Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »


ÔNG PHÓ ĐỀ ĐỐC HẢI QUÂN HOA KỲ GỐC VIỆT:
THẬT HAY GIẢ?

BMH, Jul 27, 2007

Cali Today News - Trong đời sống tỵ nạn trên xứ người từ hai bàn tay trắng, với một khối óc trời cho, với một trái tim tình cảm Việt Nam, với một ý chí quyết vươn lên, và nhiều khi với niềm tự hào dân tộc và với sự hỗ trợ lẫn nhau trên đất lạ, cộng đồng Việt Nam đã làm nên những thành công được xem là những kỳ tích. Cộng đồng Việt được xem là một cộng đồng mới trên đất Mỹ, nhưng đã khẳng định vị trí của mình trong xã hội chính giòng của Hoa Kỳ. Nhiều tài năng Việt Nam tỏa sáng trên nhiều lãnh vực, từ thiên văn – không gian, đến kỹ thuật, đến quân sự, đến thương mại,… Và càng ngày, tuổi trẻ Việt trên đất Mỹ càng hãnh diện mình là người Mỹ gốc Việt, một chữ Việt đầy tự hào, một chữ Việt đầy yêu thương,…

Và trong dòng suy nghĩ đó, người Việt chúng ta trân trọng những nhân tài gốc Việt, và chia xẻ sự thành công của người Việt như là những thành công của chính người thân quen của chúng ta,… Những video Asia Mùa Hè Rực Rỡ, những Đêm Cali,… là những dịp chúng ta trân trọng những tài năng của cộng đồng,…

Lần này, khi nghe tin người Việt chúng ta có một tướng Mỹ, nhiều người có mặt tại Ngày Quân Lực 19 tháng 6, 2007 vui mừng và trân trọng, thế nhưng sau giây phút vui nhanh ấy, là những trăn trở, hoài nghi,…

Trong bài viết tuần rồi của nhà văn Giao Chỉ, qúy độc gỉa nhìn thấy thêm những hoài nghi ban đầu, và bây giờ anh Bùi Mạnh Hùng cho chúng ta thấy thêm những cơ sở vững chải hơn của sự hoài nghi,…

Và chắc không lâu nữa, sự hoài nghi sẽ kết thúc bởi chúng ta sẽ biết chính xác: ÔNG PHÓ ĐỀ ĐỐC THẬT HAY GIẢ?

Mời qúy độc giả tiếp tục theo dõi loạt phóng sự này.

Trân trọng,
Nhật báo Cali Today


Image Để kỷ niệm Ngày Quân Lực 19-6, Liên Hội Cựu Chiến Sĩ VNCH vùng Hoa Thịnh Đốn và Phụ Cận, đã tổ chức một buổi lễ Thượng Kỳ và Truy Điệu, đồng thời chào mừng Ngày Chiến Sĩ Tự Do (Freedom Fighters Day) lần thứ sáu, vào lúc 11 giờ sáng ngày Chủ Nhật, 17 tháng 6, năm 2007, tại Kỳ đài Thương Xá Eden, thành phố Falls Church, Virginia.

Trong buổi lễ này chúng tôi được Ban Tổ Chức (BTC) giao nhiệm vụ làm Xướng Ngôn Viên.

Vài phút trước khi buổi lễ bắt đầu, một Chiến Hữu (CH) trong BTC đã đến trao cho chúng tôi một tờ giấy nhỏ, trong đó có ghi vội những dòng chữ như sau:

Rear Admiral
Huan Nguyen ( không dấu )
Joint Chiefs of Staff
National Counterterrorism Center
Tạm dịch:
Phó Đề Đốc
Huan Nguyen
Bộ Tư Lênh Hỗn Hợp Liên Quân
(QLVNCH vẫn gọi là: Bộ Tổng Tham Mưu)
Trung Tâm Quốc Gia Chống Khủng Bố


Và cho biết thêm, đây là vị Tướng Hải Quân Hoa Kỳ gốc Việt, có nhã ý đến dự buổi lễ với chúng ta. Sau đó thì chúng tôi được bổ túc tin tức:

Phó Đề Đốc Nguyễn Võ Trung Quân
Navy SeAL
Bộ Tư Lệnh Hỗn Hợp Liên Quân
Đặc Trách Chống Khủng Bố



BTC cũng yêu cầu chúng tôi giới thiệu Ông với Đồng bào, Quan khách và Chiến hữu tham dự buổi lễ. Sau đó BTC cũng mời Ông Phó Đề Đốc cùng Quý vị Đại diện Cộng đồng và Tập thể Chiến sĩ (Cựu Thiếu Tướng Nguyễn Duy Hinh, Ông Lý Văn Phước, Chủ Tịch Cộng đồng vùng HTĐ, Maryland & VA, CH Trần Thiện Hiệu, và CH Đoàn Hữu Định), đặt vòng hoa trước Bàn Thờ Tổ Quốc và Đài Chiến Sĩ Trận Vong.



Lần lượt các vi quan khách phát biểu, Ông cũng được BTC mời phát biểu….chúng tôi đến hỏi ý kiến Ông, lúc đầu Ông từ chối, nhưng sau đó nhận lời. Với lối nói chuyện nhỏ nhẹ, từ tốn, lễ phép và nhất là nói tiếng Việt lưu loát, Ông cho biết, rất kính trọng những người Cựu Chiến Binh QLVNCH, và cũng rất hãnh diện là một hậu duệ của QLVNCH, vì thân phụ và ông Ngoại của Ông cũng là những Sĩ Quan của QLVNCH. Không những thế, Ông nói, dù là một Sĩ Quan của Hải Quân Hoa Kỳ nhưng Ông mãi mãi vẫn là một người Việt Nam và Ông cũng luôn nhắc nhở các con, cháu Ông như thế. Dù phần phát biểu ngắn, Ông đã nhận được những tràng pháo tay nồng nhiệt tán thưởng của mọi người tham dự Buổi lễ.

Sau khi buổi lễ chấm dứt mọi người đã vui vẻ, đến chuyện trò, thăm hỏi, chúc mừng, khen ngợi và nói lên sự hãnh diện của họ đối với Ông, điển hình sự thành công của những người trẻ Việt Nam, thế hệ thứ hai ở Hoa Kỳ và thế giới nói chung. Và nhất là rất vui để được chụp với Ông những tấm hình kỷ niệm….
Quyến luyến chia tay và ân cần hẹn ngày tái ngộ….

Qua chuyện trò Ông còn cho chúng tôi biết thêm:
Image 1.- Ông đã tốt nghiệp Bác Sĩ (nhưng không rõ chuyên ngành), và có giấy phép hành nghề tại Washington, DC, Maryland, và Virginia…
2.- Thế nhưng ông đã không muốn hành nghề Bác Sĩ, nên đã xin gia nhập Hải Quân..và khi vào Hải Quân, Ông cũng không muốn phục vụ ở Quân Y Hải Quân. Ông cho biết vì muốn tiến nhanh trong binh nghiệp, nên đã chọn và gia nhập vào “thứ dữ” lực lương Navy SeAL (Sea, Air, Land là những đơn vị tác chiến tinh nhuệ nhất cùa Hải Quân Hoa Kỳ).
http://www.navyseals.com/community/

3.- Ông đã phục vụ Hải Quân Hoa Kỳ 23 năm..

4.- Đặc biệt trong dịp Nguyễn Minh Triết sang thăm Hoa Kỳ, Ông cho biết, có nhiệm vụ phối hợp với Tòa Bạch Ốc, để theo dõi xem V.C có mưu mô phá hoại gì không và cũng để ý xem Cộng đồng người Việt có toan tính tấn công Nguyễn Minh Triết không?



Sau đó BTC mời Ông đến tham dự Buổi cơm tối do Liên Hội tổ chức, nhưng Ông đã xin lỗi, từ chối, vì phải về thăm cha và gia đình ở Delaware nhân ngày Father’s Day.

Trước khi chia tay, để giúp cho những phóng viên, ký giả có tin tức chính xác viết bài, chúng tôi đã đưa miếng giấy (đã có sửa đổi) có tên Nguyễn Võ Trung Quân, và nhiệm sở phục vụ của Ông, để Ông xác nhận… Ông ta đã cho chúng tôi biết những tin tức này đúng và không có gì phải sửa đổi.

Cũng như những Đồng hương, Quan khách và Chiến hữu tham dự buổi lễ Thượng Kỳ và Truy Điệu, tôi đã chia tay Ông Phó Đề Đốc với sự vui mừng và hãnh diện, đặc biệt rất ngạc nhiên cùng thán phục về sự thăng quan, tiến chức nhanh chóng của Ông. Chúng tôi dự tính sẽ viết ít dòng giới thiệu về Ông ta, cho những NT và CH, cùng những người thân quen ở xa, vẫn liên lạc qua e-mail hàng ngày… Và vì không có nhiều thời gian để hỏi rõ Ông về thân thế, sự nghiệp nên tôi đã phải tìm cách tra cứu online.

Thế nhưng từ những ngạc nhiên và bối rối này, đến ngạc nhiên và bối rối khác, chúng tôi đã không tìm thấy tên Ông ta trong danh sách những Sĩ Quan Cấp Tướng (Flag Officers) của Hải Quân Hoa Kỳ (không có họ Nguyễn, họ Võ cũng không, và cũng chưa có một vị Tướng Hải Quân nào là người Việt cả).

http://www.navy.mil/navydata/bios/bio_list.asp#N
Sau đó chúng tôi vào Web Site của Trung Tâm Quốc Gia Chống Khủng Bố - National Counterterrorism Center (NCTC):

http://www.nctc.gov/


cũng không tìm thấy tên Ông, và được biết thêm NCTC, không thuộc Bộ Tự Lệnh Hỗn Hợp Liên Quân (Joint Chiefs of Staff) của Quân Lực Hoa Kỳ:

http://www.jcs.mil/#

Không tin vào khả năng và kiến thức giới hạn của mình, và nhất là cũng không dám có những kết luận vội vàng, chúng tôi đã nhanh chóng thông báo cho những NT và CH của Liên Hội, những người trong BTC Buổi lễ Thượng Kỳ và Truy Điệu, và những NT, và CH thân quen, có nhiều kiến thức và quen biết rộng rãi trong vùng HTĐ, về những khám phá của chúng tôi, và cũng yêu cầu nên chờ phối kiểm tin tức chính xác, trước khi phổ biến, và cùng tiếp tay tìm kiếm sự thật về Ông Phó Đề Đốc. Do đó Liên Hôi đã không phổ biến những tin tức này. Sở dĩ câu chuyện về Ông Phó Đề Đốc được mọi người biết đến là qua bài viết của một phóng viên trong vùng –Bà Tuyết Mai- tường thuật về buổi lễ và hình ảnh của Ông. Tuy nhiên bài viết đã tường thuật hoàn toàn đúng như những diễn tiến của buổi lễ. Và sau đó –đặc biệt– trên Net mọi người đã vui mừng và thăm hỏi lẫn nhau để muốn biết thêm chi tiết về Ông Tướng gốc Việt đầu tiên của Hải Quân Hoa Kỳ…Chúng tôi đã nhận rất nhiều e-mails hỏi thăm, và cũng đã yêu cầu vui lòng chờ, cho đến khi biết được tin tức chính xác.

Trong một niềm tin và tự hào cho thế hệ trẻ Việt Nam đang thành công và làm rạng rỡ Cộng đồng người Việt khắp nơi trên thế giới, chắc chắn BTC Ngày Quân Lực tại VA, và bất cứ ở nơi đâu, cũng không khỏi vui mừng và hãnh diện nếu có được sự tham dự của một khuôn mặt trẻ như Ông Phó Đề Đốc. Đặc biệt trong thời gian có mặt tại Buổi lễ Ông ta đã chiếm được cảm tình của tất cả mọi người có mặt, qua dung mạo khôi ngô, tuấn tú, ăn nói lễ phép, nhỏ nhẹ, từ tốn ( không có một thái độ trịch thượng…ta đây là Ông Tướng ), lúc nào cũng xưng cháu để nói chuyện với các Bác, các Cô, các Chú…

Như thế lúc bấy giờ, ai có thể nghĩ đến hoặc nảy sinh một nghi vấn nào hay không?

Thế nhưng, khi những phấn khởi, vui mừng đã qua đi và nay phải đối diện với những nghi vấn (đầu tiên qua Net), đã khiến chúng tôi nhớ đến một số vấn đề, nên đã phổ biến, trao đổi với những NT và CH trách nhiệm và thân quen, để cùng phối hợp tìm kiếm sự thật về Ông Phó Đề Đốc…



1.- Ông cho chúng tôi biết tốt nghiệp Bác Sĩ, gia nhập Hải Quân và có 23 năm Quân ngũ.

Xin thử làm một bài tính:

* Tốt nghiệp Trung Học 18 tuổi, trung binh 7 năm để tốt nghiệp Bác Sĩ, và 23 năm phục vụ, như vậy tuổi đời của Ông phải ít nhất là 48 tuổi, thế nhưng dung mạo Ông trẻ hơn thế.
Không rõ Hải Quân Hoa Kỳ có việc đồng hóa cấp bực hay không, nếu không như thế với 23 năm tại ngũ trừ đi cho 4 năm theo học tại Trường Võ Bị Hải Quân Annapolis, Maryland, Ông chỉ cần có 19 năm để thăng cấp từ Thiếu Úy lên đến Phó Đề Đốc (một sao).

* Trong một e-mail phổ biến của Bác Sĩ Võ Đình Hữu, ở Pomona, California phổ biến có cho biết: Ông Phó Đề Đốc này đến Hoa Kỳ năm 1981 lúc mười mấy tuổi… Giả thử lúc bấy giờ Ông ta 12 tuổi và như thế ra trưởng Trung Học năm 18 tuổi (1987). Cho là Ông ta vô cùng xuất sắc như BS Hữu đả nói, để được nhận vào Võ Bị Hải Quân ngay sau khi tốt nghiệp Trung học, Ông cũng phải mất 4 năm và ra trường với Cấp bậc Thiếu Úy (Ensign/O-1) vào năm 1991. Và như thế Ông chỉ cần 16 năm để được thăng 6 cấp đến Rear Admiral (Lower Half / O-7). Tuổi đời của Ông khoảng 38, như thế phù hợp với khuôn mặt trẻ trung của Ông hơn.
Nhưng lại thiếu đi một khoảng thời gian Ông đi học và tốt nghiệp Bác Sĩ…( cho trung binh là 7 năm )

2.- Chúng tôi không phải là Cựu Chiến sĩ HQ nên không rõ về cách mặc quân phục, nhưng không thấy Ông ta đeo bảng tên ( bên phải ngực áo ).

3.- Dù được hỏi nhưng Ông không có danh thiếp ( business card )..

4.-Trong một e-mail Ông gởi cho chúng tôi, Ông không dùng e-mail theo format của Hải Quân (…..@ navy.mil )

5.- Trong vùng Hoa Thịnh Đốn và Phụ cận có ít nhất ba vị Tướng và rất nhiều Chiến hữu Hải Quân QLVNCH cư ngụ, chúng tôi nghĩ rằng nếu có một Sĩ Quan Hải Quân Hoa Kỳ gốc Việt nào được thăng cấp Tướng, chắc Quý vị này đã hoặc sẽ biết. Trong trường hợp này, chúng tôi không nhân được một tin tức nào từ đại gia đình Hải Quân QLVNCH.

6.- Theo một tin tức ghi nhận Ông ta là người ở Pomona, Nam California, nhưng hiện đang cư ngụ trong vùng Delaware, với vợ và một con. Có người cho biết số điện thoại đã không còn xữ dụng được nữa trong những ngày gần đây.

7.- Cũng có tin cho biết tên thật của Ông là : NGUYỄN VÕ TRUNG HUẤN

8.- Trước đó môt ngày (16/06/07) có một CH cho biết, Ông Phó Đề Đốc đã đến Trung Tâm Eden, hỏi thăm và được CH này cho địa chỉ và số điện thoại của BTC buổi lễ Thượng Kỳ và Truy Điệu. Như thế chứng tỏ Ông ta đã chuẩn bị cho cuộc “viếng thăm đặc biệt” này. Lần đầu tiên chúng tôi biết được tin này. Và cũng không biết Ông ta đã liên lạc với ai trong BTC.

9.- Trong một bài viết của NT Giao Chỉ có đề cập đến lá thư của BS Võ Đình Hữu, khi nói đến Ông Phó Đề Đốc, thì cho biết tên là NGUYỄN VÕ TRUNG QUÂN…
Và cho biết Ông ta được Thượng Viện thông qua (Hearing for Confirmation) vào ngày 17/06/2007, điều này không đúng, vì đó là ngày Ông ta xuất hiện ở Buổi lễ Kỷ Niệm Ngày Quân Lực tại Trung Tâm Thương mãi Eden, Falls Church, VA.

Và trong những tháng 5, 6,và 7 …Ủy Ban Quân Lực Thượng Viện không có một Hearing for Confirmation, nào cho Phó Đề Đốc Nguyễn Võ Trung Huấn / Nguyễn Võ Trung Quân cả.

http://armed-services.senate.gov/hearin ... th=5#month


10.- Từ sau buổi lễ - ngay cả trước khi tin tức và nghi vấn được phổ biến rộng rãi trên Net - đến nay, chúng tôi và BTC đã không nhận một tin tức hay một yêu cầu nào từ Ông ta, như thế nếu thật là giả mạo, để lợi dụng hay mưu mô gì đó, thì chúng tôi không biết và thật sự chúng tôi cũng chẳng có gì đâu để Ông ta lợi dụng hay mưu mô thủ lợi. Và chúng tôi cũng không nghe một tin tức nào liên quan đến Ông ta, và đồng hương trong vùng Thủ Đô HTĐ và Phụ cận.

Và nếu thật là lừa bịp, giả mạo thì Ông ta quả là người gan và giỏi…Ông ta biết và chuẩn bị sẳn sàng ứng phó, với nhiều điều it người biết đến:

a.- Trong một e-mail Ông ta gởi cho một CH, có thêm chữ L ( Lower Half / Rear Admiral), để xác nhận Ông ta là Phó Đề Đốc …

• Rear Admiral ( Lower Half ) : Phó Đề Đốc - Một Sao
• Rear Admiral ( Upper Half ) : Đề Đốc – Hai Sao
• Vice Admiral : Phó Đô Đốc – Ba Sao
• Admiral : Đô Đốc – Bốn Sao
• Fleet Admiral : Thủy Sư Đô Đốc – Năm Sao (Dành cho chiến tranh)

b.- Ông ta theo dõi, biết những nhân vật trong Ủy Ban Quân Lực của Thượng Viện,
trong đó TNS John McCain để ( có thể ) đánh lừa BS Hữu.

*Văn phòng Thượng Nghị Sĩ McCain cho biết không có một Hearing for Confirmation nào dành cho Ông Phó Đề Đốc Nguyễn Võ Trung Quân /Nguyễn Võ Trung Huấn cà.

*Văn phòng cũng cho biết TNS McCain chưa bao giờ đề cử, hay ủng hộ cho một nhân vật nào mang tên như Ông ta vào bất cứ cấp bậc nào.
*Và Văn phòng TNS McCain cũng cho biết họ rất quan tâm về việc này, vì sợ rằng Ông Phó Đề Đốc, có thể dùng tên TNS McCain, vào những việc làm có ảnh hưởng xấu, đến uy tín của TNS McCain.

11.- Chúng tôi cũng có được sự giúp đở của Quý vị trong Quân đội và Chính quyền Trung Ương, đang tại chức để tìm kiếm những tin tức liên quan về Ông này. Việc tìm kiếm tương đối mất thời giờ, và cần được phối kiểm …mức độ chính xác.

No such SEAL flag officer

He is an imposter. I know all the SEAL admirals and he is not one of them.

100% phony. While we’ve had several Vietnamese to go through BUD/S, none had this name and none were officers. This guy is a fraud—100% certainty. Also, as far as I know, there are still no officers with Vietnamese names in the SEAL community, and for sure there’s no admiral with such a name.

He is violating criminal law regarding the illegal wearing of the uniform and associated medals, awards. I’ll pass his name and photo on to my FBI friends.

VeriSEAL Group

Mấy năm nay, mổi kỳ 30 tháng 4, ông HQ đều xuất hiện tại Philadelphia.

Ông là một nhân vât có thật, có thể trong Hải Quân HK, Ông có tên Mỹ.

Ở Philadelphia Ông mới cấp Đại Tá, nay đã lên Phó Đề Đốc và thuyên chuyển về Thủ đô.

(Sở dĩ trong những năm qua với cấp bậc Đại Tá của Hải Quân, Ông ta đã xuất hiện ở Philadelphia, nhưng không được mọi người biết đến nhiều, vì sau 32 năm đã có rất nhiều người trẻ phục vụ trong Quân Lực Hoa Kỳ, mang đến cấp bậc Đại Tá trong nhiều Quân, Binh Chủng…Thế nên không có gì là đặc biệt cả. Nhưng đây là lần đầu tiên Ông ta xuất hiện là Ông Tướng một sao (có thể là một vị Tướng gốc Việt đầu tiên), không những thế lại là của Navy SeAL, một đơn vị lừng danh của Hải Quân Hoa Kỳ…đã làm cho mọi người vui mừng, kinh ngạc khi biết tin này và vì thế cố tìm tin tức để biết rỏ hơn về Ông ta. Không những thế nhiều cơ quan truyền thông, báo chí, và hãng sản xuất băng nhạc, cũng muốn tìm Ông để phỏng vấn, thâu hình ……)

** Và phần tin nhận được từ Bà Dương Nguyệt Ánh – Cố Vấn Khoa Học Kỷ Thuật của Tư Lệnh Phó Hải Quân Hoa Kỳ:

Nếu Ông ta nhận là Navy Seal thì có đến hơn 90% là lý lịch giả. Hiện nay theo Ánh biết Navy Seal chỉ có cả thảy 4 Phó Đề Đốc, và không có ai trong 4 người này là VN cả. Navy Seal là một lực lượng nhỏ trong Hải Quân, xấp xỉ 2,000 người thôi, nên ai cũng biết ai, nhất là ở cấp lảnh đạo.

