QUÁN BIÊN THUỲ

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Phóng sự đặc biệt ngày Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa 19 Tháng Sáu:

Harry Trần Ngọc Huế, một chiến binh anh dũng và trung thành
Sunday, June 17, 2007


Image
Bàn tay chỉ còn hai ngón nguyên vẹn của Harry Trần Ngọc Huế và những tấm huy chương

Image
Harry Trần Ngọc Huế: “Lúc đó, chúng tôi chiến đấu với tinh thần sống tự do hay là chết.”



Bài và hình: Ðỗ Dzũng/Người Việt


FALLS CHURCH, Virginia (NV) - “Harry Trần Ngọc Huế là một chiến binh lỗi lạc và ông đã phải trả giá đắt cho sự trung thành với tổ quốc mình trong cuộc chiến Việt Nam.” Ðó là lời mà Thượng Nghị Sĩ Hoa Kỳ James Webb (Dân Chủ-Virginia) viết cho người cựu sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH) này trong một bức thư đề ngày 4 Tháng Tư vừa qua.


Qua một người bạn giới thiệu, tôi được gặp người đàn ông mà nhiều người trong Hải Quân và Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ, trong đó có Thượng Nghị Sĩ Webb, từng là bộ trưởng Bộ Hải Quân, gọi là “anh hùng của những anh hùng (Hero of the Heroes).”


Tướng cao to, khỏe mạnh, mặc dù tuổi đã ngoài 60, bàn tay trái chỉ còn hai ngón nguyên vẹn, cộng với một vài vết thẹo trên khuôn mặt và phía dưới cằm, ít ai ngờ rằng, con người này đã từng vào sinh ra tử biết bao lần, nhất là cuộc chiến lấy lại Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 1 Bộ Binh và Ðại Nội Huế, hồi Tết Mậu Thân 1968.


Vì những hành động anh hùng của mình, ông Harry Trần Ngọc Huế đã được Hoa Kỳ tặng thưởng một huy chương “Ngôi Sao Bạc” (Silver Star) và một huy chương “Ngôi Sao Ðồng” (Bronze Star). Ngoài ra, ông cũng được chính phủ Việt Nam Cộng Hòa tặng Ðệ Ngũ Ðẳng Bảo Quốc Huân Chương cùng nhiều huy chương cao quý khác.

Harry là tên các cố vấn Mỹ đặt cho ông.


Cuộc tái chiếm Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 1 Bộ Binh


Là đại đội trưởng Ðại Ðội Hắc Báo, lực lượng tổng trừ bị của Sư Ðoàn 1 Bộ Binh QLVNCH, Trung Úy Trần Ngọc Huế đã khôn khéo và dũng cảm chỉ huy trận chiến một mất một còn với quân đội Bắc Việt để lấy lại quyền kiểm soát Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 1, nơi đầu não chỉ huy tái chiếm lại Huế vào Tết Mậu Thân 1968.

Người cựu chiến binh này kể: “Lúc đó, Ðại Ðội Hắc Báo của chúng tôi là Lực Lượng Phản Ứng Cấp Thời (Fast Reaction Forces) đóng tại sân bay Thành Nội. Ðêm đó là mùng một Tết và quân đội Bắc Việt đã tấn công nhà đèn, Thiết Ðoàn 7 Thiết Giáp, Phú Văn Lâu, Tòa Hành Chính Tỉnh và Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 1. Ngoài đường phố tràn ngập lính Bắc Việt, phi trường bị pháo kích dữ dội...”

Ông kể tiếp: “Chúng tôi có 6 trung đội, sau khi bố trí quân, tôi về nhà nghỉ. Một lúc sau, thấy pháo dữ dội quá, tôi trở dậy, mặc đồ lính đi. Trong đêm tối, tôi thấy đặc công Bắc Việt đi hàng hàng lớp lớp ngoài đường.”

“Lúc đó, tôi rất lưỡng lự, không biết có nên đi hay không vì con gái đầu lòng của tôi mới sinh được một tháng. Tôi có thể trở về nhà với vợ con, nhưng nghĩ lại trách nhiệm của người lính và một chỉ huy. Hơn nữa, nếu nước mất nhà tan, thì chưa chắc gia đình tôi yên ổn. Thế là tôi tiếp tục đi phía sau họ để đến phi trường,” người anh hùng này kể tiếp.

Khi đến sân bay, theo lời ông kể, đặc công Bắc Việt đã tiếp cận bộ chỉ huy Ðại Ðội Hắc Báo của TrungÚy Huế.

“Họ chiến đấu rất hăng say. Họ mặc quần đùi, đeo súng AK bá xếp. Tuy nhiên, các anh em Hắc Báo đã dũng cảm chiến đấu và đánh bật đối phương ra khỏi phi trường. Chúng tôi cứu được hai lính thủy quân lục chiến Hoa Kỳ, lúc đó có nhiệm vụ bảo vệ phi trường, khỏi tay quân địch,” ông Huế kể tiếp.

Sau đó, đơn vị Hắc Báo lại được lệnh của Trung Tá Ngô Văn Chung, trưởng phòng 3, Sư Ðoàn 1, qua giải cứu Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn, đang bị địch vây hãm.

“Liền đó, tôi nghe trên điện đàm tiếng Trung Tá Chung nói: Ðây là lệnh của mặt trời (ẩn danh của Tướng Ngô Quang Trưởng). Nếu không thi hành sẽ bị đưa ra tòa án mặt trận”. Ông Huế kể.

Qua hệ thống vô tuyến chỉ huy, ông Huế cũng nghe được lệnh của Trung Tá Chung ra lệnh cho Thiết Ðoàn 7, đồn trú tại An Cựu, đưa xe tăng sang cứu Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn.

“Tuy nhiên, Trung Tá Chí, thiết đoàn trưởng Thiết Ðoàn 7 Thiết Giáp, cho sư đoàn biết là hiện tại bộ chỉ huy của ông đang bị pháo và đặc công uy hiếp nặng nề,” ông Huế kể tiếp.

Sau khi ổn định tình hình, Trung Úy Huế tập trung anh em Hắc Báo lại và ban lệnh hành quân kế tiếp.

Ông kể: “Tôi nói với anh em rằng, một nửa đại đội phòng thủ phía Nam sông Hương đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng và tôi đã mất liên lạc. Nay Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn đang bị vây hãm, tình thế thập tử nhất sinh, tất cả đều trông cậy vào Hắc Báo chúng tôi. Vì sự sống còn của anh em và gia đình, vì sự sống còn của đồng bào và thành phố, chúng tôi quyết phải đánh, dù bất cứ giá nào.”

Sau khi nghe đại đội trưởng Huế nói, tất cả đều hô to “Xin thề! Xin thề! Xin thề!” và “Huế ơi, có chúng tôi đây!”

“Ðó là lời thề của các chiến sĩ Hắc Báo trước khi xung trận,” cựu đại đội trưởng Hắc Báo cho biết tiếp.

Nhờ sống ở Huế lâu và rất rành đường đi nước bước trong thành phố, nên ông Huế dễ dàng dẫn quân luồn lách qua những ngả đường, đến nơi mà địch hoàn toàn không biết.

Người cựu chiến binh QLVNCH này say sưa kể: “Khi đến bên này Cầu Kho, tôi thấy bên kia cầu, gần cổng chính vào Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn, địch đang lúc nhúc đào công sự, chuẩn bị tấn công. Bên trong bộ tư lệnh không thể nào ra được. Ngoài nhân viên Việt Nam còn có một số cố vấn Mỹ trong đó. Nếu bộ tư lệnh mà bị chiếm là coi như rắn mất đầu. Thế là chúng tôi phải dốc toàn lực đánh một mất một còn với địch.”

Theo ông Huế, Hắc Báo là đơn vị đầu tiên của Sư Ðoàn 1 có súng M16, được coi là tối tân nhất lúc đó. Họ cũng sử dụng súng phóng hỏa tiễn M72, đại liên 30ly và đại bác 57ly không giật.

“Từ bên này cầu, tôi cho bố trí ba khẩu đại liên bắn trực xạ làm quân địch rối loạn. Cùng lúc đó, chúng tôi dùng cả lựu đạn khói làm địch không thấy đường. Sau khi hy sinh một tiểu đội, chúng tôi chiếm lại cầu và mở đường vào bên trong bộ tư lệnh,” ông Huế kể tiếp như vậy.

Người đầu tiên Trung Úy Huế gặp khi vào bên trong bộ tư lệnh là Trung Tá Trần Văn Cẩm, tham mưu trưởng sư đoàn. Trung Tá Cẩm liền chỉ cho đại đội trưởng đại đội Hắc Báo biết nơi địch quân đang chiếm đóng trong khu vực. Ðó là khu vực Ðại Ðội 1 Quân Y Sư Ðoàn, bệnh xá và câu lạc bộ.

“Không chần chờ, tôi cho lệnh chiến đấu,” ông Huế kể.

Ðơn vị Hắc Báo dùng lựu đạn đi đến tấn công từng phòng, giết và bắt một số tù binh một cách dễ dàng.

“Chiến thuật của Hắc Báo lúc đó là cận chiến nhằm bắt sống tù binh để khai thác. Nếu không được mới dùng lựu đạn tấn công,” ông Huế cho biết như vậy.

Tôi hỏi: “Làm sao mà đặc công có thể thoát bãi mìn để vào được bên trong bộ tư lệnh nhiều thế?”

“Ðó là một cái lỗ thoát nước. Ðó chính là nơi mà đặc công bò vào,” ông trả lời.

“Sau khi chiếm cửa hậu phía Bắc của thành Mang Cá, tôi thấy một cảnh hãi hùng. Ðịch đang bò lê bò càng dọc theo bên ngoài bờ thành. Thế là các khẩu đại liên của Hắc Báo cứ thế mà ‘quét’ vào. Cuộc chiến bắt đầu từ 10 giờ sáng mà mãi đến 3 giờ chiều mới kết thúc,” ông Trần Ngọc Huế nói.

Ông nói tiếp: “Lúc đó, chúng tôi chiến đấu với tinh thần sống tự do hay là chết.”

Ngay sau đó, ông đã được tặng thưởng huy chương Anh Dũng Bội Tinh với Ngôi Sao Bạc (Gallantry Cross with Silver Star) do chính Tướng Creighton Abrams, tư lệnh Các Lực Lượng Quân Ðội Hoa Kỳ tại Việt Nam, gắn lên ngực áo. Cũng trong dịp này, ông được lên đại úy và chính Tướng Ngô Quang Trưởng gắn lon cho ông.
Image


Ngày 19 Tháng Sáu, 1969, Ngày Quân Lực VNCH, ông Trần Ngọc Huế được thăng cấp thiếu tá.


Viên ngọc của “Huế”

Sinh ra và lớn lên tại Huế, cái tên Trần Ngọc Huế của ông còn có nghĩa là “hòn ngọc của Huế xuất phát từ nhà Trần.”

