Quán Vắng không Người ...3

Buồn vài phút xin ghé thăm đây; muốn tán gẫu ghé đây... Chia sẻ tâm tư vô đây.... Không biết nói gì làm gì vô đây!!! Bài viết sẽ giữ lại trong 7 ngày và quá hạn sẽ đi vào thiên cổ của không gian Cyber!!!

Moderator: khieulong

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

Đêm Thắp Nến Cầu nguyện cho Dân Oan VN

Tin Nam Cali , Tối thứ Sáu 12 tháng 10 /2007 ,đã có 5000 đồng hương đến tham dự Đêm Thắp nến Cầu nguyện cho Dân Oan ở VN.
Tổng số tiền thu được
tại chỗ là 20.463 dollars USA và 12.000 dollars tiền bán 400 cuốn Thơ Tù của Hòa thượng Thích Quảng Độ .Nhân dịp này ,những người tham dự đã được nghe lời Kêu gọi Cứu trợ Dân Oan của Hòa thượng Thích Quảng Độ từ VN gởi sang .
Tất cả số tiền chi phí cho Đêm Thắp Nến Nguyện Cầu do các nhà Bảo Trợ phụ trách .
Một chương trình Văn nghệ phong phú do các nam nữ ca sĩ ở Quận Cam phụ trách cùng ban Tù Ca .

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Niềm Vui Dân Mỹ

VI ANH .
Trong bài quốc ca Mỹ có câu, "O'er the land of the free and the home of the brave!" "Đất của người tự do và nhà của người dũng cảm". Sự thành đạt của một người Ý nhập cư trở thành người Mỹ gốc Ý là Ô. Mario Capecchi vừa được giải Nobel về Y khoa là một minh họa của lời ca ấy.

Thực vậy tìm hiểu tiểu sử của Mario Capecchi, một người Mỹ gốc Ý, trước đây sanh ở Verone (Ý đại lợi) ngày 6 tháng 10 năm 1937, vừa được trao giải Nobel Y khoa, cùng với Huân tước Sir Martin Evans (Anh cát lợi) và Oliver Smithies, công dân Mỹ như Mario Capecchi, mới thấy thấm thía với lời kết của bài quốc ca Mỹ. Khác với Phó Tổng Thống Al Gore sau khi rời khỏi chính trường Mỹ, tích cực tham gia việc bảo vệ môi sinh, làm một phim tài liệu nhưng được giải thưởng Cannes cũng như Gs Mario Capecchi, được chia giải Nobel về Bảo vệ Môi sinh.

Khen Ô Al Gore chỉ là khen phò mã tốt áo. Ong đã có quá nhiều vốn liếng Mỹ để thành công. Uy thế của một Phó Tổng Thống Mỹ hai nhiệm kỳ, suýt chút nữa đã thành tổng thống. Trái lại đằng sau những công nghiệp nổi tiếng, ngưng động gene của chuột, của Giáo sư Mario Capecchi, cuộc đời người Mỹ gốc Ý nhập cư được giải Nobel Y khoa này là cả một cuốn tiểu thuyết.

Cuốn tiểu thuyết về một người nhập cư xuất thân từ đóng tro tàn chiến tranh độc tài Phắc xít Ý. Nhân vật chánh là một em bé Ý mồ côi cha, mới gặp được mẹ vừa trong trại tù tập trung của Đức quốc xã ra. Hai mẹ con đã dũng cảm rời quê hương xứ sở ra đi. Mario Capecchi đến Mỹ vào tuổi mới lên tám, không đọc được tiếng Anh, đã dũng cảm cố gắng vươn lên nhờ đất Mỹ tự do, dân chủ và nhiều cơ hội.

Hai ngày trước ngày sinh nhật thứ 70 của Ong, Giáo sư Mario Capecchi được tuyên bố đoạt giải Nobel Y học, trong một cuộc nói chuyện bằng điện thoại với đặc phái viên Vittorio Zucconi của tờ báo Ý La Repubblica ở Washington D.C.

Ong đã nói một phần tiểu sử của Ong không có ghi trong tiểu sử chánh thức của hồ sơ xét giải Nobel. Ong kể lại làm thế nào một đứa trẻ lạc loài, đói khát trong thời chiến tranh ở Ý và may mắn được cứu giúp như một phép lạ và trở thành một nhà khoa học ở Mỹ. Lúc chưa được 5 tuổi, Ong đã xa mẹ vì mẹ bị cơ quan mật vụ Đức Gestapo bắt giữa ban ngày, đày đi trại tập trung Dachau như một người "đối lập chánh trị" khi nhà cầm quyền ban hành luật có tính kỳ thị chủng tộc. Bà viết và luân chuyển những cuốn sách nhỏ chống Phắc xít. Ong mất cha vì cha Ong bị gọi vào Không quân và gởi đi Phi Châu và sau đó có báo cáo "chánh thức mất tích".

Ong được cha Ong trước khi đi gởi cho một gia đình nông dân vùng Thượng Adige. Sau một năm thì tiền của cha ông gởi hết. Ong bị gia đình này "đuổi đi". Ong nói, "Tôi nhớ đã lang thang trên đường giữa vùng Bolzano và Vérone và đã gặp một đám trẻ em như tôi, mất cha mẹ, đi kiếm ăn từ nơi này dến nơi khác. Chúng tôi ăn cắp tất cả những gì gặp được khi đi xuôi về miền Nam."

Vào năm 1945, trên giường bịnh của nhà thương trị bịnh thương hàn ở vùng Reggio d'Emilie, Ong gặp lại.. Gặp lại mẹ Ong. "Bà sống sót. Khi người Mỹ giải tỏa trại tập trung Dachau, bà trở lại nước Ý và bắt đầu tìm kiếm con. Ngày bà xuất hiện bên giường bịnh của tôi, tôi mới được tám tuổi."

Vừa mới gặp được nhau, mẹ và con quyết định di cư sang Mỹ. Hai mẹ con gặp được Henry, một người chú. Ong này dạy ở Khoa vật lý học ở Princeton." Vào thời đó, Einstein cũng ở đây, và tôi nhớ tôi đã thấy Ong. "Mario Capecchi kể lại một ngày sau khi đến Mỹ, Ong vào "lớp sơ cấp". "Tôi chẳng hiểu gì cả. Hơn nữa tôi gần như chẳng biết đọc, tôi là một trẻ em ngoài đường phố."

Phần còn lại của tiểu sử của người Mỹ gốc Ý được giải Nobel đó đã được ghi và phổ biến trong tiểu sử chánh thức trong hồ sơ giải Nobel: trung học ở New York, đại học ở Antioch, tiểu bang Ohio nơi Ong đậu bằng về vật lý và hóa học, kế đó là sự khám phá về sinh vật phân tử học, được đại Harvard thu nhận và gặp một vị giáo sư đã được giải Nobel, là James Watson, cha đẻ của ngành di truyền học hiện đại và người tìm ra "cái chong chóng kép" DNA của chúng ta, là bí mật của sự sống.

Qua cuộc nói chuyện của Giáo sư Mario Capecchi với phóng viên tờ báo Ý La Repubblica, vị giáo sư người Mỹ gốc Ý không ngần ngại nói lên thân phận vi tiện xuất thân của mình: "Tôi là một trẻ em ngoài đường phố." Chính phần tiểu sử ngoài hồ sơ Nobel của Gs Mario Capecchi là một niềm vui của dân Mỹ, như đã được diễn ý và diễn âm trong quốc ca và quốc thiều Mỹ". Người ta thấy nước Mỹ là đất địa của người nhập cư. Người ta thấy nước Mỹ là khát vọng tự do. Người ta thấy nước Mỹ là đất hứa của những người tự do và dũng cảm, giấc mơ có thể biến thành sự thật, có thể cố gắng vươn lên.

Tình yêu tự do, lòng dũng cảm phải mạnh lắm Ô Mario Capecchi với tuổi vừa lên tám mới vượt qua được những ngày mất cha, vắng mẹ, lang thang trên đường để kiếm ăn, có khi đói quá phải ăn cắp để sống và rời khỏi quê hương, đất nước nhà để cùng với mẹ đi Mỹ sau khi gặp lại nhau quá ngắn ngủi. Mỹ phải là một xứ sở của cơ hội, nên từ một đứa trẻ chưa đọc tiếng Anh học trường sơ cấp, học trường đại học, và nghiên cứu khám phá, mới cố gắng vươn lên được.

Nền giáo dục Mỹ phải vì dân, do dân, khoa học, khai phóng, tạo mọi điều kiện cho người muốn học học được, không phải bỏ trường, bỏ lớp vì phương tiện tài chánh để có những nhân tài hữu cho đất nước nhân dân và nhân loại như Mario Capecchi. Người ta thấy con đường học vấn là con đường tắt nhưng chắc cho một người từ tầng lớp dưới có thể vươn lên cao ở Mỹ.

Bình đẳng giữa con người Mỹ với con người Mỹ được coi như nguyên tắc sống, quyền thăng tiến trong xã hội Mỹ tự do, công bình nên một người nhập cư nghèo mới chen vai thích cánh được với những người Mỹ sở tại đồng trang lứa, vươn lên và ngồi ngang hàng cùng những khoa học gia Mỹ và thế giới.

Mới có cảnh một người Mỹ gốc Ý Mario Capecchi xuất thân lạc loài ngoài "đường phố" ở Ý đến Mỹ trong 62 năm ngồi ngang với một cựu Phó Tổng Thông Mỹ hai nhiệm kỳ Al Gore. Mỹ phải đầu tư lớn lắm thì các nhà khoa học kỹ thuật mới có phương tiện sống, phương tiện làm việc để những người có tài năng mới có đủ thì giờ và tâm trí ngồi mày mò, tìm tòi, khám phá và phát minh.

Không phải trường hợp Gs Mario Capecchi là trường hợp hãn hữu hay duy nhứt ở Mỹ. Thống Đốc Arnold của tiểu bang California, tiểu bang giàu mạnh nhứt Mỹ, cũng là một người Áo nhập cư vào Mỹ gần như đồng thời với nhiều người Việt trong cuộc di tản vô tiền khoán hậu của lịch sử VN, đại đa số chọn Cali làm quê hương.

So lợi tức trung bình kiếm được hàng năm và tỷ lệ tốt nghiệp đại học 4 năm của người Việt ở Mỹ và đồng bào trong nước (chưa quá 400 Đô la một năm), người ta mới thấy chế độ tự do, dân chủ là điều kiện tiên quyết, chánh quyền vì dân, do dân, của dân là điều kiện cần và đủ để phát triển xã hội tiến lên, cá nhân thăng tiến.