Điểm quan trọng nhất: bất cứ ai đã ở vào cấp lảnh đạo đều hiểu rõ, luật pháp cấm những người như Nguyệt Ánh hay như Ông “ Phó Đề Đốc ” này được quyền xuất hiện ở những political event, như biểu tình chống Nguyễn Minh Triết hay Ngày Quân Lực VNCH với tư cách công, mà chỉ có thể xuất hiện với tư cách riêng. Thí dụ như Nguyệt Ánh không được nói chuyện với Cộng đồng VN ở tư cách là Cố Vấn Khoa Học Kỷ Thuật cho Tư Lệnh Phó Hải Quân, mà chỉ có thể làm với tư cách cá nhân DNA. Ông “Phó Đề Đốc” không được phép mặc binh phục và đeo lon để đi biểu tình hoặc tham gia Ngày Quân Lực. Tại sao? Vì làm như thế là mình đại diện cho US Navy, lời tuyên bố của mình trở thành tiếng nói và lập trường, chính sách chính thức của US Navy. Nhất là những sinh hoạt nào có tính cách chính trị lại càng đại kỵ. Ai đã từng làm cho Federal Government đều hiểu rỏ điều cấm kỵ này, nhất là cấp lảnh đạo thì luôn luôn được nhắc nhở. Nếu Ông này là Phó Đề Đốc thật thì Ông ta đã không mặc quân phục để đi biểu tình chống Nguyễn Minh Triết hay đi dự ngày Quân Lực VNCH.

Nếu tìm ra được thêm dữ kiện nào mới Nguyệt Ánh sẽ cho chị biết thêm.

** Những tin tức và nhận xét của Bà Dương Nguyệt Ánh chỉ nói lên những sự thật.

Nhưng những lời văn thân mật vì chỉ có tính cách riêng tư, đã bị phổ biến (ngoài sự tiên liệu của Bà), và đã có một vài lời phê bình không đúng, đã làm Bà DNA không vui.

Những việc liên quan đến Ông Phó Đề Đốc, là một trường hợp hết sức đặc biệt ….
(Có thể) chưa xảy ra ở đâu, bao giờ…

Trong trường hợp giả mạo, thì quả là nhân vật này đã biết và nhắm đúng vào tâm lý, của Cộng đồng Người Việt khắp nơi trên thế giới, là luôn luôn mở rộng vòng tay, hãnh diện, vui mừng, chào đón những khuôn mặt trẻ vẽ vang dân Việt, đã làm rạng rỡ dân tộc…một khi họ muốn tìm đến với Cộng đồng.

Chúng tôi không thể phán xét và kết tội ai cã, nhất là tại Hoa Kỳ, không ai có tội cho đến khi bi kết án (Innocent until proven guilty…) Chúng tôi chĩ cố gắng thâu thập và trình bày dữ kiện…

“ Ông Phó Đề Đốc ” có thể là một hậu duệ cùa QLVNCH, và niềm ước mơ là một ngày nào sẽ trở thành một Ông Tướng của Quân Lực Hoa Kỳ. Thế nhưng vì một lý do nào đó Ông ta đã không thực hiện được việc này, và vì niềm ước mơ quá to lớn đã khiến Ông phải “giả”…để tự làm vui lòng và hãnh diện cho chính mình.

Những gì Ông ta đã và đang làm, thật không rỏ được mục đích và tầm tác hại như thế nào, và cho những ai, tuy nhiên chắc chắn khó tránh khỏi những khó khăn với pháp luật.

Riêng đối với BTC Ngày Quân Lực 2007, của Liên Hội Cựu Chiến Sĩ VNCH vủng HTĐ và Phụ Cận, thì đây là một bài học thật thấm thía, một kinh nghiệm khó quên, và cho cả những Hội đoàn, Tổ chức của Cộng đồng Người Việt Hải Ngoại trong việc đón tiếp những người “khách không mời” trong tương lai.

“Ông Phó Đề Đốc” đã có được nhiều điều kiện để có thể giúp ông thành công, từ nhân dáng, lời ăn, tiếng nói, hiểu biết…..thế nhưng ông đã thiếu một điều ….. sự thật.

BMH
Washington, DC


** Bài viết này của chúng tôi, tường thuật những diễn tiến của Buổi lễ Kỷ Niệm Ngày Quân Lực tại Trung Tâm Thương Mãi Eden, Falls Church, VA, vào ngày 17-06-07. Để xin được trả lời chung cho Quý Vi, Quý NT và CH đã quan tâm theo dõi, thăm hỏi trong thời gian qua. Cũng xin chân thành cám ơn tất cả Quý vị, Quý NT, Quý CH đã giúp đở tìm kiếm, phối kiểm tin tức liên quan đến Ông Phó Đề Đốc…

Bài viết này hoàn toàn không liên quan đến quan điểm, lập trường của Liên Hội Cựu Chiến Sĩ VNCH vùng HTĐ và Phụ Cận.

Xin chân thành cám ơn.

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Hãy Làm Chủ Chính Mình



Một tác giả nọ có kể một câu chuyện ngụ ngôn như sau: Một nhà trí thức, một thương gia và một quan đầu tỉnh bị quân cướp tấn công nhân một cuộc hành trình giữa sa mạc. Sau khi đã đánh đập, bọn cướp bỏ ba người dở sống dở chết bên lề đường. Tuy nhiên, ba người cũng cố gắng lê bước để tìm đến túp lều của một vị ẩn sĩ. Sau khi đã băng bó các vết thương cho ba người, vị ẩn sĩ mới nói với họ: "Túp lều của tôi quá nhỏ. Mùa đông lại sắp đến. Xin mỗi vị cố gắng làm riêng cho mình một căn lều để trú ẩn".

Nghe thế cả ba người bộ hành đều chống chế, vì họ chỉ muốn tiếp tục cuộc hành trình mà thôi. Vị ẩn sĩ mới cho họ biết rằng tuyết đã bắt đầu rơi và không còn một lối thoát nào có thể giúp họ ra khỏi vùng sa mạc. Nhưng làm thế nào để tự mình có thể dựng cho mình túp lều? Nhà trí thức thì than phiền rằng mình không có sách vở trong tay. Thương gia thì quả quyết rằng cả đời mình chỉ biết đếm tiền và giao dịch. Còn viên đầu tỉnh thì cho rằng ông không thể làm việc gì mà không có thuộc hạ.

Nhưng nước đến trôn rồi thì cũng đành phải nhảy. Không còn lý do gì để khước từ, cả ba người đành phải bắt tay vào dựng riêng cho mình căn lều. Khi họ vừa hoàn thành túp lều thì mùa đông cũng vừa đến. Trong suốt mùa đông dài, họ không còn bít làm gì hơn là ngồi bên bếp lửa để ôn lại chuyện quá khứ... Vị ẩn sĩ thỉnh thoảng cũng xen vào câu chuyện để góp ý và an ủi ba người bất hạnh.

Ðông tàn, xuân đến. Ba người bộ hành muốn lên đường trở về tức khắc. Nhưng lòng tốt và tình bạn của nhà ẩn sĩ không nỡ để họ ra đi. Thành ra, họ đành ở nán lại một thời gian để giúp ông cày xới và gieo trồng cũng như chăm sóc gia súc. Và rồi, khi ánh nắng xuân chiếu tỏa giữa sa mạc, họ cũng ở lại thêm một thời gian để ngắm cảnh thiên nhiên...

Một ngày nọ, vị ẩn sĩ mới thắc mắc như sau: "Tôi không còn nghe các ông nói đến sách vở, công việc làm ăn và những người thuộc hạ nữa. Có chuyện gì xảy ra cho các ông không?". Cả ba người đều giữ thinh lặng. Vị ẩn sĩ mới nói tiếp: "Tôi xin phép được trả lời cho các ông nhé. Trước kia, các ông có một ông chủ, ông chủ của các ông có tên là sách vở, là tiền bạc, là các thuộc hạ. Giờ đây, các ông cũng giống như chó lạc mất chủ, các ông cảm thấy tự do. Nhưng tôi nghĩ rằng tốt hơn là các ông nên trở về với sách vở, với tiền bạc, với các thuộc hạ của các ông. Tro về nhưng không với tư cách là nô lệ nữa. Các ông hãy là chủ chính mình. Và nếu các ông muốn có một người chủ luôn để cho các ông tự do hoàn toàn, xin hãy nhớ đến tôi và chủ của tôi".

Lục soát cho kỹ trong lương tâm, có lẽ ai trong chúng ta cũng phải thú nhận rằng mình là nô lệ của rất nhiều ông chủ.

Có ông chủ mang tên là một ý thức hệ kiên cố đang trói buộc đôi cánh tư tưởng của chúng ta. Chúng ta bị giam hãm trong vòng nô lệ đến độ không dám đưa chân bước ra khỏi vòng tròn mà ý thức hệ đó đã vẽ sẵn.

Có ông chủ mang tên là những định kiến đối với cuộc đời, đối với xã hội, đối với con người mà chúng ta không bao giờ muốn từ bỏ, mà chúng ta luôn chụp xuống trên người khác có lẽ cúng là hàng rào kẽm gai mà chúng ta khoanh tròn xung quanh chúng ta để mãi mãi chỉ mang lấy một cái nhìn hẹp hòi, ích kỷ.

Có ông chủ là những thói quen xấu mà chúng ta tích lũy như một pháo đài kiên cố để không muốn rời một bước.

Có ông chủ là thứ tôn giáo vụ hình thức trong đó chúng ta cố gắng tô vẽ cho mình một bộ mặt đạo đức, nhưng kỳ thực lại hoàn toàn xa lạ với Tin Mừng của Chân Lý và tự do đích thực.

Mỗi người chúng ta cần phải rời bỏ những ông chủ quen thuộc để đi vào trong túp lều nhỏ bé, nhưng chính do chúng ta cố gắng tự tạo ra. Nơi sa mạc của cõi lòng, chúng ta sẽ gặp được chính Chúa là ông chủ đích thực của chúng ta. Có trút bỏ mọi ràng buộc trong cuộc sống, chúng ta mới cảm thấy được Ngài chiếm ngự và lúc đó chúng ta mới cảm nhận được niềm hạnh phúc đích thực mà Chúa Giêsu đã hứa: "Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó".



Mgrs Peter Nguyen Van Tai
__._,_.___

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Ngọn Lửa Chưa Tàn !!!
Trong đêm kinh hoàng 18-07-2007 tại Văn phòng 2 Quốc hội CSVN, với cả ngàn công an, dân quân chìm nổi, thậm chí xã hội đen trang bị tận răng; với đủ thứ cơ giới từ môtô, xe jeep, xe tăng, xe tù, xe chữa lửa đến xe cứu thương, xe chở súc vật; với các phương tiện chống biểu tình hiện đại gồm lựu đạn cay, loa phóng thanh, máy phá sóng, đèn cao áp, vòi rồng xịt nước, bình chữa lửa; với cả đủ bộ sậu cao cấp nằm phục ở trung tâm Sài Gòn hay có mặt tại chỗ từ phó Thủ tướng, thứ trưởng bộ Công an đến các lãnh đạo địa phương thuộc 19 tỉnh thành; với lực lượng (bóp méo) thông tin hùng hậu của công an, của Việt Nam thông tấn xã, của các báo đài nô ngôn bồi bút…; với đủ biện pháp phong tỏa từ ngăn chặn đường vào, khóa sóng điện thoại đến lợi dụng đêm khuya, cúp đèn khu vực, phát thanh kiểu lừa gạt, dọa dẫm những ai có thể loan tin ra ngoài… Cộng sản tưởng đã dập tắt được ngọn lửa Dân oan bùng cháy từ 27 ngày qua.

Bên ngoài xem ra như thế, bởi lẽ trong số khoảng 600 dân oan tử thủ mà đa phần là phụ nữ và người già, ai vừa đứng lên thì đã bị bình chữa lửa phun vào mặt, ai vừa cất tiếng thì đã bị những cánh tay hộ pháp bịt mồm, ai vừa xông ra phản đối thì đã bị roi điện dùi cui vụt xuống tới tấp, ai định tháo chạy thì đã có ngay bốn tên “chó săn, đầu gấu” xông vào, vật ngửa, ném lên xe như một con vật. Chỉ sau vài tiếng đồng hồ, khu vực Văn phòng 2 Quốc hội đã trở lại cảnh khang trang xinh đẹp, vì bao nhiêu lều bạt, biểu ngữ, vật dụng, kể cả cờ đảng, cờ nước, ảnh lãnh tụ, ảnh liệt sĩ đều đã nằm yên trên xe rác; tòa nhà các “đại biểu nhân dân” đã lấy lại vẻ sạch sẽ tươi tắn, vì hàng chục vòi rồng đã xịt trôi hết mồ hôi, nước mắt và máu của đám dân lành; đã tìm lại bầu khí im ắng trang nghiêm, vì những tiếng thét phẫn uất, tiếng khóc đau đớn của những kẻ biểu tình chỉ còn văng vẳng trong xe tù, xe đò, xe cứu thương, xe chở súc vật đóng chặt cửa.

Tân Quốc hội khóa 12 sẽ khai mạc ngày mai trong tư thế đĩnh đạc, những đại biểu của dân sẽ ung dung đi vào phòng họp với tâm hồn thư thái! Đảng lại một lần nữa tỏ ra bách chiến bách thắng, thật xứng là đảng quang vinh!?!

Nhưng cũng chính lúc ấy, ngọn lửa đã lan ra và bừng cháy nơi những chứng nhân tại chỗ của đêm kinh hoàng:

“Tất cả mọi người hãy nhớ lấy hôm nay mà kể từ đây tôi sẽ gọi là NGÀY DÂN HẬN. Tôi cũng tuyên bố với tất cả các Đảng viên Cộng sản, những người "thề trung thành với lý tưởng Cộng sản" rằng kể từ hôm nay, giờ phút này, tôi chính thức tuyên thệ không đội trời chung với các người! Vì chính hôm nay, mắt tôi đã thấy, tai tôi đã nghe cái mà các người gọi là "của dân, do dân, vì dân". Chính hôm nay, tôi đã biết thế nào là CỘNG SẢN!” (Trần Văn Hải). “Dưới con mắt chính quyền, dân oan chúng tôi là những người thiếu hiểu biết bị bọn xấu lợi dụng và lôi kéo nên thưa kiện lung tung làm mất an ninh trật tự. Họ vu cáo cho đồng bào thương dân yêu nước ở hải ngoại đã kích động xúi giục dân oan biểu tình, nhưng quả thật họ không biết mắc cỡ là gì với dư luận. Đồng bào hải ngoại nào đã cướp đất đai, ruộng vườn của dân ? Đồng bào hải ngoại nào đã vu cáo gán tội, xử án oan sai đầy rẫy cho nhân dân trong nước, đẩy dân chúng vào cảnh lầm than không sao xiết kể? Câu trả lời là chính họ, chính nhà cầm quyền trong nước là thủ phạm gây ra những thảm kịch đó chứ chẳng có hải ngoại hay tư bản đế quốc nào vào đây cả !!! Họ đừng quen thói gắp lửa bỏ tay người! Màn đó xưa quá rồi! Thật là vừa ăn cướp vừa la làng mà không biết nhục!!!” (Lư Thị Thu Duyên).

Dĩ nhiên đây cũng là tâm tình của mọi ai máu đỏ da vàng đang bừng bừng phẫn nộ trước thảm nạn dân oan và sự bạo tàn của lũ người không còn biết thế nào là nghĩa đồng bào, tình tự dân tộc.

Ngọn lửa dân oan ấy, trước đó một ngày, hôm 17-7-2007, đã được khơi bùng lên bởi một vị cao tăng khả kính nhân chuyến viếng thăm đồng bào của ngài, Hòa thượng Thích Quảng Độ. Những lời cháy bỏng của vị bồ tát cứu khổ cứu nạn đã như thiêu đốt mọi con tim:

"Đồng bào có nhà có cửa, có cơ nghiệp, mà nay phải dầm sương dãi nắng như thế này, rồi đòi hỏi mà chẳng được giải quyết. Muốn cho tình trạng này không còn xẩy ra nữa, thì chúng ta phải đòi cho bằng được nhân quyền, công lý và công bằng xã hội. Buộc họ phải trả lại quyền sống và quyền làm người cho ta là vấn đề quan trọng nhất. Muốn như thế, thì phải chấm dứt cái nạn độc quyền cai trị. Bởi vì độc quyền đưa đến bao nhiêu thối nát và bất công như thế này đây! Phải đòi hỏi một chế độ đa nguyên, đa đảng, đại diện đầy đủ cho 80 triệu dân. Chứ chỉ có một đảng thì không thể giải quyết được gì cả. Như thế đã là bất công rồi! 80 triệu dân mà sao chỉ có một đảng…? Do đó cần phải có những đảng phái khác nữa đại diện đủ mọi khuynh hướng cho 80 triệu dân, thì mới giải quyết được. Chuyện trước mắt là đòi lại công lý, là tài sản trả lại cho đồng bào, sau đó phải đòi lại nhân quyền và dân chủ, tự do. Quan trọng nhất là tự do ngôn luận để người dân được tự do bày tỏ ý kiến của mình, quan điểm của mình đối với những tổ chức cai trị mình”.

Giờ đây đảng Cộng Sản Việt Nam có thể coi như đã chiến thắng sau khi dẹp bỏ được đám đông biểu tình. Những ông kẹ ở các địa phương có dân khiếu kiện đang hả hê ăn mừng. (Thật ra đám công an trấn áp đã khui bia rượu ê hề ngay lúc rạng sáng ngày 19-8 ngay bên Văn phòng 2 Quốc hội). Sẽ phải chờ nhiều tháng, nhiều năm nữa mới có người dám đi biểu tình lại. Các quan chức địa phương sẽ tiếp tục trò hứa hão kèm theo màn trả thù những thủ lãnh dân oan, cầm đầu khiếu kiện. Họ có thể dùng nhiều thủ đoạn như mua chuộc hay dọa nạt những ai từng phản kháng to mồm và to gan nhất, “hối lộ”, trả tiền trả đất đầy đủ cho những ai đòi hỏi bồi thường kiên trì lì lợm nhất để khóa miệng, như bỏ tù hay thủ tiêu những ai nhất định không chịu khuất phục nhất để trừ hậu hoạn, y như họ đã từng làm ở Thái Bình. Nhưng nếu chế độ còn tiếp tục chuyên chế thì sẽ không yên.

Những vụ nổi loạn của quần chúng sẽ còn tiếp tục bùng nổ: từ Thái Bình, qua Thọ Ðà, đến Thanh Hóa, Hải Dương, Ðồ Sơn, bây giờ là ở ngay Sài Gòn, Huế, Hà Nội. Sau mỗi lần đàn áp, đảng cộng sản có thể tạm yên được một thời gian, quan chức cộng sản cướp ngày có thể an bình được một vài bữa. Nhưng mỗi lần dẹp yên như thế chỉ giống như quét rác đẩy vô gầm giường, như dập tắt ngọn lửa nhưng than hồng vẫn còn âm ỷ cháy dưới lớp tro. Có thể trấn áp, trù dập những nỗi oan ức được một thời gian, nhưng CS chẳng bao giờ tháo gỡ được căn nguyên khiến lòng dân cứ bất mãn mãi không dứt. Ngọn lửa căm hờn tiếp tục nung nấu, chỉ chờ dịp lại bùng lên, vì cội rễ bất công vẫn tồn tại.

Cội rễ bất công đó chính là cái chế độ toàn trị độc tài, trong đó đảng CS là ông chủ tuyệt đối ngự trị trên đất nước, ngồi xổm trên pháp luật, đè trên đầu trên cổ mọi người dân, còn tại địa phương thì từ viên chức chính quyền, nhân viên công an, đến thành viên Mặt trận đều tự tung tự tác như những ông trời con, cấu kết với nhau thành một băng đảng ngang nhiên cướp ngày, với sự bao che, đồng lõa, thậm chí khuyến khích của trung ương Hà Nội.

Nông dân và cựu chiến binh Thái Bình, Thọ Ðà từng liều mạng chống công an, nông dân và thị dân nhiều tỉnh thành từng kéo nhau ra Hà Nội, Sài Gòn khiếu kiện hơn mấy chục năm qua không phải chỉ vì chuyện cơm áo. Họ đứng lên phản đối chính vì bị cán bộ nhà nước đối xử bất công, bị đảng viên cường hào áp bức trấn lột.

Như nhà bình luận Ngô Nhân Dụng nhận xét, ở Thái Bình, Thọ Ðà ngày xưa và ở Hà Nội, Sài Gòn ngày nay, không ai đi biểu tình vì bị mất mùa đói kém. Thập niên 1980 nhiều người chết đói ở Thanh Hóa, Thái Bình, chẳng ai đi biểu tình đòi ăn cả.

Bây giờ cũng chưa thấy thanh niên xuống đường vì thất nghiệp. Người dân đi biểu tình là vì bị oan ức, chèn ép, chứ không phải vì muốn ăn ngon mặc đẹp hơn nữa. Những cuộc cách mạng xưa nay bùng lên thường vì người dân cảm thấy nhục hơn là vì đói. Mà nỗi oan ức nhục nhã người dân đang chịu là do hệ thống chính trị của đảng Cộng sản gây ra.

