« Mẹ già như chuối ba hương
Như xôi nếp một như đường mía lau
Mẹ như bể rộng trời cao
Ngọt dòng suối mát sáng sao chín tầng. »
(Dáng mẹ hiền - Việt Hải)
Tình mẹ là biểu tượng thiêng liêng cao đẹp nhất, truyền thống thờ mẹ kính cha đã in sâu vào tâm hồn của người dân Việt và văn hóa dân tộc Việt Nam. Người dân Tây phương có ngày lễ Hiền Mẫu, tổ chức vào ngày chủ nhật thứ hai của tháng 5 dương lịch…Cũng như người dân Việt Nam có ngày lễ Vu Lan để tỏ lòng kính yêu người thân mến nhất trên đời, tức là người Mẹ của chúng ta.
Mẹ là tất cả, là những gi ngọt ngào và trân quý nhất …Từ lúc cất tiếng khóc oa oa chào đời đến lúc thân xác trở về với cát bụi, không ai có liên hệ mật thiết và dịu dàng với ta cho bằng Mẹ. Không ai yêu thương và chăm sóc ta cho bằng Mẹ. Mẹ cưu mang ta chín tháng mười ngày, mang nặng đẻ đau, nâng niu bú mớm vỗ về yêu thương…
Gió mùa thu mẹ ru con ngủ
Năm canh chày thức đủ năm canh
Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa
Miệng nhai cơm búng lưỡi lừa cá xương
Ca Dao Việt Nam
Mẹ vui với niềm vui của con thơ, đau đứt cả ruột gan mỗi khi chăm sóc con trẻ ốm đau, Người vui trong cái vui nhỏ bé nhất, đau khổ trong cái khổ đau lớn nhất …Suốt cuộc đời, đời mẹ đã gắn liền với đời con…Mẹ là dòng suối trong, là bóng mát dịu êm che chở và nuôi nấng ta lớn khôn, là chốn ta tựa nương tháng năm… Chỉ có trong vòng tay yêu thương của mẹ ta mới cảm thấy đầy đủ, ấm áp, thấm nhuần chất ngọt của tình mẹ, thơm nồng nàn như "chuối ba hương", dịu như "xôi nếp một" và đậm đà ngọt lịm như "đường mía lau". Mẹ, Mẹ là lọn miá ngọt ngào
Mẹ, Mẹ là nải chuối buồng cau
Là tiếng dế đêm thâu
Là nắng ấm mương dâu
Là vốn liếng yêu thương cho cuộc đời…
(Bông hồng cài áo- Thích Nhất Hạnh)
Mẹ là tình thương . Tình mẹ là nguyên thủy , là cội nguồn của mọi tình cảm thương yêu. Như dòng nước trong nguồn chảy ra, tình mẹ là bất tận. Mẹ yêu thương con, vô bến bờ, vô điều kiện. « Không có tình yêu nào hơn được tình của người thí mạng vì người mình thương. Đây mới là cách dựng xây tình yêu đích thật, bằng hy sinh quên mình » . . Trái tim mẹ chan chứa tình người, hy sinh, chịu đựng, sẳn sàng cho đi mà chẳng bao giờ chờ hồi đáp lại … Lòng Mẹ bao la như biển Thái Bình rạt rào
Tình Mẹ tha thiết như giòng suối hiền ngọt ngào
Lời Mẹ êm ái như đồng lúa chiều rì rào
Tiếng ru bên thềm trăng tà soi bóng Mẹ yêu.
Lòng Mẹ thương con như vầng trăng tròn mùa thu
Tình Mẹ yêu mến như như làn gió đùa mặt hồ
Lời ru man mác êm như sáo diều dật dờ
Nắng mưa sớm chiều vui cùng tiếng hát trẻ thơ
Thương con thao thức bao đêm trường
Con đà yên giấc Mẹ hiền vui sướng biết bao
Thương con khuya sớm bao tháng ngày.
Lặn lội gieo neo nuôi con tới ngày lớn khôn
Dù cho mưa gió không quản thân gầy Mẹ hiền.
Một sương hai nắng cho bạc mái đầu buồn phiền
Ngày đêm sớm tối vui cùng con nhỏ một niềm
Tiếng ru êm đềm Mẹ hiền năm tháng triền miên....
(Lòng Mẹ - Y Vân)
Mẹ là vị giáo sư đầu tiên dạy cho ta biết thế nào là yêu thương, biết thể hiên tình yêu và cảm nhận tình yêu… Tục ngữ Việt nam có nói: "mất mẹ liếm lá đầu đường" …Không có mẹ trái tim ta trở nên khô héo vô tình…
Mẹ là Thơ.Trong ngôn ngữ thi ca của thế giới, dân tộc nào cũng có những vần thơ chứa chan tình mẹ. Only One
Hundreds of stars in the pretty sky;
Hundreds of shells on the shore together;
Hundreds of birds that go singing by;
Hundreds of bees in the sunny weather.
Hundreds of dewdrops to greet the dawn;
Hundreds of lambs in the purple clover;
Hundreds of butterflies on the lawn;
But only one mother the wide world over.
George Cooper (1820 - 1876)
Mẹ chỉ một mà thôi !
