Góc nhỏ của anh 3 Giang

Tung cánh chim tìm về mái trường xưa. Mong tìm bạn học cũ, nay ở đâu xin nhắn đôi lời!!!

Moderator: CNN

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Tình Yêu Và Cây Thánh Giá
NGUYỄN DUY AN

Tác giả Nguyễn Duy-An, cư dân Virginia, hiện là Vice President, phụ trách Information Technology của National Geographic.

Khi nhận dạy lớp Việt Ngữ sơ cấp của hội Giáo Dục Trẻ Em vùng Hoa Thịnh Đốn, tim tôi giật thót vì đọc thấy cái tên Nguyễn Thị Hồng-Nguyệt trong danh sách học sinh. Tôi đã bàng hoàng xúc động đến chết lặng mấy phút vì ánh mắt của đứa học trò nhỏ nhất lớp được gọi đứng lên lúc điểm danh trước giờ học.

Làm sao tôi quên được ánh mắt u uẩn đau buồn vẫn ám ảnh tôi từ ngày Hương rời Bình Giả ra đi sau gần hai năm tranh đấu cho một chuyện tình không đoạn kết. Hoàn cảnh xã hội và thành kiến gia đình đã đưa đẩy chuyện tình của hai chúng tôi đi vào ngõ cụt... Đã nhiều đêm tôi trằn trọc vì kỷ niệm những ngày hai đứa yêu nhau để thấy tim mình thêm nhức nhối, xót xa.

Cha mẹ đã mất và các anh chị không đủ khả năng để “đùm bọc” đứa em út vừa học xong trung học, nên sau vụ mất mùa vì hạn hán năm 1982 ở Miền Bắc, tôi đã phải bán đi căn nhà xiêu vẹo của cha mẹ để lấy tiền rời Đô Lương, Nghệ An, vào Nam, ở nhờ gia đình một người cậu họ tại Bình Giả, để cày thuê cuốc mướn sống qua ngày.

Những ngày mới đến Bình Giả, gia đình Hương rất quý mến cái tính cần cù, nhẫn nại của tôi. Cha của nàng - ông trùm của giáo xứ - đã có lần nói với cậu tôi là bất cứ khi nào không có ai thuê, cứ gởi tôi sang làm mướn cho gia đình ông, trời mưa cũng như trời nắng. Tôi cày ruộng, trỉa bắp, gặt lúa, nhổ mì, rồi đi rừng tìm cọc căm về trồng tiêu, đào giếng, đắp bờ... Cha mẹ Hương cũng như tất cả các anh chị trong gia đình đều xem tôi như người thân trong nhà cho tới ngày họ bắt đầu nghi ngờ mối quan hệ giữa tôi và nàng. Cha của Hương đã sang nói thẳng với cậu tôi là phải cấm cản tôi không được quyến rũ Hương, mặc dầu lúc đó chúng tôi chưa yêu nhau và cũng chẳng có gì là “bất chánh” ngoại trừ một vài lần tâm sự khi nàng hỏi tôi về hoàn cảnh gia đình ngoài miền Bắc. Tôi xem nàng như một người em gái bé nhỏ và không bao giờ dám mơ tưởng xa hơn. Gia đình nàng khá giầu có và cũng có vai vế trong xứ, trong làng. Còn tôi chỉ là một thanh niên “khố rách áo ôm,” một người con trai mới lớn, “tha phương cầu thực”.

Từ ngày bị cấm cản, Hương bắt đầu lén lút gặp gỡ và nói chuyện với tôi nhiều hơn những ngày tôi còn làm thuê cho gia đình nàng. Thời gian này tôi đã mua được một miếng đất 2 sào gần Xuân Sơn và dựng một cái lều nho nhỏ làm chỗ nghỉ ngơi tạm bợ qua ngày. Tôi cứ ở lỳ trong rẫy suốt tuần, chỉ về đi lễ Chúa Nhật hoặc ghé chợ mua sắm một vài thứ cần thiết vào những ngày không có ai thuê mướn.

Trong những ngày “trốn tránh” trong rẫy tôi mới hiểu được “lý lẽ của con tim”. Tôi tự biết mình đã yêu Hương nhưng vì mặc cảm và tự ái, tôi phải “ngậm đắng nuốt cay” để rồi nhuốm bệnh vì tương tư. Cậu tôi không nỡ bỏ đứa cháu mồ côi nên bắt tôi phải trở về. Gần một tháng trời vật vã trong cơn bệnh không có thuốc chữa, Hương đã đến với tôi bất chấp những lời dọa nạt và roi đòn của cha mẹ nàng. Mới vừa khỏi bệnh, tôi lại vô rẫy ở lều để tránh gây thêm phiền phức cho gia đình cậu tôi.

Tôi đã đầu hàng chính tôi trong một đêm nguyệt thực. Dưới ánh trăng lúc mờ lúc tỏ, lúc đen sẫm, lúc hồng hồng... Hương đã tìm đến với tôi. Nụ hôn đầu trao nhau dưới ánh trăng mờ đã khẳng định tình yêu của chúng tôi. Hương và tôi tự hứa sẽ giữ gìn tình yêu trong sạch và tìm cách thuyết phục gia đình.

Suốt gần hai năm trời ròng rã, nàng đã phải chịu nhiều nỗi đắng cay tủi nhục trong nước mắt. Nhờ cậy anh em bà con năn nỉ cũng chẳng tới đâu, lời khuyên của cha xứ cũng không lay chuyển được cha mẹ nàng. Chính trong nỗi tuyệt vọng đớn đau đó, chúng tôi đã liều mình vượt khỏi vòng lễ giáo để đặt ông bà trùm vào hoàn cảnh “đã rồi”...

Hương mang thai. Hai đứa nhờ cậu tôi dẫn đến quỳ lạy trước mặt ông bà cũng không được chấp thuận. Con ông trùm xứ không thể mang tiếng “chửa hoang”! Hương bị cấm cửa từ đó, và cuối cùng nàng phải chấp nhận con đường vượt biên để gia đình không bị mang tiếng xấu vì bào thai càng ngày càng lớn, và với hy vọng sẽ giúp đỡ tôi có điều kiện cùng nàng tạo dựng tương lai nơi vùng đất mới.
Vài tuần trước ngày Hương ra đi, chị dâu của nàng cảm thương cho hoàn cảnh của chúng tôi nên đã lén lút sắp xếp cho hai đứa gặp nhau một lần trước ngày Hương ra đi. Hương đã khóc vùi trên vai tôi, và cuối cùng nàng đã gỡ sợi giây dù và cây thánh giá bằng gỗ cẩm lai, tôi vẫn treo trên cổ từ ngày mới vào Nam. Nàng nghẹn ngào:

- Nếu em có mệnh hệ gì, cây thánh giá này sẽ là “ấn tín” cho anh tìm lại con chúng mình.

- Hương! Em đừng nói gở như vậy. Em cố gắng giữ gìn sức khỏe để lo cho con. Anh sẽ đi tìm em và con ngay khi có thể.

- Em sẽ liên lạc với anh qua địa chỉ của chị Thu. Xin anh nhớ điều này: Nếu con chúng mình là trai, em sẽ đặt tên nó là Độ-Lượng để tưởng nhớ về nguyên quán Đô Lương của anh. Nếu là gái, em sẽ gọi là Hồng-Nguyệt để nhớ kỷ niệm lần đầu hai đứa hôn nhau dưới ánh trăng mầu đỏ...

Rồi chúng tôi phải xa nhau từ ngày đó.

Sau bao nhiêu ngày tháng đợi chờ trong tuyệt vọng mà Hương vẫn biệt tăm, và sau hai lần chứng kiến gia đình ông bà trùm xin lễ giỗ cho nàng, tôi tìm đường vượt biển với một hy vọng mong manh sẽ tìm lại được người yêu và một đứa con mang tên “Độ-Lượng” hoặc “Hồng-Nguyệt”.

Ngay khi vừa đặt chân đến trại tỵ nạn, tôi đã nhờ văn phòng Liên Hiệp Quốc tìm nàng; sau khi đến Mỹ, tôi cũng đã đăng báo khắp nơi kiếm nàng, nhưng tất cả đều không kết quả.

Tôi vùi đầu vào sách vở và công việc để tìm quên kỷ niệm. Đã hơn một lần tôi muốn tìm quên Hương qua bóng hình một người con gái khác, nhưng tim tôi buốt nhói và chuyện tình ngày cũ lại hiện về trong ký ức. Tôi vẫn xin lễ cầu nguyện cho nàng và ước mong được một lần gặp nàng dù chỉ là trong giấc chiêm bao, nhưng tôi không bao giờ mơ thấy nàng.

Sau khi học xong đại học và nhận việc làm gần thủ đô Hoa Thịnh Đốn, một số bạn bè đã rủ rê tôi phụ giúp chương trình Việt Ngữ cho các trẻ em trong vùng mỗi chiều Thứ Bảy cho khuây khỏa nỗi buồn, “trước là mua vui, sau làm việc nghĩa”.

Đã hơn 9 năm qua rồi kể từ buổi tối chúng tôi chia tay, tôi chẳng còn hy vọng gì sẽ tìm được tin tức về Hương... nhưng cái tên “Hồng-Nguyệt” trong danh sách học sinh đã làm tôi choáng váng. Tôi tự đặt ra nhiều giả thuyết và cuối cùng phải đi tới kết luận chỉ là một sự trùng hợp ngẫu nhiên. Nhưng rồi tôi vẫn không lẩn tránh được cặp mắt u uẩn đau thương của Hương mỗi lần bắt gặp bé Hồng-Nguyệt chăm chú nhìn tôi trong lớp học. Cô bé học trò lớp tiếng Việt của tôi mới 7 tuổi.

Càng ngày tôi càng linh cảm như có một sợi giây vô hình trói buộc tim tôi vào ánh mắt của đứa học trò bé bỏng mang tên Hồng-Nguyệt. Một hôm tôi liều mình đến gặp cô Mai tại văn phòng để hỏi thêm tin tức về Hồng-Nguyệt vì tôi biết cô ấy vẫn đưa đón Hồng-Nguyệt đi học tiếng Việt:

- Hồng-Nguyệt là cháu của cô Mai hả?

- “Bé cái lầm” rồi anh Tùng ơi. Em chỉ ở cùng chung cư thôi.

- Ồ. Tại tôi thấy cô vẫn chở nó đi về...

- Tại tính em lanh chanh nên nhận công tác đưa đón để con bé được đi học tiếng Việt đó mà. Cuối tuần chị Linh phải đi làm... Nghĩ cũng tội nghiệp cho hoàn cảnh chị ấy. Chị Linh vẫn còn mang nặng mặc cảm vì vụ hải tặc hồi đi vượt biên. Có người nói Hồng-Nguyệt là con của hải tặc Thái Lan nhưng em nghĩ không phải vì nó xinh và dễ thương quá. Em cũng không dám hỏi chị Linh vì không muốn gợi lại vết thương lòng của chị ấy!

Sau buổi nói chuyện với cô Mai, tôi càng thêm băn khoăn nhưng chẳng còn lý do nào khác để duy diễn xa hơn ngoài việc trùng tên của Hồng-Nguyệt. Đã hơn một lần bạn bè gán ghép tôi với Mai nhưng chưa bao giờ tôi nghĩ tới việc đó vì tính tình không hợp. Mai thích sự ồn ào, náo nhiệt với những buổi khiêu vũ, tiệc tùng; còn tôi chỉ muốn sống trong thầm lặng để tưởng nhớ về dĩ vãng.

Một động lực vô hình cứ thôi thúc tôi tìm cách gần gũi Hồng-Nguyệt nhưng tôi không làm sao tiến xa hơn được. Chẳng lẽ khuấy động tâm hồn ngây thơ của một đứa bé mới 7 tuổi đầu. Lương tâm không cho phép tôi làm như vậy. Lấy số điện thoại nhà của Hồng-Nguyệt rồi gọi tới thăm dò thì tò mò quá, và có thể bị Linh cự tuyệt. Thêm vào đó, tôi cũng không muốn khơi dậy một “nỗi nhục” mà Linh đã phải âm thầm chịu đựng bao nhiêu năm qua như lời Mai kể. Đã có lần tôi đến chung cư của Mai chơi trước khi khai giảng lớp Việt Ngữ, nhưng vì không muốn Mai hiểu lầm nên tôi không bao giờ trở lại vì biết rõ hai đứa không hợp tính nhau.
Tôi vò đầu bứt tai suy nghĩ cả mấy tháng trời cũng không tìm ra một giải pháp nào khả dĩ có thể tìm hiểu thêm nên đành buông xuôi, tự dối lòng mình như chưa bao giờ biết đến mẹ con Hồng-Nguyệt.

Mãi rồi tôi phải đầu hàng chính tôi. Tôi tìm đến chung cư nơi Mai ở vào một buổi chiều Chúa Nhật. Tôi không có ý định đến thăm Mai, nhưng chỉ muốn thơ thẩn trong khu vực đó, nếu bị Mai bắt gặp thì nói dối là muốn ghé thăm nàng nhưng quên mất số điện thoại nên không gọi trước được.

Trời đã cuối thu nên cũng hơi lạnh. Tôi khoác một cái áo khoác mỏng vì sợ bị cảm lạnh rồi tới ngồi trên ghế đá trong khu đất trống gần bãi đậu xe, vừa hút thuốc vừa suy nghĩ vẩn vơ. Tôi chìm vào dĩ vãng nên không để ý đến ngoại cảnh. Tôi nghe như văng vẳng đâu đó có tiếng người gọi tên tôi, nhưng đầu óc vẫn còn mơ mơ màng màng chưa tỉnh hẳn. Một bàn tay bé nhỏ nắm lấy tay tôi giật mạnh:

- Chào thầy.

Tôi choàng tỉnh “giấc chiêm bao”, quay sang thấy Hồng-Nguyệt và một cô gái mà tôi đoán là Linh đang đứng bên ghế đá. Tôi vội vàng đứng lên:

- Ồ Hồng-Nguyệt. Chào cô.

- Dạ chào thầy. Chắc thầy đang chờ cô Mai? Cô ấy đi thăm ông bà, chắc tới tối mới về. Em là Linh.

- Tôi cũng đoán cô là Linh, mẹ của Hồng-Nguyệt. Đừng gọi tôi bằng thầy nhé, tôi có dạy cô Linh đâu.

- Dạ. Mời anh vô nhà uống nước, và nếu cần em gọi cô Mai về. Em có số điện thoại nhà ông bà của Mai.

Linh vừa nói vừa dẫn Hồng-Nguyệt vào chung cư. Tôi thẫn thờ bước theo. Vừa mở cửa, Linh vừa nói:

- Em mới dẫn cháu lên Chùa về, nhà cũng không chuẩn bị gì, anh đừng cười nhé.

- Không sao đâu Linh à. Tôi có hẹn trước đâu. Tôi thành thật xin lỗi đã quấy rầy mẹ con Linh.

Vừa vào đến nhà, Linh vội vàng vào bếp, chắc để chuẩn bị... Hồng-Nguyệt cởi chiếc áo khoác, tôi trông thấy cây thánh giá gỗ trên ngực con bé nên bàng hoàng chết sững. Tôi nghẹn ngào:

- Hồng-Nguyệt. Con tới đây nào.

Con bé ngoan ngoãn bước đến. Tôi ôm chầm lấy nó, lật cây thánh giá gỗ và sững sở nhận ra ba chữ NVT khắc phía sau. Đúng là cây thánh giá của tôi mà Hương đã cầm theo ngày hai đứa chia tay. Dĩ vãng hiện về trong trí: Cây thánh giá này sẽ là “ấn tín” cho anh tìm lại con chúng mình! Tự nhiên nước mắt tôi tuôn trào trong tiếng nấc:

- Hồng-Nguyệt. Ở đâu con có cây thánh giá này?

- Mẹ nói đây là kỷ vật của ba con.

Tôi không thể nào tin được tai mình. Cùng lúc đó Linh bước ra với một khay trái cây và mấy ly nước. Tôi vẫn ôm Hồng-Nguyệt vào lòng vì tôi biết chắc chắn đây là con mình mặc dầu tôi không hiểu được ngọn nguồn đầu đuôi câu chuyện; và tôi cũng biết chắc Linh không phải là Hương của tôi ngày nào. Linh cũng mở to mắt nhìn cha con tôi, miệng ú ớ không nói nên lời. Tôi gắng gượng nuốt nghẹn hỏi nàng:

- Linh! Tôi hỏi câu này quả không phải... Nhưng Linh đi Chùa lại đeo thánh giá cho Hồng-Nguyệt... Đây chính là cây thánh giá của tôi Linh à. Linh xem này: Ngay cả tên tôi khắc phía sau vẫn còn đây... Linh là ai? Hồng-Nguyệt là ai?

- Em tin anh. Em sẽ kể anh nghe... Hồng-Nguyệt là con của một chị bạn tên Hương và anh, người chủ của cây thánh giá này.

- Đúng rồi. Trời ơi. Hồng-Nguyệt. Ba đã tìm được con. Mẹ con đâu rồi?

Hồng-Nguyệt mừng rỡ hôn mạnh lên má tôi nức nở:

- Ba... Ba... Sao bây giờ ba mới về với con?

Tôi nghẹn ngào không nói nên lời, vòng tay run rẩy ôm con vào lòng; nhìn qua Linh cũng đang sụt sùi nước mắt. Hồng-Nguyệt vừa khóc vừa kéo Linh sát vào người tôi, con bé mừng rỡ hôn mạnh lên má tôi nức nở:

- Ba... Ba... Mẹ tìm ba mãi mà không được... Bây giờ Chúa Phật đã đưa ba về với mẹ và con.

Hai chúng tôi thẹn thùng nhìn nhau trong nước mắt. Linh nức nở:

- Em đi chung ghe với chị Hương. Chúng em bị hải tặc cưỡng hiếp và bắt theo cả năm trời... Chị Hương đã sinh cháu bé sau 3 tháng bị đọa đày trong nhục nhã ê chề... Chị Hương bị băng huyết trên hoang đảo. Chị đã uỷ thác cháu bé cho em với lời dặn dò: “Chị không thể qua khỏi. Linh nuôi cháu dùm chị. Em hãy đặt tên cho cháu là Hồng-Nguyệt. Còn đây là cây thánh giá của cha Hồng-Nguyệt. Em giữ giùm chị để làm bằng chứng cho cha con nhận nhau...” Chúng em đã phải thuỷ táng chị Hương! Khi tầu Cao Uỷ đến cứu, em đã khai Hồng-Nguyệt là con em vì em tự nghĩ sau cơn hoạn nạn em cũng chẳng còn hy vọng gì về việc chồng con vì mình đã quá nhơ nhớp... Không biết giấy tờ lộn xộn sao đó mà ngày sinh của cháu lại ghi nhầm vào ngày mẹ con em được phái đoàn Mỹ nhận cho định cư theo diện nhân đạo, đúng 2 năm sau khi cháu chào đời trên hoang đảo. Thôi thì mẹ con nương tựa nhau sống qua ngày nơi xứ lạ quê người.

- Trời ơi!

Tôi chỉ thốt lên được thế rồi chết lặng bên cạnh Linh và Hồng-Nguyệt. Tôi không khóc vì nước mắt đã cạn từ lâu. Linh cũng không còn nói được gì, chỉ gục mặt thút thít khóc. Gần cả tiếng đồng hồ sau tôi mới hoàn hồn. Hồng-Nguyệt đã ngủ vùi trong lòng Linh. Tôi nhẹ nhàng cầm tay Linh nói nhỏ:

- Linh. Anh mang ơn em suốt đời. Hãy cho anh một cơ hội để đáp đền.

- Em xin anh. Em không xứng đáng... Em chỉ xin anh cho phép em được tiếp tục dưỡng nuôi Hồng-Nguyệt... Em chẳng còn gì...

- Em vẫn còn có con và anh đây Linh à. Hương đã mất. Anh xin em... Hãy để anh lo cho em và con.

Linh lại nức nở khóc ròng. Hồng-Nguyệt giật mình, mở tròn mắt nhìn mẹ đang khóc, vội vàng hôn lên trán Linh thỏ thẻ:

- Mẹ... Mẹ đừng khóc nữa. Ba về rồi sao mẹ cứ khóc mãi? Ba... Ba đừng bỏ đi nữa nhé. Đêm nào mẹ cũng cầm thánh giá cầu xin cho ba trở về. Lên Chùa mẹ cũng thắp nhang khấn cho ba. Ba đừng đi nữa nhé ba!

Tôi nghe lời con thỏ thẻ mà lòng quặn đau như đứt từng khúc ruột. Tôi ôm cả hai mẹ con vào lòng và nghẹn ngào trong hơi thở:

- Không. Ba không bao giờ đi nữa Hồng-Nguyệt ạ. Linh... Anh không ép em, nhưng chỉ xin em nghĩ lại.

Linh vẫn sụt sùi trong nước mắt. Chuyện xảy ra quá đột ngột, tôi biết nàng cần có thời gian mới xoa dịu được vết thương lòng. Nhưng vì Hồng-Nguyệt, tôi tin tưởng rồi mây mù cũng sẽ bay xa. Tôi gục đầu khẽ hôn lên cây thánh giá trên ngực Hồng-Nguyệt. Cây thánh giá của tôi. Cây thánh giá kỷ vật của tình yêu Hương đã mang theo từ hơn 9 năm trước. Lời “tiên tri” của nàng đã trở thành sự thật: Cây thánh giá này sẽ là “ấn tín” cho anh tìm lại con chúng mình!

Trời ơi! Tình yêu! Trái đắng! Trong gian nan khốn khó, hạt giống vẫn nẩy mầm. Tôi đã vĩnh viễn mất Hương nhưng hạt giống tình yêu của chúng tôi vẫn còn đây. Cây thánh giá gỗ và Hồng-Nguyệt sẽ là nền tảng cho tôi xây dựng lại từ đầu. Hương ơi, anh vẫn hoài yêu em. Hương ơi, anh tin rằng chính em đã run rủi cho anh tìm gặp lại con chúng mình và một người thay em để săn sóc cho anh và con trong những tháng ngày còn lại...

Linh ơi, xin em đừng khóc nữa. Hãy quên đi nỗi nhục nhằn của những năm tháng cũ. Hãy giúp anh và con bắt đầu lại nghe em...

Hồng-Nguyệt con ơi, ngoài mẹ Linh, con còn một người mẹ nữa ở trên trời.

Nguyễn Duy-An

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Ngày 30-4-1975, Tổng Thống Dương Văn Minh Đầu Hàng, Hay Bị Cộng Sản Bắc Việt Bắt Tại Dinh Độc Lập?

Written by Mường Giang
Friday, 28 April 2006

Mường Giang - Kính nhớ Các Vị Tướng Lãnh và Toàn thể Chiến sĩ cùng đồng bào Miền Nam VN
Đã vị quốc vong thân. Riêng tặng Thiếu tướng Lê Minh Đảo cùng SD18BB




Điện Kinh Thiên ở Hà Nội được xây dựng từ đời Nhà Hậu Lê (1428), trên nền cũ của các cung điện thời Lý, Trần và trở thành Hành Cung của Nhà Nguyễn từ năm 1802 vì kinh đô của nước ta, được dời vào Huế. Năm 1873, thực dân Pháp chiếm được Hà Nội, chúng đã biến hoàng cung thành một pháo đài rất kiên cố. Năm 1954 tới cuối tháng 4-1975, Cộng Sản làm chủ nửa nước Từ đó Điện Kinh Thiên, trở thành Tổng hành dinh của Bộ Tổng Tham Mưu/Bộ đội Bắc Việt. Đây là chỗ của các đầu sỏ Bắc Bộ Phủ, từ Hồ Chí Minh tới Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng trực tiếp lãnh đạo 8 đời Thứ trưởng Bộ Quốc Phòng và Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng, Phùng Quang Thanh... Tổng Tham Mưu Trưởng, bày binh bố trận mọi kế hoạch, chiến lược xâm lăng Miền Nam VN qua cái gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, cánh tay nối dài của Trung Ương Đảng Cộng Sản VN.

Từ năm 1967 về sau chiến tranh càng lúc thêm ác liệt, lan rộng tới tận miền Bắc, khiến Hà Nội phải xây thêm căn cứ D-67, vừa làm nơi trốn bom đạn oanh tạc của các chóp bu, thật vô cùng khủng khiếp do Mỹ thả. Đây cũng là nơi họp tuyệt mật của Bộ Chính Trị và Quân Ủy Trung Ương Đảng. Theo Võ Nguyên Giáp viết trong 'Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng' thì từ tháng 4-1973 Bộ Thống soái tối cao đã giao cho Bộ Tổng tham mưu lập một tổ đặc biệt gồm Lê Trọng Tấn, Vũ Lăng, Võ Quang Hồ và Lê Hữu Đức, nghiên cứu kế hoạch tổng tấn công cưởng chiếm VNCH. Bản dự thảo đầu tiên ra đời ngày 5-6-1973 và sau đó qua bảy lần xét duyệt, cuối cùng vào ngày 30-9-1974 mới được Bộ Chính trị nghị quyết 'Nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975, thì lập tức tổng tấn công Miền Nam'.

Ngày 18-12-1974 tới 8-1-1975, Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng để quyết định lần cuối cùng kế hoạch trên. Sau khi chiếm được Thường Đức (Quảng Nam) và Phước Long mà không thấy phản ứng nào từ Mỹ, nên ngày 9-1-1975, Quân ủy trung ương họp với quyết định mở chiến dịch 275, tấn chiếm Ban Mê Thuột, do Văn Tiến Dũng từ Bắc vào Nam chỉ huy trực tiếp trận địa.

Sau khi Cao nguyên và Quân đoàn 1 của VNCH thất thủ tại Hà Nội vào ngày 31-3-1975, Cộng Sản Bắc Việt quyết định lập Bộ Chỉ huy và Đảng Ủy Sài Gòn, do Lê Đức Thọ, Phạm Hùng và Văn Tiến Dũng chỉ huy. Ngày 7-4-1975, Võ Nguyên Giáp ban lệnh bằng mọi cách phải đánh chiếm cho được Miền Nam. Ngày 14-4-1975, mở chiến dịch HCM. Ngày 25-4-1975, Quân Đoàn 1 Cộng sản từ Bắc Việt vào và đúng 17 giờ ngày 26-4-1975, mở đầu cuộc tấn công vào Sài Gòn bằng 5 cánh quân. Ngày 28-4-1975, Đại tướng Dương văn Minh thay Trần Văn Hương làm Tổng thống để trưa ngày 30-4-1975 ra lệnh toàn dân, toàn quân VNCH buông súng đầu hàng Cộng sản.

Trong lúc đó Miền Nam VN đã bị Hoa Kỳ và Thế giới tự do bỏ rơi tức tưởi, phải một mình đơn độc tiếp tục cuộc chiến chống xâm lăng trước mặt. Đồng lúc lại phải hứng chịu những đòn thù thê thảm của bọn con buôn chính khứa, cứ tàn nhẫn đạp bừa trên xác lính để múa rối bỉ ổi trên sân khấu chính trị. Dữ dằn nhất vẫn là bọn trí thức khoa bảng, tự xưng là thành phần thứ ba đã đi đêm với Bắc Việt từ lâu, gồm có Hồ Ngọc Nhuận, Vũ Văn Mẫu, Lý Quý Chung, Hồ Văn Minh, Nguyễn Văn Hảo, Nguyễn Xuân Oánh. Tháng 3-1975, tình hình VNCH trở nên nguy ngập sau khi Ban Mê Thuột thất thủ, Ngô Công Đức, nguyên Dân biểu Quốc hội VNCH phản bội đất nước, sống lưu vong tại Pháp đã vội vã sang Mỹ đòi chấm dứt viện trợ, thay ngựa bằng lá bài Dương Văn Minh để chuẩn bị đầu hàng. Đó là lý do truất phế Trần Văn Hương sau 5 ngày làm Tổng thống, kế vị TT. Nguyễn Văn Thiệu từ chức ngày 21-4-1975.