Năm 12 tuổi ông đã vào trường Thiếu Sinh Quân. Sau khi đậu tú tài, chàng thanh niên Trần Ngọc Huế vào trường Võ Bị Quốc Gia Ðà Lạt, khóa 18. Ra trường năm 1963, ông được điều ngay về Sư Ðoàn 1 Bộ Binh.

Kể từ năm 1969, ông lần lượt làm tiểu đoàn trưởng các tiểu đoàn 1/3, 5/2 và 2/2 thuộc Sư Ðoàn 1 Bộ Binh.

Tháng Ba, 1971, Tiểu Ðoàn 2/2 của ông cùng với các tiểu đoàn khác, dưới sự chỉ huy của Ðại Tá Ngô Văn Chung, trung đoàn trưởng Trung Ðoàn 2, được điều động tham gia cuộc hành quân Lam Sơn 719 với nhiệm vụ đột kích bằng trực thăng vận vào mục tiêu chiến lược Tchepone, Nam Lào. Theo kế hoạch, sau khi hoàn thành nhiệm vụ chiếm và kiểm soát mục tiêu chính của cuộc hành quân, ông Huế sẽ được Tướng Phạm Văn Phú đáp trực thăng xuống gắn lon trung tá và tiểu đoàn của ông sẽ được lệnh hành quân về phía Tây Nam Lào, giải vây cho hai tiểu đoàn 3/3 và 4/3.

Sau khi giải vây được cho tiểu đoàn bạn, Tiểu Ðoàn 2/2 lại bị địch bao vây.

Ông Huế kể: “Lúc đó, pháo bắn vào dữ quá. Tôi bị thương nặng nơi mặt, đầu và cổ. Ban chỉ huy ra lệnh mở đường mau rút lui. Anh em đòi khiêng tôi rút lui, nhưng tôi không chịu. Tôi không muốn anh em bị thiệt hại vì mang tôi đi. Chúng tôi xuống 600 người nhưng chỉ thoát được 50 người. Toàn bộ số còn lại bị bắt hoặc hy sinh. Ðó là ngày 21 Tháng Ba, 1971.”

Sau đó, ông Huế được anh em khiêng đi dọc đường mòn Hồ Chí Minh về tới Vĩnh Linh. Phía địch quân đưa ông lên xe lửa và mang ra nhốt tại nhà tù Hỏa Lò. Vài tháng sau, ông bị đưa lên nhốt ở các trại tại Sơn Tây, Hoàng Liên Sơn, Yên Bái, Lạng Sơn và Cao Bằng.

Ông Huế kể tiếp: “Sau khi Hiệp Ðịnh Paris được ký kết hôm 27 Tháng Giêng, 1973, theo quy định, địch phải thả tôi. Lúc đó, tôi đang ở Kỳ Cùng thì địch đưa về Hà Tây. Sau đó, họ đưa tôi cùng một số anh em khác vào bờ sông Thạch Hãn để trao trả tù binh. Nhưng tự nhiên địch chia chúng tôi ra làm hai nhóm, nhóm bị bắt tại các nơi khác và nhóm bị bắt ở Lào. Lúc đó, tôi đã mường tượng một điều gì đó không tốt.”

“Các anh bị bắt ở Lào là thuộc quyền Mặt Trận Lào Yêu Nước,” một cán bộ Bắc Việt nói với ông Huế như vậy, theo lời kể của ông.

Ông kể tiếp: “Thế là họ đưa chúng tôi về ngã ba Ðường Thành, Hà Nội, và giam tiếp. Chúng tôi phản đối bằng cách tuyệt thực và cạo đầu. Thế là chúng còng tay và đánh đập chúng tôi. Sau đó, chúng tôi bị đưa đi Yên Bái và nhốt cách ly. Kế đến, chúng lựa ra 11 người đầu não, trong đó có tôi, đưa lên nhốt ở Cao Bằng.”

“Năm 1974, chúng tôi bị đưa về Nghĩa Lộ làm trại cải tạo chuẩn bị đón thêm tù binh. Sau đó, chúng tôi lại bị đưa trở lại về Yên Bái để làm đường chiến lược Tây Bắc,” cựu tù binh cộng sản này kể tiếp.

Năm 1978, khi Việt Nam rục rịch chiến tranh với Trung Quốc, ông Huế lại bị đưa về Nam Hà. Ðến Tháng Tư, 1982, ông được chuyển về Hàm Tân. Tháng Bảy, 1983, ông được thả.

Về Sài Gòn, ông bị quản thúc tại gia trong nhiều năm cho đến năm 1991, ông sang Hoa Kỳ diện cựu sĩ quan chế độ cũ.


Cuộc sống mới tại Hoa Kỳ

Image


Hồi ở Tiểu Ðoàn 2, Trung Ðoàn 2 của Sư Ðoàn 1, ông Huế có một người bạn thân là David Wiseman, lúc đó là cố vấn Mỹ. Ông Wiseman cũng từng bị thương ba lần tại Việt Nam và rất cảm kích tinh thần chiến đấu của người bạn Trần Ngọc Huế.

Sau năm 1975, ông David Wiseman không biết người bạn của mình sống chết ra sao. Ông cầm tấm hình của ông Huế đi khắp vùng thủ đô Washington D.C. và đưa cho mọi người xem. Mỗi lần ông đưa tấm hình ra, ông đều nhận được một cái lắc đầu.

Cho đến một hôm, ông Wiseman tham dự một buổi tiệc gây quỹ của Hội Gia Ðình Cựu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam tại Virginia và gặp ông Ngô Ðức Am, em rể của bà Khúc Minh Thơ, chủ tịch hội.

Thật là may mắn cho ông Wiseman vì ông Am chính là người ở chung trại tù với ông Huế.

Sau khi xem tấm hình, ông Am cho ông Wiseman biết ông Huế vẫn còn sống ở Việt Nam. Thế là ông Wiseman tìm cách liên lạc với ông Huế.

Việc đầu tiên là ông Wiseman gởi cho ông Harry một bức thư ngắn trong đó kèm theo năm tờ giấy $20.

Bức thư chỉ có vài hàng: “Harry, tôi biết anh còn sống. Tôi đã tìm anh 20 năm nay. Tôi sẽ tìm mọi cách đưa anh sang Mỹ. Nếu anh qua Mỹ tôi sẽ giúp. Nếu anh muốn ở lại, tôi sẽ gởi tiền về giúp. Anh còn thích hút thuốc Salem không?”

Khi đến Hoa Kỳ năm 1991, chính ông Wiseman là người ra đón gia đình ông Huế tại phi trường Washington National Airport. Sau đó, ông Wiseman lo mướn nhà cho gia đình ông Huế, giúp mua sắm một số vật dụng cần thiết.


Image
Bộ bàn ăn mà ông David Wiseman tặng hồi gia đình ông Huế mới sang Mỹ

Image
Chiếc áo đơn vị Hắc Báo, Sư Ðoàn 1 Bộ Binh, của ông Harry Trần Ngọc Huế.

Theo ông Huế cho biết, ông Wiseman đã qua đời cách đây bốn năm.


Kể từ khi biết Harry đến Hoa Kỳ, các cố vấn Mỹ, mà nhiều người sau này trở thành bạn thân và coi Harry như anh em ruột, gọi điện thoại và đến thăm tới tấp. Ai cũng muốn giúp ông ổn định cuộc sống mới.

Năm 1994, nhờ bạn bè giúp đỡ, cựu chiến binh Trần Ngọc Huế và ba cô con gái, Coco, Vicky và Elly, vào làm cho ngân hàng Navy Federal Credit Union cho đến nay.


Một người lính đầy danh dự

Dù trong hoàn cảnh nào, cựu chiến binh Harry Trần Ngọc Huế luôn giữ được khí tiết và danh dự của một người lính QLVNCH. Vì thế, ông được nhiều người rất kính nể.

“Mỗi người có một cách sống riêng. Bản thân tôi luôn sống với danh dự của một quân nhân QLVNCH. Người ta (các cố vấn Mỹ) đã bỏ quê hương sang giúp mình thì mình phải giúp họ hoàn thành nhiệm vụ. Sống với họ phải sống xứng danh quân đội VNCH. Vì thế, tôi có những cảm tình rất khó tin với các cố vấn Mỹ,” ông Huế chia sẻ như vậy.

Ông Ned Devereaux, cố vấn cũ và từng bị thương với ông cố vấn Wiseman và ông Huế ngày 8 Tháng Mười Một, 1970, cho biết: “Khi tôi gặp Harry lần đầu tiên, tôi biết ngay ông là một người lính chuyên nghiệp, một sĩ quan chuyên nghiệp, một người mà khi ra lệnh tôi sẽ theo ngay, không thắc mắc. Harry đã làm tôi cảm thấy mình là một thành viên trong gia đình quân đội của ông. Những gì ông làm đã giúp tôi hoàn thành nhiệm vụ dễ dàng.”

“Nếu phải viết một câu về Harry, tôi sẽ viết, Harry thật sự là một anh hùng, một người trung thành với tổ quốc, cấp trên, gia đình và binh sĩ của mình và tôi coi Harry như một người anh em cùng huyết thống và thật sự kính nể ông,” ông Devereaux viết như vậy trong email gởi cho tôi.

Ông Thái Quang Ty, một trung sĩ Hắc Báo tham gia trận đánh lấy lại Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 1 Bộ Binh, đang sống tại thành phố Atlanta, Georgia, kể: “Anh Huế là một chỉ huy tài giỏi và mưu lược. Lúc tôi ở cùng đơn vị với anh, Hắc Báo đánh đâu thắng đó, chưa thua một trận nào. Ở mỗi trận đánh, anh đều quan sát trước địa hình trước khi giàn quân. Các chỉ huy khác thường xua binh sĩ đi trước, riêng bản thân anh lúc nào cũng đi sát binh sĩ. Chính vì vậy làm cho tinh thần anh em hăng say.”

Qua điện thoại, ông Richard Weyand, cố vấn đại đội Hắc Báo từ năm 1967 đến 1969 và hiện sống tại thành phố Kenosha, Wisconsin, nói: “Harry là người dấn thân nhất cho cuộc chiến. Cách chỉ huy của ông, sự trung thành của ông và sự can đảm của ông làm tôi tự hào khi được làm việc với ông trong hai năm trời.”

Một cố vấn khác của đơn vị Hắc Báo, ông William Bolt, hiện là trung tướng hồi hưu sống tại thành phố Columbia, South Carolina, kể qua điện thoại: “Trong một trận đánh tại phía Nam thành phố Huế vào cuối năm 1968, chính ông Harry đã cõng ông Richard Weyand ra sau khi ông này bị thương trong một bãi mìn. Harry quả thực là một người can đảm. Ông là một người yêu nước và là người hy sinh nhiều nhất cho đất nước của ông mà tôi được biết.”

Khi Giáo Sư Sử Học Andrew Wiest, trường đại học University of Southern Mississippi, chuẩn bị viết tác phẩm “Vietnam's Forgotten Army, Heroism and Betrayal in the ARVN,” ông vô tình biết được Harry Trần Ngọc Huế qua ông Jim Coolican, cựu Ðại Tá Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ và là cố vấn của ông Huế hồi Tết Mậu Thân 1968.

