Quán Vắng không Người ...3
Moderator: khieulong
THƯ GỬI ÔNG NGUYỄN TẤN DŨNG,
THỦ TƯỚNG CHXHCH VIỆT NAM .
Chu TấtTiến
Lời đầu tiên là một điều minh xác
Thư này được viết với tư cách một công dân
Sinh đẻ tại Việt Nam, lớn lên và lập thân
Rồi đi xa, nhưng vẫn nhớ quê hương ngào nghẹn
Tôi không gửi thư đến ông như một người kiếm chuyện
Làm quen ông, một chức vụ lẫy lừng
Để sau này, có cơ hội tưng bừng
Về đất nước, bon chen, kiếm cháo
Tôi cũng không phải là người táo bạo
Tìm cách gần ông, một triệu phú giầu nhất vùng
Nhất Việt Nam, nhất Đông Á, tài sản nhiều vô cùng
Nếu được ông cho một chút lẻ, cũng tiêu hoài không hết
Những biệt thự Hồ Tây, những công ty hàng may, hàng dệt
Những cổ phần con cháu đứng tên giùm
Vợ lớn, bồ nhí, người yêu, người phục vụ, từng chùm
Một cái chỉ tay, người người cúc cung, tận tụy
Những trương mục rải khắp nơi, Mỹ, Tây, Thụy Sĩ
Tiền cứ vô nhà như thác chẩy vào hồ
Từ hồi 75, khi hành chính còn xô bồ
Đảng đổi tiền, đánh tư sản, cướp tiền dân, bỏ túi
Cả miền Nam, vài chục tỷ đô la, bỗng nhiên, chia dấm dúi
Cho vài chục lãnh đạo, thử hỏi ai chẳng giầu to
Rồi độc quyền thương gia, xí nghiệp, buôn bán vô bờ
Ký một tờ giấy, là tiền vô như nước
Chị Ba nắm vùng này, anh Sáu vùng kia hưởng phước
Có Công An, còng số 8 , súng Aka
Đứa nào ho he, cứ nhốt chúng cho ta!
Còn đồng chí thích biệt thự nào, cứ lấy
Trước là làm Trụ sở, sau thì ký giấy
Hóa giá nhà, cho làm chủ khơi khơi
Và thế là, tài sản đất nước mất toi
Một chốc bốc hơi, nước thì nghèo, Đảng thì giầu bự
Thôi, nhưng mà, nói làm chi chuyện cũ
Ba mươi mấy năm rồi, gợi lại, nước mắt nhòa
Tôi chỉ muốn hỏi ông chuyện hiện tại, không xa
Vài câu hỏi, trước khi ông đến Mỹ...
****
Có bao giờ ông nhớ lại thời chống Mỹ
Những mẹ già nhịn đói, nuôi ông
Những người thôn quê, giúp ông vót hầm chông
Củ sắn, củ khoai chia cho ông một nửa
Ông nịnh họ là Mẹ Cách Mạng, Mẹ Chiến Sĩ, Mẹ... gì nữa?
Giờ đây, ông huy hoàng, họ vẫn cứ long đong
Vách lều năm xưa, vẫn rách nát, từ Xuân đến Đông
Mưa vẫn dột, gió vẫn lùa, lạnh giá
Họ chỉ có chút đất ruộng, chút vườn xưa hương hỏa
Mà Đảng ông lại nỡ trưng thâu
Không một chút gì ơn trả cho nhau
Lại táng tận tịch thu, đuổi cổ
Mẹ Chiến Sĩ năm xưa, giờ này, đang khóc khổ
Đứng ngoài đường, làm một lũ DÂN OAN
Ông ngồi xe láng đi qua, còi hú vang vang
Không nhìn thấy nước mắt mẹ già ướt phố!
Những chiếc áo rách kia, ở nhà ông, chó không thèm rớ!
Đầy tớ ông, toàn vải ngoại, hàng sang
Những chiếc nón lá kia của lũ DÂN OAN
Mong gì thấy trong cầu tiêu ông Tỷ Phú
Ông Thủ Tướng ơi! Đảng ông quá giầu, còn tham chi nữa?
Ông chỉ có hai tay, một cái miệng, một bụng to
Ăn đồ ngon bao nhiêu, cũng chỉ đến lúc no
Sao lại để NHÂN DÂN, NGƯỜI CHỦ ĐẤT NƯỚC chết đói?
Có lẽ các ông chỉ thích xài danh từ le lói
Ủy Ban Nhân Dân, Thư Viện Nhân Dân, Quân Đội Nhân Dân
Trung với Đảng, Hiếu với Dân, Đầy Tớ Nhân Dân...
Mà thực chất, chỉ những Nhân Dân ấy khiếu kiện
Vậy xin ông Đầy Tớ Nhân Dân ấy, làm ơn mở lòng từ thiện
Trả lại cho Nhân Dân ruộng đất cắm cái dùi
Một tấc đất thôi, để mưa nắng khỏi dập vùi
Già sắp chết rồi, mong có chỗ trú mưa cho con cháu...
****
Thưa Ông Thủ Tướng, ông đông bồ nhí, lắm con, nhiều cháu
Có khi nào ông nghĩ chúng đứng đường
Mặc quần lòe, áo hở ngực, kệ phong sương
Chụp giật khách qua đường, bán xác
Những đứa bé mới lớn lên, mặt còn ngơ ngác:
Chú chơi con đi! Con hãy còn trinh!
Miễn sao cho mẹ con, khỏi phải bán máu mình
Có mấy lít máu, bán hoài cũng chết
Em con, đang rửa bao ny lông đựng chuột chết
Đựng bao cao su, máu mủ, băng vệ sinh
Đôi khi đựng cả chân tay người thúi sình
Ruột gan, cơ phận người, bệnh viện vất ra đống rác
Chú ơi! Cả đời con chả biết gì, ngoài rác
Đẻ trên đống rác, và lớn cũng ở đây
Mười mấy năm rồi, con mới bỏ que sắt cầm tay
Đi bán của trời cho, mong bữa cơm thay cháo...
Những em gái khác, con cán bộ, lại là dân chơi bạo
Dư bạc tiền, nên hút, chích, lắc như điên
Thích ngủ lang mà không phải vì tiền
Bố mẹ chúng, Giám Đốc, Bộ Trưởng, quyền uy kinh khiếp
Chúng tha hồ chơi, đứa nào dám ăn hiếp?
Cả họ phải rũ tù, mang chục án làm gương.
Cho nên, cả thành phố, về đêm, đầy gái đứng đường
Ông có thấy nhục không, ông Nguyễn Tấn Dũng?
****
Nếu ông rời đô thành, đến cao nguyên, thung lũng
Đâu đâu cũng có nghề làm gái không biên cương
Phủ Lý, Lạng Sơn, Bắc Cạn, Hải Dương...
Những địa danh thơ mộng giờ thành ổ đĩ
Một khi con người đói quá, thì không cần suy nghĩ
Có chi bán nấy, giật dọc qua ngày.
Chân Cửu Vạn, tay xe thồ, lưng không bao giờ thẳng ngay
Vì khiêng vác, gái trai, ông già, bà lão
Có những làng, cả ba đời vác gạo
Vượt đồn canh, biên giới, suối khe
Những thân người gầy yếu như cây tre
Chỉ xương cốt, gân xanh, gân đỏ
Có những làng chỉ nghe đàn bà thở
Vì đàn ông chết ráo đâu rồi
Đào vàng, đi ăn mày, tìm trầm, chết dưới vực khơi
Nên đêm tối, tiếng thở dài như bão nổi
Những cô gái chỉ mong một đời có lần trao đổi
Tấm băng trinh lấy chút vị yêu đương
Trong thế giới chửi thề, lên chiếu, xuống giường
Sống như trâu chó, lấy chi mà mơ mộng!
*****
Ông Thủ Tướng ơi! Có bao giờ ông thấy lòng bỗng động?
Khi nhìn hình lũ con gái thơ ngây
Đứng trần truồng hàng lũ, dạn dầy
Để lũ vượn ngoại bang sờ sớ, nắn nắn
Thè lưỡi, chu môi, cho chúng mua mua, bán bán
Gái cần đi ngoại quốc, mong có tấm chồng Hàn
Hay Đài Loan, Singapore, các nước lân bang
Một chồng, hay chục chồng, vợ lớn hay vợ lẽ
Nô lệ tình dục ư? Miễn sao no lòng thì mặc kệ
Đứng trong lồng gương, lên Yahoo rao bán, ôi.. mặc thây!
Chính ông Chủ Tịch nước cũng mới vừa đây
Dụ Việt kiều về nước, nói gái quê nhà đẹp lắm!
Không biết ông nghĩ sao, chứ chúng tôi nhục lắm!
Nhục cả ba bốn đời, nhục Quốc Tổ, nhục tông môn
Khi con người chỉ còn nghĩ đến bán trôn
Nuôi cái miệng, còn chi là danh dự?
Bốn ngàn năm văn hiến, ngời ngời lịch sử
Chống Bắc Phương, Thanh, Tống, Nguyên, Mông
Dũng sĩ trời Nam hiển lộng thần thông
Đánh cho chúng tơi bời cây cỏ
Đánh cho sử tri Nam Quốc Anh Hùng chi hữu chủ (1)
Lời Nguyễn Huệ xưa còn lồng lộng không gian
Vậy mà, giờ đây, ông đã dâng Ải Nam Quan
Nộp Thác Bản Giốc cho đàn anh hưởng dụng
Chỉ để cho các ông tung hoàng, dung túng
Lũ công an bắt bớ, dầy vò
Các cựu đảng viên, nhà phản kháng, bác sĩ, nhà văn, nhà thơ
Linh mục, luật sư, Thượng Tọa, Đại Đức
Chỉ vì họ dám hy sinh sức lực
Để nói lên tiếng nói tự lương tâm
Chống đối bất công, chống tham nhũng, bọn vô tâm
Cướp đất, cướp nhà, hành dân hơn trộm cắp...
****
Ông Dũng ơi! Có bao giờ ông trả lời những câu hỏi đầy ắp:
Tại sao đất nước ta, Người bóc lột Người?
Karl Marx ngày xưa chống nô lệ người
Ăng Gen viết: Người công nhân phải làm chủ! (2)
Giờ đây, người lao động sống như trong cũi chó
Không thuốc men, không bảo hiểm, sống liều
Trong Phố Liều, Phường Liều, hay Xóm Liều (3)
Những chỗ đất hoang, nặc nồng hôi thối
Có khác nào phu mỏ than sống đời tăm tối
Bên nước Anh, nước Pháp thời xa xưa
Nơi Karl Marx tiên đoán cách mạng sẽ nổ ra (4)
Để thực tế, nước ta, hiện nay là vậy đó!
Mấy mươi năm trước :Nhà văn An Nam khổ như chó! (5)
Mấy mươi năm sau, mấy chục triệu dân cực hơn trâu
Trừ đi chục triệu dựa vào Đảng, sống trên cổ trên đầu
Dân Việt còn lại, kiếp ngựa trâu, khốn nạn
Các ông đánh bạc, chơi ngông hàng trăm vạn
Tiền đô như tiền lèo, khi lao động chỉ vài xu.
Một em bé cao nguyên, gánh củi có vài chục xu (6)
Em bé thành phố, đánh giầy, một ổ bánh mì chưa đủ
Trinh trắng em tôi, có chục đô một lần ngủ
Thầy cô giáo một tháng được hơn trăm.
Giám Đốc kia , chơi bạc bằng cả làng ăn nhiều năm
Ông nọ cá độ, bằng vài ngàn người sống mút chỉ.
Đốt một phong pháo chơi, bằng tiền mua bao trinh nữ
Nuôi một chú bẹc giê, phải nuôi thêm vệ sĩ cả bầy
Các sân chơi Gôn của ông, thẳng cánh cò bay
Bằng ruộng lúa cả làng tôi, hay cả ho.
****
Ông Thủ Tướng ơi! có bao giờ thấy người rúm ró
Lạy lục van xin trước cửa bệnh viện Nhân Dân
Xin được chữa bệnh, được nạo thai, được một chỗ đặt chân
Một chiếc chiếu đặt thằng con sắp chết
Ông có nghe tiếng quát nạt giữa tiếng rên xiết
Tiếng khóc than ấm ức, tiếng kêu Trời
Tiếng cò bán máu, cò thuốc Tây hay cò chạy quan tài
Muốn được chết cũng không yên thân nằm chỗ
Ông Công An chưa cho phép chết, gia đình còn khổ
Còn nhờ cò đút lót, trao tay
Ở đâu cũng có cò: cò xin việc, cò chạy án, hay đường dây
Đường dây bán máu, đường dây phá thai, đường dây bệnh viện
Muốn chữa bệnh: Tiền! Muốn chết: Tiền! Muốn chôn: Tiền!
Chôn rồi, muốn không bị phá, lại cần thêm tiền nữa!
Ôi! Từ sinh ra đến chết, lúc nào cũng có người đứng giữa
Đó là anh Công An Nhân Dân có quyền hạn tầy đình
Luật ở miệng tao! Anh hãnh diện chỉ vào mình (7)
Kẻ cai trị những con người Việt Nam Mù, Lòa, Câm, Điếc
Không còn thấy chút nào nhiệt huyết
Chỉ thấy Mù lương tâm, Điếc tai, Lòa mắt, Câm mồm!
Trước hiện tượng cả nước đang phát triển nghề Ôm!
Bia ôm, ngủ trưa ôm, võng ôm, hớt tóc ôm
Karaokê ôm, chè đậu xanh ôm, mía ôm...
Học sinh ra trường, không có nghề, thì ôm đại
Cả nước, chỉ 30% học sinh được Tổ đãi (8)
Vào đại học rồi nam sinh cờ bạc, nữ sinh vợ thuê
Còn 70% kia, thì nhào vô nghề giật dọc
Tuy vậy, cũng còn hơn Bí Thư-Cử Nhân mà không biết đọc
Viện Trưởng Viện Kiểm Sát Nhân Dân không có bằng
HIệu trưởng Trường Đại học cũng lãnh đạo không bằng
Giám Đốc Bệnh Viện mới học lớp ba bổ túc
Bộ Trưởng Kinh Tế, Tài Chánh có học hay không, tùy lúc
Chỉ một điểm chung là tham nhũng, kênh kiệu, khoe khoang
Mua xe hơi trăm ngàn đô la mới sang
Trong khi người nghèo thì bán mạng, làm liều mong sống sót...
****
Ông Thủ Tướng ơi! Đảng ông thích lời nói ngọt:
Lương tâm của Thời Đại, Đất nước Anh Hùng
Nhiều đến nỗi ra ngõ cũng gặp anh hùng (9)
Giờ thì chỉ thấy một văn chương Đéo! (9)
Từ nữ sinh đến ông già, mở miệng là đéo
Đéo sợ thằng nào! Đéo thông cảm! Đéo cần lịch sử!
Đéo cần tử tế! Đéo cần giúp ai! Đéo vào thiên hạ sự!
Ở đời, cứ có tiền là nhào dô, đánh du kích, rồi rút lui.
Cây gỗ quý cứ chặt bừa, thú rừng cứ đốt thui
Chất hóa học đổ tràn, kệ cha chúng mày chết dấp!
Kệ rừng biến thành sa mạc, kệ sông đục rồi vùi lấp
Kệ bờ sông lở bồi, cứ lấy cát bán buôn
Kệ nhà dân tụt xuống sông, kệ rạch biến thành truông
Kệ khói bụi, ho lao, thủng phổi
Kệ thức ăn pha trộn chất diêm muối
Kệ nước tương là chất độc kinh hoàng
Kệ thế hệ này, thế hệ nữa, tan hoang
Miễn tiền đô Mỹ cứ chui vào quỹ
*****
Ông Thủ Tướng ơi! Biết nói chi nữa nhỉ?
Nói nhiều thì lệ tràn, mà cũng vô ích mà thôi
Đảng của ông vẫn chễm trệ ngồi
Trên mấy chục triệu dân ngu, dân khổ
Hàng trăm bài báo, hàng ngàn tờ công tố
Vài vạn buổi truyền thanh, truyền hình quốc tế
Trăm cuộc biểu tình của DÂN OAN như thế
Ông vẫn bình tâm rung đùi, máy lạnh, gái chung quanh
Ông như Lê Ngọa Triều, Lê Chiêu Thống HÔN QUÂN
Đóng cửa, bịt tai tàn tàn hưởng thụ
Những khẩu hiệu khiếu kiện tràn đầy đường phố
Thủ Tướng ơi! Cứu Dân!, Đảng ơi! Cứu dân!
Ông lệnh cho xé bỏ, tống giam mấy thằng kích động nhân dân
Mặc dù chúng chỉ khóc than những lời đau đớn
Báo chí ông chụp mũ, bắt những ai có lòng hảo hớn
Đến chia gói mì, chia ly nước cho DÂN OAN
Chưa có ai dám gọi ông là HÔN QUÂN
Chưa có ai dám gọi ông: Lũ cướp ngày của lịch sử! (10)
Họ chưa sánh ông với Tần Thủy Hoàng, Staline, hoặc ai trong lịch sử
Đã dùng cường quyền trấn áp dân đen
Họ chỉ quỳ xuống, van xin ông, đừng Đến hẹn lại lên (11)
Cứ đến hẹn là nhà bay, đất mất
Bí thư Xã, Chủ Tịch Phường hễ ra hẹn nộp đất
Mà không tuân, thì Xử Lý nghiêm minh
Còn bồi thường? Thì tuy đất một nghìn
Ông Lý Trưởng: Một trăm? Không chịu? Kệ mẹ!! (12)
Ông Trương Tuần: “Chống phá Cách Mạng! Đánh bỏ mẹ!?
Bà Tổng Cai thì: Nhốt chúng cho biết tay!
Những tay phú lít Tây lập tức ra tay
Có khác gì đâu, những ngày mà các ông bị Tây nhốt
Xà lim sẵn sàng cho cặp rằng đi hốt
Hơn nửa thế kỷ sau, những chị Dậu của Tắt đèn
Những Bà Địa Chủ ngỏn ngoẻn ép buộc dân đen
Bán chó, bán con, cho mấy thằng già bú sữa
Những anh Dậu bị gông ra đình, đánh cho ụa mửa
Vẫn dẫy đầy trong xã hội ông trị cai
Chỉ khác là ngày xưa, thông tin ít, nên thế giới không đoái hoài
Giờ thì cả quốc tế đồng thanh lên án
Các ông vẫn mặt trơ, bóng trán
Ngậm miệng ăn tiền, đàn áp lũ dân ngu, khu đen
****
Thủ Tướng ơi! Còn nhớ ngày các ông giương lá cờ lên
Có búa - liềm tượng trưng cho nông dân, lao động?
Các ông hô hào đánh tư sản mại bản, tiếng loa lồng lộng
Vài trăm ngàn người ông cho là Tư sản, địa chủ , giờ nơi đâu?
Họ đã chết trong đấu tố, Lý bá Sơ, hay núi thẳm, rừng sâu
Sau 75, tư sản vào tù hoặc kinh tế mới hết ráo
Chủ trương của các ông được thi hành rốt ráo
Sao bây giờ cả Đảng thành Tư Sản Mại Bản, bán nước cho Tầu?
Hoàng Sa, Nam Quan, Bản Giốc giờ còn đâu?
Đảng nhượng từng phần Vũng Tầu, Đồ Sơn, Nha Trang... mở sòng bạc
Chỗ nào có tiền ngoại ngon lành là các ông kiếm chác
Ký giấy nhượng luôn cho Tư bản vài chục năm
Không còn nhớ từ Triệu, Trưng.. luôn chống giặc ngoại xâm
Các ông chỉ đặt bút ký là đất thiêng biến mất!
Ôi! Có khi nào mà ông nghĩ đến đau thương chất ngất
Hàng triệu triệu người chiến sĩ hy sinh
Đã đổ máu xương ra bảo vệ từng tấm sinh linh
Bảo vệ danh dự dân Việt, bốn ngàn năm lịch sử
Có bao giờ mà mắt các ông nhòa lệ?
Nâng ly ruợu ngoại lên là thấy máu trong tay?
Ăn miếng cơm ngon mà tưởng như ăn thịt dân đây?
Mỗi ngụm ruợu là cả triệu trẻ em đói khát
Một lần các ông vung tay chơi bời, ngàn gia đình tan nát...
****
Ông có nghe thấy không?
Ông có nhìn thấy không?
Hồn oan dân đen đang đứng cạnh chiếc bàn dài
Hồn của họ ngắm bọn ông, ngủ say, dãi nhớt chẩy dài
Sau trận truy hoan với bao nhiêu gái đẹp
Những hồn tử sĩ, vài chục năm mê thiếp
Sẽ có lần viếng từng người, từng THỦ TRƯỞNG năm xưa
Họ sẽ hỏi ông: Thủ Trưởng muốn chết mấy cho vừa?
Lòng Tham, Sân, Si của những người lãnh đạo
Một chế độ độc tôn, độc quyền, tàn bạo
Không kể hạnh phúc dân đen, vận nước long đong
Mới vừa đây, báo cáo vài ngàn tỷ xuống sông
Vì tiêu phí cho mấy ông Thủ Trưởng?
Ôi! Trời ơi! Nước ơi! Không thể tưởng tượng!
Giữa thế kỷ văn minh này mà đất nước tồi tàn
Vẫn long đong giữa thế lực ngoại bang
Một Tầu, hai Mỹ, miễn sao cho các ông hưởng thụ!
****
Thưa Ông Thủ Tướng!
Chúng tôi, không kể là người chế độ cũ
Người miền Bắc, Nghệ An, Quảng Trị, hay Quảng Bình
Cùng viết thư này mong các ông nghĩ tình
Là dân Việt mà lắng nghe lời chân thực
Hãy quỳ xuống, sám hối, khi còn kịp lúc!
Sám hối với nhân dân, sám hối với Tổ Tiên!
Tội nghiệt các ông mang, lẽ ra phải trừng phạt triền miên
Nhiều đời, nhiều kiếp, vạc dầu, tùng xẻo
Nhưng vì tương lai của dân ta, thôi đành hòa dịu
Không muốn chiến tranh, chỉ đòi các ông trả lại dân quyền
Trả Tự Do, Dân Chủ, Nhân quyền
Cho mọi người dân cùng dựng xây trên tan nát
Bỏ điều 4 đi, đừng nghĩ là tự sát!
(Đúng ra, nếu các ông Tự Sát, cũng đúng thôi!)
Hãy từ bỏ đặc quyền, trả lại quyền cho tất cả chúng tôi
Tám mươi triệu người Việt máu đỏ, da vàng yêu dấu
Hãy nhìn thẳng vào những khuôn mặt đau đáu
Hãy lắng nghe tiếng nói của lương tâm
Hãy bàn giao quyền lợi cho giới trẻ, thanh xuân
Những người chủ tương lai của đất nước
Hãy mở cửa nhà tù, tìm những người từ trước
Vẫn kiên gan đòi sống theo trái tim
Như vậy, mới mong đất nước không đắm chìm
Trong nô lệ, cùm gông, không lối thoát
Mau mau lên, rừng vàng biển bạc
Sắp tan thành sa mạc, bể dâu
Thế hệ này không kịp nữa đâu
Chỉ còn thế hệ sau, mới mong vững chãi
Thôi, vài lời dông dài, viết hoài nói mãi
Cũng chỉ là những giọt lệ thương đau
Những giọt máu trong tim đã vỡ vụn, nát nhàu
Của những tâm hồn Việt Nam Chân Thành, Trung Thực.
Chu Tất Tiến. Tháng 9 năm 2007.
(Tha thiết ước mong lá thư này được in ra và đến tay Nguyễn Tấn Dũng và những người cùng trong chuyến Mỹ du.)
Chú Thích.-
(1) Hịch của Đại Đế Quang Trung.
(2) Ăng-gel: Những công nhân phải làm chủ tư liệu sản xuất.
Thực tế, nhà nước Việt Nam là chủ toàn bộ tư liệu sản xuất.
(3) Xóm Liều, Phường Liều...: Những khu vực của dân không hộ khẩu, anh chị, sống liều mạng
(4) Karl Marx: Tiên đoán cách mạng vô sản sẽ nổ ra ở những nước Tư Bản. Thực tế, Cách mạng vô sản xẩy ra ở Nga là
nước có chế độ Nga Hoàng.
(5) Thơ Nguyễn Vỹ.
(6) Một em bé bán củi vụn, măng tre ở Cao Nguyên suốt ngày được 30 xu.
(7) Một anh công an đi bắt những nhà phản kháng, khi được hỏi về Luật nào cho phép bắt người, đã quát lên: “Luật ở miệng tao!”
(8) Mỗi năm, chỉ có 30% học sinh Trung Học được vào Đại Học vì không có trường.
(9) Các câu nói, tiếng nói phổ thông ở ngoài Bắc.
(10) Ca dao: "Con ơi nhớ lấy lời này Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan."
(11) Tên một cuốn phim cách mạng
(12) Hệ thống cai trị làng xã bây giờ không khác gì thời Tây Thực Dân đô hộ.Bí thư = Tiên Chỉ, Chủ tịch =Chánh Tổng hay Lý Trưởng, Công An = Trương Tuần hay Phú Lít Tây.
THỦ TƯỚNG CHXHCH VIỆT NAM .
Chu TấtTiến
Lời đầu tiên là một điều minh xác
Thư này được viết với tư cách một công dân
Sinh đẻ tại Việt Nam, lớn lên và lập thân
Rồi đi xa, nhưng vẫn nhớ quê hương ngào nghẹn
Tôi không gửi thư đến ông như một người kiếm chuyện
Làm quen ông, một chức vụ lẫy lừng
Để sau này, có cơ hội tưng bừng
Về đất nước, bon chen, kiếm cháo
Tôi cũng không phải là người táo bạo
Tìm cách gần ông, một triệu phú giầu nhất vùng
Nhất Việt Nam, nhất Đông Á, tài sản nhiều vô cùng
Nếu được ông cho một chút lẻ, cũng tiêu hoài không hết
Những biệt thự Hồ Tây, những công ty hàng may, hàng dệt
Những cổ phần con cháu đứng tên giùm
Vợ lớn, bồ nhí, người yêu, người phục vụ, từng chùm
Một cái chỉ tay, người người cúc cung, tận tụy
Những trương mục rải khắp nơi, Mỹ, Tây, Thụy Sĩ
Tiền cứ vô nhà như thác chẩy vào hồ
Từ hồi 75, khi hành chính còn xô bồ
Đảng đổi tiền, đánh tư sản, cướp tiền dân, bỏ túi
Cả miền Nam, vài chục tỷ đô la, bỗng nhiên, chia dấm dúi
Cho vài chục lãnh đạo, thử hỏi ai chẳng giầu to
Rồi độc quyền thương gia, xí nghiệp, buôn bán vô bờ
Ký một tờ giấy, là tiền vô như nước
Chị Ba nắm vùng này, anh Sáu vùng kia hưởng phước
Có Công An, còng số 8 , súng Aka
Đứa nào ho he, cứ nhốt chúng cho ta!
Còn đồng chí thích biệt thự nào, cứ lấy
Trước là làm Trụ sở, sau thì ký giấy
Hóa giá nhà, cho làm chủ khơi khơi
Và thế là, tài sản đất nước mất toi
Một chốc bốc hơi, nước thì nghèo, Đảng thì giầu bự
Thôi, nhưng mà, nói làm chi chuyện cũ
Ba mươi mấy năm rồi, gợi lại, nước mắt nhòa
Tôi chỉ muốn hỏi ông chuyện hiện tại, không xa
Vài câu hỏi, trước khi ông đến Mỹ...
****
Có bao giờ ông nhớ lại thời chống Mỹ
Những mẹ già nhịn đói, nuôi ông
Những người thôn quê, giúp ông vót hầm chông
Củ sắn, củ khoai chia cho ông một nửa
Ông nịnh họ là Mẹ Cách Mạng, Mẹ Chiến Sĩ, Mẹ... gì nữa?
Giờ đây, ông huy hoàng, họ vẫn cứ long đong
Vách lều năm xưa, vẫn rách nát, từ Xuân đến Đông
Mưa vẫn dột, gió vẫn lùa, lạnh giá
Họ chỉ có chút đất ruộng, chút vườn xưa hương hỏa
Mà Đảng ông lại nỡ trưng thâu
Không một chút gì ơn trả cho nhau
Lại táng tận tịch thu, đuổi cổ
Mẹ Chiến Sĩ năm xưa, giờ này, đang khóc khổ
Đứng ngoài đường, làm một lũ DÂN OAN
Ông ngồi xe láng đi qua, còi hú vang vang
Không nhìn thấy nước mắt mẹ già ướt phố!
Những chiếc áo rách kia, ở nhà ông, chó không thèm rớ!
Đầy tớ ông, toàn vải ngoại, hàng sang
Những chiếc nón lá kia của lũ DÂN OAN
Mong gì thấy trong cầu tiêu ông Tỷ Phú
Ông Thủ Tướng ơi! Đảng ông quá giầu, còn tham chi nữa?
Ông chỉ có hai tay, một cái miệng, một bụng to
Ăn đồ ngon bao nhiêu, cũng chỉ đến lúc no
Sao lại để NHÂN DÂN, NGƯỜI CHỦ ĐẤT NƯỚC chết đói?
Có lẽ các ông chỉ thích xài danh từ le lói
Ủy Ban Nhân Dân, Thư Viện Nhân Dân, Quân Đội Nhân Dân
Trung với Đảng, Hiếu với Dân, Đầy Tớ Nhân Dân...
Mà thực chất, chỉ những Nhân Dân ấy khiếu kiện
Vậy xin ông Đầy Tớ Nhân Dân ấy, làm ơn mở lòng từ thiện
Trả lại cho Nhân Dân ruộng đất cắm cái dùi
Một tấc đất thôi, để mưa nắng khỏi dập vùi
Già sắp chết rồi, mong có chỗ trú mưa cho con cháu...
****
Thưa Ông Thủ Tướng, ông đông bồ nhí, lắm con, nhiều cháu
Có khi nào ông nghĩ chúng đứng đường
Mặc quần lòe, áo hở ngực, kệ phong sương
Chụp giật khách qua đường, bán xác
Những đứa bé mới lớn lên, mặt còn ngơ ngác:
Chú chơi con đi! Con hãy còn trinh!
Miễn sao cho mẹ con, khỏi phải bán máu mình
Có mấy lít máu, bán hoài cũng chết
Em con, đang rửa bao ny lông đựng chuột chết
Đựng bao cao su, máu mủ, băng vệ sinh
Đôi khi đựng cả chân tay người thúi sình
Ruột gan, cơ phận người, bệnh viện vất ra đống rác
Chú ơi! Cả đời con chả biết gì, ngoài rác
Đẻ trên đống rác, và lớn cũng ở đây
Mười mấy năm rồi, con mới bỏ que sắt cầm tay
Đi bán của trời cho, mong bữa cơm thay cháo...
