Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

Thời trang ở VN

Image

Ở VN bây giờ cái gì cũng bắt chước Ngoại quốc ,điển hình mới đây , đã tổ chức Tuần lễ Thời trang . Nhiều nhà thiết kế Trẻ Nam lẫn Nữ đã tham gia , và được chấm giải . Hình trên là một kiểu thời trang "kỳ cục " .

DangMy
Posts: 277
Joined: Sat Dec 11, 2004 3:49 am

Tết Trung Thu

Post by DangMy »

Image


My có mâm trà bánh bưng sang mời các anh chị nhâm nhi trong tối trung thu :wink:

User avatar
tieuvuvi
Posts: 2912
Joined: Sun Nov 26, 2006 1:29 pm
Been thanked: 3 times
Contact:

Post by tieuvuvi »

EM TÔI


Nãm em lên ba, bố tôi bỏ lại người vợ trẻ và hai đứa con thơ lên đường tập kết.

Tôi hơn em sáu tuổi. Chín tuổi con nhà nghèo khôn lắm, tôi đủ khôn ðể thấy khuôn mặt mẹ buồn hiu hắt, những tiếng thở dài và những giọt nước mắt âm thầm của mẹ trong ðêm. Chín tuổi, tôi ðã biết mình là người nam độc nhất trong gia ðình, ðã biết ẩm bồng ðút cơm cho em và vỗ về em mỗi khi em khóc. Chín tuổi, tôi ðã biết tắm rửa, thay áo thay quần cho em, cõng em đi chơi và dỗ cho em ngủ. Mỗi ngày, trời sập tối mẹ mới gánh hàng về, ba mẹ con ngồi ăn cơm bên ngọn đèn dầu, tôi và em hỏi han, an ủi mẹ. Mẹ kể cho chúng tôi nghe chuyện chợ búa như đang nói chuyện với người lớn, tôi ngồi nghe, nhìn đôi vai gầy của mẹ, nhìn mái tóc và đôi bàn tay khô của mẹ, mà thấy thương mẹ vô cùng.

Tôi phải bỏ học ở nhà hai năm ðể trông chừng em. Mẹ có một sạp bán rau cải ở chợ Cồn. Gọi là sạp chứ thực ra chỉ là một ô đất nhỏ, sáng mẹ ra ði thật sớm, lúc trời còn mờ sương, buổi trưa mẹ về nhà lo cho chúng tôi ăn, nằm nghỉ ít phút rồi trở dậy sửa soạn cho chuyến chợ chiều. Một tuần bảy ngày, mẹ đi ði về về trong nỗi cô ðơn.

Nãm em vừa tròn nãm tuổi thì mẹ cho em vào mẫu giáo, tôi cũng trở lại trường, đám bạn cũ của tôi nay ðã hơn tôi hai lớp, ngồi xung quanh tôi bây giờ là những khuôn mặt lạ, kém tôi hai, ba tuổi. Tôi là học trò lớn nhất và học khá nên được làm trưởng lớp. Gần cuối năm học lớp nhì, tôi nói với mẹ lên xin thầy Hiệu trưởng cho tôi được thi nhảy tiểu học. Thầy bằng lòng. Tôi cắm cúi học luyện thi và kết quả là tôi đã đỗ ðược bằng tiểu học nãm ðó.

Vào lớp đệ thất trường Trần quốc Tuấn, tôi tiếp tục học ngày, học đêm, năm ðệ ngũ tôi thi nhảy một lần nữa lấy bằng Trung học. Ðến niên học ðệ tam thì tôi ðã bắt kịp ðám bạn cũ, tôi hân hoan nhập bầy chung với ðám bạn ngày xưa. Ðây là giai ðoạn mà tôi cần tiền ðể mua sách học và may thêm quần áo, thời tiểu học và trung học đệ nhất cấp thì mặc sao cũng được, nhưng bây giờ ðã lên đệ nhị cấp rồi, ðã bắt ðầu biết ðỏ mặt khi nhìn những ðứa con gái trường nữ, thỉnh thoảng ðã biết theo bạn tập uống cafe, phì phà điếu thuốc. Tiền mẹ cho không ðủ, tôi bắt ðầu công việc kèm trẻ tư gia ðể kiếm thêm tiền. Học trò của tôi là mấy cô cậu đệ thất ðệ lục, nghĩa là cũng chỉ bé thua tôi vài tuổi.

Ba mẹ con tôi vẫn ngày ngày đi về cãn nhà nhỏ, cãn nhà vẫn không thay đổi một chút nào từ ngày bố bỏ mấy mẹ con để ra ðị

Hết nãm ðệ tam, tôi nộp ðơn thi Tú Tài phần nhất. Tôi ðậu bình thứ. Một lần nữa, mọi người ngạc nhiên, nhưng tôi biết sức học của mình, tôi biết mẹ buôn bán tảo tần, tôi thấy những năm tháng gần ðây mẹ trở bệnh hoài, mỗi sáng mẹ lục ðục dậy thật sớm nấu cơm ðể dành cho anh em tôi, rồi lặng lẽ mang ðôi quang gánh lên vai, những tối ngồi trâm ngâm bên ánh đèn dầu nhìn anh em tôi học bài và những đêm khuya mẹ trở mình húng hắng ho. Tôi thương mẹ và em đến ứa nước mắt, và càng thương mẹ thương em, tôi càng học như điên, như cuồng. Tôi ước gì Bộ Giáo dục cho tôi thi hai bằng tú tài cùng một lúc. Nhìn mái tóc mẹ đã lớm chớm sợi bạc, nhìn lưng mẹ mỗi ngày mỗi như còng xuống, nhìn hai vai gầy của mẹ mà lòng quặn đau, và cứ thế, tôi vùi đầu vào sách vở...

Em ðã bắt ðầu tuổi lớn, ðã bắt ðầu tuổi mộng mơ con gái, ðã bắt ðầu bước vào "tuổi ngọc", nhưng tội nghiệp, biết nhà mình nghèo, biết mẹ mình buôn thúng bán bưng, biết anh mình vẫn chiều chiều đi kèm trẻ kiếm thêm tiền và cặm cụi học đốt giai ðoạn cho chóng thành tài. Biết thế nên em ít khi nào xin mẹ, xin anh tiền may áo mới, hai chiếc áo dài trắng đủ cho em thay ðổi. Em lớn lên thiếu tình của bố, nên tôi "quyền huynh thế phụ". Nhiều lúc nhìn mẹ, nhìn em, tôi vẫn không hiểu tại sao bố lại đành đoạn dứt áo ra ðị

Tôi thi ðỗ Tú Tài toàn phần năm 18 tuổi, và ra Huế học Ðại học Vãn khoa. Mẹ ở một mình với em ở Ðà nẳng. Mỗi cuối tuần, tôi theo xe ðò về thãm mẹ và em, ðến sáng thứ hai trở lại trường. Ở Huế, tôi tiếp tục công việc kèm trẻ tư gia. Với số tiền nhỏ nhoi kiếm đuợc, tôi phụ mẹ một ít nuôi em.

Qua sinh nhật thứ 13 của em mấy tháng, một chiều mẹ bỏ buổi chợ, về nhà than nhức đầu, tưởng là cảm nhẹ, mẹ sai em cạo gió và nấu cho mẹ bát cháo hành. Khuya ðó mẹ lên cơn sốt, lảm nhảm nói mê, sáng hôm sau em nghỉ học chở mẹ vào nhà thương và nhờ người nhắn tin ra cho tôi ở Huế.

Lật ðật trở vào Ðà nẳng bằng chuyến xe ðò chót. Trời tối ðã lâu, không kịp ãn uống, từ bến xe tôi ði thẳng ðến bệnh viện. Trong cãn phòng nhỏ, dưới ánh ðèn vàng mờ đục, mẹ nằm thiêm thiếp trên giường bệnh, còn em đang ngồi ngủ gà ngủ gật cạnh giường. Ðứng yên lặng nhìn mẹ xanh xao bất động, và khuôn mặt thơ dại của em, trong giấc ngủ hai khoé mắt vẫn còn long lanh giọt lệ, tôi nghe lòng mình quặn thắt.

Ðánh thức em dậy, em ngơ ngác dụi mắt vài giây. Nhận ra tôi, em nhào tới ôm chầm và òa lên khóc, em cho hay là từ lúc đưa mẹ vào đây, mẹ chỉ tỉnh lại một vài phút vào khoảng giữa trưa, sau đó mẹ hôn mê trở lại. Tôi an ủi em, rồi cùng em ra vãn phòng bệnh viện. Cô y tá trực cho hay mẹ bị ðứt một tỉnh mach ở ðầu. Tôi bàng hoàng như bị ai nện một nhát búa vào ngực. Cô y tá bùi ngùi nhìn em, đôi mắt xót xa...

Tối ðó, anh em tôi cùng ở lại với mẹ, em mệt mỏi, nên chỉ một thoáng là đã ngủ say. Trong giấc ngủ mệt nhọc, thỉnh thoảng em ú ớ mẹ ơi, mẹ ơi rồi nức lên mấy tiếng. Tôi nghe như dao cắt trong lòng. Suốt đêm không ngủ, tôi cứ ngồi nhìn mẹ nằm im lìm và bên chân mẹ em ngủ chập chờn. Tôi tự nhủ thầm với mình đừng khóc, ðừng khóc .. nhưng sao nước mắt vẫn cứ trào ra, một tay ve vuốt bàn tay xanh xao của mẹ, một tay nắm lấy bàn tay nhỏ bé của em, tôi để mặc cho hai giòng nước mắt chảy nhạt nhoà trên má.

Mẹ thở hơi cuối cùng lúc năm giờ sáng, mẹ không tỉnh lại ðể trãn trối với hai con một lời gì. Mẹ đi trong yên lặng. Tôi nắm bàn tay mẹ và thấy tay mẹ lạnh dần. Tôi đánh thức em dậy. Hai anh em hôn lên trán mẹ giã từ. Em vuốt mắt mẹ. Mắt mẹ nhắm hờ. Em ôm chặt hai tay mẹ, ủ vào lòng mình miệng kêu lên nho nhỏ: mẹ ơi, mẹ ơi... Em khóc lặng lẽ, áp mình vào ngực mẹ nước mắt em tuôn ràn rụa làm ướt đẩm cả vạt áo mẹ bạc màu. Những tiếng kêu nghẹn ngào của em như những viên đạn bắn thẳng vào tim, tôi ngồi bất động nhìn mẹ, nhìn em, lòng đau như muối xát. Tội nghiệp mẹ tôi, tội nghiệp em tôi. Em mới mười ba tuổi...

Chôn mẹ xong, tôi bỏ học. Còn lòng dạ nào mà học nữa. Nhưng em thì phải trở lại trường.