Giáo Sư Wiest kể: “Tôi sang thăm Việt Nam năm 2000 và thấy rất nhiều. Một điều tôi ít thấy nói đến là QLVNCH. Về Mỹ tôi quyết định viết một cuốn sách về đề tài này. Trong lúc nghiên cứu tìm tài liệu, nhiều người cho tôi biết phải tìm và viết về Harry Trần Ngọc Huế. Thế là tôi nhờ cựu cố vấn Jim Coolican giúp tôi.”

“Tôi nghĩ Harry là một biểu tượng xứng đáng nhất của Việt Nam và Hoa Kỳ. Cũng như bao nhiêu người khác sau chiến tranh, đến Hoa Kỳ với hai bàn tay trắng. Giờ đây, cả ba cô con gái của ông đều tốt nghiệp đại học và có việc làm ổn định. Harry đã thực hiện được giấc mơ Mỹ của mình,” giáo sư này nói tiếp.

Ông kết luận: “Harry là người yêu nước nhất mà tôi gặp từ trước đến nay.”

Vào Tháng Mười Một tới đây, Giáo Sư Andrew Wiest sẽ cho ra mắt tác phẩm nêu trên.

Image

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

VĨNH BIỆT TRUNG TƯỚNG NGUYỄN CHÁNH THI

Tin tức từ Cali cho biết .Cựu Trung tướng Nguyễn chánh Thi đã từ trần vào 6 giở 30 chiều thứ bẩy 23/6 giờ địa phương hưởng thọ 85 tuổi .

Cựu Trung tướng Nguyễn chánh Thi từng nắm giữ chức Tư lệnh Sư Đoàn Nhẩy Dù . Vào năm 1960 , ông đã làm cuộc đảo chánh lật đổ cố Tổng thống Ngô đình Diệm ,nhưng thất bại ,đành phải chạy trốn qua Campuchia sống cuộc đời lưu vong. Sau đó một thời gian , ông lại trở về nước tham gia Quân đội vào 1965.
Sau năm 1975 , ông di tản sang Hoa Kỳ , và đã cho xuất bản cuốn sách .về cuộc đời Quân ngũ. Được đón nhận nồng nhiệt của mọi giới.

Xin cầu nguyện hương hồn cựu Trung tướng Nguyễn Chánh Thi Sớm về Cõi Niết bàn.

CNN
Posts: 1017
Joined: Wed Dec 01, 2004 8:18 am

Post by CNN »

Nguyễn_Sydney wrote:VĨNH BIỆT TRUNG TƯỚNG NGUYỄN CHÁNH THI
........
Xin cầu nguyện hương hồn cựu Trung tướng Nguyễn Chánh Thi Sớm về Cõi Niết bàn.
và cũng xin cầu cho linh hồn ông sớm về nước Chúa

CNN
Được biết có thời ông theo đạo Công Giáo nữa

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Lễ Giỗ 10 Năm BS Nhảy Dù Tô Phạm Liệu

