Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày
MỘT CHỖ NGỒI
Huy Phương Cuối tháng sau, tôi được mời đi dự tiệc cưới của con gái một người bạn cũ, nhưng tuần này, bạn tôi đã điện thoại hỏi tôi có nhận lời đi hay không và đây mới là câu hỏi quan trọng: “Ông muốn ngồi với ai, có kỵ thằng nào không, để tôi còn sắp chỗ?”
Thật tình tôi rất thông cảm với bạn tôi về chuyện này. Tổ chức một đám cưới cho con thì chuyện bàn bạc với thông gia, mua lễ vật, tổ chức giờ giấc, mời bà con đi họ, in thiệp cưới, thuê chụp ảnh quây phim... đều là những việc nhỏ, chỉ duy có việc sắp chỗ ngồi trong tiệc cưới mới là... đau đầu, và chính tôi cũng có nhiều kinh nghiệm về vụ này sau khi dựng vợ gã chồng cho con cả chục năm về trước. Bây giờ chỉ còn đi đóng hụi... chết, chứ chẳng phải lo lắng gì nữa việc tổ chức cưới hỏi cho con cái.
Trong số quan khách, bà con, bạn bè đủ loại qua rất nhiều thời gian giao hảo, có thằng bạn nối khố quen nhau cả nửa thế kỷ trước, có người mới biết trong một cuộc hội họp gần đây, mình đâu có biết trong các nhân vật này, ông nào ghét ông nào, bà nào không chịu ngồi chung với “con mẹ” nào. Không những ghét, mà có người còn thề “không đội trời chung” với người khác nữa, người chủ nhà đâu có biết nguyên do, lai lịch những chuyện đấm đá, thù hận thương ghét giữa những “ốc đảo” này để thu xếp cho trọn vẹn, nên cố gắng hỏi thật tình người khách mời, để thà “mất lòng trước được lòng sau” là chu đáo nhất. Không phải có người chỉ kỵ ngồi chung bàn thôi mà còn kỵ cả chung tiệc nữa: “Ông mời nó, thì chừa tôi ra, ông nhá! Thấy cái bản mặt nó là tôi chịu không nổi rồi!”
Tôi xin kể một câu chuyện mà hình như đã kể với bạn rồi để minh chứng cho chuyện này. Trong một buổi ăn nhậu tất niên của một hội đoàn tại địa phương này, địa phương có tới những hai ba đại diện “cộng đồng”, lẽ cố nhiên mỗi cộng đồng phải có một ông hay bà chủ tịch. Ông Chủ Tịch Cộng Đồng B, khi bước vào cửa, đến bàn tiếp tân, câu hỏi đầu tiên ông là:-“Có ông X., chủ tịch cộng đồng A. trong này không?” Cô tiếp tân, sau khi rê ngòi bút trên danh sách quan khách, bèn lễ phép trả lời:- Thưa Ông có, ông X. ngồi chung bàn với ông, số 13.” Thế là ông Chủ tịch Cộng Đồng đến sau hầm hầm quay gót trở ra cửa, vừa đi vừa nói chủ ý cho người khác nghe: “Xin lỗi, có thằng chả là không có tôi”. Tôi nghĩ nếu ông là người đến trước thì “thằng chả kia” cũng phản ứng như thế thôi, không hơn không kém. Nhưng trường hợp người tổ chức hôm ấy bắt buộc phải mời cả hai ông Chủ tịch là đúng lễ, không lẽ mời ông này bỏ ông kia, rồi ra sinh hoạt như thế nào và ăn nói sao đây?
Nhiều ông chủ báo đã viết những bài tràng giang đại hải để chửi bà chủ đài suốt mấy tháng, dùng những danh từ rất thậm tệ, bà cũng đáp lại gọi ông bằng những câu nói ra cũng ngượng miệng. Tôi làm đám cưới cho con, lại đi đôi với cả hai ông bà này khá thân, tôi biết xử trí làm sao đây, xin nhờ chư liệt vị cao kiến chỉ dẫn giùm. Quý vị cũng nhớ thêm có khi tôi mời ông, ông không mấy hứng thú, nhưng không mời thì lại bị xỉ vả thậm tệ, như coi thường hay khinh ông ấy không xứng đáng để “quang lâm” dự tiệc cưới của cháu.
Người ta thường nói đàn ông rộng lượng, dễ tha thứ cái gì cũng bỏ qua, còn lòng dạ đàn bà thì hẹp hòi, cho nên người mời khách dự tiệc lại còn phải coi có thể xếp bà này vào ngồi chung với bà kia không? Tục ngữ Tây Phương đã nói: “đàn ông nhìn vẻ đẹp của cô dâu, còn đàn bà nhìn áo quần cô dâu”. Ra đường cánh đàn ông chúng ta đừng có nghĩ mình là người đã nhìn chầm chập vào cô kia, mà chính các bà mới là người quan sát kỹ, vậy thì trong tiệc cưới quý bà nhìn cái gì của bà bên kia nào? Phấn son, dấu vết của thẩm mỹ viện hay là thời trang: Saint John, Chanel hay Wal Mart, Ross?
Các bạn đã bao giờ mời khách Mỹ đi dự đám cưới của gia đình mình chưa. Sao người ta ăn mặc xoàng xỉnh đến thế, giá trong bàn có một cô vậy thì nó giảm hẳn giá trị của các mệnh phụ trong cái bàn này. Tôi cũng xin khuyên ông bạn bố cô dâu của tôi, anh có xếp bàn thì xếp cánh đồng nghiệp vào với nhau, cánh di dân sau theo sau, trước đi với trước ngồi với nhau, dù có không ưa nhau thì cũng chẳng sao, chứ anh đừng có chỉ nghĩ đến bạn nào cũng là bạn, mà dại dột xếp anh bạn cũ cắt chỉ trong shop may, ngồi cạnh một ông bác sĩ đương thời đang hái ra tiền nhé. Thật ra cũng không có gì lôi thôi đâu, nhưng họ có chuyện gì để nói với nhau, vả lại cả hai người đều ăn chẳng thấy ngon hôm ấy, không phải vì họ sợ món tôm hùm vốn nhiều cholesterol, mà hẳn là có nhiều điều bất như ý khác.
Hôm nay tôi đọc đi đọc lại chuyện của ông Bá Dương, nên chắc cũng ảnh hưởng cái cay đắng của nhà văn này khi viết về dân tộc của ông (*). Tuy vậy, thật tình, tôi muôn vàn thông cảm cái câu hỏi hồn nhiên của bạn tôi, vì bạn tôi cũng thấy cái khó khăn khi phải xếp bàn, nó mất thời gian và mệt óc nhất trong các công việc sửa soạn ngày đám cưới cho con, xoá đi, sửa lại cả chục lần mà vẫn chưa ổn. Có người hứa đến rồi lại không đi, có người đã bảo bận, cuối cùng nể tình mà tới. Rồi mưa gió, kẹt xe, hai nhà thông gia chạy ra chạy vào, nghĩ đến chuyện dồn bàn thì bất nhã quá, mà không thì cũng tội nghiệp cho đôi trẻ.
Nhưng rồi mọi việc cũng xong, cái đau đầu nhất đã qua. Anh chị còn đứa nào nữa không, vài ba năm nhức đầu một lần cũng không sao. Thông cảm với nỗi lòng của bạn, tôi đành trả lời: “Ngồi đâu cũng được, tôi không chấp”. Gặp người hàng xóm không ưa, không lẽ bán nhà mà dọn đi chỗ khác, nhà cửa lúc này rất khó bán, kén người mua. Ngoài nghĩa địa thì khi mua huyệt xong mới biết mình sẽ nằm cạnh ai và ai là người sẽ được chôn cạnh mình, chọn đất hay cải táng đều là những việc quá phức tạp. Một chỗ ngồi trong tiệc cưới kéo dài cho lắm cũng chỉ mất ba tiếng đồng hồ. Vả lại ở đất tha phương này, chỉ có chỗ đám ma, đám cưới, bạn bè, họ hàng, cố tri, mới dễ có cơ hội gặp nhau. Bỗng dưng, gặp lại một thằng bạn cũ, năm mươi năm rồi biệt tích giang hồ, “tha hương ngộ cố tri”, kêu lên một tiếng “mày tao”, không sướng sao?
Huy Phương
Huy Phương Cuối tháng sau, tôi được mời đi dự tiệc cưới của con gái một người bạn cũ, nhưng tuần này, bạn tôi đã điện thoại hỏi tôi có nhận lời đi hay không và đây mới là câu hỏi quan trọng: “Ông muốn ngồi với ai, có kỵ thằng nào không, để tôi còn sắp chỗ?”
Thật tình tôi rất thông cảm với bạn tôi về chuyện này. Tổ chức một đám cưới cho con thì chuyện bàn bạc với thông gia, mua lễ vật, tổ chức giờ giấc, mời bà con đi họ, in thiệp cưới, thuê chụp ảnh quây phim... đều là những việc nhỏ, chỉ duy có việc sắp chỗ ngồi trong tiệc cưới mới là... đau đầu, và chính tôi cũng có nhiều kinh nghiệm về vụ này sau khi dựng vợ gã chồng cho con cả chục năm về trước. Bây giờ chỉ còn đi đóng hụi... chết, chứ chẳng phải lo lắng gì nữa việc tổ chức cưới hỏi cho con cái.
Trong số quan khách, bà con, bạn bè đủ loại qua rất nhiều thời gian giao hảo, có thằng bạn nối khố quen nhau cả nửa thế kỷ trước, có người mới biết trong một cuộc hội họp gần đây, mình đâu có biết trong các nhân vật này, ông nào ghét ông nào, bà nào không chịu ngồi chung với “con mẹ” nào. Không những ghét, mà có người còn thề “không đội trời chung” với người khác nữa, người chủ nhà đâu có biết nguyên do, lai lịch những chuyện đấm đá, thù hận thương ghét giữa những “ốc đảo” này để thu xếp cho trọn vẹn, nên cố gắng hỏi thật tình người khách mời, để thà “mất lòng trước được lòng sau” là chu đáo nhất. Không phải có người chỉ kỵ ngồi chung bàn thôi mà còn kỵ cả chung tiệc nữa: “Ông mời nó, thì chừa tôi ra, ông nhá! Thấy cái bản mặt nó là tôi chịu không nổi rồi!”
Tôi xin kể một câu chuyện mà hình như đã kể với bạn rồi để minh chứng cho chuyện này. Trong một buổi ăn nhậu tất niên của một hội đoàn tại địa phương này, địa phương có tới những hai ba đại diện “cộng đồng”, lẽ cố nhiên mỗi cộng đồng phải có một ông hay bà chủ tịch. Ông Chủ Tịch Cộng Đồng B, khi bước vào cửa, đến bàn tiếp tân, câu hỏi đầu tiên ông là:-“Có ông X., chủ tịch cộng đồng A. trong này không?” Cô tiếp tân, sau khi rê ngòi bút trên danh sách quan khách, bèn lễ phép trả lời:- Thưa Ông có, ông X. ngồi chung bàn với ông, số 13.” Thế là ông Chủ tịch Cộng Đồng đến sau hầm hầm quay gót trở ra cửa, vừa đi vừa nói chủ ý cho người khác nghe: “Xin lỗi, có thằng chả là không có tôi”. Tôi nghĩ nếu ông là người đến trước thì “thằng chả kia” cũng phản ứng như thế thôi, không hơn không kém. Nhưng trường hợp người tổ chức hôm ấy bắt buộc phải mời cả hai ông Chủ tịch là đúng lễ, không lẽ mời ông này bỏ ông kia, rồi ra sinh hoạt như thế nào và ăn nói sao đây?
Nhiều ông chủ báo đã viết những bài tràng giang đại hải để chửi bà chủ đài suốt mấy tháng, dùng những danh từ rất thậm tệ, bà cũng đáp lại gọi ông bằng những câu nói ra cũng ngượng miệng. Tôi làm đám cưới cho con, lại đi đôi với cả hai ông bà này khá thân, tôi biết xử trí làm sao đây, xin nhờ chư liệt vị cao kiến chỉ dẫn giùm. Quý vị cũng nhớ thêm có khi tôi mời ông, ông không mấy hứng thú, nhưng không mời thì lại bị xỉ vả thậm tệ, như coi thường hay khinh ông ấy không xứng đáng để “quang lâm” dự tiệc cưới của cháu.
Người ta thường nói đàn ông rộng lượng, dễ tha thứ cái gì cũng bỏ qua, còn lòng dạ đàn bà thì hẹp hòi, cho nên người mời khách dự tiệc lại còn phải coi có thể xếp bà này vào ngồi chung với bà kia không? Tục ngữ Tây Phương đã nói: “đàn ông nhìn vẻ đẹp của cô dâu, còn đàn bà nhìn áo quần cô dâu”. Ra đường cánh đàn ông chúng ta đừng có nghĩ mình là người đã nhìn chầm chập vào cô kia, mà chính các bà mới là người quan sát kỹ, vậy thì trong tiệc cưới quý bà nhìn cái gì của bà bên kia nào? Phấn son, dấu vết của thẩm mỹ viện hay là thời trang: Saint John, Chanel hay Wal Mart, Ross?
Các bạn đã bao giờ mời khách Mỹ đi dự đám cưới của gia đình mình chưa. Sao người ta ăn mặc xoàng xỉnh đến thế, giá trong bàn có một cô vậy thì nó giảm hẳn giá trị của các mệnh phụ trong cái bàn này. Tôi cũng xin khuyên ông bạn bố cô dâu của tôi, anh có xếp bàn thì xếp cánh đồng nghiệp vào với nhau, cánh di dân sau theo sau, trước đi với trước ngồi với nhau, dù có không ưa nhau thì cũng chẳng sao, chứ anh đừng có chỉ nghĩ đến bạn nào cũng là bạn, mà dại dột xếp anh bạn cũ cắt chỉ trong shop may, ngồi cạnh một ông bác sĩ đương thời đang hái ra tiền nhé. Thật ra cũng không có gì lôi thôi đâu, nhưng họ có chuyện gì để nói với nhau, vả lại cả hai người đều ăn chẳng thấy ngon hôm ấy, không phải vì họ sợ món tôm hùm vốn nhiều cholesterol, mà hẳn là có nhiều điều bất như ý khác.
Hôm nay tôi đọc đi đọc lại chuyện của ông Bá Dương, nên chắc cũng ảnh hưởng cái cay đắng của nhà văn này khi viết về dân tộc của ông (*). Tuy vậy, thật tình, tôi muôn vàn thông cảm cái câu hỏi hồn nhiên của bạn tôi, vì bạn tôi cũng thấy cái khó khăn khi phải xếp bàn, nó mất thời gian và mệt óc nhất trong các công việc sửa soạn ngày đám cưới cho con, xoá đi, sửa lại cả chục lần mà vẫn chưa ổn. Có người hứa đến rồi lại không đi, có người đã bảo bận, cuối cùng nể tình mà tới. Rồi mưa gió, kẹt xe, hai nhà thông gia chạy ra chạy vào, nghĩ đến chuyện dồn bàn thì bất nhã quá, mà không thì cũng tội nghiệp cho đôi trẻ.
Nhưng rồi mọi việc cũng xong, cái đau đầu nhất đã qua. Anh chị còn đứa nào nữa không, vài ba năm nhức đầu một lần cũng không sao. Thông cảm với nỗi lòng của bạn, tôi đành trả lời: “Ngồi đâu cũng được, tôi không chấp”. Gặp người hàng xóm không ưa, không lẽ bán nhà mà dọn đi chỗ khác, nhà cửa lúc này rất khó bán, kén người mua. Ngoài nghĩa địa thì khi mua huyệt xong mới biết mình sẽ nằm cạnh ai và ai là người sẽ được chôn cạnh mình, chọn đất hay cải táng đều là những việc quá phức tạp. Một chỗ ngồi trong tiệc cưới kéo dài cho lắm cũng chỉ mất ba tiếng đồng hồ. Vả lại ở đất tha phương này, chỉ có chỗ đám ma, đám cưới, bạn bè, họ hàng, cố tri, mới dễ có cơ hội gặp nhau. Bỗng dưng, gặp lại một thằng bạn cũ, năm mươi năm rồi biệt tích giang hồ, “tha hương ngộ cố tri”, kêu lên một tiếng “mày tao”, không sướng sao?
Huy Phương
TRÊN MẶT BẰNG CỦA CÕI CHẾT
HUY PHƯƠNG “Khôn dại cùng chung ba tấc đất
Giàu sang chưa chín một nồi kê”.
(Vua Tự Đức)
Từ bảy năm nay, nhiều lần liên lạc sang Mỹ, ông anh rể tôi luôn luôn nhắc nhở chúng tôi gởi tiền về để xây lại mộ bố mẹ và ông bà tôi cho khang trang, đẹp đẽ hơn. Ông cho biết hiện nay trong làng, những người có thân nhân ở hải ngoại đang có phong trào đua nhau xây lại mồ mả, lăng tẩm cho to lớn, để khỏi xấu hổ với bà con là mình có con cái là “việt kiều” mà không được nở mày nở mặt với người ta. Ông nhắc tôi năm lần bảy lượt, nhưng lần nào tôi cũng giả lả nói sang chuyện khác. Không phải tôi tiếc tiền xây lăng cho cha mẹ tôi cho bằng làng bằng nước, nhưng quả thật trong làng còn nghèo, nhiều người già lưng còng rồi mà phải bắt ốc, hái rau, mót lúa mới có cái bỏ vào miệng mỗi ngày, mà bản thân tôi cũng chưa giúp đỡ được gì. Bây giờ xây mồ đắp mả cha mẹ mình cho cao lớn lên để làm gì, chẳng qua chỉ gieo thêm tủi nhục cho những người bà con chung quanh.
Thế rồi năm ngoái, hai ông anh bà chị tôi được đi du lịch một chuyến sang thăm con ở Mỹ. Tôi nghĩ với số tiền chi phí rong chơi này, người ta xây ba cái lăng thứ bự cũng còn dư, nếu có lòng và muốn làm, đâu có cần kêu gọi đến ai. Tôi mời anh chị tôi ghé tiểu bang tôi, ở lại chơi vài ngày, thăm em cho biết sự tình. Nếu vì phương tiện hẹp hòi mà không mời khách đến nhà, có khi người ta lại tưởng mình giàu có mà keo kiệt. Chương trình thăm viếng này hầu hết là những chuyến đi đây đó cho khách du lịch biết thêm về nước Mỹ, tôi “khoe” cho khách biết từ cái nhà mấy triệu ở Newport Beach cho đến những khu xập xệ Santa Ana, nơi không thiếu những căn chung cư hai phòng của một gia đình người Mễ có đến 12 người chen chúc sống với nhau.
Một buổi trưa trời khá nóng nực, sau khi đi loanh quanh, tôi đưa hai ông bà vào thăm một nghiã trang đầy bóng mát trong thành phố. Ở đây thật tĩnh mịch vắng tiếng động cơ của xe cộ qua lại, lại có tiếng chim hót đâu đó, khiến tâm hồn mình trở nên thanh thản. Những hàng bia mộ đồng loạt, cùng một kích thước trải dài trên những thảm cỏ xanh mướt và chắc chắn dưới những nấm mộ kia, những nắm xương cũng nằm trong những chiếc hố vuông vắn giống nhau mà những người phu đào huyệt đã làm sẵn. Vì tò mò, cũng là lần đầu đi thăm một nghĩa địa của người Mỹ, ông bà theo tôi đi thơ thẩn một vòng qua các ngôi mộ. Tôi giới thiệu cho ông bà đây là ngôi mộ của một tỷ phú trong thành phố mới chết cách đây vài năm, đây là nấm mộ của quả phụ một vị Đại tá Mỹ, và gần nhất là nơi yên nghỉ của một thi sĩ rất nghèo mới định cư tại Hoa Kỳ sau năm 1975. Tất cả nghĩa trang là một mặt phẳng và tên tuổi được ghi trên một mảnh đá đen nhỏ nằm trên mộ giữa đám cỏ xanh. Anh chị tôi có vẻ ngạc nhiên nghe tôi nói chuyện vì không ngờ rằng nghĩa địa ở Mỹ khác hẳn ở Việt Nam, không có cái cao, cái thấp, không có cái lớn cái nhỏ, người giàu có hay kẻ nghèo hèn đều theo một quy luật bình đẳng, ai cũng như ai.
Ra xe, tôi thấy mặt ông anh có vẻ đăm chiêu như đang suy nghĩ một điều gì và từ ngày ông trở lại Việt Nam đến nay gần cả năm, tôi không nghe ông nói gì về việc xây mộ, làm lăng cho bố mẹ tôi nữa.
Tôi biết hiện nay có nhiều gia đình ở hải ngoại đang gởi tiền về xây lăng cho bố mẹ, kể cả ông bà để báo hiếu. Trong chữ Hán, hiếu là kính yêu cha mẹ, nhưng hiếu cũng có nghĩa là có tang cha mẹ, nên người xưa gọi việc tang lễ là việc hiếu. Hiếu sự là việc chôn cất ma chay cho người chết. Hội hiếu là một tổ chức lo việc chung sự. Lo mồ mả cho cha mẹ cũng là báo hiếu. Ở Huế trong vùng biển Thuận An có một ngôi làng tên An Bằng (dân ở đây đọc trại là An Bường), có một cái nghĩa địa, đắt giá nhất thế giới. Cũng như tất cả dân chúng ở các vùng biển, sau tháng 4 năm 1975, dân Thuận An cũng nhiều cơ hội vượt biển đi tìm cuộc sống mới hơn những người ở xa biển. Thôn An Bằng có 800 gia đình nhưng trong đó đã có 75% gia đình có người vượt biển, sang Mỹ sang Tây. Xung quanh ngôi làng này chỉ là những đụn cát, xưa dân An Bằng những năm mất mùa cá có khi phải ăn cháo xương rồng, lấy cây xương rồng phơi khô làm củi đốt và kéo nhau lên thành phố Huế ăn xin.
Khi có tiền người ta nghĩ đến việc báo hiếu, cha mẹ còn sống thì quà cáp tiền nong, cha mẹ đã qua đời thì lo xây đắp một phần cho khang trang để tỏ lòng hiếu nghĩa. Lúc đầu người ta chỉ xây lăng, đắp mộ vừa phải, nhưng sau đó thấy mộ phần của hàng xóm đẹp hơn, sang trọng hơn hơn hẳn gia đình mình, lại muốn chạy đua cho bằng hoặc hơn người khác. Có khi lăng mộ đã xây xong lại đập phá đi để làm lại đẹp đẽ hơn nhà bên cạnh, cứ tuần tự như thế, nghĩa địa An Bường thành một thành phố của người chết tốn kém nhất. Một ngôi mộ lớn nhất ở đây phải tốn khoảng 100,000 đô la. Theo học giả Lê Văn Lân tả một ngôi mộ gia đình theo Phật Giáo ở đầu làng An Bằng thì “Một ngôi mộ theo Phật giáo xây năm 1999 với những hình chữ Vạn, hình bánh xe Pháp luân đúc trên cổng tam quan, cột chạy rồng cẩn sứ xanh với những họa tiết tứ quí: mai lan cúc trúc. Muốn lên cổng tam quan này, du khách phải bước lên năm bậc cấp, hai bên trang trí cặp kỳ lân, ở chính giữa là một đỉnh trầm màu vàng hòe lớn cao nừa tầm người; đỉnh đứng trong một vòng cung chạy hình đúc mây khói. Sau cổng tam quan, là nhà bia hay bi đình có một tầng mái hình lục giác với góc cong lên, lợp ngói hoàng ly. Đặc biệt trên từng mái bi đình là một cái tháp tròn có tượng Phật ngồi có hai từng mái trông xa giống cái bảo bình đựng cốt Phật, riềm mái chạy hoa sen. Trên chót đỉnh bi đình cũng như trên chót bốn trụ cổng tam quan là hình năm quả bầu, tượng trưng cho bầu Thái cực. Sau bi đình là những ngôi tẩm chứa những thạch quách tô điểm với họa tiết chữ Vạn và hoa sen. Cuối lăng là một cổng sau với ba tầng mái với lưỡng long triều nguyệt.”
Về phải Thiên Chúa Giáo, tuy khác hình ảnh và dáng dấp nhưng mức độ đồ sộ cũng không chịu thua sút. Chỉ một cái cổng tam quan của đi vào ngôi mộ này thôi trị giá cũng lên đến 30,000 đô la.
