Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Hãy Cho Cả Thế Giới Thấy Người Việt Hải Ngoại
Chống Cảnh "Còng Tay Bịt Miệng"


Image

Nguyễn Minh Triết đã đặt chân đến Hoa Kỳ, hiện đang ở New York. Đối với thế giới tự do dân chủ, Nguyễn Minh Triết là kẻ đứng đầu của một nước. Là nguyên thủ quốc gia.

Một nguyên thủ quốc gia nhục nhã được xứ người đón tiếp không có 21 phát súng chào mừng.

Image

Hình ảnh Linh Mục Nguyễn Văn Lý bị còng tay kéo lê ra khỏi phòng xữ, bị tên công an to lớn bịt miệng, đầu bị bẽ ngoặt trong khi đã đuối sức vì tuyệt thực... Cả thế giới đã nhìn, chúng ta đã nhìn. Bây giờ không còn là giờ phút "Nói Cho Nhau Nghe". Chúng ta cần phải hành động.

Nhà báo Nguyễn Vũ Bình được thả ngày 9 tháng 6 năm 2007 là do sự đòi hỏi và áp lực của chúng ta.

Chúng ta đòi hỏi Việt Cộng phải thả ngay linh mục Nguyễn Văn Lý, luật sư Lê Thị Công Nhân và những nhà đấu tranh dân chủ vừa bị bắt giữ.
Chúng ta hãy cùng nhau về hai tuyến đầu mà toàn thể truyền thông thế giới sẽ ngắm nhìn. Hoa Thịnh Đốn - New York đều chờ bạn. Bất cứ chổ nào cũng cần tấm lòng, cần bàn tay.

Đi bằng máy bay, bằng xe bus, bằng bất cứ phương tiện nào chúng ta có được. Nếu đến New York trước ngày 20 tháng 6 năm 2007, sẽ có cơ hội đến Hoa Thịnh Đốn bằng xe bus do cộng đồng New York cung cấp. Được chủ nhân khách sạn Carter, ông Trần Đình Trường lo phòng ở miễn phí.

Cái gì cần nói chúng ta đã nói. Cần nghe chúng ta đã nghe. Bây giờ Cần Hành Động.

Hình Ảnh Trực Tiếp LM Nguyễn Văn Lý Trước Phiên Tòa Rừng Rú Man Rợ.

Chúng ta hãy cho cả thế giới thấy Người Việt Tị Nạn không chấp nhận Tà Quyền Cộng Sản Việt Nam.

Chúng ta cần tràn ngập Tòa Bạch Ốc, Liên Hiệp Quốc và bất cứ nơi nào Nguyễn Minh Triết đến.

Chúng ta hãy "Chỉ Lổ" cho ông chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết chui... vô Tòa Bạch Ốc.

Không thể đi được, chúng ta hãy tiếp tế tài chánh và tinh thần cho những đồng đội nơi tuyến đầu.

Mười đô, 20, 50... Kể cả 5 đô đều quý trong giây phút này. Chúng ta chỉ còn có vài ngày.
Gửi về New York:
Chi phiếu ủng hộ xin đề NYVACA hay CDNVQGNY
gởi về: PO Box 520534
Flushing New York 11352 – 0534

Gửi về Hoa Thịnh Đốn:
Mọi đóng góp tài chánh xin đề:
The Vietnamese Community of WDC, MD & VA
và gửi về
P.O. Box 801, Annandale, VA 22003.


THÔNG BÁO KHẨN CẤP

CỘNG ÐỒNG NGƯỜI VIỆT QUỐC GIA NEW YORK KHẨN CẤP THÔNG BÁO:


Chúng tôi nhận được tin đích xác là Nguyễn Minh Triết và phái đoàn sẽ tới:
- ngày thứ Hai, 18 tháng 6 năm 2007: Foley Square Court, 500 Pearl St *New York NY 10007
- ngày thứ Ba, 19 tháng 6 năm 2007: Trụ sở Liên Hiệp Quốc, 760 United Nations Plaza, New York, NY 10017
- ngày thứ Tư, 20 tháng 6 năm 2007: New York Stock Exchange (Thị trường Chứng khoán), số 11 Wall Street New York, NY 10005
- ngày thứ Tư, 20 tháng 6 năm 2007: Asia Society, 725 Park Avenue at 70th Street New York, NY 10021

Do đó CÐNVQGNY sẽ phối hợp với các đoàn thể, cộng đồng bạn như Cộng Ðồng Nguời Việt tại Nam New Jersey, Philadelphia, Connecticut, Massachusetts, Washington DC…, tổ chức các cuộc biểu tình :

Ngày: Thứ Hai 18 tháng 6 năm 2007
Giờ tập họp: 10 giờ sáng
Ðịa điểm: 500 Pearl St * Foley Square New York NY 10007

Ngày: Thứ Ba 19 tháng 6 năm 2007
Giờ tập họp: 9 giờ sáng
Ðịa điểm: Trụ sở Liên Hiệp Quốc, 760 United Nations Plaza, New York, NY 10017

Ngày thứ Tư, 20 tháng 6 năm 2007:
Giờ Tập Họp: 7 giờ 30 sáng
Địa điểm:New York Stock Exchange (Thị trường Chứng khoán), số 11 Wall Street New York, NY 10005

Ngày thứ Tư, 20 tháng 6 năm 2007:
Giờ Tập Họp: 10 giờ 30 sáng
Địa điểm: Asia Society, số 725 Park Avenue at 70th Street New York, NY 10021

để phản kháng bạo quyền Cộng Sản Việt Nam đã và đương:
- vi phạm quyền Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền của Ðồng Bào tại Việt Nam
- giam giữ các nhà Tranh Ðấu cho Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền tại Việt Nam

Xin các Ðoàn Thể , Cộng Ðồng , Ðồng Hương Việt Nam tại Hải Ngoại tích cực hỗ trợ, tham gia các cuộc biểu tình phản kháng này, để biểu dương tinh thần đoàn kết tranh đấu của chúng ta với Ðồng Hương tại quê nhà.

Trân trọng kính chào

New York ngày 14 tháng 6 năm 2007
LS Nguyễn Thanh Phong
Chủ Tịch CÐNVQGNY

Ông Nguyễn Văn Tánh
Cố Vấn Thường Vụ CÐNVQGNY
Trưởng ban Vận Ðông và Ðiều Hợp

Muốn biết thêm chi tiết xin liên lạc với:

* Nguyển Văn Tánh, cell phone (646) 920 - 4120 * email: nguyenvantanh718@yahoo.com
* LS Nguyễn Thanh Phong, cell phone (646) 920 - 4118
* email: pnguyen@parknguyenlaw.com
* Trần Quán Niệm, cell phone (917) 760-7082 * email: lachongmagazine@comcast.net
* Lương phúc Thọ, cell phone (646) 920 - 4122 * email: tho2nhung@yahoo.com

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Khi quyền tự do ngôn luận bị lợi dụng để lăng mạ những nạn nhân đã chết

An Pha
Có một bài học nay chắc chưa ai quên, đó là vụ Trần Trường đem tượng Hồ Chí Minh và cờ đỏ sao vàng treo ở trong tiệm video thuộc quyền sở hữu của anh ta. Phải mất 55 ngày đêm biểu tình mà đã có lúc tập trung tới 20,000 người mới có thể dẹp những hình tượng này đi được. Tuy nhiên, việc hạ cờ và hình tượng Hồ Chí Minh lại phải thực hiện với lý do khác.
Ðiều đó chứng tỏ rằng cái lá chắn Ðệ Nhất Tu Chính Án Hiến Pháp bảo vệ quyền tự do ngôn luận vững chãi biết chừng nào. Dù biết rằng Trần Trường lợi dụng cái lá chắn này để khiêu khích cộng đồng Việt Nam mà hầu hết những thành viên sống trong đó đều là nạn nhân Cộng Sản, những nhà lập pháp hay hành pháp tại quận Cam cũng không dám dùng những biện pháp đi ngược với Hiến Pháp Hoa Kỳ. Thế sự kiên trì và lòng nhiệt thành của những người Việt Nam sống tại đây đã khiến cho những người có thẩm quyền về an ninh và trật tự công cộng phải thỏa thuận với nhau một cách nào đó để giải quyết vấn đề mà không vi phạm vào hiến pháp. Có điều Trần Trường không thể làm ăn ở Mỹ được nữa vì chẳng ai dại gì mà ủng hộ để nuôi sống một người từng làm nhục họ, từng lợi dụng hiến pháp để thóa mạ họ.

Quyền tự do ngôn luận ở Mỹ được coi trọng nhưng không phải là vô địch, bởi vì hiến pháp khi công nhận đệ tứ quyền thì đồng thời nó lại trao cho người dân một thứ quyền lớn hơn, cũng thuộc về con người, đó là quyền tự do lựa chọn. Chính vì thế mà tại Mỹ có đảng Cộng Sản hoạt động nhưng nó là một đảng “chết” do không có đảng viên và do dân chúng Mỹ không muốn mua loại sản phẩm tồi này. Họ đã áp dụng quyền lựa chọn để làm tê liệt một đảng chủ trương chuyên chính như các đảng Cộng Sản khác trên thế giới tại một đất nước tự do, dân chủ.
Từ những bài học này, chúng ta có thể suy gẫm về những bài học mà tác giả Hà Văn Thùy viết trên tờ Việt Weekly số 22, Vol. 5 gọi là “Những bài học khó thuộc” để thấy rằng chúng ta nên sử dụng một thứ quyền mà từ trước đến nay chúng ta chưa sử dụng đối với những kẻ lợi dụng sự tự do mà mình đang được hưởng để mượn tay người hạ nhục vong linh những người đã chết.
Tuy nhiên trong bản lên tiếng ngày 14 Tháng Sáu, 2007, tác giả Dốc Thượng của tuần báo Việt Weekly với bài “Sự trong sáng và minh bạch của Việt Weekly trong vai trò truyền thông”, đã có luận cứ như sau:
“Một trong những chủ trương chí của Việt Weekly là tạo một diễn đàn đa chiều. Có nghĩa là sẵn sàng đăng tải bài phát biểu của nhiều khuynh hướng khác nhau” và “...nội dung xuất hiện trên tờ báo Việt Weekly trong tinh thần tự do ngôn luận, rất đa dạng vì nó chuyên chở rất nhiều quan điểm và suy nghĩ khác nhau. Người đọc sẽ không ngạc nhiên khi có những bài viết phản ảnh của cả hai phe thân và chống Việt Nam”.