VI ANH

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Võ Sĩ Lê Cung Hạ Võ Sĩ Trung Cộng
CHU TẤT TIẾN


Lê Cung


Từ xưa cho tới nay, đại đa số dân "sồn sồn" đều thích xem phim chưởng với những kiếm sĩ, võ sĩ Trung Cộng bay lượn như chim, tung hoành ngang dọc, phóng lên ngọn cây cao tít, múa kiếm trên những cành tre ẻo lả, và đánh "chưởng" vù vù. Giới trẻ ham võ nghệ cũng mê mải với chưởng pháp của người Tầu, và hăng say luyện tập võ nghệ cũng vì ảnh hưởng phim võ thuật Đài Loan hay Trung Cộng Lục Địa.

Mọi người mê say phim chưởng nên quên mất rằng, những kiếm sĩ, võ sĩ ấy, ngày xưa sang Việt Nam bị đánh tơi bời hoa lá, trận nào trận ấy kinh hoàng, đến Thái Tử Thoát Hoan, từng chỉ huy một đạo quân vô địch thiên hạ mà phải chui trong ống đồng, chạy thục mạng về nước. Có người muốn bênh vực võ sĩ Tầu nên nói là tại quân Nhà Thanh, quân Tống, quân Nguyên, Mông Cổ bị trúng gió An Nam nên thua trận, chứ không phải vì võ sĩ ta giởi cung kiếm.

Họ đã quên những trận Liễu Thăng bị chém rơi đầu ở ải Chi Lăng, Mộc Thạch bị tướng sĩ An Nam rượt chạy đến chết, rồi các trận công phá thành, sau khi binh sĩ tràn lên, thì tướng tá đánh nhầu, ai giỏi người ấy thắng. Những anh hùng Yết Kiêu, Dã Tượng là những hung thần sông, rạch mà kẻ địch cứ nghe tên là hoảng hốt. Phạm Ngũ Lão, người bị dáo đâm vào đùi mà ngồi tỉnh bơ, cũng là một tên tuổi kinh hãi cho giặc Tầu.

Những danh tướng đời Trần như Trần Quốc Toản, Trần Nguyên Hãn, đời Quang Trung như Đô Đốc Bùi Thị Xuân, hai tay hai kiếm đánh Nam dẹp Bắc như chỗ không người. Ngay cả Hai bà Trưng, Bà Triệu, từ hồi Âu Châu còn ăn lông ở lỗ, đã xung phong, giết không biết bao nhiêu danh tướng của Tầu. Các trận như thế, thì không có phim chưởng nào chiếu lại. Làm cho nhiều người An Nam ta lúc nào cũng mặc cảm: "Võ Ta thua Võ Tầu!"

Bây giờ, thực tế lại chứng minh người Việt ta đánh võ hay hơn Tầu, qua sự kiện Võ Sĩ Lê Cung ở San Jose lại một lần nữa dành ngôi vị vô địch Thế giới về "Kick Boxing" hay "Mixed Martial Arts", nghĩa là phối hợp vừa đánh "bốc" với "đá" và "vật", dùng tất cả mọi chiêu, miễn sao thắng được thì thôi. Loại đánh này mới gay cấn, dữ dằn hơn "bốc" vì "bốc" chỉ có đấm, không có đá; lại ác liệt hơn "Kick Boxing" cổ điển vì thêm "vật" và "đè."

Lê Cung sinh năm 1972, đến nay mới có 35 tuổi nhưng đã giành được 17 trận thắng quốc tế, không thua trận nào, trong đó có 12 trận đã hạ địch thủ "KO" nghĩa là "knock out" làm địch thủ lăn xuống, không dậy được. Anh đã 3 lần Vô Địch Thế Giới về hạng Trung, không kể những lần Vô địch hạng Nhẹ.

Trận gần đây nhất và độc đáo nhất là anh đại diện đội Hoa Kỳ đấu với đội Trung Cộng, đại diện là Võ Sĩ Na Shun, người nhiều lần thắng giải vô địch ở nơi khác.

Trong trận đấu với Na Shun, những người mê phim chưởng đã đinh ninh Lê Cung sẽ thua vì làm sao mà võ sĩ Việt hạ được võ sĩ Tầu! Thắng các đối thủ quốc gia khác thì dễ, chứ thắng Tầu là cả một vấn đề, nhất là Na Shun lại cao hơn Lê Cung rất nhiều.

Ngay hiệp đầu tiên, chỉ trong vòng một phút, sau khi đánh dứ với nhau vài đòn, đá qua đá lại, thử bắp thịt xem ai rắn chắc hơn ai, Lê Cung đã bất ngờ ôm lấy hông địch thủ, rùn người xuống, vất ngược địch thủ bay qua đầu mình, Na Shun ngã dập ra sau lưng của Lê Cung, choáng váng. (Đòn này trông hơi giống đòn Ura Nage của Nhu đạo.) Sau khi Na Shun lập cập đứng dậy, mới giao đòn, lại bị Lê Cung đè gập chân quỵ xuống góc đài. Chừng 30 giây sau khi gượng dậy, Lê Cung áp dụng một đòn hơi giống như Utsuri Goshi của Nhu Đạo, hai tay ôm bụng đối phương, vật ngã ngang sang một bên. Đợi cho Na Shun đứng dậy, lấy hơi xong, đá dứ vài cú, đấm dứ vài lần, Lê Cung lại dùng lừa thế, nhập nội, áp dụng đòn đầu tiên (Ura Nage) quật Na Shun lộn vòng qua đầu mình lần nữa. Qua 3 lần quật được một địch thủ cao lớn hơn mình, có lẽ Lê Cung thấy không cần đứng tấn vững như trước nên khoảng nửa phút sau, anh bất ngờ bị Na Shun đẩy mất đà, loạng choạng ngã vào góc đài. Lúc đó, cũng vừa hết hiệp một.

Sang hiệp hai, Na Shun có vẻ đã gờm Lê Cung nên chỉ có đá ngang được vài cái, còn lại là thủ thế ở góc đài, hoặc ôm Lê Cung để nhờ trọng tài gỡ ra. Lê Cung chỉ chờ có thế là xông tới, lần đầu tiên vật Na Shun ngã ngay tại góc, lần thứ hai vật anh ta vất vào giây. Na Su đã tỏ vẻ lúng túng thấy rõ, cố tình ôm lấy vai Lê Cung để tránh đòn, thì lại bị Lê Cung xoay lưng vào bụng địch thủ, áp dụng đòn chân, tương tự như Uchi Mata, đánh chân mình vào bắp chân trong địch thủ cho bung chân lên. May cho Na Shun, là một võ sĩ danh tiếng, nên dù cho bị bung chân phải lên, cũng cố đứng vững bằng chân trái. Dầu sao, đòn đánh vào chân này cũng làm cho Na Shun mất bình tĩnh, anh ta chỉ dám đứng ngay tại góc, giơ chân ra trước huơ huơ, cản không cho Lê Cung tiến vào. Vì không nhập nội được nữa, Lê Cung bực bội giơ hai tay lên trời, khiếu nại với trọng tài. Ông này ra hiệu cho Na Shun rời khỏi góc đài để tiếp cận với Lê Cung. Vừa mới bước ra, Na Shun bị Lê Cung đá cú vòng cầu, ngã ngay trở lại vào góc. Mới đứng dậy được, và trả đòn tay chừng một hai cú, lại bị Lê Cung dọng đầu gối trái vào mặt, Na Shun không còn tự chủ được nữa, phải lùi vào góc đài thủ thế nữa.

Hiệp thứ ba, mới 30 giây đầu, Lê Cung đã ôm bụng đối phương quật ngã sang một bên. Na Shun chưa tỉnh hồn, bị Lê Cung bồi thêm một cú đá vất bàn chân lên cổ, đau điếng. Từ đó, võ sĩ Trung Cộng này, có lẽ thấy mình không phải là địch thủ của anh võ sĩ Việt Nam nữa, nên càng lúc càng giơ thân ra chịu đòn. Khi bị Lê Cung ném ngược ra sau đầu lần thứ ba, Na Shun tỏ ra mất thăng bằng, đi đứng lạng quạng, bị Lê Cung tặng thêm vài cú đấm cả trăm "pao" vào mặt, anh ta phải xin nghỉ, đứng vào góc đài, quay lưng lại đối thủ, hai tay cầm lấy hai sợi giây chăng bao quanh võ đài, cúi đầu xuống thở một lúc. Với tinh thần võ sĩ đạo, Lê Cung đứng chờ cho Na Shun thở dốc xong, thì mới tiến tới. Để chấm dứt cuộc đấu giữa Mèo và Chuột, Lê Cung bất ngờ bay lên, hai chân phóng thẳng tới, kẹp ngang đối thủ, chân phải phía sau, chân trái phía trước như cái kéo, quật đối thủ ngã ra sau giống như đòn Kani Hashami của Nhu Đạo. Lúc này Na Shun chỉ còn chịu trận, không thủ được nữa, cố đứng dậy để Lê Cung bay lên kẹp tiếp lần thứ hai, rồi đầu hàng.

Khi được trọng tài thông báo ý định chấm dứt cuộc đấu với phần thắng về Lê Cung, anh đã nhẩy ngược lên, hai tay giơ lên trời, phấn khích, nhưng không quên vội quỳ xuống, làm dấu Thánh Giá, cám ơn Chúa, sau đó, thì hai người săn sóc viên cũng nhẩy vào và cùng quỳ cúi đầu với Lê Cung, người thắng trận trong khiêm cung, lúc nào cũng biết tạ ơn Thượng Đế.

Xem qua nhiều trận đấu của Lê Cung, người xem nhận xét thấy Lê Cung đã phối hợp nhiều khía cạnh độc đáo của võ thuật để hạ địch thủ. Ngón đòn chân của Lê Cung với thế đạp vào bụng, hay đá vòng cầu vào cổ địch thủ làm cho đối phương khiếp hãi. Có trận anh chỉ dùng có một cú đá vòng cầu này làm cho đối thủ từ từ gục xuống như thân chuối bị đốn. Không cổ người nào chịu nổi sức mạnh và sự chính xác của bàn chân này. Ngón đòn chân thứ hai là kẹp ngang hông địch thủ như chiếc kéo, hai chân xéo nhau, một chân kẹp trước, một chân kẹp sau, rồi bẻ theo chiều thuận bình thường của đôi chân, là đối thủ ngã bật ngửa ra sau, cái lưng muốn gẫy đôi, giống như đòn Kani Hashami của Nhu đạo. Đòn chân thứ ba anh hay dùng là đá móc chân địch thủ, mục đích làm cho bắp chuối kẻ địch bị đau, đứng không vững. Đối thủ nào yếu bàn tọa, thì lập tức ngã nhào về phía trước, có thể lãnh luôn một cú đầu gối vào mặt. Một đòn nữa là quay lưng mình lại áp vào bụng địch thủ, dùng chân phải đánh vào bắp chân trong địch thủ cho địch thủ bốc lên cao.