Không phải chỉ có cao lớn, mà khu nghĩa địa này còn là nơi thi thố tài năng của nhiều nghệ nhân còn sót lại của triều Nguyễn để có những các cột chạm rồng, những bậc tam cấp lưỡng long, những tấm bình phong chạm trổ tứ quý. Các nghệ nhân xây lăng ở đây không những biết xây nề, lên hình dáng của kiến trúc, mà còn biết đúc, chạm, cẩn các loại sành sứ, tô màu, vẽ hình hoa lá, mây nước. Các loại sứ để trang trí vẫy rồng, lông phượng phải mua từ Bát Tràng ngoài đất Bắc đem về. Đây là lăng tẩm của những bậc vương giả chứ không phải của kẻ bần dân, với tâm lý là xưa khốn khó, giờ chết rồi cũng làm cho tổ tiên mát mặt.
Công trình kiến trúc đầy phô trương này chắc chắn tốn kém hơn hẳn những ngôi nhà gạch ở làng này và trong vùng biển Thuận An, nơi mà những người buôn thúng bán bưng vẫn hằng ngày lang thang trên bãi biển, bán những chiếc bánh bột lọc bằng đầu ngón tay hay cho thuê những manh chiếu dơ bẩn, rách nát cho du khách để mót nhặt từng đồng bạc cho những bữa cơm đạm bạc qua ngày.
Những vị Vua Chúa ngày xưa khi mới vừa lên ngôi đã chọn chỗ để lo hậu sự cho mình, tiến hành công việc xây lăng tẩm để làm nơi an nghỉ cuối cùng, có khi lăng tẩm dành cho lúc chết còn nguy nga hơn cung điện khi còn sống. Vua Tự Đức cũng vì lo chỗ nằm thiên thu của mình quá tráng lệ với đào hào sâu, xây hồ rộng, đắp núi cao đã đày ải phu phen vào những công việc nặng nhọc xây dựng lăng Khiêm Lăng khiến nhân dân ta oán, mới xẩy ra loạn giặc Chày Vôi:
“Vạn Niên là Vạn Niên nào,
Thành phơi xương lính, ao đào máu dân”.
Hoàng Đế Bảo Đại theo Tây học, có lẽ không nghĩ nhiều về nơi an nghỉ cuối cùng, không xây lăng tẩm, mà có lẽ ông cũng không bao giờ nghĩ rằng vào cuối đời ông sẽ được mai táng trong nghĩa địa Passy của nước Pháp xa xôi, trong nơi bình thường. Ba anh em nhà họ Đinh, khét tiếng là hung thần một thời ở Bắc Bộ Phủ với những cái tên Đinh Đức Thiện, Lê Đức Thọ, Mai Chí Thọ, chung thân cũng một “sè sè nắm đất bên đường”.
Người xưa thường nhắc nhở đến chuyện vô thường của đời người “giàu có đến vạn muôn tối ngủ cũng chỗ nằm hai thước, vương hầu khanh tướng chết cũng chôn ba tấc đất!”
Huy Phương
HUY PHƯƠNG “Khôn dại cùng chung ba tấc đất
Giàu sang chưa chín một nồi kê”.
(Vua Tự Đức)
Từ bảy năm nay, nhiều lần liên lạc sang Mỹ, ông anh rể tôi luôn luôn nhắc nhở chúng tôi gởi tiền về để xây lại mộ bố mẹ và ông bà tôi cho khang trang, đẹp đẽ hơn. Ông cho biết hiện nay trong làng, những người có thân nhân ở hải ngoại đang có phong trào đua nhau xây lại mồ mả, lăng tẩm cho to lớn, để khỏi xấu hổ với bà con là mình có con cái là “việt kiều” mà không được nở mày nở mặt với người ta. Ông nhắc tôi năm lần bảy lượt, nhưng lần nào tôi cũng giả lả nói sang chuyện khác. Không phải tôi tiếc tiền xây lăng cho cha mẹ tôi cho bằng làng bằng nước, nhưng quả thật trong làng còn nghèo, nhiều người già lưng còng rồi mà phải bắt ốc, hái rau, mót lúa mới có cái bỏ vào miệng mỗi ngày, mà bản thân tôi cũng chưa giúp đỡ được gì. Bây giờ xây mồ đắp mả cha mẹ mình cho cao lớn lên để làm gì, chẳng qua chỉ gieo thêm tủi nhục cho những người bà con chung quanh.
Thế rồi năm ngoái, hai ông anh bà chị tôi được đi du lịch một chuyến sang thăm con ở Mỹ. Tôi nghĩ với số tiền chi phí rong chơi này, người ta xây ba cái lăng thứ bự cũng còn dư, nếu có lòng và muốn làm, đâu có cần kêu gọi đến ai. Tôi mời anh chị tôi ghé tiểu bang tôi, ở lại chơi vài ngày, thăm em cho biết sự tình. Nếu vì phương tiện hẹp hòi mà không mời khách đến nhà, có khi người ta lại tưởng mình giàu có mà keo kiệt. Chương trình thăm viếng này hầu hết là những chuyến đi đây đó cho khách du lịch biết thêm về nước Mỹ, tôi “khoe” cho khách biết từ cái nhà mấy triệu ở Newport Beach cho đến những khu xập xệ Santa Ana, nơi không thiếu những căn chung cư hai phòng của một gia đình người Mễ có đến 12 người chen chúc sống với nhau.
Một buổi trưa trời khá nóng nực, sau khi đi loanh quanh, tôi đưa hai ông bà vào thăm một nghiã trang đầy bóng mát trong thành phố. Ở đây thật tĩnh mịch vắng tiếng động cơ của xe cộ qua lại, lại có tiếng chim hót đâu đó, khiến tâm hồn mình trở nên thanh thản. Những hàng bia mộ đồng loạt, cùng một kích thước trải dài trên những thảm cỏ xanh mướt và chắc chắn dưới những nấm mộ kia, những nắm xương cũng nằm trong những chiếc hố vuông vắn giống nhau mà những người phu đào huyệt đã làm sẵn. Vì tò mò, cũng là lần đầu đi thăm một nghĩa địa của người Mỹ, ông bà theo tôi đi thơ thẩn một vòng qua các ngôi mộ. Tôi giới thiệu cho ông bà đây là ngôi mộ của một tỷ phú trong thành phố mới chết cách đây vài năm, đây là nấm mộ của quả phụ một vị Đại tá Mỹ, và gần nhất là nơi yên nghỉ của một thi sĩ rất nghèo mới định cư tại Hoa Kỳ sau năm 1975. Tất cả nghĩa trang là một mặt phẳng và tên tuổi được ghi trên một mảnh đá đen nhỏ nằm trên mộ giữa đám cỏ xanh. Anh chị tôi có vẻ ngạc nhiên nghe tôi nói chuyện vì không ngờ rằng nghĩa địa ở Mỹ khác hẳn ở Việt Nam, không có cái cao, cái thấp, không có cái lớn cái nhỏ, người giàu có hay kẻ nghèo hèn đều theo một quy luật bình đẳng, ai cũng như ai.
Ra xe, tôi thấy mặt ông anh có vẻ đăm chiêu như đang suy nghĩ một điều gì và từ ngày ông trở lại Việt Nam đến nay gần cả năm, tôi không nghe ông nói gì về việc xây mộ, làm lăng cho bố mẹ tôi nữa.
Tôi biết hiện nay có nhiều gia đình ở hải ngoại đang gởi tiền về xây lăng cho bố mẹ, kể cả ông bà để báo hiếu. Trong chữ Hán, hiếu là kính yêu cha mẹ, nhưng hiếu cũng có nghĩa là có tang cha mẹ, nên người xưa gọi việc tang lễ là việc hiếu. Hiếu sự là việc chôn cất ma chay cho người chết. Hội hiếu là một tổ chức lo việc chung sự. Lo mồ mả cho cha mẹ cũng là báo hiếu. Ở Huế trong vùng biển Thuận An có một ngôi làng tên An Bằng (dân ở đây đọc trại là An Bường), có một cái nghĩa địa, đắt giá nhất thế giới. Cũng như tất cả dân chúng ở các vùng biển, sau tháng 4 năm 1975, dân Thuận An cũng nhiều cơ hội vượt biển đi tìm cuộc sống mới hơn những người ở xa biển. Thôn An Bằng có 800 gia đình nhưng trong đó đã có 75% gia đình có người vượt biển, sang Mỹ sang Tây. Xung quanh ngôi làng này chỉ là những đụn cát, xưa dân An Bằng những năm mất mùa cá có khi phải ăn cháo xương rồng, lấy cây xương rồng phơi khô làm củi đốt và kéo nhau lên thành phố Huế ăn xin.
Khi có tiền người ta nghĩ đến việc báo hiếu, cha mẹ còn sống thì quà cáp tiền nong, cha mẹ đã qua đời thì lo xây đắp một phần cho khang trang để tỏ lòng hiếu nghĩa. Lúc đầu người ta chỉ xây lăng, đắp mộ vừa phải, nhưng sau đó thấy mộ phần của hàng xóm đẹp hơn, sang trọng hơn hơn hẳn gia đình mình, lại muốn chạy đua cho bằng hoặc hơn người khác. Có khi lăng mộ đã xây xong lại đập phá đi để làm lại đẹp đẽ hơn nhà bên cạnh, cứ tuần tự như thế, nghĩa địa An Bường thành một thành phố của người chết tốn kém nhất. Một ngôi mộ lớn nhất ở đây phải tốn khoảng 100,000 đô la. Theo học giả Lê Văn Lân tả một ngôi mộ gia đình theo Phật Giáo ở đầu làng An Bằng thì “Một ngôi mộ theo Phật giáo xây năm 1999 với những hình chữ Vạn, hình bánh xe Pháp luân đúc trên cổng tam quan, cột chạy rồng cẩn sứ xanh với những họa tiết tứ quí: mai lan cúc trúc. Muốn lên cổng tam quan này, du khách phải bước lên năm bậc cấp, hai bên trang trí cặp kỳ lân, ở chính giữa là một đỉnh trầm màu vàng hòe lớn cao nừa tầm người; đỉnh đứng trong một vòng cung chạy hình đúc mây khói. Sau cổng tam quan, là nhà bia hay bi đình có một tầng mái hình lục giác với góc cong lên, lợp ngói hoàng ly. Đặc biệt trên từng mái bi đình là một cái tháp tròn có tượng Phật ngồi có hai từng mái trông xa giống cái bảo bình đựng cốt Phật, riềm mái chạy hoa sen. Trên chót đỉnh bi đình cũng như trên chót bốn trụ cổng tam quan là hình năm quả bầu, tượng trưng cho bầu Thái cực. Sau bi đình là những ngôi tẩm chứa những thạch quách tô điểm với họa tiết chữ Vạn và hoa sen. Cuối lăng là một cổng sau với ba tầng mái với lưỡng long triều nguyệt.”
Về phải Thiên Chúa Giáo, tuy khác hình ảnh và dáng dấp nhưng mức độ đồ sộ cũng không chịu thua sút. Chỉ một cái cổng tam quan của đi vào ngôi mộ này thôi trị giá cũng lên đến 30,000 đô la.
Không phải chỉ có cao lớn, mà khu nghĩa địa này còn là nơi thi thố tài năng của nhiều nghệ nhân còn sót lại của triều Nguyễn để có những các cột chạm rồng, những bậc tam cấp lưỡng long, những tấm bình phong chạm trổ tứ quý. Các nghệ nhân xây lăng ở đây không những biết xây nề, lên hình dáng của kiến trúc, mà còn biết đúc, chạm, cẩn các loại sành sứ, tô màu, vẽ hình hoa lá, mây nước. Các loại sứ để trang trí vẫy rồng, lông phượng phải mua từ Bát Tràng ngoài đất Bắc đem về. Đây là lăng tẩm của những bậc vương giả chứ không phải của kẻ bần dân, với tâm lý là xưa khốn khó, giờ chết rồi cũng làm cho tổ tiên mát mặt.
Công trình kiến trúc đầy phô trương này chắc chắn tốn kém hơn hẳn những ngôi nhà gạch ở làng này và trong vùng biển Thuận An, nơi mà những người buôn thúng bán bưng vẫn hằng ngày lang thang trên bãi biển, bán những chiếc bánh bột lọc bằng đầu ngón tay hay cho thuê những manh chiếu dơ bẩn, rách nát cho du khách để mót nhặt từng đồng bạc cho những bữa cơm đạm bạc qua ngày.
Những vị Vua Chúa ngày xưa khi mới vừa lên ngôi đã chọn chỗ để lo hậu sự cho mình, tiến hành công việc xây lăng tẩm để làm nơi an nghỉ cuối cùng, có khi lăng tẩm dành cho lúc chết còn nguy nga hơn cung điện khi còn sống. Vua Tự Đức cũng vì lo chỗ nằm thiên thu của mình quá tráng lệ với đào hào sâu, xây hồ rộng, đắp núi cao đã đày ải phu phen vào những công việc nặng nhọc xây dựng lăng Khiêm Lăng khiến nhân dân ta oán, mới xẩy ra loạn giặc Chày Vôi:
“Vạn Niên là Vạn Niên nào,
Thành phơi xương lính, ao đào máu dân”.
Hoàng Đế Bảo Đại theo Tây học, có lẽ không nghĩ nhiều về nơi an nghỉ cuối cùng, không xây lăng tẩm, mà có lẽ ông cũng không bao giờ nghĩ rằng vào cuối đời ông sẽ được mai táng trong nghĩa địa Passy của nước Pháp xa xôi, trong nơi bình thường. Ba anh em nhà họ Đinh, khét tiếng là hung thần một thời ở Bắc Bộ Phủ với những cái tên Đinh Đức Thiện, Lê Đức Thọ, Mai Chí Thọ, chung thân cũng một “sè sè nắm đất bên đường”.
Người xưa thường nhắc nhở đến chuyện vô thường của đời người “giàu có đến vạn muôn tối ngủ cũng chỗ nằm hai thước, vương hầu khanh tướng chết cũng chôn ba tấc đất!”
Huy Phương
NHỮNG NGÀY CUỐI TUẦN Ở MỸ
HUY PHƯƠNG Những ngày cuối tuần ở Mỹ người ta làm gì? - Mỹ trắng đi chơi, Mỹ đen đi nhà thờ, Mễ sửa xe hơi và Việt Nam đi làm “overtime”. Câu trả lời này không biết đúng được bao nhiêu phần trăm, nhưng ít ra cũng nói đến đức tính cần cù của người Việt, ít nhất là trong giai đoạn mới nhập cư để sau đó, có nhà đẹp, xe mới. Ngày mới sang Mỹ, những công việc lao động chân tay của tôi cũng không có ngày cuối tuần, vì công ty cho người thay phiên nhau làm nhưng máy không nghỉ, do đó những thứ “chân ướt chân ráo” như tôi thường thì hai ngày thứ bảy chủ nhật phải đi làm và ngày “cuối tuần” sẽ là hai ngày nào đó trong tuần. Ngày người ta có thể ngủ dậy trễ, hội họp, bạn bè, quan hôn tang tế thì mình phải dậy sớm đi làm, ngày mình nghỉ thì nhìn quanh, nhà cửa, bạn bè vắng teo, đó là những lúc cảm thấy nỗi lòng cô đơn vì thân thế công dân hạng hai của mình.
Nhưng rồi ra, sống ở Mỹ lâu ngày, tôi thấy thời đó không phải riêng tôi không có những ngày cuối tuần, mà tất cả những người làm thương mãi trên xứ này, nhất là ở chỗ người Việt, chăm chỉ cần cù thì ngày thứ bảy, chủ nhật là ngày đông người mua bán nhất. Từ đó các ông bà chủ của các nhà hàng ăn, tiệm vải, chỗ gởi tiền... may lắm mới có được một ngày nghỉ trong tuần, có khi làm hết bảy ngày, mỗi năm 365 ngày không một ngày nghỉ. Có người, từ ngày sang Mỹ đến nay không biết cái ngày cuối tuần nó ở đâu? Chẳng thế mà nước Mỹ giàu có cũng phải. Ở ngay Paris, thấy ông bác sĩ hai giờ chiều mới mở cửa phòng mạch; siêu thị ở Đức, chiều thứ sáu, ba giờ chiều đã đóng cửa để nghỉ cuối tuần. Thứ bảy chủ nhật, thành phố vắng tanh, để cho công dân thành phố ngủ hay đi ra biển. Vậy thì đừng có than nghèo?
Nhiều người ở Mỹ than là ngày cuối tuần còn mệt hơn cả ngày thường. Ngày thường chỉ lo dậy sớm đi làm đúng giờ, tối về ngủ để sáng mai lại dậy sớm, còn bao nhiêu việc xin hẹn lại cuối tuần. Việc nhà thì dọn lại cái chỗ để xe, chùi lại cái bếp, vứt bớt thức ăn trong tủ lạnh, bỏ đồ giặt, chăm lo lại mấy cái cây ngoài vườn, cắt cỏ. Việc con thì còn đưa con đi đá banh, học đàn, học bơi hay học tiếng Việt. Việc bạn bè thì đi thăm viếng, gọi cho một người bạn ở xa (long distance xin chờ thứ bảy chủ nhật), viết cái thư, dự cái tiệc cưới, viếng một người bạn mới qua đời trong tang quán. Việc nước thì còn hội họp, biểu tình. Người phong lưu thích vui canh mạt- chược, chàng đàn đúm còn bữa nhậu ngất trời. Nói tóm lại là bao nhiêu thứ đổ vào đầu hai ngày cuối tuần. Sau hai ngày cuối tuần là mệt ngất ngư, ngày thứ hai trở lại công việc, lòng ai mà thấy hứng khởi, vui thú, đối với những người mang tâm trạng này thì đúng là “black Monday”.
Từ ngày sang Mỹ tôi mới thấy bao nhiêu thứ văn hoá “tang hôn tế lễ” của người Á Đông chúng ta đều phải dồn lại vào cuối tuần. Bây giờ chẳng còn ngày tốt ngày xấu, cứ đám cưới là phải tổ chức vào ngày thứ bảy, hay tệ lắm cũng chủ nhật. Còn như định vào ngày thứ bảy chủ nhật nào, thì lại còn phải do ông chủ nhà hàng “seafood” dở cái sổ hẹn như sổ hẹn ở phòng mạch ông bác sĩ ra, để kiếm cho gia đình bạn một ngày nào đó còn trống. Nếu ai đó đám tổ chức một đám cưới cho con vào ngày thứ ba hay thứ tư trong tuần, thì hoạ là đồ điên vì chuyện đó chẳng bao giờ có thể xẩy ra ở nước Mỹ này. Ngay như tổ chức tiệc cưới mà kẹt nhà hàng (tôi đã nói chủ nhà hàng Tàu là người chủ hôn và cả “ông thầy” xem ngày tốt cho đám trẻ), phải đem vào tối chủ nhật thì xem như tiệc cưới đã thất bại thấy rõ.
Chúng ta cúng giỗ ông bà không phải vào ngày sinh mà vào ngày chết. Cứ tính theo lịch ta, lịch tây thì ngày giỗ ông bố tôi phải vào ngày thứ tư này, nhưng vì con cháu “sinh lầm thế kỷ” ở Mỹ này, nên xin mời Cụ thứ bảy chủ nhật này hẵng về hưởng chút hương chút hoa. Cụ mà về đúng ngày Cụ đi thì hương tàn, bàn lạnh, nhà khoá cửa, bấm chuông không ai mở thì Cụ ráng chịu. Ngày chết đã vậy, ngày sinh nhật nào của ai thì cũng phải tổ chức vào ngày cuối tuần, sinh nhật mẹ hay thằng cháu ngoại thì “hãy đợi đấy”, chờ thứ bảy chủ nhật nào đẹp trời hẵng hay, trước hay sau vài ngày thì cũng chẳng chết ai.
Chẳng may ông Cụ nhà bạo bệnh qua đời, sống khôn thác thiêng, xin Cụ nhớ giùm, Cụ lại ra đi vào ngày thứ năm, thứ sáu, xem xém cuối tuần thì con cháu không thể nào lo kịp, đành phải để Cụ trong nhà xác lạnh lẽo chờ cho đến “weekend” tuần sau. Bao nhiêu thứ phải lo từ nhà quàn, đất cát cho đến cái cáo phó, lại muốn đưa Cụ đi một đoạn đường đông đông một tí thì phải chờ cuối tuần, thưa Cụ. Cụ cũng hiểu thêm cho con cháu rằng, muốn tổ chức tang lễ cho Cụ vào ngày cuối tuần cho ấm cúng để bạn bè con cháu cụ tham dự đông đủ thì phải chi cho nhà quàn thêm một khoản kha khá. Vé máy bay đi Việt Nam vào mùa hè hay ba ngày Tết giá cũng cắt cổ, thì nhà quàn cũng phải có giá riêng nếu con cháu muốn Cụ dùng “phi vụ” cuối tuần. Nước Mỹ nó “lạnh lùng” như thế đấy!
Cuối tuần ở Mỹ cái gì cũng đắt! Không tin bạn thử lấy một cái phòng ở Las Vegas hay mua một cái giấy máy bay đi thứ bảy mà về chủ nhật. Cuối tuần ở Mỹ chỗ nào cũng đông, từ những khu vui chơi như Sea World, Disneyland đến các bãi biển, ngay ở phố Bolsa, muốn đi ăn phở cuối tuần phải xếp hàng dài dài, ghi tên như “đăng ký nghĩa vụ quân sự”.
Nếu một năm có 365 ngày “bằng mặt”, một màu xám xịt, ngày nào cũng như ngày nào, thì cuộc đời buồn biết mấy. Nghĩ cũng vui vui khi nhớ ra cuối tuần này có một cuộc họp bạn bè lớp học cũ hay có chuyến đi Nevada “đóng tiền điện”.
Thôi thì “Have Nice Weekend” bạn nhé!
Huy Phương
HUY PHƯƠNG Những ngày cuối tuần ở Mỹ người ta làm gì? - Mỹ trắng đi chơi, Mỹ đen đi nhà thờ, Mễ sửa xe hơi và Việt Nam đi làm “overtime”. Câu trả lời này không biết đúng được bao nhiêu phần trăm, nhưng ít ra cũng nói đến đức tính cần cù của người Việt, ít nhất là trong giai đoạn mới nhập cư để sau đó, có nhà đẹp, xe mới. Ngày mới sang Mỹ, những công việc lao động chân tay của tôi cũng không có ngày cuối tuần, vì công ty cho người thay phiên nhau làm nhưng máy không nghỉ, do đó những thứ “chân ướt chân ráo” như tôi thường thì hai ngày thứ bảy chủ nhật phải đi làm và ngày “cuối tuần” sẽ là hai ngày nào đó trong tuần. Ngày người ta có thể ngủ dậy trễ, hội họp, bạn bè, quan hôn tang tế thì mình phải dậy sớm đi làm, ngày mình nghỉ thì nhìn quanh, nhà cửa, bạn bè vắng teo, đó là những lúc cảm thấy nỗi lòng cô đơn vì thân thế công dân hạng hai của mình.
Nhưng rồi ra, sống ở Mỹ lâu ngày, tôi thấy thời đó không phải riêng tôi không có những ngày cuối tuần, mà tất cả những người làm thương mãi trên xứ này, nhất là ở chỗ người Việt, chăm chỉ cần cù thì ngày thứ bảy, chủ nhật là ngày đông người mua bán nhất. Từ đó các ông bà chủ của các nhà hàng ăn, tiệm vải, chỗ gởi tiền... may lắm mới có được một ngày nghỉ trong tuần, có khi làm hết bảy ngày, mỗi năm 365 ngày không một ngày nghỉ. Có người, từ ngày sang Mỹ đến nay không biết cái ngày cuối tuần nó ở đâu? Chẳng thế mà nước Mỹ giàu có cũng phải. Ở ngay Paris, thấy ông bác sĩ hai giờ chiều mới mở cửa phòng mạch; siêu thị ở Đức, chiều thứ sáu, ba giờ chiều đã đóng cửa để nghỉ cuối tuần. Thứ bảy chủ nhật, thành phố vắng tanh, để cho công dân thành phố ngủ hay đi ra biển. Vậy thì đừng có than nghèo?