Trên trời lấp lánh hàng trăm vì sao
Dưới biển trăm ngàn ốc đảo xinh xắn
Hàng trăm loài chim đua hót cùng nhau
Trăm chú ong thảnh thơi bay trong nắng
Trăm giọt sương mai chào đón ngày mới
Hàng trăm cừu non nhởn nhơ trên đồi
Trăm con bướm lạ đùa vui bay lượn
Nhưng trên đời, mẹ chỉ một mà thôi!
(Vũ Vi phỏng dịch)
Mẹ là kết tinh, là nguồn sống của tất cả những thiên anh hùng ca, những đại sử thi, những trường thiên tình sử và cả trong những vần thơ đường thi đơn sơ, thâm thúy. Thế giới Đường thi là một thế giới huyền thoại thần tiên thoát tục, phong phú, đa dạng, bát ngát, vô biên, vô tận...Những bài thơ Đường Thi thường đậm nét trung- hiếu - nhân- nghĩa…Nhà thơ thời Trung Đường Mạnh Giao đã vinh danh hình ảnh người mẹ hiền qua bài « Du tử ngâm » : DU TỬ NGÂM
Từ mẫu thủ trung tuyến
Du tử thân thượng y
Lâm hành mật mật phùng
Ý khủng trì trì quy
Thùy ngôn thốn thảo tâm
Báo đắc tam xuân huy
Mạnh Giao
KHÚC NGÂM CHO ĐỨA CON ĐI XA
-Bản dịch của Trần Trọng San:
Mẹ hiền sợi chỉ cầm tay
Khâu lên tấm áo trước ngày con đi
Đường kim khăng khít chinh y
Sợ con chậm trễ không về lại ngay
Ai rằng tấc cỏ lòng này
Mà đền đáp nỗi ánh trời ba xuân?
Bản dịch của Trần Trọng Kim
Mẹ từ sợi chỉ trong tay
Trên mình du tử áo may vội vàng
Sắp đi mũi chỉ kỹ càng
Sợ con đi đó nhỡ nhàng trễ lâu
Chút lòng tấc cỏ dễ đâu
Bóng ba xuân đáp ơn sâu cho người
Hình ảnh người mẹ già chịu đựng đớn đau một đời như những bà mẹ Việt Nam, trong cảnh khói lửa triền miên ly loạn, giữa tang thương đổ nát điêu tàn, lặn lội nắng mưa, gánh nặng vai gầy sương gió, lưng còng lam lũ nhọc nhằn, chua xót đau quặn thắt ruột gan khi những người con du tử của Mẹ ra đi bảo vệ giang sơn gấm vóc, như những cánh chim bạt gió bay đi không hẹn ngày về…Mẹ già ngồi khâu chiếc áo nghĩa tình, gửi từng sợi nhớ sợi thương vào từng mũi chỉ đường kim, thầm mong manh áo có thể đủ sưởi ấm thân con trên con đường lưu lạc viễn xứ tha phương nơi đất khách quê người. Mẹ ngồi vá áo chiều nay
Con đi xa thẳm tháng ngày lênh đênh
Lời ru chiều vọng buồn tênh
Thương con đời vẫn gập ghềnh nổi trôi
Mẹ ngồi vá mảnh đời tôi
Quê hương bỏ lại rã rời đớn đau
Chiều giang hồ biết về đâu
Chí trai chưa thỏa ngậm sầu thiên thu
Mẹ ngồi hiu hắt lời ru
Để nghe uất hận giam tù đời con
Giọng hò buồn đến héo hon
Mùa trăng viễn xứ đau mòn đời qua
(Lời mẹ ru chiều-Khiếu Long)
Mẹ là câu ca dao, là tiếng hát ru hời. Từ khi còn nằm nôi, lời ru của mẹ dắt dìu con thơ chập chững vào đời. Gió mùa thu mẹ ru mà con ngủ
Năm (ơ) canh chày,
Năm (ơ) canh chày, thức đủ vừa năm
Hỡi chàng chàng ơi, hỡi người người ơi
Em nhớ tới chàng, em nhớ tới chàng
Hãy nín nín đi con, hãy ngủ ngủ đi con
Con hời là con hỡi, con hỡi con hời
Con hỡi con hời, hỡi con!(Ru con- Dân ca Nam Bộ)
Hình ảnh người mẹ hiền đong đưa võng, ru con trong những buổi trưa hè oi bức hay trong những đêm trường, vò võ thức đủ năm canh cho ta thấy tình yêu của mẹ sâu diệu vợi, bao la như biển cả, êm ả như tiếng sáo chiều thu, ngọt ngào như cơn mưa đồng nội: Mẹ ngồi ru con đong đưa võng buồn, đong đưa võng buồn
Mẹ ngồi ru con mây qua đầu ghềnh, lạy trời mưa tuôn
Lạy trời mưa tuôn cho đất sợi mềm hạt mầm vun lên
Mẹ ngồi ru con nước mắt nhọc nhằn xót xa đời mìnhTrịnh Công Sơn
Tình mẹ như hơi thở sưởi ấm lòng các con trong những ngày lữ thứ xa quê hương. Trên bước chân phiêu dạt xứ người, thời gian âm thầm trôi qua những tháng ngày phiền muộn nhớ thương, tưởng nhớ về mẹ luôn âm ỉ trong lòng từng đứa con du tử Thấm thoát ra đi mấy độ rồi
Nhớ về quê mẹ mãi không thôi
Bao năm xa vắng lòng ray rứt
Nấc nghẹn tuôn trào lệ đắng môi
Mẹ ơi, con yêu nhớ mẹ nhiều
Âm thầm lăng lẽ dạ xót xa
Phố lạ gi ờ đây con lỡ bước
Lẫn thẫn lang thang mỗi sớm chiều…
(Nhớ mẹ - thơ NK)
Mẹ là một món quà lớn nhất mà cuộc đời tặng cho ta, những kẻ đã và đang có mẹ. Có bao giờ ta quên được những nụ cười hiền hoà, những ánh mắt trìu mến của Mẹ đã dành cho ta? Cho tới lúc nhắm mắt xuôi tay, trái tim chúng ta sẽ vẫn còn rộn ràng xúc động khi nghe tên Mẹ, vì mẫu tử là tình yêu vĩnh cửu. Tất cả đều là hiện thân của mẹ.