Những em gái khác, con cán bộ, lại là dân chơi bạo
Dư bạc tiền, nên hút, chích, lắc như điên
Thích ngủ lang mà không phải vì tiền
Bố mẹ chúng, Giám Đốc, Bộ Trưởng, quyền uy kinh khiếp
Chúng tha hồ chơi, đứa nào dám ăn hiếp?
Cả họ phải rũ tù, mang chục án làm gương.
Cho nên, cả thành phố, về đêm, đầy gái đứng đường
Ông có thấy nhục không, ông Nguyễn Tấn Dũng?
****
Nếu ông rời đô thành, đến cao nguyên, thung lũng
Đâu đâu cũng có nghề làm gái không biên cương
Phủ Lý, Lạng Sơn, Bắc Cạn, Hải Dương...
Những địa danh thơ mộng giờ thành ổ đĩ
Một khi con người đói quá, thì không cần suy nghĩ
Có chi bán nấy, giật dọc qua ngày.
Chân Cửu Vạn, tay xe thồ, lưng không bao giờ thẳng ngay
Vì khiêng vác, gái trai, ông già, bà lão
Có những làng, cả ba đời vác gạo
Vượt đồn canh, biên giới, suối khe
Những thân người gầy yếu như cây tre
Chỉ xương cốt, gân xanh, gân đỏ
Có những làng chỉ nghe đàn bà thở
Vì đàn ông chết ráo đâu rồi
Đào vàng, đi ăn mày, tìm trầm, chết dưới vực khơi
Nên đêm tối, tiếng thở dài như bão nổi
Những cô gái chỉ mong một đời có lần trao đổi
Tấm băng trinh lấy chút vị yêu đương
Trong thế giới chửi thề, lên chiếu, xuống giường
Sống như trâu chó, lấy chi mà mơ mộng!
*****
Ông Thủ Tướng ơi! Có bao giờ ông thấy lòng bỗng động?
Khi nhìn hình lũ con gái thơ ngây
Đứng trần truồng hàng lũ, dạn dầy
Để lũ vượn ngoại bang sờ sớ, nắn nắn
Thè lưỡi, chu môi, cho chúng mua mua, bán bán
Gái cần đi ngoại quốc, mong có tấm chồng Hàn
Hay Đài Loan, Singapore, các nước lân bang
Một chồng, hay chục chồng, vợ lớn hay vợ lẽ
Nô lệ tình dục ư? Miễn sao no lòng thì mặc kệ
Đứng trong lồng gương, lên Yahoo rao bán, ôi.. mặc thây!
Chính ông Chủ Tịch nước cũng mới vừa đây
Dụ Việt kiều về nước, nói gái quê nhà đẹp lắm!
Không biết ông nghĩ sao, chứ chúng tôi nhục lắm!
Nhục cả ba bốn đời, nhục Quốc Tổ, nhục tông môn
Khi con người chỉ còn nghĩ đến bán trôn
Nuôi cái miệng, còn chi là danh dự?
Bốn ngàn năm văn hiến, ngời ngời lịch sử
Chống Bắc Phương, Thanh, Tống, Nguyên, Mông
Dũng sĩ trời Nam hiển lộng thần thông
Đánh cho chúng tơi bời cây cỏ
Đánh cho sử tri Nam Quốc Anh Hùng chi hữu chủ (1)
Lời Nguyễn Huệ xưa còn lồng lộng không gian
Vậy mà, giờ đây, ông đã dâng Ải Nam Quan
Nộp Thác Bản Giốc cho đàn anh hưởng dụng
Chỉ để cho các ông tung hoàng, dung túng
Lũ công an bắt bớ, dầy vò
Các cựu đảng viên, nhà phản kháng, bác sĩ, nhà văn, nhà thơ
Linh mục, luật sư, Thượng Tọa, Đại Đức
Chỉ vì họ dám hy sinh sức lực
Để nói lên tiếng nói tự lương tâm
Chống đối bất công, chống tham nhũng, bọn vô tâm
Cướp đất, cướp nhà, hành dân hơn trộm cắp...
****
Ông Dũng ơi! Có bao giờ ông trả lời những câu hỏi đầy ắp:
Tại sao đất nước ta, Người bóc lột Người?
Karl Marx ngày xưa chống nô lệ người
Ăng Gen viết: Người công nhân phải làm chủ! (2)
Giờ đây, người lao động sống như trong cũi chó
Không thuốc men, không bảo hiểm, sống liều
Trong Phố Liều, Phường Liều, hay Xóm Liều (3)
Những chỗ đất hoang, nặc nồng hôi thối
Có khác nào phu mỏ than sống đời tăm tối
Bên nước Anh, nước Pháp thời xa xưa
Nơi Karl Marx tiên đoán cách mạng sẽ nổ ra (4)
Để thực tế, nước ta, hiện nay là vậy đó!
Mấy mươi năm trước :Nhà văn An Nam khổ như chó! (5)
Mấy mươi năm sau, mấy chục triệu dân cực hơn trâu
Trừ đi chục triệu dựa vào Đảng, sống trên cổ trên đầu
Dân Việt còn lại, kiếp ngựa trâu, khốn nạn
Các ông đánh bạc, chơi ngông hàng trăm vạn
Tiền đô như tiền lèo, khi lao động chỉ vài xu.
Một em bé cao nguyên, gánh củi có vài chục xu (6)
Em bé thành phố, đánh giầy, một ổ bánh mì chưa đủ
Trinh trắng em tôi, có chục đô một lần ngủ
Thầy cô giáo một tháng được hơn trăm.
Giám Đốc kia , chơi bạc bằng cả làng ăn nhiều năm
Ông nọ cá độ, bằng vài ngàn người sống mút chỉ.
Đốt một phong pháo chơi, bằng tiền mua bao trinh nữ
Nuôi một chú bẹc giê, phải nuôi thêm vệ sĩ cả bầy
Các sân chơi Gôn của ông, thẳng cánh cò bay
Bằng ruộng lúa cả làng tôi, hay cả ho.
****
Ông Thủ Tướng ơi! có bao giờ thấy người rúm ró
Lạy lục van xin trước cửa bệnh viện Nhân Dân
Xin được chữa bệnh, được nạo thai, được một chỗ đặt chân
Một chiếc chiếu đặt thằng con sắp chết
Ông có nghe tiếng quát nạt giữa tiếng rên xiết
Tiếng khóc than ấm ức, tiếng kêu Trời
Tiếng cò bán máu, cò thuốc Tây hay cò chạy quan tài
Muốn được chết cũng không yên thân nằm chỗ
Ông Công An chưa cho phép chết, gia đình còn khổ
Còn nhờ cò đút lót, trao tay
Ở đâu cũng có cò: cò xin việc, cò chạy án, hay đường dây
Đường dây bán máu, đường dây phá thai, đường dây bệnh viện
Muốn chữa bệnh: Tiền! Muốn chết: Tiền! Muốn chôn: Tiền!
Chôn rồi, muốn không bị phá, lại cần thêm tiền nữa!
Ôi! Từ sinh ra đến chết, lúc nào cũng có người đứng giữa
Đó là anh Công An Nhân Dân có quyền hạn tầy đình
Luật ở miệng tao! Anh hãnh diện chỉ vào mình (7)
Kẻ cai trị những con người Việt Nam Mù, Lòa, Câm, Điếc
Không còn thấy chút nào nhiệt huyết
Chỉ thấy Mù lương tâm, Điếc tai, Lòa mắt, Câm mồm!
Trước hiện tượng cả nước đang phát triển nghề Ôm!
Bia ôm, ngủ trưa ôm, võng ôm, hớt tóc ôm
Karaokê ôm, chè đậu xanh ôm, mía ôm...
Học sinh ra trường, không có nghề, thì ôm đại
Cả nước, chỉ 30% học sinh được Tổ đãi (8)
Vào đại học rồi nam sinh cờ bạc, nữ sinh vợ thuê
Còn 70% kia, thì nhào vô nghề giật dọc
Tuy vậy, cũng còn hơn Bí Thư-Cử Nhân mà không biết đọc
Viện Trưởng Viện Kiểm Sát Nhân Dân không có bằng
HIệu trưởng Trường Đại học cũng lãnh đạo không bằng
Giám Đốc Bệnh Viện mới học lớp ba bổ túc
Bộ Trưởng Kinh Tế, Tài Chánh có học hay không, tùy lúc
Chỉ một điểm chung là tham nhũng, kênh kiệu, khoe khoang
Mua xe hơi trăm ngàn đô la mới sang
Trong khi người nghèo thì bán mạng, làm liều mong sống sót...
****
Ông Thủ Tướng ơi! Đảng ông thích lời nói ngọt:
Lương tâm của Thời Đại, Đất nước Anh Hùng
Nhiều đến nỗi ra ngõ cũng gặp anh hùng (9)
Giờ thì chỉ thấy một văn chương Đéo! (9)
Từ nữ sinh đến ông già, mở miệng là đéo
Đéo sợ thằng nào! Đéo thông cảm! Đéo cần lịch sử!
Đéo cần tử tế! Đéo cần giúp ai! Đéo vào thiên hạ sự!
Ở đời, cứ có tiền là nhào dô, đánh du kích, rồi rút lui.
Cây gỗ quý cứ chặt bừa, thú rừng cứ đốt thui
Chất hóa học đổ tràn, kệ cha chúng mày chết dấp!
Kệ rừng biến thành sa mạc, kệ sông đục rồi vùi lấp
Kệ bờ sông lở bồi, cứ lấy cát bán buôn
Kệ nhà dân tụt xuống sông, kệ rạch biến thành truông
Kệ khói bụi, ho lao, thủng phổi
Kệ thức ăn pha trộn chất diêm muối
Kệ nước tương là chất độc kinh hoàng
Kệ thế hệ này, thế hệ nữa, tan hoang
Miễn tiền đô Mỹ cứ chui vào quỹ
*****
Ông Thủ Tướng ơi! Biết nói chi nữa nhỉ?
Nói nhiều thì lệ tràn, mà cũng vô ích mà thôi
Đảng của ông vẫn chễm trệ ngồi
Trên mấy chục triệu dân ngu, dân khổ
Hàng trăm bài báo, hàng ngàn tờ công tố
Vài vạn buổi truyền thanh, truyền hình quốc tế
Trăm cuộc biểu tình của DÂN OAN như thế
Ông vẫn bình tâm rung đùi, máy lạnh, gái chung quanh
Ông như Lê Ngọa Triều, Lê Chiêu Thống HÔN QUÂN
Đóng cửa, bịt tai tàn tàn hưởng thụ
Những khẩu hiệu khiếu kiện tràn đầy đường phố
Thủ Tướng ơi! Cứu Dân!, Đảng ơi! Cứu dân!
Ông lệnh cho xé bỏ, tống giam mấy thằng kích động nhân dân
Mặc dù chúng chỉ khóc than những lời đau đớn
Báo chí ông chụp mũ, bắt những ai có lòng hảo hớn
Đến chia gói mì, chia ly nước cho DÂN OAN
Chưa có ai dám gọi ông là HÔN QUÂN
Chưa có ai dám gọi ông: Lũ cướp ngày của lịch sử! (10)
Họ chưa sánh ông với Tần Thủy Hoàng, Staline, hoặc ai trong lịch sử
Đã dùng cường quyền trấn áp dân đen
Họ chỉ quỳ xuống, van xin ông, đừng Đến hẹn lại lên (11)
Cứ đến hẹn là nhà bay, đất mất
Bí thư Xã, Chủ Tịch Phường hễ ra hẹn nộp đất
Mà không tuân, thì Xử Lý nghiêm minh
Còn bồi thường? Thì tuy đất một nghìn
Ông Lý Trưởng: Một trăm? Không chịu? Kệ mẹ!! (12)
Ông Trương Tuần: “Chống phá Cách Mạng! Đánh bỏ mẹ!?
Bà Tổng Cai thì: Nhốt chúng cho biết tay!
Những tay phú lít Tây lập tức ra tay
Có khác gì đâu, những ngày mà các ông bị Tây nhốt
Xà lim sẵn sàng cho cặp rằng đi hốt
Hơn nửa thế kỷ sau, những chị Dậu của Tắt đèn
Những Bà Địa Chủ ngỏn ngoẻn ép buộc dân đen
Bán chó, bán con, cho mấy thằng già bú sữa
Những anh Dậu bị gông ra đình, đánh cho ụa mửa
Vẫn dẫy đầy trong xã hội ông trị cai
Chỉ khác là ngày xưa, thông tin ít, nên thế giới không đoái hoài
Giờ thì cả quốc tế đồng thanh lên án
Các ông vẫn mặt trơ, bóng trán
Ngậm miệng ăn tiền, đàn áp lũ dân ngu, khu đen
****
Thủ Tướng ơi! Còn nhớ ngày các ông giương lá cờ lên
Có búa - liềm tượng trưng cho nông dân, lao động?
Các ông hô hào đánh tư sản mại bản, tiếng loa lồng lộng
Vài trăm ngàn người ông cho là Tư sản, địa chủ , giờ nơi đâu?
Họ đã chết trong đấu tố, Lý bá Sơ, hay núi thẳm, rừng sâu
Sau 75, tư sản vào tù hoặc kinh tế mới hết ráo
Chủ trương của các ông được thi hành rốt ráo
Sao bây giờ cả Đảng thành Tư Sản Mại Bản, bán nước cho Tầu?
Hoàng Sa, Nam Quan, Bản Giốc giờ còn đâu?
Đảng nhượng từng phần Vũng Tầu, Đồ Sơn, Nha Trang... mở sòng bạc
Chỗ nào có tiền ngoại ngon lành là các ông kiếm chác
Ký giấy nhượng luôn cho Tư bản vài chục năm
Không còn nhớ từ Triệu, Trưng.. luôn chống giặc ngoại xâm
Các ông chỉ đặt bút ký là đất thiêng biến mất!
Ôi! Có khi nào mà ông nghĩ đến đau thương chất ngất
Hàng triệu triệu người chiến sĩ hy sinh
Đã đổ máu xương ra bảo vệ từng tấm sinh linh
Bảo vệ danh dự dân Việt, bốn ngàn năm lịch sử
Có bao giờ mà mắt các ông nhòa lệ?
Nâng ly ruợu ngoại lên là thấy máu trong tay?
Ăn miếng cơm ngon mà tưởng như ăn thịt dân đây?
Mỗi ngụm ruợu là cả triệu trẻ em đói khát
Một lần các ông vung tay chơi bời, ngàn gia đình tan nát...
****
Ông có nghe thấy không?
Ông có nhìn thấy không?
Hồn oan dân đen đang đứng cạnh chiếc bàn dài
Hồn của họ ngắm bọn ông, ngủ say, dãi nhớt chẩy dài
Sau trận truy hoan với bao nhiêu gái đẹp
Những hồn tử sĩ, vài chục năm mê thiếp
Sẽ có lần viếng từng người, từng THỦ TRƯỞNG năm xưa
Họ sẽ hỏi ông: Thủ Trưởng muốn chết mấy cho vừa?
Lòng Tham, Sân, Si của những người lãnh đạo
Một chế độ độc tôn, độc quyền, tàn bạo
Không kể hạnh phúc dân đen, vận nước long đong
Mới vừa đây, báo cáo vài ngàn tỷ xuống sông
Vì tiêu phí cho mấy ông Thủ Trưởng?
Ôi! Trời ơi! Nước ơi! Không thể tưởng tượng!
Giữa thế kỷ văn minh này mà đất nước tồi tàn
Vẫn long đong giữa thế lực ngoại bang
Một Tầu, hai Mỹ, miễn sao cho các ông hưởng thụ!
****
Thưa Ông Thủ Tướng!
Chúng tôi, không kể là người chế độ cũ
Người miền Bắc, Nghệ An, Quảng Trị, hay Quảng Bình
Cùng viết thư này mong các ông nghĩ tình
Là dân Việt mà lắng nghe lời chân thực
Hãy quỳ xuống, sám hối, khi còn kịp lúc!
Sám hối với nhân dân, sám hối với Tổ Tiên!
Tội nghiệt các ông mang, lẽ ra phải trừng phạt triền miên
Nhiều đời, nhiều kiếp, vạc dầu, tùng xẻo
Nhưng vì tương lai của dân ta, thôi đành hòa dịu
Không muốn chiến tranh, chỉ đòi các ông trả lại dân quyền
Trả Tự Do, Dân Chủ, Nhân quyền
Cho mọi người dân cùng dựng xây trên tan nát
Bỏ điều 4 đi, đừng nghĩ là tự sát!
(Đúng ra, nếu các ông Tự Sát, cũng đúng thôi!)
Hãy từ bỏ đặc quyền, trả lại quyền cho tất cả chúng tôi
Tám mươi triệu người Việt máu đỏ, da vàng yêu dấu
Hãy nhìn thẳng vào những khuôn mặt đau đáu
Hãy lắng nghe tiếng nói của lương tâm
Hãy bàn giao quyền lợi cho giới trẻ, thanh xuân
Những người chủ tương lai của đất nước
Hãy mở cửa nhà tù, tìm những người từ trước
Vẫn kiên gan đòi sống theo trái tim
Như vậy, mới mong đất nước không đắm chìm
Trong nô lệ, cùm gông, không lối thoát
Mau mau lên, rừng vàng biển bạc
Sắp tan thành sa mạc, bể dâu
Thế hệ này không kịp nữa đâu
Chỉ còn thế hệ sau, mới mong vững chãi
Thôi, vài lời dông dài, viết hoài nói mãi
Cũng chỉ là những giọt lệ thương đau
Những giọt máu trong tim đã vỡ vụn, nát nhàu
Của những tâm hồn Việt Nam Chân Thành, Trung Thực.
Chu Tất Tiến. Tháng 9 năm 2007.
(Tha thiết ước mong lá thư này được in ra và đến tay Nguyễn Tấn Dũng và những người cùng trong chuyến Mỹ du.)
Chú Thích.-
(1) Hịch của Đại Đế Quang Trung.
(2) Ăng-gel: Những công nhân phải làm chủ tư liệu sản xuất.
Thực tế, nhà nước Việt Nam là chủ toàn bộ tư liệu sản xuất.
(3) Xóm Liều, Phường Liều...: Những khu vực của dân không hộ khẩu, anh chị, sống liều mạng
(4) Karl Marx: Tiên đoán cách mạng vô sản sẽ nổ ra ở những nước Tư Bản. Thực tế, Cách mạng vô sản xẩy ra ở Nga là
nước có chế độ Nga Hoàng.
(5) Thơ Nguyễn Vỹ.
(6) Một em bé bán củi vụn, măng tre ở Cao Nguyên suốt ngày được 30 xu.
(7) Một anh công an đi bắt những nhà phản kháng, khi được hỏi về Luật nào cho phép bắt người, đã quát lên: “Luật ở miệng tao!”
(8) Mỗi năm, chỉ có 30% học sinh Trung Học được vào Đại Học vì không có trường.
(9) Các câu nói, tiếng nói phổ thông ở ngoài Bắc.
(10) Ca dao: "Con ơi nhớ lấy lời này Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan."
(11) Tên một cuốn phim cách mạng
(12) Hệ thống cai trị làng xã bây giờ không khác gì thời Tây Thực Dân đô hộ.Bí thư = Tiên Chỉ, Chủ tịch =Chánh Tổng hay Lý Trưởng, Công An = Trương Tuần hay Phú Lít Tây.
CHUYỆN CON MÈO BÁO TỬ
HUY PHƯƠNG Tháng rồi báo chí đưa tin, tại một nhà dưỡng lão thuộc thành phố Providence, tiểu bang Rhode Island, có một con mèo tên Oscar, có khả năng báo tử, vì nó thường đến nằm cạnh những bệnh nhân sắp qua đời. Sự tiên đoán chính xác còn hơn cả những bác sĩ y khoa khiến mọi người cũng như vị bác sĩ trong viện dưỡng lão này phải ngạc nhiên, đã được thể hiện trong 25 trường hợp. Thường thì bệnh nhân chỉ sống thêm bốn năm tiếng đồng hồ sau khi con mèo báo tử đến nằm bên cạnh. Phần lớn gia đình người bệnh đều cám ơn còn mèo đã cho họ biết trước để lo hậu sự cho người thân, nhưng không biết có ai muốn đuổi con mèo báo tử này đi không. Phần đông các cụ trong khu dưỡng lão này đều mắc bệnh suy trí nhớ, còn chúng ta, nếu còn minh mẫn, sẽ nghĩ thế nào khi một ngày kia, có một con mèo như thế bỗng dưng ra chiều âu yếm đến nằm bên cạnh.
Con người phải chết, chúng ta là con người, chúng ta phải chết, nhưng không phải ai cũng dễ dàng khi nghĩ về cái chết và không sợ chết. Tôi thật ghét con mèo này. Cái gì đến nó sẽ đến, vì sao phải cần phải báo trước? Vì dù có được báo trước thì cũng chẳng có ai sửa soạn được gì đâu. Cuộc đời năm bảy mươi năm, đâu có dễ dàng sửa đổi, điều chỉnh hay làm lại từ đầu trong vòng vài tiếng đồng hồ ngắn ngủi.
Cứ nghĩ, rồi không phải một hôm nào đó, mà chỉ có năm bảy ngày hay bốn tiếng đồng hồ như các cụ trong nhà dưỡng lão, chúng ta phải sửa soạn hành lý để lên đường. Chừng ấy thời gian liệu có đủ cho chúng ta sắp xếp tất cả những của cải, danh vọng trong cả một đời người vào trong mấy chiếc va ly và nhét đầy trong các túi áo, xách tay như chuyến du lịch vừa rồi. Nghe nói lần nầy, lần này luật đời khắt khe, họ không cho chúng ta mang theo gì cả mà ra đi trần truồng cũng như khi chúng ta oe oe mấy tiếng vào đời. Có chăng là thân xác ấy đã già nua, có khi rệu rã không còn như mầm non mới nhú ngày nào.
Chúng ta phải bỏ tất cả, vợ con, gia đình, thân thuộc bạn bè để đi đến một nơi nào đó mà hoàn tòan chúng ta không biết, một mình cô đơn “tôi với trời bơ vơ”. Chúng ta chưa tưởng tượng ra ở nước Chúa có cái gì nơi đó, và ở xứ Phật Giáo có vui không hayThiên đàng Hồi Giáo có cả nghìn trinh nữ ra sao? Đó là nơi để dành cho những người hiền lành tử tế hay cho những kẻ tuẫn tiết, điên cuồng, còn những người phàm phu tục tử sẽ về nơi cái địa ngục, khổ đau đầy nhục hình như thế nào? Có sợ hãi, lo lắng không, khi chúng ta đi mà không chắc mình sẽ đến đâu, cũng không có nỗi một người bạn đồng hành để tâm sự hay một người nào đó có thể gặp để hỏi đường.
Trong một lúc chán đời nào đó, có lẽ tôi cũng muốn hăm hở muốn đi nhanh về cõi chết, nhưng vào những lúc thấy cuộc đời đáng yêu như thế này, bỏ nó mà ra đi, làm sao khỏi bịn rịn, luyến tiếc. Buổi sáng bầu trời xanh ngắt, mây trắng viền trên những dãy núi xa, vườn nhà ai đang nở những đóa hoa. Tôi nghe những tiếng cười trẻ thơ khi chúng chạy đùa trong công viên, tôi nghe được cả tiếng chim vừa cất tiếng hót. Đọc được một bài thơ hay tôi còn thấy lòng mình sảng khoái cũng như được thấy một cảnh tượng đẹp đẽ của trời đất. Bao nhiêu người thân, bao nhiêu khuôn mặt yêu thương trong suốt cuộc đời mà rồi đây tôi phải bỏ lại. Cả cái sinh hoạt thường ngày này đây rồi sẽ không còn tôi ở trong đó nữa, tôi đi xa hay tôi đã tan biến, rồi còn ai nhớ đến tôi không? Cũng có thể tôi sẽ không có một nấm mồ để người thân thăm viếng, tôi sẽ là cát bụi tan vào hư vô.
Người xưa Trung Quốc thì nói rằng sự chết như trở về đi trên con đường làng quen thuộc cũ, hình ảnh đó đẹp đẽ biết bao nhiêu. Nhà thơ Mỹ Walt Whitman thì nói:“Chẳng có gì đẹp đẽ bằng cái chết”, trong lúc đó ông Thomas Hobbes lại đặt câu hỏi : “Tại sao sợ chết? Đó là cuộc mạo hiểm đẹp đẽ nhất trong đời!” Xin can quý ông, tôi không biết trước khi chết các ông có cười không, vì thực sự tôi chưa thấy ai cười, dù là mỉm cười trước khi chết, mà chỉ thấy toàn đau đớn, rên siết.
Nếu con mèo báo tử đến nằm bên cạnh chúng ta hôm nay, và chúng ta cũng biết chắc chắn rằng chỉ còn vài giờ nữa chúng ta sẽ ra đi hay “trở về” (nếu sinh là ký mà tử là quy), chúng ta sẽ làm gì trong những giờ phút cuối cùng ấy? Những công việc chưa hoàn thành, những món tiền dành dụm chưa tiêu hết, những của cải không biết để lại cho ai. Chúng ta sẽ nói một lời xin lỗi với ai đó mà chúng ta vẫn canh cánh ân hận bên lòng bao năm qua, gởi lời cám ơn đến một người mà chúng ta chưa có cơ hội đền đáp. Xem ra cuộc đời cũng khá ngắn ngủi vì rõ ràng có bao nhiêu việc chưa làm xong.
Nhưng có khi không còn kịp nữa, chúng ta đã hôn mê rồi, đi vào một giấc ngủ không bao giờ thức giấc trở lại.
Huy Phương
HUY PHƯƠNG Tháng rồi báo chí đưa tin, tại một nhà dưỡng lão thuộc thành phố Providence, tiểu bang Rhode Island, có một con mèo tên Oscar, có khả năng báo tử, vì nó thường đến nằm cạnh những bệnh nhân sắp qua đời. Sự tiên đoán chính xác còn hơn cả những bác sĩ y khoa khiến mọi người cũng như vị bác sĩ trong viện dưỡng lão này phải ngạc nhiên, đã được thể hiện trong 25 trường hợp. Thường thì bệnh nhân chỉ sống thêm bốn năm tiếng đồng hồ sau khi con mèo báo tử đến nằm bên cạnh. Phần lớn gia đình người bệnh đều cám ơn còn mèo đã cho họ biết trước để lo hậu sự cho người thân, nhưng không biết có ai muốn đuổi con mèo báo tử này đi không. Phần đông các cụ trong khu dưỡng lão này đều mắc bệnh suy trí nhớ, còn chúng ta, nếu còn minh mẫn, sẽ nghĩ thế nào khi một ngày kia, có một con mèo như thế bỗng dưng ra chiều âu yếm đến nằm bên cạnh.
Con người phải chết, chúng ta là con người, chúng ta phải chết, nhưng không phải ai cũng dễ dàng khi nghĩ về cái chết và không sợ chết. Tôi thật ghét con mèo này. Cái gì đến nó sẽ đến, vì sao phải cần phải báo trước? Vì dù có được báo trước thì cũng chẳng có ai sửa soạn được gì đâu. Cuộc đời năm bảy mươi năm, đâu có dễ dàng sửa đổi, điều chỉnh hay làm lại từ đầu trong vòng vài tiếng đồng hồ ngắn ngủi.
Cứ nghĩ, rồi không phải một hôm nào đó, mà chỉ có năm bảy ngày hay bốn tiếng đồng hồ như các cụ trong nhà dưỡng lão, chúng ta phải sửa soạn hành lý để lên đường. Chừng ấy thời gian liệu có đủ cho chúng ta sắp xếp tất cả những của cải, danh vọng trong cả một đời người vào trong mấy chiếc va ly và nhét đầy trong các túi áo, xách tay như chuyến du lịch vừa rồi. Nghe nói lần nầy, lần này luật đời khắt khe, họ không cho chúng ta mang theo gì cả mà ra đi trần truồng cũng như khi chúng ta oe oe mấy tiếng vào đời. Có chăng là thân xác ấy đã già nua, có khi rệu rã không còn như mầm non mới nhú ngày nào.
Chúng ta phải bỏ tất cả, vợ con, gia đình, thân thuộc bạn bè để đi đến một nơi nào đó mà hoàn tòan chúng ta không biết, một mình cô đơn “tôi với trời bơ vơ”. Chúng ta chưa tưởng tượng ra ở nước Chúa có cái gì nơi đó, và ở xứ Phật Giáo có vui không hayThiên đàng Hồi Giáo có cả nghìn trinh nữ ra sao? Đó là nơi để dành cho những người hiền lành tử tế hay cho những kẻ tuẫn tiết, điên cuồng, còn những người phàm phu tục tử sẽ về nơi cái địa ngục, khổ đau đầy nhục hình như thế nào? Có sợ hãi, lo lắng không, khi chúng ta đi mà không chắc mình sẽ đến đâu, cũng không có nỗi một người bạn đồng hành để tâm sự hay một người nào đó có thể gặp để hỏi đường.
Trong một lúc chán đời nào đó, có lẽ tôi cũng muốn hăm hở muốn đi nhanh về cõi chết, nhưng vào những lúc thấy cuộc đời đáng yêu như thế này, bỏ nó mà ra đi, làm sao khỏi bịn rịn, luyến tiếc. Buổi sáng bầu trời xanh ngắt, mây trắng viền trên những dãy núi xa, vườn nhà ai đang nở những đóa hoa. Tôi nghe những tiếng cười trẻ thơ khi chúng chạy đùa trong công viên, tôi nghe được cả tiếng chim vừa cất tiếng hót. Đọc được một bài thơ hay tôi còn thấy lòng mình sảng khoái cũng như được thấy một cảnh tượng đẹp đẽ của trời đất. Bao nhiêu người thân, bao nhiêu khuôn mặt yêu thương trong suốt cuộc đời mà rồi đây tôi phải bỏ lại. Cả cái sinh hoạt thường ngày này đây rồi sẽ không còn tôi ở trong đó nữa, tôi đi xa hay tôi đã tan biến, rồi còn ai nhớ đến tôi không? Cũng có thể tôi sẽ không có một nấm mồ để người thân thăm viếng, tôi sẽ là cát bụi tan vào hư vô.
Người xưa Trung Quốc thì nói rằng sự chết như trở về đi trên con đường làng quen thuộc cũ, hình ảnh đó đẹp đẽ biết bao nhiêu. Nhà thơ Mỹ Walt Whitman thì nói:“Chẳng có gì đẹp đẽ bằng cái chết”, trong lúc đó ông Thomas Hobbes lại đặt câu hỏi : “Tại sao sợ chết? Đó là cuộc mạo hiểm đẹp đẽ nhất trong đời!” Xin can quý ông, tôi không biết trước khi chết các ông có cười không, vì thực sự tôi chưa thấy ai cười, dù là mỉm cười trước khi chết, mà chỉ thấy toàn đau đớn, rên siết.