Ðoạn tiếp theo đó, tác giả Dốc Thượng nói về trường hợp bài của Hà Văn Thùy, ông ta đại diện cho phe thân Việt Nam để tranh luận với Tiến Sĩ Keith Taylor, một người chủ trương bệnh vực chính sách của Hoa Kỳ và chính nghĩa Việt Nam Cộng Hòa trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Nếu như ngôn ngữ của ông Hà Văn Thùy có quá đáng, khó nghe, ca tụng Hồ Chí Minh như một thánh nhân, miệt thị lý tưởng tự do của nước Mỹ, thì chính điều đó đã làm mất đi tính thuyết phục của bài viết đối với độc giả hải ngoại. Hơn nữa độc giả cũng được nghe lập luận của Tiến Sĩ Keith Taylor phản bác những quan điểm coi thường Việt Nam Cộng Hòa rất phổ biến trong giới sử gia Mỹ về chiến tranh Việt Nam. Ðược nghe tiếng nói từ cả hai phía, những độc giả yêu chuộng tự do sẽ nhận ra ngay tiếng nói nào thành thật và hữu lý phù hợp với quan niệm sống của họ. Và sự tin tưởng vào tiếng nói thành thật đó càng vững chắc hơn khi họ hiểu luôn những phản biện được đưa ra từ phía đối nghịch. Vì không hiểu, hoặc vì cố tình không hiểu chủ trương của Việt Weekly, các tác giả của Bản Lên Tiếng 6 đoạn có những câu và từ ngữ thân Việt Nam và miệt thị Mỹ của tác giả Hà Văn Thùy, rồi từ đó đi ngay đến kết luận rằng Việt Weekly thân Cộng. Ðây là một kết luận vội vã gán ghép không thể chấp nhận được. Bởi vì Hà Văn Thùy không đại diện cho Việt Weekly. Ông ta đại diện cho chính ông ta trên diễn đàn có nhiều ý kiến đối nghịch nhau. Dùng chữ nghĩa của Hà Văn Thùy, rồi gán tội cho Việt Weekly là hành động chỉ nhằm gây kích động quần chúng cho những mục đích riêng.

Nhưng một thân hữu của chúng tôi cộng tác với tờ KBC Hải Ngoại, tác giả T. Vấn vừa cho biết rằng, bài báo “Bài học khó thuộc” không phải là mới mẻ gì, mà nó đã được viết cách đây khoảng 2 năm, tức là vào năm 2005. Tác giả T. Vấn còn nhấn mạnh trong một bài viết cho tập san KBC Hải Ngoại rằng bài viết nói trên của Hà Văn Thùy xuất hiện “lần đầu tiên trên Diễn Ðàn Talawas, Chuyên Mục Chiến Tranh Nhìn Từ Nhiều Phía ngày 19 Tháng Năm, 2005. Ðúng 2 năm sau, ngày 24, Tháng Năm, 2007, bài viết lại một lần nữa xuất hiện trên tờ Việt Weekly”. Không biết là ông Hà Văn Thùy, một cán bộ văn hóa cộng sản của tỉnh Kiên Giang đã về hưu năm 2001, có đích thân đưa bài đến Việt Weekly để xin đăng hay chính Việt Weekly lấy từ Diễn Ðàn Talawas xuống để đăng. Vấn đề này hậu xét.

Trở lại vấn đề diễn đàn Việt Weekly. Tôi không nghĩ là nhóm chủ trương của tuần báo này làm đúng vai trò của một diễn đàn trong trường hợp bài của ông Hà Văn Thùy. Bài báo của ông Thùy viết để trả lời một bài của Tiến Sĩ Keith Taylor trước đó trong khuôn khổ chuyên mục Chiến Tranh Nhìn Từ Nhiều Phía trên mạng Talawas. Nhìn cái tên, người ta hiểu đây là một diễn đàn tự do. Bài của ông Thùy (chống) được viết sau khi bài của Tiến Sĩ Keith Taylor (bênh), nhưng cùng xuất hiện trên một chuyên mục của Talawas. Tiêu chuẩn của một diễn đàn đứng đắn là như thế. Còn tại Little Saigon hay Nam California có bao nhiêu người được biết, được đọc Keith Taylor, thế rồi đột nhiên bài báo “Bài học khó thuộc” của Hà Văn Thùy được in trên báo giấy với ngôn ngữ không phải chỉ gây ra sự khó chịu cho người đọc mà còn tạo nên những phản ứng phẫn nộ. Lý do dễ hiểu, đây không phải là nhận định có tính chất khoa học, mà chỉ là những lời lăng nhục đối với gia đình của 300,000 người chết trong chiến dịch đấu tố ruộng đất của Việt Cộng thập niên 50, gia đình của trên 6,000 người tại Huế bị sát hại bằng những phương tiện thời Trung Cổ hồi Tết Mậu Thân tại Huế và gia đình của trên 3,000 nạn nhân trong Tòa Tháp Ðôi ở New York trong vụ khủng bố 11 Tháng Chín.

Nhưng khi ông Hà Văn Thùy ngồi một mình trên diễn đàn Việt Weekly hai năm sau khi ông viết bài này lại là chuyện khác. Trước hết ông không có đối tượng để phản bác, và người đọc cũng chẳng biết ất giáp gì đối tượng phản bác của ông Hà Văn Thùy. Người có thẩm quyền đưa bài vào cũng không có “lời tòa soạn” để nói cho độc giả biết đầu đuôi câu chuyện hay trích đăng lại những phần chính trong bài bênh vực chính sách Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa trong chiến tranh của Tiến Sĩ Keith Taylor. Thế là một mình một chợ, ông cựu cán bộ văn hóa cộng sản tỉnh Kiên Giang Hà Văn Thùy tha hồ ca tụng Hồ Chí Minh, người đã làm chết 300,000 người trong chiến dịch đấu tố ruộng đất, người đã đẩy cả dân tộc vào một cuộc chiến làm chết 4 triệu người, rồi cuối cùng cũng phải ôm chân Mỹ, tha hồ ca ngợi chiến thắng Tết Mậu Thân (thực tế là Việt Cộng chỉ “thắng” vì đã dùng lưỡi cuốc đập đầu hoặc chôn sống 6,000 người dân Huế), tha hồ ca tụng vụ khủng bố 11 Tháng Chín tại New York. Giữa một cộng đồng mà hầu hết những thành viên đều là nạn nhân Cộng Sản mà chỉ có một mình ông Hà Văn Thùy được nghênh ngang lên tiếng “ca hát” trên máu của những nạn nhân đã bị Cộng Sản sát hại trên một diễn đàn không có đối thủ thì còn gì bằng nữa. Cũng như tác giả T. Vấn, tôi không nghĩ là tuần báo Việt Weekly bị hiểu sai, bị oan khi cho đăng một bài báo viết cách đây 2 năm của một cựu cán bộ văn hóa tỉnh Kiên Giang.

“Lẽ ra, chúng ta nên kiến tạo một xã hội đề cao quyền tự do ngôn luận hơn là đè nén nó”. Ông Dốc Thượng viết rất đúng. Và quyền tự do ngôn luận ở Mỹ được hiến pháp bảo vệ, nhưng nền văn hóa Hoa Kỳ không chấp nhận lợi dụng quyền tự do để khiêu khích, để thách thức, để lăng nhục vong linh những người đã chết. Ông Dốc Thượng thấy không, ở Mỹ có rất nhiều người không đồng ý với cuộc chiến mà ông Bush đưa vào Iraq, nhưng không bao giờ họ làm một điều gì có thể khiến những người lính Mỹ đang tác chiến hay đã nằm xuống tại Iraq bị hạ nhục. Một tờ báo Mỹ hay một đài truyền hình Mỹ làm như thế, độc giả và khán thính giả của các tờ báo hay các đài truyền hình này sẽ dùng quyền lựa chọn của họ ngay. Quyền tự do ngôn luận tại Mỹ không cấm một công dân nào đó ca tụng Hitler, đem hình tượng Hitler vào các cộng đồng Do Thái, nhưng có bao giờ thấy một tác giả Mỹ viết sách ca tụng Hitler dám ra mắt sách trong cộng đồng Do Thái không? Không phải họ sợ gì người Do Thái, nhưng làm như thế các cộng đồng Mỹ dòng chính sẽ tỏ thái độ với bất cứ ai dám hạ nhục vong linh của 6 triệu người Do Thái đã chết đau khổ trong các lò thiêu xác.

Vâng, tự do quý lắm. Vì quý tự do nên chúng ta mới có mặt tại Mỹ. Và vì tự do mà những nhà tranh đấu tại Việt Nam mới bất chấp tù đày để lên tiếng đòi tự do và quyền con người. Cho nên để vinh danh tự do, nhất là tự do ngôn luận, mọi người chắc không nên coi tự do là một loại khiên mộc để che đỡ cho những hành động khiêu khích và lăng nhục người khác.

An Pha

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

Cựu trung tướng Nguyễn Chánh Thi qua đời
Trần Củng Sơn tổng hợp

Theo tin từ các thân hữu Mũ Đỏ cho biết Trung tướng Nguyễn Chánh Thi, cựu tư lệnh Binh Chủng Nhảy Dù Quân Đội VNCH đã từ trần vào lúc 6 giờ 42 chiều thứ bảy 23/6/2007 tại Landcaster, tiểu bang PA, Hoa Kỳ, hưởng thọ 84 tuổi.

Trung tướng Nguyễn Chánh Thi được biết đến là người đã cầm đầu cuộc đảo chánh tổng thống Ngô Đình Diệm vào năm 1960 cùng với Vương Văn Đông, Nguyễn Triệu Hồng và một số chính trị gia của các đảng phái Việt Nam thời đó.

Đảo chánh thất bại, ông lưu vong qua Cam Bốt và trở về sau khi Hội Đồng Quân Nhân do đại tướng Dương Văn Minh lên nắm chính quyền vào năm 1963.

Năm 1966, có cuộc tranh chấp giữa chính quyền quân đội và đồng bào Phật tử ở Huế, Nguyễn Chánh Thi lúc đó là tư lệnh quân khu 1 đã đứng về phía địa phương và ông bị cách chức và sau đó bị bắt phải lưu vong tại Mỹ vào năm này.

Như vậy cuộc đời của vị tuớng Nhảy Dù đã sống tại Hoa Kỳ được 41 năm cho đến ngày qua đời. Trong một lần gặp gỡ, tướng Nguyễn Chánh Thi đãkể lại nỗi buồn lưu vong trong những năm đầu nơi xứ lạnh Bắc Mỹ. Từ khi có hàng triệu người VN tị nạn qua hải ngọai, cuộc sống của ông có phần ý nghĩa hơn. Oâng đã viết hồi ký Một Trời Tâm Sự kể lại cuộc đảo chánh năm 60 và cuộc đời thăng trầm binh nghiệp và chính trị của mình.

Những phong trào kháng chiến của người hải ngọai thập niên 80 đã bùng lên và tướng Nguyễn Chánh Thi là một trong những quân nhân được chú ý để làm người lãnh đạo. Các nhân sự trong tổ chức Người Việt Tự Do đã tìm đến ông nhưng việc hợp tác không thành và sau đó đề đốc Hoàng Cơ Minh đảm trách.