Thứ nhất là guồng máy cai trị dựa trên bè đảng của một tập đoàn tham nhũng. Thứ hai là người dân bị bịt miệng, không có tiếng nói. Dân có kêu oan thì xã bênh thôn, huyện bênh xã, tỉnh bênh huyện, trung ương bênh tỉnh, không ai tháo gỡ được. Trung ương, tỉnh huyện, xã thôn bênh nhau vì tất cả ở trong cùng một băng đảng, phải dựa vào nhau mà tồn tại. Pháp luật chỉ áp dụng cho dân thường, còn cán bộ thì xử lý nội bộ trong đảng, người dân biết như thế. (Cứ chờ đợi vụ xử PMU 18 sắp tới mà xem).

Cả hai nguồn gốc gây ra bất công và uất ức đó nằm trong hệ thống chuyên chính của đảng cộng sản: đảng thâu tóm trong tay mọi quyền chính trị và chà đạp dưới chân mọi quyền con người.

Dĩ nhiên, trong các cuộc xuống đường từng xảy ra, người dân không hay chưa nêu các vấn đề chính trị như tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do lập đảng. Họ chỉ nêu lên các vấn đề cục bộ ở địa phương của họ, như chuyện đất đai bị trưng thu, nhà cửa bị lấn chiếm, chuyện đền bù còn bất công, định cư chưa yên ổn, do thói lộng hành tham nhũng của cán bộ nhà nước sở tại; nhưng những vấn đề này đều xảy ra khắp cả nước, thành ra chúng mang tầm mức chính trị, biểu hiện của sự bế tắc chính trị.

Mọi cuộc biểu tình đều bắt nguồn từ bế tắc chính trị đó và đều là những vận động chính trị cả. Trong cuộc khiếu kiện mới rồi, một số thân hữu ở hải ngoại đã e sợ rằng việc hỗ trợ tiền bạc giúp đồng bào biểu tình dài lâu sẽ vượt ra ngoài tính cách xã hội, bác ái mà mang tính cách chính trị. Chúng tôi đã trả lời rằng: tự bản chất, cuộc biểu tình đồng loạt của 19 tỉnh thành và 9 quận huyện Sài Gòn đã, đang và sẽ mang tầm vóc, tính cách chính trị. Vì hành động biểu tình cùng xảy ra khắp nơi như vậy chính là vì nhu cầu dân chủ tự do.

Nếu dân không được sống trong tự do dân chủ thì những căn nguyên gây ra nỗi oan ức chả bao giờ chấm dứt, cán bộ đảng viên vẫn tiếp tục nắm trọn quyền lực và thâu tóm quyền lợi, gây tổn hại và bất ổn cho cuộc sống toàn thể nhân dân,

Vậy làm cách nào để giải quyết được những cảnh tham nhũng, bất công trong xã hội? Chỉ có một cách là cho nhân dân quyền bỏ phiếu chọn người cai trị họ. Ở từng địa phương một, từ xã lên đến huyện, huyện lên đến tỉnh, tỉnh lên đến nước, dân phải có quyền tự do ứng cử và bầu cử, bổ nhiệm và bãi nhiệm các quan chức bằng lá phiếu.

Chỉ khi nào những kẻ cai trị biết dựa vào quyền lực dân trao cho, hay lo sợ có ngày dân không còn tín nhiệm mình, thì lúc đó nạn tham nhũng, bất công mới giải được. Hệ thống chính trị độc tài của đảng Cộng Sản Việt Nam hiện nay không dám và không muốn chấp nhận thách đố này. Từ trên xuống dưới đều là “đảng cử dân bầu” và từ trước tới sau đều phải là “đảng muôn năm trường trị” Như nếu cứ như thế, ngọn lửa dân oan –mà mọi cá thể và mọi tập thể tại Việt Nam hiện nay ai lại chẳng là dân oan- sẽ vẫn chưa tàn và không sớm thì muộn sẽ bừng cháy.

(Bài này có tham khảo
Ngô Nhân Dụng,
Dân biểu tình vì dân chủ)
Ban Biên tập


http://tudongonluan .atspace. com/
TDNL số 32 sẽ được post lên

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Vài lời với Hồ Văn Xuân Nhi
Ngô Kỷ

Bạn Hồ Văn Xuân Nhi thân mến,

Lâu lắm rồi, có lẽ cũng 3 năm rồi, lần cuối cùng chúng ta gồm bạn, Trần Thái Văn, và tôi vui vẻ ăn với nhau những tô mì của tiệm mì Á Dông sát nách Phúc Lộc Thọ trên dường Bolsa, và bạn dã "diệu nghệ" dứng lên trả tiền, cám ơn bạn. Cho dến giờ này tôi vẫn không quên những kỷ niệm dẹp dẻ và thân tình dó, dù rằng trong suốt mấy năm trời trước dó, mỗi lần bạn viết những bài "bình luận" chính trị dăng trên tờ báo Việt Weekly, thì hầu như ít bài nào mà bạn sót "dá giò lái" tôi vài câu cho "bỏ ghét".

Kể như vậy không có nghĩa bây giờ tôi thấy "người ta sang bắt quàng làm họ", cu$ng không phải vì thấy bạn bây giờ trở thành một dứa con cưng của "nhà nước", hay là vì bạn bây giờ dựơ.c trở thành một nhân vật quan trọng và quyền lực vì có quyền ban bố ơn sủng cho thiên hạ dược phép tham dự buổi tiệc máu với dồ tê? Nguyễn Minh Triết tại Dana Point theo như cái thư bạn dưa lên Net là bạn có tới 50 cái thiệp mời dự tiệc, nhưng cái lý do tôi vẫn gọi bạn là vì giữa chúng ta từng có thật nhiều kỷ niệm với nhau.

Kỷ niệm dầu tiên là việc tôi giới thiệu bạn làm quen với Trần Thái Văn dê? Trần Thái Văn tiến cử bạn vào thế cái ghế phụ tá Dân biểu Robert K. Dornan dê? Trần Thái Văn có thể trơ lại Dại Học full time vào khỏng năm 86, 87 gì dó. Và suốt bao nhiêu năm sau dó, chúng ta cộng tác nhau trong một số sinh hoạt cộng dồng và chính tr.i, dặc biệt trong các mùa vận dộng tranh cử của dảng Cộng Hòa. Tôi cám ơn bạn dã tận tình và ưu ái giúp dỡ tôi rất nhiều trong công việc chung, cũng như trong công việc riêng tư. Tình nghĩa dó tôi luôn ghi tạc và mong có ngày dền dáp.

Hôm nay ngồi viết cho bạn lá thư này dể nói cho bạn biết tôi rất bất mãn và phẫn nộ khi bạn viết những lờ lẽ vô cùng sai trái và hỗn xược dối với những người cựu Tù Nhân Chi"nh Trị Việt Nam mà gọi tăt là H.Ọ Trong bài "Dối thoại thẳng thắng và minh bạch, không có gì phải lén lút, sợ hãi....", dược dăng trong tờ báo Việt Weekly số V W 5-31, phát hành 07-26-07, bạn dã viết về những người chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, những người dã hy sinh lớn lao trong cuộc chiến dể bảo vệ cho những người hâu phương chúng ta, mà trong dó có bạn, có tôi và ngay cả gia dình bạn dược an vui, tồn tại.Nếu không có sự hy sinh và chiến dấu anh dũng của những người chiến sĩ can trường Việt Nam Cộng Hòa này, thì làm gì chúng ta có cơ hội sống còn dể có cơ hội qua Mỹ thoát khỏi bàn tay khát máu tàn bạo của Cộng sản ác ôn vô thần, thế mà bạn lại nhẫn tâm, vô ơn bạc nghĩa khi viết về những người H.O như sau: " Qua dến Mỹ, họ trở thành vô dụng, gần như bị phế thải, bất lực trước dời sống mới, vô tài vì ngôn ngữ mới. Họ không có, không còn gì...."

Trời ơi, tại sao bạn lại cay cú, cạn tàu ráo máng với những người ân nhân mà chúng ta từng một thời thọ ơn như vậy hả bạn?. Họ làm gì thiệt hại hay gây phiền phức gì dến bạn mà bạn nỡ day nghiến xúc phạm họ không một chút tiếc thương như vậy hả bạn?! Những năm tháng tù dày khốn khổ, những dắng cay, tủi nhục mà họ từng hứng chịu trong các lao tù Công Sản chưa dủ dể bạn xúc dộng hay mảy may dộng lòng trắc ẩn sao hả bạn? Có phải bạn muốn họ phải suốt dời sống trong cảnh tù tội, tối tăm dể bạn tự mãn cho là người dược dộc quyền may mắn ?

Nếu tôi có quyền dược hỏi, thì câu hỏi dược dặt ra với bạn là bạn lấy cái thống kê từ dâu mà bạn dám tự phu, xấc láo khi phán rằng những người H.O là những kẻ "vô dụng, phế thải, bất lực, vô tài" hả bạn? Thử hỏi bản thân bạn có cái gì gọi là hơn các người H.O hả bạn? Hãy tự soi gương chính mình di trước di. Nếu bạn bảo rằng bạn có nhừng cái mà nhừng người H.O không có, như cái vô liêm sĩ, cái mất dạy, cái dá cá
lăn dưa, cái bưng bô, diếu dóm, làm thân khuyển mãcho Cộng Sản thì tôi hoàn toàn dồng ý và không phản dối. Nếu bạn dừng dành quá nhiều thì giờ di bưng bô cho Việt Cộng dể bạn có cơ hội dến thăm viếng những văn phòng, cơ sở của các hội cựu Tù Nhân Chính Trị thì chắc bạn sẽ sững sốt khi tiếp xúc với nhiều người H.O dang thành công vượt bực trong nhiều lãnh vực trên dất Hoa Kỳ này dù rằng họ dến xứ Mỹ này muộn màng.

Tôi không muốn làm nhà phân tách dể chứng minh rằng những người H.O không phải tệ hại, hay bất tài vô tướng như bạn gán ép cho họ dâu. Họ hiên ngang di bằng dôi chân rắn chắc và xây dựng cuôc dời, tương lai bằng dôi bàn tay cứng cáp và khối óc minh mẫn, chứ không như bạn dang di bằng cặp dầu gối và dược hướng dẫn bởi một dầu óc bệnh hoạn, tầm thường.

Tôi tin rằng, trong những ngày tới, chính những người H.O họ sẽ dích thân dạy cho bạn biết thế nào là sự lễ dô. và sự khiêm cung.

Nếu tôi dươc phép có một lời khuyên, thì tôi khuyên với bạn là bạn hãy nói lên lời xin lỗi với những người H.O về những lời mê muội và xuẫn dộng mà bạn dã xúc phạm và sỉ nhục ho. Tôi tin rằng với lòng dô. lượng và khoan dung, những người H.O sẽ không hẹp hòi hay cố chấp dể cho bạn có dược một cơ hội hối cải ăn năng. Còn nếu bạn vẫn ngoan cố cứng dầu thì bạn hãy chuân bị dể lãnh nhân những hậu quả khôn lường. Những người H.O họ hiền như con chim bồ câu, nhưng họ sẽ là những con rắn khi cần thiết và khi danh dự họ bị xúc phạm.

Bạn ạ, tôi rất muốn có thì giờ dể trả lời về những luận cứ ngụy biện trong bài viết của bạn, nhưng trong giờ phút này, Dân Oan và các nhà dấu tranh Dân Chủ trong nước dang cần dến sự quan tâm của dồng bào hải ngoại, do dó rất tiếc tôi không có nhiều thì giờ rãnh dể trả lời từng diểm một cách chi tiết dê chứng minh bạn bây giờ dang trở thành một tên "văn nô" không hơn không kém. Bạn muốn ngồi với Cộng sản thì tại sao Việt Nam hiện dang có khoảng 2 triệu tên Cộng sả n dang muốn ngồi với bạn mà sao bạn lạ bỏ những cơ hội bằng vàng như vậy hả bạn? Tôi tin lời bạn viết là bạn dến tham dự buôi tiệc máu với dồ tê? Nguyễn Minh Triết dê nghe ông ta nói chuyện, thế thì tại sao bạn di cúc cung tận tụy, làm thân khuyểmã cho chế dô.Cộng sản khi dưa tin lên Net dể rao bán 50 cái vé tiệc hả bạn? Nếu bạn không phải là tay sai, là làm dầy tớ cho Cộng sản thì tôi pha/i dùng danh tu=` gì cho thích hợp hả bạn? Tôi không bao giờ chụp mũ bạn la Cộng sả hay Việt cộng dâu, vì với tư cách và trình dô. của bạn làm sao xứng dáng làm tên Cộng sản dược dù có cho là bạn dang cố gắng hết sức. Nếu tôi dược phép dặt tên cho bạn, thì tôi sẽ gọi bạn là tên Việt gian, tên dón gió trở cờ, tên tay sai bưng bô Cộng sản, hay có th^? gọi bạn là tên phản trắc hay nặng hơn chút nữa thì gọi bạn là tên vô lại, vô liêm sĩ tán tân lưong tâm.

Thật là trơ trẻn và buồn cười khi bạn dem sự kiện dàm phán giữa 2 nhà lãnh tụ vĩ dại của thế giới là cố Tổng Thống Hoa Kỳ Ronald Reagan và Tổng Bí Thư Nga Sô Gorbachev ra dể biện minh cho sự bưng bô Cộng sản của bạn. Bạn có khi nào nghĩ rằng mình dang lộng ngôn chăng khi cái tư cách và ưu diêm của bạn vỏn vẹn chỉ có cái lưng không xương sống và cái miệng dể nuôi trôn.

Ô hay, có ai chụp mũ bạn là Cộng sản dâu mà bạn la toáng lên vậy, bạn ỷ có vốn liếng mấy năm làm việc cho văn phòng dân biểu Mỹ dể rồi bạn cứ thao thao dạy dỗ thiên hạ cái trình dô. chính trịkhông bằng hạt mít của bạn. Làm sao có thê dem cái sinh hoạt chính trịdảng phái Cộng Hòa, Dân Chủ của Hoa Kỳ ra mà so sánh với cái dối kháng chính trị giữa Quốc Gia và Cộng Sản, giữa Bắc Việt với miền Nam, giữa ác với thiện, giữa tà dạo với chính nghĩa. Tôi hy vọng lần tới khi bạn muốn biện minh cho cái luận diệu hòa hợp hòa giải thì bạn nên ôn cho kỹ bài của bộ chính trị dưa ra. Nói bậy sẽ lòi cái duôi ghẻ lở và lố bịch của chính mình.

Rất tiếc thi giờ tôi dự dịnh dành cho bạn dã hết, tôi ngừng nơi dây. Chúc bạn có dược một ngày vui và sống sao cho ra người, nghĩa là bạn sẽ di
bằng dôi chân chứ không bằng cặp dầu gối.

Chào bạn,

Ngô Kỷ
ngokyusa@yahoo. com <mailto:ngokyusa@ yahoo.com>

Image

Đối thoại thẳng thắn và minh bạch, không có gì phải lén lút, sợ hãi...
HỒ VĂN XUÂN NHI

Vẫn còn nhiều người suốt 2 tuần qua hỏi tôi đã làm gì để bị đám người hung hăng chống cộng gọi là Việt gian, Việt Cộng? Vẫn có một số người hỏi lập trường chính trị hôm nay của tôi như thế nào? Vẫn có ít người chưa hiểu tại sao tôi đã trở thành kẻ thù của nhóm Trần Thái Văn?

Cảm giác đầu tiên khi biết tên mình, hình ảnh mình bị một nhóm người đưa ra “đấu tố” gọi là Việt gian, hăm dọa sẽ có thái độ thích đáng, biểu tình chống đối, tôi không có chút buồn bã hay sợ hãi. Trái lại, đối với những cụ già hay người lớn tuổi, cựu tù “HO” xuống đường biểu tình, tôi thông cảm và tội nghiệp giùm cho họ.

Nói về những người đi biểu tình. Họ có thể là những người chống cộng cực đoan nhưng phải hiểu họ đến từ đâụ. Bất cứ những ai đã trải qua những hoàn cảnh và lịch sử mà họ đã chịu đựng, phải hiểu tinh thần chống cộng của họ là chính đáng. Chống cộng là điều tất nhiên. Trong số hơn 2 triệu người Việt ở Mỹ đều chống cộng. Không chống cộng đã không cần đến Mỹ. Chống cộng ít, nhiều, bảo thủ hay cởi mở. Chỉ khác nhau ở mức độ và phương thức chống cộng mà thôi. Những cựu tù HO có mặt trong những cuộc biểu tình đấu tranh chống cộng, đa số là những chiến sĩ chống cộng thực tâm. Trải qua cuộc dâu bể, đổi đời, mất cả tổ quốc mà họ đã cầm súng chiến đấu, bị ở tù nhiều năm, vợ mất, con lạc từ kết quả một cuộc chiến đã chấm dứt không công bằng cho họ. Qua đến Mỹ, họ trở thành vô dụng, gần như bị phế thải, bất lực trước đời sống mới, vô tài vì ngôn ngữ mới. Họ không có, không còn gì. Lòng hận thù với cộng sản phải cao hơn núi, sâu hơn biển. Tôi tôn trọng sự chống cộng của những cựu tù HO ở Mỹ. Không bao giờ tôi dám coi thường, miệt thị tinh thần chống cộng của những bậc đáng tuổi cha, chú.

Nếu Việt Nam Cộng Hòa còn lại hơi thở, chính là hơi thở của những cựu tù, những cựu chiến sĩ quân lực VNCH. Tôi kính trọng những cựu lính chiến của miền Nam. Họ là những người yêu nước. Cho dù ngày hôm qua, họ có cầm biểu ngữ đã đảo tôi ngoài đường phố, tôi không trách họ. Tôi hiểu được tại sao họ làm như thế. Họ là những chiến sĩ không có gì trong đời sống ngoài lòng yêu nước chống cộng. Chỉ những kẻ đầu cơ trục lợi chính trị, lợi dụng lòng yêu nước chống cộng của những cựu chiến sĩ để thỏa mãn dã tâm riêng mới là những kẻ đáng trách, đáng khiếp!

Tôi sinh ra khi chiến tranh bắt đầu, lớn lên khi chiến tranh vừa chấm dứt, theo làn sóng người tỵ nạn năm 1975 sang Mỹ. Chưa một ngày biết cầm súng. Cả cuộc đời thanh niên chỉ biết đi học. Cha tôi là cựu sĩ quan không quân quân lực Việt Nam Cộng Hòa với 20 năm quân ngũ, một trong những người sĩ quan không quân cuối cùng rời khỏi căn cứ Tân Sơn Nhất trong ngày 30 tháng 4, may mắn không bị đi học tập cải tạo, nhưng sau này bị đi tù VC cả tháng trời vì tội làm mục sư về nước giảng đạo Tin Lành không giấy phép. Tôi biết nhiều về Việt Nam Cộng Hòa hơn là chế độ cộng hòa xã hội chủ nghĩa. Tôi mê đọc báo và viết báo từ năm 12 tuổi, nên chuyện thời sự và chiến tranh miền Nam tôi theo dõi và biết nhiều. Tôi chưa đi lính nhưng ngưỡng mộ nhiều vị tướng anh hùng của miền Nam, nhìn họ như những anh hùng đã đánh đuổi quân Nguyên, Minh, Mông Cổ, Mãn Thanh, hay Pháp trong các bài học sử thuở trung học. Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng… những vị tướng chết với thành, không bỏ chạy. Họ là anh hùng của tôi. Thuở nhỏ, tôi thích đọc sách viết về những trận chiến của nhà văn Phan Nhật Nam. Tôi hãnh diện về những người chiến sĩ miền Nam.

Tôi chỉ thuộc quốc ca Việt Nam Cộng Hòa, chưa hề biết quốc ca cộng sản ra sao. Tôi chỉ biết lá cờ vàng ba sọc đỏ, chưa bao giờ đứng chào lá cờ đỏ sao vàng. Tôi đã dự hàng ngàn các lễ hội, sinh hoạt, tiệc tùng của các hội đoàn, cộng đồng. Mỗi lần chào quốc kỳ VNCH, tôi đứng dậy nghiêm chỉnh cùng mọi người hát quốc ca thuộc lòng không sai một chữ. Mỗi lần hát quốc ca, tôi xúc động nhiều. Khi về Việt Nam, có lần tham dự lễ hội khai mạc thể thao quốc gia, có nghi thức chào cờ và hát quốc ca cộng sản. Mọi người đứng dậy, tôi vẫn ngồi yên một chỗ mặc cho những người chung quanh nhìn mình với ánh mắt khó chịu. Họ hát quốc ca Việt Nam bây giờ, tôi không biết một lời, ngồi im.

Tôi đã làm việc hơn 2 năm cho dân biểu chống cộng Robert Dornan. Tôi đã giúp giải quyết hằng trăm hồ sơ bảo lãnh ODP của đồng hương bị ứ đọng ở Việt Nam những năm cuối thập niên 80. Tôi đi cùng phái đoàn quốc hội Mỹ về Việt Nam đầu năm 1988 để vận động cho các hồ sơ này, vận động cho chương trình HO để đưa các cựu tù cải tạo sang Mỹ. Tôi đã vận động dân biểu Dornan ủng hộ các mục tiêu chống cộng mỗi khi các cụ Nguyễn Tư Mô, ông Trần Trung Dũng, hay các đại diện cộng đồng tìm đến văn phòng. Trước đó, những năm thập niên 80 cao trào của mặt trận kháng chiến Hoàng Cơ Minh, tôi là một trong những thân hữu ủng hộ, tiếp tay tổ chức các ngày tết Trung Thu cho thiếu nhi. Không là đoàn viên, nhưng luôn sẵn lòng ủng hộ các anh em đoàn viên. Tôi mua báo kháng chiến dài hạn để đọc suốt mấy năm. Tôi vẫn luôn tin rằng cựu tướng Hoàng Cơ Minh là anh hùng, đã chết anh dũng cho đại nghĩa đất nước, đáng khắc ghi vào sử Việt. Nhiều người bạn chí thân của tôi đã là chiến hữu cao cấp sinh hoạt với mặt trận và đảng Việt Tân nhiều năm. Bạn thân tôi thời đó có nhạc sỹ Việt Dũng cho đến ngày nay tôi vẫn luôn quý mến người bạn chống cộng bằng trái tim này. Chúng tôi đã từng có chung một lý tưởng khi cùng làm tờ báo Tuổi Ngọc phát hành toàn thế giới cho tuổi trẻ, vì tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại.