Nhiều người ở Mỹ than là ngày cuối tuần còn mệt hơn cả ngày thường. Ngày thường chỉ lo dậy sớm đi làm đúng giờ, tối về ngủ để sáng mai lại dậy sớm, còn bao nhiêu việc xin hẹn lại cuối tuần. Việc nhà thì dọn lại cái chỗ để xe, chùi lại cái bếp, vứt bớt thức ăn trong tủ lạnh, bỏ đồ giặt, chăm lo lại mấy cái cây ngoài vườn, cắt cỏ. Việc con thì còn đưa con đi đá banh, học đàn, học bơi hay học tiếng Việt. Việc bạn bè thì đi thăm viếng, gọi cho một người bạn ở xa (long distance xin chờ thứ bảy chủ nhật), viết cái thư, dự cái tiệc cưới, viếng một người bạn mới qua đời trong tang quán. Việc nước thì còn hội họp, biểu tình. Người phong lưu thích vui canh mạt- chược, chàng đàn đúm còn bữa nhậu ngất trời. Nói tóm lại là bao nhiêu thứ đổ vào đầu hai ngày cuối tuần. Sau hai ngày cuối tuần là mệt ngất ngư, ngày thứ hai trở lại công việc, lòng ai mà thấy hứng khởi, vui thú, đối với những người mang tâm trạng này thì đúng là “black Monday”.
Từ ngày sang Mỹ tôi mới thấy bao nhiêu thứ văn hoá “tang hôn tế lễ” của người Á Đông chúng ta đều phải dồn lại vào cuối tuần. Bây giờ chẳng còn ngày tốt ngày xấu, cứ đám cưới là phải tổ chức vào ngày thứ bảy, hay tệ lắm cũng chủ nhật. Còn như định vào ngày thứ bảy chủ nhật nào, thì lại còn phải do ông chủ nhà hàng “seafood” dở cái sổ hẹn như sổ hẹn ở phòng mạch ông bác sĩ ra, để kiếm cho gia đình bạn một ngày nào đó còn trống. Nếu ai đó đám tổ chức một đám cưới cho con vào ngày thứ ba hay thứ tư trong tuần, thì hoạ là đồ điên vì chuyện đó chẳng bao giờ có thể xẩy ra ở nước Mỹ này. Ngay như tổ chức tiệc cưới mà kẹt nhà hàng (tôi đã nói chủ nhà hàng Tàu là người chủ hôn và cả “ông thầy” xem ngày tốt cho đám trẻ), phải đem vào tối chủ nhật thì xem như tiệc cưới đã thất bại thấy rõ.
Chúng ta cúng giỗ ông bà không phải vào ngày sinh mà vào ngày chết. Cứ tính theo lịch ta, lịch tây thì ngày giỗ ông bố tôi phải vào ngày thứ tư này, nhưng vì con cháu “sinh lầm thế kỷ” ở Mỹ này, nên xin mời Cụ thứ bảy chủ nhật này hẵng về hưởng chút hương chút hoa. Cụ mà về đúng ngày Cụ đi thì hương tàn, bàn lạnh, nhà khoá cửa, bấm chuông không ai mở thì Cụ ráng chịu. Ngày chết đã vậy, ngày sinh nhật nào của ai thì cũng phải tổ chức vào ngày cuối tuần, sinh nhật mẹ hay thằng cháu ngoại thì “hãy đợi đấy”, chờ thứ bảy chủ nhật nào đẹp trời hẵng hay, trước hay sau vài ngày thì cũng chẳng chết ai.
Chẳng may ông Cụ nhà bạo bệnh qua đời, sống khôn thác thiêng, xin Cụ nhớ giùm, Cụ lại ra đi vào ngày thứ năm, thứ sáu, xem xém cuối tuần thì con cháu không thể nào lo kịp, đành phải để Cụ trong nhà xác lạnh lẽo chờ cho đến “weekend” tuần sau. Bao nhiêu thứ phải lo từ nhà quàn, đất cát cho đến cái cáo phó, lại muốn đưa Cụ đi một đoạn đường đông đông một tí thì phải chờ cuối tuần, thưa Cụ. Cụ cũng hiểu thêm cho con cháu rằng, muốn tổ chức tang lễ cho Cụ vào ngày cuối tuần cho ấm cúng để bạn bè con cháu cụ tham dự đông đủ thì phải chi cho nhà quàn thêm một khoản kha khá. Vé máy bay đi Việt Nam vào mùa hè hay ba ngày Tết giá cũng cắt cổ, thì nhà quàn cũng phải có giá riêng nếu con cháu muốn Cụ dùng “phi vụ” cuối tuần. Nước Mỹ nó “lạnh lùng” như thế đấy!
Cuối tuần ở Mỹ cái gì cũng đắt! Không tin bạn thử lấy một cái phòng ở Las Vegas hay mua một cái giấy máy bay đi thứ bảy mà về chủ nhật. Cuối tuần ở Mỹ chỗ nào cũng đông, từ những khu vui chơi như Sea World, Disneyland đến các bãi biển, ngay ở phố Bolsa, muốn đi ăn phở cuối tuần phải xếp hàng dài dài, ghi tên như “đăng ký nghĩa vụ quân sự”.
Nếu một năm có 365 ngày “bằng mặt”, một màu xám xịt, ngày nào cũng như ngày nào, thì cuộc đời buồn biết mấy. Nghĩ cũng vui vui khi nhớ ra cuối tuần này có một cuộc họp bạn bè lớp học cũ hay có chuyến đi Nevada “đóng tiền điện”.
Thôi thì “Have Nice Weekend” bạn nhé!
Huy Phương

Thơ Nhạc Hoài Niệm của Những Người Ly Xứ Có những địa danh, khi nhắc đến, làm tim óc bồn chồn và hoang mang nhắc lại một thời gian không gian nào đó đã khuất nhưng còn âm hưởng. Hà Nội trong thơ Hoàng Anh Tuấn, trong nhạc Hoàng Dương; Sài Gòn trong thơ Nguyên Sa, trong nhạc Nguyễn Đình Toàn. Hà Nội trong tùy bút Mai Thảo, hay hồi ức Vũ Bằng; Sài Gòn trong truyện ngắn Tạ Tỵ, hay tùy bút Võ Phiến.
Những người ly xứ tha hương, khi thời tiết thay đổi, nghe như trong hồn âm vang những ngọn sóng, của một ngày động biển. Người Việt Nam, trong cuộc sống đã sẵn những buổi ra đi. Từ năm di cư đến ngày di tản, biết bao nhiêu tâm hồn mang nặng những nỗi niềm của cả một thời thế dông bão. Thơ, văn, nhạc, chuyên chở tâm sự thời đại. Những câu văn, những lời thơ, những ý nhạc phản ảnh những cuộc sống cực kỳ đặc biệt của một dân tộc đã quá quen với chiến tranh, khói lửa và tang tóc...
Sài Gòn, sau năm 1975. Hà Nội, sau năm 1954. Những thành phố của hoài niệm trong thời gian ấy. Năm 1954, hàng triệu người rời bỏ miền Bắc xuôi nam tìm tự do, cuộc di cư vĩ đại của những người ghê sợ Cộng sản. Năm 1975, Cộng sản chiếm toàn bộ đất nước. Hàng trăm ngàn người di tản ra ngoại quốc sau đó đến từng đợt vượt biển của hàng triệu người. Không gian, thời gian, của những biến cố kể trên, đã thành môi trường và động lực thúc đẩy văn nghệ sĩ để tạo thành những tác phẩm văn chương hay âm nhạc phản ảnh tâm tình thời đại. Một dòng nhạc hoài niệm kéo dài suốt nửa thế kỷ đã cho chúng ta những bản nhạc để đời. Những bản nhạc mà tuổi thọ của nó dài hơn tuổi thọ của chính tác giả sáng tạo ra nó. Nhạc sĩ có khi khuất bóng từ lâu, nhưng nhạc phẩm vẫn còn sống, còn được hát và còn được thính giả nghe và hâm mộ. Qua một thời gian, qua sự đãi lọc, bản nhạc có thể tồn tại được phải có sức lôi cuốn từ ngôn từ và điệu nhạc. Và nhất là, phù hợp với tâm tư của từng thời kỳ, của hoàn cảnh mỗi người khi nghe âm điệu ấy.
Với tôi, có những bản nhạc là một phần đời sống tôi. Những bản nhạc, nhắc lại một tháng ngày đã qua. Nghe nó, như sống lại một quá khứ. Thuở đó, là kỷ niệm. Thuở đó, là cái tôi riêng trải dài theo những đoạn đời. Có khi, tưởng quên lãng nhưng lại chợt về trong ký ức. Có người bạn, anh Trần Thăng, một người sản xuất nhiều băng nhạc và video nổi tiếng mang tên trung tâm Asia, Dạ Lan, Mây, đã chê tôi là “ông chỉ thích những bản “ antique” không mà chẳng để ý gì đến những bản nhạc mới sáng tác, mọi người đều như thế thì âm nhạc sao phát triển được “. Tôi chỉ cười nhưng thầm nghĩ, ừ, tôi chỉ thích những gì hợp với tôi bất kể là nhạc thính phòng hay nhạc đại chúng, nhạc cũ hay nhạc mới nhạc trẻ. Tôi có những băng nhạc thật cũ, âm thanh nghe nhiều quá thành rè rè mà tôi vẫn giữ lại. Và, nếu có ai có những bản nhạc cũ mà tôi thích ấy, tôi thu lại để nghe. Tính khí ấy có lẽ cũng không hay lắm, nhưng đã quen nết rồi, biết làm sao. Nhiều khi, tôi nghe nhạc trong vô thức, lúc đọc sách, lúc lái xe hay cả những lúc đang chập chờn giấc ngủ. Cái cung cách nghe nhạc mà như không nghe nhạc ấy có lẽ không phải là của một người thành thạo về âm nhạc. Nhưng đó cũng là một phần đời sống của tôi, dù chỉ là một phút một giây.Tôi sống một phút. Cũng như tôi cảm âm nhạc một giây, mặc dù bằng hai lỗ tai “ điếc nhạc”…
Năm 1954, gia đình tôi di cư vào Nam. Đang học tiểu học, lạ người lạ cảnh, tâm tư như tờ giấy trắng, nhưng tôi vẫn nhớ như in bài hát mà tôi đã gân cổ hát trong giờ sinh hoạt học đường. Lúc ấy, hào hứng tin tưởng xiết bao. Bản nhạc “Về miền Nam“ của Trọng Khương nhắc lại tôi ngày thơ ấu:
“Đứng vùng lên nào bao thanh niên yêu nước
Hướng về đây miền nam thân yêu nắng sáng
Theo vết chân người xưa ta tiến lên đường đi
Bao nắng mưa sương gió nào ngại chi.
Sông nào cắt đứt đôi nơi
Sông nào xé nát tim tôi
Sông nào bóp chết thương yêu Việt Nam ơi!… “
Bài hát ấy, với tôi, tự nhiên nhắc và nhớ đến những khuôn mặt ấu thơ. Những cô giáo, thầy giáo khai tâm tuổi nhỏ. Cùng với ngôn từ và điệu nhạc, là bước chân trở về. Đó, lãnh địa thiêng liêng của đời người, mà dần dần thời gian đi qua, in sâu trên tiềm thức. Đất nước mới, mở ra những lạc quan, như tuổi xanh ngây thơ nhưng thật nhiều ước vọng... Bài hát như một dây chuyền để bắt đầu cho một chuỗi liên tưởng. Vô tình, bài hát như một contact để mở một mạch điện cho khúc phim đời sống riêng tôi.
Nhưng những bài hát khác, thường là những nỗi buồn, ngâm ngùi hướng vọng về chốn quê xa. Hàng trăm ca khúc có chung dòng nhạc. Không phải chỉ với bài hát ấy, mà còn nhiều bài hát khác, nhiều phim truyện khác, nhắc nhớ lại thời kỳ đặc biệt của đất nước. Một cách khái quát, theo bài thuyết trình “ Love and Longing at the Border : Songs On Both Sides of the 17th Parallel” của Jason Gibbs trong seminar của Popular Culture Association tại thành phố San Antonio, tiểu bang Texas thì có tới 18 ca khúc của những người di cư nhớ về quê hương cũ đã xa. Như: Bắc Một Nhịp cầu“ của Hoàng Trọng, lời Hồ Đình Phương, “Biệt Hải Phòng”, của Phó Quốc Thăng, “Chờ Anh Em Nhé”, của Xuân Tiên, lời Nhật Bằng, “Chuyến Đò Vĩ Tuyến“ của Lam Phương, “Giấc Mơ Hồi Hương” của Vũ Thành, “Hận Ly Hương“ của Anh Hoa và Ngọc Lang, “Hướng Về Đất Bắc“ của Phó Quốc Thăng, “Hướng Về Hà Nội“ của Hoàng Dương, “Lá Thư Gửi Mẹ” của Nguyễn Hiền, lời Thái Thảo, “Mộng Ngày Hồi Hương”, của Hoàng Trọng, Hồ Đình Phương, “Sầu Ly Hương” của Lam Phương, “Thu Ly Hương” của Nhật Bằng và Đan Thọ, “Tình Cố Đô” của Lam Phương lời Mạnh Thương, “Về Bến Xưa“ của Nguyễn Hiền, lời Thiện Huấn, “Vọng Cố Đô” của Đan Thọ Nhật Bằng, “Xa Quê Hương” của Đan Tho, Xuân Tiên, “Xuân ly Hương” của Phó Quốc Lân.. Nhưng danh sách ấy chưa đầy đủ lắm, còn thiếu một cách đáng kể: “Mưa Sài Gòn, Mưa Hà Nội” của Phạm Đình Chương, thơ Hoàng Anh Tuấn, “Mùa Hoa Nở“ của Cung Tiến,…
Trong những bài hát ấy, Hà Nội như một hình tượng của nhung nhớ. Thành phố ấy, phải rời bỏ đi xa với nỗi đau đớn tận cùng. Hà Nội ơi! Có phải là tiếng kêu thảng thốt của trái tim vỡ vụn. Không phải với tôi mà chung của rất nhiều người, Hà Nội thành thánh địa của hồi tưởng. Lúc học trung học, hai thành phố gợi cho tôi nhiều ấn tượng và mê đắm nhất là Paris và Hà Nội. Lúc đó, tôi chỉ mong có ngày đặt chân đến. Paris của cậu bé Vincent trong sách “ Cours De Langues et de Civilisations “ của giáo sư Mauger mở ra biết bao nhiêu ảnh tượng kỳ thú. Còn Hà Nội, là “Đêm Giã Từ Hà Nội“ của Mai Thảo, là “Ung thư” của Thanh Tâm Tuyền, hay nhạc “Hướng Về Hà Nội“ của Hoàng Dương:
“Hà Nội ơi! Những ngày vui đã ra đi
Biết người còn nhớ nhung chi,
Hết rồi giây phút phân ly
Hà Nội ơi, dáng huyền tha thướt đê mê
Tóc thề thả gió lê thê
Biết đâu ngày ấy em về...“
Không gian xa cách ngàn trùng. Thời gian chia ly vời vợi. Đời sống bỗng lênh đênh chia hai giữa buồn nhớ và hy vọng. Sẽ có một ngày trở về, có phải?. Nhưng cuộc sống như dòng nước trôi đi lạnh lùng. Xa xứ và ly hương, như dòng sông Bến Hải chia đôi đất nước. Phạm Đình Chương phổ nhạc thơ Hoàng Anh Tuấn: “Mưa Sài Gòn, Mưa Hà Nội”, một bài hát mà mỗi khi người di cư nghe lại quặn đau:
“Mưa hoàng hôn trên thành phố heo may vào hồn
Thoảng hương tóc em ngày qua
Ôi người em Hồ Gươm về nương chiều tà
Liễu sầu úa thềm cũ nằm mơ hiền hòa
Thương mầu áo ngà
Thương mắt kiêu sa
Hiền ngoan thiết tha...“
Và, rồi còn nhiều nữa. ”Chuyến Đò Vĩ Tuyến“ của Lam Phương, “Đêm nay trăng sáng quá anh ơi, sao ta lìa cách bởi dòng sông bạc hai màu...”, “Bắc Một Nhịp Cầu “ của Hoàng Trọng, lời Hồ Đình Phương “Lạnh lùng phương Nam mơ bóng cây xanh ven hồ. Ngậm ngùi phương Bắc trông lúa xa xăm mong chờ. Vì một dòng sông xóa mờ. Tình đời lìa đôi bến bờ...”, “Vọng Cố Đô” của Đan Thọ và Nhật Bằng “Hà Nội ơi! Xa cách muôn trùng dương. Những lúc sương chiều xuống. Tìm đâu bóng Hồ Gươm lòng bao mến thương..”, “Mùa Hoa Nở“ của Cung Tiến “Chiều mưa thương nhớ đến bao giờ. Đường về nẻo Bắc xa mờ, mơ hồ. Đàn chim gieo thương nhớ. Câu tiếng nước nhà...“ Những bản nhạc ấy, trôi theo dòng sông âm nhạc và liên tiếp nhau để thành một thời đại hoài niệm, mà tiếng kêu tha thiết vẳng lên từ nơi chốn đã vời xa: Hà Nội. Tiếng hát, lời ca, không còn đơn thuần là ca khúc mà đi xa hơn, để thành chia sẻ, kỷ niệm của một phần của đời người. Bao nhiêu năm, với bao nhiêu ban nhạc thính phòng hoặc đại chúng, được trình diễn từ những ca sĩ tuyệt vời, những bản nhạc ấy vẫn sống, từ thời hòa bình tạm thời đến cuộc chiến khốc liệt. Mấy chục năm, vẫn không phai cảm xúc trong lòng khán thính giả...
Năm 1975, cơn hồng thủy lại đến với dân tộc Việt Nam. Đất nước thống nhất, hòa bình nhưng trại tù mở ra khắp nước. Kinh tế lụn bại, chính tình hà khắc, dân chúng đói khổ. Rồi đánh tư sản, rồi vơ vét tiền của người dân khiến hàng triệu người bỏ xứ ra đi tìm đất sống. Những chuyện phim như Chúng Tôi Muốn Sống, Đất Lành,..bỗng thành hiện thực. Và, dòng nhạc hoài niệm lại tiếp nối. Tâm tư, nỗi niềm của thế hệ, của thời đại lại phản ánh rõ nét. Ở hải ngoại, ngóng về quê hương, về Sài Gòn với tấm lòng tan nát. Nốt nhạc lời ca thành tiếng vọng gửi về qua khoảng cách của hai bờ đại dương. Không phải chỉ những nhạc sĩ hải ngoại mới viết nhạc hoài niệm xa xứ mà những người viết nhạc còn ở trong nước cũng sáng tác trong tâm cảm như vậy. Sài Gòn, sao khi nhắc đến toàn là chia ly, vĩnh biệt. Nguyễn Đình Toàn, khi còn ở trong nước đã viết “Nước Mắt Cho Sài Gòn”:
"Sài Gòn ơi! Ta mất người như người đã mất tên
như dòng sông nước quẩn quanh buồn
như người đi cách mặt xa lòng
Ta hỏi thầm em có nhớ không?
Sài Gòn ơi! Đến những ngày ôi hè phố xôn xao
Trong niềm vui tiếng hỏi câu chào
Sáng đời tươi thắm vạn sắc màu
Nay còn gì đâu..."
Bài hát ấy, bị một nhà văn trong nước mỉa mai rằng “là một bản nhạc cay cú về một thành phố mất tên”. Ông ta quên rằng Sài Gòn đã thành tên của một lãnh tụ công sản đầy tội ác: Hồ Chí Minh. Nhưng ai biết được chuyện dâu biển, những tên như Stalingrad, hay Leningrad ở Nga Xô Viết đã trở lại tên thành phố cũ thuở trước. Sài Gòn vẫn mãi là Sài Gòn.
Và, tôi không phải là một người thông hiểu về âm nhạc lắm nhưng cũng đã nghe nhiều bản nhạc với chủ đề hoài nhớ quê hương và khát vọng sẽ trở về khi đất nước tự do dân chủ. Như “Sài Gòn Niềm Nhớ Không Tên“ của Nguyễn Đình Toàn, “Sài Gòn Ơi Vĩnh Biệt“, “Người Di Tản Buồn” của Nam Lộc, “ Đêm Nhớ Về Sài Gòn” của Trầm Tử Thiêng, “Thương Nhớ Sài Gòn” của Phạm Duy, “Đêm Nhớ Trăng Sài Gòn“, thơ Du Tử Lê, nhạc Phạm Đình Chương, “Khi Xa Sài Gòn“, thơ Kim Tuấn, nhạc Lê Uyên Phương, “Cho Một Thành Phố Mất Tên”, thơ Hoàng Ngọc Ẩn, nhạc Phạm Đình Chương, “Sài Gòn Cảm Khúc“ của Trần Chí Phúc,...
Tôi yêu những bản nhạc nói giùm tôi những tâm tư và ước vọng. Độ chừng, nhiều người cũng giống tôi. Tôi chỉ yêu và thích chứ không đặt tiêu chuẩn hay dở. Có những khi, nghe những bản nhạc cũ, lại bồi hồi. Xốn xang. Tôi biết chắc một điều có những bản nhạc đã cùng sống và cùng thở với tôi trong chung một cuộc nhân sinh. Đâu có thể nào có ai mang cắt đi một phần tâm linh được.... Như mang xóa bỏ đi những bài hát hoài niệm yêu quê hương của thời đại tôi, dân tộc tôi... Dù, kẻ đó là những người của chế độ ngụy tín Cộng sản hiện hữu. Những bài hát ấy, có phải là bằng chứng cho một quãng thời gian đầy biến cố tang thương đau đớn. Chia ly, hận thù, giết chóc, chuyện quê hương,đất nước tôi...
Nguyễn Mạnh Trinh
Bệnh nhậu!
Phiếm luận của Gã Siêu Một trong những chứng bệnh của phe đờn ông con giai, khiến cho quí bà quí cô nhiều khi phải nhăn mặt "âm thầm gặm nhấm nỗi đớn đau cô đơn" của mình, đó là chứng bệnh nhậu.
Để diễn tả nỗi đớn đau vò võ ấy, người ta đã nhái theo bài hát "Hòn vọng phu" như sau:
Bao nhiêu đêm cầm roi đứng đợi chồng về,
Bao nhiêu đêm vòng tay đứng nghe chồng thề.
Không hiểu bên Tây, người ta nhậu ra làm sao và nhậu theo phong cách nào? Chứ còn tại Việt Nam, người ta nhậu ở mọi nơi, trong mọi lúc và với bất kỳ lý do nào. Vui cũng nhậu, buồn cũng nhậu và thậm chí muốn nhậu là nhậu, chẳng cần lý do nào sốt.
Vì vậy, phong trào nhậu cứ "liên tục phát triển". Chả thế mà đất nước mình thuộc vào hạng nghèo rớt mồng tơi, nhưng lại có mặt đầy đủ những thứ bia nổi tiếng trên thế giới và hàng năm người ta sản xuất ra không biết bao nhiêu triệu lít bia.
Rồi trong những ngày gần đây tại Saigon, xuất hiện hàng loạt những "làng nướng", làng "lẩu"... Cứ chiều chiều đi ngang qua những thứ làng này, mùi thịt thà cá mú bốc lên làm điếc mũi hàng xóm. Tất cả những điều ấy, gã đã có dịp trình làng. Riêng hôm nay, gã sẽ nhìn hiện tượng nhậu dưới góc độ của anh đờn ông cũng như của chị đờn bà, để rồi đi đến một kết luận cụ thể, đó là ta phải nhậu như thế nào cho đáng mặt mày râu.
Tuy nhiên, trước khi đi sâu vào chi tiết, gã xin đề cập tới vị sư tổ của trường phái nhậu, đó chính là Lưu Linh. Theo sách vở thì Lưu Linh tự là Bá Luân, người đời Tấn. Ông thuộc nhóm "thất hiền", tức là một trong bảy vị hiền tài ở Trúc Lâm, tính tình phóng khoáng, thích uống rượu lại giỏi thơ văn. Ông đã để lại cho đời một bài thơ bất hủ, ca ngợi cốt cách phong lưu của việc uống rượu. Bài thơ ấy mang tựa đề là "tửu đức tụng". Chả thế mà trong "Cung oán ngâm khúc" có câu:
Cờ tiên, rượu thánh ai bằng,
Lưu Linh, Đế Thích là làng tri âm.