Bán ði cãn nhà nhỏ xiêu vẹo và gom tóm tất cả vốn liếng của mẹ để lại, tôi ðưa hết số tiền cho mẹ của Minh, một người bạn thân tôi. Minh có Hân, cô em gái cùng tuổi, cùng lớp với em. Tôi gửi em đến ðó ở và ði học với Hân, cũng may, bố mẹ Minh coi anh em tôi như con. Tôi dặn dò em ðủ ðiều. Số tiền tôi gởi cho mẹ Minh ðủ ðể trả tiền ãn ở của em trong hai ba nãm. Tôi còn ðưa thêm cho em một ít ðể em mua sách vở, may áo quần, tiêu vặt. Tôi ôm em và hứa với lòng, hứa với vong hồn mẹ là sẽ lo lắng, sẽ bảo bọc em cho đến trọn ðời. Tôi vào trường Võ bị Ðà Lạt năm 20 tuổi, lương sinh viên sĩ quan ít ỏi, tôi tiết kiệm không dám xài nhiều, để dành gởi về cho em mỗi tháng. Tôi dặn em viết thư mỗi tuần kể cho tôi nghe chuyện học hành. Tôi bắt em hứa là không bao gi dấu tôi một điều gì dù nhỏ bé. Em ngoan ngoãn vâng lời. Mỗi năm tôi ðược về phép một lần, hai anh em quấn quýt không rời. Tôi ðưa em ði thãm mẹ. Chúng tôi lặng yên cầm tay nhau quỳ bên mộ mẹ, nước mắt lưng tròng.

Em lớn lên và ngày càng giống mẹ. Cũng khuôn mặt và cái nhìn nhẫn nhục, cũng đôi mắt xa xãm buồn hiu hắt. Bình thường em rất ít nói, có lẽ không cha, mồ côi mẹ quá sớm và anh lại ở xa đã làm em rụt rè. Cũng may, bên cạnh em vẫn còn có Hân. Lễ mãn khoá của tôi, em và Hân cùng lên tham dự, lúc này, em đã thi đổ vào trường Sư phạm Qui Nhơn, hai năm nửa em sẽ trở thành cô giáo, tôi hãnh diện giới thiệu em và Hân với các bạn mình. Nhìn dáng em thẹn thùng e ấp, tôi thấy lòng mình rạt rào thương em. Tôi thầm gọi mẹ, mẹ ơi, hai con của mẹ đã trưởng thành và đã nên người.

Ra trường, tôi chọn binh chủng nhảy dù, có lẽ cũng chỉ vì tôi thích màu mũ đỏ. Em vào học và ở nội trú trong trường sư phạm. Tôi thấy mình yên tâm hơn. Mỗi tháng, tôi vẫn gửi về cho em một nửa tiền lương lính của mình để trả tiền phòng, tiền ăn. Tôi biết con gái cần nhiều thứ hơn con trai, như áo quần, son phấn... Em vẫn viết thư cho tôi mỗi tuần như em ðã làm trong mấy năm qua. Em kể chuyện học hành, chuyện bạn bè, em lo sợ là tôi đi tác chiến nhở có ngày bố con gặp nhau ở chiến trường, làm sao nhận ra nhau, em không nói thêm, nhưng tôi cũng hiểu, tên đạn vô tình, nếu nhỡ...

Hai nãm em học Sư Phạm trôi qua thật nhanh. Em bây giờ ðã là một cô giáo trẻ. Em ðược ðổi về dạy tại một trường tiểu học gần thị xã Phan Rang. Em thuê nhà chung với hai cô giáo khác. Mỗi ngày ba cô giáo ngồi xe lam đi ðến lớp, chiều về cả ba cùng quây quần nấu nướng . Em viết thư cho tôi và khoe có quen với Tuấn, một Sĩ quan Hải quân ðồn trú ở Phan rang. Em khen Tuấn hiền lành, ít nói. Em kể thêm là Tuấn chỉ còn có mỗi một mẹ già. Chiến tranh ngày thêm khốc liệt, đơn vị tôi hành quân liên miên, có khi cả năm chúng tôi mới ðược về hậu cứ một lần. Tôi bị thương hai lần trong cùng một năm. Tôi dấu em, không cho em biết sợ em lo lắng. Trong những tuần lể nằm bệnh viện và ở hậu cứ dưỡng thương, tôi bắt đầu viết bài đãng trên các báo và tạp chí. Tôi kể lại những trận đụng ðộ kinh hoàng giữa ðơn vị tôi và giặc Cộng, tôi kể lại những "kỳ tích" của bạn tôi, của Mễ, của Lô ...

Sau một lần bị thương nhẹ ở tay, tôi lấy mấy ngày phép ra Phan Rang thăm em. Em mừng rỡ ôm lấy anh, nhưng khi thấy cánh tay bãng bột em xót xa bật khóc. Tôi an ủi em là biết ðâu sau chuyến bị thương này tôi sẽ ðược về làm việc hậu cứ. Ngày hôm sau, nghe tin, Tuấn đến thãm. Thoạt nhìn, tôi ðã có cảm tình với Tuấn, đúng như em nói, Tuấn trông rất hiền lành. Trong suốt tuần lể ở Phan rang, em vẫn phải đi dạy, nhưng may là có Tuấn, mỗi ngày Tuấn tới chở tôi đi ãn sáng, trưa Tuấn và tôi lang thang ra chợ bạ gì ăn ðó ðợi giờ ba cô giáo ði dạy học về. Buổi tối, em ði ngủ sớm, Tuấn ngồi lại nói chuyện với tôi cho tới khuya. Bên ly cafe, tôi kể cho Tuấn nghe chuyện của mình. Những hình ảnh yêu dấu, xót xa như một cuộn phim cũ quay chầm chậm. Tôi rưng rưng kể lại ngày mẹ mất. Tuấn lấy tay chùi mắt, trong đêm tối, tôi thấy mắt Tuấn long lanh ...

Bảy ngày phép cũng trôi nhanh. Tôi trở về Saigòn, lòng cảm thấy vui và nhẹ nhàng vì đã có dịp gặp Tuấn. Tôi tin Tuấn sẽ không làm khổ em. Ba tuần sau, tôi nhận được thư Tuấn, trong thư Tuấn kể về gia ðình (mặc dù tôi đã nghe em kể trong các lá thư). Tuấn muốn tiến tới với em. Tuấn xin phép ðược ðưa mẹ Tuấn ðến gặp tôi. Tuấn hứa là sẽ sãn sóc và thương yêu em. Ðọc thư Tuấn tôi ứa nước mắt vì mừng. Mừng cho em may mắn không gặp những trắc trở trên đường tình ái, mừng cho em gặp được một người chồng hiền hậu. Tôi viết thư cho em và Tuấn, bảo hai em lo thế nào cho tiện, chỉ cố làm sao cho giản đơn vì cả hai đứa cùng nghèo. Bốn tháng sau, Tuấn và em làm đám cưới, nhà gái ngoài tôi còn có thêm mấy thằng bạn trong đơn vị, ông hiệu trưởng, thầy cô giáo và rất đông học trò. Nhà trai ngoài mẹ Tuấn, mấy gia đình anh chị họ còn thêm một số bạn bè Hải quân cùng đơn vị. Nhìn em súng sính trong bộ đồ cưới , tươi cười ðứng bên cạnh Tuấn, tôi gọi thầm mẹ ơi, mẹ ơi, về ðây dự ðám cưới của em. Tôi theo ðơn vị lội thêm hai nãm nửa ở vùng giới tuyến, thì "tai nạn" xảy ra. Trong một lúc nóng giận vì thấy ông xếp của mình sao ngu và bẩn quá, tôi không giữ được lời và đã xúc phạm đến ông, kết quả là tôi bị đưa ra hội ðồng kỷ luật và tống ra khỏi binh chủng nhảy dù.

Sau một thời gian ba chìm bảy nổi, tôi đổi về cục Tâm lý Chiến, thời gian này tôi đã khá nổi tiếng, những bút ký chiến trường về Tết Mậu Thân, Bình Long, An Lộc ... đã làm vinh danh binh chủng cũ của tôi. Tôi được giải thưởng vãn học với bút ký "Mùa hè đỏ lửa". Tiền thưởng và tiền bán sách tôi gửi hết cho em. Tuấn và em dùng tiền này mua được một cãn nhà nhỏ ở ngoại ô Phan rang, gần trường em dạỵ

Mới ngày nào đó còn thẹn thùng nấp bên vai Tuấn mà bây giờ em đã mấy con. Mỗi dịp rãnh rỗi tôi lại ra Phan Rang ở chơi với em, với cháu. Tôi ôm cháu, hôn vào hai má phúng phính, hít vào phổi mùi thơm của trẻ thơ mà thấy lòng mình dịu lại, những cay đắng, cực nhọc của ðời theo tiếng cười lanh lãnh dòn tan của cháu mà bay xa, bay xa. Tôi nhìn hai vợ chồng em, nhìn bầy cháu nhỏ lẫm chẫm quây quần bên chân mẹ mà lòng vừa vui mừng vừa hãnh diện. Tôi ao uớc mẹ tôi nhìn thấy được cảnh nàỵ

Biến cố tháng 4/75 tới như một ðịnh mệnh oan nghiệt, cả Tuấn và tôi ðều phải ra trình diện cải tạo. Em ở lại một mình với một bầy con nhỏ, đứa lớn nhất chưa ðầy sáu tuổi và ðứa nhỏ nhất còn nằm trong bụng mẹ. Trong trại, tôi cứ ðứt ruột nghĩ về em và bầy cháu nhỏ. Mẹ của Tuấn ðã quá già, làm sao lo phụ với em đây. Rồi em còn phải lo lắng về số phận chồng, số phận anh. Tôi quay quắt như như ngồi trên đống lửa, tôi nghĩ ðến lời hứa với vong hồn mẹ hôm nào mà lòng đau như xé, con ðã thất hứa với mẹ, mẹ ơi, con ðang ở ðây tù tội thì làm sao lo được cho em ...

Nãm 76 tôi bị ðưa ra Bắc. Tôi mất liên lạc với em và Tuấn từ tháng 5/75. Làm sao em biết tôi ở đâu mà thư từ thãm gửi. Không biết em có biết Tuấn ở ðâu không, trại tù mọc lên như nấm từ Nam ra Bắc. Hồi còn ở trong Nam, từ Trảng lớn, qua Suối máu, đâu ðâu tôi cũng cố dò hỏi tin Tuấn nhưng vô hiệu. Tù nhân đông quá ...