Trường Sơn Lê Xuân Nhị


Vong hồn anh linh thiêng, xin về phù trợ cho anh em ráng sống hết cuộc đời còn lại của mình, nếu không được hào sảng và ngang tàng như anh thì cũng đừng làm gì ô uế đến thanh danh của những người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đừng phản bội anh linh những bằng hữu của mình đã bất hạnh nằm xuống...
*
Thường thường, những người đã từng mặc đồ lính thì luôn luôn yêu đời lính. Tôi cũng thế, nhưng tôi chưa hề thấy một người nào yêu đời lính như ông bác sĩ nhảy dù Tô Phạm Liệu. Anh Liệu yêu đời lính đến độ, phải mặc đồ dù rồi tròng áo saut vào người thì rượu uống mới thấy ngon, cử động ăn nói mới thoải mái tự nhiên được... Những câu chuyện mà anh nói trên bàn rượu, nói tới nói lui, nói đi nói lại rồi thì cuối cùng cũng trở về lính và tất cả những thứ gì có dính dáng tới lính. Đủ thứ lính nhưng dĩ nhiên, lính nhảy dù thì nhiều nhất. Lạ một điều là không bao giờ nghe thấy anh khoe cái nghề tu bíp của mình...
Những ngày lưu vong nơi xứ người, bác sĩ nhảy dù Tô Phạm Liệu làm việc cho nhà thương VA ở thành phố Alexandria, tiểu bang Louisiana. Alexandria là một thành phố nhỏ nằm ở giữa 3 thành phố lớn, thứ nhất là Houston, thứ nhì là Dallas và thứ ba, nhỏ hơn cả nhưng tình hơn cả là New Orleans. Điều đáng nói là từ Alexandria đi đến ba thành phố này, khoảng cách hầu như gần bằng nhau, khoảng 300 dặm...
Có lẽ vì thế, vào những ngày cuối tuần, ông bác sĩ giang hồ này thường có mặt tại một trong ba thành phố này nhiều hơn ở nhà. Tuần thì Dallas, tuần thì Houston và tuần thì New Orleans. Nơi nào cũng có bạn bè của anh, nơi nào anh em cũng nồng hậu đón tiếp anh, nơi nào cũng hứa hẹn những cơn say nghiêng ngửa, những trận cười tới đất.
Những ngày anh Liệu xuống New Orleans, dĩ nhiên, đối với những bạn bè và anh em của anh Liệu như chúng tôi thì thành phố bỗng trở nên tưng bừng như những ngày hội...
Anh Liệu thường đến chiều thứ Sáu và tiệc rượu bắt đầu liền, kéo dài sang ngày thứ bảy, sang đến tối chủ nhật hoặc có khi đến sáng thứ hai, tùy theo hoàn cảnh...
Tôi không thể nào quên được chiếc xe Van màu xanh da trời của anh. Xe không cũ, cũng không mới, chỉ chạy được, coi được. Nhưng nó đưa anh đến tất cả những nơi anh muốn đến...
Lần nào cũng thế, sau khi dừng xe, anh bước xuống, miệng cười hớn hở và tay thì xách cái... túi quân trang vào nhà. Anh vào phòng tắm, rửa mặt mày rồi cởi bộ thường phục ra, tròng bộ đồ hoa rừng của nhảy dù vào người. Tùy theo thời tiết nóng lạnh, anh có thể thêm chiếc áo saut vào...
Lúc anh trở ra trong bộ đồ dù, ai cũng thấy mặt mày anh sáng rỡ. Đó chính là lúc anh sẵn sàng ngồi xuống uống rượu và vui đùa với anh em...
Ai uống rượu với anh Liệu rồi, đều phải công nhận anh uống rượu rất là dễ thương. Anh luôn luôn có những mẩu chuyện cười thủ sẵn trong túi mình và khi cần thì lấy nó ra, kể cho anh em nghe. Nghe xong thì ai cũng ôm nhau rũ ra mà cười. Cười đến đổ cả rượu, cười đến chảy cả nước mắt...
Nhưng không phải anh Liệu chỉ biết uống rượu. Anh còn bênh vực và lo lắng cho bạn bè nhảy dù của anh. Tôi xin kể lại một chuyện.
Năm 1992, Phan Nhật Nam vừa chân ướt chân ráo sang Mỹ, không hiểu vì một lý do gì đó, nhà văn chống Cộng nổi tiếng của của quân đội bị thiên hạ đánh tơi bời trên báo chí và trên internet. Chúng nó bảo anh Phan Nhật Nam là Việt cộng nằm vùng, là đủ thứ. Khốn nạn thật.
Một buổi chiều nào đó khoảng năm 1992, tôi cùng anh Liệu và một nhóm bạn nhà binh ngồi uống rượu. Tôi bảo:
-Anh Liệu, ngay cả một nhà văn chống Cộng nổi tiếng như anh Phan Nhật Nam mà chúng nó còn dám đội nón cối vào đầu thì khốn nạn thật.
Nhiều người bạn lính tôi chửi thề. Người khác, có lẽ cũng bắt đầu xỉn rồi, đòi... bắn chết mẹ chúng nó.
Anh Liệu chỉ ngồi im, khuôn mặt anh nhăn nhúm lại, đau khổ. Có lẽ anh nghĩ mình bất lực. Anh trầm ngâm một lúc rồi bảo chúng tôi:
-Tao biết thằng Nam từ hồi còn nhỏ, hai đứa tao cùng ở một nhà, đi học chung một trường. Nó làm sao là Việt cộng được...
-Thì ai lại chẳng biết thế...
Rồi anh bảo:
-Tụi mình phải làm một cái gì cho Phan Nhật Nam. Mình không thể ngồi yên nhìn chúng nó đánh Phan Nhật Nam như thế.
Có người nhát gan, bảo nếu mình bênh PNN thì chúng nó đánh mình luôn sao. Anh Liệu lắc đầu cười:
-Mẹ kiếp, thằng nào muốn đội nón cối vào đầu ông xin cứ tự nhiên, ông đây cóc sợ.
Chúng tôi ngồi nói chuyện một lúc và bỗng nhớ ra một chuyện. Thành phố New Orleans hồi đó đã được nổi tiếng là thành phố đầu tiên làm lễ Thượng Kỳ ngày quân lực tại tòa thị sảnh thành phố. Hôm thượng kỳ đầu tiên có cả tướng Westmoreland và nhiều nhân vật cao cấp Việt Mỹ đến tham dự. Theo thông lệ đó, hàng năm, chúng tôi tiếp tục làm lễ thượng kỳ tại tòa Thị Chính. Mỗi một lần thượng kỳ như thế, chúng tôi thường mời một nhân vật quan trọng trong cộng đồng Việt hay Mỹ đến đọc diễn văn.
Chúng tôi nẩy ra ý kiến mời nhà văn Phan Nhật Nam đến đọc diễn văn vào buổi lễ thượng kỳ năm ấy. Trong bàn rượu hôm ấy vô tình có mặt ông chủ tịch hội Cựu Quân Nhân tại Louisiana là ông Nguyễn Văn Phú, trưởng ban tổ chức Lễ Thượng Kỳ. Nghe chúng tôi đề nghị, ông vui vẻ nhận lời ngay.
Nửa tiếng đồng hồ sau, anh Liệu và anh em nhảy dù còn thêm một tiết mục ra mắt sách cho nhà văn Phan Nhật Nam sau khi chào cờ vào buổi tối hôm đó.
Mười lăm năm rồi nhưng tôi còn nhớ lại như mới ngày hôm qua. Ngày hôm đó là một ngày vui. Thật là vui. Anh em lính tráng khắp nơi đổ về tham dự lễ Thượng Kỳ. Phan Nhật Nam hiên ngang và dõng dạc lên đọc diễn văn trong bộ quân phục nhảy dù. Chiều hôm đó là lễ ra mắt sách, và sau đó, chúng tôi nhập tiệc, nhậu nhẹt gần đến sáng...
Kể từ ngày đó, bọn khốn nạn nào đã đánh Phan Nhật Nam bỗng dưng chùn tay lại và từ từ im tiếng, rút vào bóng tối luôn.
Một kỷ niệm vui khác về anh Liệu, xin cho phép tôi kể ra đây. Hồi thân phụ tôi mới sang Mỹ, gia đình chúng tôi làm một bữa tiệc đãi bác sĩ Liệu. Tuy chúng tôi coi nhau như anh em nhưng khi thân phụ biết con mình quen ông bác sĩ nổi tiếng Tô Phạm Liệu thì lấy làm hãnh diện lắm, nhất định phải mời ông bác sĩ tới nhà dùng cơm cho được.
Tiệc vui bắt đầu rất nhộn nhịp. Thân phụ ngồi ở đầu bàn bên kia, bác sĩ Liệu ngồi ở đầu bàn bên này, tôi ngồi... kẹt ở giữa một đám anh em, mọi người cười cười nói nói vui vẻ, chan gắp ào ào, nốc rượu liên miên, tưng bừng vui vẻ...
Đến một lúc nào đó, giữa bữa ăn, tôi bỗng nghĩ ra một chuyện để chọc bác sĩ Liệu và có thể đùa với thân phụ một chút. Tôi làm mặt nghiêm trang, rầu rầu hỏi bác sĩ Liệu giữa bàn tiệc:
-Anh Liệu, anh là bác sĩ, em có bị chứng bịnh này mà chữa hoài không khỏi, bây giờ gặp ông bác sĩ ở đây, không biết nói ra anh có thể chữa được cho em không?
Cả nhà tôi khi nghe như thế, nhất là mẹ tôi và thân phụ nhìn tôi lo lắng, không biết tôi có bịnh gì mà cả nhà chẳng ai biết. Chỉ có mình anh Liệu có lẽ đoán tôi sắp sửa đùa giai nên liếc nhìn tôi và cười cười bí mật.
Anh bảo, làm như chẳng biết gì:
-Thì cậu cứ kể bệnh tôi nghe thử. Nếu có thuốc thì tôi cho, không thì tôi giới thiệu đến bác sĩ khác chữa cho cậu. Mình ở trên đất Mỹ mà.
Tôi nói, vừa nói vừa làm bộ mặt nghiêm trang, ráng giữ cho đừng cười:
-Anh Liệu, em bị cái bệnh gì không biết mà đi đâu, hễ gặp... đàn bà con gái đẹp thì cứ phải quay đầu lại mà nhìn, nhìn mãi không thể nào bỏ được. Anh có thuốc gì cho em uống cho bỏ cái bệnh... nhìn gái này...
Cả nhà cười rộ lên. Anh Liệu chờ cho tiếng cười lắng xuống rồi mới bình thản trả lời:
-Trời ơi, nếu cậu gặp đàn ông đẹp giai mà nhìn như thế thì thật là nguy hiểm, cần phải cho thuốc uống gấp gấp chứ gặp đàn bà con gái đẹp mà nhìn như thế thì... tốt lắm, chẳng có bệnh gì cả. Thú thật là tôi cũng giống cậu, gặp đàn bà con gái đẹp là cứ lõ mắt ra mà nhìn. Cậu cứ tiếp tục nhìn đi, chẳng sao cả...
Cả nhà lại cười rộ lên một lần nữa...
Đấy, những lần đi uống rượu với anh Liệu, dù ở trong hàng quán, dù ở trong nhà, hay dù bất cứ ở đâu, anh Liệu cũng tếu và lanh trí như thế cả.
Kiến thức về y học của anh Liệu như thế nào thì tôi không biết, nhưng kho tàng tiếu lâm và chuyện đời của anh Liệu thì sâu thăm thẳm, không bao giờ hết. Hơn thế nữa, hễ nói về nhảy dù thì anh Liệu có thể nói đến cả ngày mà vẫn chưa hết chuyện. Nhảy dù Việt Nam được thành lập như thế nào, bắt đầu ra sao, anh kể vanh vách từ ngày thành lập, từng người tiểu đoàn trưởng, lữ đoàn trưởng, không thiếu một ai. Không phải chỉ có nhảy dù Việt Nam mà ngay cả nhảy dù Anh, nhảy dù Pháp, nhảy dù Lê Dương, nhảy dù Mỹ, nhảy dù Do Thái anh cũng đều biết tường tận, rõ ràng từng chi tiết. Anh kể tụi SAS (Special Air Service) của Ăng Lê được huấn luyện kỹ lưỡng như thế nào, bọn SEAL Mỹ trưởng thành ra sao từ đệ nhị thế chiến v.v...
Ngồi nói chuyện với anh, nếu không biết anh là bác sĩ thì ai cũng tưởng anh là một nhà nghiên cứu quân sự. Anh là dân bộ binh mà anh lại biết rất nhiều về phi cơ, từ trực thăng cho đến phóng pháo phản lực của Không Quân. Không Quân đã rành, Hải quân cũng rành luôn. Những tàu chiến của Hải quân như tiềm thủy đỉnh, hàng không mẫu hạm anh cũng biết rành rẻ. Chiếc hàng không mẫu hạm này trọng tải bao nhiêu, có bao nhiêu mã lực, anh đều biết rõ. Chưa hết, ai muốn biết hỏa tiễn ICBM của Mỹ tầm bắn bao nhiêu ngàn dặm, mang đầu đạn nguyên tử bao nhiêu Mega-ton anh cũng cắt nghĩa cho nghe...
Tôi biết anh đã bỏ rất nhiều thì giờ để nghiên cứu những chuyện này vì đó là một đam mê của anh...
Dĩ nhiên, trong những tiệc rượu, một trong những đề tài mà anh em thường hỏi anh nhiều nhất là trận đánh đã đi vào quân sử ở đồi Charlie, nơi đã đón nhận hình hài của đại tá Nguyễn Đình Bảo và đồng thời cũng đưa tên tuổi anh cùng vài người khác lên hàng những anh hùng của quân dân Việt Nam qua ngòi bút tuyệt vời của Phan Nhật Nam.
-Ngày tiểu đoàn xuống Charlie, tao đang còn chống gậy vì bị trật chân...
Anh luôn luôn bắt đầu như thế rồi cười khì một phát:
-Mẹ... tụi tao vừa đi hành quân về, đang dưỡng quân ở vườn Tao Đàn. Bố khỉ, lính uống rượu say lấy súng bắn chỉ thiên thế nào không biết, ngày hôm sau tiểu đoàn bị bốc đi. Mẹ, thế là hết dưỡng quân, đành khăn gói lên đường.
Hôm đó, anh bị trật chân chưa lành, nhảy xuống đồi Charlie còn phải chống gậy, đi khập khiễng. Nếu anh muốn, anh có quyền xin dưỡng thương ở nhà nhưng anh không muốn. Anh muốn đi với anh em...
Tiểu đoàn 11 dù đã bị pháo của Bắc Quân cường tập như thế nào, mọi người đã biết, nhưng phải nghe đích thân anh Liệu kể mới thấy thấm thía. Từng giây từng phút một trên ngọn đồi Charlie, quân ta đã oằn oại chịu đựng những cơn mưa pháo của đối phương. "Mẹ, chúng nó bắn không trật một quả ra ngoài," anh Liệu bảo thế, mặt hơi nhăn lại.
Một lần, trong một đợt tấn công, anh Liệu đứng lên khỏi giao thông hào, móc cây Colt .45 của người y sĩ ra, bắn vào Việt cộng. Ông trung tá cố vấn tiểu đoàn người Mỹ tên Duffy nhìn thấy. Sau trận đó, ông cố vấn làm một bài thơ tả lại trận đánh và kể chuyện ông bác sĩ nhảy dù dùng Colt .45 để bắn nhau với Việt cộng. Sau khi sang Mỹ, ông gởi tặng anh Liệu một tập thơ và anh Liệu đã đem tặng tôi. Tôi quý tập thơ lắm và gìn giữ như một báu vật.
Bài thơ của ông trung tá nhảy dù Hoa Kỳ tên Duffy nguyên văn như sau trong tập thơ Warman, tôi xin copy lại nguyên bản để tặng anh em:
Courage
The Doc have been shot at
Oh, Lord! He has his gun out!
Sighting, Aiming and Shooting
At a cannon with a Forty-Five
He is hit and down
But not for long,
Back up again,
Sighting, Aiming and Shooting
Trying to knock out a cannon,
With his Forty-Five
God, isn't he rediculous?
But he has courage.
Duffy (Warman)
Tạm dịch:
Can Trường
Ông bác sĩ bị bắn
Trời đất ơi, ổng rút cây súng ra
Chuẩn bị, nhắm và bắn
Vào cây đại pháo bằng khẩu 45
Ông bị bắn và té xuống,
Nhưng không lâu
Lại đứng lên trở lại,
Chuẩn bị, nhắm và bắn
Ông gắng tiêu diệt cây đại pháo,
Bằng cây súng 45
Trời hỡi, ông ta thật là nực cười
Nhưng ông ta thật là can trường.
Đọc bài thơ này của một người cố vấn Mỹ, tôi không ngờ anh Liệu lại can trường như thế. Điều đặc biệt là anh không bao giờ kể lại sự can trường của mình. Anh luôn luôn bảo, rất thành thực "Tao chả ngon lành gì, nhưng người ta sao thì mình vậy."
Một ngày anh Liệu cùng tôi ngồi cưa mấy chai vang của anh đem xuống. Tự nhiên anh nhìn tôi nói:
-Đức Khổng Tử bảo "Khi tiễn đưa nhau, kẻ tiểu nhân tặng nhau lễ vật, nhưng người quân tử thì tặng nhau những lời hay ý đẹp." Mày là nhà văn, tao có cuốn sách muốn tặng cho chú mày."
Rồi anh mở va li lấy tập thơ "Warman" của ông trung tá cố vấn Duffy đã tặng cho anh, đưa cho tôi. Đây là một chuyện lạ nhưng tôi lúc ấy tôi không để ý lắm vì rượu đã ngà ngà say.