Tục truyền rằng: vào một đêm trăng thanh gió mát, ông ngồi uống rượu và ngâm thơ với các "chiến hữu" trên một chiếc thuyền. Trong lúc cao hứng, ông đứng lên, loạng choạng bước tới mũi thuyền. Nhìn thấy vầng trăng lung linh dưới đáy nước mà cứ ngỡ là lơ lửng trên bầu trời, ông liền giang tay nhảy xuống ôm lấy trọn vầng trăng và thế là... dòng nước cuốn trôi. Từ đó cho đến nay, dân bợm nhậu vốn thường được gọi là đệ tử của Lưu Linh và tôn ông làm sư tổ của mình. Nhiều người cho rằng: Đối với phần lớn đờn ông con giai, thì tình yêu đi vào trái tim thường phải rẽ qua ngả đường của bao tử. Điều đó chứng tỏ rằng anh đờn ông con giai nào cũng khoái ăn ngon. Thế nhưng, đồ ăn thịnh soạn mà thiếu chất cay cay để đưa mồi thì cũng hóa thành nhạt nhẽo như người xưa đã bảo:
Cỗ không rượu như kèn không trống Thổi kèn mà thiếu tiếng trống thì chán mớ đời.
Chính vì vậy, rượu đã xuất hiện từ một thuở rất xa xưa và có mặt trên từng cây số nơi các dân tộc, từ Đông sang Tây, từ cổ chí kim và làm thành nét đẹp riêng của văn hóa. Chả thế mà trong ngành du lịch, người ta đã đưa ra chiêu bài nền "văn hóa ẩm thực" của dân tộc mình để thêm phần hấp dẫn hầu dễ bề móc túi du khách.
Gã không biết ai là người đầu tiên đã chế biến nên rượu. Thôi thì đành dựa vào Kinh thánh Kitô Giáo vậy. Theo sách Sáng Thế thì sau cơn đại hồng thủy, khi nước đã rút hết, thì Noah đã trồng nho và làm rượu. Ông cũng đã nhậu một chầu túy lúy với những xị rượu đầu tiên của mình. Và thế là chuyện nhậu được phổ biến và trở thành một tập tục của loài người. Hai tên bạn khố rách áo ôm lâu ngày gặp nhau, thế nào cũng phải làm sương sương với nhau vài táo. Các chính khứa hội đàm "mí" nhau và khi cuộc hội đàm kết thúc, thế nào cũng phải có màn chiêu đãi tiệc tùng. Cũng bởi lẽ ấy, mà các cụ ta ngày xưa đã bảo:
Nam vô tửu như kỳ vô phong, có nghĩa là đờn ông con giai mà không biết uống rượu thì như cờ treo mà không có gió. Ủ rũ.
Gã xin ghi lại nơi đây tâm sự buồn của một anh con giai không biết nhậu, được đăng trên một tờ báo của giới kẹp tóc:
"Khi còn độc thân mỗi lần được bạn bè mời đi dự đám tiệc, tôi đều phải len lén chọn những bàn tập trung phái nữ và cũng chọn cho mình một loại thức uống giống y như họ là một chai... nước ngọt! Trong lúc bạn bè cùng "hệ" đang hí hửng với những ly bia vàng óng, sóng sánh bọt, tưng bừng hô vang "Zdoô, zdoô..." một cách hết sức sôi động, thì tôi chỉ biết cắm cúi gắp lấy gắp để cho đến món cuối cùng hầu được... ra về! Đến khi lập gia đình, điều kém may mắn này lại càng được bộc lộ rõ ràng hơn.
Ngay vào ngày cưới, thường chú rể là người "bị" uống nhiều nhất. Hết bàn này đến bàn khác, hết người này chúc mừng đến người kia mời mọc. Mặc dù đã "tự nhủ lòng" phải kiềm chế tối đa để bảo đảm cho một đêm tân hôn... cực kỳ tỉnh táo, nhưng trước những lời chúc tụng quá ư chân thành của bạn bè, của bà con hai họ, tôi cũng ráng gồng mình... uống, như để nuốt cạn từng lời chúc mừng chí tình chí nghĩa ấy!
Cho tới bàn cuối cùng, tôi chỉ còn nhớ được mang máng hình như có ai đó đã... vác tôi ra xe taxi rồi đưa về nhà trước khi tàn tiệc cưới! Đến khi giật mình tỉnh giấc đã là bảy giờ sáng của ngày hôm sau và điều chắc chắn rằng trong đêm tân hôn đó, chú rể vẫn còn là chú rể và tất nhiên cô dâu cũng vẫn còn là cô dâu, chẳng chút mảy may xây xước.
Đâu đã hết, điều kém may mắn ấy vẫn còn theo đuổi tôi cho đến bây giờ. Chẳng là gia đình bên vợ tôi rất đông người, bốn anh em trai cộng thêm với ba người anh cột chèo, vị chi là bảy người và ai cũng uống bia như uống... nước mía, chỉ lẻ loi mình tôi là "yếm thế".
Những lúc giỗ tết, tôi chỉ còn biết ngồi khép nép bên vợ để được "che chở" khỏi bị ép uống... Có thể nhiều bà vợ cứ nghĩ chồng mình không biết uống rượu là một điều hạnh phúc, nhưng các bà đâu có thể hiểu hết được những "nỗi thẹn thùng" của các ông mỗi khi đụng chuyện. Đàn ông đàn anh như tôi mà không biết uống rượu quả đáng xấu hổ. Vì thế, nếu cho tôi một điều ước, tôi sẽ chẳng do dự nói ngay rằng: Phải chi tôi cũng biết... nhậu".
Nếu như cô gái lỡ thời đã tâm sự: Không chồng khổ lắm chị em ơi! Thì hẳn anh chàng này cũng phải lớn tiếng mà kêu lên: Không nhậu khổ lắm anh em ơi!
Đã vậy, nhiều lúc chẳng muốn nhậu mà cũng vẫn bị nhậu và bắt buộc phải nhậu, thì nào có khoái, có vui sướng gì cho cam. Dĩ nhiên ở đây gã không bàn tới những vị sáng say chiều xỉn tối lăn quay, thuộc hàng cao thủ võ lâm, bợm nhậu mãn tính hay dân ghiền hạng nặng, dám vỗ ngực tuyên bố: Thà bỏ... vợ còn hơn bỏ... nhậu.
Nhưng chỉ xin đề cập đến những đấng thường thường bậc trung, mỗi khi nhậu đều có những lý do chính đáng và lắm lúc có cả giấy phép của... bà xã nữa. Vậy tại sao những đấng ấy lại nhậu, hay nói một cách khác, những đấng ấy nhậu để làm gì? Dựa vào một bài báo của giới phụ nữ, gã xin bổ túc và đưa ra những lý do khiến người ta nhậu một cách rất chính đáng.
Lý do thứ nhất, đó là phải nhậu thì mới có tiền. Mới nghe qua lời phát biểu này thì thấy nó có vẻ vô lý, bởi vì theo luật kinh tế: càng đông vui thì lại càng hao. Nhậu miết thì thể nào cũng mắc chứng "viêm màng túi" kinh niên. Thế nhưng, nếu suy nghĩ một chút, gã thấy cũng đúng.
Có một anh bạn, chủ một doanh nghiệp tư nhân, vốn được xem là "chuyên gia" nhậu. Gọi điện thoại tìm anh ta thường được nghe con gái anh ta trả lời: Ba con đi nhậu rồi.
Vợ anh ta phải "thay" chồng quán xuyến công việc sản xuất, trông coi cơ sở kiêm luôn nghề... "chỉ điểm": Anh ấy đang ngồi với ông nọ, ông kia ở quán...
Còn anh ta thì lại tâm sự: Nhậu hoài chán lắm, ở nhà với vợ con thích hơn, nhưng có nhậu mới ký được nhiều hợp đồng làm ăn. Hoàn tất hợp đồng, lời lỗ gì cũng lại... nhậu tiếp để kiếm hợp đồng mới, cứ thế mà nhậu quanh năm.
Có lẽ đúng như vậy. Thời buổi kinh doanh cạnh tranh khốc liệt, cơ sở của anh ta thì nhỏ, vốn ít nhưng đều đều có hợp đồng để làm, đủ trả lương công nhân, nhà xưởng, điện nước, thuế má và quan trọng nhất, đã nuôi sống cả gia đình bố mẹ, vợ chồng và ba cô con gái. Tuy rằng trong đó có công sức không ít của người vợ: hiểu chồng và giúp chồng.
Lý do thứ hai đó là nhậu để tỏ ra có tí quyền, tí chức và cũng bề thế như ai.
Một anh bạn khác, ngoài những tiệc nhậu ở nhà hàng được người ta mời, anh ta cũng thường tổ chức nhậu tại nhà với danh nghĩa là đám giỗ. Giỗ bên nội, rồi giỗ bên ngoại. Khách được mời toàn những nhân vật có "máu mặt", thiên hạ nhìn vào phải nể phục sát đất quyền cao chức trọng của anh ta. Có lần người ta thắc mắc không biết là giỗ ai, hỏi ra mới hay: Giỗ người em họ của ông nội, mà khi mất mới có vài tuổi, gia chủ cũng chẳng còn nhớ tên là gì, nên chỉ gọi là giỗ... ông trẻ!
Lý do thứ ba đó là nhậu để thắt chặt tình bè bạn.
Như trên gã đã nói: hai tên bạn cũ lâu ngày gặp nhau thì chỉ cần làm mấy ly là sống lại biết bao nhiêu kỷ niệm êm đẹp của một thuở xa xưa. Hơn thế nữa, khi rượu đã ngấm vào lục phủ ngũ tạng, lúc bấy giờ các chiến hữu tha hồ mà "nổ", sẵn sàng tỏ lộ tâm can tì phế của mình. Những chuyện không thể nói với bà xã, thì lúc này là lúc thuận tiện nhất để tuôn ra rông rổng cho các chiến hữu.
Nếu ở nhà: Nhất vợ nhì giời. Còn bây giờ và ở đây: Trời chỉ bằng cái vung, thì bà xã chắc chắn cũng chẳng là cái thớ gì cả.
Rượu mở mang trí hóa, giải bớt cơn sầu và làm cho tình nghĩa tuôn chảy tràn trề và lai láng khiến các chiến hữu sẵn sàng cảm thông, không phải chỉ chín bỏ làm mười, mà nhiều khi chín bỏ làm mười một mười hai không chừng. Và khi tới màn chót của vở kịch, các chiến hữu sẽ hôn nhau chùn chụt, hay ôm lấy nhau mà khóc thút thít, lâm ly bi đát hơn cả đờn bà con gái bội phần.
Sau cùng, lý do thứ tư đó là nhậu để nói cho thiên hạ biết rằng: Ta đây là loại đờn ông chính hiệu con nai vàng.
Thực vậy, bộ râu là dấu chỉ để phân biệt đờn ông đờn bà, như các cụ ta ngày xưa đã bảo:
Đờn ông không râu bất nghì,
Đờn bà không vú lấy gì nuôi con.
Thế nhưng, ngoài bộ râu ra, việc nhậu cũng đã trở nên dấu chỉ để phân biệt đờn bà đờn ông. Sở dĩ như vậy vì dân nhậu hầu như toàn đờn ông, còn đờn bà hầu như chẳng thấy... nhậu bao giờ. Gã chỉ xin nói "hầu như" mà thôi, bởi vì cũng có những chị đờn bà uống rượu như hũ chìm và cũng có những chị đàn bà... mọc râu mọc ria, oai ra phết. Trong khi đó lại có những anh đờn ông chỉ biết "phá mồi" và cằm thì nhẵn nhụi trơn tru, có vác kính lúp ra soi cũng chẳng tìm thấy được một cọng râu.
Tuy nhiên, điều quan trọng hơn, đó là khi nhậu sừng sừng, người ta mới dễ bề tỏ ra mình là đấng "nam nhi đại trượng phu". Gã tìm thấy trên báo đã nếu trên tâm sự của một anh bạn đi tìm "bản lãnh đờn ông" trong việc nhậu như thế này:
"Sau khi lấy vợ, nếu không đi nhậu, các chiến hữu cho rằng bây giờ tôi sợ vợ", không xài được. Tự ái nổi lên, chứng tỏ ta đây không sợ ai hết. Thế là từ đó tôi luôn luôn sống trong tình trạng "bạn nhậu một bên và em một bên". Cho đến lúc vợ tôi "tuyên chiến" với nhậu, nàng luôn than vãn cằn nhằn, kêu ca, nổi giận bảo rằng thật bất hạnh khi kết hôn với một cái... hũ hèm, thì tôi thực sự hoảng hốt. Buồn quá, tôi lại tiếp tục tìm vui trong men nhậu.
Khi nhậu, tôi được các chiến hữu tung hô, được em út tôn sùng và nhiều thứ mà lúc tàn canh tôi không có được... Trong bàn nhậu tất cả đều bình đẳng, hơn thế nữa, nó giải tỏa biết bao buồn bực. Cùng lứa với tôi, bạn bè nhiều đứa đã giàu sang thành đạt, còn tôi vẫn cứ quèn. Nhưng trong bàn nhậu, "nhà ngói cũng như nhà tranh", tôi cũng ngon như ai nếu biết chịu chơi và chịu chi... Vợ tôi cho rằng tôi là người yếu đuối, nhưng khi nhậu tôi thấy mình có đủ "bản lãnh đờn ông". Bản lĩnh đờn ông này được bạn cảm nhận khi ruợu đã thấm vào như sau:
1. Bạn cảm thấy mình là người thông minh.
Ý kiến bạn hoàn toàn đúng và dĩ nhiên ý kiến kẻ khác hoàn toàn sai. Bạn sẵn sàng "nhả ngọc phun châu" với bất kỳ ai, về bất cứ đề tài nào, còn thiên hạ đang vểnh tai hướng tới bạn để lắng nghe. Rốt cuộc, sự cãi vã là điều không thể tránh khỏi khi mọi người đều... thông minh.
2. Bạn cảm thấy mình là người giàu nhất trên thế giới.
Thậm chí sẵn sàng bao luôn bữa tiệc, hay mua thêm rượu mời mọi người cùng uống, bởi vì bạn luôn có sẵn một núi tiền. Đối với bạn, thân xác chỉ là cát bụi, danh vọng chỉ là mây khói và tiền bạc chỉ là... bùn đất mà thôi.
3. Bạn cảm thấy mình là người gan dạ.
Bạn sẵn sàng đánh nhau với bất cứ ai. Chỉ cần một lời nói trái tai, lập tức người ấy trở thành kẻ thù của bạn. Không một ai có thể đánh bạn phun máu đầu, bởi vì bạn không hề lùi bước trước bất kỳ đối thủ nào. Bạn là người gan dạ cơ mà. Khi đã xỉn rồi, bạn cứ giữa đường mà đi, mặc cho xe cộ thi nhau tránh. Thậm chí, bạn còn dám bò bằng "bốn chân" về nhà trước mặt vợ con và hàng xóm.
4. Bạn cảm thấy mình là người lịch sự.
Bởi vì bạn luôn mồm xin lỗi thiên hạ. Thậm chí khi bị va vào cột đèn sưng u cả đầu, thế mà bạn vẫn cứ đứng xin lỗi cho tới bao giờ cái cột đèn trả lời mới thôi. Có khi bạn xin phép chủ nhà để đi về tới mười lần mà vẫn luẩn quẩn chưa ra khỏi được phòng nhậu.
5. Bạn cảm thấy mình là người rất cẩn thận.
Thậm chí còn nhớ móc chân vào sườn xe đạp trước khi làm một giấc ngủ ngon lành ngay bên lề đường.
6. Sau cùng, bạn cảm thấy mình là người có trí nhớ tốt.
Bởi vì những việc tưởng chừng như đã qua đi từ đời tám tai ông Bành tổ, thế mà bạn vẫn nhớ và nhắc đi nhắc lại hàng chục lần, chỉ vì sợ kẻ khác quên hay không hiểu.
Những biểu lộ "bản lĩnh đờn ông" trên đây khi rượu vào, nếu ở mức độ trung bình thì tạo được một bầu khí vui vẻ và đôi lúc đem lại nét dễ thương, nhưng nếu đi tới chỗ thái quá, chắc chắn sẽ tạo nên những bất ổn, bởi vì: Rượu thì trắng, nhưng uống vào sẽ làm cho mặt đỏ và nhuộm đen tư cách. Gã xin ghi lại nơi đây bài thơ của Đăng Châu:
Đêm qua anh đi nhậu về,
Đợi anh, em thấy tái tê cõi lòng.
Khi đi lịch sự đàng hoàng,
Khi về xấc bấc, xang bang phát rầu.
Nào đâu chiếc kính đổi màu,
Cái máy di động mua đầu mùa xuân.
Nào đâu cái mũ phớt đen,
Cái "dây bao tử"...mất luôn, khỏi tìm.
Nói ra sợ tiếng sợ tăm,
Van anh, anh hãy giữ thân giữ mình.
Như xưa anh vốn hiền lành,
Cứ ăn nhậu miết, riết thành hư thân.
Muốn cho vợ quí, con thương,
Van anh sớm bỏ con đường bê tha.
Đêm qua anh đi nhậu về,
Đàng hoàng lịch sự bay đi... rất nhiều.
Từ đó, gã tự hỏi: Phe đờn bà con gái sẽ nhìn hiện tượng nhậu như thế nào và sẽ nghĩ gì về kẻ say xỉn?
Công bằng mà nói: Phe đờn bà con gái không uống rượu, nhưng lại rất khổ vì rượu.
Không cần nói ra thì ai cũng biết những hậu quả nghiêm trọng rượu đã gây nên. Nếu nhậu ở nhà thì mệt cho bà xã, vừa phải lo nấu nướng, lại vừa phải lo thu dọn. Chiến trường thật ngổn ngang và nồng nặc khi cuộc vui vừa tàn. May phúc nếu các chiến hữu còn tỉnh táo biết đường về và ông chồng leo lên giường ngủ một giấc. Bằng không, các chiến hữu cứ ngồi cù cưa, hát hỏng hay tâm sự còm với nhau, còn ông chồng lại quay ra quậy phá, chửi bới hàng xóm, đánh đập vợ con thì quả thật là hết nước nói.
Trái lại, nếu nhậu ở tiệm chắc chắn sẽ phải hao tốn giữa lúc kinh tế gia đình đang gặp nhiều khó khăn, đồng thời cũng không bảo đảm được sự trong sáng. Có giời mới biết. Ấy là gã chưa đá động tới những tai hại về sức khỏe, nhất là về hạnh phúc, bởi vì hầu hết các gia đình lục đục hay hục hặc với nhau phần lớn đều có chung một hiện tượng, đó là ông chồng say xỉn.
Một tác giả thuộc phe kẹp tóc, sau khi quan sát những biến động trong khu xóm, đã ghi nhận như sau:
"Có hai gia đình ly dị thì cả hai ông chồng đều là những hũ hèm, dù họ đều là những người có học, một ông kỹ sư và một ông phó giám đốc. Có ba phụ nữ góa bụa còn khá trẻ, thì ba người chồng của họ đều chết vì rượu.
* Một người chồng vì say, gây ra tai nạn giao thông bị chấn thương sọ não.
* Một người khác không say nhưng lại do một kẻ say tông vào anh, gây thương tích nghiêm trọng và anh đã mất ở bệnh viện.
* Một người chồng khác qua đời vì đã "tự tử dần" trong rượu, bởi vì rượu đã hủy hoại lá gan lẫn nhân cách của anh ta...
Và cho dù không gây ra điều gì nghiêm trọng chăng nữa, thì chẳng người vợ nào hứng thú khi ông chồng mỗi tối về nhà với bộ mặt đỏ gay, mồm sặc mùi rượu và "ấn tượng" hơn là còn nôn thốc nôn tháo. Một phụ nữ có đứa con đau ốm liên miên, chị bảo vì nó là "đứa con của tối thứ Bảy". Chồng chị hay nhậu mỗi cuối tuần và sau khi đã ngà ngà ông ấy liền tìm đến chị và kết quả là đứa con duy nhất của họ cứ oặt ẹo hoài...
Một bà mẹ suốt đời quá khổ vì có ông chồng uống rượu, nên khi cô con gái xinh đẹp tới tuổi lấy chồng, có bao chàng trai theo đuổi, bà chỉ yêu cầu chàng rể tương lai một điều kiện duy nhất, đó là không uống... rượu".
Theo một tài liệu thống kê mới đây của tờ báo Le Figaro thì hàng năm tại nước Pháp có tới 40,000 người chết vì rượu và rượu là nguyên nhân thứ ba gây nên tử vong, sau bệnh ung thư và các bệnh tim mạch. Vì thế, người Pháp không ngần ngại gọi rượu là chất ma túy độc hại.
Trước những hậu quả nghiệt ngã ấy, theo gã ghi nhận thì lập trường cánh đờn bà con gái được chia thành hai phe.
Phe thứ nhất là phe chống đối quyết liệt, nhất định không thỏa hiệp với nhậu. Phải dùng mọi biện pháp từ yêu thương đến cứng rắn khai trừ rượu cho bằng được. Chẳng hạn trong những dịp giỗ tết, phải giảm bớt lượng rượu tối đa, phải nghe ngóng và khi thấy có hơi men trong nhà, thì lập tức và kiên quyết dập tắt.
Phe thứ hai là phe nghĩ rằng: già néo thì đứt dây, trước một hiện tượng hiển nhiên không thể xóa bỏ được, đành phải tìm giải pháp sống chung với rượu. Cũng như đồng bào vùng đồng bằng sông Cửu Long, năm nào cũng bị ngập nước, nên đành phải đưa ra những cách thế sống chung với lụt. Giải pháp này được một chị mô tả như sau:
"Không cho ổng đi thì không được, vì làm sao mà ngăn chặn. Tôi đành vớt vát: anh nhậu in ít thôi. Dĩ nhiên là tôi được nghe ổng hứa những lời ngọt ngào như rót vào tai: Ừ, anh biết rồi, chỉ phá mồi chứ uống có vài lon..."
Tranh thủ việc ổng còn biết nể vợ và nghe lời vợ mà tôi kềm bớt, giữ ổng ở nhà được bữa nào hay bữa nấy. Ví dụ có ai mời thì tôi lấy lý do sinh nhật con, kỷ niệm ngày gặp nhau, quen nhau, yêu nhau, cưới nhau... để tổ chức tại nhà cho ổng bớt đi. Thậm chí đến cả lần cãi nhau đầu tiên, tôi cũng tổ chức kỷ niệm bằng một bữa ăn thịnh soạn ngon lành. Thế mà cũng không giữ chân được ổng mọi nơi mọi lúc. Dù cứng tay chiều chồng, buộc được ổng ở nhà một tháng, thì con ma men trong người ổng ít ra cũng sổng hết một hai ngày.
Mà những ngày ấy thì ôi thôi không sao kể xiết. Nói ra thì ổng bảo: "Có phải ngày nào anh cũng đi đâu, có phải anh mèo mỡ gì đâu. Tiền lương anh nộp hết cho em. Lâu lâu mới nhậu một bữa thì phải cho anh nhậu lâu lâu chứ?"
Chồng tôi vốn rất hiền và thương vợ, tuy lúc xỉn ổng có quậy, nhưng là quậy hiền, nên tôi vừa giận lại vừa buồn cười, vừa tức lại vừa thương mà chẳng thể nào bỏ ổng được. Bạn có biết không, ổng lấy cớ lâu lâu mới được vợ "thả" cho đi một lần, nên ông cũng thả giàn luôn, tới khi "lết bánh" mới về. Đến nhà, ổng dùng khổ nhục kế như tự đá vào vách, đập đầu vào tường... để mình thấy tội nghiệp, sợ ổng đau, trúng gió nên ráng mà lôi ổng vào giường để xoa dầu.
Vậy mà ổng còn làm eo, có chịu đi liền cho đâu. Cứ nằm ì ra đó... Đó là lúc xỉn chưa tới bến, chứ còn khi tới bến rồi, ổng mở cửa tủ mà tưởng mở toilet, báo hại bao nhiêu quần áo đều bị ướt đẫm, phải mang đi giặt... Rồi có mấy ông sang hơn nữa đổ bia vào giầy rồi thi nhau xem tên nào uống cạn nhanh nhất.