Đòn tay của Lê Cung cũng như một cái búa dáng vào mặt địch thủ hai ba cái là địch thủ không còn biết mình đang đứng hay ngồi nữa. Nếu xem Lê Cung tập luyện, mới biết những bắp thịt tay của anh như búa sắt cả trăm "pao". Nhưng thế mà anh hay dùng để hạ đo ván đối phương là đòn vật, vật đối phương lộn qua đầu mình về phía sau (như Ura Nage của Nhu Đạo) hoặc ôm bụng đối phương vật ngã ngang sang một bên, (Utsuri Goshi), giật chân địch thủ hỏng lên (Sukui Nage).

Người võ sĩ trẻ tuổi này còn một đặc tính rất đáng khen ngợi: Anh luôn mặc quần thi đấu có hình quốc kỳ Việt Nam Cộng Hòa với ba sọc đỏ.

Hồi trước, anh hay mặc quần mầu vàng có thêu hình ba sọc đỏ dọc theo thân quần. Bây giờ, anh mặc quần đen, nhưng dọc theo hai thân quần là lá cờ Việt Nam. Anh không quên Tổ Quốc, nơi anh sinh ra và lớn lên. Anh đã làm cho những người Việt Nam hãnh diện. Bao biểu ngữ mang lá cờ vàng ba sọc đỏ đã rực rỡ chung quanh võ đài để cổ động anh. Bao tiếng hô "Việt Nam! Việt Nam!" đã làm cho không khí võ đài sôi động. Nhiều báo chí Mỹ đã viết hàng tựa về anh như "Viet-American Wins Again!", hay "Viet-American Champion!" Cả chục tờ báo võ thuật quốc tế in hình anh ngay trang đầu. Hàng chữ "Cung Le" đem lại vinh dự lớn cho Việt Nam. Hiện nay, một hãng phim lớn đang bàn thảo với anh để làm một cuốn phim về võ thuật, trong đó, anh đóng vai chính. Cầu chúc anh thành công như Jet Li hay Jackie Chan để đi đâu, người Việt mình cũng tự hào là một dân tộc anh hùng trong chiến trận cũng như trên võ đài quốc tế.

Tháng 7 năm 2007.


[flash width=425 height=350][/flash]

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

NHỮNG ĐÀN CHIM THIÊN DI
phạmtínanninh
Cả hai tuần nay, mấy quan chức sở "bảo vệ súc vật” thành phố thường xuyên đến thăm gia đình tôi, để tìm hiểu lý do vì sao, trước mùa đông năm nay những đàn chim trane không còn trở về vùng này nữa. Họ đã cho người dọn dẹp lại khu bờ sông, chăm sóc cánh đồng cỏ và trồng thêm mấy hàng thông phía bên kia để đón những đàn chim, nhưng chờ mãi mà chẳng thấy bóng dáng một con trane nào trở lại.

Trane là một loài chim sống thành đàn, màu nâu đen, có dáng như con hạc ở quê nhà. Là một giống chim không chịu lạnh, nên hàng năm, cứ trời sắp sang đông là tụ tập từng đàn ở một nơi nào đó rồi chia nhau bay tìm những xứ nóng phương nam. Ở Bắc Âu có nhiều loài chim trốn lạnh, nhưng loại trane này nhiều nhất, có tổ chức khá qui củ, và khi bay đi chúng bay thành từng nhóm theo hình những mũi tên, có khoảng cách đều nhau, rất đẹp.

Định cư ở Nauy hơn ba năm. Lúc kinh tế gia đình và việc học hành của mấy đứa con tạm ổn định, cũng là lúc vợ chồng tôi bắt đầu có thời gian để hồi tưởng về quá khứ, và nhớ quê hương. Chúng tôi quyết định mua một ngôi nhà dưới thung lũng nhỏ, bên bờ sông Nitelva yên tĩnh, bên kia là cánh đồng cỏ mênh mông tiếp giáp với núi rừng. Cái khung cảnh có mang một chút hình dáng và màu sắc quê nhà giúp tâm hồn tôi yên ả hơn mỗi khi thấy lòng trăn trở, nhung nhớ một điều gì.

Những lúc buồn, tôi ngồi hằng giờ trong bao lơn nhìn ra phía cánh đồng và rừng núi phía xa xa, để ngỡ là quê hương mình như đang ở phía bên kia triền núi đó. Không những vợ chồng tôi mà mấy đứa con đều thích thú ngôi nhà này, vì nó khá rộng rãi đủ để mỗi đứa có một phòng riêng, trang trí, sắp xếp theo sở thích của mình. Trong thung lũng nhỏ này, ngoài chúng tôi, chỉ có ba gia đình láng giềng, một đến từ Thụy Điển, một đến từ Tây Đức, chỉ có một gia đình là dân bản xứ chính tông. Có lẽ sống trong một khu "hợp chủng quốc" bé nhỏ nhất trên lục địa này, nên chúng tôi sớm gần gũi, thân tình.

Dọn đến cuối mùa xuân, nên suốt hè năm ấy, chúng tôi lần lượt là khách mời của mấy người bạn láng giềng. Ông bà người Thụy Điển có chiếc du thuyền lớn với đầy đủ tiện nghi. Cả nhà chúng tôi được cùng họ xuôi ngược cả một tuần trên con sông Nitelva chảy dài qua những rừng thông, đồng cỏ và một vài vùng quê êm ả, lãng mạn. Những ngày còn lại, cùng với gia đình ông bà người Đức vào rừng cắm trại, đi săn, rồi cùng với gia đình ông bà Nauy đi cắm lều bên kia bờ sông, vừa câu cá vừa ngắm những cặp thiên nga tung tăng bơi lội.

Khi những chiếc lá vàng cuối cùng rơi xuống, trời đột nhiên trở lạnh, báo hiệu sắp chấm dứt mùa thu bắc âu thơ mộng, cũng là lúc chúng tôi bắt đầu chuẩn bị mọi thứ cho một mùa đông băng giá kéo dài cả năm, sáu tháng.

Một buổi tối, khi ngồi ở phòng khách đọc mấy tờ báo, tôi nghe tiếng chim kêu, mỗi lúc một nhiều, vang động cả một vùng xưa nay tĩnh mịch. Tiếng chim có cái âm sắc như đang tìm nhau, gọi nhau, mừng rỡ. Hôm sau, hỏi ông láng giềng người Đức, tôi mới biết là chính ngã ba sông ngay trước nhà tôi, từ bao nhiêu năm nay, là nơi nhiều đàn chim trane di xứ chọn làm địa điểm tập trung để bay về phương nam trước khi mùa đông đến.

Cả mấy đêm liền sau đó, cứ vào khoảng chín giờ tối, những đàn chim từ mọi nơi bắt đầu kéo về tụ tập ở bờ sông và cánh đồng cỏ bên kia, kêu gọi nhau cả đêm. Đến mờ sáng, chia nhau từng nhóm chừng hai mươi con, nối tiếp bay đi, theo hình những mũi tên, vẽ lên nền trời mờ hơi sương một bức tranh tuyệt đẹp.

Nhiều đêm, tôi lặng lẽ ra bờ sông, ngồi cả mấy tiếng đồng hồ, nhìn chim từng đàn bay tới, cả trăm, rồi hàng vạn con. Chúng đón nhau gọi nhau líu lo mừng rỡ. Tiếc là loài người đã không hiểu được ngôn ngữ của loài chim, để nghe nó chào nhau, nói với nhau những lời tình tự, và bàn nhau phân công, tổ chức, sắp xếp từng đàn lần lượt bay đi trong trật tự. Tôi miên man hồi tưởng thời gian hơn mười năm trong lính. Rồi bất ngờ nảy ra một ý tưởng so sánh lạ kỳ: Những “đội quân” chim trane này có tinh thần kỷ luật và tình đồng đội. Các “vị chỉ huy” của nó còn tài giỏi hơn nhiều ông quan chỉ huy của bọn tôi ngày trước. Con chim dẫn dầu trong một đội hình mũi tên chắc chắn phải là con chim chỉ huy cấp nhỏ nhất, nhóm trưởng. Con chim "tổng tư lệnh" phải là con chim bay lên ở những nhóm cuối cùng. Phải như thế mới có được một cuộc "hành quân triệt thoái" diễn ra trong trật tự và đẹp đẽ như tôi vừa chứng kiến. Cái may mắn, là chúng có cả một không gian yên bình để sắp xếp những chuyến ra đi, khác với những người lính chúng tôi vào những ngày cuối tháng tư, với bom đạn xe pháo dày đặc của cả một khối liên minh đối phương kéo từ phương Bắc. Trong lúc chúng tôi bị người bạn đồng minh bội phản, và điều đáng buồn hơn, đã có nhiều cấp chỉ huy hèn mạt, xa chạy cao bay trong khi chúng tôi vẫn còn kiên cường chiến đấu.

Những năm sau đó, năm nào cũng thế, khi trời chỉ mới vào thu là tôi đã bắt đầu ngóng chờ những con chim trane trở lại. Tôi chờ chúng như đã từng chờ những chiến hữu của mình. Tôi thấy như mình trẻ lại, lòng rộn rã niềm vui. Cho dù cứ mỗi lần đàn chim tụ tập về đây là tôi có nhiều đêm mất ngủ, trăn trở nghĩ suy về quê hương và thân phận của mình cùng những bạn bè xưa.

Hầu hết bạn bè tôi, nếu còn sống sót sau cuộc chiến tang thương đó, kẻ đã phải ra đi trong loạn lạc, ly tan, người thì được ông bạn đồng minh phản bội năm xưa, can thiệp với kẻ cựu thù cho "ra đi trong vòng trật tự" sau nhiều năm bị đày đọa ngục tù, vợ con nheo nhóc, để giờ này mỗi người trôi dạt một phương, mang theo những vết thương không lành được ở trong lòng. Biết đến khi nào chúng tôi mới đuợc như những con chim trane đang tụ tập ca hót líu lo ngoài kia, trươc giờ bay xuống phương nam?

Có một lần, dường như vào mùa đông thứ năm, khác với mọi năm, khi trời đã sáng hẳn rồi mà đàn chim cuối cùng vẫn chưa rời khỏi địa điểm tập trung, kêu lên những tiếng kêu lạ, buồn và khắc khoải. Tôi tò mò chạy ra xem. Lúc ấy những con chim vội vàng tung cánh bay lên rồi lần lượt xếp lại thành đội hình mũi tên, nhưng vẫn bay vòng lại mấy lần và tiếp tục những tiếng kêu buồn không dứt. Tôi đứng nhìn theo, lòng lắng xuống như muốn nhắn gởi theo từng cánh chim một ít nỗi niềm. Nghe có tiếng sột soạt trong một hốc đá, tôi chạy lại tìm. Một chú chim, chẳng hiểu vì sao bị gẫy đôi chân, nằm sâu trong đó, bên cạnh có khá nhiều hạt lúa mì, thức ăn dành cho nó. Tôi bế con chim vào nhà. Nó nhìn tôi như van lơn, đôi mắt ướt nhè. Tôi có cảm tưởng là nó đang khóc. Tôi lại chợt nhớ tới những đồng đội bất hạnh, bị trọng thương trong những ngày cuối cuộc chiến, đau đớn, cô đơn, rồi lang thang sau khi bị đuổi ra khỏi các quân y viện. Mắt tôi bỗng nhòe đi khi nghĩ đến mấy vị tướng oai hùng, cùng ở lại sống chết với anh em rồi tuẫn tiết trước giờ thứ hai mươi lăm.

