Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

CHIẾC CHIẾU HOA CẠP ĐIỀU

Doãn Quốc Sỹ

Quê tôi cách Hà Nội chừng 5 cây số. Khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ thì gia đình tôi tản cư lên Nhã Nam thuộc huyện Yên Thế, Bắc Giang. Đến năm 1948 khi cậu tôi từ Vĩnh Yên lên thăm chúng tôi lần đầu thì toàn thể gia đình chúng tôi ai nấy đều có màu da nửa vàng nửa xám xịt vì sốt rét rừng.
- Anh chị phải cho các cháu tản cư về mạn dưới như chúng tôi - lời cậu tôi nói với thầy mẹ tôi - chứ cứ như thế này thì không chết cũng chẳng còn ra hồn người nữa.

Sau ngót hai năm tản cư gia đình tôi khánh tận rồi. Có lẽ vì nghĩ vậy nên thầy mẹ tôi tìm cách nói thác:

- Ngày xưa vùng Yên Thế Thượng này độc nhưng nay vì có nhiều người lên khai phá nên khí hậu cũng không đáng ngại lắm.

Cậu tôi không chịu:

- Anh chị về Vĩnh Yên gần chúng tôi cho có anh có em, vừa tránh được nạn sốt rét rừng vừa có cơ buôn bán khá. (Dạo đó Vĩnh Yên còn là cửa ngõ của việc thông thương giữa Liên khu III với Bắc Việt).

Rồi cậu tôi về Vĩnh Yên. Hai tháng sau người lại lên, nhất quyết đón gia đình tôi xuôi, nói là nơi ăn chốn ở đã thu xếp đâu vào đó cả.

Thế là gia đình tôi xuôi Vĩnh Yên, còn một mình tôi ở lại Sở Thông Tin Liên khu I. Công tác của tôi là đi tuyên truyền mười điều kháng chiến trong toàn huyện Yên Thế. Vì lưu động như vậy nên tôi cũng quên đi nỗi buồn gia đình phân cách đôi nơi. Nỗi buồn đó chỉ đến thắc mắc lòng tôi mỗi khi trở về trụ sở kiểm điểm công tác. Trụ Sở Thông Tin ở một làng bên tả ngạn sông Thương, gần một bến đò đẹp vào bậc nhất Bắc Giang, bến đò Lục Liễu. Để tăng phần thơ mộng cho cái tên đó tôi vẫn thường dịch nôm là "Bến đò liễu xanh".

Thư của em tôi tới báo cho hay gia đình đã tới tản cư cùng làng với gia đình cậu mợ tôi. Làng đó ở ngay bến Rau, bên này là Vĩnh Yên, bên kia là Sơn Tây rất thuận tiện cho việc buôn bán.

Rủi thay, thầy mẹ tôi vừa đến Vĩnh Yên thì quân Pháp mở chiến dịch càn quét khắp vùng Sơn Tây rồi thiết lập thêm đồn quân dọc theo hữu ngạn sông Hồng từ Sơn Tây ngược lên đến Việt Trì. Các ngả đường giao thông với Liên khu III đều bị quân Lê Dương phục kích ráo riết.

Cậu tôi đã rơi vào ổ phục kích của chúng, dấn vốn khánh tận may thoát được người. Mẹ tôi phải ngừng chuyện buôn bán.

Nghe nói làng N.H. bên hữu ngạn sông Đáy gần chân dãy núi Tam Đảo là một làng trù mật, chuyên bán đỗ, gia đình tôi bèn chuyển đến đây theo sáng kiến của mẹ tôi. khi tới nơi, mẹ tôi mới thấy rằng mình đã nhầm. Trước đấy một năm thì địa điểm này buôn bán được vì hầu như dân chúng toàn hạt Vĩnh Yên đổ xô về để tránh Pháp tấn công, nhưng nay, tình hình tạm yên ai nấy trở về chốn cũ, địa điểm N.H. trở lại chốn trầm mặt của chốn chuyển tiếp giữa vùng trung du bên dưới với vùng đèo heo hút gió bên trên.

Vừa lúc đó tôi xin thôi ở sở Thông Tin về.

Mẹ tôi mừng lắm vì người vẫn thường nói: "Thời loạn lạc gia đình nên gần nhau nhỡ có thế nào...". Hình như trong óc người - có thể nói trong óc mỗi người trong gia đình tôi - đều luôn luôn lo sợ cảnh một người bị chết vì bom đạn rồi mất xác vì gia đình không kịp biết để nhìn nhận. Niềm vui đoàn tụ giúp chúng tôi bớt buồn nản khi thu xếp gồng gánh trở lại huyện Yên Lạc. Lần này gia đình tôi không dám ở gần bến đò Rau nữa vì sợ phi cơ oanh tạc, mà ở một làng cách huyện Yên Lạc chừng gần một cây số. Gia đình cậu tôi ở ngay làng bên. Lẽ cố nhiên cả hai gia đình chúng tôi cùng nghèo túng lắm, nghèo túng đến nỗi cậu mợ tôi, thày me tôi cũng không dám sang nhà thăm nhau, chỉ chiều chiều ra gặp nhau trên quãng đường đá nối huyện Yên Lạc với bến đò Rau.

Tôi gặp lại người yêu cũ từ Phủ Lý (Khu III) chạy lên. Chúng tôi thành vợ chồng, tuy có ký giấy tờ tại Ủy Ban Kháng Chiến Hành Chính Huyện - cậu mợ tôi là những người làm chứng - nhưng đám cưới hoàn toàn êm ả, y như một đám cưới vụng trộm.

Em gái lớn tôi xoay đi buôn gạo, ngày ngày kĩu kịt đi về 20 cây số kiếm chút lãi. Ở Yên Thế tuy bị sốt rét nhưng nhà ở giữa rừng ít lo bị địch tấn công bất ngờ; tuy cũng nghèo túng nhưng còn có đất rộng để tăng gia rau cỏ và nuôi được lợn gà.

Về đây những buổi ăn cháo ngô trừ bữa, mẹ tôi thường có ý khép cửa giữa lại.

Em gái tôi đã phải đi chợ thật xa để đong gạo rẻ mà rồi tính ra lời lãi cũng chẳng được là bao. Các cụ giải thích hiện tượng kinh tế này bằng câu: "Thóc gạo có tinh", mẹ tôi làm tương gánh đi các chợ xa bán để kiếm thêm. Vợ tôi tạng người yếu nhưng khéo tay, không làm được việc nặng, nàng phụ trách những việc nhẹ như rang đỗ tương, ủ mốc, pha muối vào nước tương...

Dạo đó trường Luật mở ở gần chợ Me (Vĩnh Yên), tôi có ghi tên theo học nốt năm thứ ba hy vọng ngày thành tài sẽ ra thẩm phán, đồng lương họa có cao để giúp gia đình. Vì hoàn cảnh kháng chiến các giáo sư thường từ nơi xa lại trường sở dạy liền trong mấy ngày, sau đó sinh viên tự tìm tài liệu nghiên cứu thêm. Có khi thời gian nghiên cứu lấy dài hơn một tháng mới có giáo sư mới. Tôi triệt để lợi dụng khoảng cách này để bon về giúp đỡ gia đình những công việc nặng.

Mùa đông năm đó rét lạ lùng. Gió hun hút giật từng cơn buốt như dao cắt từng mảnh thịt hở, thế mà hôm nào mẹ và em gái tôi cũng phải dậy từ bốn giờ rưỡi sáng để sửa soạn gồng gánh ra đi. Quần áo và chăn chiếu của gia đình tôi thiếu mất nhiều. Thằng em thứ ba của tôi có được cái chiếu rách mướp vừa nằm vừa đắp, chân thò ra ngoài thì nó lấy rơm phủ lên.

- "Ấy cứ thế mà ấm ra phết anh ạ" - Nó vừa cười khoái trí vừa nói với tôi như vậy.

Các em trai em gái tôi đã lớn cả, chúng tôi hầu như thường thi đua trong việc nhường nhịn nhau. Mẹ tôi chỉ còn thắc mắc về thằng em út của tôi. Nó còn nhỏ tuổi quá chưa thể tìm nguồn vui ở tinh thần để quên đói rét. Tương đối với cả nhà nó được mặc lành nhất. Nó mặc cái áo đỏ chót có những vệt chữ nho đen và những đường kim tuyến (nguyên đó là chiếc câu đối người ta phúng bà tôi hồi chưa tác chiến). Câu đối đỏ thì may áo, còn nẹp sa teng vàng mẹ tôi cố gạn may thêm cho nó chiếc áo di-lê. Chúng tôi gọi đùa nó là "anh cờ đỏ sao vàng". Đêm đến rét quá không đủ chăn ấm, nó thường khóc khậm khạch. Chỉ cần có thêm đôi chiếu nữa thì cả nhà đủ ấm.

- "Chiếu cói kỵ gió". - Mẹ tôi bảo thế.

Nhưng đến ăn còn chẳng đủ làm sao chúng tôi mua được đôi chiếu bây giờ?

Hôm đó suốt từ sáng sớm đến trưa phi cơ bay từng đoàn bắn phá và dội bom liên tiếp xuống các chợ lân cận: chợ Me, chợ Vàng, chợ An Lạc... Mọi ngày chỉ khoảng bốn giờ chiều mẹ tôi có mặt ở nhà. Ngày đó giời đã xế chiều mà người vẫn chưa về. Toàn thể gia đình tôi bắt đầu sốt ruột tuy không ai nói một câu.

Chiều ngả màu xẫm. Gió bấc rít trong bụi tre già làm nền cho tiếng khàn khàn của lũ quạ lục đục trong ổ, gió bấc xoáy từng vòng cuồng loạn dứt từng vốc lá tre, lá bưởi vàng úa rồi lại nhào vút mất hút ra ngoài cánh đồng bát ngát hiu quạnh.

Mẹ tôi vẫn chưa về.

Trong óc tôi thoáng hiện những cảnh chợ bị phi cơ tàn phá, những hình người không kịp xuống hầm bị đạn chết gục bên cột lều tay còn quờ ôm những đồ hàng của mình, những hình người bị bom napalm thiêu rụi như những thân chuối cháy đen... Và tôi vùng ra cổng.

Thày tôi biết ý hẹn với:

- Con cứ thẳng đường ra bến Rau. Mẹ con thường về đường ấy.

Ra tới cổng làng, tôi đi như bay theo đường đã định, cổ họng nghẹn ngào, dạ cồn lên như lửa đốt. Con đường như rộng thênh thang, cánh đồng ngập trong bóng chiều xẫm và trong gió bấc, càng trở thành mênh mông. Tôi vun vút nhảy qua các hố phá hoại mà đi như một bóng ma cô độc đương muốn biến theo luồng gió.

Từ xa như có bóng người đi lại. Chắc người đó ở chợ Rau về. Để tôi phải hỏi tin tức về việc phi cơ oanh tạc hôm nay.

Hình như trên đòn gánh người đó có vắt ngang một cái gì.

Tôi lướt vội lên. Trời ơi, mẹ tôi!

Hai mẹ con mừng mừng tủi tủi như gặp nhau ở cửa âm ti.

Tôi hỏi: "Sao mẹ về muộn thế, cả nhà lo tưởng phát điên lên". Mẹ tôi cho biết hàng hôm nay bán ở chợ không hết, người phải đi sâu vào một vài làng lân cận để bán nốt. Rồi khi xuống khỏi đê, qua cái lạch lớn, thấy có chiếc chiếu trôi, vội tìm cách vớt lên và giặt luôn bên lạch. Đó là chiếc chiếu còn khá tốt tuy chiều rộng bị xén đi mất một phần ba.

Mẹ tôi chỉ vào chiếc chiếu phơi trên đòn gánh nói:

- Về đến nhà thì chiếu vừa khô con ạ. Tối hôm nay thằng Tư - tên thằng em út tôi - có chiếu đắp ấm.

- Mẹ ơi, "giàu con út, khó con út", mẹ chẳng để ý gì đến chúng con, chỉ chăm chút cho chú Tư thôi.

Mẹ tôi đi trước, gió ngược chiều nên tiếng tôi mất hút về phía sau. tuy nghe tiếng được tiếng không nhưng mẹ tôi vẫn hiểu câu nói đùa. Người vừa giữ cái chiếu vừa quay nhìn tôi mỉm cười.

Tối hôm đó khi đi ngủ thằng chú Tư được mẹ tôi đắp cho chiếc chiếu vớt ở lạch. Chân nó thò ra một tí khiến tôi nhận thấy chiếc bí tất cũ vàng xỉn của tôi, chỗ đầu rách được buộc túm lại để các ngón chân xinh của nó khỏi "thoát ly" ra ngoài.

Dạo đó chỉ còn một tháng nữa là tết. Tôi lại có dịp tạm rời trường Luật, đợi đến qua giêng mới có giáo sư. Tôi về vừa đúng lúc gia đình đương cần nhân công xay thóc giã gạo. Dấn vốn của gia đình tôi còn đong được năm nồi thóc. Dùng số tiền đó làm tiền đặt mẹ tôi có thể đong về được tám nồi. Theo như mẹ tôi phác tính mỗi nồi thóc làm, được lợi ít ra là hai ca gạo, vị chi với tám nồi thóc, chúng tôi sẽ lợi ít nhất là một nồi rưỡi gạo. Cứ như vậy mà đủ việc liền trong một tháng, nghĩa là vừa đến tết, thì chúng tôi có thừa tiền đong gạo nếp gói bánh chưng và mua thịt cá để đón một mùa xuân kháng chiến tương đối huy hoàng.

Chúng tôi ngoại giao ổn thỏa với các nhà có cối xay cối giã rồi bắt đầu vào việc. Thầy tôi trông nom mấy đứa nhỏ sửa soạn cơm nước. Tôi và thằng em giai xay thóc trong khi mẹ tôi điều khiển vợ tôi và cô em gái sàng gạo. Xay hết thóc chúng tôi đã có gạo đem đi giã, giã đến đâu mẹ và em tôi sàng tấm sẩy cám đến đấy. Trong khi xay thóc tôi nhẩm ôn các đạo luật, các án lệ để sửa soạn kỳ thi cuối niên khóa. Khi giã gạo với vợ, tôi cùng nàng thủ thỉ xây mộng tương lai. Ngày kháng chiến thành công hẳn chúng tôi đã có những đứa con kháu khỉnh, đã trở về quê hương dựng lại căn nhà xinh, sống tự do bình dị trong tổ ấm gia đình.

Ngày đầu chúng tôi làm được tám nồi thóc với số gạo dư là hai nồi. Một cụ già ở đấy gật gù nói: "Vạn sự xuất ư nho, đúng thật. Học trò thì cái gì cũng làm được. Cứ bảo người Hà nội không chịu được lam lũ!"

Ngày hôm sau có tin quân Pháp đánh lên Vĩnh yên. Những người có thóc giữ lại. mẹ tôi phải vất vả lắm mới mua được bằng giá khá cao sáu nồi thóc để chúng tôi có việc làm.

Quân Pháp chiếm Vĩnh Yên. Tiền Hồ Chí Minh sụt giá vùn vụt. Vẫn số tiền cũ giờ đây chưa chắc mẹ tôi đã mua nổi bốn nồi thóc.

Quân Pháp theo sông đào tiến lên chiếm chợ Me. Dân chúng xao xác chuẩn bị chạy. Số tiền trong tay mẹ tôi hầu trở thành giấy lộn. Chúng tôi ăn một bữa quà bánh đúc, lúc giả tiền thấy vợi hẳn túi. Viễn ảnh những ngày đầu xuân có gạo nếp, có thịt gà, thịt lợn bị giập vùi trong khói súng và biến thành một điểm mong manh chết đuối giữa cảnh tàn phá rùng rợn của bom đạn tơi bời cha lạc con vợ lạc chồng, anh em tán loạn mỗi người một phương.

Dạo đó tuy đã có phong trào "rèn cán chỉnh cơ" nhưng chưa có cố vấn Tàu, chưa có chính sách "ba cùng", học tập đấu tố nên mặc dầu kinh tế nguy ngập ai nấy vẫn tin tưởng ở ngày mai huy hoàng của dân tộc, tin tưởng ở thắng lợi cuối cùng dưới sự lãnh đạo sáng suốt của già Hồ (như lời tuyên truyền phát thanh chiều chiều).

Sang hạ tuần tháng chạp, suốt ngày mưa phùn gió bấc lạnh như cắt ruột. Không hiểu là vì rét nhiều hơn hay là vì chúng tôi đã bắt đầu giảm khẩu phần! Chiếc chiếu mẹ tôi vớt ở lạch đắp cho thằng em út đã rách xơ xác. Trong khi gia đình tôi giật gấu vá vai tìm cách nhường nhau miếng cơm manh chiếu thì xảy cuộc hỗn chiến giữa quân đội Pháp và quân đội Kháng Chiến ở chân núi Tam Đảo. Để giữ vững ưu thế quân sự về mình tại mặt trận Vĩnh Yên. Tướng Pháp De L. quyết định hy sinh đoàn quân hắn, và hạ lệnh cho thả bom tận diệt đôi bên.

(Trong cái điên ba của một cuộc thế lọc lừa phản trắc, người ta dày xéo lên tình người, điềm nhiên hy sinh xương máu đồng bào đồng loại nơi này cho quyền lợi thực dân, nơi kia cho học thuyết giai cấp. Tôi không ghê tởm những bộ mặt lãnh tụ như chúng sao được?)

Từ chân núi Tam Đảo quân Pháp đánh tỏa ra ba mặt, đồng thời từ hữu ngạn sông Hồng, một toán Lê Dương vượt sang càn quét bến Rau ở tả ngạn. Dân chúng từ bốn mặt chạy về huyện Yên Lạc, đổ xô vào các làng. Mẹ tôi bèn thổi cơm hàng gánh đến bán cho họ.

Trong số rất đông các người ở làng Rau mang đồ đạc chạy đến làng Lũng Thượng, có gia đình ông Lý Cựu vốn là bà con với ông chủ nhà nơi tôi tản cư. Ông Lý nói chuyện với thầy tôi rất tương đắc nhất là khi ông biết tôi đương học trường luật thi ra thẩm phán.

Ông nói:

- Tôi có thằng cháu năm nay lên sáu; giời cho làm người, sau này kháng chiến thành công, tôi nhất định sẽ gởi cháu lên Hà Nội phiền ông bà và cậu Cả trông nom giúp cho thành thân người.

Quân Pháp sau khi từ chợ Me vượt qua sông Đáy tiến sâu vào huyện Lập Thạch đốt phá một ngày rồi rút lui về tỉnh. Cánh quân tiến sang tả ngạn sông Hồng đốt phá bến đò Rau cũng rút lui về vị trí cũ bên hữu ngạn. Dân chúng chạy loạn lục tục đâu trở về đấy ngay để còn kịp sửa soạn tết.