Trại cải tạo Sơn La, sau ðợt cho viết thư về gia ðình ðầu tiên, ba tháng sau tôi nhận ðược thư em. Thư em ðến tay tôi vào giữa nãm 77. Hơn 2 nãm 1 tháng tôi mới nhìn lại nét chữ của em. Run run bóc thư, mắt tôi cay nồng, nhạt nhoà. Em cho hay là Tuấn đang cải tạo ở Long Thành, Tuấn có thư về và cho biết vẫn bình an, mẹ Tuấn dạo này yếu lắm vì cụ đã quá già, em vẫn đi dạy, hai cháu nhỏ ở nhà với bà nội, hai cháu lớn theo mẹ vào trường, em cho hay đứa con gái út em ðặt tên Tâm, Trần thị Minh Tâm, cháu sinh ngày 12 tháng 9 năm 75, gần 4 tháng sau ngày bố cháu và bác cháu vào tù.

Gần cuối thư, em báo tin là bố còn sống và hồi đầu nãm 76 có tìm ðến gặp em, làm sao bố tìm ra địa chỉ thì em không biết, nhưng hôm ấy bố đến, bố tự giới thiệu tên mình. Em ngỡ ngàng, ngày bố ra đi em mới tròn ba tuổi, hơn hai mươi nãm sau gặp lại làm sao em nhận ðược , bố xoa ðầu ðám cháu ngoại ðang trố mắt nhìn nguời ðàn ông lạ, bố hỏi về anh, về Tuấn, khi em hỏi lại bố là làm sao để biết anh và Tuấn đang bị giam giữ ở trại cải tạo nào, bố lắc đầu không nói gì. Bố cho hay là bố ðang có gia ðình ở Bắc, ngoài ấy bố có thêm hai trai và hai gái. Ðứa trai lớn nhất thua em bốn tuổi.

Bố mang vào cho em hai mươi ký gạo và một chục cam. Bố ở chơi một ngày rồi bố trở về Hà nội. Lúc bố về em có tặng bố cái radio-cassette của anh cho ngày nào. Bố thích lắm, bố hứa sẽ đến thãm anh trong trại tù. Từ hồi trở ra Bắc ðến giờ bố chưa liên lạc lại với em, và em cũng không có địa chỉ của bố ở ngoài ấy. Tôi đọc thư lòng thấy phân vân, tôi cũng như em, không hình dung ra nổi bố tôi hình dáng mặt mủi ra sao, hai mươi mấy nãm, tôi tưởng bố tôi ðã chết.

Tháng 12 nãm 77, tại trại cải tạo Sơn La, bố ðến thãm tôị

Ðứng trong vãn phòng viên sĩ quan trưởng trại một người đàn ông trung niên, tóc muối tiêu và gương mặt xương. Bộ áo quần dân sự khá thẳng thớm, và sự lễ phép của tên đại úy truởng trại tiết lộ về ðịa vị không nhỏ của người này. Thấy tôi vào, viên trưởng trại quay qua nói nhỏ một câu gì đó rồi bước ra ngoài. Tôi im lặng đứng nhìn người đàn ông xa lạ.

Bố ðến bắt tay tôi, tự xưng tên mình, bố gọi tôi bằng anh, bố kể là đã gặp em ở Phan Rang, bố hỏi tôi học tập thế nào, bố không hề nhắc đến mẹ, có lẽ ông ðã biết về cái chết của mẹ. Bố nói là có đọc vãn tôi. Tôi ngồi yên nghe bố nói, sau cùng , bố đứng dậy, móc trong xách ra một gói nhỏ bảo ðó là ðường và thuốc lá, trao cho tôi, khuyên tôi cố gắng học tập tốt để sớm ðược khoan hồng. Tôi nhìn vào mắt bố, lòng thấy dững dưng. Tôi bắt tay bố rồi về lại lán mình. Ðó, cuộc hội ngộ của bố con tôi sau hơn hai mươi nãm là thế ðấy. Chắc cuộc tái ngộ giữa bố với em cũng tẻ nhạt như thế. Có cái gì đó ngãn cách, có cái gì ðó phân chia, có cái gì ðó tôi không hiểu và không diễn tả ðược. Bây giờ tôi hiểu vì sao cái tin quan trọng ðến thế mà em lại chỉ ðề cập một cách ngắn ngủi ở cuối thư.

Lần ðó là lần ðầu và cũng là lần duy nhất tôi gặp bố trong suốt 13 năm lang thang trong các trại tù biệt giam miền Bắc.

Tháng 12/78, chuyển trại lên Yên Bái, tôi nhận thêm được hai lá thư của em, trong bức thư gần nhất, em viết vào tháng 8/78. Em cho hay tình trạng rất khó khăn, phụ cấp ði dạy không ðủ nuôi một mẹ già và bốn con thơ, em đã bán lần mòn hết những đồ trang sức và luôn cả những đồ vật trong nhà. Em vẫn chưa đi thãm nuôi Tuấn ðược một lần nào. Không thể ðể bốn cháu nhỏ ở nhà cho bà nội vì cụ bây giờ đã quá yếu, mỗi buổi ãn, Uyên, cháu lớn phải ðút cho bà. Ngoài ra, mỗi tối, từ lúc chạng vạng em và Hoàng, hai mẹ con phải ra đầu ngõ, ngồi bán bắp nướng đến khuya ðể kiếm thêm tiền ðong gạo. Em than là dạo này mất ngủ, sức khoẻ yếu lắm, em sợ nhở có mệnh hệ nào ...

Tôi thẩn thờ cả buổi vì bức thư em, ngày xưa tôi chỉ lo cho có mỗi mình em, còn bây giờ em phải lo cho bốn đứa con thơ và một mẹ già, kể luôn người chồng và ông anh đang tù tội là bảy, bảy cây thập giá đời ðang ðè nặng lên đôi vai gầy guộc, nhỏ bé của em. Tôi viết thư về an ủi, khuyên em cố gắng, tôi vỗ về em là có thể Tuấn sẽ được tha về sớm với em, với cháu, vì Tuấn đi hải quân và lon còn thấp, không có tội với cách mạng nhiều. Rồi tôi viết thêm cho em hai ba lá thư nữa mà vẫn không thấy hồi âm. Lòng tôi cồn cào, nóng như lửa ðốt, những ngày dài tù tội, tôi không nghĩ đến cái ðói, cái khổ của mình mà chỉ nghĩ đến em và mấy cháu, không biết giờ này, em và bốn cháu thơ dại đang có gì ăn ?

Tháng 6/79, một sáng trên đường lên rừng đốn nứa, tôi nghe loáng thoáng câu chuyện giữa các bạn tù. Họ nghe từ các bà vợ đi thãm nuôi kể lại, rằng ở Phan Rang có một chị có chồng ðang ði cải tạo, chị chết ði, ðể lại bốn con thơ, ðứa bé nhất mới lên ba, còn đứa lớn nhất chưa ðầy chín tuổi. Tội nghiệp, họ hàng nội ngoại không có một ai. Tôi bỗng dưng thấy lạnh toát cả sống lưng, lại gần hỏi thêm thì người bạn tù cho hay là nghe nói chị ấy làm nghề cô giáo, có chồng sĩ quan hải quân đang ði tù cải tạo ở ðâu ðó trong Nam . Nguời chồng, trung úy hải quân trước cũng ðóng ở Phan Rang. Trần Nguyên Tuấn, hải quân trung úy Trần Nguyên Tuấn . Tôi thấy đất trời ðảo lộn, tôi thấy mặt trời nổ tung trong óc, tôi hụt hơi, miệng há hốc ðứng như trời trồng giữa núi rừng Yên Bái, bên cạnh tôi tiếng nguời nói lao xao. Tôi không nghe gì hết, tai tôi lùng bùng, mắt tôi mờ đi, tôi ðang nhìn thấy xác em nằm co quắp trên manh chiếu, bốn đứa cháu của tôi, cháu Minh Tâm chưa ðầy ba tuổi ðang lấy tay lay lay xác mẹ, cháu lớn Thu Uyên chưa ðủ chín tuổi ðang ôm chân mẹ khóc lóc ủ ê, hai ðứa kia, Hoàng và Châu ngơ ngác ðứng nhìn. Trời tháng 6 mùa hè Yên bái mà sao tôi thấy thân mình lạnh buốt. Tôi tê dại, tôi hóa đá, tôi không còn cảm xúc, tôi muốn hét lên cho tan vỡ cả vũ trụ này. Trong lung linh màu nắng vàng buổi trưa Yên Bái, tôi thấy bóng em nhập nhòa, chập chờn. Em của tôi, ðứa em côi cút của tôi .... Mũi súng AK thúc vào cạnh sườn, người vệ binh chắc cũng ngạc nhiên không hiểu sao bỗng dưng tôi đứng như trời trồng giữa lộ. Anh quắc mắt nhìn tôi dò hỏi, tôi không nói gì, im lặng nhập vào dòng tù. Nước mắt chảy dài trên hai má hóp, tôi bước đi như kẻ mộng du


Phan Nhật Nam
Image

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

TAO KHÔNG GỬI SÚNG

Như một lời tạ lỗi với Nguyễn cung Thương (VN )

Đọc thơ mày ....buổi trưa hè nắng cháy .
Tao nghe hồn chết lịm giữa mùa Đông ,
Thấy xót xa , cay đắng trong lòng
Khi mày đòi chúng tao gửi súng ...

Mày nói đúng , quả thật mày nói đúng
Làm sao hòa hợp được với lũ sài lang
Lũ chó trâu, bạo ngược hung tàn
Chỉ biết sống trên máu xương đồng loại

Mấy mươi năm , ch1ung ra công phá hoại
Mảnh giang sơn gấm vốc của cha ông
Đất miền Bắc, biển miền đông.
Chúng dâng cúng cho quan thầy Trung cộng

Lũ tầu đỏ , bắn giết dân đen
Chúng rút đầu, câm họng
Cha ,Thầy mới mở lời
Chúng hùng hổ ra tay
Khiếu nại kêu oan , chúng thẳng cánh đoạ đầy

Sư cũng tống ngục, mà Cha cũng nhốt
Có lắm kẻ,ngày xưa chỉ ăn trên ngồi trước
Từng hùng hồn tuyên bố "Sẽ vì nước hy sinh "
Nhưng than ôi !
Đến nay , bỗng ...khúm núm hạ mình
Để xin được làm chó săn
Liếm gót giầy giặc cộng
Có những thằng , áo cao mũ rộng
Bằng cấp đầy mình , kiến thức mênh mông
Thế mà,
Một câu nói giản đơn cũng chẳng chịu nằm lòng .
"Hãy nhìn , chứ đừng nghe những gì Cộng sản nói "

Ngày ra đi, chúng thảm thương,thật tội ...
Mặt mũi xanh xao, quần áo tả tơi.
Còn bị lũ đầu trâu chửi mắng nặng lời
"Bọn đĩ điếm , chỉ ôm chân đế quốc "

Nay , được đám lưu manh xoa đầu
Gọi Việt kiều yêu nước
Vội đem tiền về ,mở tổ hợp, đầu tư
Rồi nhanh nhảu hoan hô bác , đảng nhuyễn nhừ
Cũng một ruộc trâu tầm trâu , mã tầm mã

Những người chết,cũng bị đào mồ , cuốc mả
Bán đất chia nhau,tranh thủ làm giầu
Chúng vơ vét cả tiết trinh em nhỏ

Nghe mày hỏi , tao gục đầu xấu hổ
Súng đạn đâu mà gởi cho mày đây ?
Ngoài một chút sắt son nặng trĩu lòng này
Xin mày hiểu , vì sao :
"Tao không gởi súng "


Mũ Nâu 11 .

