa về tội đã vi phạm luật tha có điều kiện và các quan tòa công tố đề nghị mức án là 45 ngày tù giam cho cô.

Các quan tòa này còn muốn Hilton không được rượu chè trong vòng 90 ngày, phải đeo thiết bị đặc biệt để cảnh sát biết cô đang ở đâu và bằng lái xe của cô sẽ bị treo thêm 4 tháng.

Trưởng công tố Rocky Delgadillo nóí: “Bất cứ ai có hành vi như thế chúng tôi đều ra án phạt là 45 ngày tù giam, bất luận người đó là công dân bình thường hay một siêu sao cũng thế.”

Ngoài ra Hilton còn phải đóng tiền phạt 1,000 đô la. Năm nay 26 tuổi, cô đào danh tiếng này thật ra có thể bị mức tù giam tới 90 ngày. Tháng 9 năm ngoáí Hilton đã bị bắt ở Hollywood về tội say rượu lái xe.

Khi đó Hilton bị phạt 36 tháng tù treo, phải đi học về cay nghiện rượu và bị phạt 1,500 đô la. Tháng 1/2007 Hilton lại bị cảnh sát bắt vì tội lái xe với bằng lái đã bị treo, và cuối tháng 2 cùng năm thì Hilton lại bị bắt lần này là vi phạm luật về tù treo.

Chẳng những lái xe nhanh, Hilton còn không chịu mở đèn khi trời đã sụp tối, cảnh sát Los Angeles cho hay như thế. Ngoài ra người ta còn khám Paris Hilton chẳng có theo học khóa cai rượu nào cả.

Lê Lộc theo NBC News

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

NICOLE KIDMAN LO SỢ SẼ BỊ THẢM TỬ NHƯ DIANA


SYDNEY: Tài tử Nicole Kidman đã tập trung đối phó với những tay săn hình lì lợm khi thuê mướn một toán giám sát chuyên nghiệp lập chốt canh trên một chiếc xe van ở bên ngoài tòa biệt thự của cô ở Sydney. Toán này sẽ canh gác 24 giờ mỗi ngày.


Trong nỗ lực nhằm bảo vệ cho nữ tài tử hàng đầu của mình, công ty điện ảnh Fox Studio đã ra lệnh cho giới bảo vệ an ninh hãy ghi nhận bằng chứng về những hành vi bám sát của các tay săn hình, kể cả việc chụp hình những cá nhân đó và ghi âm các câu trao đổi của họ.
Toán an ninh sẽ túc trực trên một chiếc xe mini-van, có hai cửa sổ kiếng mờ, đậu bên ngoài tòa biệt thự ở Darling Point nhằm giám sát mọi cử động của các tay săn hình và giới phóng viên.
Người ta tin rằng biện pháp bảo vệ nghiem ngặt và đầy tốn kém này là một nỗ lực của cô Kidman và Fox Studios nhằm ngăn chận các tay săn hình cứ tiếp tục bám sát theo cô.
Các nguồn tin thân cận cho biết cô Kidman không muốn người ta bới móc đời sống riêng tư của cô hay việc cai nghiện mới đây của người chồng. Cô cũng đang lo sợ là mình có thể chết trong một tai nạn xe hơi nếu bị rượt đuổi bởi bọn săn hình.
Sự gia tăng bảo vệ an ninh diễn ra sau một trận chiến pháp lý của cô Kidman với người phóng viên nhiếp ảnh nổi tiếng Jamie Fawcett, người mà cô cáo buộc là đã bám theo sách nhiễu cô.
Fawcett bị truy tố vào năm 2005 về tội sở hữu một dụng cụ ghi âm trộm mà người ta khám phá ra trong một bụi rậm ở bên kia đường, trước nhà Kidman. Khi đó thì Kidman đã thành công trong việc xin một án lệnh của tòa, nội dung cấm Fawcett ghi âm lén. Tuy nhiên án lệnh này sau đó bị kháng cáo và tội danh của ông Fawcett bị tòa Thượng thẩm bác bỏ vì không đủ bằng chứng cho thấy Fawcett đã vi phạm đạo luật cấm xử dụng cụ nghe lén. Người ta tin rằng biện pháp an ninh nói trên là nhằm thu thập lai lịch những người chuyên bám sát theo cô, trong trường hợp xảy ra một tai nạn hay tư gia của cô bị gắn dụng cụ nghe trộm.
Trên chiếc xe van luôn luôn có hai nhân viên túc trực. Khi các tay phóng viên hay săn hình đến trước tòa nhà của Kidman thì một nhân viên sẽ bước ra khỏi xe van, chụp hình và yêu cầu những người đó cho biết tên.
Chiếc xe van sẽ túc trực suốt thời gian Kidman ở Úc để đóng cuốn phim mới nhất của đạo diễn Baz Luhrmann. Cuốn phim sẽ khởi quay vào tuần này và Kidman dự trù sẽ ở lại Úc suốt năm nay.
Mặc dù cô này có thể sống khép kín ở Mỹ mà không cần có sự bảo vệ an ninh nghiêm ngặt, nhưng tại Úc thì lại là chuyện khác. Kidman tiếp tục phải chống choị với Jamie Fawcett, người đã bám theo cô kể từ khi cô kết hôn với Tom Cruise.
Vào tháng Giêng vừa qua, cô phải cắt ngắn chuyến nghỉ mát ở vùng South Coast khi cô và Urban bị tay săn hình này bám sát không rời.

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Khúc Hát Ân Tình
Niềm Hy Vọng Kéo Dài 2 Thập Niên

Là một người cực kỳ đam mê thưởng thức các bộ môn giải trí có liên quan đến 2 chữ âm nhạc, nhưng thú thật, tôi là một trong nhóm người “ca không hay và đàn nghe cũng dở ẹc”! Chẳng những vậy, khi lớn lên, dù gần như đêm nào tôi cũng có mặt ở vũ trường hoặc phòng trà, nhưng với mục đích không phải để “nhảy đầm” mà chính là để bù khú với các em vũ nữ hoặc ca sĩ quen biết. Vì vậy, cho đến hôm nay, mỗi khi ra sàn khiêu vũ, tôi cũng chỉ nhảy những bước căn bản như một người mới học chớ không có “te... tiếc”, hay “phăng... phiếc” gì cả! Nói tóm lại, từ những ngày còn rất nhỏ, tôi đã tự biết rằng mình không có khiếu về âm nhạc hoặc nhảy nhót.

Tuy nhiên, không biết vì một yếu tố tâm lý đặc biệt hoặc vì một định mệnh lạ lùng nào, mà ngay từ những ngày còn rất ấu thơ, các sinh hoạt văn nghệ lại có sức ám ảnh đầu óc tôi một cách dị kỳ. Ngoài ra, cả đời tôi còn đã từng bị chi phối khá nặng nề bởi nhiều “em” có đời sống gắn liền với 2 chữ “sân khấu” hoặc “sân quay”! Họ chẳng những đã thờ ơ “đi qua đời tôi” mà có “em” còn tàn nhẫn dừng lại... giẫm nát hồn tôi! Điều đặc biệt nhất là tuy bị hành hạ tàn nhẫn như vậy nhưng tôi đã không hề oán hận mà vẫn cứ lăn xả vào những nơi nào có tiếng kèn giọng quyển dập dìu!

Một trong nhiều sinh hoạt văn nghệ đã từng ám ảnh đầu óc tôi lâu dài nhất là nhạc phẩm “Khúc Hát Ân Tình” với đoạn mở đầu như sau:
“Người từ (là) từ phương Bắc, đã qua dòng sông... sông dài, tìm đến phương này, một nhà thân ái. Ơi ...tình Bắc duyên Nam, là duyên... tình chung muôn đời... ta đắp xây”.