Rồi lại còn cái nạn chờ chồng, chỉ có những bà có chồng nhậu mới thấu hiểu. Chuyện mất tiền, mất xe, thậm chí cả tai nạn đâu phải là hy hữu. Mà đang vui, chẳng ông nào chịu điện thoại về một tiếng vì ngán bị bạn chê là sợ vợ, mà ổng cũng không muốn gọi vì ngán bị mình càm ràm làm ổng mất vui. Thà cứ xả láng đi rồi về chuộc lỗi sau vậy. Dù đang giận và đang tức, mà thấy ổng chân nam đá chân chiêu lò dò về đến nhà, ngã vật xuống đất, thì nỗi vui mừng đã chế ngự được bao nhiêu tức giận... Thôi thì giảm được chừng nào hay chừng nấy. Cũng đành chấp nhận giải pháp sống chung với rượu. Miễn là ổng biết hạn chế, biết yêu thương mình lúc tỉnh, thì mình cũng sẵn sàng chiều ổng mỗi khi ổng xỉn".
Trước khi kết luận, gã xin kể lại một vài mẩu chuyện luợm lặt được trên báo chí thành Hồ để làm giảm bớt bầu khí căng thẳng. Mẩu chuyện thứ nhất được gọi là "nụ hôn kinh hồn". Đây không phải là là nụ hôn "cẩu xực" làm mất cái lỗ tai đối thủ của võ sĩ Mike Tyson trong một trận đấu quyền anh đầy tai tiếng.
Mới đây ông Hai, một đệ tử Lưu Linh, vì quá hứng trong một chầu nhậu đến "quỷnh cà ná", đã ôm lấy ông Tư, người cùng xóm, tỉ tê tâm sự, rồi đột nhiên cắn một phát, tiện đứt cái lỗ tai của chiến hữu do tình cảm trào dâng như men rượu đế. Sau đó vì quá hối hận, ông Hai đã cầm dao chặt phăng ngón tay trỏ của mình để mong... chuộc lại lỗi lầm!
Mẩu chuyện thứ hai được gọi là "người có võ gồng". Trong một bữa nhậu, khi đã xừng xừng, một anh bạn bèn nổ: Tao có võ gồng. Một khi đã gồng lên thì dao chém vào đều bật tung ra hết.
Thấy các chiến hữu không tin, anh ta bèn xắn áo lên, đưa ra một cánh tay gân guốc và bảo: Cho tụi bay thử.
Nghe vậy, một chiến hữu bèn vác dao làm liền. Phập một nhát, tay anh ta đầm đìa những máu. Và thế là anh ta hét toáng lên: Tao nói giỡn, tại sao tụi bay lại làm thật.
Từ những điều vừa trình bày, gã xin lặp lại câu hỏi: Phải nhậu như thế nào cho đáng mặt mày râu? Theo gã nghĩ thì từ bản chất rượu không phải là điều xấu. Các bác sĩ cũng nói: Uống ít rượu mỗi ngày, có thể làm giảm nguy cơ tim mạch.
Đúng vậy bên Tây bữa ăn nào cũng phải uống ruợu vang đỏ bất kể đờn ông hay đờn bà, ấy thế mà người Tây ít bị cholesterol và bệnh tim mạch đấy. Sở dĩ rượu dẫn tới những hậu quả xấu là do người uống rượu không biết kềm chế và không biết tự đặt cho mình những lằn mức, những giới hạn. Thực vậy, khi ngồi vào bàn nhậu, phải biết giữ lấy nhân cách của mình. Rồi lại còn phải biết khi nào nên uống, còn khi nào phải sì tốp. Và khi đã đủ, thì dù có bị mời mọc, cũng phải thôi và một giọt cũng không.
Một tác giả khác đã tóm lược như sau: "Cái chính là người nhậu phải có 'bản lãnh đờn ông', biết lúc nào thì dừng lại. Hoàn cảnh gia đình mỗi người mỗi khác, nhưng tất cả đều phải nằm trong giới hạn cho phép. Mà người cấp phép lại chính là bà... vợ yêu quí của mình".
Và như vậy: Mình phải làm chủ rượu, chứ đừng bao giờ để cho rượu làm chủ mình.
Gã Siêu
Phiếm luận của Gã Siêu Một trong những chứng bệnh của phe đờn ông con giai, khiến cho quí bà quí cô nhiều khi phải nhăn mặt "âm thầm gặm nhấm nỗi đớn đau cô đơn" của mình, đó là chứng bệnh nhậu.
Để diễn tả nỗi đớn đau vò võ ấy, người ta đã nhái theo bài hát "Hòn vọng phu" như sau:
Bao nhiêu đêm cầm roi đứng đợi chồng về,
Bao nhiêu đêm vòng tay đứng nghe chồng thề.
Không hiểu bên Tây, người ta nhậu ra làm sao và nhậu theo phong cách nào? Chứ còn tại Việt Nam, người ta nhậu ở mọi nơi, trong mọi lúc và với bất kỳ lý do nào. Vui cũng nhậu, buồn cũng nhậu và thậm chí muốn nhậu là nhậu, chẳng cần lý do nào sốt.
Vì vậy, phong trào nhậu cứ "liên tục phát triển". Chả thế mà đất nước mình thuộc vào hạng nghèo rớt mồng tơi, nhưng lại có mặt đầy đủ những thứ bia nổi tiếng trên thế giới và hàng năm người ta sản xuất ra không biết bao nhiêu triệu lít bia.
Rồi trong những ngày gần đây tại Saigon, xuất hiện hàng loạt những "làng nướng", làng "lẩu"... Cứ chiều chiều đi ngang qua những thứ làng này, mùi thịt thà cá mú bốc lên làm điếc mũi hàng xóm. Tất cả những điều ấy, gã đã có dịp trình làng. Riêng hôm nay, gã sẽ nhìn hiện tượng nhậu dưới góc độ của anh đờn ông cũng như của chị đờn bà, để rồi đi đến một kết luận cụ thể, đó là ta phải nhậu như thế nào cho đáng mặt mày râu.
Tuy nhiên, trước khi đi sâu vào chi tiết, gã xin đề cập tới vị sư tổ của trường phái nhậu, đó chính là Lưu Linh. Theo sách vở thì Lưu Linh tự là Bá Luân, người đời Tấn. Ông thuộc nhóm "thất hiền", tức là một trong bảy vị hiền tài ở Trúc Lâm, tính tình phóng khoáng, thích uống rượu lại giỏi thơ văn. Ông đã để lại cho đời một bài thơ bất hủ, ca ngợi cốt cách phong lưu của việc uống rượu. Bài thơ ấy mang tựa đề là "tửu đức tụng". Chả thế mà trong "Cung oán ngâm khúc" có câu:
Cờ tiên, rượu thánh ai bằng,
Lưu Linh, Đế Thích là làng tri âm.
Tục truyền rằng: vào một đêm trăng thanh gió mát, ông ngồi uống rượu và ngâm thơ với các "chiến hữu" trên một chiếc thuyền. Trong lúc cao hứng, ông đứng lên, loạng choạng bước tới mũi thuyền. Nhìn thấy vầng trăng lung linh dưới đáy nước mà cứ ngỡ là lơ lửng trên bầu trời, ông liền giang tay nhảy xuống ôm lấy trọn vầng trăng và thế là... dòng nước cuốn trôi. Từ đó cho đến nay, dân bợm nhậu vốn thường được gọi là đệ tử của Lưu Linh và tôn ông làm sư tổ của mình. Nhiều người cho rằng: Đối với phần lớn đờn ông con giai, thì tình yêu đi vào trái tim thường phải rẽ qua ngả đường của bao tử. Điều đó chứng tỏ rằng anh đờn ông con giai nào cũng khoái ăn ngon. Thế nhưng, đồ ăn thịnh soạn mà thiếu chất cay cay để đưa mồi thì cũng hóa thành nhạt nhẽo như người xưa đã bảo:
Cỗ không rượu như kèn không trống Thổi kèn mà thiếu tiếng trống thì chán mớ đời.
Chính vì vậy, rượu đã xuất hiện từ một thuở rất xa xưa và có mặt trên từng cây số nơi các dân tộc, từ Đông sang Tây, từ cổ chí kim và làm thành nét đẹp riêng của văn hóa. Chả thế mà trong ngành du lịch, người ta đã đưa ra chiêu bài nền "văn hóa ẩm thực" của dân tộc mình để thêm phần hấp dẫn hầu dễ bề móc túi du khách.
Gã không biết ai là người đầu tiên đã chế biến nên rượu. Thôi thì đành dựa vào Kinh thánh Kitô Giáo vậy. Theo sách Sáng Thế thì sau cơn đại hồng thủy, khi nước đã rút hết, thì Noah đã trồng nho và làm rượu. Ông cũng đã nhậu một chầu túy lúy với những xị rượu đầu tiên của mình. Và thế là chuyện nhậu được phổ biến và trở thành một tập tục của loài người. Hai tên bạn khố rách áo ôm lâu ngày gặp nhau, thế nào cũng phải làm sương sương với nhau vài táo. Các chính khứa hội đàm "mí" nhau và khi cuộc hội đàm kết thúc, thế nào cũng phải có màn chiêu đãi tiệc tùng. Cũng bởi lẽ ấy, mà các cụ ta ngày xưa đã bảo:
Nam vô tửu như kỳ vô phong, có nghĩa là đờn ông con giai mà không biết uống rượu thì như cờ treo mà không có gió. Ủ rũ.
Gã xin ghi lại nơi đây tâm sự buồn của một anh con giai không biết nhậu, được đăng trên một tờ báo của giới kẹp tóc:
"Khi còn độc thân mỗi lần được bạn bè mời đi dự đám tiệc, tôi đều phải len lén chọn những bàn tập trung phái nữ và cũng chọn cho mình một loại thức uống giống y như họ là một chai... nước ngọt! Trong lúc bạn bè cùng "hệ" đang hí hửng với những ly bia vàng óng, sóng sánh bọt, tưng bừng hô vang "Zdoô, zdoô..." một cách hết sức sôi động, thì tôi chỉ biết cắm cúi gắp lấy gắp để cho đến món cuối cùng hầu được... ra về! Đến khi lập gia đình, điều kém may mắn này lại càng được bộc lộ rõ ràng hơn.
Ngay vào ngày cưới, thường chú rể là người "bị" uống nhiều nhất. Hết bàn này đến bàn khác, hết người này chúc mừng đến người kia mời mọc. Mặc dù đã "tự nhủ lòng" phải kiềm chế tối đa để bảo đảm cho một đêm tân hôn... cực kỳ tỉnh táo, nhưng trước những lời chúc tụng quá ư chân thành của bạn bè, của bà con hai họ, tôi cũng ráng gồng mình... uống, như để nuốt cạn từng lời chúc mừng chí tình chí nghĩa ấy!
Cho tới bàn cuối cùng, tôi chỉ còn nhớ được mang máng hình như có ai đó đã... vác tôi ra xe taxi rồi đưa về nhà trước khi tàn tiệc cưới! Đến khi giật mình tỉnh giấc đã là bảy giờ sáng của ngày hôm sau và điều chắc chắn rằng trong đêm tân hôn đó, chú rể vẫn còn là chú rể và tất nhiên cô dâu cũng vẫn còn là cô dâu, chẳng chút mảy may xây xước.
Đâu đã hết, điều kém may mắn ấy vẫn còn theo đuổi tôi cho đến bây giờ. Chẳng là gia đình bên vợ tôi rất đông người, bốn anh em trai cộng thêm với ba người anh cột chèo, vị chi là bảy người và ai cũng uống bia như uống... nước mía, chỉ lẻ loi mình tôi là "yếm thế".
Những lúc giỗ tết, tôi chỉ còn biết ngồi khép nép bên vợ để được "che chở" khỏi bị ép uống... Có thể nhiều bà vợ cứ nghĩ chồng mình không biết uống rượu là một điều hạnh phúc, nhưng các bà đâu có thể hiểu hết được những "nỗi thẹn thùng" của các ông mỗi khi đụng chuyện. Đàn ông đàn anh như tôi mà không biết uống rượu quả đáng xấu hổ. Vì thế, nếu cho tôi một điều ước, tôi sẽ chẳng do dự nói ngay rằng: Phải chi tôi cũng biết... nhậu".
Nếu như cô gái lỡ thời đã tâm sự: Không chồng khổ lắm chị em ơi! Thì hẳn anh chàng này cũng phải lớn tiếng mà kêu lên: Không nhậu khổ lắm anh em ơi!
Đã vậy, nhiều lúc chẳng muốn nhậu mà cũng vẫn bị nhậu và bắt buộc phải nhậu, thì nào có khoái, có vui sướng gì cho cam. Dĩ nhiên ở đây gã không bàn tới những vị sáng say chiều xỉn tối lăn quay, thuộc hàng cao thủ võ lâm, bợm nhậu mãn tính hay dân ghiền hạng nặng, dám vỗ ngực tuyên bố: Thà bỏ... vợ còn hơn bỏ... nhậu.
Nhưng chỉ xin đề cập đến những đấng thường thường bậc trung, mỗi khi nhậu đều có những lý do chính đáng và lắm lúc có cả giấy phép của... bà xã nữa. Vậy tại sao những đấng ấy lại nhậu, hay nói một cách khác, những đấng ấy nhậu để làm gì? Dựa vào một bài báo của giới phụ nữ, gã xin bổ túc và đưa ra những lý do khiến người ta nhậu một cách rất chính đáng.
Lý do thứ nhất, đó là phải nhậu thì mới có tiền. Mới nghe qua lời phát biểu này thì thấy nó có vẻ vô lý, bởi vì theo luật kinh tế: càng đông vui thì lại càng hao. Nhậu miết thì thể nào cũng mắc chứng "viêm màng túi" kinh niên. Thế nhưng, nếu suy nghĩ một chút, gã thấy cũng đúng.
Có một anh bạn, chủ một doanh nghiệp tư nhân, vốn được xem là "chuyên gia" nhậu. Gọi điện thoại tìm anh ta thường được nghe con gái anh ta trả lời: Ba con đi nhậu rồi.
Vợ anh ta phải "thay" chồng quán xuyến công việc sản xuất, trông coi cơ sở kiêm luôn nghề... "chỉ điểm": Anh ấy đang ngồi với ông nọ, ông kia ở quán...
Còn anh ta thì lại tâm sự: Nhậu hoài chán lắm, ở nhà với vợ con thích hơn, nhưng có nhậu mới ký được nhiều hợp đồng làm ăn. Hoàn tất hợp đồng, lời lỗ gì cũng lại... nhậu tiếp để kiếm hợp đồng mới, cứ thế mà nhậu quanh năm.
Có lẽ đúng như vậy. Thời buổi kinh doanh cạnh tranh khốc liệt, cơ sở của anh ta thì nhỏ, vốn ít nhưng đều đều có hợp đồng để làm, đủ trả lương công nhân, nhà xưởng, điện nước, thuế má và quan trọng nhất, đã nuôi sống cả gia đình bố mẹ, vợ chồng và ba cô con gái. Tuy rằng trong đó có công sức không ít của người vợ: hiểu chồng và giúp chồng.
Lý do thứ hai đó là nhậu để tỏ ra có tí quyền, tí chức và cũng bề thế như ai.
Một anh bạn khác, ngoài những tiệc nhậu ở nhà hàng được người ta mời, anh ta cũng thường tổ chức nhậu tại nhà với danh nghĩa là đám giỗ. Giỗ bên nội, rồi giỗ bên ngoại. Khách được mời toàn những nhân vật có "máu mặt", thiên hạ nhìn vào phải nể phục sát đất quyền cao chức trọng của anh ta. Có lần người ta thắc mắc không biết là giỗ ai, hỏi ra mới hay: Giỗ người em họ của ông nội, mà khi mất mới có vài tuổi, gia chủ cũng chẳng còn nhớ tên là gì, nên chỉ gọi là giỗ... ông trẻ!
Lý do thứ ba đó là nhậu để thắt chặt tình bè bạn.
Như trên gã đã nói: hai tên bạn cũ lâu ngày gặp nhau thì chỉ cần làm mấy ly là sống lại biết bao nhiêu kỷ niệm êm đẹp của một thuở xa xưa. Hơn thế nữa, khi rượu đã ngấm vào lục phủ ngũ tạng, lúc bấy giờ các chiến hữu tha hồ mà "nổ", sẵn sàng tỏ lộ tâm can tì phế của mình. Những chuyện không thể nói với bà xã, thì lúc này là lúc thuận tiện nhất để tuôn ra rông rổng cho các chiến hữu.
Nếu ở nhà: Nhất vợ nhì giời. Còn bây giờ và ở đây: Trời chỉ bằng cái vung, thì bà xã chắc chắn cũng chẳng là cái thớ gì cả.
Rượu mở mang trí hóa, giải bớt cơn sầu và làm cho tình nghĩa tuôn chảy tràn trề và lai láng khiến các chiến hữu sẵn sàng cảm thông, không phải chỉ chín bỏ làm mười, mà nhiều khi chín bỏ làm mười một mười hai không chừng. Và khi tới màn chót của vở kịch, các chiến hữu sẽ hôn nhau chùn chụt, hay ôm lấy nhau mà khóc thút thít, lâm ly bi đát hơn cả đờn bà con gái bội phần.
Sau cùng, lý do thứ tư đó là nhậu để nói cho thiên hạ biết rằng: Ta đây là loại đờn ông chính hiệu con nai vàng.
Thực vậy, bộ râu là dấu chỉ để phân biệt đờn ông đờn bà, như các cụ ta ngày xưa đã bảo:
Đờn ông không râu bất nghì,
Đờn bà không vú lấy gì nuôi con.
Thế nhưng, ngoài bộ râu ra, việc nhậu cũng đã trở nên dấu chỉ để phân biệt đờn bà đờn ông. Sở dĩ như vậy vì dân nhậu hầu như toàn đờn ông, còn đờn bà hầu như chẳng thấy... nhậu bao giờ. Gã chỉ xin nói "hầu như" mà thôi, bởi vì cũng có những chị đờn bà uống rượu như hũ chìm và cũng có những chị đàn bà... mọc râu mọc ria, oai ra phết. Trong khi đó lại có những anh đờn ông chỉ biết "phá mồi" và cằm thì nhẵn nhụi trơn tru, có vác kính lúp ra soi cũng chẳng tìm thấy được một cọng râu.
Tuy nhiên, điều quan trọng hơn, đó là khi nhậu sừng sừng, người ta mới dễ bề tỏ ra mình là đấng "nam nhi đại trượng phu". Gã tìm thấy trên báo đã nếu trên tâm sự của một anh bạn đi tìm "bản lãnh đờn ông" trong việc nhậu như thế này:
"Sau khi lấy vợ, nếu không đi nhậu, các chiến hữu cho rằng bây giờ tôi sợ vợ", không xài được. Tự ái nổi lên, chứng tỏ ta đây không sợ ai hết. Thế là từ đó tôi luôn luôn sống trong tình trạng "bạn nhậu một bên và em một bên". Cho đến lúc vợ tôi "tuyên chiến" với nhậu, nàng luôn than vãn cằn nhằn, kêu ca, nổi giận bảo rằng thật bất hạnh khi kết hôn với một cái... hũ hèm, thì tôi thực sự hoảng hốt. Buồn quá, tôi lại tiếp tục tìm vui trong men nhậu.
Khi nhậu, tôi được các chiến hữu tung hô, được em út tôn sùng và nhiều thứ mà lúc tàn canh tôi không có được... Trong bàn nhậu tất cả đều bình đẳng, hơn thế nữa, nó giải tỏa biết bao buồn bực. Cùng lứa với tôi, bạn bè nhiều đứa đã giàu sang thành đạt, còn tôi vẫn cứ quèn. Nhưng trong bàn nhậu, "nhà ngói cũng như nhà tranh", tôi cũng ngon như ai nếu biết chịu chơi và chịu chi... Vợ tôi cho rằng tôi là người yếu đuối, nhưng khi nhậu tôi thấy mình có đủ "bản lãnh đờn ông". Bản lĩnh đờn ông này được bạn cảm nhận khi ruợu đã thấm vào như sau:
1. Bạn cảm thấy mình là người thông minh.
Ý kiến bạn hoàn toàn đúng và dĩ nhiên ý kiến kẻ khác hoàn toàn sai. Bạn sẵn sàng "nhả ngọc phun châu" với bất kỳ ai, về bất cứ đề tài nào, còn thiên hạ đang vểnh tai hướng tới bạn để lắng nghe. Rốt cuộc, sự cãi vã là điều không thể tránh khỏi khi mọi người đều... thông minh.
2. Bạn cảm thấy mình là người giàu nhất trên thế giới.
Thậm chí sẵn sàng bao luôn bữa tiệc, hay mua thêm rượu mời mọi người cùng uống, bởi vì bạn luôn có sẵn một núi tiền. Đối với bạn, thân xác chỉ là cát bụi, danh vọng chỉ là mây khói và tiền bạc chỉ là... bùn đất mà thôi.
3. Bạn cảm thấy mình là người gan dạ.
Bạn sẵn sàng đánh nhau với bất cứ ai. Chỉ cần một lời nói trái tai, lập tức người ấy trở thành kẻ thù của bạn. Không một ai có thể đánh bạn phun máu đầu, bởi vì bạn không hề lùi bước trước bất kỳ đối thủ nào. Bạn là người gan dạ cơ mà. Khi đã xỉn rồi, bạn cứ giữa đường mà đi, mặc cho xe cộ thi nhau tránh. Thậm chí, bạn còn dám bò bằng "bốn chân" về nhà trước mặt vợ con và hàng xóm.
4. Bạn cảm thấy mình là người lịch sự.
Bởi vì bạn luôn mồm xin lỗi thiên hạ. Thậm chí khi bị va vào cột đèn sưng u cả đầu, thế mà bạn vẫn cứ đứng xin lỗi cho tới bao giờ cái cột đèn trả lời mới thôi. Có khi bạn xin phép chủ nhà để đi về tới mười lần mà vẫn luẩn quẩn chưa ra khỏi được phòng nhậu.
5. Bạn cảm thấy mình là người rất cẩn thận.
Thậm chí còn nhớ móc chân vào sườn xe đạp trước khi làm một giấc ngủ ngon lành ngay bên lề đường.
6. Sau cùng, bạn cảm thấy mình là người có trí nhớ tốt.
Bởi vì những việc tưởng chừng như đã qua đi từ đời tám tai ông Bành tổ, thế mà bạn vẫn nhớ và nhắc đi nhắc lại hàng chục lần, chỉ vì sợ kẻ khác quên hay không hiểu.
Những biểu lộ "bản lĩnh đờn ông" trên đây khi rượu vào, nếu ở mức độ trung bình thì tạo được một bầu khí vui vẻ và đôi lúc đem lại nét dễ thương, nhưng nếu đi tới chỗ thái quá, chắc chắn sẽ tạo nên những bất ổn, bởi vì: Rượu thì trắng, nhưng uống vào sẽ làm cho mặt đỏ và nhuộm đen tư cách. Gã xin ghi lại nơi đây bài thơ của Đăng Châu:
Đêm qua anh đi nhậu về,
Đợi anh, em thấy tái tê cõi lòng.
Khi đi lịch sự đàng hoàng,
Khi về xấc bấc, xang bang phát rầu.
Nào đâu chiếc kính đổi màu,
Cái máy di động mua đầu mùa xuân.
Nào đâu cái mũ phớt đen,
Cái "dây bao tử"...mất luôn, khỏi tìm.
Nói ra sợ tiếng sợ tăm,
Van anh, anh hãy giữ thân giữ mình.
Như xưa anh vốn hiền lành,
Cứ ăn nhậu miết, riết thành hư thân.
Muốn cho vợ quí, con thương,
Van anh sớm bỏ con đường bê tha.
Đêm qua anh đi nhậu về,
Đàng hoàng lịch sự bay đi... rất nhiều.
Từ đó, gã tự hỏi: Phe đờn bà con gái sẽ nhìn hiện tượng nhậu như thế nào và sẽ nghĩ gì về kẻ say xỉn?
Công bằng mà nói: Phe đờn bà con gái không uống rượu, nhưng lại rất khổ vì rượu.