Nếu con mèo báo tử đến nằm bên cạnh chúng ta hôm nay, và chúng ta cũng biết chắc chắn rằng chỉ còn vài giờ nữa chúng ta sẽ ra đi hay “trở về” (nếu sinh là ký mà tử là quy), chúng ta sẽ làm gì trong những giờ phút cuối cùng ấy? Những công việc chưa hoàn thành, những món tiền dành dụm chưa tiêu hết, những của cải không biết để lại cho ai. Chúng ta sẽ nói một lời xin lỗi với ai đó mà chúng ta vẫn canh cánh ân hận bên lòng bao năm qua, gởi lời cám ơn đến một người mà chúng ta chưa có cơ hội đền đáp. Xem ra cuộc đời cũng khá ngắn ngủi vì rõ ràng có bao nhiêu việc chưa làm xong.
Nhưng có khi không còn kịp nữa, chúng ta đã hôn mê rồi, đi vào một giấc ngủ không bao giờ thức giấc trở lại.
Huy Phương
Từ Thiện Từ Ác
Tuy không có những chứng cớ rỏ ràng nhưng tất cả mọi người trong chúng ta đều biết chắc rằng đứng đàng sau lưng đa số các hội đoàn/tổ chức gây quỹ từ thiện đều có bàn tay vấy máu của tụi vc. Hơn nữa những anh em bạn trẻ có lòng và nhiệt tâm trong các vần đề từ thiện thì lại QUÁ DẠI KHỜ và THIẾU SUY XÉT (they have a heart but not a brain!) khi đi xin tiền của người Việt hải ngoại để giúp cho các trẻ em nghèo ở VN được ĐI HỌC mà trong khí đó thì dân nghèo ở VN -
1. Đã và đang bị cướp nhà, cướp đất, cướp hết tài sản không nơi nương tựa, không chổ trú thân (a).
2. Lại còn bị đói khổ triền miên không có cơm ăn, áo mặc thì thử hỏi làm sao mà họ có thể nghĩ đế việc HỌC HÀNH khi bụng đang đói và không có một mái nhà để che mưa tránh nắng . Cho nên việc quyên tiền để giúp các trẻ em nghèo được ĐI HỌC là một điều NGU XUẪN và KHÔNG CHÍNH ĐÁNG (STUPID and UNJUSTIFIED).
Ngoài ra –
3. Sự giáo dục ở VN chỉ có tính cách nhồi sọ và bắt học sinh học tập theo gương "đạo đức của HCM" (b) như vậy thì có ich gì cho các trẻ em nghèo đó chăng ?!?!?! Hơn thế nữa việc giúp các trẻ em nghèo được đi học sẽ kéo dài được bao lâu, và sẽ giúp các em học đến đâu ?! Hay là chỉ vừa đủ để biết viết, biết đọc các sách báo, bài vở nhồi sọ, tuyên truyền một chiều của cs ?!?!?! Như vậy thì việc làm từ thiện này không nhằm mục đích giúp ích dân nghèo, khai sáng dân trí mà là một sự NGU DÂN nằm trong chính sách của cs nhằm phục vụ cho đảng và chế độ đương quyền . Vậy thì việc gây quỹ để giúp cho các trẻ em nghèo được đi học chẳng khác nào chúng ta (là những người Việt tỵ nạn CS) đang nuôi ong tay áo một cách ngu si, dại khờ !!!
4. Hàng triệu cán bộ giàu sụ - nhờ vào việc ăn cướp, bóc lột, tham nhũng - họ có biết bao nhiêu là đất đai, nhà lầu xe hơi, thừa tiền thừa bạc gởi vào các ngân hàng ngoại quốc hàng trăm triêu US dollars (c), cho con đi du học ở nước ngoài, đi ngoại quốc du hí như đi chợ, v.v... vậy thì tại sao các hội đoàn/tổ chức làm việc từ thiện lại không dám xin tiền cái đám TƯ BẢN ĐỎ (d) này mà lại cứ bám đít những người Việt tỵ nạn để bòn mót tiền bạc của họ . Trong khi đó thì có những người trong chúng ta phải thức khuya dậy sớm trong thời tiết giá buốt, vất vã đi cày 2, 3 jobs để kiếm tiền nuôi gia đình, trả bill, v.v...
5. Còn cái Bộ Xã Hội ở VN được tạo dựng ra để làm gì ?!?!?! Để ăn chơi phè phởn hay để ăn chận bóc lột của dân nghèo ?!?!?! Gần như tất cả vấn đề xã hội từ các tệ đoan cho đến các việc an sinh, cứu trợ cho dân đều do các cơ quan từ thiện ngoại quốc và Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn CS gánh vác, đảm nhiệm (e) . Một Cộng Đồng đã từng bị cs nguyền rủa là MA CÔ ĐĨ ĐIẾM mà nay lại phải bỏ công sức ra lo việc quét dọn những thứ rác rến bên lề của cái xã hội chủ nghiã "tự do hạnh phúc" . Trong khi đó thì các đầy tớ nhân dân lại hí hửng ăn chơi, ung dung với mâm cao cổ đầy bỏ mặc người dân thấp cổ bé miệng, đói khổ lầm than, bị áp bức đủ điều . Hơn thế nữa, hàng năm VN nhận được hàng trăm triệu US dollars tiền viện trợ nhân đạo từ các nước Tự Do để lo cho các vấn đề xã hội. Vậy cái số tiền to lớn ấy đã đi đâu ?!?!?!
6. Kiểm chứng những việc làm từ thiện của các hội đoàn/tổ chức này lại cho ta thấy rằng những hoạt động của họ chỉ có tính cách màu mè ngoài mặt nếu không muốn nói là bịp bợm . Trong chúng ta ai mà lại không xúc động trước những tấm hình chụp các trẻ em nghèo đói, lem luốt, tật nguyền đang lê lết trong các ngõ ngách cuộc đời không có tương lai ? Nhưng bây giờ thử nghĩ lại thì trên khắp các nẻo đường của đất nước VN từ các hang cùng ngõ hẻm cho đến những vĩa hè của các phố thị đông đúc chổ nào mà lại chẳng có các trẻ em nghèo đói . Muốn chụp bao nhiêu hình mà chẳng có . Đó là chưa nói đến những tấm hình chụp các em đang ở trong một lớp học mà họ cho là đã được xây dựng do tiền đóng góp của chúng ta, nhưng khi tìm tòi, dò hỏi thì lại lòi ra là các lớp học đó đã có từ lâu đời, hoặc họ chỉ mượn tạm một ngôi nhà nào đó để chụp hình đưa ra nước ngoài để làm mồi nhử, đánh động lương tâm của "khúc ruột ngàn dâm" . Chứ thật ra ở những nơi đó dân chúng nghèo khổ không đủ ăn đủ mặc thì có mấy ai còn có thể nghĩ đến chuyện học hành, vả lại lấy ai mà dạy học khi không có một ai là thầy giáo hoặc cô giáo (?!) . Còn tệ hơn nữa là có những tấm hình được chụp ở các địa phương (tỉnh, huyện, làng, xã, ấp, ...) - mà các hội đoàn/tổ chức từ thiện này cho là họ đã đến tận nơi làm công tác từ thiện - đều hoàn toàn không có thật, hoặc có nhưng dân chúng ở tại các địa phương đó đã cho biết là họ chưa bao giờ thấy các hội đoàn/tổ chức từ thiện nào đến thăm chứ đừng nói chi đến việc cứu đói hay xây trường giúp các trẻ em nghèo đi học . (In other words, those named locations, either they do not exist at all, or if they do then their charity activities are likely just "IMAGINE" (f).) Vậy những số tiền đóng góp của chúng ta cho các hội đoàn/tổ chức từ thiện này đã đi đâu và vào tay ai ?!?!?!
7. Một điểm nữa cần phải nói đến là ở ngay tại VN có những tổ chức từ thiện đã bị bắt bớ cầm tù (g) mặc dầu họ chỉ tìm cách - trong cái khả năng hạn hẹp "lá rách đùm lá nát" của họ - để cứu giúp cho dân nghèo đang gặp cảnh màn trời chiếu đất, đói khổ lầm than vì bị thiên tai hoặc nhân tai (tai họa do người cs gây ra) . Trong khi đó thì các hội đoàn/tổ chức từ thiện này (ở nước ngoài) lại được tự do hoạt đông, vào ra VN gần như không cần visa. Vậy họ là ai, là tay chân của ai ?!?!?!
Như vậy những người làm việc từ thiện này không "quá dại khờ" như đã nêu trên khi tổ chức các vụ gây quỹ TỪ THIỆN mà thực ra họ đã và đang làm những việc TỪ ÁC có tính toán và chỉ đạo của đảng và nhà nước. Cuối cùng, chính chúng ta - những người làm việc quần quật ngày đêm đầu tắt mặt tối để mưu sinh và cũng là những người đã đấu tranh không ngừng nghĩ đòi Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền cho hơn 80 triệu dân Việt - lại là những người QUÁ DẠI KHỜ! Cũng chỉ vì chúng ta là những con người có lương tâm, có tấm lòng trắc ẩn vị tha đã đóng góp tiền bạc để nuôi béo bọn cs bằng các nghĩa cử từ thiện không đúng chổ, thiếu suy nghĩ và phán xét nông cạn! Như vậy kể từ đây chúng ta nên tích cực làm việc TỪ ... THIỆN - tức là TỪ chối tham gia, hộ trợ những hoạt động từ THIỆN mà xét rằng không có một mục đích thiết thực, chính đáng, và không có những việc làm rỏ ràng, minh bạch .
Charity – you're so nice!
But please open your eyes
If you're blind
Then open your mind
If you'd like to be kind
Or you're villains otherwise!
N Nguyen
Chú thích:
(a) Dân oan (Dưới đây chỉ là một vài bài viết tiêu biểu - trong hàng ngàn bài viết - về các hành động ăn cướp của Mafia CSVN)
http://www.vietnamexodus.org/vne/module ... e&sid=2356
http://www.vietnamexodus.org/vne/module ... e&sid=2307
http://www.vietnamexodus.org/vne/module ... e&sid=2301
http://www.vietnamexodus.org/vne/module ... e&sid=2273
http://www.vietnamexodus.org/vne/module ... e&sid=2266
http://www.vietvungvinh.com/Portal.asp? ... 904_08.htm
http://www.vietvungvinh.com/Portal.asp? ... 904_02.htm
http://www.vietvungvinh.com/Portal.asp? ... 801_03.htm
(b) Giáo án về đạo đức HCM (Nếu website www.take2tango.com bị vc phá thì xin vui lòng đọc bài đính kèm)
http://www.take2tango.com/News.aspx?NewsID=4258
http://www.vietvungvinh.com/Portal.asp? ... 910_05.htm
(c) Tham nhũng
http://www.vietvungvinh.com/Portal.asp? ... 910_03.htm
http://www.luongtamconggiao.com/pages/t ... ubcateID=9
(d) Tư bản đỏ
(please see attached)
(e) Việc làm thiện nguyện ở Việt Nam
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/an ... 65724&z=36
(f) Imagine
(g) Từ Thiện tại VN
http://www.vietnamexodus.org/vne/module ... e&sid=2363
http://www.vietnamexodus.org/vne/module ... e&sid=2404
1. Đã và đang bị cướp nhà, cướp đất, cướp hết tài sản không nơi nương tựa, không chổ trú thân (a).
2. Lại còn bị đói khổ triền miên không có cơm ăn, áo mặc thì thử hỏi làm sao mà họ có thể nghĩ đế việc HỌC HÀNH khi bụng đang đói và không có một mái nhà để che mưa tránh nắng . Cho nên việc quyên tiền để giúp các trẻ em nghèo được ĐI HỌC là một điều NGU XUẪN và KHÔNG CHÍNH ĐÁNG (STUPID and UNJUSTIFIED).
Ngoài ra –
3. Sự giáo dục ở VN chỉ có tính cách nhồi sọ và bắt học sinh học tập theo gương "đạo đức của HCM" (b) như vậy thì có ich gì cho các trẻ em nghèo đó chăng ?!?!?! Hơn thế nữa việc giúp các trẻ em nghèo được đi học sẽ kéo dài được bao lâu, và sẽ giúp các em học đến đâu ?! Hay là chỉ vừa đủ để biết viết, biết đọc các sách báo, bài vở nhồi sọ, tuyên truyền một chiều của cs ?!?!?! Như vậy thì việc làm từ thiện này không nhằm mục đích giúp ích dân nghèo, khai sáng dân trí mà là một sự NGU DÂN nằm trong chính sách của cs nhằm phục vụ cho đảng và chế độ đương quyền . Vậy thì việc gây quỹ để giúp cho các trẻ em nghèo được đi học chẳng khác nào chúng ta (là những người Việt tỵ nạn CS) đang nuôi ong tay áo một cách ngu si, dại khờ !!!
4. Hàng triệu cán bộ giàu sụ - nhờ vào việc ăn cướp, bóc lột, tham nhũng - họ có biết bao nhiêu là đất đai, nhà lầu xe hơi, thừa tiền thừa bạc gởi vào các ngân hàng ngoại quốc hàng trăm triêu US dollars (c), cho con đi du học ở nước ngoài, đi ngoại quốc du hí như đi chợ, v.v... vậy thì tại sao các hội đoàn/tổ chức làm việc từ thiện lại không dám xin tiền cái đám TƯ BẢN ĐỎ (d) này mà lại cứ bám đít những người Việt tỵ nạn để bòn mót tiền bạc của họ . Trong khi đó thì có những người trong chúng ta phải thức khuya dậy sớm trong thời tiết giá buốt, vất vã đi cày 2, 3 jobs để kiếm tiền nuôi gia đình, trả bill, v.v...
5. Còn cái Bộ Xã Hội ở VN được tạo dựng ra để làm gì ?!?!?! Để ăn chơi phè phởn hay để ăn chận bóc lột của dân nghèo ?!?!?! Gần như tất cả vấn đề xã hội từ các tệ đoan cho đến các việc an sinh, cứu trợ cho dân đều do các cơ quan từ thiện ngoại quốc và Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn CS gánh vác, đảm nhiệm (e) . Một Cộng Đồng đã từng bị cs nguyền rủa là MA CÔ ĐĨ ĐIẾM mà nay lại phải bỏ công sức ra lo việc quét dọn những thứ rác rến bên lề của cái xã hội chủ nghiã "tự do hạnh phúc" . Trong khi đó thì các đầy tớ nhân dân lại hí hửng ăn chơi, ung dung với mâm cao cổ đầy bỏ mặc người dân thấp cổ bé miệng, đói khổ lầm than, bị áp bức đủ điều . Hơn thế nữa, hàng năm VN nhận được hàng trăm triệu US dollars tiền viện trợ nhân đạo từ các nước Tự Do để lo cho các vấn đề xã hội. Vậy cái số tiền to lớn ấy đã đi đâu ?!?!?!
6. Kiểm chứng những việc làm từ thiện của các hội đoàn/tổ chức này lại cho ta thấy rằng những hoạt động của họ chỉ có tính cách màu mè ngoài mặt nếu không muốn nói là bịp bợm . Trong chúng ta ai mà lại không xúc động trước những tấm hình chụp các trẻ em nghèo đói, lem luốt, tật nguyền đang lê lết trong các ngõ ngách cuộc đời không có tương lai ? Nhưng bây giờ thử nghĩ lại thì trên khắp các nẻo đường của đất nước VN từ các hang cùng ngõ hẻm cho đến những vĩa hè của các phố thị đông đúc chổ nào mà lại chẳng có các trẻ em nghèo đói . Muốn chụp bao nhiêu hình mà chẳng có . Đó là chưa nói đến những tấm hình chụp các em đang ở trong một lớp học mà họ cho là đã được xây dựng do tiền đóng góp của chúng ta, nhưng khi tìm tòi, dò hỏi thì lại lòi ra là các lớp học đó đã có từ lâu đời, hoặc họ chỉ mượn tạm một ngôi nhà nào đó để chụp hình đưa ra nước ngoài để làm mồi nhử, đánh động lương tâm của "khúc ruột ngàn dâm" . Chứ thật ra ở những nơi đó dân chúng nghèo khổ không đủ ăn đủ mặc thì có mấy ai còn có thể nghĩ đến chuyện học hành, vả lại lấy ai mà dạy học khi không có một ai là thầy giáo hoặc cô giáo (?!) . Còn tệ hơn nữa là có những tấm hình được chụp ở các địa phương (tỉnh, huyện, làng, xã, ấp, ...) - mà các hội đoàn/tổ chức từ thiện này cho là họ đã đến tận nơi làm công tác từ thiện - đều hoàn toàn không có thật, hoặc có nhưng dân chúng ở tại các địa phương đó đã cho biết là họ chưa bao giờ thấy các hội đoàn/tổ chức từ thiện nào đến thăm chứ đừng nói chi đến việc cứu đói hay xây trường giúp các trẻ em nghèo đi học . (In other words, those named locations, either they do not exist at all, or if they do then their charity activities are likely just "IMAGINE" (f).) Vậy những số tiền đóng góp của chúng ta cho các hội đoàn/tổ chức từ thiện này đã đi đâu và vào tay ai ?!?!?!
7. Một điểm nữa cần phải nói đến là ở ngay tại VN có những tổ chức từ thiện đã bị bắt bớ cầm tù (g) mặc dầu họ chỉ tìm cách - trong cái khả năng hạn hẹp "lá rách đùm lá nát" của họ - để cứu giúp cho dân nghèo đang gặp cảnh màn trời chiếu đất, đói khổ lầm than vì bị thiên tai hoặc nhân tai (tai họa do người cs gây ra) . Trong khi đó thì các hội đoàn/tổ chức từ thiện này (ở nước ngoài) lại được tự do hoạt đông, vào ra VN gần như không cần visa. Vậy họ là ai, là tay chân của ai ?!?!?!
Như vậy những người làm việc từ thiện này không "quá dại khờ" như đã nêu trên khi tổ chức các vụ gây quỹ TỪ THIỆN mà thực ra họ đã và đang làm những việc TỪ ÁC có tính toán và chỉ đạo của đảng và nhà nước. Cuối cùng, chính chúng ta - những người làm việc quần quật ngày đêm đầu tắt mặt tối để mưu sinh và cũng là những người đã đấu tranh không ngừng nghĩ đòi Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền cho hơn 80 triệu dân Việt - lại là những người QUÁ DẠI KHỜ! Cũng chỉ vì chúng ta là những con người có lương tâm, có tấm lòng trắc ẩn vị tha đã đóng góp tiền bạc để nuôi béo bọn cs bằng các nghĩa cử từ thiện không đúng chổ, thiếu suy nghĩ và phán xét nông cạn! Như vậy kể từ đây chúng ta nên tích cực làm việc TỪ ... THIỆN - tức là TỪ chối tham gia, hộ trợ những hoạt động từ THIỆN mà xét rằng không có một mục đích thiết thực, chính đáng, và không có những việc làm rỏ ràng, minh bạch .
Charity – you're so nice!
But please open your eyes
If you're blind
Then open your mind
If you'd like to be kind
Or you're villains otherwise!
N Nguyen
Chú thích:
(a) Dân oan (Dưới đây chỉ là một vài bài viết tiêu biểu - trong hàng ngàn bài viết - về các hành động ăn cướp của Mafia CSVN)
http://www.vietnamexodus.org/vne/module ... e&sid=2356
http://www.vietnamexodus.org/vne/module ... e&sid=2307
http://www.vietnamexodus.org/vne/module ... e&sid=2301
http://www.vietnamexodus.org/vne/module ... e&sid=2273
http://www.vietnamexodus.org/vne/module ... e&sid=2266
http://www.vietvungvinh.com/Portal.asp? ... 904_08.htm
http://www.vietvungvinh.com/Portal.asp? ... 904_02.htm
http://www.vietvungvinh.com/Portal.asp? ... 801_03.htm
(b) Giáo án về đạo đức HCM (Nếu website www.take2tango.com bị vc phá thì xin vui lòng đọc bài đính kèm)
http://www.take2tango.com/News.aspx?NewsID=4258
http://www.vietvungvinh.com/Portal.asp? ... 910_05.htm
(c) Tham nhũng
http://www.vietvungvinh.com/Portal.asp? ... 910_03.htm
http://www.luongtamconggiao.com/pages/t ... ubcateID=9
(d) Tư bản đỏ
(please see attached)
(e) Việc làm thiện nguyện ở Việt Nam
http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/an ... 65724&z=36
(f) Imagine
(g) Từ Thiện tại VN
http://www.vietnamexodus.org/vne/module ... e&sid=2363
http://www.vietnamexodus.org/vne/module ... e&sid=2404
Viết Từ Hang Đá
Nhỏ Lệ Cùng Dân
Ra Mắt Sách Trần Khải Thanh Thủy Buổi giới thiệu sách của Trần Khải Thanh Thủy được tổ chức vào lúc 1:30 giờ trưa, ngày Thứ Bẩy 15 tháng 9 năm 2007, tại Nhật Báo Người Việt, đường Moran, thành phố Westminster. Số khách tham dự chật ních hội trường, khiến nhiều người phải ra về vì thiếu chỗ.

Trần Khải Thanh Thủy.
Quyển sách được ra mắt mang tên "Viết Từ Hang Đá nhỏ lệ cùng dân", do nhà xuất bản Cội Nguồn tại San Jose của quý anh văn thi sĩ Song Nhị và Diên Nghị chủ trương. Theo nhà xuất bản Cội Nguồn cho biết thì tác phẩm này gói ghém một quãng đời thanh xuân, đánh đổi bằng nước mắt, nỗi tủi nhục, và tù đày của một nữ anh thư trí thức của thời đại Việt Nam. Tại sao lại "Viết Từ Hang Đá nhỏ lệ cùng dân"? Vì đây là một tác phẩm có nội dung thật hào hứng xen lẫn những chuyện thương tâm đau buồn. Có đọc sách rồi thì ta sẽ mê say văn của Trần Khải Thanh Thủy, đọc để thương cảm cho đồng bào ta ở quê nhà. Những dòng chữ của tác giả mang chúng ta đi từ những phẫn nộ bọn cường quyền hay khiến ta bất bình nhỏ lệ cùng dân, xót thương đồng bào ruột thịt, máu mủ của chúng ta đang bị đầy đọa, cũng chính dòng chữ đó của Trần Khải Thanh Thủy lại làm chúng ta bật cười lý thú bất ngờ. Và những nụ cười đó ý nhị sảng khoái đó là những khinh khi bọn cầm quyền ác độc, đượm nét ngu xuẫn, lố bịch và vô nhân tính.
Tác phẩm này cũng là một tuyển tập gồm các bài tiểu luận, phê bình, phóng sự, sáng tác, truyện ngắn và thơ. Có thể nói sách gồm 3 loại chủ đề là: phần trình bày thơ văn của Trần Khải Thanh Thủy, phần tố cáo tội ác của đảng Cộng sản Việt Nam và phần quan trọng không kém là lật tẩy Hồ Chí Minh. Tựa sách bao trùm ngôi nhà mà gia đình tác giả sinh sống, nó chinh là cái "Hang Đá”, tác giả cho biết bà thích gọi căn nhà của gia đình bà là “hang đá”. Lý do là vì căn nhà chỉ trơ trọi, chẳng còn bao nhiêu đồ vật trong nhà, vì cứ phải bán dần đi để lấy tiền mua gạo. Hang đá cũng có nghĩa là căn nhà bà ở tuy là giữa thủ đô Hà Nội, nhưng cũng như ở rừng vì chẳng ai héo lánh lui tới, người nào cũng sợ mang tai họa với đám công an cú vọ theo dõi, rình rập, để cô lập bà. Đọc 400 trang sách ta thấy nét khí phách, hiên ngang của nhà văn Trần Khải Thanh Thủy, bà đã kể tội ác của đảng cộng sản lên từng trang của những truyện bà viết bằng nước mắt quê hương, qua ngòi bút của bà, Hồ Chí Minh đã bộc lộ chân tướng là một kẻ đạo đức giả, một kẻ sống vì tham vọng cá nhân mà sẵn lòng hy sinh cả quyền lợi của đất nước cũng như sinh mạng của giống nòi.
Thái độ bất khuất của Trần Khải Thanh Thủy là biết mình lấy trứng chọi đá, tương lai là vòng lao lý, từ tội vây quanh, nhưng bà đã can đảm chấp nhận. Người tù lương tâm này vốn nhỏ bé, cân nặng có 45 ký, và đang bị ho lao nặng, bà có thể sẽ chết vì áp bức bởi sự trả thù trong lao tù Cộng Sản. Và bà đã viết di chúc cho mình qua câu thơ oan khiên:
"Nếu tôi chết xin ghi lên huyệt mộ
Rằng đây là người yêu nước thương dân."
Điều phấn khởi cho tôi khi đọc và biết rằng người nữ nhi này ra đời, sinh trưởng trong cái nôi giáo điều Cộng Sản, nhưng tâm tư bà hướng về ngọn cờ vàng cúa chúng ta, bà viết: “Tôi quyết làm một hòn than ngậm lửa để tỏa sáng cho mình, cho đời, vực một phần sự sống và tương lai dân tộc lên trên trang giấy mong manh, treo những vần thơ vẫy gọi – như những lá cờ vàng – trên đầu ngòi bút để lớp trẻ hướng đến, tìm về, bước theo, xốc tới”.
Buổi ra mắt sách được thành công phần lớn do nhà văn nữ Bích Huyền chuẩn bị từ hai tháng qua. Chị là nhân tố chính nối kết hay huy động nhiều bằng hữu văn nghệ sĩ từ Đỗ Tiến Đức, Bùi Bích Hà, Chu Tất Tiến, Trần Dật, Huy Phương, Việt Dzũng, Xuân Điềm, Ngọc Bích, Huệ Thu, Hồng Vũ Lan Nhi, Trần Quốc Bảo, Thái Tú Hạp, Ái Cầm, Trương Minh Cương, Xuân Mai, Đinh Sinh Long, Nguyễn Đức Cường, Uyển Diễm , Thúy An, Minh Châu, Ngọc Diệp,Tường Vân, Lê Khắc Tánh, Vương Đức Hậu,... Mỗi người dóng góp một hay hai vai trò cho ngày trình bày sách của nhà văn Trần Khải Thanh Thủy.
Chương trình văn nghệ Sài Gòn Trong Trí Nhớ Của Chúng Ta, nét độc đáo trong thi văn nhạc của Bích Huyền soạn thảo mà thính giả các làn sóng phát thanh đã quen thuộc, và chính đó đã góp phần làm sống lại một Việt Nam tự do lưu luyến từ tâm khảm mỗi người, có ngọn cờ vàng thiêng liêng biểu tượng cho nhân bản và hạnh phúc như trong dòng văn của nhà phản kháng Trần Khải Thanh Thủy nhắn gửi chúng ta để như lời kết luận trong bài nói chuyện của nhà văn Đỗ Tiến Đức:
"Vâng, Trần Khải Thanh Thủy ngay từ lúc này đã được đồng bào ghi nhận bà là người yêu nước thương dân. Và tên tuổi của bà sẽ không chết mà sẽ sống mãi mãi với tác phẩm này. Tôi hy vọng trong thời gian ngắn nữa, cộng đồng hải ngoại sẽ có tin vui, sẽ chung tiền mua vé máy bay gửi về Việt Nam, mời nhà văn Trần Khải Thanh Thủy sang Mỹ dự buổi ra mắt tác phẩm thứ hai của bà, tên là Viết Từ Hà Nội, hát cười cùng dân."
Việt Hải Los Angeles
* Liên lạc mua sách qua:
Nhà xuất bản Cội Nguồn
Điện thoại: (408) 272-6889
Nhỏ Lệ Cùng Dân
Ra Mắt Sách Trần Khải Thanh Thủy Buổi giới thiệu sách của Trần Khải Thanh Thủy được tổ chức vào lúc 1:30 giờ trưa, ngày Thứ Bẩy 15 tháng 9 năm 2007, tại Nhật Báo Người Việt, đường Moran, thành phố Westminster. Số khách tham dự chật ních hội trường, khiến nhiều người phải ra về vì thiếu chỗ.

Trần Khải Thanh Thủy.
Quyển sách được ra mắt mang tên "Viết Từ Hang Đá nhỏ lệ cùng dân", do nhà xuất bản Cội Nguồn tại San Jose của quý anh văn thi sĩ Song Nhị và Diên Nghị chủ trương. Theo nhà xuất bản Cội Nguồn cho biết thì tác phẩm này gói ghém một quãng đời thanh xuân, đánh đổi bằng nước mắt, nỗi tủi nhục, và tù đày của một nữ anh thư trí thức của thời đại Việt Nam. Tại sao lại "Viết Từ Hang Đá nhỏ lệ cùng dân"? Vì đây là một tác phẩm có nội dung thật hào hứng xen lẫn những chuyện thương tâm đau buồn. Có đọc sách rồi thì ta sẽ mê say văn của Trần Khải Thanh Thủy, đọc để thương cảm cho đồng bào ta ở quê nhà. Những dòng chữ của tác giả mang chúng ta đi từ những phẫn nộ bọn cường quyền hay khiến ta bất bình nhỏ lệ cùng dân, xót thương đồng bào ruột thịt, máu mủ của chúng ta đang bị đầy đọa, cũng chính dòng chữ đó của Trần Khải Thanh Thủy lại làm chúng ta bật cười lý thú bất ngờ. Và những nụ cười đó ý nhị sảng khoái đó là những khinh khi bọn cầm quyền ác độc, đượm nét ngu xuẫn, lố bịch và vô nhân tính.
Tác phẩm này cũng là một tuyển tập gồm các bài tiểu luận, phê bình, phóng sự, sáng tác, truyện ngắn và thơ. Có thể nói sách gồm 3 loại chủ đề là: phần trình bày thơ văn của Trần Khải Thanh Thủy, phần tố cáo tội ác của đảng Cộng sản Việt Nam và phần quan trọng không kém là lật tẩy Hồ Chí Minh. Tựa sách bao trùm ngôi nhà mà gia đình tác giả sinh sống, nó chinh là cái "Hang Đá”, tác giả cho biết bà thích gọi căn nhà của gia đình bà là “hang đá”. Lý do là vì căn nhà chỉ trơ trọi, chẳng còn bao nhiêu đồ vật trong nhà, vì cứ phải bán dần đi để lấy tiền mua gạo. Hang đá cũng có nghĩa là căn nhà bà ở tuy là giữa thủ đô Hà Nội, nhưng cũng như ở rừng vì chẳng ai héo lánh lui tới, người nào cũng sợ mang tai họa với đám công an cú vọ theo dõi, rình rập, để cô lập bà. Đọc 400 trang sách ta thấy nét khí phách, hiên ngang của nhà văn Trần Khải Thanh Thủy, bà đã kể tội ác của đảng cộng sản lên từng trang của những truyện bà viết bằng nước mắt quê hương, qua ngòi bút của bà, Hồ Chí Minh đã bộc lộ chân tướng là một kẻ đạo đức giả, một kẻ sống vì tham vọng cá nhân mà sẵn lòng hy sinh cả quyền lợi của đất nước cũng như sinh mạng của giống nòi.