Những năm 1994, 1995 sau khi cấm vận bãi bỏ và bang giao Mỹ Việt tái lập, tôi về Việt Nam làm việc cho các công ty Mỹ. Những năm đầu tiên, công an bảo vệ chính trị thành phố Sàigòn thường xuyên mời tôi lên làm việc, lấy khẩu cung, tìm hiểu về tôi. Họ e dè, nghi ngờ tôi về quá trình tôi sinh hoạt với đảng CH, làm việc cho dân biểu Dornan, hay cựu thượng nghị sĩ Pete Wilson, hay trong các chiến dịch vận động tranh cử cho Bush-Quayle. Liên hệ với Mỹ nhiều quá. Có lần, một nhân vật chính trị trong cộng đồng, ông HCT của một tổ chức chính trị vận động đa nguyên đa đảng về Việt Nam bị bắt. Tôi quen ông ta ở Mỹ. Thời điểm ông ta bị bắt, tôi tình cờ có mặt ở Việt Nam. Trong sổ tay của ông ta có tên tôi và số điện thoại. Công an nghi ngờ sự hiện diện của tôi cùng thời điểm Việt Nam có biến cố chính trị xảy ra, nên điều tra tôi. Phải nói công tâm, công an đã không có sự đe dọa, chưa có thái độ bất nhã nào với tôi trong suốt hơn 3 tháng cứ phải bị lui tới sở công an thành phố. Rồi cũng xong, sau khi hiểu rõ tôi chỉ là một người về Việt Nam trong mục đích thuần túy kinh doanh, không ai làm phiền tôi nữa. Tôi chẳng bao giờ gặp lại các viên chức công an này nữa. Tôi đã có tên trong danh sách sổ đen của Công An Việt Nam.

Tôi làm việc ở Việt Nam nhiều năm, nhiều lần, chứng kiến xã hội Việt Nam qua bao nhiêu giai đoạn. Tôi nhìn thấy có sự đổi mới, có những biến chuyển đáng khích lệ. Vẫn là một nước cộng sản. Nhưng Việt Nam bây giờ không phải là Việt Nam của những thời bao cấp, thập niên 70, 80 nữa. Người dân trong nước hân hoan đón mừng Việt kiều trở về, người Mỹ trở lại, với ước mơ sẽ giúp thịnh vượng đời sống kinh tế của họ hơn. Không ai nói về chính trị với tôi, dù chỉ có 2 người với nhau. Không ai có mơ ước một đổi thay chế độ, dù có nhiều người vẫn bất mãn với nhiều bất công trong xã hội, trong chính quyền. Họ chỉ mơ ước đất nước giàu có hơn để đời sống họ giàu hơn, trẻ em có tương lai hơn. Tôi trở về, đi đi lại lại trên đất nước từ Nam ra Bắc, đã đi hết 64 tỉnh thành của Việt Nam. Tôi thấy yêu quê hương nhiều hơn. Tôi cảm thấy được những gì người dân đang cần, đang mong muốn. Dĩ nhiên trong đó có tự do, dân chủ, ai cũng muốn vậy. Nhưng riêng tôi, trong khả năng nhỏ bé và giới hạn, tôi chỉ muốn đưa về đất nước những tài sản và con người làm cho đất nước thịnh vượng, thăng tiến hơn. Tôi chỉ muốn người dân không còn nghèo nữa, không thiếu thốn nữa, trẻ em có tương lai ngày mai.

Tôi tin vào quan điểm chính kiến mới. Xây dựng và đổi thay đất nước bằng con đường kinh tế. Tôi không ủng hộ chủ nghĩa và chế độ cộng sản. Tôi ủng hộ đất nước và dân tộc Việt Nam. Tôi không đến với cộng sản Việt Nam. Tôi đến với đất nước và con người Việt Nam. Những công việc của tôi làm là đóng góp một phần vào tiến trình đó. Tôi vẫn không tin vào người cộng sản và người cộng sản cũng chẳng bao giờ tin tôi. Nhưng tôi vẫn có thể ngồi với một người cộng sản, coi họ là bạn, nói chuyện với nhau rất thỏa mái. Những người bạn trong nước chẳng bao giờ tìm cơ hội chiêu dụ tôi trở thành người cộng sản, chẳng bao giờ đem lý thuyết chủ nghĩa ra đấu lý, tranh cãi với tôi. Tôi vẫn nói chuyện với họ trong tình cảm người Việt Nam với nhau. Có rất nhiều chuyện để nói không cần thiết phải nói về chủ nghĩa, chính kiến. Trong những đối thoại, có sự hiểu nhau, thông cảm nhau, và học hỏi nhau. Một số người trong nước, kể cả những đảng viên đã trưởng thành và học hỏi nhiều về thế giới, về sự khác biệt giữa Việt Nam và những nước Việt kiều đang sống. Bằng những đối thoại bằng hữu như thế, tất cả là người Việt Nam, ntrong nước hay ngoài nước đều là những người có cùng trái tim và giòng máu Việt Nam.

Tôi tin vào sự đối thoại. Cuộc chiến nào cũng phải kết thúc bằng đối thoại. Ronald Reagan đã chiến thắng nước Nga, đánh bại chủ nghĩa cộng sản ở Đông Âu bằng sự đối thoại, bằng cái ôm tổng bí thư cộng sản Nga Gorbachev, bằng những lần ngồi bên cạnh nhau giữa hai nước kẻ thù. Tôi tin vào sự hiện hữu của Mỹ tại Việt Nam. Việt Nam ngày nay đã có nhiều cải tiến, đổi mới tốt hơn trước cũng do Mỹ bang giao và giao thương với Việt Nam. Nếu cuộc chống đối bang giao Mỹ Việt của cộng đồng xưa kia thành công, sẽ không có sứ quán Mỹ ở Việt Nam, không có những can thiệp và hiện diện của Mỹ giúp các nhân vật đối kháng, các Việt kiều về nước bị kết tội phản động, phá hoại. Nếu Mỹ giao thương với Việt Nam bị cộng đồng chống đối bao nhiêu năm trước thành công, giờ này kinh tế Việt Nam vẫn còn lạc hậu, trình độ dân trí trong nước vẫn như kẻ mù. Nếu chuyện chống các sinh viên, cán bộ hay người trong nước sang Mỹ du học, tham quan, tu nghiệp của cộng đồng những năm trước thành công, giờ này đất nước vẫn chậm phát triển bị giới hạn trong sự lãnh đạo của những người chưa hề thấy nước Mỹ vì sao giàu mạnh.

Tôi tin kinh tế Việt Nam sẽ giàu mạnh khi Mỹ bước vào thị trường Việt Nam nhiều hơn nữa. Khi kinh tế giàu mạnh, đời sống người dân mở rộng, tiến trình dân chủ sẽ đến, không cần đến bạo lực và bạo động của một cuộc cách mạng nổi dậy mà các lực lượng chống cộng bên ngoài sẽ không thể thực hiện được. Khi đồng đô la với hình ảnh Washington dần dà thay thế đồng tiền có hình ảnh Hồ Chí Minh, đất nước đã khá rồi. Bao nhiêu năm tranh đấu, chống cộng, chẳng phải mục tiêu cho nước mạnh, dân giàu hay sao? Khi nước mạnh dân giàu, sẽ không còn là chủ nghĩa vô sản mà là chủ nghĩa tư bản. Khi mà tư bản đã là sức mạnh nắm quyền, quyền lực nào có thể đè bẹp những quyền tự do và dân chủ. Khi thế giới và Mỹ có mặt ở Việt Nam, những cơ cấu tổ chức, xã hội, đất nước Việt Nam sẽ dần đà đi theo tiến trình của thế giới tự do. Tôi biết Việt Nam cần có nhiều thay đổi hơn, họ đang đổi thay và tôi bằng lòng chờ đợi sự đổi thay nhiều hơn trong thời gian sắp đến.
Tôi đã đến Dana Point trong niềm tin đó. Tôi muốn nghe chủ tịch nước Việt Nam nói gì. Không phải tất cả những gì ông ta nói, tôi phải tin. Không phải tất cả những gì ông ta hay những người phát biểu trên diễn đàn, tôi đều vỗ tay. Tôi có một khối óc của một người đã sống ở nước Mỹ 32 năm, đã sống ở Việt Nam không cộng sản 17 năm. Trong khi tổng số những ngày tôi đã đến Việt Nam và ở đó, cộng lại chưa đến 2 năm. Tôi cũng như hơn 500 Việt kiều đã có mặt ngày hôm đó ở Dana Point, nghe ông Nguyễn Minh Triết nói chuyện. Chúng tôi không là người cộng sản. Chúng tôi có cái nhìn về phương hướng thay đổi Việt Nam khác hơn cái nhìn của những người hôm đó biểu tình bên kia đường. Nhưng chúng ta không phải là kẻ thù của nhau. Tôi không cho rằng mình có lỗi, không cần phải xin lỗi, vì tôi chẳng hề phản bội cộng đồng.

Tôi có con đường tôi đã chọn. Những người chống cộng cứ tiếp tục chống cộng theo quan niệm của họ. Họ có chính nghĩa trong suy nghĩ và quá khứ của họ. Tôi tôn trọng tinh thần chống cộng và ý kiến của mọi người. Tôi chỉ yêu cầu họ tôn trọng sự suy nghĩ và ý kiến của riêng tôi. Đừng chụp mũ cộng sản những ai không đi theo con đường chống cộng của quý vị, hay không đồng quan điểm với quý vị. Ở nước Mỹ, 2 đảng Dân Chủ và Cộng Hòa khác chính kiến, khác cách thức làm việc không có nghĩa là khác nhau về lòng yêu nước. Ở Mỹ, các chính trị gia Dân Chủ hay Cộng Hòa không bao giờ gọi nhau là kẻ phản bội đất nước, cho dù họ mâu thuẫn và chống nhau về quan điểm chiến tranh, chính sách và chính trị. Kẻ chống chiến tranh Iraq hay chống những chính sách kiểm soát an ninh, không có nghĩa là không yêu nước Mỹ hay ủng hộ khủng bố.

Tôi không sai với con đường tôi đã chọn. Những doanh nhân Việt kiều đã có mặt ở Dana Point không cần thiết phải trốn tránh sự hiện diện của mình, không cần thiết phải biện minh hay chối cãi. Nếu chúng ta biết mình không làm sai, không có gì phải sợ. Mỗi người có chính nghĩa riêng. Không phải vì họ nghĩ khác mình là họ đúng, mình sai.

Những người biểu tình có thể có đám đông, nhưng không hẳn là có đa số. Đa số vẫn thầm lặng vì sợ hãi đám đông. Tôi tin mình đang ở trong đa số nhưng tôi không chấp nhận sự thầm lặng. Con đường tôi đi không cô đơn.ª

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Thư Của Một H.O. Gửi Hồ Văn Xuân Nhi

Chu Tất Tiến
Thưa anh,

Tình cờ đọc số báo Việt Weekly điện tử đề ngày 26 tháng 7 năm 2007, thấy anh viết một bài trình bầy quan điểm của anh về việc tham dự bữa tiệc đón tiếp Nguyễn Minh Triết tại Dana Point cũng như về các cuộc biểu tình chống tờ Việt Weekly là tờ báo mà anh cộng tác thường trực, có nhiều điều liên hệ đến "tôi", nói đúng hơn là "những người H.O chúng tôi", nên tôi phải vội viết thư này đến anh ngay, cũng để trình bầy quan điểm của tôi về bài viết của anh. Dưới tiêu đề "Đối thoại thẳng thắn và minh bạch, không có gì phải lén lút, sợ hãi", anh đã tỏ ra mình rất tự tin, đã suy nghĩ kỹ lưỡng, và chấp nhận mọi thách đố đến từ những người mà anh muốn gủi thông điệp này đến. Vì vậy, cũng trong tinh thần thẳng thắn đối thoại, tôi xin đưa ra một nhận định như sau: Bài viết của anh đầy những lý luận hồ đồ, vô ý thức, và thiếu trí tuệ.

a. - Hồ đồ, vô ý thức: Khi đề cập đến những người H.O, anh viết: "Qua đến Mỹ, họ trở thành vô dụng, gần như bị phế thải, bất lực trước đời sống mới, vô tài vì ngôn ngữ mới." Là một người đến Mỹ theo diện H.O.1, tôi bàng hoàng không biết anh đã có nhận định này từ đâu và từ khi nào? Thiết tưởng, với một người có học qua Đại Học như anh, chắc phải học qua vài lớp về cách viết văn (Writing Skills), Triết học (Philosophy), và Tâm Lý Học (Psychology). Các lớp này đã bắt buộc các sinh viên, nếu muốn đưa ra một nhận định về con người và xã hội trong bài viết của mình, phải dẫn chứng nếu không bằng số liệu, thì phải có sử liệu. Ở đây, anh đã không đưa ra một con số nào mà chỉ hồ đồ đưa ra một câu phê phán rất nặng nề: "H.O là những kẻ vô dụng, phế thải, bất lực, và vô tài"!

Theo anh, có bao nhiêu người đã đến Mỹ theo diện H.O? Trong số này có bao nhiêu người đi học lại? Bao nhiêu người tốt nghiệp Cử Nhân, Cao Học, Tiến Sĩ? Bao nhiêu theo học các ngành nghề chuyên môn? Bao nhiêu đi làm Assembler và những công việc những việc lao động chân tay (Blue Collar)? Hay lao động trí óc (white collar)? Còn lại bao nhiêu người "vô dụng, phế thải, bất lực, vô tài"? Sau khi tôi đến Mỹ theo diện H.O.1 vào tháng 1 năm 1990, tôi đã phỏng vấn nhiều H.O. và viết một loạt phóng sự vui "Phóng Sự Ếch Ô" đăng trên báo Người Việt kéo dài trên 10 tờ nhật báo. Sau đó, tôi lại tiếp tục phỏng vấn thêm gần 100 người nữa để viết loạt phóng sự "Người Trước, Người Sau" cũng đăng trên Nhật Báo Người Việt vào khoảng 3 tháng liên tiếp. Trong hai loạt phóng sự này, tôi đã được biết rằng, chỉ trừ số ít bị bệnh tật kết quả của đời tù tội, đại đa số những người theo diện H.O đã ngay lập tức tìm cách ổn định cuộc sống cho mình. Nguời thì đi học lại ESL, người đi kiếm việc làm ở những cơ sở nhỏ, chấp nhận làm mọi ngành nghề lương thấp, không kể quá khứ đã từng chỉ huy những đơn vị lớn. Người có Anh Văn thì xin đi làm ngay tại các công, tư sổ. Người trẻ thì đi học sửa xe, học sơn, học sửa ống nước, học "neo"; người lớn tuổi thì đi cắt chỉ, hoặc làm thợ "vịn". Có người đi làm Cảnh Sát nữa.

Sau đó, đến năm 1992, tôi lại đi tìm hiểu thêm về H.O. để viết một bài tổng kết về tinh hình H.O. sau hai năm định cư tại xứ Mỹ. Bất kể tính chất của công việc như thế nào, dân H.O. chúng tôi cũng chứng tỏ là dù mới sang, còn bỡ ngỡ trước một cuộc sống hoàn toàn khác lạ, chúng tôi cũng quyết vượt lên hoàn cảnh để sinh tồn, cũng như để cho con cháu chúng tôi trưởng thành và phát triển vững mạnh trên đất này. Ngay cả những vị quá tuổi về hưu, cũng không nghĩ là mình chỉ là những vật "phế thải" như anh đã viết. Nếu anh nói "Không chuyên môn" thì đúng, nhưng "vô tài" thì quá đáng. Ít ra chúng tôi cũng làm được nhiều điều có ích cho gia đình và cho con cái. Không dám khoe với anh, nhưng trong hai lần thuyết trình cho chính giới Hoa Kỳ, một lần tổ chức bởi Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ và Orange County, một lần do Đại Học UCLA tổ chức cuối năm 1990, với tư cách là một thuyết trình viên chính (Keynote speaker) về H.O., sau khi yêu cầu chính phủ giúp đỡ phương tiện cho H.O để ổn định, tôi đã thẳng thắn tiên đoán là lớp người H.O này sẽ đem lại nhiều thay đổi lớn trong xã hội Mỹ. Thực tế đã chứng minh những điều tôi trình bầy từ năm 1990: chỉ sau mười mấy năm, đa số con cháu H.O đã thành Dược Sĩ, Nha Sĩ, Bác Sĩ, Kỹ Sư, Giáo Sư, và chuyên viên. Nhiều con H.O. đã được vinh danh bởi Tổng Thống Hoa Kỳ. Nếu cha mẹ chúng là đồ "phế thải", chắc không có kết quả như vậy. Tôi cũng được biết có nhiều H.O đã xong Cử Nhân (B.A hoặc B.S.), một số tốt nghiệp Cao Đẳng (A.A.) và Cao Học (M.A hay M.S.) Một thương binh, cụt một tay, liệt một chân đã đậu bằng Kỹ Sư. Nhiều người đi làm thầy giáo sau khi học Sư Phạm (Teaching Credential). Rất nhiều nguời đang thành công về thương mại, làm chủ các cơ sở nhỏ. Số còn lại đang hưởng trợ cấp người cao niên, cũng như Bố Mẹ của anh, Chú Bác của anh vậy. Quyền lợi của họ được hưởng là quyền lợi chung của toàn thể dân chúng Mỹ, chưa kể đến món nợ mà chính phủ Mỹ còn thiếu của các chiến sĩ chúng tôi, khi nuốt lời cam kết khi xưa, để mặc chúng tôi chiến đấu đơn độc và thua trận chỉ vì người Mỹ bỏ cuộc. Chúng tôi không phải đồ "phế thải", anh Hồ Văn Xuân Nhi ạ. Có lẽ chỉ có cá nhân anh, cho dù có bằng cấp trên đất Mỹ, mới đích thực là một người "vô tài", "gần như phế thải", lao đao về "dóp" mãi, làm cho Việt Nam cũng bị đuổi, cuối cùng phải đem thân đi cầu cạnh người Cộng Sản, mong có chút bổng lộc dư thừa mà tiếp tục kiếp sống nhục nhã của một người bị cộng đồng tẩy chay một cách thê thảm.

b. - Thiếu trí tuệ: Chỉ có những kẻ thiếu trí tuệ mới dám tuyên bố những câu động chạm đến tư cách của người khác mà không sợ bị ném trứng thối hoặc bị thưa kiện. Anh đã mạ lị cả một tập thể H.O., khi viết: "Họ không có, không còn gì... Họ là những chiến sĩ không có gì trong đời sống ngoài lòng yêu nước chống Cộng." Tại sao anh lại nói "họ không có gì, không còn gì"? Họ có nhiều lắm chứ, còn nhiều lắm chứ! Họ có danh dự của một chiến sĩ, có tình thương yêu của cộng đồng, có cả một thế hệ tiếp nối. Họ còn cả một tương lai trước mặt, tương lai của những nguời yêu nước, mai sau, khi chế độ Cộng Sản xụp đổ rồi, họ về trong vinh quang. Còn anh, hãy nhìn lại mình, xem còn ai thương yêu, đùm bọc anh không? Bạn bè đã rời xa, họ hàng nín lặng, cộng đồng khinh bỉ. Anh có còn dám vác mặt tới chỗ sinh hoạt cộng đồng nào không? Còn góc phố nào yên bình cho anh ngồi tán dóc với mọi người không? Không, hoàn toàn không có! Anh đã mất hết cả rồi! Còn đâu tiếng nói của Hồ Văn Xuân Nhi quảng cáo cho hãng chuyển tiền nữa? Chỉ có mỗi một cơ quan cần anh quảng cáo, đó là văn phòng của Nguyễn minh Triết, nhưng một mai, khi họ thấy dùng anh chẳng có lợi gì, anh không kêu gọi được thêm ai vào phục vụ cho đảng nữa, thì họ sẽ đẩy anh ra luôn. Lúc đó, nhìn trước thì cửa đóng, nhìn lại sau lưng chỉ thấy những cục nước bọt, anh còn lại gì? Những hành động của anh thật vô tri thức và thiếu trí tuệ, anh Nhi ạ.

Image
Ảnh Hồ Văn Xuân Nhi.
Anh còn thiếu trí tuệ hơn nữa khi viết: "Tôi đi đi lại lại trên đất nước, từ Nam ra Bắc, đã đi hết 64 tỉnh thành của Việt Nam... tôi có thể ngồi với một người cộng sản, coi họ là bạn, nói chuyện với nhau rất thoải mái." Anh đã tự coi họ là bạn, mà đã được họ coi anh là bạn chưa? Hãy thử nói một câu đi ngược lại với chủ trương của họ xem? Hay chỉ phê bình một câu nhè nhẹ như: "Bạn Cộng Sản ơi! Bạn tham nhũng vừa vừa chứ? Làm sao bạn có thể chi tiêu cả vài trăm đô cho một bữa ăn sang như thế, trong khi người lao động làm hộc máu ra cũng chỉ có 1 đô la một ngày?" Thử thôi, xem người mà anh coi là bạn kia có móc còng số 8 ra mà bập vào tay anh không? Vậy, tôi chắc rằng những câu mà anh đem ra làm quà cho nguời bạn ấy chỉ là những câu đại loại như: "Đất nước mình giầu đẹp quá, anh nhỉ! Công lao của Đảng thật như Trời, như Biển! Đúng như một nhà văn đã ví, Hồ chủ Tịch thật là Thánh nhân, như Vua Nghiêu, Vua Thuấn vậy!"