Ngày 27-4-1975, đúng 17 giờ 5 phút, trong phòng khánh tiết của Dinh Độc Lập đang diễn ra buổi lễ bàn giao chức vụ tổng thống VNCH giữa Trần Văn Hương và Dương Văn Minh. Đây là lần bàn giao tổng thống lần thứ hai xảy ra chưa đầy 10 ngày trong chính quyền Nam VN, giữa lúc đất nước đã mất hơn hai phần ba lãnh thổ và nguy ngập nhất là nửa triệu quân Bắc Việt đã ập sát Sài Gòn. Theo phóng viên Đài Phát Thanh Sài Gòn mô tả hôm đó, thấy có sự hiện diện của ba Phó Thủ Tướng Trần Văn Đôn, Nguyễn Văn Hảo, Dương Kích Nhưỡng, Quốc Vụ Khanh Nguyễn Xuân Phong, thêm Chủ Tich Thượng Viện Trần Văn Lắm và nhiều Nghị Sĩ, Dân Biểu như Tôn Thất Đính, Nguyễn Văn Ân, Trần Cao Để, Mã Sái, Hồ Ngọc Cứ, Đinh Văn Đệ, Huỳnh văn Cao, Nguyễn Văn Huyền, Vũ Văn Mẫu và cả Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện là Trần Văn Tiết. Ngoài ra còn có hơn 100 phóng viên và nhiếp ảnh tham dự, làm cho quang cảnh buổi lễ bàn giao thật sôi nổi. Vậy mà Tân Tổng Thống chỉ mới giữ chức chưa đủ hai ngày thì đã vội vã đầu hàng giặc, khiến cho đất nước và đồng bào suốt ba mươi mốt năm qua, sống kiếp nô lệ mới cay đắng ngậm ngùi, dưới ách thống trị siêu phong kiến của bọn đầu sỏ Cộng Sản Bắc Việt, gìa nua độc ác. Vì thế có thể nói rằng, chưa có đời nào trong giòng sử Việt cả nước phải chịu nhiều đau khổ như hiện tại.

Là người của một giai đoạn lịch sử cận đại, Tướng Dương Văn Minh, chỉ trong vòng 12 năm ngắn ngủi, đã là nhân vật chủ chốt, hai biến cố trọng đại của cận sử VN. Ngày 1-11-1963 làm sụp đổ nền Đệ Nhất Cộng Hòa Miền Nam, ra lệnh hạ sát anh em Tổng thống Ngô Đình Diệm. Ngày 30-4-1975, lợi dụng chức vụ tổng thống và quyền Tổng tư lệnh quân đội, bắt cả nước đầu hàng đế quốc đệ tam cộng sản. Nay ngồi đọc lại lời phát biểu của TT Trần văn Hương trong buổi lễ bàn giao hôm đó, mới thấy thương xót tận cùng cho người lính chiến VNCH

'Một trang sử mới được mở ra, do Đại Tướng Dương Văn Minh viết. Ông Minh nhậm chức lúc này, không những chỉ vì thiện chí, mà còn là CAN ĐẢM TỪ BỎ GIẢI PHÁP QUÂN Sự, vì đã chọn con đường Hòa Giải, Hòa Hợp để có Hòa Bình.'

Đúng lúc lễ bàn giao bắt đầu thì trên bầu trời, phản tặc Nguyễn Thành Trung, lái và hướng dẫn 5 phản lực A37 của VNCH bỏ lại, oanh tạc phi trường Tân Sơn Nhất; đồng thời đặc công Bắc Việt cũng lội vào bờ, chiếm kho tiếp liệu của Usaid bỏ lại, sát chân cầu Sài Gòn. Nhiều người lúc đó cho là Đại Tướng Văn Minh bị bệnh tâm thần, nên mới tin tưởng là cộng sản Hà Nội sẽ ngưng bắn, trong khi chúng sắp chiếm được miền Nam. Ngây thơ hơn hết là việc Dương Văn Minh, đêm 27-1-1975, đã mời Ngô Công Đức lúc đó đang lưu vong bên Pháp về làm Bộ trưởng thi hành Hiệp định Ba Lê 1973.

Hỡi ôi, khi người Mỹ còn chiến đấu ở VN với tiềm năng quân sự to lớn, nên lúc nào nếu muốn, cũng có thể tiêu diệt Bắc Việt dễ dàng. Thế nhưng trong các lần hội nghị, để tìm giải pháp chấm dứt chiến tranh bằng con đường hòa bình. Trăm lần như một, người Mỹ đều bị Bắc Việt lừa bịp, tới lần cuối cùng bị TT Nixon ra lệnh oanh tạc và phong tỏa Miền Bắc kinh khiếp chưa từng có. Vậy mà sau khi hết bom rơi, Hà Nội vẫn xạo dù chịu ký vào bản hiệp ước ngưng bắn tại Paris tháng 2-1973, khi mấy trăm ngàn bộ đội được Mỹ cho phép ở lại tại chỗ để tiếp tục xâm lăng Miền Nam.

Trong lúc đó, khi Đại Tướng Dương Văn Minh lên nắm quyền Tổng Thống VNCH vào chiều ngày 28-4-1975, thì đất nước đang ở vào giờ thứ 25 hấp hối. Vậy chúng ta có điều kiện gì để mà bắt cộng sản chịu ngưng bắn, để hòa hợp có hòa bình? Nham nhở nhất, là từ sáng ngày 29-4-1975, đài VC lên tiếng phủ nhận luôn chính phủ Dương Văn Minh mới lên tối hôm qua, đồng thời ra lệnh đánh chiếm Gia Định-Sài Gòn.

Sau này Trần Văn Hương có tiết lộ với tác giả 'L'Adieu à Sài Gòn' cũng là sử gia người Pháp Jean Larteguy, rằng sự thật Dương Văn Minh cũng giống như ông, chẳng có liên lạc được ai bên phía Bắc Việt để mà hòa hợp hòa giải. Còn Đại Tướng Minh cho biết là mình đã tin vào lời của Vũ Văn Mẫu. Rốt cục tất cả đều là những người mù rờ voi, sau đó ảo tưởng đẻ ra kế hoạch vĩ đại đề cứu nước cứu dân, trong khi mặt thật là chẳng nắm được gì hết, ngoài bên cạnh có một đám quân sư xôi thịt xúi bậy làm càn.

Nhân ngày kỷ niệm 17 năm quốc hận vào năm 1992, tờ nguyệt san Phụ Nữ Diễn Đàn của người Việt Hải Ngoại, số đặc biệt, có đăng những bài bút chiến, của Bùi Tín, Bùi văn Tùng, Nguyễn Trần Thiết, Bùi Biên Thuỳ, quanh hai chủ đề: 'Ai là người đầu tiên vào Dinh Độc Lập? và Ai là người có thực quyến lúc đó, nhận sự đầu hàng của TT và Nội Các Dương Văn Minh?'

Mượn lại danh từ của những người cộng sản, trong cuộc đấu võ mồm vô duyên trên, là họ đã biếm xưng lịch sử. Vì thật ra cả bọn chẳng có ai là người đầu tiên bước vào Dinh Độc Lập. Mà từ xa lắc xa lơ, nơi này đã có hằng tá điệp viên cao cấp Bắc Việt như Vũ Ngọc Nhạ, Huỳnh Văn Trọng, Phạm Ngọc Thảo, Trần Ngọc Hiển, Lê Đình Ẩn, Đinh văn Đệ đã bước chân vào rồi.

Riêng việc đầu hàng cộng sản của Dương Văn Minh, thì cũng chẳng có gì là lạ, vì Đại Tướng là Thủ Lãnh của Lực Lượng Thứ Ba, có chủ trương Phản Gian qua lớp võ Hòa Giải để đầu hàng giặc từ lúc chưa được lên ngôi Tổng Thống vào những ngày cuối tháng 4-1975. Có khác chăng, là phải đóng kịch đầu hàng như thế nào để sau này trước Tòa Án Lương Tâm và trên trang lịch sử, Tổng Thống Dương Văn Minh được trắng án và tiếng thơm là người yêu nước vì đã dám hy sinh ở lại giữa chốn ba quân, trong lúc giặc xâm lăng đã ập sát biên thành.

Vì vậy từ lúc nhận lời đuổi Mỹ tới khi lên đài ra lệnh cho quân đội buông súng rã ngũ, thời gian từ trưa 29-4-1975 cho tới trưa 30-4-1975, tổng thống không hề chợp mắt. Đây là thời gian dài nhất trong đời làm chính trị của một vị nguyên thủ cuối cùng của VNCH, tuy ngắn ngủi nhưng lại bị tai tiếng nhất trong dòng Việt Sử cận đại.

Nhưng năm ngoái, nhân ngày kỷ niệm 30 năm (4/1975-4/2005), cả nước VN được sống trong thiên đàng xã nghĩa. Dịp này, trên các báo Khoa Học Phổ Thông (18) và Thế Giới Mới (631-632), xuất bản tại thành Hồ có Phùng Bá Đạm lớn tiếng về cái gọi 'Bắt Tổng thống Dương Văn Minh và Nội các Chính quyền Sài Gòn' vào trưa ngày 30-4-1975 tại Dinh Độc Lập. Đặc biệt trong những bài viết trên, không hề nhắc tới nhân vật Bùi Tín, một thời qua tập sách 'Sài Gòn Trong Ánh Chớp Chói Lọi Của Lịch Sử', lúc nào cũng to tiếng, nhận là mình cho Dương Văn Minh đầu hàng.

Vậy đâu là sự thật vì Tổng Thống Dương Văn Minh giờ đã mất, còn đồng bào cả nước từ ấy đến nay sống dưới thiên đàng xã nghĩa, sau hàng rào kẽm gai, lưỡi lê, họng súng, nên chỉ dám nói viết những lời đảng dạy để mà giữ lấy cái mạng cùi rất mong manh. Vì vậy làm sao, có ai dám nói hết lời, cho dù rất muốn nói, ngoại trừ những kẻ cò mồi được đảng dựng lên làm đối lập.

Nay nhìn lại cuộc tranh giành quyền lực của các chóp bu trong đảng qua đại hội X và cho dù ai nắm chức quyền chăng nữa thì cũng chỉ đưa dân tộc và non sông Việt đến hố sâu của ngu dốt, nghèo đói và trên hết là mất nước vào tay ngoại bang. Tất cả cũng chỉ vì chúng ta trong quá khứ đã thờ ơ với vận nước; phần lớn lại quá tin vào lãnh đạo cho dù đó là những sâu bọ hại nước hại người.

'Ba mươi mốt năm rồi, nay quá đủ
hãy đứng lên tự bẽ gảy xích xiềng
cả tội hèn làm đất nước đảo điên
giúp cho giặc thành bạo quyền ác chúa
chôn chúng đi nhưng thây ma thúi rửa
vứt vào mồ lũ quan tướng âm binh
để cả nước quên bớt nổi bất bình
vì trót lở tin theo phường đạo tặc..'
1- Tổng Thống Dương Văn Minh Đi Tìm Hòa Bình Ở Cuối Đường Hầm

Ba mươi mốt năm qua, kể từ ngày Tổng Thống Dương Văn Minh ra lệnh cho QLVNCH buông súng rã ngũ, giúp cho cộng sản Bắc Việt có cơ hội kết thúc sớm cuộc chiến xâm lăng Miền Nam. Cũng kể từ đó đã có nhiều tài liệu của mọi phía liên hệ tới lịch sử, bật mí vén màn bí mật những uẩn khúc một thời mà nguời Việt đọc tới cứ tưởng như đang trong mộng, vì tất cả đều do bàn tay lông lá của ngoại bang dàn dựng.

Riêng về sự nghiệp của tổng thống cuối cùng của VNCH là Dương Văn Minh, cũng có rất nhiều nhưng chỉ có các bài viết của ký giả Pierre Denicron, 'SaiGon et Moi' của cựu đại sứ Pháp là J.M.Mérilon và 'Decent Interval' của Frank Sneep là viết rõ ràng nhất.

Theo 'Những Ngày Cuối Cùng VNCH' của Nguyễn Khắc Ngữ xuất bản sau năm 1975 tại Canada, thì ngay khi Bắc Việt vừa chiếm được Cao Nguyên Trung Phần (QDII) ngày 24-3-1975. Nhận thấy thời cơ đã tới, Phạm Văn Đồng lúc đó là Thủ tướng Bắc Việt, đã ra lệnh cho bọn phản tặc ăn cơm Quốc Gia thờ ma Hồ, với cái gọi Lực Lượng Thứ Ba (LLTB) ở Sài Gòn, công khai ra mặt chống đối Chính Phủ VNCH, qua trung gian Đại Sứ Pháp ở Hà Nội là Phillipe Richer. Đồng noí: 'thế nào? bao giờ người Pháp mới hành động? giờ đã đến lúc các bạn ông trong phe thứ ba ở Sài Gòn, ra khỏi sự dè đặt, công khai lật đổ Nguyễn VănThiệu, để lập chính phủ mới trung lập, mới có đủ tư cách nói chuyện thương thuyết với chúng tôi'. Đó chính là lý do mà Đại sứ Pháp tại Sài Gòn, J.M. Mérillon, tiếp xúc với LLTB, áp lực Mỹ thay ngựa hết TT. Thiệu tới TT. Hương và tìm đủ mọi cách đưa Dương Văn Minh lên ghế Tổng Thống VNCH.

A- Những Ngày Chuẩn Bị Lên Ngôi Vua

Người Pháp hết bị Nhật rồi tới VN đánh đuổi ra khỏi Đông Dương một cách nhục nhã và thảm bại vào năm 1955, nhưng De Gaulle và thực dân lúc nào cũng hằng nuôi ảo vọng trở lại làm trùm miền đất này. Bởi vậy không lúc nào chúng bỏ quên mọi cơ hội, rình rập và chợp thời cơ để trục lợi. Đó cũng lý do Hòa đàm Paris được tổ chức trên đất Pháp. Ngoài ra đây cũng là nơi dung thân của các chính khưa lưu vong, sào huyệt của phong trào trí thức sinh viên tôn giáo thân Cộng Sản. Vì vậy suốt cuộc chiến, Hà Nội đã lập ra tại đây 4 Tổ Tuyên truyền, thuộc thành phần MTGPMN, Phòng Thông tin Bắc Việt và Hội Việt kiều yêu nước XHCN, nhưng tất cả đều đặt dưới sự chỉ đạo của Trung ương cục miền Nam, một tổ chức nối dài của Đảng Cộng Sản.

Ý đồ lưu manh trên đã được Mérillon nói một cách công khai và hãnh diện, trong tác phẩm của mình. Đó chính là những ngày cuối tháng 4-1975, giữa lúc VNCH đang hấp hối vì Hoa Kỳ phản bội, đại bàng bỏ trốn, Việt gian đâm sau lưng, tạo dịp tốt ngàn năm một thuở, cho Pháp nhảy vào ăn ké hột hụi chót, được hay thua cũng không bị lỗ vốn.

Cũng theo lời kể của vị cựu đại sứ Pháp, kể từ ngày 18-4-1975, Hoa Kỳ coi như đã dứt khoát bỏ VN qua vai trò của đại sứ Martin. Noí chung người Mỹ nhờ Pháp thay thế, lo giùm hậu sự cho cái xác của VNCH, đang hấp hối chờ chôn. Bởi vậy Mérilon đã liên hệ khắp nơi, kể cả phái đòan của Bắc Việt trá hình là VC, do Phan Hiền cầm đầu, được Mỹ bảo vệ và cho ở làm gián điệp nơi trại David nằm trong phi trường Tân Sơn Nhất để xúc tiến thành lập một chính phủ MA mới tại VNCH, gồm ba thành phần Quốc Gia, Cộng sản và Trung Lập, như lệnh của Phạm Văn Đồng.

Đảng đối lập tức Lực lương thứ ba lúc đó, gồm có Thủ Lãnh là Đại Tướng Dương Văn Minh, hợp với Huỳnh tấn Mẫm, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngô Bá Thành, Huỳnh Liên, Vũ Văn Mẫu, Lý Quý Chung được Mérilon tiếp kiến ngày 22-4-1975 nhưng tất cả lũ đều là bọn hề, không có một chút tiếng tăm gì trên trường chính trị lúc đó, ngoài vai trò làm tay sai phá hoại, nên bị đuổi về vì không đủ điều kiện để lọt vào mắt của Bắc Bộ Phủ. Riêng Dương văn Minh được giữ lại, chờ nói chuyện với Hà Nội qua đường dây chuyển tiếp của Toà đại sứ Pháp tại Sài Gòn-Tân Gia Ba-Bắc Việt, do Võ Đông Giang làm trung gian.

Trong lúc chờ đợi, Đại sứ Pháp dâng lên tổng thống tương lai kế sách bình thiên hạ, trung lập hóa miền Nam, chung qui cũng vẫn là vai trò của Pháp, Trung Cộng và Nhật sẽ thay chân Mỹ làm chủ nhân ông VNCH.

Để Miền Nam mau chết, Hoa Kỳ đã quyết định cắt đứt hết mọi quân viện, khiến Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cũng cắt đứt luôn sự liên hệ với Tòa Đại Sứ. Bởi vậy, trong đêm 20-4-1975, thân hành đại sứ Martin phải vào Dinh Độc Lập áp lưc TT phải từ chức tức khắc bằng tối hậu thư của CS Bắc Việt gửi Mỹ.

Theo luật pháp quốc gia, cũng như Hiến Pháp và Quốc Hội qui định, nên Phó Tổng thống Trần Văn Hương lên thay thế chức vụ TT. Nhưng cụ Trần Văn Hương, từ trước tới nay vốn nổi tiếng Diều Hâu, điếc không sợ sấm dù là sấm Chúa hay Phật, một nhân vật chống Cộng cực đoan, tuổi tuy già nhưng đầu óc tỉnh táo và cương quyết. Cho nên ông đâu phải là nhân vật tuyển của thực dân Pháp và giặc xâm lăng Bắc Việt. Bởi vậy Dương Văn Minh được mời ra cứu nước, đó cũng là bài bản tuồng tích đã được sắp xếp, đâu có gì lạ.

Để áp lực với tổng thống Hương nhường ngôi cho Dương văn Minh, tối 24-4-1975, cộng sản lại ra thông cáo:

1- Trần văn Hương bù nhìn của Nguyễn Văn Thiệu, phải ra đi.
2- Mỹ phải rút khỏi VN.
3- Không chấp nhận các cơ cấu của VNCH hiện tại.

Như vậy việc Dương văn Minh lên làm tổng thống, theo thông cáo trên, là do ý của cộng sản Hà Nội, chứ không phải do Hiến Pháp VNCH quyết định. Ý đồ cướp nước của giặc đã công khai rõ ràng như ban ngày, vậy mà Tướng Minh và phe nhóm vẫn mù tịt. Khôi hài nhất là việc ông đại sứ Pháp cứ liên tục thúc hối Tổng thống Trần Văn Hương mau từ chức, để Dương Văn Minh kịp cứu dân cứu nước?

Nhưng cụ Hương tuy tuổi già chứ không lẩm cẩm, hơn nữa lại là thầy của Dương Văn Minh, nên đâu có lạ gì tánh tình và nhân phẩm của người học trò mình. Theo 'Saigon et Moi', chính cụ Hương đã trả lời thẳng với Mérilon như sau 'Nước Pháp luôn hái nho trái mùa, tưởng chọn ai, chứ Dương văn Minh không phải là hạng người dùng được trong lúc dầu sôi lửa bỏng'.

Do các lý do trên, TT Hương không muốn trở thành một tội nhân thiên cổ đối với lịch sử, nên đã khôn khéo trao quyền quyết định cho Quốc Hội và Tối Cao Pháp Viện. Cuối cùng Tướng Minh được chỉ định làm Tổng Thống thứ tư của VNCH, vào lúc 20 giờ 45' đêm 27-4-1975, với tỷ số 132/02. Rồi lễ bàn giao được diễn ra tại Phòng khánh tiết, Dinh Độc Lập lúc 17 giờ 01 phút, chiều ngày 28-4-1975. Lần nữa Việt Sử cận đại lại được lật sang trang nhưng vô cùng ngắn ngủi, vì tổng thống Dương Văn Minh, chỉ nắm quyền chưa tới 48 giờ, thì mất nước.

B/ 30-4-1975, Ngày Dài Nhất Của Tổng Thống Dương Văn Minh

Theo các tác phẩm dẫn thượng, thì suốt 40 giờ tham chính, TT Minh và Nội Các của ông, hoàn toàn làm việc tại Dinh Hoa Lan và dưới sự chỉ đạo kiểm soát của Đại sứ Pháp gần như 24/24. Jean Larteguy, tác giả 'L'adieu à Saigon', có viết rằng cụ Hương trước khi mất, cho tác giả biết, cả ông, Dương văn Minh lẫn Vũ Văn Mẫu, đều chẳng liên lạc được gì với cộng sản Bắc Việt.

Điều này cho thấy ông Dương văn Minh cùng phe nhóm, chẳng có một kế hoạch nào để giải quyết cuộc chiến, mà mặt thật chỉ là những người bị cộng sản Bắc Việt lừa bịp, phỉnh gạt mà thôi. Bởi vậy khi Dương Văn Minh vừa đăng quang xong lúc 17 giờ ngày 28-4-1975, lập tức VC cho Nguyễn Thành Trung oanh tạc phi trường, đồng thời trở mặt tức khắc.

Trong trại David vào đêm 28-4-1975, Võ Đông Giang bảo thẳng với phái đoàn thương thuyết của Dương Văn Minh, gồm Chân Tín, Châu Tâm Luân và Trần Ngọc Liễng 'giờ tấn công đã sẵn sàng, nên Dương văn Minh chỉ có hai điều kiện: Đầu hàng hay không Đầu hàng'. Cả ba sứ giả bị giữ lại làm con tin. Sáng sớm ngày 29-4-1975, Hà Nội lập tức ra thông cáo, đòi tổng thống Minh cùng nội các từ chức, giao Miền Nam cho chúng, ban lệnh đuổi Mỹ, ngưng bắn và đầu hàng vô điều kiện.

Trong lúc ngoài vòng đai thủ đô, các đại đơn vị còn lại của QLVNCH đang tử chiến để ngăn giặc khắp năm cửa ô, thi Sài Gòn đã hỗn loạn vì sự trốn chạy của Mỹ bằng trực thăng trên mái nhà. Nhiều phi công vì ham sống đã bỏ chiến đấu, bỏ đồng đội đang tử chiến dưới đất để bay sang tận Thái Lan, trả máy bay cho Mỹ để đước tới định cư ở Hoa Kỳ. Theo W.W.Monyer trong 'Vietnammese Airforce' (1955-1975), thì Mỹ đã thu hồi lại được 132 phi cơ đủ loại, theo lệnh của Phụ tá Bộ trưởng Quốc Phòng Mỹ, lúc đó là R. Armitage và E.V Marbod. Các đại bàng lớn nhỏ lần lượt chắp cánh tung trời, từ TT Thiệu, Thủ Tướng Khiêm, Đại Tướng Viên, Quang rồi Đồng văn Khuyên, Vĩnh Lộc, Nguyễn văn Chức, Nguyễn văn Toàn đều ra đi.

Tóm lại giặc đang còn tận Biên Hòa, Bến Cát, Long Thành, Củ Chi và Long An thì Bộ Tổng Tham mưu, Bộ Tư Lệnh KQ, HQ, BTL QDIII và Biệt Khu Thủ Đô đã tan hàng, khiến Tổng Thống Minh như cua gãy càng, đành gọi bọn sâu bọ Nguyễn Hữu Có, Nguyễn Hữu Hạnh, Triệu Quốc Mạnh vào dinh, cho mang lon trở lại để giúp ngài có đủ can đảm đầu hàng giặc. Tổng thống đã thức trọn đêm, cho tới sáng 30-4-1975 để quyết định một sự kiện lịch sử, mà thật ra khả năng của ông, vốn không bao giờ có thể vói tới được.

Từ 7 giờ sáng ngày 30-4-1975, Nguyễn Hữu Thái tới Chùa Ấn Quang, yêu cầu Thượng Tọa Trí Quang, dùng uy tín khuyên Dương văn Minh đầu hàng. Chính cuộc điện đàm ngắn ngủi giữa Trí Quang, Nguyễn Hữu Thái và bộ ba Minh, Mẫu và Lý Quý Chung, khiến Dương văn minh, quyết định đầu hàng giặc sau một đêm dài thức trọn đủ năm canh.

C- Nguyễn Đình Đẩu Làm Sứ Giả Hòa Bình

Vào ngày 30-4-2005 tại Sài Gòn, VC có đưa bốn nhân vật liên quan tới những giờ phút cuối cùng của VNCH vào tháng 4-1975 lên TV phỏng vấn: Đó là Nguyễn Hửu Có, Nguyễn Hửu Hạnh, Phạm Quốc Mạnh và Nguyễn Đình Đẩu. Trong 4 người, Có, Hạnh và Mạnh là sĩ quan cao cấp của QLVNCH. Riêng Đẩu là một nhà nghiên cứu địa bạ rất nổi tiếng qua các sách đã xuất bản.

Trong một hồi ký đăng trên 'Thế Giới Mới số 385', xuất bản tại thành Hồ vào năm 2000, cho biết mình là một trong 4 sứ giả hòa bình vào những ngày cuối tháng 4-1975, được Phó Tổng thống Nguyễn Văn Huyền mời vào phái đoàn đến trại David, là nơi đóng quân của Phái đoàn Bắc Việt trong phi trường Tân Sơn Nhất để thương thuyết ngưng bắn. Đẩu viết:

Ngày 29-4-1975: Lúc 6 giờ 30 sáng, Đẩu đi tìm Nguyễn Văn Huyền, mới được TT Minh phong chức 'Phó Tổng thống đặc trách hòa đàm'. Theo Đẩu, lúc đó chính phủ Dương Văn Minh chưa có ai liên lạc hay tiếp xúc với phía bên kia. Do đó Đẩu xung phong cùng với Nguyễn Văn Diệp (Tổng trưởng kinh tế thương mại vừa mới phong), Nguyễn Văn Hạnh (Nhà thầu), Tô Văn Cang (kỹ sư). Lúc 11 giờ 15 cả bọn vào trại David bằng công xa của Bộ trưởng Diệp, có cận vệ, nhưng trống không vì phái đoàn VC đã rút đi hết. Lúc 13 giờ 30, theo lệnh Nguyễn Văn Huyền, Đẩu viết lời tuyên bố của Chính phủ VNCH, chấp nhận điều kiện của VC đòi hỏi ngày 25-4-1975, sau đó được đọc trên đài phát thanh Sài Gòn vào lúc 14 giờ 30'.

Lúc 19 giờ cùng ngày, Đẩu cùng Nguyễn Văn Huyền vào Dinh Hoa Lan gặp Tổng Thống Minh và cho biết 'Giải pháp chính trị chấm dứt chiến tranh' đã không thể thực hiện được, vì Bắc Việt không chấp nhận trong lúc đang thắng thế quân sự. Ngày 30-4-1975, lúc 7 giờ 30 sáng, Đẩu lại theo Nguyễn Văn Huyền đi trên công xa của Tổng thống tới họp tại Văn phòng Thủ tướng Vũ Văn Mẫu, ở số 7 đường Thống Nhất. Theo Đẩu, ngay trên xe lúc đó, Huyền nói với đương sự bằng tiếng Pháp 'Phải đầu hàng'.

Tại Phủ Thủ tướng lúc 8 giờ 30 sáng, bộ ba Minh, Huyền, Mẫu họp kín. Lúc 9 giờ 15, cũng tại đây, TT Minh dùng điện thoại đọc lệnh ngưng bắn đơn phương trên Đài Phát thanh Sài Gòn, Quân Đội. Lúc 9 giờ 30 cùng ngày, bộ ba Minh-Huyền-Mẫu và nhiều người trong nội các dùng công xa kéo về Dinh Độc Lập, chờ Cộng Sản Bắc Việt tới giao quyền hành. Dịp này Đẩu cũng tháp tùng nhưng lại bỏ về nhà nên cho biết không chứng kiến những gì đã xảy ra tại Dinh Độc Lập vào lúc 11 giờ 30 khi xe tăng Bắc Việt có mặt ở đây.

3- Ngày 30-4-1975 Tại Dinh Độc Lập, TT Dương Văn Minh Đầu Hàng Hay bị Quân Cộng Sản Bắc Việt Bắt?