Mặc dù đã cuộc tranh luận ai là người thực sự cầm đầu cuộc đảo chánh năm 1960 giữa Vương Văn Đông và Nguyễn Chánh Thi, nhưng phải công nhận dù ít hay nhiều tuớng Thi cũng có phần. Và lịch sử ghi lại một hành động can đảm của một vị tướng dám đảo chánh một chế độ đang vững mạnh, cho dù đúng hay sai tùy theo cái nhìn của mỗi phe phái. Nói theo nhận xét của một người lính Nhảy Dù về tướng Nguyễn Chánh Thi là ông ngay thẳng, bộc trực và bình dân.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Tình chiến hữu & Tác phong người Lính

(Xin kính tặng những người đã từng khoác áo chiến binh)
Thiên Minh
Sau 42 năm được ghi nhận là mất tích trong cuộc chiến Việt Nam, cuối cùng thì thi thể của hai quân nhân Úc là binh nhì Peter Gillson (20 tuổi), và trung sĩ Richard Parker (24 tuổi) đã được tìm thấy và đưa trở lại quê nhà (Australia) để an táng trong tuần qua. Ðây quả thật là một tin vui ngoài sức mong đợi… không những cho gia đình, cho đất nước mà còn cho những đồng đội cũ của hai anh. Ðược biết hai chiến sĩ này đã hy sinh vào ngày 8 tháng 11 năm 1965 trong một trận giao tranh tại Biên Hòa (của gần 42 năm về trước).

Phải nói rằng thời gian qua là một chuỗi ngày dài so với một đời người, nó gần như là gấp đôi tuổi đời của hai anh (lúc hy sinh) là 20 và 24 tuổi. Như vậy thì 42 năm quả là một thời gian quá lâu mà thân thể các anh đã nằm lại “vất vưởng” ở một chiến địa xa xôi, không người biết đến. Có lẽ cũng chính vì nghĩ đến điều này, nên các đồng đội của hai anh luôn cảm thấy ray rứt và tâm trạng không được yên lòng. Do đó họ đã quyết tâm bằng những nổ lực không ngừng tìm kiếm trong suốt thời gian qua, hầu mang các anh trở về… để được “yên nghỉ ngàn thu” trong lòng đất mẹ.

Chính những tấm lòng này đã thể hiện được tinh thần đồng đội của người lính năm xưa. Ngày nay mặc dù tuổi đời của họ càng cao, nhưng họ vẫn “một lòng” và không quên những người đã chết. Theo lời kể (với đài phát thanh ABC) thì một đồng đội cũ là trung đội trưởng Trevor Hagan đã tính từng ngày. Ông cho biết là tính đến bây giờ thì đã 15,151 ngày… từ cái ngày mà hai đồng đội của họ hy sinh. Ông cho biết thêm, là lần này trở lại VN để mang hai người bạn trở về thì đó là một trong những điều rất có ý nghĩa đối với ông. Nghe nói, ngày đó dù biết rằng đồng đội đã hy sinh, nhưng vì chiến trận quá ác liệt và căng thẳng nên những người lính Úc đành phải miễn cưỡng rút lui theo lịnh của cấp trên. Họ biết rằng đồng đội của họ vẫn còn nằm lại nơi chiến trường. Và họ đã không bao giờ lãng quên từ ngày đó cho đến hôm nay (là ngày mà thi thể của hai người lính ấy đã được tìm thấy và mang trở lại quê nhà)….
ImageImage Vào hai tuần trước sau khi chiếc phi cơ Hercules của không lực Úc từ Hà Nội về đến Darwin, thì quan tài của hai anh đã được khiêng ngang qua đoàn quân danh dự trước sự chứng kiếng trong ngấn lệ của những người thân, viên chức, và hàng trăm cựu chiến binh Úc đã từng tham chiến ở Việt Nam. Mọi người nhìn thấy quan tài của hai anh có phủ lá quốc kỳ Úc được xếp chéo góc, bên cạnh là lẵng hoa, cùng với một “chiếc nón nỉ” truyền thống của quân đội Úc với vành mũ bẻ cong.

Nhân dịp này, bộ trưởng Cựu Chiến Binh Úc, ông Bruce Billson đã nói:

- “Ðồng đội đã hy sinh, trận chiến đã qua đi nhưng những người lính vẫn mang trên vai họ một hành trang nặng trĩu không lúc nào ngơi. Ðó là một sự lo lắng cho những đồng đội chưa trở về, nó giống như là một “túi ba lô” không nhìn thấy, không tưởng tượng chất chứa một sự giao dịch … chưa hoàn thành”.

(Mates lost; battles passed. But soldiers carried the weight and worry, without respite, of an invisble and unimaginable ‘backpack’, of unfinished business, of mates not returned).

Khi đề cập đến sự quan tâm của quốc gia dành cho những người chiến sĩ đã một lần ra đi không bao giờ trở lại, ông Billson nói tiếp:

- “Sự biết ơn của một quốc gia là tiếp tục bổn phận của mình và trách nhiệm đạo đức đối với những người đã đáp lời kêu gọi và đền nợ nước với núi sông.

Hơn 4 thập niên qua rất nhiều câu chuyện đã được ghi chép nhưng vẫn chưa hoàn thành. Ðó là một chương mà phần lớn đã được viết ra bởi những cảm xúc mạnh mẽ, bởi sự say mê, và bởi lòng-dạ kiên-trì của tình chiến-hữu với nhau. Họ không bao giờ bỏ cuộc và hiếm khi để một ngày trôi qua mà không nhớ đến và quyết tâm cho mục đích cao cả của mình”.

(A grateful nation carries forward its special duty and moral obligation to those who have done all that their country asked of them and in doing so, paid the ultimate price.

For more than four decades, much of this story has been largely settled, yet incomplete. The chapter largely penned by the passion and perseverance of mates who never gave up and rarely let a day escape without remembering and recommitting to their goal).
ImageImageImage Cuối cùng ông Billson kết luận:

- “Như vậy ngày hôm nay một chương mới mà cũng là một chương sau cùng về câu chuyện của trung sĩ Parker và binh nhì Gillson. Câu chuyện này sẽ được cập nhật thêm nhiều nữa…

Thôi thì… hãy để chương cuối đó được đọc và ghi chép thế này: Hai người chiến sĩ gan dạ đã hy sinh, luôn trẻ mãi và không bao giờ bị lãng quên. Họ đã được tìm thấy, đưa trở lại quê nhà (bằng sự) tương xứng với phẩm chất cao quý trong vòng tay của tình chiến hữu với nhau. Họ trở về với những người họ yêu thương và những người yêu thương họ. Xin hãy vinh danh và đưa họ đến nơi an nghỉ sau cùng bởi một quốc gia còn nhớ ơn của họ.

Cuối cùng thì họ đã trở về và luôn được mãi mãi ghi công”.

(So today, the new chapter, the final chapter of the story of Lance Corporal Parker and Private Gillson, begins to be written.

Let the final chapter read and record: two brave servicemen lost; now forever young; never forgotten; found, recovered and repatriated with great care and dignity; carried home by the hands of mateship; returned to those who love and were loved; honoured and laid to rest by a grateful nation; home at last, always remembered).

Tang lễ của anh Richard Parker diễn ra ngày thứ Ba 12 tháng 6 năm 2007 tại Woden, thủ đô Canberra (Úc). Và tang lễ của anh Peter Gillson đã được tổ chức tại nghĩa trang Fawkner vào thứ Sáu 15 tháng 6 năm 2007 ở Melbourne. Nhân dịp này thủ tướng John Howard đã nói:

- Câu chuyện tìm kiếm trung sĩ Parker và binh nhì Gillson là một trong những điều cao quý của tình chiến hữu, sự bền chí và hy sinh. Ðó cũng chính là điều tốt đẹp nhất của truyền thống Anzac.

("The story of the search for Lance Corporal Parker and Private Gillson is one of great mateship, perseverance and sacrifice in the best of the Anzac tradition," Mr Howard said).

Ðược biết Ban Chấp hành Cộng Ðồng Người Việt Tự Do ở Melbourne đã ra một thông báo về việc tham dự lễ an táng của chiến binh Peter Gillson. Ðây cũng là dịp để cộng đồng người Việt bày tỏ lòng tri ân sâu xa đến gia đình của người lính Úc đã chết trong chiến cuộc Việt Nam, cũng như đối với quân đội Hoàng gia Úc. Riêng tang lễ của chiến binh Richard Parker tại Canberra thì cũng có một số đồng hương Việt Nam tham dự (theo tính cách cá nhân) để tỏ lòng tri ân cùng những người đồng minh ngày trước.

Khi nghe được tin này là người Việt Nam chắc chúng ta không khỏi bùi ngùi và cảm phục trước tình chiến hữu của những người lính Úc đã từng phục vụ, chiến đấu và bảo vệ đất nước chúng ta. Càng cảm động hơn là khi biết thi hài của họ đã được tìm thấy sau gần 42 năm bị vùi thây nơi chiến địa cũng chỉ vì một mục đích là bảo vệ lý tưởng tự do. Khi nói lên điều này chắc hẳn chúng ta khó lòng quên ơn những người đã từng là đồng minh có cùng chung chiến tuyến. Ðặc biệt là quân đội Úc nói riêng, cũng như đất nước Úc nói chung. Chính quân đội đó là đồng minh ngày trước của quân lực Việt Nam Cộng Hòa, và đất nước đó chính là quê hương thứ hai của hơn 200 ngàn người Việt Nam hiện tại.


Năm nay nhân dịp ngày Quân lực 19 tháng 6 lại đến, và sẵn dịp nói đến tình chiến binh, chúng tôi cũng xin phép (một lần nữa) ghi lại đôi dòng về đề tài “Tác phong người Lính” mà có lẽ nhiều kỷ niệm vẫn còn lưu lại trong lòng của những người chiến sĩ năm xưa…

Cách đây không lâu trong lúc đi ăn trưa tình cờ chúng tôi nhìn thấy hai người lính Úc chào nhau trên đường phố Sydney. Hình ảnh này đã thực sự làm tôi cảm kích. Không những thế, nó còn gợi cho tôi… nhớ lại những hình ảnh tương tự ngày xưa (lúc tôi còn nhỏ ở quê nhà). Có lẽ tôi luôn ngưỡng mộ những “tác phong” cao đẹp này của người Lính, mặc dù trong đời mình… tôi chưa một lần nào… được “chào nhau” như thế. Lý do, vì khi tôi và các bạn của tôi lớn lên, thì cuộc chiến ở quê hương đã tàn. Nên “đời chiến binh” chúng tôi chưa hề trải qua, hay… được một lần tham dự.