Làng Lũng Thượng trở lại yên tĩnh.

Trưa hôm đó mẹ tôi ra phía bụi tre đầu nhà thấy cong queo dưới hầm trú ẩn một chiếc chiếu hoa cạp điều. Đúng là chiếc chiếu của một gia đình chạy loạn nào khi về mừng quá bỏ quên.

Mẹ tôi nói: "Thôi thế cũng là giời thương mà cho nhà mình!"

Đã lâu lắm, đêm đó tôi mới thấy thằng em út tôi có chiếc chiếu đắp kín chân không trông thấy đôi bí tất buộc túm chỗ rách. Sáng ra, mẹ tôi cẩn thận gấp chiếu rồi vắt lên chiếc giây thừng căng cao ngang mái nhà. Thế là từ đây đêm đêm nghe tiếng gió rít và những hạt mưa táp vào đầu hồi tôi cũng yên chí cho các em đã tạm đủ chiếu nằm, chiếu đắp. Hai ngày sau, tới buổi sớm ba mươi tết, khi sực tỉnh, tôi thấy không khí trong làng có vẻ tưng bừng hơn vì những tiếng bàn tán xôn xao xen với tiếng cười ròn rã ngoài đường xóm. Tôi vùng dậy ra thẳng ngõ. Trời tuy lạnh ngọt nhưng quang đãng và êm ả vô cùng. Tôi gặp mọi người mắt ai nấy sáng sáng ngời tin tưởng. Thì ra ở khắp các tường làng đều đã kẻ khẩu hiệu:

"Chuẩn bị tổng phản công".

Đồng bào thủ đô bàn nhau ngày về nhận nhà nhận cửa, đồng bào địa phương hơi có vẻ ngậm ngùi tưởng như giờ phút chia tay đã điểm.

Buổi trưa hôm đó ông Lý Cựu từ làng Rau mang theo vài thứ xa xỉ phẩm làm quà biếu ông chủ nhà vào dịp tết. Ông Lý Cựu có xuống căn nhà dưới thăm thầy tôi. Câu chuyện vừa xong phần xã giao thường lệ thì ông ngửng nhìn thấy chiếc chiếu hoa cạp điều vắt ở giây thừng, ông đứng nhỏm dậy chạy lại kéo tuột xuống nói gọn:

- Chiếc chiếu này của tôi

Mẹ tôi chợt có một cử chỉ phản ứng của một người mẹ gìn giữ con trong cơn nguy biến.

Người nói:

- "Ấy chiếc chiếu đó của nhà tôi..."

Mẹ tôi vốn là một Phật tử trung thành. Người chỉ nói được đến đấy thì lương tâm Phật tử trở lại và người lúng túng quay nhìn ra ngõ.

Ông Lý Cựu thản nhiên gấp chiếu lại, cắp gọn nách rồi thản nhiên nói:

- Không, chiếc chiếu của tôi. Tôi mua đôi chiếu cặp điều từ năm mới tác chiến, một chiếc còn trên kia.

Thì ra đôi chiếu đó, ông Lý mang đến gửi ông chủ nhà trong dịp vừa qua, rồi những người đến chạy loạn tự động mượn đem ra giải ở bụi tre nghỉ tạm, lúc về vì chiếu rơi xuống hầm trú ẩn nên họ quên không trả lại chỗ cũ.

Tuy chỉ một thoáng qua nhận biết sự thể là vậy nhưng tôi vẫn chưa chịu và tiếp lời mẹ tôi:

- Chiếc chiếu này mẹ mua của một người ở chợ Lầm. (Ý tôi muốn nói người đó lấy chiếc chiếu ở đây mang ra chợ Lầm bán).

Ông Lý vẫn thản nhiên, thản nhiên một cách cương quyết:

- Không, chiếc chiếu này của tôi.

Rồi ông cắp chiếu đi thẳng lên nhà. Lúc đó tôi cũng vừa trở lại với tôi để nhớ ra rằng cuối năm nay tôi đã thi xong, có thể ra làm thẩm phán. Tôi thoáng nghe phía sau tiếng vợ tôi thở dài rồi quay vào buồng.

Tối hôm đó khi thấy tôi lấy chiếc chiếu rách cũ vớt ở lạch đắp cho thằng em út, mẹ tôi chép miệng nói khẽ:

- Thôi, sang giêng trời bắt đầu ấm, vả lại cũng sắp tổng phản công rồi!

"Vả lại cũng sắp tổng phản công rồi!" - mẹ tôi nghĩ thật chí lý. Tổng phản công để bờ cõi được vinh quang độc lập, để mọi người được trở về dựng lại quê hương yên vui.

Tôi hiểu khi đó hầu hết các gia đình khác cũng như chúng tôi, chịu đựng bao nhục nhằn với những phút sa ngã nhỏ như chuyện chiếc chiếu hoa cạp điều. Tất cả những hy sinh đó - kể cả hy sinh một chút danh dự cho sự yếu đuối thường tình của con người - tuy dằn vặt, ray rứt mà không tàn phá nổi niềm vui trong sáng, thanh thản của tâm hồn, vì ai nấy vẫn sống ngợp hy vọng một ngày mai vinh quang.

Sớm mùng một năm đó mẹ tôi ra chùa lễ. Người quỳ rất lâu trước bàn thờ Phật. Giọng người thành kính thiết tha cầu đức Phật phù hộ cho chóng trở lại ỵên bình, gia đình được qua thì đói khỏi thì loạn.

Tiếng người khấn đôi khi nức nở. Tôi nghe nước mắt như muốn trào ra.

Cộng sản dìm nhân loại trong thiếu thốn để chứng minh nguyên lý "Vật chất quyết định hết thảy". Chúng lầm! Con người càng từng trải cảnh thiếu thốn vật chất, niềm tin và đạo đức càng được hun đúc và tình cảm thêm dạt dào. Sau này khi về vùng quốc gia, rồi di cư vào Nam tôi còn trải qua nhiều gian lao nghèo túng và nhiều lần bị khinh rẻ, nhưng dù nghèo túng đến đâu, dù bị khinh rẻ đến đâu, điều đau nhục nhất với tôi vẫn là chuyện chiếc chiếu hoa cạp điều, tuy thực tình câu chuyện chỉ giản dị có vậy.

Cách đây ít lâu khi mua được đôi chiếu hoa Phát Diệm ở đường Hai mươi về giải lên phản cho con nằm, tôi thấy vợ tôi chợt úp mặt vào hai bàn tay trước bàn gương. Có lẽ nàng nghĩ đến câu chuyện chiếc chiếu hoa cạp điều khi xưa. Chuyện đó như biến thành chiếc phao xẫm màu, bất chấp mọi giông tố vẫn nổi lềnh bềnh trên biển, biển thời gian của đời, biển kỷ niệm của hồn. Cũng kể từ sau ngày xảy chuyện đó, thái độ tôi đối với người đời khác xưa nhiều. Tôi thận trọng tránh mọi thái độ hẹp hòi, kiêu ngạo, ích kỷ, sắc cạnh. Lòng dễ xúc động, tôi thương người như thương chính thân mình vậy. Tôi thương những em nhỏ sớm phải lăn lưng vào cuộc đời để tự nuôi sống, tôi thương những người đói khát ham ăn ham uống, tôi thương những hình ảnh lam lũ một sương hai nắng, những hình ảnh giật gấu vá vai, tôi thương những kẻ thù dân tộc hôm qua, ngày nay thất thế ngơ ngác đi giữa kinh thành.

Ở thế giới thực dân tư bản người ta tung vật chất ra để giam lỏng linh hồn, ở thế giới thực dân cộng sản, người ta phong tỏa vật chất để mua rẻ linh hồn. Cả hai cùng thất bại! Linh hồn nhân loại chỉ có thể mua được bằng tình thương yêu rộng rãi và chân thành.

Thấy tôi hằng kiềm chế được nóng giận và nhất là vẫn mỉm cười, khi ứa nước mắt các bạn bè thân thường khen tôi có thái độ hồn nhiên của Trang Chu.

Các bạn yêu quý của tôi!

Các bạn có ngờ chăng thái độ hồn nhiên đó là kết quả của biết bao cảnh cơ hàn mà tôi và những người thân của tôi đã trải qua, trong đó có chuyện Chiếc chiếu hoa cạp điều!

Doãn Quốc Sỹ

User avatar
tieuvuvi
Posts: 2912
Joined: Sun Nov 26, 2006 1:29 pm
Been thanked: 3 times
Contact:

Post by tieuvuvi »

Image


Nhớ mầu mũ đỏ


Tháng 4 (*) lửa dậy bừng Tân Cảnh
Võ Định giã từ xa cao nguyên
Bôkơ xuôi chảy như hờ hững
Đêm Biển Hồ thức bắn lũ giặc điên

Tháng năm chiếm đóng cầu An Lỗ
Phong Điền buồn Phổ Trạch xác xơ
Hòa Mỹ rùn mình trong mưa pháo
Chong mắt từng đêm chận địch từng giờ

Tháng sáu qua đồi Trần Văn Lý
Thu chưa về bàn chuyện sang đông
Đại Lộ Kinh Hoàng người là dòi bọ
Ngàn xác dân đen nhầy nhụa máu hồng

Lầm lũi đi trăng qua Mỹ Chánh
Đêm Nancy hiu hắt sương mờ
Đập Đá mấy chiều mưa thấm lạnh
Hải Lăng Trường Phước buồn tiêu sơ

Tháng bẩy đưa quân về xóm đạo
Tặng La Vang câu nguyện lời kinh
Đuổi về rừng bọn côn đồ bất hảo
Cô gái Trị Bưu e ấp cười duyên

Tháng tám tiến vào thành Đinh Công Tráng
Cắm Quốc Kỳ cho muôn triệu người vui
Chiến công dâng trọn anh hồn bè bạn
Mũ Đỏ ngày nào nhớ mãi không thôi

(*) Năm 1972



Ngọc Mẫn (11/72)
Image

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

CHU TẤT TIẾN
Cuộc Chiến Đấu Thầm Lặng Không Cân Sức Của Người H.O.

Đổi đời! Hai tiếng ngắn ngủi nhưng hàm chứa bao nhiêu là sự kiện, ý nghĩa quan trọng đến mấy chục triệu nếp sống của dân chúng miền Nam. Từ "ông" đổi ra "thằng", từ "thằng vá xe" nhẩy lên "ông chủ tịch". Đang "bà" xuống "con vợ thằng cải tạo", đang "con bán hàng rong" bỗng biến thành "bà phó giám đốc".... Biết bao nhiêu tiếng thưa gửi "Ông Giám Đốc " một chốc đã đổi thành "Này, anh kia!"


Image


Đau đớn nhất, cay nghiệt nhất có lẽ là từ một chiến sĩ anh hùng, hy sinh bao nhiêu xương máu cho đất nước, bỗng thành người mất tư cách công dân, người không có địa chỉ, không đất đứng.

Sau đó là những năm tháng đầy đọa, rừng sâu núi thẳm, mù mịt ngày về, tương lai vô vọng. Nhưng kinh hoàng nhất không phải là bị bỏ đói, bị chửi, bị đánh đập, bị cùm, hoặc bị giết, mà là phải đối diện với một cuộc chiến mới để bảo vệ, giữ gìn danh dự một người chiến sĩ đã từng hân hoan, dàn dụa nước mắt khi nghe hô: "Đứng dậy! Các Tân Sĩ Quan!" và giơ tay thề trung thành với Tổ Quốc. Dưới ánh sáng của những ngọn đuốc, trong tiếng vang của lời kêu gọi "Hồn Tử Sĩ, gió ù ù thổi", những tấm lòng cương trực, công chính nhìn những lá cờ Tổ Quốc mà chí khí hùng anh dâng trào. Bây giờ, trong không khí tù mù của trại giam, trong cái nóng gắt hay lạnh ngắt của những quãng trường lao động, trong những cơn mưa dầm dề lê thê mà nước suối, nước nguồn dâng lên cuồn cuộn như sóng, trong cái buốt giá của thiếu áo, thiếu quần, người chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa phải âm thầm chiến đấu với chính bản thân mình, không để biến thành kẻ mất danh dự, kẻ thèm ăn, kẻ sợ chết để phải khúm núm, kính cẩn cúi chào cán bộ. Người chiến sĩ phải chiến đấu với cái lưng muốn còng vì cuốc đất, đắp đường, đào lỗ để lúc nào cũng dõng dạc, ngẩng cao đầu, không còng lưng khi đối diện với kẻ thù giam giữ mình cùng tất cả những hiểm nguy rình rập.

Qua vài năm, chục năm, hay mười lăm, mười sáu năm... xiềng xích, tù đầy trong nhà tù nhỏ sang nhà tù lớn, rồi có một ngày, lại đổi đời, sang được đất nước Tự Do. Bước xuống phi trường, người chiến sĩ H.O lại thấy một trận chiến mới lừng lững trước mặt, một trận chiến không cân sức. Một bên là thành thành lũy lũy, luật lệ, điều kiện, ngôn ngữ, văn minh, phong tục, tài năng, phương tiện. Còn một bên là bệnh tật, sức khỏe, thiếu thốn tài nghệ chuyên môn, ngôn ngữ của người ta thì không có, tiếng nói của mình thì không biết xài được ở chỗ nào, tuổi tác đã cao, tóc đã có nhiều sợi bạc, đùm đùm đề đề, vài đứa con, mấy đứa cháu, ngơ ngơ ngác ngác.

Như câm vì không nói được, như điếc vì không nghe được, như què vì không đi được, như ngu vì không hiểu được... Trận chiến này ác liệt quá! Cay đắng quá! Nhìn trời, trời ở quá xa; nhìn đất, thổ địa không hiểu ngôn ngữ mình; nhìn chung quanh, bạn bè cắm cúi đi làm cả ngày, không kể những người đã quên mất tên mình rồi, quên mất những ngày tháng vui cười bên nhau, đùa đùa giỡn giỡn.

Bạn cũ giờ này là ông Chủ Nhà Hàng, Chủ Tiệm, bà Chủ Khách Sạn, tiệm "neo", trường học ngành nghề. Họ bây giờ đi xe láng, có mời mình lên xe, cũng dặn dò: "Này, đừng ôm cái túi lồm cồm đó vào xe, lỡ làm sứt sơn, lại mất mấy trăm toi!" Họ bây giờ nhìn mình thì luôn nhìn xuống vì đầu họ ngẩng cao hơn đầu mình. Họ biết tỏng cái lợi tức vài trăm của mình không bõ tiền bảo hiểm xe của họ. Những người bạn cũ ấy, bây giờ lại đứng ở bên kia trận tuyến, đối lập với mình.

Mặt trận của họ là huy hoàng, là lộng lẫy, nhà nhiều gara xe, xế thì xế hộp, kênh kênh kiệu kiệu. Mình ở bên này, cóm róm, ngại ngần, cái "áp pạc tơ măng" cũ xì, đen đúa. Màn cửa cả vài chục năm không thay. Vòi nước cứ rỉ rả như ve sầu kêu hết mùa hạ lại mùa thu. Xe của mình là cái chân gẫy long đinh, cứ ba ngày lại phải đến thăm ông sửa xe một lần, lần nào cũng toát mồ hôi hột vì ông chủ gara phán những câu nghe muốn điếc tai luôn, người yếu thần kinh muốn xỉu tại chỗ.

Trận chiến thật bất công. Một bên dùng súng tối tân, một bên gậy cùn, gươm rỉ. Thử hỏi làm sao mà chiến đấu? Chưa đánh đã thua. Chưa giơ vũ khí lên đã muốn nằm lăn xuống đất. Không kể những lời trần tình, than thở của vợ con cứ như cái đinh đâm vào ruột, vào tim những nhát chí mạng. Vợ cần đi chợ, con cần sách học, cần xe, cần bảo hiểm. Còn chính bản thân chỉ cần một phút nghỉ ngơi, không suy nghĩ, không hận đời, không nhớ những trận đánh thực sự huy hoàng ngày xưa, thà ngã xuống vì một viên đạn còn hơn là sống lây lất bị dao nhỏ tỉa hàng ngày. Những luỡi dao bén nhọn, đanh ác: "Này, anh H.O kia, lại đây lau cái bàn cho tôi đi! Gớm cứ đứng như trời trồng thế!" "Anh H.O thì biết gì mà điện với thoại! Cầm cái phôn cũng không nên thân!"

"Anh kia, lại đây nhặt cái rác này cho tôi đi!" "Thôi, ngày mai ông nghỉ cho rồi đi! Hát Ô với Hát eo! Chả làm được cái đếch gì nên hồn!"

Đại khái thế! Địch thủ to lớn quá, nặng cân quá! Đánh không nổi! Hai tay từng cầm súng, cầm bút, rồi cầm cuốc trên chục năm, giờ này không biết xỏ chỉ kim may, cắt chỉ cũng chậm. Một ngày làm trên chục tiếng, cũng chỉ có vài đồng mang về nhà! Chị kia, Trung Úy với Đại Úy cái con khỉ gì! Đạp cái máy may mà để cho chỉ chạy tuốt ra ngoài đường! Báo hại tôi phải gỡ ra làm lại, khốn khổ khốn nạn. Chà! ngày xưa chắc chị cũng có nhiều nguời theo lắm đấy! Đẹp nõn nường thế mà! Thôi, chịu khó quên đi! Cắt móng chân người ta cho kỹ vào! Để họ sứt một li, là chị lãnh đủ đấy!