Theo Nguyễn Khắc Ngữ, thì sau khi cuộc di tản của người Mỹ trên mái nhà chấm dứt vào 7 giờ sáng. Lúc đó Tổng thống Dương Văn Minh cũng chưa biết là mình phải làm gì trước giờ thứ 25 của VNCH. Tuy nhiên xung quanh lại có nhiều thành phần trở cờ, thân hay là VC nằm vùng xúi giục; nhất là Vũ Văn Mẫu, Lý Quý Chung, Nguyễn Hữu Thái, Nguyễn Hữu Hạnh, Phạm Quốc Mạnh bởi vậy đã ra TUYÊN CÁO ĐẦU H?NG, thâu băng ở Dinh Thủ tướng và được Đài phát thanh Sài Gòn, phát lúc 9 giờ sáng, với nội dung:

"Đường lối chủ trương của chúng tôi là Hòa Giải và Hòa Hợp Dân Tộc để cứu vãn sinh mệnh của đồng bào. Chúng tôi tin tưởng sâu-xa vào sự hòa giải của người VN với nhau, để phải khỏi phí phạm xương máu của người VN chúng ta. Vì lẽ đó, tôi yêu cầu tất cả các anh em chiến sĩ VNCH hãy bình tĩnh ngưng nổ súng và ở đâu ở đó. Chúng tôi cũng yêu cầu anh em chiến sĩ Chính phủ Lâm thời miền Nam VN hãy ngưng nổ súng. Chúng tôi đang ở đây chờ gặp Đại diện Chính phủ Lâm thời Cộng hòa miền Nam VN, để cùng nhau thảo luận về việc bàn giao chính quyền trong vòng trật tự và tránh sự đổ máu vô ích của đồng bào."

Sau đó Nguyễn Hữu Hạnh, mới được TT. Dương Văn Minh gắn lon Chuẩn tướng và phong chức Phụ tá Tổng Tham mưu mưởng QLVNCH lúc đó là Trung tướng Vĩnh Lộc. Vì tướng Lộc đã di tản hồi sáng sớm, nên Hạnh phải thay thế đọc NHẬT LỆNH, với đại ý bắt QLVNCH phải tức khắc tuân lệnh TT. Dương Văn Minh, buông súng đầu hàng Cộng Sản Bắc Việt. Chính lời tuyên bố đầu hàng của Dương Văn Minh đã làm tan rã ngay QLVNCH, một Quân đội hào hùng, dũng liệt, lúc đó dù đã bị Hoa Kỳ bán đứng và bỏ rơi nhưng vẫn can trường tiếp tục chiến đấu với kẻ thù xâm lăng phương Bắc. Những tướng lãnh Phạm Văn Phú, Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Trần Văn Hai, Lê Nguyên Vỹ, Lê Minh Đảo, Lý Tòng Bá, Trần Quang Khôi, Lê Văn Thân, Đổ Kế Giai... người quyên sinh chết, kẻ vào tù khổ sai tại các trại giam ở tận biên giới Việt Bắc. Riêng đồng bào cả nước cũng cùng người linh, chịu chung số phận hẳm hiu, lầm than suốt ba mưoi mốt năm qua dưới chế độ tham tàn bạo ngược, mà Tổng thống Dương văn Minh và phe nhóm đã vô tình hay cố ý lót đường, trải thảm, rước giặc vào tàn sát đồng đội, đồng bào qua danh từ hoa mỹ "Hòa hợp, hòa giải dân tộc".

Đầu hàng để bom đạn khỏi tàn phá Sài Gòn và tránh bớt đổ máu cho đồng bào vào những ngày cuối tháng tư quốc hận. Nhưng Sài Gòn và cả nước vẫn bị tàn phá hủy diệt, đồng bào cả nước vẫn đổ máu gục ngã ngay sau khi Cộng Sản Bắc Việt chiếm được cả nước ngày 1-5-175. Chết nào cũng chết, tàn phá nào cũng là hủy diệt. Vậy tại sao không để cho QLVNCH và đồng bào chết một cách oanh liệt khi đối mặt với giặc thù, mà lại bắt họ và đất nước phải chết đau hận nhục dưới gót giầy xâm lược của Đế quốc Đệ tam Cộng Sản?

Có một sự kiện lịch sử cần phải viết nhớ, là lúc Đương văn Minh cùng phe nhóm vừa từ Dinh Thủ tướng về Dinh Độc lập, đã thấy trong sân cỏ có rất nhiều Chiến xa M48 của VNCH nhưng đã bị Tổng thống ra lệnh trở về đơn vị để chờ đầu hàng. Cũng vì vậy mà Tăng 54 của Bắc Việt mới phách lối ủi xập được cửa sắt của Dinh Độc lập và những trận giặc miệng trên báo chí trong và ngoài nước của Bùi Tín, Bùi văn Tùng, Bùi Biên Thùy và mới đây thêm Nguyễn Đình Đẩu, Phùng Bá Đạm, Sương Nguyệt Minh, Nguyễn Khang Thái về cái gọi là 'Bắt Dương Văn Minh tại Dinh Độc Lập'.

Ngày nay đọc ba quyển hồi ký của Võ Nguyên Giáp và Bộ Chung Một Bóng Cờ của Tập đoàn Giải Phóng Miền Nam gồm Nguyễn Hữu Thọ, Trần Nam Trung, Trần Bạch Đằng, Nguyễn Thị Bình viết chung, do Nhà xuất bản Chính trị của Đảng độc quyền phát hành, qua những tiết lộ về các bí mật hậu trường chính trị miền Nam trước năm 1975. Nhờ đó ta mới biết chân tướng của Nguyễn Xuân Oánh, Phó Thủ tướng 'Tôi cảm thấy sống rất thoải mái và phấn chấn, vì trong mấy chục năm qua nằm vùng trong Chính quyền miền Nam, tôi cũng đã giúp Đảng ta nhiều công lớn'. Còn Nguyễn Hữu Có, nguyên Tổng trưởng Quốc phòng thì nói 'Đảng ta mau tuyên truyền ra hải ngoại, để Việt kiều biết tìm cơ hội cống hiến yêu nước XHCN'. Nhưng nhức nhối hơn cả vẫn là Nguyễn Khánh, trong lúc Miền Nam đã nguy ngập vào tháng 3-1975, chẳng những không tìm cách giúp đỡ, mà còn đâm sau lưng chiến sĩ bằng cách đòi hỏi Mỹ phải chấm dứt ngay quân viện cho VNCH. Ngày 17-4-1975 khi Cộng Sản đang vây khổn Sài Gòn, thì Khánh viết 'The Peace must be Vietnamized' - 'Phải VN hóa hòa bình', đăng trên tờ New York Times. Cuối cùng khi được tin Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức, Khánh lại liên lạc với MTGPMN hỏi là 'Mình phải tiếp tục làm gì?'

Còn Đại tướng Dương Văn Minh, Tổng thống hai ngày cũng là tổng thống chót của VNCH, ngoài việc dùng quyền hành vua nước và tổng tư lệnh quân đội, bắt QLVNCH buông đầu hàng rã ngũ. Sau ngày 1-5-1975, còn Họp báo công bố 'Chính Sách Khoan Hồng Của Cách Mạng' và nói: 'Riêng cá nhân tôi rất hân hoan, vì cho tới năm 60 tuổi, tôi mới được trở thành công dân của một nước VN độc lập, tự do'.

Về chuyện gì đã xảy ra trong Dinh Độc Lập, vào trưa này 30-4-1975, hiện đã có rất nhiều tài liệu của cả hai phía, cũng như ngoại quốc ghi nhận. Nói chung tất cả sự kiện gần giống nhau, chỉ có khác biệt là ai cũng dành công việc bắt TT Dương Văn Minh và Nội các VNCH, là của mình.

+ Nguyễn Khắc Ngữ

Viết trong 'Những ngày cuối cùng của VNCH' cho biết vào lúc 12 giờ 30 ngày 30-4-1975, lúc quân Bắc Việt do Bùi văn Tùng chỉ huy, đã vào được bên trong Dinh Độc Lập. Về phía VNCH, tại phòng Khánh Tiết, hầu như có đủ các nhân vật thuộc phe nhóm DVM và nội các của Thủ tướng Vũ Văn Mẫu, tất cả đang ngồi trên ba hàng ghế chờ. Chính TT. Minh đã ra đón cán binh Bắc Việt tận cửa Phòng Khánh Tiết và nói về việc bàn giao. Nhưng chúng nhất định không chịu, đòi Dương Văn Minh phải đầu hàng VÔ ĐI"U KIỆN và cho biết TUYÊN CÁO phía VNCH do Minh và Hạnh vừa đọc không có giá trị. Sau cùng Lê Văn Minh nói thẳng là Dương Văn Minh đã bị bắt, thì còn gì để bàn giao.

Biết mình đã lỡ dại, nên TT Minh, Thủ tướng Mẫu đành để cho giặc áp giải tới Đài phát thanh, ra lệnh cho QLVNCH buông súng đầu hàng vô điều kiện; đồng thời tuyên bố giải tán Chính quyền VNCH, từ trung ướng trở xuống địa phương. Còn Vũ văn Mẫu thì nhân danh Thủ tướng chính phủ kêu gọi đồng bào hoan hỉ đón giặc vào.

+ Bùi Tín Có Bắt Được Dương Văn Minh?

Đây là bài viết của Bùi Văn Tùng, trả lời Thành Tín, tức Bùi Tín qua 'Sài Gòn trong ánh chớp chói lọi của lịch sử', được VC in và phát hành năm 1978. Trong bài viết của Thành Tín, cho biết Bùi Văn Tùng, Chính Ủy Lữ Đoàn Thiết giáp 203, đã áp giải TT Minh và Thủ tướng Mẫu từ Dinh Độc Lập tới Đài phát thanh Sài Gòn; rồi tự Tùng và Thệ viết 'Bản Tuyên bố đầu hàng' đưa cho Tổng thống đọc nhưng Minh không muốn dùng chức vụ 'Tổng thống', mà chi muốn xưng danh hiệu 'Đại tướng'. Cuối cùng trước mũi súng, Tổng thống kiêm Đại tướng Dương Văn Minh đã phải tuân hành theo mọi mệnh lệnh.

Năm 1992, Bùi văn Tùng có viết một bài liên quan tới các sự kiện trưa ngày 30-4-1975 tại Dinh Độc Lập, Sài Gòn. Trong bài viết, Tùng cho biết sau năm 1975, Bùi Tín có làm một Bộ phim về chiến tranh VN nhưng Tùng đã tố Tín cố tình đạo diễn để cho mọi người tưởng lầm, chính Tín đã bắt và buộc Dương Văn Minh đầu hàng. Cuối cùng Bùi văn Tùng xác nhận Bùi Tín đã có mặt tại Dinh Độc Lập vào chiều ngày 30-4-1975, qua tư cách một nhà báo phóng viên. Nhưng theo Tùng, thì việc bắt Tổng Thống Minh đầu hàng vào lúc 13 giờ 15' tại Đài phát thanh Sài Gòn chứ không phải Dinh Độc Lập. Hỡi ôi, sự thật biết đâu mà mò.

+ Nguyễn Trần Thiết

Thiết là một nhà báo Bắc Việt, cho biết vào lúc 12 giờ 12 'Đại tá CS Nam Long lúc đó đang có mặt Trong Dinh Độc Lập, đã tiếp phái đoàn báo chí phe mình, trong đó có Bùi Tín. Thiết cho biết mình vào Dinh DL, với nhiệm vụ phỏng vấn TÙ BINH VNCH có mặt tại chỗ lúc đó, gồm TT kiêm Đại tướng Dương Văn Minh, Nguyễn Văn Huyền, Vũ Văn Mạu'. Theo Thiết, vì chỉ trong mấy ngày mà VNCH đã thay đổi ba lần nội các, qua các Thủ tướng Trần Thiện Khiêm, Nguyễn Bá Cẩn, cuối cùng là Vũ Văn Mẫu, nên quá nhiều ông lớn nên chẳng biết đâu mà mò.

Trong bài của Thiết có nhắc tới việc Bùi Tín chửi Dương Văn Minh khi Tổng thống đòi bàn giao Chính quyền với MTGPMN 'Nhưng ông đâu có chính quyền để bàn giao? Người ta không thể giao cái gì không có trong tay. Ngụy quyền cũ từ dưới lên trên đã sụp đổ hoàn toàn'. Nhưng Minh vẫn có cãi 'Các ông có thấy Sài Gòn không đổ máu? đó là mơ ước của tôi'. Và đã được Bùi Tín trả lời 'Đúng, Sài Gòn gần như không đổ máu, không bi tàn phá. Đó là do sức áp đảo và khí thế thần tốc của cách mạng'.

Mai mỉa nhất là Nguyễn văn Hảo lúc đó đòi được bắt tay với bộ đội Bắc Việt và khoe chính mình đã ngăn cản không cho bất cứ kẻ nào phá hoại nguồn lợi kinh tế của nước ta. Kho bạc còn, vàng dự trữ còn. Công lao của tụi này đấy.

Tóm lại, tại Dinh Độc Lập ngày 30-4-1975, theo Nguyễn Trần Thiết thì chính Sáu Hoàng Cao Minh Chiếm mới là người Đại diện chính thức của Bắc Việt chấp nhận sự đầu hàng của Tổng Thống Dương Văn Minh và nội các.

Riêng Nguyễn Hữu Hạnh nhờ nằm vùng nên sau tháng 5-1975 được Cộng Sản thưởng công làm Ủy viên Ủy Ban Mặt Trận GPMN, thành phố Sài Gòn-Gia Định rồi lên Ủy viên Ủy Ban Trung Ương Mặt trận Tổ Quốc VN.

+ Phùng Bá Đạm

Tháng 4-2005, trên báo Khoa học phổ thông số 18 xuất bản tại Thành Hồ, có đăng bài 'Gặp lại một nhân chứng lịch sử' của Nguyễn Khang Thái. Bài viết ghi lại lời kể của Phùng Bá Đạm, tự nhận thuộc Trung đoàn 66, Sư đoàn 304, Quân đoan 2, là đơn vị đã vào Dinh Độc Lập đầu tiên ngày 30-4-1975. Theo Đạm kể, khi xe tăng Bắc Việt còn cách Dinh Độc Lập khoảng 300m, thì Tô Văn Thành, thuộc Đại đội 3, Tiểu đoàn 7, ngồi trên xe tăng trúng đạn chết. Vì vậy khi tới gần Dinh DL, xe tăng VC đã mở hết tốc lực ủi sập cổng và tiến vào sân cỏ trước dinh.

Nhờ các nhà báo hướng dẫn, Phạm Xuân Thệ, Phùng Bá Đạm, Đào Ngọc Vân với lá cờ của MTGPMN chạy lên lầu và gặp Nguyễn Hữu Hạnh ở tầng 2, đón đưa vào phòng khánh tiết, lúc đó đã có TT Minh và nội các đang ngồi chờ đầu hàng. Do Đài phát thanh Sài Gòn lúc đó đã ngưng hoạt động, nên Thệ, Đạm áp giải TT Minh và Vũ Văn Mẫu, tới nơi để lên đài, mặc dù Đại tướng cố từ chối.

Trên đường tới Đài phát thanh, ngồi trên xe Jeep do Đào Ngọc Vân lái. Ở băng trước TT Minh ngồi với Phạm Xuân Thệ. Còn Vũ văn Mẫu, Phùng Bá Đạm, Đinh Thái Quang cùng 2 bộ đội, ngồi phía sau.

Đài phát thanh Sài Gòn lúc đó đã bị Tiểu đoàn 8 Bắc Việt chiếm. Chính bản văn 'Tuyên bố đầu hàng' mà TT Dương Văn Minh đọc trên đài, là do Phạm Xuân Thệ, Đinh Thái Quang, Trịnh Ngọc Ước và Phùng Bá Đạm đạo diễn. Lúc này Trung tá Bùi văn Tùng, Chính Ủy Lữ đoàn 203 Thiết giáp cũng vừa tới. Theo Đạm kể, vì lúc đó trong bọn, Bùi văn Tùng có cấp bậc cao nhất nên thay mặt quân Bắc Việt chấp nhận lời đầu hàng của TT Dương Văn Minh, vào lúc đồng hồ chỉ 11 giờ 30' ngày 30-4-1975.

Kể từ giờ phút đó Sài Gòn tan hoang và thê thảm nhất là tại Tòa Đại sứ Mỹ, nằm trên đường Thống Nhất-Mạc Đĩnh Chi. Phủ Thủ tướng Mẫu, cả con dấu cũng lăn lóc dưới sàn gạch. Trong Bộ Quốc Phòng, Tổng Nha Cảnh Sát, Bộ Tổng Tham Mưu đâu đâu cũng ngổn ngang xe Jeep, súng ngắn mà người xưa đã đi đâu mất.

Từ đó người VN chịu cảnh đổi đời. Tất cả đều bị Rợ Hồ gọi là Nguỵ, lính tráng là Ngụy quân, công chức là Ngụy quyền và đồng bào Miền Nam cũng thành Ngụy Dân. Nhờ Tổng Thống Minh kịp thời đầu hàng, tránh cho Sài Gòn còn nguyên vẹn, kể cả 16 tấn vàng của Ngân hàng quốc gia do Nguyễn văn Hảo giữ, giúp cho Bắc bộ Phủ, thâu tóm trọn vẹn tài sản của dân chúng và công khố nhà nước một cách đầy đủ. Từ đó nhờ công cách mạng giải phóng nên người Việt từ bắc vào nam, chịu chung cảnh người thành vượn, đói rách thảm thê, không có bút mực nào diễn tả cho trọn vẹn.

Cũng từ đó dân chúng căm hờn, đổ hết mọi trách nhiệm cho ông Dương văn Minh, một tổng thống cuối cùng của VNCH, vì ngu muội khiến cho dân chúng lầm than dưới chế độ bạo tàn của đệ tam quốc tế, tạo cơ hội cho đảng cộng sản VN đem đất đai biển đảo, tài nguyên quốc gia, nhượng bán cho kẻ thù không đội trời chung của Dân Tộc là Trung Cộng. Thế là cuộc bút chiến xảy ra công khai trên báo chí hải ngoại giữa hai phe thương và ghét Dương Văn Minh.

Người ta trách ông Minh không phải là trách ông đã ra lệnh cho QLVNCH buông súng đầu hàng giặc, nhưng trách ông tự biết mình là người rất ấu trĩ về chính trị, từng là bại tướng của Khánh, Khiêm, Thiệu nhiều lần. Tài năng như vậy mà dám xưng phong ra nhận lãnh trách nhiệm cứu nước trong giờ thứ 25, khiến cho nước non phải thảm nhục.

Người ta trách ông Minh ham sống sợ chết, không biết hành xử xứng đáng với cương vị và thân phận của mình. Đường đường là một Đại tướng, Lãnh tụ phe thứ ba và trên hết là Tổng thống của một nước nhưng ông Dương Văn Minh đã cố tình làm ngơ; các gương trung liệt nghĩa khí của người xưa, gương anh hùng bất khuất của thuộc hạ trước mắt 'Chết để giữ tròn khí tiết, chết vinh hơn sống nhục'.

Thật vậy hoàn cảnh của tướng Minh, đâu khác gì thảm trạng của hai tướng giữ thành Bình Định vào năm Tân Dậu 1801. Lúc đó thành bị Tây Sơn vây hãm lâm vào cảnh tuyệt lộ, trong không lương ngoài chẳng binh cứu. Trong nổi tuyệt cùng, Võ Tánh và Ngô Tùng Chu đã viết thư cho tướng Tây Sơn Trần Quang Diệu "Phận ta làm chủ tướng thì đành liều chết dưới cờ. Còn tướng sĩ không có tội tình gì, không nên giết hại". Sau đó Võ Tánh tự đốt chết, còn Ngô Tùng Châu uống thuốc độc chết.

Trưa 30-4-1975, khi TT Minh ra lệnh QLVNCH buông súng đầu hàng. Nhiều binh sĩ đang chiến đấu tại mặt trận đã tự tử chết, vì họ không muốn đối mặt với kẻ thù tàn ác dã man. Các tướng lãnh Phạm Văn Phú (Tư Lệnh QD2), Nguyễn Khoa Nam (Tư lệnh QD4), Lê văn Hưng (Tư Lệnh Phó QD4), Lê Nguyên Vỹ (Tư lệnh SD5BB), Trần Văn Hai (Tư Lệnh SD7BB); kẻ trước người sau, quyên sinh để bảo toàn khí tiết cho quân đội Miền Nam nói chung và danh dự của một cấp chỉ huy, lúc sa cơ thất thế.

Trái lại Đại Tướng cũng là Tổng thống Dương Văn Minh, khúm núm ra trình diện trước các tên cán binh tép riu của Bắc Việt như Bùi Quang Thận, Đại Đội Trưởng, DD Chiến Xa, để rồi bị tên chủ nhiệm chính trị của đoàn xe tăng mang số 203, tên Lê Văn Minh nạt nộ: "các anh đã bị bắt, không có bàn giao gì cả".

Mới đây đào hát cởi truồng một thời phản chiến Jane Fonda, vì muốn quảng cáo cho một tuỳ bút nói về chuyện tình của mình, đã lên đài CBS nhỏ những giọt nước mắt cá sấu để nhận tội phản quốc với Hoa Kỳ khi ả sang Bắc Việt vào năm 1972, ngồi trên các khẩu cao xạ chửi Mỹ. Câu chuyện khôi hài của đám con buôn chính trị thập thành cũng chẳng có gì lạ nhưng đối với người Việt tị nạn thì lại có một ý nghĩa, vì ít ra cô đào hát còn có can đảm nhận sự sai lầm của mình. Trong lúc đó thử hỏi những kẻ từng đâm sau lưng người lính đã hy sinh cho họ, hiện nay đang sống nơi hải ngoại, có ai dám muối mặt như Fonda để nhận sai trái năm nào, dù thời gian tới 31 năm và mặt nào phản chiến, phản tặc, tới nay ai cũng đều biết.

Thanh niên nam nữ, miền Nam VN, thế hệ sinh từ 1900 về sau, thường mượn tư tưởng làm trai của Nguyễn Công Trứ, để làm hành trang xử thế khi vào đời:

"Đã mang tiếng đứng trong trời đất
phải có danh gì với núi sông".

Còn ông Dương văn Minh lại là một nhân vật lớn của lịch sử, tại sao không vì lịch sử mà lưu lại cho hậu thế cái khí tiết "Nhất Tướng Công Thành, Vạn Cốt Khô? "

Thì ra con người cũng có năm bảy hạng người./-

Xóm Cồn
Quốc Hận 2006
MƯỜNG GIANG
__._,_.___

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Thảm Trạng Gia Đình Tại Mỹ


Người viết: Nam Huỳnh

Tác giả 61 tuổi, cựu sĩ quan, cựu tù nhân cải tạo, sang Mỹ năm 1992, diện HO. Hiện cư ngụ tại Santa Ana, nghề nghiệp: lao động hãng điện tử tại Costa Mesa, CA.

Người viết: Nam Huỳnh




Sau 30-4-1975, như tất cả các Sĩ Quan QLVNCH còn ở lại miền Nam, bản thân tôi đã phải chịu hơn 6 năm tù cải tạo.

Trước khi có dịp định cư tại Hoa Kỳ, tôi đã nghe nhiều chuyện "dở khóc, dở cười" tại cái quê hương hợp chủng này, nên tôi luôn cẩn thận, chuẩn bị tinh thần để sẵn sàng đối diện với thực tế.

Đặt chân đến Mỹ vừa tròn 3 tháng, thì gia đình tôi đã phải ứng phó với sự "kỳ thị" của "cô con dâu"!

Từ quê hương đau khổ, nghèo nàn, được sang một đất nước giàu mạnh, văn minh tột đỉnh, dân chủ thật sự, tự do nhất thế giới... thật là một phúc đức lớn lao! Nhưng niềm vui chưa trọn, thì chuyện buồn lại đến liên miên...

Vì con trai tôi sponsor, nên bước đầu gia đình tôi phải về ở chung tại San José. Tôi cũng đã sòng phẳng "trả tiền phòng" hàng tháng coi như "share phòng" hầu tránh phiền muộn về sau. Thế nhưng càng ngày tôi thấy "cô con dâu" càng tỏ ra "kỳ thị" với 3 đứa em chồng và thường sửa sai, gây gổ luôn cả chồng. Bà vợ tôi phải lo đi chợ nấu ăn cho cả nhà nên bận rộn suốt ngày! Thế mà chẳng được ơn mà còn bị oán.

Bạn hữu của cô con dâu thấy chuyện bất bình, đã lén gọi điện thoại lại báo cho chúng tôi. Cô ta nói với bạn, "Phải gắt gao với họ (chúng tôi) để chồng không dám giúp đỡ họ... và đoan chắc rằng họ chẳng bao giờ dám xa rời hoặc bỏ đi, vì lý do duy nhất là họ mới qua Mỹ, chưa có xe. Không tiền thì phải chấp nhận đau thương thôi!"

Chịu đựng đau khổ được 3 tháng, vợ chồng tôi bàn nhau tìm đường "di tản"!

May mắn làm sao, chỉ vài hôm sau, một người bạn thân từ Dallas gọi sang và rủ chúng tôi qua. Thế là chúng tôi quyết định "move" sang Garlant (Dallas) thuộc tiểu bang Texas.

Chúng tôi ra đi vì hạnh phúc của con trai tôi, tôi không muốn cái hạnh phúc của con bị sứt mẻ vì sự hiện diện của chúng tôi, và cũng để cho chúng tôi được an thân.

Thượng đế cũng thương nên qua Garland tôi tìm được việc làm tại hãng Mervyn. Làm "Machine Operator" được 3 tháng, thì nhận được "giấy" đi khám sức khỏe để vào permanent, nhưng vì vết thương chiến tranh còn để lại "nơi cột sống" nên tôi phải nghỉ việc.

Một lần nữa, gia đình tôi phải "move" đi tìm việc làm. Cuộc phiêu lưu vì "đô la" bắt đầu.

Chúng tôi di chuyển xuống Houston, một thành phố khá lớn, nằm phía Nam của Texas. Tại thành phố nghèo việc làm này, tôi cũng may mắn tìm được một job: lái xe đưa rước những gia đình H.O mới sang Mỹ đi học Anh ngữ ESL. Nhờ vậy, tôi đã được tiếp xúc với rất nhiều bạn bè thuộc mọi giới trong xã hội để được tìm hiểu, học hỏi thêm kinh nghiệm.

Mỗi người một số phận, mỗi gia đình một hoàn cảnh, tuy nhiên đa số đều giống na ná nhau: khó khăn về ngôn ngữ phong tục tập quán, trong gia đình thì vấn đề con cái đã trở nên nghịch lý.

Tôi chỉ biết lấy kinh nghiệm của người đến Mỹ trước, an ủi tất cả anh em để họ có đủ niềm tin và an tâm, hầu vượt qua được bước "khởi đầu nan"! Và tôi đã đi thấy nghe, hoặc chứng kiến, nhiều chuyện "cười ra nước mắt"!

Tháng 5/95 tôi có dịp giúp đưa một người bạn là chị H. đến "viện dữởng lão" để thăm "bà cô chồng".

Bà cô trong "Viện Dưỡng Lão" là một bà cụ đã 89 tuổi nhưng vẫn còn nét đẹp lão quí phái. Tóc trắng cả mái đầu, mắt vẫn còn long lanh, trong sáng. Bà đọc báo không cần mang kính lão. Bà chỉ có một khuyết tật nhỏ là hơi lãng tai. Khi tiếp xúc với Bà chỉ viết trên giấy để bà đọc, và bà trả lời rất rõ ràng.

Lần đầu đi với chị H, và sau khi chị H trở về Cali, chúng tôi vẫn đến thăm bà ta những khi rảnh rỗi và rồi được bà kể là bà lập gia đình năm 19 tuổi, đến năm 24 tuổi thì ông nhà mất, để lại 3 đứa con, mà đứa con gái út chỉ mới lên 2 tuổi!

Góa chồng ở lứa tuổi 24, tuy vẫn còn trong độ thanh xuân, nét mỹ miều còn làm bao thanh niên trong Quận theo đuổi, nhưng vì thương con, thương chồng, bà quyết ở vậy nuôi ba đứa con đến ngày khôn lớn.