Không cần nói ra thì ai cũng biết những hậu quả nghiêm trọng rượu đã gây nên. Nếu nhậu ở nhà thì mệt cho bà xã, vừa phải lo nấu nướng, lại vừa phải lo thu dọn. Chiến trường thật ngổn ngang và nồng nặc khi cuộc vui vừa tàn. May phúc nếu các chiến hữu còn tỉnh táo biết đường về và ông chồng leo lên giường ngủ một giấc. Bằng không, các chiến hữu cứ ngồi cù cưa, hát hỏng hay tâm sự còm với nhau, còn ông chồng lại quay ra quậy phá, chửi bới hàng xóm, đánh đập vợ con thì quả thật là hết nước nói.
Trái lại, nếu nhậu ở tiệm chắc chắn sẽ phải hao tốn giữa lúc kinh tế gia đình đang gặp nhiều khó khăn, đồng thời cũng không bảo đảm được sự trong sáng. Có giời mới biết. Ấy là gã chưa đá động tới những tai hại về sức khỏe, nhất là về hạnh phúc, bởi vì hầu hết các gia đình lục đục hay hục hặc với nhau phần lớn đều có chung một hiện tượng, đó là ông chồng say xỉn.
Một tác giả thuộc phe kẹp tóc, sau khi quan sát những biến động trong khu xóm, đã ghi nhận như sau:
"Có hai gia đình ly dị thì cả hai ông chồng đều là những hũ hèm, dù họ đều là những người có học, một ông kỹ sư và một ông phó giám đốc. Có ba phụ nữ góa bụa còn khá trẻ, thì ba người chồng của họ đều chết vì rượu.
* Một người chồng vì say, gây ra tai nạn giao thông bị chấn thương sọ não.
* Một người khác không say nhưng lại do một kẻ say tông vào anh, gây thương tích nghiêm trọng và anh đã mất ở bệnh viện.
* Một người chồng khác qua đời vì đã "tự tử dần" trong rượu, bởi vì rượu đã hủy hoại lá gan lẫn nhân cách của anh ta...
Và cho dù không gây ra điều gì nghiêm trọng chăng nữa, thì chẳng người vợ nào hứng thú khi ông chồng mỗi tối về nhà với bộ mặt đỏ gay, mồm sặc mùi rượu và "ấn tượng" hơn là còn nôn thốc nôn tháo. Một phụ nữ có đứa con đau ốm liên miên, chị bảo vì nó là "đứa con của tối thứ Bảy". Chồng chị hay nhậu mỗi cuối tuần và sau khi đã ngà ngà ông ấy liền tìm đến chị và kết quả là đứa con duy nhất của họ cứ oặt ẹo hoài...
Một bà mẹ suốt đời quá khổ vì có ông chồng uống rượu, nên khi cô con gái xinh đẹp tới tuổi lấy chồng, có bao chàng trai theo đuổi, bà chỉ yêu cầu chàng rể tương lai một điều kiện duy nhất, đó là không uống... rượu".
Theo một tài liệu thống kê mới đây của tờ báo Le Figaro thì hàng năm tại nước Pháp có tới 40,000 người chết vì rượu và rượu là nguyên nhân thứ ba gây nên tử vong, sau bệnh ung thư và các bệnh tim mạch. Vì thế, người Pháp không ngần ngại gọi rượu là chất ma túy độc hại.
Trước những hậu quả nghiệt ngã ấy, theo gã ghi nhận thì lập trường cánh đờn bà con gái được chia thành hai phe.
Phe thứ nhất là phe chống đối quyết liệt, nhất định không thỏa hiệp với nhậu. Phải dùng mọi biện pháp từ yêu thương đến cứng rắn khai trừ rượu cho bằng được. Chẳng hạn trong những dịp giỗ tết, phải giảm bớt lượng rượu tối đa, phải nghe ngóng và khi thấy có hơi men trong nhà, thì lập tức và kiên quyết dập tắt.
Phe thứ hai là phe nghĩ rằng: già néo thì đứt dây, trước một hiện tượng hiển nhiên không thể xóa bỏ được, đành phải tìm giải pháp sống chung với rượu. Cũng như đồng bào vùng đồng bằng sông Cửu Long, năm nào cũng bị ngập nước, nên đành phải đưa ra những cách thế sống chung với lụt. Giải pháp này được một chị mô tả như sau:
"Không cho ổng đi thì không được, vì làm sao mà ngăn chặn. Tôi đành vớt vát: anh nhậu in ít thôi. Dĩ nhiên là tôi được nghe ổng hứa những lời ngọt ngào như rót vào tai: Ừ, anh biết rồi, chỉ phá mồi chứ uống có vài lon..."
Tranh thủ việc ổng còn biết nể vợ và nghe lời vợ mà tôi kềm bớt, giữ ổng ở nhà được bữa nào hay bữa nấy. Ví dụ có ai mời thì tôi lấy lý do sinh nhật con, kỷ niệm ngày gặp nhau, quen nhau, yêu nhau, cưới nhau... để tổ chức tại nhà cho ổng bớt đi. Thậm chí đến cả lần cãi nhau đầu tiên, tôi cũng tổ chức kỷ niệm bằng một bữa ăn thịnh soạn ngon lành. Thế mà cũng không giữ chân được ổng mọi nơi mọi lúc. Dù cứng tay chiều chồng, buộc được ổng ở nhà một tháng, thì con ma men trong người ổng ít ra cũng sổng hết một hai ngày.
Mà những ngày ấy thì ôi thôi không sao kể xiết. Nói ra thì ổng bảo: "Có phải ngày nào anh cũng đi đâu, có phải anh mèo mỡ gì đâu. Tiền lương anh nộp hết cho em. Lâu lâu mới nhậu một bữa thì phải cho anh nhậu lâu lâu chứ?"
Chồng tôi vốn rất hiền và thương vợ, tuy lúc xỉn ổng có quậy, nhưng là quậy hiền, nên tôi vừa giận lại vừa buồn cười, vừa tức lại vừa thương mà chẳng thể nào bỏ ổng được. Bạn có biết không, ổng lấy cớ lâu lâu mới được vợ "thả" cho đi một lần, nên ông cũng thả giàn luôn, tới khi "lết bánh" mới về. Đến nhà, ổng dùng khổ nhục kế như tự đá vào vách, đập đầu vào tường... để mình thấy tội nghiệp, sợ ổng đau, trúng gió nên ráng mà lôi ổng vào giường để xoa dầu.
Vậy mà ổng còn làm eo, có chịu đi liền cho đâu. Cứ nằm ì ra đó... Đó là lúc xỉn chưa tới bến, chứ còn khi tới bến rồi, ổng mở cửa tủ mà tưởng mở toilet, báo hại bao nhiêu quần áo đều bị ướt đẫm, phải mang đi giặt... Rồi có mấy ông sang hơn nữa đổ bia vào giầy rồi thi nhau xem tên nào uống cạn nhanh nhất.
Rồi lại còn cái nạn chờ chồng, chỉ có những bà có chồng nhậu mới thấu hiểu. Chuyện mất tiền, mất xe, thậm chí cả tai nạn đâu phải là hy hữu. Mà đang vui, chẳng ông nào chịu điện thoại về một tiếng vì ngán bị bạn chê là sợ vợ, mà ổng cũng không muốn gọi vì ngán bị mình càm ràm làm ổng mất vui. Thà cứ xả láng đi rồi về chuộc lỗi sau vậy. Dù đang giận và đang tức, mà thấy ổng chân nam đá chân chiêu lò dò về đến nhà, ngã vật xuống đất, thì nỗi vui mừng đã chế ngự được bao nhiêu tức giận... Thôi thì giảm được chừng nào hay chừng nấy. Cũng đành chấp nhận giải pháp sống chung với rượu. Miễn là ổng biết hạn chế, biết yêu thương mình lúc tỉnh, thì mình cũng sẵn sàng chiều ổng mỗi khi ổng xỉn".
Trước khi kết luận, gã xin kể lại một vài mẩu chuyện luợm lặt được trên báo chí thành Hồ để làm giảm bớt bầu khí căng thẳng. Mẩu chuyện thứ nhất được gọi là "nụ hôn kinh hồn". Đây không phải là là nụ hôn "cẩu xực" làm mất cái lỗ tai đối thủ của võ sĩ Mike Tyson trong một trận đấu quyền anh đầy tai tiếng.
Mới đây ông Hai, một đệ tử Lưu Linh, vì quá hứng trong một chầu nhậu đến "quỷnh cà ná", đã ôm lấy ông Tư, người cùng xóm, tỉ tê tâm sự, rồi đột nhiên cắn một phát, tiện đứt cái lỗ tai của chiến hữu do tình cảm trào dâng như men rượu đế. Sau đó vì quá hối hận, ông Hai đã cầm dao chặt phăng ngón tay trỏ của mình để mong... chuộc lại lỗi lầm!
Mẩu chuyện thứ hai được gọi là "người có võ gồng". Trong một bữa nhậu, khi đã xừng xừng, một anh bạn bèn nổ: Tao có võ gồng. Một khi đã gồng lên thì dao chém vào đều bật tung ra hết.
Thấy các chiến hữu không tin, anh ta bèn xắn áo lên, đưa ra một cánh tay gân guốc và bảo: Cho tụi bay thử.
Nghe vậy, một chiến hữu bèn vác dao làm liền. Phập một nhát, tay anh ta đầm đìa những máu. Và thế là anh ta hét toáng lên: Tao nói giỡn, tại sao tụi bay lại làm thật.
Từ những điều vừa trình bày, gã xin lặp lại câu hỏi: Phải nhậu như thế nào cho đáng mặt mày râu? Theo gã nghĩ thì từ bản chất rượu không phải là điều xấu. Các bác sĩ cũng nói: Uống ít rượu mỗi ngày, có thể làm giảm nguy cơ tim mạch.
Đúng vậy bên Tây bữa ăn nào cũng phải uống ruợu vang đỏ bất kể đờn ông hay đờn bà, ấy thế mà người Tây ít bị cholesterol và bệnh tim mạch đấy. Sở dĩ rượu dẫn tới những hậu quả xấu là do người uống rượu không biết kềm chế và không biết tự đặt cho mình những lằn mức, những giới hạn. Thực vậy, khi ngồi vào bàn nhậu, phải biết giữ lấy nhân cách của mình. Rồi lại còn phải biết khi nào nên uống, còn khi nào phải sì tốp. Và khi đã đủ, thì dù có bị mời mọc, cũng phải thôi và một giọt cũng không.
Một tác giả khác đã tóm lược như sau: "Cái chính là người nhậu phải có 'bản lãnh đờn ông', biết lúc nào thì dừng lại. Hoàn cảnh gia đình mỗi người mỗi khác, nhưng tất cả đều phải nằm trong giới hạn cho phép. Mà người cấp phép lại chính là bà... vợ yêu quí của mình".
Và như vậy: Mình phải làm chủ rượu, chứ đừng bao giờ để cho rượu làm chủ mình.
Gã Siêu
Bạn Gái Nhỏ To
Bùi Bích Hà
Hỏi:
Em tên Kim, 43 tuổi, nhan sắc mặn mà, lập gia đình hơn 20 năm, có 3 con gái tuổi 11, 16, và 22. Hôn nhân xuất phát từ tình yêu của cả hai bên. Sau một thời gian làm ăn khó nhọc, đời sống vật chất của gia đình ngày càng sung túc, nhà cao, cửa rộng, xe hơi mắc tiền, quần áo sang trọng, hằng năm cả nhà đi vacation 1 tháng khắp nước Mỹ, mọi người nhìn vào ai cũng khen là một gia đình hạnh phúc, một mái ấm lý tưởng. Nhưng chị ơi, có ở trong chăn mới biết chăn có rận. Chồng em rất ghen, lúc nào cũng kè kè theo em từng bước, không cho em được tham gia sinh hoạt cộng đồng và xã hội, không cho em héo lánh tới các sinh hoạt văn nghệ, ví dụ như làm thơ đăng báo (mặc dù em rất thích thơ nhạc). Khi đi party chung với nhóm bạn thân, chồng em không thích em nhảy đầm với ai khác ngoài ảnh, cho dù người mời em là một trong những bạn thân trong nhóm, có vợ đi cùng. Nếu em vì phép lịch sự mà nhận ra nhảy với bạn, khi về nhà, em sẽ bị anh gây sự và đánh đập. Mỗi lần nổi cơn ghen, anh thường dở thói vũ phu, hành hung em và đập nát đồ đạc, nhà cửa. Ðau khổ cho em hơn nữa là sau khi đánh vợ xong, anh lại xin lỗi bằng cách đòi gần gũi em, tưởng làm như vậy thì em sẽ quên hết tất cả. Càng ngày em càng cảm thấy xa cách và lạnh lùng với chồng em, trong nhà cũng như khi đi ra ngoài vì ở đâu anh cũng thường có thái độ thiếu tế nhị, khiến em nhiều lần mất mặt với bạn bè. Còn nhiều điều vô lý nữa mà em đành chịu đựng bao nhiêu năm qua vì thương 3 đứa con nhỏ và vì chồng em cũng rất thương và lo cho chúng.
Thế nhưng một ngày nọ, duyên phận đẩy đưa, xui khiến em gặp gỡ một người đàn ông khác. Cú sét ái tình đã đánh em quỵ ngã và làm thay đổi toàn diện cuộc đời em. Sau một thời gian dài năn nỉ mãi, chồng em mới chịu cho em đi tập thể dục tại một cái gym gần nhà, nơi đây, em đã gặp và quen biết một người đàn ông trẻ, còn độc thân, nhỏ hơn em 2 tuổi, rất khôi ngô và tính tình hiền lành. Người đàn ông này cho em những cảm giác hạnh phúc mà chồng em đã không mang đến cho em. Tình cảm lạ này lôi cuốn em vào con đường ngoại tình. Càng kinh khủng hơn nữa là đứa con gái lớn của em đã biết, đã theo dõi để quay video, thu lại hình ảnh của em tay trong tay người tình. Nó hăm dọa, nói nếu không chấm dứt thì nó sẽ mách với bố nó về bí mật này. Sợ hãi và hổ thẹn, ngay tối hôm đó, em năn nỉ người tình dẫn em trốn đi vì em biết nếu chồng em hay chuyện, anh sẽ giết em chết.
Bây giờ, em và người yêu đang ở một tiểu bang khác. Em viết lá thư này trong một tình trạng quá hoang mang và đau khổ. Em biết mình đã làm một việc tày trời, bỏ chồng, bỏ cả con... Ðại gia đình hai bên đều từ bỏ em rồi. Em đang rất thương nhớ con nhưng không biết phải làm sao để có thể trở về nhà an toàn với tính ghen tuông quá độ của chồng mà em đã từng biết. Ðau đớn hơn nữa là 3 đứa con em đều đang căm giận mẹ, không chịu nói chuyện với em mặc dù em đã để lại lời nhắn trong cell phôn của chúng nó rất nhiều lần. Xin chị giúp em tìm phương cách nào đúng nhất để hành động trong lúc này. Nên trở về nhà và gánh chịu mọi hậu quả để được gần con hay là nhắm mắt xuôi chân, để mặc cho định mệnh đưa đẩy, đến đâu thì đến?
Người mẹ đau khổ.
Kim
Trả lời:
Cho đến giờ phút này, xem chừng em đã nhắm mắt đưa chân hơi nhiều, theo sự xô đẩy của những lôi cuốn mà em gọi tên là định mệnh, để trút bỏ phần trách nhiệm của chính mình trong những bước đi hết sức lầm lỡ. Khoan hãy nói tới chồng con, cha mẹ hai bên, họ hàng, bằng hữu, sự nghiệp mà em đã cùng chồng khó nhọc xây dựng, riêng bản thân em thôi, năn nỉ mới được người đàn ông kia, người tình như em gọi, nửa đêm đem em đi trốn ở một nơi xa xôi, một nơi khi thức dậy cùng với mặt trời, em vụt trở thành một người đàn bà bơ vơ, trắng tay về mọi phương diện, đối mặt với tình nhân, soi vào tấm gương tình yêu để chỉ còn nhận ra “em đã làm một việc tầy trời!” Ðịnh mệnh thường là tên tội phạm không chân dung nên dễ bị đổ vấy nhưng trong trường hợp em, nó chính là khuôn mặt người tình, là sự yếu đuối, nông nổi của lòng em, là sự vũ phu của đức lang quân, là bản tính nóng nẩy, hung bạo của cô con gái đầu lòng, ít nhiều đã chịu ảnh hưởng cung cách cư xử thiếu tình thương và sự tôn trọng của cha đối với mẹ.
Nếu ví biến cố này như một trận hỏa hoạn thì căn nhà của em đã cháy đến viên gạch cuối cùng, không còn cách nào cứu vãn nữa. Chúng ta nói chuyện với nhau bây giờ là để đóng góp chút kinh nghiệm phòng cháy cho các chị em bạn gái khác trên bờ vực của tai nạn và để cùng em tìm một con đường bình an khác, xây dựng lại đời mình.
1/ Trước hết, em than thở chồng em ghen quá, ngăn trở em sinh hoạt với đám đông. Ðến đây, chắc em đã phải nhìn nhận một cách khách quan và công bằng rằng chồng em, với giác quan nhậy bén của người đàn ông tích cực bảo vệ gia đình và con cái, đã nhìn thấy nhược điểm của vợ, những cám dỗ hiểm nguy trên con đường người vợ ấy phải bước đi hằng ngày bằng những bước chân thiếu vững chãi. Chỉ tiếc là cái cách ông ấy giúp vợ thì không đúng nên thay vì tạo thêm sức mạnh, khả năng phòng vệ nơi người vợ, ông ấy đã vô tình khoác lên mình tấm áo cai ngục, đào sâu hố ngăn cách giữa vợ chồng, thúc đẩy em đi tìm tự do thoải mái ở nơi khác, một cách liều lĩnh.
2/ Người tình trẻ hơn em hai tuổi, cũng đã 40. Yêu một người đàn bà có chồng con, có sự nghiệp, trong môi trường một phòng tập thể dục công cộng, cũng được, vì trái tim mỗi người có những lý lẽ và mệnh lệnh riêng, cả sự điên cuồng nữa. Tuy nhiên, lôi kéo người đàn bà, người mẹ ấy ra khỏi căn nhà ổn định của họ, xô đẩy họ vào cuộc mạo hiểm chỉ nhằm thỏa mãn cảm giác, khi việc đổ bể, thay vì nhận trách nhiệm, hành động để gỡ rối, bảo vệ người tình, bảo vệ mối tình, anh ta lại chỉ có thể (vì lời năn nỉ) đem người tình đi trốn, mở màn một cuộc phiêu lưu càng không có ngày mai, không có cả đường về cho người tình ấy. Như thế, em hãy trả lời với em đi, có phải là tình yêu không? Có thể nào là sự nương tựa mai sau cho em không?
3/ Cô con gái 22 tuổi của em tưởng đã tạm khôn lớn đủ để hiểu mẹ, lẽ ra đã có thể giúp mẹ ra khỏi vực sâu bằng tình thương, nước mắt hay lời kêu cứu của một đứa con, tiếc thay, cô đã chỉ có thể hành sử hung bạo với mẹ không kém gì bố. Cháu có cho em một cơ hội để quay về nhưng bàn tay cháu đưa ra lạnh lùng, khinh miệt, hành động nhẫn tâm của cháu như một yếu tố để em vin vào đó, buông mình theo cơn lốc cuốn.
4/ Ðời sống là tất cả những gì còn lại sau khi cảm giác đã qua đi. Bây giờ là lúc em phải đương đầu với thực tế và những hệ lụy đi theo nó. Chị không chắc em còn con đường trở về của một người vợ nhưng con đường của một bà mẹ sẽ cần đôi chút thời gian và rất nhiều cảm xúc từ tấm lòng chân thật của em đối với con cái. Ngay lập tức, em có thể nhờ thân nhân hai bên thăm dò tình hình với chồng em về một giải pháp nào đó lấy sự bình yên của con cái làm định hướng rồi tùy theo đấy mà sắp đặt công việc. Ðiều chị quan tâm nhất lúc này là tâm tư của em. Ðời người thường ít khi tránh khỏi những bước hụt hay va vấp. Căn bản là trót ngã rồi hãy gắng đứng dậy, rút kinh nghiệm, đừng chìm đắm trong sự thống trách muộn màng, mình hay người. Sự sống là vốn quý, còn ta còn của, còn nhiều điều hay đẹp đón đợi phía trước những bước chân đi tới với niềm tin và nghị lực. Trong đêm tối, cố đốt lên một ngọn lửa nhỏ để giữ ấm đôi chân ấy, chờ đợi bình minh chắc chắn sẽ ló dạng ở chân trời. Chuyện thật không dễ nhưng cái giá một người phải trả cho sự lầm lỡ của mình càng đắt, bản ngã đưa tới thành công của họ trong tương lai càng được tôi luyện thêm nhiều.
Thương chúc em mọi điều may mắn.
=======================================================
Bạn đọc viết
bà Kim,tất cả những điều bà nói chỉ chứng minh một điều bà là một người đàn bà vô cùng dâm đãng,luôn đòi hỏi và chìu theo nhục duc mới lạ,khg phải một người đàn bà hiểu biết và khôn ngoan,tất cả hành vi của chồng bà đều do bà gây ra,nếubà là người phụ nữ đàng hoàng,giữ đúng bổn phận người vợ,người mẹ thì chắc chồng bà đã khg như vậy,nếu chồng bà có sai,thì cũng còn các con,chúng nó cũng biết lẻ phải quấy để binh ai,bỏai,ai sai cứ sai,ta cứ giữ đúng bổn phận thì ai làm gì ta?bà ngoại tình,chìu theo dục vọng,bị con quay phim,rồi bỏ nhà theo trai,theo tục lệ ngày xưa thì bà đáng bị đóng trăn thả trôi sông hoặc bị gọt gáy bôi vôi rồi,nếu khg hiểuthì bà tìm những người hiểu biết mà hỏi,thật đáng đời cho bà,khg còn đường cho bàquay về nữa đâu,nếu chồng bà tha thứ cho bà thì ông ấy cũng thật là ngu xuẩn,vì khg có thằng đàn ông nào ngu xuẩn đến độ chấp nhận cho vợ mình đi ngủ với thằng khác,bà đúng là tệ hơn một con đĩ rẻ tiền,mong bà tìm được một thằng kép khác ngon hơn thằng cũ để thỏa mãn dục vọng tiếp tục
Post by: thếsự
----------------------------------------------
Goi co Bich Ha,
Toi nam nay 60 tuoi, ong xa 67, co con co chau ca roi, 5 thang nay ong dam ho don, va chat room, gap toan cac co gai co 35-40 , khong biet lam sao cac co tren net deu cho ong so phone va ong l/l tum lum, con cai biet duoc chung hoi ong thi ong thay phone khac, thay do cua ong doi voi toi that la te, noi nhung cau lam dau long toi, toi gian bo xuong con thi ong con lam troi, di lam (partime) ve roi het Dt va chat, nhin phone bill toi ta hoa, ong om dt ca tieng dong ho voi may co> Hoi noi mot ti thi ong noi rang leave ong alone, dung abuse ong> Ngay hom qua, toi moi noi chuyen voi 1 co gai ong gap tren net, co ta o ben Houston, co noi co la giao su anh van o ben VN,sang day theo dien ket hon va duong nhu muon ong xa toi ly di de lay co ta, co ta co khoang 40 tuoi,thai do rat la ngao man, noi rang dung goi co ta, vi ong xa cua toi noi muon gi thi cu noi chuyen voi ong ay Co oi, toi that dau kho chi muon chet cho roi.