Ôi! Nước mắt ở đâu lại tuôn ra thế! Chiến sĩ gì mà mít ướt thế! Hơi một tí là khóc! Anh có Anh Dũng Bội Tinh à! Có mài bội tinh ra mà ăn được không? Ngào nghẹn hả! Nước mắt chẩy đầy trong họng, nước mắt rơi trong tim, làm run chân run tay. Ôi! Đánh trận kiểu này không công bình tí nào! Phải chi cho tôi ôm một quả bom lao vào xe địch cho nổ tung lên còn sướng hơn là bị chính người mình mắng mỏ... Nhưng ở đây, không có bom, không có đạn, chỉ có những cái lưỡi cay độc, coi anh chị em H.Ô như những thằng đần, con mẹ ngu, đồ phế thải, vô dụng, bất tài, bất lực! Có kẻ còn nói: "Mấy ông bà H.O vậy ra còn sướng hơn chúng tôi! Hồi chúng tôi mới sang Mỹ năm 75, phải lau cầu tiêu, dọn rác tối tăm mày mặt. Các ông đi máy bay, sướng thấy mẹ!" H.O chỉ muốn mở miệng trả lời: "Vâng, năm 75, chúng tôi cũng lau cầu tiêu, cuốc đất bá thở. Nhưng có khác là khi chúng tôi làm cật lực như thế, bên cạnh và đằng sau chúng tôi là những mũi súng AKA, dưới chân chúng tôi là mìn, là lựu đạn." Nhưng thôi, tranh cãi mà làm gì. Ra tiệm may, H.O nghiến răng làm cho khỏi bị chửi. Vào nhà hàng, H.O nín thở rửa chén cho sạch kẻo mấy người sang trước lại rủa là đồ H.O quê một cục. Về đến nhà, H.O căng mắt ra học muốn nổ đom đóm ra, nhưng cái đau của H.O là thấy "thằng bé vừa làm vừa bỏ báo, trông ốm như con cò ma!" hoặc "con bé nó học thế kia thì có ho lao không?" H.O đau buốt trái tim khi thấy con bé đi làm đêm về bị lũ du côn dùng gậy chầy đập cho vài gậy, muốn gẫy xương hông. H.O chẩy nước mắt ra khi thằng con vừa thở vừa kêu: "Bố mẹ cho con ăn gì đi, vừa đi học là chạy đi làm, đói ơi là đói!" H.O run run chiên quả trứng cho con mà nước mắt rơi xuống chảo nổ xèo xèo. H.O lúc đó quên rằng chính mình cũng phải đi bỏ báo, bỏ bánh mì, giao hàng, giao Fớ ni Chơ, chặt thịt, chặt cá ở chợ. Làm xong, H.O còn phải đi học ESL, học Anh Văn, học thi lại mấy cái bằng đại học. Căng thẳng quá, nhiều H.O chỉ muốn bỏ cuộc. Thôi, về lại Việt Nam, thà chết ở quê mình...

Nhưng rồi, 5 năm, 10 năm trôi qua nhanh như giấc mộng. Chả mấy người bỏ về Việt Nam vì trận chiến khởi đầu năm 1990 bất ngờ đã chuyển hướng gió. Những H.O vừa làm vừa học đã cùng với con trai, con gái đến trường cân đai, mũ áo, nhận bằng phát cho cả bố lẫn con. Một số H.O đã lại mở văn phòng Bác Sĩ, Dược Sĩ, Nha Sĩ. Có H.O trên 60 tuổi mới lấy lại bằng Nha Sĩ. Có H.O đi dậy lại trên Đại Học. Nhiều H.O làm công chức từ INS đến Bộ Nhân Dụng, Cơ Quan Housing, Cơ Quan tài chánh, Cơ quan điều tra tội phạm... Có H.O làm Kiểm tra viên Tiểu Bang, có H.O. đậu Master về Tâm Lý Học đi làm chỉ kém Bác Sĩ có một cấp. Mười năm trước, H.O lủ khủ quê mùa, nay H.O mở văn phòng dịch vụ, Luật Sư, nhà hàng, tiệm neo, tiệm nước... Con bé vừa đi làm vừa đi học muốn ho lao giờ là Bác Sĩ gia đình. Thằng bé bỏ báo năm xưa thành Tiến Sĩ Dược Khoa. Con nhà H.O mở văn phòng Nha Khoa hầu như thành phố nào cũng thấy. Con bé ốm tong ốm teo kia đang làm Phó Biện Lý, tốt nghiệp Luật khoa hạng Ưu. Những H.O Đại Bàng ngồi cắt chỉ năm xưa giờ đưa đón cháu nội, cháu ngoại đi học, để bố mẹ cháu vào bệnh viện làm việc. H.O giao hàng Fớ ni Chơ hồi đó, giờ làm Cố Vấn cho những người tâm thần. Chị H.O dược sĩ hồi ấy ngồi rút máu mấy người điên, giờ làm phụ tá phòng thử nghiệm rất lớn, lương cũng xấp xỉ dược sĩ. Ông H.O dược sĩ khi xưa, nay làm Giám Đốc một cơ sở hóa học, cũng sắp nghỉ hưu.

Các vị Niên Trưởng tóc bạc trắng vẫn kiên cường chiến đấu cho một đất nước Tự Do, không Cộng Sản. Xuống đường, biểu tình chống Cộng Sản, gây tiếng vang cho khắp thế giới. Nhiều vị làm báo, viết báo để đem tiếng nói Tự Do về lại quê nhà. Một phu nhân H.O vẫn gủi tiếng nói của mình trên đài phát thanh quốc tế về Việt Nam. Riêng một nữ Trung Tá Không Quân, giờ đã quá "Thất thập cổ lai hi", vẫn hoạt động mãnh liệt cho những thương phế binh bị bỏ rơi ở Việt Nam. Bà vẫn bay trên không gian từ Hoa Kỳ về giải đất chữ S nghèo nàn kia như cánh chim đại bàng ấm áp.

Cuộc chiến âm thầm, kinh hoàng, không có máu mà chỉ đầy nước mắt giờ đã chấm dứt với phần thắng về phía những chiến sĩ kiên trì, theo tinh thần cụ Nguyễn Công Trứ : "Khi làm Tướng không lấy làm vinh, Khi làm H.O cũng chả thấy gì là nhục!" Để rồi khi vinh quang đến, mới thấy tự hào là mình đã vượt quá vũ môn, dù sức già, thân mỏi, dù miệng thế cay chua. Hai chữ H.O nay đã thành lịch sử rồi, đã thành biểu tượng của những tấm gương hy sinh, nhẫn nại, ngoài biên thùy chiến đấu cam go, vào hậu trường vẫn luôn bền chí. Đó là đặc tính muôn đời của những người lính Cộng Hòa, những người lính mà một vị Tướng Nhẩy Dù Hoa Kỳ đã ví von "chiến đấu như sư tử" vậy.

Tháng 8, 2007.
CHU TẤT TIẾN

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Có bông hoa nào không cho người sẽ qua đời ?

1.

Sáng nay, thứ bảy, tôi có dịp tham dự tang lễ một người quen biết tại nhà thờ xứ đạo địa phương. Tuy là xứ đạo Mỹ, nhưng vị chủ tế buổi lễ lại là một linh mục Việt Nam từ quê nhà mới qua . Bài giảng của ông khá sâu sắc, trong đó có thí dụ về Alexandre Đại đế, một vị vua nổi tiếng trong lịch sử nước Nga. Vị linh mục kể lại, trong di chúc của mình, ông vua bách chiến bách thắng đã dặn triều thần rằng, khi ông chết, cái quan tài đựng xác của ông phải có hai lỗ hổng hai bên để thò hai bàn tay của vua ra cho mọi người nhìn thấy. Đó là hai bàn tay trắng, dù khi còn sinh tiền, người ấy đã là một vị vua quyền thế, tài năng, giàu có.

Dụ ngôn ẩn chứa trong câu chuyện của vị linh mục không có gì mới. Hầu như ai cũng biết điều đó. Nhưng hình như tất cả mọi người đều không có cơ hội nghĩ đến chân lý cũ kỹ đó trong suốt cuộc đời nhọc nhằn hối hả của mình. Có chăng, chỉ trong những dịp hiếm hoi, như tôi trong buổi sáng mệt mỏi này, miệng lẩm nhẩm đọc theo mọi người những câu kinh thuộc lòng một cách vô thức, nhưng mắt cứ nhìn về phía quan tài nằm giữa nhà thờ, tưởng tượng ra tấm thân da bọc xương của người quá cố teo tóp vì vi trùng ung thư đục khóet, bây giờ nằm thảnh thơi không vướng mắc gì nữa đến vinh nhục, thành bại, sướng khổ, vui buồn của cuộc đời . Thế là đã xong một kiếp người.

Hôm tuần lễ trước, tôi có ghé thăm anh tại nhà. Nhìn thấy một phụ nữ còn khá trẻ và rất xinh đẹp, đứng bên cạnh giường người bệnh, tôi hỏi thăm và được biết đó là người vợ cũ của anh . Hai người ly dị đã hơn 10 năm nay, được tin anh bị bệnh, chị đang ở một tiểu bang rất xa, đã vội thu xếp việc gia đình riêng để về chăm sóc anh những ngày cuối. Chị cho biết, tuy anh đã có những chuyện tình cảm khác sau khi hai người chia tay, nhưng anh rất vui mừng được thấy chị bên cạnh giây phút sắp lâm chung. Tôi còn được nghe vài câu chuyện khác liên quan đến cách sống của anh khi còn sinh tiền, khiến nhiều người chỉ đợi dịp này để có thể bày tỏ lòng quý mến và biết ơn của mình với anh.

Tang lễ kết thúc với bài hát thật buồn. Xin vĩnh biệt mọingười. Tôi ra đi lần cuối. Không bao giờ trở lại. Hẹn nhau nơi nước Trời. Theo sau quan tài, tôi thấy người vợ cũ vật vã trong chiếc khăn tang phủ kín khuôn mặt. Bên cạnh , là những người thân ruột thịt của anh và những người đã từng quý mến anh khi còn sống.

Một đời người đã xong, đã trở về với cát bụi trong cuộc viễn du cuối cùng, trong sự thương tiếc chân thành của mọi người có dịp quen biết. Có lẽ đó là điều duy nhất mà người lên đường đi vào nơi miên viễn muốn mang theo làm hành trang, chứ không phải những thứ phù du hư ảo khác của cuộc đời.

2.

Người ta nói, đời người ngắn ngủi chỉ một trăm năm. Nhưng từ trước tới nay, tôi hiếm thấy người nào sống được tới trăm năm. 70 tuổi đã được gọi là thọ. Và khi người ta đến được lằn mức 70, hẳn đã hiểu hết được lẽ đời. Tất cả chỉ là hư ảo, phù du. Danh vọng, tiền bạc, niềm vui, nỗi buồn. Nằm xuống cũng chỉ hai bàn tay trắng như ông vua nước Nga lừng danh trong lịch sử.

Vậy mà, có một người gìa 78 tuổi, cũng đã từng kinh qua baothăng trầm với những thứ phù du hư ảo, vẫn không nhìn thấy điều thật cũ kỹ mà cũng thật hiển nhiên ấy. Tuổi 78 là cái tuổi mấp mé bên bờ tử sinh. Hôm nay còn mạnh khỏe đấy, còn nói nói cười cười đấy, nhưng có thể ngay sáng ngày mai đã là người thiên cổ. Và ông gìa 78 tuổi này không hy vọng gì là một ngoại lệ trong lẽ tử sinh của đất trời.

Ông trước đây cũng có chút địa vị trong chế độ cộng hòa cũ. Tháng 4- 75, ông nhanh chân chạy thóat cộng sản, sau khi đã hô hào mọi người hãy ở lại chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Hàng trăm ngàn người lính vốn là thuộc quyền của ông, trong đó có tôi, không nhanh chân được như ông vì không có điều kiện hay rất đơn giản , muốn làm trọn nhiệm vụ của mình cho đến phút cuối cùng, kẹt ở lại và chôn vùi một phần đời quý báu trong những nhà tù tiền sử. Nhiều năm sau, một số lớn chúng tôi sống sót trở về và bằng nhiều phương cách khác nhau, đã đến được bến bờ tự do. Phần ông, 30 năm sống vất vưởng xứ người càng làm ông quay quắt thêm với giấc mộng công hầu chưa trọn vẹn, ông đã có nhiều hành động lời nói làm phiền lòng nhiều người trước đây làm việc dưới quyền ông, gián tiếp hay trực tiếp. Vẫn biết, ông chỉ là một conngười của thời thế, chó nhảy bàn độc , tài năng đã nhỏ mà nhân cách lại càng nhỏ hơn, nên phần lớn chúng tôi không bận tâm lắm về những việc làm “ trẻ người, non dạ “ của một người, mà chẳng may thời thế nhiễu nhương đã đặt ông vào vị trí chỉ huy chúng tôi.

Nhưng, gần đây nhất, ông đã từ Việt nam , nơi ông sống anlành một thân phận hàng thần lơ láo, trở qua Mỹ để tham dự buổi tiệc do vị chủ tịch nước Cộng Sản chủ tọa nhân dịp ông này và phái đòan chính phủ thăm viếng Hoa Kỳ. Trên đường đi đến địa điểm tổ chức bữa tiệc, hẳn chính mắt ông phải thấy hàng ngàn người Việt hải ngọai biểu tình, phản đối sự có mặt của phái đòan chính phủ cộng sản trên nước Nỹ, yêu cầu tự do dân chủ cho Việt Nam v..v.., trong số những người đứng đó , có rất nhiều người trước đây đã “ từng dưới sự chỉ huy “ của ông . Trong bữa tiệc, như đã được sắp xếp trước,ông “bất ngờ “ được mời lên phát biểu. Điều phiền lòng nhất cho chúng tôi là ông đã “ nhân danh cộng đồng người Việt hải ngọai “ để có những lời nịnh hót , tung hứng với phái đòan chính phủ cộng sản. Phiền lòng hơn nữa là ông lại “ nhắn nhủ “ đến “ những người từng dưới sự chỉ huy “ của ông – là chúng tôi, những người đã bị ông phản bội, bỏ rơi 30 năm trước – rằng thôi đừng thù hận nữa, đừng quốc cộng nữa, bây giờ chỉ còn có một nước Việt Nam thôi v..v..Tôi thực sự không bận tâm phân tích những điều ông gìa 78 tuổi vừa nói. Chúng cũng chẳng hơn những điều trẻ con nói ngọng. Tôi chỉ không thể hiểu nổi, một người gần đất xa trời, vẫn còn những tham sân si trần tục đến thế sao ? Ra sức làm nhỏ mình đi trước mắt kẻ cựu thù, chỉ để có cơ hội nói rằng “ tôi trước đây đã từng được đứng ở một bên đấu trường với chủ tịch “, để có cơ hội “ tự nhân danh “ một tập thể mà chính ông đã tự tách mình ra khỏi từ lâu, để có cơ hội nhắc nhở những người lính còn sống sót sau bao phong ba rằng họ đã “ từng dưới sự chỉ huy “ của ông, có nghĩa là cố chứng minh với mọi người rằng mình vẫn còn chỗ đứng của một thời vang bóng. Giấc mộng công hầu khanh tướng nó mãnh liệt đến độ khiến cho một con người, với cái vốn nhân cách đã nhỏ như hạt đậu, lại sẵn sàng tung hê nốt để chỉ đổi lấy cái bắt tay vị chủ tịch nước cộng sản Việt Nam trên đất Mỹ, và toe tóet cười nhìn thẳng vào ống kính của bao phóng viên đang sốt sắng làm nhiệm vụ. Tôi đã từng nghe và cảm thông được những câu chuyện người nghệ sĩ say mê , nhung nhớ ánh đèn sân khấu. Điều ấy có thể hiểu được vì đó là ánh đèn nghệ thuật của những con người nghệ sĩ. Nhưng tôi không thể cảm thông được với những nhân vật “ công chúng ‘ say mê đứng trước mọi người để được chụp ảnh, quay phim giống như ông gìa 78 tuổi tội nghiệp đang làm trò với trí tưởng tượng bệnh họan rằng mình đang làm lịch sử, rồi đây mình sẽ đi vào lịch sử với vai trò người hòa giải quốc cộng. Cho dù ông tin tưởng một cách thành thật rằng mình đang đóng vai trò hòa giải, thì cái đầu óc mụ mị nhất của một người 78 tuổi cũng phải biết tự hỏi rằng đây có phải là lúc, là nơi nói lên những điều đó không khi bên ngòai kia hàng ngàn người biểu tình chống đối, mà những người ấy là những người ở về phía bên ông đang kêu gọi hòa giải, hay lại chỉ như đổ thêm dầu vào lửa , hòa giải đâu chưa thấy mà chỉ thấy thêm những oan nghiệt đẻ ra do cái “ đầu đất “ ( chữ của một trí thức Hà nội hiện ở trong nước đặt tên cho ông ) cuối đời vẫn còn nửa mê nửa tỉnh giấc mộng Nam Kha.

3.

Có anh phóng viên một tờ báo hải ngọai mô tả về ông già 78 tuổi nói trên, nào là “ tuy 78 tuổi nhưng ông đã bỏ hút thuốc, cữ ăn, vẫn đi bộ, vẫn điểm dáng, trí óc vẫn mẫn tiệp “ , nhưng ngay từ bây giờ, tôi đã nghĩ đến cái ngày
ông già này nằm xuống. Chắc cũng chẳng bao lâu nữa đâu. Kiếp người vốn hữu hạn, không ai có thể thóat ra được. Và hẳn nhiên ông già 78 tuổi không thể là một ngoại lệ.Khi ấy, chắc sẽ có nhiều người thở phào nhẹ nhõm. Bất giác, tôi liên tưởng đến người quen biết của tôi vừa được chôn cất sáng nay. Anh chỉ là một con người rất bình thường, nhưng cách cư xử của anh khi sinh tiền đã khiến cho nhiều người đến với anh rất chân tình khi anh nằm xuống. Điển hình là người vợ cũ của anh. Họ chia tay có thể do những bất đồng trong cuộc sống chung, nhưng chắc chắn chị không hề khinh rẻ anh vì cái cách anh làm người. Vì thế, sau hơn 10 năm chia tay, chị vẫn đến với anh vào lúc anh cần chị nhất. Đó cũng là niềm an ủi to lớn cho những thân nhân ruột thịt còn sống của anh. Hồi đầu năm nay, ở hải ngọai có cái chết của một vị cựu tướng, vốn cũng đã là một “ thuộc quyền” của ông. Khi vị cựu tướng này nằm xuống, cả một cộng đồng người Việt hải ngọai thương tiếc, cùng với sự ngưỡng mộ chân thành của các cựu viên chức, cựu tướng lãnh Mỹ đã từng làm việc sát cánh bên ông. Tang lễ của ông có sự hiện diện của những lễ nghi quân cách đến từ tấm lòng quý mến và kính trọng thực sự của những người lính một thời khóac chung màu áo với ông . Đó là phần thưởng quý gía nhất mà bất cứ một vị tướng nào cũng mong ước cho ngày mình giã biệt trần gian. Đã đành, người chết đâu có nhìn thấy được những điều đó. Nhưng nó làm ấm lòng người còn sống, mỗi khi nghĩ đến sự ra đi của cha anh mình. Với một thời gian ngắn nữa đây , ông già 78 tuổi rồi sẽ xuôi tay, nhắm mắt, liệu vợ con, thân nhân ruột thịt của ông sẽ còn buồn đau thế nào khi so sánh tang lễ củachồng cha mình với một người khác cũng cùng thời, cùng một số phận, chỉ khác nhau ở cách hành xử và độ cao của lòng tự trọng.

4.