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Tết Trung Thu

Image

Nguyễn Quý Đại
Thằng Cuội ngồi gốc cây đa
Thả trâu ăn lúa gọi cha ời ời
Cha còn cắt cỏ bên trời
Mẹ còn cỡi ngựa đi mời quan viên
Quan thì cầm bút cần nghiên
Quan thì cầm tiền đi chuộc lá đa
Tháng 9 thời tiết mát, những cơn mưa giông nhỏ hạt, cỏ cây xanh lá sẽ đổi màu cho muà Thu sắp đến. Có những đêm không mây mù bao phủ, bầu trời đẹp quang đãng, ánh trăng vàng mát dịu, theo âm lịch rằm tháng 8 là tết Trung Thu. Cộng đồng người Việt tị nạn chuẩn bị tổ chức Tết Trung Thu cho trẻ em, những tiệm thực phẩm Á Châu bán bánh trung thu, lồng đền lộng lẫy. Những hộp bánh Trung thu màu đỏ sậm, bánh dẻo, bánh nướng..

Những chiếc lồng đèn gợi cho chúng ta nhớ thời ấu thơ, vào dịp Tết Trung Thu theo mẹ ra chợ, mua những đồ chơi bằng giấy bồi, hoặc dán lên bộ khung bằng tre nứa như lồng đèn hình ngôi sao, hình bánh ú.. một số đồ chơi lớn như đèn kéo quân, tối thắp nến sáng các vòng dán hình người, thú và cảnh vật từ chuyển động, từ ngoài nhìn qua các lớp giấy bóng màu, các hoạt cảnh cứ liên tục diễn ra nhịp nhàng, sống động như một màn hình, các lồng đèn với dạng đầu sư tử, tiến sĩ giấy… Nguyễn Khuyến trong bài thơ Ông nghè tháng tám đã viết

„Mấy chú Hoa Nam khéo vẽ trò,
cũng cờ cũng cũng biển cũng cân đai“

Ngày xưa ở phố hàng Mã Hà Nội, người ta thường bày bán đủ các loại lồng đèn, nhiều kiểu đủ màu, không thiếu hình các ông tiến sĩ giấy, Nhiều người thích mua cho con chơi và mơ ước con cái sau nầy sẽ là những người khoa bảng có điạ vị trong xã hội. Các phố hàng Đường, hàng Buồm bán đủ các loại bánh Trung Thu. Ngày nay khắp nơi đều có bày bán quà bánh Trung Thu, lồng đèn, theo văn minh phát triễn cuả khoa học, thêm những đồ chơi bằng nhựa, những con bướn, chim bồ câu bằng điện tử bay lượn quanh gian hàng, càng tăng phần hấp dẫn hơn. Ở Sài gòn khắp nơi đều có bán bánh Trung Thu, rằm tháng 8 trở thành một lễ Hội lớn cho trẻ em, người lớn mua bánh để biếu những người mình mang ơn. Thành phố cổ Hội An, có truyền thống làm lồng đèn đẹp, vào những ngày rằm hai bên phố treo lồng đèn, ánh sáng hoà lẫn với ánh trăng không khí về đêm thêm huyền ảo và thơ mộng

Hằng năm người Việt ở hải ngoại thường tổ chức tết Trung Thu, để trẻ em có cơ hội gặp nhau, tổ chức dự thi lồng đèn, có các mục như: thi ca nhạc, thi vẽ với đề tài về Tết Trung Thu, đố vui để học. vv. để nhớ lại kỷ niệm thời thơ ấu xa xưa ở quê nhà. Chúng ta tìm hiểu về Tết Trung Thu tại sao có lồng đèn ông sao? tiến sĩ giấy..múa lân với tiếng trống vui nhộn khắp nơi từ thành thị cho đến thôn quê.

Theo huyền thoại thì Tết Trung thu bắt đầu từ đời nhà Đường; thời vua Duệ Tôn, niên hiệu Văn Minh. Nguyên năm đó, vào đêm Rằm tháng tám trăng tròn sáng tỏ, gió mát. Nhà vua ngự chơi ngoài thành tới khuya. Bỗng xuất hiện ông già đầu bạc trắng chống gậy tới bên nhà vua. Trông người và theo cử chỉ, nhà vua đoán ngay là một vị thượng tiên giáng thế. Ông già kính cẩn chào nhà vua rồi hỏi:

-Bệ hạ có muốn lên thăm cung trăng không?

-Nhà vua liền trả lời “có”

Vị tiên liền đưa chiếc gậy lên trời, hoá phép ra một chiếc cầu vồng, một đầu giáp cung trăng, còn một đầu giáp mặt đất. Tiên ông đưa nhà vua trèo lên cầu vồng, đến cung trăng. Phong cảnh nơi đây thật đẹp với vẻ đẹp khác xa nơi trần thế. Có những nàng tiên nữ nhan sắc xiêm y cực kỳ lộng lẫy, xinh như mộng, nhảy múa những điệu vô cùng quyến rũ...Nhà vua đang say sưa với những cảnh đẹp thì tiên ông lại đưa nhà vua trở lại cung điện. Về tới trần thế, nhà vua còn luyến tiếc cảnh trên cung Quảng và những giờ phút đầy thơ mộng nhà vua đã sống qua. Để kỷ niệm cái ngày du Nguyệt điện, nhà vua đặt ra Tết Trung thu.

Trong ngày Tết này, người ta uống rượu, uống trà thưởng trăng, và vì vậy Tết này còn được gọi là Tết Trông Trăng. Vầng trăng mở hội liên hoan, ngày rằm Trung thu nhằm vào tiết Thu phân nên khí âm và dương điều hòa với đêm ngày bằng nhau. Bầu trời quang đãng, khí hậu ôn hòa nên người ta cảm thấy dễ chịu nhất trong năm. Hơn nữa, Thu là mùa lúa chín, nên việc đồng áng rảnh rỗi.. Đây là dịp "ăn mừng vầng trăng tập thể "một cách cụ thể của tục lệ xã hội trong cảnh liên hoan náo nhiệt với tục rước đèn, múa lân. Nhiều gia đình nhân dịp làm nhiều thứ bánh bày cổ trông trăng, làm lễ cúng tổ tiên ông bà, cỗ Trung Thu rất phong phú nhiều trái cây, bánh kẹo.

Các vì sao trên trời cao, được bổ sung bằng lồng đèn hình ngôi sao của các em như mời trăng, rước trăng về dự cỗ với các em, trẻ em lũ lượt kéo nhau ra phố, mỗi đưá cầm chơi một cái lồng đền thắp nến bên trong, càng tạo không khí huyền hoặc như cảnh cung Quảng Hàn ở giữa trần gian, các em cùng nhau hát gọi trăng những bài đồng dao. - Với nhi đồng là vầng trăng của bài ca "Ông giẳng, Ông giăng...", của những chuyện kể thần thoại về "Thằng cuội", "Hằng Nga", "Thiềm thừ", "Cung Quảng", của những trò chơi "Thả đỉa ba ba", " Rồng rắn Ông thầy", Phụ đồng chổi.. thổi lổi mà lên" dưới ánh trăng vàng vằng vặc.

Ông Giăng ơi, xuống chơi với tôi
Nhà tôi có một bát cơm xôi
Có nồi cơm nếp, có nệp bánh chưng
Có lưng hũ rượu, có khướu đánh đu
Thằng cu giữ lại, mẹ đẻ bồng con
Cái lon múc nước, cái lược chải đầu
Con trâu cày chiêm, cái liềm hái lá
Con cá có vây, thợ rèn có buá
Nhà chuá có tàn, nhà quan có lọng..

Hết ngồi hát vỗ tay, các em lại đứng lên nắm tay nhau thành vòng tròn xung quanh mâm cỗ, vừa đi vừa hát:

Dung dăng dung dẻ, dắt trẻ đi chơi
Đến cửa nhà trời, tìm nơi gió mát
Cùng hát véo von, mời ông trăng tròn
Ra chơi với bé, xì xà xì xạp..

…

Sau đó các em đi ngược lại và hát tiếp như điệp khúc:

Dung dăng dung dẻ, dắt trẻ đi chơi
Đến cửa nhà trời, lạy cậu lạy mợ
Cho cháu về quê, cho dê đi học
Cho cóc ở nhà, cho gà bới bếp
Ngồi xệp xuống đây…

Đôi khi trẻ em quây quần bên bà nội hay mẹ nghe kể chuyện về trăng có Hằng Nga dịu dàng tươi trẻ, hoặc về chú Cuội láu lỉnh “ngồi gốc cây đa, thả trâu ăn lúa, gọi cha hời hời…” Các em nghe chuyện, ăn quà bánh trông trăng, người lớn cũng vui với trăng hoà mình với thiên nhiên : Nói về trăng như những luyến ái với nhân gian. Với lứa tuổi nam nữ yêu đương là những vầng trăng thề, trăng chia phôi, trăng nhớ nhung, trăng khắc khoải... trong truyện Kiều 3522 câu lục bát chỉ nhắc đến hai ba chữ "nắng" nhưng đã nhắc đến 38 chữ "trăng" với bao nhiêu sắc vẻ trữ tình như trăng bạc, trăng già, trăng gió, trăng hoa, trăng khuyết, trăng mới, trăng tà, trăng tàn, trăng thâu, trăng thề, trăng tròn...

Vầng trăng rất quan hệ đến sinh hoạt, tính khí và sinh lý của vạn vật trên mặt đất qua hiện tượng thủy triều và ảnh hưởng huyền bí trên mùa màng cây cỏ. Về hình dáng và thời điểm xuất hiện của vầng trăng trong tháng được nhà nông kể thuộc lòng theo vần theo điệu như sau:

Mồng một lá trai,
Mồng hai lá lúa,
Mồng ba câu liêm,
Mồng bốn lưỡi liềm,
Mồng năm liềm giật,
Mồng sáu thật trăng,
Mười rằm trăng náu,
Mười sáu trăng treo,
Mười bảy sảy giường chiếu,
Mười tám trăng lẹm,
Mười chín dụn dịn,
Hai mươi giấc tốt,
Hăm mốt nửa đêm,
Hăm hai bằng tai,
Hăm ba bằng đầu,
Hăm bốn bằng râu,
Hăm lăm bằng cầm,
Hăm sáu đã vậy,
Hăm bảy làm sao,
Hăm tám thế nào,
Hăm chín thế ấy,
Ba mươi không trăng.