Từ ngày có con chim trane thương tích, nhà tôi lại vui hơn, nhất là hai cô con gái nhỏ của tôi, tha hồ nâng niu, chăm sóc và kể cả tâm tình với nó. Cô bé thích sau này làm nghề y tá, thì mang nó ra phòng bác sĩ thú y khám, mua thuốc băng bó cho nó. Riêng tôi, mỗi lần chăm lo cho nó, tôi có cảm giác như đang lo cho một đồng đội bị thương tích của mình. Hơn hai tháng sau, khi đôi chân của nó lành hẳn, cũng là lúc tuyết đang rơi trắng cả khung trời. Được thả ra khỏi lồng, nhưng nó chỉ quanh quẩn trong nhà. Suốt gần một năm nó là một thành viên đặc biệt trong gia đình tôi và là bạn thân của hai cô con gái nhỏ.

Khi mùa thu trở lại, tôi bàn bạc, khuyên mấy đứa con chuẩn bị trả nó lại với đàn, khi những con chim thiên di đầu tiên trở lại. Giải thích và năn nỉ mãi mấy cô mới chịu. Hôm trả nó lại sum họp với đàn, hai cô con gái nâng niu, âu yếm tâm tình rồi chia tay nó. Không khí cảm động không thua gì những cuộc chia ly trên thế gian này.

Một điều làm cả nhà tôi ngạc nhiên và xúc động. Cuối mùa thu năm sau, khi những đàn chim bắt đầu trở lại, một buổi tối khi sửa soạn đi ngủ, mấy cô con gái của tôi bất ngờ thấy con chim trane đậu ngoài cửa sổ. Khi cửa sổ vừa mở, nó bay vào trong phòng, kêu lên rộn rã. Nhờ vết thương cũ còn in dấu trên đôi chân của nó, mấy cô con gái mới biết chắc, nó chính là con chim năm trước. Từ đó, có thể tôi còn biết về loài chim trane này nhiều hơn những nhà nghiên cứu chim muông: trung thành và có trí nhớ.

Không ngờ, những con chim trane lại là những niềm vui, nỗi nhớ cho gia đình tôi trong những ngày lưu lạc ở một vùng bắc âu xa lạ..

Bây giờ mấy cô con gái của tôi đã thành người lớn. Tất cả đã đi học bên Mỹ, bên Anh rồi ở lại làm việc luôn bên ấy, nhưng cứ gần tới cuối mùa thu đều gọi về nhà hỏi thăm đàn chim trane có còn tụ tập trước nhà, và con chim bị thương ngày trước có còn bay về đậu trên khung cửa sổ.

Suốt mùa thu vừa rồi, tôi trông chờ nhưng đàn chim không trở lại. Tôi thấy nhớ tiếc những đêm nghe tiếng chim kêu, và những buổi sáng tinh mơ nhìn từng nhóm lặng lẽ bay theo hình những mũi tên hướng về phương nam, hùng vĩ như một binh đoàn vượt tuyến xuất phát, bắt đầu một cuộc hành quân qui mô dài hạn. Nhiều lúc tôi đã từng ước mơ có thêm đôi cánh, để cùng được bay lên với chúng.

Cơ quan bảo vệ súc vật và sở y tế & vệ sinh thành phố, cũng đã đến đây từ đầu mùa thu, xịt thuốc sát trùng và dọn dẹp bờ sông, đồng cỏ, để đón những đàn chim trane trở lại. Năm nay, họ làm việc nhiều hơn, chuẩn bị mọi điều chu đáo hơn, vì có tin bệnh "cúm gia cầm" ở một vài xứ nóng phía nam. Họ lo lắng những con chim trane bị lây nhiểm vi khuẩn H5N1. Loại vi khuẩn mà cả thế giới đang bàn tán về nguy cơ một cơn đại dịch. Hội Đồng thành phố họp liên miên, bàn bạc về khả năng những con chim trane, có thể sẽ bị giết chết trên một xứ nóng nào đó, để ngăn ngừa mang bệnh vào. Họ liên lạc với cơ quan y tế Liên Hiệp Quốc, gởi thư cho chính phủ của một số nước nhiệt đới phía nam, nhằm bảo vệ cho những đàn chim trane bay sang trốn lạnh. Họ chuẩn bị, lo lắng để đón những đàn chim của họ quay về.

Trời đã vào đông, ngoài kia, bầu trời đã đổi sang màu trắng đục, trên dòng sông Nitelva dày đặc sương mù, báo hiệu những hạt tuyết đầu mùa sắp rơi. Bà Anne-Mari, trưởng Sở bảo vệ súc vật thành phố, cùng một số nhân viên đến nhà tôi từ chiều nay. Họ kiên nhẫn ngồi chờ để hy vọng được đón những đàn chim trane có thể trở lại muộn màng. Họ cùng vợ chồng tôi uống hết mấy bình trà, rồi chia tay lúc nửa đêm. Tuyết bắt đầu rơi. Chắc chắn giờ này những con chim trane không còn đến nữa. Khi đứng lên chia tay, nhìn họ thoáng buồn nhưng không tuyệt vọng. Mỗi người đều nắm chặt tay tôi và nói lời cầu nguyện bằng an cho những con chim trane di xứ, dù nó đang trôi dạt ở nơi đâu cũng mong cuối mùa thu năm sau sẽ kéo nhau trở lại nơi này.

Suốt cả đêm tôi không hề chợp mắt. Không phải tôi nghĩ đến những con chim trane, mà nghĩ đến thân phận của chính mình cùng những người đồng hương đang lưu lạc khắp năm châu. Ngược lại với loài chim trane thiên di, bay về nam tìm nắng ấm, chúng tôi đã phải bỏ quê hương bốn mùa nắng ấm để đi tìm tự do và tình người ở những vùng băng tuyết xa xăm. Những mùa đông kéo dài, trong cái lạnh lẽo mới thấy thấm thía tận cùng nỗi cô đơn xa xứ.

Tự dưng, tôi nghĩ đến một điều: Biết đến khi nào chính quyền ở quê nhà thật lòng xem những người ra đi là "khúc ruột ngàn dặm", là "một bộ phận không thể tách rời", để biết yêu thương lo lắng và mong ước đón tiếp họ trở về, như chính quyền của cái thành phố nhỏ ở xứ Bắc Âu xa xôi này - nơi từng cưu mang gia đình tôi - đã lo lắng mong chờ những con chim trane di xứ? Điều đặc biệt hơn, là những người Việt tha phương sẽ mang về cho quê hương biết bao nhiêu tài năng, trí tuệ, và bạc tiền, còn những con chim trane kia có thể sẽ mang về cho họ những con vi khuẩn chết người.

Tôi đắp kín chăn nhưng vẫn thấy lạnh toát, mơ hồ như tuyết đang phủ đầy người, và vết thương cũ trong lòng vừa mới nhói đau trở lại.

phạmtínanninh

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

NỖI BUỒN MÙA THU

phạmtínanninh

Có lẽ những chiếc lá mùa thu đã nhuộm vàng phần lớn thi ca nhân lọai. Và dường như nếu không có mùa thu thì những cuộc tình sẽ không còn lãng mạn, thế gian này sẽ không có mặt của thi nhân. Ông Văn Cao đã khởi đầu sự nghiệp của mình bằng “Buồn Tàn Thu” để rồi cuộc đời của người nghệ sĩ tài hoa này cũng tàn theo Giai Phẩm Mùa Thu (trong Nhân Văn Giai Phẩm). Ông mất đi trong cảnh khôn cùng để lại cho đời một kho tàng âm nhạc quí giá, cùng sự thương tiếc ngậm ngùi và bao điều suy ngẫm. “Cây đại thụ” Phạm Duy phỏng theo một bài thơ Tây, phổ bản “Mùa Thu Chết”, để rồi tên tuổi cũng đã chết theo mùa thu ở cái “thị trấn giữa đàng” bên tận xứ Cali, bởi cái tính kênh kiệu và tấm lòng phản trắc, chỉ để lại cho những người từng hâm mộ ông sự chua xót, bẽ bàng. Ở Việt nam ta, nếu “con nai vàng ngơ ngác đạp trên lá vàng khô” đã làm nên Lưu Trọng Lư, thì bên Tây “Les Feuilles Mortes” đã khắc sâu tên tuổi Jacques Prévert trong lòng những người mê thơ, yêu nhạc.

Riêng cái thằng vừa nhà quê vừa ít chữ như tôi dĩ nhiên không thể nào làm nỗi một câu thơ và cũng chẳng mò ra được một nốt nhạc, vậy mà tâm hồn lại rất dễ bị đắm chìm trong những lời thơ tiếng nhạc - đặc biệt có Mùa Thu trong đó. Nhưng trong tất cả những tác phẩm có bóng dáng Mùa Thu trên thế gian này, cái bài làm tôi xúc động nhất, thuộc lòng từ thời tấm bé, không phải là thơ, là nhạc, của ta hay tây, mà lại là một bài văn xuôi rất …học trò của ông Thanh Tịnh.

“Hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm hoang mang của buổi tựu trường. Tôi quên thế nào được……….
Buổi mai hôm ấy, một buổi mai đầy sương thu và gió lạnh, mẹ tôi âu yếm nắm tay tôi dẫn đi trên con đường làng dài và hẹp…….”

Không biết ngày ấy ông Thanh Tịnh ở tận nơi đâu, mà sao cái cảnh ngày đầu tiên ông đi học giống tôi như đúc. Tôi cũng được mẹ nắm tay dẫn đi trên con đường làng Phú Hội, cũng vào một buổi sáng có (một chút) sương thu và gió lạnh.