Post by: Ngan
-----------------------------------------------------
Kinh Gui chi Kim ,
That su toi rat but xuc khi doc la thu cua chi , cung nhu bao loi chi ket toi cho nguoi chong vu phu cua chi theo toi nhan thay do chang qua la loi Ket Toi de thoa man tanh net Dam Dang cua chi ma bat cu xa hoi nao cung tu bo. Dung tuong rang chi dang song mot dat nuoc tu do dieu do cung co the chung minh SU TU DO qua tron ma khong mot gia dinh nao chap nhan trong do co chong con va gia dinh hai ben . chi bao rang con gai khong giup chi va chong chi qua vu phu nen chi cam phan. dieu nay co dung voi thuc te khong? chi bao rang o trong chan moi biet chan co ran ? vay chung toi dau co nam cung chan voi chi co biet loi noi cua chi co that hay khong?nhung xet cho cung . mot hanh dong nong noi cua chi da chung minh su ngu dot tiec thay da lam thay doi cuoc song va cach nhin cua gia dinh . mong chi co giu lay nhung gi chi con lai . Chuc chi thoa man tanh dam dan cua minh
Post by: andy tran
---
Bùi Bích Hà
Hỏi:
Em tên Kim, 43 tuổi, nhan sắc mặn mà, lập gia đình hơn 20 năm, có 3 con gái tuổi 11, 16, và 22. Hôn nhân xuất phát từ tình yêu của cả hai bên. Sau một thời gian làm ăn khó nhọc, đời sống vật chất của gia đình ngày càng sung túc, nhà cao, cửa rộng, xe hơi mắc tiền, quần áo sang trọng, hằng năm cả nhà đi vacation 1 tháng khắp nước Mỹ, mọi người nhìn vào ai cũng khen là một gia đình hạnh phúc, một mái ấm lý tưởng. Nhưng chị ơi, có ở trong chăn mới biết chăn có rận. Chồng em rất ghen, lúc nào cũng kè kè theo em từng bước, không cho em được tham gia sinh hoạt cộng đồng và xã hội, không cho em héo lánh tới các sinh hoạt văn nghệ, ví dụ như làm thơ đăng báo (mặc dù em rất thích thơ nhạc). Khi đi party chung với nhóm bạn thân, chồng em không thích em nhảy đầm với ai khác ngoài ảnh, cho dù người mời em là một trong những bạn thân trong nhóm, có vợ đi cùng. Nếu em vì phép lịch sự mà nhận ra nhảy với bạn, khi về nhà, em sẽ bị anh gây sự và đánh đập. Mỗi lần nổi cơn ghen, anh thường dở thói vũ phu, hành hung em và đập nát đồ đạc, nhà cửa. Ðau khổ cho em hơn nữa là sau khi đánh vợ xong, anh lại xin lỗi bằng cách đòi gần gũi em, tưởng làm như vậy thì em sẽ quên hết tất cả. Càng ngày em càng cảm thấy xa cách và lạnh lùng với chồng em, trong nhà cũng như khi đi ra ngoài vì ở đâu anh cũng thường có thái độ thiếu tế nhị, khiến em nhiều lần mất mặt với bạn bè. Còn nhiều điều vô lý nữa mà em đành chịu đựng bao nhiêu năm qua vì thương 3 đứa con nhỏ và vì chồng em cũng rất thương và lo cho chúng.
Thế nhưng một ngày nọ, duyên phận đẩy đưa, xui khiến em gặp gỡ một người đàn ông khác. Cú sét ái tình đã đánh em quỵ ngã và làm thay đổi toàn diện cuộc đời em. Sau một thời gian dài năn nỉ mãi, chồng em mới chịu cho em đi tập thể dục tại một cái gym gần nhà, nơi đây, em đã gặp và quen biết một người đàn ông trẻ, còn độc thân, nhỏ hơn em 2 tuổi, rất khôi ngô và tính tình hiền lành. Người đàn ông này cho em những cảm giác hạnh phúc mà chồng em đã không mang đến cho em. Tình cảm lạ này lôi cuốn em vào con đường ngoại tình. Càng kinh khủng hơn nữa là đứa con gái lớn của em đã biết, đã theo dõi để quay video, thu lại hình ảnh của em tay trong tay người tình. Nó hăm dọa, nói nếu không chấm dứt thì nó sẽ mách với bố nó về bí mật này. Sợ hãi và hổ thẹn, ngay tối hôm đó, em năn nỉ người tình dẫn em trốn đi vì em biết nếu chồng em hay chuyện, anh sẽ giết em chết.
Bây giờ, em và người yêu đang ở một tiểu bang khác. Em viết lá thư này trong một tình trạng quá hoang mang và đau khổ. Em biết mình đã làm một việc tày trời, bỏ chồng, bỏ cả con... Ðại gia đình hai bên đều từ bỏ em rồi. Em đang rất thương nhớ con nhưng không biết phải làm sao để có thể trở về nhà an toàn với tính ghen tuông quá độ của chồng mà em đã từng biết. Ðau đớn hơn nữa là 3 đứa con em đều đang căm giận mẹ, không chịu nói chuyện với em mặc dù em đã để lại lời nhắn trong cell phôn của chúng nó rất nhiều lần. Xin chị giúp em tìm phương cách nào đúng nhất để hành động trong lúc này. Nên trở về nhà và gánh chịu mọi hậu quả để được gần con hay là nhắm mắt xuôi chân, để mặc cho định mệnh đưa đẩy, đến đâu thì đến?
Người mẹ đau khổ.
Kim
Trả lời:
Cho đến giờ phút này, xem chừng em đã nhắm mắt đưa chân hơi nhiều, theo sự xô đẩy của những lôi cuốn mà em gọi tên là định mệnh, để trút bỏ phần trách nhiệm của chính mình trong những bước đi hết sức lầm lỡ. Khoan hãy nói tới chồng con, cha mẹ hai bên, họ hàng, bằng hữu, sự nghiệp mà em đã cùng chồng khó nhọc xây dựng, riêng bản thân em thôi, năn nỉ mới được người đàn ông kia, người tình như em gọi, nửa đêm đem em đi trốn ở một nơi xa xôi, một nơi khi thức dậy cùng với mặt trời, em vụt trở thành một người đàn bà bơ vơ, trắng tay về mọi phương diện, đối mặt với tình nhân, soi vào tấm gương tình yêu để chỉ còn nhận ra “em đã làm một việc tầy trời!” Ðịnh mệnh thường là tên tội phạm không chân dung nên dễ bị đổ vấy nhưng trong trường hợp em, nó chính là khuôn mặt người tình, là sự yếu đuối, nông nổi của lòng em, là sự vũ phu của đức lang quân, là bản tính nóng nẩy, hung bạo của cô con gái đầu lòng, ít nhiều đã chịu ảnh hưởng cung cách cư xử thiếu tình thương và sự tôn trọng của cha đối với mẹ.
Nếu ví biến cố này như một trận hỏa hoạn thì căn nhà của em đã cháy đến viên gạch cuối cùng, không còn cách nào cứu vãn nữa. Chúng ta nói chuyện với nhau bây giờ là để đóng góp chút kinh nghiệm phòng cháy cho các chị em bạn gái khác trên bờ vực của tai nạn và để cùng em tìm một con đường bình an khác, xây dựng lại đời mình.
1/ Trước hết, em than thở chồng em ghen quá, ngăn trở em sinh hoạt với đám đông. Ðến đây, chắc em đã phải nhìn nhận một cách khách quan và công bằng rằng chồng em, với giác quan nhậy bén của người đàn ông tích cực bảo vệ gia đình và con cái, đã nhìn thấy nhược điểm của vợ, những cám dỗ hiểm nguy trên con đường người vợ ấy phải bước đi hằng ngày bằng những bước chân thiếu vững chãi. Chỉ tiếc là cái cách ông ấy giúp vợ thì không đúng nên thay vì tạo thêm sức mạnh, khả năng phòng vệ nơi người vợ, ông ấy đã vô tình khoác lên mình tấm áo cai ngục, đào sâu hố ngăn cách giữa vợ chồng, thúc đẩy em đi tìm tự do thoải mái ở nơi khác, một cách liều lĩnh.
2/ Người tình trẻ hơn em hai tuổi, cũng đã 40. Yêu một người đàn bà có chồng con, có sự nghiệp, trong môi trường một phòng tập thể dục công cộng, cũng được, vì trái tim mỗi người có những lý lẽ và mệnh lệnh riêng, cả sự điên cuồng nữa. Tuy nhiên, lôi kéo người đàn bà, người mẹ ấy ra khỏi căn nhà ổn định của họ, xô đẩy họ vào cuộc mạo hiểm chỉ nhằm thỏa mãn cảm giác, khi việc đổ bể, thay vì nhận trách nhiệm, hành động để gỡ rối, bảo vệ người tình, bảo vệ mối tình, anh ta lại chỉ có thể (vì lời năn nỉ) đem người tình đi trốn, mở màn một cuộc phiêu lưu càng không có ngày mai, không có cả đường về cho người tình ấy. Như thế, em hãy trả lời với em đi, có phải là tình yêu không? Có thể nào là sự nương tựa mai sau cho em không?
3/ Cô con gái 22 tuổi của em tưởng đã tạm khôn lớn đủ để hiểu mẹ, lẽ ra đã có thể giúp mẹ ra khỏi vực sâu bằng tình thương, nước mắt hay lời kêu cứu của một đứa con, tiếc thay, cô đã chỉ có thể hành sử hung bạo với mẹ không kém gì bố. Cháu có cho em một cơ hội để quay về nhưng bàn tay cháu đưa ra lạnh lùng, khinh miệt, hành động nhẫn tâm của cháu như một yếu tố để em vin vào đó, buông mình theo cơn lốc cuốn.
4/ Ðời sống là tất cả những gì còn lại sau khi cảm giác đã qua đi. Bây giờ là lúc em phải đương đầu với thực tế và những hệ lụy đi theo nó. Chị không chắc em còn con đường trở về của một người vợ nhưng con đường của một bà mẹ sẽ cần đôi chút thời gian và rất nhiều cảm xúc từ tấm lòng chân thật của em đối với con cái. Ngay lập tức, em có thể nhờ thân nhân hai bên thăm dò tình hình với chồng em về một giải pháp nào đó lấy sự bình yên của con cái làm định hướng rồi tùy theo đấy mà sắp đặt công việc. Ðiều chị quan tâm nhất lúc này là tâm tư của em. Ðời người thường ít khi tránh khỏi những bước hụt hay va vấp. Căn bản là trót ngã rồi hãy gắng đứng dậy, rút kinh nghiệm, đừng chìm đắm trong sự thống trách muộn màng, mình hay người. Sự sống là vốn quý, còn ta còn của, còn nhiều điều hay đẹp đón đợi phía trước những bước chân đi tới với niềm tin và nghị lực. Trong đêm tối, cố đốt lên một ngọn lửa nhỏ để giữ ấm đôi chân ấy, chờ đợi bình minh chắc chắn sẽ ló dạng ở chân trời. Chuyện thật không dễ nhưng cái giá một người phải trả cho sự lầm lỡ của mình càng đắt, bản ngã đưa tới thành công của họ trong tương lai càng được tôi luyện thêm nhiều.
Thương chúc em mọi điều may mắn.
=======================================================
Bạn đọc viết
bà Kim,tất cả những điều bà nói chỉ chứng minh một điều bà là một người đàn bà vô cùng dâm đãng,luôn đòi hỏi và chìu theo nhục duc mới lạ,khg phải một người đàn bà hiểu biết và khôn ngoan,tất cả hành vi của chồng bà đều do bà gây ra,nếubà là người phụ nữ đàng hoàng,giữ đúng bổn phận người vợ,người mẹ thì chắc chồng bà đã khg như vậy,nếu chồng bà có sai,thì cũng còn các con,chúng nó cũng biết lẻ phải quấy để binh ai,bỏai,ai sai cứ sai,ta cứ giữ đúng bổn phận thì ai làm gì ta?bà ngoại tình,chìu theo dục vọng,bị con quay phim,rồi bỏ nhà theo trai,theo tục lệ ngày xưa thì bà đáng bị đóng trăn thả trôi sông hoặc bị gọt gáy bôi vôi rồi,nếu khg hiểuthì bà tìm những người hiểu biết mà hỏi,thật đáng đời cho bà,khg còn đường cho bàquay về nữa đâu,nếu chồng bà tha thứ cho bà thì ông ấy cũng thật là ngu xuẩn,vì khg có thằng đàn ông nào ngu xuẩn đến độ chấp nhận cho vợ mình đi ngủ với thằng khác,bà đúng là tệ hơn một con đĩ rẻ tiền,mong bà tìm được một thằng kép khác ngon hơn thằng cũ để thỏa mãn dục vọng tiếp tục
Post by: thếsự
----------------------------------------------
Goi co Bich Ha,
Toi nam nay 60 tuoi, ong xa 67, co con co chau ca roi, 5 thang nay ong dam ho don, va chat room, gap toan cac co gai co 35-40 , khong biet lam sao cac co tren net deu cho ong so phone va ong l/l tum lum, con cai biet duoc chung hoi ong thi ong thay phone khac, thay do cua ong doi voi toi that la te, noi nhung cau lam dau long toi, toi gian bo xuong con thi ong con lam troi, di lam (partime) ve roi het Dt va chat, nhin phone bill toi ta hoa, ong om dt ca tieng dong ho voi may co> Hoi noi mot ti thi ong noi rang leave ong alone, dung abuse ong> Ngay hom qua, toi moi noi chuyen voi 1 co gai ong gap tren net, co ta o ben Houston, co noi co la giao su anh van o ben VN,sang day theo dien ket hon va duong nhu muon ong xa toi ly di de lay co ta, co ta co khoang 40 tuoi,thai do rat la ngao man, noi rang dung goi co ta, vi ong xa cua toi noi muon gi thi cu noi chuyen voi ong ay Co oi, toi that dau kho chi muon chet cho roi.
Post by: Ngan
-----------------------------------------------------
Kinh Gui chi Kim ,
That su toi rat but xuc khi doc la thu cua chi , cung nhu bao loi chi ket toi cho nguoi chong vu phu cua chi theo toi nhan thay do chang qua la loi Ket Toi de thoa man tanh net Dam Dang cua chi ma bat cu xa hoi nao cung tu bo. Dung tuong rang chi dang song mot dat nuoc tu do dieu do cung co the chung minh SU TU DO qua tron ma khong mot gia dinh nao chap nhan trong do co chong con va gia dinh hai ben . chi bao rang con gai khong giup chi va chong chi qua vu phu nen chi cam phan. dieu nay co dung voi thuc te khong? chi bao rang o trong chan moi biet chan co ran ? vay chung toi dau co nam cung chan voi chi co biet loi noi cua chi co that hay khong?nhung xet cho cung . mot hanh dong nong noi cua chi da chung minh su ngu dot tiec thay da lam thay doi cuoc song va cach nhin cua gia dinh . mong chi co giu lay nhung gi chi con lai . Chuc chi thoa man tanh dam dan cua minh
Post by: andy tran
---
Khoảng tối phía sau sàn nhảy
Rất nhiều người tìm thấy niềm đam mê và thú vui lành mạnh khi đến vũ trường. Nhưng trên thực tế, một điều không thể phủ nhận là hiện nay tại các vũ trường luôn có một đội ngũ khá đông đảo các đội ngũ "vũ sư" giúp quý bà tự tin hơn với mỗi bước nhảy và nếu cần họ sẵn sàng đáp ứng khỏan Z khi có yêu cầu.
Miễn là các quý bà chịu chi, khi ấy mọi thỏa thuận cuối cùng đều được giải quyết tại nhà nghỉ.
Tâm sự buồn của "quý bà"...
Có vô vàn nguyên nhân cũng như cách lý giải về tình trạng các quý bà ở cái tuổi "xế chiều" thích đi nhảy đầm và tìm cặp với những chàng kép trẻ. Trong những ngày vào vai "trai nhảy" tại các vũ trường, tôi đã tình cờ quen một quý cô ngoài 50 tuổi. Chị có một vẻ đẹp quý phái khiến cho người ngoài thoạt nhìn ít có thể nhận ra chị có một tâm trạng buồn.
Chúng tôi coi nhau như chị em, những chuyện vui buồn đều tâm sự với nhau sau mỗi ca nhảy (tất nhiên tôi không thể nói với chị mình là "trai nhảy" giả được). Trong câu chuyện, chị kể cho tôi nghe về hoàn cảnh éo le của gia đình mình. Chồng chị là giám đốc một doanh nghiệp lớn có thu nhập cao nhưng hai người không thể có con. Buồn đời, cả hai sống ly thân, vài tháng trước chồng chị mới sang phòng vợ một lần... để "giải quyết". Hai người đều có mảng trời riêng của mình, chồng có bồ nhí, chị cũng mặc kệ. Bản thân chị hàng đêm đến vũ trường nhảy là để giải sầu, mong được chiều chuộng, được thể hiện bản năng của người đàn bà với những "chim mồi" tại sàn nhảy. Người đàn bà có số phận đáng buồn ấy như trỗi dậy tuổi xuân, trong vòng xoáy của những cuộc tình chớp nhoáng "bóc bánh trả tiền" từ những "trai bao".
Chị kể với tôi trong chua xót: "Nếu cuộc sống này tròn như trái đất thì sẽ chẳng có ai biết đến thiếu thốn và đau khổ. Chị có tiền, nhiều tiền nhưng lại thiếu thốn tình cảm. Chị đâu muốn thế, nếu như... ". Tiếng chị gập ngừng, đứt quãng. Tôi biết đó là tâm sự thật của chị, chị đã từng khuyên tôi bỏ cái nghề này, đi làm một công việc khác cho tử tế.
Thậm chí, chị còn nhờ một người bạn thân làm giám đốc nhận tôi về làm việc. Tôi biết, phía sau ánh sáng phù hoa của sàn nhảy, chị lại phải trở về với cuộc sống gia đình không hề phẳng lặng của mình.
Tại một vũ trường trên phố HT, tôi đã làm quen được với một quý cô tên L thường tìm đến vũ trường cặp với bạn nhảy để... rửa hận. Cách đây vài tháng, chị là thần tượng của bao bạn trẻ, mới ngoài đôi mươi mà vợ chồng L đã có trong tay nhiều tỷ đồng, hàng ngày L tự lái xe hơi đi làm.
Từ khi chị mở công ty kinh doanh bất động sản, trúng mánh, gia đình L ngày càng phất lên trông thấy. Nhưng cũng từ ấy, chị lao vào công việc và quên đi mái ấm của mình. Khi nhận ra, L đã bị chồng phụ bạc. Buồn, chị đến vũ trường nhảy và tìm bạn tình, quay cuồng trong những cuộc chơi, tìm niềm vui thì ít còn để quên đi nỗi buồn, để "rửa hận" gia đình thì nhiều.
Những anh chàng làm nghề kép nhảy kiêm "trai bao" tranh thủ kiếm được một quý bà có tâm trạng buồn như chị bạn tôi và L là một cơ hội hốt bạc.
Một mối quan hệ lâu dài với họ sẽ đồng nghĩa có một nguồn tài chính khá đảm bảo (điều quan trọng nhất trong nghề "trai bao"). Trò chuyện với tôi, T - một "trai nhảy" có thâm niên trong nghề cho biết: "Trước đây mọi người thường gọi bọn này bằng cái tên "vũ sư". Nhưng từ khi có phim gái nhảy, họ gọi bọn mình là trai nhảy. Nghe có vẻ ác cảm và cảm thấy ngại với công việc này, nhưng làm lâu rồi thấy quen".
Thấy vẻ ngại ngần trên mặt tôi, T phá lên cười và nói: "Vừa được đi nhảy trong vũ trường, ngồi máy lạnh lại có tiền ai mà chẳng thích". Thấy tôi là một lính mới, T không ngần ngại bật mí: "Không việc gì phải xấu hổ, chỉ cần nghĩ đến tiền là bỏ qua hết. Cứ xem mấy mụ nạ dòng như một hũ vàng, làm cho họ vừa ý có khi còn được cả cái nhà ý chứ. Mà quý bà khi đã thấy thích thì họ rất phóng khoáng.
Để làm được như vậy, thì đừng nghĩ mình là người hưởng thụ mà phải là họ. Đặt mục đích kiếm tiền lên hàng đầu là làm được tất cả. Hơn 3 năm "làm nghề", T không nhớ rõ là đã "đi" với bao nhiêu quý bà nữa. Cái để lại ấn tượng cho T là chỉ những quý bà nào chơi đẹp, cho T thật nhiều tiền.
----
Rất nhiều người tìm thấy niềm đam mê và thú vui lành mạnh khi đến vũ trường. Nhưng trên thực tế, một điều không thể phủ nhận là hiện nay tại các vũ trường luôn có một đội ngũ khá đông đảo các đội ngũ "vũ sư" giúp quý bà tự tin hơn với mỗi bước nhảy và nếu cần họ sẵn sàng đáp ứng khỏan Z khi có yêu cầu.
Miễn là các quý bà chịu chi, khi ấy mọi thỏa thuận cuối cùng đều được giải quyết tại nhà nghỉ.
Tâm sự buồn của "quý bà"...
Có vô vàn nguyên nhân cũng như cách lý giải về tình trạng các quý bà ở cái tuổi "xế chiều" thích đi nhảy đầm và tìm cặp với những chàng kép trẻ. Trong những ngày vào vai "trai nhảy" tại các vũ trường, tôi đã tình cờ quen một quý cô ngoài 50 tuổi. Chị có một vẻ đẹp quý phái khiến cho người ngoài thoạt nhìn ít có thể nhận ra chị có một tâm trạng buồn.
Chúng tôi coi nhau như chị em, những chuyện vui buồn đều tâm sự với nhau sau mỗi ca nhảy (tất nhiên tôi không thể nói với chị mình là "trai nhảy" giả được). Trong câu chuyện, chị kể cho tôi nghe về hoàn cảnh éo le của gia đình mình. Chồng chị là giám đốc một doanh nghiệp lớn có thu nhập cao nhưng hai người không thể có con. Buồn đời, cả hai sống ly thân, vài tháng trước chồng chị mới sang phòng vợ một lần... để "giải quyết". Hai người đều có mảng trời riêng của mình, chồng có bồ nhí, chị cũng mặc kệ. Bản thân chị hàng đêm đến vũ trường nhảy là để giải sầu, mong được chiều chuộng, được thể hiện bản năng của người đàn bà với những "chim mồi" tại sàn nhảy. Người đàn bà có số phận đáng buồn ấy như trỗi dậy tuổi xuân, trong vòng xoáy của những cuộc tình chớp nhoáng "bóc bánh trả tiền" từ những "trai bao".
Chị kể với tôi trong chua xót: "Nếu cuộc sống này tròn như trái đất thì sẽ chẳng có ai biết đến thiếu thốn và đau khổ. Chị có tiền, nhiều tiền nhưng lại thiếu thốn tình cảm. Chị đâu muốn thế, nếu như... ". Tiếng chị gập ngừng, đứt quãng. Tôi biết đó là tâm sự thật của chị, chị đã từng khuyên tôi bỏ cái nghề này, đi làm một công việc khác cho tử tế.
Thậm chí, chị còn nhờ một người bạn thân làm giám đốc nhận tôi về làm việc. Tôi biết, phía sau ánh sáng phù hoa của sàn nhảy, chị lại phải trở về với cuộc sống gia đình không hề phẳng lặng của mình.
Tại một vũ trường trên phố HT, tôi đã làm quen được với một quý cô tên L thường tìm đến vũ trường cặp với bạn nhảy để... rửa hận. Cách đây vài tháng, chị là thần tượng của bao bạn trẻ, mới ngoài đôi mươi mà vợ chồng L đã có trong tay nhiều tỷ đồng, hàng ngày L tự lái xe hơi đi làm.
Từ khi chị mở công ty kinh doanh bất động sản, trúng mánh, gia đình L ngày càng phất lên trông thấy. Nhưng cũng từ ấy, chị lao vào công việc và quên đi mái ấm của mình. Khi nhận ra, L đã bị chồng phụ bạc. Buồn, chị đến vũ trường nhảy và tìm bạn tình, quay cuồng trong những cuộc chơi, tìm niềm vui thì ít còn để quên đi nỗi buồn, để "rửa hận" gia đình thì nhiều.
Những anh chàng làm nghề kép nhảy kiêm "trai bao" tranh thủ kiếm được một quý bà có tâm trạng buồn như chị bạn tôi và L là một cơ hội hốt bạc.
Một mối quan hệ lâu dài với họ sẽ đồng nghĩa có một nguồn tài chính khá đảm bảo (điều quan trọng nhất trong nghề "trai bao"). Trò chuyện với tôi, T - một "trai nhảy" có thâm niên trong nghề cho biết: "Trước đây mọi người thường gọi bọn này bằng cái tên "vũ sư". Nhưng từ khi có phim gái nhảy, họ gọi bọn mình là trai nhảy. Nghe có vẻ ác cảm và cảm thấy ngại với công việc này, nhưng làm lâu rồi thấy quen".