Thái độ bất khuất của Trần Khải Thanh Thủy là biết mình lấy trứng chọi đá, tương lai là vòng lao lý, từ tội vây quanh, nhưng bà đã can đảm chấp nhận. Người tù lương tâm này vốn nhỏ bé, cân nặng có 45 ký, và đang bị ho lao nặng, bà có thể sẽ chết vì áp bức bởi sự trả thù trong lao tù Cộng Sản. Và bà đã viết di chúc cho mình qua câu thơ oan khiên:
"Nếu tôi chết xin ghi lên huyệt mộ
Rằng đây là người yêu nước thương dân."
Điều phấn khởi cho tôi khi đọc và biết rằng người nữ nhi này ra đời, sinh trưởng trong cái nôi giáo điều Cộng Sản, nhưng tâm tư bà hướng về ngọn cờ vàng cúa chúng ta, bà viết: “Tôi quyết làm một hòn than ngậm lửa để tỏa sáng cho mình, cho đời, vực một phần sự sống và tương lai dân tộc lên trên trang giấy mong manh, treo những vần thơ vẫy gọi – như những lá cờ vàng – trên đầu ngòi bút để lớp trẻ hướng đến, tìm về, bước theo, xốc tới”.
Buổi ra mắt sách được thành công phần lớn do nhà văn nữ Bích Huyền chuẩn bị từ hai tháng qua. Chị là nhân tố chính nối kết hay huy động nhiều bằng hữu văn nghệ sĩ từ Đỗ Tiến Đức, Bùi Bích Hà, Chu Tất Tiến, Trần Dật, Huy Phương, Việt Dzũng, Xuân Điềm, Ngọc Bích, Huệ Thu, Hồng Vũ Lan Nhi, Trần Quốc Bảo, Thái Tú Hạp, Ái Cầm, Trương Minh Cương, Xuân Mai, Đinh Sinh Long, Nguyễn Đức Cường, Uyển Diễm , Thúy An, Minh Châu, Ngọc Diệp,Tường Vân, Lê Khắc Tánh, Vương Đức Hậu,... Mỗi người dóng góp một hay hai vai trò cho ngày trình bày sách của nhà văn Trần Khải Thanh Thủy.
Chương trình văn nghệ Sài Gòn Trong Trí Nhớ Của Chúng Ta, nét độc đáo trong thi văn nhạc của Bích Huyền soạn thảo mà thính giả các làn sóng phát thanh đã quen thuộc, và chính đó đã góp phần làm sống lại một Việt Nam tự do lưu luyến từ tâm khảm mỗi người, có ngọn cờ vàng thiêng liêng biểu tượng cho nhân bản và hạnh phúc như trong dòng văn của nhà phản kháng Trần Khải Thanh Thủy nhắn gửi chúng ta để như lời kết luận trong bài nói chuyện của nhà văn Đỗ Tiến Đức:
"Vâng, Trần Khải Thanh Thủy ngay từ lúc này đã được đồng bào ghi nhận bà là người yêu nước thương dân. Và tên tuổi của bà sẽ không chết mà sẽ sống mãi mãi với tác phẩm này. Tôi hy vọng trong thời gian ngắn nữa, cộng đồng hải ngoại sẽ có tin vui, sẽ chung tiền mua vé máy bay gửi về Việt Nam, mời nhà văn Trần Khải Thanh Thủy sang Mỹ dự buổi ra mắt tác phẩm thứ hai của bà, tên là Viết Từ Hà Nội, hát cười cùng dân."
Việt Hải Los Angeles
* Liên lạc mua sách qua:
Nhà xuất bản Cội Nguồn
Điện thoại: (408) 272-6889

Cung Tích Biền, giữa hai lằn đạn
Vương Trùng Dương Nhân dịp Hội ngộ Liên Trường Quảng Nam - Ðà Nẵng vào đầu tháng 9 năm 2007 vừa qua tại Little Saigon, gặp lại bạn bè, nói chuyện thơ văn quê nhà, có đề cập đến nhà văn Cung Tích Biền. Cuộc phỏng vấn của Lý Ðợi được phổ biến trên trang web Talawas vào tháng 2 năm 2007, những điều Cung Tích Biền bộc bạch nói lên những điều uất khuất và rõ ràng, giải tỏa được phần nào những điều ngộ nhận trước kia và có sự cảm thông hoàn cảnh trớ trêu của anh. Tôi nói, trong giai đoạn đổi cả chế độ, đổi đời, hỗn mang... nhiều người cùng cảnh ngộ nghiệt ngã và cũng có trường hợp như nhà văn “cùng tất biến” nhưng cần nhận chân đâu là sự thật. Trong giới văn nghệ và báo chí, có bạn có thù, kẻ ưa người ghét, những gì nghe qua trong bàn trà, cuộc rượu, có vẻ mù mờ “tam sao thất bổn” không thể vin vào để viết, phê phán. Ðôi khi có những lời bàn tán mà người trong cuộc không biết gì cả, khi biết được thì chưng hửng và không biết phát xuất từ đâu! Dư luận cũng là con dao hai lưỡi và xác tín phải trải qua thời gian.
Cách đây vài năm, tôi đọc bài viết trên nhật báo Người Việt ở Little Saigon về nhóm Mở Miệng, gồm các người bạn trẻ Lý Ðợi, Khúc Duy, Nguyễn Quán, Bùi Chát. Lý Ðợi thực hiện tập thơ Bảy Biến Tấu Con Nhện, được thực hiện theo kiểu phong thư, bì thư là bìa, ruột thư là những bài thơ, chỉ photocopy với số lượng 100 bản nhưng bị tịch thu và thiêu hủy vào đầu năm 2004. Ở trong nước, mọi việc in ấn để phổ biến đều bị kiểm duyệt, không có phương tiện truyền thông trong tay, các bạn trẻ có vẻ lập dị để gây sự chú ý nhưng cũng nói lên cái gì đó sự đột phá của giới trẻ. Trong ngành truyền thông hiện nay, có thêm hệ thống internet tạo được cơ hội thuận tiện cho bất cứ cá nhân ở xã hội nào bị trói buộc, bày tỏ ý nghĩ, ngòi bút của mình. Sau đó, đọc vài bài viết của Lý Ðợi trên trang web Talawas và Da Màu, có thêm cây bút trẻ người cùng xứ nên để ý. Bài viết Ngày Xưa Vũ Hạnh của Lý Ðợi, tuy ngắn nhưng nói lên thái độ bất bình của giới trẻ với Vũ Hạnh “vu cho cái tội đồi trụy, phản động, và nên cho vào tù” khi bốn tác phẩm của Dương Nghiễm Mậu được Công ty Phương Nam ấn hành trong nước. Dương Nghiễm Mậu bị Vũ Hạnh và Mai Quốc Liên của tờ Văn Nghệ đem ra đấu trường tố cáo.
Về trường hợp nhà văn Vũ Hạnh, tôi đã đề cập qua bài viết Vũ Hạnh, Kẻ Hoạt Ðầu Văn Hóa, đăng tải trên tờ Saigon Times ở Los Angeles, số ra ngày 27 tháng 12 năm 1991 và các tờ báo ở hải ngoại. Mong người bạn trẻ Lý Ðợi đọc hết những bài viết của nhà văn “chụp mũ” Vũ Hạnh sau nầy để viết tiếp. Xin trích vài dòng trong bài viết của tôi về Vũ Hạnh: “...có một lần, vào năm 1988, bài thơ của Trần Vàng Sao đăng trên tạp chí Sông Hương đã dùng từ “chí sĩ”. Vũ Hạnh viết bài đả kích, chụp mũ nhà thơ trên báo Tuổi Trẻ và Công An, từ “chí sĩ” ám chỉ Ngô Ðình Diệm. Tác giả và BBT Sông Hương bị kiểm điểm, đính chính! Lẽ nào ông không đọc Hoàng Lê Nhất Thống Chí và hình ảnh Ngô Thời Nhậm (Ngô Thời Sĩ)?”. (Việt Nam Tự Ðiển của Hội Khai Trí Tiến Ðức, Hà Nội 1931, định nghĩa chí sĩ là người có tiết tháo và trích dẫn hai câu trong phú chiến Tây hồ: Gánh quân thân ai đã mỏi vai rồi. Kẻ chí sĩ làm thinh đi chẳng dứt).
Với nhà văn Cung Tích Biền, qua bao năm im lặng, không hiểu vì lý do nào lại trả lời khá dài và đầy đủ chi tiết cuộc phỏng vấn với người bạn trẻ mới bước chân trong làng văn, nghề báo, không đại diện cho cơ quan truyền thông nào. Tôi đoán, với một người giàu kinh nghiệm và hiểu biết, có lẽ Cung Tích Biền phát hiện với “người phỏng vấn” có điểm gì đó mới “mở miệng”.
Qua cuộc phỏng vấn, cuộc đời Cung Tích Biền, nhà văn nổi tiếng ở thập niên 60, 70 ở miền Nam VN, với nhiều chi tiết mà trước đây có vài bài viết về tác giả chưa đề cập đến. Bài phỏng vấn chỉ được phổ biến trên trang web Talawas. Và, đây là cuộc phỏng vấn lâu nhất vì theo Lý Ðợi “...lần đầu tiên tôi đề nghị thực hiện phỏng vấn trực tiếp nhà văn Cung Tích Biền là ngày 28-11-2003, nhưng do một vài lý do khách và chủ quan, lần đó bất thành. Lần thứ hai, tôi đề nghị và được ông đồng ý để thực hiện trực tiếp là ngày 28-10-2006 và bài phỏng vấn này sơ kết câu hỏi cuối cùng vào ngày 22-01-2007, hoàn tất ngày 28-01-2007.
Tuy không gần gũi với nhà văn Cung Tích Biền qua năm tháng nhưng đồng hương với nhau, khi đọc bài phỏng vấn của Lý Ðợi, tôi cũng có ý định tìm hiểu thêm qua vài nhân chứng để viết vì nhân cách nhà văn sống còn với tác phẩm. Gần tuổi thất thập, nhìn lại bản thân, Cung Tích Biền tự khiển trách mình khi đối diện với thực tế và bẽ bàng trước chế độ mà thời trai trẻ tường rằng hay ho mà tâm sự được gởi gấm qua vài bài thơ của anh khi còn sinh viên ở Huế. Nói như O Wilde “Khi ta tự khiển trách thì dường như không còn ai khác có quyền khiển trách”, vì vậy, tôi ghi lại những gì biết được còn sự thật, trắng đen... minh định với thời gian. Bài viết không có tính cách nhận định về tác giả và tác phẩm (sẽ đề cập sau) mà thu tóm những điều nhà văn Cung Tích Biền “mở miệng” phối hợp với ý kiến các thân hữu thân quen với anh và tôi.
*
Cách đây gần nửa thế kỷ, nhân dịp Lễ Vu Lan, anh Cung Tích Biền và chị tôi cùng các huynh trưởng trong Gia Ðình Phật Tử tổ chức sinh hoạt văn nghệ. Hình ảnh vũ khúc Lên Chùa Dâng Hoa do anh sáng tác rất tuyệt vời, phần đầu với ca khúc Lên Chùa Dâng Hoa, phiên khúc anh lồng vào dòng nhạc mở đầu ca khúc bán cổ điển Sérénata của Enrico Toselli. Anh đàn mandoline rất hay, tôi mê vũ khúc và tiếng đàn; từ đó, chị tôi khuyến khích cố gắng tập luyện sẽ trở thành Trần Ngọc Thao thứ hai. Anh và tôi, cùng họ và chữ lót, cùng quê (Thăng Bình, quê ngoại của tôi) vì vậy, sau nầy, nhiều người hỏi tôi có họ hàng gì với Cung Tích Biền. Anh là huynh trưởng, bạn của người chị thứ sáu tôi, không họ hàng gì cả, và, tôi được biết anh trong sinh hoạt Gia Ðình Phật Tử từ đó.
Quen thân với Phan Nhự Thức khi tôi theo học Khóa I Nguyễn Trãi của Trường Ðại Học Chiến Tranh Chính Trị Ðà Lạt vào cuối năm 1966. Vì quân trường còn trong thời kỳ phôi thai nên phải gởi theo học giai đoạn I cùng với Khóa 24 của Trường Bộ Binh Thủ Ðức. Lúc đó, Khối Chiến Tranh Chính Trị vừa thành lập ban biên tập SVSQ Khóa 23 và 24 cho tờ nguyệt san Thủ Ðức có Nguyên Sa, Lưu Trung Khảo, LS Trần Sơn Hà, Luân Hoán, Trần Hoài Thư, Hồ Minh Dũng, Chu Tân, Cao Thoại Châu, Lâm Chương, Phan Nhự Thức... và tôi. Thân tình Phan Nhự Thức từ đó, sau nầy có nhiều kỷ niệm gắn bó với nhau, Phan Nhự Thức cho biết rất thích hai cây bút của quê tôi là Vũ Hạnh và Cung Tích Biền vừa được nổi tiếng, nhưng tiếc rằng Vũ Hạnh đi theo con đường khuynh tả. Tôi nói, cả hai người là bạn với mấy người chị của tôi và cũng có óc địa phương nên sáng tác nào cũng đọc hết, và tôi cũng đồng quan điểm đó.
Sau thời gian lao tù và quản chế, năm 1987, từ Ðà Lạt về Sài Gòn, nghe tin Phan Nhự Thức còn sống lang bạt đâu đó nên đi tìm. Ðược tin anh Cung Tích Biền đang bán tranh sơn mài ở kiosque 28 trên đường Nguyễn Huệ, ghé thăm và gặp Phan Nhự Thức. Phan Nhự Thức cho hay, sau khi ra tù, chui về Sài Gòn, sống vất vưởng, nhờ Cung Tích Biền đưa vào làm ở hãng nước đá của người thân có mối quan hệ với chính quyền nên ăn ngủ tại chỗ, tránh được sự truy lùng thành phần sống chui, không hộ khẩu.
Bạn bè cho biết, Cung Tích Biền là Ðại úy trong Quân Lực VNCH nhưng không bị đi tù như anh em còn được tự do làm ăn, thành phần bên kia chiến tuyến... không nên giao thiệp. Câu đầu tiên tôi hỏi, có ám hại, phản phé ai không? Khi nghe trả lời không, tôi nghĩ rằng anh dựa “lá bùa” để yên thân khi thời cuộc thay đổi, ít ra, còn giữ được lương tri của con người. Theo Phan Nhự Thức, gia đình Cung Tích Biền bị phân đôi, có hai người tập kết, hai người là sĩ quan trong Quân Lực VNCH. Người anh tập kết, chết năm 1969 và thêm người anh, sĩ quan cấp tá Quân Lực VNCH, chết trong trại tù năm 1978, cả hai không tìm được xác. Và, bút hiệu Cung Tích Biền là tên ghép của các anh chị. Có lẽ Cung Tích Biền đã giải ngũ năm 1973 nên sau năm 1975, biết “lăng ba vi bộ”, có ô dù thân nhân tập kết và vài người bạn cùng quê như Huỳnh Bá Thành, Cung Văn Nguyễn Vạn Hồng... nên biết cách tránh né, mong an toàn mạng sống nhưng rồi cũng tan nát như chúng ta. Sau ngày 30 tháng Tư, cũng có vài sĩ quan trong văn giới mang bảng đỏ nhưng rồi bị thất sủng, vào tù, nay được định cư tại Hoa Kỳ.
Với bản thân Phan Nhự Thức, Cung Tích Biền là người bạn tốt, chân tình, trầm lặng, chấp nhận mọi thị phi để sống với vợ con. Sau đó, đôi ba lần, tôi ghé lại kiosque của anh, tán gẫu với nhau, tôi hỏi chuyện viết lách, anh cho biết, thỉnh thoảng viết lai rai, vì buôn bán tranh ở Pháp nên được vài tạp chí để đọc cho khuây khỏa. Qua ý kiển giữa bạn bè và tâm sự của Phan Nhự Thức, xa cách quá lâu và coi anh với hình ảnh huynh trưởng ngày xưa nên rất tế nhị khi giao tiếp; vả lại, mỗi người một hoàn cảnh, điều quan trọng đối với tôi, có bán rẻ nhân cách, xu thời, đạp lên mạng sống anh em?.
Năm 1990, trước khi đi diện HO sang Hoa Kỳ, nhờ Trần Thanh Ngọc (khóa II ÐH.CTCT) đèo Huy Tưởng và tôi ghé thăm căn nhà tranh nho nhỏ của Phan Nhự Thức ở nơi xó xỉnh cuối phi trường Tân Sơn Nhất, xa Sài Gòn, làm nơi tá túc sau khi lập lại cuộc tình, bạn bè giúp đỡ tận tình, trong đó có Cung Tích Biền.
*
Qua những điểm chính về tiểu sử trong bài phỏng vấn Ðành Lòng Sống Trong Phòng Ðợi Của Lịch Sử do Lý Ðợi thực hiện với nhà văn Cung Tích Biền, trong đó có vài đoạn tóm lược trích dẫn.
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh ngày 8 tháng 2 năm 1938 tại Thăng Bình, Quảng Nam, trong một gia đình có truyền thống chữ nghĩa thơ phú. Năm 12 tuổi đã theo các anh các chị đi diễn kịch, đàn ca ở miền quê trong tỉnh. Năm 1954 ở lại quê nhà, anh em bà con ruột thịt, bạn bè, tập kết ra Bắc.
Năm 18 tuổi, bị bắt ra nhà lao Hà Lam, quận Thăng Bình tra khảo. Bị ăn đòn bằng những khúc tre tươi, vỡ đầu, suýt bị phèo óc, bị đánh, khi khúc tre nát ra tua tủa như tăm xỉa răng, lại thay khúc khác. Rất may, vì mới tép riu, chỉ là ở trong vùng kháng chiến, chưa phải thành phần Cộng Sản nguy hiểm cần treo ngược lên xà nhà, tra điện, hay bó rọ thả sông.
Hồi còn học trung học đã tập tễnh làm thơ viết truyện ngắn. Năm 1958, được một giải thưởng truyện ngắn toàn Quảng Nam. Lúc học tại Huế, được một giải thơ của trường Quốc Học.
Theo học Ðại học Văn Khoa ở Huế, đầu thập niên 60, một thời gian, phụ trách một chương trình thơ cho đài phát thanh Huế. Chương trình mang tên Con Tàu Thi Ca. Ngoài các chương trình thông thường, thực hiện ba chương trình liền nhau những nhà thơ tiền chiến đang sống dưới chế độ Hà Nội. Ðài cúp ngay cái đám miệng còn hôi sữa. Thế là chết yểu.
Năm 1963, dạy học tại Ðiện Bàn Quảng Nam (lúc này anh còn gần gũi một số bạn thân mà một phần lớn trong số đó sau này đã ra khu MTGPMN) thì bị động viên vào Trường Bộ Binh Thủ Ðức. Ra trường, bị chính quyền Nguyễn Khánh có văn bản cưỡng bách cư trú tại miền Tây (Cần Thơ), không được về Trung, thời gian bốn năm. Năm 1967, thân mẫu qua đời, không về chôn cất. Mỗi tuần, phải trình diện An Ninh Quân Ðội Vùng 4 chiến thuật một lần vào ngày Chủ Nhật. Thấy Cần Thơ cũng chốn phồn hoa, An Ninh Quân Ðội đẩy đi xa hơn, được lệnh về Bạc Liêu. “Miền Nam Cộng Hòa có cái hay, nghi ngờ một sĩ quan động viên có liên hệ với Cộng Sản, tham gia phong trào sinh viên đấu tranh chống Ngô Ðình Diệm, từng sống trong vùng kháng chiến chín năm, có anh em ruột thịt tập kết ra Bắc, có liên hệ với bạn bè khá đông, rất thân quen, hiện đã ra khu Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, vậy mà cứ cho lên lon, thăng chức bình thường như mọi sĩ quan khác”.
Tháng 11 năm 1965, sáng tác truyện ngắn Ngoại Ô, Dĩ An Và Linh Hồn Tôi khi phục vụ tại Sư đoàn 21 Bộ Binh, lưu lạc tận Bạc Liêu., Sư đoàn 21 Bộ Binh. Tháng 3 năm 1966 truyện đăng trên tuần báo Nghệ thuật, lần đầu tiên, ký bút hiệu Cung Tích Biền. Bút hiệu nầy giữ mãi tới ngày hôm nay.
Từ 1968 đến 1973, mang lon Ðại úy Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Trú đóng ở tiền đồn, Ðức Hòa Hậu Nghĩa, năm 1970 về căn cứ Trảng Lớn, Tây Ninh. Năm 1973 giải ngũ, cư ngụ tại Sài Gòn.
Sau tháng Tư năm 1975, đi học tập cải tạo thời gian ngắn, cùng tổ với Mai Bá Trác và Nguyễn Quốc Chính. “Mất nhà cửa vì bị tịch thu, (duyên cớ là ở nhờ nhà chị vợ, chị đi Mỹ, nhân thể tịch thu, người ta hốt ráo bất luận của ai ra ai). Nghèo khó ra đi, vợ ra tới cửa nhào vô lấy cái nôi của đứa con thơ, bị cậu quận đội Tân Bình ngăn lại không cho. Con cái ra nằm trần trên nền đất lề đường. Sau, ở nhờ nhà thi sĩ Ðoàn Minh Hải...”. Chị Mai, hiền thê của anh nhỏ hơn 15 tuổi. Người Quảng Trị. Bên nội họ Hoàng. Bên ngoại Lê. Hồi trung học, học trường Ðồng Khánh, Huế. Vào Sài Gòn, ở nhờ nhà người cậu ruột là luật sư Lê Nguyên Phu, học trường Văn khoa, tốt nghiệp cử nhân Triết Tây. Có viết một số truyện ngắn đăng trên vài tập san văn chương, bút hiệu Hoàng Thị Kim. Lấy chồng, sinh con, bỏ viết. Trong khi đó “Cả một đời, vợ con tôi chưa hề mua được một vật dụng gì cho ra hồn, từ tiền nhuận bút của tôi”.Ðã năm năm nay, chị ăn chay trường, với anh là hình ảnh người mẹ, người chị vì cam chịu và lo lắng cho chồng con. “Sớm mai thường trực tụng kinh. Chiều chiều đi chùa. Tối thường cúng kiếng trước cổng nhà, vãi gạo muối bánh kẹo ra đường”. Ðó là mái ấm
Cũng như hằng triệu người miền Nam thất sủng, đói khát bươn chải đủ thứ nghề, chạy xe ba gác, xe ôm chỗ Ngã Ba Ông Tạ. Ði làm thợ mây tre lá tuốt bên quận Tư cùng Chu Vương Miện và các thầy chùa ăn mặn, sướt máu bàn tay. Ra tận Bình Dương học nghề sơn mài bị sơn ăn sưng da phù mỏ. Ra đầu đường bán sách cũ, dọn vỉa hè bán cà phê bò kho, thu gom ve chai... Năm 1976 xuống tận Cà Mau làm cu ly xây trại nuôi heo cùng Thế Phong, Nguyễn Thụy Long.
Trong Hồi Ức 40 Năm Cầm Bút của nhà văn Nguyễn Thụy Long có đề cập đến thời điểm nầy. Tôi email hỏi thăm Nguyễn Thụy Long và anh cho biết: “Sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, tôi và Thế Phong, Cung Tích Biền xuống tận Cà Mau làm cu li, thời gian không dài lắm, vài ba tháng. Tổ hợp Việt Nam Kỹ Thuật bị giải thể vỉ chủ nhiệm Nguyễn Văn Ngơi, người quen của nữ văn sĩ Lệ Hằng bị bắt vì tổ chức vượt biên. Tổ hợp giải thể, ba chúng tôi trở về Sài Gòn, sau đó tôi bị bắt và đi tù đến năm 1980 mới trở về. Khi ra khỏi tù tôi gặp Cung Tích Biền, tình cảm vẫn như xưa dù CTB bị mang tiếng nhiều là người “cách mạng 30-4”, nhưng anh cũng chẳng hại gì ai hết, vẫn có những quý mên nhau như người xưa. Ðôi khi còn những có những giúp đỡ nhau thiết thực trong thời bao cấp... Như trường hợp thi sĩ Phan Nhự Thức bị bệnh ung thư và chết (tháng 11 năm 1995), tôi biết CTB lo cho bạn gần hết”.
Khi đề cập đến tác phẩm của mình ở trong nước, theo Cung Tích Biền, “Ngay sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 nhà nước Việt Nam đã có lệnh cấm (bằng văn bản pháp quy, có danh sách rõ ràng từng tên tác giả, tên tác phẩm) là cấm lưu hành, in ấn, tàng trữ bất cứ dưới hình thức nào hầu hết tác phẩm dưới thời miền Nam Cộng Hòa. Toàn bộ tác phẩm của tôi cũng nằm trong lệnh cấm này. Một lệnh cấm mang tính an ninh triệt để. Vi phạm là phản động, đi tù không cần tuyên án. Ðể yểm trợ cho lệnh cấm này có hiệu quả tuyệt đối đã có những đơn vị xung kích đi từng nhà, từng khu phố thu gom sách. Ðốt.
Tháng 8 năm 2005, theo sự chỉ dẫn của nhà văn Mường Mán (vì anh đã được cho phép sao lục tác phẩm cũ) tôi đến một thư viện tại Sài Gòn để xin sao lục những sáng tác của tôi trước 1975, nay với tôi là tuyệt bản. Tại đây, Thư viện Khoa Học Tổng Hợp, bảo tôi về làm đơn xin phép nhà nước.
Ðơn viết xong, nhờ vợ tôi ra phường ký xác nhận. Nộp đơn vào thư viện, lại phải viết tiếp một đơn khác xin sao lục, vì đơn ở phường mới chỉ có giá trị chứng cư trú.
Ðơn xin sao lục được chấp nhận lại phải làm phiếu đăng ký xin sao lục những gì, trên báo, tạp chí nào tháng năm nào. Phiếu đăng ký nộp vô, bị gạch bỏ một số không được sao lục, số được phép thì do nhân viên thư viện chụp hình in ra đĩa CD. Thư viện có một chiếc máy rất cũ, làm việc rất chậm. Tôi không được quyền mang máy ảnh, quay phim tư liệu vào thư viện để tự thực hiện, cho nhanh. Ðóng tiền trước ba trăm nghìn đồng.
Ðúng một tháng sau, y hẹn, tôi đến thư viện. Ðĩa CD làm xong nhưng tôi được lệnh là không cho phép nhận mang về. Lý do: “Truyện phản động, không được phép sao lục, chưa có phép lưu hành.”
Từ đây có một cuộc phản kháng. Tôi nói với cô Hương cán bộ thư viện là tác phẩm của tôi, tài sản tinh thần của tôi, tôi có quyền sao lục. Tác giả sao lục tác phẩm chính mình sao lại gọi là lưu hành. Mà dù tôi chống lại lệnh cấm, tôi lưu hành là quyền của tôi, sẽ do pháp luật can thiệp, bỏ tù tôi chịu. Thư viện giam giữ đã ba mươi năm tác phẩm của tôi mà không cho tôi sao lục là một hình thức chiếm đoạt tài sản”.
Thế nhưng “Ðã hơn một năm trôi qua tôi chẳng thấy ai thực hiện một cách sòng phẳng, đúng luật chơi là ký, và trao cho tôi cái giấy, là một lệnh cấm đó cả. Ba trăm nghìn đồng tôi ứng trước nay vẫn còn nằm trong thư viện. Hơn một năm tôi chưa hề nhận được cái giấy mời hay một cú điện thoại đến trả lời dứt khoát... Tôi rất ung dung tự tại. Không hề buồn hay uất mần chi chuyện vặt này. Hơn ba mươi năm kinh nghiệm dạy cho tôi cung cách “nằm nụng” tại “lơi lày”. Rằng thì là lánh, lãng, lơ, lì, lừa, luồn lách, lật lọng, lờ, lâu, rồi quên...”.
Khi email cho anh Hồ Nam (nhà thơ Vương Tân), tôi nói sẽ viết bài về anh Cung Tích Biền, cần biết rõ hư thực vì hai anh đã quen nhau trong nhiều thập niên, anh hồi âm cho biết, nên viết vì giải tỏa được vấn đề để trả lại sự công bằng trong văn học. Bài viết của anh Hồ Nam từ Sài Gòn, với tựa đề Cung Tich Biền và Những Biến Chuyển Của Lịch Sử vừa nhận được khi tôi đang viết.
“Cung Tích Biền (tên khai sinh Trần Quốc Thao sinh năm 1937 nhưng giấy tờ lai ghi 1938) được Mai Thảo khi làm chủ bút tuần báo Nghệ Thuật coi như một hiện tương văn học khi giới thiệu truyện ngắn đầu tay của Biền đăng trên tờ tuần san này.
Cung Tích Biền mặc áo lính học trường sĩ quan Hành Chánh Tài Chính, mãn khóa về một đơn vi Thiết Giáp đôi mũ nồi đen thường giao du với Nguyên Vũ và Tú Kếu nên đưa truyện dài cho Tú Kếu nhờ Tú Kếu giới thiệu với Chu Tử và Chu Tử không những đã chọn đăng truyện dài của Cung Tích Biền mà còn nói với tôi truyện dài của Cung Tích Biền viết không kém gì Nguyễn Thụy Long và trên chân Duyên Anh một bậc.
Dưới mắt tôi thời đó Cung Tích Biền chỉ là một người trẻ có văn tài và ‘’nhậu’’ vào loại hào sảng một người giao du được và chỉ thế thôi không gì khác hơn.
Ngày 30 tháng tư năm 1975 xảy ra người ta thấy Cung Tích Biền đeo băng đỏ đội nón cối cùng với Nguyễn Vạn Hồng (Cung Văn) đến tiếp thu Câu Lạc Bộ Báo Chí và có người còn nói Cung Tích Biền là Việt Cộng ''nằm vùng'' cỡ thứ trưởng hay đại tá gì đó!