Một năm sau mẹ tôi qua đời, bỏ lại tôi một mình đi trên con đường dài và hẹp đó với bóng dáng yêu dấu của bà. Rồi cũng một năm sau nữa, cha tôi đang dạy học ở trường Pháp Việt thì bị Việt Minh bắt đưa ra Liên Khu Năm làm “công tác xóa nạn mù chữ”. Tôi trở thành thằng bé mồ côi, phải về ở với ông bà nội. Mỗi ngày tôi vẫn đi trên con đường làng ấy, nhưng bây giờ tôi đến trường cùng một đám anh em bà con trạc tuổi. Sau này, trong đám học trò dưới mái trường làng ngày ấy có vài thằng lên núi đi làm... kách mệnh, có đứa sớm thành liệt sĩ; nhiều đứa làm quan làm lính cộng hòa, cũng có lắm thằng đuợc Tổ Quốc Ghi Ơn; đám còn lại là nông dân năm tháng soi mặt với ruộng đồng, nhưng cũng có thằng trở thành giáo sư, bác sĩ, lấy vợ rồi đóng đô luôn ở chốn thị thành, chỉ lâu lâu dắt díu nhau về thăm làng cũ.

Vậy mà cái tình đồng môn của thời thơ ấu đó lại keo sơn gắn bó đến không ngờ. Mấy ông nông dân có con cháu đi lính, được mấy ông bạn nhà binh nhận về đơn vị chở che, xuống thành phố đi học có mấy ông bạn thầy giáo hướng dẫn lo trường lo lớp, nơi ăn chốn ở; đau bệnh thì có mấy thằng bác sĩ chăm sóc thuốc men, xin vào nhà thuơng miễn phí. Mấy thằng làm quan lâu lâu về quê chở cả đám nông dân ra thành phố tập tễnh ăn chơi cho biết cái sự đời. Quân với dân còn hơn cả cá với nước.

Rồi đùng một cái, tháng 4/75, bão tố bất ngờ ập xuống, kéo theo cơn lốc đổi đời bi thảm: Mấy ông bạn trên núi nghênh ngang về nắm chính quyền, mấy ông nông dân vốn bao năm an nhàn với đồng áng bây giờ lại được mấy ông bạn chính quyền ưu ái lấy hết ruộng đất đưa vào hợp tác xã, giúp những thằng bạn cũ sớm trở thành vô sản, hầu cùng nhau “tiến nhanh tiến mạnh tiến vững chắc” lên thế giới đại đồng (!). Mấy ông lính, ông thầy, ông bác sĩ tự dưng trở thành “những con nai vàng ngơ ngác”, cuốn gói về quê nương náu để đợi chờ số phận, lại được mấy ông bạn nông dân ngày trước cho gạo cho tiền, chí ít cũng đãi đằng được một chầu thịt gà rượu đế, tiễn đồng môn cũ đi vào “trường cải tạo”. Một ít vào trường sơ cấp, trung cấp trong nam, số còn lại được ưu ái ra trường cao cấp tận vùng núi rừng Việt Bắc.

Sau sáu, tám, rồi mười năm, thằng nào còn sống mang tấm thân tàn tạ ra tù, kẻ thì vượt biển, người thì đi diện HO, lưu lạc tha phương, bỏ lại sau lưng con đường quê, ngôi trường làng cũ với biết bao kỷ niệm êm đềm. Đất khách gặp nhau, chỉ còn biết vỗ vai an ủi:

Qua cơn mờ mịt binh đao
đứa còn đứa mất ba đào tang thuơng
Lạc loài trên chính quê hương
thôi thì gió cuốn mười phương cũng đành

Định cư xong, lo góp tiền gom bạc gởi về cứu đói mấy ông bạn nông dân, bây giờ đã bạc cả mái đầu mà còn trắng cả đôi tay. Còn mấy ông bỏ trường lên núi hồi còn son trẻ bây giờ phục viên về nằm nghỉ mát, mỗi ngày uống trà ngắm mấy cái “bằng khen”, mấy cái huy chương “dũng sĩ” treo tòn ten trên vách mà ngẫm nghĩ con đường cách mệnh đã bỏ gần cả một đời theo đuổi mà sao cái làng quê của mình vẫn cứ xác xơ và những bạn bè ấu thơ giờ thì đã chết hoặc điêu linh tan tác.

Rồi cũng vào một mùa thu, từ đất khách tôi về lại quê hương. “Mùa thu năm ấy tôi ra đi, mùa thu này nữa tôi..trở về”. Khoảng cách giữa hai mùa thu... vậy mà cũng đã hai mươi năm. Tôi về để tìm lại ngôi mộ của cha tôi được mấy người bạn tù chôn cất sơ sài trên núi bên ngoài trại cải tạo Đá Bàn. Ông đã chết sau hơn một năm bị giam trong trại tù này, cũng vào một ngày cuối thu ảm đạm. Tôi nhờ người cải táng, đưa ông về nằm bên cạnh mẹ tôi và ông bà nội trong nghĩa trang gia tộc.

Tôi đi một vòng thăm lại làng xưa. Cái làng Phú Hội của tôi một thời đông vui giàu có như cái tên gọi, bây giờ sao trở nên vắng vẻ điêu tàn. Đám bạn bè cũ bây giờ chẳng còn mấy đứa, thằng chết, kẻ ra đi, gởi thân khắp bốn phương trời. Hôm nay, tôi lại đi trên con đường làng cũ, vẫn con đường dài và hẹp mà ngày xưa mẹ tôi âu yếm dắt tay tôi tới lớp. Hôm nay cũng có nhiều sương thu và gió lạnh, tôi đi một mình trơ trọi, chỉ còn đâu đây bóng dáng, tiếng nói tiếng cười của đám bè bạn ngày xưa rì rào trong gió. Tôi chợt nhớ tới bài thơ của một ông bạn già thân thiết:

Tôi về đứng trước ngôi trường cũ
nhìn xuống làng xưa chạnh nỗi niềm
nhấp nhô những mái nhà rêu phủ
thương hải tang điền mấy biến thiên
Tôi về xuôi một dòng sông chảy
con nước vô tình lặng lẽ trôi
hiểu nghĩa cuộc đời đành không thể
hai lần tắm ở một dòng thôi
… Tôi về - có phải sông về biển
sao nghe từng con sóng não nề
như thể bây giờ là cổ tích
tôi về - chỉ gặp lại mình... tôi

Bây giờ nhờ tiền tài trợ của mấy ông tư bản, nên ngôi trường vừa được xây cất lại khang trang. Có lẽ học sinh cũng vừa mới tựu trường, nên cờ xí khẩu hiệu còn đỏ cả sân trường. Cái trường mang tên làng Phú Hội ngày xưa bây giờ đã được đổi tên thành “Trường PTCS Lê văn Tám”. Nhìn các em bé sắp hàng vào lớp mà lòng tôi cứ bâng khuâng. Không phải vì vừa mới tìm lại được bóng dáng của mình ngày trước, mà vì thấy thương và tội nghiệp cho các cháu học trò. Không biết mỗi ngày phải học thuộc lòng những bài “thơ trong tù”của bác, thơ “Khóc ông Lê Nin” của nhà thơ lớn Tố Hữu, có bao nhiêu em đã “từ ấy trong tôi bừng nắng hạ, mặt trời chân lý chói qua tim”(thơ T.H), và liệu các em có còn nhớ đuợc cái bài văn xuôi “hằng năm cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc…” hồn nhiên và dễ thương của ông Thanh Tịnh mà thế hệ cha ông ai cũng nằm lòng? Các em có xót xa khi biết trường của các em mang tên “anh hùng Lê văn Tám” mà các em được dạy như là một tấm gương, lại là một người không hề có thật, mà chỉ là nhân vật trong phim truyện của đạo diễn Phan Vũ (xem Báo Thế Giới – Hà Nội số 39 (154) ngày 27.09.04 trang 22-23, website Talawas ngày 11.10.04 / Quang Hùng, đài BBC chương trình ngày 15.10.04)

Rồi mới đây bà hiệu trưởng Trần Thanh Vân đầy quyền uy (dưới những ô dù) kéo theo một nhóm thầy cô vây cánh của trường chuyên Lê Quí Đôn nào đó ở “thành phố mang tên bác” thản nhiên lấy tiền đô la, làm hồ sơ ma nhận cả một đám học trò dốt nát, con cháu của những đại gia và các ngài quan lớn (trong đó có con trai của đồng chí chánh thanh tra sở giáo dục thành phố) vào ngôi trường chuyên một thời có tiếng.

Tội nghiệp, chẳng lẽ mới lớn lên, các em đã phải học những điều gian dối, và tương lai các em sẽ ra sao với một nền giáo dục và văn hóa “phong bì”?

Cũng may mà các em còn bé và ở tận một vùng quê, nên không biết nhiều về đạo đức của các nhà “mô phạm”, những “nhất tự vi sư bán tự vi sư” một thời được dân chúng trải chiếu hoa mời ngồi dưới mái đình làng.

Ngoài Hà Nội, có lẽ vì thành phố thủ đô trử tình với mùa thu và hương hoa sửa, nên ông thầy già trưởng khoa Đỗ Tư Đông “khả kính” ở trường Cao đẳng Truyền Thanh Truyền Hình nhà nước “lấy điểm gạ tình” một số nữ sinh viên. Thầy chỉ cho điểm cao khi nào trò hoàn thành nhiệm vụ “trả bài” cho thầy trong khách sạn!

Dưới cái tỉnh Bình Phước mới toanh, nên thầy Lê Hoàng Sang, hiệu trưởng trường Lê văn Tám (lại Lê Văn Tám!) cũng vừa làm một điều vô cùng tân tiến: bắt các cô giáo chưa chồng phải uống rượu cùng các quan lớn địa phương, bất kể trưa chiều hay trước giờ lên lớp. Nếu lỡ gọi các quan già bằng “chú” mà không phải bằng “anh” thì bị thầy hiệu trưởng nạt nộ đòi kỷ luật.

Mới đây trên đài BBC, ông Tạ Phong Tần, cán bộ sở thuơng Mại Du Lịch Bạc Liêu, sau một khóa được đào tạo tại chức, đã công khai tuyên bố: “Không ít tiến sĩ, thạc sĩ là những người biết diễn đạt những điều đơn giản trở thành khó hiểu hoặc không ai hiểu nỗi.” (nguyên văn)

Cầu mong cho các em học trò nhỏ ở quê tôi không nghe được mấy cái tin “vui” này đăng đầy trên báo mỗi ngày, để còn thấy mùa thu trên quê nghèo vần còn một chút thơ mộng dễ thương.

Trước khi rời khỏi quê hương, tôi ghé lên thành phố thăm thằng bạn học cũ, trước tháng 4/75 là một giáo sư toán-lý-hóa nổi tiếng của một trường trung học lớn. Bây giờ ngồi bán thuốc lá ở vỉa hè. Con cái nó cũng đã nghỉ học từ lâu để lăn vào cuộc sống, nên mấy cái bằng cử nhân toán từ cái thời 63-64 chỉ còn cùng để... gói thuốc lá. Bỗng dưng tôi nhớ tới bài thơ của một ông nhà thơ nào đó trong nước mà lòng thấy ngậm ngùi.