Cám ơn mẹ đã là mẹ của con và đã yêu thương con…Giờ đây con cũng đã là mẹ , con đã hiểu thế nào là tấm lòng của mẹ . Nơi phương xa, con thành tâm dâng về mẹ lời nguyện chúc bình an…Con gái vẫn yêu mẹ suốt đời! Mẹ chờ con gái đã lâu
Lấy chồng xứ lạ đêm thâu nhớ nhà
Bây giờ ở xứ người ta
Nguyện cầu cho mẹ tuổi già bình yên…
(Nửa đêm nhớ mẹ - thơ Việt Hải)
Bích Phượng
Viết tại Paris, ngày 14/5/2006
Last edited by tieuvuvi on Fri Aug 21, 2020 7:43 pm, edited 6 times in total.
Những câu lục bát ngày xưa
Mẹ ngồi mẹ hát gió lùa năm canh
Ru cho chiếc lá rất xanh
Ru cho cái vỡ lại lành, vẹn nguyên
Những câu ca buổi đầu tiên
Dạy con biết đứng thẳng lên làm người.
À ơi, lục bát một đời
Mỏi mòn mẹ hát bên trời xa xăm
Ru con trăng biết tròn rằm
Ru hoa cải nhớ rau răm mà về.
Con từ câu hát con đi
Lớn thì có lớn, khôn thì chẳng khôn
Nhiều khi gối mỏi chân chồn
Một mình nhớ mẹ, lòng buồn rưng rưng.
Chợt thương lục bát vô cùng
Thương đời mẹ những gian truân tháng ngày…
Mai Hà Uyên
Last edited by tieuvuvi on Fri Aug 21, 2020 7:52 pm, edited 2 times in total.
Anh biết không ngày cũ đã xa rồi
Chỉ nỗi nhớ miên man còn sót lại
Em lang thang qua lối mòn cỏ dại
Mưa đầu mùa lặng lẽ rớt ngang vai…
Kỉ niệm chợt ùa về trong kí ức xa xôi
Giữa đất trời mêng mông em thấy mình bé nhỏ
Ước gì được gặp anh lần nữa
Cho bàn tay ấm lại một bàn tay…
Anh mắt anh ngày nào giờ theo dấu mưa bay
Chỉ khắc khoải cùng em bước qua mùa khờ dại
Anh ở đâu biết bao giờ trở lại?
Em hát ru mình, ru - ướt - những - ngày-xa…
Thơ và cái nghiệp làm thơ Nguyễn Mạnh Trinh.
Thơ, không biết có phải là tiếng vọng vẳng lên từ tâm thức của một thời đại đặc biệt của dân tộc Việt Nam. Cuộc sống ấy có thật nhiều chất chứa, đời sống mỗi người hình như đều có liên quan đến những biến cố khiến thay đổi cả cuộc sống. Người ta làm thơ, để tâm sự với chính mình, để chia sẻ cùng với những người đồng điệu những tần số cộng hưởng.
Có người phát biểu thơ không thể chia sẻ được với ai, mà phải là lừng lững một cõi. Thơ phải có những ẩn mật riêng tạo thành cá tính. Lại cũng có người nghĩ ngược lại, thơ là một phần đời sống họ, thì với những người chung cùng hoàn cảnh, tại sao không có sự chia sẻ cộng hưởng cùng nhau. Mỗi người một ý, có người kiêu căng khinh bạc, có người khiêm nhường trầm lặng, những quan niệm sống đã tạo thành sự cảm thụ khác biệt đối với mỗi người.
Có những trường hợp, thơ là kết quả của tận cùng chịu đựng nỗi tân toan, không chịu nổi mời tạo thành thơ. Phùng Quán đã có những câu như “vịn vào thơ mà đứng dậy” hay Tô Ðông Pha ngày xưa, trong Nam Hành Tiền Tập Sự đã viết “Hữu sở bất năng tự dĩ nhi tác giả” (lúc nào không thể ngừng được, mới sáng tác) với cả một đoạn đã được chuyển dịch:
“Kìa, những người làm văn trước kia, không phải là chỉ có nỗ lực, cố gắng là có thơ văn hay và cũng không thể không nỗ lực cố gắng thì mới có thơ văn hay. Tựa như sông núi có mây mù, có cây cỏ hoa quả, khi nào chứa chất đầy đủ ở bên trong thì biểu hiện ra bên ngoài, dù lúc ấy muốn không có cũng có được không? Ta từ nhỏ được nghe phụ thân ta bàn về văn chương nói rằng thánh nhân thời xưa khi nào không dừng được mới sáng tác. Vì vậy Thức nay cùng với em là Triệt sáng tác cũng nhiều mà chưa từng dám cho là có ý làm văn vậy.”