Có lẽ từ sự cảm nhận đó ở trong lòng, nên hình ảnh ngày hôm ấy đã gây cho tôi rất nhiều ấn tượng. Một điều thú vị nữa, là không phải chỉ riêng chúng tôi, mà còn có vài người qua đường khác. Họ cũng dành cho hai người lính này với một cái nhìn đầy thiện cảm như nhau. Ðiều đáng nói ở đây là thái độ “tự nhiên” của hai người người lính Úc… lúc họ chào nhau. Tôi thấy họ thể hiện hành động ấy như là một thói quen, một sự tôn trọng, một sự kính nể dành cho đồng đội. Nói chung, đó là một “tác phong” nghiêm chỉnh… rất đổi nhà binh. Bởi thế, họ không hề tỏ ra một điều gì gọi là “gượng ép”. Nhìn cảnh đó tôi tự nhủ trong lòng, đúng là tác phong của những người lính chiến! Tôi hiểu, là ngoài trách nhiệm được giao phó để thi hành, họ còn luôn nghĩ đến đồng đội, đến tình chiến hữu. Bởi vì mai này, nếu có ra ngoài chiến trận, thì chính họ sẽ là những người cùng sống chết bên nhau…

Nhớ lại ngày lễ Anzac hàng năm. Ðây được xem như là ngày quân lực Úc. Từ rạng sáng hừng đông (dawn service) mọi người đã tề tựu về những tượng đài chiến sĩ để làm lễ truy điệu, và sau đó là đến phần diễn hành truyền thống như mọi năm. Không phải chỉ một nơi mà hầu như ở khắp mọi miền đất nước (Úc) cũng đều diễn ra như thế. Ðặc biệt là những cuộc tưởng niệm này còn lan rộng đến những quốc gia mà quân đội Úc đã từng tham chiến ngày xưa. Trong số đó phải kể đến bờ biển Gallipoli ở tận bên xứ Thỗ Nhĩ Kỳ. Nơi đây đã đánh dấu trận đổ bộ của quân đội Úc và Tân Tây Lan vào buổi rạng sáng ngày 25 tháng 4 năm 1915 lịch sữ. Rồi đến những quốc gia khác như Singapore, Philipines, Ðại Hàn, East Timo, Indonesia, Irag, Afganistan… và ngay cả Việt Nam tại vùng Long Tân (ngoài Vũng Tàu – nơi có căn cứ ngày xưa) người Úc cũng có đến đây để cử hành ngày Anzac.

Riêng tại Sydney thì như mọi năm, cuộc diễn hành đều có rất nhiều người tham dự và được truyền hình trực tiếp từ sáng đến trưa. Từ quân đội Úc bao gồm các ngành, các cấp cho đến lực lượng đồng minh (các nước) đều có tham gia. Từ già đến trẻ, từ cựu chiến binh đến những người còn đang tại ngũ. Chúng tôi thấy trên gương mặt họ luôn thoáng hiện nét hân hoan, cùng lòng tự hào về tác phong người lính (oai nghiêm và dũng cảm). Có người mặc dù giờ đây thân thể đã già, nhưng ánh mắt vẫn còn lộ nét tinh anh, và tinh thần vẫn còn minh mẩn. Ðây là những dịp để họ cùng đồng đội ngày nào được họp mặt với nhau, và nhất là được ôn lại những kỷ niệm của một thời xa xưa họ đã từng là người lính.

Và thật hãnh diện làm sao khi trong đoàn người diễn hành đó, còn có sự tham dự của những người lính Việt Nam Cộng Hòa. Giờ đây họ đang sinh sống trên quê hương mới này… và được công nhận là đồng minh, là cựu chiến binh của những người lính Úc. Trong cuộc diễn hành ngày Anzac hàng năm, họ luôn thể hiện tinh thần đồng đội và sự hợp tác đồng minh… để cùng tham dự. Mặc dù vậy, có lẽ qua ánh mắt hân hoan trong ngày Quân Lực Úc, những người lính Việt Nam ngày nào… chắc cũng không khỏi chạnh lòng nhớ về một tổ quốc xa xôi, về một ngày quân-lực 19 tháng 6 bất diệt thuở nào. Cũng như nhớ về một quân đội oai hùng mà họ đã từng là chiến sĩ. Bên cạnh đó họ còn có những đồng đội can trường, những cấp chỉ huy gương mẩu luôn nêu cao tác phong người lính… Ngày nay cho dù thời gian đã qua đi, nhưng có lẽ những truyền thống tốt đẹp kia vẫn còn in sâu trong lòng họ.
ImageImage Chúng tôi luôn vững tin là như vậy, vì tác phong này chúng tôi đã được nhìn thấy từ lâu, từ những người lính chiến năm nào trên quê hương tôi (mặc dù khi xưa chúng tôi còn bé). Ngày xưa họ cũng “chào nhau” giống như hai người quân nhân Úc. Tuy nhiên có điều khác hơn là (ngày hôm nay) họ không còn mặc áo chiến binh để được chào nhau như thế nữa. Có người nói, là vì cuộc chiến đã tàn, nên cuộc đời binh nghiệp cũng không còn tồn tại nữa. Ðiều này thật sự có đúng hay không, nhất là mỗi khi đề cập đến tinh thần chiến binh, đến tác phong người Lính, đến kỷ niệm chiến trường, đến tình chiến hữu, đến những đồng đội hy sinh, và đến rất nhiều điều liên quan khác nữa...?!

Theo cảm nhận của chúng tôi, thì (hình như) tất cả những điều trên đã tạo nên một “spirit” thiêng liêng, một truyền thống oai hùng, một “linh hồn” sâu kính (sâu xa và kính trọng). Nên có thể nói, chúng đã khắc sâu trong lòng của những người chiến binh (kể cả bạn bè)… thì có lẽ muôn đời… vẫn là bất tử?! Ngày nay cho dù cuộc chiến thật sự có qua đi, hay có… “tàn” gì cũng được. Nhưng chắc chắn một điều… là hình ảnh đó, tác phong người Lính đó… vẫn còn đây, vẫn kiêu hãnh, vẫn tự hào, và vẫn lưu lại mãi trong tim của rất nhiều người… Vì họ đã từng một thời khoác chung màu áo trận.


Nhớ lại ngày xưa, ngay như hình ảnh của những người lính nghĩa quân chào cấp chỉ huy ở một đồn ấp xa xôi (gần ngôi trường ngày nào chúng tôi theo học) cũng khó làm cho chúng tôi quên được. Hầu như ngày đó mỗi lần thấy họ chào nhau là chúng tôi vẫn “khoái” chạy ra… và xem cho bằng được. Rồi có một lần trên đường đi học (tại một bến đò) chúng tôi đã chứng kiến cảnh một người quân nhân “đi theo” đồng đội của anh trong... “ngày trở về”. Khi đến nơi gặp lại gia đình bạn của anh, và trước lúc đò máy sang sông, thì anh lính này cũng đã đưa tay kính cẩn chào người bạn của anh trước khi từ biệt để trở lại đơn vị. Hành động này đã làm cho nhiều người chung quanh ngưỡng phục. Và càng cảm động hơn khi biết rằng người bạn của anh thì đang nằm yên trong quan tài giá lạnh. Tôi còn nhớ đó là một quan tài có lớp thiết bao bọc ở chung quanh, bên trên là lá cờ tổ quốc (có màu da vàng cùng ba dòng máu Việt của tổ tiên, của quê hương của ba miền Nam Trung Bắc). Nghe nói bạn của anh đã tử trận hơn 10 ngày qua, từ một chiến trường (vùng 1) xa xôi, nơi tuyến đầu lửa đạn


Và có lẽ cũng chính vì một vài hình ảnh vừa nêu, đã khắc sâu vào tâm trí của nhiều người, nên dù thời gian có qua đi nhưng những “tác phong” này khó có thể… “tàn phai” theo ngày tháng? Nhất là trong lòng của những người đã từng tham gia chiến trận và mang thương tích trở về. Mặc dù ngày nay thân thể của các anh không còn nguyên vẹn nữa. Nhưng chúng tôi tin, là tác phong và niềm kiêu hãnh đó, vẫn sống mãi trong lòng các anh như những ngày xưa còn xông pha nơi lửa đạn. Nói đến điều này làm tôi liên tưởng đến hình ảnh của một người thương phế binh mà tôi có dịp cùng với nhiều đồng hương khác gởi tiền về giúp đỡ cho anh (qua trung gian của một vị nữ ân nhân giàu lòng bác ái). Trong lá thư (copy) của anh gởi sang mà tôi nhận được, thì ngoài những lời cám ơn, tôi còn thấy anh kèm theo tấm hình “oai phong” ngày nào, khi anh còn khoác áo chiến binh thời trai trẻ. Ðiều này đã nói lên tác phong người Lính ngày xưa thì vẫn còn sống mãi trong anh. Cho dù thân thể anh ngày nay có mang nhiều thương tật, nhưng anh vẫn hãnh diện về những kỷ niệm ngày nào. Mặc dù chỉ qua một tấm ảnh đơn sơ, nhưng tôi tin là nó đã gói ghém bao nhiêu tâm tư để gởi cho những người đồng đội cũ!?

Xin cám ơn các anh, những người trai thế hệ đã vì nhiệm vụ bảo vệ non sông mà cống hiến cuộc đời cho quê hương đất nước. Ngày nay chúng tôi dù chưa có dịp đóng góp như các anh ngày xưa, nhất là cho quê nhà đang nghìn trùng xa cách. Nhưng chúng tôi cảm nhận được tác phong người Lính và học hỏi được những bài học quý giá từ cha anh để lại…

Chúng tôi cũng biết trân trọng, biết tự hào, và nhất là biết tự xét mình đã xứng đáng với tiền nhân hay chưa, để khi có cơ hội sẽ tiếp nối những hoài bão cao đẹp ngàn đời (mà cha ông đã dạy), để không phụ lòng những người đi trước…

Thiên Minh
19 tháng 6 năm 2007

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

Rain, Cơn Bão Nhiệt Đới Đến Los Angeles


Với ngoại hình cao ráo và nụ cười thật dễ thương, Rain là thương hiểu nổi tiếng tại các nước Á Châu như Đại Hàn, Nhật, Trung Quốc, Thái, Phi và Việt Nam. Các buổi trình diễn của anh hầu như không có chổ trống. Show diễn của anh tại Sài Gòn vào tháng 3 vừa qua là một sự kiện nổi bật và được đón nhận một cách nồng nhiệt.