Xét cho cùng, cái đau của thân nhân ông gìa 78 tuổi trong tương lai (gần) cũng không thể so sánh với cái đau của chúng tôi bây giờ, hay đúng hơn từ nhiều năm nay, trong nước, đâu đó có người Hà Nội cũng thuộc lọai biết chuyện, đã nói vọng ra cho chúng tôi ngoài này nghe đại khái rằng, bộ VNCH các anh hồi xưa hết người rồi sao để cho cái ông kỳ cục ấy làm thủ tướng. Bây giờ ông ấy về bên này cũng chỉ để học đòi làm một đại gia, nhưng mà đại gia thuộc lọai câu lạc bộ 100, chứ dễ gì chen chân vào câu lạc bộ 10. Vì nước vì dân gì cái ngữ ấy !

Chúng tôi thua trận, bị kẻ chiến thắng bắt đi đầy ải , cầm tù, điều đó cũng bình thường. Thua trận, nhưng không nhục nhã. Chúng tôi buông súng, vì tuân theo lệnh của cấp trên, của vị tổng tư lệnh tối cao quân đội lúc ấy là ông Dương văn Minh , chứ chúng tôi không đầu hàng. Những năm tháng dài đăng đẳng trong những nhà tù, chúng tôi vẫn giữ khí tiết của một người lính, không chịu khuất phục, đành chịu bị “ cải tạo”. Tôi không thể quên được một đêm tháng 7 năm 1977, khi vừa bị lùa từ những toa xe lửa chỉ dành chở súc vật xuống một khu rừng gìa Yên Báy, chúng tôi đã được nghe lời huấn lệnh đầy căm thù của viên trại trưởng. Giữa đêm khuya, giọng ông ta lanh lảnh, nói cho chúng tôi biết rằng đứa con trai duy nhất của ông đã vùi thây ở chiến trường miền Nam và hiều thứ tội ác khác mà chúng tôi đã phạm. Chúng tôi hiểu rằng, những ngày sắp tới sẽ là địa ngục trần gian ở tầng thấp nhất. Chúng tôi chấp nhận đòn thù, vì chúng tôi hiểu thân phận mình, nhưng chắc chắn chúng tôi không chịu nhục. Trong tinh thần chịu đựng tất cả, ngòai sự khuất phục, phần lớn anh em chúng tôi đã sống sót, đã ra khỏi khu rừng gìa Yên Báy địa ngục trần gian, đã lăn lóc qua nhiều trại tù khác trước khi chính thức cởi bỏ lốt áo phạm nhân. Rời khỏi nhà tù, lần lượt chúng tôi cũng đã đến được bến bờ tự do. Để ngày hôm nay, chúng tôi tai nghe, mắt thấy vị chỉ huy cũ của mình xum xoe những lời nịnh hót, khuất phục trước ánh mắt hài lòng của kẻ cựu thù. Đau đớn hơn nữa, ông ta lại nhân danh chính chúng tôi, những người đã phải trả gía cho khí tiết của mình bằng những năm tháng đẹp nhất của tuổi trẻ trong những nhà tù dựng nên bởi chính kẻ cựu thù đang hân hoan đón nhận sự thần phục của ông một cách hể hả.Ở đây, không có hận thù, mắt trả mắt, răng đền răng. Vì chúng tôi, đã từng là nạn nhân của hận thù, từng bị đòi mắt trả mắt, răng đền răng. Ở đây , là vấn đề nhân cách của một con người, khí tiết của một người lính đang tiếp tục cuộc chiến. Cuộc chiến ngày hôm nay không phải là nhằm khôi phục nền cộng hòa cũ, mà là chủ nghĩa cộng sản phải cáo chung trên đất nước Việt nam, mà là tái thiết lập lại tự do, dân chủ, nhân quyền cho hơn 80 triệu người dân vốn đã quá đau khổ vì chiến tranh, lạc hậu, nghèo đói. Lịch sử thế giới đã chứng minh rõ ràng, ngày nào còn chủ nghĩa cộng sản, ngày ấy đất nước vẫn chưa thóat ra khỏi sự trì trệ, chậm tiến. Trong cuộc chiến hiện nay, khối người Việt hải ngọai là một lực lượng đối trọng với chính quyền cộng sản đương nhiệm, đóng vai trò yểm trợ cần thiết cho lực lượng dân chủ ở trong nước. Vì thế, những người lính gìa chúng tôi, không thể đứng bên lề cuộc chiến đó. Và cái ông gìa 78 tuổi kia không có chút tư cách nào để nhân danh chúng tôi một lần nữa.

5.

Ai cũng chỉ có một đời để sống. Thành công hay thất bại trong cuộc đời một con người, chỉ là những khái niệm tương đối. Tùy quan niệm mỗi người, mà sự thành công đối với người này, lại là sự thất bại dưới con mắt người kia. Nhưng sống làm sao cho ra một con người, lại chỉ có một cách nhìn duy nhất. Và vì không ai có cơ hội sống lại đời mình một lần thứ hai, nên khi nằm xuống rồi, mọi chuyện liên quan đến người ấy đã được định luận.

Giàu nghèo đến 30 tết mới hay. Hay dở của nhân cách một con người chờ đến lúc xuôi tay sẽ biết. Lúc ấy, có ăn năn cũng không kịp nữa. Trong lúc bùi ngùi ném cánh hoa xuống mộ người quen biết sáng nay, tôi đã nghĩ đến giây phút này của ông già 78 tuổi. Ngoài thân nhân ruột thịt của ông, còn ai nữa sẽ ném theo xuống mộ ông một bông hoa, dẫu chỉ là bông hoa héo ?




© T.Vấn 2007
Last edited by linhgia on Fri Aug 10, 2007 12:40 am, edited 3 times in total.

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Cú mèo kêu ở Krek

Con đường đất đỏ xuyên biên giới
Xe đưa ta đến Krek buổi chiều
Nắng tàn - đêm tối - cú mèo kêu
Mang tin báo tử về hai phía

Cú mèo kêu. Ờ ! Đâu vô nghĩa
Giữa cuộc chơi người lớn dự phần
Trận so găng phải ngủm một thằng
Điều tất yếu không sao tránh khỏi

Đánh đấm- dĩ nhiên là man rợ
Thượng đài võ sĩ chẳng được lui
Giống như giác đấu thời trung cổ
Giết nhau sắc mặt vẫn tỉnh bơ

Con đường đất đỏ xuyên biên giới
Ngại gì đêm tiếng cú mèo kêu
Cắc bùm - ở Krek ai cũng hiểu
Cứ nghe là phách lạc hồn xiêu

Đã đến nơi này. Thôi đành chịu
Mạng số ư ? Giao phứt ông trời
Nếu ta sống sót về thành phố
Sẽ quậy tưng bừng tới bến luôn


Linh Phương

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Trung Quốc chi $1 tỷ cho an toàn thực phẩm, dược phẩm BẮC KINH (Reuters) - Trung Quốc sẽ chi tiêu hơn một tỉ Mỹ kim để cải tiến an toàn thực phẩm và dược phẩm từ nay tới năm 2010 và nhà chức trách sẽ được dành thêm quyền giám sát, một viên chức cho biết hôm Thứ Tư, 8 Tháng Tám, giữa lúc những lo sợ về các sản phẩm của Trung Quốc vẫn không giảm bớt.

Trung Quốc đã gặp khó khăn trong việc thuyết phục thế giới rằng sản phẩm của họ được coi như an toàn, tiếp theo một loạt những vụ tai tiếng về thực phẩm gia súc nhiễm độc, đồ chơi, vỏ xe, kem đánh răng, thuốc men và cá.

Theo một cuộc thăm dò mới, người tiêu thụ Mỹ cực kỳ lo ngại về các sản phẩm làm tại Trung Quốc, và gần hai phần ba những người được thăm dò nói họ sẽ ủng hộ một vụ tẩy chay hàng hóa Trung Quốc.

Phát ngôn viên của cơ quan thực phẩm và dược phẩm nhà nước của Trung Quốc, bà Yan Jiangying, nói chính phủ đã dành riêng 8.8 tỉ yuan (1.16 tỉ Mỹ kim) cho an toàn thực phẩm và dược phẩm trong kế hoạch ngũ niên hiện nay, kéo dài cho tới năm 2010.

“Một phần của ngân khoản này sẽ được chi tiêu cho một phòng thí nghiệm lớn, mới,” bà nói. Bà đã không đưa ra một sự so sánh với các năm trước.

Các quy định mới sẽ dành cho cơ quan theo dõi thẩm quyền đóng cửa các nhà máy và tịch thu bất cứ vật liệu nào mà họ cần khi điều tra các hàng hóa dưới tiêu chuẩn, bà nói thêm.

Bà nói cơ quan của bà cũng sẽ truyền bá thông điệp về an toàn trên toàn quốc, khởi sự tại vùng nông thôn khổng lồ, nơi sinh sống của 60% dân số 1.3 tỉ người.

“Chúng tôi sẽ chú trong tới an toàn thực phẩm tại nông thôn,” bà Yan nói.

Một thứ trưởng nông nghiệp mới đây đã công nhận rằng tình trạng nông nghiệp lạc hậu của Trung Quốc là một trở ngại lớn trong việc nâng cao an toàn thực phẩm.

Năm loại thuốc trừ sâu đã bị cấm vào đầu năm nay, và Bộ Nông Nghiệp đang đúc kết một danh sách các công ty vẫn đang sản xuất các hóa chất đó, tờ báo chính thức China Daily nói.

Tại nông thôn Trung Quốc, có một vấn nạn liên quan đến việc các nông dân sử dụng các hóa chất không thích hợp và xịt thuốc lên mùa màng ngay trước khi chúng được thu hoạch và đem bán, báo cáo nói.

Trung Quốc sử dụng gấp đôi lượng thuốc trừ sâu hàng năm so với mức thực sự cần thiết. Tình trạng này đã làm tăng các vấn nạn về an toàn thực phẩm trong nước, tờ báo nói. (n.n.)

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

MƯA NGÂU

Nguyễn Quý Đại
Tháng bảy mưa ngâu, làm chúng ta nhớ lại chuyện Ngưu Lan Chức Nữ (1) chuyện tình lãng mạn, nhưng đời sống hôn nhân của họ bị sông Ngân Hà ngăn cách đôi bờ, hàng năm chỉ gặp nhau một lần qua nhịp cầu Ô thước; ca dao còn lưu truyền trong dân gian:

Tục truyền tháng bảy mưa Ngâu
Con trời lấy chú chăn trâu cũng phiền
Nhớ ai như vợ chồng Ngâu
Một năm mới gặp mặt nhau một lần...
Tháng bảy là tháng mưa Ngâu
Bước sang tháng tám lại đầu trăng thu

Chuyện trên trời là vậy, còn chuyện dưới thế gian thì nhiều vô số. Biến cố lịch sử năm 1954 chia đôi Nam-Bắc dòng sông Bến Hải có cầu Hiền Lương nhưng ngăn cách giữa hai miền ! Đến 21 năm sau, dù được nối liền nhưng tình người vẫn còn ngăn cách!

Năm 1975 đất nước thống nhất, nhưng xảy ra nhiều chuyện tang thương. Tình yêu, vợ chồng, cha mẹ, anh em mỗi người một phương trời, phần lớn Quan - Chức làm việc dưới chế độ VNCH, kể cả tu sĩ đều bị chính quyền CS tập trung vào trại cải tạo, nhiều gia đình bị đánh tư sản đuổi đi vùng kinh tế mới…. Những người may mắn chạy thoát trước khi miền Nam bị thất thủ, vì hoàn cảnh không thể đem theo vợ hiền con thơ, cha mẹ già. Người ở lại nhiều năm trong mong nhớ đợi chờ ….

Từ 30. 4.1975, nước mắt của người dân ở miền Nam có thể nhiều hơn mưa ngâu tháng bảy. Nhiều người vợ ở nhà phải đảm đang, gánh vác nuôi con, thay chồng phụng dưỡng cha mẹ già, dành dụm tiền bạc mang quà đi thăm chồng, vất vả xin giấy phép tìm đến trại cải tạo, bị cán bộ quản giáo lạnh lùng canh gác nghe ngóng chuyện nhà, thân nhân tới thăm nhìn nhau nức nở khóc, ngồi cách nhau một cái bàn… Tháng Bảy mưa ngâu tháng báo hiếu Mẹ trong ngày lễ Vu Lan. Tôi đeo bông hồng trắng tưởng nhớ Mẹ, không thể quên ngày xưa Mẹ tôi đường xa lặn lội đến thăm, buổi chiều ngày đó trời đổ mưa, mấy năm xa cách gặp lại Mẹ, Mẹ ôm tôi khóc thật nhiều, tình thương của Mẹ như nước trên nguồn luôn chảy về biển rộng bao la. Mẹ tôi nói chưa hết chuyện nhà, thì cán bộ ra lệnh „hết giờ thăm“. Giỏ xách qùa bánh Mẹ cho, liền bị cán bộ chận lại kiểm soát, và khiển trách: „uỷ mị khóc lóc ….“

Mẹ ra về mang theo thương nhớ lo âu, nhìn theo Mẹ tôi nghẹn ngào nước mắt lưng tròng…. Hơn 3 năm trong trại cải tạo, tôi phải trả giá quá đắt so với thời gian ra trường, làm công chức của VNCH thâm niên 8 tháng !! Ngày được trả tự do, về nhà bị quản chế, không có quyền công dân, mỗi tuần phải trình diện công an Phường. Chính quyền địa phương gọi đi thủy lợi, hăm dọa đuổi đi vùng kinh tế mới.. Mẹ tôi thao thức nhiều đêm không ngủ, sau đó cho tôi mấy cây vàng và bảo:

„-Con cầm lấy tìm đường vượt biên, thế hệ con không thể sống với chế độ mới.

Tôi ra đi, may mắn đến được bến bờ tự do. Đường về quê hương đã hơn 27 năm xa cách, ngày trở về với vợ con mái tóc đã bạc màu, Cha Mẹ đã ra người thiên cổ, chúng tôi qùy trước những ngôi mộ của ông bà, cha mẹ với tấm lòng thành thương nhớ, những giọt lệ rơi….

Hàng năm ở Đức cũng như các nước Tây Phương tổ chức ngày vinh danh Mẹ Mother´s day, ngày của Cha Father´s Day. Báo chí đăng những bài viết về Mẹ rất thiết tha, những nhạc phẩm ca tụng Mẹ tuyệt vời…. Hai ngày đó những người cha mẹ còn sống con cháu về chúc mừng.. Chúng tôi nhận quà của 2 con, và mua hoa để trên bàn thờ, đốt nhang đèn tưởng nhớ công sinh thành dưỡng dục, trong Kinh Thánh Cựu ước và Tân Ước đều có rất nhiều đoạn nói đến lòng hiếu thảo đối với Cha Mẹ, đến nhà thờ nghe bản thánh ca cầu cho Cha Mẹ.

„Xin Chúa chúc lành cho đời cha mẹ con. Công ơn Người như núi non, dưỡng nuôi con bao ngày vuông tròn…Ai qua là bao chốn xa, thấy đâu vui cho bằng mái nhà. Mai con lớn lên rồi, ra đi tung cánh trong đời, dầu xa vô bờ, vẫn nhớ đến tình Mẹ…..“

Lần đầu về Việt Nam, nhằm tháng bảy âm lịch. Đời sống ở Sài Gòn bon chen chạy đua theo thị trường…Nhưng người ta vẫn giữ phong tục rằm tháng Bảy cúng cô hồn, cho những linh hồn lang thang không người thờ cúng

„Dấu người thập loại biết là đâu
Hồn phách mơ màng trải mấy thu
Cồn biển nghinh ngang bầu thế giới
Những mồ vô chủ thấy mà đau..“

Buổi tối trước sân, người ta cúng bánh kẹo, chuối, trái cây… mùi nhang thơm thoang thoảng bay xa. Đám trẻ tinh nghịch trong xóm đến đứng chờ ngoài ngõ mong nhận được bánh… sau khi gia chủ cúng xong. Các Chùa Phật Giáo tổ chức lễ Vu Lan còn gọi là lễ Xá tội vong nhân. Sinh hoạt của Phật Giáo cũng có một vài khác biệt, Phật giáo Bắc Tông (Ðại Thừa) tổ chức lễ Vu Lan; nhưng Phật Giáo Nam Tông thì không.

Lễ Vu Lan, khởi thủy tại Ấn Ðộ. Lễ Vu Lan theo đạo Phật vào Trung Hoa, Ðại Hàn, Ðài Loan, Việt Nam, Nhật Bản. Ngoài các quốc gia ảnh hưởng Phật giáo Nam Tông như: Miến Ðiện, Thái Lan, Cam Bốt, Lào, Nam Dương... mỗi ngày ăn hai buổi, 6 giờ sáng và 11 giờ trưa, theo lối khất thực, Nam Tông đều không ăn cơm tối, nhưng được phép ăn mặn, không tổ chức lễ Vu Lan. Danh từ Vu Lan nguồn gốc từ tiếng Phạn Sanskrit "ullambana," được dịch là Vu Lan Bồn. Ullam theo Hán tự có nghiã là đảo huyền, treo ngược. Người Việt gọi là lễ Vu Lan, nghiã là giải thoát những khổ đau, cởi bỏ những nghiệp chướng của con người ở thế gian….

Trong kinh Phật đã dẫn chứng trường hợp của Ông Mandgalyayana theo Sanskrit; Moggallana, Pali; tiếng Hán phiên là Mục Kiền Liên, đọc tắt là Mục Liên, còn gọi là Ðại Mục Kiền Liên, quy y theo Phật là người đệ tử "thần thông bậc nhất." đắc đạo, trở thành La hán, ông có thể nhìn thấy dưới địa ngục và đã thấy mẹ là bà Thanh Đề bị hình phạt, vì kiếp trước bà mẹ làm nhiều việc ác. Ông xuống điạ ngục lấy bình bát đựng cơm dâng mẹ. Bà Thanh Đề cầm lấy ăn, tức thời cơm hóa ra lửa hồng…không thể ăn được. Ông đau đớn đến trình đức Phật, được Phật dạy là bà mẹ của ông kiếp trước gây nghiệp chướng tội lỗi, phải chờ đến ngày Rằm Tháng Bảy, làm đại lễ mời Phật và tăng giới mười phương, cùng tụng kinh cầu nguyện phù trợ, mới có thể giúp mẹ ông giải tội. Ông Mandgalyayana làm đúng theo lời Phật dạy, và mẹ của ông được siêu thoát. Tín đồ Phật giáo noi theo gương Mục Kiền Liên và từ đó lễ Vu Lan đi vào nghi lễ Phật Giáo Bắc Tông, lưu truyền cho tới ngày nay. Vào tháng bảy cầu cho Cha Mẹ Tổ Tiên của chúng sinh, nếu con cái hiếu thảo biết dâng lễ Vu Lan cầu xin chuộc tội, cũng sẽ được xóa tội vong thân….