Qua những kinh nghiệm theo nghề nông việt Nam còn có những câu sau để tiên đoán việc nông

Muốn ăn lúa ré, xem trăng rằm tháng giêng,
Muốn ăn lúa tháng 5, xem trăng rằm tháng 8
Muốn ăn lúa tháng 10, xem trăng mồng tám tháng 4

Hay là

Trăng thanh vằng vặc giữa trời
Nhớ tình nhớ nghiã nhớ nơi hẹn hò
Trăng tròn chỉ có đêm rằm
Tình ta tháng tháng quanh năm vẫn tròn
Trăng bao nhiêu tuổi trăng già
Núi bao nhiêu tuổi gọi là núi non ……….

Tô Đông Pha trong hai bài Tiền Xích bích phú và Hậu Xích bích bất hủ sáng tác vào mùa thu năm Nhâm Tuất (năm 1082) đã tạo một ảnh hưởng sâu đậm cảnh sông nước Trường giang dưới ánh trăng thu, Tô Đông Pha đã luận về thân phận phù du của con người trong vũ trụ mênh mang bất diệt để kết luận với cái triết lý hưởng lạc trước mắt trong kho tàng thiên nhiên vô tận:

Nước kia vẫn xuôi giòng chẩy xiết,
Mà chưa từng đi hết chút nao!
Trăng kia có lúc đầy hao,
Mà ta chưa thấy khi nào bớt thêm
Cứ lúc biến mà xem trời đất,
Thì chẳng qua chớp mắt mà thôi.
Cứ khi không biến mà coi,
Thì ai ai cũng lâu dài như nhau
(Tiền Xích Bích Phú dịch nôm của Đào Nguyên Phổ)

Nói về Trăng là cả một nguồn thi hứng để sáng tác. Các thi nhân ca tụng trăng khi nghe đờn hát, khi ngắm hoa, khi lên núi cao, khi dong thuyền trên sông nước.... Những áng văn nổi tiếng của những thi hào đều được sáng tác dưới trăng: Trong bài Tương tiến tửu, thi bá Lý Bạch khuyến khích người ta:

Khôn nỡ để chén vàng trơ dưới nguyệt.
Nhân sinh khi đắc ý nên càng,

Trong Tỳ bà hành (mùa thu năm 816 CN), Bạch Cư Dị đã tả:

Thuyền không đậu bến mặc ai,
Quanh thuyền trăng giải, nước trôi lạnh lùng.

Cố thi sĩ Hàn Mặc Tử, yêu thương những mùa trăng trong cuồn loạn

Trăng ! Trăng ! Trăng ! là Trăng! Trăng ! Trăng
Ai mua Trăng tôi bán trăng cho....
Ánh trăng mỏng quá không chê nổi
Những vẻ xanh xao của mặt hồ
Những nét buồn buồn tơ liễu rủ
Những lời năng nỉ của hư vô

Những ngày xa quê hương muốn có những đêm trăng để thưởng thức rất khó, vì thời tiết ở Âu Châu vào thu trời không đẹp như ở bên quê nhà, ánh đèn điện sáng khắp nơi làm mất đi một phấn nào vẽ đẹp cuả thiên nhiên với ánh trăng vàng vào dịp tết Trung Thu! Tản Đà với thơ ngông, chán đời đã gởi chị Hằng một phần tâm sự

Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi !
Trần giới em nay chán nửa rồi.
Cung Quế đã ai ngồi đó chửa ?
Cành đa xin chị nhắc lên chơi
...
Ai đâu trở lại mùa thu trước,
Nhặt lấy cho tôi những lá vàng

Nhạc phẩm Thằng Cuội (1) của nhạc sĩ Lê Thương (mất năm 1996). Bài hát này không chỉ cuốn hút thế giới tuổi thơ mà cả người lớn

"Bóng trăng trắng ngà, có cây đa to, có thằng Cuội già, ôm một mối mơ. Lặng yên, ta nói Cuội nghe: Ở cung trăng mãi làm chi? Bóng trăng trắng ngà. Có cây đa to..."

Trăng qua thi ca thật hấp dẫn gợi tình, hình ảnh các nàng tiên xinh đẹp với chi Hằng Nga ở cung quảng thơ mộng, đã bị quấy rầy bởi chuyến bay Apollo 11 khởi hành ngày 16.7.1969 đã đáp xuống mặt trăng vào ngày 24.7.1969. Con người đã khám phá cuộc sống bí mật của không gian, thiên thể. Hằng Nga xinh đẹp và các nàng tiên đã bỏ đi nơi khác!!! cây đa của chú Cuội (xem phần đìển tích trích dưới) chỉ trở về trong những ngày rằm tháng Tám.

Kỷ niệm thời ấu thơ vui chơi mùa Trung Thu, với những chiếc lồng đèn xinh đẹp, rước đèn trong đêm trăng rằm tháng Tám, được ăn bánh Trung thu của gia đình hay trường học phân phát, thưởng thức vui đùa hồn nhiên dưới ánh trăng vàng diệu vợi. Kỷ niệm đó chỉ còn lại trong ký ức tuổi đời theo bóng ngã chiều tà.

Munich cuối hè 2007

Sự tích chú Cuội cung trăng Ngày xưa ở một miền nọ có một người tiều phu tên là Cuội. Một hôm, như lệ thường, Cuội vác rìu vào rừng sâu tìm cây mà chặt. Khi đến gần một con suối nhỏ, Cuội bỗng giật mình trông thấy một cái hang cọp. Nhìn trước nhìn sau anh chỉ thấy có bốn con cọp con đang vờn nhau. Cuội liền xông đến vung rìu bổ cho mỗi con một nhát lăn quay trên mặt đất. Nhưng vừa lúc đó, cọp mẹ cũng về tới nơi. Nghe tiếng gầm kinh hồn ở sau lưng, Cuội chỉ kịp quẳng rìu leo thoắt lên ngọn một cây cao. Từ trên nhìn xuống, Cuội thấy cọp mẹ lồng lộn trước đàn con đã chết. Nhưng chỉ một lát, cọp mẹ lẳng lặng đi đến một gốc cây gần chỗ Cuội ẩn, đớp lấy một ít lá rồi trở về nhai và mớm cho con, bốn con cọp con đã vẫy đuôi sống lại, khiến cho Cuội vô cùng sửng sốt. chờ cho cọp mẹ tha con đi nơi khác, cuội đến cây lạ kia đào gốc vác về nhà

Dọc đường gặp một ông lão ăn mày nằm chết vật trên bãi cỏ, Cuội liền đặt gánh xuống, không ngần ngại, bứt ngay mấy lá nhai và mớm cho ông già! Mầu nhiệm làm sao, mớm vừa xong, ông lão đã mở mắt ngồi dậy. Thấy có cây lạ, ông lão liền hỏi chuyện. Cuội kể lại đầu đuôi câu chuyện, nghe xong ông lão nói

“Cây này chính là cây có phép "cải tử hoàn sinh". Thật là trời cho con để cứu giúp thiên hạ. Con hãy chăm sóc cho cây nhưng nhớ đừng tưới bằng nước bẩn mà nó bay lên trời.” Nói rồi ông lão chống gậy đi. Còn Cuội thì gánh cây về nhà trồng ở góc vườn phía đông, luôn luôn nhớ lời ông lão dặn, ngày nào cũng tưới bằng nước giếng trong sạch

Từ ngày có cây thuốc quý, Cuội cứu sống được rất nhiều người. Hễ nghe nói có ai nhắm mắt tắt hơi là Cuội vui lòng mang lá cây đến tận nơi cứu chữa. Tiếng đồn Cuội có phép bay đi khắp nơi, Một hôm Cuội lội qua sông gặp xác một con chó chết trôi. Cuội vớt lên rồi giở lá trong mình ra cứu chữa cho chó sống lại. Con chó quấn quít theo Cuội, tỏ lòng biết ơn. Từ đấy, Cuội có thêm một con vật tinh làm bạn

Một lần khác, có lão nhà giàu ở làng bên hớt hải chạy đến tìm Cuội, vật nài xin Cuội cứu cho con gái mình vừa sẩy chân chết đuối. Cuội vui lòng theo về nhà, lấy lá chữa cho. Chỉ một lát sau, mặt cô gái đang tái nhợt bỗng hồng hào hẳn lên, rồi sống lại. Thấy Cuội là người cứu sống mình, cô gái xin làm vợ chàng. Lão nhà giàu cũng vui lòng gả con gái cho Cuội. Vợ chồng Cuội sống với nhau thuận hòa, êm ấm thì thốt nhiên một hôm, trong khi Cuội đi vắng, có bọn giặc đi qua nhà Cuội. Biết Cuội có phép cải tử hoàn sinh, chúng quyết tâm chơi ác. Chúng bèn giết vợ Cuội, cố ý moi ruột người đàn bà vứt xuống sông, rồi mới kéo nhau đi. Khi Cuội trở về thì vợ đã chết từ bao giờ, mớm bao nhiêu lá vẫn không công hiệu, vì không có ruột thì làm sao mà sống được !!

Thấy chủ khóc thảm thiết, con chó lại gần xin hiến ruột mình thay vào ruột vợ chủ. Cuội chưa từng làm thế bao giờ, nhưng cũng liều mượn ruột chó thay ruột người xem sao. Quả nhiên người vợ sống lại và vẫn trẻ đẹp như xưa. Thương con chó có nghĩa, Cuội bèn nặn thử một bộ ruột bằng đất, rồi đặt vào bụng chó, chó cũng sống lại. Vỡ với chồng, người với vật lại càng quấn quít nhau hơn, nhưng cũng từ đấy, tính nết vợ Cuội tự nhiên thay đổi hẳn. Hễ nói đâu là quên đó, làm cho Cuội lắm lúc bực mình. Ðã không biết mấy lần, chồng dặn vợ: "Có đái thì đái bên Tây, chớ đái bên Ðông, cây dông lên trời!".