Bà tần tảo mua bán, lập nghiệp từ một ít vốn của ông chồng để lại. Sau đó bà làm chủ 2 tiệm vàng tại quận TB thuộc tỉnh Tây Ninh.

Ngày 30/4/75 miền Nam thất thủ. Thời thế đổi thay. Bà cùng 2 con gái di tản sang Hoa Kỳ. Dù tuổi đời bà đã 69 tuổi. Quyết định bỏ cả ruộng vườn nhà cửa và chỉ mang theo 03 bao cát vàng.

Đến cuối năm 1975, bà ta và 2 con được phép định cư tại Texas.

Qua năm 76, dù mới định cư chưa được 1 năm nhưng với số vàng sẵn có trong tay, bà quyết định mua một ngôi nhà để cho con gái út (còn gọi là Út Thơm) và chồng cùng các cháu an cư rồi sẽ lập nghiệp, và các cháu được an tâm học hành.

Sau 9 năm, hai cháu ngoại đã tốt nghiệp Đại Học. Một là Bác Sĩ,một là Dược Sĩ...

Khi thấy cháu ngoại dự trù mở phòng mạch mà không có tiền, bà đã không do dự, mà còn khuyến khích, hỗ trợ bằng cách trao lại cho Út Thơm tất cả tài sản còn lại của Bà để Út Thơm lo cho cậu con bác sĩ có được phòng mạch...

Theo bà nghĩ sở dĩ trước đây bà giữ số vàng mang theo là vì sợ con, cháu ỷ lại, tiêu pha hết. Không còn để phòng thân khi hữu sự. Nay, các cháu đã thành tài. Bà không cần lo nữa và an tâm sang luôn tên nhà, giao hết của cải cho Út Thơm.

Một tuần lễ sau đó, Út Thơm cùng chồng và 2 con tổ chức đãi mừng Ngoại 79 tuổi và Út Thơm cùng chồng ngỏ ý đưa Bà đi nghỉ mát vùng xa... đổi gió. Bà ngập ngừng suy nghĩ nhưng vì 2 cháu năn nỉ thêm, nên miễn cưỡng bằng lòng cho gia đình được vui!

Sáng thứ bảy, cả nhà dậy sớm lo cho Bà ăn sáng, quần áo và vật dụng thường dùng. Hai cháu ngoại dìu Bà ra xe để lên đường. Ngồi trên xe khoảng 30 phút, xe dừng trước một tòa nhà lớn lao, sang trọng.

Tại đây, Bà được Bác Sĩ Mỹ khám bệnh trước khi đi chơi xa. Khám xong, Út Thơm vui vẻ bảo với Bà bác sĩ nói sức khỏe Mẹ rất tốt, ngoại trừ chỉ bị hơi lãng tai thôi! Sau đó Út Thơm dìu Bà lên phòng khách ngồi, mang cho Bà lon trà ướp lạnh, rồi bảo: "Mẹ uống nước chờ con vào trong thanh toán tiền cho Bác Sĩ, xong con trở ra chở Mẹ đi."

Ngồi chờ suốt mấy tiếng đồng hồ, Bà sốt ruột nên đi tìm. Chẳng thấy cô Út ở đâu! Bà bắt đầu lo sợ...thì xuất hiện cô y tá người Mỹ đến nói gì Bà chẵng hiểu và dẫn Bà vào phòng ăn. Đến nơi nhưng Bà không ăn, nhìn quanh toàn là những bà Mỹ già, chẳng có người VN và cũng chẳng có ai quen.

Bà gọi tên Út Thơm... nhưng vô vọng! Bà chạy ra ngoài nhưng nhân viên trực không cho Bà đi. Bà la, khóc và nói thật nhiều nhưng chẳng ai hiểu Bà, vì Bà chưa hề biết tiếng Mỹ.

Bắt đầu từ đây, Bà phải sống với bao nhiêu cực hình mà đám y tá Mỹ trắng, Mỹ đen rất bạc đãi, đôi khi còn xô đẩy Bà nữa!

Khi tôi đến thăm thì Bà đã ở đây được 9 năm, tuổi đã 88 tuổi. Suốt 9 năm dài, Út Thơm, con gái Bà không bao giờ trở lại thăm mẹ. Con cháu Bà, tuy phòng mạch ở downtown cách nơi đây chỉ 20 phút lái xe, cũng chẳng hề thăm viếng!

Gặp chúng tôi Bà vẫn còn sáng suốt. Bà yêu cầu chúng tôi giúp cứu Bà ra khỏi trại Dưỡng Lão này, liên lạc giùm với em trai của Bà, hy vọng sẽ đưa Bà trở về quê hương. Nhưng, than ôi, chúng tôi cũng như em trai Bà tất cả phải bó tay. Vì luật của Hoa Kỳ là ai gởi Bà vào thì chính người đó mới có quyền lãnh ra. Em trai Bà là cậu ruột của Út Thơm, đã có lần đến gặp Út Thơm để yêu cầu cô lãnh Bà ra giao cho gia đình Ông nuôi. Chẳng những bị Út Thơm xua đuổi, ông cụ còn bị gia đình Út Thơm hăm gọi cảnh sát vì chen vào nội bộ gia đình cô!

Từ lúc hiểu được hoàn cảnh của Bà, chúng tôi thường dành thì giờ đến thăm Bà. Mang quà bánh biếu, Bà không ăn. Biếu tiền, Bà không nhận. Bà nói Bà tuyệt thực và cầu nguyện ơn trên cho Bà chết sớm. Từ hơn 2 năm rồi, Bác Sĩ ra lịnh bắt Bà ngồi xe lăn, nên đến nay Bà không đi đứng được nữa.

Giữa năm 1995, vì tôi bị thất nghiệp nên phải move đi tiểu bang khác. Mãi đến năm 1998, chúng tôi trở về Houston thăm Bà ta...nhưng, tiếc thay Bà đã vĩnh viễn lìa bỏ cái "địa ngục xa lạ" này, ra đi trong cô quạnh. Hết một kiếp người!

Hình ảnh bà cụ bị con cháu bỏ rơi trong viện dưỡng lão làm tôi trăn trở mãi. Mỹ quốc là một siêu cường quốc, có nền văn minh và phát triển cao nhứt thế giới, nơi có đủ thứ luật lệ bảo vệ con người. Một xứ xở tốt đẹp như thế, tại sao đạo lý lại không được quan tâm? Phải chăng đây là nơi suy tàn của đạo lý gia đình Việt Nam?

Công Cha như núi bỏ hoang!
Nghĩa Mẹ như nước lụt tràn lối đi!

Nhớ bà cụ đã mất. Thương chính thân thế gia đình mình, tôi không muốn tin điều ấy là có thực. Đành chỉ còn biết cầu mong cho các thế hệ tương lai không còn thảm cảnh này.


Nam Huỳnh (PHT)

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

linhgia wrote:Thảm Trạng Gia Đình Tại Mỹ
Cam' ơn anh Giang cho đọc một chuyện đau lòng.
Thế nào cũng có phần hai của câu truyện:


Thảm Trạng Gia Đình Tại Mỹ
Phần 2:

Cuộc phiêu lưu của Út Thơm và chồng trên hoang đảo

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Khoa bảng, trí thức và nhân tài đất Việt.


Nguyễn Cường - đăng lúc 07:00AM, 04/21/07
Source: www.Vietnamdaily.com

Năm vừa qua trong nước bỗng nhiên xuất hiện khá nhiều những buổi hội thảo thuyết trình nói về việc sử dụng chất xám, giáo dục và đào tạo. Thêm vào đó là hàng loạt các bài viết có chủ đề nói nhiều về trí thức người Việt. Nhìn chung, thật là một sự kiện đáng chú ý và tin tưởng rằng, lãnh đạo Việt Nam cũng đã nhìn thấy rõ được con đường duy nhất để làm cho dân giầu nước mạnh, với hy vọng trong tương lai đất nước Việt Nam sẽ trở thành một trong những con Hổ của châu Á.

Trong khi đó thì hơn 30 năm qua ở hải ngoại, không thiếu gì những bài viết nhằm vào chuyện trăm dâu đổ đầu tằm, phê phán chỉ trích, quy tất cả những tai họa xảy đến cho dân Việt trong hơn thế kỷ qua, vào hai thành phần được ngầm hiểu là ưu tú nhất của xã hội, khoa bảng và trí thức. Điển hình là mới đây, đã có những loạt bài và những tranh luận gay gắt, phê bình rất tiêu cực về giới trí thức người Việt. Dù không hẳn là hoàn toàn sai, nhưng hình như có một sự hiểu nhầm không thể bỏ qua được, nếu không muốn nói là “sai một ly, đi một dặm.”

Thật sự là đa số người Việt đã hiểu nhầm hơn suốt một thế kỷ qua, kể từ khi chữ quốc ngữ trở thành chữ viết chính thức của cả nước, về bản chất của ba thành phần trong ngôn ngữ Việt: khoa bảng, trí thức và nhân tài. Đáng ngạc nhiên và bức xúc ở đây, không phải là đa số không biết rõ sự khác biệt chi tiết về ý nghĩa của ba từ ngữ nói trên, nhưng đa số đều chỉ muốn đơn giản hóa vấn đề bằng cách nhập chung ba thành phần trên vào thành một, cho tiện việc ăn nói và nhất là cho đỡ mất thì giờ (!?)

Kết quả cho thấy là ngay đến bây giờ sau gần một thế kỷ dùng những từ nói trên, đại đa số dân Việt vẫn còn lúng túng chuyện chữ và nghĩa. Thí dụ cụ thể như theo từ điển tiếng Việt do Viện Ngôn Ngữ Học định nghĩa: “Trí thức là người chuyên làm việc về lao động trí óc và có tri thức chuyên môn cần thiết cho hoạt động nghề nghiệp của mình”. Nếu chịu tìm hiểu những định nghĩa trên, chúng ta có lý do để nói rằng định nghĩa trên không đạt hết ý nghĩa, dễ bị hiểu nhầm, và nhất là cần phải được điều chỉnh lại cho rõ hơn.

Thật ra không phải chỉ có người viết có nhận định như trên. Trong vài tuần liên tiếp mới đây, đã có một loạt bài viết về chủ đề “Trí Thức” được mạng VNNet trong nước tổ chức, trong đó các tác giả cũng có cùng một nhận định tương tự, là không đồng thuận với định nghĩa về trí thức của viện Ngôn Ngữ. Rõ rệt nhất để minh chứng là có rất nhiều người làm việc “lao động trí óc và có tri thức chuyên môn” như: giáo viên, nhân viên thuế vụ, thư ký kế toán, thông dịch viên, ngân hàng, chiêm tinh gia v.v, mà đâu phải tất cả đều được coi như là trí thức hết! Ngược lại, những người có chuyên môn nhiều về lao động chân tay như nha sĩ, bác sĩ giải phẫu và chỉnh hình, kỹ sư cơ khí v.v, thì có ai dám nghĩ không phải là trí thức!?

Hậu quả tai hại do từ sự hiểu nhầm nói trên đã cho xuất hiện hàng loạt những hiện tượng gọi nôm na là “Râu ông này lại cắm cằm bà kia!” Kết quả vô tình là chúng ta đã cho ra đời một xã hội kém hiệu quả, nhất là ở việc giáo dục và đào tạo. Chỉ nói đến riêng về sự hiểu nhầm thôi, thì cũng đã đưa đến những câu chuyện rất đáng buồn cười. Thí dụ như trong vài năm qua, có một số tỉnh thành đã cố gắng “chiêu hiền đãi sĩ” bằng cách ra giá đàng hoàng, là sẽ tặng một số tiền thưởng “đầu quân” cho những ai có bằng cấp tốt nghiệp sau đại học như thạc sĩ hay tiến sĩ, nếu chịu về làm việc tại tỉnh nhà!

Nhưng sự kiện trên cũng chưa bức xúc bằng chuyện cựu Thủ tướng VN đã ngỏ lời yêu cầu Mỹ giúp xây dựng cho Việt Nam một “Trường Đại Học đẳng cấp quốc tế”! Bức xúc ở đây chính là điều khó có thể thực hiện được, ít ra là trong thời điểm hiện tại này. Muốn có một trường đại học đẳng cấp quốc tế, thì điều căn bản đòi hỏi đầu tiên là cần phải có ban giảng huấn trình độ quốc tế. Nghĩa là ngoài trình độ hiểu biết chuyên môn, ban giảng huấn phải có thu nhập khá cao, nhất là tinh thần độc lập trong công việc nghiên cứu và giảng dạy.

Nhưng cũng chưa đủ! Quan trọng nhất là ở đầu vào, cần phải có sinh viên đạt chuẩn trình độ quốc tế. Những sinh viên không phải chỉ có kiến thức đầy đủ, mà còn phải được chuẩn bị ngay từ thời còn ở bậc trung tiểu học. Phải có những sinh viên có thói quen tự nghiên cứu học hỏi, biết cách tranh luận với nhau trong lớp học, không ngần ngại nói lên những ý tưởng khác biệt của mình với giảng viên hay giáo sư v.v, như những sinh viên có cùng một trình độ ở khắp nơi trên thế giới.

Sau hết là khi đã có hai yếu tố thầy và trò rồi, thì cũng chỉ mới thỏa mãn có điều kiện cần, vẫn còn chưa đủ! Muốn có hết tất cả các điều kiện cần và đủ, thì lại phải có một xã hội hay môi trường văn hóa đạt chuẩn quốc tế bao bọc xung quanh để duy trì mức sinh hoạt tối thiểu và hỗ trợ vật chất lẫn tinh thần cho đời sống của sinh viên và ban giảng huấn. Do đó, cơ cấu tổ chức đầy đủ của một trường Đại học có đẳng cấp quốc tế thường rộng lớn như một thành phố thu gọn lại (University có từ nghĩa nguyên thủy là Universal City) Nếu không hội đủ các điều kiện nói trên thì kết luận chung là không ai có thể giúp để lập nên được một trường Đại Học đẳng cấp quốc tế thành công tại VN, trong môi trường chưa đạt chuẩn quốc tế.

Lần lượt sau đây người Viết sẽ phân tách chi tiết ba thành phần khoa bảng, trí thức và nhân tài nói trên, với hy vọng sẽ mang lại cho đọc giả một cái nhìn rõ hơn về bản chất của những thành phần ưu tú nhất trong xã hội VN. Nhưng trước hết, tưởng cũng nên nhắc lại là bài viết này chỉ có ý định duy nhất là phân tích ý nghĩa của từ ngữ theo như cách hiểu của người Việt, qua ngôn ngữ hay văn hóa Việt mà thôi. Trước hết xin bắt đầu bằng giới khoa bảng.

Khoa bảng

Trong ba thành phần nêu trên đầu bài viết này, có lẽ giới khoa bảng là dễ định nghĩa và hiểu hơn hết. Dù ai ít học nhưng nghe nói đến ông cử nhân, luật sư hay bác sĩ , thì cũng đều hiểu và biết ngay vị trí của người được giới thiệu trong xã hội.

Khoa bảng đúng theo nghĩa đen là “Có Tên Trên Bảng Vàng”. Thời nho học ngày xưa, một thí sinh thi đậu thường được đề tên trên “Bảng” niêm yết có ghi rõ là “Khoa” thi năm nào. Như vậy thì rõ ràng là không có một sự khác biệt nào hết từ xưa đến nay. Những ai thi đậu hay ra trường tốt nghiệp từ cấp cao đẳng hay đại học trở lên, thì có thể được coi như là thuộc về giới “Khoa Bảng”. (Cũng xin ghi chú riêng ở đây là người Mỹ lại không có ngôn từ riêng để nói về giới khoa bảng. Họ chỉ nói chung với nghĩa rất rộng là thành phần được giáo dục tốt, hay gọi là well-educated Class). Nhưng thật sự để gia nhập giới khoa bảng có khó lắm không? Câu trả lời sẽ là không và sẽ được giải thích sau đây.

Điều đáng ngạc nhiên mà ít người chú ý là, để gia nhập được giới khoa bảng hay tốt nghiệp đại học, một người chỉ cần có “trí nhớ” tốt trung bình là đủ, theo đúng như tiêu chuẩn hiện nay. Thật vậy, tất cả chỉ tùy thuộc vào trí nhớ! Nếu thời Nho học xưa, các nhà khoa bảng chỉ việc học thuộc lòng, hiểu nghĩa lý và nhớ các bài văn thơ trong Tứ thư Ngũ kinh là đủ, thì ngày nay đối với nền tân học cũng chẳng khác gì mấy. Những ngành học về Y-Nha-Dược nhất là Luật, chỉ cần sinh viên có một trí nhớ tốt để nhớ hết tất cả các trường hợp có thể dùng cho giải quyết các vấn đề pháp luật cho thân chủ.

Ngay các môn học về kỹ thuật hay toán, thường cũng chỉ thuộc lòng một số công thức căn bản, hiểu nguyên lý áp dụng và nhất là “ghi nhớ” các phương pháp để tìm cách giải bài toán là đủ. Chẳng có gì để gọi là thông minh lắm như đa số lầm tưởng. Ngay cả khi nói đến thực chất của sự thông minh, đúng hơn cũng chỉ là một biến dạng từ trí nhớ tốt mà ra thôi! Nên biết là, sở dĩ ở VN có rất ít bác sĩ kỹ sư là vì nhà nước không có đủ khả năng tài chánh và nhân sự để đào tạo nhiều hơn, nên con số sinh viên được tuyển ở đầu vào bị hạn chế đi rất nhiều.

Nhưng ai có thể có được một “trí nhớ” tốt trung bình? Câu trả lời là đa số nhân loại sống trên trái đất này kể cả dân Việt mình nói riêng! Cụ thể minh chứng là con số hơn 1.5 triệu người Việt sống ở Mỹ. Trong số đó phải gần một nửa còn trong tuổi đi học và chưa đi học (dưới 25), còn lại khoảng chừng 800 ngàn người lớn. Trong số 800 ngàn đó cũng có hơn một nửa là những người không muốn đi học, gồm các thành phần như người già cả hay bận đi làm vì sinh kế, nhất là phần đông phụ nữ theo truyền thống Á đông, thường muốn ở nhà để giữ con và làm nội trợ. Vậy thì nếu tính ra cho thấy phù hợp với con số còn lại, là có khoảng chừng 300 ngàn (18% của số hơn 1.5 triệu) chuyên viên người Việt ở hải ngoại có trình độ đại học!

Vậy thì người Việt ở hải ngoại có khác gì người Việt ở trong nước không? Nếu tính đúng theo tỷ lệ thì cả nước VN phải có khoảng trên 15 triệu khoa bảng (Trong khi theo thống kê, nước Mỹ có khoảng 50 triệu hay chừng 17% dân số tốt nghiệp đại học! Vẫn ít hơn con số 18% của người gốc Việt) Thực tế cho thấy là VN chỉ có khoảng gần một triệu rưỡi dân số có trình độ Đại học hay Cao đẳng. Một con số quá ít! Tại sao? Câu trả lời cơ bản là mặc dù người Việt ở nước ngoài hay ở trong nước không khác nhau mấy về mức độ thông minh hay trí nhớ, nhưng có một sự khác biệt lớn do chính vì môi trường xã hội, và dĩ nhiên là do sự sai biệt trong mức sống kinh tế mà ra.

Xã hội nghèo thì ít trường học nên con số thu nhận sinh viên phải bị giới hạn, kết quả là đa số đã không có cơ hội để được đi học. Những gia đình nghèo với cái ăn cái mặc còn lo chưa xong, thì nói gì đến chuyện đi học. Mặt khác, nếu những đứa trẻ từ lúc mới sinh ra cho đến tuổi đi học mà ăn uống thiếu chất dinh dưỡng cần thiết, hay thường xuyên bị đói và thiếu ăn, thì chắc chắn não bộ sẽ bị mất đi rất nhiều hai khả năng cho sự học là “tập trung tinh thần” và “khả năng tư duy”. Kết quả là mặc dù dân Việt có hiếu học, nhưng lại không được đi học. Hoặc giả nếu có cố gắng đi học thì một số không ít rồi cũng sẽ thất bại, không học được vì trí nhớ bị trở ngại, do hậu quả của việc ăn uống thiếu dinh dưỡng, đưa đến kết quả là đầu óc không thể tập trung được để tư duy! Chưa nói đến nhiều thanh thiếu niên phải phụ lo cho công việc sinh kế của gia đình, nên đành phải dở dang, gián đoạn việc học.

Nói vậy để cho thấy phần đông giới khoa bảng VN trong mấy trăm năm qua thật sự chẳng có tài cán đặc biệt gì hơn người cả, trừ một chút may mắn có một trí nhớ khá tốt, được sinh ra trong những gia đình khá giả có đủ ăn đủ mặc và được đi học! Gần tám trăm năm lịch sử của Đại Việt chịu ảnh hưởng văn minh Trung Hoa, và gần một trăm năm theo văn minh Âu châu của cả nước, Việt Nam chỉ mới có khả năng đào tạo ra được một số những nhà khoa bảng! Và, trong số hàng trăm tên tuổi của các nhà khoa bảng VN có tên khắc trên những con rùa đặt trong Văn Miếu, thì chỉ có một số rất ít xứng đáng được gọi là “Kẻ sĩ “, tương đương với danh xưng là “Trí Thức” thời nay.

Trí thức

Nếu ngày nay dân Việt và các dân tộc chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa, không ngần ngại gì khi xài từ “trí thức” một cách phổ biến và rộng rãi, thì cũng nên nghĩ đến người Nhật đã có công sáng tạo ra nó, khi phong trào canh tân đất nước bắt họ phải dịch ra nhiều thứ sách vở tài liệu của Tây Phương. Tuy nhiên, điều đáng nói là khi người Nhật dịch chữ “intellectual” ra “trí thức”, họ đã không chịu dịch sát nghĩa với từ gốc, mà lại diễn dịch theo như cách của họ hiểu! Vô tình hay cố ý, tuy không đúng và bị sai lệch từ gốc, nhưng lại cho ra một từ mới vừa dễ hiểu mà lại khá chính xác, để nói một trạng thái đặc biệt trong đời sống tinh thần của con người: “Trí tuệ thường luôn luôn trong trạng thái thức tỉnh và làm việc”! Trong ngôn ngữ tiếng Việt từ “thức” ở đây nói về trạng thái đang hoạt động của trí óc, đóng vai trò hiểu ngầm như một “Trạng từ” (Adverb) và ở thể động, hơn là một danh từ ở thể tỉnh như nhiều người thường vẫn hiểu nhầm! Thí dụ những từ khác như Tâm thức, Ý thức, Tiềm thức, v.v. đều ám chỉ trạng thái đang làm việc của một số các chức năng đặc biệt trong não bộ của con người, dù người đó có biết hay không biết, hoặc đang ở trong trạng thái tỉnh hay mê.

Người Việt mình còn đi xa hơn để sáng chế (nghĩ ) ra một từ ngữ khác phản nghĩa, vừa châm biếm, nhưng cũng rất đúng cho những ai không muốn làm “trí thức” là “trí ngủ”. Chính nhờ có sự nói chơi tương phản như trên mà ý nghĩa của từ trí thức lại hiện ra một cách rõ ràng như là phản ánh lại nghĩa đen của nó!. Dĩ nhiên từ “Thức” ở đây có một ý nghĩa rất trừu tượng, để nói về một trạng thái linh động thuộc về tinh thần nhiều hơn. Một cách tổng quát, từ Trí thức dùng để nói tới những người mà đầu óc của họ thường xuyên làm việc. Hay nói cách khác, người trí thức luôn tư duy nhiều về một vấn đề nào đó, nhiều hơn là mức cần thiết và đòi hỏi của những nhu cầu tư duy tối thiểu cho công việc làm ăn và sinh sống.

Cụ thể nếu như những chuyên gia về khoa học và kỹ thuật, sau giờ làm việc chỉ lo cho vợ con nhà cửa và thư giãn, hoặc tìm đến những thú vui tiêu khiển cùng bạn bè cho khỏi “mệt óc”, nhất là không có một tư duy sáng tạo hay bất cứ sinh hoạt tinh thần nào khác nhằm vào xã hội bên ngoài hay cho cộng đồng nhân loại, thì chắc chắn họ không thể được nhìn nhận là trí thức. Nhưng đồng thời, cũng có những nghề nghiệp luôn được coi như là nghề của trí thức như nhà văn, nhạc sĩ hay ký giả v.v. Được nhìn nhận là trí thức vì nghề nghiệp đòi hỏi họ luôn luôn phải sống trong môi trường tư duy để viết sách báo hay sáng tác, nên dù là công việc làm vì mưu sinh kiếm ăn, vẫn được coi là trí thức. Tương tự như vậy cho các chính trị gia chuyên nghiệp, các vị dân biểu hay nghị viên.

Có thể đi đến kết luận: Một người được coi là trí thức, nếu có nghề nghiệp hay do bản tính tự nhiên, làm những công việc thuộc về tư duy sáng tạo và thường cho ra đời những sản phẩm tinh thần mới lạ, tuy không nhất thiết phải biết trước hậu quả sẽ mang đến cho xã hội tốt xấu như thế nào.

Nhân đây cũng xin nhắc tới một bài viết rất ngắn gọn mới đăng trên mạng của VNNet với đề tài “Suy nghĩ về khái niệm Trí Thức”. Một vị GS đã có dùng một định nghĩa tương tự như trên cho trí thức, nhưng thêm vào đó một tiêu chuẩn thứ hai là: “Chỉ tôn thờ những giá trị tinh thần vĩnh hằng: Chân Thiện Mỹ”! Tuy nghe qua rất có ấn tượng nhưng thật sự là quá cảm tính, một thói quen khó bỏ của văn hóa Á châu, khi đặt nặng tiêu chuẩn đạo đức một cách rất hình thức, và dĩ nhiên là không đúng lúc! Nói cách khác, chúng ta thật sự chỉ muốn đi tìm một định nghĩa đúng cho từ trí thức, không phải cố tình đi tìm một sự phân biệt hay so sánh giữa “trí thức lương thiện” và “trí thức bất lương”!

Cụ thể sau đây từ giới khoa bảng: Một người đã là luật sư rồi, thì cho dù có phạm pháp và bị xã hội lên án tử hình đi nữa, người đó vẫn là luật sư. Không ai có thể phủ nhận được cái khả năng hành nghề luật sư mà tử tội có được! Còn như nếu phải thêm đủ tiêu chuẩn đạo đức như vị GS đã đưa ra, thì tại sao xã hội có lúc lại “lên án” trí thức, gọi họ với những cái tên xấu như là: trí thức phòng trà, trí thức nửa mùa, vv. Chưa nói đến thắc mắc là dựa vào tiêu chuẩn đạo đức nào của xã hội, để cho đó là Chân, Thiện hay Mỹ(!?) Còn nhớ khi nhà tranh đấu cho nhân quyền ở Nam Phi là ông Mandela bị tòa kết án tù ‘chung thân’ vì tội bội phản. Ông đã bị tước đoạt hết tất cả danh dự và tài sản, nhưng rồi sau cùng cũng không ai có thể lấy đi được cái con người ‘trí thức’ của ông!

Dựa vào theo định nghĩa chung của từ trí thức đã nói trên, thí dụ cụ thể rất tiêu biểu cho các thành phần xã hội sau đây: Thuộc giới trí thức có thể là những ai có nghề nghiệp như sau: văn sĩ, ký giả, phóng viên các đài truyền thông, nhạc sĩ, họa sĩ, thi sĩ, nhà nghiên cứu khoa học, chính trị gia, hoạt náo viên, tu sĩ tôn giáo, nhà tham vấn xã hội, v.v.

Không thuộc giới trí thức hoặc chưa là trí thức gồm có tất cả các chuyên gia về đủ mọi ngành nghề như: khoa học gia, bác sĩ, dược sĩ, nha sĩ, kỹ sư, luật sư, ca sĩ, tài tử điện ảnh, kịch sĩ v.v. Điều đáng nói và cần giải thích thêm để phân biệt là, nếu một ca sĩ hay tài tử điện ảnh chỉ cần sử dụng những năng khiếu đặc biệt về thể xác để ca hát hay trình diễn lại những gì được soạn ra sẵn cho, thì không thể nào là trí thức được.