Tôi không còn nhớ rõ là đã nghe lần đầu tiên vào năm nào và do ca sĩ nào hát, nhưng vì nội dung của bài ca đó đã tạo cho người nghe hình ảnh của cuộc di cư ồ ạt với hơn một triệu người từ Bắc vô Nam nên tôi nghĩ là phải sau năm 1954 và qua làn sóng của “đài phát thanh Sài Gòn” chớ không phải “đài phát thanh Pháp Á”. Lần đó, qua tiếng nhạc và lời ca phát ra từ cái radio 5 đèn hiệu Philip, ánh mắt của Cha tôi chợt như mơ màng rồi bỗng trở thành nồng nàn khi hướng về phía Mẹ tôi đang ngồi đong đưa trên võng. Tuy chỉ mới lên 10 tuổi, nhưng vì thường được nghe “chuyện đời xưa” do Cha tôi kể trong những khi tôi đấm lưng Người nên tôi hiểu nguyên cớ của “ánh mắt mơ màng và nồng nàn” đó: Cha tôi đã tức khắc lên tàu hỏa rời Hà Nội vô Nam ngay từ sau buỗi lễ chính thức thành lập Việt Nam Quốc Dân Đảng vào năm 1925, để rồi sau đó, một cuộc “tình Bắc duyên Nam” đã nẩy nở vì quê ngoại tôi gốc ở Long Xuyên.

Kể từ sau lần đầu tiên nghe bài ca đó cho mãi đến tận những ngày gần “mất nước”, tôi đã nghe thêm hàng ngàn lần “Khúc Hát Ân Tình” trên cả hệ thống truyền thanh lẫn truyền hình, và lạ lùng... mỗi lần nghe là tôi lại chú ý thêm một đoạn kế tiếp và có thêm một niềm xúc cảm mới: “Gặp nàng, nàng là thôn nữ, mắt duyên cười say... môi hồng, tình thắm đôi lòng, mộng vàng chung bóng. Ơi... mạch đất dâng hương, là hương, cần lao chung đời... vai sánh vai”.

Mẹ tôi là con gái út trong một gia đình khá giả nên không là “thôn nữ”, nhưng môi của Mẹ tôi hồng, và mắt của Mẹ tôi rất say sưa mỗi khi Người nói hay nhìn về phía Cha tôi. Cho đến ngày làm chuyến vượt biên cuối cùng ra nghĩa trang Los Gatos để sang bên kia thế giới, Cha Mẹ tôi chưa một lần nằm ngủ riêng giường, và tôi cũng chưa từng một lần nào nghe hai Người to tiếng với nhau trước mặt con cái. Do đó, đối với anh em tôi, không còn câu hát hay câu nói nào đúng hơn để diễn tả cuộc sống “tình Bắc duyên Nam” của Cha Mẹ tôi bằng những chữ: “...tình thắm đôi lòng, mộng vàng chung bóng... cần lao chung đời... vai sánh vai...”.

Thú thật, khi lớn lên ra đời và vì thường hay mò mẫm vào các xóm đạo của người Bắc di cư, tôi cũng đã từng trải qua không phải chỉ một mà là nhiều cuộc “tình Bắc duyên Nam”. Nhưng tiếc thay, tôi đã không có cái may mắn như Cha tôi nên không được “cần lao chung đời... vai sánh vai...”! Nhiều lúc, nghe “Khúc Hát Ân Tình” rồi nhìn lại đời mình, tôi đã thầm ganh tỵ với mối “tình Bắc duyên Nam” tuyệt vời kéo dài hơn nửa thế kỷ của Cha Mẹ tôi.

Kế tiếp, theo với sự leo thang ngày một gay gắt của chiến tranh, có nhiều đêm... ngồi nhìn những trái hỏa châu treo lơ lửng trên nền trời ngoại ô đen như mực, rồi nghe lồng trong tiếng đại bác từ xa vọng về, tiếng hát của một nữ danh ca - qua nhạc bản “Khúc Hát Ân Tình” - vang ra từ cái radio transitor, nỗi bâng khuâng trong tôi chợt biến thành niềm hy vọng chứa chan về một... “ngày mai hạnh phúc, nơi nơi reo cười, quê hương thôi đau, sầu ngăn sông núi... cách chia. Ta đem yêu thương... về cho Phương Bắc...”.

Tôi đã hy vọng chứa chan về một ngày mai - khi niềm đau về một quê hương rách nát và nỗi sầu “đi cách sông về cách núi” không còn nữa - lúc ấy, trong khi tác giả bài hát cùng với nhiều người khác tưng bừng “đem yêu thương... về cho Phương Bắc...” -thì- tôi sẽ hân hoan và hiên ngang đem đàn con của mình về thăm quê nội, tức thành phố Hà Nội ngàn năm văn vật, một nơi mà tôi và đàn con của mình chỉ được nghe Cha tôi kể lại chứ chưa được thấy tận mắt bao giờ.

Sáng ngày 30 tháng Tư năm 1975 - niềm hy vọng kéo dài suốt 2 thập niên đó của tôi trở thành tuyệt vọng! Bạo quyền Hà Nội đã dập tắt... ước mơ của tác giả nhạc phẩm “Khúc Hát Ân Tình”... ước mơ của 3 thế hệ trong gia đình tôi... và ước mơ của hàng mấy chục triệu người dân miền Nam, một uớc mơ nhỏ bé nhưng đầy tình tự dân tộc là... “đem yêu thương... về cho Phương Bắc...”! Ngược lại - từ phương Bắc - họ đã đem thù hận, tù đày, tang thương, chia lìa, và chết chóc... về cho phương Nam! Niềm đau về một quê hương đã rách giờ càng thêm nát, và nỗi sầu “đi cách sông về cách núi” bỗng chốc trở thành xa cách cả một đại dương thăm thẳm nghìn trùng! Cha tôi là... người từ phương Bắc, đã qua dòng sông để có được mối “tình Bắc Duyên Nam” tuyệt diệu, rồi “xác tục ngàn năm lưu hải ngoại - hồn thiêng vạn dặm gửi non sông” (trích 2 câu thơ trước cổng nghĩa trang Los Gatos - California)! Còn tôi, thay vì đem đàn con về thăm quê nội như giấc mơ hằng ấp ủ mỗi khi nghe bài ca “Khúc Hát Ân Tình”, một sáng tàn Đông năm 1978, tôi xé lòng mình đem đàn con xuống ghe làm cuộc lưu vong hành vô hạn định!

Từ đó hoang đường nửa kiếp sau
Tha hương nghe gió thét mưa gào
Mỗi độ Xuân về tê tái lạnh
Mỗi Tết là nghe ngực trống đau...
(trích “Quà Tết” của Nguyên Thanh).

Những Nghệ Sĩ... Bị Đời Quên

Tôi không còn được nghe và dần quên bài ca “Khúc Hát Ân Tình” tuyệt vời đó kể từ buổi sáng thiên hôn địa ám 30 tháng Tư 1975 cho đến hết ngày hôm qua.

Sáng ngày 15/05/2006 - trong một chuyến xuôi Nam, khi đi uống cà phê với vài ca sĩ thân quen, tôi bỗng giật mình khi vô tình đọc thấy hàng chữ quen quen “Những Khúc Hát Ân Tình” trên một tờ bích chương quảng cáo văn nghệ dán trên tường. Thì ra đó là “Đại Nhạc Hội trực tiếp thu hình Paris by Night 83” sẽ diễn ra vào ngày thứ Bảy, 27 tháng 5 năm 2006 sắp tới đây tại hội trường Knott’s Berry Farm (Charles M. Schulz Theatre) trên đường Beach Blvd thuộc thành phố Buena Park - Nam Calfornia.