Thuở niên thiếu, Rain đã rất thích nhảy múa theo kiểu hip-hop và R&B. Thần tượng của anh là Michael Jackson. Khi đến tuổi thành niên, anh tham gia nhóm Fanclub nhưng chẳng bao lâu nhóm này tan rã. Cũng trong thời gian này, mẹ anh ngã bệnh và gia đình sa sút hẳn. Nhưng Rain rất kiên cường và luôn luôn đi tham gia các cuộc thi tài năng. Những người tuyển lưạ tài năng cho rằng anh có mắt một mí nên không thích hợp để làm ngôi sao. Đa tài và có sức kiên nhẫn khác người, Rain cuối cùng đã được giám đốc của công ty tài năng JYP Entainment Park Jin Yong nhận vào làm back up dancer. Sau một thời gian ngắn, anh cho ra đĩa CD đầu tiên tên Bad Guy và có một vài bài hát nổi bật.

Và đúng lúc điện ảnh Hàn làm mưa làm gió trên toàn thế giới, Rain xâm nhập lãnh vực điện ảnh. Anh lần lượt xuất hiện trong phim "Sang Doo! Let's go to School" và phim làm anh nổi danh "Full House". Đĩa CD thứ ba mang tên "It's Raining" đứng đầu các bảng xếp hạng tại các nước Nhật (100,000 bảng), Trung Quốc (500,000), Đài Loan (70,000), Thái (150,000), Bắc Hàn (154,000) và anh đã trở thành siêu sao quốc tế.

Với ngoại hình hào hoa và tài năng tột bực, anh đã được bình chọn là một trong những người đẹp nhất thế giới (báo People) và một trong những người có ảnh hưởng nhất trên thế giới (báo Time online poll). Theo tin mới nhất, Rain sẽ tham gia vào bộ phim Speedracer với phần chỉ đạo của anh em nhà đạo diễn Wachowski (phim Matrix).

Và để tiếp tục chuyến lưu diễn Rain's Coming và trên đường chinh phục thế giới, Rain sẽ có một buổi nhạc hội cho 15,000 ngàn người tại Staples Center vào ngày 30 tháng 6. Giá vé từ $65 có bán trên www.ticketmaster.com. Để biết thêm chi tiết về chuyến lưu diễn của Rain tại các địa điểm khác tại HoaKỳ, ghé www.rainworldtour.com.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