Đa số người Việt do bởi ngôn từ dùng để diễn tả, thường bị nhầm lẫn giữa hai giới khoa bảng và trí thức. Để minh chứng, xin đơn cử thí dụ nghề Y khoa Bác sĩ chẳng hạn. Nếu đem so sánh giữa một bác sĩ chữa trị cho bệnh nhân theo đúng những gì sách vở đã dạy, cộng thêm với những kinh nghiệm hành nghề, thì cũng không khác gì mấy nếu đem so sánh với chuyên viên thợ máy “chữa bệnh” cho xe ôtô. Cũng bắt đầu bằng việc chẩn đoán cho đúng bệnh trạng của xe bằng các thử nghiệm, và nếu cần thì phải chữa trị hay “giải phẫu” để thay thế luôn các bộ phận hư hỏng! Tất cả đều rập khuôn theo bài bản mà tài liệu sách vở (hay cuốn hướng dẫn kỹ thuật) chỉ dạy, và thêm vào đó là kinh nghiệm nghề nghiệp. Dĩ nhiên, cái khác duy nhất chính là cơ thể con người phức tạp hơn (đòi hỏi trí nhớ nhiều hơn) và sinh mạng của con người quý hơn cái xe nhiều, nên tiền trả lương cho bác sĩ cao hơn chuyên gia sửa xe gấp nhiều lần!

Hiện nay đang có những nghiên cứu về chế tạo người máy (Robot-Doc) để làm công việc khám và chữa bệnh như một bác sĩ chuyên môn thông thường, và đôi khi có thể còn cho ra kết quả chính xác hơn rất nhiều vì không bị chia trí bởi ngoại cảnh. Nhưng dù cho tài giỏi cách mấy thì Robot-Doc cũng sẽ không được coi như là một nhà “Trí thức”! Tương tự như vậy cho các ngành nghề còn lại đã kể trên, vì thật sự ra, họ chỉ dựa vào một yếu tố cần thiết là trí nhớ để học thuộc bài thôi! Cụ thể như máy đánh cờ vua “Deep Blue” của hãng IBM. Máy có thể “tư duy” để đánh thắng hầu hết những tay cờ quốc tế thượng thặng, nhưng sau hết cũng chỉ là một bộ máy nhớ cao cấp, không hơn không kém.

Tóm lại, xin ghi nhận và khẳng định một điều là một người thuộc giới khoa bảng có thể không phải là trí thức, và đồng thời ngược lại, một người trí thức cũng không nhất thiết phải xuất thân từ giới khoa bảng. Như trường hợp miền Nam trước đây có hai nhà học giả Nguyễn Hiến Lê và Vương Hồng Sển. Cả hai ông đều được xã hội công nhận như là những nhà trí thức tầm cỡ, nhưng không ai thuộc vào giới khoa bảng, nghĩa là hai ông không xuất thân từ các trường đại học chuẩn cấp cao, cũng như không có học vị hay bằng cấp tốt nghiệp đại học.

Nhân tài

Sau cùng, đây là từ ngữ dễ hiểu nhưng lại rất dễ bị hiểu nhầm nhất, bởi đại đa số người Việt thường hay nghĩ rằng những người khoa bảng hay trí thức đều là “nhân tài”! Tại sao lại có sự nhầm lẫn tai hại nói trên? Câu trả lời là do trong quá khứ, xã hội Việt Nam đã chịu quá nhiều ảnh hưởng văn hóa của Trung Hoa, qua hệ thống thi cử để tuyển chọn quan lại cai trị dân. Thời Nho học hay Hán học xa xưa đó nếu ai có một trí nhớ tốt tương đối, biết đọc và viết được chữ Hán, chịu khó học thuộc lòng Tứ Thư Ngũ Kinh, thì chắc có nhiều hy vọng thi đậu để ra làm quan cai trị dân, được xã hội trọng vọng và đương nhiên được coi như là một nhân tài!

Tuy vậy, hãy thử xét nghiệm thêm một con số thống kê sau đây: Trong số hàng trăm Tiến sĩ có tên khắc trên bia đá ở Văn Miếu, có bao nhiêu vị đã để lại cho đời được một cuốn sách, vài bài văn sách hay ít nhất là một vài tập thơ coi được, chưa nói đến nội dung có giúp ích gì được cho xã hội hay không? Cùng một câu hỏi trên cho các vị khoa bảng tân thời ngày hôm nay. Tuy không thể so sánh tốt xấu do mỗi xã hội đều có một tiêu chuẩn riêng và thay đổi theo thời gian, nhưng vấn đề chính trước hết là cần phải tìm một định nghĩa chung cho từ “nhân tài”.

Dùng định nghĩa sau đây: “Nhân tài là người có khả năng tạo ra được những sản phẩm, vật chất hay tinh thần, có giá trị cần thiết và hữu ích cho xã hội”. Thí dụ như số thợ máy chuyên môn giỏi về máy xe ôtô ở VN hiện nay, chắc là phải ít hơn rất nhiều so với con số của tất cả các chuyên gia về ngành Y khoa cộng lại! Nhưng dám chắc hầu hết người Việt mình luôn có ấn tượng cho rằng chỉ có Y-Nha-Dược sĩ mới thật sự là nhân tài, còn thợ máy xe dù có tài giỏi đến đâu, cũng không được nhìn nhận là nhân tài (!?). Một nhầm lẫn thật sự quá tai hại, và cũng chính vì vậy nên xã hội VN chỉ biết coi trọng giới khoa bảng mà thờ ơ hay không biết quý trọng nhân tài!

Hậu quả tai hại cho quan niệm sai lầm nói trên đã cho thấy hiện tượng mà nhiều người đã từng nói đến là có lắm thầy (dỡ), nhưng thiếu thợ (giỏi) là vậy. Thử xem một nước nghèo và chậm tiến như VN, phải tốn bao nhiêu tiền bạc và công sức để đào tạo các sinh viên ưu tú ra trường chỉ để ngồi bán thuốc hay cho thuê bằng, hoặc chỉ để làm cái công việc trám, nhổ hay trồng lại mấy cái răng giả, thay vì dùng sự thông minh của họ làm công việc nghiên cứu trong phòng thí nghiệm công nghệ về sinh hóa học, để phát minh hay bào chế ra những sản phẩm mới lạ.

Trong khi đó, chỉ cần những y tá hay y sĩ với trình độ từ 2 hay 4 năm đại học, nếu được đào tạo bài bản đúng mức, vẫn có thể làm công việc chữa trị bệnh nhân thay cho bác sĩ trong đa số các trường hợp (trừ giải phẫu, dạy học hay chữa trị các ca bệnh phức tạp hơn rất nhiều). Kinh nghiệm thực tế của xã hội VN cho thấy, nếu vô tình tạo cho tâm lý người dân quá ấn tượng về khoa bảng, thì rồi cuối cùng xã hội cũng chỉ cho ra những nhà khoa bảng mà thôi, thay vì là nhân tài như mong muốn! Tóm lại theo định nghĩa đời thường, nhân tài là những người có khả năng sản xuất, cho ra đời những sản phẩm cần thiết và có ích lợi thiết thực cho cộng đồng xã hội, và có thể tùy thuộc cả về hai mặt tinh thần và vật chất. Thí dụ sau đây sẽ làm cho rõ hơn các định nghĩa trên.

Trở lại thí dụ Bác sĩ Y khoa, mới đầu họ chỉ thuần túy là những nhà khoa bảng với cấp bằng và một số các kiến thức chữa trị bệnh thông thường được học hỏi từ sách vở và nhà trường. Nhưng nếu trong số đó có ai chịu sinh hoạt phục vụ cho cộng đồng và xã hội, như viết bài phổ biến kiến thức về y học cho đồng nghiệp hay công chúng, tranh đấu để bảo vệ sức khỏe cho công nhân, hay tham gia vào những hoạt động chính trị và xã hội nói chung, giúp ích cho cộng đồng, thì lúc bây giờ những vị bác sĩ nói trên mới có thể được coi như là trí thức.

Mặt khác, giả sử đồng thời nếu có ai trong số các bác sĩ đó, bỏ công sức ra làm việc trong phòng thí nghiệm, nghiên cứu, khám phá ra được một loại vi khuẩn mới lạ nguy hiểm cho sức khỏe con người, hay tìm ra một phương pháp mới để định bệnh và chữa trị, hay có khả năng đặc biệt về ngành phẫu thuật cao cấp v.v, thì lúc bây giờ mới có thể được coi như là nhân tài. Điều đáng chú ý trong ngôn ngữ tiếng Việt là chữ “nhân tài” cũng có thể hàm chứa ý nghĩa dùng luôn cho “thiên tài”, và nếu có sự khác biệt chính ở đây là thiên tài cần được huấn luyện và đào tạo ít hơn so với nhân tài.

Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách. Thất phu ở đây chính là kẻ sĩ thời xưa, hay trí thức thời nay. Thật vậy, đất nước thịnh hay suy thì mọi trách nhiệm đều nằm trên vai của giới trí thức. Bởi một lý do dễ hiểu, trí thức là những người mà trí tuệ luôn luôn làm việc theo sát với tầm tư duy của thời đại, nên trí thức phải nhìn thấy rõ và sớm nhất, những nghịch cảnh hay trở ngại thăng tiến đi lên cho cộng đồng và cho xã hội, trừ khi giới trí thức tự chối bỏ vai trò của mình. Lịch sử thế giới trong mấy ngàn năm qua đã được xác minh rõ rệt với những chứng từ đầy đủ. Hầu hết các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, chống các chế độ phong kiến độc tài chuyên chế lạc hậu, và nhất là chống lại cường quyền áp bức, tất cả đều được lãnh đạo bằng tầng lớp trí thức (theo định nghĩa) và không hề có ngoại lệ.

Mặt khác, muốn cho dân giầu nước mạnh thì quốc gia nào cũng phải cần rất nhiều cả ba thành phần nói trên. Nhưng trong hoàn cảnh hạn chế về tài nguyên và nhân lực của Việt Nam hiện nay, tưởng cũng cần phải đặt thành vấn đề ưu tiên là nên đào tạo thành phần nào nhiều nhất: khoa bảng, trí thức hay nhân tài? Câu trả lời ngắn gọn cho thấy ngay là trong vòng 10 hay 20 năm nữa, nước Việt Nam chắc chắn sẽ cần rất nhiều nhân tài hơn là cần những nhà trí thức và khoa bảng.

Sau cùng, có một điều gây bức xúc nhất cho người Viết là sau khi đọc hơn 10 bài viết đăng trên mạng VNNet, và gần chục bài khác nói về “Nhân tài” của VN trong thời gian qua: Hầu hết các tác giả đều mang tâm trạng giống như của một người đầu bếp làm bánh với cục bột đã được chuẩn bị sẵn để trước mặt, và họ chỉ có việc trổ tài để làm ra cái bánh ăn cho thật ngon. Tất cả hình như đều quên đi một việc rất là quan trọng trong việc làm bánh: Làm sao có được cục bột chuẩn bị đầy đủ, với các tiêu chuẩn cần thiết cho một cái bánh ngon!?

Có lẽ đây là thời điểm thuận tiện nhất để nhà nước nghĩ đến một chiến lược dài hạn hơn nữa trong việc giáo dục và đào tạo nhân tài cho Việt Nam. Đó là không phải chỉ để tự hài lòng với việc xây dựng được trường đại học đẳng cấp quốc tế, hay tìm ra phương án tối ưu để đào tạo cho được 20.000 tiến sĩ vào năm 2020! Nhưng quan trọng và ưu tiên hơn tất cả, chính là nhà nước cần phải nghĩ đến một chiến lược giáo dục tích cực hơn cho cả triệu em bé sắp sửa chào đời, nhằm tạo ra được một lực lượng thế hệ trẻ có đầy đủ các phẩm chất cần thiết, với hy vọng sẽ trở thành những nhân tài lỗi lạc cho Việt Nam trong tương lai.

Nguyễn Cường
Sacto, 2/2007



Source: Viet Nam Daily

---

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Lòng Còn Tại Ngũ

VI ANH

Thượng đế cũng không đổi được chân lý. Chân lý vẫn là chân lý, sớm muộn gì cũng được nhận chân.

Nhơn ngày Quốc Hận thứ 32, xin nhắc lại một chân lý của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa [ QLVNCH] đã được những sử gia, chuyên viên nghiên cứu, và nhân chứng sống Việt Mỹ nhận chân và trả lại cho Quân Lực VNCH. Tuy hơi trễ nhưng trễ còn hơn không. Tuy chỉ đọc điếu văn trên nấm mồ lịch sử nhưng vẫn lưu danh hậu thế.

Số là trước ngày Quốc Hận thứ 31 hồi năm rồi, Trung Tâm Việt Nam thuộc đại học Texas Tech tổ chức tại Lubbock một cuộc hội thảo hai ngày, 17 và 18 tháng 3 năm 2006, đề tài "Quân Đội Việt Nam Cộng Hoà: Suy ngẫm và tái thẩm định sau 30 năm" (ARVN: Reflections and reassessments after 30 years). Thành phần tham dự và thuyết trình viên như trên đáng tin cậy. Đa số đồng ý và nhận chân như sử gia Bill Laurie, một sử gia Hoa Kỳ, một chuyên viên nghiên cứu về Việt Nam và nhân chứng của Chiến tranh VN, hai lần phục vụ ở VN. Ong viết "QLVNCH, một cách toàn diện, đã có khả năng cao hơn nhiều so với những gì tôi biết trước khi tôi qua Việt Nam, và càng cao hơn nhiều so với những gì được chuyển tới cho người dân Mỹ. QLVNCH thay đổi một cách đáng kể cả về số lượng lẫn phẩm chất trong khoảng thời gian từ 1968 đến 1975. Sự thay đổi không hề được giới truyền thông (Hoa Kỳ) lưu ý, và nhìn chung thì đến nay vẫn không được công chúng Mỹ biết đến, vẫn không được nhận chân và mô tả đầy đủ trong nhiều cuốn sách tự coi là "sách sử"."

Thực vậy "sách sử", báo chí ở Mỹ thời Chiến tranh VN nói qua nhiều về tham nhũng, về những người lãnh đạo chỉ huy bất xứng. Nhưng lại nói quá ít về nhiều đơn vị, nhiều cá nhân những người chỉ huy, những người chiến sĩ chủ lực quân, đia phương quân, cảnh sát, nhân dân tư vệ - cuộc sống nghèo nàn nhưng chiến đấu nhiều kinh nghiệm, dũng cảm, vì dân vì nước. Tiêu biểu như Sư đoàn 7, Sư đoàn 9, 21 thiện chiến, tròn trách nhiệm diện địa, bảo quốc an dân vùng trách nhiệm và còn tăng phái tham gia hành quân ngăn chận Bộ đội Bắc Việt xâm nhập. Tướng Nguyễn Khoa Nam, Ngô quang Trưởng thanh liêm. Địa phương quân, một đại đội đánh bạt ba trung đoàn chính quy của CS Bắc Việt năm 1972. Nhân dân tự vệ Đia phương phản công, đẩy lui VC tấn công 2 ấp Prey Vang và Tahou bằng súng nhỏ và B-40. Nhân dân Tự vệ tấn công và tịch thu vũ khí của 2 VC đang bắt cóc 1 nhân dân tự vệ khác. Và nhiều dẫn chứng bằng cớ không thể chối cải khác nữa.

Năm 1968, là bước bước ngoặt tiến lên của Quân lực VNCH. Luật tổng động viên thêm con tim, khối óc, máu trẻ cho QLVNCH. Nghĩa quân, Địa phương quân, được tăng cường, trang bị vũ khí tót hơn. Nhân dân được đoàn ngũ hóa, thành lập và huấn luyện Nhân dân Tư vệ với sự trợ giúp của các toán cố vấn Mỹ lưu động.

Howard C.H Feng trong luận án Master năm 1987 ở đại học Hawaii viết " Các cố vấn của trung đoàn này luôn luôn nói với tôi lúc tôi ra đó, rằng anh đang làm việc với những người giỏi nhất. Chúng ta không có điều gì để mà có thể nói cho những người này làm. Chúng ta (các cố vấn) chỉ có việc yểm trợ hoả lực mà thôi. Còn về sự hiểu biết trong hành quân, thì họ là người dạy chúng ta' Chúng tôi có các cố vấn người Úc và người Mỹ, họ đều nói y như nhau."

Kết quả của những tiến bộ này của QLVNCH là, trong thời gian giữa 1968 và 1971, quân số lực lượng Hoa Kỳ giảm thiểu hơn một nửa, nhưng QLVNCH hành quân làm quân Bắc Việt rơi vào thế bị động rõ rệt. CSHà nội dồn nỗ lực trong mùa hè đỏ lửa, QLVNCH vẫn đứng vững trên đôi chân của mình. Chống trả thành công trước 150 ngàn quân Bắc Việt sau đó thêm 50 ngàn quân nữa. Chống trả thành công với vũ khi mới và nặng của Nga Tàu: xe tăng, hỏa tiễn tầm nhiệt, tầm trung. Học giả hàng đầu của Hoa Kỳ về Việt Nam, Douglas Pike, nói cuộc xâm lược của Hà Nội thất bại là vì "... Nam Việt Nam chiến đấu hơn hẳn quân đội xâm lăng đến từ phương bắc".

Một quan sát viên không quân của Mỹ chứng thực: "Không quân Việt Nam tự chứng tỏ sự trưởng thành trong cuộc tấn kích 1972... Các phái đoàn Ba Lan và Hungary trong cái Ủy ban liên hiệp quân sự bốn bên là gián điệp cho cộng sản Hà Nội vẫn báo cáo về nước, năm 1973, xác định là không có đơn vị Việt cộng nào ngang sức với QLVNCH, và cả những đơn vị thiện chiến nhất của Bắc Việt cũng không sánh được với các đơn vị Nhảy Dù và Thuỷ quân Lục chiến của VNCH.”


Tuy nhiên đến giữa 1974 thì Mỹ cắt giảm viện trợ, trói tay, trói chân và siết cổ QLVNCH. Khó có thể tưởng tượng được. Đạn đại bác giảm từ 90% đến 94%. 10 viên năm 72 chỉ còn 1 viên năm 75. Đạn M 16 còn 60 viên cho 1 tuần. Đạn liên thanh chỉ được bắn từng phát 1 viên. Một bản nghiên cứu của cơ quan DAO thực hiện năm 1974 tiết lộ 82% binh sĩ VNCH không có đủ thực phẩm cho nhu cầu của gia đình. Đói kém và suy dinh dưỡng làm xuống tinh thần cùng khả năng chiến đấu. Ký giả Peter Kann, viết "Ít có quốc gia hay xã hội nào tôi cho là có thể chiến đấu được lâu dài đến thế."


Nhưng trong những ngày VNCH sụp độ, QLVNCH đã chiến đấu anh dũng như ở Alamo của Mỹ và như hình thức cảm tử Kamikaze của Nhựt. Sư đoàn 18 viết thiên anh hùng ca ở Xuân Lộc. Sư đoàn 7 đánh bại một nỗ lực của quân Bắc Việt muốn cắt quốc lộ 4, con đường huyết mạch giữ thủ đô và vựa lúa và cá đồng bắng Sông Cưu Long. Khi Saigon sắp sụp, Không quân Trung úy Thanh và Hiền dùng máy bay AC-119 trang bị liên thanh sáu nòng yểm trợ hoả lực cho đồng đội dưới đất. Hết xăng, hết đạn, hai anh đáp xuống lấy, sĩ quan hành quân nói không cần cất cánh nữa, tất cả đã mất hết rồi. Nhưng hai trung uý Thanh và Hiền bay lên và thiếu tá Trương Phụng và đại uý Phúc cũng bay chiếc A1H-Skyraider lên yễm trợ đánh trận cuối cùng và chết.

Tại sao dũng cảm và kiên quyết như vậy? Con trai Ô Trần quốc Bửu, chủ tịch Liên Đoàn Lao công Việt Nam, con trai Bác sĩ Phan Quang Đán là quốc vụ khanh, thừa sức nhờ thề lực gia đình, tìm chỗ an thân. Khi Saigon sắp sụp, con trai Ô. Bửu viết thư cho cha mình, "Con xin ba, ba à, hãy can thiệp với họ [Mỹ] . Nếu không, chúng ta sẽ bị đè bẹp và thất trận. Tụi con không hèn nhát. Tụi con không sợ chết... Trong mọi tình huống con sẽ giữ vững vị trí và không rút lui" và - đúng vậy-con Ô Bửu đó tử chiến và chết tại trận. Con trai Bs Đán là Phan Quang Tuấn tình nguyện lái A-1E Skyraider, trong trận tấn công 1972 ,sau khi bắn cháy 7 xe tăng quân Bắc Việt tại khu phi quân sự, bị phòng không CS địch bắn rơi, tử trận.

Những người Việt trai trẻ, con gia đình quyền thế không phải là những người duy nhất vì dân chiến đấu vì nước hy sinh. Trong những ngày chót của VNCH, ký giả Pháp Raoul Coutard chứng kiến cảnh sinh viên sĩ quan Võ bị Đà lạt chuẩn bị tử chiến để chặn các đơn vị quân đội Bắc Việt đang tiến tới: "-Anh sắp bị giết đó!- Vâng. - Sao vậy? Đã kết thúc rồi mà! - Tại vì chúng tôi không ưa cộng sản". Thiếu sinh quân ở Vũng Tàu, các anh lớn bảo những em nhỏ 12-13 tuổi về nhà. Ở lại, những anh lớn hơn lập chướng ngại vật bảo vệ trường và đối đầu với các đơn vị quân Bắc Việt: "Họ tiếp tục chiến đấu sau khi tất cả mọi người khác đã đầu hàng!... Nhiều người trong số họ bị giết. Và khi quân cộng sản tiến vào, các thiếu sinh quân đánh trả. Cộng sản không vào được ngôi trường ngay lúc đó."

Cũng vì vậy sau nhiều năm tù cải tạo, kẻ vượt biên, người tỵ nạn, người còn kẹt trong nước, tập thể chiến sĩ VNCH, tuy bây giờ thay màu áo lo mưu sinh trong ngoài nước, nhưng lòng vẫn còn tại ngũ. Bất cứ cuộc đấu tranh nào, cuộc tập hợp nào của tập thể người Việt hải ngoại đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền VN đều có anh chị em cựu quân nhân tham dự, xem như tiếp tục cuộc chiến đấu dưới hình thái đấu tranh chánh trị.

VI ANH




----
Last edited by linhgia on Sat May 05, 2007 6:11 am, edited 2 times in total.

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Biết Rồi, Khổ Lắm, Nói Mãi !


Trần Văn Giang
Lời mở đầu: Đây là ý kiến cá nhân của người viết mà thôi. Đúng hay sai còn tùy từng hoàn cảnh và sự thẩm định của mỗi đọc gỉa. TVG.




- “Biết rồi, khổ lắm, nói mãi !!!”

Nhà cháu không biết các cụ “độc thân vui tính” có can đảm, uống thuốc liều nói với người yêu thơ mộng “lời yêu” này hay không ? Riêng với các cụ khác đã lập gia đình rồi thì có lẽ cụ đã phải nói với bà xã câu này không biết là lần thứ mấy (ngàn) rồi ?

“Thương em thì thương rất nhiều mà duyên kiếp lỡ làng dzồi…”


Nếu cụ ngồi “nhìn ra,” cụ tự cảm thấy tội nghiệp cho thận phận làm “chủ gia đình” của cụ. Cụ nhớ lại, sau câu hỏi ngắn ngủi của Linh mục chủ hôn :

“Giu-Se Nguyễn Văn Ngố, anh có nhận Maria Trần Thị Mẹt làm vợ và hứa sẽ chung thủy thương yêu Maria Trần Thị Mẹt lúc thịnh vương cũng như lúc gian nan; lúc bệnh họan cũng như lúc khỏe mạnh; và sẽ tôn trọng Maria suốt cuộc anh hay không ?”

Chính bản thân cụ đã “hồ hởi” mau mắn đồng ý với câu hỏi “rất phức tạp khó hiểu” này của Linh mục chủ hôn [Rõ ràng là cụ tự nguyện mà ! Có ai đe dọa, bắt buộc hay ép hôn cụ đâu ?] với một câu trả lời chắc nịch như đinh đóng cột vỏn ven chỉ có hai chữ : “Dạ có ! (I do!)” Sau khi phát ngôn hai chữ ngắn ngủi này, cũng lại chính cụ cũng đã phấn khởi “bút sa gà chết” ký vào tờ giấy “hôn(g) thú (No-Fun License / Certificate)” liền mờ lị ! Tờ giấy “hông thú” này đã tức thời biến thành một bản án (chung thân) dài suốt cuộc đời của cụ. Cụ có lẽ cũng nhận ra là “ngày hợp hôn” là cái mà bà xã cụ đồng ý với cụ lần cuối cùng !
Giờ đây, cụ mới thấy là :

“… đường vào tình yêu có trăm thằng điên, có vạn thằng khùng !!!”

Hay là :

“… yêu là chết ở trong lòng một ‘đống !’

Có nhiều cụ nản qúa, thắc mắc là :

“Hồi tui mới gặp bả, sao bả ăn nói dễ thương, ngọt ngào êm ái quá; mà sao bây giờ bả gắt gỏng khó chịu với tôi như dzị ?”

Có gì là lạ lùng đâu! Thì cụ cứ thử so sánh cái xe “lếch xịt (Lexus)” của cụ lúc còn mới “cáo cạnh” lái ra từ “dealer,” đến bây giờ cái “lếch xịt” đã chạy gần 200 ngàn miles [và đã bị “quẹt” 4, 5 chỗ] thì tiếng kêu và hình dạng của nó khác nhau ra nàm thao ???

Thôi cụ cứ yên chí “xử lý” câu châm ngôn :

“Làm trai cho đáng nên trai
Vợ gọi thì dạ ! bẩm bà tui đây!”

Thì mọi việc sẽ êm xuôi cả. Sau cơn mưa trời lại tối có sao đâu ! (dĩ nhiên là tối là có sao chứ !!!) Bằng không thì chỉ có nước vái trời :

“Con quì lạy Chúa trên giời
Sao cho con đánh [võ mồm !] được người con yêu
Đời con đau khổ đã nhiều
Từ sau khi ‘cưới’ đủ điều đắng cay…”

“… bởi dzì con không đánh bả thì bả cũng đánh con …”

Vâng, ở cái xứ sở tự do quá trớn này thì cụ chịu khó đánh “võ mồm” thôi. Còn các thứ “đánh” khác gây nhiều phiền tóai và án phí tốn kém lắm đấy nhá cụ !

Cụ lại nhận xét có điều lạ lùng là ngòai cái “tổ lạnh” của cụ, cụ không thấy bà xã ca cái bài quen thuộc “con thuyền không bến ! thuyền ai lờ lững trôi theo dòng…” này dzí ai hết trơn hết trọi !!!

Dạ thưa cụ, bà xã cụ đâu có ngớ ngẩn và chậm tiêu như cụ. Ở sở làm, làm việc có ăn lương, không phải là đi làm “dùm,” hay là mần việc thiện công qủa. Công việc được giao phó, cũng như thời giờ phải hòan tất đã rõ rệt, không lo làm mà cứ lo bận rộn hát bài trường ca “hồn vọng phu” thì chẳng mấy chốc bà xã của cụ sẽ được lãnh 2 cái checks một lúc ( 1 check cho lương tuần này cộng với 1 cái check cuối cùng !) Sẽ phải trình diện sở thất nghiệp lẹ.

Vẫn cố gỡ gạc, chưa chịu thua, cụ “théc méc:”

“Ừ …ừ… Nhưng còn đối với anh, chị, em , họ hàng hay bạn bè, bả đâu có sợ bị mất việc mà sao bà xã tui lại không đơn ca cái bản nhạc “cổ điển” đó với họ ? Mà chỉ ca với một mình tui là tại sao ? Hay là tui bị kỳ thị ?”