Đọc kỹ nội dung tờ bích chương quảng cáo nói trên, bao nhiêu hoài niệm cũ tưởng chừng đã hoàn toàn xóa mất trong tôi bỗng nhiên sống lại một cách mãnh liệt như một người vừa tìm lại được một báu vật thân yêu!

Viết đến đây, tôi xin dừng lại để nghiêng mình tạ lỗi với lão nhạc sĩ Xuân Tiên, tác giả của nhạc phẩm “Khúc Hát Ân Tình”, một bài ca như đã nói ở phần trên là “đã từng ám ảnh đầu óc tôi lâu dài nhất”. Tôi đã thưởng thức và tôi thuộc lòng từng chữ của bài ca đó từ những ngày còn thơ ấu. Tôi đã nhìn hạnh phúc của Cha Mẹ và gia đình tôi qua nội dung của bài ca đó. Tôi đã lớn lên và vui buồn qua từng giai đoạn trưởng thành theo với bài ca đó. Cuối cùng, tôi đã hy vọng để rồi tuyệt vọng cũng với bài ca đó qua từng vận nước thịnh suy! Nhưng tôi có lỗi vì, thú thật, tuy biết tên tác giả của bản nhạc nhưng ít khi nào tôi nhớ đến 2 chữ Xuân Tiên. Tôi tin rằng... không phải chỉ có mình tôi mà là dường như hầu hết khán thính giả - tệ nhất là kể cả một vài ca sĩ chuyên nghiệp - thường ít quan tâm đến tên tác giả của những tác phẩm mà mình hằng yêu thích hoặc ca hát lấy tiền! Có khi còn trớ trêu và bạc bẽo đến độ người đời chỉ nhớ tên của người ca sĩ đã thành danh qua một nhạc phẩm nào đó mà không buồn biết đến tên tác giả của nhạc phẩm đó!

Ngày hôm nay, qua tờ bích chương quảng cáo Đại Nhạc Hội trực tiếp thu hình Paris by Night 83, khi biết rằng sẽ có tiết mục “Vinh Danh” 3 nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 – Thanh Sơn – và Xuân Tiên, tôi mới chợt nhớ đến công lao và tên tuổi của người đã sáng tác ra một tác phẩm có liên quan đến niềm vui và nỗi buồn của cả đời tôi. Một lần nữa, tôi xin nghiêng mình tạ lỗi với lão nhạc sĩ Xuân Tiên, tác giả của gần hoặc hơn 200 nhạc phẩm, trong đó có nhiều bài bất hủ như Khúc Hát Ân Tình, Hận Đồ Bàn, Về Dưới Mái Nhà, Chờ Một Kiếp Mai...

Cách đây 2 tuần, tôi có viết một bài bút ký văn nghệ tựa đề “Âm Nhạc KHÔNG Biên Giới” và đã đăng trên báo và website Saigonusa News ở vùng Bắc Cali cùng nhiều tờ báo ở các địa phương khác. Trong bài viết nói trên, sau khi nhìn nét xúc động đến nghẹn ngào của lão nhạc sĩ 89 tuổi Lữ Liên khi tiếp nhận bảng “Vinh Danh” do ông Tô Văn Lai - Giám Đốc của Trung Tâm Thúy Nga - trao tặng trong DVD “Âm Nhạc KHÔNG Biên Giới”, ở phần kết luận, tôi có đề cập đến nỗi thiệt thòi và đời sống eo hẹp của giới nghệ sĩ sáng tác so với giới nghệ sĩ trình diễn. Đồng thời, tôi cũng có đưa ra đề nghị với các trung tâm văn nghệ có tầm vóc là... nếu có thật sự quý mến nhau thì xin hãy “Vinh Danh” nhau khi còn sống - vì... một trăm lời khen và một ngàn buổi lễ vinh danh cũng sẽ là quá muộn nếu chúng ta chỉ làm như những đứa con bất hiếu: Sống thời con chẳng cho ăn - đợi khi cha thác (mới) làm văn tế ruồi!

Qua nguồn tin từ vài ca sĩ của Trung Tâm Thúy Nga, tôi được biết rằng 2 nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 và Thanh Sơn đã đến thành phố Little Saigon từ Việt Nam. Tôi nhờ mấy ca sĩ đó thu xếp để tôi được gặp và mạn đàm thân mật với 2 nhạc sĩ nói trên trước khi tôi trở về lại vùng Bắc Cali. Riêng nhạc sĩ lão thành Xuân Tiên thì đến ngày 20 tháng 05 mới từ Úc qua tới Hoa Kỳ nên tôi đành đợi gặp trong ngày trình diễn Đại Nhạc Hội trực tiếp thu hình “Những Khúc Hát Ân Tình”.

Tối ngày 15/05/2006 - 2 nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 và Thanh Sơn bước vào nhà của một ca sĩ thuộc Trung Tâm Thúy Nga để gặp tôi với thái độ khá dè dặt. Tôi ngầm thông cảm rằng sự dè dặt đó phát xuất từ cung cách viết bài câu khách kém tự trọng của một số “nhà báo” rẻ tiền và vô lương tâm khiến cho người được phỏng vấn sau đó gặp nhiều khó khăn hệ lụy! Để đánh tan nỗi ám ảnh xấu xa đó, tôi mở lời cho 2 nhạc sĩ biết rằng đây là một buổi mạn đàm thân mật giữa một người mê nhạc với người nhạc sĩ sáng tác chớ không phải là một cuộc phỏng vấn “có phục kích”! Kế tiếp, tôi đưa bài bút ký tựa đề “Âm Nhạc KHÔNG Biên Giới” mà tôi đã viết trên báo Saigonusa News và mời 2 ông đọc trước để biết cung cách viết lách của tôi, rồi nếu không còn nghi ngại, cuộc mạn đàm sẽ tiếp theo sau. Tôi bước tránh ra ngoài hàng hiên hút thuốc để cho 2 nhạc sĩ được tự do đọc bài và trao đổi ý kiến với nhau thoải mái.


Image
Hai nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 và Thanh Sơn


Khi trở vào, tôi sững sờ ngạc nhiên trước nỗi xúc động còn hằn rõ nét trên gương mặt của 2 người nhạc sĩ cao niên! Nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 trước và nhạc sĩ Thanh Sơn tiếp theo, cả 2 đều bày tỏ ý kiến giống nhau là rất cảm kích về những bày tỏ của tôi trong bài viết về những điều kém may mắn mà giới nghệ sĩ sáng tác đã phải chịu đựng và... không nói nên lời! Riêng nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9, bằng giọng nói đầy xúc động, cho biết là... ông đã đến Hoa Kỳ trước đây 4 lần và có thể sẽ còn nhiều dịp khác nữa. Tuy nhiên, theo ông... lần đến Hoa Kỳ này có thể sẽ là lần quan trọng nhất trong đời sáng tác nhạc của ông vì... ông sẽ được đối diện và trực tiếp nói chuyện với một số lượng khán thính giả hải ngoại đông đúc qua 2 xuất diễn trong một hội trường rộng lớn sang trọng, và ông sẽ có dịp ngỏ lời cảm tạ đến những đồng hương đã từng nghe và yêu thích nhạc của ông. Ngoài ra, buỗi lễ “Vinh Danh” chính thức trên sân khấu có thu hình của một trung tâm âm nhạc hàng đầu hải ngoại là Trung Tâm Thúy Nga sẽ còn là một niềm hãnh diện... không chỉ riêng trong ngày hôm đó mà là sẽ được tồn tại lâu dài về sau qua cuốn băng DVD. Đồng thời, ông tiếp với giọng nói càng lúc càng xúc động... buỗi lễ “Vinh Danh” sắp tới cũng không phải chỉ đem vinh dự về cho riêng cá nhân ông mà các con cháu đời sau cùng thân bằng quyến thuộc của ông cũng sẽ được hưởng thơm lây!