THẦY NĂM CHÉN

Tiểu Tử
Sau trận Tết Mậu Thân (1968) ở Huế, gia đình ông thầy thuốc Nam đó chết hết, chỉ còn lại có hai cha con. Nhà cửa tiêu tan, sự nghiệp tiêu tan, thầy không muốn ở lại cái vùng đất mà thầy cho là còn gần với quân xâm lăng miền Bắc. Thầy gạt nước mắt, dẫn thằng con trong tuổi quân dịch đi vô Nam. Thầy nói: “Ở trong nớ tuy tứ cố vô thân nhưng chắc chắn là mình được yên ổn lâu dài”.
Trên chuyến xe vào Sài Gòn, ông bắt chuyện với một sư ông lên xe ở trạm Nha Trang. Thì ra sư ông cũng là thầy thuốc Nam nữa. Nhờ vậy, tâm sự được dàn trải dễ dàng. Sư ông trụ trì ở chùa Thiền Lâm Gia Định, vừa làm phật sự vừa bắt mạch vừa bốc thuốc. Sư ông nói:
- Tôi làm không xuể.
- Bịnh nhân có đông không ?
- Tùy mùa. Nói chung chung thì cũng nhiều. Với tôi, phật sự là chánh, còn chữa bịnh là phụ. Vì không đủ thời giờ nên tôi đành từ chối bịnh nhân... Thấy cũng tội nghiệp !
Khi sư ông biết tình cảnh của cha con ông thầy thuốc Nam, sư đề nghị:
- Nếu ông anh không chê thì tôi xin mời ông anh về tá túc với chúng tôi. Mình sẽ phụ nhau chữa bịnh cho đồng bào thì thật là hoan hỉ.
Trong cảnh “tứ cố vô thân”, đề nghị của sư ông như một cái phao. Ông thầy nhận lời và cám ơn rối rít. Sư ông nói:
- Đời sống trong chùa đạm bạc như thế nào chắc ông anh cũng đoán biết, không cần phải giải bày. Duy chỉ có điều này là cần nói rõ: bịnh nhân đến chùa phần đông là đồng bào nghèo, mà chùa thì không có khả năng tài chánh để chữa thí, vì vậy, mình chỉ lấy tiền thuốc thôi.
- Ngoài nớ, gặp bịnh nhân nghèo, tôi cũng làm như rứa. Đôi khi còn không lấy tiền.
- A di đà Phật...
... Chùa Thiền Lâm nằm giữa một nghĩa trang vây quanh bởi một bức tường rào xây bằng gạch bờ-lóc không có tô và cũng không quét vôi. Nhiều nơi tường bị nứt dài, gạch bể lỗ đỗ. Dọc theo mặt tiền là mấy “tiệm” hớt tóc (Không biết gọi là gì cho đúng. Mấy anh thợ hớt tóc, trước đây hớt tóc dạo, bây giờ... đóng đô ở đó bằng cách đóng lên tường mấy cây đinh rồi móc tấm ni-lông hay tấm vải trắng cỡ thước rưỡi bề ngang, có mấy cây trúc chống căng ra như một mái nhà. Bên dưới, đặt hai ghế đẩu – một cho khách, một cho thợ hớt tóc – và trên tường treo ngang tầm mắt người ngồi ghế đẩu là tấm kiếng cỡ hai trang giấy lớn. Trên tường cũng có viết nguệch ngoạc bằng sơn dầu các kiểu tóc và giá cả. Chiều, họ gỡ hết đem đi. Sáng, họ trương lên, ngồi đánh cờ tướng với nhau hay hút thuốc rung đùi... đợi khách !). Cổng vào nghĩa trang, bằng sắt rỉ sét xiêu vẹo, mang một bảng gỗ đã mục nhiều nơi, lớp sơn tróc rơi để lòi sớ gỗ, nhưng cũng còn vừa đọc vừa... đoán ra được hàng chữ: “Nghĩa trang Hội Tương tế X...”. Từ ngoài ngỏ chạy thẳng vô chùa là đường đất đỏ nằm giữa hai hàng cây điệp. Vây quanh chùa là mả thấp mả cao xếp hàng dài dài...
Chùa là một ngôi nhà cất theo kiểu xưa: nền cao, nóc bánh ích, cột kèo gỗ, ba gian hai chái, hàng ba thật rộng. Không có mái cong chạm rồng chạm phụng gì hết. Mới nhìn tưởng là nhà ở chớ không phải chùa ! Biết là chùa nhờ có tấm bảng nằm dưới mái hiên: “Thiền Lâm Tự” ! Bên trong không có “năm ngăn bảy nắp đầy dẫy tượng Phật, tượng Bồ Tát sơn son thếp vàng” như mấy chùa nổi tiếng. Nhưng cũng có đầy đủ ngôi tam bảo với các vật dụng cần thiết để làm phật sự. Ở đây, đúng là một cảnh chùa nghèo. Tuy nhiên, theo lời sư ông, những ngày rằm ngày vía, phật tử đến cúng bái khá đông. Phần lớn là đồng bào ở trong vùng và những người không thích “chùa nhà giàu” – chính họ nói như vậy.
Về chùa Thiền Lâm, sư ông phân công rõ rệt: sư ông và người đệ tử lo phật sự và trông nom trong ngoài, còn cha con ông thầy thì lo phần chữa bịnh kể cả việc đi bổ thuốc. Cái chái phía bên phải xưa nay vẫn là phòng mạch, bây giờ giao hẳn cho ông thầy tự do sắp xếp. Cha con ông được cho một căn buồng ở hậu liêu, có cửa sổ nhìn ra vườn rau cải của chùa. Lâu lâu, có ai rước sư ông đi làm đám ở đâu thì cha con ông thầy lảnh phần đèn nhang cúng bái thường nhựt...
Ông thầy chữa bịnh mát tay nên bịnh nhân càng ngày càng đông. Thầy bắt mạch, rờ trán, xem lưỡi... rồi bốc thuốc gói từng thang bằng giấy báo. Khi trao thuốc lúc nào thầy cũng dặn: “Đổ vô năm chén nước, sắc còn một chén uống”. Thang nào của thầy cũng là năm chén nước và không thang nào là không đi kèm với câu dặn dò trên. Vì vậy, bịnh nhân và người trong vùng gọi ổng là “thầy năm chén”. Lâu ngày thành tên luôn, làm như thầy thứ Năm và tên Chén vậy ! Cho nên, về sau, khi nói chuyện với thầy, bịnh nhân gọi thầy bằng “thầy Năm” rất tự nhiên. Không thấy thầy ngạc nhiên hay cải chánh gì hết !
Thằng con thầy Năm Chén, tên Kiệt, thông minh học giỏi cần cù. Kiệt thi đậu vào trường kỹ thuật Cao Thắng. Mấy năm sau, chưa ra trường đã phải nhập ngũ, đi công binh. Lâu lâu được kỳ phép, về chùa giúp cha bổ thuốc bốc thuốc, giống như thời mới vào Nam với hy vọng “nơi ni mình sẽ được yên ổn lâu dài”...
... Vậy rồi có ngày 30 tháng tư 1975...
Hồi thời Tết Mậu Thân, thầy còn chạy vô Nam. Bây giờ, thầy không biết chạy đi đâu nữa. Thầy thở dài: “Đúng là cái số !”. Bản chất thầy hiền hòa mộc mạc như các vị thuốc Nam của thầy, cho nên sự miền Nam mất vào tay cộng sản, thầy nghĩ rất đơn giản: “Tại ông Trời ! Nhơn bất thắng Thiên, ông bà mình dạy như rứa. Khi ổng đã định, mần răng mà cãi được !”. Hồi xưa, thầy học “chữ thánh hiền” trước khi thầy học thuốc. Chữ thánh hiền đã cho thầy có cái nhìn rất khiêm tốn khi thầy chữa bịnh: “Chẳng qua là phước chủ may thầy...”. Bây giờ, sống trong nghĩa trang, ngày ngày nhìn mấy lô mả to mả nhỏ nằm im hàng hàng, thầy càng tin ở số mạng. Cái số thầy phải bỏ xứ để vô Nam, cái số thầy phải ở chùa bốc thuốc, rồi bây giờ cái số thầy “bị mất nước; sống mần răng với bọn cộng sản đây ? ”. Nghĩ đến đó, thầy tự an ủi: “Chừ, mình sống giữa những người chết, chắc bọn nó để cho yên...”.
Kiệt đi học tập mấy hôm rồi về chùa phụ sư ông quét dọn trong ngoài, bởi vì bên phòng mạch bịnh nhân cũng vắng. Làm như người ta lo sợ quá rồi...quên bịnh! Trái lại bên phía chùa thì lại đông người lui tới và ngày nào cũng có người. Làm như bây giờ người ta chỉ còn biết... dựa vào Phật !
Thời gian sau, Kiệt tìm được việc làm ở Khánh Hội, trong một ga-ra nằm cạnh bờ sông, chuyên sửa máy xe hơi máy tàu. Thầy Năm Chén và sư ông lâu lâu đóng cửa phòng mạch, đóng cửa chùa để đi học tập chánh trị. Bởi vì “tư tưởng Mác Lê là ngọn đuốc soi đường cho nhân loại”, phải thông suốt để về chùa làm phật sự cho đúng... “tác phong cách mạng” và về phòng mạch kê toa bốc thuốc cho hợp với... “yêu cầu đấu tranh giai cấp” !
Một hôm, mấy cán bộ thành vào viếng nghĩa trang. Sau khi đi một vòng, họ khen... hai hàng phượng đẹp ! Cuối cùng, họ nói:
- Theo quy hoạch của thành phố, nơi này sẽ là công viên cây xanh, để đồng bào quanh vùng có nơi thư giãn. Việc bốc mộ sẽ có thông cáo. Mấy người được ở lại đây để trông chừng việc bốc mộ cho đến thời hạn ấn định trong thông cáo là phải dọn đi ngay. Rõ chứ ?
Sư ông làm thinh. Thầy Năm Chén cũng làm thinh. Nói cái gì bây giờ ? Đối với những người không biết luật pháp, đối với chế dộ không có luật pháp, thì nói “ừ” hay nói “không” cũng đều là vô nghĩa ! Bởi vì họ không chấp nhận sự đối thoại. Ngoài ra, họ kiêu căng đến mức độ có thể viết một câu tổ bố và lố lăng quá mức mà ai cũng thấy trên đường đi Bến Lức – câu này dân chúng chuyền miệng cho nhau nghe từ mấy tháng nay và chính mắt thầy Năm Chén đã đọc khi đi bổ thuốc ở vùng đó – “Thằng trời đi chỗ khác chơi; Để cho Nông Hội tiến lên làm mùa”. Thì... còn lời gì để nói ?
Nhưng sự “làm thinh” của sư ông và thầy Năm Chén không phải chỉ đơn thuần ở chỗ “hết nước nói”, mà còn là cách để tỏ thái độ của hai ông: làm thinh là khinh miệt bọn chúng, những thằng không đáng để nói chuyện, những thằng mất gốc, tổ tiên không thờ đi thờ hai thằng tây mũi lõ Mác gì gì Lê gì gì đó không biết nữa. Sự làm thinh của hai ông – sự làm thinh của kẻ sĩ – có giá trị gấp mấy lần những lời thóa mạ chửi bới, vậy mà mấy cán bộ lại cho là “thành quả của giác ngộ cách mạng” !
Mấy hôm sau, thầy Năm Chén kéo thằng con ra góc nghĩa trang, thấp giọng nói:
- Cha có chuyện ni muốn nói với con. Nhưng con phải giữ kín.
- Dạ.
- Con nên tìm đường đi chui đi.
- Cha nói chi lạ rứa ?
- Không có chi lạ hết. Cha không muốn con ở lại xứ ni. Mình không còn đất đứng nữa, con à.
Nói đến đây, giọng thầy nghẹn lại. Thầy không nhìn con. Thầy nhìn ra mấy lô mả. Thầy chớp mắt thật nhanh để nước mắt đừng đọng thành giọt. Rồi thầy thở dài...
Mồ mả sao mà an bình chi lạ. Rồi sẽ không còn được như vầy nữa, nay mai... Chế độ không để cho ai được yên, kể cả người chết !
Kiệt nhìn cha, bồi hồi. Con người đó xưa nay hiền hòa, an phận. Vậy mà bây giờ lấy một quyết định có tánh cách chống đối dầu là tiêu cực, chứng tỏ ông “chịu đựng hết nổi”.
- Nghèo như mình thì lấy vàng mô mà đi chui, cha ?
- Cha nghe nói có nhiều người làm việc trên tàu. Họ đi được.
- Nhưng đó là họ đi một mình. Đi đánh cá, gặp dịp là đi luôn.
- Thì cha cũng muốn con tìm cách làm như rứa. Con cũng một mình chớ mấy mình.
- Không ! Con còn có cha nữa.
- Đừng lo cho cha. Cha già rồi. Tương lai là con, mô phải là cha.
- Gia đình mình chết hết, còn lại có hai cha con. Con đâu thể nào bỏ cha được, cha.
- Chính bởi vì cha chỉ còn lại có mình con mà cha muốn con phải đi khỏi xứ ni. Cha không muốn thấy con làm tôi mọi cho một lũ ngu dốt. Cha muốn thấy con được sống trong một xứ tự do. Có nghèo cũng nghèo trong tự do. Mà rủi có... rủi có chết cũng chết trong tự do,con à.
Đến đây thì Kiệt không dám nhìn cha, bởi vì gương mặt héo hon đó vừa nhăn nhúm lại như một miếng cau khô. Lòng quặn thắt, Kiệt nhìn đi nơi khác.
Mồ mả sao mà an bình chi lạ. Đằng kia, hai hàng phượng trổ bông đỏ ối. Màu đỏ trong nghĩa trang, xem vừa lạc lõng vừa vô duyên, không hợp tình hợp cảnh chút nào. Vậy mà bao lâu nay Kiệt không hề để ý. Làm như phải lâm vào một nghịch cảnh, người ta mới nhìn thấy rõ những nghịch cảnh chung quanh ! Bây giờ thì đến phiên Kiệt thở dài...
... Từ ngày có thông cáo dán trên cổng nghĩa trang, đồng bào tới lui chùa nườm nượp. Làm như thiên hạ muốn gần Phật thường hơn, đều đặn hơn, lâu hơn... trong những ngày những tháng còn lại này. Bởi vì Phật sẽ không còn được ở đây nữa, mặc dầu – theo lời ông già bà cả trong xóm – Phật đã được an vị ở chùa này gần ba mươi năm, hồi thời chưa có nghĩa trang, hồi thời bà phủ S. chưa bán đất cho Hội Tương tế X. Họ nói với nhau: “Nhà Nước này ngang ngược không nể nang ai hết. Có ngày sẽ bị Trời Phật trừng phạt cho coi !”.
Bên phòng mạch, bây giờ, lúc nào cũng đông người. Có bịnh nhân đến xem mạch và có những người không phải đến xem mạch nhưng đã từng uống thuốc của thầy Năm Chén. Những người này, sau khi cúng bái bên chùa, bước qua đây ngồi nói chuyện cà kê. Làm như để hổ trợ tinh thần thầy vậy. Có người hỏi:
- Rồi thầy dọn đi đâu ?
- Biết đi mô chừ !
- Quân gì mà vô nhân đạo. Muốn đuổi ai thì đuổi. Muốn lấy của ai thì lấy. Mà mở miệng ra là “cho nhân dân, vì nhân dân”.
- Tại cái số của tôi như rứa, mấy ông à. Nói mần chi ?
Bây giờ, thầy Năm Chén, sau khi trao mấy thang thuốc cho bịnh nhân, không phải chỉ nói vỏn vẹn câu quen thuộc “đổ năm chén nước, sắc còn một chén uống”, mà còn dặn dò thêm phải ăn uống như thế nào, phải kiêng cữ những gì bởi vì “cái tạng ni dễ bị bịnh khi trái gió trở trời”... Thầy còn nói: “Khi mô thấy bắt đầu khó chịu thì lấy bao nhiêu lá gì với lá gì kèm theo bao nhiêu bông gì với bông gì... sắc uống cho nó chận”. Thầy làm như ngày mai thầy sắp đi xa. Và chắc đi lâu lắm, bịnh nhân cần bảo trọng lấy thân. Người nào cũng cảm động khi nhận mấy thang thuốc của thầy, mấy thang thuốc không phải chỉ có những vị này vị nọ, mà có cả tình người nằm trong đó. Chất liệu trân quí này, trong thời buổi này, thật hiếm hoi. Cho nên, khi cầm trên tay mấy thang thuốc, cử chỉ của họ bỗng trở nên trang trọng. Và người nào cũng nghĩ: “Tội nghiệp ! Người hiền hậu như vậy, bảy tám năm nay giúp đỡ đồng bào bịnh nhân ai cũng mang ơn... Vậy mà chánh quyền cũng không để cho yên !”.
... Ít lâu sau, Kiệt được một người bạn có tàu đánh cá rủ đi chui bởi hắn đang cần người xếp máy. Kiệt về chùa cho cha hay. Thầy Năm Chén mừng rớt nước mắt:
- Rứa là lời cầu nguyện của cha đã được Ơn Trên chứng giám. Khi mô đi ?
- Mười hôm nữa.
- Ờ... Chừ thì mình vô thắp nhang lạy tạ Trời Phật, đi con.
Năm hôm sau, bỗng thầy Năm Chén than “khó ở”, “tỳ vị bất thông”. Thầy không ăn được cơm, thầy ăn cháo. Cháo với chao, tương, rau luộc. Không ăn được những món cứng như dưa leo, dưa cải, củ cải muối... những món thường dùng trong bữa cơm chay lạt ở chùa. Không thấy thầy uống thuốc. Thầy nói: “Cứ ăn cháo vài hôm là khỏi”. Sư ông thương hại, an ủi: “Họ đuổi thì mình đi. Thầy lo làm chi cho sanh bịnh. Chừng hết hạn bốc mộ, tôi sẽ đưa thầy về quê tôi ở Nha Trang. Ở đó, cũng có một ngôi chùa nhỏ như vầy. Mình sẽ tiếp tục giúp đồng bào như đã làm lâu nay. Thầy yên tâm đi. A di đà Phật...”.
Ngày thứ mười, cha con thầy Năm Chén qua chùa lạy Phật. Xong, thầy đưa cho Kiệt một gói bằng vải đỏ đã phai màu nhỏ bằng đầu ngón tay cái, cột làm nhiều gút, nói:
- Cha cho con cái ni. Con giữ kỹ trong người để hộ thân.
Kiệt cho vào túi áo trên ngực, cẩn thận gài miệng túi bằng cây kim tây, nhìn cha cảm động, nghĩ: “Cha thật chu đáo. Còn nhớ cho mình bùa ngải để hộ thân nữa”.
Chia tay mà hai cha con không dám ôm nhau. Sợ người ta để ý. Thầy không đưa con ra cổng nghĩa trang. Sợ người ta để ý. Thầy không dám để rơi một giọt nước mắt. Sợ người ta để ý ! Thầy chỉ thở dài. Thời buổi bây giờ, chỉ có thở dài là không thấy ai để ý. Bởi vì, ai cũng thở dài hết !
... Thời gian sau, thầy Năm Chén theo sư ông về chùa ở ngoại ô Nha Trang. Thầy lại bốc thuốc giúp đồng bào nghèo. Kiệt đi chui, lọt. Rồi định cư ở Canada...
Một hôm, sực nhớ gói bùa ngải của cha, Kiệt tò mò mở ra xem: đó là ba cái răng vàng, loại răng cấm. Thì ra thầy Năm Chén đã cạy ba cái răng vàng của mình để cho con làm của hộ thân ! Không còn răng để nhai cơm, thầy chịu ăn cháo suốt phần đời còn lại. Nhớ cha, thương cha, Kiệt cầm ba cái răng vàng trong tay mà khóc hết nước mắt...