Sau những năm tôi đi tù cải tạo về phụ giúp Phạm Kiều Tùng bán quán báo ở góc đường Bùi Chu và Võ Tánh, Cung Tích Biền ghé thăm mời đi uống cà phê và nói ở nhà trên một cao ốc ở đường Nguyễn Huệ. Cung Tích Biền có một chai rượu ngon muốn mời tôi tới nhậu và tôi đã tới dù Nguyễn Ðình Ðông “tay hòm chìa khóa” của Chu Tử khuyên không nên ‘’giao du’’ với công an ‘’chìm’’ như Cung Tích Biền.
Mãi tới cuối thế kỷ hai mươi, khi Phan Như Thức qua đời (tháng 11 năm 1995) vì bệnh ung thư vợ con mang chôn ở Bình Hưng Hòa, tôi mới gặp lại Cung Tích Biền. Bữa đó Biền đọc ''điếu văn'' khóc Thức như một tiếng nấc nghẹn ngào của phận ''kẻ sĩ''chịu nhiều oan trái (nhà thơ Phan Nhự Thức là chủ tịch Hội Ðồng tỉnh Quảng Ngãi) bị đi tù cải tạo, ra tù lãnh tờ giấy ra trại đề ngày ký 31 tháng Hai, khi đi phỏng vấn của chương trình HO phái đoàn Mỹ nói giấy tờ gì Thức cũng thừa điều kiện sang Mỹ đinh cư nhưng lịch của loài người không có ngày 31 tháng Hai. Thức cần điều chỉnh lại giấy ra trại một thư thông hành để đươc đi Mỹ Thức điều chỉnh tờ giấy này mất cả năm trời vừa được phái đoàn Mỹ báo chuyến bay thì lăn đùng ra chết vì ung thư!
Sang thế kỷ hai mươi mốt, một buổi trưa tôi nhận được điện thoại của Nguyễn Thụy Long báo Nguyên Vũ Vũ Ngư Chiêu muốn nói chuyện với tôi rồi chuyển điện thoại cho Nguyên Vũ nói chuyện với tôi.
Nguyên Vũ mời tôi đến uống rượu vang tại một quán chuyên bán đặc sản Quảng Nam gần Tịnh Xá Trung Tâm, vùng Gò Vấp.
Tại quán nhậu này tôi thấy bên cạnh Nguyên Vũ có Nguyễn Thụy Long và Cung Tích Biền. Bữa đó khi rượu ngà ngà rồi tôi hỏi Cung Tích Biền về chuyện đeo băng đỏ và tại sao Biền là Ðại úy Quân Lực VNCH không bị đi cải tạo. Cung Tích Biền nói cảm ơn câu hỏi của tôi để có dịp cho Cung Tích Biền giải tỏa sự hiểu lầm của nhiều người với Cung Tích Biền. Trước hết, Biền nói Biền đã giải ngũ trước ngày 30 tháng Tư nhiều năm vì là thương binh nên có trình diện đi cải tạo tại trường Dũng Lạc (Gò Vấp) nhưng ở đây cán bộ Việt Cộng cho về có lẽ nhờ Huỳnh Bá Thành (họa sĩ Ớt trung tá Công An Việt Cộng) nói giúp sao đó.
Cung Tích Biền thú thật có ngươi anh ruột là Việt Cộng đi tập kết đã chết ở Trường Sơn trước 1975 và giao du thân mật với Nguyễn Vạn Hồng và Huỳnh Bá Thành nên ngày 30 tháng Tư có hu hợ đeo băng đỏ chứ chẳng hề ''nằm vùng” bao giờ cả.
Cung Tích Biền không dấu chuyện có viết báo Công An thời Huỳnh Bá Thành làm Tổng Biên Tập, khi Thành ''đột tử'' Cung Tích Biền bị ra rìa.
Cung Tích Biền thú thật làm văn nghệ có Ðảng lãnh đạo Biền chịu không nổi đã viết văn “chui” gửi cho Khánh Trường đăng trên tờ tạp chí văn học Hợp Lưu.
Nghe Cung Tích Biền nói, tôi bảo với Cung Tích Biền rằng Phật Thích Ca từng quả quyết rằng tướng cướp tới cổng chùa quăng dao đi nghe kinh và “đầu” cửa Phật, chịu khó tu hành cũng có thể trở thành Bồ Tát huống chi Biền chỉ “hu hợ'' theo Việt Cộng nay đã nhìn thấy rõ con đường văn chương chữ nghĩa của mình và phản tỉnh, anh em có thể nói chuyện với nhau được. Có vấn đề gì đâu huống chi đây chỉ là ngộ nhận.
Bữa đó có mấy người mà chúng tôi uống hết hơn 10 chai Bordeaux, Nguyên Vũ có vẻ hứng lắm cười luôn miệng và tâm sự rằng rất tâm đắc với câu nói của Phật Thích Ca “tướng cướp quăng đao trước cổng chùa vào chùa nghe kinh có thể thành Bồ Tát”.
Sau bữa nhậu đó, ít năm tôi thấy trên mạng bài trả lời phỏng vấn của Cung Tích Biền chứng tỏ con người Biền đã khá dứt khoát sau khi được giải tỏa những “ẩn ức” và Biền xứng đáng là một người cầm bút của thời đại hôm nay, ngòi bút chỉ vì Chân Thiện Mỹ không vì cái gì khác.
Trong cuộc gặp gỡ giữa người viết bài này chiều 11 tháng 9 năm 2007, tại quán bán đặc sản Ðất Quảng gần Tịnh Xá Trung Tâm. Cung Tích Biền cho biết Biền đang ung thư ruột già nên chương trình sáng tác chỉ lập cho từng ba tháng một và Biền đang viết bộ tiểu thuyết Chuồng Trại (cũng có tên la Truồng Chạy) rất đắc ý. Không biết Biền có hoàn thành kịp bộ tiểu thuyết này không vì ngoài ung thư còn tiểu đường nữa bệnh nào cũng đang ở giai đoạn nghiêm trọng có thể “chùa thua” bất cứ lúc nào.
Trà lời câu hỏi chết đi được đầu thai lại làm người Biền có muốn thay đổi thân phận không, Biền nói nếu được làm người nữa Biền chọn cái kiếp đang sống đầy oan khiên và bất trắc đã từng sống để tiếp tục sống.
Nói về chuyện tạp chi Da Mầu làm số đặc biệt về Cung Tích Biền cho biết thế kỷ trước tờ Hợp Lưu có ý định làm một số về mình Biền đã phản đối nay trên 70 tuổi rối Da Mầu làm số báo đặc biệt về Biền thì Cung Tích Biền đã đồng ý vì nghĩ mình đang gần đất xa trời không nên phụ lòng người mến mộ mình”. Hồ Nam
Cung Tích Biền cho biết “ròng 40 năm nay với bút hiệu nầy” và không viết bài nào đánh bóng chế độ trước cũng như sau 1975, “Từ khi được gọi là thành niên tới ngày hôm nay, tôi đã sống 21 năm trong nước Việt Nam Cộng hòa, 31 năm trong xã hội chủ nghĩa. Cộng lại hơn nửa thế kỷ. Tôi chưa từng dùng ngòi bút ca ngợi bất cứ một chế độ đương quyền nào”. Theo bài viết của Hồ Nam, không biết khi viết cho tờ Công An, dùng bút hiệu nào?
Theo họa sĩ Nguyễn Ðình Thuần ở Little Saigon, năm 1989 triển lãm tranh ở Hội Mỹ Thuật, nhờ Cung Tích Biền viết cho bài giới thiệu, khi gởi bài viết đến tờ Lao Ðộng nhờ đăng tải, thấy tên Cung Tích Biền, họ từ chối, phải nhờ người khác viết mới đăng báo.
Qua những năm thăng trầm, anh có được cơ ngơi với cái kiosque để sinh sống và nơi tá túc ở chung cư Nguyễn Huệ, trước dây, bạn bè nói với tôi vì có gốc gác. Theo họa sĩ Hồ Thành Ðức, bạn thân của anh từ ngày ở Huế, còn thuộc những bài thơ của anh mà tác giả không còn lưu trữ hay đã quên (như đã đề cập ở trên, anh được giải thơ ở trường Quốc Học). Năm 1977 Hồ Thành Ðức vượt biên, bị tù hai năm, sau khi được thả, Hồ Thành Ðức có quen biết với vài giới chức trong Hội Văn Nghệ nên được trông coi vài kiosque. Thấy Cung Tích Biền lông bông nên Hồ Thành Ðức giao cho kiosque để làm ăn và nhờ vậy xin được nơi cư ngụ ở chung cư Nguyễn Huệ. Còn vấn đề viết lách, không nghe Cung Tích Biền đề cập.
*
Hình ảnh sau ngày 30 tháng Tư, Cung Tích Biền được đưa lên báo “đeo bảng xanh, bảng đỏ” nhưng rồi bị tước đoạt tất cả, may mắn chỉ “học tập cải tạo” thời gian ngắn và làm lại cuộc đời trong hoàn cảnh trớ trêu. Trong một gia đình, bên nầy và bên kia chiến tuyến, không thể nào thoát khỏi oan trái xảy ra của mỗi chế độ, và người trong cuộc dễ bị ngộ nhận.
Giữa thập niên 60, sau thời gian xuất hiện với các truyện ngắn, Cùng Tích Biền tạo được thế đứng tròng làng văn, anh cho biết: “Có một thời gian, cùng lúc tôi viết feuilleton cho năm tờ nhật báo: Ðộc Lập, Ðông Phương, Ðiện Tín, Sóng Thần, Hòa Bình... Ngoài ra, còn viết mỗi tuần một kỳ hai trang cho tuần báo Ðời, do nhà báo Ðỗ Quý Toàn thư ký tòa soạn, họa sĩ Ðằng Giao trình bày, trang báo rất trang trọng, đẹp. Những truyện dài Bên Dòng Nước Biếc, Luống Cải Vàng, Bến Mưa Ngâu của tôi xuất hiện trên Ðời.
Cũng thời gian này, truyện dài Những Bọ Và Rắn được đăng trên tạp chí Quần Chúng do nhà báo Cao Thế Dung chủ trương. Truyện dài Trường Giang, đăng trên tuần báo Khởi Hành, do nhà thơ Viên Linh thư ký tòa soạn...
... Cho đến nay tôi chưa hề in một tác phẩm nào trong hơn 20 truyện dài đã đăng hoàn chỉnh trên các nhật báo Sài Gòn”.
Các tác phẩm đã được xuất bản: Ai Tỉnh Ai Ðiên (1968), Hòa Bình Nàng Tình Rỗng (1968), Nỗi Buồn Thắp Sáng (1969), Cõi Ngoài (1969)...
Nhà văn Cung Tích Biền thành danh, nổi tiếng qua nhiều tác phẩm trong thập niên 60, 70, quen thuộc với độc giả ở miền Nam VN, nhưng không hiểu vì sao ít có bài viết về tác giả và các tác phẩm văn học. Ở trong nước, tác phẩm của anh trước kia bị xếp vào bảng phong phần “truyện phản động không được phép sao lục, chưa có phép lưu hành”! Khi bị liệt kê vào bảng phong thần thì không có cây bút nào đá động đến và nếu có cũng không có tờ báo nào dám đăng tải. May ra có vài truyện ngắn sau nầy được đăng trong tuyển tập như Thằng Bắt Quỷ trong tổng tập Truyện Ngắn Việt Nam thế kỷ XX, NXB Kim Ðồng, truyện ngắn Không Thể Là Hiện Thực trong tuyển tập Ðêm Bướm Ma, NXB Văn Học...
Ở hải ngoại, các cây bút trong nước đã một thời quen thân với anh, hiện đảm trách tờ báo trong tay nhưng suốt ba thập niên qua, ít ai đề cập đến. Có lẽ họ ngần ngại thời điểm anh đeo băng đỏ nhưng họ không “cảm thông” khi anh bị đuổi ra khỏi nhà, sống vất va vất vưởng, nghể không ra nghề, thợ không ra thợ để sống còn. Với những gì anh đã nhận chân sự thật để nói ra, nếu đó là sự thật thì “Sự chân thành là cái danh dự của lương tri”, nói như Galerita.
Trong quyển Văn Học Miền Nam Tổng Quan của nhà văn Võ Phiến, NXB Văn Nghệ, ấn hành năm 1986, trong phần tác giả, tác phẩm có ghi đôi dòng về tiểu sử Cung Tích Biền nhưng trong trang sách, không một lời nhắc đến. Bộ sách Văn Học Miền Nam của Võ Phiến, NXB Văn Nghệ 1999, phần truyện gồm ba tập đề cập đến hầu hết nhà văn nhưng cũng không có Cung Tích Biền. Quyển Văn Học Từ Ðiển của Thanh Tùng, NXB Khai Trí năm 1973 và được ấn hành ở Hoa Kỳ năm 1990, chỉ liệt kê tổng quát tiểu sử tác gia, có vài tác giả chỉ có một, hai tác phẩm, chưa có tên tuổi, xuất hiện sau anh, cũng được đề cập nhưng không có tên nhà văn Cung Tích Biền.
Năm 1993, tập truyện Thằng Bắt Quỷ do Tân Thư ấn hành ở Hoa Kỳ. Gồm các truyện ngắn trước và sau năm 1975: Dị Mộng, Qua Sông, Ngoại Ô Dĩ An Và Linh Hồn Tôi, Trong Nghĩa Ðịa Xanh, Người Tù Tình Nguyện, Giao Thừa, Trên Ngọn Lửa, Lời Ảo Hóa, Rừng Ðôm Ðốm, Thằng Bắt Quỷ và Thừa Dư.
Trong các truyện ngắn sau nầy, Cung Tích Biền với bút pháp ẩn dụ, thế giới huyễn hoặc không bày tỏ thực trạng của cuộc sống như những tác phẩm viết trước năm 1975. Trong khí đó, độc giả mong ở nhà văn thành danh với ngòi bút sắc bén với cái nhìn hiện thực.
Hiện nay, cuốc sống gia đình được ổn định tại Gò Vấp, con gái lớn đã lập gia đình và ở Nam California. Tuy nhiên, anh vẫn mang nặng hình ảnh của hai người anh nên cuối bài phỏng vấn, Cung Tích Biền bày tỏ nỗi đau bây giờ, có hai người anh, bên nầy và bên kia đã chết mà không tìm được tông tích:
Người thứ nhất: ông Trần Ngọc Biền, bộ đội, chết năm 1969 tại Nghĩa Ðàn, Nghệ An. Người thứ hai: ông Trần Ngọc Tấn, Thiếu tá Quận trưởng Tịnh Sơn kiêm Quân trấn trưởng Quang Ngãi. Sau tháng 4 năm 1975, đi học tập và chết trong trại cải tạo. Gia đình chỉ được thông báo cái chết từ năm 1978 mà không biết nơi chôn cất. Cũng đã ở tuổi cổ lai hy, nếu được quy kết mộ hai ông anh ruột cũng là một thỏa lòng.
Trong tình nghĩa bạn bè thân tình với nhau cho rằng anh sống bạt mạng, đệ tử của Lưu Linh nên đôi khi cũng bất cần thân thể. Tuy nhiên, không tránh khỏi sự chê bai. Tôi nhớ, có lần người bạn nói với tôi Trần Hoài Thư “cao ngao, bộ mặt khinh khỉnh”, tỉnh bơ khi chào hỏi. Thật ra vì cận thị nặng, không nhìn xa được để đáp lễ nên bị mang tiếng và Cung Tích Biền thì nghe nói nhiều hơn. Ngày trước, mỗi lần Trần Hoài Thư từ núi rừng về Sài Gòn, tá túc ở nhà trọ Cung Tích Biền, ngồi quán cà phê, cả hai nhìn xa đều “mục hạ vô nhân” thì làm sao tránh khỏi lời chê trách “mục trung vô nhân”!
Thật ra, Cung Tích Biền chẳng vỗ ngực xưng danh “nhà văn nhớn” như vài người khác mà còn khiêm nhường. Qua câu hỏi của Lý Ðợi: “Vắng bóng trên thập kỷ rồi. Ông sẽ xuất hiện lại chứ. Ẩn danh mãi sao ông nhà văn?”. Cung Tích Biền: “Danh đâu mà ẩn. Chỉ là tìm chỗ trốn cái gió tanh mưa bụi. Tôi có một kho tàng sống qua mấy thời kỳ. Chỗ giáp ranh của thực hư, chính tà. Nửa tỉnh nửa điên...”.
Tròn hai thập niên, chưa gặp được anh. Với những gì biết được ghi lại, còn nhiều thiếu sót. Không gì hơn, đón nhận hồi ký của nhà văn Cung Tích Biền. Gần năm thập niên rồi, bên nầy bờ đại dương vẫn nhớ hình ảnh và ca khúc Sérénata:
“Viens, le soir descend
Et l'heure est charmeuse
Viens, toi si frileuse,
La nuit déjà comme un manteau s'étend...”.
Sống với nhau, sinh tử tử sinh, còn lại nhớ chăng ở đạo làm người. Mười bảy năm xa cách, mong có ngày cụng ly ở quán đặc sản Quảng Nam.
Vương Trùng DươngLittle Saigon, Sept 11-2007
Vài dòng minh xác
Sau khi bài viết được phổ biến trên các trang web: Cali Weekly (caliweekly.com), Thư Viện Toàn Cầu (tvvn.org), Việt Norway (viet.no), Xứ Quảng (xuquang.com). Có vài dòng minh xác.
Như đã đề cập ở trên, bài viết không có tính cách nhận định về tác giả và tác phẩm mà thu tóm những điều nhà văn Cung Tích Biền “mở miệng” phối hợp với ý kiến các thân hữu thân quen với anh và tôi”.
Ðể giữ sự trung thực, khách quan và rõ ràng, tôi đã chuyển bài viết về nhà văn Cung Tích Biền để có tiếng nói của người trong cuộc. Trong email ngày 16 tháng 9-2007, anh cho biết: “Bài viết chân tình và khách quan. Tuy nhiên có vài đoạn trích dẫn, anh Hồ Nam viết về tôi không được chính xác lắm. Tôi có viết cho tờ báo Công An một dòng chữ nào đâu... nhưng không sao. Tôi từng bị ngộ nhận mà không hề cải chính. Huỳnh Bá Thành đã chết nhưng báo Công An còn đó, tôi còn đây, bao nhiêu người làm cho báo Công An hãy còn ở tại tòa soạn...
Tôi rất quý trọng anh Hồ Nam, anh Hồ Nam là một người sống rất có tình cảm với anh em, rất công bằng trong nhận xét. Nói chung, anh Hồ Nam là một người ngay thẳng, trước sau như một. Nhưng có thể đây là một sự nghe lầm trong lúc rượu vãng, trò chuyện...”.
Về tình trạng sức khỏe, anh cho biết bị tiểu đường đã 19 năm rồi, đau tim và ung thư đại tràng hơn một năm nay. Lúc nào sức khỏe được bình thường, đi tìm thú vui cho khuây khỏa.
Trong bài viết, con gái anh định cư tại Nam Cali, xin đính chính lại là con trai, du học và lập gia đình ở Cali.
Nhà văn Trần Hoài Thư vừa chuyển cho tôi bài phỏng vấn của Viên Linh trên tờ Thời Tập, tháng 6 năm 1974. Cho biết anh ở trong ngành Hành Chánh Tài Chánh nên phục vụ qua các binh chủng và giảng viên tại trường Tài Chánh. Lập gia đình năm 1972, trước khi giải ngũ.
Vương Trùng Dương (Sept 16-2007)
Để tưởng niệm nạn nhân của Việt Cộng Tết Mậu Thân ở Huế 1968.
--------------------------------------------------

Cơn mê chiều
Nhạc: Nguyễn Minh Khôi
Anh Ngọc trình bày
Chiều nay không có em, mưa non cao về dưới ngàn
Đàn con nay lớn khôn mang gươm đao vào xóm làng
Chiều nay không có em, xác phơi trên mái lầu
Một mình nghe buốt đau, xuôi Nam Giao tìm bóng mình
Đường nội thành đền xưa ai tàn phá ?
Cầu Tràng Tiền bạc màu loang giòng máu
Hương Giang ơi thuyền neo bến không người qua đò
Một lần thôi nhưng còn mãi ...
Và chiều nay không có em, đường phố cũ chân mềm
Tôi là người khai hoang đi nhặt xác mình, xác người
Cho ruộng đồng xanh màu, cho đám mới lên cao
Và người ơi xin chớ quên, người ơi xin chớ quên
Đường vào thành, hàng cây trơ trụi lá
Đồi Ngự Bình thịt xương khô sườn đá
Kim Long ơi, bờ lau ngóng, chuông chùa tắt rồi
Một lần thôi nhưng còn mãi
Và chiều nay khg có em, đường phố chẳng lên đèn
Tôi là người trong đêm, mang ngọn đuốc về nội thành
Xin làm người soi đường đi xóa hết đau thương
Và người ơi xin chớ quên, người ơi xin chớ quên
--------------------------------------------------
--------------------------------------------------

Cơn mê chiều
Nhạc: Nguyễn Minh Khôi
Anh Ngọc trình bày
Chiều nay không có em, mưa non cao về dưới ngàn
Đàn con nay lớn khôn mang gươm đao vào xóm làng
Chiều nay không có em, xác phơi trên mái lầu
Một mình nghe buốt đau, xuôi Nam Giao tìm bóng mình
Đường nội thành đền xưa ai tàn phá ?
Cầu Tràng Tiền bạc màu loang giòng máu
Hương Giang ơi thuyền neo bến không người qua đò
Một lần thôi nhưng còn mãi ...
Và chiều nay không có em, đường phố cũ chân mềm
Tôi là người khai hoang đi nhặt xác mình, xác người
Cho ruộng đồng xanh màu, cho đám mới lên cao
Và người ơi xin chớ quên, người ơi xin chớ quên
Đường vào thành, hàng cây trơ trụi lá
Đồi Ngự Bình thịt xương khô sườn đá
Kim Long ơi, bờ lau ngóng, chuông chùa tắt rồi
Một lần thôi nhưng còn mãi
Và chiều nay khg có em, đường phố chẳng lên đèn
Tôi là người trong đêm, mang ngọn đuốc về nội thành
Xin làm người soi đường đi xóa hết đau thương
Và người ơi xin chớ quên, người ơi xin chớ quên
--------------------------------------------------
Hãy ''Chửi'' Chính Mình!
Trần Bính
Gửi các bạn ở hải ngoại : Các bạn chửi Cộng Sản 30 năm nay chưa thỏa ḷòng sao ? Đă hơn 30 năm, các bạn cứ tiếp tục chửi bới, và chế độ hà khắc ở VN vẫn tiếp tục tồn tại.
Hiện nay, ngay từ trong nước, đã có nhiều nhà dân chủ đứng lên bất chấp nguy hiểm để đấu tranh, điều này đã bộc lộ rõ những nhượng bộ và yếu kém của chế độ. Nhưng sao đến giờ vẫn chưa có một phong trào dân chủ đủ mạnh để thách thức chế độ ?
Câu trả lời : bao năm qua, ta cứ mãi lo "địch vận": Nói xấu, chửi bới chế độ hoặc kêu gọi chế độ tự thay đổi, mà không lo "dân vận":
Củng cố sức mạnh dân chủ của cộng đồng hải ngoại để thúc đẩy "dân vận" trong nước và bước cuối cùng là tạo nên một sức mạnh toàn dân buộc chế độ phải thay đổi.
Như vậy, rõ ràng là thất bại không phải là do "địch" mạnh, mà do "ta" yếu. Nói rõ hơn, dân trí Việt Kiều, nhất là trong số những người hay về VN, quá yếu kém nên đã không thể thúc đẩy một phong trào dân chủ toàn dân ở trong nước.
Người trong nước thì bị bưng bít thông tin nên mù mờ về khái niệm dân chủ pháp trị đã đành, còn người Việt nước ngoài, những người đă định cư ở những xứ có nền dân chủ pháp trị cao nhất trên thế giới, thì sao ?
Một sự thật đáng buồn : ngoại trừ một số ít trí thức hiếm hoi (tỉ lệ cao hơn ở các nước Châu Âu) có thể viết lách, lý luận và còn chút ưu tư đất nước, còn lại đa số Việt Kiều mặc dù đă tiếp cận với nền văn minh dân chủ Phương Tây đã lâu nhưng đã chẳng học hỏi được gì bởi đa số họ vốn xuất thân từ một lối sống èo uột nửa Tây nửa phong kiến, khi ra được nước ngoài (dù là vượt biên, HO, con lai hay diện ODP) đều chỉ biết có một mục tiêu duy nhất là đồng tiền chứ không biết trau dồi tri thức (lười đọc sách, chỉ nghe nhạc hoặc xem Video).
Họ còn cứ khư khư giữ lấy những cái "Việt Nam" lẽ ra phải bị đào thải từ lâu. Họ sợ lớp trẻ quên tiếng Việt nhưng lại không biết lo rằng coi chừng tiếng Anh của chúng chưa đủ để tiếp cận tinh hoa văn hóa của phương Tây. Họ còn thích nghe những bản nhạc than khóc não nùng èo uột muôn thưở kiểu Việt Nam vốn có khả năng làm con người mềm yếu, mất tính chiến đấu (kiểu băng nhạc Thúy Nga Paris) mà trước năm 1975 đă góp phần vào sự bại trận của miền Nam.
Ngoại ngữ kém cỏi (tiếng Mỹ, Pháp...) cũng là một đặc điểm nữa của cộng đồng Việt Kiều. Không phải là điều đáng ngạc nhiên khi dư luận Mỹ (và ở các quốc gia Châu Âu khác) cho tới giờ này vẫn biết rất ít về công cuộc đấu tranh dân chủ của người Việt hải ngoại. Bởi vì trong đa số VK, khả năng viết, nói và đọc ngoại ngữ rất kém, cho nên không thể trao đổi tư tưởng hoặc truyền đạt thông điệp của mình cho người bản xứ.
Có một sự việc đáng buồn nhưng ít ai biết từ mấy chục năm qua, đến gần đây mới lộ ra. Ở New Orleans, US, nếu không có cơn bão Katrina vừa rồi, thì đâu có ai biết là rất nhiều người Việt định cư ở New Orleans không biết nói tiếng Anh và không thể tiếp xúc với Cảnh Sát khi có việc cần. (đây là những người qua đây từ 1975 đã có cơ nghiệp vững vàng, chứ không phải những người mới qua).
Ở những nơi tập trung đông người Việt như California, Georgia, Texas, và vùng Washington DC, mọi giao dịch đều dùng tiếng Việt, kết quả là tŕnh độ ngoại ngữ của người Việt rất kém.
Đã không tiến bộ, thì phải thụt lùi. Lối tư duy, lý luận và cách hành xử của Việt Kiều giờ này chẳng khá hơn bao nhiêu khi còn ở Việt Nam. Hãy xem xét những hoạt động "văn hóa" của Việt Kiều ở hải ngoại. Có mấy ai đọc sách, suy tư, hoặc viết lách khi rảnh rang. Họ chỉ biết, từ năm này qua năm khác (1984 đến giờ) khi rảnh thì đón mua băng TN Paris để nghe đi lại nghe lại những bài nhạc "quê hương" cũ rích chỉ thay đổi có ca sĩ trình bày và để nghe ông N.N.Ngạn và cô "đào" dài chân mặc váy ngắn (và rất ưa "phô" nó ra) N.C.K Duyên nhai đi lai lại ba cái chuyện đàn ông đàn bà ghen tuông nhảm nhí, thiếu vắng chiều sâu về tâm lư xă hội cũng như nghệ thuật hài hước.
Tương tự như vậy, giới Việt Kiều rất "mê" Hoài Linh và Vân Sơn với những trò hề rẻ tiền được lập đi lập lại muôn thuở : ỏng ẹo giả gái, giả giọng Phú Yên, giọng Bắc, giọng Quảng, lời lẽ chợ trời thô tục.
Những thứ giải trí thô lậu này xem ra vô bổ vô hại, nhưng thật ra là tai hại rất nhiều cho công cuộc đấu tranh dân chủ, vì chúng vô tình đóng góp vào chiến dịch "địch vận" của CSVN ngay trong lòng cộng đồng Việt Kiều. Nếu bạn là một cán bộ địch vận CS, còn gì mừng cho bằng khi những kẻ ngày xưa đă từng lớn tiếng tự nhận là "tị nạn chính trị" phải hy sinh cả tính mạng bản thân và gia đình để "đi tìm bến bờ tự do", giờ này chỉ biết chạy đôn chạy đáo kiếm tiền, cơm ngày 3 bữa no nê nằm ễnh ngửa trên sa lông thưởng thức những băng nhạc hề nhảm nhí, những bản nhạc than khóc hay ca tụng (rỗng tuyếch) quê hương đất nước và hễ có dăm ba ngày nghỉ và dư vài ngàn đô là đem về VN "thả", xây nhà cất cửa, du lịch, ăn nhậu - đàn bà thì khoe khoang đồ trang sức quần áo, đàn ông thanh niên thì đi tìm gái, lấy vợ "hai, hoặc ba".
Mỗi năm, hàng triệu người Việt về thăm quê, ngoại trừ một vài trường hợp hiếm hoi chuyển tải một số tài liệu dân chủ vào trong nước, còn đại đa số là về VN để vung tiền đô la, khoe khoang, hưởng thụ, giải trí. Thậm chí còn buôn lậu nữ trang hoặc ma túy. Khi về VN, họ cố tình ăn mặc cho "ra vẻ VK", họ đi hỏi tiện nghi này nọ, chê bai đường sá, nhà cửa ở VN thiếu tiện nghi. Chẳng trách sao người Việt trong nước vẫn đang nhìn Việt Kiều qua lăng kính "đô la". Dưới mắt họ, Việt Kiều là những "chủng loại" lạ lùng chẳng giống ai từ nước ngoài về, có rất nhiều tiền đô và cách ăn mặc, cư xử, dáng dấp ngoại hình không giống người trong nước (mập, trắng trẻo, xem "sang" hơn, hay đeo cái "bao tử" (túi đựng tiền xu) ở bụng, đeo nhiều vòng vàng nữ trang hơn...), khi nói chuyện thì giả bộ quên tiếng Việt hoặc bập bẹ vài chữ tiếng Anh cho ra vẻ.
Về khía cạnh nhân đạo, không thể khoe khoang hưởng thụ ngay trên quê hương mình vốn vẫn đang rất nghèo với hàng chục triệu người dù phải làm việc cật lực mà mỗi ngày không kiếm được hơn một đô la (khoảng 16 ngàn VNĐ). Nói thẳng ra, đây là hành động vô lương tâm.