Nhạc sĩ Thanh Sơn thì chậm rãi hơn và cũng rất xúc động. Ông nói: Giới nghệ sĩ sáng tác chúng tôi từ lâu đã đành phận chấp nhận sự kém may mắn khi so với giới nghệ sĩ trình diễn trên nhiều phương diện. Ngoài ra, việc tiếp xúc và được người đời biết về sự hiện hữu của mình trên đời này sau hơn 3 thập niên xa cách, còn được nhắc đến những gì mình đã đóng góp... quả tình là những việc rất hiếm hoi xảy ra! Do đó, buỗi lễ “vinh Danh” là một trong những việc làm hết sức quan trọng và cực kỳ cần thiết đối với giới nghệ sĩ sáng tác chúng tôi, nhất là khi tuổi đã xế chiều, nay ở mai đi không biết bất cứ lúc nào. Tuy nhiên, giống như một người đi hỏi mượn nợ cho người khác thì bao giờ cũng dễ hơn hỏi mượn nợ cho chính mình. Chúng tôi, với niềm tự trọng tối thiểu, không thể trơ trẽn mở miệng xin xỏ người khác “Vinh Danh” cho mình. Vì vậy, chúng tôi rất trân trọng hảo ý của Trung Tâm Thúy Nga, nhất là ông giám đốc Tô Văn Lai, người đã đích thân về tận Việt Nam để trình bày ý định “Vinh Danh” chúng tôi, rồi lo lắng mọi việc đưa chúng tôi sang đây. Đồng thời, chúng tôi cũng rất cảm kích khi thấy có những nhà văn nhà báo như anh đã hiểu, đã thông cảm, và đã nói giùm chúng tôi những điều mà chúng tôi không thể tự nói được.

Cuộc mạn đàm của chúng tôi càng lúc càng trở nên cởi mở và thân thiện hơn. Nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 kể cho tôi nghe một chuyện không biết nên khóc hay cười có liên quan đến bản quyền nhạc phẩm “Tình Yêu Đến Trong Giã Từ” mà ông đã sáng tác sau năm 1975. Một người học trò của ông đã mang nhạc phẩm đó ra hải ngoại rồi đưa cho vài ca sĩ (nổi tiếng) ở hải ngoại hát và thu băng với tên tác giả là... “nhạc ngoại quốc lời Việt”! Sau đó, nhiều ca sĩ (cũng nổi tiếng) khác đã thu băng nhạc phẩm đó cùng với nhiều nhạc phẩm của các tác giả khác. Điều đặc biệt là các nhạc phẩm khác thì có đề tên tác giả đầy đủ, chỉ trừ có nhạc phẩm “Tình Yêu Đến Trong Giã Từ” của ông thì... để trống không! Ông cũng nói thêm về lý do tại sao nhạc phẩm “Không 2” ra đời. Và nhiều chuyện vui buồn khác nữa...

Riêng nhạc sĩ Thanh Sơn thì tâm sự với tôi là ông đã phải gián đoạn ngưng sáng tác một khoảng thời gian dài hơn 15 năm. Mãi đến năm 1990 ông mới sáng tác trở lại. Nhạc của ông phần nhiều mang màu sắc học đường vì... ông là con nhà nghèo không được học hành tới nơi tới chốn nên lúc nào cũng tiếc nuối... tuổi học trò. Đọc tài liệu về ông và nói chuyện với ông, tôi hết sức ngạc nhiên là có một câu mở đầu trong một nhạc phẩm do ông sáng tác đã từng được tôi sử dụng nhiều lần trong khi viết báo để nói về những xáo trộn và đụng chạm trong cộng đồng vùng Bắc Cali vào mùa Hè tức là mùa có “Tháng Tư Đen”, có “Ngày Quân Lực”, và có nhiều lễ lạc khác. Nhạc phẩm đó là “Nỗi Buồn Hoa Phượng” và câu mà tôi “mượn tạm” để viết bài là “mỗi năm đến Hè lòng man mác buồn”. Điều đặc biệt là tôi không ngờ và hoàn toàn không biết tác giả của nhạc phẩm đó là người đang ngồi đối diện với tôi! Một lần nữa, tôi cảm thấy ngượng và có lỗi là đã quá thờ ơ một cách đáng trách rằng... trên đời còn có một số người làm văn hóa và làm vui cho đời nhưng lại bị đời bỏ quên! Những con người thiệt thòi vì bị đời bỏ quên đó chính là giới nghệ sĩ sáng tác!

Một điều đặc biệt khác nữa... không biết tại sao, từ bao nhiêu năm qua, tôi cứ ngỡ rằng nhạc phẩm “Mùa Hoa Anh Đào” của nhạc sĩ Thanh Sơn với 2 câu mở đầu “Mùa xuân sang có hoa Anh Đào - Màu hoa tôi trót yêu từ lâu” lại là tác phẩm của cố nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ? Dường như có thể vì cố nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ cũng có sáng tác nhiều nhạc phẩm mang âm điệu của xứ Phù Tang nên gây cho tôi một sự hiểu lầm kỳ cục và quá lâu như vậy!

Khi đọc đến danh sách một số tác phẩm do 2 ông sáng tác, tôi bàng hoàng kinh ngạc và thầm trách lấy mình vì có quá nhiều nhạc phẩm tôi đã được nghe các ca sĩ hát hàng mấy trăm lần trên sân khấu, qua làn sóng phát thanh hoặc truyền hình... từ những ngày còn trong nước cho tới khi ra hải ngoại, thế mà tôi đã hoàn toàn không biết những nhạc phẩm đó là tác phẩm của 2 người nhạc sĩ mà tôi đang mạn đàm! Thêm một lần nữa, tôi thấy tôi bất công và có lỗi quá nhiều với giới nghệ sĩ sáng tác!

Chúng tôi chia tay và hẹn sẽ gặp lại nhau trong ngày Đại Nhạc Hội trực tiếp thu hình Paris by Night 83 với chủ đề “Những Khúc Hát Ân Tình”. Tôi lên giường nằm nhưng không ngủ được vì cứ mãi suy tư...

Tôi đoán, chắc chắn Đại Nhạc Hội trực tiếp thu hình Paris by Night 83 sẽ là một chương trình văn nghệ cực kỳ phong phú gồm các bài bản hay nhất... một thời được ưa chuộng nhất... của 3 tác giả nổi danh và được trình bày bởi các giọng hát hàng đầu tại hải ngoại.

Đồng thời, qua tiết mục “Vinh Danh” cả 3 nhạc sĩ lớn - đã đóng góp rất nhiều cho kho tàng âm nhạc của miền Nam Việt Nam trước 1975 nói riêng, và nền văn hóa của dân tộc Việt Nam nói chung, trong cùng một show diễn, rõ ràng Trung Tâm THÚY NGA đang đẩy mạnh kế hoạch thực hiện những chương trình văn nghệ ngày một thêm đặc sắc, đa dạng, và quan trọng nhất là mang nhiều tính chất “Văn Hóa”.