Sau này nghĩ lại về tập thơ tôi mới thấy giật mình kinh hãi. Điềm gở gì đây? Tại sao đương không anh lại tặng cho tôi tập thơ rồi lại còn kéo ông Khổng về để bảo "Người quân tử dùng lời hay ý đẹp để tiễn đưa nhau…" Tại sao lại "tiễn đưa." Bình thường, anh Liệu là một người rất kiêng cử. Mỗi khi sưu tầm được một cái áo saut đẹp, anh lấy tặng cho tôi nhưng luôn luôn bảo: "Tặng áo là một dấu hiệu của sự chia tay. Tao bán cho mày cái áo này chứ không tặng. Lấy đưa tao một đô la rồi ra ngồi uống rượu." Tại sao bây giờ bỗng dưng anh lại tặng cho tôi một tập thơ quý giá nhất của anh? Tôi cảm thấy có điều gì không ổn.
Thật thế, lần uống rượu hôm ấy là lần cuối cùng tôi uống với anh. Sau hôm đó, anh không còn xuống New Orleans thường nữa. Có khi cả mấy tháng anh không xuống một lần, nhưng xuống là đi ngay, không ghé ai cả.
Tôi không biết chuyện gì xảy ra nhưng tôi nhớ lại một chuyện như thế này.
Hồi đó, anh Liệu xuống New Orleans thường ngủ lại nhà tôi và một buổi sáng, sau khi anh đi rồi, vợ tôi vào dọn phòng và tìm thấy một ống Insulin, loại ống chích dành cho người bị tiểu đường. Vợ tôi ngày xưa làm trong nhà thương nên biết rõ loại này. Nàng hỏi:
-Ông bác sĩ bạn anh bị bệnh tiểu đường phải không anh?
Hồi đó tôi đâu biết gì, nên lắc đầu. Nàng đưa ống thuốc cho tôi coi và nói:
-Nếu không thì làm sao ảnh lại sử dụng ống chích này. Đây là ống chích dành cho những người bị bệnh tiểu đường…
Chúng tôi nhìn nhau im lặng, không nói gì thêm. Một lúc, vợ tôi phê bình một câu, vô thưởng vô phạt:
-Bị tiểu đường mà uống rượu được như thế thì hay thật.
Năm cuối cùng và không lâu trước khi anh vĩnh viễn ra đi, một ngày thứ bảy, tôi đang ngồi viết thì chuông điện thoại nhà reo vang. Tôi nhấc máy lên và mừng húm khi nghe tiếng anh Liệu trong ống nói. Hình như đã hơn một năm rồi tôi chưa được gặp anh. Tôi tưởng anh ghé nhậu nên hỏi anh đang ở đâu, chừng nào đến tôi hay tôi sẽ tới bất chỗ nào đó mà anh đang ngồi nhậu.
Anh Liệu trả lời, giọng buồn buồn:
-Anh đang ở Phở Hòa ngồi nói chuyện với Thinh và Thắng nhỏ nhưng anh phải đi liền…
Nghe nói anh ngồi với Thinh và Thắng thì tôi càng mừng hơn nữa vì hai tay này cũng là dân nhảy dù, cũng là dân bợm nhậu… tới bến. Nhưng những tay đại hảo hán nhảy dù này gặp nhau vào một buổi sáng thứ bảy, nếu không nhậu thì để làm gì mà anh Liệu phải đi liền? Chuyện này khó hiểu.
Tôi cực lực... phản đối:
-Anh nói thế nghe không được anh Liệu. Anh không tới đây thì chờ đấy em ra liền…
Anh Liệu ngập ngừng một chút rồi nghẹn ngào cất giọng, buông một câu mà tôi nghĩ là câu nói đau đớn trong đời anh:
-Anh không uống rượu được nữa rồi Nhị ơi...
Tôi hoảng kinh, thở phì ra một phát, ngờ ngợ một chuyện gì kinh khủng lắm đã xảy ra. Im lặng một lát, anh tiếp:
-Anh có chuyện phải ghé qua New Orleans, gọi thăm em chút mà...
Tôi bàng hoàng đau đớn, hỏi dồn dập. Anh không trả lời, chỉ vắn tắt gởi lời thăm anh em tôi và gia đình tôi. Thấy anh như không muốn gặp tôi, tôi không dám ép. Gác điện thoại lên giá, tôi ngồi thừ ra suy nghĩ, thấy lòng mình chùng xuống, đau đớn vô cùng.
Sau đó, tôi tìm hiểu và nghe anh Liệu bị bệnh nặng lắm, bụng xưng to lên. Thỉnh thoảng anh vẫn còn về New Orleans để khám bệnh hay làm gì đó nhưng anh không còn muốn gặp anh em nữa. Nhiều người không hiểu vì sao nhưng tôi hiểu. Con người của anh Liệu là hiện thân của sự vui đùa sung sướng. Bây giờ anh không còn vui được, không còn uống rượu được, hơn nữa, hình hài bị tàn phá, anh không muốn anh em nhìn thấy anh như thế, sợ anh em buồn. Anh cao cả làm sao!
Rồi một ngày, anh Liệu nằm xuống. Nơi anh nằm xuống là thành phố Alexandria, tiểu bang Louisiana. Alexandria là một thành phố rất khiêm nhường của một tiểu bang khiêm nhường nhất Hoa Kỳ. Alexandria một thành phố nhỏ nằm hiu quạnh như bị chôn kín giữa những rừng thông chập chùng bất tận. Alexandria với những người nông dân chất phát quê mùa của miền Nam nước Mỹ. Alexandria nơi người Việt ở đếm không quá mười đầu ngón tay. Alexandria, nơi bác sĩ Liệu âm thầm sinh sống và âm thầm hành nghề tu bíp sau khi đặt chân đến Hoa Kỳ. "Alexandria chả có mẹ gì", anh Liệu thường nói như thế, cặp mắt buồn buồn. Alexandria, thành phố u buồn ấy, cuối cùng, đã đón nhận hình hài của một người y sĩ, một người lính nhảy dù Việt Nam...
Alexandria, hay A Lịch Sơn thành, ngậm ngùi và đau đớn làm sao...
Tô Phạm Liệu, người bác sĩ nhảy dù, người đã tham dự không biết bao nhiêu trận đánh lớn nhỏ trong một binh chủng hung hãn và tài giỏi nhất của quân lực, người đã lê đôi giày trên khắp bốn vùng chiến thuật để bảo vệ tổ quốc và đồng bào mình, người đã trở thành anh hùng sau trận Charlie, người mà pháo giặc dù cho hung hãn đến mấy cũng không hề đụng đến được một sợi lông ở đồi Charlie, người mà cuối cùng, đã đi nửa vòng thế giới để làm một người tị nạn, người ngày xưa đã chữa trị và cứu sống không biết bao nhiêu binh sĩ dưới bầu trời lửa đạn, và người bây giờ đem niềm vui cùng nụ cười đến cho không biết bao nhiêu anh em đồng đội, đã vội vàng và âm thầm nằm xuống ở một lứa tuổi còn quá trẻ.
Anh Liệu đi rồi, chén rượu bọn em uống bây giờ không còn thấy như ngày xưa nữa, như thiếu thiếu một cái gì...
*
Mùa hè (lại mùa hè) năm 2005, bão Katrina tàn phá thành phố tôi ở, làm tôi khăn gói lên đường tị nạn. Tôi lái xe lên hướng bắc, rồi kẹt đường phải vòng về Tây Nam rồi sau đó lấy hướng đi Dallas. Đoạn đường chỉ có 500 dặm mà tôi lái hơn hai ngày chưa tới vì hàng chục ngàn chiếc xe dồn dập, chen lấn nhau. Tốc độ trung bình khi nào mau lắm là 30 dặm.
Một ngày sau vào buổi chiều gần tối, xe đang chạy phom phom trên đường, tôi bỗng ngạc nhiên khi nhìn thấy tấm biển trước mặt: "Alexandria chào mừng quý khách." Tiếp theo đó là tấm biển khác đề như sau: "Alexandria Next Three Exit."
Tôi giật mình và nghĩ đến anh Liệu. Đây chính là nơi anh đã sống những ngày cuối cùng. Trời về chiều, tôi đưa mắt nhìn chung quanh, chỉ thấy rừng rậm xanh rì. Tôi nhớ đến cái tên của thành phố nơi anh ở, thành phố PineVille, tức thành phố những cây thông. Alexandria, hay A Lịch Sơn Thành, thành phố của anh Liệu. Hồi còn sống, anh thường đùa với chúng tôi, nói như sau trong những buổi tiệc rượu:
-Biệt hiệu của tao là: A Lịch Sơn Thành, Cuồng Thái Y, Việt Nhảy Dù, ẩm sĩ Tô Phạm Liệu.
Sợ chúng tôi không hiểu, anh cắt nghĩa như sau:
-Này nhé, A Lịch Sơn Thành tức là thành phố Alexandria, Cuồng Thái Y tức là bác sĩ chữa bệnh điên, Việt Nhảy Dù bởi vì tao là lính Việt nhảy dù, ẩm sĩ tức là người uống rượu, Tô Phạm Liệu chính là tao.
Chúng tôi ai nấy cười rộ. Anh có vẻ khoái cái biệt hiệu này lắm, cứ lập đi lập lại hoài trong những lần nhậu, ra chiều rất đắc ý về cái tên của mình...
Chiều hôm đó, một buổi chiều oi bức và một mình tôi trong một chiếc xe hơi chạy đi trốn bão, tôi cảm thấy nhớ anh vô cùng. Tôi toan ghé vào một exit nhưng thành phố nhỏ quá, chỉ chớp mắt chiếc xe của tôi đã vượt qua 3 cái ngõ vào. Tôi đi luôn và định bụng, khi hết bão trở về, tôi sẽ ghé thăm thành phố anh ở.
3 tuần sau cơn bão, tôi quay trở về và lúc lái xe ngang qua Alexandria thì trời đã tối đen như mực. Tôi quẹo vào ngõ rẽ và dừng xe ở cây xăng đầu tiên. Tôi xuống xe đi một vòng và chẳng nhìn thấy gì ngoại trừ bóng đêm dày đặc. Tôi bước vào đổ xăng và tự hỏi lòng mình, không biết anh Liệu đã dừng xe ở đây để đổ xăng bao nhiêu lần trước khi anh đi nhậu hoặc khi anh đi nhậu trở về. Anh đã nghĩ gì trong những lần ấy?
Tự nhiên, tôi thấy nơi anh ở buồn quá. Buồn và cô quạnh, và không hiểu sao, tôi có thể nói là thê lương nữa. Tôi không biết anh nghĩ gì trong đầu mỗi lần đứng ở đây bơm xăng. Anh nghĩ gì không biết nhưng chắc anh phải cô đơn và nhớ bạn bè lắm. Có cô đơn như thế anh mới phải đi nhiều. Đi nhiều để tìm những trận cười, để nói chuyện và tán dốc với anh em bạn bè... Đi để tìm lại những vùng trời đã bị đánh mất.
Sau đó, vì công việc, tôi phải lưu vong về thành phố Dallas sống, làm một anh cao bồi bất đắc dĩ. Tháng 9 năm ngoái, 2006, anh em nhảy dù ở Dallas làm lễ giỗ anh Liệu. Tôi đến nơi thấy bàn thờ anh đã được trang hoàng tề chỉnh, bạn bè đang đứng thành từng nhóm nói chuyện. Tôi tới trước bàn thờ anh Liệu, tính đốt nhang nhưng nhìn lại, tôi thấy hình như bàn thờ còn thiếu thiếu một cái gì. Nhìn kỹ hơn, tôi thấy nhang đèn hoa quả đầy đủ và biết thiếu cái gì liền. Tôi chạy ra xe, lấy hai chai rượu mình mang theo lễ mễ đặt lên bàn thờ anh.
Một người nào đó lột cái mũ đỏ mình đang đội trên đầu và đội lên tấm hình của anh...
Bây giờ thì tôi có thể đốt nhang và khấn vái. Tôi niệm với linh hồn anh đang tiêu diêu ở một nơi nào đó, xin anh về đây chứng dám cho tấm lòng thành của những người bạn, người em của anh.
Anh ra đi lúc tuổi còn quá trẻ, để lại không biết bao nhiêu là thương nhớ trong lòng mọi người. Sinh ra trong thời ly loạn, anh đã mặc áo nhà binh để phụng sự tổ quốc mình và đã trở thành một anh hùng cho thế hệ chúng tôi. Anh chính là một Lệnh Hồ Xung của đời. Lệnh Hồ Xung của nhảy dù Việt Nam. Tôi may mắn và hãnh diện biết bao khi được quen biết với anh, được anh coi như một đứa em, một người bạn.
Nhà văn Phan Nhật Nam đứng lên tuyên bố lời khai mạc. Sau đó, từng người một lên nói về anh. Tôi cũng lên, lí nhí vài lời, kể lại vài kỷ niệm với anh, nhưng không nói được nhiều. Nước mắt tôi chan hòa.
Mùa Xuân năm 2007, tôi bay sang Santa Anna đi nhậu với em của anh Liệu, ông Tô Phạm Thái. Trời đất, tôi tưởng ông Thái, em ông Liệu thì chắc phải biết uống rượu không nhiều thì ít. Nào ngờ, ông ấy chỉ uống cô ca làm cho tôi… thất vọng vô cùng. Ông Thái cũng có máu tếu giống như anh Liệu nhưng nói chuyện chẳng biết chửi thề, mặt mũi coi hiền lành ngoan ngoãn như một ông bụt. Chán bỏ xừ. Hình như, trong thiên hạ có bao nhiêu bồ rượu thì anh Liệu đã giành uống hết rồi, chẳng để cho ông em được bao nhiêu.
Chúng tôi ngồi ở một quán phở và tôi nói chuyện về tập thơ "Warman" mà anh Liệu tặng tôi hôm nào. Tôi bảo anh Thái đây là một sản phẩm vô cùng quý giá và tôi tự cảm thấy mình không đủ vinh hạnh để lưu giữ. Tôi muốn hoàn trả báu vật này lại cho gia đình anh Liệu. Đây không phải là một tập thơ thường mà một tập hồi ký trung thực viết dưới dạng thơ của một ông trung tá trong quân đội Hoa Kỳ. Không phải viết bằng mực mà bằng máu và nước mắt của những người lính nhảy dù Việt Nam…
Đây là một minh chứng hùng hồn về những can trường, những hy sinh vĩ đại, những uất hận khôn nguôi qua những trận đánh đẫm máu đến độ kinh hoàng của những người lính Việt Nam, không phải do một người lính Việt Nam viết mà một người lính Mỹ đã từng phục vụ với những người lính Việt Nam viết lại. Cuối cùng, đây một thiên hùng sử ca trung thật nhất dành cho một binh chủng oai hùng nhất của một quân lực cô đơn nhất, bất hạnh nhất trên thế giới. Một quân lực đã bị phản bội trắng trợn và bị bỏ rơi dễ dàng...
Con cháu anh Liệu cần có những tài liệu này làm hành trang cho chúng nó bước xuống cuộc đời. Với tập thơ này, chúng nó sẽ hãnh diện mà ngẩng mặt lên để nhìn đời, để chiến đấu và để hy vọng… Một tập thơ nhỏ không thể nào nói lên hết một cuộc chiến bi hùng kéo dài hàng chục năm với hàng triệu người ngã gục, nhưng cũng nói lên được một phần nào, dù rất nhỏ, cuốc chiến đấu và sự hy sinh can trường của cha anh, của một thế hệ…
Thôi nhé anh Liệu. Cuộc đời mà. Ai trong chúng ta rồi cũng đến một ngày phải chia tay mà thôi. Tử Biệt Sinh Ly. Sinh ra là chia lìa, chết đi là từ biệt, người xưa đã nói vậy. Điều quan trọng và đáng kể là ngày xưa anh đã sống một cuộc đời oai dũng và ngoại hạng. Ngày hôm nay lưu vong trên xứ người, tuy sống âm thầm lặng lẽ, nhưng anh vẫn giữ được tâm hồn hiên ngang bất khuất, coi rẻ tiền tài danh vọng, một lòng tận trung với tổ quốc, hết lòng với anh em bạn bè.
Trên đời này, dễ thử, có bao nhiêu người được như anh, anh Liệu?
Vong hồn anh linh thiêng, xin về phù trợ cho anh em ráng sống hết cuộc đời còn lại của mình, nếu không được hào sảng và ngang tàng như anh thì cũng đừng làm trò gì ô uế đến thanh danh của những người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đừng phản bội anh linh những bằng hữu của mình đã bất hạnh nằm xuống. Vong hồn anh bất khuất, xin trở về phù trợ cho những chiến sĩ chống Cộng được thành công trong việc quang phục quê hương, lật đổ chế độ Cộng Phỉ bạo tàn đang làm tan nát quê hương...
Hỡi A Lịch Sơn Thành Cuồng Thái Y, Việt Nhảy Dù, Ẩm Sĩ Tô Phạm Liệu ơi, Trường Sơn Lê Xuân Nhị này thương nhớ anh vô cùng…