Về khía cạnh dân chủ, cách hành xử nhố nhăng của đa số Việt Kiều khi về nước đã vô tình phá hoại (undermine) sự nghiệp đấu tranh của các nhà dân chủ trong cũng như ngoài nước. Đất nước còn nghèo, người VN cần tiền để mưu sinh. Tiền đô có thể giảm cái đói nghèo tạm thời. Nhưng để đổi đời, người Việt Nam cần một chế độ dân sinh dân chủ. Để được như vậy, người Việt trong nước cần những tấm gương dân chủ để noi theo, chứ không phải những tấm gương "đô la" qua lối hành xử nhăng nhít của Việt Kiều hiện nay. Chừng nào mà người dân trong nước nhìn mỗi Việt Kiều về nước như là một biểu tuợng của tinh thần trung thực, nhân ái, công bằng, tự do và dân chủ, trái ngược với hình ảnh mà họ thấy từ những cán bộ Đảng giảo quyệt, tàn ác, tham lam, độc đoán, thì chừng đó sự nghiệp dân chủ cho Việt Nam mới hy vọng có cơ hội.
Không bắt buộc mỗi Việt Kiều về nước phải là một "chiến sĩ dân chủ". Nhiều Việt Kiều bây giờ không màng đến chuyện chính trị vì lý do này khác. Đây là tự do cá nhân của họ, ta không thể bắt buộc. Tuy nhiên, với tư cách là một người Việt Nam sống ở những xứ sở dân chủ có nền dân trí cao độ, họ có trách nhiệm phải thể hiện một lối sống văn hóa xứng đáng với người dân và xứ sở đã cưu mang giúp đỡ họ trong những ngày khốn cùng chân ướt chân ráo mới nhập cư. Chính xã hội mang tính trung thực, năng động, nhân đạo, công bằng, dân chủ cao độ của người dân Tây Phương đă giúp cho người Việt định cư ở nước ngoài có thể hội nhập và thành đạt nhanh chóng.
Vậy thì những người Việt này sau khi thành đạt rồi phải có trách nhiệm, phải học hỏi và thực hành tinh thần này mỗi nơi, mỗi lúc.
Khi ở bản địa thì không được gian lận, luồn lách qua mặt luật pháp (kiểu giả nghèo xin foodstamps, giả ly dị để xin trợ cấp single parents, đi làm tiền mặt để trốn thuế...) để khỏi phá vỡ nền dân chủ quí giá mà chúng ta đang thừa hưởng.
Khi về Việt Nam thì hăy là tấm gương sáng về đạo đức, dân trí để hầu khai sáng dân trí và vô tình hay hữu ý thúc đẩy một lộ trình tự do dân chủ cho Việt Nam.
Mỗi Việt Kiều, khi về Việt Nam, phải ḥa đồng (chứ không ḥa nhập) với người trong nước. Phải ăn như họ. Phải mặc như họ. Phải chịu đựng cái họ phải chịu đựng và phải vui cái vui của họ. Tuy vậy, không đánh mất mình và luôn tận dụng mọi cơ hội để noi gương sáng dân trí. Không cần thiết phải đả động đến các vấn đề chính trị, nhưng phải gieo trồng hạt giống của tư tưởng dân chủ. Đây là con đường tuy dài nhưng thực tế và chắc chắn.
Hăy ngừng chửi Cộng Sản. Hăy làm "dân vận" bằng những hành động cụ thể nhất có thể làm được. Nếu bạn đồng ý với bài viết này, hăy đi mua ngay một máy in rẻ tiền, một xấp giấy in, và in bài viết này gửi tới địa chỉ của những người quen (hay không quen) của bạn ở Mỹ, Úc, Pháp, Đức, Nga..., nhất là những người mà bạn biết rằng hay về VN thăm thân nhân hay du lịch. Đừng sợ mất lòng. Hãy đánh thức lương tâm, khai sáng dân trí của Việt Kiều để mỗi Việt Kiều bình thường khi về nước sẽ là một biểu tượng của tinh thần trung thực, công bằng, nhân ái, tự do và dân chủ.
Trần Bính
Trần Bính
Gửi các bạn ở hải ngoại : Các bạn chửi Cộng Sản 30 năm nay chưa thỏa ḷòng sao ? Đă hơn 30 năm, các bạn cứ tiếp tục chửi bới, và chế độ hà khắc ở VN vẫn tiếp tục tồn tại.
Hiện nay, ngay từ trong nước, đã có nhiều nhà dân chủ đứng lên bất chấp nguy hiểm để đấu tranh, điều này đã bộc lộ rõ những nhượng bộ và yếu kém của chế độ. Nhưng sao đến giờ vẫn chưa có một phong trào dân chủ đủ mạnh để thách thức chế độ ?
Câu trả lời : bao năm qua, ta cứ mãi lo "địch vận": Nói xấu, chửi bới chế độ hoặc kêu gọi chế độ tự thay đổi, mà không lo "dân vận":
Củng cố sức mạnh dân chủ của cộng đồng hải ngoại để thúc đẩy "dân vận" trong nước và bước cuối cùng là tạo nên một sức mạnh toàn dân buộc chế độ phải thay đổi.
Như vậy, rõ ràng là thất bại không phải là do "địch" mạnh, mà do "ta" yếu. Nói rõ hơn, dân trí Việt Kiều, nhất là trong số những người hay về VN, quá yếu kém nên đã không thể thúc đẩy một phong trào dân chủ toàn dân ở trong nước.
Người trong nước thì bị bưng bít thông tin nên mù mờ về khái niệm dân chủ pháp trị đã đành, còn người Việt nước ngoài, những người đă định cư ở những xứ có nền dân chủ pháp trị cao nhất trên thế giới, thì sao ?
Một sự thật đáng buồn : ngoại trừ một số ít trí thức hiếm hoi (tỉ lệ cao hơn ở các nước Châu Âu) có thể viết lách, lý luận và còn chút ưu tư đất nước, còn lại đa số Việt Kiều mặc dù đă tiếp cận với nền văn minh dân chủ Phương Tây đã lâu nhưng đã chẳng học hỏi được gì bởi đa số họ vốn xuất thân từ một lối sống èo uột nửa Tây nửa phong kiến, khi ra được nước ngoài (dù là vượt biên, HO, con lai hay diện ODP) đều chỉ biết có một mục tiêu duy nhất là đồng tiền chứ không biết trau dồi tri thức (lười đọc sách, chỉ nghe nhạc hoặc xem Video).
Họ còn cứ khư khư giữ lấy những cái "Việt Nam" lẽ ra phải bị đào thải từ lâu. Họ sợ lớp trẻ quên tiếng Việt nhưng lại không biết lo rằng coi chừng tiếng Anh của chúng chưa đủ để tiếp cận tinh hoa văn hóa của phương Tây. Họ còn thích nghe những bản nhạc than khóc não nùng èo uột muôn thưở kiểu Việt Nam vốn có khả năng làm con người mềm yếu, mất tính chiến đấu (kiểu băng nhạc Thúy Nga Paris) mà trước năm 1975 đă góp phần vào sự bại trận của miền Nam.
Ngoại ngữ kém cỏi (tiếng Mỹ, Pháp...) cũng là một đặc điểm nữa của cộng đồng Việt Kiều. Không phải là điều đáng ngạc nhiên khi dư luận Mỹ (và ở các quốc gia Châu Âu khác) cho tới giờ này vẫn biết rất ít về công cuộc đấu tranh dân chủ của người Việt hải ngoại. Bởi vì trong đa số VK, khả năng viết, nói và đọc ngoại ngữ rất kém, cho nên không thể trao đổi tư tưởng hoặc truyền đạt thông điệp của mình cho người bản xứ.
Có một sự việc đáng buồn nhưng ít ai biết từ mấy chục năm qua, đến gần đây mới lộ ra. Ở New Orleans, US, nếu không có cơn bão Katrina vừa rồi, thì đâu có ai biết là rất nhiều người Việt định cư ở New Orleans không biết nói tiếng Anh và không thể tiếp xúc với Cảnh Sát khi có việc cần. (đây là những người qua đây từ 1975 đã có cơ nghiệp vững vàng, chứ không phải những người mới qua).
Ở những nơi tập trung đông người Việt như California, Georgia, Texas, và vùng Washington DC, mọi giao dịch đều dùng tiếng Việt, kết quả là tŕnh độ ngoại ngữ của người Việt rất kém.
Đã không tiến bộ, thì phải thụt lùi. Lối tư duy, lý luận và cách hành xử của Việt Kiều giờ này chẳng khá hơn bao nhiêu khi còn ở Việt Nam. Hãy xem xét những hoạt động "văn hóa" của Việt Kiều ở hải ngoại. Có mấy ai đọc sách, suy tư, hoặc viết lách khi rảnh rang. Họ chỉ biết, từ năm này qua năm khác (1984 đến giờ) khi rảnh thì đón mua băng TN Paris để nghe đi lại nghe lại những bài nhạc "quê hương" cũ rích chỉ thay đổi có ca sĩ trình bày và để nghe ông N.N.Ngạn và cô "đào" dài chân mặc váy ngắn (và rất ưa "phô" nó ra) N.C.K Duyên nhai đi lai lại ba cái chuyện đàn ông đàn bà ghen tuông nhảm nhí, thiếu vắng chiều sâu về tâm lư xă hội cũng như nghệ thuật hài hước.
Tương tự như vậy, giới Việt Kiều rất "mê" Hoài Linh và Vân Sơn với những trò hề rẻ tiền được lập đi lập lại muôn thuở : ỏng ẹo giả gái, giả giọng Phú Yên, giọng Bắc, giọng Quảng, lời lẽ chợ trời thô tục.
Những thứ giải trí thô lậu này xem ra vô bổ vô hại, nhưng thật ra là tai hại rất nhiều cho công cuộc đấu tranh dân chủ, vì chúng vô tình đóng góp vào chiến dịch "địch vận" của CSVN ngay trong lòng cộng đồng Việt Kiều. Nếu bạn là một cán bộ địch vận CS, còn gì mừng cho bằng khi những kẻ ngày xưa đă từng lớn tiếng tự nhận là "tị nạn chính trị" phải hy sinh cả tính mạng bản thân và gia đình để "đi tìm bến bờ tự do", giờ này chỉ biết chạy đôn chạy đáo kiếm tiền, cơm ngày 3 bữa no nê nằm ễnh ngửa trên sa lông thưởng thức những băng nhạc hề nhảm nhí, những bản nhạc than khóc hay ca tụng (rỗng tuyếch) quê hương đất nước và hễ có dăm ba ngày nghỉ và dư vài ngàn đô là đem về VN "thả", xây nhà cất cửa, du lịch, ăn nhậu - đàn bà thì khoe khoang đồ trang sức quần áo, đàn ông thanh niên thì đi tìm gái, lấy vợ "hai, hoặc ba".
Mỗi năm, hàng triệu người Việt về thăm quê, ngoại trừ một vài trường hợp hiếm hoi chuyển tải một số tài liệu dân chủ vào trong nước, còn đại đa số là về VN để vung tiền đô la, khoe khoang, hưởng thụ, giải trí. Thậm chí còn buôn lậu nữ trang hoặc ma túy. Khi về VN, họ cố tình ăn mặc cho "ra vẻ VK", họ đi hỏi tiện nghi này nọ, chê bai đường sá, nhà cửa ở VN thiếu tiện nghi. Chẳng trách sao người Việt trong nước vẫn đang nhìn Việt Kiều qua lăng kính "đô la". Dưới mắt họ, Việt Kiều là những "chủng loại" lạ lùng chẳng giống ai từ nước ngoài về, có rất nhiều tiền đô và cách ăn mặc, cư xử, dáng dấp ngoại hình không giống người trong nước (mập, trắng trẻo, xem "sang" hơn, hay đeo cái "bao tử" (túi đựng tiền xu) ở bụng, đeo nhiều vòng vàng nữ trang hơn...), khi nói chuyện thì giả bộ quên tiếng Việt hoặc bập bẹ vài chữ tiếng Anh cho ra vẻ.
Về khía cạnh nhân đạo, không thể khoe khoang hưởng thụ ngay trên quê hương mình vốn vẫn đang rất nghèo với hàng chục triệu người dù phải làm việc cật lực mà mỗi ngày không kiếm được hơn một đô la (khoảng 16 ngàn VNĐ). Nói thẳng ra, đây là hành động vô lương tâm.
Về khía cạnh dân chủ, cách hành xử nhố nhăng của đa số Việt Kiều khi về nước đã vô tình phá hoại (undermine) sự nghiệp đấu tranh của các nhà dân chủ trong cũng như ngoài nước. Đất nước còn nghèo, người VN cần tiền để mưu sinh. Tiền đô có thể giảm cái đói nghèo tạm thời. Nhưng để đổi đời, người Việt Nam cần một chế độ dân sinh dân chủ. Để được như vậy, người Việt trong nước cần những tấm gương dân chủ để noi theo, chứ không phải những tấm gương "đô la" qua lối hành xử nhăng nhít của Việt Kiều hiện nay. Chừng nào mà người dân trong nước nhìn mỗi Việt Kiều về nước như là một biểu tuợng của tinh thần trung thực, nhân ái, công bằng, tự do và dân chủ, trái ngược với hình ảnh mà họ thấy từ những cán bộ Đảng giảo quyệt, tàn ác, tham lam, độc đoán, thì chừng đó sự nghiệp dân chủ cho Việt Nam mới hy vọng có cơ hội.
Không bắt buộc mỗi Việt Kiều về nước phải là một "chiến sĩ dân chủ". Nhiều Việt Kiều bây giờ không màng đến chuyện chính trị vì lý do này khác. Đây là tự do cá nhân của họ, ta không thể bắt buộc. Tuy nhiên, với tư cách là một người Việt Nam sống ở những xứ sở dân chủ có nền dân trí cao độ, họ có trách nhiệm phải thể hiện một lối sống văn hóa xứng đáng với người dân và xứ sở đã cưu mang giúp đỡ họ trong những ngày khốn cùng chân ướt chân ráo mới nhập cư. Chính xã hội mang tính trung thực, năng động, nhân đạo, công bằng, dân chủ cao độ của người dân Tây Phương đă giúp cho người Việt định cư ở nước ngoài có thể hội nhập và thành đạt nhanh chóng.
Vậy thì những người Việt này sau khi thành đạt rồi phải có trách nhiệm, phải học hỏi và thực hành tinh thần này mỗi nơi, mỗi lúc.
Khi ở bản địa thì không được gian lận, luồn lách qua mặt luật pháp (kiểu giả nghèo xin foodstamps, giả ly dị để xin trợ cấp single parents, đi làm tiền mặt để trốn thuế...) để khỏi phá vỡ nền dân chủ quí giá mà chúng ta đang thừa hưởng.
Khi về Việt Nam thì hăy là tấm gương sáng về đạo đức, dân trí để hầu khai sáng dân trí và vô tình hay hữu ý thúc đẩy một lộ trình tự do dân chủ cho Việt Nam.
Mỗi Việt Kiều, khi về Việt Nam, phải ḥa đồng (chứ không ḥa nhập) với người trong nước. Phải ăn như họ. Phải mặc như họ. Phải chịu đựng cái họ phải chịu đựng và phải vui cái vui của họ. Tuy vậy, không đánh mất mình và luôn tận dụng mọi cơ hội để noi gương sáng dân trí. Không cần thiết phải đả động đến các vấn đề chính trị, nhưng phải gieo trồng hạt giống của tư tưởng dân chủ. Đây là con đường tuy dài nhưng thực tế và chắc chắn.
Hăy ngừng chửi Cộng Sản. Hăy làm "dân vận" bằng những hành động cụ thể nhất có thể làm được. Nếu bạn đồng ý với bài viết này, hăy đi mua ngay một máy in rẻ tiền, một xấp giấy in, và in bài viết này gửi tới địa chỉ của những người quen (hay không quen) của bạn ở Mỹ, Úc, Pháp, Đức, Nga..., nhất là những người mà bạn biết rằng hay về VN thăm thân nhân hay du lịch. Đừng sợ mất lòng. Hãy đánh thức lương tâm, khai sáng dân trí của Việt Kiều để mỗi Việt Kiều bình thường khi về nước sẽ là một biểu tượng của tinh thần trung thực, công bằng, nhân ái, tự do và dân chủ.
Trần Bính

Về thăm nghĩa trang xưa
Phan Tấn Đạt Giới thiệu của Giao Chỉ San Jose: Tháng 7, 2007 vừa qua, sau khi Nghĩa trang Biên Hòa tại quận Dĩ An được bàn giao từ bộ đội cho tỉnh Bình Dương, có một cựu quân nhân Việt Nam Cộng Hòa về thăm nghĩa trang xưa. Ông có chụp được một số hình ảnh mới nhất. trong số này có hình các ngôi mộ mới đắp đất cũng do người Việt tại hải ngoại trở về âm thầm tảo mộ các chiến sĩ vô danh. Đặc biệt chụp được tấm hình ngọn kiếm trên Nghĩa dũng đài bị cắt cụt hơn 10 thước làm chòi canh nay đã tháo gỡ trước khi bàn giao. Sau đây là bài ký sự của Phan Tấn Đạt viết từ Canada. Lời văn phóng khoáng với bút hiệu Ngựa Hoang nhưng hết sức chân thành và không dấu được nét ngậm ngùi.
Hôm nay tôi xin sơ lược về chuyến đi thăm”Nghĩa Trang Quân Đội VNCH” tại Biên Hòa với một số hình ảnh chụp trong ngày hôm đó :
Ngày 9 tháng 7 năm 2007 vào khoảng 08.00 AM, tôi dọ hỏi xe ôm về đường đi”Nghĩa Trang QĐ VNCH”, anh ta bảo có biết, mừng quá. Trước khi đi tôi hỏi :
Anh có nón bảo hộ không ? Anh ta bảo : Không sao đâu ! Chú lên đi. Không được. Tôi không sợ tai nạn nhưng luật bắt đi trên quốc lộ phải có nón bảo hộ thì nên làm theo, nếu rủi mà anh bị cảnh sát chận lại giam xe và bị phạt rất nặng.
Điều này tôi không muốn xảy ra cho anh.
Anh ta bảo : Được chú lên tui chở về nhà lấy nón.
Vậy là anh ta đưa về nhà lấy nón. Trong khi lấy nón nghe thấy anh ta hỏi một người bạn xe ôm khác về đường đi, bụng hơi lo, tôi hỏi : Vậy là anh cũng không biết đường đi phải không Không sao, bây giờ thì biết rồi, anh ta bảo. Đằng nào thì cũng đã lên xe anh ta rồi. Suốt 7 năm trong lính tôi chưa một lần ghé thăm Nghĩa Trang này nhưng qua hình ảnh từ vệ tinh thì cũng đã có một khái niệm về vị trí của nó, vì vậy cũng phải đi với anh ta thôi, không lo lắng gì nhiều.
Qua khỏi cầu xa lộ anh ta bắt đầu hỏi đường và chạy rất” lạng quạng ”! Mấy người xe ôm này thật lạ, chạy trong thành phố thì anh ta lạng lách như”anh hùng xa lộ” nhưng ra xa lộ thật thì anh ta lại chạy rất” ngu ngơ”.Thấy xe chạy nhiều và nhanh quá khiến anh ta khớp, do đó chuyên môn chạy sát lề. Mỗi khi cần qua mặt thì anh ta lại qua mặt tay phải của người đi trước. Rất nguy hiểm và rất nhiều lần bị người chạy trước gây khó khăn suýt gặp tai nạn. Vậy mà anh lại trách người ta đi ẩu. Tôi bảo : Anh sai chứ người ta không sai đâu, không bao giờ qua mặt bên phải của người đi trước cả, lỡ người ta đi sát lề hay quẹo phải là anh bị nguy ngay mà phần lỗi là về anh đó !
Dọc đường cứ khoảng 10 phút là anh ta lại kèm sát vào người đi trước để hỏi đường. Tóm lại chúng tôi đi mà không biết bao giờ thì sẽ tới, máu giang hồ nổi lên, tui trở thành là người chỉ huy vì lúc này anh ta bắt đầu than thở : Đi kiểu này không biết đường về !? Tôi an ủi : Đừng lo, đang đi trên quốc lộ 1, đã quẹo lần nào đâu mà sợ lạc ! Cứ đi đi, tui sẽ chỉ đường về cho, đi được là về được. Khoảng 9.30 thì đi ngang qua một chỗ ghé chụp ảnh vì thấy nó quá đặc biệt, nhưng lại quên không hỏi anh ta chỗ này tên là gì. Vài phút sau thì gặp một dãy quán bên đường bảo anh ta ghé vào để hỏi tiếp. Vào hỏi hai ba quán nhưng không ai biết, anh ta có vẻ nản ! Tôi bảo : Anh đứng đây, để tôi đi hỏi cho, hỏi người lớn tuổi một chút chớ hỏi người cỡ tuổi anh thì ai mà biết ! Đi bộ dọc theo các quán kiếm người lớn tuổi để hỏi, cuối cùng thì cũng có người chỉ là đi thêm 15 phút nữa thì sẽ có một ngõ hẻm rẽ trái vào đó là đúng.
Hai đứa lại lên đường, tôi luôn ngó trái để tìm đường. Lúc này thì anh ta chỉ còn biết cố gắng lái xe cho an toàn mà thôi. Người chỉ đường là tôi. Thấy được lối rẽ trái là hai đứa quẹo vào, nhưng khi hỏi thì chẳng ai biết cả. Họ chỉ cái nghĩa trang liệt sĩ về phía bên kia đường. Tôi bực mình quá nên nói : Không tìm nghĩa trang liệt sĩ, tìm Nghĩa Trang của QĐ VNCH hồi trước 75 đó.
trả lời không nghe nói tới. Nhưng đến đoạn này thì tôi mơ hồ thấy theo hình trên vệ tinh thì sắp đến rồi, do đó tui mạnh dạn bảo anh ta, mình đi rà rà phía bên này đường tìm cái ngả rẽ kế tiếp đi. Rồi cũng có cái ngả rẽ thứ hai, hỏi cũng chẳng ai biết, tức quá sinh liều, tui bảo anh ta : cứ vào. Anh ta càm ràm : Đi kiểu này rồi làm sao biết đường về ! Tôi tức cười quá, vừa cười vừa bảo anh ta : Nè, anh là người SAIGON tui là người NHATRANG, ở SAIGON tui không sợ lạc mà sao anh sợ ? Đường về nơi cái lỗ miệng mình! Anh ta cũng cười và nói : Thật sự ra cháu đâu phải sợ lạc, nhưng không ai biết cả thì làm sao đến được! Tôi bảo : Mình chạy đã gần 2 tiếng rồi, tuy không biết chắc chỗ nào nhưng biết là gần đến nơi rồi, chẳng lẽ mình lại bỏ về sao !? Cứ đi, tôi không để anh thua thiệt đâu. Vậy là hai người lên xe tiến thẳng vào ngỏ rẻ đó, quanh qua quẹo lại một hồi thì đi vào một ngã ba có đồng trống trước mặt ! Anh ta ngơ ngác, tui cũng ngơ ngác luôn, vội chỉ cho anh ta đi về ngỏ hướng ra xa lộ vì nghĩ là đi lố rồi Tôi ngó quanh để tìm lối ra khác, ô kìa xa xa, phía bên kia cánh đồng trống, sừng sững trên chân trời là trụ đài của Nghĩa Trang, mừng quá tui vội chỉ cho anh ta thấy : Được rồi ! Đi men treo đám đất trống này, hướng ra xa lộ như thế này là đúng, có ngã trái thì rẻ vào, sau đó nếu có ngã phải thì rẻ ngay, nghĩa trang nằm ở đó đó.
Theo sự chỉ dẫn của tui, nên khi vừa rẽ trái xong là tìm xem có quán hàng nào bán nhang ghé vào mua ngay, để chắc ăn, vừa mua tui vừa hỏi : đây có phải đường vào Nghĩa Trang QD VNCH trước 75 không ? Bà ta bảo : Phải, nhưng bây giờ gọi là” Nghĩa Trang nhân dân À ! thì ra vậy, hèn nào tui hỏi mà không ai biết để chỉ, vì nó đã đổi danh xưng không biết từ lúc nào.
Vào đến đầu Nghĩa Trang thì có hai ba người chạy tới hỏi : Bác tìm ai, tên gì ?. Tôi hơi bất ngờ, vì thật tình đâu có tìm ai ! Đành trả lời liều mạng : Tìm bạn, tên là Nguyễn tấn Đạt. Mấy người đó lại hỏi : Cấp bực và đơn vị nào ?
Bấn quá hàm hồ nói : Bạn từ hồi đi học ngoài đời, sau nghe nó vào lính rồi chết đem về chôn ở đây. Làm gì biết đơn vị và cấp bực của nó đâu ! Mấy người đó bảo : như vậy thì làm sao mà tìm ! Trả lời : thì cũng cầu may thôi, nếu gặp thì tốt, chớ biết đâu bây giờ, mộ bia của nó cũng đã bị thất lạc rồi ! Nếu tìm không ra thì cứ mỗi ngôi mộ tôi đặt một cây nhang cũng đâu có sao, ở đây dù sao cũng toàn bạn bè không hà.Thấy trả lời” trớt giót” mấy tay này chán quá nên một trong số đó vội bảo : Thôi để cho ổng đi tìm ! Kệ ổng!
Quay lại anh xe ôm tôi nói, Anh ở đây tôi đi vào một mình được rồi, khi nào xong hết nhang rồi tụi mình về. Tôi đi vào trong xa, cho đến khi ngó lại sau lưng không còn thấy mấy người đó là tui bắt đầu chụp hình.
Thấy phía trước, sau lùm cây có một người đàn bà đang làm cỏ bèn đi đến hỏi : Có ai thuê chị làm cỏ ngôi mộ này phải không ? Dạ. Chỉ một ngôi mộ này thôi phải không ? Dạ. Tui móc túi lấy ra 100.000 đồng VN đưa cho chị và bảo : Nếu chị chưa thấy mệt thì sau khi làm xong ngôi mộ này, nhờ chị làm giúp cho những ngôi mộ kế bên luôn nghe, làm được bao nhiêu là tùy sức của chị thôi nghe, không bắt buộc phải làm quá sức đâu. Chị ta bảo : Dạ bác nhờ thì con làm chớ, nhưng bác đừng đưa tiền, mấy người kia họ thấy là họ rầy rà con đó. Tui ngó ra phía sau, thấy không có ai nên vội bảo : Không có ai thấy đâu mà, chị cầm lẹ đi, chị đó ngẩng đầu lên nhận tiền. Tôi vội vàng đi chỗ khác và chụp tiếp
Có một số ngôi mộ mới đắp, chung quanh không có một ngọn cỏ nào, nhưng sao lại sát nhau quá vậy, không giống như khoảng cách của các ngôi mộ cũ, lòng thắc mắc nhưng không lại xem vì còn rất nhiều mộ cần phải chụp hình...
Thấy chụp như vậy coi như cũng tạm đủ, tìm một chỗ tránh gió,bắt đầu thắp nhang cắm trước các ngôi mộ. Trong lòng đã định trên mỗi ngôi mộ sẽ đặt một cây nhang thôi và đặt cho đến khi nào hết mới về. Nào ngờ ham mua bó nhang thật lớn vì vậy khi nhang đã cháy đều thì vì có gió nên cho dù có tách ra như thế nào thì cũng không tắt được ngọn lửa. Phải hướng bó nhang thẳng đứng để tránh sức nóng, nhưng chỉ đặt được khoảng 30 ngôi mộ thì nhang đã cháy hơn một nửa. Vì gió nên sức nóng táp vào bắp tay làm cháy hết lông măng trên tay luôn, không còn cách nào hơn, đành tách ra nhóm nhỏ và đặt trên một ngôi mộ lòng thầm khấn xin chia cho các người chung quanh, Vội đi tới một khoảng cách khác và cũng làm như vậy. Phải làm đến trên 5 lần như vậy mới hết bó nhang.
Đứng ngó quanh lòng buồn vô hạn vì thấy sao mà tang thương hoang vắng quá thế này. Định đi lên Vành khăn tang chụp thêm vài tấm hình nữa nhưng chợt thấy hình như có tụi bộ đội thấp thoáng phơi áo quần ở các khung vuông dưới vành khăn nên ngần ngừ không biết tính như thế nào, chợt nghe có tiếng xe ôm đến gần, nhìn lại thì anh xe ôm của đến để dục về. Vội quay lại chụp một vài tấm nữa trước khi ra về. Nhưng mới chụp được một tấm thì anh xe ôm đã bảo nhỏ : Trời ơi ! Chú coi chừng bị thâu máy hình đó nghe ! Giật mình, vội bỏ máy hình vào túi quần leo lên xe,”dông”. Cuối cùng thì cũng thấy được xa lộ và trực chỉ về SAIGON.
Nguyễn Tấn Đạt (Canada)
Không ai yêu Việt Nam hơn Việt Cộng
Nguyễn Ðạt Thịnh Chủ tịch thượng viện Ba Lan, nghị sĩ Bogdan Borusewicz kể lại cho cô Vân Anh, thông tín viên đài phát thanh RFA, nghe cuộc đàm thoại giữa ông và Nguyễn Tấn Dũng.
"Thủ tướng Việt Nam nói rằng không ai yêu Việt Nam hơn chính quyền Việt Nam," ông Borusewicz kể. "Và rốt cuộc Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói nếu Lê Thị Công Nhân muốn đi ra nước ngoài thì cô ấy sẽ được Việt Nam cho đi."
Câu nói chỉ có 2 vế mà nội dung vô cùng xúc tích. Vế thứ nhất "không ai yêu Việt Nam hơn chính quyền Việt Nam," vừa thật thà ngây ngô, vừa khôi hài rẻ tiền, đủ giúp Mao Tôn Cương bàn mòn đến vài cây bút nguyên tử vẫn chưa hết chuyện bàn.
Nghị sĩ Borusewicz bàn là Dũng không nên yêu nước bằng cách bỏ tù những người đối lập vì những chiến sĩ dân chủ cũng chỉ làm điều mà Dũng tự cho là mình đang làm: yêu nước. Hành động độc quyền yêu nước của Dũng đưa tới nhà thơ Nguyễn Bính và bài thơ "Ghen" bất hủ của ông với bốn câu cũng vô cùng bất hủ đuợc Dũng cụ thể hoá bằng việc bắt bỏ tù tất cả những ai dám yêu Việt Nam.
Bốn câu thơ đó,
Nghĩa là ghen quá đấy mà thôi,
Thế nghĩa là yiu quá mất zồi.
Và nghĩa là cô là tất cả,
Cô là tất cả của riêng tôi.
Mỗi người một cách Nguyễn Bính và Bùi Tiến Dũng giúp mọi người hiểu tình yiu nước của Nguyễn Tấn Dũng; Nguyễn Bính bắt mạch tìm ra căn bệnh ghen; Tiến Dũng tố cáo con vi khuẩn "bờ mu 18" trong máu Tấn Dũng.