Thế thì, thưa anh, với một con người có chút bằng cấp mà không thấy ngượng miệng khi phải nói lên những điều mà người ta gọi là "nâng bi, đội đĩa" như thế để kiếm chút cháo, thì phải nói thật là thiếu trí tuệ vô cùng.

Trong bài viết, anh lại còn cho là cộng đồng hồ đồ khi đổ thừa anh là cộng sản. Anh khẳng định anh không phải là cộng sản. Thật ra, cộng đồng có bao giờ nói anh là cộng sản đâu, mà chỉ cho anh là "tay sai" cộng sản, hay nói nôm nà là "đầy tớ" của cộng sản mà thôi. Với những người thật sự là cộng sản, thì cộng đồng đôi khi lại có lòng mến như đối với người cộng sản Trần Độ, Hoàng Minh Chính, Trần Dũng Tiến, Trần Anh Kim, còn những tên tay sai cộng sản, những tên đón gió trở cờ, cơ hội chủ nghĩa thì ai cũng khinh bỉ. Ngay cả những nguời Cộng Sản cho anh cơ hội (tôi không muốn "hồ đồ" khi nói là Cộng Sản cho anh tiền, vì không có bằng chứng) cũng khinh bỉ anh. Thói đời là thế. Tào Tháo ngày xưa, đã cho chặt đầu Lữ Bố mặc dầu tay này tài nghệ vô song, chỉ vì Tào Tháo vừa khinh bỉ, vừa không muốn dùng một tên phản tặc.

Điều hồ đồ, vô ý thức, thiếu trí tuệ cuối cùng: Anh cho là toàn bộ những người biểu tình là những ông già, bà lão, những H.O gần đất xa trời. Anh sai lầm quá, anh Nhi ạ! Hãy đếm bao nhiêu tuổi trẻ tham dự, hãy nghe bao nhiêu giọng trẻ phát biểu, hãy hỏi từng người xem bao nhiêu là "đồ phế thải" của chế độ cũ và bao nhiêu người chưa hề có tham gia vào chế độ miền Nam, để thấy mình đã lão hóa quá rồi, có lẽ sắp bị bệnh lãng trí rồi chăng?

Thưa anh Hồ Văn Xuân Nhi,

Thật tiếc cho anh, chỉ vì "vô dụng, vô tài, gần như phế thải" mà anh phải cam tâm chịu nhục khi đi làm "tay sai cho cộng sản." Trước đây, anh đã từng sinh hoạt trong cộng đồng, cũng đến chào cờ Quốc Gia, và đôi khi phát biểu hùng hồn, nay chỉ vì một chút lợi lộc (có thể cũng chưa được gì, chỉ toàn lời hứa xuông), mà rồi thân tàn, ma dại. Phải chi anh có chút tri thức, biết nhìn lại toàn cảnh của thế giới, của Việt Nam, của cộng đồng hải ngoại và tại đất nước thân yêu của mình mà tìm cho mình một thế đứng vững chắc, mai mốt có nằm nhà dưỡng lão, cũng còn ngưới tới thăm? Phải chi anh nhìn ra lỗi lầm của mình mà xin lỗi cộng đồng, thì cộng đồng cũng chả hẹp lượng gì mà mở vòng tay thân ái với anh? Nếu anh cứ tiếp tục mạ lị cộng đồng, bôi lọ anh chị em H.O. một cách vô ý thức, thì rồi cũng chỉ như con giun quẫy lộn lung tung trước khi chết, thì tiếc cho anh lắm, Hồ Văn Xuân Nhi ạ.

CHU TẤT TIẾN

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Sinh nhật của một
cái máy giết người, AK47


· Của Simone Schlindwein (Spiegel Online, 07-07-07)
Chưa có một khẩu súng nào được quảng bá rộng rãi như AK47, một loại súng đã giết rất nhiều người và được biết đến dưới cái tên của cha đẻ nó ra là ông Michail Kalaschnikow. Khẩu súng AK47 mẫu đầu tiên đã được chế tạo trước đây 60 năm và đã được vinh danh như là một “mỹ lệ” (pompoes) tại thành phố Moskau.

“Nếu không có người Đức, chắc tôi không bao giờ trở thành người thiết kế vũ khí”, ông Michail Timofejewitsch Kalaschnikow (MK) nói. Ông M.K là người phát minh ra “một sản phẩm xuất khẩu” được bán nhiều nhất của Liên Bang Xô Viết và Nga sô (Sowjetunion và Russland). MK, 87 tuổi được chú ý nhiều nhất trong khi lễ mừng sinh nhật lớn đánh dấu 60 năm của khẩu súng tiểu liên được tổ chức tại Moskau.

Nga vinh danh khẩu AK47, tên gọi ngắn gọn bằng Nga ngữ của ”Awtomat Kalaschnikowa obrasza 1947”, có nghĩa đơn giản như: “Kiểu mẫu cây súng tự động của Kalaschnikow, được phát minh năm 1947”. MK hãnh diện trao cho viện bảo tàng của lực lượng vũ trang Nga khẩu AK47 (Prototype!) đầu tiên để làm vật triễn lãm. Đây là một việc làm suốt cả đời (Lebenswerk = Life's work) của Kalschnikow!

Tuy nhiên cung cách của ông già chế tạo ra cây súng AK47 chỉ mang tích chất quảng cáo (PR), được tổ chức bởi hãng chế tạo vũ khí xuất khẩu lớn nhất hiện nay của nước Nga, Rosoboronexport. Ông Kalaschnikow chỉ là con búp bê được chưng bày trong tủ kính để cho quan khách chiêm ngưỡng mặc dầu chính ông không thích đứng giữa đám đông, trước công chúng. Hãng xuất khẩu vũ khí của nhà nước nói trên có liên quan mật thiết với cơ quan tình báo quốc tế Nga SWR, hậu thân của KGB. Ngoài ra, đương kim xếp của hãng Rosoboronexport, Sergej Tschemesow từng là bạn đồng nghiệp của Tổng Thống Wladimir Putin trong ngành tình báo trước đây vào thập niên 80, khi họ còn làm việc tại DDR (Đông Đức cũ).

· Chưa có khẩu súng nào giết chết nhiều người như AK47 !

Đây là chuyện lịch sử mang tính chất phóng đại (superlativ) được phô bày nhân ngày kỷ niệm sinh nhật 60 năm phát minh khẩu súng AK47. Không một lời nhắc đến rằng “Kalschnikow” và những kiểu súng sau đó là loại vũ khí được sử dụng nhiều nhất trên thế giới và với nó, có rất nhiều nạn nhân đã bị giết chết, còn nhiều hơn so với vũ khí hạnh nhân (A-bomb)!

Trong hầu hết các cuộc chiến trên thế giới kể từ thập niên 50 trở đi người ta đã sử dụng loại súng AK47: tại Đai Hàn, Việt Nam, A phú Hãn, Congo, Mozambique, Sierra Lione, tại vùng Balkan (the balkans). Danh sách những người bị giết chết còn dài vô tận … Ngay cả tại ranh giới giữa DDR (cộng sản Đông Đức) và Tây Đức trước đây công an biên phòng DDR cũng đã dùng loại vũ khí này bắn chết những người Đông Đức tìm cách vượt bức tường ô nhục Bá Linh, đi tìm TỰ DO !

Khi người ta hỏi đến “lương tâm” của Michail Kalaschninow, ông ta trả lời: “Tôi (MK) chỉ bảo vệ quê hương của tôi. Tôi là một người yêu nước (patriot)!”. Và ngay cả những người lính Nga đồng hành, những người tham gia lễ sinh nhật 60 năm súng AK47 cũng nghĩ như vậy. Với họ: “Dĩ nhiên, Kalaschninow là một vị anh hùng của chúng tôi”.

Văn phòng quảng cáo của hãng xuất khẩu vũ khí Rosoboronexport đã đưa nhân vật Kalaschnikow ra nhằm mục đích gây sự chú ý từ các nhà báo và giới truyền thông quốc tế. Trước hết, họ cho chạy cuốn phim quảng cáo dài 20 phút, chiếu cảnh sản xuất, rèn đúc vũ khí tại Ural. Và sau khi đại diện hãng tuyên dương công trạng, việc làm anh hùng đối với xứ sở của Kalaschnikow xong thì ông Kalaschnikow, tay run run và với giọng khàn khàn, tiếng còn tiếng mất mới được phép nói về “tác phẩm” của chính mình …

· Tôi phải giúp bạn bè của tôi bên ngoài kia!

Ông Kalaschnikow nói: “Người Đức đã đóng một vai trò rất quan trọng trong đời sống của ông ta!”. Trước hết, cuộc xâm lăng Liên Bang Xô Viết của Đức đã ngăn cản không cho ông ta theo học kỷ sư ở đại học. Và rồi trong cuộc chiến, ông ta trở thành người chỉ huy xe thiết giáp, sau bị trúng bôm của Đức và bị thương nặng.

Thình lình, Kalaschnikow xúc động giải thích: “Đức đã có súng tự động lúc bây giờ, năm1941!”. Ngay tại bệnh viện ông ta đã quyết định sáng chế vũ khí. Với nhiều khó khăn, ông ta tìm kiếm vật liệu và dụng cụ với ý nghĩ đơn sơ là: “Tôi phải giúp bạn bè của tôi bên ngoài kia”.

Và Kalaschnikow bắt đầu vào việc tìm cách chế tạo khẩu súng tiểu liên đầu tiên cho Nga. Năm 1944, ông ta gởi đề nghị của mình đến học viện đặc trách về chiến tranh của nước Nga có trụ sở tại Moskau. Ba ngày sau ông ta nhận được hồi âm. Với nụ cười tự mãn trên môi, Kalaschnikow nói, trong bức thư nhận được người ta cho biết là khẩu súng của tôi là khẩu súng đẹp nhất, mặc dầu tôi không thể nào tìm ra được một viên đạn để thử xem súng của mình có bắn được ?

· Có khoảng 100 triệu AK47 trên toàn thế giới …

Sau chiến tranh, Kalaschnikow nhanh chóng trở thành một người lãnh đạo thiết kế vũ khí và ông ta đã nhận lãnh được hai anh dũng bội tinh của Liên Bang Xô Viết mà ông có đeo trong ngày lễ kỷ niệm 6o năm. Ngoài ra ông cũng được ban khen bội tinh Lenin và được giải Stalin là những tuyên dương công trạng cao cấp nhất của Liên Xô thời bấy giờ. Tại văn phòng thiết kế của ông ta ở Ural có nhiều lao công của Đức bị áp chế làm việc khi mà súng AK47 được chính thức sản xuất vào năm 1947. Cho đến ngày nay, súng tiểu liên AK47 vẫn còn sản xuất tại Ural cũng như tại thành phố Ischewsk và từ đây, AK47 chinh phục cả thế giới …

Người ta ước đoán rằng cho đến bây giờ có khoảng 100 triệu khẩu súng AK47 đang được sử dụng trên toàn cầu, đa số từ Liên Xô và về sau là sản phẩm của Nga. Một vài quốc gia trong khối Warschauer Pakt (Warsaw pact) mua lại bản quyền và được phép chế tạo loại vũ khí này. Gần 60 quân đội (armies) trang bị cho lính súng AK47 và có thể nói, đây là thứ vũ khí được quảng bá nhiều nhất trên thế giới…

Trước sau, Klaschnikow vẫn là biểu tượng cho lòng ái quốc tại Nga, cho dù đâu đó vẫn còn nội chiến, cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc hay khủng bố. Sức đề kháng cao của AK47 khi gặp trời mưa, bùn lầy, cát hay tuyết làm tăng thêm giá trị và sự yêu chuộng từ các phong trào phiến loạn (Rebellenbewegungen) dành cho loại vũ khí này, lý do đơn giản vì AK47 rẻ tiền và không bị hư hại. Ngay tại xứ Congo, hiện tại người ta còn đem bán lậu những khẩu AK47 cũ, có từ thời 1950. Những cậu lính trẻ con được trang bị AK47, thường thì không lớn hơn và cũng không nhiều tuổi hơn khẩu súng nhưng họ đã hãnh diện vì được mang khẩu tiểu liên AK47 trên vai !

· Prestigeobjekt (prestige object) cho quân khủng bố…

Ngay cả quân khủng bố cũng muốn trang bị loại súng “Kalaschnikow”. Từ Hamas, loạn quân tại I-Rắc hay Osama Bin Laden: “Kalaschnikow belongs to the motive for standard of martialischer pictures”. AK47 là vũ khí duy nhất được nhận làm biểu tượng quốc gia (Staatsembleme = State emblems)”, được thấy tại các nước như Mozambique, Ostimor và Zimbabwe. Ngay cả “Libanese Hisbollah” cũng sử dụng làm huy hiệu (coat of arms).

AK47, xưa kia được chế tạo để bảo vệ Liên bang Xô Viết, nhưng 60 năm sau đã được sử dụng trong hầu hết các cuộc chiến và đặc biệt, không là cuộc chiến giữa các quốc gia với nhau hay trong các cuộc chiến đã xảy ra theo “những qui tắc quốc tế” (international rules) trước đây.

Bản nghiên cứu của Federation of American Scientists cho biết, hiệp ước của Uno (Uno-Konvention) có thể tạo nên bước tiến quan trọng trên phương diện không cho phép quảng bá những loại vũ khí cá nhân (Hand-held weapons = Handfeuerwaffen) hầu từ đó có thề ngăn chận các tổ chức khủng bố quốc tế bổ sung thêm súng ống. Tuy nhiên điều oái ăm trên lãnh vực này là hai cường quốc đang dẫn đầu chiến dịch chống khủng bố: Mỹ và Nga lại ngăn đường, cản lối ….

· Lê Ngọc Châu phóng dịch
(Munich, 07.07.2007)

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

Nguyễn Ngọc Huy:
Một chính trị gia có tính thực tiễn


Lê Quế Lâm
Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy lúc sinh thời và khi mất đi, đã được người đời ca tụng là “người quốc sĩ, nhà trí thức uyên bác, danh nhân thời đại, Gandhi Việt Nam, vị lương sư khả kính, nhà biên khảo công phu, nhà thơ đầy ấp tình yêu nước, chính trị gia lỗi lạc, nhà vận động đầy thuyết phục, diễn giã hùng biện, nhà tranh đấu bất chấp hiểm nguy và sau hết là một chiến sĩ can trường đã chiến đấu cho đến hơi thở cuối cùng”. Nay nhân ngày giỗ lần thứ 17 của ông, tôi xin nói thêm: Giáo sư còn là một người làm chính trị có tính thực tiễn, mà hình như chưa có người lãnh đạo nào của đất nước có được đức tính này. Ông nhạy cảm với tình thế và biết cách hành sử thích hợp để thực hiện hoài bão đối với quốc gia dân tộc.

Năm 1967, khi thụ ủy liên danh Bông Lúa ứng cử vào Thượng nghị viện. Ông Hà Thượng Nhân, chủ nhiệm báo Tiền Tuyến đã hỏi ông “Nếu chúng tôi không lầm thì trước đây anh là một nhân vật chủ chốt của Đại Việt. Anh có thể cho biết tại sao bây giờ anh trở thành TTK Phong trào QGCT hay không? Ông trả lời “Vâng anh nói đúng. Tôi vốn là người của Đại Việt. Ngày trước cũng như bây giờ. Nhưng cuộc đời thường ấm lạnh, nên con người muốn sống còn phải ăn ở cho đúng thời tiết. Danh xưng thì cũng như cái áo mặc bên ngoài. Cốt là sự sống bên trong. Tôi thì dù áo mặc như thế nào chăng nữa, vẫn là người Đại Việt. (Lô Răng, Hạc vàng bay mất, Gs Nguyễn Ngọc Huy –Nhà chí sĩ thời đại, Tr. 228)

Chủ nghĩa Dân tộc sinh tồn: Năm 1945 ông gia nhập Đại Việt Quốc Dân Đảng do nhà cách mạng Trương Tử Anh sáng lập. Chủ nghĩa dân tộc sinh tồn là nền tảng của đảng Đại Việt được đảng trưởng TTA phác họa từ những năm 1930, có lẽ không ngoài mục đích vì một nước Đại Việt hùng mạnh. Theo các đảng viên ĐV kỳ cựu, lý thuyết Dân tộc sinh tồn đượm màu sắc chủ nghĩa quốc gia hẹp hòi, một chủ thuyết dân tộc cực đoan. Lý tưởng này đã được các nước Đức Ý Nhật Nga thực hiện với chủ nghĩa Quốc xã Đức, Phát xít Ý, Quân phiệt Nhật và CS Nga. Theo đó, một dân tộc muốn hùng mạnh và phát triển cần có một lãnh tụ đầy đủ quyền uy, người dân phải ghép mình vào khuôn khổ kỷ luật với một thể chế độc tài. Hitler đưa ra thuyết “siêu nhơn”, theo đó những công trình vĩ đại, những hành vi anh dũng đều là công trạng của những cá nhân chớ không phải của quần chúng. Họ phủ nhận nhân cách con người, hủy diệt tự do cá nhân. Lãnh tụ được tôn sùng như thần thánh, con người lệ thuộc và phục vụ quốc gia một cách tuyệt đối theo ý muốn của lãnh tụ. Tinh thần của các chủ nghĩa trên có thể tóm lại trong câu “duy quốc độc tôn”, lấy quốc gia làm cứu cánh cho mọi hành động của con người.

Năm 1939, Hitler sát nhập Áo vào Đức, thôn tính Tiệp Khắc…Còn Nhật đánh sụm ách thống trị thực dân trên toàn cỏi Á đông để thực hiện chiêu bài Thịnh vượng chung Đại Đông Á. Riêng Stalin và Mao Trạch Đông dựa vào khẩu hiện của Marx “Vô sản các nước đoàn kết lại” còn có tham vọng mở rộng chủ nghĩa Đại Nga, Đại Hán thành thế giới đại đồng. Ý định này được lãnh tụ CSVN ông Hồ Chí Minh tán đồng qua câu thơ khi ông đến thăm đền Trần Hưng Đạo ở Vạn Kiếp: “Bác đưa một nước qua nô lệ. Tôi dắt năm châu đến đại đồng”.

Các chủ nghĩa trên của Đức, Ý, Nhật đã bị phá sản hoàn toàn khi Thế chiến II chấm dứt. Với kế hoạch Marshall, HK đã chi một số tiền khổng lồ để phục hồi kinh tế Tây Âu kể cả nước bại trận. Mục tiêu của HK là thực thi dân chủ, điểm này phải gắn liền với việc phát triển kinh tế, kiến tạo những điều kiện xã hội và chính trị giúp các nước tự do tồn tại và duy trì hòa bình thế giới. Nhờ đó, chỉ trong vòng hai thập niên, Đức Ý Nhật đã trở thành những quốc gia tự do dân chủ với nền kinh tế phát triển, ngang hàng với các nước từng đánh bại họ, họp thành khối bát cường tức các nước có nền kinh tế hùng mạnh nhất thế giới. Trong khi đó, Liên Xô và các nước Đông Âu khước từ sự giúp đỡ của HK, họ hình thành hệ thống XHCN thế giới kình chống với TGTD trong chiến tranh lạnh, kéo dài gần nửa thế kỷ. Cuối cùng chế độ độc tài này cũng phải sụp đổ theo vết xe lịch sử.

Sau khi Gorbachev tuyên bố đặt Đảng CS Liên Xô ra ngoài vòng pháp luật và từ chức Tổng Bí thư đảng, tổng thống Cộng Hòa Nga Yelsin tuyên bố với đài ABC trực tiếp từ Hoa Kỳ: “Chủ nghĩa Cộng sản là một thảm kịch cho dân tộc chúng tôi. Kinh nghiệm lịch sử cho phép chúng tôi kết luận một cách quả quyết rằng mô thức xã hội chủ nghĩa đã thất bại”. Không may cho dân tộc, VN lại là địa bàn chính của cuộc xung đột này.

Từ chủ nghĩa Dân tộc sinh tồn đến chủ nghĩa Quốc gia khoa học.

Năm 1945, cuộc đấu tranh giành độc lập cho đất nước diễn ra trong bối cảnh vô cùng thuận lợi khi Thế chiến II vừa chấm dứt. Trong chiến tranh, TT Hoa Kỳ Roosevelt luôn khuyến cáo hai đồng minh Anh Pháp phải thay đổi chính sách thuộc địa, vì đó là mầm móng của chiến tranh và là nhược điểm của các nước Tây Phương. Do đó, Anh Pháp quyết định, sau khi thu hồi các thuộc địa, họ sẽ thương lượng với những người bản xứ và trao trả độc lập cho các thuộc địa để duy trì ảnh hưởng của mình như là hai trụ cột trong 5 thành viên thường trực Hội đồng Bào An LHQ. De Gaulle đưa ra Tuyên ngôn 24/3/1945 hứa sẽ cho các nước Đông Dương được tự trị trong khối Liên hiệp Pháp. Trong thời Pháp thuộc, VN chia làm ba phần: Nam Kỳ là đất thuộc địa, Trung Kỳ là đất tự trị và Bắc Kỳ là đất bảo hộ. Khi TC II chấm dứt, Pháp không có thực lực ở Đông Dương nên Đồng minh giao cho Trung Hoa vào giải giới quân Nhật ở Bắc vĩ tuyến 16, còn phần đất phía Nam do quân Anh tạm phụ trách.