Trước năm 1975, các ngày lễ lớn của Phật Giáo như Phật Đản, Vu Lan thường được treo cờ, tổ chức đại lễ lớn có xe hoa lộng lẫy. Tôi đã đi ngang qua nhiều Chùa yên lặng không cờ xí như xưa ! thoáng một chút hoài cổ „dấu xưa xe ngưạ hồn thu thảo, nền cũ lâu đài bóng tịch dương“. Chùa Ấn Quang một thời làm sóng gió của phong trào tranh đấu Phật Giáo với chính quyền miền Nam, Hiện nay gắn bảng hiệu mới: Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, không còn của „GHPHVNTN“ những người trước 1975, từng tranh đấu nhân danh đạo Pháp không biết họ ở đâu bây giờ?

Chú em giao việc văn phòng Luật cho nhân viên, mời tôi đi Chùa dự lễ Vu Lan báo hiếu. Chúng tôi đến Việt Nam Quốc Tự, xe đến trước cổng đã có các em mời mua các con vật để phóng sanh. Những con khỉ, chim bị nhốt trông thật tội nghiệp, chúng mong được giải thoát, nhớ lại những năm trong trại cải tạo, tôi trả tiền mở cửa lồng cho đàn chim bay. Trong cổng Chùa hai bên bán nhang đèn, hoa sen để cúng Phật. Sân chùa đông người vội vã đến và đi. Bên trong Chánh điện khói nhang bay lên mù một khoảng không gian… tiếng chuông mõ đều đặng… Tôi muốn cảnh chùa thanh tịnh hơn, chú em đưa tôi đến gần khu du lịch Đầm sen. Ngôi chùa nhỏ tu theo phái Thiền (thờ Tổ Sư thiền). Thầy trụ trì là Hòa Thượng Thích Minh Cảnh (?), chúng tôi đốt nhang đảnh lễ ở chánh điện và cúng tịnh tài. Vườn chùa có cây lá xanh tươi yên tĩnh, giếng nước trong mát vào buổi trưa „Ngọ trai“ phía sau chùa, nhiều Phật tử đang tiếp tục nấu nồi cà ri vàng sôi sùng sục, phòng bên cạnh đã đông người sinh hoạt, mặc áo dài màu lam, nhưng không thấy ai đeo bông hồng đỏ hay trắng... Thức ăn không bán, ai muốn ăn gì thì tự chọn lấy. Tôi rất thích phong cảnh thiên nhiên nơi nầy, Thầy Trụ trì mời chúng tôi vào dùng „cơm trưa“, thật là hân hạnh được ăn chay ở chùa thấy lòng mình thanh thản, an toàn không sợ ngộ độc! Phía sau Chánh điện là phòng nhỏ kê dãy bàn dài, để nhiều loại bánh chay, xôi, chè, trái cây đủ loại vừa cúng xong. Những diã rau thơm giá trắng sắp thứ tự, chú Điệu đầu còn để chóp mang 2 tô bún tới mời… bình trà sen thơm ngát.

Lần đầu tiên, tôi được thưởng thức món ăn chay với bánh, xôi, chè, cúng xong trên bàn Phật. Thức ăn có mùi hương đặc biệt, mùi của trầm, hoa sen … Chúng tôi có dịp hầu chuyện với thầy trụ trì, được biết thầy đã từng dạy môn Hán Văn, giảng dạy cho nhiều sinh viên tu học đã lên chức Đại Đức, Thượng Toạ, vì đông người, tôi ngại không hỏi nhiều về vấn đề tự do Tôn giáo… Thầy am hiểu sinh hoạt của người Việt hải ngoại, đại đức Thích Đồng Văn trụ trì chùa Tâm Giác Munich được tấn phong lên Thượng Toạ nhiều người chưa biết, nhưng thầy đã biết… Trong nước các ngày lễ lớn, tổ chức đúng ngày tháng theo âm lịch, nhưng ở hải ngoại thường chọn ngày cuối tuần, vì trong tuần mọi người phải đi làm việc. Sinh hoạt tôn giáo của cộng đồng người Việt tỵ nạn khắp nơi trên thế giới, luôn phát huy và trường tồn, mang bản sắc văn hoá Việt Nam hoàn toàn độc lập và tự do. Người Việt hải ngoại đã đóng góp nhiều về việc từ thiện, gởi tiền về giúp tu sửa Chùa, nhà Thờ bên quê nhà.

Thời gian ở Việt Nam tôi dành thì giờ đến các nơi mang dấu ấn lịch sử, như nhà thờ cha Tam ở Chợ lớn, nơi cố TT ngô Đình Diệm dự thánh lễ cuối cùng, Thánh Thất Cao Đài, Cồn Phụng của ông Đạo Dừa (Vừa). Tôi muốn đến Thanh Minh Thiền Viện thăm danh tăng đại lão Hoà thượng Thích Quảng Độ, nhưng có người khuyên đừng tới đó, gây ảnh hưởng người nhà. Ông bạn tôi làm nghề giáo trước 1975 được hoãn dịch gia cảnh, nên được dạy học tiếp tục đã kể với tôi:

- Đứa học trò lớp 9 con nhà nghèo cha mẹ mất sớm, ở với bà ngoại đi học chăm và ngoan, không ngờ nó nghe lời bạn bè bán cần sa kiếm tiền, bị bắt giam ở khám Chí Hoà. Vì tình thầy trò, ông xin giấy phép tới thăm, lấy tình thương khuyên bảo, cũng như hứa sau khi hết thời gian tù về sẽ giúp nó học lại để thành người tốt hơn. Sau đó ông gặp người học trò khác làm công an cho biết, sở CA thành phố có lệnh cho theo dõi thầy, vì đi thăm can phạm buôn bán ma tuý… ông khuyên tôi, đừng để thân nhân bị ảnh hưởng trong lúc tôi ở trong nhà, Thanh Minh thiền viện thuộc GHPGVNTH trước 1975, nhà nước CSVN không công nhận, ngày nay chỉ có Giáo Hội quốc doanh mà thôi. Nên ngày đêm, có công an thường phục theo dõi ai đến tiếp xúc với các Sư. Thật ra tôi nghe danh và kính mến Hòa Thượng, muốn đến thăm ngài chứ không mang một sứ mạng nào hết !

Lần đến Cần Thơ, tôi muốn đến tòa Tổng Giám mục, thăm vị Linh mục trước đây theo học thần học ở Roma, xong tiến sĩ về làm Phó TGM, bị chú em từ chối với lý do vì đi xe nhà, nếu đến đó bị CA ghi bản số xe thì phiền phức…. Như vậy chúng ta đã hiểu được vấn đề Việt Nam có tự do hay không ? Những người đấu tranh bất bạo động cho tự do, dân chủ, đều bị kết tội theo điều 88 hình luật !!

Tôi cũng hỏi một vài Tu sĩ về vấn đề tự do tôn giáo, đều được trả lời như nhau: theo lệnh của nhà nước đi tu phải „đẹp đạo tốt đời„ dù xuất gia đi tu, nhưng vẫn bị sự quản lý của công an và nhà nước… Vấn đề nầy khác trước 1975 ai muốn tu thì vào Chùa, Chùa có sinh hoạt độc lập và được tôn trọng trong khuôn viên của Chùa, Cảnh sát không được bước vào kiểm soát ! Giáo Hội tự trị có nhiều cơ sở văn hoá riêng, các trường Trung và Đại học…

Sau hơn 3 thập niên Việt Nam hoà bình, nhìn bề ngoài kinh tế phát triển, dân trí phải tiến bộ, nhưng không tiến được còn thụt lùi, con gái nhà quê bị rao bán làm nô lệ, xuất cảng lao động v.v.. Môi trường sông nước bị ô nhiễm trầm trọng, Thành phố tăng khoảng 8 triệu người, nhưng không có nhà vệ sinh công cộng… Nhà thờ Đức Bà theo lịch sử 300 năm, nhưng góc cạnh phiá sau tường bị xâm thực, đổi màu vì người ta quên sự trang nghiêm của Giáo Đường làm nơi ấy để đi tiểu. Thế kỷ thứ 21 mà Việt Nam vẫn còn trình trạng như các nước chậm tiến, thiếu văn hoá.

Mùa Vu lan ở Sài Gòn không thấy Đoàn Thanh Niên Phật Tử áo lam đeo huy hiệu hoa sen? Ngoài phố chỉ thấy xe cộ xuôi ngược vội vã đêm ngày, đám trẻ „cháu ngoan“ thì khăn quàng đỏ. Chùa, nhà Thờ không có cái nào được xây thêm (ngoại trừ ở Đà Lạt có thêm Thiền viện Trúc Lâm của H.T Thích Thanh Từ ?) Đi các nơi đều thấy tượng ông Hồ, đứng ở công viên, bến tàu, đầu đường xó chợ, rồi Đền thờ, phần viện bảo tàng cho ông ta...?

Tháng bảy mưa ngâu, thời tiết vẫn như vậy, nhưng nếu đời sống xã hội không thay đổi theo văn minh của nhân loại, không có tự do, dân chủ thì con người vẫn ở cuối dòng sông, cuộc sống chỉ lo miếng cơm manh áo, bon chen đói khổ, thì tình người trở nên thiếu chân thật.. Hình ảnh quê hương rất đẹp! lâu năm sống ở hải ngoại, ai cũng muốn một lần về viếng mộ, xây nhà thờ Tộc để trả một phần công ơn cha mẹ, tổ tiên… Đối diện với cuộc sống hơn 30 năm Xã Hội Chủ Nghiã khá nhiều đổi thay… giã từ Việt Nam, chúng ta mỗi người đều mang theo một nỗi buồn nào đó chen vào hồn. Mùa xá tội vong thân, cầu mong cho dân tộc Việt Nam cỡi bỏ bớt nghiệp chướng của nhiều năm qua, Những giọt nước mưa Ngâu tưới xuống ruộng đồng xanh tươi, Phong trào đấu tranh cho Tự do Dân Chủ sớm thành công.

(1) Ngày xưa ngày xưa có nàng Chức Nữ là con gái yêu của Thiên Vương, Nàng thường dệt vải hay ngồi bên bờ sông Ngân may áo cho các em. Ngày kia một chàng trai dắt trâu đến bờ sông, chàng tên là Ngưu Lang đẹp trai thấy nàng chàng liền si mê, Riêng nàng cũng yêu thương chàng Thiên Vương hiểu được mối tình của hai người nên đã ưng thuận cho Chức Nữ và Ngưu Lang kết duyên vợ chồng. Nhưng họ phải lo tiếp tục công việc sau khi cưới nhau.

Hai người sống rất hạnh phúc. Tuy nhiên suốt ngày bên nhau cho nên đã chểnh mãng công việc Thiên Vương giao, khung cửi bỏ không, đàn trâu gầy đói. Thiên Vương giận dữ đầy cả hai xuống bờ sông Ngâu, nhưng bắt mỗi người ở một bên bờ. Mỗi năm Trời chỉ cho hai người gặp nhau một lần vào ngày 1 tháng 7 Âm lịch. Vào ngày ấy, bao giờ cũng mưa dầm dề, đó là nước mắt của cả Ngưu Lang lẫn Chức Nữ. Nhân dân gọi đó là mưa Ngâu. Những vợ chồng trẻ vì nhiệm vụ hay vì một hoàn cảnh nào đó mà luôn phải xa cách nhau thường được ví là "như vợ chồng Ngâu".

Nguyễn Quý Đại

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Nóc giáo đường

Phan
…Tôi làm Nhà hàng đã lâu nên có thói quen ăn xong còn dư là đổ thẳng vô thùng rác vì làm Nhà hàng không nên tiếc rẻ bởi có thể rắc rối với luật pháp. Thí dụ nghe nồi cơm hôi ê là đổ nguyên nồi rồi đi nấu nồi mới, bởi tính ra nồi cơm không bao nhiêu tiền gạo, mình tiếc rẻ để ráng bán, nhỡ khách hàng ăn cơm thiu bị đau bụng là mình tiêu. Còn một lý do nữa là buôn bán cũng cần có chút lương tâm! Đó là câu nói của người em rể tôi. Vợ hắn (em gái tôi) mới sanh con ở bệnh viện về, hắn biết nấu nướng gì đâu, hai vợ chồng lại ở tuốt dưới Florida trong khi vài người thân có được thì lại ở hết trên Dallas này. Hắn ra Nhà hàng Việt Nam mua cơm trắng với cá kho tộ cho vợ ăn. Cơm thì thiu, cá thì mặn đắng. Cô em tôi nhắm mắt nuốt đại cho qua ngày, ai dè bị tiêu chảy mới khốn khổ cho người mới sanh. Nghĩ tới thôi đã nổi da gà, tội nghiệp hết sức. Tôi ráng nhớ câu nói của người em rể để nhắm mắt đổ, để khỏi người phụ nữ nào lâm cảnh - em gái tôi. Tôi đổ vô thùng rác cũng nhiều như chủ Nhà hàng đổ tôi ra đường, tôi bị đuổi hoài là do như thế đó!

Đến một lần tôi thấy người homeless hốt lại thức ăn vừa trút vô thùng rác, thật đau lòng. Thật ra tập thói quen cái gì cũng trút vô thùng rác không phải là dễ vì người mình (tôi) đã sống sót qua những giai đoạn lịch sử tối đen - không có gì để ăn nên bảo đổ bỏ thức ăn là điều vô cùng áy náy chứ cũng không hẳn là tiếc của khi của cải vật chất đã dư thừa. Tôi cũng bị rúng động khi đọc một bài báo nói rằng: thức ăn đổ bỏ trong tất cả những trường học ở Mỹ có thể nuôi được một nước nghèo ở Châu Phi. Phải chăng mình may mắn, được sống ở nước giàu có nên phung phí. Nhưng tiết kiệm không có nghĩa là buôn gian bán dối là điều chủ Nhà hàng nên… suy nghĩ! Tiết kiệm bằng phương pháp khoa học kỹ thuật là đúng đắn.

Tôi về nhà với những bữa cơm gia đình cũng vậy, nhiều khi phụ vợ dọn bàn sau bữa ăn, những dĩa thức ăn còn chút đỉnh, tôi trút luôn vô thùng rác và thường là bị rầy: “Anh hoang phí qúa! Tội chết. Để đó, mai em giỡ đi làm.” Biết sao bây giờ với thói quen nghề nghiệp và những gút mắt của lương tâm.

Nơi tôi làm việc đương nhiên là Nhà hàng, tôi thuộc đám nhà trên tức là lo buôn bán chứ không thuộc đám nhà dưới (nhà bếp), lo nấu nướng. Bộ phận nhà bếp có bốn tay Mễ, một anh bạn Mễ hơn hai mươi tuổi, mới vượt biên sang. Anh ta ốm, đen. Nhìn rõ ràng thiếu ăn chứ không nói gì khác được. Anh được nhận vô làm để tăng quân số nhà bếp lên năm người theo nhu cầu thương vụ. Công việc của anh ta là lau nhà hai lần/ ngày, cắt từ cọng hành đến cái bắp cải, giấc trưa - ngồi gói chả giò miệt mài.

Và quy trình hội nhập của một người Mễ (90%) khác xa người Việt mình. Tháng đầu, anh ta ăn bằng hai, ba người, (làm Nhà hàng nào cũng ăn uống tự do, trừ một vài Nhà hàng mà tôi không tiện nêu ra! Luật bất thành văn của ngành Nhà hàng là thế.) Anh ta làm việc siêng năng, chăm chỉ, dễ sai dễ bảo. Tháng thứ hai đã có da có thịt, nước da sáng ra được chút nhờ ở trong mát thì quần áo, tóc tai cũng bắt đầu se sua theo thu nhập (dĩ nhiên là mode Mễ), chất lượng công việc mà anh ta chịu trách nhiệm bị kém hẳn: dơ, ẩu… dục bỏ hoang phí nhiều thứ vì tiếc công làm, vì tức bản năng trong quan hệ chủ-thợ, (thường là lý do tế nhị để bị đuổi). Tháng thứ ba, đã bắt đầu hơi có bụng thì bệnh lười chảy ra! Ương bướng, cãi cọ, chửi thầm (dĩ nhiên là tiếng Mễ), không hoàn thành công việc được giao phó bởi đêm nào về aparterment cũng bia, gái (không tiền thì coi phim hạng nặng cũng tới sáng), sức đâu làm việc ngày hôm sau. Rồi đồng lương ít ỏi của công việc Tạp lục Tùng Lâm thì đâu đủ chi tiêu cho ăn chơi trác táng. Thế là đòi lên lương, mà một người đi làm-thuê-lậu thì dễ gì lên lương với chủ cả lạnh lùng trên nước Mỹ, nói chi tới bản thân anh ta ngày càng lười, chưa bị đuổi chỉ vì chưa tìm được người thay thế, hay chưa có cớ xuôi tai. Anh ta nhờ thông dịch chứ có biết nói câu tiếng Anh nào đâu: “…bạn tôi làm công việc giống tôi ở Nhà hàng khác, nhưng lương cao hơn tôi $50/tuần. Tôi muốn lên lương.” Kết qủa bao giờ cũng là anh ta nghỉ việc. Anh ta không đủ trí khôn để hiểu là chủ cả chờ cơ hội để cho anh ta nghỉ việc, để anh ta không có cớ ném đá vô cửa kiếng trả thù khi bị đuổi ngang xương. Sự sinh thù chuốc oán nhiều khi thiếu trách thân là do nông cạn.

Sống lâu với Mễ, tôi mới hiểu được tại sao Mễ sát nách với Mỹ, vượt biên giới dễ như đi chợ trời mà ít có người Mễ nào thành đạt trên nước Mỹ (ở mức độ có nơi ăn chốn ở, công việc vững vàng thôi chứ cũng không cần nhà cao cửa rộng, ngựa xe hàng hàng) là vì dân tộc tính của họ. Anh chàng Mễ mà tôi đang kể, bước ra khỏi Nhà hàng thì độ tháng sau đã vô tù vì tội trộm cắp, bước tiếp theo là trả về nguyên quán. Hy vọng lần vượt biên sau sang đây, anh ta có kinh nghiệm hơn. Còn người mình thì có bài học nhãn tiền.

*

Từ hôm anh ta nghỉ việc vì không được lên lương. Nhà trên chúng tôi rất không thích chuyện ấy xảy ra vì công việc nhà dưới bị đùn. Nhà trên thể nào chẳng phải giúp nhà dưới gồng gánh phần việc của người nghỉ cho đến khi có người mới. (Rồi người mới xuất hiện bất thình lình sau đó vài hôm). Một cậu bé Mễ chừng 14 tuổi. Nó xin làm việc gì cũng được miễn cho nó ăn. Nó nói tiếng Anh thông thạo, chứng tỏ nó sinh đẻ ở Mỹ hay ít nhất cũng qua đây từ nhỏ, có đi học nên mới nói được tiếng Anh như thế. Nó nói biết làm chỉ để được ăn vì nó đói.