Nhưng vợ Cuội hình như lú ruột, lú gan, vừa nghe dặn xong đã quên. Một buổi chiều, chồng còn đi rừng kiếm củi chưa về, vợ ra vườn sau, không còn nhớ lời chồng dặn, cứ nhằm vào gốc cây quý mà đái. Không ngờ chị ta vừa đái xong thì mặt đất chuyển động, cây đảo mạnh, gió thổi ào ào. Cây đa tự nhiên chuyển động bay lên trời. Vừa lúc đó thì Cuội về đến nhà. Thấy thế, Cuội hốt hoảng vứt gánh củi, chạy đến níu cây lại. Nhưng cây lúc ấy đã rời khỏi mặt đất lên quá đầu người. Cuội chỉ kịp móc rìu vào rễ cây, định lôi cây xuống, nhưng cây vẫn cứ bốc lên, không một sức nào cản nổi.

Cuội cũng nhất định không chịu buông, thành thử cây kéo cả Cuội bay vút lên cung trăng. Từ đấy Cuội ở luôn cung trăng với cả cái cây quý của mình. Nhìn lên mặt trăng, người ta thấy một vết đen rõ hình một cây cổ thụ có người ngồi dưới gốc, người ta gọi cái hình ấy là hình chú Cuội ngồi gốc cây đa....

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Image

Bạn bè của tôi
Phan Văn Hưng & Nam Dao


Bạn bè của tôi là nhân chứng cho cả thế hệ này
Mười thằng bạn thân, mười con số trong một kiếp trần
Thằng thì đã khuất bỏ mạng rừng xanh
Thằng thì cụt mất cánh tay của anh

Bạn bè của tôi,
Từng chiếc lá trong trận bão dân tộc
Tuổi trẻ đôi mươi bị lãng phí như cỏ rác thôi
Thằng thật tài ba thì đạp xích lô
Còn thằng giàu cha là thằng ma cô

Ai thấu cho oan khiên này
Người có lắng nghe
Tiếng ai than dài
Thuyền nào cứ trôi dạt
Để ai khóc trong cười
Ngổn ngang những bóng đời
Chẳng thiết ngày mai

Bạn bè của tôi đi lây lất trong cuộc sống vô vọng
Từng ngày từng đêm
Mờ đôi mắt vì một miếng ăn
Thằng thì nghèo tơi gục đầu trần ai
Còn thằng làm oai cũng chỉ loay hoay

Bạn bè của tôi
Bị chia cách theo làn ranh căm hờn
Mười thằng bạn thân
Nào có biết thương và ghét không
Thằng ngụy gần điên nằm tù mục xương
Còn thằng đảng viên sống trong ân hận

(Hát Đ.K.) và để chấm dứt

Bạn bè của tôi
Bạn bè của tôi
Bạn bè của tôi

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Trăng thu
Phan
Trăng trước còn ngồi với cái nóng hừng hực của sân gạch, mái che. Trăng này đã trải xuống mái che, sân gạch thứ ánh sáng bàng bạc của trăng thu, lành lạnh. Chao ôi! Thu về rồi đó sao? Trăng trước còn ngồi với ông bạn gìa đáng tuổi cha, ăn nhậu gì đâu có nhớ. Chỉ nhớ mang về lúc nửa đêm, những khắc khoải trong lòng một người gìa đã làm hoang mang lòng trẻ: “Quê hương là gì?”

Còn nhớ hôm đó, tôi không trả lời liền vì sợ hồ đồ với người lớn tuổi đã không phải, hồ đồ với quê hương càng không phải. Về nhà ngồi nghĩ lung: Một người tài cao học rộng như ông; vinh nhục trong đời đã từng trải như ông; hạnh phúc và khổ đau của ông cũng từng trải dài theo năm tháng… không có sức mà viết thành sách. Tôi cho là thái độ hoài nghi - một biểu hiện của tuổi gìa. Rồi tôi nghĩ tiếp thì không tin mình nữa, ông gìa muốn thử lòng con cháu: Có quê hương không? Tôi biết trả lời sao cho vừa lòng ông; không thẹn lòng tôi? (Oâng T.Vấn “Bước thời gian” vừa ghé Dallas nhậu với tôi mà quên hỏi. Tiếc cũng muộn rồi.)

Đã một tuần trăng đi qua, tôi vẫn không trả lời nổi câu hỏi: “Quê hương là gì?” Tôi có quê hương không? Quê hương của những tư tưởng lớn là sông dài, núi cao mà mỹ từ gọi là “Giang sơn gấm vóc” thì tôi đây không có. Quê hương của tôi thấp bé như chính cuộc đời tôi vậy. Quê hương khô khốc với vầng trăng Trung thu soi bóng mình ên, soi miếng báng Trung thu “bỏ thì thương mà vương thì tội”. Nhưng ông bạn - điếc không sợ súng, đã “vờ” lệnh cấm trên tinh thần “cái gì cấm thì qúy”, đem từ Việt Nam về đây. Cũng chỗ thân tình mới cho tôi một cái để nghe; để ngửi… mùi Trung thu quê xa. Nhưng hỡi ơi! Tình ơi… mùi chuột chết. Ly trà xanh thì ngon nhưng không mang hương vị quê nhà vì “Made in Taiwan”. Thêm một Trung thu lặng lẽ nơi này. Tôi ngồi nhớ cố hương. Tự hỏi quê hương trong tôi còn hay mất? Còn gì, mất gì sau những năm tháng xa như người xé lịch chung thân. Quê hương trong tay với miếng bánh Trung thu buồn bã, khô xảm. Quê hương chỉ còn trong hoài niệm mỗi độ giao mùa thôi sao? Quê hương tôi đâu đây trong từng nỗi nhớ:

… một gốc dừa hoang bên giòng nước vô danh. Năm đó tôi mười lăm, mười bảy. Anh lớn tôi nói với tôi: “Mày đi học rồi về nhà, đừng đi chơi xa để bất cứ lúc nào người ta gọi thì lên đường”. Tôi đi học về cứ luẩn quẩn quanh nhà, ra bờ sông ngồi một mình tư lự. Tôi thấy trái dừa khô đã nẩy mầm, cắm được cái rễ cái vô bờ đất, chỗ bãi rác. Nếu tôi gặp trái dừa khô trước khi anh tôi nói chuyện vượt biên thì tôi đã nhổ lên, chặt ra để lấy cái mộng dừa bên trong to như qủa ổi, hơi hôi hôi xà bông nhưng ăn giòn giòn, béo béo cũng đỡ buồn miệng trong tuổi háu ăn. Nhưng hôm đó tôi ngồi nhìn trái dừa khô đã nẩy mầm mà tưởng tượng ra một đời người, đời tôi. Trái dừa kết từ hoa dừa, tôi được cha mẹ sinh ra. Một đêm mưa gió bão bùng, trái dừa khô như tôi đã lớn. Trái dừa rời thân cây dừa như tôi rời xa mẹ và gia đình. Trái dừa trôi trên giòng vô định, tôi trên chiếc thuyền vượt biên cũng không phương hướng. Trái dừa may mắn qua được những đôi mắt tinh tường của những người đi săn bịt ny-lon trên sông nước, tôi may mắn thoát được những đôi mắt cũng tinh tường của lực lượng biên phòng, những người hải tặc biển Đông và thần sóng, thần gió… Trái dừa cắm được cái rễ vô một chân trời mới, tôi đến được một đất nước xa lạ. Trái dừa mọc thành cây rồi lớn mạnh, ra hoa kết trái. Tôi dần dà ổn định, lấy vợ sanh con. Cây dừa hết tuổi thọ, gục chết trên bãi rác. Tôi chết âm thầm ở quê xa với người vợ ngoại quốc và những đứa con lai. Tôi thấy trái dừa khô đã nẩy mầm có linh hồn, tôi không nhổ nó lên để thỏa mãn tính tham ăn mà còn dùng cái uy của một thằng phá làng phá xóm có tiếng, nay lớn rồi - tha cho bà con cô bác. Tôi ra lệnh cho đàn em thò lò mũi xanh không được đụng đến cây dừa. Cây dừa có bảo kê lớn mạnh, ra hoa kết trái. Tôi thì không đi được nhiều chuyến nên về ngồi dưới gốc dừa mà nghe cô đơn. (Những năm ’77 - ’78, tôi chỉ nghĩ được tới đó là hết.)

Mấy chục năm rồi. Thấy cây dừa tôi nhớ đến xóm nghèo, tuổi trẻ của tôi nên computer của tôi luôn luôn để background hình ba cây dừa trên hoang đảo. Cây dừa là quê hương tôi đó sao? Tôi vẫn đi tìm câu trả lời cho ông bạn gìa thương tôi như con ông. Hôm gia đình tôi đi nghỉ hè. Lúc đến thăm Pittsburgh Zoo bên Pennsylvinia, vợ tôi đứng nhìn bụi chuối trong khu vườn thực vật châu Á thật lâu, tôi đến bên sạo sự, vợ tôi nói: “Thấy bụi chuối, em nhớ nhà bà Nội tụi nhỏ qúa!…” Quê hương là bụi chuối trong tâm tư người vợ; trong suy nghĩ người chồng: Quê hương mình cũng đang rách bươm như những tàu lá chuối sau trận gió đêm qua. Em thấy không?! Đó. Đã hai mươi năm “tình không biên giới” nhưng suy nghĩ vẫn là của riêng. Ai cũng có một quê hương cất kỹ trong tiềm thức và sẵn sàng bật ra tiếng nấc hay nụ cười; tiếng lòng với hiện tại gợi nhớ.

Vậy. Quê hương là gì đây? Tôi đi giao hàng trong trường trung học, đám học trò ngồi dựa lưng vào tường, có con bé rắn mắt nằm xuống sân trường, gác hai bàn chân trắng nõn lên vách tường. Tôi chợt nhớ đôi bàn chân cũng trắng nõn của cô bạn học thời trung học, lần đó bị kiến cắn. Nó la làng, khóc bù lu bù loa. Không có dầu xanh, dầu đỏ, dầu khuynh diệp gì ráo. Tôi nói với nó: “trong nước miếng của mình có thuốc sát trùng”. Vậy là nó mút ngón tay cho ướt nước miếng rồi tha lên những vết kiến cắn, nhưng không chấp nhận nước miếng của tôi vì nước miếng con trai ưa quên đánh răng - dơ lắm! Quê hương trong tôi là đôi bàn chân con gái - trắng nõn. Nghèo dữ vậy sao?

Tôi đi làm đầu tắt mặt tối, có khi cả tháng, cả năm tôi không nhớ gì đến quê hương. Tối về đến nhà, thấy vợ tôi chong đèn với một đống bills - sẵn đợi cơm chồng. Cái kính chưa quen của người mới đeo kính, cái máy tính gõ lọc cọc để cân đối chi thu trong một gia đình là hình ảnh người-mẹ-Việt-Nam, là quê hương tôi đây. ïÁnh đèn bàn ăn trong một gia đình Việt Nam nếu đem phân chất sẽ rất nhiều mùi nước mắm và tiếp theo là đừng đem phân chất một mùi hương… cứ để cho tình theo cảm xúc thì thơm hết. Chắc nhờ vậy mà ấm áp hơn những gia đình không nổi lửa. Những gia đình ăn bữa cơm tối bằng thức ăn nhanh (fast-food) gọi nhà hàng order vài món, họ đưa tới nhà. Aên vội để còn thời gìơ N-joy đủ thứ trên đời trong kỷ nguyên wirelees.