Ngày 6/9/1945 lực lượng hoàng gia Anh do tướng Gracey cầm đầu đến Sàigòn. Đến nơi ông ta thảo luận ngay vấn đề Nam Bộ với Ủy viên Cộng hòa Pháp Cedile và đại diện Việt Minh Phạm ngọc Thạch. Ông yêu cầu VM giải giới lực lượng dân quân cách mạng, giao cho Nhật trách nhiệm ổn định trật tự, duy trì an ninh để hai bên Việt Pháp đàm phán.

Các đảng phái Quốc gia phản đối VM thông đồng với giặc Pháp phản bội quyền lợi dân tộc. Cuộc đàm phán Pháp Việt bất thành vì lập trường hai bên trái nghịch nhau. Phía VM đòi Pháp nhìn nhận độc lập, còn Pháp thì chủ trương tái lập trật tự, lưu lại chủ quyền của Pháp rồi mở cuộc trưng cầu dân ý xác định chủ quyền Nam Bộ, sau đó sẽ thành lập Liên bang ĐD như tuyên ngôn 24/3. Ngày 21/9/45 Cedile ra lịnh tấn công tái chiếm các công sở và khám lớn Sàigòn. Đêm hôm sau, VM rút khỏi Sàigòn, ra lịnh đồng bào tản cư với lời đe dọa “ai còn ở lại Sàigòn là Việt gian sẽ bị bắt và trừng trị”. Trên đường dân chúng tản cư, VM sát hại khá nhiều những phần tử đối lập. Chiến tranh Việt Pháp thực sự bùng nổ tại Nam bộ.

Tại Bắc bộ, giữa tháng 9/1945, 18 vạn quân Trung Hoa do Lư Hán và Tiêu Văn lãnh đạo vào giải giới Nhật. Lúc bấy giờ có hai lực lượng Cách mạng VN được TH ủng hộ là Việt Nam Cách mạng Đồng minh hội (Việt Cách) và Việt Nam Quốc Dân Đảng (Việt Quốc). Hai lực lượng này tiến vào miền Bắc chậm mất 21 ngày, khi VM tạm thời đặt xong hệ thống chánh quyền các cấp. Trước sự việc đã rồi, Tiêu Văn đề nghị HCM cải tổ chánh phủ lâm thời, dành nhiều bộ và chức vụ cho Việt Cách và Việt Quốc. Ngày 19/11/45, Việt Minh, Việt Cách và Việt Quốc đồng ý chấm dứt xung đột thành lập chánh phủ liên hiệp quốc gia, thống nhất quân đội, tổ chức tổng tuyển cử bầu Quốc hội. Ngày 2/3//1946 Quốc hội khai mạc gồm 300 đại biểu VM, 50 đại biểu VQ và 20 đại biểu VC, chánh phủ liên hiệp ra đời.

Trong lúc đó, tại trụ sở LHQ, Pháp và Trung Hoa thỏa thuận một số trao đổi quyền lợi đưa đến Hiệp ước Pháp Hoa được ký ngày 28/2/1946. Theo hiệp ước này, Pháp trả lại TH các nhượng địa mà triều đình Mãn Thanh giao cho Pháp hồi thế kỷ trước. Để đổi lại, quân Pháp sẽ thay quân Trung hoa ở Bắc vĩ tuyến 16. Đầu tháng 3/1946, Sainteny đại diện chánh phủ Pháp đến Hànội thảo luận với Chính phủ VNDCCH về việc thay quân TH và tương lai chính trị VN.

Các lãnh tụ Việt Quốc và Việt Cách kịch liệt phản đối Việt Minh đàm phán với Pháp, họ đòi “thắng hay là chết, chớ nhất định không điều đình”. Cuối cùng, ông HCM ký Hiệp ước Sơ bộ 6/3, Pháp công nhận nước VNDCCH là một nước tự do có chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chánh riêng và là một thành phần của Liên bang ĐD thuộc khối LHP. Riêng Nam bộ tạm thời do Pháp quản lý để chờ trưng cầu ý dân. Pháp hứa sẽ thừa nhận những quyết định của cuộc trưng cầu dân ý này. Cuộc đàm phán sau đó cũng bất thành. Đến cuối năm 1946, HCM ra lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến, chấm dứt hoàn toàn mọi nổ lực nhằm giải quyết vấn đề VN bằng thương thuyết hòa bình.

Nỗi bất hạnh bắt đầu đổ lên đầu dân tộc, khởi đầu 30 năm chiến tranh, phát xuất từ sự mất đoàn kết vì mối bất đồng về đường lối đấu tranh giành độc lập. HCM giành được chánh quyền và đứng ra thương thuyết với Pháp là phù hợp với chủ trương của Đồng minh. Trong khi các lãnh tụ phe Quốc gia với lập trường cứng rắn “thắng hay chết, chớ nhất định không điều đình”, lên án VM phản bội dân tộc. Ông Hồ khôn ngoan khi thương thuyết với Pháp, ông dựa vào lập trường cứng rắn của phe Quốc gia, đòi Pháp phải thừa nhận VN độc lập và thống nhất đất nước ngay, nhằm chứng tỏ ông không phải là người phản bội dân tộc. Pháp chưa thể đáp ứng tức khắc đòi hỏi của VN, HCM liền phát động chiến tranh.

Lòng yêu nước cuồng nhiệt của phe Quốc gia đã giúp HCM thực hiện con đường của QTCS: giương ngọn cờ chống thực dân đế quốc, phát động phong trào giải phóng dân tộc sau Thế chiến II. Phe QG trở thành kẻ tử thù của CS, mối hận thù Quốc Cộng ngày càng phát triển trong suốt 60 năm qua. Rất nhiều người Quốc gia và nhóm Đệ tứ tranh đấu đã bị CS sát hại ngay trong những năm đầu kháng chiến

Trước khi chánh phủ liên hiệp tan vỡ, chiến tranh Việt Pháp bùng nổ, một số lãnh tụ phe Quốc gia chạy sang Hồng Kông, thành lập Mặt trận Quốc gia. Họ ủng hộ cựu hoàng Bảo Đại và khuyên ông ta lãnh đạo cuộc đấu tranh giành độc lập thông qua con đường thương lượng với Pháp. Hai năm sau, Hiệp ước Elysée ra đời (8/3/1949). Pháp chính thức nhìn nhận VN là một quốc gia độc lập thống nhất thuộc khối LHP, có chủ quyền ngoại giao và nội trị, có quân đội và tư pháp riêng. Tuy nhiên chủ quyền thực sự vẫn còn nhiều hạn chế vì tình trạng chiến tranh với VM. Ngày 24/4/1949 Hội đồng Đại biểu Nam Kỳ bỏ phiếu chấp nhận sáp nhập Nam Kỳ vào Quốc gia VN. Quyết nghị được Quốc hội Pháp thông qua. Quốc gia VN chính thức ra đời ngày 1/7/1949.

Sáu tháng sau, Mao Trạch Đông chiến thắng Hoa Lục và công nhận nước VNDCCH, tiếp theo là Liên Xô và các nước CS Đông Âu. Tháng Hai 1951, chính cương của Đảng Lao động VN được Đại hội toàn quốc của đảng lần thứ II thông qua xác nhận “Việt Nam là tiền đồn phe Xã hội chủ nghĩa ở Đông Nam Á”. Đầu tháng Hai 1950, HK và các nước Tây phương công nhận Quốc gia VN. Khi đắc cử tổng thống, Eisenhower tuyên bố chiến tranh ĐD không còn là chiến tranh thuộc địa mà là “chiến tranh giữa QTCS và TGTD”.

Đất nước đã chính thức trở thành nơi đọ sức của hai hệ thống chánh trị xã hội đối lập hình thành sau TC II. Cuộc chiến có nguy cơ bùng nổ lớn khiến các cường quốc quyết định chia cắt VN, hồi tháng 7/1954 tại Genève, để bảo vệ hòa bình thế giới.

Sau HĐ Genève 1954, tình thế Miền Nam vô cùng thuận lợi: đất nước hòa bình và độc lập hoàn toàn. Tháng 11/1956, Mao Trạch Đông nói với giới lãnh đạo CSVN: “Tình trạng nước VN bị chia cắt không thể giải quyết được trong một thời gian ngắn mà cần phải trường kỳ…Nếu 10 năm chưa được thì phải 100 năm”. Tháng 7/1957, Mao còn nói thêm: “Vấn đề là phải giữ biên giới hiện có. Phải giữ vĩ tuyến 17…Thời gian có lẽ dài đấy. Tôi mong thời gian dài thì sẽ tốt”. Còn LX, vì quyền lợi quốc gia, từ 1956 Khrushchev chủ trương hòa hoãn với Mỹ qua chiêu bài chung sống hòa bình. LX không những từ chối lời yêu cầu của Hànội đòi phải tổ chức tổng tuyển cử, mà còn đề nghị thu nhận cả hai miền Nam Bắc vào LHQ với lý do: ở VN có hai chánh quyền riêng biệt tồn tại. Riêng HK, họ coi MNVN như là thí điểm của sự phồn thịnh và dân chủ ở Á châu. Từ 1955, HK bắt đầu viện trợ kinh tế, giáo dục và kỹ thuật nhằm tạo sự phồn thịnh cho NVN, giúp phần đất này có điều kiện đi vào con đường không cộng sản với một chánh quyền có khả năng phát triển đất nước theo chiều hướng tự do.

Được ưu thế về thiên thời và địa lợi, nhưng MN lại thiếu yếu tố nhân hòa vì ông Diệm không hiểu rõ tình thế đặc biệt của đất nước để chiêu hiền đãi sĩ. Lực lượng vũ trang Cao Đài, Hòa Hảo và Bình Xuyên là các đoàn thể yêu nước nổi lên trong thời kháng chiến chống Pháp. Họ từng hợp tác với VM và bị CS chèn ép tiêu diệt, nên khi QGVN ra đời, một số ra hợp tác có điều kiện với chánh quyền quốc gia. Một số khác vừa chống Pháp nhưng đôi khi hợp tác giai đoạn và nhận vũ khí của Pháp để chống VM. Ngoài ra còn có một đại bộ phận nhân dân đã tham gia kháng chiến vì lòng yêu nước. Chiến tranh chấm dứt, trên 80 ngàn cán bộ VM tập kết ra Bắc. Người ra đi cũng như người thân ở lại, đều hi vọng ngày đoàn tụ, sau cuộc tổng tuyển cử thống nhất đất nước dự trù tổ chức năm 1956. Vì thế họ tham gia các phong trào đòi hòa bình, đòi hiệp thương tổng tuyển cử, đó là tình cảm chân thành. Nhưng ông Diệm coi những ai từng theo VM, những ai tham gia các phong trào đòi hòa bình, đòi hiệp thương tổng tuyển cử đều là CS hoặc tay sai CS, phải bị trừng phạt.

Trong thời gian ngắn, ông Diệm đã biến MN từ một vùng đất hỗn loạn về chánh trị, trở thành một quốc gia có chủ quyền được trên 50 quốc gia trên thế giới thừa nhận và đặt quan hệ ngoại giao. Đó là thành tựu đáng kể, nhưng ông không tranh thủ lòng dân, tạo thế nhân hòa. Thiếu điều kiện này, MN không thể ổn định để phát triển đất nước vững mạnh, hầu tồn tại lâu dài như hai nước đồng cảnh ngộ là Tây Đức và Nam Hàn. Trái lại, còn đào sâu thêm mối hận thù, giúp CS khuấy động gây ra chiến tranh.

Để phát động cuộc chiến tranh mới, ông HCM lại lợi dụng nhiệt tình yêu nước của nhân dân, nêu ra nghĩa vụ dân tộc, giải phóng miền Nam thoát khỏi ách thực dân mới của HK. Người nông dân với bản chất yêu nước nên họ có cảm tình với MTGP. Họ cho rằng mặt trận là một phong trào yêu nước, lãnh đạo cuộc chiến đấu giành độc lập chớ không nghĩ rằng đó là một tổ chức do CS dựng lên để thôn tính MN. Cương lĩnh MT không hề tuyên truyền cho CNCS, chỉ hô hào đấu tranh giải phóng dân tộc, lật đổ chế độ tay sai của Mỹ, thành lập chánh quyền dân chủ độc lập và trung lập ở MN.

Nhóm Caravelle gồm 18 nhân sĩ tiến bộ đã ý thức được hiểm họa này. Tháng 4/1960 họ đã gởi bản tuyên ngôn kêu gọi TT Diệm “gấp rút thay đổi chính sách để cứu vãn tình thế, bảo vệ chế độ cộng hòa và sự sống còn của quốc gia”. Đại sứ Mỹ Durbrow cũng bắt đầu áp lực TT Diệm cải tổ chính sách và chế độ. Diệm cho rằng Durbrow đã vượt quá quyền hạn một đại sứ, muốn trở thành cố vấn tối cao của chính phủ nên ông không muốn tiếp xúc và thảo luận với y nữa. Mối giao tiếp hai bên càng căng thẳng từ sau cuộc đảo chính của đại tá Nguyễn Chánh Thi, mà ông Diệm đoan quyết là do HK chủ xướng. Diệm bắt đầu trấn áp những người bất đồng chính kiến với ông. Ông Diệm càng độc tài, CS càng lớn mạnh, áp lực của Mỹ càng gia tăng, cuối cùng là cuộc đảo chánh 1/11/1963.

Ba tháng sau, một số sĩ quan cấp tá thuộc đảng Đại Việt tổ chức chỉnh lý để đưa Lãnh tụ Đại Việt là Bs Nguyễn Tôn Hoàn từ Pháp về làm thủ tướng… Nhưng tướng Nguyễn Khánh lợi dụng cơ hội dành chức thủ tướng, Bs Hoàn -Phó thủ tướng đặc trách bình định, Bs Phan Huy Quát (Đại Việt miền Bắc) và ông Hà Thúc Ký (Đại Việt miền Trung) làm tổng trưởng Ngoại giao và Nội vụ. Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy sau khi tốt nghiệp Tiến sĩ Chính trị học tại Paris, trở về nước tham chính với chức vụ Đổng lý văn phòng Phó Thủ tướng đặc trách bình định. Bất mãn thái độ võ biền của Nguyễn Khánh, ông Hà Thúc Ký muốn đảo chánh lật đổ Khánh… Nhưng Bs Nguyễn Tôn Hoàn và Gs Nguyễn Ngọc Huy lại thấy rằng đảng Đại Việt chưa đủ thực lực để chi phối chính trường nên cần phải tạm thời hợp tác với tướng Khánh, nắm lấy cơ quan “bình định nông thôn” để phát triển đảng viên, bành trướng thế lực, tiêu diệt hạ tầng cơ sở Việt Cộng trước đã, rồi sẽ nắm lấy chánh quyền qua một cuộc bầu cử cho danh chánh ngôn thuận. Vì quan điểm và chủ trương dị biệt, ông Hà Thúc Ký tách rời khỏi đảng, thành lập đảng mới lấy tên là Đại Việt Cách mạng, còn nhóm Nguyễn Tôn Hoàn và Nguyễn Ngọc Huy cải tổ đảng và đổi tên là Tân Đại Việt. (Đỗ Mậu, Máu lửa Quê hương tôi, 1987, Tr.839-40)

Chủ nghĩa Quốc Gia khoa học và Phong trào Quốc gia Cấp tiến:

Nhìn lại giai đoạn lịch sử 1945-1964, đất nước chiến tranh rồi chia cắt, nhân tâm ly tán, đồng bào lầm than chỉ vì sự xung khắc của những khuynh hướng đều vì mục tiêu quốc gia dân tộc… Nhưng lại mù quáng độc đoán, cực đoan, hẹp hòi. Do đó khi về nước tham chính, Gs Nguyễn Ngọc Huy cố khai triển thuyết dân tộc sinh tồn của đảng trưởng Trương Tử Anh thành chủ nghĩa quốc-gia khoa học để xây dựng một nước Đại Việt hùng mạnh. Theo giáo sư, sự sinh tồn của mỗi cá nhân cũng như của tập thể dân tộc phải tùy thuộc vào qui luật phát triển, phù họp với xu thế chung và đặc trưng của dân tộc, chớ không thể cưỡng ép sự sinh tồn bằng ý muốn cá nhân của người lãnh đạo. Nó phải xuất phát từ lòng dân, ý nguyện của dân, khởi xướng từ dân lên chớ không phải từ lãnh tụ xuống. Không thể xem quốc gia như là một thực thể thiêng liêng mà con người phải phụng sự một cách mù quáng. Trái lại quốc gia là một tổ chức đặt ra để giúp sự sinh tồn của con người. Nếu con người phải phụng sự quốc gia, đặt quyền lợi quốc gia lên trên hết thì đó là vì quyền lợi quốc gia là quyền lợi của tất cả mọi người. Thuyết dân tộc sinh tồn đòi hỏi sự đoàn kết hợp tác và khoan dung giữa các lực lượng kết thành dân tộc. Mối giao tiếp giữa các lực lượng dân tộc dựa trên cơ sở tôn trọng dân chủ tự do, thượng tôn pháp luật. Bản chất của chế độ dân chủ là phải chấp nhận những thế lực đối kháng với nền dân chủ và tìm cách thuyết phục nó chớ không phải tiêu diệt nó.

Chiến thắng bị bỏ lỡ: Ngay từ đầu, Việt Minh và Việt Cộng sau này đã khống chế được nông thôn. Nơi đây đã cung cấp cho họ một nguồn nhân lực dồi dào để thực hiện chiến tranh du kích. Muốn thắng cuộc chiến này, phải tranh thủ người nông dân, tách họ khỏi sự kiểm soát của CS, mở cho họ thấy những triển vọng tốt đẹp hơn về tương lai. Phải tranh thủ dân bằng cách tìm hiểu họ muốn gì để thực hiện những ý nguyện của họ. Chính vì thế mà Bs Nguyễn Tôn Hoàn và Gs Nguyễn Ngọc Huy đặt trọng tâm vào việc “bình định nông thôn”. Nhưng vì tình trạng chiến tranh, người dân nông thôn chưa hình dung được thế nào là sự phồn thịnh và dân chủ của Mỹ? Họ chỉ thấy bom đạn Mỹ vì nhiều vùng nông thôn là khu vực oanh kích tự do. Mãi đến sau biến cố Tết Mậu Thân, VNCH mới có thời cơ thuận lợi để tranh thủ “con tim và khối óc” người nông dân.

Các trận tổng công kích hồi Tết Mậu thân và các đợt tấn công trong năm 1968, gây cho Cộng quân những tổn thất nặng nề: 289 ngàn cán binh tử thương. Họ không còn lực lượng để khống chế địa bàn chiến lược nông thôn, phải rút chạy sang biên giới Miên. Đây là thời kỳ quật khởi của VNCH, chánh phủ ban hành lệnh tổng động viên, QLVNCH ngày càng gia tăng quân số để đảm nhận trách nhiệm phòng thủ và yểm trợ chương trình bình định nông thôn. HK bắt đầu rút quân và kết thúc chiến tranh tại bàn đàm phán.

Trong chiến dịch Phượng Hoàng, VNCH đã đánh bật hạ tầng cơ sở CS khỏi nông thôn. Từ 1969 đến 1971, đã có 21 ngàn cán bộ hạ tầng cơ sở bị giết, hơn 46 ngàn bị bắt hoặc ra hồi chánh. Tình hình an ninh được vãn hồi mau chóng. Lúc bấy giờ Sir Robert Thompson với tư cách cố vấn đặc biệt được Nixon cử sang VN để nhận định tình hình tại chỗ. Trong phúc trình, Thompson nhấn mạnh rằng ông ta “có thể đến nhiều vùng ở nông thôn MN một cách bình yên, những nơi mà trước đây đã nằm dưới quyền kiểm soát của VC rất nhiều năm”. (R.Nixon, The Real War, P. 117)

Tình hình an ninh ở nông thôn từng bước được vãn hồi, luật “Người cày có ruộng” ra đời. Người nông dân MN đã thực sự làm chủ mảnh đất mà họ đã đổi bằng chính mạng sống của họ. Sắc luật 26/3 (1970) dành cho những người trực canh được làm chủ mảnh ruộng mà họ đang canh tác. Đa số những tiểu điển chủ mới này là những nông dân đã bám ruộng, bám làng trong suốt những năm chiến tranh, con cháu họ đã bị CS bắt xung vào du kích và bộ đội, phần lớn đã bị hy sinh. Với phân bón máy cày và máy bơm được nhập cảng ồ ạt, với giống lúa Thần nông cho nhiều năng suất, với chánh sách nâng đỡ gíá lúa và miễn thuế 3 năm của chánh phủ, hầu hết nông dân trở thành phú nông hoặc tiểu điền chủ. Máy cày và các loại nông cơ đã thấy nhan nhản trên đồng ruộng MN. Chỉ riêng tỉnh An Giang đã có đến 25 ngàn máy cày đủ loại, từ thứ nhỏ 7 mã lực đến thứ lớn 60 đến 80 mã lực. (Nguyễn Khắc Ngữ, Những ngày cuối cùng của VNCH, Nhóm Nghiên cứu Sử Địa, Montreal, 1979, Tr.86)

Song song với chương trình “Người cày có ruộng” đã làm thay đổi bộ mặt nông thôn MN… HK còn xúc tiến công trình điện khí hóa nông thôn phối hợp với việc tái thiết và canh tân hệ thống cầu cống xa lộ toàn MN. Xa lộ nối liền Sàigòn với các tỉnh miền Trung kéo dài tới Quảng Trị. Xa lộ nối liền Sàigòn với Bình Long, Tây Ninh, Vũng Tàu và các tỉnh Hậu Giang. Các khu kỹ nghệ, các công trình đầu tư xây dựng mọc lên khắp nơi. Tất cả những nỗ lực trên minh chứng cho sức mạnh và chánh nghĩa của người Quốc gia nhằm phục vụ cho cuộc tuyển cử thực hiện quyền tự quyết của nhân dân MN sẽ được đề cập đến trong bản hiệp định Paris và xa hơn nữa trong cuộc tuyển cử thống nhất đất nước.