Thật ra, đây không phải là lần đầu Trung Tâm Thúy Nga mới quan tâm tới giới sáng tác âm nhạc. Các nhạc sĩ Lam Phương, Tuấn Khanh, Nguyễn Hiền, Huỳnh Anh, Song Ngọc, Châu Kỳ, Vũ Thành An, Phạm Duy, Hoàng Thi Thơ, Văn Phụng, Từ Công Phụng, Ngô Thụy Miên, Tùng Giang, Quốc Dũng... và mới nhất là lão nghệ sĩ Lữ Liên 89 tuổi đều đã lần lượt được Trung Tâm Thúy Nga đưa lên sân khấu để “Vinh Danh” và làm DVD đặc biệt... không quá muộn màng. Tôi tin rằng giới nghệ sĩ sáng tác sẽ ghi nhận và cảm kích hành động mang đầy tính chất văn hóa và ân tình này của ban giám đốc Trung Tâm Thúy Nga.

Để kết thúc bài viết đã quá dài này, tôi mong ước sẽ được gặp quý độc giả trong Đại Nhạc Hội trực tiếp thu hình Paris by Night 83 với chủ đề “Những Khúc Hát Ân Tình”. Ở nơi đó, chúng ta sẽ cùng nhau có cơ hội nhìn tận mặt và nghe tận tai tâm sự của “những người nghệ sĩ... suýt bị đời quên”! Nhớ mang theo sẵn khăn tay hoặc giấy lau vì bảo đảm thế nào cũng có nhiều giọt lệ ân tình rơi ướt áo giai nhân.
Trân trọng.

NGƯỜI MÊ NHẠC

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

VIỆT NAM TRONG TRÁI TIM TRẦM TỬ THIÊNG:
-Trầm Tử Thiêng, người chép sử lưu vong bằng âm nhạc.

HUY PHƯƠNG, May 08, 2007


Một người đã sống một cuộc đời khắc khổ, đạm bạc pha đôi chút cô đơn, lúc ra đi bình thản, lặng lẽ nhưng đã để lại cho đời một kho tàng âm nhạc vĩ đại, vĩ đại không ở chỗ nhiều người nghe, nhiều người thuộc như các tác giả thời danh khác, mà ở ông tấm lòng của một người lưu lạc, luôn luôn tin tưởng vào đất nước một ngày mai. Nơi ông, suốt đời và nhất là những năm cuối cùng, hai chữ Việt Nam luôn luôn như một lời réo gọi chứa chan thương yêu ngọt ngào và đầy hy vọng.

Nguyễn Văn Lợi (tên thật của ông) ra đời tại quận Đại Lộc, Quảng Nam năm 1937, đã lớn lên và trải qua thời thơ ấu trong Liên Khu Năm Nam Ngãi, những năm tháng chiến tranh và ông đã hiểu thế nào là một đời sống trong chế độ Cộng Sản nhất là với tuổi ấu thơ. Khi mảnh đất này được tự do, ông vào Saigon theo học trường Sư Phạm Nam Việt và trở thành một thầy giáo, chăm sóc đám trẻ thơ của đất nước. Bản chất của ông cũng như nghề nghiệp đã đào tạo Trầm Tử Thiêng thành một người nhân hậu nhưng thẳng thắn, cương quyết đi đến tận cùng, nếu cần để tranh đấu cho lẽ phải.

Những ca khúc đầu tay cũng như những sáng tác trong thời gian bị động viên: “Mưa Trên Poncho”.”Đêm Di Hành”, “Quân Trường Vang Tiếng Gọi” đã đưa ông từ quân trường về Phòng Văn nghệ, Cục Tâm Lý Chiến, nơi ông có thể đành tất cả thời gian cho việc sáng tác và sinh hoạt âm nhạc của ông. Tuy ở trong một môi trường mà những ca khúc của ông có thể phổ biến mạnh mẽ trên thị trường để đem lại no ấm cho ông như các nhạc sĩ thời thượng vào lúc bấy giờ, Trầm Tử Thiêng đã chọn con đường đi của mình. Đó là Trầm Tử Thiêng, nhạc sĩ của thời đại với những nỗi buồn vui chung, không phải của riêng ai. “Đưa Em Vào Hạ”, “Chuyện Một Chiếc Cầu Đã Gãy”, “Hương Ca Vô Tận”, “Bài Vinh Thăng Cho Một Loài Chim”... là những ca khúc của một thời chinh chiến mà những người như Trầm Tử Thiêng đã sống và cảm nhận, trang trải với những âm thanh làm xúc động lòng người.

Nhạc của Trầm Tử Thiêng mang âm hưởng dân ca như những bài “Trộm Nhìn Nhau”, “Hương Ca Vô Tận”, “Đưa Em Vào Hạ”, “Cha Đàng Ngoài, Mẹ Đàng Trong”, và lời thì trau chuốt, ngọt ngào, trong nội dung, quê hương và tình yêu luôn luôn là những đề tài của nhạc ông. Vào thời bấy giờ, trong chiến tranh, nhạc ông đã có những ước mơ về hoà bình và những lời kêu gọi quên hận thù: “Ta gánh chung đau thương một trời, Nam Bắc ơi, yêu thương tình người”(Hoà Bình ơi! Việt Nam ơi!) hay:”Thù hằn anh em bỗng ngày mai, nhìn nhau gọi nhau thật đậm đà” (Kinh Khổ).

Năm 1990, Trầm Tử Thiêng được biệt phái trở lại ngành giáo dục và làm việc tại Trung Tâm Học Liệu, tại đây ông đã có cơ hội làm việc với các nhạc sĩ đàn anh như Hùng Lân, Lê Thương...và cho ra đời tuyển tập nhạc dành cho thiếu nhi “Hãy hát Lên Tuổi Thơ”.

Sau tháng 4 năm 1975, bản thân của Trầm Tử Thiêng hoà vào niềm đau chung của cả dân tộc, ông là một trong những người vượt biển, tù đày, bị lao động cưỡng bức trên nông trường. Đây là giai đoạn ông viết “ Tâm Ca Của Người Tù Vượt Biển”, “Hành Ca Trên Nông Trường Oan Nghiệt”, “Du Ca Trên Thành Phố Đỏ”...Bối cảnh những cuộc vượt biển, chia ly, chết chóc thể hiện trong: “Gởi Em Hành Lý”, “Người Ở Lại Đưa Đò. “Mẹ Hậu Giang”, “Trại Tỵ Nạn Galang”.

Mừơi năm sau biến cố điêu linh của đất nước, Trầm Tử Thiêng đến được bến bờ của Tự Do, “Mười Năm Yêu Em” mang ẩn dụ mười năm khao khát được thấy ánh sáng ý nghĩa của cuộc đời nhưng đồng thời cũng cùng với những đắng cay của nó. Trầm Tử Thiêng đã sống qua thời thơ ấu trong chiến tranh, lớn lên cùng chiến tranh và người nhạc sĩ này đã đi theo nhịp bước của những con người Việt Nam bình thường, khoác áo trận, ngã nghiêng vì vận nước, tù đày, xót xa cùng thân phận chung của những người vượt biển, bỏ nước ra đi.