Xin cụ thong thả uống hộ nhà cháu một ly trà đá cho nó tỉnh táo lại cái đã ! Bởi vì đối với những người vừa kể, nếu ca cái bài “điệp khúc cũ rích để mời hàng ế ẩm trong phiên chợ chiều sắp tàn” đó nghe nó “dởm,” “vô duyên” lắm. Đó là chưa nói sẽ có thể bị chửi, hoặc bị liệng guốc bể trán là khác ! Ngòai ra đối với họ, bà xã của cụ không có cái ràng buộc “quí hóa” như cụ đã “hoan hỉ” chấp nhận ký trong cái bản “hông thú” giấy trắng mực đen rành rành. Bà xã không hề kỳ thị cụ mà bà xã muốn bày tỏ cái “cảm tình đặc biệt” đối với cụ; bởi vì cụ là người đắp chung mền và nằm cùng giường với bà xã trong cái phòng ngủ, nơi đó bà xã cụ là người có thẩm quyền, ngày cũng như đêm, điều khiển tất cả mọi họat động, lưu thông. Ngòai phòng ngủ ra, cũng chính bà xã cụ là người đứng tên các giấy chủ quyền của các động sản, bất động sản mà cụ đang có, đang dùng ! Quyền “dân chủ” mà cụ hằng kêu gọi chỉ là “bánh vẽ,” “nói cho dzui rồi bỏ” thôi. Trong nhiều trường hợp, cụ nhận thấy bà xã cụ “hành xử” không khác gì một “thành phần quá khích,” một tay “phát xít” hay tệ hơn nữa là cái đám gọi là “dân làm chủ, nhà nước xử lý !” nữa. Hơn thế nữ, đôi khi cụ cảm thấy bà xã cụ đối xử với cụ y như mẹ gìa của cụ đối xử với cụ dzị !!! Cụ nhiều lần điên tiết lên rồi … lảng qua chỗ khác; tránh né “đương đầu” trực tiếp với bà xã !!! Cái hôn nhân, gia đạo của cụ dường như phải cần có một cái “tuned up !” không thôi dám có ngày “banh trê” lắm !

Điển hình, bà xã cụ sẽ không màng, không để tâm gì đến những dẫn chứng hiển nhiên đầy khoa học của cụ (ngọai trừ những dẫn chứng khoa học có lợi cho bà xã…) Bà xã cứ việc đưa ra “chỉ thị” cho cụ “thi hành” trước, sau đó bà xã sẽ tìm đủ mọi cách để biện minh là “chỉ thị” đó đúng; không cần biết các lời biện minh có lý, có tin được hay không ! Những điều (phụ) đó không quan trọng đối với bà xã !

Sự “lải nhải, nói dở, nói dai, nói dài…” có đủ kích thước. Có thể là một chuyện nhỏ dễ hiểu cho đến chuyện lớn được thổi phồng cho lớn hơn không còn ý nghĩa gì cả ! Sự “lải nhải” phải chăng cũng là dấu hiệu của tuổi gìa ? Bởi vì tâm lý người già vẫn được hiểu là : “Những cái xấu mỗi ngày thấy một tệ hại hơn – chuyện con cái hư hỏng, chuyện hao tiền tốn của, thuế má cao, thời tiết khắc nghiệt, chính trị thối nát, giáo dục và luân lý suy đồi, sức khỏe yếu kém…!” Theo như cụ đang “nhìn ra,” phải thành thực mà nói là một số “lải nhải” có thể hiểu được, chấp nhận được; còn lại, đại đa số đều là chuyện nhảm nhí !

Cụ cho bà xã là :

“Nói xuôi cũng được, nói ngược cũng hay”

Hay là :

“Nói đi cũng phải, nói lại cũng dễ nghe”

Tại sao bà xã không nói ngắn, nói gọn, nói rõ ràng một lần rồi xong chuyện, hết phim; nói qua chuyện khác mà cứ nói cò cưa như kèn đám ma làm cụ nhức cái đầu ?

Nhiều lúc cụ chỉ muốn hét lên :

“Nói người chẳng gẫm đến thân,
Thử rờ lên gáy xem gần hay xa.”

Hoặc là :

“Nói lời thì nhớ lấy lời,
Đừng như con bướm đậu rồi lại bay!”

Đôi khi cụ muốn mượn một ít lời của mẹ vợ để nhắn vợ là :

“Con ơi mẹ bảo con này,
Học ăn học nói cho tày người ta
Con đừng học thói chua ngoa,
Họ hàng ghét bỏ người ta chê cười !”
…

“Nói với người khôn không lại,
Nói với người dại chẳng xong.”

Cụ đã “nhìn ra,” bây giờ mời cụ hãy “nhìn vào” một tí xem sao !

Vâng ! Bà xã cụ cứ lẽo đẽo theo chân cụ “lải nhải” hòai. Nhưng cụ hãy nhìn kỹ lại cụ xem cụ đã làm được chuyện gì tốt cho gia đình cho vợ con chưa ? Những chuyện đại lọai như :

- Cụ đã dùng buồng tắm và giữ sạch sẽ đúng cách vệ sinh hay không?

- Cụ có lươm nhặt báo chí mà cụ đọc xong hay không ?

- Cụ đã bớt chút thời giờ tán phét để cắt cỏ hay chăm sóc vườn tược quanh nhà không ?

- Cụ có đi đón con ở trường học đúng giờ không ?

- Cụ có giúp đỡ bà xã chăm sóc lũ con cái nheo nhóc không ?

- Cụ đã bỏ thút thuốc (hay bớt uống rượu) chưa ?

- Cụ đã bớt xem TV hay bớt ngồi “ôm” máy computer mỗi ngày chưa ?

- …

Cụ đang “bị” cụ bà “lải nhải” hay cụ đang “được” cụ bà “nhắc nhở” công việc phải làm của cụ mà cụ làm không đúng ? làm hòai chưa xong ? Sự lải nhải mà cụ vẫn hiểu là : “chỉ kiếm chuyện,” “xài xể,” “bắt lỗi bắt phải,” hình như đâu có phải là chuyện tự dưng hay đâu đó ở trên trời rơi xuống. Chuyện có nguyên nhân đấy chứ lị ! Nếu cụ thấy là cụ đã vô tình hay cố ý không “thi hành,” không “đáp lại” các lời “kêu gọi” của bà xã thì cái chuyện “lải nhải” đâu có phải là “vô lý !” Bây giờ xin cụ nghe và “đáp lại” các lời yêu cấu của bà xã thay vì né tránh. Sự “đáp lại” đó có thể là một câu chắc nịch: “Không (no way !)” “Không thể được (impossible !) !” Ít nhất bà xã cụ cũng hiểu là cụ đã nghe rõ những cái gì bà xã cụ vừa mới nói hay yêu cầu cụ làm.

Thôi bây giờ, nếu cụ đã “thông cảm” hơn một chút rồi, xin cụ cố gắng tỏ ra “anh dũng” lên một tí. Ráng giữ cái lời hứa mà chính cụ đã đồng ý với Linh mục chủ hôn ngày trước (không biết cụ còn nhớ hay không ?). Bởi vì thượng đế tòan năng rất sáng suốt. Sau khi làm ra ông Adam xong, thượng đế thấy rắng là anh chàng Adam này sẽ chẳng làm được cái thể thống gì hết nếu không có một người kè kè ở bên cạnh “giúp đỡ” và “nhắc nhở.” Sự hiện diện của Eva (hay bà xã cụ) là như thế ! Nếu cụ giữ được lời hứa thì chắc chắn cái gia đạo của cụ sẽ thắm thiết hơn, có ý nghĩa hơn.

Sau đây nhà cháu mạn phép xin đóng góp, đề nghị một vài ý kiến thô thiển hòan tòan dựa trên kinh nghiệm “xương máu” của chính bản thân nhà cháu; hy vọng sẽ gíup cho cụ phần nào :

- Đừng để cho các chuyện nhỏ bé quấy rầy và chồng chất lên trong đầu của cụ. Bởi vì đến một lúc nào đó nó sẽ “nổ dzăng tùm lum !”

- Nếu cụ bực mình lắm về một chuyện gì, sau khi đã một lần đem ra “thảo luận” với bà xã mà nếu thấy không thể giải quyết trong vòng 48 tiếng thì nên cho cái chuyện đó “nước chẩy qua cầu” luôn cho nó tiện sổ sách.

- Nên giữ các vấn đề gia đình giữa hai vợ chồng thôi nhé. Đừng dại mang thêm nhân vật thứ ba vào [chẳng hạn mẹ vợ, chị vợ hay bạn thân chẳng hạn...]

- Đừng lôi chuyện qúa khứ vào sự tranh luận của vợ chồng xẩy ra ngày hôm nay. Không có ích lợi gì cả !

- Cụ chịu khó nghe cho rõ. Nhìn thẳng vào bà xã khi cụ phải phân trần để xem phản ứng va cử chỉ của bà xã như thế nào.

- Đừng chỉ trích bôi nhọ lẫn nhau. Quỷnh lắm !

- Cởi mở, sẵn sàng xin lỗi và cũng sẵn sàng tha thứ.

- Khi bất đồng ý kiến với bà xã, cụ phải “nhìn ra” lẫn “nhìn vào.” [Cụ muốn hiểu sao cũng được tùy ý !!!]

- Điều sau cùng [cũng gọi là “tối hậu !”] : “Gỉai quyết chuyện ‘cơm không lành canh không ngọt’ trong gia đình không phải để cụ thắng bà xã; mà gỉai quyết để duy trì cái gia đình thân yêu mà cụ và bà xã đã bỏ ra không biết bao nhiêu công lao xây dựng.”

Chuyện “bất đồng ý kiến” trong gia đình không phải là vấn đề; gia đình nào cũng phải có ! Hôn nhân, cũng như mọi liên hệ tình cảm khác của cuộc sống, nhất là giữa hai người sống bên cạnh nhau mỗi ngày, mỗi giờ phải có những lúc như vậy không thể tránh được.

Nhà cháu chỉ khẩn khỏan xin cụ ông và cụ bà nhớ cho 2 câu :

“Lời nói chẳng mất tiền mua,
Liệu lời mà nói cho vừa lòng nhau”

Thân mến.

Trần Văn Giang




__._,_.___

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Mẹ & Tình Yêu



Nguyễn Duy An - đăng lúc 07:00AM, 05/12/07

Tôi mơ mơ màng màng nheo mắt nhìn chiếc đồng hồ bên cạnh giường ngủ, và vội vàng ngồi bật lên vì đã gần 12 giờ trưa. Đầu óc tôi vẫn còn choáng váng và khó chịu lắm, nhưng nghĩ tới mảnh giấy mẹ để trên gối, tôi chạy vội ra nhà bếp không kịp đánh răng rửa mặt. Tối hôm qua, phải nói là sáng nay mới đúng (!), tôi về nhà lúc gần 2 giờ sáng... Khi trông thấy chiếc xe của Xuân đậu trước nhà, tôi biết chắc nàng sẽ giận và trách móc vì “anh lại bê tha rượu chè, anh không thương dì, anh không giữ lời hứa với em” như nàng vẫn cằn nhằn than thở từ những ngày đầu mới quen nhau. Tôi vào nhà với tâm trạng bất an vô vàn...

Đã gần 2 giờ sáng Thứ Bảy! Có lẽ Xuân đã ở lại ngủ chung với mẹ.

Tôi rón rén về phòng, không bật đèn, ngã vật xuống giường và giật mình vì tiếng sột soạt khi đầu tôi đè lên một mảnh giấy. Tôi vội vàng bật đèn.

“Thái con, Mẹ gọi Xuân tới và chờ đến nửa đêm nhưng con vẫn chưa về! Mẹ biết con khổ tâm và bị dằn vặt cả tuần nay. Con là lẽ sống của mẹ! Mẹ xin con hãy bình tĩnh ngồi lại nghe mẹ giải thích những uẩn khúc trong lòng mẹ và con. Mẹ không cam lòng nhìn con tự hành hạ mình. Xuân cũng đã khóc thật nhiều, Thái ạ!”

Tôi bật khóc nức nở. Tôi vò nát mảnh giấy trong nỗi oán hận, thù hằn và xót xa cho hoàn cảnh của mẹ và tôi. Tại sao? Tại sao thế? Tôi thiếp đi trong nỗi tủi nhục ê chề... cho tới giờ này!

Nhà cửa vắng hoe. Tôi không tìm thấy mẹ cũng chẳng thấy Xuân. Xe của Xuân cũng không còn đậu trước nhà nữa. Lại một mảnh giấy gắn trên cửa tủ lạnh:

“Thái con, Mẹ nhờ Xuân chở đi công chuyện. Mẹ đã nấu sẵn phở trên bếp, con hâm nóng lại ăn rồi nghỉ cho khỏe.”

Xuân cũng viết mấy chữ trên đó:

“Anh thương, Em không giận và cằn nhằn anh nữa đâu! Anh nghỉ cho khỏe. Thương anh nhiều.”

Tôi pha vội một ly cà phê thật lớn, cầm gói thuốc lá lững thững bước ra vườn sau như một kẻ mất hồn. Tôi nghi ngờ mẹ đã nhờ Xuân chở đi thăm “ông ấy”, nhưng suy đi nghĩ lại tôi tự thấy mình vô lý.

Không thể được!

Mẹ đã hy sinh cả cuộc đời vì tôi! Mẹ đã âm thầm ngậm đắng nuốt cay để chọn tôi và chấp nhận tủi nhục để “ông ấy” tự do! Tôi chính là “món nợ đời” của mẹ!

Từ ngày có trí khôn tôi vẫn mang nặng cái mặc cảm “tôi sinh ra đời dưới một ngôi sao xấu” (Giông Tố, Vũ Trọng Phụng), nhưng nếu đem so sánh với mẹ thì chẳng thấm vào đâu, và chính tôi là nguyên nhân đã xô đẩy mẹ xuống tận cùng vực thẳm của cuộc đời!

Đã 25 năm qua rồi kể từ ngày tôi cất tiếng khóc chào đời trong tủi nhục và nước mắt của mẹ ở trại tỵ nạn Phanat Nikhom, Thái Lan với một tờ giấy khai sinh mang tên cha “Vô Danh”! Đó là lý do mẹ đặt tên cho tôi là Thái. Tôi chính là thành quả từ những cuộc hãm hiếp tàn khốc của đám hải tặc Thái Lan suốt cuộc hành trình vượt biển của mẹ.

Mẹ đã gạt nước mắt chấp nhận sự dèm pha của mọi người và sự chối bỏ của người chồng ở Mỹ để cho tôi sự sống. Ông ấy đã huỷ bỏ giấy tờ bảo lãnh và ép buộc mẹ ký giấy ly dị để ông ấy làm lại cuộc đời. Ông ấy sẵn sàng chấp nhận mẹ với điều kiện phải giết chết bào thai mang giòng máu hải tặc trong lòng mẹ, nhưng mẹ đã quyết định chọn tôi. Những người đi chung ghe đều chê cười và hất hủi mẹ vì quyết định “điên rồ và ngu xuẩn” của bà, nhưng mẹ đã ngồi xổm trên dư luận, cam chịu nỗi oan nghiệt vì tôi. Mẹ đã xa lánh mọi người, chọn kiếp sống cô đơn nơi xứ lạ quê người để nuôi dạy tôi nên người.

Mẹ vẫn tâm sự với dì Hoa, mẹ của Xuân rằng từ bao nhiêu năm nay tôi chính là lẽ sống, là niềm vui của mẹ. Mẹ đã dạy tôi đọc và viết tiếng Việt, đã dạy tôi biết nhẫn nhục chịu đựng và tha thứ khi những đứa bạn người Việt cùng trang lứa nhạo cười tôi là đứa con không cha, là hậu duệ và nỗi nhục hải tặc trong lịch sử “thuyền nhân Việt Nam!”

Tôi trải qua những năm trung học và đại học như một chiếc bóng lặng lẽ bên đường đầy sóng gió gian truân. Tôi không thể nhập bọn với đám bạn người Mỹ hay Mễ, và cũng không thể tham gia những sinh hoạt của hội Sinh Viên Việt Nam vì nguồn gốc “hải tặc” của mình.

Tôi thu mình vào vỏ ốc, quyết chí học thành tài để kiếm tiền nuôi mẹ, báo đáp công ơn sinh thành dưỡng dục đầy tủi nhục và nước mắt của mẹ.

Đã hơn một lần mẹ khóc thâu đêm khi biết tôi bị bạn bè người Việt nhạo cười phỉ báng. Mẹ chỉ mới “vui” được vài năm nay, từ khi gặp lại người bạn học ngày xưa là dì Hoa, khi Xuân nhận được học bổng của trường American University ở Hoa Thịnh Đốn. Từ Texas, Xuân dọn vào cư xá sinh viên ở Washington với lời gởi gắm của gia đình để mẹ tôi làm giám hộ lúc nàng đi học xa nhà. Chúng tôi quen nhau từ đó.

Mẹ còn vui mừng hơn nữa khi biết Xuân và gia đình dì Hoa đã chấp nhận tôi như chính tôi, bất kể tôi là đứa con không cha hay con của hải tặc Thái Lan. Xuân chính là thiên thần mang “mùa xuân” đến thay đổi tâm hồn băng giá của mẹ con chúng tôi. Từng bước, từng bước Xuân đã biến đổi con người tôi. Chính Xuân đã lôi kéo tôi theo nàng tham gia những công tác thiện nguyện, giúp đỡ những người không nhà không cửa hoặc thăm viếng các viện dưỡng lão...

Và cũng chính Xuân đã làm tâm hồn tôi bấn loạn, và mẹ tôi đã thức trắng nhiều đêm vì nước mắt tuôn chảy không ngừng!
Chuyện xảy ra từ hôm Thứ Bảy tuần trước...

*****

Tôi nhận lời lái xe đưa Xuân đi thăm một người Việt Nam bị bán thân bất toại từ hơn 3 năm nay do các dì phước dòng Nữ Tu Bác Ái trông nom ở Winschester, Virginia.

Theo lời Xuân kể, nàng tình cờ quen ông ta từ năm ngoái khi theo sinh viên đi làm công tác xã hội ở đó. Với trái tim của một “thiên thần”, tháng nào Xuân cũng tìm cách đến thăm để giúp ông ta vơi bớt phần nào nỗi cô đơn trong hoàn cảnh bệnh hoạn tật nguyền không một người thân bên cạnh. Biết được hôm nay là ngày sinh nhật tròn 60 tuổi của ông, tôi đồng ý theo Xuân để cùng ông chuyện vãn trong lúc nàng chuẩn bị một vài món Việt Nam để mừng “happy birthday” cho ông ta.

Từ bãi đậu xe, tôi đã nhìn thấy một ông già gầy gò ốm yếu ngồi trên xe lăn, nét mặt rạng rỡ, miệng cười “mếu máo” dơ tay vẫy gọi. Nhìn ánh mắt của ông, tôi mường tượng ra cảnh đứa bé đang trông mẹ về chợ. Xuân dồn dập bước chân chim, kéo tay tôi tiến nhanh về phía ông ta, miệng hớn hở:

- Chúc mừng sinh nhật bác. Đây là anh Thái, bạn cháu. Còn đây là bác Tuấn em đã kể với anh đó.

- Chào bác ạ.

- Ừ, chào cậu. Tôi biết hôm nay cô Xuân sẽ tới nên ra đây ngồi chờ từ sáng sớm. Cô đúng là nàng tiên của tôi...

Tôi đẩy xe lăn định đưa ông về phòng nhưng Xuân đã lên tiếng:
- Anh đưa bác Tuấn ra bờ hồ chơi và làm quen nói chuyện với bác nhé. Em cần một tiếng để nấu nướng chuẩn bị.

Tôi quay xe đẩy bác Tuấn vòng ra phía sau. Tôi không có cảm tình với người đàn ông này! Hoàn cảnh ông ấy thật tội nghiệp và đáng thương nhưng không hiểu sao tôi không thể thương cảm với ông ấy được. Tôi đẩy xe lăn đưa ông đi dạo chỉ vì lời yêu cầu của Xuân. Tôi hậm hực đưa chân, vừa đi vừa nghe ông ấy tâm sự:

- Cô ấy đúng là một nàng tiên cậu Thái ạ. Cậu thật tốt số, nhớ đừng để vuột mất nhé.

- Dạ.

- Chính cô Xuân đã vực tôi sống lại, chính cô ấy đã mang lại niềm tin cho tôi. Tôi chấp nhận hoàn cảnh hiện tại để đền bù tội lỗi tôi đã gây ra cho người vợ trước của tôi. Cuộc đời! Đúng là oan khiên cuộc đời! Đây chính là hậu quả tôi phải gánh chịu vì tôi đã “giết chết” người vợ trẻ lúc nào cũng yêu thương chiều chuộng tôi...

- Bác nói gì thế ạ?

- Ừ, tôi đã “giết chết” người vợ dịu hiền của mình từ 25 năm trước nên bây giờ tôi mới ra nông nỗi thế này! Tôi đã mất tất cả, kể cả chính tôi, nhưng rồi cô Xuân đã mang lại niềm tin cho tôi can đảm sống tiếp phần đời còn lại để thống hối ăn năn. Cô ấy đúng là một nàng tiên, một thiên thần phải không cậu Thái?

- Dạ.
- Cậu Thái này.
- Dạ.
- Tôi mới gặp cậu lần đầu nhưng khi nhìn cậu, tôi vừa thấy quen quen vừa thấy xa lạ.
- Dạ.
- Sao cậu cứ dạ mãi như con gái thế? Giọng nói và ánh mắt của cậu chứa đựng một cái gì đó làm tôi lo sợ. Khi nhìn vào mắt cô Xuân hay khi nghe cô ấy nói chuyện, tôi cảm thấy bình an hạnh phúc; còn với cậu thì ngược lại. Tôi nói thế cậu đừng buồn nhé.
- Dạ.
- Cậu Thái không thích nói chuyện với tôi à?
- Cháu đâu biết nói gì.
- Kể chuyện gia đình cậu chẳng hạn, hay những chuyện vui buồn giữa cậu và cô Xuân.
- Gia đình cháu chẳng có chuyện gì ngoài một bà mẹ khóc nhiều hơn ngủ.
- Tội nghiệp quá! Thế cha mẹ cậu người gốc ở đâu?
- Cháu không có cha. Xin bác đừng hỏi nữa. Cháu sẵn sàng nghe chuyện của bác nhưng cháu không muốn nói gì về gia đình của cháu.
- Xin lỗi, xin lỗi cậu Thái. Nếu thế chắc mẹ cậu cũng khổ chẳng kém gì tôi. Đã từ lâu lắm rồi, tôi cố nén lòng chịu đựng, nhưng hôm nay tôi muốn tâm sự với cậu... được không?
- Dạ.
- Cậu đẩy tôi tới gần cái bàn đàng góc kia, ngồi xuống nghỉ cho khỏe, rồi bác cháu mình tâm sự.
- Dạ.

- Cách đây 4 năm, tôi bị tai biến mạch máu não và hậu quả là nửa người bên phải của tôi bị tê liệt từ cần cổ trở xuống. Ngày tôi xuất viện cũng là ngày gia đình tôi tan vỡ. Bà ấy buộc tôi phải ký giấy tờ ly dị vì đã mất hết khả năng làm chồng cũng như làm tiền. Từ California, tôi liên lạc xin chuyển đến vùng này. Nhờ sự giúp đỡ của nhà dòng Nữ Tu Bác Ái, tôi lặng lẽ sống qua ngày trong tủi nhục và tuyệt vọng. Đã hơn một lần tôi nuôi ý định tự tử, nhưng lương tâm tôi còn đủ mạnh để thắng vượt ý tưởng điên rồ đó. Ngày từng ngày tôi ăn năn vì một lỗi lầm tôi đã gây ra từ hơn 25 năm về trước... Hồi đó, sau hơn 3 năm đi cải tạo, tôi trở về với tấm thân tàn tạ, bệnh hoạn và bị quản chế tại địa phương. Vợ tôi lúc đó vừa dạy học vừa buôn bán lăng nhăng để kiếm sống qua ngày, rồi vay mượn tìm đường gởi tôi ra đi. Tôi đến Mỹ được 2 năm thì nhà tôi cũng vượt biển, nhưng chúng tôi không bao giờ đoàn tụ! Chuyến đi của vợ tôi bị hải tặc đánh cướp và hãm hiếp tơi bời. Tôi không phải là kẻ cố chấp, nhưng đã từ chối làm giấy bảo lãnh nàng (!) vì oan nghiệt thay, nàng đã mang thai với một tên hải tặc nào đó. Tôi muốn nàng phá đi cái bào thai oan nghiệt để cùng tôi làm lại từ đầu, nhưng nàng cương quyết phản đối để giữ lại một thai nhi vô tội. Tôi đã xé nát giấy tờ bảo lãnh và ép nàng ký giấy ly dị. Tôi coi như nàng đã chết và ung dung làm lại cuộc đời với một người đàn bà khác. Nhưng càng ngày tôi càng nhận ra người vợ sau này chỉ lấy tôi vì tiền nên tôi hối hận nhiều lắm. Tôi mất ngủ nhiều đêm và ăn uống thất thường nên tình trạng sức khỏe càng ngày càng đi xuống, và hậu quả là bây giờ tôi phải ngồi trên xe lăn. Tôi chỉ cầu xin được một lần gặp lại người vợ xấu số của tôi để cầu xin một lời tha thứ cho tôi được thư thái tâm hồn đón chờ cái chết, nhưng tôi đã hoàn toàn tuyệt vọng vì không ai biết nàng sống chết ra sao. Tinh thần của tôi sa sút đến tột cùng cho tới khi gặp được cô Xuân. Chính cô ấy đã mang lại niềm tin và giúp tôi sống trong hy vọng và đợi chờ...

Ông ta bật khóc nức nở và nước mắt của tôi cũng lưng tròng. Tôi nắm chặt hai tay cố tình nén tiếng nấc, nuốt vào lòng nỗi tủi nhục và hận thù đang trào dâng trong tim tôi. Tôi có thể đoán chắc chắn ông già này chính là người chồng phụ bạc của mẹ tôi! Tôi chỉ muốn đẩy mạnh chiếc xe lăn rớt xuống hồ cho hả giận. Tôi muốn trả thù cho mẹ.

- Anh Thái à, anh đẩy bác Tuấn vào nhà đi, em lo xong mọi sự rồi.
Tiếng gọi của Xuân từ sau lưng vọng tới đã thức tỉnh lương tâm của tôi. Tôi đứng lên, thấm nhẹ nước mắt, cố tình lê chân tránh xa chiếc xe lăn. Xuân đã nhận ra ông ấy đang khóc nên nàng thỏ thẻ:
- Bác phải vui lên chứ. Hôm nay là ngày vui của bác mà. Bác đâu còn cô đơn như những năm trước vì bác có cháu và anh

Thái cùng đến chung vui mà... Anh giúp em đẩy bác Tuấn vào nhà kẻo thức ăn nguội hết.

Tôi quay lại, với tay đẩy chiếc xe lăn trong khi Xuân vừa đi vừa lau nuớc mắt cho ông ấy, vừa thỏ thẻ khoe với ông những món ăn nàng đã chuẩn bị để mừng sinh nhật ông ấy. Tôi cảm thấy tâm hồn mình dịu lại và tự hỏi không biết có mấy người cha già được con gái yêu thương chăm sóc như Xuân đối với ông ấy.
Ôi! Trớ trêu thay cuộc đời!

*****

Tôi đã cố nén lòng để cùng Xuân giúp ông ấy tận hưởng những giây phút hạnh phúc thật hiếm hoi như lời ông nói. Lúc chia tay, ông ta siết chặt tay tôi và Xuân nức nở:

- Cám ơn. Cám ơn cô cậu nhiều lắm. Cám ơn cậu Thái đã lắng nghe nỗi niềm tâm sự của tôi. Nói được với cậu đã làm tôi an lòng nhiều lắm. Tôi như cảm nhận được sự tha thứ của nhà tôi vậy đó, cậu có hiểu không?

Tôi chỉ biết cúi đầu “dạ” nhỏ rồi vội vã bước ra xe vì tâm hồn tôi đang rối loạn không bút mực nào diễn tả được. Tôi khó chịu và bực tức vô vàn khi thấy Xuân cứ quấn quít bên chiếc xe lăn. Hai đứa vô xe rồi ông ấy vẫn ngồi yên trên xe lăn giơ tay vẫy theo. Xuân mệt nhoài sau một ngày vất vả nên đã thiếp ngủ ngay khi tôi lái xe vào xa lộ, và chỉ tỉnh giấc khi đã về gần tới nhà. Xuân mỉm cười thỏ thẻ:

- Xin lỗi anh nhé. Em mệt quá!
- Em ngủ tiếp đi cho khỏe, về tới nhà anh gọi.
- Xí... cái mặt anh đang giận mà còn làm bộ nữa. Em xin lỗi rồi mà. Cười lên tý cho em vui nào.