TRƯỜNG SƠN LÊ XUÂN NHỊ

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

Đại Hội Tập Thể Chiến Sĩ Kỳ 2 tại Nam Cali

Tin Nam Cali . Trong 3 ngày cuối tuần vừa qua ,từ 12 /10 đến 14/10 tại hội trường của khách sạn Ramanda đã diễn ra "Đại Hội Tập Thể Chiến sĩ VNCH kỳ 2 " . Hơn 100 đại biểu trên Toàn thế giới đã đến dự .Trong đó có các thành phần Hậu Duệ từ Úc , Washington v..v đến tham dự .
Trong ngày đầu khai mạc . Tất cả các đại biểu tham dự đại hội đã đến đặt vòng hoa ở Tượng đài Chiến sĩ Mỹ - Việt . Đa số các Chiến sĩ đã mặc Quân phục của các Quân binh chủng .Có lễ Rước Quốc Kỳ Mỹ -Việt -và Quân kỳ QLVNCH rất trong trọng .
2 ngày sau đó là phần đóng góp của các đại diện từ khắp nơi .Cũng như phần thảo luận về Cứu trợ Dân Oan .

Trên bàn chủ toạ người ta nhận thấy có giáo sư Nguyễn xuân Vinh , cựu tướng Bùi đình Đạm , Tướng Nguyễn khắc Bình v.v. Nhưng không có tướng Lê minh Đảo .

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Image

Người chiến sĩ vườn ngâu Tân Phú


Trích "Tháng Tư Thắp Hương" Hồng Hà viết đã đăng trong Tập San Y Sĩ Canada số tháng 4-1998



.....Giữa giai đoạn nhiễu nhương, vàng thau lẫn lộn trong cơn quốc biến tháng 4-1975 tại miền Nam Việt Nam, nhờ sự hun đúc của hồn thiêng sông núi, nhiều bậc đại trượng phu trọng danh dự, trách nhiệm như Thái Sơn, coi cái chết tựa lông hồng, quyết không cúi đầu hàng giặc làm nhục sắc áo chinh nhân, mầu cờ xứ sở, đã lừng lững xuất hiện . "Quốc Gia hưng vong, thất phu hữu trách", quan niệm Á Đông từ ngàn xưa này nay đã trở thành phổ quát, không mấy xa lạ trong thời hiện đại, vẫn còn đại đa số chúng ta mặc nhiên thừa nhận như sự kết ước bất thành văn, như mối tương quan đạo lý gắn bó giữa con dân với đất nước, đặc biệt trong tình huống nguy nan, bế tắc. Chính trong giây phút "ngàn cân treo sợi tóc" của vận mệnh miền Nam vào tháng 4-1975 rất nhiều anh hùng kiệt xuất đã lộ diện cho toàn dân chiêm ngưỡng, khiến kẻ thù cũng kính phục . Họ đã làm thăng hoa ý niệm về bổn phận công dân đối với xã hội, về trách nhiệm của cấp chỉ huy đối với thuộc cấp, về danh dự của người làm tướng đối với ba quân. Họ đã sắt son giữ vẹn lời thề quân trường "TỔ QUỐC - DANH DỰ - TRÁCH NHIỆM " khi đã quyết chọn binh nghiệp làm đại lộ ngát hương thơm cho đời trai thời loạn. Là tinh hoa của nòi giống Việt, họ đang linh thiêng phù hộ cho cuộc đấu tranh trường kỳ đòi quyền sống đầy chính nghĩa của 70 triệu con dân triền miên bị áp bức, bóc lột tận xương tủy, chống lại tập đoàn thống trị ác ôn, xa xỉ, tham quyền cố vị, đang diễn tiến ngày một gay go trên mọi mặt cả trong lẫn ngoài nước cho đến thắng lợi vẻ vang cuối cùng . Họ chính là các danh tướng Nguyễn Khoa Nam, Lê văn Hưng, Phạm văn Phú, Trần văn Hai, Lê Nguyên Vỹ, Hồ Ngọc Cẩn v.v..những bậc cái thế anh hùng đã khẳng khái trút máu đào tô thắm cho lá Cờ Vàng thân yêu, đã thản nhiên ngã xuống dưới bóng soái kỳ hùng tráng, đã oanh liệt rửa nhục cho Quân lực miền Nam. Trong thế cùng lực kiệt `mãnh hổ nan địch quần hồ`họ đã uy dũng tuẫn tiết theo thành quách, bản doanh để báo đền ơn nước làm bạt vía quân thù và làm mọi chiến hữu ngậm ngùi thương khóc . Họ mãi mãi là niềm kiêu hãnh cao vời của đồng đội, đồng bào, gia đình và bằng hữu. Tình cảm, chủ nghĩa nào đủ đằm thắm, trang trọng để tôn vinh, ngưỡng phục những trang hào kiệt ấy của thời cận đại Việt Nam, những người lúc còn sinh tiền chỉ âm thầm đem tâm huyết phục vụ cho nước, cho dân mà không màng tranh giành địa vị, quyền lợi và không hề tuyên bố huênh hoang !



Cũng trong những ngày tháng Tư sầu thảm năm ấy, trên khắp mọi miền đất nước bên này dòng sông Bến hải còn có hàng vạn dũng sĩ vô danh khác, dù rắn đã mất đầu, vẫn tiếp tục can trường chiến đấu thật chênh lệch, một chọi trăm như các cảm tử quân say khói súng. Từng loạt, từng ngưòoi, theo nhau ngã xuống, hy sinh. Áo trận tơi tả bọc thây là hành trang kiêu dũng vinh quang trong chuyến đi miên viễn trở về lòng đất mẹ, cho dù không một tiếng khóc tiễn đưa, không cờ phủ xác, không một nén nhang khấn vái, không cả mộ chí ghi dấu một kiếp người ...