Tiểu Tử

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

Thứ 7,ngày 7 tháng 7 ,năm 2007

Hôm nay là ngày thứ 7,mồng 7 ,tháng 7 ,năm 2007. Một ngày đặc biệt mang 4 con số 7 .
Do đó ,ngày hôm nay ở Sydney đã có hàng Trăm Cặp Người Úc làm Đám Cưới .Văn phòng chứng nhận Hôn Thú ,sẽ làm việc từ 8 giờ sáng cho đến người hết người.

Nếu Tiệc cưới bắt đầu đúng 7 giờ tối sẽ có tất cả 5 con số 7.

7 giờ tối ngày thứ 7 mồng 7 tháng 7 năm 2007

Một ngày hiếm có trong cuộc đời của chúng ta nói riêng , toàn thể nhân loại trên Thế giới nói chung.[
color=red] [/color]

CNN
Posts: 1017
Joined: Wed Dec 01, 2004 8:18 am

Post by CNN »

Nguyễn_Sydney wrote:Thứ 7,ngày 7 tháng 7 ,năm 2007

Hôm nay là ngày thứ 7,mồng 7 ,tháng 7 ,năm 2007. Một ngày đặc biệt mang 4 con số 7 .
Do đó ,ngày hôm nay ở Sydney đã có hàng Trăm Cặp Người Úc làm Đám Cưới .Văn phòng chứng nhận Hôn Thú ,sẽ làm việc từ 8 giờ sáng cho đến người hết người.

Nếu Tiệc cưới bắt đầu đúng 7 giờ tối sẽ có tất cả 5 con số 7.

7 giờ tối ngày thứ 7 mồng 7 tháng 7 năm 2007

Một ngày hiếm có trong cuộc đời của chúng ta nói riêng , toàn thể nhân loại trên Thế giới nói chung.[
color=red] [/color]
Bác NS ơi, rán đợi đến lúc 7 giờ ngày 7 tháng 7 năm 7777 (7 ngàn 7 trăm 7 mươi 7) cho gọn :P :roll: :roll:

Mưa wá bác ui - nhưng vẫn cứ cầu mưa vì cần mưa ở những chỗ khác.

CNN

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

CNN wrote:
Nguyễn_Sydney wrote:Thứ 7,ngày 7 tháng 7 ,năm 2007

Hôm nay là ngày thứ 7,mồng 7 ,tháng 7 ,năm 2007. Một ngày đặc biệt mang 4 con số 7 .
Do đó ,ngày hôm nay ở Sydney đã có hàng Trăm Cặp Người Úc làm Đám Cưới .Văn phòng chứng nhận Hôn Thú ,sẽ làm việc từ 8 giờ sáng cho đến người hết người.

Nếu Tiệc cưới bắt đầu đúng 7 giờ tối sẽ có tất cả 5 con số 7.

7 giờ tối ngày thứ 7 mồng 7 tháng 7 năm 2007

Một ngày hiếm có trong cuộc đời của chúng ta nói riêng , toàn thể nhân loại trên Thế giới nói chung.[
color=red] [/color]
Bác NS ơi, rán đợi đến lúc 7 giờ ngày 7 tháng 7 năm 7777 (7 ngàn 7 trăm 7 mươi 7) cho gọn :P :roll: :roll:

Mưa wá bác ui - nhưng vẫn cứ cầu mưa vì cần mưa ở những chỗ khác.

CNN
4 lần 7 là 28,
2+8= bù,

hehehe

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Chuyện tấm hình ngày cũ của lớp tôi!

Thiên Minh
Không biết có phải tại tính tôi “kỳ cục” hay là do tôi vẫn còn nhớ dai chuyện ngày xưa tôi học… dở? Bởi vì cho tới bây giờ tôi vẫn còn cảm thấy “ấm ức” vì không được điểm 10 cho bài toán đố ngày xưa. Thật ra bài toán đó đâu có gì khó lắm đâu! Chỉ tại do tôi ẩu tả không chịu kiểm tra lại cho đàng hoàng trước khi nộp bài cho thầy, nên tôi chỉ được điểm 9 mà thôi. Và cũng vì 9 điểm nên tôi không nhận được “phần thưởng” của thầy tôi. Thầy chỉ phát cho đứa nào đạt được 10 điểm. Phần thưởng là một tấm hình của cả lớp mà thầy đã chụp cách đó không lâu.

Tôi nhớ lại buổi sáng hôm ấy sau khi vào lớp thì thầy cho chúng tôi làm một bài toán đố. Thầy nói:

- Em nào được 10 điểm thì thầy sẽ phát cho tấm hình của cả lớp chụp chung.

Nghe vậy nên tụi tôi đứa nào cũng khoái chí trong lòng và mong là mình sẽ làm toán trúng!

Sau khi chấm bài xong thầy kêu 5 đứa có điểm 10 lên nhận hình. Ai dè trong số đó lại không có tên tôi, làm tôi tức quá! Tôi nhớ là tôi làm đúng đáp số mà! Tôi đoán… hay là tại vì tôi viết chữ “ẩu tả” nên bị trừ điểm, hay do tôi làm sai chỗ nào mà tôi không biết? Tôi hậm hực trong lòng nên ngồi yên và chờ đợi. Tới chừng thầy phát bài ra thì tôi mới biết điểm của tôi là 9. Lý do là vì khi viết đáp số, tôi quên không ghi ra đơn vị dấu “$” (đồng) nên thầy tôi mới trừ đi của tôi một điểm. Chính vì thế mà tôi chẳng được tấm hình. Tôi nhớ là sau khi thằng Ðạt nhận được phần thưởng và chìa tấm hình cho tôi xem, làm cho tôi càng thêm bực tức. Vì trong tấm hình đó tôi ngồi ngay bàn đầu cùng với tụi thằng Mạng, thằng Lũy, thằng Trí, thằng Ba, thằng Nguyên và thằng Huy. Khi chụp hình, thầy tôi kêu hai dãy bàn dồn qua một phía để chụp chung. Riêng thằng Ðạt thì ngồi tuốt ở đằng sau. Nhưng nhờ có điểm 10, nên Ðạt có quyền “sở hữu” tấm hình “quý giá” kia. Tấm hình này đối với bọn ngồi bàn đầu như tôi thì thật là một danh dự lớn. Mà lạ thật, cả bảy thằng ngồi hàng đầu đều lọt sổ. Hình như chỉ có mình tôi là gần như… trúng thưởng. Tưởng sao cuối cùng thì thằng Ðạt lại “tự nhiên” quyết định tặng cho tôi tấm hình đó để giữ làm kỷ niệm. Chắc là nó “rộng lượng” hơn… thầy tôi chăng, hay nó “thương tình” muốn làm cho tôi vui và không còn ấm ức nữa!? Dĩ nhiên là tôi nhận ngay, và cám ơn nó thật nhiều, nhưng trong lòng thì cảm thấy hơi…“quê”. Vì “công lao” này đâu phải do tôi, mà thật ra là do “công trình” của thằng Ðạt. Trong năm thằng được điểm 10, ngoài thằng Ðạt và hai thằng nữa tôi quên tên, thì còn có Phước và Mển là hai thằng học giỏi nhất nhì trong lớp của tôi. Hai thằng này lúc nào cũng dẫn đầu lớp. Tôi cố gắng hoài mà chưa một lần nào qua mặt được chúng nó. Tôi chơi thân với hai tụi nó. Ngoài giờ học chúng tôi hay đi chơi chung và tụi nó cũng thường hay đến nhà tôi chơi mỗi khi có dịp.


oOo


Năm đó chúng tôi đang học lớp bốn trường làng, và nhân dịp sắp sửa nghỉ hè, nên hai thằng Mển và Phước muốn đến nhà tôi chơi. Thật ra tôi biết là tụi nó muốn đến nhà tôi để ăn ổi. Vì nhà tôi trồng ổi rất nhiều. Tôi thường hái mang theo để đem vào lớp.

Hôm đó sau giờ tan học là chúng tôi hẹn hò và cùng “trực chỉ” nhà tôi. Phải mất đến 20 phút đi bộ từ ngôi trường ở gần ngả ba trên xã, về đến nhà tôi là khu cuối ấp. Trên đường đi, ba thằng tôi tỏ ra hăng hái lắm. Thằng Mển nói với tôi:

- Mỗi lần về quê, tao hay đi ngang nhà mầy. Nhà mầy bự mà sao giống… chùa quá hà?

- Hình như nhà mầy có hàng rào chung quanh nữa phải không? Thằng Phước cũng vừa đi và vừa hỏi tôi.

- Ừ đúng đó, nhà tao bự nên mỗi lần vào nhà phải dùng cổng sau. Vì cửa sắt cổng trước bị sét nên mở rất khó khăn.

- Bộ lúc này nhà mầy ổi nhiều lắm hả? Thằng Mển chợt hỏi tôi, nên vừa đi tôi vừa quay qua trả lời cho nó:

- Nhiều! Trái non bắt đầu ra bộn, và một số khác già hơn thì vừa mới chín. Một chút tao sẽ dẫn tụi bây vòng lên phía cổng trước. Nơi đó có cây “ổi sẻ” trái nhỏ nhưng ruột đỏ và ngọt lắm, bảo đảm tụi bây ăn hoài cũng vẫn còn thấy ngon đó!

Vừa đi chúng tôi vừa nói chuyện huyên thuyên. Hai thằng bạn của tôi tỏ vẻ nôn nao lắm. Chắc là tụi nó đang… chảy nước miếng vì hình ảnh mấy trái “ổi sẻ” ở nhà tôi đang chờ đợi chúng.


oOo


Ba thằng đang đi ngon lành, tự nhiên tôi để ý thấy dưới mặt đường có mấy cái lỗ nhỏ nằm rải rác đó đây. Theo kinh nghiệm… “chiến trường” của riêng tôi, thì đây là dấu hiệu “bất ổn” rồi. Ðã từ lâu tôi rất là e dè mỗi khi nhìn thấy chúng. Ðã vậy hôm nay có hai thằng bạn “quý” đến nhà chơi, mà mấy cái “dấu vết” này lại nằm chình ình ở đây, thì làm tôi càng thêm lo lắng! Bởi vậy tôi tự nhiên cảm thấy…“ỉu xìu” ngay… trong lòng hết còn hứng thú. Bây giờ tôi mong muốn đoạn đường (còn lại) về nhà tôi, được dài thêm ra, đi lâu chừng nào hay chừng đó. Cái cảm giác này đã có trong tôi từ bấy lâu nay, chúng đã trở thành thói quen ở mỗi buổi đi học về. Nhất là mỗi khi thấy mấy cái lỗ quái ác kia xuất hiện trên đường, là tự nhiên tôi đâm ra... hồi hộp. Tôi nhìn kỹ chúng và không thể nhầm lẫn vào đâu được. Tôi nhủ thầm để rồi xem, mấy cái lỗ này sẽ chạy dài từ đây về đến nhà tôi là cái chắc!