Những thi sĩ tài ba như Tô Thức, Tô Triệt đời Tống mà còn khiêm nhường không dám tự nhận là tác giả, thì bây giờ, ở trong nước hay hải ngoại có nhiều tập thơ và nhiều người được gọi là người làm thơ thì thiết tưởng cũng chẳng là điều lạ lùng.Ðời sống ấy, con người ấy, tâm tư ấy, dồn nén ấy, có lúc mang nặng trong tâm, bức bối trong hồn. Làm thơ, có phải là để giải tỏa, làm thơ là để cho mình nhẹ nhàng hành trang mang vác trong đời người hơn? Như Phùng Quán, trong đời sống cơ cực đè nén, nếu không có văn chương không có thi ca thì làm sao có đủ năng lực để sống còn để vật lộn với khốn khó với khổ đau?
Thời đại bây giờ có quá nhiều bức xúc để tạo thành cảm hứng. Có người thú nhận nếu không thổ lộ được, bằng văn chương, bằng ngôn ngữ, thì sẽ phát điên lên được. Thôi thì, dù hay, dù dở, cũng chơi giỡn với văn chương để may ra, thấy lòng thanh thản hơn một chút...
Ở hải ngoại, một năm không biết có tới mấy chục tập thơ được in nhưng không... phát hành. Ðó là một người đã lăn lộn rất nhiều trong ngành xuất bản đã phát biểu như thế. Chúng ta có rất nhiều thi sĩ và những thi sĩ ấy in ra những tập thơ chỉ để làm kỷ niệm mà thôi. Bởi vì, các tiệm sách hầu như không muốn bầy bán các thi tập vì không có người mua nên sợ chiếm chỗ. Rất ít thi sĩ in thơ và bán được thơ. Thế mà số lượng thi tập lại quá nhiều đếm không hết. Có người đã mỉa mai rằng dân tộc chúng ta quá yêu thi ca và có rất nhiều người đã trở thành thi sĩ khi còn nằm trong bụng mẹ...
Tại sao lại có hiện tượng lạ như thế ở hải ngoại? Nếu suy nghĩ một cách khách quan thì có nhiều nguyên do. Ðời sống ở xứ định cư về vật chất coi như tạm ổn định nhưng về mặt tinh thần thì vẫn còn nhiều chỗ trống, nhiều tâm sự cần chia sẻ. In một tập thơ với sở phí chừng hơn một ngàn đô la ai cũng có thể in được. Và thơ, thì hay dở tùy người, sáng tác cũng không khó khăn lắm. Ở thế hệ thứ nhất, đời sống trải qua nhiều biến cố nên văn chương là những chứng tích dễ lưu lại nhất trong đời người và trong ký ức. Ở hải ngoại lại có rất nhiều tờ báo. Ðăng ở những tạp chí văn học không được thì tìm những báo khác chọn lựa dễ dàng hơn. Và khi đã có tên tuổi ở trên mặt báo thì người ta sẽ cảm thấy tự tin và sáng tác nhiều hơn. Cuộc đời sẽ có thêm một... thi sĩ.
Trước tình trạng ấy trong một cuộc phỏng vấn nhà văn Duy Lam đã phát biểu về thơ Việt Nam ở hải ngoại. Cái nhìn của ông khá chính xác:
“Thơ lúc này in ra nhiều lắm. Mỗi năm chào đời cả trăm tập thơ. Và số lượng thi sĩ cũng tăng theo rất nhiều (có thi sĩ thật và có người được gọi là thi sĩ)... Thơ Việt Nam ở hải ngoại có nét chính là người ta đến với thơ tự nhiên như một thúc đẩy tâm lý, mà không chủ ý làm thi sĩ. Tôi đã gặp nhiều ngạc nhiên vì không ngờ người này người kia cũng làm thơ. Tại sao họ làm thơ? Có phải do sự bức xúc, một nhu cầu tâm lý. Thơ hải ngoại có chất chủ quan tâm sự. Họ làm thơ trong vô thức để ghi lại tâm sự của mình. Sẽ có sự tiếp nối từ những người trẻ hơn. Họ sẽ làm thơ khác với người trước đã cũ. Có thể họ sẽ bỏ quá khứ mang nặng trên vai để làm thơ hôm nay. Sự lên đường nào mà không cần phải gọn nhẹ hành trang?...
Thơ in nhiều như thế bi quan hay lạc quan? Theo tôi, chuyện bình thường. Việc chọn lưa thơ và thi sĩ là của độc giả và những người phê bình. Vấn đề là phải công tâm để tìm ra những bài thơ chân thực. Không có điều gì lừa mị được mọi người. Phải để tâm tư có chỗ buông xả, dù bằng thơ dở đi chăng nữa...”