Người viết cũng là một thuyền nhân đến California - Hoa Kỳ vào cuối năm 1978 từ hoang đảo Pulau Besar - Mã Lai Á. Lúc đó tờ nguyệt san "Người Việt Tự Do" do các anh chị em sinh viên quốc gia tại trường đại học Berkeley chủ trương với lập trường chống cộng dứt khoát và quyết liệt phát hành với hai ấn bản Việt và Anh ngữ. Berkeley vốn là một trường đại học lừng danh đào tạo biết bao nhân tài cho Hoa Kỳ và thế giớoi, nhưng nơi đây cũng chính là cái nôi phản chiến rất ồn ào trong thời chiến tranh Việt Nam lâm vào khúc rẽ. Khoảng đầu năm 1979, nhận được báo, người viết cực kỳ xúc động khi đọc xong tuyệt tác "Anh Hùng Ca Người Chiến Sĩ Vườn Ngâu Tân Phú" của thi sĩ Lê Quang Phục nhằm đề cao tinh thần chiến đấu kiên cường của một tay súng vô danh miền Nam vào giờ thứ 25 của cuộc chiến, bỏ ngoài tai lời kêu gọi buông vũ khí của bại tướng họ Dương. Giáo sư Vật Lý Phan Viết Phùng tại trường đại học nói trên, mặc dầu xa quê hương đi du học từ tuổi mới trưởng thành, đã hướng dẫn anh chị em sinh viên trên mặt trận văn hoá, tư tưởng dựa trên lập trường kháng cộng không khoan nhượng làm kim chỉ nam hoạt động. Bằng bút pháp tài hoa, giáo sư Phùng đã chuyển ngữ bản anh hùng ca bất hủ này sang tiếng Anh với nghệ thuật cao. Bài thơ được tung ra phổ biến trong khuôn viên đại học đã tạo đưọc âm hưởng sâu rộng trong giới sinh viên phản chiến bản xứ ở khắp nơi thời đó . Nữ danh ca Joan Baez , một lãnh tụ của phong trào chống chiến tranh Việt Nam, sớm tỉnh ngộ, quyết chuộc lỗi lầm quá khứ bằng cách tự nguyện du ca khắp nước, trình diễn sống động trước đông đảo quần chúng Hoa kỳ và thành công trong nỗ lực tố cáo tội ác kinh tởm của bọn cộng sản Việt Nam giả nhân giả nghĩa để thức tỉnh lương tâm đồng bào của cô đang cực kỳ hoang mang vào những cuối thập niên 70 sau khi Hoa Kỳ rút lui khỏi miền Nam giao vùng đất hiền hoà đó cho bầy ác quỷ . Hôm nay , lục chồng báo cũ tình cờ tìm thấy bài thơ truyền cảm năm xưa, lòng bồi hồi cảm khái ngày kỷ niệm tháng Tư ảm đạm, người viết chép lại gửi tặng đồng bào mình món quà văn nghệ đấu tranh bao hàm những vần thơ hào sảng xúc tích của đời chiến sĩ "Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh, Áo bào thay chiếu anh về đất."



Tân Phú, Phú Lộc, địa danh thật mỹ miều thật quen tai nằm đâu đó ở miền Trung sỏi đá khô cằn hay tại miền Nam màu mỡ, phì nhiêu? Tình yêu Tổ Quốc, lòng trung hiếu, nghĩa phu thể, lý tưởng đời trai, tinh thần huynh đệ chi binh, tinh thần chiến đấu sắt đá đã được viết thành trang huyết sử với khí thế kiêu hùng thật đậm nét bằng chính máu của người chiến sĩ Việt Nam Cộng Hoà vắt cạn từ trái tim mình, người anh hùng đã giữ vững lời thề TỔ QUỐC - DANH DỰ - TRÁCH NHIỆM dù anh chỉ là toán hay tiểu đội trưởng ! Như chuyện thần kỳ !



Hỡi vị anh hùng vô danh miền quê Tân Phú bát ngát hoa ngâu đã trở thành bất tử trong lòng người, lòng đời và lòng thế kỷ .


__________

Image

Anh hùng ca người chiến sĩ vườn ngâu Tân Phú


(Xin thành kính nghiêng mình trước hồn thiêng Anh, người chiến sĩ vườn ngâu kiên cường bất khuất)


Chiến sĩ vườn ngâu
Anh,
người chiến sĩ vườn ngâu Tân Phú!
Anh nằm xuống, nhưng vườn ngâu vừa đứng dậy
Ðiệp trùng mầu hoa vàng anh dũng của quê hương
Anh chiến sĩ ơi, anh chiến sĩ rất can trường
Anh chết nhưng khí hùng anh, anh còn sống mãi
Giữa lòng người, lòng đời và lòng thế kỷ
Hoa ngâu vàng thơm ngát bước anh đi
Và còn đây, còn đây những tay súng rất kiên trì
Quyết chiếm lại vườn ngâu thuở trước


Một ngày cuối tháng Tư giặc tràn về Phú Lộc
Mang trong đầu tư tưởng Mác- LêNin
Giải phóng ai đây, hay gông xích đời mình
Giải phóng ai đây,
mà lấy máu anh em làm niềm vui chiến thắng
Làm sao anh có thể quên được đồng đội anh
hiên ngang như rừng cây đứng thẳng
Ðã dùng chính xác mình ngăn bước giặc xâm lăng
Vang vọng trong gió ngàn lời bè bạn trối trăn
"Anh phải sống để rửa hờn cho đất nước "


Len lỏi giữa trùng vây giặc hàng hàng lớp lớp
Anh về đây giữ vững màu cờ
Anh về đây cùng dăm anh em lập chốt ngăn thù
Lá ngâu xanh bạt ngàn che màu áo trận
Hoa ngâu vàng sôi thêm niềm căm phẫn
Anh về đây, về đây cố thủ đất quê hương


Anh về đây,
Vườn ngâu phảng phất hương rừng núi Lam Sơn
Của một thuở nào cha ông đứng lên phất cờ trung liệt
Bao nhiêu lần giặc xua quân càn quét
Cùng với anh, vườn ngâu hôm nay thành lũy thép ngăn thù
Giặc điên cuồng, giặc sợ sệt, giặc lo âu
Chúng hạ lệnh diệt anh bằng mọi giá
Anh quặn đau nhìn anh em mình gục ngã
Dù cái chết của mỗi người đã đổi gấp đến mười lần
bọn giả hiệu nhân dân
Dăm anh em thuở ban đầu giờ chỉ còn lại mỗi mình anh
Và viên đạn cuối cùng cũng vừa xuyên tim vài tên giặc đỏ


Xao xác lá ngâu xanh nhìn anh
như có nỗi niềm nào muốn tỏ
Vuốt mắt bạn bè, anh nén chặt nỗi đau
Sao họ vẫn như nhìn anh mắt sáng nụ bông ngâu
Có phải chăng hồn thiêng anh em
đang đẩy lửa vào lòng anh bất khuất
Và nắng buổi chiều cũng vừa rưng rưng tắt
Tay nắm chặt lưỡi dao, anh tiến ra phía trước tìm thù
Lưỡi dao, lưỡi dao cuối cùng của một đời
dọc ngang nắng gió bụi mù
Bây giờ vẫn tiếp tục cùng anh viết thêm dòng sử máu


Ơi anh, người chiến sĩ can trường vườn ngâu Tân Phú
Trong đêm tối mịt mùng, anh biết chăng,
giặc đã âm thầm rình rập bủa vây
Chúng tấn công chỉ mỗi một mình anh
bằng cả rừng người mà chúng tự hào là đuổi Mỹ, thắng Tây

Hùm thiêng sa cơ rồi, trời ơi, anh rơi vào tay giặc
Trên vòm trời đêm thâm u, ánh sao mai đầm đìa nước mắt
Lá ngâu xanh run từng loạt kinh hoàng
Hoa ngâu vàng tan tác rụng đau thương


Ðất Tân Phú khuya nay cũng nghe chừng dậy sóng
Chúng dẫn anh đi giữa trùng trùng lê, súng
Giữa sáng mù sương, chúng cho quân đi tập họp xóm làng
Lập ngay cái gọi là " Toà án nhân dân "
Ðể tử hình anh, người mà chúng cho rằng cực kỳ phản động
Tin sét đánh lan nhanh về thôn xóm
Ôi còn đau xót nào hơn cho mẹ anh
một đời quằn nặng thương đau
Nghe tin con sắp bị giặc bêu đầu
Mẹ ngất lịm trong tận cùng đau khổ
Và vợ anh,
người vợ hiền đã bấy lâu nay cùng anh chia sương xẻ gió
Nỗi niềm này, đất trời thấu tỏ cho chăng
Cố nén đau thương, chị cõng mẹ anh ra chợ đầu làng
Với hy vọng mong manh van xin cho chồng
được toàn mạng sống


Sự thật rành rành, phải đâu là ác mộng
Anh đang đứng giữa lăm lăm những mũi súng kinh hoàng
Chị kêu gào, chị vật vã, chị khóc than
Giặc vô lương như loài thú cầm oan nghiệt
Trước " Toà án nhân dân" nhân dân bảo tha,
giặc nhân danh nhân dân bảo giết
Ðối diện tử thần,
anh vẫn kiên cường hét to những lời đanh thép uy nghi:
"Mẹ về đi, em về đi,
Hãy coi con, hãy coi anh như đã chết một thời nào xa lắc
Lo nuôi con, dạy cho chúng đừng bao giờ theo giặc
Ðường anh đi anh chọn cho mình
Sống anh hùng thì chết cũng quang vinh
Mẹ về đi, em về đi, khóc làm gì tốn thêm nước mắt"


Giặc hoãng hốt sợ những lời sắt thép
Làm nhân dân nổi dậy giữa "nhân dân"
Giặc điên cuồng, tàn bạo, phi nhân
Súng Liên Sô nổ vào đầu dân Việt
Nhân danh ai đây giặc siết cổ người?
Còn chút tàn hơi, anh hét vang chuyển động đất trời:
"Việt Nam muôn năm ! Việt Nam muôn năm !"


Anh ơi, anh nằm xuống rồi,
nhưng anh còn đứng mãi giữa nhân dân
Khiếp vía trước khí thế kiêu hùng của anh,
người chiến sĩ vườn ngâu Tân Phú
Giặc kinh tâm ngỡ anh như còn thở
Súng run tay, chúng quay mặt bóp cò
Anh nằm đó và hồn non sông rung động
Gió sao buồn rụng xuống mấy bông ngâu
Mưa lưa thưa gieo rắc giọt sầu
Như hơi ấm linh thiêng truyền từ cánh tay ngàn đất mẹ


Anh chiến sĩ ơi,
toàn đất trời hôm nay đang sụt sùi nhỏ lệ
Thương tiếc anh và căm giận lũ hung tàn
Cây cỏ cùng đang âm thầm rủ lá chịu tang
Chiến sĩ vườn ngâu,
Anh,
người chiến sĩ vườn ngâu Tân Phú !
Anh nằm xuống nhưng vườn ngâu vừa đứng dậy
Ðiệp trùng màu hoa vàng anh dũng của quê hương

Anh chiến sĩ ơi, anh chiến sĩ rất can trường
Anh chết nhưng khí hùng anh, anh còn sống mãi
Giữa lòng người, lòng đời và lòng thế kỷ
Hoa ngâu vàng thơm ngát bước anh đi
Và còn đây, còn đây những tay súng rất kiên trì
Quyết chiếm lại vườn ngâu thuở trước.