Thấy vẻ ngại ngần trên mặt tôi, T phá lên cười và nói: "Vừa được đi nhảy trong vũ trường, ngồi máy lạnh lại có tiền ai mà chẳng thích". Thấy tôi là một lính mới, T không ngần ngại bật mí: "Không việc gì phải xấu hổ, chỉ cần nghĩ đến tiền là bỏ qua hết. Cứ xem mấy mụ nạ dòng như một hũ vàng, làm cho họ vừa ý có khi còn được cả cái nhà ý chứ. Mà quý bà khi đã thấy thích thì họ rất phóng khoáng.
Để làm được như vậy, thì đừng nghĩ mình là người hưởng thụ mà phải là họ. Đặt mục đích kiếm tiền lên hàng đầu là làm được tất cả. Hơn 3 năm "làm nghề", T không nhớ rõ là đã "đi" với bao nhiêu quý bà nữa. Cái để lại ấn tượng cho T là chỉ những quý bà nào chơi đẹp, cho T thật nhiều tiền.
----
ĐỨA BÉ LƯỢM VE CHAI
(Câu chuyện đứa trẻ ăn xin cho cuộc sống của những mẹ mìn)
LM. Martino Nguyễn Bá Thông
Thường thì khoảng 10 giờ đêm tôi mới bắt đầu cuộc hành trình "lang thang" đi tìm chỗ các trẻ bụi đời sinh sống nên... tối 28 tết, tôi hoà mình với dòng người tấp nập dạo bộ ra trung tâm Sài Gòn. Khu vực vườn hoa Tao Đàn và vườn hoa Nguyễn Huệ chật kín người. Con đường Lê Lợi rộng thênh thang nhất Thành Phố cấm không cho xe lưu thông chỉ dành cho người đi bộ. Những chiếc lồng đèn vĩ đại treo hai bên đường càng làm sống động hơn không khí tết. Các nam thanh nữ tú, với áo quần muôn màu muôn sắc với đủ các kiểu dáng (đúng là tết "hội nhập"), mà hầu hết là không hợp với vóc người và văn hoá Việt Nam cứ bám sát vào nhau, đến độ tôi ước tính ngay cả con vi khuẩn nhỏ nhất của máy vi tính cũng không thể chui qua được những khoảng cách giữa hai con người ấy. Rồi đến những người da trắng, nhiều không thể đếm nổi. Họ hoà lẫn trong dòng người - họ nhảy múa theo tiếng nhạc được phát ra hết công xuất từ những chiếc loa hai bên đường. Không những chỉ có các đôi nam nữ ham vui, mà các cặp sồn sồn thì cũng không thiếu. Có điều hình như họ vẫn còn bẽn lẽn trong cách "thân thiện" của họ trước đám đông - họ chất phát hơn trong các cử chỉ, tay họ chỉ chỏ những mới lạ được dựng dọc theo con đường và khẽ nói vào vào tai nhau khi có chuyện cần. Đối lập với họ là những bạn trẻ tuổi trung học, họ đi với nhau theo từng nhóm và nơi nào có họ, nơi đó ồn ào náo nhiệt, và ánh đèn của máy chụp hình liên tục sáng lên! À, cũng còn nữa, đó là thành phần… như tôi. Những kẻ lẻ loi một mình - những kẻ không có bồ hay gia đình - những kẻ độc thân vô điều kiện và những kẻ độc thân có điều kiện.
Vừa thả bộ vừa miên man suy nghĩ bỗng một hình ảnh đập vào mắt tôi. Hình ảnh này khác với các hình ảnh khác. Không phấn son, không lòe lọet áo quần, không điện thoại cầm tay, không máy hình, không dầy dép, nói chung là không… có gì đặc biệt. Chỉ khác lạ. Một em nhỏ khoảng độ 7 hay 8 tuổi, hai tay xách hai bịch sốp đựng đầy những cái chai nước suối, hay lon coca đã uống hết được người ta vất xuống đường và kẹp vào nách một ít cái chai còn lại. Cứ đi khoảng một hai bước, những cái chai kia lại rớt xuống, và em lại ngồi xuống nhặt lên, rồi lại đi, lại rớt và lại nhặt.
- Thằng nhóc này tránh ra cho tao chụp hình coi. Một nhóm bạn trẻ quát vào mặt cậu bé. Vừa dứt lời, một cô gái mặc váy thật đẹp lấy chân đá các bình nhựa đó qua một bên rồi sửa lại y phục làm điệu trước ống kính máy hình một cách rất… vô tư như không có gì xảy ra.
Cậu bé không nói gì, hai tay cầm hai bịch sốp và vội vã đuổi theo những cái chai nhựa đang lăn long lóc và bị dòng người đông nghẹt đá qua đá lại. Tôi nhìn thật kỹ, cậu lủi bên này rồi chạy bên kia, mà vẫn chưa chụp được cái chai. Vì mỗi khi cậu vừa trờ tới thì đã có một đôi chân nào đó đá nó đi chỗ khác. Nhìn cậu đuổi theo những cái chai mà tôi gần như ngộp thở. Ờ mà sao tôi dở thế nhỉ? Sao tôi không giúp cậu bé mà cứ đứng trơ ra như đá nhìn xem chuyện gì sảy ra.
Cậu vẫn cứ đuổi theo cái chai nhựa cho đến khi một cái chân cổ thụ chặn cái chai lại cho cậu. Cậu ngước mắt nhìn lên, một người da trắng cao to đang đứng trước mặt. Cậu khiếp người, không dám nhìn lên mà tính toan bỏ đi. Bỗng người đàn ông đó cúi xuống cầm lấy cái chai, đưa cho cậu rồi lấy hết đồ trong cái túi ny long thật lớn mà ông đang cầm trên tay ra, rồi đưa cho cậu cái túi đó và giúp cậu bỏ hết tất cả các chai nhựa và lon coca vào đó – sau đó tôi còn thấy ông cho cậu một ít tiền, cười vui vẻ vỗ vào vai cậu, nói một vài câu gì đó rồi đi.
Tự dưng tôi cảm thấy xấu hổ - Xấu hổ cho chính tôi và cho tất cả người Việt Nam. Không một ai giúp cậu bé đáng thương kia, mà phải để một du khách, một con người không cùng ngôn ngữ làm cái điều mà đúng ra chúng ta phải làm. Ôi cái câu ca dao "Nhiễu điều phủ lấy giá gương - Người trong một NƯỚC phải thương nhau cùng" đâu rồi nhỉ. Vừa nghĩ đến đó tôi quyết định làm quen với cậu bé…
- Chào cháu, chú có thể làm bạn với cháu được không?
Tôi tiến lại gần đứa bé và cất giọng. Thằng bé không trả lời, nhìn tôi có vẻ sợ hãi "không tin tưởng" và tiếp tục bước đi. Tôi đuổi theo, lấy tay giữ nhẹ nó lại và nói:
- Nãy giờ chú để ý cháu đó. Chú thấy thương cháu một mình – mà chú cũng một mình, nên chú muốn làm bạn với cháu đêm nay, được không?
Thằng bé có vẻ vẫn còn bán tín bán nghi, nhìn tôi chằm chằm. Tôi "tán" tiếp:
- Chú không có bạn bè ở thành phố này, chú thật sự muốn làm bạn với cháu mà. Chú muốn mời cháu đi ăn tối với chú. Hai chú cháu mình qua chợ ăn đêm Bến Thành ăn nhé.
Thằng bé vẫn không nói gì. Mặc kệ, tôi nhẹ nhàng đưa tay ra cầm lấy hai cái bịch nylong đựng đầy các đồ "ve chai" của nó, tay kia cầm tay nó và dẫn nó đi. Thằng bé nhìn quanh có vẻ sợ hãi nhưng vẫn không nói gì. Nó đi theo tôi, nhưng đầu vẫn cứ ngoái lại đằng sau như có điều gì không ổn. Tôi hỏi:
- Cháu tìm gì vậy? Hay cháu có bạn, có muốn chú mời bạn cháu cùng đi không?
- Dạ không.
Thằng bé nói câu đầu tiên. (và sau này tôi mới biết cũng là câu đối thoại cuối cùng với tôi).
Cứ mỗi tối tôi ra chợ Bến Thành ăn đêm thì các quán tha hồ tranh thủ mời, có khi họ còn ra giữa đường chèo kéo, thế mà tối nay… chẳng ai thèm đả động với tôi một câu. Nhưng tôi hiểu, vì tôi đã quen với cái cảnh này lắm rồi, nên tôi dẫn thằng bé vào góc trong cùng của một cái quán để tránh những cái nhìn… "soi mói". Thế mà chúng tôi cũng không tránh được những cái liếc mắt khó chịu từ những người đang ăn cho đến chị chủ quán. Tôi hỏi thằng bé muốn ăn gì, nó lắc đầu không nói (hay không biết). Tôi đánh liều gọi hai tô bún bò giò heo và thêm một ít móng heo để gặm. Mong rằng sẽ câu giờ để có cơ hội nói chuyện với thằng bé. Thằng bé vẫn không nói gì. Nó vừa ăn mà vừa lấm lét nhìn chung quanh và nhìn ra đường. Ngay cả người "giỏi bắt chuyện" như tôi mà cũng không thể nào cậy răng nó ra được thêm chữ nào. Tôi hỏi thì một là nó lắc đầu, hai là nó gật đầu. Tôi vận dụng hết tài năng khéo léo của mình, khả năng giao tiếp cho đến những đòn tâm lý học. Tất cả đều vô hiệu…
- (Văng tục…) Mày trốn hả? Biến đi đâu nãy giờ? Ai cho mày vô đây. (Văng tục…) Tao đánh chết "…" mày bây giờ. (Văng tục…) bộ mày đói lắm hả…
Người đàn bà sang sảng vừa nói vừa tát thằng bé tới tấp. Tôi không kịp phản ứng gì thì thằng bé đã bị người đàn bà đó kéo ra khỏi tiệm ăn. Tôi đang tính đuổi theo thì…
- Đóng kịch rồi chạy hả.
Chị chủ quán kéo tay tôi lại và hét lên. Tôi móc túi lấy ra tờ 200,000 (hai trăm ngàn) đưa cho chị và chạy ra khỏi quán. Thấy tôi chạy sau người đàn bà túm cổ thằng bé bẻ ngược lại chỉ thẳng vào mặt tôi và quát to.
- Mày mà chạy theo, tao (văng tục…) tao bẻ cổ nó.
Tôi khựng lại, đứng nhìn bà ta túm cổ áo thằng bé kéo đi mà lòng đau xót. Tôi lê bước trở lại cái quán ăn hồi này, ngồi xuống bàn, thở dài, miên man suy nghĩ, nước mắt tuôn hồi nào cũng không hay. Tiếng một người đàn bà ngồi kế bàn tôi cất lên.
- Ôi thôi, cậu khóc làm gì. Chuyện đó xảy ra như cơm bữa ở Sài Gòn. Mấy con mẹ đó là mấy con mẹ mìn. Tụi nó về quê thuê mấy đứa con nít lên đây đi ăn xin, rồi nộp tiền cho nó. Cậu ở bển (chắc ý nói tôi ở nước ngoài) nên ngây thơ thôi.
- Vâng, cháu không biết. Cháu thấy tội đứa bé nên cho nó ăn và tính cho nó ít tiền thôi.
- Trời, cậu này thiệt á. Cậu có cho nó 1 ngàn hay 100 ngàn cũng vậy thôi. Nó đâu có gì vui đâu vì tất cả cũng vô tay mấy con mẹ đó hết trơn.
Trời!!! Đó là tiếng (than) duy nhất có thể thoát ra từ cửa miệng của tôi khi lê bước trên 2 blocks đường ngắn về khách sạn. Tôi vẫn biết rằng cuộc đời có nhiều trái ngang nhưng… chẳng lẽ… những gì tôi mới chứng kiến cũng là sự thật? Vâng nó là một sự thật rất phũ phàng mà tôi mới nhận ra…
* * * *
Bạn thân mến, không biết bạn đọc xong đoản khúc này thì tâm trạng của bạn ra sao? Nhưng đối với tôi, đứa bé đó sẽ sống mãi, vâng sẽ sống mãi, ít nhất là trong tâm hồn của tôi. Tôi sẽ mãi nhớ về em, sẽ mãi cầu nguyện cho em, và ước mong… Vâng! tôi chỉ ước mong một ngày nào đó tôi sẽ được ôm em vào lòng và "chú cháu" mình sẽ hàn huyên, sẽ nói thật nhiều.
Ước gì! Vâng, ước gì mỗi người chúng ta sống được lời Chúa khi Ngài nói: "Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy." Mt 24:40.
(LM. Martino Nguyễn Bá Thông - www.hayyeuthuongnhau.org)
(Câu chuyện đứa trẻ ăn xin cho cuộc sống của những mẹ mìn)
LM. Martino Nguyễn Bá Thông
Thường thì khoảng 10 giờ đêm tôi mới bắt đầu cuộc hành trình "lang thang" đi tìm chỗ các trẻ bụi đời sinh sống nên... tối 28 tết, tôi hoà mình với dòng người tấp nập dạo bộ ra trung tâm Sài Gòn. Khu vực vườn hoa Tao Đàn và vườn hoa Nguyễn Huệ chật kín người. Con đường Lê Lợi rộng thênh thang nhất Thành Phố cấm không cho xe lưu thông chỉ dành cho người đi bộ. Những chiếc lồng đèn vĩ đại treo hai bên đường càng làm sống động hơn không khí tết. Các nam thanh nữ tú, với áo quần muôn màu muôn sắc với đủ các kiểu dáng (đúng là tết "hội nhập"), mà hầu hết là không hợp với vóc người và văn hoá Việt Nam cứ bám sát vào nhau, đến độ tôi ước tính ngay cả con vi khuẩn nhỏ nhất của máy vi tính cũng không thể chui qua được những khoảng cách giữa hai con người ấy. Rồi đến những người da trắng, nhiều không thể đếm nổi. Họ hoà lẫn trong dòng người - họ nhảy múa theo tiếng nhạc được phát ra hết công xuất từ những chiếc loa hai bên đường. Không những chỉ có các đôi nam nữ ham vui, mà các cặp sồn sồn thì cũng không thiếu. Có điều hình như họ vẫn còn bẽn lẽn trong cách "thân thiện" của họ trước đám đông - họ chất phát hơn trong các cử chỉ, tay họ chỉ chỏ những mới lạ được dựng dọc theo con đường và khẽ nói vào vào tai nhau khi có chuyện cần. Đối lập với họ là những bạn trẻ tuổi trung học, họ đi với nhau theo từng nhóm và nơi nào có họ, nơi đó ồn ào náo nhiệt, và ánh đèn của máy chụp hình liên tục sáng lên! À, cũng còn nữa, đó là thành phần… như tôi. Những kẻ lẻ loi một mình - những kẻ không có bồ hay gia đình - những kẻ độc thân vô điều kiện và những kẻ độc thân có điều kiện.
Vừa thả bộ vừa miên man suy nghĩ bỗng một hình ảnh đập vào mắt tôi. Hình ảnh này khác với các hình ảnh khác. Không phấn son, không lòe lọet áo quần, không điện thoại cầm tay, không máy hình, không dầy dép, nói chung là không… có gì đặc biệt. Chỉ khác lạ. Một em nhỏ khoảng độ 7 hay 8 tuổi, hai tay xách hai bịch sốp đựng đầy những cái chai nước suối, hay lon coca đã uống hết được người ta vất xuống đường và kẹp vào nách một ít cái chai còn lại. Cứ đi khoảng một hai bước, những cái chai kia lại rớt xuống, và em lại ngồi xuống nhặt lên, rồi lại đi, lại rớt và lại nhặt.
- Thằng nhóc này tránh ra cho tao chụp hình coi. Một nhóm bạn trẻ quát vào mặt cậu bé. Vừa dứt lời, một cô gái mặc váy thật đẹp lấy chân đá các bình nhựa đó qua một bên rồi sửa lại y phục làm điệu trước ống kính máy hình một cách rất… vô tư như không có gì xảy ra.
Cậu bé không nói gì, hai tay cầm hai bịch sốp và vội vã đuổi theo những cái chai nhựa đang lăn long lóc và bị dòng người đông nghẹt đá qua đá lại. Tôi nhìn thật kỹ, cậu lủi bên này rồi chạy bên kia, mà vẫn chưa chụp được cái chai. Vì mỗi khi cậu vừa trờ tới thì đã có một đôi chân nào đó đá nó đi chỗ khác. Nhìn cậu đuổi theo những cái chai mà tôi gần như ngộp thở. Ờ mà sao tôi dở thế nhỉ? Sao tôi không giúp cậu bé mà cứ đứng trơ ra như đá nhìn xem chuyện gì sảy ra.
Cậu vẫn cứ đuổi theo cái chai nhựa cho đến khi một cái chân cổ thụ chặn cái chai lại cho cậu. Cậu ngước mắt nhìn lên, một người da trắng cao to đang đứng trước mặt. Cậu khiếp người, không dám nhìn lên mà tính toan bỏ đi. Bỗng người đàn ông đó cúi xuống cầm lấy cái chai, đưa cho cậu rồi lấy hết đồ trong cái túi ny long thật lớn mà ông đang cầm trên tay ra, rồi đưa cho cậu cái túi đó và giúp cậu bỏ hết tất cả các chai nhựa và lon coca vào đó – sau đó tôi còn thấy ông cho cậu một ít tiền, cười vui vẻ vỗ vào vai cậu, nói một vài câu gì đó rồi đi.
Tự dưng tôi cảm thấy xấu hổ - Xấu hổ cho chính tôi và cho tất cả người Việt Nam. Không một ai giúp cậu bé đáng thương kia, mà phải để một du khách, một con người không cùng ngôn ngữ làm cái điều mà đúng ra chúng ta phải làm. Ôi cái câu ca dao "Nhiễu điều phủ lấy giá gương - Người trong một NƯỚC phải thương nhau cùng" đâu rồi nhỉ. Vừa nghĩ đến đó tôi quyết định làm quen với cậu bé…
- Chào cháu, chú có thể làm bạn với cháu được không?
Tôi tiến lại gần đứa bé và cất giọng. Thằng bé không trả lời, nhìn tôi có vẻ sợ hãi "không tin tưởng" và tiếp tục bước đi. Tôi đuổi theo, lấy tay giữ nhẹ nó lại và nói:
- Nãy giờ chú để ý cháu đó. Chú thấy thương cháu một mình – mà chú cũng một mình, nên chú muốn làm bạn với cháu đêm nay, được không?
Thằng bé có vẻ vẫn còn bán tín bán nghi, nhìn tôi chằm chằm. Tôi "tán" tiếp:
- Chú không có bạn bè ở thành phố này, chú thật sự muốn làm bạn với cháu mà. Chú muốn mời cháu đi ăn tối với chú. Hai chú cháu mình qua chợ ăn đêm Bến Thành ăn nhé.
Thằng bé vẫn không nói gì. Mặc kệ, tôi nhẹ nhàng đưa tay ra cầm lấy hai cái bịch nylong đựng đầy các đồ "ve chai" của nó, tay kia cầm tay nó và dẫn nó đi. Thằng bé nhìn quanh có vẻ sợ hãi nhưng vẫn không nói gì. Nó đi theo tôi, nhưng đầu vẫn cứ ngoái lại đằng sau như có điều gì không ổn. Tôi hỏi:
- Cháu tìm gì vậy? Hay cháu có bạn, có muốn chú mời bạn cháu cùng đi không?
- Dạ không.
Thằng bé nói câu đầu tiên. (và sau này tôi mới biết cũng là câu đối thoại cuối cùng với tôi).
Cứ mỗi tối tôi ra chợ Bến Thành ăn đêm thì các quán tha hồ tranh thủ mời, có khi họ còn ra giữa đường chèo kéo, thế mà tối nay… chẳng ai thèm đả động với tôi một câu. Nhưng tôi hiểu, vì tôi đã quen với cái cảnh này lắm rồi, nên tôi dẫn thằng bé vào góc trong cùng của một cái quán để tránh những cái nhìn… "soi mói". Thế mà chúng tôi cũng không tránh được những cái liếc mắt khó chịu từ những người đang ăn cho đến chị chủ quán. Tôi hỏi thằng bé muốn ăn gì, nó lắc đầu không nói (hay không biết). Tôi đánh liều gọi hai tô bún bò giò heo và thêm một ít móng heo để gặm. Mong rằng sẽ câu giờ để có cơ hội nói chuyện với thằng bé. Thằng bé vẫn không nói gì. Nó vừa ăn mà vừa lấm lét nhìn chung quanh và nhìn ra đường. Ngay cả người "giỏi bắt chuyện" như tôi mà cũng không thể nào cậy răng nó ra được thêm chữ nào. Tôi hỏi thì một là nó lắc đầu, hai là nó gật đầu. Tôi vận dụng hết tài năng khéo léo của mình, khả năng giao tiếp cho đến những đòn tâm lý học. Tất cả đều vô hiệu…
- (Văng tục…) Mày trốn hả? Biến đi đâu nãy giờ? Ai cho mày vô đây. (Văng tục…) Tao đánh chết "…" mày bây giờ. (Văng tục…) bộ mày đói lắm hả…
Người đàn bà sang sảng vừa nói vừa tát thằng bé tới tấp. Tôi không kịp phản ứng gì thì thằng bé đã bị người đàn bà đó kéo ra khỏi tiệm ăn. Tôi đang tính đuổi theo thì…
- Đóng kịch rồi chạy hả.
Chị chủ quán kéo tay tôi lại và hét lên. Tôi móc túi lấy ra tờ 200,000 (hai trăm ngàn) đưa cho chị và chạy ra khỏi quán. Thấy tôi chạy sau người đàn bà túm cổ thằng bé bẻ ngược lại chỉ thẳng vào mặt tôi và quát to.
- Mày mà chạy theo, tao (văng tục…) tao bẻ cổ nó.
Tôi khựng lại, đứng nhìn bà ta túm cổ áo thằng bé kéo đi mà lòng đau xót. Tôi lê bước trở lại cái quán ăn hồi này, ngồi xuống bàn, thở dài, miên man suy nghĩ, nước mắt tuôn hồi nào cũng không hay. Tiếng một người đàn bà ngồi kế bàn tôi cất lên.
- Ôi thôi, cậu khóc làm gì. Chuyện đó xảy ra như cơm bữa ở Sài Gòn. Mấy con mẹ đó là mấy con mẹ mìn. Tụi nó về quê thuê mấy đứa con nít lên đây đi ăn xin, rồi nộp tiền cho nó. Cậu ở bển (chắc ý nói tôi ở nước ngoài) nên ngây thơ thôi.
- Vâng, cháu không biết. Cháu thấy tội đứa bé nên cho nó ăn và tính cho nó ít tiền thôi.
- Trời, cậu này thiệt á. Cậu có cho nó 1 ngàn hay 100 ngàn cũng vậy thôi. Nó đâu có gì vui đâu vì tất cả cũng vô tay mấy con mẹ đó hết trơn.
Trời!!! Đó là tiếng (than) duy nhất có thể thoát ra từ cửa miệng của tôi khi lê bước trên 2 blocks đường ngắn về khách sạn. Tôi vẫn biết rằng cuộc đời có nhiều trái ngang nhưng… chẳng lẽ… những gì tôi mới chứng kiến cũng là sự thật? Vâng nó là một sự thật rất phũ phàng mà tôi mới nhận ra…
* * * *
Bạn thân mến, không biết bạn đọc xong đoản khúc này thì tâm trạng của bạn ra sao? Nhưng đối với tôi, đứa bé đó sẽ sống mãi, vâng sẽ sống mãi, ít nhất là trong tâm hồn của tôi. Tôi sẽ mãi nhớ về em, sẽ mãi cầu nguyện cho em, và ước mong… Vâng! tôi chỉ ước mong một ngày nào đó tôi sẽ được ôm em vào lòng và "chú cháu" mình sẽ hàn huyên, sẽ nói thật nhiều.
Ước gì! Vâng, ước gì mỗi người chúng ta sống được lời Chúa khi Ngài nói: "Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy." Mt 24:40.
(LM. Martino Nguyễn Bá Thông - www.hayyeuthuongnhau.org)