Qua vế thứ nhì của câu nói "… nếu Lê Thị Công Nhân muốn đi ra nước ngoài thì cô ấy sẽ được Việt Nam cho đi." Câu này giúp người Việt hải ngoại lật tẩy Nguyễn Tấn Dũng một cách công khai trước dư luận quốc tế.
Cộng đồng người Việt hải ngoại tại Hoa Kỳ có thể lập ngay một team gồm luật sư, chính khách, nhà văn, nhà báo, những người Mỹ gốc Việt thành danh trên thương trường, trong khoa học, những chính khách Mỹ bênh vực dân chủ Việt Nam như Laura Sanchez, Chris Smith, v. v… , đứng ra làm những thủ tục cần thiết để yêu cầu Dũng thả người nữ luật sư anh hùng Lê thị Công Nhân ra và để cô qua sống tại Hoa Kỳ.
Việt Cộng sẽ phải trơ mặt mo ra vì không thể nào chúng dám trả tự do cho cô Công Nhân. Chúng ý thức đuợc giá trị của cô tạo khí thế "tập họp" những tiềm năng chống cộng riêng rời của người Việt hải ngoại hiện nay thành một khối; chúng không muốn khối lớn lao đó thành hình, vì chỉ đối phó với từng mảnh Ba Lan, Pháp, Hoa Kỳ, Úc, v.v… Dũng và Triết cũng đã chóng mặt lắm rồi.
Thêm một lời bàn bên lề: chỉ dấu khiến nhân viên an ninh tháp tùng Nguyễn Tấn Dũng thấy là bất an cho Dũng. Ðài RFA viết, "Chuyến đi của thủ tướng Việt Nam tới Ba Lan mang đến những bất ngờ. Bắt đầu là thư ngỏ kêu gọi nhân quyền cho Việt Nam gửi Tổng Thống, Thủ Tướng và chính quyền Ba Lan, sau đó là cuộc biểu tình nêu giá trị truyền thống Ba Lan bên ngoài phủ Thủ tướng.
"Cuộc hội ngộ hai vị Thủ tướng ngoặt sang ngã khác khi báo chí Ba Lan rầm rộ đưa tin về vụ an ninh Việt Nam báo động bất an chỉ vì phát hiện thấy sự có mặt của ký giả của đài Á Châu Tự Do RFA trong phủ Thủ tướng Ba Lan.
Hôm thứ Hai 17-9, một nguồn tin khác lại tới: Chủ tịch Thượng Viện Cộng Hòa Ba Lan, ông Bogdan Borusewicz tiết lộ có tiếp xúc với Thủ tướng Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, nói về những quan ngại trước vấn đề ‘hạn chế quyền công dân tại Việt Nam’ và ‘chính quyền Việt Nam sẵn sàng thả cô Công Nhân khỏi tù để cô ấy sang cư ngụ tại Ba Lan’.
"Tin được tiết lộ trong thư ngỏ gửi Chủ tịch Ủy ban Bảo Vệ Người Lao Động Việt Nam, ông Trần Ngọc Thành."
Cô Vân Anh trông cũng hiền hoà, xinh đẹp như đa số đàn bà Việt Nam, nhưng nhân viên an ninh Việt Cộng lại thấy cô là một đe dọa cho boss của họ. Thử đoán xem tại sao họ lại thấy như vậy.
Lý do thứ nhất khiến phái đoàn Việt Nam yêu cầu "mời" cô Vân Anh ra khỏi buổi lễ tiếp đón Nguyễn Tấn Dũng vì Vân Anh là một người đàn bà, do đó cô có thể giống hai người đàn bà khác mà Dũng sợ là cô Nguyễn Thị Ngọc Hạnh và cô Lê thị Công Nhân; lý do thứ nhì khiến Vân Anh bị coi là một yếu tố làm mất an ninh của Dũng là cô là một ký giả và cô không chịu đi trên lề mặt của con đuờng tự do báo chí đuợc Việt Cộng vẽ vạch.
Thêm một lời bàn bên lề chuyến công du Ba Lan của Nguyễn Tấn Dũng: nghị sĩ Borusewicz nói với cô Vân Anh, "Trong cuộc gặp, tôi có thổ lộ quan ngại của tôi về những hạn chế quyền công dân tại Việt Nam. Tôi đưa ra danh sách dài tên tuổi các tù nhân chính trị. Tôi có nhắc tới linh mục Tadeo Nguyễn Văn Lý, hòa thượng Thích Quảng Độ và cả cô Lê Thị Công Nhân, ông Nguyễn Văn Đài, những nhà dân chủ tiên phong trẻ tuổi tháng hai vừa qua bị kết án nhiều năm tù.
"Tôi có nói, rằng vấn đề tù nhân chính trị tại Việt Nam cản trở quan hệ chính trị Việt Nam, Ba Lan. Tôi có nói rằng tôi cũng từng là tù nhân chính trị và hiện tôi là chủ tịch Thượng Viện."
Ông Borusewicz quên không nói cho Dũng biết số phận của ông thủ tướng chính phủ cộng sản Ba Lan hiện đang nằm ấp hay tị nạn tại Nga; chi tiết này có thể giúp Dũng suy ngẫm về độc quyền yêu nước của bộ ba Mạnh, Triết, Dũng.
Lời bàn chót nhưng chưa phải là lời bàn cuối cùng: Xin ban tổ chức biểu tình dàn chào Nguyễn Tấn Dũng chuẩn bị cấp tốc 500 bích chương mới in ảnh cô Lê Thị Công Nhân và những khẩu hiệu đòi trả tự do cho cô. Bích chương đó có giá trị thời sự và có tác dụng làm Dũng chóng mặt, như Triết đã chóng mặt vị dị ứng cờ vàng.
Nguyễn Ðạt Thịnh
Nguyễn Ðạt Thịnh Chủ tịch thượng viện Ba Lan, nghị sĩ Bogdan Borusewicz kể lại cho cô Vân Anh, thông tín viên đài phát thanh RFA, nghe cuộc đàm thoại giữa ông và Nguyễn Tấn Dũng.
"Thủ tướng Việt Nam nói rằng không ai yêu Việt Nam hơn chính quyền Việt Nam," ông Borusewicz kể. "Và rốt cuộc Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói nếu Lê Thị Công Nhân muốn đi ra nước ngoài thì cô ấy sẽ được Việt Nam cho đi."
Câu nói chỉ có 2 vế mà nội dung vô cùng xúc tích. Vế thứ nhất "không ai yêu Việt Nam hơn chính quyền Việt Nam," vừa thật thà ngây ngô, vừa khôi hài rẻ tiền, đủ giúp Mao Tôn Cương bàn mòn đến vài cây bút nguyên tử vẫn chưa hết chuyện bàn.
Nghị sĩ Borusewicz bàn là Dũng không nên yêu nước bằng cách bỏ tù những người đối lập vì những chiến sĩ dân chủ cũng chỉ làm điều mà Dũng tự cho là mình đang làm: yêu nước. Hành động độc quyền yêu nước của Dũng đưa tới nhà thơ Nguyễn Bính và bài thơ "Ghen" bất hủ của ông với bốn câu cũng vô cùng bất hủ đuợc Dũng cụ thể hoá bằng việc bắt bỏ tù tất cả những ai dám yêu Việt Nam.
Bốn câu thơ đó,
Nghĩa là ghen quá đấy mà thôi,
Thế nghĩa là yiu quá mất zồi.
Và nghĩa là cô là tất cả,
Cô là tất cả của riêng tôi.
Mỗi người một cách Nguyễn Bính và Bùi Tiến Dũng giúp mọi người hiểu tình yiu nước của Nguyễn Tấn Dũng; Nguyễn Bính bắt mạch tìm ra căn bệnh ghen; Tiến Dũng tố cáo con vi khuẩn "bờ mu 18" trong máu Tấn Dũng.
Qua vế thứ nhì của câu nói "… nếu Lê Thị Công Nhân muốn đi ra nước ngoài thì cô ấy sẽ được Việt Nam cho đi." Câu này giúp người Việt hải ngoại lật tẩy Nguyễn Tấn Dũng một cách công khai trước dư luận quốc tế.
Cộng đồng người Việt hải ngoại tại Hoa Kỳ có thể lập ngay một team gồm luật sư, chính khách, nhà văn, nhà báo, những người Mỹ gốc Việt thành danh trên thương trường, trong khoa học, những chính khách Mỹ bênh vực dân chủ Việt Nam như Laura Sanchez, Chris Smith, v. v… , đứng ra làm những thủ tục cần thiết để yêu cầu Dũng thả người nữ luật sư anh hùng Lê thị Công Nhân ra và để cô qua sống tại Hoa Kỳ.
Việt Cộng sẽ phải trơ mặt mo ra vì không thể nào chúng dám trả tự do cho cô Công Nhân. Chúng ý thức đuợc giá trị của cô tạo khí thế "tập họp" những tiềm năng chống cộng riêng rời của người Việt hải ngoại hiện nay thành một khối; chúng không muốn khối lớn lao đó thành hình, vì chỉ đối phó với từng mảnh Ba Lan, Pháp, Hoa Kỳ, Úc, v.v… Dũng và Triết cũng đã chóng mặt lắm rồi.
Thêm một lời bàn bên lề: chỉ dấu khiến nhân viên an ninh tháp tùng Nguyễn Tấn Dũng thấy là bất an cho Dũng. Ðài RFA viết, "Chuyến đi của thủ tướng Việt Nam tới Ba Lan mang đến những bất ngờ. Bắt đầu là thư ngỏ kêu gọi nhân quyền cho Việt Nam gửi Tổng Thống, Thủ Tướng và chính quyền Ba Lan, sau đó là cuộc biểu tình nêu giá trị truyền thống Ba Lan bên ngoài phủ Thủ tướng.
"Cuộc hội ngộ hai vị Thủ tướng ngoặt sang ngã khác khi báo chí Ba Lan rầm rộ đưa tin về vụ an ninh Việt Nam báo động bất an chỉ vì phát hiện thấy sự có mặt của ký giả của đài Á Châu Tự Do RFA trong phủ Thủ tướng Ba Lan.
Hôm thứ Hai 17-9, một nguồn tin khác lại tới: Chủ tịch Thượng Viện Cộng Hòa Ba Lan, ông Bogdan Borusewicz tiết lộ có tiếp xúc với Thủ tướng Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, nói về những quan ngại trước vấn đề ‘hạn chế quyền công dân tại Việt Nam’ và ‘chính quyền Việt Nam sẵn sàng thả cô Công Nhân khỏi tù để cô ấy sang cư ngụ tại Ba Lan’.
"Tin được tiết lộ trong thư ngỏ gửi Chủ tịch Ủy ban Bảo Vệ Người Lao Động Việt Nam, ông Trần Ngọc Thành."
Cô Vân Anh trông cũng hiền hoà, xinh đẹp như đa số đàn bà Việt Nam, nhưng nhân viên an ninh Việt Cộng lại thấy cô là một đe dọa cho boss của họ. Thử đoán xem tại sao họ lại thấy như vậy.
Lý do thứ nhất khiến phái đoàn Việt Nam yêu cầu "mời" cô Vân Anh ra khỏi buổi lễ tiếp đón Nguyễn Tấn Dũng vì Vân Anh là một người đàn bà, do đó cô có thể giống hai người đàn bà khác mà Dũng sợ là cô Nguyễn Thị Ngọc Hạnh và cô Lê thị Công Nhân; lý do thứ nhì khiến Vân Anh bị coi là một yếu tố làm mất an ninh của Dũng là cô là một ký giả và cô không chịu đi trên lề mặt của con đuờng tự do báo chí đuợc Việt Cộng vẽ vạch.
Thêm một lời bàn bên lề chuyến công du Ba Lan của Nguyễn Tấn Dũng: nghị sĩ Borusewicz nói với cô Vân Anh, "Trong cuộc gặp, tôi có thổ lộ quan ngại của tôi về những hạn chế quyền công dân tại Việt Nam. Tôi đưa ra danh sách dài tên tuổi các tù nhân chính trị. Tôi có nhắc tới linh mục Tadeo Nguyễn Văn Lý, hòa thượng Thích Quảng Độ và cả cô Lê Thị Công Nhân, ông Nguyễn Văn Đài, những nhà dân chủ tiên phong trẻ tuổi tháng hai vừa qua bị kết án nhiều năm tù.
"Tôi có nói, rằng vấn đề tù nhân chính trị tại Việt Nam cản trở quan hệ chính trị Việt Nam, Ba Lan. Tôi có nói rằng tôi cũng từng là tù nhân chính trị và hiện tôi là chủ tịch Thượng Viện."
Ông Borusewicz quên không nói cho Dũng biết số phận của ông thủ tướng chính phủ cộng sản Ba Lan hiện đang nằm ấp hay tị nạn tại Nga; chi tiết này có thể giúp Dũng suy ngẫm về độc quyền yêu nước của bộ ba Mạnh, Triết, Dũng.
Lời bàn chót nhưng chưa phải là lời bàn cuối cùng: Xin ban tổ chức biểu tình dàn chào Nguyễn Tấn Dũng chuẩn bị cấp tốc 500 bích chương mới in ảnh cô Lê Thị Công Nhân và những khẩu hiệu đòi trả tự do cho cô. Bích chương đó có giá trị thời sự và có tác dụng làm Dũng chóng mặt, như Triết đã chóng mặt vị dị ứng cờ vàng.
Nguyễn Ðạt Thịnh
Đinh Hùng, những bài thơ không tuổi
Nguyễn Mạnh Trinh
Thơ, ở cực độ truyền cảm nhất là những câu “nhập thần”. Những câu là châu báu trời cho, những tứ là những kho tàng lộ diện, những vần là điệu nhạc vô biên. Ngày xưa Nghiêm Vũ đời Tống trong Thương Lang Thi Thoại đã viết đại ý, “Ðiểm tuyệt diệu nhất của thơ chỉ có một, đó là nhập thần. Thơ mà đạt tới mức nhập thần thì tận thiện tận mỹ. Và không thể thêm được bất cứ điều gì. Duy chỉ có Lý Bạch, Ðỗ Phủ đạt được thôi còn những người khác hiếm hoi lắm...”
Với riêng tôi, Ðinh Hùng có những câu thơ hoặc bài thơ “nhập thần” như Nghiêm Vũ diễn tả. Không biết tôi có chủ quan quá độ hay không, nhưng có nhiều bài thơ khi tôi đọc xong như bị lạc vào một thế giới của không gian thời gian nào và ngôn từ không đủ sức để giải thích những cảm giác huyền nhiệm ấy. Ðọc thơ Ðinh Hùng, cảm được những biểu tượng riêng, và nghe và thấy được những ngôn ngữ riêng của bản sắc độc đáo không bị trộn lẫn.
Ðọc, để thấy cảnh và người, ngôn ngữ và ý tưởng hòa đồng cùng nhau. Bản sắc của cảnh và nội tâm của người như có một tương quan mật thiết, cảnh gợi nên ý, ý gợi nên lời, lời gợi nên cảm... Ðọc bài Ðường Trưa, để thấy một phác họa người qua cảnh, của nỗi buồn mênh mang, đầy cảm xúc:
“Lá xanh che khuất đường trưa
Bóng thêu hoa nắng, lưa thưa điểm vàng
Trời cao lắng xuống trường giang
Hững hờ thay! Áng mây hàng trôi qua
Mây kia còn mải nghĩ xa
Hồ lim dim ngủ chói lòa ánh gương
Nhạc buồn một điệu thê lương
Kèn ve nổi tiếng xót thương mấy hồi
Buổi trưa ngừng giữa lòng tôi
Ái tình đỏ sắc hoa rơi đầu cành
Chừng nghe qua bóng lá xanh
Có chân ai lặng bước nhanh trong sầu?”
Thơ Ðinh Hùng đầy những khát vọng, của những giấc mơ, của tuổi hoa niên mới lớn, của những bước chân hăm hở vào đời. Thơ xôn xao giấy mực, thơ như tấm lòng trải rộng theo chiều bát ngát đất trời.
Khi tuổi trẻ, tấm lòng thường rộng mở với những mơ mộng trăng sao. Có một chút không bằng lòng với hiện tại, trí tưởng tượng mở ra đến tận những phương trời. Lúc ấy, thi ca góp vào những cánh tay mở toang khung cửa để mây lồng lộng trời cao và gió phiêu du muôn bến.
“Khi mới lớn tuổi mười lăm mười bảy
Làm học trò mắt sáng với môi tươi
Ta bước lên chân vẫn dạo bên người
Ngoài cặp sách trần ai coi cũng nhẹ
Ðời thấp thoáng qua học đường nhỏ bé
Phố phường vui cuộc sống mới lên hoa
Ta ngồi nghe những tiếng thị thành xa
Hồn lơ đãng mộng ra ngoài cửa lớp
Nắng thuở đó khiến lòng ta hồi hộp
Ta nhìn cao mới rõ bị giam cầm
Ôi tiếng nào vang mấy bức tường câm?
Không khí nặng mơ hồ thầy với bạn
Ta nhớn lên bước đường không giới hạn
Có lẽ đâu kìm giữ bởi tay người
Tuổi hoa hồng - kiêu hãnh của ta ơi
Tình đã hẹn ở trên đường nắng mới...”
Ðọc những câu thơ như thế làm sao mà không xôn xao trong lòng. Thế giới mở ra, ôi sao mênh mông quá! Mê nhất là nhìn theo những cánh chim để trí tưởng tượng vút lên, cao rất cao lên đến đỉnh trời. Ôi tuổi trẻ hơn hớn xanh màu mắt và bồng bềnh bờ tóc bay. Ðọc thơ, để mường tượng một chân dung thi sĩ, nhà thơ Ðinh Hùng. Và cũng để hồi tưởng lại một thời của mình, ở thành phố Sài Gòn tràn đầy kỷ niệm. Những buổi trưa trốn học, nằm lăn trên bãi cỏ xanh, nhìn theo những sợi mây bay lãng đãng trên những ngọn cây dầu cao vút để hồn lơ mơ với giấc mơ, với những tà áo bay bay trong tưởng tượng, của những mắt liếc hẹn hò, của tâm tình xôn xao muốn ngỏ. Ðọc thơ để thấy mình là một chú gà trống ngu ngơ nhưng tưởng như một anh hùng vô địch oai hùng trong cuộc đời và lãng mạn trong cuộc tình. Ðọc thơ, để vô vàn những khao khát nổ bùng, của tưởng tượng về ngày mai, của tràn đầy hoa gấm và nồng hương tình ái...
Cuộc đời Ðinh Hùng như có một phận số riêng và thi ca cũng có một số phận khác. Cái thể chất ẻo lả cộng thêm tàn phá của nàng tiên nâu làm ông không có tuổi thọ. Thơ của ông, ngược lại, như không có tuổi và với lớp người đọc sau, luôn luôn có sinh động riêng và có đời sống văn chương dài hơn nhiều tuổi thọ.
Ngày 24 Tháng Tám là ngày giỗ Ðinh Hùng. Ông mất năm 1967, thọ 47 tuổi. Một đời thi sĩ có lẽ khá ngắn nhưng tác phẩm đã có đời sống dài hơn gấp bội. Hai tập thơ “Mê Hồn Ca” và “Ðường Vào Tình Sử” có những bài thơ được coi như là tuyệt tác của một thời kỳ văn chương nở rộ. Chương trình ngâm thơ “Tao Ðàn “ do ông chủ trương với tiếng nói mở đầu truyền cảm đã bao nhiêu năm trở thành một biểu tượng thi ca của miền Nam tự do.
Với những người làm thơ, Ðinh Hùng có vị trí của một vì sao Bắc Ðẩu. Khi miền Nam bị cộng sản miền Bắc xâm chiếm, nhà thơ Trần Dần đã nhắn vào cho gia đình nhà thơ Vũ Hoàng Chương, “Anh yên tâm, với chúng tôi, thơ của anh và Ðinh Hùng vẫn có giá trị để được trọng vọng như thời tiền chiến...”
Cũng như về sau, trong cuộc mạn đàm với các văn nghệ sĩ ở Huế, Trần Dần đã xác nhận một lần nữa tấm lòng trân trọng với thơ Ðinh Hùng trong khi Hoàng Phủ Ngọc Tường thì chê rằng thơ “lòe loẹt ghê ghê mùi son phấn thế nào ấy”. Khi được hỏi trong các nhà cầm bút thời tiền chiến thích ai nhất thì Trần Dần trả lời ngay; Vũ Trọng Phụng, Vũ Hoàng Chương và Ðinh Hùng. Và ông khẳng định: Ðinh Hùng là thi sĩ tượng trưng đầu tiên của Việt Nam với tập “Mê Hồn Ca”.
Ðinh Hùng thi sĩ và Ðinh Hùng nghệ sĩ đã có người tri kỷ là nhà văn Thạch Lam, một người cũng có tuổi thọ khá ngắn nhưng văn chương tài hoa. Ðinh Hùng đã làm bài thơ Gửi Hương Hồn Thạch Lam như muốn sẻ chia tâm sự với người chung mang nỗi niềm tâm sự:
“Nhớ xưa cùng bóng dạ lan hương
Anh với tôi nằm mộng canh trường
Giường kế bên cửa, hoa kề gối
Anh truyện sầu, tôi truyện mến thương
Tôi với anh giường chung mộng chung
Vì duyên thơ mới có duyên lòng
Anh buồn tự thuở trăng lên núi
Ấy độ tôi hoài ước lại mong
Ai biết lòng anh thương nhớ đâu
Gần nhau không nói, nói không sầu
Cầm tay hỏi mộng, buồn như tủi
Thầm hiểu anh thôi, lặng cúi đầu
Tôi cảm thương vì hai chúng ta
Tuổi đang xuân mà bóng sang già
Ðêm nào tôi mộng buồn riêng gối
Anh đã nằm yên dưới mộ hoa
Anh lánh mưa Xuân nép cửa sầu
Ðêm nằm ghê gió lạnh canh thâu
Gặp nhau nắm chặt tay lần cuối
Anh khép hàng mi chẳng nguyện cầu...”
Thời tiền chiến, giai phẩm Dạ Ðài với sự góp mặt của Trần Dần, Ðinh Hùng, Trần Mai Châu, Vũ Hoàng Ðịch... đã tỏ lộ một khuynh hướng thi ca mới của thơ tượng trưng. Và khuynh hướng này là một khuynh hướng nổi bật của thi ca Việt Nam với các tầm vóc như Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Ðinh Hùng, nhóm Xuân Thu Nhã Tập, Chế Lan Viên thời trước 1945...
Võ Văn Ái, trong tác phẩm “ Bốn Mươi Năm Thơ Việt Nam/1945-1985 “ đã viết về Ðinh Hùng như sau:
“...Ám ảnh vì cái chết từ lúc bé, Ðinh Hùng hướng về nguồn thơ tượng trưng... Vì tượng trưng là âm bản của thực tại. Như chết là âm bản của sống. Thơ tượng trưng thoát mình, rời xa thực tại đang sống, đi tìm cái khuôn âm bản để xem thực tại ấy có là mặt-mày xưa-nay vốn được đúc nặn từ đầu. Hay chỉ là những tam sao thất bổn? Thơ dựng lên khuôn mặt giai nhân, hoặc dựng lên cái tiền cảm bao quanh, tượng trưng cho khuôn mặt ấy, thì vẫn là niềm thơ như thật của muôn thuở. Ðó là giải thích theo tâm cảnh thơ Việt Nam. Trong thực tế, hầu như tất cả các nhà thơ tiền chiến đều chịu ảnh hưởng của các thi sĩ Pháp, đặc biệt là Beaudelaire, Mallarmé, Rimbaud. Cũng như sau này thi ca miền Bắc chịu ảnh hưởng của các nhà thơ Nga, và miền Nam lại tiếp tục chịu ảnh hưởng các nhà thơ Pháp với những Eluard, Aragon, Jacques Prevert...
Năm Ðinh Hùng lên 11, chị Tuyết Hồng, hoa khôi Hà Nội, đã tự tử trên hồ Trúc Bạch. Mấy tháng sau thân phụ chàng đau nặng rồi thất lộc. Chị Loan, một người chị khác lại mất ba năm sau. Qua năm 18 tuổi chớm mối tình đầu, Ðinh Hùng yêu một người có họ xa, nhưng người con gái măng tơ và liêu trai này cũng chết. Tập thơ Truyện Lòng in trong Ðường Vào Tình Sử năm 1961 chính là tập thơ đã sáng tác từ năm 1938. Tiếp đến người bạn thân yêu nhất của đời chàng là Thạch Lam cũng bỏ chàng đi năm 42 tuổi vì bệnh lao...
Bây giờ ta hiểu nỗi chết đã ám ảnh đeo đuổi Ðinh Hùng như hình với bóng, đốt thắp tâm tư chàng. Ðinh Hùng không chạy trốn, chàng hàm dưỡng ngọn lửa ấy cho nguồn thơ tượng trưng...”
Lúc còn sống, nhà văn Mai Thảo và nhà thơ Nguyên Sa cũng đặc biệt yêu mến thơ Ðinh Hùng. Nhiều lần, nhà văn Mai Thảo đã đọc hầu như gần hết tập thơ Mê Hồn Ca trong những buổi họp mặt văn nghệ. Chắc phải yêu mến lắm nên mới thuộc lòng như vậy. Với phong cách đặc biệt, kèm theo những nhận xét dí dỏm nhưng chính xác, ông đã làm thơ Ðinh Hùng thành một không gian thơ đặc biệt mà mọi người tham dự mãi năm tháng dài về sau không thể quên...
Nhà thơ Nguyên Sa cũng vậy. Ông thường nói về thơ Ðinh Hùng với tất cả những lời khen tặng. Khi tôi và ông cùng thực hiện tủ sách Tác Giả Tác Phẩm của nhà xuất bản Ðời, cuốn đầu tiên là viết về Ðinh Hùng...
Nhà văn Tạ Tỵ trong cuốn “ Những Khuôn Mặt Văn Nghệ Ðã Ði Qua Ðời Tôi” cũng đã phác họa chân dung Ðinh Hùng qua từng thời kỳ, khi trai trẻ đến lúc tham gia dòng thơ tiền chiến, từ lúc kháng chiến rồi hồi cư về Hà Nội, đến khi di cư vào Nam, làm chương trình thi ca Tao Ðàn...
“...Ðinh Hùng nhìn tôi nhếch mép cười, cái cười ngạo mạn vì lúc gặp Ðinh Hùng lần đầu, tôi là tên ‘mặt trắng’ còn Ðinh Hùng tuy chưa có tác phẩm nhưng đã được nhiều người biết tiếng. Ðây là trường hợp duy nhất của người làm thơ nổi tiếng trước khi có tác phẩm hoặc có nhiều bài đăng tải trên báo chí! Có lẽ thơ của Ðinh Hùng mới quá đi trước thời đại chăng?
Tôi mỉm cười xã giao bắt tay Ðinh Hùng. Ôi chao bàn tay gì bé và mềm thế, như tay đàn bà! Về sau này tôi được một người bạn cho biết, khi còn học ở trường Bưởi, Hùng cũng rất đẹp trai và ham tập thể thao lắm, đã bơi ngang Hồ Tây, tuy nhỏ nhưng thân hình cân đối và thi sĩ Huyền Kiêu, người bạn cùng lớp học đã mê Hùng như mê người tình, giống như trường hợp Xuân Diệu Huy Cận vậy. Ngoài tài làm thơ, Ðinh Hùng còn chơi nhạc, đánh đàn mandoline, những khúc nhạc của Mozart, Beethoven, và Beach rất hay. Hùng cũng biết vẽ lăng nhăng và chữ viết rất bay bướm. Khi học trường Bưởi, Ðinh Hùng phụ trách báo tay cùng với thi sĩ Huyền Kiêu. Ðinh Hùng ở một căn gác nhỏ trên đê Yên Phụ gần Ngọc Hà và bài thơ ‘Xin Hãy Yêu Tôi’ có những câu... ‘Tôi mở sẵn một phòng sầu bé nhỏ. Riêng một đèn, một gối một tình yêu... ’ ’ là chính căn gác này đã tạo cho thi nhân nguồn cảm hứng đó. Từ đầu đề yên phụ, buổi tối nào ‘đi xóm’ (tức đi hát cô đầu) thì thôi, còn không Ðinh Hùng cuốc bộ từ đó đến tiệm hút sau đền Bà Kiệu, phía bên Hồ Hoàn Kiếm, để họp bạn cùng vui thú yên hà. Ðinh Hùng năm ấy (1940-1941) hãy còn trẻ lắm, mới trên dưới 20 tuổi mà đã đam mê gắn bó với Phù Dung tiên nữ, dưới ánh đèn, mặt Hùng tái xanh, riêng đôi mắt sáng long lanh biểu lộ sự thông minh tuyệt vời...”
Riêng tôi, đọc hai tập thơ Mê Hồn Ca và Ðường Vào Tình Sử, đời sống có phảng phất của sương khói mơ hồ của kiếp khác. Thơ, là những bước chân đi trong những ảo tượng để trí tưởng tượng như những vỗ cánh khởi hành vào cõi mênh mang của kiếp nhân sinh.
Thơ Ðinh Hùng là bước chân về nguyên thủy. Ở đó, trời đất hoang vu, kiếp người quạnh quẽ. Sống hờ hững đôi khi trải theo tâm sự từ thức về trần, đi tìm lại quá khứ trong tiềm thức xôn xao cảm giác. Ngôn ngữ, là vang vọng của tấm lòng yếm thế, của lòng rời rã tự tình, để thoảng vẽ ra, những đôi mắt nhìn sang cõi bờ khác lạ, của một chân trời mà thực và mộng chen lẫn vào nhau.
Thi ảnh của Mê Hồn Ca, của tiếng ca bộ lạc, đầy những biểu tượng của núi non, của gió tuyết, của cỏ hoa tịch mịch, mỗi mỗi là hình dáng của mơ hồ, của sự liên tưởng nâng lên cao độ. Thi ảnh của Ðường Vào Tình Sử tương đối gần cận cuộc sống hơn, có thêm sinh khí của tình yêu thiết tha, của những tấm lòng mở ra và ngỏ với mọi người. Ngôn ngữ thơ có nhiều ảnh tượng có lẽ quen thuộc với cảm quan mà vẫn có sức lôi kéo từ những vị trí đắc địa cũng như những cánh cửa mở ra những chân trời và những phận người. Thơ, như những nét bút vờn. Thơ, là thi sĩ miệt mài đi trên con đường tìm kiếm lại chính mình, cái bản ngã có nét bàng bạc trong bức tranh nhân sinh mờ tỏ, có lúc rờn rợn màu trắng mênh mông, của trang giấy trinh bạch, của nỗi niềm mù khơi đến tận vô cùng.
Ðọc những câu thơ như:
“Rồi những đêm sâu bỗng hiện về
Vượn lâm tuyền khóc rộn sương khuya
Ðâu đây u uất hồn sơ cổ
Từng bóng ma rừng theo bước đi...”