--------------------------------------------------------

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Image

Hồn Thiêng Sông Núi
nhớ Trần Văn Bá

Núi mãi trầm tư ngó xuống đồng
Bạn về thành phố bên kia sông
Trao giùm lá thư mình chép vội
Nội ngoại bà con đỡ nhớ mong

Giữa trái tim ương hạt ước mơ
Bông lúa chen bông lau dựng cờ
Ngày lên đường hẹn ngày sẽ đến
Nước Việt của người Việt tự do

Niềm tin nào đem so gang thép
Đường xa dấn bước chí không sờn
Giặc dâng Tổ quốc cho Sô viết
Ta giữ nguyên tình nghĩa sắt son

Khói trắng vườn cau ai đốt lá
Bâng khuâng hương lửa tối gia đình
Thao thức người đi tìm lịch sử
Sao trên rừng vì sao long lanh

Kín đáo bờ tre nhìn tríu mến
Giọng nói như che giấu ngậm ngùi
Qua mấy nhịp cầu vùng tạm chiếm
Gầ n nhau mà tưởng quá xa xôi

Thương cảm hai triệu người bỏ nước
Vượt bình yên hay chết hãi hùng
Ở lại sống cuộc đời súc vật
Khổ sai tập thể tù tập trung

Sáng tháng giêng gió lùa buốt lạnh
Tin cầm tay nửa muốn hồ nghi
Ác mộng thấy sơn ca gãy cánh
Không gian dầy đặc khối mây chì

Giặc say tra tấn - quân cuồng tín
Trói siết anh em sát bức tường
Đứng trước mũi súng vẫn điềm tỉnh
Thiên đường đỏ đâu bằng quê hương

Mùa tang núi cũng tan thành lệ
Sông quặn đau lòng Mẹ Việt Nam
Bay từ Yên Bái về Yên Thế
Sài Gòn nghe tiếng Chim gọi Đàn.

Nguyên Hoàng Bảo Việt (1985)

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Image

Tưởng Niệm Ngày Yên Bái

Kính tặng quý chiến hữu đại gia đình Việt Nam Quốc Dân Đảng trong và ngoài nước, nhân dịp tưởng niệm 76 năm ngày Tang Yên Bái 17-6-1930.


Việt Nam Muôn Năm! Việt Nam Muôn Năm!
17 tháng 6 ngày Đại Tang Yên Bái
Khóc... 13 dũng Sĩ Vị Quốc Vong Thân
Yên Bái ơi... đời sao dĩ nghiệp phong trần
Mây tang phủ u buồn vào ngày khởi nghĩa...

Trước máy chém, tiền nhân hiên ngang lặng lẽ
Chí khí hào hùng của giòng máu Rồng Tiên
Việt Nam Muôn Năm!...
Luân phiên tiếng thét trung kiên
Từng đầu rơi rụng hiến thân đền nợ nước!

Phó Đức Chính đến anh hùng Nguyễn Thái Học
Xúc động trong lòng nhưng ngạo nghễ hiên ngang
Vĩnh biệt đồng bào, đồng chí đứng bàng hoàng
Nghẹn ngào khóc đớn đau sầu tử biệt!

Đao chém xuống từng đầu rơi thương tiếc!
Tiếng đồng bào vang dội - hùng khí ngất trời
Thương xót bao anh hùng nước Việt dân tôi
Thề rửa hận - ánh mắt căm hờn ứa lệ...

Gương sáng tiền nhân quyết một lòng tuyên thệ
Thề đồng sanh, đồng tử giữ trọn non sông
Thề phục vụ quê hương với một tấm lòng
Thề giải phóng dân tộc thoát vòng nô lệ!

Chiến đấu đuổi ngoại xâm qua nhiều thế hệ
Hậu thế nghìn năm thanh sử vẫn lưu truyền
Lòng quả cảm của dân tộc gốc Rồng Tiên
Noi gương sáng hy sinh anh hùng tuẫn quốc.

Dù bom lửa, máy chém, chúng gieo tang tóc
Thân anh hùng dù đầu mất, thịt xương tan
Dù phi pháo tàn độc bởi lũ tham tàn
Vẫn không diệt được tinh thần yêu dân tộc

Quốc Dân Đảng - Đảng Trưởng Nguyễn Thái Học
Nhớ mười ba Chiến sĩ dũng liệt hiên ngang
Cùng người yêu cách mạng - Nguyễn Thị Giang
Cảm thương, kính phục - ghi sâu lòng dân Việt...

Việt Nam muôn năm! Việt Nam muôn năm!
Chí khí vùng lên từ tận trong tâm
Gió uất hờn sôi sục lửa hận căm
Thề phục quốc... ta tưởng niệm ngày Yên Bái.

Phạm Hoài Việt

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Image

HỊCH TRUYỀN TỪ TỔ QUỐC !

(Viết khi nhận được tin Trung Cộng chính thức sát nhập hành chánh kể từ ngày 2.12.2007 quần đảo Hoàng Sa – Trung Sa - Trường Sa của Việt Nam thành huyện Tam Sa, trực thuộc tỉnh Hải Nam của Trung Cộng, do đảng Cộng Sản Việt Nam dâng hiến).

Võ Đại Tôn (Hoàng Phong Linh)

Ông Cha ta vạch kiếm chỉ lòng sông
Chân vững thạch, tay chống Trời ngạo nghễ.
Chí đại bàng vượt muôn ngàn sóng bể
Thách trùng dương, đi mở rộng cõi bờ.

Hải đảo xa xôi thêm máu dựng cờ
Rồng tung cánh rợp Trời Nam hiển hách.
Vó ngựa Hung Nô bao lần quét sạch
Chặn xâm lăng qua khí phách kiêu hùng.

Mấy nghìn năm sâu rễ bách tùng
Gươm chém đá – đá mòn, gươm vẫn sắc.
Gốc tre thiêng làm kinh hoàng phương Bắc
Cọc Đằng Giang xuyên thủng mộng quân thù.

Từ Diên Hồng cho đến chốn thảo lư
Lời Tâm Nguyện chung lòng lo giữ Nước.
Bành tượng uy linh chắn ngang bạo ngược
Đống Đa mồ, bia sử sáng nghìn năm.

Dù phong ba theo mệnh Nước thăng trầm
Luôn giữ vững từng dòng sông, đỉnh núi.
Từ Ải Nam Quan đến Cà Mau đất mũi
Là của Ta, xuyên suốt ba miền.

Từ dảy Trường Sơn ôm ấp khí hùng thiêng
Thân đại thụ cũng nguyên lòng chung dạ.

Tất cả ! Tất cả !
Dù là máu xương
Khô cằn sỏi đá.
Dù là hướng dương
Hoa hồng tám ngã
Đều là của Ta !

Không ai có quyền đem máu của Ông Cha
Đi dâng hiến, vết nhơ nhòe trang sử !
Lũ tội đồ khom lưng cống sứ
Làm ô danh, tủi nhục giống Rồng Tiên.

Bọn Bắc Phương luôn ôm mộng bá quyền
Luôn thu tóm, hả hê cười đón nhận.
Lời Hịch Truyền hôm nay đầy uất hận
Từ Cha Ông, từ Sông Núi nghìn thu.

Dòng máu Thiêng từ rừng rú thâm u,
Nơi hải đảo, kinh thành hay xóm vắng.
Kiếp lưu vong đời tha phương trĩu nặng
Hay đọa đày trên mảnh đất quê hương .

Hãy thét vang, cùng truy diệt bạo cường
Đang chễm chệ ngồi buôn Dân bán Nước.
Toàn Dân Ta kẻ sau người trước
Không cúi đầu khiếp nhược khoanh tay.

Ta làm Chủ đất này
Ai được quyền mua bán ?
Lãnh thổ Thiêng Liêng nghìn năm chói rạng
Là của Toàn Dân !

Dù bể dâu biến đổi phong trần
Ta vẫn đứng trên bờ dâu bể !
Ải Nam Quan còn sôi huyết lệ
Bản Giốc dòng khóc hận đêm thâu.

Đảo Hoàng Sa ngơ ngác tủi sầu
Thay đổi chủ, sóng đen màu uất nghẹn.
Đất Nước ta toàn vẹn
Nào ai dám cắt chia ?

Sao giờ đây thịt xẻ xương lìa
Giang sơn đầy vết máu ?
Đảng vong nô, một phường thảo khấu
Lấy máu dân tô thắm màu cờ.

Làm nhục Cha Ông, dâng hiến cõi bờ
Rồi ngất ngưởng nơi Ba Đình chuốc rượu !
Dân Tộc ta mấy nghìn năm trường cửu
Lẽ nào đâu khuất phục lũ sài lang ?

Lời Hịch đã rền vang
Quyện Hồn Thiêng Sông Núi.
\ Hãy ngẩng đầu cao, chuyển xoay hận tủi
Thành cuồng phong, chung Đại Khối Toàn Dân.

Giành lại non sông, dù phải hiến thân
Vì Đại Nghĩa, tâm nguyền chung cứu Nước.
Đá phải mềm vì chân ta cứng bước
Và đời ta nguyên thủy vẫn lòng son.

Trời phương Nam, đất Việt phải còn
Đến muôn nghìn năm nữa !
Lời Hịch hôm nay, tiếng vang thành lửa
Đang soi đường dẫn hướng ta đi.

Đòi lại quê hương, thoát cảnh suy vi
Dân Tộc Việt, trời phương Nam : - Tự Chủ !


Võ Đại Tôn (Hoàng Phong Linh)

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Image

Nói với con về một ngày quốc nhục



Mai con lớn có về thăm đất Việt
Đi giùm cha ra tận ải Nam Quan
Khóc hộ cha giọt lệ hờn bi thiết
Thương quê hương ôi tủi nhục vô vàn

Vá hộ cha mảnh dư đồ rách nát
Lũ sài lang xâu xé đã bao đời
Máu tiên tổ thấm trong từng tấc đất
Bọn cường quyền đem bán tựa đồ chơi

Con hãy nhớ quê hương mình hùng vĩ
Từ Nam Quan trải rộng đến Cà Mau
Phú Quốc, Hoàng Sa,Trường Sa, Côn Đảo
Là của ta sử sách đã in sâu

Cờ ta phải bay tung trời Bản Giốc
Ải Nam Quan trở lại với sơn hà
Đất nước ta là rừng vàng biển ngọc
Phải giữ gìn cho rạng mặt ông cha

Đáng giận thay loài vong nô khiếp nhược
Đất quê hương mang cống hiến cho người
Lê Chiêu Thống còn chưa đành bán nước
Nỗi đau này đến chết vẫn chưa vơi

Xin cầu nguyện với hồn thiêng sông núi
Đưa dân ta ra khỏi ách tôi đòi
Xua tan đi những mây mù u tối
Cho quê mình sống lại những ngày vui

Rồi mai mốt con về thăm đất Việt
Xin đừng quên cái nhục của đời cha
Một cái nhục không bút nào tả xiết:
Bọn vô lương bán rẻ cả sơn hà!


Vũ Đình Trường
1/2002

Post Reply