Khi tôi về đến Nhà hàng, thấy nó đang vật lộn với cái bắp cải to như cái đầu heo. Tôi nhìn qua gương mặt búng ra sữa, đôi tay trẻ con chưa từng dao thớt! Tôi nói với anh bạn-chủ: “Không thể nhận thằng bé này làm ở đây được vì nó còn nhỏ qúa, chưa đủ tuổi đi làm là một rắc rối cho mình với luật pháp khi Thành phố bất chợt kiểm tra. Thứ hai, nhìn nó làm thì không tới chiều nổi đâu! Chỉ vài phút nữa, nó mỏi tay với con dao qúa lớn, nó đứt tay thì tội cho nó mà cũng phiền cho mình lắm đó”. Anh bạn tin tôi nên nói nó ngưng làm. “Bạn làm không được rồi! Chúng tôi xin lỗi!...”

Nó khóc.

Người chủ trở lên nhà trên, nó ra về cửa sau như người thất trận. Mấy người đồng hương của nó không hề xúc động. (Bạn có chứng kiến nhiều lần như tôi thì bạn cũng sẽ cảm ơn Trời Phật, Thiên Chúa đã cho người Việt mình cái tình đồng hương trong khốn khó vô cùng trân qúy. Nhiều khi tôi nghĩ dại: người mình không nên giàu vì giàu lên là hết tình cốt nhục, đồng bào. Hai người bạn sang đây tay trắng nên đùm bọc nhau mà sống, luôn cả sinh mạng khi bị kỳ thị. Nhưng mười năm sau, người có bằng kỹ sư chỉ còn trong mắt người kia là sư tính kỹ!)

Thằng nhỏ Mễ đứng tần ngần ở ngưỡng cửa sau, cửa mở rồi nhưng người mở cửa không muốn ra đi. Tên đầu bếp nói một câu tiếng Mễ nhưng tôi hiểu: “mày đóng cửa lại cho tao để thôi ruồi vô”. Nó quay lại gương mặt dầm dề nước mắt. Tôi cầm lòng không đặng nên móc túi cho nó tờ hai chục, “mày đi mua gì ăn đi”. Nó giỏi tiếng Anh nhưng cố kiếm từ nào đó, thể hiện được lòng biết ơn với một người Việt để cám ơn tôi. Giây lát, nó nói: “thank you uncle so much” rồi mạnh dạn bước đi. Tôi nghe và hiểu chữ “uncle” nó dùng bằng cả lòng biết ơn chân thành nên càng xúc động, nó không muốn xài luật: dưới trăm tuổi thì mày tao kiểu Mỹ, You and I với tôi. Tôi bảo nó chờ, quay lại bảo tên đầu bếp: “nấu cho tao một hộp cơm chiên nhiều cơm”. Tôi lên nhà trên mở tủ lạnh lấy cho nó hai lon coke. Trong đầu tôi chỉ nghĩ: Ước gì con mình thấy cảnh này cho nó bớt chảnh khi mẹ nó có lỡ nhức đầu, cảm cúm… nêm nếm thức ăn hơi mặn, hơi lạt. Nó làm như ăn vô thì chết.

Nhà hàng buổi trưa là giờ Mễ coi Playboy với Mỹ, Tàu coi bà Trần Thủy Biển thụt két được bao nhiêu rồi? Việt coi Cha Lý bị khủng bố tới đâu rồi? Lo ngại cho nhan sắc của nữ luật sư Lê Thị Công Nhân trong tù! Xót lắm chứ chẳng chơi đâu. (Ước gì tôi được ở tù thay cho cô ấy!) Không biết chừng nào có biểu tình thì nghỉ làm đi hưởng ứng. (Mất một ngày làm không nghèo đâu, cái tình đồng bào cốt nhục của người Việt là điểm son trong văn hóa Việt. Hai thằng bạn làm chung chửi nhau như chó với mèo nhưng khi đi biểu tình chống cộng thì hòa thành một khối thuốc nổ TNT - made in Vietnam hải ngoại rất hợp nhất - dữ dội).

Tôi đem tờ báo ra sau Nhà hàng để hít thở khí trời, không ngờ gặp lại thằng nhỏ Mễ ban nãy. Nó có đứa em gái chừng mười tuổi, mập ú, hai gò má thấy thương và đôi mắt tuyệt đẹp. Nó cho em nó ăn nửa hộp cơm chiên, uống một lon coke, còn lại thì để giành đến tối em ăn. Nó nhịn đói. Tôi phục nó trong xót xa mà cảm động vô cùng. Tôi trò chuyện với nó:

“Nhà tụi bay ở đâu?”

“Stonewood Aparterment”

“Cha mẹ bay đâu?”

“Không có cha, mẹ đi đâu không biết! Cả tuần nay không về. Anh em tôi đã ăn hết cái gì ăn được trong nhà rồi. Tôi dẫn em tôi ra cây xăng xin tiền lẻ cũng không đủ mua bánh cho nó ăn. Tôi tưởng xin được việc làm thì anh em tôi không bị đói, nhưng tôi nhỏ qúa…! Tôi không trách ông đâu.”

Tôi nghe khó thở trong lồng ngực mình, như có cái gì đó xoáy vào lòng dạ con người dù tôi cũng đã lăn lộn ngoài đường từ khi còn nhỏ để có cơm ăn. Những người lớn tốt bụng với tôi xa xưa ẩn hiện trong trí nhớ. Hình như họ chờ tôi trả ơn cứu mạng ngày nào! Tôi linh tính duyên nợ gì đây với chú bé con này. Tôi nói:

“Tôi xin lỗi! Tôi không hiểu hoàn cảnh của bạn. Và cám ơn bạn không trách tôi không nhận bạn làm việc. Để tôi nghĩ coi, có thể giúp bạn được gì không?!”

Nước mắt nó lăn dài trên hai gò má ốm đói, nó gục vì đói mà nửa hộp cơm chiên với lon coke còn lại thì nhất định để giành cho em. Tôi phục thằng nhỏ này và thương cảm vô bờ. Tôi vô lại nhà bếp, múc cho nó tô súp trứng nấu với bắp hạt. “bạn ăn đi, không phải nhường cho em bạn tô súp này”. Nó ăn trong nước mắt đến tội nghiệp. Ăn tô súp chẳng thấm vào đâu nhưng nó tỉnh táo hẳn ra. Nó đẹp trai và có bản lĩnh nam nhi lắm. Tôi thích thằng nhỏ này rồi thì phải! Tôi nói nó:

“Mỗi buổi trưa, bạn đến đây. Cứ mở cái hộp sắt dưới gốc cây cột đèn nhưng của bên điện thoại. Trong đó có bao thuốc lá của tôi, bạn đừng hút nha, đừng lấy sách báo tôi dấu trong đó. Tôi để thức ăn cho anh em bạn đủ sống đến mẹ bạn về. Tôi nghĩ bà ấy đi kiếm cha bạn hay đi tìm việc làm gì đó thôi.”

Nó cảm ơn rồi khóc. Tôi tức thằng nhỏ này khóc hoài thì nó mới chịu nói: “Mẹ tôi không về nữa, bà nói chúng tôi muốn đi đâu thì đi, bà theo bạn trai mới của bà đi xa rồi. Tôi cũng không biết dẫn em tôi đi đâu vì ngày nào Aparterment cũng dán giấy đòi tiền thuê phòng, chắc vài ngày nữa, họ khóa cửa không cho chúng tôi vào nữa đâu!”

Tôi nghe rồi hoảng như ách giữa đàng đã quàng vào cổ mình. Từ ngày qua Mỹ, tôi chỉ biết đi làm, lo gia đình. Chưa bao giờ đi Nhà thờ hay Chùa chiền gì cả. (Những nơi đó không có trả lương trong khi tôi cần bán sức lao động và thời gian của tôi để con tôi có nơi ăn chốn ở, điều kiện đi học.) Nhưng chính thằng bé này đã khơi dậy lòng từ bi bất ngờ trong tôi. Tôi đến thẳng Aparterment chúng ở với hy vọng xin cho chúng ở chùa (free) thêm một thời gian để tôi có thời giờ liên hệ bạn bè tìm cách giúp chúng. Nhưng không thành công vì bà Manager của Aparterment là người đàn bà máu lươn - lạnh tanh. Tôi về nhà tường trình với vợ chứ cầu cứu được ai nữa bây giờ? Vợ tôi nói có lý: “Mình nuôi ăn, cho ở trong nhà mình một tháng thì được nhưng lâu dài thì anh nghĩ coi có đủ sức không?”

Hôm sau, tôi năn nỉ thằng nhỏ thông cảm cho hoàn cảnh của tôi. Nó cảm ơn tôi không tiếc lời nhưng nó không muốn vô trại mồ côi. Nó biết rõ là ở đó có ăn, có ở, (người bạn trai mới của mẹ nó đã nói với nó như thế!) nhưng nó sợ người ta chia cắt anh em nó. Em nó biết hai anh em cũng không cùng cha, nhưng trên đời chỉ có hai anh em là người thân. Em nó không muốn xa nó và nó cũng không muốn xa em nó. Tội nghiệp hết sức mà tìm không ra ai tội nghiệp cho tôi!

Tôi gọi hết bạn bè để chán nản thêm vì tóm lại có hai ý kiến cho tôi là hết. “Hơi đâu dính vô tụi Mễ, kệ cha nó đi!”; “đâu phải dân Mít mình đâu mà ông lo, không khéo rắc rối đó!”…

Tôi tiếp tế lương thực cho chúng được ba, bốn ngày thì hung tin tới, chúng bị đuổi khỏi Aparterment. Tôi thật sự rối trí, suốt ngày sai lạc trong công việc của tôi vì tôi không tìm được cách giải quyết cho chúng. Tôi gọi cho bà xã: “Tối nay, anh cho tạm hai đứa nhỏ về nhà. Anh nghĩ mình chứa chúng trong thời gian ngắn để anh có thời gian tìm hiểu, liên lạc với những Hội từ thiện xem họ giúp được gì không?” Vợ tôi miễn cưỡng đồng ý vì sợ rắc rối với luật pháp chứ không phải tiếc rẻ miếng ăn, chỗ ngủ với lũ trẻ vì thật sự chúng tôi không rành luật pháp.

Tối đó, tôi rời Nhà hàng nhưng không dông thẳng về nhà mình mà ghé qua Nhà thờ là nơi trú ngụ của chúng. Nhà thờ lớn lắm, parking đậu xe cũng cỡ Wal-Mark, tuốt góc tiếp giáp với xóm nhà ở là góc parking không xài tới nên người ta đậu vài chiếc tàu câu cá, xe bus của Nhà thờ, có cái nhà kho cũ chứa vài vật dụng không xài nên cũng không khóa cửa, chúng tìm được nơi đó để qua đêm. Tôi nhìn vô trong kho tối mò, hai đứa trẻ đang qùy gối đọc kinh, thật muốn khóc với chúng. Tôi không phải người có đạo mà cũng nhìn lên nóc Nhà thờ cao ngất thánh gía. Tôi cũng đọc lâm râm: “Kính thưa Đức Mẹ, con là người ngoại giáo, con chỉ biết đọc kinh lương tâm để xin Đức Mẹ thương xót cho hai đứa trẻ trong kho đừng đánh mất niềm tin ở Thiên Chúa trên Trời…” tôi đọc xong rồi cười mình ngớ ngẩn, niềm tin trong tôi là gì chứ?! “Chúa đã bỏ loài người, Phật đã bỏ loài người…” tôi bảo hai đứa nhỏ theo tôi về nhà tôi. Chúng ngần ngại bản năng nên còn lưỡng lự! Nhưng Đức Mẹ hiển linh cho tôi thấy hai cái xe còn đậu ở parking xa xa, chỗ Gym chơi bóng rổ (basketball). Nhà thờ lớn lắm, có Gym bóng rổ mà nhiều đội đến đây tập luyện, thi đấu. Có nhà giữ trẻ, có rất nhiều văn phòng làm việc mà tôi cũng không biết họ làm gì? Tôi thường đưa thức ăn đến đây cho họ để biết Nhà thờ giàu lắm, thế thôi.

Tôi nhìn hai cái xe là biết liền: Vợ chồng anh Mat còn ở đây. Anh Mat là người Mỹ trắng cao lớn, đẹp trai, chừng bốn mươi tuổi. Cô vợ rất đẹp, tên Kath (tôi thấy ghi trên ticket mà họ order thức ăn như vậy). Vợ chồng họ có hai đứa con nhỏ xinh xắn và rất ngoan. Đứa con gái nhỏ của họ là người khách hàng duy nhất trên nước Mỹ có cám ơn tôi đã đưa thức ăn đến cho nó. “Cảm ơn bạn đã đem thức ăn đến cho chúng tôi.” Còn lại, từ ông bác sĩ trưởng khoa trong bệnh viện đến anh Mễ cắt cỏ cũng chỉ cho người (drive)-tôi, đồng bạc tip là hết! Nước Mỹ đệ nhất thiên hạ về khoa học kỹ thuật nhưng về giáo dục nhân cách cũng không có gì đáng nể. Tôi tin là Đức Mẹ xui tôi đi tìm anh Mat. Tôi quen biết vợ chồng anh đã lâu, chẳng biết họ giữ chức vụ gì trong Nhà thờ mà có văn phòng riêng, lúc nào giầy tờ cũng ngồn ngộn trên bàn làm việc, điện thoại reo liên tục thì thôi. Tôi chào hỏi và tường trình cặn kẽ hoàn cảnh của hai đứa nhỏ đang tạm trú ngoài kho.

Vợ chồng anh ra ngay nhà kho đón chúng.

Họ nuôi dạy hai đứa trẻ mồ côi chung với con họ, quan hệ của tôi với vợ chồng anh Mat đã thân hơn xưa. Trước đây, họ order bữa tối cho gia đình họ chừng hai ba chục đồng thì cho tôi năm đồng tiền tip. Khi order cho Hội đoàn hai, ba trăm đồng thì ký cho tôi mười phần trăm. Từ hôm họ nuôi hai đứa trẻ, tôi chỉ nhìn vào ticket ký bao nhiêu tiền tip thì tôi móc túi tôi lấy tiền mặt bằng như vậy và gởi cho hai đứa nhỏ. Thỉnh thoảng vợ tôi gởi cho chúng hai chục thì tôi đưa cho cô Kath hai chục và nói: “vợ tôi phụ cô nuôi chúng”. Vợ chồng anh Mat nói chuyện với tôi nhiều hơn khi tôi có dịp delivery cho họ. Anh Mat không tìm được người nhận con nuôi mà nhận hai đứa vì ai cũng chỉ muốn nhận một đứa thôi. Trong khi anh em nó van nài cô Kath đừng chia lìa anh em nó. Chúng còn nhỏ qúa để không hiểu cho hoàn cảnh tài chánh của vợ chồng cô Kath. Nhưng cô ấy tốt hết biết, cứ như thế mà nuôi chúng, cho đi học đàng hoàng.

Tôi bắt đầu áy náy khi cảm nhận mình đã trút lên vai hai người tốt một gánh nặng qúa đáng. Lẽ ra mình cũng phải chịu trách nhiệm nhiều hơn mới phải. Tôi lại trình bày với vợ chồng anh Mat: “Vợ chồng tôi xin chịu phần mua quần áo cho chúng”. Cô Kath đồng ý cho tôi vui chứ trong ánh mắt cô ấy, tôi đã đọc được tấm lòng Đức Mẹ.

Mới được một lần thì “có tin vui giữa giờ tuyệt vọng”. Một bà Mỹ gìa giàu nứt đố đổ vách, nhận nuôi anh em chúng. Anh Mat nói với tôi: “Từ nay, chúng được bảo đảm nơi ăn chốn ở. Sức học của chúng tới đâu cũng không gặp khó khăn tài chánh”. Tôi và vợ chồng anh Mat đã nâng ly cảm ơn Thiên Chúa, Đức mẹ. Chúc mừng cho hai đứa trẻ “mồ côi khi cha mẹ còn sống” ngay trong văn phòng của vợ chồng anh.

*

Câu chuyện nguội dần từ khi hai đứa nhỏ khốn khổ bị bỏ rơi đã có nơi ăn chốn ở. Tương lai tùy thuộc vào trí tuệ và sự biết thân của chúng! Lắm lúc bình tâm tôi suy nghĩ về mình. Hình như tôi lấy lại được niềm tin đã mất từ lâu. Tôi chẳng bao giờ tin vào tôn giáo nào cả. Với tôi chỉ có tôi giúp tôi chứ không ai giúp tôi. Nhưng qua sự việc động lòng từ bi bất ngờ của tôi, nếu không có vợ chồng anh Mat giúp đỡ (họ chịu hết rồi còn gì) tôi thật sự không xoay sở nổi cho hai đứa nhỏ tội nghiệp, dù tôi rất thông cảm với hoàn cảnh của chúng, tôi thương cái tình huynh đệ của chúng cũng là cái mà tôi không có dù cha mẹ tôi chẳng sinh ra đời một mình tôi. Tôi buồn.

Ai cũng có những nỗi đau dịu dàng trong tâm khảm. Ngày qua ngày chỉ có vợ chồng chia chung những ngọt bùi lẫn cay đắng của giòng đời, gia đình, người thân, bạn bè, cuộc sống… Vậy mà vợ chồng tôi đã nhiều lần tưởng “đứt” vì gia đình hai bên còn ở Việt Nam với đủ thứ yêu cầu không cần biết đến vui buồn sướng khổ của chúng tôi bên đây! Bản thân chúng tôi là những người siêng năng, chịu cực đi làm. Tôi, ngày 12 tiếng thì vợ cũng jop rưỡi chứ đâu có ai làm biếng, nhưng không tìm được tiếng nói chung. Qua vụ việc hai đứa nhỏ bị bỏ rơi, hình như chính vợ chồng tôi, ai cũng có lời thề không nói ra là không bao giờ bỏ rơi con mình như thế. Người lớn phải chấp nhận mọi hoàn cảnh vì trẻ nhỏ. Và lòng đã quyết là chấp nhận mọi hoàn cảnh vì trẻ nhỏ thì sao người lớn không tìm tiếng nói chung để giảm áp lực, để bất đồng thành hòa đồng, tạo nên bầu không khí dễ thở trong nhà cho mọi người cùng xiết chặt tay nhau mà vượt qua khó khăn hiện tại. Vợ chồng tôi như hiểu nhau hơn, còn yêu thương thì tạ ơn trên! Cả hai chưa hề thay đổi.