“Thầy có nhớ con không...?”
Tôi giật mình nhận ra người đàn ông áo quần nhếch nhác
người đàn ông gầy gò ngồi sau tủ thuốc ven đường.
“Thầy còn nhớ con không...?”
Câu lặp lại rụt rè rơi vào im lặng
hoa phượng tháng Năm rơi đầy vỉa hè
rụng xuống trên vai người thầy học cũ
“không... xin lỗi.. ông lầm...
Tôi chưa từng dạy học
Xin thối lại ông tiền thuốc... cám ơn!”
Cuộc sống cho ta nhiều quên, nhớ, vui, buồn
Thầy học cũ mười năm không lầm được
Thầy học cũ ngồi kia giấu mình sau tủ thuốc
giấu mình sau hoa phượng rụng buồn tênh.
Con biết nói gì hơn, đứa học trò tôn sư
người Thầy cũ lại chối từ kỷ niệm,
chối từ những bài giảng dạy con người đứng thẳng,
biết yêu anh em - đất nước - xóm giềng.
Đứa học trò vào đời với trăm nghìn giông bão,
Bài học ngày xưa vẫn nhớ mãi không quên.
Bên hè phố im lìm,
vành nón sụp che mắt nhìn mỏi mệt.
Câu phủ nhận phải vì câu áo rách
trước đứa học trò quần áo bảnh bao?
Tôi ngẩn ngơ đi giữa phố xá ồn ào,
những đứa trẻ con tan trường đuổi nhau trên phố.
Mười năm nữa đứa nào trong số đó,
sẽ gặp thầy mình như tôi gặp hôm nay?

Ngày rời khỏi quê hương, ngồi trên máy bay nhìn xuống, mùa thu Sài gòn không có lá vàng rơi, cũng không có con nai vàng nào ngơ ngác, mà sao tôi thấy như vàng cả không gian, ảm đạm cả đất trời. Tôi bỗng ngộ ra một điều ngộ nghĩnh: Đâu phải chỉ có mấy ông nhà thơ, mấy ông nhạc sĩ mới nhuộm buồn được mùa Thu, mà có những “đỉnh cao” đang ngự trị trên quê hương tôi, dù chẳng có một chút xíu tâm hồn nào, có khi không có cả quả tim, cũng có thể làm cho mùa thu quê tôi... buồn chết được.

phạmtínanninh

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Cái Dũng của Vị Hòa Thượng

Trần Việt Hải (Los Angeles)
"Ngục thất dầu sôi thành cam lộ
Lao tù lửa bỏng hóa hồng liên
Đêm ngày tôi dạy cái thằng tôi
Đạo pháp suy vi: bởi lẽ trời
Thấy kẻ phá chùa: khoanh tay đứng
Nhìn người đập tượng: nhắm mắt ngồi
Bắt bớ Tăng Ni: thây mẹ nó
Giam cầm Phật tử: mặc cha đời
Miễn được yên thân là khôn đấy
Can chi ậm oẹ để thiệt thòi"

Tôi đọc những dòng thơ tù của Hòa thượng Thích Quảng Độ thấy xót xa cho quê hương ngày hôm nay, vào thế kỷ 21 này trong khi nhiều quốc gia trên thế giới đã theo định chế tự do dân chủ, tôn trọng nhân quyền thì Việt Nam vẫn còn bị một thiểu số người ôm giữ quyền lực theo cung cách luật rừng khi cai trị đất nước. Vì đất nước không có tự do nhân quyền thì người thất phu trong xã hội phải đứng lên tranh đấu dành quyền sống cho nhân dân, thi huống hố chi những vị tu sĩ, họ có trách nhiệm với lương tâm và đạo pháp là phải xả thân bảo vệ, cứu lấy con chiên, đạo hữu hay phật tử của họ. Với Phật giáo, người tu sĩ phải sống với 3 yếu tố của đạo pháp: Bi, Trí, Dũng.

Tôi đọc nhiều bài viết, nhiều tài liệu về Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ. Ngài đã chia sẻ những quan tâm đến nỗi cơ cực của người dân như những nạn nhân của thiên tai bão lụt, những người dân oan khiếu kiện bị mất nhà cửa, mất đất đai vì những tham lam, những nhũng lạm của cơ cấu nhà cầm quyền bất tài, bất lương. Ngài xả thân đến với những người dân nghèo khổ, những người dân thấp cổ bé miệng chịu thiệt thòi trong xã hội. Con tim ngài bao dung, quảng độ như pháp danh mà ngài mang. Ngài chính là một dũng sĩ trên những mặt trận của khổ đau.

Ðầu năm 1995, Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ lên tiếng phản đối việc bắt giam trái phép phái đoàn cứu trợ đồng bào nạn nhân lũ lụt của Giáo hội. Vì việc này mà Ngài đã bị bắt giam từ ngày 4/1/1995. Sau hơn 8 tháng bị giam giữ, ngày 15/8/95 Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ bị CS kết án 5 năm tù ở, trong một phiên tòa không có luật sư biện hộ, không có báo chí quốc tế tham dự, và không có thân nhân chứng kiến. Sự kiện này đã gây ra một làn sóng bất mãn phản đối mạnh mẽ trong dư luận ở trong và ngoài nước. Đứng trước những thảm cảnh lũ lụt tàn phá thiên nhiên, người dân điêu đứng, nhà cầm quyền lơ đãng, Giáo Hội Phật Giáo qua Hòa thượng Quảng Độ dang tay ủy lạo, cứu tế, để rồi ngài bị kết án hành động không có phép của nhà cấm quyền.

Lời buộc tội vô lý của CS Việt Nam không chùn bước chân ngài, hình như nơi đâu nhân dân kêu cứu là nơi đó có những tiếng gọi đáp ứng của ngài. Ngài đứng lên vì lương tâm và công lý, ngài chấp nhận những oan khiên, những lưu đày, những tù đày, những quản thúc như tù giam lỏng. Tôi đọc thơ ngài sáng tác với sự chia sẻ dạt dào, với nỗi ray rứt cảm thông:

"Những lúc trầm tư nếm vị thiền
Lâng lâng không bợn chút ưu duyên.
Ngục thất dầu sôi thành cam lộ
Lao tù lửa bỏng hóa hồng liên.
Gông cùm giam hãm ngoài tam giới
Xiềng xích buộc ràng với cửu thiên
Sống chết vui buồn tâm tự tại
Cành dương rửa sạch nghiệp oan khiên."
(Mùi Thiền, trang 79, tuyển tập "Thơ Tù", H.T. Quảng Độ, 2006)

Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất ủng hộ người dân lành trong cuộc khủng hoảng lòng dân, vì nhân tâm khiếu kiện tài sản, những chống đối của dân oan bé miệng bị cướp nhà, cướp đất ngay từ khi CS thống trị đất nước bằng vũ lực, bằng bạo ngược răn đe, và bằng sắt máu khủng bố. Họ khước từ quyền tư hữu của người dân, họ nhẫn tâm cướp của trắng trợn đất đai để bán cho thương nhân ngoại quốc đầu tư xây hảng xưởng. Trước những oan khiên điêu đứng của Dân oan, Phật Giáo đến với Dân oan là nhu cầu quan yếu, là tất yếu lịch sử. CS quy kết cho PGVNTN đã khích động Dân oan, họ lên án Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ. Trên tờ báo Công An Thành Phố, số 1575, thứ năm 06, tháng, 2007, tác giả Gia Phúc đã hỗn xược, mạ lỵ bêu xấu ngài trong liên tiếp 3 số báo, bài mang tựa "Thích Quảng Độ - người hám lợi, tham danh":

"Cũng qua việc này, HT Quảng Độ cũng muốn dùng tiền để gây thêm thanh thế cho tổ chức GHPGVNTN, một tổ chức về mặt lịch sử, pháp lý đã không còn tồn tại. Ngày 18-7-2007, những người khiếu nại do đã được đại diện các cơ quan chức năng giải thích thỏa đáng nên tự giải tán, trở về các địa phương. HT Quảng Độ đã không thực hiện được âm mưu dùng tiền gây rối của mình, vì thế ông ta sắp đặt một kế hoạch mới. Ngày 23-8-2007, lại cử một đệ tử khác là Thích Không Tánh, mang 300 triệu đồng ra phân phát và xách động bà con tập trung khiếu kiện tại trụ sở tiếp dân trên đường Cầu Giấy, Hà Nội. Nhưng âm mưu này đã sớm bị các cơ quan chức năng phát hiện, vô hiệu hóa. Không Tánh bị đưa trở lại TPHCM. Hoạt động gây rối xã hội của HT Quảng Độ và các đệ tử đã được lên kế hoạch rất công phu; có phối hợp chặt chẽ với các tổ chức phản động ở nước ngoài."

Người dân trong nước biết những luận điệu bịp bợm, mánh lới rẻ tiền kiểu bồi bút Tố Hữu này. Ông Quốc Bảo, một Dân oan đã phẩn nộ về những gì Gia Phúc viết như sau:
"Tôi cay đắng vì nhận thấy lòng tôn kính và đức tin của một phần tử bị xúc phạm thô bạo bởi một ngòi bút tầm thường bị bẻ cong. Thủ phạm chính là nhà báo mang bút danh Gia Phúc. Từ những dòng suy nghĩ bình thường của một Dân oan đang đi khiếu kiện tại thành phố này. Tôi thấy có trách nhiệm và mạo muội viết đôi dòng xin phản biện từng phần của bài báo nêu trên, mà tác giả Gia Phúc đã nhằm mục đích bêu xấu một nhà sư có tấm lòng cao cả như Hòa thượng Thích Quảng Độ. Một nhà sư đang được toàn thể phật tử trong nước và lương tri tiến bộ trên thế giới tôn kính, hết lòng ca ngợi."

Một người khác viết bài đả kích những sai lầm của chế độ CS, và ông buộc CS phải xin lỗi Hòa thượng Quảng Độ trong bài "Việt Cộng phải xin lỗi Hòa thượng Thích Quảng Độ":

"Rõ ràng là Cộng sản Việt Nam đang hành xử tư cách của một tập đoàn "vừa ăn cướp vừa la làng" một cách bỉ ổi. Thứ nhất, vấn đề dân oan khiếu kiện không chỉ mới xảy mà đã có từ nhiều thập niên vừa qua, nhưng Cộng sản Việt Nam đã không hề giải quyết hay chỉ giải quyết lấy lệ. Có hai lý do mà đảng Cộng sản Việt Nam không thể nào giải quyết vấn đề dân oan. Một là những ruộng đất của dân đã bị cán bộ sang đoạt một cách trắng trợn trong thời kỳ Cộng sản Việt Nam bắt mọi người phải tham gia vào hợp tác xã. Sau khi hợp tác xã giải tán, cán bộ đã lấy những ruộng đất tốt chia cho thân nhân. Hai là những ruộng đất bị nhà nước giải tỏa với giá rẻ mạc để trao cho các công ty liên doanh khai thác và thiết lập các khu công nghiệp, khu giải trí nên không thể nào lấy trả lại cho dân. Chính vì vậy mà Cộng sản Việt Nam đã chọn thái độ làm ngơ. Miệng thì nói phải giải quyết, nhưng thực chất, cán bộ đã không làm bất cứ điều ngoài việc ngồi nhận đơn hay bác đơn. Dân chúng rất bất mãn và đã rủ nhau lên khiếu kiện tập thể tại các văn phòng chính phủ trong cảnh màn trời chiếu đất...