Tôi bật cười thực sự vì câu nói của Xuân. Từ mấy năm nay, mỗi lần gặp Xuân là tôi quên hết những buồn chán, hận thù hay tủi nhục... của cuộc đời. Tôi nắm nhẹ tay nàng:

- Em quả thật là một thiên thần.
- Anh cứ ngạo em hoài à. Mà bác Tuấn tâm sự gì với anh vậy?
- Chuyện đời của bác ấy, chẳng có gì quan trọng.
- Anh không dấu được em đâu. Em thấy anh gượng gạo, nói năng ấp úng suốt buổi chiều. Chắc chắn là hai người đã nói chuyện gì đó.
- Chuyện đàn ông với nhau ấy mà, em đừng bận tâm.
- Anh dấu em ha? Anh nói cho em nghe đi mà.
- Đâu có gì... Chuyện ông ấy hơi lạ.
- Em thương mà! Chúng mình đã hứa sẽ chia sẻ với nhau mọi chuyện mà.
- Thật tình! Anh nói, nhưng em không được nói lại với mẹ anh nhé.
- Sao vậy?
- Thì hứa đi rồi anh nói.
- Hứa thì hứa, hôm nay anh dị quá hà.
- Có thể ông ấy là chồng cũ của mẹ anh.
- Hả? Anh nói gì lạ vậy? Vợ bác ấy mới ly dị mấy năm nay thôi mà!

- Đấy là vợ sau. Ông ấy đã bỏ người vợ cũ bên trại tỵ nạn vì bà ấy mang thai hồi đi vượt biên bị hải tặc hãm hiếp. Đúng y hệt chuyện mẹ và anh. Em quên rằng anh là...

Xuân vội vàng dơ tay che miệng không cho tôi nói vì đã từ lâu lắm rồi, nàng không muốn tôi mang mặc cảm về người cha “Vô Danh”, và kết quả đau thương của chuyến hải hành mang đầy máu và nước mắt của mẹ.

- Anh chỉ đoán bậy thôi. Tội chết!
- Hy vọng anh đoán sai, nhưng anh sẽ tìm cách kiểm chứng lại. Anh thù ông ấy đến tận xương tuỷ.
- Anh! Đừng làm vậy mà...

Hai chúng tôi cùng im lặng, mỗi người mang một nỗi niềm tâm sự riêng tư. Có lẽ mọi sự rồi cũng qua đi nếu như lúc vào nhà tôi không bắt gặp mẹ đang ngồi thờ thẫn như kẻ mất hồn, nước mắt lưng tròng đăm chiêu ngắm nhìn một cái gì đó trong cõi vô định. Xuân nhào tới ôm mẹ vào lòng thỏ thẻ:

- Xin lỗi dì! Chúng con về trễ quá làm dì phải lo lắng.
Tôi để mặc Xuân ngồi nói chuyện với mẹ, vội vàng đi tắm cho “hạ hỏa”. Tôi đã nguôi ngoai trên đường về, nhưng khi nhìn thấy mẹ lòng tôi lại sục sôi lửa hận thù!

****

Suốt tuần liền tôi “trốn” mẹ. Tan sở, tôi không về nhà mà đi thẳng ra tiệm rượu ngồi tới khuya. Mãi tới ngày Thứ Năm, Xuân gọi điện thoại lên sở hẹn cùng tôi đi ăn trưa và năn nỉ tôi “trở về vì dì đã khóc ròng rã mấy đêm liền”, và xác định ông ấy chính là chồng cũ của mẹ vì trùng tên, trùng ngày sinh tháng đẻ. Xuân đã van xin tôi nếu không tha thứ được thì hãy quên đi “ông ấy”; và vì tôi, nàng cũng hứa sẽ không bao giờ trở lại thăm ông ta nữa. Tôi cảm động vì nước mắt của người yêu nên hứa sẽ cố gắng.

Tôi không bao giờ muốn gặp lại ông ta nhưng hứa sẽ không buồn nếu Xuân vẫn tiếp tục giúp đỡ ông ấy vì tình người.

Tối hôm ấy tôi đã về nhà đúng giờ để tình cờ chứng kiến hình ảnh mẹ tôi ôm điện thoại khóc nức nở, tiếng mất tiếng còn: “Em sẽ săn sóc cho anh. Em không bao giờ oán hận anh cả. Anh Tuấn, em vẫn yêu anh như ngày nào!”

Tôi xô cánh cửa đánh sầm một tiếng rồi vọt ra xe phóng như lao vào bóng đêm.

Sáng Thứ Sáu tôi gọi lên sở xin nghỉ làm và tìm quên trong men rượu. Tôi trở về lúc gần sáng hôm sau!

Tôi đang hoang mang đến tột cùng vì những mảnh giấy nhắn tin của mẹ và của Xuân. Tôi không thể thù ghét mẹ tôi. Tôi không thể trách Xuân. Tất cả chỉ vì “ông ấy”. Không đúng! Chỉ tại hoàn cảnh trái ngang... Chỉ tại bọn hải tặc Thái Lan! Không được! Một trong những tên hải tặc đó là cha tôi!

Đầu tôi điên đảo quay cuồng. Lòng tôi bừng bừng lửa hận nhưng không biết hận ai!

Tôi vào nhà tắm sơ qua cho đầu óc tỉnh táo rồi ra xe đề máy.

Tôi chẳng biết đi đâu giờ này. Tìm đến quán rượu rồi trở về đọa đày thân tôi để làm khổ mẹ và Xuân. Tôi không thể làm thế được vì tôi rất thương mẹ và yêu Xuân. Tôi đã hứa với nàng. Tôi phải giữ lời hứa để nàng không phải sầu khổ vì tôi. Tôi muốn gặp Xuân nhưng không biết tìm nàng ở đâu. Xuân đã chở mẹ tôi đi đâu đó! Tôi lái xe ra xa lộ và một động lực vô hình đã khiến tôi chạy về hướng Winschester.

Sau khi đậu xe, tôi rón rén bước tới phòng “ông ấy”. Tôi đã nhìn quanh nhưng không thấy xe của Xuân ngoài bãi đậu xe.

Cửa mở. Đứng sát vào tường, tôi nín thở nghe lén:

- Em đừng vì anh mà làm Thái khổ. Được em tha lỗi là anh mãn nguyện lắm rồi. Em và Xuân hãy trở về chăm sóc cho Thái. Anh cam lòng chấp nhận số phận... vì tất cả là lỗi lầm của anh.

- Anh! Em xin anh hãy để em lo. Thái là đứa con hiếu thảo và lúc nào cũng nghe lời em...

Một vòng tay ôm nhẹ. Một bàn tay che kín miệng tôi. Tôi quay lại. Xuân kéo nhẹ tôi ra bãi đậu xe:

- Anh Thái! Em biết anh sẽ tới. Anh còn mệt không?
- Xuân. Anh xin lỗi em. Anh đã không giữ lời hứa. Anh vẫn giữ lòng thù hận và đã bê tha rượu chè.
- Anh Thái, em hiểu lòng anh. Người khác gặp hoàn cảnh này chắc sẽ tệ hơn anh bây giờ.
- Anh biết làm sao bây giờ hở Xuân?
- Anh có giận em vì đã nói hết cho dì biết không?
- Anh không bao giờ giận em cả. Em chỉ nói lên một thực tế phũ phàng. Anh chỉ hận “ông ấy”.
- Đừng làm thế dì buồn, anh Thái ạ.
- Anh không hiểu tại sao mẹ anh vẫn còn yêu ông ấy?
- Anh đã bớt giận chưa? Chúng mình vào nhà nhé?
- Để làm gì?
- Khi em nhìn thấy ánh mắt rưng rưng của dì và bác Tuấn em mới hiểu thế nào là tình yêu chân thật anh Thái ạ. Chưa bao giờ em nhìn thấy nét mặt của dì rạng rỡ và hạnh phúc như lúc đó. Anh có hiểu không?

Tôi lặng lẽ theo Xuân vào phòng ông ấy. Mẹ đang quỳ bên xe lăn xoa bóp cánh tay phải gầy gò bất động của ông ấy. Nước mắt mẹ lưng tròng nhưng nét mặt rạng rỡ lạ thường. Ông ấy vòng tay trái ôm ngang vai mẹ vỗ về. Nét mặt ông ấy hốt hoảng khi thấy tôi xuất hiện. Xuân nhẹ nhàng nắm tay tôi giật nhẹ, mẹ ngước mắt nhìn rồi vội vàng chắp tay gục đầu nghẹn nào trong tiếng nấc: “Thái, mẹ xin con.”

Tôi quỳ gối bên cạnh mẹ, và ôm mẹ vào lòng. Chính giây phút đó, nỗi hận thù trong lòng tôi đã biến mất. Tôi dìu mẹ đứng lên, với tay kéo chiếc xe lăn lại gần. Một tay ôm mẹ, một tay tôi run run kéo tay ông ấy nhẹ nhàng trao vào vòng tay của mẹ. Cặp mắt ông ấy ngấn lệ khi nhận ra nét mặt của tôi đã không còn hừng hực lửa hận thù như mấy phút trước... Mẹ ngước nhìn tôi mỉm cười trong nước mắt. Ông ấy thì thào trong tiếng nấc: “Cám ơn con, Thái.” Mẹ nức nở khóc oà.

Một vòng tay bé bỏng ôm nhẹ vào vai tôi. Một làn hơi nhẹ thoáng bên tai “Thái, em yêu anh.”

Xuân kéo tôi lùi lại và tôi vòng tay ôm Xuân vào lòng mình. Lẫn trong lời yêu thương Xuân dành cho tôi, có tiếng khóc của mẹ. Đây là lần đầu tiên trong đời tôi hiểu thế nào là khóc mà hạnh phúc. Và hiểu thêm tình yêu của chính mình, trong nước mắt và tình yêu “ba mẹ”.

Nguyễn Duy-An



__._,_.___

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

CĂN CƯỚC MỚI CHO NGƯỜI VIỆT VÀ TƯƠNG LAI CỦA ĐẤT NƯỚC


Nguyễn Thanh Liêm

Muốn dự đoán (predict) tương lai nhà khoa học cần phải biết rõ quá khứ. “Ôn cố nhi tri tân,” người ta phải tựa trên cái đã qua hay cái đã có để dự đoán cái gì sẽ xảy đến. Muốn đoán trước tương lai của một người, người dự đoán cần phải biết cái quá khứ tạo nên căn cứơc (identity) của người đó. Vì chính căn cước của con người quyết định phần lớn những chọn lựa của người đó trước hoàn cảnh/môi trường sinh sống mới. Khi ta nghĩ đến tương lai của một cộng đồng nào đó cũng vậy, điều trước nhất là ta cần tìm biết rõ căn cước chung (collective identity) của cộng đồng đó như thế nào rồi từ đó mới có thể dự đoán phần nào tương lai của họ. Mặt khác các chính trị gia cũng như các nhà văn hóa học thấy rằng người ta có thể sửa đổi hay xây dựng lại căn cước của một người hay một cộng đồng để cái căn cước mới này hướng dẫn hành động của con người hay cộng đồng đưa con người hay cộng đồng đó đến một tương lai mà người ta mong muốn. Vấn đề là căn cước có thể thay đổi được dễ dàng không, và làm thế nào để thay đổi (hay xây dựng lại) căn cước của một người hay một cộng đồng? Và quan trọng hơn nữa là thay đổi hay xây dựng lại như thế nào để có lợi cho công đồng hay cho quốc gia dân tộc?

Nếu cộng đồng tương đối đồng nhất (homogenous) thì việc tìm hiểu hay xây dựng căn cước chung của họ cũng tương đối dễ dàng nhưng khi cộng đồng bị phân hóa nhiều (highly diverse) thì khó có thể có một căn cước chung được, và dĩ nhiên trong trường hợp đó khó có thể dự đoán được tương lai chung và cũng khó xây dựng căn cước chung cho cả cộng đồng. Cộng đồng người Việt hải ngoại, theo cái nhìn của nhiều người, là một cộng đồng phân hóa, phức tạp, chớ không đồng nhất. Có những người thuộc thế hệ người lớn tuổi gắn liền với xã hội Việt Nam cũ hơn là hội nhập vào cái xã hội tân tiến của Mỹ, có những người cực hữu, cũng có một số người thiên tả, có người triệt để chống Cộng nhưng cũng có người chủ trương hòa giải hòa hợp, có người theo Phật giáo, có người theo Thiên Chúa giáo hay giáo phái nào khác, có những người có tinh thần quốc gia vững mạnh nhưng cũng có những người chỉ nghĩ đến quyền lợi cá nhân, có những người phải lớn lên phải sống trong chiến tranh nhưng cũng có những người thuộc thế hệ trẻ không biết chiến tranh là gì, v v . . Khác nhau về tuổi tác, khác nhau về tôn giáo/tín ngưỡng, khác nhau về kinh nghiệm sống, khác nhau trong quan niệm giá trị, khác nhau trong chính kiến, trong cái nhìn về chiến tranh Việt Nam, khác nhau về giai cấp/học vấn/nghề nghiệp cũng như về mức độ hội nhập vào xã hội mới, cộng đồng người Việt hải ngoại mang nhiều căn cước khác nhau chớ không phải chỉ một căn cước duy nhất là người Việt Nam suông.

[Cộng đồng của anh chị em Petrus Ký ở đây là một bộ phận của cộng đồng người Việt hải ngoại. Nó cũng phân hóa, phức tạp như công đồng lớn mà nó là một bộ phận. Tuy có cùng một mẫu số chung là PK (với một số những đặc tính trí thức hay tinh thần nào đó) nhưng phân tích kỷ nó cũng khá phức tạp, khá phân hóa, nhìn từ những bình diện khác nhau].

Trong tình trạng phân hóa đó người làm giáo dục/văn hóa nhìn thấy gì trong tương lai? Có thể nghĩ đến một tương lai chung cho cộng đồng không, hay tương lai chung cho cả dân tộc không, và nếu có một viễn tượng như vậy thì người làm văn hóa/giáo dục phải xây dựng căn cước chung như thế nào để có thể hướng về tương lai chung đó?

Nhưng trước hết, căn cước ở đây là gì?

“Căn cước”hay “Identity” là đề tài rất được các nhà khoa học về xã hội (từ tâm lý học, xã hội học, tâm xã hội học, đến các môn văn hóa nhân loại học) đặc biệt chú trọng trong những thập niên gần đây, nhất là khi ý niệm identity được khai thác triệt để trong địa hạt chính trị. Nhưng identity là một ý niệm rất phức tạp. Hiểu một cách thông thường thì identity là cái căn cước. Về phương diện vật chất, identity là căn cước cho phép người ta nhận diện một người qua hình ảnh và những nét đặc thù về thể xác, nhất là diện mạo của cá nhân người mang căn cước. Đó là cái thẻ căn cước có in hình ảnh của mỗi người (tức là cái ID card của mỗi người). Về phương diện tâm sinh lý và xã hội/văn hóa, identity có thể được xem như căn cước tinh thần (hay bản sắc) của một người, bao gồm một số đặc tính sinh vật/tâm lý xã hội/văn hóa của người đó như giống người/chủng tộc, quê hương xứ sở, giới tính, khuynh hướng chính trị, tôn giáo, học lực, nghề nghiệp, tình trạng gia đình, v v. . . .Khi một người tự đồng hóa (identify) mình với những đặc tính nào đó thì những đặc tính đó là những đặc tính làm thành căn cước tinh thần của mình. Đó là những đặc tính mà con người thường dùng để trả lời cho câu hỏi mình đặt ra cho chính mình: “Tôi là ai?” (Who am I?). Thí dụ khi bạn cho rằng bạn là người Việt Nam, sinh ra và lớn lên ở Miền Nam, bạn là người Quốc Gia, bạn yêu chuộng tự do dân chủ, bạn là người theo đạo thờ ông bà, bạn là kỹ sư cơ khí, bạn thích đọc tiểu thuyết tình cảm xã hội, bạn có vợ, có hai con . . .thì căn cước của bạn bao gồm những đặc tính vừa kể mà bạn đã tự thấy mình gắn liền với nó. Những đặc tính đó làm nên căn cước tinh thần mà mỗi người tự nhìn thấy, tự gắn vào cho mình. Đó là những đặc tính thuộc bản ngã (hay cái TÔI) của mỗi người. Nó có thể khác với căn cước tinh thần mà xã hội hay tha nhân bên ngoài gắn cho mình. Căn cước mà xã hội hay người bên ngoài nhìn thấy ở nơi mình có thể đúng nhưng cũng có thể không đúng với căn cước thật sự của mình. Bạn có thể là người yêu nước, muốn phụng sự cho dân tộc quê hương, bạn cũng là người yêu chuộng tự do, dân chủ, không chấp nhận độc tài, nhưng vì quá sốt sắng trong việc giúp đỡ bạn bè, bà con, giúp dân, giúp nước, bạn cố gắng cổ động nhiều người khác đem công và của về phụng sự xã hội quê hương trong khi chính quyền hiện hữu không phải là chính quyền dân chủ tự do thân thiện của đa số người tỵ nạn, thì người ta có thể gán cho bạn cái căn cước cộng sản hay thiên cộng mà thật sự căn cước của bạn không phải là căn cước cộng sản hay thiên cộng gì cả. Tiếng nôm na của người mình là bị chụp mủ. Hiện tượng bị chụp mũ là hiện tượng bị người khác gán cho mình một căn cước khác hơn là căn cước thật sự của mình. Người khác cũng có thể gắn cho mình một cái căn cước theo mong ước của họ. Người ta có thể gắn cho bạn căn cước “mạnh thường quân” chẳng hạn vì người ta mong ước sẽ được bạn giúp đỡ về tài chính, hay những phương tiện vật chất nào khác. Một cách tổng quát, căn cước tinh thần (hay bản sắc) của một người không dễ nhận ra như căn cước vật chất của người đó. Thí dụ căn cước của người làm gián điệp, cũng như căn cước của những người dấu kỷ bên trong hay bề sâu của mình dưới một bên ngoài khác hẳn. Bộ áo không làm nên thầy tu như người mình thường nói. Người ta có thể trình diễn cái tôi của mình (presentation of the self) để cho công chúng thấy cái căn cước xã hội của mình theo cách thức mình muốn, nhưng không chắc gì đó là cái tôi đúng thật trong cái căn cước thật sự của mình. Nó phức tạp ở chỗ đó, cho nên rất khó mà biết được một cách đầy đủ, chính xác căn cước tinh thần thật đúng của một người.

Căn cước được thành hình thế nào? Căn cước một mặt gắn liền với sự hình thành và phát triển của “bản ngã” (the self) trong lãnh vực tâm lý học, và mặt khác với tiến trình xã hội hóa (socialization) trong lãnh vực xã hội/văn hóa học. Bản ngã, tức cái “TÔI” của mỗi người là phần chính làm nên căn cước của người đó. Bản ngã được thành hình bởi sự phối hợp giữa bản tính cá nhân bẩm sinh (innate) cùng với ảnh hưởng học hỏi thu nhận được từ gia đình, bạn bè, thầy cô, xã hội/văn hóa. Một bên là tự nhiên (nature) và một bên nữa là sự thụ giáo (nurture). Phần tự nhiên là phần tính trời sinh ra như vậy như người bình dân thường nói;”cha mẹ sinh con, trời sinh tính.” Phần thụ giáo là phần mà con người học được từ những người chung quanh như cha mẹ, anh em, bạn bè, thầy cô, từ những bài học trong gia đình, đến những bài học ở nơi học đường hay ngoài xã hội (chợ đời) khi con người được sinh và lớn lên ở trên đời. Tự nhiên và thụ giáo sẽ được tổng hợp lại để làm thành bản ngã của con người, và bản ngã đó là cốt lõi của căn cước tinh thần của mỗi người. Cũng như những sự kiện tâm lý xã hội khác, căn cước của một người thay đổi theo thời gian và hoàn cảnh/môi trường sinh sống.

Căn cước có thay đổi được không, và làm thế nào để thay đổi căn cước của một người hay một cộng đồng? Căn cước tinh thần của một người thường bao gồm nhiều đặc tính, mỗi đặc tính là một bình diện, một mặt của căn cước. Có những đặc tính khó thay đổi hay không thay đổi được nhưng cũng có nhiều đặc tính dễ thay đổi hơn. Những đặc tính sinh vật (biological) khó thay đổi như chủng tộc và giới tính, nhưng những đặc tính xã hội/văn hóa (sociocultural) hay tâm lý xã hội (psychosocial) như khuynh hướng chính trị, tôn giáo hay triết lý dễ thay đổi hơn.

Trên bình diện giống người và chủng tộc có identity về giống người và chủng tộc, (có thể gọi là căn cước chủng tộc (racial/ethnic identity)), như giống da trắng, giống mông cổ, giống melanesian, giống austronesian, người Tàu, người Nhật, người Phi, người Việt, v v. . Đây là đặc tính không thay đổi hay khó thay đổi được. Sinh ra là người Việt Nam thì phải mang căn cước Việt Nam cho đến hết cuộc đời, không sửa đổi được. Cũng có một số người tìm cách thay đổi căn cước chủng tộc của mình bằng cách biến đổi thân xác mình thành thân xác một giống dân khác như ca sĩ Michael Jackson, từ một người da đen biến thành người da trắng, hay một số thiếu nữ Việt Nam nhuộm tóc vàng, sửa mũi cao, gắn tròng mắt xanh biến mình thành những cô thiếu nữ Au Mỹ. Họ có thể thành công ở bên ngoài nhưng bên trong thâm tâm họ có xóa bỏ được ý thức nguồn gốc chủng tộc mình không thật khó mà biết được. Sự chối bỏ (denial) căn cước dân tộc của một ít người trong một số trường hợp nào đó không hẳn làm thay đổi được căn cước của họ. Tiến trình đồng hóa văn hóa (cultural assimilation hay acculturation) cũng không làm thay đổi căn cước dân tộc được. Do sự không thay đổi được này mà các chính trị gia thường khai thác “căn cước dân tộc” của người Việt hải ngoại khêu gợi lòng yêu nước thương dân của họ, thúc đẩy họ trở về với quê hương xứ sở, phụng sự cho quốc gia dân tộc. Cũng như chủng tộc, giới tính cũng không thay đổi được. Nam hay nữ, hễ khi được sinh ra như vậy thì phải chịu vậy thôi chớ không thay đổi được. Tuy ngày nay khoa giải phẩu có giúp người ta thay đổi giới tính, có những người đàn ông được giải phẫu trở thành phụ nữ và ngược lại cũng có những người phụ nữ được giải phẫu để trở thành nam nhi, nhưng sự thay đổi này có trọn vẹn không cũng khó mà biết được.

Trên bình diện chính trị có identity về chính trị hay căn cước chính trị (political identity), như người cộng sản, người quốc gia, chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa tự do, chính thể độc tài/chuyên chế, phản chiến, thiên tả, . . Xu hướng chính trị, cũng như tư tưởng, và hệ thống giá trị của một người, v v. . . có thể thay đổi được dù là rất khó khăn trong một số điều kiện hay trường hợp nào đó. Khi người ta đã bị nhồi sọ, bị bao vây che lấp quá lâu thì sự thức tỉnh để thay đổi sẽ rất khó khăn. Quá trình xã hội hóa (socialization) càng lâu và càng sâu đậm thì tiến trình triệt tiêu (desocialization) càng khó khăn chậm chạp. Câu tục ngữ “ở bầu thì tròn, ở ống thì dài” mà phần đông chúng ta thường hiểu là lời khuyên con người hãy thích nghi với hoàn cảnh, thật sự còn có ý nghĩa rất đúng về quá trình phát triển tâm lý cũng như xã hội hóa của con người. Cái ống hay cái bầu là những cái khung mà con người khi sinh ra và lớn lên trong đó phải chịu sự uốn nắn của nó để phải mang hình dáng giống hệt như nó mà thôi. Hãy nghĩ đến những trẻ em A Phú Hãn thời Taliban còn nắm chính quyền, trong những trường học/tu viện, tối ngày phải ngồi gụt gặt đầu học thuộc lòng kinh Coran, không có cơ hội để biết gì khác hơn những điều thánh kinh dạy dỗ. Được xã hội hóa theo kiểu nhồi nắn sâu đậm như vậy đứa trẻ sẽ lớn lên với một hệ thống tư tưởng gắn chặt với Hồi giáo và chế độ Taliban chứ không thể biết gì ngoài hệ thống giá trị mà tôn giáo và chế độ đó đã đặt ra. Nó sẽ mang trong tâm lý cái mà các nhà tâm lý giáo dục gọi là tiền kiến thức (pre-existing knowledge) rất khó sửa đổi sau này. Các nhà tâm lý giáo dục có nói đến trường hợp của một đứa trẻ từ nhỏ được dạy là trái đất là một mặt phẳng, ý tưởng này trở thành một tiền kiến thật chắc chắn khiến sau này đứa trẻ phải hết sức khó khăn mới chấp nhận được sự thật là trái đất tròn. Câu chuyện ‘Fish is fish” của Lionne sau đây cho ta một ý niệm khá rõ ràng về tiền kiến thức. Chuyện kể rằng con cá ở dưới nước không biết có những gì ở trên mặt đất. Có một bạn ếch, có lên mặt đất, kể lại cho cá nghe là ở trên đó có con người đi bằng hai chân, có con chim bay trên trời bằng hai cánh, và có những con thú chạy bằng bốn chân. Cá nghe nói bèn cố tưởng tượng ra hình ảnh của con người, con chim và con thú theo lời kể của ếch. Trong cố gắng tưởng tượng của nó, cá thấy con người là một con cá có thêm hai cái kỳ to như hai chân để bơi đi, con chim là một con cá có thêm hai cái vi to như hai cái cánh để di chuyển, và con thú là một con cá có bốn cái kỳ to như bốn cái chân để hoạt động. Kiến thức mới mà con ếch cố đem vào cho cá không giúp cá nhìn thấy được sự thật về con người, con chim hay con thú với những hoạt động thích hợp như đi trên mặt đất, bay trên không trung, và chạy trên mặt đất, vì cá không vượt qua được điều kiện giới hạn của mình là ở dưới mặt nước, không thấy gì cả ở trên đất liền. Rốt cuộc mọi vật đều là cá trước nhất, và thêm một vài chi tiết tưởng tượng vào thôi, do đó mới có cái nhan đề Fish is Fish mà Leonne dành cho quyển sách. Trong tín ngưỡng, tôn giáo cũng vậy, khi người ta được thấm nhuần tư tưởng tôn giáo nào đó rồi thì rất khó mà thay đổi.

Những bình diện nói trên luôn gắn chặt vào nhau không tách rời được khi đề cập đến căn cước của một người. Khó có một căn cước là người Việt Nam suông (căn cước dân tộc). Căn cước dân tộc trước hết được gắn chặt với nơi cư ngụ hay quê hương hay môi trường sinh sống làm thành căn cước văn hóa trong đó có cả tư tưởng, tôn giáo, tín ngưỡng và xu hướng chính trị. Thường phải là người Nam, người Bắc, người tị nạn, thiên cộng, người công giáo, người Hòa Hảo, v v. . . Chỉ dùng một bình diện như căn cước dân tộc không thôi mà không có một định nghĩa và giới hạn thật rõ ràng thì không đủ để nói hết căn cước thật sự của một người. Người Việt Nam thời Hùng Vương (nếu có) ở tận mãi Miền Bắc hay bên Miền Nam Trung Hoa với người Việt Nam thời Lý Trần ở Bắc Việt, đến người Việt Nam ở Đàng Trong hoặc người Việt Nam ở Đàng Ngoài thời Nam Bắc Phân Tranh, người Việt Nam hiện giờ ở dưới chế độ hiện tại với người Việt nam tỵ nạn trên xứ Mỹ, tất cả đều cùng là người Việt Nam nhưng không hẳn có cùng một căn cước như nhau. Người Petrus Ký cũng vậy. Đành rằng người Petrus Ký nào cũng có học ở Petrus Ký nhưng sự khác biệt về thế hệ, khác biệt về trình độ học vấn/ nghề nghiệp, khác biệt về quan điểm lịch sử cũng như chính kiến làm cho tập thể Petrus Ký không mang một căn cước chung đồng nhất, mà có thể có nhiều căn cước khác nhau.