Những lần cầm tờ hai chục mà vợ tôi gởi cho hai đứa nhỏ tội nghiệp (vợ tôi không biết mặt chúng) tôi thấy vợ tôi không tệ, keo kiệt như tôi đã có lần âm thầm nghĩ! Tôi hối hận. Con tôi còn nhỏ nhưng cũng gởi cho hai người bạn không may con gấu nhồi bông, hộp chocolate… Tôi thấy con tôi bớt lì lợm, nó trở nên ngoan hơn như là ý thức được gía trị mái ấm gia đình, cha mẹ mà hai người bạn kia không có. Gia đình tôi ấm áp hơn xưa từ một việc làm phước, thiện.

Vậy mà từ đó giờ không làm là tại sao? Tôi hiểu con người tôi, tôi hiểu hoàn cảnh lẫn xuất xứ của tôi. Chính đói nghèo và từng ngày va chạm với gian manh, điêu ngoa, lường lọc để có sự sống. Tôi đã từng ngày đánh mất niềm tin ở con người, tất cả.

Sự khó khăn với cơm ăn áo mặc qua rồi thì khó khăn với những giấc mơ giàu sang phú qúy, trường sinh bất tử… làm tôi nghi ngại thế nhân, thần linh, tôn giáo… đến một hôm đọc được truyện ngụ ngôn này trong sách nhà Phật. Tôi phản tỉnh, truyện như vầy: “… người tiều phu đốn củi đang vác bó củi đốn được về nhà. Khi anh ta đi qua cánh đồng tranh thì bị con cọp đói hung dữ tấn công. Anh ta chạy và cọp rượt theo, khi khoảng cách không cho phép anh giữ bó của trên vai, anh đành vất bỏ bó củi (công sức một ngày cũng là cơm gạo gia đình). Cọp tiếp tục rượt đuổi anh ta đến bờ vực thẳm. Cùng đường, anh ta nhảy đại xuống vực chứ không chịu để cho cọp ăn thịt mình. Tay anh ta níu được cọng dây nho nên thân mình treo lại giữa không trung, nhìn lên trời xanh, nhìn xuống đáy vực sâu hun hút! Trên bờ vực thẳm, con cọp đói rống lên vài tiếng giận dữ rồi bỏ đi. Người tiều phu dõi mắt theo cọng dây nho để tìm đường thoát hiểm. Có những con chuột đang gậm nhấm gốc rễ của cọng dây nho! Anh ta nhìn lại trước mặt mình, có trái nho dại chín mọng thơm ngon, anh bứt trái nho bỏ vào miệng. Trái nho mới thơm ngọt làm sao.”

Tôi chính là người tiều phu trong cuộc săn đuổi của khó khăn đời sống như con cọp đói không bao giờ dừng lại, nhưng tôi cũng không bao giờ hiểu, thấy sự thơm ngọt nhỏ nhoi trước mắt mà trân qúy nên cuối cùng tôi đến bên bờ vực thẳm của cuộc sống là chuyện hôn nhân luôn bất an. Không biết từ đâu mà tôi luôn quan niệm: Đồng tiền bỏ ra phải có tiếng keng, tiếng keng càng lớn càng tốt nên cuối cùng, nhiều lần tôi xém phải nghe tiếng keng của quan tòa chia cắt chính vợ chồng tôi. Lần này, cả hai vợ chồng cùng chi ra những đồng tiền mồ hôi nước mắt đi làm mà hoàn toàn âm thầm như đất, không một ai biết ngoài mình nhưng cuối cùng là gặp lại nhau sau tháng năm dài miệt mài lo toan cuộc sống và đã thất lạc nhau dù còn ngủ chung giường.

Phải chăng, vợ chồng tôi gặp lại nhau sau một việc làm phước cho người dưng. Bao năm qua tưởng rằng sống cho nhau nhưng thật ra chỉ sống cho mình - độc đoán và ích kỷ. Lâu lắm rồi, vợ chồng tôi mới cùng ngồi nói chuyện về một việc không phải là tiền nhà, tiền xe… bên đây. Bên kia, má xin tiền cho dì út nó mở tiệm gì đó bên nhà, bà nội tụi nhỏ than van không người đưa đi bác sĩ! Con cháu cả đống, không lẽ phải gởi tiền về thêm để mướn người đưa mẹ đi bác sĩ?!...

Lần này ngồi xuống để nói nhau nghe những cảm tưởng về việc mình làm mà không ăn nhập gì với gia đình mình hết. Những suy nghĩ tha nhân sống lại trong lòng băng gía theo cơm áo gạo tiền lót ngót hai mươi năm xa xứ sang đây. Tôi gặp lại cô thợ Hãng dệt tan ca đêm, lầm lũi đạp xe về nhà qua những con đường vắng đầy lo sợ. Chắc vợ tôi cũng gặp lại người xích lô tốt bụng đã chở giúp cô ấy về nhà sau một lần bị trấn lột, giựt xe đạp. Hôm sau còn đến thăm với hai bàn tay trắng vì có gì đâu để đem theo? Không lẽ đem theo cái bằng Đại học như giấy lộn để sắc thuốc trị thương hay đem theo tờ giấy mãn hạn Nghĩa vụ quân sự mà không có ô dù thì không tìm được việc làm để hù nạn nhân chết luôn đi cho rảnh!

Những tình cảm thiết tha đôi lứa hòa trong tình cảm đồng cảnh ngộ nghèo rớt mồng tơi, tự nó tan biến theo đà ăn nên làm ra để chỉ còn thấy nhau qua thu nhập hàng tháng. Kính trọng tờ check của nhau hơn kính trọng nhau từ bao giờ thì không ai có thời gian, tâm tư cũ để nghĩ lại nữa. Tôi mang ơn trên đã xắp đặt chuyện hai đứa nhỏ người dưng để chính những người giúp chúng đã nhìn lại mình, ngồi lại với nhau và nói về những ngày khốn khó để thấy mình thay đổi - theo chiều hướng xấu hơn khi đã dư thừa. Để nhận thức ra rằng: chúng ta đã lạc nhau từ ngày qua Mỹ!

Chúng tôi đồng ý được với nhau khi cùng nhìn ra sai trật - không ngụy biện. Cùng đồng ý với nhau: Hãy giúp thêm những người khốn khó hơn mình. Cho họ là cho mình, có khi cái thối lại của người nhận còn lớn hơn cái nhận từ người cho. Hai đứa nhỏ tội nghiệp kia đã nhận không đáng kể gì từ gia đình tôi nhưng chúng đã làm cho một gia đình đã nhiều lần đứng bên bờ vực thẳm tìm lại được tình thương yêu và sự thấu hiểu của ban đầu, của những người quyết chí xây dựng nên chính gia đình này. Tôi phải mang ơn chúng hơn chúng cảm ơn tôi.

*

Tôi lại có dịp deli cho cô Kath. Cô ấy vui mừng thấy tôi bước vô văn phòng, nhấc cái phone gọi anh Mat về văn phòng vì tôi tới chứ không phải người drive nào khác. Cô nói tôi: “Anh có qùa. Đoán xem ai gởi và nhân dịp gì?” Tôi chịu thua.

Anh Mat bước vào văn phòng, anh cười thật tươi - mãn nguyện, nói: “Bọn trẻ gởi tặng tôi cái áo mưa vì chúng thấy tôi ưa ra điều động xe sau khi tan lễ, cho khỏi kẹt xe, nhưng gặp hôm trời mưa thì tôi ướt như tắm mưa. Chúng gởi cho anh cái nón mùa đông có trùm lỗ tai, có lẽ thấy anh đi deli không có nón chống lạnh”.

Tôi nhớ đến vài cái nón trong xe tôi do vợ con tặng tôi, tôi đã bao giờ trân qúy những qùa tặng thể hiện lòng thương yêu, quan tâm đó chưa khi lòng kiêu hãnh đầu đội trời chân đạp đất trong bất kể người đàn ông nào chưa bao giờ tắt! Tôi đã gieo xuống tình người lòng tốt của mình là tốt nhưng không trân qúy đúng mức lòng tốt của người khác thì thật là chưa tốt. Từ nay tôi đội nón theo mùa như luôn có những người thương yêu tôi luôn ở bên tôi dù nắng mưa gió bão, tuyết rơi hay tối trời cũng không còn cảm giác một mình trên vạn nẻo đường xuôi ngược.

Tôi đọc những giòng chữ trẻ con trong cái thiệp bọn nhỏ gởi cho tôi, thằng anh lời ngắn tình dài: “Chúc ông được hạnh phúc trong ngày Father’s Day sắp tới. Anh em tôi đã cầu nguyện cho ông được bình an từ trong cái kho của Nhà thờ, chúng tôi sẽ cầu nguyện cho ông được bình an tới mãi mãi…”

Con em lời dài mà tình cũng dài luôn để thể hiện nữ tính. Nó luyên thuyên kể lể nào là nó cầu nguyện Đức Mẹ thường xuyên cho nó có một người cha, một người mẹ và một mái gia đình ấm cúng, mọi người thương yêu nhau. Nhưng Đức Mẹ đã làm nó giận! Nó bỏ cầu nguyện để nhắc nhở Đức Mẹ thôi. Ai dè, bỏ cầu nguyện thì mọi việc tồi tệ hơn là anh em nó bị bỏ rơi, bị đuổi khỏi Aparterment. Nó cầu nguyện lại trong cái nhà kho thì lần này Đức Mẹ đã nghe. (Chắc cái nhà kho đó là Thánh Địa?) Đức Mẹ đã nghe những lời cầu nguyện của nó ở đó nên cho nó có ông bà Ngoại (chắc là ông bà Mỹ nhận nuôi anh em nó). Cho nó có hai người cha một lúc, một người giảng giải Kinh Thánh cho nó nghe rất hay; một người cho nó ăn cơm chiên rất ngon. Và trên cả tuyệt vời là Đức Mẹ cho nó có một người mẹ tốt đẹp như Đức Mẹ. Nó chỉ không thích mẹ Kath có một điều duy nhất là dặn nó phải cầu nguyện bình an luôn cho những người đã bỏ rơi nó vì đó mới chính là cha mẹ ruột của nó. Cầu nguyện và tha thứ cho những khó khăn, lỗi lầm của họ để họ sớm quay về!...

Ôi! Cô Kath.

Nó luyên thuyên đến quên luôn chúc tôi một lời Happy Father’s Day làm tôi cứ ưa nhìn lên nóc giáo đường để tìm người đáng nghe câu ấy nhất là Cha của sự sống. Có lẽ tôi sẽ tìm cách quan hệ lại với Ngài để lấp lại khoảng trống vô thần trong tôi do u minh, ích kỷ, đố kỵ và lòng tham đã cướp hết thanh an là điều tôi có thể được mà.

Chuyện kể của NTDzũng

Phan - ghi chép

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Tôi đã làm gì cho tổ quốc, quê hương chưa?


Nguyễn Thị Hồng, sinh viên Việt Nam du học George Mason University, Virginia, USA.


Đây là lần đầu tiên tôi viết về chính trị kể từ khi đặt chân đến nước Mỹ cách đây một năm. Ngay từ khi đặt chân đến đất nước rộng lớn, một thời từng là cựu thù của nhân dân Việt Nam, lòng tôi tràn ngập cảm xúc. Nhưng tôi vẫn không thể nào viết được một chút gì vì tôi nghĩ mình cần phải lo học hành.

Nhưng hôm nay sự hình dung về những giá trị lớn của quốc gia Việt Nam mới đủ mãnh liệt để tôi có thể ngồi trước bàn phím, gạt việc học hành sang một bên và viết một chút gì đó cho tổ quốc, cho đất nước Việt Nam thân yêu.

Đó là vì những hình ảnh tôi tình cờ nhìn thấy sáng nay, ngày 20 tháng 10 năm 2006 khi đi ngang qua trước Nhà trắng, Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ.

Có một đoàn người biểu tình. Họ cầm trên tay cờ Mỹ và cờ Miền Nam Việt Nam cùng nhiều biểu ngữ khác nhau. Những biểu ngữ và tiếng hô đã tạo ra một chuỗi dài những phản ứng tâm lý trong tôi. Đầu tiên là ngạc nhiên sau đó là tự vấn, đến xúc động mãnh liệt và cuối cùng là xác lập một niềm tin: "Việt Nam ta sẽ mạnh". Không phải chuỗi phản ứng tâm lý đó là vì một cuộc biểu tình, mà vì chính con người biểu tình, những khẩu hiệu và cách thức họ chuyển tải vấn đề.

Còn nhớ, khi là sinh viên đại học năm cuối ở TPHCM, có một lần tôi nghe ông Nguyễn Tấn Dũng, khi đó là phó thủ tướng, quan chức cao cấp đầu tiên của Nhà nước đến thăm Hoa Kỳ, ông ta cũng gặp phải những đoàn người biểu tình và khi đó vô tuyến truyền hình Nhà nước bình luận rằng: "Đó là một nhóm người lạc hậu, lưu vong, cực đoan và chứa đầy hận thù". Cùng với cách thức tuyên truyền suốt một thời gian dài đã ngấm vào máu. Tôi, cũng giống như nhiều sinh viên khác, nghĩ rằng người Mỹ gốc Việt đấu tranh là vì hận thù, họ chỉ mong có chiến tranh, bạo loạn để lật đổ chế độ, để về để đòi lại tài sản hoặc tiếm quyền lãnh đạo.

Những gì tôi thấy sáng nay có vẻ hoàn toàn không phải như vậy.

Vâng. Tôi thấy rất nhiều cờ Mỹ và cờ vàng ba sọc đỏ. Thấy những tấm biển to và nhỏ, cả hình vuông và hình tròn viết bằng tiếng Việt và tiếng Anh. Tôi thấy khoảng 500 người, những người trung niên và những em nhỏ thiếu niên. Những cụ già mệt quá ngồi tạm trên ghế vẫn giương cao khẩu hiệu và những em bé đang nằm vui vẻ cười trong nôi (ít nhất là có 2 em bé trong xe đẩy trẻ em). Tôi thấy rất nhiều thanh niên nam và nữ, ánh mắt họ cười và miệng họ hô vang. Không phải tôi thấy những quân nhân mặc đồ lính rằn ri, đeo súng với khuôn mặt sát máu như TV ở nhà vẫn chiếu mà là những tấm áo khoác ngoài màu xanh, màu vàng rất đẹp. Hầu hết họ đều trông sang trọng, có sức sống và có học thức. Không phải tôi thấy họ đến từ một chỗ, của một tổ chức mà từ rất nhiều nơi, nhiều tổ chức trên khắp nước Mỹ.

Tôi nghe những gì? Không khát máu, không đả đảo, không phản đối cực đoan như vẫn tưởng mà là Tự do, Dân chủ, Nhân quyền cho Việt Nam. Đó mới thực sự là những giá trị lớn hơn mà đất nước ta đang cần và họ hô là "cho Việt Nam". Tới tận bây giờ, ngồi một mình trên giảng đường tôi vẫn cứ thấy văng vẳng bên tai tiếng loa: "Freedom, Democracy, Human Rights" và tiếng đoàn người đồng thanh "For Vietnam, For Vietnam". Tôi nghe và thấy cả tiếng Việt và tiếng Anh. Thứ tiếng Việt chuẩn phổ thông và thứ tiếng Anh cũng rất Mỹ. Tôi nghe gió lộng và cả tiếng cờ bay trên công viên La Fayette trước toà Bạch ốc.

Họ đòi quyền đó cho ai? Có thể nhiều người bạn của tôi trong trường sẽ cãi lại là cuối cùng thì họ đòi quyền đó để trở về lãnh đạo, lấy lại tài sản, trả thù cộng sản như nhiều lần tranh luận bạn tôi đã trích từ room "Giang hồ hải ngoại chống cộng" trên diễn đàn Paltalk.

Tôi không nghĩ như vậy và chính điều đó làm tôi xúc động. Tự do, Dân chủ, Nhân quyền không phải là một giá trị vật chất cụ thể mà họ muốn lấy cho riêng họ. Những người này đòi những quyền đó cho 85 triệu dân Việt Nam chúng ta. Tự do, Dân chủ là một giá trị phổ quát và thiêng liêng đối với tất cả mọi người. Đó cũng là một nhân quyền mà cả dân tộc chúng ta đã biết và theo đuổi từ những năm 1930s khi tư tưởng tây phương được du nhập vào Việt Nam thông qua các học giả đi du học ở Pháp trong những thập niên đầu thế kỷ 20. Hơn 70 năm trôi qua chúng ta vẫn chưa có đầy đủ những quyền đó. Và đó là cái chúng ta phải đòi.

Thật vậy, nước Việt Nam ta sẽ mạnh. Tôi không chỉ thấy điều đó trong sức mạnh của những người đi biểu tình sáng nay mà, quan trọng hơn, khi quay về giảng đường vào đọc trang BBC, tôi thấy một phong trào đấu tranh đang liên tục lên cao với dân chủ và nhân quyền, và hàng hàng tít của BBC "Tiếp tục các hoạt động đối kháng". Người dân trong nước, trong điều kiện khó khăn, đã bước những bước nhọc nhằn đầu tiên. Nhưng họ không cô độc. Họ đang được hỗ trợ tích cực từ ngay giữa lòng thủ đô nước Mỹ. Ngọn lửa trong nước đã dũng cảm nhóm lên và trong một tờ truyền đơn sáng nay nhặt được tại công viên rằng: "Chúng tôi đến đây để yêu cầu tổng thống Bush xác nhận lại cam kết của mình về việc thúc đẩy dân chủ khi ông ấy đến dự APEC tại Việt Nam". Đó chính là ngọn gió lành, là hơi thở ấm thổi vào trong nước. Dù ít dù nhiều sẽ giúp cho ngọn lửa tự do rực sáng trên bầu trời Việt Nam.

Tôi tin Việt Nam ta sẽ mạnh vì những người tôi thấy đều bình dị và rất Việt Nam. Họ có những giá trị toàn cầu nhưng rất đỗi gần gũi thân tình. Họ đòi hỏi những giá trị đúng đắn cho nhân dân Việt Nam. Những điều họ đang làm và cách thức họ làm thể hiện trí thức, trình độ và bản lĩnh tiên phong.

Tôi tin Việt Nam sẽ mạnh vì cộng đồng mà tôi thấy sáng nay, thật có lòng với dân tộc Việt Nam. Thật có lòng với những chiến sỹ dân chủ tại thành phố Hà Nội, nơi là thủ đô của kẻ xâm chiếm, và Hồ Chí Minh, nơi cái tên mà họ đang đấu tranh để thay đổi. Họ vẫn làm một cách tích cực dù cho họ đã là công dân Mỹ và đang sống sung sướng ở xứ người.