Tôi tiếp tục bước đi mà trong lòng thì không cảm thấy an tâm một chút nào hết. Hai thằng bạn đi cùng với tôi đâu có biết ất giáp gì đâu. Tụi nó chỉ mong sao chóng đến nhà tôi để tha hồ mà ăn ổi. Chúng đâu có biết là trong bụng tôi đang hồi hộp. Tâm trạng của tôi hiện giờ là vừa lo sợ vừa hoang mang. Mới nghĩ đến cái cảnh phải đối diện tối nay và cả sáng ngày mai là chân tôi bắt đầu bước đi… hết muốn nổi. Tôi muốn đuổi tụi nó trở về và hẹn vào bữa khác, nhưng tôi sợ tụi nó buồn. Hơn nữa có tụi nó cũng làm tôi cũng bớt run. Nên tôi đành làm thinh, vừa đi mà trong lòng tôi vừa lo lắng. Ðúng là một nỗi buồn không biết tỏ cùng ai. Tôi biết khi về đến nhà là chị tôi thế nào cũng kêu tôi ra trình diện. Ðầu tiên là xuất trình cái thời khóa biểu cho “bả” xem. Rồi sau đó là đến mấy cuốn vở của tôi. Nếu trong đó điểm của tôi mà dưới trung bình cỡ 4-5 là coi như tôi lãnh đủ. Rồi đến cái màn khảo bài của chị tôi, là cũng đủ chết. Hai cái chân của tôi kể như là hai con “vật tế thần” cho cây chổi lông gà mà má tôi vừa mới sắm mấy ngày hôm trước. Cây chổi mới này bao gồm nửa khúc đầu này là lông để cầm, nửa khúc đầu kia là cây roi mây (dài và ốm). Chị tôi sẵn sàng “nẹt” nó vào chân tôi mỗi khi tôi trả lời không được. Sau đó là đến cái “mông” của tôi, cũng được dự phần “ăn cho đồng chia cho đủ” nữa. Tức là hai phần thân thể này của tôi cũng “chia phần” cây roi mây vào sáng ngày hôm sau trước khi tôi lên đường tới lớp. Tôi nhớ có một lần tôi ráng ngủ dậy thật sớm để đi học. Tôi hy vọng là chị tôi vẫn còn ngủ ở trong phòng. Nhưng tôi có ngờ đâu khi vừa ra đến cửa là chị tôi đã ngồi sẵn ngay ngạch cửa tự lúc nào. “Bả” kêu tôi đưa tập ra và bắt đầu kiểm tra bài, xem tôi đã thuộc chưa mà dám lên đường đi… “ứng thí”. Ðây là đoạn đường “gian khổ” nhất của tôi. Vì tôi phải đứng lại tại chỗ, và học bài cho tới khi nào thuộc thì mới được đi. Thường thì tôi hoảng quá có nhớ được gì đâu, nên tiếp tục nước mắt lưng tròng và hai cái chân thì phải lãnh thêm vài cái roi mây mang vô trường làm kỷ niệm...

Do vậy mới nghĩ đến cái kinh nghiệm “đau thương” này là tôi cảm thấy…“lạnh người” rồi. Rõ ràng là mấy cái lỗ kia đã báo hiệu cho tôi một “tương lai” không lấy gì làm… “sáng sủa” lắm!

Ðọc đến đây chắc độc giả đang thắc mắc, không biết mấy cái lỗ gì mà “ám ảnh” tôi nhiều đến thế?!


oOo




Bây giờ thì tôi xin phép được nói ngay đây. Dạ vâng, thưa… đó chính là mấy cái lỗ nhọn bằng đầu ngón tay. Chúng để lại dấu vết trên đường, chẳng qua là từ cái gót giày (cao gót) của chị tôi. Tôi nhớ hễ mỗi lần chị tôi bước đi là mấy cái dấu này đều “khắc ghi” trên nền đất. Vừa đi tôi vừa suy nghĩ lung tung. Tôi vẫn thường hay thắc mắc là tại sao cả cái xóm này, lại chỉ có một mình chị tôi là người mang guốc cao và gót nhọn. Tôi luôn ao ước phải chi có thêm vài người nữa cũng mang guốc cao (như chị tôi) thì sẽ đỡ cho tôi biết mấy. Vì nếu như vậy thì mấy cái lỗ nhọn này không phải là do chị tôi tạo ra, tức là xem như tôi… thoát nạn. Hay ít ra là cũng thoát được cái màn khảo bài của chị tôi trước giờ đi học. Mà cũng thiệt là lạ, vì… hình như chị tôi không bao giờ mang giày tây hay thứ gì khác. Hể mỗi lần “bả” về quê là lại thích mang toàn là guốc cao gót và bận áo dài. Tôi nghĩ, chắc là do mặc áo dài nên chị tôi thích mang guốc cao gót để hợp thời trang chăng?! Riêng… “chỉ nội” cái màn mặc quần tây thôi, thì chị tôi cũng đã e dè rồi, vì sợ ba má tôi “chửi” cho mà… tắt bếp! Nhiều khi ấm ức, tôi tự nhủ thầm, chị tôi mới là sinh viên ngành sư phạm mà “bả” đánh tôi kiểu này. Mai mốt ra trường đi dạy, ai mà làm học trò của chị tôi, thì chắc là sẽ bị… “hành” cho mà phải biết! Bởi vậy mà hôm nay, khi nhìn thấy mấy cái dấu guốc này trên đường về nhà tôi, là tôi biết ngay, đây chính là của… “bả”!


oOo


Cuối cùng thì đoạn đường về nhà tôi cũng ngắn dần đi, và cái cổng nhà sau cũng đã lù lù hiện ra trước mắt. Dĩ nhiên là tôi không quên kiểm tra xem mấy cái lỗ kia đâu rồi? Ai có dè đâu là “chúng nó” cũng “trung thành” “đi theo” chúng tôi nãy giờ. Tức là cũng thẳng hướng nhà tôi và “nhất định” không chịu “quẹo” qua một hướng nào khác! Tôi nhủ trong đầu chắc là chị tôi mới về lại đây thôi, nên mấy cái dấu guốc này còn “mới tinh” trên nền đất.

Mới vào tới bậc tam cấp nhà sau, là tôi đã nghe tiếng chị tôi rồi. Chị tôi (và cả má tôi) có kêu chúng tôi vào nhà để hỏi thăm “ba thằng tôi” về “tình hình” học tập? Dĩ nhiên là tôi đâu có… ngu, khai mình học dở. Rồi cộng với sự “phụ họa” của hai thằng bạn là chị tôi tin liền. Sẵn dịp có phần thưởng là tấm hình cả lớp chụp chung. Thế là chúng tôi tha hồ mà khoe khoang “thành tích”. Cuối cùng cả ba chúng tôi được khen: “là tốt đấy!”. Cũng may là thằng Ðạt do phải về nhà phụ má nó… tắm heo, nên không có đi cùng. Chứ nếu không, thì chuyện “lai lịch” tấm hình nó cho tôi, thế nào cũng bị lộ tẩy (hú hồn!). À mà tôi nhớ ra rồi, nhà thằng Ðạt nuôi heo nhiều lắm. Và có cả con heo… “đực” thiệt to (nghe nói giống tốt) mà gia đình nó chuyên môn dùng để dẫn đi cho người ta gầy giống nữa!?

Sau đó thì má tôi kêu tôi dẫn Phước và Mển ra ngoài vườn kiếm ổi hái ăn. Chúng tôi chỉ chờ đợi có bấy nhiêu thôi. Nên khi được má tôi cho phép, là chúng tôi chạy liền một hơi, ra ngoài cây ổi kế bờ ao. Nơi có mấy nhánh cây đang là đà trên mặt nước. Chúng tôi vừa hái, vừa ăn, và vừa nhún nhảy. Làm cho nước dưới hào văng lên tung tóe.

Tuy nhiên tôi biết là ngay lúc đó, tôi chỉ tạm thời “quên” đi những nỗi lo trong lòng. Nhưng thật sự là cây chổi lông gà vẫn còn ám ảnh tôi nhiều lắm. Tôi hy vọng tối nay chị tôi sẽ “tha” cho tôi một kỳ tra khảo. Vì tôi nghĩ, với “thành tích” học tập của tôi như vậy là cũng đủ lắm rồi. Vã lại cũng sắp nghỉ hè rồi, đã vậy giờ có bạn bè đến chơi, nên chắc chị tôi sẽ dễ dãi hơn chứ không như những lần trước. Mà nếu được như vậy thì tôi sẽ vui mừng lắm.

Vừa trèo cây cùng hai thằng bạn mà tôi vừa suy nghĩ trong đầu, tôi tính… nếu thấy chị tôi vui thì tôi sẵn sàng nài nỉ :

- Chị ơi, em học như vậy được rồi nghe, xin chị đừng khảo bài em tối nay nghe. Chị cho em bây giờ được “tự do” để mà vui chơi cùng chúng bạn nhé!?

- ?!

Viết thêm - Giờ đây khi viết lại những dòng chữ này, nhất là mỗi khi hè đến là tôi không khỏi bồi hồi và chạnh lòng nhớ lại những kỷ niệm thời trẻ nhỏ năm xưa. Ngày xưa tôi ghét chị tôi, nhưng bây giờ tôi hiểu và nhớ ơn của “bả” nhiều hơn. Vì ngày đó cũng nhờ có chị tôi “tra khảo” bài vở thường xuyên. Bởi vậy mà việc học hành ngày xưa của tôi cũng... “được nhờ” cho tới ngày khôn lớn.

Tôi thấy ngay cả những người học trò cũ của chị tôi ngày nay cũng vậy. Họ cũng không quên “công lao” của chị tôi ngày trước. Cho dù bây giờ họ tản lạc khắp phương trời, vậy mà có người vẫn còn nhớ đến chị tôi. Có người vẫn thường liên lạc để thăm hỏi để cám ơn chị tôi, nhất là vào những ngày lễ lớn. Tôi cho rằng đó cũng là một an ủi lúc tuổi già, mà nhất là đối với những người đã từng “nặng tình” với cái nghề cao quý đó!

Thiên Minh

Post Reply