Được đến bến bờ tự do dù là muộn màng, Trầm Tử Thiêng, người nghệ sĩ chân chính, không lo chuyện cơm áo mà thấy mình có bổn phận của con người nhớ đến con người. Trầm Tử Thiêng còn biết nhìn lại những trại cấm, đêm ngày đang vẳng tiếng kêu siết của những người đói tự do, đuổi người trở lại biển khơi hay trói người trả lại nơi khổ nhục mà nơi đó họ đã ra đi, trong chiến địch “cưỡng bức hồi hương” để viết nên “Nói Với Hồng Kông”, hay “Thà Chết Nơi Này”. Người nhạc sĩ đã thoát ra từ nỗi khổ đau của riêng mình, để hoà nhập trải lòng ra với những nỗi khổ đau của con người, đó là lúc ông nghĩ đến những đồng bào đang “mắc cạn” trên những hòn đảo trong Thái Bình Dương, mà giấc mơ nhìn thấy ánh sáng tự do tàn phai cùng năm tháng. Tấm lòng của Trầm Tử Thiêng lại giạt dào : “Ta Hát Tình Thương Về Biển Đông”!

Trong thời gian định cư tại quận Cam, Trần Tử Thiêng đã tham gia nhiều sinh hoạt cộng đồng như thành lập Thư Viện Việt Nam với du Miên, Trần Đức Lập..., làm cố vấn cho Tổng Hội Sinh Viên VN tại Nam Cali, cũng như góp một bàn tay vào phong trào vận động các gia đình Việt Nam khuyến khích con em học Việt Ngữ. “Vang Vang Tình Việt Nam” là một bài hát mà Trung Tâm Việt Ngữ nào ở Nam Cali cũng biết tới, với câu “tiếng quê người hoà chung tiếng mẹ ru.”

Trầm Tử Thiêng đóng góp cho phong trào du ca không phải là ít, nhất là từ khi ra hải ngoại, tuy ông không muốn đứng trong phong trào du ca, nhưng ông vẫn sáng tác đều và tham gia hoạt động du ca nối dài là “hát cộng đồng”, rất được giới trẻ tham gia, phong trào rất được phổ biến vào cuối thập niên 90 tại Hoa kỳ, nhất là vùng California, với những nhạc sĩ Ngô Mạnh Thu, Nhật Ngân, Nguyễn Đức Quang và Xuân Điềm về sau này.

Cho tới khi Trầm Tử Thiêng gặp được Trúc Hồ, con người sinh ra sau ông gần một thế hệ mà gần gũi như một người bạn tri kỷ. Cả hai cùng nhìn về những người bất hạnh hơn họ, nhìn về những đứa trẻ thơ thiếu may mắn hơn tuổi thơ của họ, sinh ra và lớn lên trong vòng rào kẽm gai của những trại tỵ nạn, không hề có tương lai. Xúc cảm, Trúc Hồ đã viết nên những dòng nhạc chan chứa yêu thương, và Trầm tử Thiêng đã diễn dạt bằng lời hát ngọt ngào, kêu gọi “Bên Em Đang Có Ta”. Đây không là một bản tình ca của một người, mà là bản tình ca nhân ái dành cho đồng loại. Cũng với tấm lòng đó, trước khi qua đời, Trầm Tử Thiêng muốn thành lập một “foundation” mang tên ca khúc “Bên Em Đang Có Ta” dành cho những em bé tỵ nạn đang còn bơ vơ trong các trại cấm. Ngày nay không còn những trẻ em sau hàng rào kẽm gai trong trại cấm tại các hòn đảo trên Thái Bình Dương, nhưng tại quê nhà vẫn còn nhiều trẻ em nghèo đói, thất học, lam lũ giữ chợ đời, trên đường phố để kiếm miếng cơm, thì quỹ “Bên Em Đang Có Ta” vẫn còn nghĩa vụ hướng về các em bé bất hạnh tại Việt Nam.

“Có Tin Vui Giữa Giờ Tuyệt Vọng” nói lên giai đoạn “cưỡng bách hồi hương” đã chấm dứt, khi đồng bào đã tìm được đất dung thân trên đất Phi, và đó cũng là lời tiên tri cho những năm tháng sau cùng, nhờ sự vận động của Luật sư Trịnh Hội và các tổ chức thiện nguyện ở hải ngoại tiếp tay cứu vớt họ đến bến bờ tự do.

Đánh dấu 20 năm bỏ nước ra đi của người Việt tỵ nạn, trung tâm Asia đã thực hiện chương trình “1975-1995” như một tác phẩm đánh dấu nỗi gian nguy, ghi nhớ những người đã khuất cũng như ngỏ lời cám ơn những bàn tay rộng lượng khắp năm châu đã dang tay đón nhận những người tỵ nạn. Đó là “Bước Chân Việt Nam”, do Trầm Tử Thiêng và Trúc Hồ viết chung, như một bản quốc ca cho những người Việt Nam thống khổ, lưu vong. Trong niềm tin tất yếu vào tương lai, người nghệ sĩ khẳng định về một ngày mai của đất nước, một ngày mai có tự do, dân chủ và nhân quyền, “Một Ngày Việt Nam” hợp soạn giữa hai nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng & Trúc Hồ chính là nỗi mơ ước ấy. Chính chúng ta, những người Việt lưu vong sẽ bước trở về theo nhịp bước đồng hành reo vui của “Một Ngày Việt Nam”như nỗi ước mơ của bao người, thế hệ này không thành thì hy vọng đến đời sau.

Về phương diện chính trị, nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng có thái độ đứt khoát, như lời thổ lộ với bạn bè: “Sẽ về Việt Nam nhưng về với tư cách nào?”. Nhìn lại toàn bộ nhạc phẩm của nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng, chúng ta thấy con người của ông hình như sinh ra để sống và viết cho người khác hơn là cho cõi riêng tư của ông, và nếu có thì cõi riêng tư đó cũng mang niềm vui hay đau xót chung của cả dân tộc. Từ một bài hát từ quân trường của ngày nhập ngũ đến ca khúc bát ngát tấm lòng nhân ái đối với con người và đất nước, Trầm Tử Thiêng đã đi hết con đường trong gai góc của chiến tranh, tù đày, vượt biển và lưu vong, cho nên có thể nói toàn bộ nhạc phẩm của người nhạc sĩ này phản ánh đời sống và tâm trạng của một con người Việt Nam lưu vong.

Trầm Tử Thiêng ra đi vào ngày 25 tháng 1 năm 2000 sau một thời gian chữa bệnh nan y theo cách riêng của ông và đã chết vì kiệt lực khi mỗi ngày chỉ nhấp vài giọt nước. Trước đó, năm 1972 Trầm Tử Thiêng đã viết bài “Tưởng Niệm” như một định mệnh. Ông viết bài “Hẹn Nhau Năm 2000”, nhưng đầu năm ấy, ông đã bỏ bạn bè ra đi quá sớm.

Trầm Tử Thiêng chết không trẻ, giữa lúc ông đã đến tuổi 64, nhưng hình như nơi ông, chúng ta tìm thấy hình ảnh một ông thầy giáo khắc khổ, sống đạm bạc và cô đơn cho tới lúc cuối đời, hơn là một người nghệ sĩ nổi tiếng hiện diện giữa đám đông hay dưới ánh đèn sân khấu. Trầm Tử Thiêng ít bộc lộ cuộc đời riêng của ông, những mối tình ít người biết cũng như cả bệnh tật ông mang vào những ngày cận tử. Nhưng dưới mắt bạn bè, Trầm Tử Thiêng là một người đạo đức nhân hậu, rộng rãi và thẳng thắn, tuy đôi khi nóng nảy. Anh cũng được tiếng là người trọng nghĩa khinh tài.