Sáng ngày nghỉ, vợ tôi ngồi gội đầu với nồi bồ kết nấu y như mẹ tôi mấy mươi năm trước. Những chai dầu gội đầu đắt tiền mà người thân, bạn bè cho tặng trong những dịp lễ lộc thì lặng lẽ đem cho để khỏi buồn lòng người tặng - cũng là hình ảnh quê hương. Quê hương trong một gia đình người tỵ nạn ấp lẫm nếu ta nhìn ra quê hương trong tình thâm; nghĩa trọng. Có nhà Việt Nam nào trên nước Mỹ không có bộ sơn mài “mai lan cúc trúc” hay “ ngư tiều canh mục”… đều chiếm lĩnh một vị trí trang trọng trong phòng khách. Quê hương thiêng liêng đến con người mặc nhiên trang trọng - không suy nghĩ nữa. Hình ảnh quê hương trong căn phòng khách của một gia đình tỵ nạn thường được treo ngang hàng với Chúa, Phật rồi mới tới Oâng bà cha mẹ, tới hình ảnh vợ chồng chủ nhà rồi mới tới hình ảnh gia đình con cái, bạn bè… thể hiện tính kính lão phương Đông.

Nếu ngồi nhớ ra, hoài niệm về quê cũ thì phong phú lắm! Từng hình ảnh thân quen khuất trong tiềm thức sống lại với lòng truy nguyên. Quê hương tôi ẩn hiện trong giấc ngủ mà ai đó gọi là mơ. Con nhỏ em thằng bạn học, bạn trong xóm. Nó nhỏ hơn tôi hai, ba tuổi, thấy mặt tôi là nó rủ đi hái khế. Nó đè vai tôi xuống để ngồi lên cổ tôi là hái tới trái khế. Hay thiệt. Một hôm nó hái xong trái khế rồi la làng, thất thanh: “cổ anh chảy máu…” nhưng cổ tôi không có vết trầy sước nào. Em tôi thành thiếu nữ trong sự ngờ nghệch của cả hai, nghĩ lại thấy thương vô cùng. Tôi đi chặt cây trúc, cột vào đầu trúc cây căm xe đạp bẻ cong hình lưỡi câu. Từ đó, em chọn trái, tôi móc và giật xuống chứ em không trèo lên cổ anh ngồi nữa. Em căng vạt áo và chọn vị trí rơi của qủa khế. Tôi giật qủa khế rớt giữa mặt em, em đau qúa nên kéo luôn vạt áo lên che mặt, khóc. Tôi bàng hoàng với lần đầu tiên thấy được cái áo ngực đang mặc trên thân thể chứ không phải máng sau cánh cửa một phòng ngủ nào đó. Ngộ thiệt. Tôi hát vu vơ… Quê hương là chùm khế ngọt / cho con trèo hái mỗi ngày… từ bao gìơ và đến bao gìơ? Quê hương trong mơ của tôi cũng không có gì to lớn, hay ho. Tôi nghèo nhưng không túng tình quê hương. Quê hương chỉ có vậy cho nên không dám nói.

Một hôm qua phố lạ. Lòng tôi trống huơ với người bản xứ… đi ào ào cho kịp những nghĩ suy. Tôi lang thang qua phố phường không quen mà nhớ Tự Do và những tiệm bán tranh, những tiệm bán áo dài thêu, vẽ… mà một thời chắt chiu từng đồng lương dạy học để mua tặng cho một nửa của mình - mới chỉ là hy vọng thôi chứ chưa là thiệt bao gìơ. Tôi đứng lại với bức tranh nông thôn châu Á chứ không dám chắc là Việt Nam. Năm, bảy người phụ nữ đang cấy lúa trên đồng. Tôi gặp lại quê tôi giữa những người xa lạ và khung cảnh rực rỡ - văn minh của một khu thương mại trên nước Mỹ. Lòng tôi trào dâng cảm giác nhớ nhà.

Rồi mới vài hôm đây thôi, nghe một anh bạn trang lứa với tôi kể lể về mối tình câm của anh. Anh yêu gì mà ác đời, đi yêu bà chị lớn hơn anh ba, bốn tuổi. Đêm nào cũng viết những lá thơ tỏ tình diễm lệ đến không còn tiền mua giấy viết. Rồi thất tình khi chị có bồ. Rồi hy vọng khi chị hát “chuyện hợp tan”. Rồi thất tình tập cuối khi chị lấy chồng. Rồi nắm bắt cơ hội cuối cùng khi chồng chị vượt biên… và đã không may. Nhưng anh bạn tôi đã thả hết những những lá thơ tình theo năm tháng xuống sông Thanh Đa vì vợ mình, vợ nhà, đâu có lỗi gì đâu? Anh tóm lại chuyện tình câm của tuổi trẻ của anh nghe ngộ lắm. Quê hương trong tôi chỉ còn là những những lá thơ tình chưa bao gìơ gởi. Tôi nghe xong mà mừng. Mừng vì ngoài mình ra cũng có những con người mà tình tự quê hương nhỏ nhặt, tầm thường đến tội nghiệp. Nhưng nhìn ở một góc cạnh khác thì vợ anh ấy chính là quê hương, anh đã và đang sống với vợ như sống trên quê hương dù anh bạn và quê hương qua hình ảnh người vợ, đang sống trên đất khách. Hề gì. chúng ta đi mang theo Quê hương - bên mình là đủ.

Không biết những điều tôi viết ra đây, ông bạn gìa có cho là câu trả lời của hậu sinh. Nếu không được chấp nhận thì tôi đành chịu chứ quê hương không phải là chuyện có thể nói láo cho vui. Nói sạo lấy tiếng. Quê hương là chùm khế ngọt/ cho con trèo hái mỗi ngày… Quêhương là cầu tre nhỏ/ mẹ về nón lá nghiêng che… Quê hương là con diều biếc/ tuổi thơ con hát trên đồng… Nhưng quê hương của những con diều đứt dây, diều băng thì nghèo nàn và buồn lắm. Không có mẹ về nón lá nghiêng che để được qùa, được mẹ lau giọt mồ hôi chạy chơi bằng vạt áo Người.

Mấy câu văn xuôi dạo nọ, gởi ông bạn gìa.

Nếu ai có hỏi: quê tôi đâu?
Nhìn mây tôi đáp: trên địa cầu
Và đây! hương thoảng còn vương lại
Cây dừa, trái khế… những đêm thâu
Nếu ai có hỏi: quê tôi đâu?
Từ Ải Nam Quan tới Cà Mau
Biển Đông dài, ba ngàn cây số
Đang mất dần vô tay lũ giặc Tàu
Nếu ai có hỏi: quê tôi đâu?
Nơi có cầu tre, điệu ví dầu
Lời ru của mẹ ngàn năm trước
Ấm lòng con trẻ tới muôn sau
Nếu ai có hỏi: quê tôi đâu?
Nơi sẽ về thôi lúc bạc đầu
Chiều vươn khói rạ bờ sông vắng
Cánh cò mỏi mệt đậu lưng trâu
Nếu ai có hỏi: quê tôi đâu?
Nơi khắp hành tinh đang nguyện cầu
Càng xa quê quán càng bi thống
Tiếng lòng uất nghẹn đến thiên thâu

Phan

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Những Hình Ảnh Đàn Áp Biểu Tình ở Miến Điện.

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

THUYỀN NHÂN, ANH Ở ĐÂU?

HUY PHƯƠNG

Câu chuyện vị thuyền trưởng Nam Hàn, Jeon Je Yong, năm 1985 trên biển Thái bình Dương đã bất chấp lệnh thượng cấp, dừng con thuyền của ông lại, để cứu vớt 96 thuyền nhân Việt Nam trên một con tàu mỏng manh, nhỏ bé, đang đi vào nguy hiểm của cơn bão số 8 sắp đổ tới, đã làm xúc động hai cộng đồng Hàn Việt ở Nam California. Thuyền trưởng Jeon Je Yong đã bị mất việc sau khi ông quyết định chấp nhận mọi hình phạt dành cho ông để quyết định cứu tất cả những người ông đã vớt được. Theo lệnh của công ty tàu biển ông phục vụ, ông phải đóng bè để thả tất cả người ông đã vớt được trở lại biển.

Quyết định của ông là “không!”

Câu chuyện nay được biết đến là nhờ ông Nguyễn Hùng Cường, một thuyền nhân đã không quên ơn người cứu mạng, trong nhiều năm đã cất công nhờ người đi tìm vị thuyền trưởng đầy lòng vị tha này. Cuối cùng họ đã gặp nhau, và lúc này ông Cường mới biết đến những thiệt thòi mà người ân của ông đã phải gánh chịu khi con thuyền Kwang Myung 87 cập bến Pusan của Nam Hàn ngày 29 tháng 11 năm 1985. Ông đã mời vị thuyền trưởng ân nhân này viếng thăm Hoa Kỳ vào năm 2004 với sự đón tiếp nồng hậu của hai cộng đồng Nam Hàn và Việt Nam tại Nam California.

Nói về phía người ra ơn, vị thuyền trưởng Nam Hàn không thể làm ngơ không cho con thuyền trở lại cứu chiếc ghe mỏng manh giữa đại dương vì ông biết rằng tất cả những người vượt biển có thể chìm xuống lòng biển không lâu sau đó. Ông cũng có một quyết định khá quyết liệt là không thể trả lại những người này xuống một hoang đảo. Đây là một con người với “tấm lòng biển” như tác giả Nguyễn Hùng Cường đã đặt tên cho cuốn sách của ông viết về biến cố này.

Trong cuộc gặp gỡ những người được cứu mạng và vị thuyền trưởng có tấm lòng cao cả trên, tại đất Hoa Kỳ vào hai năm 2004 và 2007, về phía những thuyền nhân, người ta chỉ thấy có độc mỗi một người là ông Nguyễn Hùng Cường. Nhiều lý giả của các cơ quan truyền thông trong hai buổi tiếp đón này đã đi tìm thêm những người có mặt trên con thuyền mỏng manh ngày ấy để phỏng vấn nhưng không có ai. Trong 96 người vượt biển cái ngày xa xôi ấy, có những đứa trẻ nhỏ chỉ mới vài tháng tuổi, có những đứa trẻ đang nằm trong bụng mẹ, nhưng cũng có những người thanh niên, và những người đứng tuổi. Sau thời gian hơn hai mươi năm, những người này đã đi định cư ở đâu đó trên thế giới tự do này, họ đã ăn nên làm ra, có nhà cửa, có vốn liếng, con cái học hành. Cũng có những người đã qua đời, nhưng có một điều chắc chắn là phần lớn những người trên con thuyền năm xưa đã về lại Việt Nam nhiều lần, nơi họ đã bỏ ra đi, nhưng không thấy ai về đây đề gặp lại người ân nhân cũ, mà nếu không có tấm lòng của ông, có thể họ đã vùi thân xuống đáy biển.