Đầu năm 1969, sau khi VNCH tham gia hòa đàm Paris, Phong trào Quốc gia Cấp tiến ra đời do Gs Nguyễn Văn Bông -Viện trưởng Học viện Quốc gia Hành chánh làm Chủ tịch và Gs Nguyễn Ngọc Huy là Tổng thư ký. Đây là một tân chánh đảng có nhiều đảng viên là sĩ quan và công chức cao và trung cấp. Đặc biệt, số sinh viên tốt nghiệp Quốc gia Hành chánh, là học trò Gs Bông và Huy hiện đang làm Phó quận, vì thế họ có khả năng nắm được xã ấp. Ngoài ra Phong trào còn có một số dân cử thuộc khối Dân quyền trong Quốc hội. Trong hồi ký, cựu thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn tiết lộ, lúc bấy giờ “Hoa Kỳ muốn có một chánh phủ dân sự để đấu tranh chính trị với CS, do đó HK đang ủng hộ Gs Nguyễn Văn Bông ở chức vụ thủ tướng”. Ông Cẩn còn cho biết trong một buổi tiếp tân ngoại giao đoàn, một nhân vật Tòa Đại sứ HK đề nghị ông giúp Gs Huy, đảng trưởng Tân Đại Việt thành lập một tân chánh đảng. (Đất nước tôi, Tr.198-99)

Trong khi đó, các lãnh tụ MTGPMN nhận thấy lực lượng vũ trang của họ gần như tan rã, địa bàn chiến lược nông thôn đã bị quân đội Quốc gia kiểm soát. Vì thế họ không đồng ý chủ trương của Hànội là “vừa đánh vừa đàm” để từng bước củng cố lại thực lực, chủ yếu là quân miền Bắc xâm nhập. Tại bàn hòa đàm Paris, MTGP đưa ra đề nghị: “Công việc miền Nam do nhân miền Nam quyết định, không có sự can thiệp của bên ngoài”. Nhờ đó, đã khai thông các bế tắc đưa cuộc đàm phán đến thành công. HĐ Paris ra đời, HK rút hết quân khỏi MN, nhân dân MN sẽ quyết định công việc nội của họ thông qua cuộc tổng tuyển cử tự do có quốc tế giám sát. Sau đó, theo tinh thần điều 15 của HĐ: “Việc thống nhất nước VN sẽ được thực hiện từng bước bằng phương pháp hòa bình trên cơ sở bàn bạc và thỏa thuận giữa miền Bắc và miền Nam VN, không bên nào cưỡng ép hoặc thôn tính bên nào và không có sự can thiệp của nước ngoài”.

Sau khi HĐ Paris ra đời, từ 19/3/1973, hai phái đoàn VNCH và Cộng Hòa MNVN đã gặp nhau tại hội nghị La Celle Saint Cloud để bàn vấn đề thành lập Hội đồng Quốc Gia Hòa Giải hòa hợp dân tộc. Đây là cơ quan gồm ba thành phần ngang nhau đứng ra tổ chức cuộc tổng tuyển cử để nhân dân MN quyết định tương lai chính trị MN. Chánh phủ VNCH khăng khăng đòi CSBV phải rút hết quân về Bắc, sau đó tổ chức tổng tuyển cử bầu tổng thống và HĐHGDT. Tổng thống và HĐHGDT sẽ quyết định thể chế mới cho Miền Nam. Chánh phủ Cách mạng lâm thời bác bỏ đề nghị đó, họ không chịu thảo luận những vấn đề nào không được ghi trong văn bản ký kết. Họ đề nghị hai bên chọn người tham gia HĐHGDT như hiệp định qui định, để tổ chức bầu cử Quốc hội Lập hiến và Quốc hội này sẽ soạn thảo hiến pháp cho MNVN. (Nguyễn Khắc Ngữ, Sđd, Tr. 155)

TT Nixon cũng mong muốn VNCH thi hành hiệp định, thành lập HĐHGDT nhân dịp TT Thiệu viếng thăm HK hồi đầu tháng 4/1973. Nixon cam kết sẽ viện trợ đầy đủ cho VNCH mỗi năm 1800 triệu mỹ kim về quân sự và 800 triệu để yểm trợ cho những kế hoạch kinh tế dài hạn sau chiến tranh. Quốc hội không chấp nhận viện trợ để tiếp tục chiến tranh.

Gs Huy là thành viên phái đoàn VNCH tại đàm phán Paris năm 1969-1970 và tại La Celle Saint Cloud năm 1973, ông đã thấy MTGP thành tâm muốn cùng chánh phủ Sàigòn sớm giải quyết vấn đề MN một cách êm đẹp, nếu không MN sẽ lọt vào tay CSBV. Ông bày tỏ sự lạc quan trong buổi tường trình về diễn tiến hòa đàm tại Bá Lê trước các đại diện dân cử tại Dinh Độc Lập hồi đầu 1970. Ông tin tưởng hòa bình sẽ đến và VNCH sẽ phải ngồi cùng bàn với MTGP để nói chuyện về tương lai chánh trị MN. Ts Phan văn Song tiết lộ, hồi cuối năm 1972, ông có đến gặp Gs Huy trình bày dự án thành lập Trường Đại học Quản trị và Kinh Thương Minh Trí. Trong dịp này, “Chú Ba nói rất nhiều, phân tích tình hình chính trị và tin tưởng miền Nam sẽ còn, trong một thể chế nào chưa biết, nhưng người miền Nam phía VNCH và người miền Nam phía Việt Cộng có thể nói chuyện để xây dựng miền Nam, vì vậy một cơ sở giáo dục Đại Học sẽ là nơi xây dựng tương lai của VNCH và cũng của Phong trào Quốc gia Cấp tiến và Đại Việt”. (Nhớ Chú Ba Huy, Gs NNH, Nhà chí sĩ thời đại, Sđd, Tr.183)

Từ khi hòa đàm Paris khai diễn đến khi HĐ Paris ra đời, hầu như các khuynh hướng chính trị tại miền Nam từ những người CS cấp tiến thuộc MTGPMN, đến Lực lượng thứ ba, những người chủ trương Hòa giải dân tộc, kể một số lớn quân nhân công chức trong chánh quyền quốc gia, các đảng phái đối lập tại quốc hội… đều mong muốn hòa bình và kỳ vọng VNCH sẽ thắng CS bằng con đường chánh trị. Nhưng bất hạnh cho dân tộc, ý nguyện lớn của đông đảo đồng bào bị người lãnh đạo độc tài độc đoán cản trở. HĐ Paris mang lại thắng lợi cho cả ba bên VN: hòa bình, dân chủ tự do và thống nhất đất nước. HK chấm dứt trách nhiệm. Đây là thời điểm thuận lợi để phe Quốc gia gặt hái thắng lợi. Nhưng ông Thiệu lại muốn tiếp tục chiến tranh để tiêu diệt đến người CS cuối cùng. HK rút khỏi miền Nam, nhưng hãy cung cấp vũ khí để VNCH tiếp tục chiến đấu. Viện trợ nhiều thì giữ nhiều, viện trợ ít thì giữ ít. Thử hỏi người lính miền Bắc vì bạo lực thúc đẩy, buộc họ lao vào cuộc chiến như những con thiêu thân, chả lẽ người Quốc gia cũng mù quáng, người lính Cộng hòa cùng người lính miền Bắc ôm nhau tự sát bằng súng đạn hay sao?

Điều đau đớn của cả dân tộc là nếu hiệp định Paris được thi hành, ý nguyện của toàn dân thắng, miền Nam đã có dân chủ tự do và phồn vinh vì nơi đây là chiếc tủ kính trưng bày sự phồn vinh và nền tự do của Mỹ. Rồi đất nước cũng sẽ thống nhất, trễ lắm cũng cùng thời điểm với nước Đức hồi năm 1989. Trái lại, hiệp định không được thi hành, đất nước thống nhất -song dân chủ tự do thì không biết đến ngày nào mới có. Nhưng có điều rõ rệt là kinh tế ngày càng tụt hậu. Năm 1975, Sàigòn ngang hàng với Bangkok, đến năm 1992, Việt Nam tụt lại sau Thái Lan 20 năm và nay năm 2007, VN phải cần 40 năm nữa mới đuổi kịp Thái Lan. Đó là những nhận xét của lãnh tụ Singapore Lý Quang Diệu.

Kết luận: Sau biến cố 30/4/1975, trên bước đường lưu vong, Gs Nguyễn Ngọc Huy thành lập LMDCVN và Ủy ban Quốc tế Yểm trợ VN tự do. Đây là hai di sản quí báu mà ông để lại cho người đồng chí thân cận Nguyễn Đình Huy làm cơ sở thành lập Phong trào thống nhất dân tộc và xây dựng dân chủ hồi năm 1993. Phong trào chủ trương xóa bỏ hận thù, dấn thân vào cuộc đấu tranh mới mà đối tượng cần phải bị tiêu diệt là nạn chia rẽ và nghèo khổ: đó là hai kẻ thù nguy hiểm nhất của dân tộc hiện nay. Muốn chấm dứt tê nạn này, phong trào chủ trương: “phải thiết lập một định chế dân chủ và để nhân dân phán xét ai đúng ai sai qua các cuộc bầu cử tự do, chớ không ai có quyền tự ban cho mình là chân lý”.

Mười bốn năm sau, năm 2007, người CS “cấp tiến” Võ Văn Kiệt khẳng định ông là một “người quốc gia yêu nước đi theo chủ nghĩa cộng sản”. Ông cho biết “Thật ra, hồi chúng tôi mới giác ngộ đi theo cách mạng, lý tưởng thế giới đại đồng mạnh mẽ lắm. Nhưng từ khi làm cách mạng đến bây giờ, tôi tự hào là đã chiến đấu vì lợi ích dân tộc, vì lợi ích đất nước”. Lời nói trên của người CS “cấp tiến” khiến đồng bào nhớ lại câu nói của người Quốc gia “cấp tiến” Nguyễn Ngọc Huy trong quyển Chủ nghĩa Dân tộc sinh tồn: “Nếu người dân phải phụng sự quốc gia, đặt quyền lợi quốc gia lên trên hết thì đó là vì quyền lợi quyền lợi quốc gia là quyền lợi của tất cả mọi người”. Đồng bào tha thiết kêu gọi những lãnh tụ Đảng CSVN đã đặt lợi ích dân tộc, lợi ích đất nước lên trên hết, thì xin quý vị nhớ lại lời hứa của ông HCM “sẽ đặt quyền lợi của giai cấp dưới quyền lợi của dân tộc” khi ông kêu gọi toàn dân tham gia Mặt trận Việt Minh. Đảng CS cũng đã từng giải tán (11/11/1945) vì lý do “để củng cố nền độc lập nước nhà, cần liên hiệp các đảng phái không phân biệt giai cấp, đặt quyền lợi của Tổ quốc lên trên quyền lợi của đảng và giai cấp”.

Hiện nay, ai cũng thấy rõ, kẻ thù nguy hiểm nhất của đất nước là sự chia rẽ và nghèo khổ. Chia rẽ là nguyên nhân đưa đến nghèo khổ. Cuộc xung đột “quốc cộng” đã tạo ra chia rẽ, gây biết bao thảm họa cho dân tộc. Ông Trần Bạch Đằng, một người CS cấp tiến- đã khẳng định “cái gọi là quốc cộng chưa cáo chung –nó còn sống tận hôm nay -1992- và sẽ còn sống lâu hơn nữa”. Nghĩa là sự chia rẽ và nghèo khổ còn dài dài. Để đưa đất nước tiến lên, Đảng CSVN hãy có một quyết định lịch sử, tuyên bố “sứ mạng giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà của Đảng CSVN đã hoàn tất, Đảng tuyên bố giải tán”.

Đất nước tụt hậu quá sâu rồi, Chỉ có con đường hòa giải mới đoàn kết được đồng bào trong ngoài nước, vào công cuộc phát triển kinh tế. Muốn hòa giải, phải xóa bỏ ngay ranh giới quốc cộng. Xin ông Kiệt nói thẳng: chúng tôi là ngườì quốc gia theo chủ nghĩa dân tộc, còn các anh quốc gia theo chủ nghĩa quốc gia. Từ nay, chúng ta đều là người quốc gia theo chủ nghĩa quốc-gia dân-tộc, nói gọn là quốc-dân, chớ không còn quốc-cộng nữa. Tôi sẽ vận động Quốc hội, xóa bỏ ngay điều 4 trong Hiến pháp quy định “Đảng CSVN là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội”.

Mong ông Kiệt và những lãnh tụ Đảng CS xuất thân từ MTGPMN trước đây, có một hành động hòa giải cụ thể với chánh giới HK và Người Việt tự do ở hải ngoại bằng lời tuyên bố: Việt Nam không những tôn trọng nhân quyền, tự do tôn giáo, mà còn “Thực hiện hòa giải và hòa hợp dân tộc, xóa bỏ thù hằn, cấm mọi hành động trả thù và phân biệt đối xử với những cá nhân hoặc tổ chức đã hợp tác với bên này hoặc bên kia” và “Bảo đảm các quyền tự do dân chủ của nhân dân: tự do cá nhân, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do tổ chức, tự do hoạt động chính trị, tự do tín ngưỡng, tự do đi lại, tự do cư trú, tự do làm ăn sinh sống, quyền tư hữu tài sản và tự do kinh doanh” như điều 11 của HĐ Paris 1973. Vì đó là cam kết của một thành viên MTGPMN chúng tôi -bà Nguyễn Thị Bình với Bộ trưởng Ngoại giao của Mỹ, VNDCCH và VNCH hồi năm 1973. Bản hiệp định đã được năm hội viên Thường trực Hội đồng Bảo An trong đó có Liên Xô và Cộng Hoà Nhân dân Trung Hoa tuyên bố tán thành trước sự hiện diện của ông TTK/ LHQ. Hiện nay bà Bình là thành viên duy nhất còn sống trong số bốn đại diện ký kết hiệp định lịch sử này. Bà phải được chứng kiến sự thực thi HĐ trước khi vĩnh viễn nằm xuống.

Rồi đây, Việt Nam sẽ cất cánh trong cuộc vùng vẫy mới, chạy đua cùng các thành viên khác của WTO. Việt Nam có đầy đủ tiềm lực xây dựng một nước Việt Nam mới (Tân Đại Việt) hùng mạnh nhất trong lịch sử, dựa trên khối đại đoàn kết toàn dân, đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, dân chủ tự do gắn liền với đất nước phồn vinh, toàn dân hạnh phúc, chớ không phải một Đại Việt dựa trên một cá nhân tài giỏi và một thể chế độc tài.

(Kỷ niệm ngày giỗ thứ 17 cố Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy 28/7/2007)

Lê Quế Lâm

User avatar
tieuvuvi
Posts: 2912
Joined: Sun Nov 26, 2006 1:29 pm
Been thanked: 3 times
Contact:

Post by tieuvuvi »

Đêm sông núi chia



Mưa bây giờ trên mái poncho
Đồ hành quân những ngày bùn đất
Lâu lắm rồi em anh chưa lần gặp
Mái nhà em chiều khói ấm thân yêu

Đêm núi sông chia chiến trận tiêu điều
Bạn bè chết đồi tranh đôi ngả
Anh có trên vai ấu thời xa quá
Con mắt trông về đã lạ từ đi

Mưa bây giờ quê quán chia ly
Tin thành phố ngưng bắn mà súng nổ
Mẹ vẫn trên vai những ngày oằn khổ
Em dại vào đời những bước bơ vơ

Phố xá xa ơi chân đất ngày thơ
Bỏ vào ba lô anh đi lên núi
Anh đặt bẫy mìn cho trò chơi mới
Khi xa bồ khèo trộm ổi nhà ai

Đêm qua có thằng tàn giấc mơ phai
Nhưng không thể bỏ cuộc này. Chấm hết!



Nguyễn Nam An
Fri Aug 03, 2007
Image

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Image


Người Hát Xẩm Chợ Đông Ba
Dương Nữ Khánh Thương


Một ngày hanh, nắng nỏ hoe hoe vàng qua cửa Thuận An đứng ngơ ngẩn một lúc, xoè tay ra thấy trong tay đã có 1 bụm cát li ti, dưới chân lá vàng ùa về lợn cợn như vãi trầu.



Người đàn ông bốn mươi bốn tuổi kép đã đáp lại ở đâỵ "Từ Hải Vân ngược vào hay Đông Hà đến chú?" Chú vị gậy: "Trả lời ông đi con". đứa bé bên cạnh "Dạ con qua sông Gianh" - "Nghệ An vô hà". "Ừ Nghệ vô". "Hát bài nghe chơi chú, trời ni thay giải khát!".



Chú khách cất giọng, cái loa điện rung rung, một giọng trầm như đá cất lên. Nghe không nỉ non, nhừa nhưạ, không thống và hờn như bọn xẩm thường gặp. Khách vẫn hát giọng kiêu hùng nghe bàng bạc, lại hát chữ nữa:



"Phiên phiên vạn lý giá tường yên
Tấn tốc khinh trì bộ bộ tiền

...

Hoa thường hảo, nguyệt thường chiêu
Nhân tại càn khôn đệ nhất tiêu..."



Ụ.Ụ.sau mỗi đoạn lại luyến láy, vọt cao, người vẫn vững mà hồn như baỵ Một lúc dừng lại thấy ồn ào. Xẩm sờ soạng. Hấp tấp cặp mắt vẫn mở to nhưng đã vô hiệu lực trước thế giới màu sắc.



- Ai thương cha con xin bỏ vào đây chút tiền cháo gạo.



Mấy cô bác bỏ tiền vào lặng lẽ, họ chẳng hiểu gì mấy khúc hát đó nhưng thấy vẻ kỳ quặc, lạ lùng khác với mấy giọng nhầy nhụa của xẩm khác nên tò mò. Cái thú của người Huế nghe hát trên sông Hương đã vãn, nó chỉ dành cho kẻ du lịch. Hát giờ có đoàn hẳn hoi, có đàn tranh, có nhi.... Các nhi ca đời mới xinh mơn mởn. Đâu còn cảnh đêm trăng trong vắt, dòng Hương lặng, Huế đang trầm bỗng tình như gái xuân vì một giọng hát dài, buồn lắm. Vừa đoan trang thục nữ kiểu Huế lại mơi mọc lả lơi cái kín đáo nõn nà của giai nhân. Thế là đàn bà, con gái thì lắng nghe, đánh thức trái tim đang ngủ say vì điều cũ. Đàn ông con trai cồn cào như say rươu.



"Giọng cô Nhì đấy". Người con gái hai tám tuổi, chồng chết. Bạc phận nhảy xuống sông Hương mà không chết được. Đêm đêm vẫn chèo thuyền thả trôi giọng hát vào nước ngọt lừ. Vừa thương nhớ chồng, vừa cám cảnh cô lẻ nên nửa dùng dằng cảnh xưa mà nửa đã thẹn thò mời vãn nhân nhập cuộc.



Tiếng hát vãn từ lâu. Cô Nhì đã bỏ vào Sài gòn nơi đô hội. Huế quạnh quẽ. Huế lại trầm cảm tương tư người cũ.



Xẩm khách lục tục bỏ đi. Đứa con xách mũ nan rách và loa đi theo, không hiểu vì sao...



- Con có thấy ai tóc dài, môi cắn chỉ, đeo chuỗi ngọc thạch giữa cổ không?



- Cha, con không chú ý, con không ngẩng lên vì thấy có ai đang nhìn như thiêu đốt vào gáy con rồi lan sang cha.



- Bận sau thì ngẩng lên đàng hoàng nghe con.



- Dạ



Ngày đầu ở Huế là vậy



***



Người xẩm đóng cư ở chợ Đông Ba. Dưới mái lều của người bán hàng khô. Buổi ngày thích thì hát trong chợ, không thì rảo bước xuống ngược cầu Tràng Tiền.



Khách đi chợ thường xuyên đã quen nghe hát. Mê người xẩm như khách quý. Có người biết chỗ nghỉ của hai cha con xẩm còn lại tận chỗ dặn mai cứ hát trong chợ. Có kẻ kiếm cớ ra chợ, mấy chị hàng vải thì rủ con bé lại tận sạp vải năn nỉ chú xẩm hát trong tiếng xé vải xoàn xoạt. Xẩm không nề hà, vẫn hát giọng ấm lạ, tiếng hát không tách rời mà xô lại quấn quít vài khúc lạ tai. Nhạc vàng, cải lương cũng ca mùi lắm. Người Huế nhẹ nhàng, ưa lặng lẽ vẫn để xẩm hát những khúc xẩm thích. Con bé mắt đen láy vẫn đi theo cha nhẫn nại, có lúc còn hát thay cha... Nó còn bé hát những khúc thế sự nghe lạc lõng. Giọng run rẩy như cây non, ai cũng thương. Người cha ngồi bệt xuống đất hút thuốc lào, mắt trong như pha lê chăm chắm dõi theo lời hát. Nhìn mắt cha, nhìn mắt con cứ nghĩ mắt cha sẽ không bao giờ mù được.