Chúng ta sẽ cảm thấy gì? Cũng những ngôn ngữ có hơi quen thuộc đến có thể hơi sáo mòn. Nhưng kỳ lạ, có sức lôi kéo của những ý tưởng nảy từ bùa chú linh thiêng. Con đường đi, chập chùng thực mộng. Trí tưởng bỗng man mác, mênh mông...
“Bóng ta đi trùm khắp lối hoang sơ
Và chân bước nghe chuyển rung đồi suối
Lá cỏ sắc vương đầy trên tóc rối
Ta khoác vai manh áo đẫm hương rừng...”
Có phải thơ là phần ăn cách riêng của những người quen đơn độc, của những góc tối mà con người nương náu vào đó cho hết một kiếp người. Trong nỗi buồn có niềm kiêu hãnh, trong ngày nắng có lẫn những canh khuya.
Có người nói thơ Ðinh Hùng có những đóa hoa vô hình vô ảnh nhưng lại mường tượng được từ những phác họa tài tình. Người đẹp, có khi chỉ là nét trầm khuất xa xôi. Những mối tình, là thiên cổ không phai, là giấc miên viễn hiu hắt cùng trời và đất. Lời tình tự như ngõ vào hư không. Mây gió cuộn một thời phong vũ.
“Khuya sớm tìm sang lối tuyết trinh
Lầu xuân hoa dựng ngọc liên thành
Lệ in bóng núi mờ nhân ảnh
Mây đó về đâu có gặp mình?
Thương nước vô danh người mộng ảo
Ta cười một nét vẽ hư linh
Áo xiêm đã ố màu tang hải
Em thoát xiêm đi, hiện dáng tình...”
Em, có phải là hình bóng của yêu tinh, của đam mê đã lan cả đến cỏ cây hoa lá? Em, có phải là giọt máu loang huyết lệ, của những mối tình thiên cổ không phai?
“...Hỡi kỹ nữ, em có lòng tàn ác
Ta vẫn gần, ôi, sắc đẹp yêu ma
Lúc cuồng si, ta nguyền rủa cả đàn bà
Ta ôm ngực nghe trái tim trào huyết
Ta sẽ chết, sẽ vì em mà chết
Một chiều nào tắt thở giữa môi hôn
Ta hái trong em lấy đóa hoa hồn...”
Em, có phải là thần tượng lên ngôi? Em, có phải ta đã biến hình thành tên nô lệ? Trong thi ca, là định mệnh trái oan, là ngôn ngữ của người lạc lõng trên con đường tháng năm của thời gian biền biệt.
“...Ta run sợ cho yêu là mệnh số
Mặc tay em định hộ kiếp ngàn sau
Vì người em có bao pháp nhiệm mầu
Một sợi tóc đủ làm nên mê hoặc
Ta đặt em lên ngai thờ nữ sắc
Trong âm thầm chiêm ngưỡng một làn da
Buổi em về xác thịt tẩm hương hoa
Ta sống mãi thở lấy hồn trinh tiết...”
Mê Hồn Ca, là:
“Yểu điệu phương Ðông lướt dưới đèn
Ta nằm mộng đẹp đêm thần tiên
Dáng xuân nghiêng mắt cười không tiếng
Lửa hạ lên rồi- ôi Ý Liên...”
Mê Hồn Ca, là:
“Qua xứ ma sầu ta mất trí
Thiêu đi tập sách vẽ hoa nguyền
Trời ơi! Trời ơi! Làn tử khí
Lạc lõng hương thầm đóa Bạch Liên...”
Mê Hồn Ca, là khuôn trời Liêu Trai, là những đêm âm phần trộn lẫn với trưa dương thế. Thì Ðường Vào Tình Sử khác hơn, là những bài thơ tình của miên viễn chiêm bao, của những môi hôn trong mộng, của man mác hương trinh. Mộng vẫn còn, mê ảo nhưng thực đã có da có thịt trong ngôn ngữ tình yêu.
“Khi tóc Mùa Xuân buông dài trước cửa
Khi nắng chiêm bao khẽ chớp làn mi
Khi những con thuyền chở mộng ra đi
Giấc mộng phiêu lưu như bầy hải điểu
Kỷ niệm trở về nắm tay nhau hiền dịu
Ngón tay thơm vàng phấn bướm đa tình
Anh sẽ tìm em như tìm một hành tinh
Mặc trái đất sắp tan vào mộng ảo...”
Êm đềm hơn, bài hát Mùa Thu:
“Hôm nay có phải là Thu
Mây năm xưa đã phiêu du trở về
Cảm vì em bước chân đi
Nước nghiêng mặt ngọc lưu ly phớt buồn
Ai về xa mãi cô thôn
Một mình trong khói hoàng hôn nhớ nhà
Ngày em mới bước chân ra
Tuy rằng cách mặt lòng ta không sầu
Nắng trôi- vàng chảy về đâu
Hôm nay mới thực bắt đầu vào Thu...”
Thơ tình, đã từ mênh mang khói sương của Mê Hồn Ca đã trở về thực tại trong Ðường Vào Tình Sử. Tâm hồn, mỗi lúc mỗi khác trong lộ trình tìm cái vĩnh cửu. Thơ ấp ủ ước muốn bất tử, để sau xưa trùng hợp, và nỗi niềm mang nặng từ lúc hoang sơ chuyển hóa lại thành thời khắc bây giờ. Có lúc “xoay nhỡn tiền lại ngắm hiện thân” nhưng cũng có lúc “ta, suốt đời ngư phủ thả con thuyền trên mái tóc em buồn lênh đênh.” Làm thơ cho Ý Liên, Bạch Liên, Diệu Hương, Hoài Ðiệp... có người còn kiếp dương trần nhưng có người là phảng phất hồn ma bóng quế, là huyền ảo ẩn ức thành ngôn ngữ thi ca, để lẫn lộn mộng thực. Nếu có chữ thần tượng viết hoa, thì có lẽ Ðinh Hùng là người tột cùng nâng niu cho từ ngữ ấy. Ðọc thơ ông, để tâm trí bềnh bồng, ký ức phiêu du trên những nẻo đường mơ hồ. Có khi, trăng sao là hiện thân của giọt máu hồng tinh huyết để tình yêu chuyển đổi từ vùng cảm giác của bộ xương khô đến vóc dáng của một làn da, một mái tóc...
Thơ tượng trưng, sao từ sương khói quay ngoặt về thực tại, có phải vì trái tim đã đánh thức dậy những cảm quan từ bộ óc mơ màng không cân phân thực mộng? Nếu nói thơ là biểu hiện của niềm si đắm thì Mê Hồn Ca và Ðường Vào Tình Sử là những phiến kinh xưng tụng để đời!!
Nguyễn Mạnh Trinh
Thơ, ở cực độ truyền cảm nhất là những câu “nhập thần”. Những câu là châu báu trời cho, những tứ là những kho tàng lộ diện, những vần là điệu nhạc vô biên. Ngày xưa Nghiêm Vũ đời Tống trong Thương Lang Thi Thoại đã viết đại ý, “Ðiểm tuyệt diệu nhất của thơ chỉ có một, đó là nhập thần. Thơ mà đạt tới mức nhập thần thì tận thiện tận mỹ. Và không thể thêm được bất cứ điều gì. Duy chỉ có Lý Bạch, Ðỗ Phủ đạt được thôi còn những người khác hiếm hoi lắm...”
Với riêng tôi, Ðinh Hùng có những câu thơ hoặc bài thơ “nhập thần” như Nghiêm Vũ diễn tả. Không biết tôi có chủ quan quá độ hay không, nhưng có nhiều bài thơ khi tôi đọc xong như bị lạc vào một thế giới của không gian thời gian nào và ngôn từ không đủ sức để giải thích những cảm giác huyền nhiệm ấy. Ðọc thơ Ðinh Hùng, cảm được những biểu tượng riêng, và nghe và thấy được những ngôn ngữ riêng của bản sắc độc đáo không bị trộn lẫn.
Ðọc, để thấy cảnh và người, ngôn ngữ và ý tưởng hòa đồng cùng nhau. Bản sắc của cảnh và nội tâm của người như có một tương quan mật thiết, cảnh gợi nên ý, ý gợi nên lời, lời gợi nên cảm... Ðọc bài Ðường Trưa, để thấy một phác họa người qua cảnh, của nỗi buồn mênh mang, đầy cảm xúc:
“Lá xanh che khuất đường trưa
Bóng thêu hoa nắng, lưa thưa điểm vàng
Trời cao lắng xuống trường giang
Hững hờ thay! Áng mây hàng trôi qua
Mây kia còn mải nghĩ xa
Hồ lim dim ngủ chói lòa ánh gương
Nhạc buồn một điệu thê lương
Kèn ve nổi tiếng xót thương mấy hồi
Buổi trưa ngừng giữa lòng tôi
Ái tình đỏ sắc hoa rơi đầu cành
Chừng nghe qua bóng lá xanh
Có chân ai lặng bước nhanh trong sầu?”
Thơ Ðinh Hùng đầy những khát vọng, của những giấc mơ, của tuổi hoa niên mới lớn, của những bước chân hăm hở vào đời. Thơ xôn xao giấy mực, thơ như tấm lòng trải rộng theo chiều bát ngát đất trời.
Khi tuổi trẻ, tấm lòng thường rộng mở với những mơ mộng trăng sao. Có một chút không bằng lòng với hiện tại, trí tưởng tượng mở ra đến tận những phương trời. Lúc ấy, thi ca góp vào những cánh tay mở toang khung cửa để mây lồng lộng trời cao và gió phiêu du muôn bến.
“Khi mới lớn tuổi mười lăm mười bảy
Làm học trò mắt sáng với môi tươi
Ta bước lên chân vẫn dạo bên người
Ngoài cặp sách trần ai coi cũng nhẹ
Ðời thấp thoáng qua học đường nhỏ bé
Phố phường vui cuộc sống mới lên hoa
Ta ngồi nghe những tiếng thị thành xa
Hồn lơ đãng mộng ra ngoài cửa lớp
Nắng thuở đó khiến lòng ta hồi hộp
Ta nhìn cao mới rõ bị giam cầm
Ôi tiếng nào vang mấy bức tường câm?
Không khí nặng mơ hồ thầy với bạn
Ta nhớn lên bước đường không giới hạn
Có lẽ đâu kìm giữ bởi tay người
Tuổi hoa hồng - kiêu hãnh của ta ơi
Tình đã hẹn ở trên đường nắng mới...”
Ðọc những câu thơ như thế làm sao mà không xôn xao trong lòng. Thế giới mở ra, ôi sao mênh mông quá! Mê nhất là nhìn theo những cánh chim để trí tưởng tượng vút lên, cao rất cao lên đến đỉnh trời. Ôi tuổi trẻ hơn hớn xanh màu mắt và bồng bềnh bờ tóc bay. Ðọc thơ, để mường tượng một chân dung thi sĩ, nhà thơ Ðinh Hùng. Và cũng để hồi tưởng lại một thời của mình, ở thành phố Sài Gòn tràn đầy kỷ niệm. Những buổi trưa trốn học, nằm lăn trên bãi cỏ xanh, nhìn theo những sợi mây bay lãng đãng trên những ngọn cây dầu cao vút để hồn lơ mơ với giấc mơ, với những tà áo bay bay trong tưởng tượng, của những mắt liếc hẹn hò, của tâm tình xôn xao muốn ngỏ. Ðọc thơ để thấy mình là một chú gà trống ngu ngơ nhưng tưởng như một anh hùng vô địch oai hùng trong cuộc đời và lãng mạn trong cuộc tình. Ðọc thơ, để vô vàn những khao khát nổ bùng, của tưởng tượng về ngày mai, của tràn đầy hoa gấm và nồng hương tình ái...
Cuộc đời Ðinh Hùng như có một phận số riêng và thi ca cũng có một số phận khác. Cái thể chất ẻo lả cộng thêm tàn phá của nàng tiên nâu làm ông không có tuổi thọ. Thơ của ông, ngược lại, như không có tuổi và với lớp người đọc sau, luôn luôn có sinh động riêng và có đời sống văn chương dài hơn nhiều tuổi thọ.
Ngày 24 Tháng Tám là ngày giỗ Ðinh Hùng. Ông mất năm 1967, thọ 47 tuổi. Một đời thi sĩ có lẽ khá ngắn nhưng tác phẩm đã có đời sống dài hơn gấp bội. Hai tập thơ “Mê Hồn Ca” và “Ðường Vào Tình Sử” có những bài thơ được coi như là tuyệt tác của một thời kỳ văn chương nở rộ. Chương trình ngâm thơ “Tao Ðàn “ do ông chủ trương với tiếng nói mở đầu truyền cảm đã bao nhiêu năm trở thành một biểu tượng thi ca của miền Nam tự do.
Với những người làm thơ, Ðinh Hùng có vị trí của một vì sao Bắc Ðẩu. Khi miền Nam bị cộng sản miền Bắc xâm chiếm, nhà thơ Trần Dần đã nhắn vào cho gia đình nhà thơ Vũ Hoàng Chương, “Anh yên tâm, với chúng tôi, thơ của anh và Ðinh Hùng vẫn có giá trị để được trọng vọng như thời tiền chiến...”
Cũng như về sau, trong cuộc mạn đàm với các văn nghệ sĩ ở Huế, Trần Dần đã xác nhận một lần nữa tấm lòng trân trọng với thơ Ðinh Hùng trong khi Hoàng Phủ Ngọc Tường thì chê rằng thơ “lòe loẹt ghê ghê mùi son phấn thế nào ấy”. Khi được hỏi trong các nhà cầm bút thời tiền chiến thích ai nhất thì Trần Dần trả lời ngay; Vũ Trọng Phụng, Vũ Hoàng Chương và Ðinh Hùng. Và ông khẳng định: Ðinh Hùng là thi sĩ tượng trưng đầu tiên của Việt Nam với tập “Mê Hồn Ca”.
Ðinh Hùng thi sĩ và Ðinh Hùng nghệ sĩ đã có người tri kỷ là nhà văn Thạch Lam, một người cũng có tuổi thọ khá ngắn nhưng văn chương tài hoa. Ðinh Hùng đã làm bài thơ Gửi Hương Hồn Thạch Lam như muốn sẻ chia tâm sự với người chung mang nỗi niềm tâm sự:
“Nhớ xưa cùng bóng dạ lan hương
Anh với tôi nằm mộng canh trường
Giường kế bên cửa, hoa kề gối
Anh truyện sầu, tôi truyện mến thương
Tôi với anh giường chung mộng chung
Vì duyên thơ mới có duyên lòng
Anh buồn tự thuở trăng lên núi
Ấy độ tôi hoài ước lại mong
Ai biết lòng anh thương nhớ đâu
Gần nhau không nói, nói không sầu
Cầm tay hỏi mộng, buồn như tủi
Thầm hiểu anh thôi, lặng cúi đầu
Tôi cảm thương vì hai chúng ta
Tuổi đang xuân mà bóng sang già
Ðêm nào tôi mộng buồn riêng gối
Anh đã nằm yên dưới mộ hoa
Anh lánh mưa Xuân nép cửa sầu
Ðêm nằm ghê gió lạnh canh thâu
Gặp nhau nắm chặt tay lần cuối
Anh khép hàng mi chẳng nguyện cầu...”
Thời tiền chiến, giai phẩm Dạ Ðài với sự góp mặt của Trần Dần, Ðinh Hùng, Trần Mai Châu, Vũ Hoàng Ðịch... đã tỏ lộ một khuynh hướng thi ca mới của thơ tượng trưng. Và khuynh hướng này là một khuynh hướng nổi bật của thi ca Việt Nam với các tầm vóc như Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Ðinh Hùng, nhóm Xuân Thu Nhã Tập, Chế Lan Viên thời trước 1945...
Võ Văn Ái, trong tác phẩm “ Bốn Mươi Năm Thơ Việt Nam/1945-1985 “ đã viết về Ðinh Hùng như sau:
“...Ám ảnh vì cái chết từ lúc bé, Ðinh Hùng hướng về nguồn thơ tượng trưng... Vì tượng trưng là âm bản của thực tại. Như chết là âm bản của sống. Thơ tượng trưng thoát mình, rời xa thực tại đang sống, đi tìm cái khuôn âm bản để xem thực tại ấy có là mặt-mày xưa-nay vốn được đúc nặn từ đầu. Hay chỉ là những tam sao thất bổn? Thơ dựng lên khuôn mặt giai nhân, hoặc dựng lên cái tiền cảm bao quanh, tượng trưng cho khuôn mặt ấy, thì vẫn là niềm thơ như thật của muôn thuở. Ðó là giải thích theo tâm cảnh thơ Việt Nam. Trong thực tế, hầu như tất cả các nhà thơ tiền chiến đều chịu ảnh hưởng của các thi sĩ Pháp, đặc biệt là Beaudelaire, Mallarmé, Rimbaud. Cũng như sau này thi ca miền Bắc chịu ảnh hưởng của các nhà thơ Nga, và miền Nam lại tiếp tục chịu ảnh hưởng các nhà thơ Pháp với những Eluard, Aragon, Jacques Prevert...
Năm Ðinh Hùng lên 11, chị Tuyết Hồng, hoa khôi Hà Nội, đã tự tử trên hồ Trúc Bạch. Mấy tháng sau thân phụ chàng đau nặng rồi thất lộc. Chị Loan, một người chị khác lại mất ba năm sau. Qua năm 18 tuổi chớm mối tình đầu, Ðinh Hùng yêu một người có họ xa, nhưng người con gái măng tơ và liêu trai này cũng chết. Tập thơ Truyện Lòng in trong Ðường Vào Tình Sử năm 1961 chính là tập thơ đã sáng tác từ năm 1938. Tiếp đến người bạn thân yêu nhất của đời chàng là Thạch Lam cũng bỏ chàng đi năm 42 tuổi vì bệnh lao...
Bây giờ ta hiểu nỗi chết đã ám ảnh đeo đuổi Ðinh Hùng như hình với bóng, đốt thắp tâm tư chàng. Ðinh Hùng không chạy trốn, chàng hàm dưỡng ngọn lửa ấy cho nguồn thơ tượng trưng...”
Lúc còn sống, nhà văn Mai Thảo và nhà thơ Nguyên Sa cũng đặc biệt yêu mến thơ Ðinh Hùng. Nhiều lần, nhà văn Mai Thảo đã đọc hầu như gần hết tập thơ Mê Hồn Ca trong những buổi họp mặt văn nghệ. Chắc phải yêu mến lắm nên mới thuộc lòng như vậy. Với phong cách đặc biệt, kèm theo những nhận xét dí dỏm nhưng chính xác, ông đã làm thơ Ðinh Hùng thành một không gian thơ đặc biệt mà mọi người tham dự mãi năm tháng dài về sau không thể quên...
Nhà thơ Nguyên Sa cũng vậy. Ông thường nói về thơ Ðinh Hùng với tất cả những lời khen tặng. Khi tôi và ông cùng thực hiện tủ sách Tác Giả Tác Phẩm của nhà xuất bản Ðời, cuốn đầu tiên là viết về Ðinh Hùng...
Nhà văn Tạ Tỵ trong cuốn “ Những Khuôn Mặt Văn Nghệ Ðã Ði Qua Ðời Tôi” cũng đã phác họa chân dung Ðinh Hùng qua từng thời kỳ, khi trai trẻ đến lúc tham gia dòng thơ tiền chiến, từ lúc kháng chiến rồi hồi cư về Hà Nội, đến khi di cư vào Nam, làm chương trình thi ca Tao Ðàn...
“...Ðinh Hùng nhìn tôi nhếch mép cười, cái cười ngạo mạn vì lúc gặp Ðinh Hùng lần đầu, tôi là tên ‘mặt trắng’ còn Ðinh Hùng tuy chưa có tác phẩm nhưng đã được nhiều người biết tiếng. Ðây là trường hợp duy nhất của người làm thơ nổi tiếng trước khi có tác phẩm hoặc có nhiều bài đăng tải trên báo chí! Có lẽ thơ của Ðinh Hùng mới quá đi trước thời đại chăng?
Tôi mỉm cười xã giao bắt tay Ðinh Hùng. Ôi chao bàn tay gì bé và mềm thế, như tay đàn bà! Về sau này tôi được một người bạn cho biết, khi còn học ở trường Bưởi, Hùng cũng rất đẹp trai và ham tập thể thao lắm, đã bơi ngang Hồ Tây, tuy nhỏ nhưng thân hình cân đối và thi sĩ Huyền Kiêu, người bạn cùng lớp học đã mê Hùng như mê người tình, giống như trường hợp Xuân Diệu Huy Cận vậy. Ngoài tài làm thơ, Ðinh Hùng còn chơi nhạc, đánh đàn mandoline, những khúc nhạc của Mozart, Beethoven, và Beach rất hay. Hùng cũng biết vẽ lăng nhăng và chữ viết rất bay bướm. Khi học trường Bưởi, Ðinh Hùng phụ trách báo tay cùng với thi sĩ Huyền Kiêu. Ðinh Hùng ở một căn gác nhỏ trên đê Yên Phụ gần Ngọc Hà và bài thơ ‘Xin Hãy Yêu Tôi’ có những câu... ‘Tôi mở sẵn một phòng sầu bé nhỏ. Riêng một đèn, một gối một tình yêu... ’ ’ là chính căn gác này đã tạo cho thi nhân nguồn cảm hứng đó. Từ đầu đề yên phụ, buổi tối nào ‘đi xóm’ (tức đi hát cô đầu) thì thôi, còn không Ðinh Hùng cuốc bộ từ đó đến tiệm hút sau đền Bà Kiệu, phía bên Hồ Hoàn Kiếm, để họp bạn cùng vui thú yên hà. Ðinh Hùng năm ấy (1940-1941) hãy còn trẻ lắm, mới trên dưới 20 tuổi mà đã đam mê gắn bó với Phù Dung tiên nữ, dưới ánh đèn, mặt Hùng tái xanh, riêng đôi mắt sáng long lanh biểu lộ sự thông minh tuyệt vời...”
Riêng tôi, đọc hai tập thơ Mê Hồn Ca và Ðường Vào Tình Sử, đời sống có phảng phất của sương khói mơ hồ của kiếp khác. Thơ, là những bước chân đi trong những ảo tượng để trí tưởng tượng như những vỗ cánh khởi hành vào cõi mênh mang của kiếp nhân sinh.
Thơ Ðinh Hùng là bước chân về nguyên thủy. Ở đó, trời đất hoang vu, kiếp người quạnh quẽ. Sống hờ hững đôi khi trải theo tâm sự từ thức về trần, đi tìm lại quá khứ trong tiềm thức xôn xao cảm giác. Ngôn ngữ, là vang vọng của tấm lòng yếm thế, của lòng rời rã tự tình, để thoảng vẽ ra, những đôi mắt nhìn sang cõi bờ khác lạ, của một chân trời mà thực và mộng chen lẫn vào nhau.
Thi ảnh của Mê Hồn Ca, của tiếng ca bộ lạc, đầy những biểu tượng của núi non, của gió tuyết, của cỏ hoa tịch mịch, mỗi mỗi là hình dáng của mơ hồ, của sự liên tưởng nâng lên cao độ. Thi ảnh của Ðường Vào Tình Sử tương đối gần cận cuộc sống hơn, có thêm sinh khí của tình yêu thiết tha, của những tấm lòng mở ra và ngỏ với mọi người. Ngôn ngữ thơ có nhiều ảnh tượng có lẽ quen thuộc với cảm quan mà vẫn có sức lôi kéo từ những vị trí đắc địa cũng như những cánh cửa mở ra những chân trời và những phận người. Thơ, như những nét bút vờn. Thơ, là thi sĩ miệt mài đi trên con đường tìm kiếm lại chính mình, cái bản ngã có nét bàng bạc trong bức tranh nhân sinh mờ tỏ, có lúc rờn rợn màu trắng mênh mông, của trang giấy trinh bạch, của nỗi niềm mù khơi đến tận vô cùng.
Ðọc những câu thơ như:
“Rồi những đêm sâu bỗng hiện về
Vượn lâm tuyền khóc rộn sương khuya
Ðâu đây u uất hồn sơ cổ
Từng bóng ma rừng theo bước đi...”
Chúng ta sẽ cảm thấy gì? Cũng những ngôn ngữ có hơi quen thuộc đến có thể hơi sáo mòn. Nhưng kỳ lạ, có sức lôi kéo của những ý tưởng nảy từ bùa chú linh thiêng. Con đường đi, chập chùng thực mộng. Trí tưởng bỗng man mác, mênh mông...
“Bóng ta đi trùm khắp lối hoang sơ
Và chân bước nghe chuyển rung đồi suối
Lá cỏ sắc vương đầy trên tóc rối
Ta khoác vai manh áo đẫm hương rừng...”
Có phải thơ là phần ăn cách riêng của những người quen đơn độc, của những góc tối mà con người nương náu vào đó cho hết một kiếp người. Trong nỗi buồn có niềm kiêu hãnh, trong ngày nắng có lẫn những canh khuya.
Có người nói thơ Ðinh Hùng có những đóa hoa vô hình vô ảnh nhưng lại mường tượng được từ những phác họa tài tình. Người đẹp, có khi chỉ là nét trầm khuất xa xôi. Những mối tình, là thiên cổ không phai, là giấc miên viễn hiu hắt cùng trời và đất. Lời tình tự như ngõ vào hư không. Mây gió cuộn một thời phong vũ.
“Khuya sớm tìm sang lối tuyết trinh
Lầu xuân hoa dựng ngọc liên thành
Lệ in bóng núi mờ nhân ảnh
Mây đó về đâu có gặp mình?
Thương nước vô danh người mộng ảo
Ta cười một nét vẽ hư linh
Áo xiêm đã ố màu tang hải
Em thoát xiêm đi, hiện dáng tình...”
Em, có phải là hình bóng của yêu tinh, của đam mê đã lan cả đến cỏ cây hoa lá? Em, có phải là giọt máu loang huyết lệ, của những mối tình thiên cổ không phai?
“...Hỡi kỹ nữ, em có lòng tàn ác
Ta vẫn gần, ôi, sắc đẹp yêu ma
Lúc cuồng si, ta nguyền rủa cả đàn bà
Ta ôm ngực nghe trái tim trào huyết
Ta sẽ chết, sẽ vì em mà chết
Một chiều nào tắt thở giữa môi hôn
Ta hái trong em lấy đóa hoa hồn...”
Em, có phải là thần tượng lên ngôi? Em, có phải ta đã biến hình thành tên nô lệ? Trong thi ca, là định mệnh trái oan, là ngôn ngữ của người lạc lõng trên con đường tháng năm của thời gian biền biệt.
“...Ta run sợ cho yêu là mệnh số
Mặc tay em định hộ kiếp ngàn sau
Vì người em có bao pháp nhiệm mầu
Một sợi tóc đủ làm nên mê hoặc
Ta đặt em lên ngai thờ nữ sắc
Trong âm thầm chiêm ngưỡng một làn da
Buổi em về xác thịt tẩm hương hoa
Ta sống mãi thở lấy hồn trinh tiết...”
Mê Hồn Ca, là:
“Yểu điệu phương Ðông lướt dưới đèn
Ta nằm mộng đẹp đêm thần tiên
Dáng xuân nghiêng mắt cười không tiếng
Lửa hạ lên rồi- ôi Ý Liên...”
Mê Hồn Ca, là:
“Qua xứ ma sầu ta mất trí
Thiêu đi tập sách vẽ hoa nguyền
Trời ơi! Trời ơi! Làn tử khí
Lạc lõng hương thầm đóa Bạch Liên...”
Mê Hồn Ca, là khuôn trời Liêu Trai, là những đêm âm phần trộn lẫn với trưa dương thế. Thì Ðường Vào Tình Sử khác hơn, là những bài thơ tình của miên viễn chiêm bao, của những môi hôn trong mộng, của man mác hương trinh. Mộng vẫn còn, mê ảo nhưng thực đã có da có thịt trong ngôn ngữ tình yêu.
“Khi tóc Mùa Xuân buông dài trước cửa
Khi nắng chiêm bao khẽ chớp làn mi
Khi những con thuyền chở mộng ra đi
Giấc mộng phiêu lưu như bầy hải điểu
Kỷ niệm trở về nắm tay nhau hiền dịu
Ngón tay thơm vàng phấn bướm đa tình
Anh sẽ tìm em như tìm một hành tinh
Mặc trái đất sắp tan vào mộng ảo...”
Êm đềm hơn, bài hát Mùa Thu:
“Hôm nay có phải là Thu
Mây năm xưa đã phiêu du trở về
Cảm vì em bước chân đi
Nước nghiêng mặt ngọc lưu ly phớt buồn
Ai về xa mãi cô thôn
Một mình trong khói hoàng hôn nhớ nhà
Ngày em mới bước chân ra
Tuy rằng cách mặt lòng ta không sầu
Nắng trôi- vàng chảy về đâu
Hôm nay mới thực bắt đầu vào Thu...”
Thơ tình, đã từ mênh mang khói sương của Mê Hồn Ca đã trở về thực tại trong Ðường Vào Tình Sử. Tâm hồn, mỗi lúc mỗi khác trong lộ trình tìm cái vĩnh cửu. Thơ ấp ủ ước muốn bất tử, để sau xưa trùng hợp, và nỗi niềm mang nặng từ lúc hoang sơ chuyển hóa lại thành thời khắc bây giờ. Có lúc “xoay nhỡn tiền lại ngắm hiện thân” nhưng cũng có lúc “ta, suốt đời ngư phủ thả con thuyền trên mái tóc em buồn lênh đênh.” Làm thơ cho Ý Liên, Bạch Liên, Diệu Hương, Hoài Ðiệp... có người còn kiếp dương trần nhưng có người là phảng phất hồn ma bóng quế, là huyền ảo ẩn ức thành ngôn ngữ thi ca, để lẫn lộn mộng thực. Nếu có chữ thần tượng viết hoa, thì có lẽ Ðinh Hùng là người tột cùng nâng niu cho từ ngữ ấy. Ðọc thơ ông, để tâm trí bềnh bồng, ký ức phiêu du trên những nẻo đường mơ hồ. Có khi, trăng sao là hiện thân của giọt máu hồng tinh huyết để tình yêu chuyển đổi từ vùng cảm giác của bộ xương khô đến vóc dáng của một làn da, một mái tóc...
Thơ tượng trưng, sao từ sương khói quay ngoặt về thực tại, có phải vì trái tim đã đánh thức dậy những cảm quan từ bộ óc mơ màng không cân phân thực mộng? Nếu nói thơ là biểu hiện của niềm si đắm thì Mê Hồn Ca và Ðường Vào Tình Sử là những phiến kinh xưng tụng để đời!!