Ông thuyền trường Jeon Ji Yong vẫn còn nhớ đến người thiếu phụ mang thai, mệt mỏi, run rẩy, xanh xao năm xưa, còn nhớ đến “hai em nhỏ tuổi và một ông thầy muốn làm linh mục”, ông còn nhớ đến “hai anh em đứa bé cầm tay nhau đứng trên bong tàu nhìn về phía chân trời vì nhớ đến cha mẹ” . Ông cũng còn giữ lại tấm hình chụp những thuyền nhân mà tàu ông đã cứu vớt tại trại định cư Pusan từ năm 1986, và ông nói “96 người bạn thuyền nhân Việt Nam khi nào cũng ở trong trái tim tôi”. Nhưng hôm nay, tại buổi đón tiếp người “anh hùng” Jeon Ji Yong, không có ai, ngoài gia đình anh Cường. Tôi gọi ông là “anh hùng” vì hành động của ông mang ý nghĩa xả thân, để sau đó ông nhận chịu tất cả hệ lụy không may cho ông.

Chúng ta đã biết, vì chính đó là những người thân, con cháu, bạn bè, đồng bào của chúng ta, những thuyền nhân vượt biển đã không còn sống sót qua đại dương để đến được bến bờ tự do như 96 người được con tàu Kwang Myung 87 cứu vớt. Phải chi trước khi chìm xuống biển sâu, những thuyền nhân oan khuất kia được một vị thuyền trưởng như ông Yong quay con tàu lại. Thế giới có quá nhiều nỗi khổ, mà tấm lòng của nhân loại đã hầu như mệt mỏi, chai đá không còn nỗi xúc động. Giữ tốc độ của con tàu và quay đi hướng khác, đó là điều dễ dàng hơn là dừng con tàu lại để cứu vợt, dù là những người đó sắp đi vào cõi chết để sau đó phải nhận những chuyện rắc rối cho mình.

Quên ơn vẫn thường dễ hơn nhớ ơn. Khi quên người ta không cần phải làm gì, trái lại khi nhớ ơn một người khác có bao nhiêu điều phải làm. Có biết bao nhiêu điều rộn ràng cho cuộc sống ở một cái xứ chạy đua với thời gian này, làm ăn, sinh sống, vui chơi, du lịch, có còn thời giờ đâu mà vấn vương với những chuyện cũ.

Ông thuyền trưởng Nam Hàn Jeon Ji Yong có buồn không khi ông đã quên mình để cứu người, nhận những hậu quả trừng phạt của công ty ông làm việc sau đó, nếu không có một người, dù chỉ một người thôi đến với ông, cầm tay ông và nói: “Tôi vẫn nhớ ơn ông!”. Người Việt trong dịp này được nhân loại biết đến như những người không bao giờ vong ân bội nghĩa. Ông Nguyễn Hùng Cường chỉ là một người trong 96 người ngày nào đó trên con thuyền mỏng manh thôi, nhưng ông đã “rửa mặt” cho 95 người “đồng thuyền” khác, nếu không, câu chuyện cứu người của ông Yong rồi có ai biết hay nghĩ đến. Họ lên bờ và tan biến vào dòng đời trôi đi, không bao giờ muốn nhìn lại dĩ vãng.

Thuyền nhân, anh ở đâu?

7/70

Huy Phương

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Từ Miến Điện Tới Việt Nam

Đa Nguyên
Image
Các nhà sư Miến Điện đang diễn hành đến trung tâm thành phố Yangon. Quân đội Miến Điện sử dụng dùi cui, hơi cay bao vây thẳng tay đàn áp và làm chết ít nhất 4 người.


Trong tuần qua, tình hình Miến Điện đã khiến cả thế giới chú ý. Nước Miến Điện đã được nhà cầm quyền quân phiệt đổi tên thành Myanmar từ năm 1989, nhưng Mỹ không công nhận tên mới này, cũng như tư cách đại diện của chế độ quân phiệt. Việt Nam đã quen với tên Miến Điện, nên chúng tôi vẫn dùng tên cũ này.

Vốn là thuộc địa của Anh, và được độc lập vào đầu năm 1948, Miến Điện là một nước giầu tài nguyên, và đã là một quốc gia có uy tín cách đây nửa thế kỷ. Một chính khách lỗi lạc của Miến là ông U Thant đã được bầu làm vị Tổng Thư Ký thứ ba của Liên Hiệp Quốc trong hai nhiệm kỳ, từ 1961 tới 1971. Nhưng chỉ vì đám tướng lãnh tham quyền cố vị, đã làm đảo chánh cướp lấy quyền hành, rồi áp dụng chế độ độc tài, gọi là "Chủ nghĩa xã hội kiểu Miến", đưa dân tộc Miến Điện vào cảnh lầm than cơ cực suốt mấy thập kỷ qua.

Cách đây hai chục năm, nhân dân Miến Điện cùng với tập thể sinh viên đã nổi dậy chống áp bức bằng những cuộc biểu tình lớn, các tướng lãnh cầm quyền đã ra lệnh đàn áp, tài liệu cho biết có tới ba ngàn người bị giết. Nhưng chế độ quân phiệt cũng nhượng bộ bằng cách chịu cho bầu cử tự do vào năm 1990.
Image Trong cuộc bầu cử này, Liên Minh Quốc gia Dân chủ (National League for Democracy) của bà Aung San Suu Kyi đã thắng với tỉ lệ 60%. Nhưng phe quân phiệt cầm quyền đã phản bội, chẳng những không chấp nhận kết quả bầu cử, còn bỏ tù bà Aung San Suu Kyi. Năm 1991, bà Suu Kyi đã được tặng giải Nobel Hòa Bình trong lúc đang bị giam trong tù. Trong khi cả thế giới coi bà Aung San Suu Kyi như một lãnh tụ đáng kính, là niềm hy vọng của tương lai dân chủ Miến Điện, thì giới quân phiệt cầm quyền tiếp tục khủng bố và giam giữ bà. Trong 18 năm qua, bà đã bị tù tới 12 năm. Cả Tổng thống Bush và Đệ nhất Phu nhân Laura đã nhiều lần lên tiếng yêu cầu thả bà Suu Kyi.

Từ cuối tháng Tám, do hậu quả việc bất ngờ tăng giá dầu xăng tới 500%, đời sống dân chúng càng thêm cơ cực. Thông cảm cảnh dân chúng bị đàn áp quá lâu và ngày càng thêm đói khổ, lần này các nhà sư, là giới được dân chúng kính trọng nhất, đã trực tiếp tham gia tranh đấu. Khởi đầu chỉ là những cuộc biểu tình nhỏ của mấy trăm nhà sư, và dân chúng được kêu gọi đừng tham gia để tránh bị đàn áp.

Nhưng rồi những cuộc biểu tình của các nhà sư, cả nam lẫn nữ, ngày càng đông, nhất là tại các thành phố lớn. Vào ngày Thứ Bảy 22 tháng 9, khoảng 500 nhà sư đã đi qua trước căn nhà nơi bà Suu Kyi đang bị quản thúc, và bà đã ra trước cửa vẫy chào đoàn biểu tình. Ngày Chủ Nhật 23 tháng 9, các nhà sư biểu tình tại Rangoon lên tới hai chục ngàn, và tại Mandalay mười ngàn người. Sang ngày Thứ Hai 24 tháng 9, các nhà sư kêu gọi cả dân chúng tham gia, hàng trăm ngàn người đã biểu tình tại Rangoon và trên hai chục thành phố khác. Trong cùng ngày, các nhà lãnh đạo các nước dân chủ trên thế giới như Canada, Anh, Đức, Mỹ đã mau mắn lên tiếng ủng hộ phong trào tranh đấu dân chủ ôn hòa ở Miến Điện, và lên án chế độ hà khắc của giới quân phiệt, do tướng Than Shwe cầm đầu.

Tại một cuộc họp của Đảng Lao Động ở miền Nam nước Anh vào ngày 24 tháng 9, Thủ tướng Anh Gordon Brown tuyên bố: "Có một sợi chỉ vàng chung cho cả nhân loại qua mọi dân tộc và tôn giáo đã buộc chúng ta lại với nhau, và nó có thể làm sáng cả những góc tối nhất của thế giới". Ông muốn gửi một thông điệp tới cho mọi người đang phải đối diện với cảnh đàn áp tại khắp nơi trên thế giới, từ Miến Điện tới Zimbabwe, rằng: "Nhân quyền là chung cho cả hoàn vũ và không bất công nào có thể tồn tại mãi".

Lên tiếng trước Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc ở New York sáng Thứ Ba 25 tháng 9, Tổng thống Bush tố cáo quân phiệt Miến Điện đã áp đặt một chế độ cai trị bằng sự sợ hãi trong 19 năm, phủ nhận các tự do căn bản về ngôn luận, hội họp, và thờ phượng. Ông nói rằng "Hoa Kỳ phẫn nộ về tình hình tại Miến Điện". Tổng thống Bush cũng tuyên bố Hoa Kỳ sẽ tăng gia các biện pháp trừng phạt chế độ quân phiệt Miến Điện một cách gắt gao hơn.
Image Trong khi ấy, riêng hãng thông tấn Tân Hoa Xã của Trung Quốc, vào ngày 24 tháng 9 đã loan báo lời đe dọa của tướng Thura Myint Maung, Tổng trưởng bộ Tôn giáo của chính quyền Miến, rằng: "Những cuộc biểu tình gần đây của các nhà sư trẻ đã bị khuấy động bởi các phần tử phá hoại ở trong và ngoài nước", và "Các nhà sư biểu tình không những làm phương hại tới sự ổn định của quốc gia, mà còn làm hư hình ảnh của các nhà tu hành". Tướng Thura cũng đe dọa những nhà sư nào không tôn trọng các luật lệ tôn giáo sẽ bị trừng phạt.
Image Lời tuyên bố của phe quân phiệt Miến Điện khá giống với thái độ của nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam đối với các nhà sư thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, cũng như với phong trào đòi công lý, tự do dân chủ và nhân quyền. Tất cả đều đổ tội cho các phần tử phản động trong và ngoài nứơc, mà không bao giờ nghĩ rằng thủ phạm của tất cả mọi rắc rối là chính mình.

Post Reply