Tựa trên hai yếu tố chủng tộc và xu hướng chính trị, đại để ta có thể có những loại căn cước chính sau đây của người Việt ở hải ngoại đối với quê hương đất nước Việt Nam. Căn cước A: người Việt quốc gia, ra đi từ Miền Nam tự do, quân/cán/chính hoặc có liên hệ tới Việt Nam Cộng Hòa, tôn trọng cờ vàng ba sọc đỏ, không chấp nhận chủ nghĩa/chính quyền Cộng Sản, không chấp nhận cờ đỏ sao vàng, cho rằng Cộng Sản Bắc Việt xăm chiếm Miền Nam, áp đặt chế độ độc tài đảng trị, dùng chính sách kềm kẹp cai trị người dân, cho Hồ Chí Minh là tội đồ của dân tộc, bát bỏ chủ trương hòa hợp của chính quyền hiện hữu, triệt để chống Cộng, quyết giải thể chính quyền và đảng Cộng Sản Việt Nam. Hầu hết là những người đã từng sống qua thời chiến tranh Việt Nam, từng sinh sống ở Miền Nam Tự Do (Nam Vĩ Tuyến 17), và tự thấy mình hiện là người Việt tỵ nạn Cộng Sản trên thế giới. Đây cũng là những người gắn bó với văn hóa Việt Nam nhiều hơn là hội nhập vào văn hóa Mỹ vì quá trình xã hội hóa vào xã hội Miền Nam tự do đã khá sâu đậm và lâu dài. Căn cước B: người Việt thiên tả hay thiên cộng, ra đi từ Miền Nam tự do, chống chiến tranh Việt Nam mà họ cho là do đế quốc Mỹ gây ra, ca tụng Hồ Chí Minh, đề cao sự kháng chiến của nhân dân do đảng Cộng Sản lãnh đạo, coi sự chiến thắng của Cộng Sản Bắc Việt là một vinh quang của dân tộc, chấp nhận cờ đỏ sao vàng, chấp nhận chính quyền cộng sản hiện nay, chủ trương hòa giải hòa hợp, xóa bỏ hận thù, liên lạc làm việc với chính quyền hiện hữu, cổ động người Việt trở về quê hương tiếp tay xây dựng đất nước và chủ nghĩa xã hội. Đây cũng là những người gắn bó với văn hóa Việt Nam nhiều hơn là hội nhập vào văn hóa Mỹ. Căn cước C: người Việt lớp trẻ, ra đi từ Miền Nam lúc còn trẻ hoặc sinh ra ở hải ngoại, không biết và không hiểu về chiến tranh Việt Nam, không có xu hướng chính trị rõ ràng, có thể có làm việc xã hội, từ thiện, giúp dân, giúp quê hương xứ sở, không cần biết đến chính quyền hiện hữu. Họ là những người hội nhập rất nhiều vào xã hội Au Mỹ, có hệ thống giá trị gần như hệ thống giá trị của người Au Mỹ. [Lẽ dĩ nhiên là trong mỗi nhóm căn cước lớn nói trên người ta còn có thể phân chia ra nhiều nhóm nhỏ (breakdown ), tựa trên nhiều bình diện khác chẳng hạn như trình độ học vấn, nghề nghiệp, mức độ gắn bó với quê hương, mức độ tích cực/tiêu cực trong hoạt động xã hội v v. . . Nếu ta cho những người rất tích cực, rất sốt sắng, triệt để tôn trọng đường lối/chủ trương của mình thuộc loại số 1 còn những người lôi thôi, tiêu cực cho vào loại số 3, trong khi ta dành số 2 cho những người vừa phải, không quá tích cực nhưng cũng không quá tiêu cực, thì ta sẽ có A1, A2, A3, B1, B2, B3, C1, C2, và C3 chẳng hạn, tùy theo bình diện mình lựa chọn để đưa vào cách breakdown (phân chia nhóm theo thống kê).]

Trước tình trạng phân hóa như vậy nhiều người nhận thấy cần phải làm sao xây dựng lại căn cước cho người Việt Nam, làm thế nào để mọi người có cùng một căn cước như nhau thì sự đoàn kết dân tộc mới có thể thực hiện được, và từ đó sự chung lưng đâu cật để xây dựng xứ sở đất nước, hay xây dựng cộng đồng, mới được mạnh mẽ và hiệu quả. Ai cũng thấy điều đó là chính đáng, và rất cần thiết. Nhưng làm thế nào để xây dựng lại căn cước? Và căn cước xây dựng lại đó phải thế nào mới thật sự có giá trị là một căn cước chung và mới cho toàn dân, hay toàn thể cộng đồng? Về phương diện tâm lý-xã hội, hai loại căn cước A và B trong bảng phân loại trên đây rất khó thay đổi. Cả hai đều được uốn nắn, xã hội hóa trong môi trường chính trị của họ một thời gian quá lâu. Sự triệt tiêu quá trình xã hội hóa (desocialization) đó không phải là một việc dễ làm. Fish is fish, cá là cá cái đả, thành ra rất khó thay đổi chính kiến và tư tưởng tiền định của một người đã nhiều năm thấm nhuần cốt lõi tư tưởng của một xu hướng chính trị. A là A và B là B. Muốn tiến tới một căn cước mới thì người ta cần hoặc bỏ hết cả A lẫn B để đi đến cái gì khác hẵn, không phải A mà cũng không phải B, hoặc là tìm cách dung hòa A và B để đi tới một cái gì đó như O chẳng hạn. Những người mang căn cước C thì dễ dàng nhận căn cước mới hơn vì họ chưa có một căn cước rõ ràng và thời gian được xã hội hóa cũng không lâu. Nếu nhìn về tương lai, để hy vọng thì những người mang căn cước loại C là những người đóng vai trò quan trọng nhất. Hai nhóm A và B có quá khứ dài nhưng tương lai ngắn, nhưng nhóm C thì ngược lại, có dĩ vãng ngắn nhưng tương lai dài hơn.

Chính quyền Việt Nam hiện nay cũng đã thấy tình trạng đó và đã từng đề xướng chủ thuyết hòa hợp và đại đoàn kết dân tộc từ nhiều năm qua, nhưng chỉ mới chính thức thể hiện trong Nghị Quyết số 36 ban hành hồi tháng 3, năm 2004. Tư tưởng chỉ đạo trong nghị quyết là “thể hiện đầy đủ truyền thống đại đoàn kết dân tộc,” mà “cơ sở của sự đoàn kết là ý thức dân tộc và lòng yêu nước.” Theo nghị quyết thì “Niềm tự hào dân tộc và mục tiêu chung của mọi người VN là giữ vững nền độc lập dân tộc, thống nhất của Tổ quốc, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Xóa bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử do quá khứ hay thành phần giai cấp; xây dựng tinh thần cởi mở, tôn trọng, thông cảm, tin cậy lẫn nhau, cùng hướng tới tương lai.” Bảng nghị quyết nói rằng Đảng và Nhà nước mong muốn “khuyến khích người VN ở nước ngoài ...giữ gìn tiếng Việt, bản sắc văn hóa và truyền thống văn hóa VN, đoàn kết đùm bọc, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau, giữ mối quan hệ gắn bó với gia đình và quê hương...góp phần xây dựng quê hương đất nước, chủ động đấu tranh với các biểu hiện cố tình đi ngựơc lại lợi ích chung của dân tộc.”

Qua nghị quyết 36 ta thấy mục tiêu chính của chính quyền hiện hữu là muốn biến tập thể người Việt hải ngoại thành một tập thể nhận mình là người Việt Nam, trở về với truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam, trung thành với tổ quốc, hết lòng phụng sự quê hương, xây dựng xã hội, giúp quốc gia tiến mạnh trên đường hiện đại hóa. Đó là căn cước loại B, mà nhãn hiệu là “Người Việt Nam Yêu Nước.” Với nhãn hiệu mới này người Việt hải ngoại sẽ chỉ biết có một điều là nước Việt Nam và văn hóa truyền thống Viêt Nam, để tận tụy phụng sự quốc gia dân tộc, và không chen vào hay chống đối việc làm của Đảng và Nhà Nước trong vai trò lãnh đạo/cai trị của họ. Đó cũng là chủ trương hòa giải hòa hợp theo định hướng của Cộng Sản. Trong tập thể người Việt hải ngoại này họ nhắm vào loại căn cước C nhiều nhất, rồi kế đó mới đến loại A. Loại B dĩ nhiên là theo họ nên không thành vấn đề. Những người QG, những người mang căn cước loại A, thấy sự “hòa giải/hòa hợp,” “đại đoàn kết,” “xóa bỏ hận thù,” mà chính quyền Việt Nam đề xướng thật sự chỉ có nghĩa là chấp nhận những gì Cộng Sản làm là đúng, và như vậy thì không khác gì là đầu hàng Cộng Sản. Do đó mà họ phản ứng mạnh mẽ trước chủ trương hòa hợp. Lý luận của người mang căn cước loại A là:

Làm sao có hòa giải/ hòa hợp được khi người CS vẫn giữ nhãn hiệu và bảng hiệu và căn cước CS của họ trong khi người QG phải thay đi, bỏ đi nhãn hiệu và bảng hiệu và căn cước của người QG. Có phải người CS vẫn còn nghĩ rằng chỉ có CS là có chính nghĩa còn người QG chỉ là kẻ Ngụy mà thôi chăng? Nếu còn mang nặng quá khứ, còn đề cao và hãnh diện với những chiến thắng đã qua, còn mang mặc cảm tự tôn như vậy thì khó mà xóa bỏ dĩ vãng, xóa đi sự cách biệt để nhìn đến tương lai của đất nước. Ngày nào người CS còn mang nặng nhãn hiệu và bảng hiệu của CS thì ngày đó người QG vẫn còn phải giữ vững nhãn hiệu và bảng hiệu của người QG, và như thế CS vẫn là CS mà QG vẫn là QG, và không có cách gì hai người đó có thể ngồi lại với nhau để bàn chuyện tương lai xứ sở được. Người CS nói: “Xóa bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử do quá khứ hay thành phần giai cấp; xây dựng tinh thần cởi mở, tôn trọng, thông cảm, tin cậy lẫn nhau, cùng hướng tới tương lai.” Nếu thực hiện đúng câu nói đó thì mọi người, bên này cũng như bên kia đều phải quên đi dĩ vãng, vứt bỏ căn cước cũ, để cùng xây dựng lại căn cước mới, cùng hướng đến tương lai như nhau.

Đó là lý do khiến chủ thuyết hòa gỉai/hòa hợp và việc xây dựng lại căn cước cho người Việt không được nhiều người chấp nhận. Chẳng những thế mà nó còn thức tỉnh nhóm A để nhóm này hoạt động tích cực hơn trong việc hướng dẫn đàn em và lo gây dựng căn cước A cho lớp trẻ. Nhất là từ lúc bên phía cộng sản nhờ tay Trần Trường tung nhãn hiệu CS với bảng hiệu Cờ Đỏ Sao Vàng và hình ảnh Hồ Chí Minh ở Nam Cali đến nay người ta thấy ý thức nêu cao tinh thần QG với bảng hiệu Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ chống CS càng ngày càng vững vàng mạnh mẽ hơn ở tập thể người Việt Quốc Gia tỵ nạn. Cùng lúc đó nhiều đoàn thể, tổ chức chính trị tiến hành mạnh mẽ các công cuộc tranh đấu đòi nhân quyền, đòi tự do dân chủ, gây nhiều ảnh hưởng bất lợi cho chính quyền VN. Ngày nay Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ đã được công nhận ở một số tiểu bang và nhiều thành phố trên nước Mỹ, nơi có người Việt cư ngụ. Các hội đoàn sinh viên và tổng hội sinh viên Việt Nam ở các nơi trên nước Mỹ đã nêu cao nhãn hiệu QG. Các phái đoàn CS xuất ngọai đi tới đâu thường bị biểu tình chống đối tới đó. Các tòa đại sứ và tổng lãnh sự Cộng Sản ở các nơi thường xuyên chứng kiến cảnh xa lánh, chống đối của Việt kiều. Từ Hoa Kỳ đến Gia Nã Đại, Âu Châu, Úc Châu, đến Liên Hiệp Quốc, chỗ nào cũng có tiếng nói của người Quốc Gia, chống chế độ độc tài, độc đảng, áp bức của Đảng và Nhà Nước Cộng Sản, đòi tự do, dân quyền và dân chủ đa nguyên cho người dân Việt. Căn cước A có vẽ càng ngày càng vững chắc với số members càng đông. Nhiều người thuộc nhóm C cũng bắt đầu ý thức về những sai lầm của chủ nghĩa cộng sản, nhất là về phương diện tự do, dân chủ và nhân quyền.


Chính sách hòa hợp không đạt được kết quả mong muốn vì một lý do rất quan trọng này: không thay đổi được căn cước đã có của người Việt hải ngoại, không xây dựng được căn cước mới, chung cho cả cộng đồng. A vẫn là A, và B là B. Nỗ lực biến A thành B rất khó thành tựu. Giải pháp hay nhất là làm thế nào xây dựng căn cước mới cho tập thể người Việt, không phải là A hay B mà là một cái gì khác hẳn A và B.

Đối với những người trẻ, những người mang căn cước loại C, trong đó có nhiều anh em Petrus Ký, không biết gì về chiến tranh ở Việt Nam trong thời gian 1945-1975, không hiểu rõ chính sách/đường lối chính trị của các chính quyền, không có hận thù gì đối với CS, không mang rõ ràng “identity” của người Việt tỵ nạn Cộng Sản, thì việc tạo ra một “identity” VN mới không phải là một điều gay go khó thực hiện.

Nếu như, có thể đây là một chữ NẾU thật to... Nếu như cả A lẫn B và chính quyền Việt Nam đừng vì quyền lợi riêng tư của cá nhân, đừng vì quyền lợi của Đảng mình, thật tình nghĩ đến đất nước và dân tộc Việt Nam, đặt quyền lợi quốc gia lên trên hết, thật tình muốn làm cho xã hội tiến bộ, người dân ấm no, nước nhà giàu mạnh lên như Đài Loan, Đại Hàn, Nhật Bản...thì mọi người nên tin thật và làm đúng ý nghĩa của sự hòa giải/hòa hợp, đại đoàn kết quốc gia, nhìn về tương lai như đã nêu ra trong nghị quyết 36. Điều kiện tiên quyết là nên bỏ đi nhãn hiệu Cộng Sản, bỏ đi bảng hiệu Cờ Đỏ Sao Vàng, quên đi những chiến thắng đã qua, xóa đi những hận thù và mặc cảm tự tôn, mở rộng vòng tay đón nhận, để cho người QG cũng có cơ hội nghĩ đến việc bỏ nhãn hiệu và bảng hiệu cũ của mình, để cùng ngồi lại với nhau xây dựng một nhãn hiệu mới (VIỆT NAM MỚI chẳng hạn) và bảng hiệu mới chung cho tất cả mọi người Việt Nam trên khắp thế giới. Từ đó đại đoàn kết quốc gia được thành hình, và từ đó mọi người sẽ bắt tay nhau mà xây đắp tương lai. Được như thế thì thật là một sự may mắn và cũng là một vinh hạnh lớn lao cho dân tộc mình. Nói như vậy có nghĩa là mong muốn rằng căn cước B lẫn A đều được mọi người đồng ý xóa bỏ để cùng xây dựng lại căn cước mới cho người Việt Nam (ở ngoài nước và ở trong nước), hướng đến tương lai dân chủ, tự do, tiến bộ để có thể hiện đại hóa xứ sở đưa nước nhà đến chỗ cường thịnh như các quốc gia khác trong vùng. Trong hoàn cảnh và điều kiện đó những người mang căn cước loại C, trong đó có anh em Petrus Ký trẻ có thể góp phần rất lớn trong việc tái xây dựng căn cước mới cho người Việt hải ngoại.


Nguyễn Thanh Liêm


----

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Khổng Giáo, Một Triết Lý về Cách Xử Thế


Thạc Sĩ Đỗ Văn Phúc

Khổng giáo, một cái tên rất thông thường để gọi của Nho giáo, là một triết lý đã đóng vai trò chỉ đạo trong đời sống chính trị xã hội của Trung Hoa trong hơn 25 thế kỷ qua. Nó đã chiếm một chỗ đứng rất quan trnọg, và được xem như là một tọn giáo ở Trung Hoa cũng như tại nhiều nước Á Châu khác. Nếu hỏi người dân Trung Hoa theo đạo gì, 80 phần trăm sẽ trả lời họ theo Không Giáo. Nhưng thực ra, Khổng giáo là một hệ thống những giáo điều chính trị và xử thế, vì đối tượng của Khổng giáo là “người” và mối quan hệ giữa những “người” trong xã hội. Lester Mondale, trong cuốn sách “The Enduring Humanism of Confucianism,” đã viết: “Đối với Khổng Tử, trước hết là “nhân loại”, và mối quan tâm đầu tiên của ông đối với nhân loại là cuộc sống.” (p. 34)

Triết lý Nho học xuất hiện tại Trung Hoa rất lâu trước thới đại của Không Tử. Nó đã kết tạo nên một truyền thống văn hoá trong quá khứ, mà Khổng tử đã thú nhận rằng ông chỉ kể lại chứ không sáng tác gì mới “Ngã thuật nhi bất tác”

Chữ “NHO”, trong hán tự là sự kết hợp của hai chữ ‘Nhân” và ‘Nhu’ (người và sự cần thiết). Nho có nghĩa là một người mà xã hội cần đến. Một nhà Nho trước hết là một người có trí, có đức độ, và tài ba để nắm giữ vai trò then chốt trong việc cai trị đất nước và duy trì đạo đức cũng như trật tự xã hội.

Khổng Tử, người được dân chúng Trung Hoa tôn vinh và gọi là “Vạn thế sư biểu” (bậc thầy của muôn đời), là người đầu tiên đã hệ thống hoá những tư tưởng tản mạn của Nho học và thiết lập nên một trường phái triết học tại Trung Hoa. Sự nghiệp của ông đặt trọng tâm vào việc ba phạm trù chính: phục vụ trong chính quyền, giáo dục dân chúng, và truyền bá văn hoá cổ truyền cho hậu thế. Ông có nhiều tham vọng chính trị nên đã đi chu du các nước để tìm một cơ hội áp dụng lý thuyết chính trị của mình. Vào thời ông, nước Trung Hoa đang ở vào một giai đoạn hỗn loạn nghiêm trọng: Hoàng đế nhà Chu mất quyền kiểm sóat các chư hầu, các giá trị xã hội và trật tự bị đảo lộn, và chiến tranh thì đang chờ lúc để bùng nổ. Không một vị vua chư hầu nào chịu áp dụng các cải cách xã hội chính trị do ông chủ xướng.

Vô cùng thất vọng, Khổng Tử trở về quê nhà và hiến mình cho sự nghiệp giảng dạy và hiệu đính lại các tài liệu xưa.

Triết lý Nho học được bao gồm trong bộ “Tứ Thư” và “Ngũ Kinh”.

Bộ Tứ thư gồm có: Luận Ngữ (Lun Yu), Đại Học (Ta Shueh), Trung Dung (Chung Yung), và Mạnh Tử (Meng Tsu).

Bộ Ngũ Kinh gồm có: Dịch Kinh (I Ching), Thư Kinh (Tzu Ching), Thi Kinh (Shi Ching), Lễ Kinh (Li Ching), và Xuân Thu (Chun Ch’iu).

Từ trong hai bộ sách trên, chúng ta sẽ tìm thấy những đề tài chính như sau: các nguyên tắc đạo đức, các mối quan hệ xã hội, và nghệt thuật cai trị.

Khổng Tử ít nói về Thương Đế, thần linh và thế giới bên ngoài cuộc sống, vốn là mối ưu tư quan trọng hàng đầu của các tôn giáo. Ông tij vào số mệnh. Theo ông “Thiên Mệnh” quyết định sự thành bại của con người. Danh từ Thiên mệnh có thể được dịch là mệnh trời hay một là quyền lực siêu nhiên điều khiển tất cả mọi sự luân chuyển của vũ trụ.

Trong tác phẩm “Confucianism”, hai ông Chiu Chai và Windberg Chai nhận định rằng: “Rõ rang Khổng Tử quan tâm đến sự quan trọng vĩ đại của nhân loại, nhấn mạnh đến đời sống con người trong thế gian chứ không phải về cuộc sống vĩnh hằng bên kia thế giới. Điều này giải thích tại sao không hể coi Khổng Tử là một nhà tiên tri về tôn giáo, như nhiều người vẫn thường gọi; và tại sao giáo điều của ông còn tồn tại đến ngày nay như một triết lý về xử thế, khác hnẳ với ác tôn giáo nhu Phật giáo, Thiên Chuá giáo hay Hồi giáo.” (p. 33)

Giáo dục đạo đức là phần quan trọng nhất trong Khổng Giáo. Khổng tử chia nhân thế ra làm ba hạng người: Thánh Nhân, Quân Tử và Tiểu Nhân. Thánh Nhân là những người vô cùng đạo hạnh từ bẩm sinh, rất hiếm hoi trong nhân thế. Đại đa sốn là hạng tiểu nhân, nhưng trong đó có một phần có thể trở thành Quân Tử nhờ sự học hành, cải thiện và tư chế bản thân.

Khổng Tử nói nhiều đến hạng Quân Tử hơn hai thành phần kia. Đâ chính là mẫu mực nhà Nho như đã nió trong phần giới thiêu đầu bài. Theo ông, nhà Nho được ví như một cơn gió, mà quần chúnh là những ngọn cỏ. Cỏ sẽ ngã theo chiều thổi của ngọn gió. Một nhà Nho phải có một ý chí mãnh liệt để gieo mầm đạo lý trong thế gian. Muốn làm được thế, nhà Nho phải tuần tự thực hiện các bước sau: Cách Vật, Trí Tri, Tu Thân, Tề Gia, Trị Quốc, Bình Thiên Hạ. Trong diễn trình nêu trên, Tu Thân là bước quan trọng nhất.

Một nhà Nho tu than bằng cách học hỏi và hoàn thiện 5 đạo hạnh:

· Nhân (Jen). Nhà Nho phải độ lượng và thương người, thương yêu và tôn kính cha mẹ và các bậc trưởng thượng, yêu thương đồng bào. Đó là nền tảng của xã hội. Nhân là nguyên tắc cao cả nhất trong các mối quan hệ giữa con người với nhau.

· Nghĩa (Yi). Một nhà Nho phải là một người công chính. “Nếu Nhân là con tim, thì Nghĩa là cách sống.” (Mạnh Tử). Nghĩa là một điều kiện đạo đức tuyệt đối và không điều kiện. Nhà Nho phải thực hành điều tốt đẹp cho mọi người mà không nghĩ đến tư lợi; nếu kông thì ông ta chỉ là một người thấp kém vì hành vi của ông ta không còn là công chính nữa.

· Lễ (Li). Là các lễ nghi mà nhà Nho phải tôn trọng. Khổng Tử coi Lễ nghi là phương tiện để tạo dựng nên những phong cách và thái độ đối với người khác cũng như đối với những thần linh. (Chai, 42)

· Trí (Chih). Theo Khổng Tử, nhà Nho là người khôn ngoan, hiểu biết điều đúng, điều sai. Đối với bản than phải biết nhận sai lầm, đối với tha nhân phải biết tôn trọng ý kiến khác biệt. Nhà Nho phải cứng rắn nhưng không để tranh chấp xảy ra. Sẵn sang phục vụ nhưng không bị mua chuộc; có cái nhìn rộng rãi với mọi việc mà không về huà vì phe nhóm.

· Tín (Hsin). Nhà Nho phải thành tâm, làm cho mọi người tin mình qua ý nguyện chân thành của mình. Tín được xem là mtộ vũ khí tâm lý để thu phục nhân tâm.

Ngoài ra, nhà Nho phải giữ “Tam Cương” là ba giềng mối để duy trì trật tự xã hội. Tam Cương là làm vua phải cư xử cho ra vì vua, làm tôi phải cư xử theo cách bề tôi; làm cha, làm con, chồng vợ, phải cư xử đúng vai vế của mình.” (Sách Luận Ngữ).

Ba giềng mối này được gọi là thuyết “Chính Danh” tức là xác định cho đúng danh xưng, địa vị của từng người trong xã hội. Ông ta sẽ có những trách nhiệm và nhiệm vụ và cư xử cho thật xứng đáng.

These Three Bonds are known as the Doctrine of Cheng Ming. Cheng means rectification; Ming means name. Cheng Ming is rectification of names. A person is given a title or a name according to his position in the society. He has certain responsibilities and duties so he must behave properly in accordance with what the name of his position implies.

Hai chữ Chính Trị trong hán tự có ý nghĩa rất khác với chữ chính trị của Tây Phương. Chính trị theo nghĩa Đông phương là làm cho đúng, cho ngay thẳng. Một quân vương phải cai trị nhân dân với long thương yêu và chân thành để tránh phải dung đến quyền lực bằng mọi giá. Vị vua phải biết cách điều hành trị quốc làm sao cho kọi người vui hưởng nền công lý.

Theo Khổng Tử, các quan và dân chúng phải tuyệt đối trung thành với quân vương, bất kể đó vị minh quân hay hôn quân., bởi vì quyền lực của vua là do mệnh trời ban cho. Mạnh Tử - một hiền triết kế tục sự nghiệp của Khổng Tử trong sự nghiệp truyền bá Nho Học – đã không đồng quan điểm trên. Mạnh Tử cổ vũ cho việc nổi loạn chính đáng để hạ bệ những hôn quân. Theo ông, khi môt triều đại đi đến hồi suy yếu do hôn quân và bị lật đổ, thì coi như không còn giữ được mệnh trời nữa. Đây là một quan điểm rất tiến bộ trong thời đại của Ông.

Nghệ thuật cai trị cũng được Khổng Tử viết trong các sách, mà không khác mấy với các giáo điều và nguyên tắc về đạo đức vừa nói trên.

Kể từ khi nước Trung Hoa thống nhất và thiết lập nến quân chủ đầy uy quyền, Khổng giáo trở thành một hệ thống triết lý chủ đạo và một vũ khí đầy hiệu năng để củng cố quân quyền cũng như duy trì trật tự xã hội. Nó cũng từng trải qua những phát triển, chấn chỉnh, và được tái định trong thế kỷ thứ 10. Từ đó, Khổng giáo được dạy chính thức trong các trường học toàn nước Trung Hoa. Sauk hi Mao Trạch Đông cướp chính quyền năm 1949, đảng Cộng Sản Trung Hoa đã phát động chiến dịch Đại Cách Mạng Văn Hoá để tiêu diệt Nho giáo và thay thế bằng lý thuyết Cộng Sản. Nhưng trong hơn50 năm qua, đã chứng minh rằng chủ nghĩa Cộng sản không có khả năng thay thế Nho giáo bởi Nho Giáo đã thấm nhuần vào trong mọi lãnh vực đời sống của người dân Trung Hoa.

Ngày nay, Khổng giáo trở nên quen thuộc với thế giới tây phương. Ngoại trừ những điều được coi là có tính chất phong kiến và lỗi thời, triết lý Nho giáo – sau khi được nhuận chính do sự thay đổi của hoàn cảnh – vẫn còn đáng trân trọng và bền vững. Khổng giáo vẫn cón là kim chỉ nam cho những ai muốn đem tài sức mình phụng sự những mục tiêu cao quý cho xã hội, đem lại an bình cho nhân loại, cổ vũ lòng trung tín giữa bạn bè, và tình cảm yêu thương trân trọng của những người trẻ dành cho các bậc trưởng thượng.


Thạc Sĩ Đỗ Văn Phúc




Sách tham khảo:

Chai, Chiu and Windberg. Confucianism. New York: Barron’s Educational Series Inc., 1973

Confucius. The Wisdom of Confucius. Edited and translated by Lin Yutang. New York: The Modern Library, 1966

Mondale, Lester. The Enduring Humanism of Confucianism. The Humanist. July/August 1986. 34-3

Post Reply