Ðó là chuyện thơ ở hải ngoại còn ở trong nước thì sao? Gần đây tôi được đọc một bài báo ở trong nước khá lý thú. Ðó là bài “Ai mua thơ ta bán thơ cho...” của tác giả Ngô Minh. Bài đã đăng lần đầu ở tạp chí Văn Hóa–Văn Nghệ Công An sau đăng lại trên Tuổi Trẻ Chủ Nhật. Tôi nhìn thấy ở đó một vài chi tiết khiến chúng ta có thể hiểu được phần nào những sinh hoạt văn học đang diễn tiến ở trong nước. Dĩ nhiên, không phải từ một vài sự kiện để phóng chiếu thành toàn cảnh mà chính từ những ghi nhận ấy, để có một nhận xét về một sự thay đổi rất rõ ràng. Từ lúc trước, thời bao cấp, khác. Sau này, thời kinh tế thị trường, khác. Thơ, thì bao giờ cũng vậy, chỉ có hay và không hay. Nhưng thi sĩ thì thay đổi theo thời thế, theo sự diễn tả của tác giả Ngô Minh.
“...Nhà thơ Việt Nam ta sướng nhất là giai đoạn bao cấp. Thời kỳ này, các nhà thơ không phải bỏ tiền ra in thơ cũng không phải khổ sở mang thơ đi bán. Nhà thơ có “thẻ bài” của nhà nước nhiều không nhớ hết! Họ được nhà nước in thơ theo chế độ bao cấp. Tùy theo chức vụ, tuổi tác trong làng văn... mà “xếp hàng” lần lượt! Có nhà thơ 60 tuổi rồi mà tính vòng quay xếp hàng thì phải 60 năm nữa may ra mình mới được in có một nửa tập thơ! Bù lại, các nhà thơ chẳng ai phải bận tâm hay xót xa với số vốn nhà nước bỏ ra in thơ và mua thơ cho mình. Thật tiện lợi và sang trọng. Chả thế mà cuốn thơ nào cũng có số lượng in tới năm, bảy nghìn cuốn mà không đủ sách để bán! Có không ít người do vị trí thuận lợi, được bao in tới gần chục tập thơ, tưởng đã lên tới lão trong làng ai dè khi hỏi đến tên, người yêu thơ lắc đầu... Dẫu sao đó cũng là thời vương giả nhất của thơ ca, trên góc độ thơ là cái đẹp, phải được nâng niu chiều chuộng!...”
Như thế, thời bao cấp chắc phải có nhiều thơ hay thì phải? Thế mà, hình như thưa vắng lắm. Có lẽ, thơ cũng là một phương tiện để phục vụ chế độ nên bị lai giống chăng? Không nên võ đoán nhưng nếu thơ là khẩu hiệu tuyên truyền thì cũng khó làm xúc động được tâm tình của người yêu thi ca?
Thế, đến bây giờ, thời đổi mới tư duy và kinh tế thị trường, thơ có điều gì khác lạ so với thời trước. Dĩ nhiên theo tác giả Ngô Minh thì có nhiều khác lạ.
“...Từ khi đất nước kinh tế thị trường thì cuộc sống thơ ca càng sôi động hơn thực chất hơn. Các nhà thơ lại tự bỏ tiền ra in thơ và tự mang thơ mình đi bán như thời tiền chiến. Ðó là một điềm lành, một dấu hiệu đổi mới trong “cơ chế thi ca”. Thơ in ra nhiều sẽ kích thích sáng tạo! Sự kiểm chứng khắt khe của thị trường sẽ cảnh tỉnh biết bao người đang đi nhầm vào “vương quốc thơ”...
Tuy nhiên việc tự bỏ vốn ra in thơ, và tự bán thơ hôm nay cũng có quá nhiều điều cười ra nước mắt! Mỗi năm cả nước có tới 600-700 tập thơ được in ra, nghĩa là mỗi ngày bình quân hai tập thơ được ấn hành. Tổng công ty phát hành sách Việt Nam cũng như các công ty con ở các tỉnh lúc đầu có nhận phát hành chút ít cho các tác giả, về sau chỉ nhận ký gửi, đến vài năm lại đây thì ký gửi cũng bị từ chối với lý do thơ bán không được lại chiếm mất chỗ của các ấn phẩm khác! Do không được phát hành rộng rãi nên thơ tác giả Huế thì Huế đọc, Hà Nội thì Hà Nội đọc, tỉnh lẻ thì tỉnh lẻ đọc. Từ đó dẫn đến sự bình giá thơ của một số nhà phê bình cũng theo kiểu “ếch ngồi đáy giếng”, chỉ thấy, chỉ đọc, chỉ phán về năm bảy tập thơ xung quanh mình! Thế là các tác giả phải tự đi bán thơ mình!!!”
Buôn bán, thì các nhà thơ có lẽ cũng không thành công mấy. Theo bài báo, nhà thơ Vĩnh Nguyên ở Huế đã mang thơ mình đi bán dạo trên các tuyến xe đường dài và tình cờ có một lần đụng độ với nhà thơ Trần Phá Nhạc cũng đang “sơn đông mãi võ” rao bán thơ mình. Thơ có lúc ngang hàng với những thứ thuốc lang băm sâu răng, đau bụng!!! Hoặc:
“...Có lần tôi ra Hà Nội ghé hội nhà văn. Gặp nhau chưa kịp hỏi thăm sức khỏe, nhà thơ Nguyễn Hoa đã chào bán ngay tập thơ “Mưa Thuận thành” của Hoàng Cầm. Tôi chưa kịp mừng vì mua được tập thơ ưng ý, đã nghe Nguyễn Hoa than: “Anh Hoàng Cầm phải gò lưng ký tặng vào từng cuốn một, bán vẫn khó chạy! Bán thơ là thế đấy! Ra văn mà bán chẳng ra tiền-Cái nghiệp văn chương nghĩ thật phiền (Tản Ðà)...”