Tôi tin Việt Nam ta sẽ mạnh. Bởi tôi thấy cả 2 giá trị mạnh mẽ nơi đây. Trong nước và nước ngoài. Tôi thấy giá trị mà cả dân tộc Việt Nam đang thay đổi và cường quốc Hoa Kỳ đang chủ trương ủng hộ. Tôi thấy một khung cảnh tuyệt đẹp, giữa gió thu se lạnh và ánh nắng ngập tràn trên công viên mang tên một vị tướng người Pháp nằm ngay giữa thủ đô Washington - Mỹ. Nơi anh em của tôi, đồng bào Việt Nam của tôi đang đứng – Hô vang những khẩu hiệu mà vì nó đã bao nhiêu người ngã xuống, bao nhiêu người chịu tù đày và nhiều người khác vẫn đang sẵn sàng trả giá.

Có một điều buồn là tôi chỉ dám đứng ở xa mà nhìn đoàn biểu tình. Tôi nhìn đến lúc họ ra về lúc gần 2 giờ chiều. Tôi chỉ dám nhìn nhưng có một điều tôi biết chắc chắn rằng nhiều người đã xin nghỉ làm hôm nay, họ đã lặn lội từ xa đến đây để cùng nhau nói lên tiếng nói chung, để đòi hỏi cho một Việt Nam mới, nơi sẽ có Dân Chủ, Tự do và Phát triển.

Cho đến lúc này, khi run run gõ những dòng chữ đầu tiên trên bàn phím, tôi mới tự hỏi mình:



"Tôi đã làm gì cho tổ quốc, quê hương chưa?"

Nguyễn Thị Hồng, sinh viên Việt Nam du học George Mason University, Virginia, USA.


---

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Chu Tất Tiến Đối Thoại với Trịnh Hội
Trịnh Hội quý mến,

Trước khi bắt đầu điểm chính của bài đối thoại này, anh muốn minh xác về nhân xưng đại danh từ “anh” và “em” dùng trong bài viết này. Thực sự, anh chưa hề có cơ hội làm quen với em, chỉ biết em qua các công việc em làm, biết em là một luật sư đầy dũng khí, hiên ngang sang Phi Luật Tân để làm công việc cứu người, không phải một mà là nhiều người, nhiều gia đình, để họ được sống trong xứ sở Tự Do như họ đã liều thân mong muốn. Anh cũng biết em qua nhiều cuốn băng của Asia, dù cho em nói năng không lôi cuốn lắm, nhiều khi còn ngọng ngịu và muốn “bí” khi đối đáp bất ngờ, đôi lần có những câu “diễu dở,” nhưng với quá khứ hoạt động của em và tướng tá cao lớn, thông minh của em, anh cũng như mọi người “cho thông qua,” không phê phán. Anh cũng lại có cảm tình và thông cảm với em rất nhiều khi em bị chống đối ở bên Úc, làm cho chương trình của em bị hỏng, nhưng em vẫn bình tĩnh không nói gì, không viết gì, chỉ để vợ em viết giùm một bài tả oán cảm động.

Theo như các cụ xưa đã nói: “yêu ai yêu cả đường đi, ghét ai ghét cả tông ti họ hàng,” anh cũng như nhiều người khác trong giới truyền thông ở đây, đã “yêu” em rồi, đều nghĩ rằng em không nói, không viết chỉ vì em quân tử, nhưng không ai nghĩ rằng em không viết bởi vì em viết dở quá, dở không chịu được như bài “Cộng Đồng & Việt Weekly” mà em mới viết trên tờ Người Việt này. Vừa đi làm về đến nhà, mới lấy tờ báo Người Việt ra đọc, anh hụt hẫng, không hiểu sao một người đã học Luật rồi, đã từng tranh tụng cho nhiều vụ rồi, mà viết một bài văn ngắn có quá nhiều điểm tầm bậy tầm bạ như thế.

Anh không hiểu làm sao mà em có thể “pass” được lớp Luận Anh Văn căn bản (English Composition 100+), có lẽ mấy ông thầy vừa chấm bài vừa ngủ gật. Anh không có cơ hội học Luật nên không biết ở Trường Luật có dậy viết văn không? Em không theo một nguyên tắc nào cả, nguyên tắc A.M.A thì em hoàn toàn mù tịt. Câu chủ đề thiếu. Tham chiếu bằng sách vở (reference) thì hoàn toàn không. Việc tập trung ý tưởng trong từng đoạn chẳng thấy, chỉ viết lan man, linh tinh. Ý tưởng bổ sung cho câu chủ đề (supporting ideas) biến mất. Nếu bài này mà gửi đến cuộc thi “Bé viết văn Việt” nhất định bị rớt. Bởi vậy, anh phải bỏ luôn giây phút nghỉ ngơi thường nhật mà ngồi xuống viết ngay cho em những dòng chữ này. Tuy anh lớn hơn em nhiều, nhưng anh đoán chừng còn thua tuổi bố em, nên mới đầu, anh định xưng bằng “chú,” rồi lại bỏ đi, mà dùng chữ “anh, em” cho lời văn có vẻ nhẹ nhàng, thoải mái hơn, chứ cứ “chú chú, cháu cháu”, nghe nó nặng nề và xa cách lắm.

Vậy nhé, anh vào đề đây:

1. Em đặt tiền đề sai (False premise): Sau khi em kể về sự bất nhẫn của em khi thấy Việt Weekly “bị đánh bề hội đồng từ mọi phía,” em viết rằng họ (những người bề hội đồng) có “những luận điệu chụp mũ một cách vô tội vạ, sự kết tội không cần bằng chứng của những người tổ chức biểu tình.” Đọc câu này, anh thấy tức cười quá! Em cho rằng những người tổ chức biểu tình “chụp mũ” cho tờ báo kia rồi “bề hội đồng” những người làm tờ báo ấy, trong khi chính em lại đang “chụp mũ” cho những người tổ chức biểu tình! Em còn viết là “các báo, các đài radio cho đăng những lời tuyên cáo (mà thực chất là những lời buộc tội) những bài viết ủng hộ cuộc biểu tình, mà không một lời giải thích, hoặc trình bầy một ý kiến ngược lại.”

Trịnh Hội ơi! Em sai lầm lắm! Họ nói có sách, mách có chứng chứ! Họ đâu có “chụp mũ vô tội vạ” đâu! Họ kết tội có bằng chứng hẳn hoi. Những người kêu gọi tập hợp lại để nói chuyện về tờ Việt Weekly phải đưa bằng chứng là chính tờ báo có luận điệu thân Cộng, xỉ nhục lá cờ Quốc Gia, ca tụng Hồ Chí Minh là thần thánh, là Vua Nghiêu, Vua Thuấn, đồng thời đổ trách nhiệm vụ 911 cho chính đất nước Hoa Kỳ này, là đất nước đã dung dưỡng những người như em được nổi danh trong một nền Tự Do thoải mái. Việt Weekly đã chê bai, khinh thị cả tập thể những người H.O là “bất tài, vô dụng, gần như phế thải, vô tài.” Phải có bằng chứng mà bằng chứng có tính chất chính xác cao mới gây xúc động cho cộng đồng đến thế! Những người kêu gọi biểu tình đó, không thể và không bao giờ có thể tự dưng hô hoán lên rằng: “Ê! Bà con ơi! Tờ báo này là Việt Cộng! Xúm lại bề hội đồng nó đi!” Không! Không bao giờ có chuyện đó! Cộng đồng Việt Nam không có ngu xuẩn đến nỗi thế! Báo chí, đài phát thanh không dốt nát đến nỗi thế, em ạ! Em khinh thường trình độ kiến thức của cộng đồng, của các hệ thống thông tin quá lắm rồi! Nếu nhóm người kêu gọi biểu tình kia mà thật sự “chụp mũ”, thì rất nhiều người sẽ lật mặt nạ họ. Chính anh, xin được xung phong đi đầu làm công việc ấy. Anh không thể chịu đựng được những cái xấu, cái ác tung hoành trong cộng đồng mình. Em bảo: “không cho trình bầy một ý kiến ngược lại!” Bài viết này của em chẳng phải cơ hội cho em nói ngược lại sao?

2. Em chỉ nói nửa sự thật (Half-Truth): Việc tất cả các tờ báo, các phương tiện truyền thông, và hằng trăm, ngàn điện thư, từ khắp nơi trên thế giới tụ về Khu Little Saigon này để yêu cầu Việt Weekly xác định lại thái độ, nếu thấy mình có lỗi với dân tộc, thì hãy tạ lổi với dân tộc, và trở về đường ngay nẻo chính thì có. Đông lắm, không thể đếm được! Lấy số lượng khổng lồ như thế mà đối chọi với một tờ báo thì có, nhưng “bề hội đồng” thì không. Việc mà em gọi là “bề hội đồng,” một loại chữ mà trong cách hành văn gọi là “tiếu lâm và giễu cợt“ (humor and ridicule) để chế nhạo một hành động mà sau này em phân tích rõ hơn là “phải đánh cho nó chết!” Em có tìm thấy chữ nào, câu nào nói rằng “chúng ta phải xúm lại, đánh cho nó chết” như em nhắc đến vài lần trong bài không? Thực tế, những lời kêu gọi của người tổ chức chỉ mang những thông điệp đại khái như “chúng ta phải hành động!” “chúng ta phải lên tiếng, phải kêu gọi Việt Weekly trở về với cộng đồng..” Không có câu “chúng ta phải bề hội đồng nó cho đến chết.”

3. Em kết luận một cách vội vã (Hasty judgment): Theo lý luận của một luật sư chuyên đứng về phía những kẻ bị oan sai, em viết: “Ngay cả đối với những người bị khép vào tội giết người và hiếp dâm, họ vẫn luôn được cho cơ hội tự bào chữa và trình bầy ý kiến đối ngược lại với cơ quan buộc tội.” Em cũng viết “Những người sách động biểu tình trong cộng đồng của chúng ta hiện nay thì sao? Họ vừa là công tố viên, luật sư, bồi thẩm đoàn, chánh án, và kiêm luôn cả người thi hành bản án.” Và, “chỉ cần biết báo Việt Weekly dám cho đăng bài có ý kiến khác với ý kiến và sự hiểu biết của mình là mình phải đánh cho nó chết.” Đọc qua những câu này, anh mới thực sự nhận ra rằng cái mảnh bằng Tiến Sĩ, Luật Sư của em cần phải xem lại. Một người có học vị đụng đến “trần nhà” (ceiling) của sự học như em mà hàm hồ đến thế thì xấu hổ lắm. Một đứa học trò Trung Học cũng không dám nói bậy như thế. Loại lý luân hàm hồ (fallacy) này, tiếng La Tinh gọi là “post hoc, ergo propter hoc.” Cứ đặt đại ra một mệnh đề, rồi tương thêm các mệnh đề nữa, và bảo rằng mệnh đề sau là kết luận của mệnh đề trước, mặc dù chả có câu nào ăn nhập với câu nào. Câu trên mà em đưa ra thì đúng. Nhưng sau đó, những câu kế tiếp chứng tỏ em có vẻ lú lẫn rồi. Ai là người sách động biểu tình? Ai là công tố viên? Ai là luật sư? Bồi thẩm đoàn? Chánh án? Người nào thi hành bản án? Đã có ai giơ một ngón tay lên dí vào trán những người làm báo Việt Weekly chưa? Em không nắm vững tình hình, không đọc kỹ các bản tin, không nghe kỹ những lời tuyên cáo, không tìm hiểu sự thật mà đã vội bênh tờ báo này một cách dữ dằn như thế, thì anh lo cho em quá. Lỡ ra có nạn nhân nào nhờ đến em biện hộ giùm ở ngoài Tòa Án, thì với cái tính nóng nẩy, thiếu thận trọng của em, người đó chỉ có “từ chết đến bị thương” mà thôi! Công tố viên chỉ đề nghị 5, 10 năm, sau khi em biện hộ, chắc ông Tòa sẽ nổi giận mà tăng hình phạt. Nhất là với câu kết luận sôi nổi này, thì nhất định kết quả sẽ tang thương: “Nhưng không vì thế mà tôi đồng ý và im lặng để cho một thiểu số to miệng, cực đoan, lợi dụng sự nhẫn nhịn của người Việt Nam ngang nhiên tự cho mình là đại diện cộng đồng, đại diện cho chính tôi và gia đình tôi, trù dập và bức hại những người mà suy cho cùng, chỉ vì họ không có cùng một chính kiến.”

Trịnh Hội ơi! Có lẽ người to miệng nhất phải là Luật Sư Trịnh Hội vì em dám một mình nói to hơn cả những người nói to, cực đoan hơn cả những người cực đoan, ngang nhiên hơn cả những người ngang nhiên. Em cho rằng có người đại diện cho em và gia đình em ư? Đại diện cho kẻ về hùa với những kẻ chống lại lịch sử, mạ lị cộng đồng, quên nguồn quên cội ư? Không ai dám ngu như thế đâu! Người ta, ai cũng ăn cơm cả!

Các người có học viết văn, gọi loại văn chương này là “Ad hominem,” thay vì nói về ý kiến của người ta, lại lôi cá nhân người ta ra mà tấn công. Loại văn chương này, nói theo kiểu bình dân học vụ, thì gọi là “văn chương to mồm,” ồn ào nhưng rỗng tuếch.

4. Chuyển hướng sai lạc (Red herring hay Diversion): Về vụ 911, em viết “Đã có một số người nổi tiếng như Giáo Sư Noam Choamsky của trường Đại học lẫy lừng MIT cho việc Mỹ bị tấn công là do ...Mỹ.” và “Những ý kiến liên quan đến Cộng Sản, Karl Marx, Hồ Chí Minh hay bất kỳ một nhân vật nổi tiếng nào trên thế giới, đối với những ai đã học qua môn Khoa Học ChínhTrị (Political Science) hoặc trường Luật, chắc chắn họ đã học, thi, và phân tách để biết thêm về những vấn đề này.” rồi em diễu cợt: “phải tổ chức biểu tình ngay để đóng cửa những trường đại học nào dám cho phổ biến những bài viết quá ư là phản động”

Để làm cho người đọc rối trí, em đã dẫn chứng bằng ý kiến một ông giáo sư nào đó mà không dẫn chứng thêm vài người nữa, mặc dầu em viết là “có một số người.” Ai cũng biết ở xứ sở Tự do này, muốn phát ngôn gì thì cũng được bảo vệ, tuy nhiên, phải có lý có lẽ. Phát ngôn tầm bậy thì sẽ “hai năm mươi” ngay. Nhất là những vị có chức cao, trọng vọng. Em chỉ nói xuông như thế, mà không đưa ra lý luận của ông kia, thì chỉ bịp được người nào suốt đời không đọc báo mà thôi. Ông kia có thể dẫn chứng hàng chục chứng minh cho lý lẽ của mình. Còn đây, tay viết Hà Văn Thùy này, không chứng minh điều gì hết, chỉ nói xuông như một thằng du thử du thực, đứng chửi đổng chơi, ai nghe thì nghe. Tiếc là em với Hà văn Thùy có bộ óc cùng một tần số, nghĩa là ngẫu hứng nói càn, thiếu đầu thiếu đuôi, nói để làm chia trí người đọc. Ngoài ra, khi em nói về Karl Marx, Cộng Sản, Hồ Chí Minh đã được học tại môn này môn kia, em cũng chỉ muốn lòe người ta mà thôi. Trong số độc giả đọc bài của em, chắc chắn có cả chục ngàn người học qua môn này và họ biết học về cái gì. Riêng em, không biết em còn nhớ chút nào không? Nếu muốn ca tụng Karl Max và Hồ Chí Minh là thánh nhân, là Vua Nghiêu Vua Thuấn, thì hãy gặp Viện Trưởng Triết Học Hoàng Minh Chính, Đại Tá Quân Đội Nhân Dân Bùi Tín, Trung Tướng Trần Độ, chiến sĩ xẻ dọc Trường Sơn Dương Thu Hương, các đảng viên lão thành Nguyễn Hộ, Nguyễn Trấn, Trung Tá Trần Anh Kim, chiến binh Trần Dũng Tiến... So sánh với kiến thức về Karl Max như mặt trời của họ, sự hiểu biết của em và Hà văn Thùy chỉ là con đom đóm sắp chết mà thôi. Nên nếu em muốn đối thoại, nên đem theo chứng minh nhé, đừng nói xuông như gã Thùy kia, một kẻ mà ít nhất có tới bẩy chục triệu người muốn nhổ vào mặt. (Được nhổ là còn may, gặp mấy bà bán cá, họ sẽ chụp cái gì đen đen lên đầu ấy!) Nói câu này, có sách có chứng, em ạ. Không tin em cứ mời bất cứ một người dân nước Việt nào, không phải đảng viên, không có chức tước, vào phòng riêng của em ở một chỗ nào không có cặp mắt của Công An, và hỏi họ: “Ông, bà nghĩ thế nào về câu Hồ Chí Minh là Vua Nghiêu, Vua Thuấn?” để thử xem họ nói thế nào. Hồ chí Minh mà chỉ có một tí, một tẹo yêu dân, yêu nước thiệt sự, thì không có Cải tạo ruộng đất giết vài trăm ngàn người, không có cuộc chiến Việt Nam có gần 3 triệu người chết, không có cả triệu người bỏ thây trên biển cả, trong rừng sâu, núi thẳm, không có trên 2 triệu người chạy vắt giò lên cổ ra nước ngoài, và không có... một Luật sư Trịnh Hội ăn nói tầm bậy tầm bạ, nhục nhã gia phong.

Thôi, nói đến đây thì cũng tạm đủ. Hơn nữa, với trình độ của em, anh không muốn dài giòng thêm, sợ em “tẫu hỏa nhập ma.” Dầu gì, em cũng có 15 năm phục vụ cộng đồng tị nạn Cộng Sản. Anh không muốn em nghĩ rằng anh lấy số tuổi lớn “bề hội đồng” em. Chỉ có điều anh muốn nhắn em một điều: người có dũng khí như em, khi một mình đứng ra chống lại cộng đồng, để bênh vực cho tờ Việt Weekly, nên xử dụng cái “Dũng” đi kèm với “Trí”, không nên dùng cái “Dũng của kẻ thất phu” mà uổng bao nhiêu năm phục vụ. Sức mạnh của em còn dồi dào, tương lai của em còn tươi đẹp, đừng để bị cái “Dũng của kẻ thất phu” lôi kéo đi lầm đường. Nhất là đừng để ai lợi dụng sự ngây thơ của em mà rồi hối hận cũng không kịp.

Vài hàng chân thành, vẫn quý mến em, mong em suy nghĩ.

Post Reply