Do đó, nếu Hà Nội thực tâm muốn giải quyết vấn đề dân oan khiếu kiện thì hãy chấm dứt các bài báo tấn công Giáo Hội và công khai xin lỗi Hòa Thượng Thích Quảng Độ. (Trung Điền)"

Bồi bút Gia Phúc làm tôi nhớ lại văn hào lãnh giải Nobel 1958 là Boris Pasternak đã lớn tiếng chỉ trích nhà cầm quyền lãnh đạo bởi Josef Stalin về những âm mưu kết án ông rất hèn hạ, đê tiện do bộ máy cầm quyền CS: "Sát nhân ư ? Tội nào người ta đã kết án tôi ? Có phải chỉ vì tôi đã vạch trần cho thế giới thấy những giọt nước mắt oan khiên rơi trên quê hương đáng yêu của tôi".

Với văn hào Alexander Solzhenitsyn 1970 có kinh nghiệm sống dưới chế độ cộng sản Liên Xô, nhà văn được giải Nobel này nhấn mạnh: "Chế độ độc tài ngày nay không thể chỉ dùng bạo lực để tồn tại. Bạo lực không đủ. Ðộc tài phải luôn luôn kèm theo dối trá. Vì vậy các chế độ độc tài luôn tìm cách kiểm soát các phương tiện thông tin."

Trong Thông Bạch Vu Lan 2549, Ngài Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ đã viết:
“Thế giới mênh mông, địa ngục cũng mênh mông. Ở đâu có khổ đau, ở đấy có địa ngục; ở đâu có ác tâm, ở đấy có địa ngục; ở đâu có đàn áp nhục hình, ở đấy có địa ngục; ở đâu ý chí và ngưỡng vọng con người bị vùi dập, ở đấy có địa ngục. Trong ý nghĩa về địa ngục như thế, người Phật tử biết rằng nếu không có tâm Đại Bi, thì không thể nào giải thoát chúng sinh ra khỏi loại địa ngục... Trong xã hội đầy dẫy tệ đoan ngày nay, đơn vị gia đình đang bị hủy hoại. Lòng hiếu thuận biến thành niềm tham kuyến hiếu lợi. Tiền tài, danh vọng làm thước đo cảnh sống trăm năm hư ảo. Cha mẹ, tổ tiên, tổ quốc... đang là những chiếc bóng mờ thiên di ra khỏi trái tim và trí não con người. Đây chính là địa ngục thường trực vây kín con người xã hội ngày nay... Phải sống và chết trong Hiếu hạnh thì mới thánh hóa những kiếp đời và tịnh hóa nhân gian. Hiếu hạnh với Đức Thế Tôn là truyền thừa chánh pháp; hiếu hạnh với tổ tiên là bảo vệ con người của nòi giống; hiếu hạnh với cha mẹ trong hiện tại, quá khứ hay vị lai là phục vụ chúng sinh. Bằng Hiếu hạnh mà Phật tử Việt Nam góp phần tích cực đòi lại Nhân quyền cho người sống và Linh quyền cho người chết. Thực hiện Hiếu hạnh tức đem tâm Đại Bi mà che chở, đem tâm Đại Từ mà làm lợi ích, đem tâm Vô Úy mà bảo vệ con người và chúng sinh trong thời đại hiếu sát, bức hiếp ngày nay ...”

Tôi đọc bản tin trên nhật báo thì để thăm hỏi đồng bào Dân oan khiếu kiện, lần thứ nhất, 13.7, sáng thứ ba ngày 17.5, đích thân Hòa thượng Thích Quảng Độ đã dẫn đầu Phái đoàn Viện Hóa Đạo đến thăm, ủy lạo và tiếp tế cho tập thể Dân oan khiếu kiện tại tiền đình Văn phòng Quốc hội II ở số 194 đường Hoàng Văn Thụ, Phường 10, Quận Phú Nhuận, Sài Gòn. Hòa thượng Viện trưởng cùng chư Tăng xuất phát từ những ngôi chùa khác nhau, đi riêng lẻ và cùng trực chỉ đến nơi hẹn là Văn phòng Quốc hội II vào lúc 10 giờ sáng. Được thông báo Hòa thượng Thích Quảng Độ đến thăm, đồng bào Dân oan khiếu kiện tập trung đông đảo hàng trăm người tiếp đón, đứng chật sân tiền đình Quốc hội. Qua loa phóng thanh cầm tay, Hòa thượng dõng dạc thay mặt Đức Tăng thống Thích Huyền Quang và Hội đồng Lưỡng viện Giáo hội ngỏ lời thân ái chào hỏi tâm tình cùng đồng bào Dân oan khiếu kiện tập trung về từ 19 tỉnh và 9 quận thành phố Sài Gòn. Những trích đoạn quan trọng Hòa thượng phát biểu với đồng bào trong cuộc nói chuyện nửa giờ đồng hồ là:

"Tôi đến đây ngỏ lời thăm hỏi sức khỏe đồng bào, để chia sẻ nỗi thống khổ, tủi nhục của đồng bào. Vì Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất cũng là nạn nhân của chế độ như đồng bào. Giáo hội chúng tôi cũng bị cướp đoạt tất cả mọi cơ sở, từ giáo dục, từ thiện cho đến chùa viện. Ngay ở thành phố Sài Gòn này, ngôi chùa gọi là Việt Nam Quốc tự, gồm mười một hecta đất, họ đã lấy từ sau năm 75 rồi. Họ lấy hết, bây giờ chỉ còn ngôi tháp trên mảnh đất vài nghìn thước mà thôi. Họ xây lên đấy một rạp hát rất lớn, rồi hồ bơi, v.v... làm nơi du hí, người ta phóng uế khắp nơi trên ấy. Tôi thấy đây là sự tủi nhục cho văn hóa Việt Nam.". Ngài nói tiếp:

"Giáo hội chúng tôi cũng đã từng khiếu kiện suốt ba mươi năm qua. Cho đến nay đã có cả nghìn bức văn thư khiếu kiện, mà họ không hề phản hồi một văn thư nào, không giải quyết gì cả. Họ coi dân như cỏ rác. Cho nên Giáo hội chúng tôi cũng đồng cảnh ngộ với đồng bào đi khiếu kiện ở đây. Vì vậy mà chúng tôi đến đây chia sẻ nỗi thống khổ đó. Chúng tôi mong rằng tình trạng như thế này sẽ không còn tồn tại ở trên đất nước này.”.

Trích đoạn cuối:

"Muốn cho tình trạng này không còn xẩy ra nữa, thì chúng ta phải đòi hỏi cho bằng được nhân quyền, công lý và công bằng xã hội. Buộc họ phải trả lại cái quyền sống và quyền làm người cho ta, là vấn đề quan trọng nhất. Muốn như thế, thì phải chấm dứt cái nạn độc quyền cai trị. Bởi vì độc quyền nó đưa đến bao nhiêu thối nát và bất công như thế này đây... Phải đòi hỏi một chế độ đa nguyên, đa đảng, đại diện đầy đủ cho 80 triệu dân. Chứ chỉ có một đảng thì không thể giải quyết được gì cho 80 triệu dân.Mỗi người góp một phần, chúng ta tiếp tục đòi hỏi cho bằng được tự do, nhân quyền và công lý".

Bác sĩ Phạm Hồng Sơn đã nhận định về nạn Dân oan và Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ như sau:

"Về điểm 2: Việc các vị chân tu tham gia trợ giúp những cảnh đời lầm than của dân oan không chỉ thể hiện một trách nhiệm công dân mà đó cũng chính là thể hiện tấm lòng từ bi của Đạo Phật, thể hiện phẩm hạnh đầu tiên của Phật tử là tấm lòng Hiến tặng. Không kể đến những người tu hành, là một người bình thường cũng phải biết rung động, xót xa trước những cảnh thiệt thòi, oan khuất của đồng bào, đồng loại. Thể hiện một thái độ ủng hộ "một chế độ đa nguyên, đa đảng, đại diện đầy đủ cho 80 triệu dân" (trích lời Lão Hòa thượng Thích Quảng Độ) là việc làm cần thiết của mọi người yêu chuộng tự do, lo lắng cho cuộc sống chung của cả cộng đồng, đó cũng chính là tinh thần Đạo Bát chính của Phật pháp trên con đường diệt trừ "Vô minh". Trong khi nhiều phật tử khác của Nhà nước hiện nay luôn phải xưng tụng khẩu hiệu "Đạo pháp, Dân tộc và Chủ nghĩa xã hội", đó có thể là tâm niệm của một số phật tử, chúng ta tôn trọng trên tinh thần tự do, nhưng đáng tiếc nếu ai đó vẫn còn ủng hộ cho một chủ nghĩa phi khoa học đã bị thực tế loại bỏ thì con đường diệt trừ "Vô minh" sẽ phải dài thêm ra thôi...

Về điểm 4: Việc nói những người đi giúp đỡ dân oan là kích động dân chúng gây rối là một âm mưu vu khống nhằm đe dọa những tấm lòng từ thiện và cô lập, đẩy những người dân oan vào bước đường cùng. Chúng ta hãy xem lại những lời tâm tình của Lão Hòa thượng Thích Quảng Độ khi đến với hàng trăm dân oan tại Sài gòn ngày 17/07/2007: "Yêu cầu chính phủ phải giải quyết cho đồng bào thỏa đáng, đừng để cho đồng bào phải tiếp tục sống trong khổ cực. Xin đồng bào đừng vì quá bức xúc mà làm những chuyện quá khích". Ông viết tiếp,

“Bất kỳ một Nhà nước văn minh nào cũng phải đảm bảo cho người dân thể hiện những bức xúc, bất bình của cá nhân hoặc tập thể một cách công khai, ôn hòa và phải coi đó là một cơ chế cảnh báo sớm các sai lầm trong quá trình vận hành của xã hội. Những người giúp đỡ về tinh thần, hiểu biết, tạo điều kiện về vật chất và phương tiện cho những người muốn thể hiện bức xúc (nhân dân khiếu kiện chẳng hạn) cần phải được khuyến khích và bảo vệ... Việc Viện hóa đạo thuộc Giáo hội phật giáo Việt nam thống nhất có một "quĩ cứu tế dân oan" tới vài trăm triệu đồng cũng cho thấy khi một Hội đoàn hay một cá nhân không được Nhà nước ủng hộ, nhưng có tấm lòng quảng đại cứu giúp những dân oan thiệt thòi vẫn có thể nhận được sự ủng hộ, đóng góp từ đồng bào Việt nam ở khắp nơi. 300 triệu đồng Viện hóa đạo thuộc Giáo hội phật giáo Việt nam thống nhất dự định gửi giúp tới những dân oan tại Hà nội ngày 23/08/2007 vừa qua là một số tiền lớn so với gia sản của một cá nhân bình thường, nhưng chỉ là con số rất nhỏ so với những thiếu thốn, nhu cầu của những người dân đang khiếu kiện và cũng là nhỏ so với số tiền "lót tay" hay "giải trí" của một số đảng viên cộng sản đã phải hầu tòa trong thời gian gần đây, nhưng việc chuyển số tiền đó tới đồng bào đã bị chặn lại ngay trước những bàn tay đang cần giúp đỡ. Chính những người dân oan sẽ là người hiểu hơn ai hết ai là người vì dân ai là người đang có những hành động "phản dân hại nước".