Nhưng cũng có người tinh nhạy trong việc buôn bán, dù là buôn bán những tập thơ. Âu cũng là một cung cách mới của thời mở cửa:
“...Vài ba năm lại đây, các nhà thơ Việt Nam dường như đã phát hiện ra một phương thức bán thơ mới, “hiệu quả” hơn. Ðó là cách mang thơ đến các doanh nghiệp, cơ quan trường học... “bỏ mối” mỗi nơi mươi, mười lăm cuốn, ép các thủ trưởng trả tiền! Thương các nhà thơ nghèo, chẳng thủ trưởng nào từ chối một vài trăm ngàn tiền mua thơ. Mỗi tỉnh nhỏ tính sơ sơ cũng tới 200 cơ quan, doanh nghiệp... một thị trường ngon lành cho thơ! Khổ nỗi thơ mua xong thủ trưởng liền cho thơ vào tủ, không biết có đọc câu nào không! Ở tỉnh Q. năm rồi có tới chục tập thơ in ra, với số lượng 1000 bản/ tập. Nghĩa là các thủ trưởng phải mười lần chi tiền mua thơ và mười lần chi tiền mua thơ và mười lần cất thơ vào tủ! Thấy thơ bán kiểu này “ngon” có tác giả bán xong nghìn cuốn, còn tự in thêm nghìn nữa cũng bán hết sạch! Giá các tập thơ tác giả tự định nên dễ biến hóa. Ða số các nhà thơ định giá 10-15 ngàn đồng/tập thơ 64 trang. Nhưng cũng có không ít tập thơ với độ dày nói trên để giá tới 20 thậm chí 25 ngàn đồng! Một ông giám đốc bỏ ra 250 ngàn đồng để mua 10 tập thơ thật chẳng đáng bận tâm, nhưng với nhà thơ bán một ngàn cuốn thơ mỏng với giá ấy, lãi ròng trên 17 triệu đồng là con số không dễ có! Xem thế ai dám bảo rằng thơ ế!”
Một trường hợp khác, có nhà thơ kia đã tuyên bố một câu xanh rờn... “Tôi quan niệm văn học cũng là hàng hóa, một loại hàng hóa đặc biệt. Ðể có độc giả, nhà thơ nhà văn phải biết cách giới thiệu món hàng của mình nhất là trong thời đại bùng nổ thông tin có quá nhiều điều cám dỗ người ta như hiện nay...” Ở thời đổi mới kinh tế thị trường thì cũng khác. Thơ văn đã thành một thứ để tiếp thị như một nhà thơ trùm Công An Ðặng Vương Hưng làm phó tổng biên tập báo An Ninh Thế Giới được gọi là “nhà văn best seller” phát biểu trong một cuộc phỏng vấn:
- Nghe đồn tập thơ “Học quên để nhớ” của anh đã phát hành tới 30 ngàn quyển?
- Không phải nghe đồn mà là sự thật. Thậm chí số lượng ấy vẫn còn tăng vì đến nay sau 4 năm tôi “rao bán” thơ mình, vẫn có người tìm đến hỏi mua “học quên để nhớ “
- Nhưng bằng cách nào anh có có được con số khiến đồng nghiệp phải... thèm muốn như vậy, khi mà nhiều tập thơ của các tác giả khác thậm chí chỉ in được vài trăm bản?
- Tôi không dám nói là thơ mình hay, thơ mình đặc biệt, nhưng vốn là dân xuất bản, tôi có khá nhiều chiêu tiếp thị. Trước hết về nội dung, tôi chọn in toàn những bài lục bát - thể thơ dễ nhớ, dễ thuộc, với các đề tài tình yêu, gia đình rất bình thường, dung dị là điều gần gũi với đối tượng thực sự yêu thơ: sinh viên, giáo viên, bộ đội, cán bộ hưu trí ở các câu lạc bộ thơ địa phương... Bên cạnh đó tôi cho in những lời bình về các bài thơ, đồng thời “kêu gọi” những lời bình mới gửi về cho tác giả tạo ra một sân chơi cho người đọc. Về hình thức, “Học quên để nhớ” được in khổ 11.5 cm với 18 cm vừa vặn để cho vào phong bì gửi đi xa. Ngay việc thiết kế phong bì đựng tập thơ thôi, tôi cũng phải làm đi làm lại đến lần thứ ba mới ưng ý. Nhưng yếu tố quyết định vẫn là việc tôi quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng, rằng tôi có tập thơ như thế, giá 10 ngàn đồng rất muốn đến với bạn đọc ai có nhu cầu thì gửi về địa chỉ của tôi. Chỉ vài ngày sau khi báo An Ninh Thế Giới đăng mẫu quảng cáo đó, tôi đã nhận được tới hàng nghìn lá thư yêu cầu được tặng và mua tập thơ. Ðiều thuận lợi của tôi là đã có một cái tên trên báo với các bài phóng sự và nhiều độc giả mua thơ tôi chỉ vì... để xem nhà báo Ðặng Vương Hưng làm thơ như thế nào!” Số người mua hàng chục cuốn để tặng bạn bè rất nhiều có những người còn... phạm luật khi “qua mặt” bưu điện, bỏ tiền vào phong bì gửi thẳng cho tôi. Tôi quan niệm rằng, để lôi kéo độc giả, mỗi cuốn sách phải có một cái gì đó là lạ...”