Trầm Tử Thiêng ra đi là một niềm mất mát lớn, trong phạm vi nhỏ là với những trung tâm băng nhạc ông đã cộng tác, mà nhất là Asia, nơi mà Trầm Tử Thiêng và Trúc Hồ đã chung sức và tâm huyết viết nên những ca khúc để đời. Nếu mai sau, dất nước không còn Cộng Sản, không còn thù hận, đố kỵ giữa con người chung một quê hương, thì những bản nhạc của riêng ông hay viết chung với Trúc Hồ là những bản nhạc mang tính chất lịch sử, phải được đời sau nhắc nhở.

Có thể nói, Trầm Tử Thiêng chết đi cho đến giờ này, bảy tám năm sau, cho tới giờ này, hải ngoại vẫn chưa ai có thể thay thế ông. Bảy năm, người bạn vong niên của ông, Trúc Hồ như mất nguồn cảm hứng, nếu không nói như Bá Nha đập vỡ cây đàn khi Tử Kỳ không còn nữa, đó là điều mà người đời gọi là tri âm, tri kỷ.

Ông không còn sống để chờ những “tin vui giữa giờ tuyệt vọng”, nhưng ông đã trao lại cho thế hệ trẻ tuổi niềm tin vào một buổi sáng bình minh của đất nước, để chúng ta có thể trở về như lời tiên tri của ông:“người về một giờ một đông hơn!”trong bài “Kinh Khổ”.

30/4/2007

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Bế mạc ÐHÐA Visual Communications:
" Dòng Máu Anh Hùng " đoạt giải lớn

Friday, May 11, 2007


LOS ANGELES, California (NV) - Trong đêm bế mạc Visual Communications Film Festival tại Los Angeles hôm 10 Tháng Năm, ban giám khảo đã trao giải Grand Jury Award cho phim “Dòng Máu Anh Hùng”/“The Rebel.” Một diễn viên gốc Việt, David Huỳnh, đoạt giải nam diễn viên cho vai diễn trong phim “Baby.”

Diễn viên người Mỹ gốc Việt David Huỳnh đoạt giải diễn xuất cho vai chính trong phim “Baby” của đạo diễn Juwan Chung. Nhân vật của David Huỳnh được gọi tên Baby là vì nhỏ nhất trong đám băng đảng: Mẹ mất, cha nghiện rượu, Baby bị dính vào băng đảng sống ngay trong nhà hàng xóm với toàn những kẻ lớn hơn mình. Bắn chết người, Baby bị đi tù 6 năm, và đến lúc ra thì phải đối diện với một tương lai cũng vẫn đen tối như cũ.

David Huỳnh đã không đến dự buổi lễ, diễn ra vào một tối Thứ Năm, nên đạo diễn Juwan Chung đã thay mặt nhận giải.

Một thành viên ban giám khảo, khi trao giải cho phim “Dòng Máu Anh Hùng,” so sánh cuốn phim của đạo diễn Charlie Nguyễn với những tác phẩm khác của Á Châu: “Cuốn phim quy mô và vĩ đại, như Trương Nghệ Mưu, mà vẫn thân mật gần gũi, như Vương Gia Vệ.”

Phản ứng với giải Grand Jury Award, giám đốc sản xuất Tawny Trúc Nguyễn thích thú, “Hay quá! Hay quá!”

Một lúc sau, Tawny Nguyễn nói thêm với báo Người Việt, “Ðây là một giải thưởng rất có ý nghĩa vì nó chứng minh là cuốn phim không những hấp dẫn với cộng đồng Việt Nam mà còn vươn tới các cộng đồng khác nữa. Giải thưởng này đánh dấu mốc thành công kế tiếp đối với đoàn làm phim.”

Ðạo diễn Charlie Nguyễn cho báo Người Việt biết, “Tôi thật bất ngờ khi được giải. Tôi không hề nghĩ phim ‘Dòng Máu Anh Hùng’ sẽ thắng. Cũng tại Visual Communications có chiếu những phim tầm cỡ khác, như 'Invisible Waves' của đạo diễn Pen-ek Ratanaruang người Thái Lan, là một đạo diễn tôi rất ngưỡng mộ. Một đạo diễn khác tôi cũng rất thích là đạo diễn Lou Ye cũng có phim 'Summer Palace' chiếu tại đây. Nên tôi không hề ngờ là sẽ đoạt giải cho tới khi người ta kêu tên 'The Rebel' trên sân khấu.”

Phim “Dòng Máu Anh Hùng” được thực hiện tại Việt Nam với phần nhân sự cũng như vốn đầu tư đến từ cả hải ngoại lẫn trong nước. Phim lấy bối cảnh Ðông Dương năm 1922, với Dustin Nguyễn trong vai Sỹ, một kẻ làm mật thám cho Pháp; Ngô Thanh Vân trong vai Thúy, một nữ nghĩa quân và con gái người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa; Johnny Trí Nguyễn trong vai Cường, một mật thám bỏ tà theo chánh; và ca sĩ Nguyễn Thắng trong vai mật thám Danh.

Bắt được Thúy, hai mật thám Sỹ và Danh hy vọng dùng người tù này để bắt vị thủ lãnh, nhưng Cường lại muốn cô ta dẫn mình về với nghĩa quân. Ba viên mật thám và một nữ tù dẫn khán giả đi qua một cuộc phiêu lưu đầy mạo hiểm, và rất nhiều pha đấm đá ngoạn mục.

Tính ra, phim “Dòng Máu Anh Hùng”/“The Rebel” đi dự hai đại hội điện ảnh thì đều đoạt giải tại cả hai. Trước đây, khi chiếu ra mắt thế giới world-premiere tại ÐHÐA Việt Nam Quốc Tế (ViFF) ở Irvine, phim “Dòng Máu Anh Hùng” đã được khán giả, hầu hết là người Việt tại Quận Cam, bỏ phiếu chọn và đoạt giải Khán Giả Bình Chọn.

So sánh giữa những lần chiếu trước đây, đạo diễn Charlie Nguyễn cho biết, “ÐHÐA Visual Communications có không khí náo nhiệt, hào hứng, hơn 3 lần ra mắt trước. Còn ViFF thì có không khí thân mật, ấm áp nhất.”

Phim “Dòng Máu Anh Hùng” cũng là phim được chọn chiếu bế mạc. Năm nay là kỳ thứ 23 của ÐHÐA Visual Communications, được xem là một ÐHÐA hàng đầu trong các ÐHÐA chủ đề người Á Châu trên nước Mỹ cũng như trên thế giới. Nhiều nhà làm phim gốc Á đã có những tác phẩm trình làng lần đầu tiên là tại ÐHÐA này. (HNV)

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

DVD "Bước Chân Việt Nam " bị cấm lưu hành ở VN

Hướng về Quê Hương trong mùa Tháng Tư năm nay ,Trung tâm Asia đã bằng tất cả tấm lòng để thực hiện DVD 54 với chủ đề "BƯỚC CHÂN VIỆT NAM " Trầm tử Thiêng - Trúc Hồ.
DVD này đã được phát hành trên Toàn thế giới ,và đã về tới VN bằng những DVD sang lậu .
Cuối tuần vừa qua , trên tờ báo Công An thành phố Sàigon đã lên án DVD này. Tác giả bài viết đã tố cáo 2 MC Việt Dzũng và Nam Lộc đã dùng đòn Tâm lý Chiến để kiếm tiền cho Trung tâm Asia . Ngoài việc tố cáo 2 MC nói trên , bài báo còn tố cáo một số nam nữ Ca sĩ đã từng đứng trên sân khấu Sàigon như Ngọc Huyền , Y Phụng , Kim Tiểu Long ,Ngọc Lễ ,Phương Thảo sau khi ra Hải ngoại đã quay lại nói xấu chống phá Đảng và nhà nước.