Giống nhau thánh thiện như bốn giọt nước sắp lăn.



Khuôn mặt gầy gò của người xẩm ánh lên thứ ánh sáng ngạo nghễ. Có lẽ 1 phần tại cái cằm vuông cương nghi.. Nhưng xẩm hát chỉ để hát. Một người đi chợ gần gũi với con bé đã kể như vậỵ



Xẩm hát chỉ để hát ???



Xẩm còn đọc thơ nữa. Tên chú là Nhân. Những ngày mưa Huế buồn lạ lùng, mưa trắng mặt nhưng dầm dề, rả rích. Những cơn mưa không dứt, những ngôi nhà nhỏ ở Huế như nép vào nhau, lướt thướt. Hàng cây cong lại, mái ngói rắc rỉ tiếng mưa. Phố ngập mình, sông Hương trắng xoá, bọt phập phì trên mặt lá... Thơ Nam Trân, Nguyễn Bính đọc trong lúc này khác gì ăn món lạ nhưng thực phẩm lại quen. Một lần Nhân nhỏ nhẻ: Người trong Nam thích thơ Hàn Mạc Tử, Xuân Diệu... Huế nghe thơ Nam Trân thì khác nào gặp người quen. Cũng như thơ Nguyễn Bính, cái ông nhà quê ấy tả mưa bụi với những mối tình vừa con trẻ vừa thơ mộng với vườn hoa bưởi, với rượu, với bướm đậu cả ven sông thì thật khoái khẩu với Huế.



"Thuyền nan đủng đỉnh sau hàng phượng
Cô gái Kim Luông yểu điệu chèo.

...


Biết không? Cô hỡi biết không?
Chèo cô, còn quấy, sóng lòng còn xao?"



Có lúc lại ngắt như đếm nhịp, hơi thơ giãn ra:

"Lá bàng
Như lá vàng
Rụng
Ôi, dìu hiu
Cảnh chiều"



Những gì biết về khách xẩm tài hoa ấy vẫn còn ít lắm. Tay nải trễ tràng trong bóng chiều nhập nhoạng. Huế tơi tả, hơi gió lẩn quất. Xẩm Nhân uống rượu nếp hoa vàng nhắp với ốc, đứa con bên cạnh khêu ốc hộ và nhìn cha ăn lặng lẽ nhắp một chén, khà cái rồi ề à xoa đầu con.



Một bóng đàn bà rảo nhanh về phía đó. Gót chân như nâng trên đất. Giọng ướt mềm, sẽ sàng:



- Nhân không nhận ra em ử

- Tôi nào biết cô, tôi là xẩm Nhân.

- Thôi van anh đừng ngạo em nữa, chừng ấy năm rồi.



Nhân im lặng. Lòng người đàn ông đã chai sạn vì những lời nói ấy bỗng chùng xuống lắng đi, thấm tê tái trong hơi rượu. Mặt đất nồng ấm, vẩn lên, quấn lấy không khí níu kéo và vỗ về. Đứa bé níu lấy cha "Cha ơi", goị thảng thốt như đánh động không khí. Giọng đứa con làm Nhân choàng tỉnh trong khối u mê không rạch ròi đó rồi lại nhập trong men rượu tiềm thức.



Cuộc cạnh tranh sinh tồn của tình yêu. Di cảo về mối lương duyên rạn vỡ xới tung lên.



Người đàn bà đã bắt đầu rấm rứt, chị khóc từng cơn, bàn tay ấp lên mắt rồi nức nở. Nhân bối rối.



- Cô nín đi, tôi đâu đáng để cô tìm.

- Em không đáng thì có - anh đừng nói như vậy, mai em không được ra chợ nữa, chồng em cấm. Em nhận ra anh từ ngày đầu anh đến, em rong ruổi trên con đường cha con anh đi hát dạo, ngày đi chợ mấy lần và bao nhiêu tối đứng từ xa nhìn anh uống như thế này. Nhân hết thương em từ ngày xưa rồi à. Có lẽ chẳng nên thương em trong cảnh này nhưng hãy thương cô nữ sinh Tôn Nữ Thiên Bảo hát khúc Nam Ai mười tám năm về trước. Chối em làm gì, Nhân đi hát để tìm em cơ mà. Em biết câu hát ấy chỉ dành cho em, dành cho tháng ngày xưa cũ. Em nói nhiều quá phải không Nhân? Nhân hát nữa làm gì, đợi em đi, năm ngày nữa em quay lại, chúng ta sẽ đi.



- Đi đâu?

- Em nghĩ rồi, em với Nhân và con sẽ vào bà ngoại ở Quảng Bình, tìm nhau thế đủ rồi. Nhân hứa đi... Em phải về đây, trăng lá lan rồi, con của mẹ hãy đợi mẹ.



Rồi vẫn chân trần đi như lướt trên đất ấy. Dáng đi trông thanh thoát nhưng nhìn kỹ thấy lùi lũi như kiếm, như tìm một vật bỏ rơi. Biết chắc là tìm được nhưng phải kiên trì. Bất giác người xẩm thở dài, tay sờ soạng ống điếu, thuốc lào. Từ khoé mắt rỉ ra một dòng lấp lánh. Trăng vừa nhô lên, mát nõn tắm lên hai cái bóng, bé con như mệt lắm rồi tưạ đầu vào vai cha như một khối đá méo mó và trầm tư.



Chợ vẫn yên lặng, rì rầm, người đàn ông lẩm nhẩm một khúc Nam Ai, lời hát như chuồi trượt mê mết rồi vút lên. Đứa bé ngủ say sưa. Nó ngủ trong ý niệm năm ngày nữa cha con nó sẽ rời nơi đây. Với 1 người đàn bà xưng mẹ. Vừa ngủ vừa mơ ú ớ, bé con mơ thấy cái gót chân nhung đó lướt đến, vuốt tóc bé nói những lời dịu êm. Nhưng nó không dám tin, nó nghĩ là bà ta cũng chỉ là người mê tiếng hát của cha như bao người đi chợ khác. Nó chìa cái mũ nan rách tơi tả ra: "Xin bà cho con chút tiền mua rau, cháo". Bà ta không nói chỉ khóc nấc, xoè ra một nắm lá khô thả vào mũ.



Gió lả tả cuốn lá khô đu, lạo xạo vỡ trên môi những giọt nước mắt vừa chảy xuống đắng chát



***



Vẫn như mọi ngày, xẩm Nhân dắt bé con ra giữa chợ. Cái chợ đã gắn với xẩm Nhân. Chú khách ngày nọ vẫn hát, đọc những bài quen thuộc. Người nghe vẫn mê đắm nhưng 1 người tinh ý nói:



- Xẩm Nhân hát buồn quá, giọng kiêu hùng đâu rồi. Có chuyện gì xảy ra với chú ấy phải không?



Xẩm Nhân đi giữa chợ, đi giữa các gánh rau. Cảnh mua bán vẫn nhộn nhịp. Mấy bà bán chanh chói. Một bà khách trả lầm tiền đang sưng sỉa. Bé con đang mải nhìn những con tò he xanh đỏ đằng kia.



Con gà mào đỏ lựng, con ngưạ hung hung, có cả chú vịt béo kềnh đến thích mắt.



Cái loa vẫn trên tay bé nhưng nó không hướng lên, mắt con bé lơ đãng chúc loa vào mông bà khách đang xỉa xói kia. Xẩm Nhân vẫn đọc thơ, lời thơ thiết tha bỗng bị bịt tắc, nghẹn, rò rỉ. Cả cái mông to ệc đang như ngồi ở tư thế đứng vào miệng loa. Con bé mắt líu ríu nhìn tay người bán tò he,...bà ta xoe xoé quay lại.


"Thơ thẩn mẹ mày, tức buổi chợ Bán thì bán gian, thêm thằng hâm vô công hát xướng, khoẻ mạnh dắt nhau đi làm gì"


Bé con hoảng hốt quay lại, lúc đó nó mới rời mắt khỏi cái tay nặn giống của người bán tài hoa. Mặt nó méo mó chực khóc, căm hờn nhìn mụ khọm già đang xỉa xói.


Người xẩm bỗng hiểu ra cơ sự. Uất nghẹn ứ lên tận cổ. Mắt chú long lên ánh sắc như dao, giật phắt lấy loa, lấy hết sức lực bùng lên của giận dữ chú ném toang xuống đất. Loa vỡ ra từng mảnh, câu thơ đứt quãng. Những mảnh vỡ làm con bé hoảng hốt hơn. Mặt cha đanh lại, dúm dó, đôi mắt mù giật giật. Bé đứng lặng. Xẩm Nhân vội vã kéo con đi, vứt xoạch cả dây điện, khóc tu tu, chân bước khấp khểnh xô cả đám đông... Con người kiêu bạc ấy cảm thấy như bị nổ vào mặt, bị xúc phạm... Một cảnh chua chát và bi hài. Cái con người đã chạy trốn và hờn dỗi tình yêu vì được yêu 1 cách thụ động, đã luôn muốn là hiệp sĩ bế cô gái mình yêu lên yên ngựa. Nhưng chàng bị ngã ngưạ mặc dù chàng rất muốn là kẻ chiến thắng chứ không phải là kẻ đáng thương si tình phải nương dựa vào bàn tay chìa ra nâng đỡ của người yêu bé bỏng. Chàng cũng không muốn những lời thơ trong sạch của mình bị vấy bẩn. Xẩm không đi hát vì tiền. Xẩm chỉ đi góp nhặt chút tình rơi vãi giữa chợ đời. Nhìn vào đáy mắt trong veo ấy, một cụ già thẽ thọt "Con người đó sẽ không an lành với nỗi đau tự có. Sẽ khuấy vục nó lên rồi tự cắn nát để tìm về đúng nhân phẩm".



***


Trên đời cũng có nhiều kẻ tốt bụng, ai đấy đã mua 1 cái loa mới, nhặt micro lặng lẽ đặt vào lều trú thân của hai cha con. Nhưng bà con thì xì xào chắc xẩm Nhân sẽ không hát nữa và họ buồn lắm. Mỗi người dân lao động thấy sắp mất đi ở mình cái quen thuộc vốn dĩ. Mỗi khi xẩm hát, người ta biết số phận của mỗi người đã có sẵn trong sổ đời không thể thay đổi được, nhưng cái khát khao được bung mình ra từng khoảnh khắc, được nhũn tim ra vì sống giấu giếm cho niềm yêu riêng thì bao đời vẫn là lạc thú của con người.



Nhân không đi hát nữa thật. Sáng sáng, cha lại bắt con dắt ra phía bên sông Hương. Nước sông Hương chảy quanh núi Ngự chứ chẳng đi đâu xa, lặng và hiền chỉ đủ làm gợn lòng kẻ xa quê...Con bé con ngồi nhặt hộ đậu vỏ cho bà Mập Lan bán hàng khô chốc chốc bà lại hỏi:



"Chừ cha đi mô mới về, khi mô cho con biết mà đi dón. Về nhà bác, con nghe..."


Bé lắc đầu quầy quậy. Nó nghĩ đến người đàn bà hứa 5 hôm nữa sẽ quay lại, hôm nay là hôm thứ hay rồi. Tối mịt, cha mới mò mẫm về, mua đồ an cho nó và uống rượu nếp hoa vàng nhiều lắm. Cả trời để dành cho cha có lẽ cũng chưa đủ.



Trăng đã gần tròn, nó mong trăng nhanh tròn để người đàn bà đó đến. Để làm gì thì nó cũng không biết. Nó chỉ cảm giác kinh hoàng khi cha đập vỡ loa. Và bé con còn sợ phải ngửa mũ nan mà không dám ngẩng lên vì ánh nhìn thiêu đốt của người nào đó.



Hôm sau cha vẫn đi. Đến hôm thứ tư, đang thiu thiu ngủ trên đùi cha, cha đã gọi nó dậy thử loa, cắm vào cái bình ắc quy bé xíu, hát say sưa, lại khúc hát Nam Ai thật ngọt, lại đọc thơ mình và nhấp chén rượu suông. Con bé mừng húm, "cha hết buồn, mình sẽ không mải chơi, sẽ giữ ba cẩn thận".



Chợ Đông Ba sáng ấy bừng tỉnh - Say mê đón chào như mọi khi. Vẫn là xẩm Nhân kiêu bạc, cái tay áo rộng phất phơ, múa may như lên đồng, mắt nhắm nghiền, thăng hoa viễn cảnh.



"Em ạ, ngày xưa vua nước Bướm..." Và có lúc lại thắt nghẹn chua chát: "Lang thang tôi dạm bán thuyền - Có người giả chín quan tiền lại thôi".



- Cha ơi, có người hỏi cha, một ông khách.


Họ vào một quán nước và sau đây là lời đối thoại:



- Anh có biết vợ tôi đi đâu không?

- Vợ ông là ai?

- Là Tôn nữ Thiên Bảo mà tôi vớt của anh đấy, tôi tìm cô ấy, con chim cánh trả ăn no bỏ chủ. Hỏi anh, anh nghe không?

- Giữ như vật sở hữu cứ chực tuột ra thì giữ làm gì?

- Sao không ?

- Tôi cũng không biết rõ cô ấy đi đâu, mà giả sử có biết thì 1 thằng mù như tôi không thể làm chỗ dựa cho 1 giai nhân. Ông có tất cả, tôi chẳng có gì, ghen với kẻ khố rách thì đừng. Dại vừa thôi.

- Anh nhầm rồi, đừng gọi tôi là ông nghe nhạt quá, khách khí quá. Anh có tình yêu của cô ấy.

Giả sử anh chết đi, biến tan đi trong đời thì có lẽ cô ấy thương nhớ nhưng chỉ dám ngoại tình trong ý nghĩ. Đằng này, anh sống và phong trần thế kia, đàn bà mà bao giờ cũng chỉ thèm quả chua, thèm những thức quả không có, chứ ngon ngọt ê hề lại chê.



- Tôi sẽ đi nếu ông đủ sức bao bọc cho cô ấy.



Tôi không muốn chỉ đem tình yêu cho cô ấy, tôi muốn là đế vương kiêu hãnh với tình yêu kia.



- Thế anh có muốn đổi không? Hoặc anh có tài sản của tôi, tôi sẽ đem cô ấy tay trắng.



- Cảm ơn ông, 1 cuộc đổi chác không thể diễn ra. Không ai muốn là người hùng chỉ 1 nửa trận tuyến, hoặc có tất cả, hoặc kiết xác. Tạm biệt ông. Cầu mong cô ấy trở về với ông.



Sẩm tối hôm sau, người ta thấy trên nhịp Tràng Tiền mềm như dáng Huế ấy, có 2 bóng người. Người cha cao lớn vịn vào bóng đứa bé, 2 bóng tưạ vào nhau đi lặng lẽ như đếm từng nhịp cầu. Sông Hương đang thức 1 đêm sao trổ dậy đâm bông trên nền trời bắt đầu tối.

Vẫn như ngày nắng nỏ đầu tiên đến, bên hông đứa con 1 chiếc loa, cái mũ nan rách, dánh đi cả hai đều buồn tênh nhưng bình tâm lạ lùng.



Khi đến cuối cầu, từ sau, gió như lốc. Người đàn bà xuất hiện, tóc rối tất tả



- Đợi em với Nhân, hôm nay là ngày thứ năm, sao anh ác thế, muốn em khổ ư? Cả con nữa, cả hai đều cần em, em biết, thôi mình đi...



Họ bước tiếp giản dị nhưng thanh thản như lẽ phải có, phải sống. Đứa bé con bỡ ngỡ, thả xuống dòng sông chiếc mũ nan, chiếc mũ xoay xoay rồi tấp vào bờ. Người đàn bà mắng con giọng ấm áp trìu mến. Người đàn ông biết ngày hôm nay và đời mình ngày mai là đế vương. Lên ngôi trong năm tròn bốn mươi bốn tuổi kép.

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

NÓI CHUYỆN THẲNG VỚI ÔNG
HỒ VĂN XUÂN NHI


Đinh Lâm Thanh

Thưa Ông Hồ Văn Xuân Nhi,

Tôi từ bỏ chế độ Cộng sản đi tìm Tự Do nhưng không nằm trong diện HO, nhân qua bài báo trên VW, ông đã lợi dụng cơ quan truyền thông để xỉ vả bôi nhọ những người HO đang định cư tại Mỹ, tôi thấy bất mãn. Đọc kỹ lại nhiều lần, nội dung bài viết không ngoài mưu đồ thâm độc, xử dụng ngòi bút để miệt thị phỉ báng đến độ vô giáo dục…mà người đọc không thể hình dung tác giả là một người mang danh trí thức như ông !

Tôi không quen dùng những danh từ thiếu văn hóa để nói chuyện. Nhưng đối với một con người đã dùng những danh từ hạ cấp để miệt thị tập thể thì đôi khi không cần thiết phải dùng những câu lịch sự đối với hạng người như ông.

Mục đích gì ông đã nhẫn tâm hạ nhục những cựu sĩ quan QLVNCH ? Vai vế những vị nầy là đàn anh trong quân đội, là bậc thầy của chúng tôi và đáng tuổi cha chú của thế hệ một rưởi như ông. Bất quá ông cũng chỉ là một đứa con nít may mắn qua được Mỹ bằng cách chui xuống tàu, vượt biên hay theo cha mẹ ra đi trong ngày mất nước, học được vài ba chữ cũng chưa hẳn là một người độc nhất mang niềm tự hào đến cho Cộng đồng người Việt hải ngoại. Ông đừng mơ tưởng mình ra cái rún của vũ trụ.

Những người qua Mỹ theo diện HO đều những vị đã cầm súng trực diện với quân thù từ mười lăm năm trở lên và ít ra gần hàng chục năm tù dưới chế độ Cộng sản. Họ đã hy sinh mồ hôi xưong máu chống trả quân thù cho ông và gia đình ông an toàn xuống tàu hoặc lên máy bay ra đi, họ đã chịu đựng hàng chục năm giam cầm trong hỏa ngục Cộng sản để gia đình ông vinh thân phì gia, và ông an tâm học hành. Họ là những kẻ đến sau bị thiệt thòi, cuộc đời xế bóng, con cái đã lớn, cả gia đình phải xả thân đi cày để làm lại cuộc đời. Một gương cam đảm hiếm có cần phải cổ võ ủng hộ và vinh danh để làm gương cho con cháu của ông sau nầy.

Vậy ông dùng chữ nghĩa để nhục mạ tập thể HO với mục đích gì ?

- Tiền ? Nếu ông nhận tiền của kẻ thù để phá thối nhắm vào thành phần chống Cộng triệt
để trong cộng đồng thì chính ông là kẻ nối giáo cho giặc, đâm ngay trước mặt chiến sĩ và những người Việt tư do, phá hoại chương trình tranh đấu Tư Do Dân Chủ cho Việt Nam. Trong trường hợp nầy xin để Cộng đồng xử trí.
- Tâm thần lệch lạc ? Nên đi khám bác sĩ thần kinh để rà lại trí thông minh của mình, nếu bị tẩu hỏa nhập ma thì phải vào bệnh viện chữa trị cấp thời.
- Danh lợi ? Vâng lệnh quan thầy để mưu cầu lợi ích cá nhân sau nầy, nếu đúng thì xin khuyên ông hãy sáng mắt ra đừng ngây thơ mớ ngủ nữa !
- Muốn nổi danh, chuyện nầy quá dễ. Nếu đủ ‘bản lĩnh’ và ‘lỳ lợm’ thì theo con đường ông Nguyễn Cao Kỳ về Việt Nam làm trò khỉ hay treo cờ máu trong tiệm như Trần Trường, bảo đảm ông sẽ nổi tiếng rất nhanh. Bằng không, tôi đề nghị ông cổi hết áo quần đứng trước chợ Phước Lộc Thọ hay chạy vài vòng trên đường Bolsa, có ra toà phạt một ít tiền về tội công xuất tu sĩ nhưng tôi bảo đảm với ông, vài tiếng đồng hồ sau, hình ảnh tên tuổi ông nổi như cồn khắp cả thế giới. Thật quá đơn giản , cần gì phải dùng ngòi bút để nhục mạ đụng vào ổ kiến lửa !

Cuối cùng đề nghị ông hãy xét lại thân phận mình, được vài chữ đã phách lối vong ân bội nghĩa nhục mạ anh em HO là dốt nát, bất tài, nghèo đói. Ngồi đáy giếng thì xin ông nghĩ lại thân phận cóc nhái của mình ra sao trước khi tung những đòn độc hại để nhục mạ những người bị thiệt thòi đáng thương. Nếu những gia đình HO trước đây cũng buông súng đầu hàng, chen nhau xuống tàu như gia đình ông qua Mỹ lập nghiệp kể từ ngày mất nước, thì bây giờ tôi nghĩ rằng ông chưa đủ tư cách để nói chuyện với những người HO nầy mà phải khúm núm chầu chực sắp hàng xin ân huệ nầy ân huệ khác !

Tôi không dựa vào một đoàn thể hay một hội đoàn nào để yêu cầu ông lên tiếng xin lỗi, mà muốn nói chuyện trực tiếp giữa một người gặp cảnh chướng tai gai mắt với một kẻ vô liêm sĩ. Ngoài ra mục đích tôi cũng không muốn tranh luận với ông, để dành thời giờ nói chuyện với đầu gối có lẽ còn thích thú hơn. Nhưng nếu ông không bằng lòng những gì tôi viết ra đây, tôi sẽ sẵn sàng trực tiếp với ông trước ông kính hay micro để tất cả khán thính giả trên thế giới có dịp phán xét.


Chào ông.

Đinh Lâm Thanh

Post Reply