Như thế thì ai dám bảo thi sĩ nghèo và thơ không bán được.Với ông phó tổng biên tập báo An Ninh Thế Giới, thơ đã thành một món hàng để làm giàu cực kỳ dễ dàng, có phải?
Nhưng ở phần đông, cái nghiệp làm thơ thì ở đâu, dù trong nước hay hải ngoại cũng đều giống nhau, nghĩa là cùng mang những nỗi nhọc nhằn. Ở hải ngoại thì làm thơ cũng là một cách thế buông xả trong một đời sống quá nhiều thúc ép. Còn trong nước, nhà thơ cũng phải chiến đấu với bao nhiêu là sức ép để có thể có thể mang thơ của mình rao bán với cả những nỗi nhọc nhằn... còn nếu muốn thành công thì hoặc là phải có quyền uy như ông nhà thơ “cớm” Ðặng Vương Hưng chúng hạn. Hoặc là phải biết “Tiếp thị” để văn chương hạ giá thành một món hàng để buôn bán đổi chác.
Cách nay hơn 15 thế kỷ, nhà lý luân phê bình văn học Lưu Hiệp trong “Văn Tâm Ðiêu Long” đã viết: “Cái chuông lớn vạn cân chỉ có Quỳ và Khoảng mới chế định nổi. Sách đầy rương phải nhờ những nhà phê bình tài ba mới phán đoán chính xác được. Nhạc phóng đãng nước Trịnh khiến người ta dâm đãng. Chớ nghe theo cách sai sót mà phải theo những nguyên tắc phê phán thì mới mong khỏi lạc đường.” (Quỹ là nhạc sư của vua Thuấn, khoảng là nhạc sư của nước Tấn đã dạy đàn nhạc cho Khổng Tử).
Thơ, cũng như nhạc, phải có người phê bình để làm bật lên cái tuyệt tác. Lưu Hiệp đã đặt rất cao vị trí của người nhận định văn chương. Bây giờ, vị trí ấy lại càng quan trọng hơn. Trong một rừng thơ, làm sao kiếm được cho ra những bông hiếm quí. Người Việt Nam chúng ta là những người yêu thi ca nên qua ngôn ngữ thơ chúng ta có thể nhìn được những nỗi niềm của thời đại. Thời nào mà chẳng có hàng giả chen lẫn hàng thật. Vấn đề là phải có người mắt xanh để tìm được những hiếm quí bị che dấu trong cái bạt ngàn kia. Thơ muôn đời vẫn tồn tại từ những dòng tuyệt tác. Và, những yểu tử chính là những ngôn ngữ giả dối, xây dựng từ những mánh khóe không chân thực. Thơ muôn đời vẫn là những gì cao đẹp nhất!
Màu áo trắng, một chàng trung niên ngẩn ngơ hoài niệm trước cổng trường... hình ảnh ấy quen quen, đến độ nhiều người... ngại không dám nói ra vì sợ... cũ. Nhưng chợt nhớ một câu hát trong bài Imagine bất hủ của John Lennon, dù sự đề cập là không tương đồng: Bạn có thể cho tôi là người mơ mộng, nhưng tôi đâu phải là kẻ mộng mơ duy nhất.
Vậy thì chừng nào tình yêu vẫn còn, màu áo trắng vẫn còn, kí ức vẫn còn, hẳn trên đời vẫn không lạc loài những kẻ mộng mơ. Và kẻ ấy vẫn có những vần thơ mênh mang như vậy để đồng cảm........
Xa lắc mùa thu
Em không đến trường mùa thu năm ấy nữa
Em không đến trường cả mùa thu năm sau
Chiếc lá rụng xuống hoàng hôn xẹt lửa
Theo mùa thu tiếc nuối chảy qua cầu
Tháng năm buồn ghềnh thác vực sâu
Câu thơ chở chòng chành tiếng khóc
Tôi uống cạn dòng sông trong vốc tay ký ức
Nghe mùa thu xa lắc ngấm vô lòng
Biết em còn đến lớp với tôi không
Lo phấp phổng tháng ngày trôi vội vã
Nắng ký thác đời mình trên sắc lá
Mới hiểu mùa thu đánh tráo tuổi xanh rồi
Tôi quá tuổi học trò từ đấy em ơi
Chiều nay trước cổng trường rươm rướm nước mắt
Chưa kịp nhặt mùa thu vừa chạm đất
Con gái tôi tan lớp giục tôi về.
Trương Nam Hương
Một chiều đi làm về, tôi choáng ngợp bởi sắc áo nữ sinh trung học. Dòng sông trắng sáng bừng góc phố. Tôi ngẩn nhìn, bồi hồi nhớ lại một thời đã qua.
Ngày ấy, màu áo ấy, tôi yêu, tôi say... Dường như trên cuộc đời này, em sinh ra là để mong manh, và em mong manh là để cần sự che chở của tôi?