Hiện giờ Sở Văn hóa thông tin Sàigon và Công An đang truy lùng những người buôn bán lậu DVD 54 này ,và ra thông cáo cấm mọi hình thức lưu hành DVD 54 .

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Ðạo diễn Michael Moore bị điều tra vì quay phim ở Cuba LOS ANGELES (AP) - Ðạo diễn Michael Moore từng được cả thế giới biết đến với bộ phim phê phán Tổng Thống Bush, “Farenheit 9/11”, đang là đối tượng bị điều tra bởi Bộ Ngân Khố Hoa Kỳ với cáo giác vi phạm điều luật cấm vận Cuba.

Moore đã đưa khoảng một chục nhân viên từng tham gia công tác cấp cứu sau vụ khủng bố tấn công New York đi qua Cuba để quay một đoạn trong “Sicko”, bộ phim tài liệu sắp được chiếu ra mắt ở đại hội điện ảnh Cannes ngày 19 Tháng Năm và tại các rạp ở Hoa Kỳ ngày 29 Tháng Sáu. “Sicko” có nội dung phê phán các đại công ty liên hệ đến ngành bảo hiểm y tế, theo lối như Moore đã đả kích việc dùng súng của dân Mỹ đưa đến những bạo hành như vụ thảm sát ở trường trung học Columbine, Colorado, năm 1999 - trong phim “Bowling for Columbine” - hay sự chỉ trích Tổng Thống Bush về cách đương đầu với nạn khủng bố - trong phim “Farenheit 9/11”.

Văn Phòng Kiểm Soát Tài Sản Ngoại Quốc (OFAC) thuộc Bộ Ngân Khố Hoa Kỳ trong một văn thư đề ngày 2 Tháng Năm năm 2007 gởi đến Moore cho biết đang tiến hành điều tra về việc có thể ông đã vi phạm điều khoản hạn chế đến Cuba trong đạo luật cấm vận nước cộng sản này. Thông tấn xã AP cho biết đã có được một bản sao văn thư này hôm Thứ Ba. Ông Dale Thompson, trưởng ban điều tra và công tác của OFAC, viết trong văn thư: “Chúng tôi không có hồ sơ nào chứng minh là ông đã được cấp một giấy phép cụ thể về công việc giao dịch làm ăn liên quan đến chuyến đi Cuba”.

Michael Francis Moore, 53 tuổi, là đạo diễn điện ảnh, nhà văn, người hoạt động xã hội và phê phán chính trị có quan điểm cấp tiến, nổi tiếng về những phát biểu chỉ trích mạnh mẽ. Ðề tại đả kích của ông bao gồm từ toàn cầu hóa đến các đại công ty tư bản, bạo hành trong sự sử dụng súng, chiến tranh Iraq, Tổng Thống George W. Bush cùng nhiều vấn đề xã hội quốc nội cũng như chính sách ngoại giao quốc tế của Hoa Kỳ và đồng minh.

Một đương sự cùng làm việc với Moore trong phim “Sicko” cho biết hồi Tháng Hai năm nay, Moore đã đưa 10 nhân viên cấp cứu vụ 9/11 đang đau yếu sang điều trị ở Cuba. Ðương sự yêu cầu đừng tiết lộ danh tánh vì các luật sư của Moore chưa quyết định sẽ giải quyết vụ việc ra sao sau khi Moore nhận được văn thư của Bộ Ngân Khố hôm Thứ Hai. Tuy nhiên đương sự này cũng tiết lộ là Moore đã xếp đặt để lưu trữ một sao bản “Sicko” ở nơi an toàn tại ngoại quốc, đề phòng việc can thiệp ngăn trở của chính quyền Hoa Kỳ.

Nữ Phát Ngôn Viên Lisa Cohen nói rằng Moore không có lời bình luận gì. Còn nữ Phát Ngôn Viên Molly Millerwise của Bộ Ngân Khố tuyên bố: “Chúng tôi không bình luận khi biện pháp còn đang tiến hành”.

Văn thư nói trên ghi nhận là ngày 12 Tháng Mười năm 2006 Moore có xin giấy phép đi Cuba căn cứ theo một điều khoản đặc biệt dành cho ký giả chuyên nghiệp, “nhưng OFAC chưa có quyết định gì”. Moore sẽ có hạn kỳ 20 ngày để cung cấp cho OFAC những tài liệu liên hệ đến cụ việc, bao gồm thời điểm đi Cuba, nơi khởi hành, mục tiêu chuyến đi và hành trình ở Cuba, tên tuổi cùng địa chỉ những người tháp tùng. Văn thư không đề ra biện pháp chế tài, có thể là tiền phạt, nếu được xác định là có sự vi phạm.

“Sicko” phê phán hệ thống bảo hiểm y tế ở Hoa Kỳ, đặc biệt nhắm vào các cơ sở y khoa và kỹ nghệ được phẩm. Ít nhất đã có 4 đại công ty dược phẩm - Pfizer, Eli Lilly & Company, AstraZeneca và GlaxoSmitKline - ra lệnh cho các nhân viên không được để cho Moore phỏng vấn bất cứ chuyện gì.

Những giới bất đồng quan điểm với Moore phê phán ông là bóp méo sự thật. Các người bảo thủ lên tiếng chỉ trích chuyến đi Cuba của Moore trong số đó có cựu Thượng Nghị Sĩ Cộng Hòa Fred Thompson, nhân vật có thể là ứng cử viên tổng thống. Ông nói: “Tôi không tin là Moore trình bày được sự thật về Cuba hay bảo hiểm y tế. Tôi bênh vực quyền của ông ta muốn làm gì thì làm, nhưng tài năng dối trá tinh ranh của ông thì mọi người đã hiểu quá rõ”.

Phim “Farenheit 9/11” đã gây ra một làn sóng tán thưởng cũng như phản đối mạnh mẽ. Ðại hội điện ảnh Cannes 2004 trao tặng giải “Palme d'Or”, phần thưởng cao nhất đã dành cho một phim tài liệu kể từ năm 1956, tuy nhiên sau đó ở Hoa Kỳ phim không được đề cử giải Oscar. Do sự tế nhị về chính trị, Walt Disney Co. từ chối việc phát hành phim, nhưng các giám đốc phân bộ Miramax của công ty là Harvey và Bob Weinstein quyết định tự phân phối trong hệ thống. Trên mặt tài chánh “Farenheit 9/11” đã là bộ phim tài liệu có thu nhập cao nhất từ trước đến nay, khoảng $200 triệu toàn thế giới trong số đó $120 triệu tại Hoa Kỳ.

Harvey và Bob Weinstein hiện giờ đã rời khỏi Miramax và thành lập Weinstein Co. và sẽ phát hành phim “Sicko”. Nữ Phát Ngôn Viên Sarah Levinson Rothman của công ty từ chối đưa ra lời bình luận về cuộc điều tra của Bộ Ngân Khố.

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Asia 54 Dĩa số 2


Dĩa số 2 phần nói về "Nghĩa Trang Quân Đội" tự nhiên ASIA xen vào "Nghĩa Trang TP HCM" cái này là cố tình của người làm edit video , tui nghi quá , TT ASIA bị "nội gián"?

Tại sao lại cố tình làm như vậy?

Con đường dẫn vào "Nghĩa Trang TP HCM" trải nhựa đoàng hoàng , còn trong video mập mờ con đường đất để đánh lận con đen với "Nghĩa Trang Quân Đội ".

Coi đoạn video này thật bực mình.

Chưa thấy ai đặt vấn đề này với TT ASIA ?


Image



Image

Post Reply