Ai đó nói rằng: khi hồi tưởng về quá khứ, mọi thứ thường lung linh, hư ảo và đẹp! Vậy là chiều nay, tha thướt... tôi chợt nhớ đến những lời thơ của Trương Nam Hương:
Em không đến trường mùa thu năm ấy nữa
Em không đến trường cả mùa thu sau
Chiếc lá rụng xuống hoàng hôn xẹt lửa
Theo mùa thu tiếc nuối chảy qua cầu
Nhà thơ buồn. Buồn vì sự ly biệt bất ngờ. Ly biệt thì bao giờ cũng buồn, nhưng khi những người trong cuộc không biết trước, không chủ động, thì nỗi buồn là không tả xiết. Chắc hẳn, ai đã từng trải với những tình cảnh như thế sẽ cảm được nhà thơ. Thơ Trương Nam Hương thường giản dị. Chính thế, khi đau đớn, tác giả cũng biểu hiện ngay nỗi đau ấy ở ngôn từ: tiếc nuối, rụng, chảy... Em đã đi rồi, đi vào giữa mùa thu. Mùa thu thường đẹp và buồn. Nhưng, mùa thu ở đây không chỉ buồn mà nó là sự đớn đau:
Tháng năm buồn ghềnh thác vực sâu
Câu thơ chở chòng chành tiếng khóc
Tôi uống cạn dòng sông trong vốc tay ký ức
Nghe mùa thu xa lắc ngấm vô lòng
Em đã đi, đi thật rồi. Và mùa thu kia cũng xa rồi. Nhà thơ dùng “xa lắc”, thọat nghe qua cứ ngỡ đó là một sự vụng về trong cách dụng ngôn. Nhưng không, thay vì dùng “xa xôi”, “xa ngái”, “xa tít” v.v. nhà thơ đã dùng “xa lắc”, rất giản dị và chứa cả nỗi niềm xót xa. Dù việc em ra đi đã trở thành quá khứ, nhưng, tôi vẫn đau lòng, tôi vẫn rưng rưng. Bởi vì, tôi chưa bao giờ quên em. Cho dù, tôi đã cố.
Biết em còn đến lớp với tôi không
Lo phấp phổng tháng ngày trôi vội vã
Nắng ký thác đời mình trên sắc lá
Mới hiểu mùa thu đánh tráo tuổi xanh rồi
Nhà thơ hoài niệm. Ở đây, chúng ta thấy sự phập phồng, bất an, bàng hoàng. Nhưng rồi cũng hiểu: Sự thật là em đã ra đi. Sự thật là… tôi đã vĩnh viễn mất thời tuổi trẻ. Sự thật là… tất cả không bao giờ trở lại:
Mới hiểu mùa thu đánh tráo tuổi xanh rồi.
Và như dòng chảy của cuộc sống, sau “biến cố” ấy, nhà thơ đã trưởng thành:
Tôi quá tuổi học trò từ đấy em ơi
Nhà thơ, viết một câu, theo tôi là một “tiếng kêu” thì đúng hơn. Nhưng, dù sao đó cũng là sự thật. Tôi trưởng thành lên, tôi trôi đi trong dòng đời. Tôi thu xếp cuộc đời mình. Tôi không còn mơ mộng. Tôi có gia đình...Nhưng…
Chiều nay trước cổng trường rươm rướm nước mắt....
Đến đây, nếu Em của nhà thơ đọc được bài thơ này, hay ít nhất là câu thơ này, tôi nghĩ, nàng sẽ hạnh phúc! Hạnh phúc, bởi vì, mình đã quá đẹp trong lòng của ai đó. Đến giờ phút này, dù bao nhiêu khó khăn của cuộc đời có ập đến, có lẽ nàng cũng sẽ vượt qua được. Nhưng rồi, hồi tưởng của tác giả tan biến:
Chưa kịp nhặt mùa thu vừa chạm đất
Con gái tôi tan lớp giục tôi về
Tác giả đang định “nhặt”: mùa thu hay “ký ức”? Có lẽ cả hai. Nhưng, thực tại không như thế. Hình ảnh một người đàn ông đứng trước cổng trường, dõi mắt vào khoảng không mênh mông, vô định, tôi nghĩ, sẽ còn sống rất lâu trong lòng của những người đã, đang và sẽ yêu. Nếu không có tiếng gọi của đứa con gái, chắc nhà thơ sẽ bất động. Và nhà thơ của chúng ta, cần một sự lay động để trở về với đời sống hiện tại của mình. Nhà thơ sẽ trở về với gia đình của mình.
Sự chia lìa trong tình yêu bao giờ cũng tạo ra một sự đau đớn. Nhưng, có lẽ cảm ơn đời còn khiến cho chúng ta biết đau khổ vì tình yêu. Và chính nhờ những điều như vậy tình yêu mới trở thành bất tử. Hóa ra, đọc xong bài thơ này của Trương Nam Hương, chúng ta ngộ ra một điều rằng: Đôi khi, sự đau khổ giúp chúng trưởng thành hơn, vững chãi hơn và đáng yêu hơn.
LÊ VĂN TÂN
Last edited by khieulong on Fri Aug 16, 2013 1:55 am, edited 2 times in total.