Ông kết thúc bài viết: "Một chính quyền có thể dùng các biện pháp mạnh để giấu bớt đi những bức xúc, bất công của xã hội trong một thời gian, nhưng điều đó chưa bao giờ là giải pháp làm cho xã hội ổn định hơn. Một hệ thống truyền thông do chính quyền kiểm soát có thể tạo ra một làn sóng thông tin sai lệch, nhưng sẽ chỉ làm gia tăng hiệu ứng ngược khi chính quyền đó đã mất tín nhiệm nơi dân chúng. Những người dấn thân đứng về phía những nạn nhân của một chính sách, một chính thể có thể phải đối mặt với nhiều khó khăn, nguy hiểm, nhưng phía sau họ luôn là đông đảo đồng bào họ và những người yêu chuộng tự do, công lý."

(Theo “Những Luận Điệu Vẫn Ấu Trĩ, Phản Tiến Bộ”, BS Phạm Hồng Sơn)

BS Nguyễn Đan Quế viết bài "Nông Thôn Vùng Dậy". Tôi xin trích đoạn như sau, về diễn tiến nội vụ:

"Tình trạng một số người dân tập trung về Sài Gòn và Hà Nội khiếu kiện vượt cấp diễn ra từ nhiều năm nay nhưng vẫn chưa được giải quyết thỏa đáng. Mới đây ngày 22 tháng 6, 2007, bà con ở các tỉnh miền Nam từ Tiền Giang, Đồng Tháp, Kiên Giang, Long An, Bình Long, Bình Phước đến Bình Thuận, Ninh Thuận, Lâm Đồng gồm khỏang 19 tỉnh cùng nhiều quận ngoại thành Sài Gòn lại kéo nhau đến Văn Phòng 2 Quốc Hội ở số 194 đường Hoàng Văn Thụ, Quận Phú Nhuận, Sài Gòn căng lều bạt nhất quyết ngồi lì khiếu kiện dài ngày, đòi chính quyền trung ương phải giải quyết những khiếu nại bức xúc của dân oan. Cuộc biểu tình kéo dài gần một tháng, không một ngày ngừng nghỉ, ít là 300- 400 người, có lúc cả ngàn người, trương nhiều bích chương, biểu ngữ phản đối nhà cầm quyền địa phương cướp đất và tố đích danh các tham quan. Lực lượng công an chìm nổi khá đông, vây quanh vòng đai. Người dân Sài Gòn mang mì ăn liền tiếp tế cho đồng bào bị công an chặn lại không cho. Ngày 17-7-2007 Hoà Thượng Thích Quảng Độ, Viện Trưởng Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đã hướng dẫn một phái đoàn chư tăng đến thăm hỏi và ủy lạo dân oan một số tiền lớn." nhọt của chế độ CS, tác giả phân tích về nguyên nhân như sau:

"Chín mươi phần trăm các vụ khiếu kiện là do chính sách sai lầm về đất đai của nhà cầm quyền, chính sách đền bù khi đất đai bị thu hồi không công bằng, không hợp lý và nhất là nhiều cán bộ địa phương tham lam, tham nhũng và dùng cường quyền bắt nạt, cướp đất của người dân thấp cổ, bé miệng. Dân oan đã khiếu nại hàng chục năm nay, chính quyền địa phương không giải quyết, buộc họ phải vượt cấp đến khiếu nại với trung ương. Nhưng trung ương lại cương quyết trả họ về cho địa phương giải quyết, và còn đe dọa tỉnh nào để dân về Sài Gòn hay Hà Nội biểu tình, thì những cán bộ cầm đầu sẽ không được bầu vào trung ương kỳ tới.

Nguyên nhân chính của vấn đề là do quyền tư hữu của người dân bị nhà nước tước đoạt. Tất cả đất đai được quy định là thuộc quyền sở hữu của nhà nước, còn người dân chỉ có quyền thuê xử dụng mảnh đất đó mà thôi. Nhà nước Cộng Sản có thể thu hồi bất cứ lúc nào, đền bù với gía rẻ mạt, thấp hơn gía thị trừng rất nhiều, cả vài chục lần cũng có, và trong nhiều trường cướp trắng không đền bù, lấy cớ giải tỏa để xây dựng chương trình có lợi ích công cộng, nhưng sau khi phù phép các đất đai trưng dụng lại lọt vào trong tay cán bộ hoặc gia đình cán bộ. Nỗi bức xúc đã chồng chất từ nhiều năm đến nay bộc phát mạnh."

Về mặt giai cấp nông dân tại Việt Nam ông lý luận tiếp:

"Những vụ tranh chấp khiếu kiện về đất đai và tài sản ảnh hưởng rất lớn đến sự ổn định và phát triển kinh tế của đất nước. Thật thế, nông dân chiếm khoảng 85% dân số và chiếm 75% lực lượng lao động (43 triệu) của cả nước. Hiện có 10 triệu lao động nông thôn thất nghiệp, đa số là nam nữ thanh niên. Trong chiến tranh, lợi dụng những chiêu bài.như chính quyền của giai cấp vô sản, nông dân, công nhân là lực lượng tiên phong của đảng...đảng đã bắt nông dân, công nhân chịu đựng gian khổ, hy sinh xương máu nhiều nhất. Trong hòa bình, họ lại một lần nữa bị hy sinh và chịu thiệt thòi hơn cả. Sau khi gia nhập Tổ Chức Giao Thương Quốc Tế (WTO), đầu tư và buôn bán với các nước trên thế giới gia tăng mạnh, nhu cầu lấy đất nông nghiệp cho các công ty ngoại quốc xây nhà máy là rất lớn... Hậu WTO, nông dân bị thiệt hại nhiều nhất và bị bỏ lại đằng sau, không được hưởng ích lợi gì trong tiến trình hội nhập. Bất mãn sôi sục trên khắp các vùng nông thôn cả nước, tiềm năng bùng nổ một cuộc cách mạng về quyền sở hữu đất đai là rất lớn. Những cuộc biểu tình khiếu kiện của dân oan chỉ là phần nổi của tảng băng chìm. Kinh tế Việt Nam đang trên lò lửa, hoàn toàn không có chuyện ổn định như nhà cầm quyền Cộng Sản vẫn tuyên truyền mời gọi giới đầu tư.". (BS Nguyễn Dan Quế, Cao Trào Nhân Bản Việt Nam)

Trong một cuộc phỏng vấn ký giả Nguyên Khôi trên Đài Quê hương trong chương trình phát về Việt Nam đã hỏi Linh mục Phêro Phan Văn Lợi nói về Lời kêu gọi cho Dân chủ đa nguyên của Hòa thượng Thích Quảng Độ, LM. Lợi bình luận như sau:

"Về thái độ của Hòa Thượng Thích Quảng Độ thì tôi xin bày tỏ sự cảm phục của tôi về sự can đảm của Hòa Thượng, về ý chí sáng suốt và về ý thức trách nhiệm của Hòa Thượng. Sự can đảm là cho dù đã trải qua bao nhiêu năm tháng ngục tù quản chế, và hiện cũng đang nằm trong tình trạng quản chế, nhưng mà Hòa Thượng vẫn không ngừng lên tiếng, lên tiếng không mỏi mệt cho tự do tôn giáo và tự do dân chủ tại quê nhà, dù biết rằng bao nhiêu nguy hiểm có thể rình chực mình. Đó là sự can đảm đáng làm gương cho mọi người. Tôi cảm phục ý chí sáng suốt của Hòa Thượng. Hòa Thượng đã nhận rõ tình thế và truy nguyên được tất cả mọi tệ nạn xã hội tại Việt Nam. Hòa Thượng đã cho thấy rằng tất cả sự tụt hậu về kinh tế, suy đồi về đạo đức, xuống cấp về giáo dục và về mọi mặt, không phải là hậu quả của chiến tranh, không phải là do quản lý chưa được chặt chẽ, do những thế lực ngoại thù và nội thù, hay là do chưa có đường lối đúng đắn như các nhà lãnh đạo Cộng Sản thường đưa ra để trốn tránh trách nhiệm. Hòa Thượng thấy rằng tất cả cái tệ hại trong xã hội Việt Nam bây giờ chỉ phát xuất từ một chỗ mà thôi, đó là sự độc đảng, độc tài toàn trị mà đảng Cộng Sản Việt Nam đang thực thi, đang tự cho mình là người có quyền quyết định vận mệnh của dân tộc, đưa ra mọi đường lối và bắt tất cả phải theo dù rằng những hậu quả trước mắt cho thấy đã hoàn toàn sai lầm và tai hại. Chúng tôi cũng rất cảm phục ý thức trách nhiệm của Hòa Thượng. Ngài thật là một vị lãnh đạo tinh thần rất xứng đáng, Ngài đã nói rằng các vị tu sĩ không làm chính trị, nhưng phải có lập trường chính trị. Điều đó chúng tôi hoàn toàn đồng ý. Các tu sĩ Phật Giáo, Công Giáo hay của mọi tôn giáo khác dù không tham gia vào chính trường nhưng mà cũng phải có một thái độ chính trị, phải thực thi chức năng là làm công việc giáo hóa cho mọi người, nhất là phải giáo hóa cho những nhà cầm quyền. Bởi vì tự bản chất, các tôn giáo là nhà giáo dục của quần chúng, là lương tâm của xã hội. Hòa Thượng đã thử nghiệm truyền thống, nối tiếp truyền thống của bao nhiêu vị quốc sư Phật Giáo rất là thời danh trong lịch sử Việt Nam để mà góp tiếng xây dựng cho đất nước, dân tộc qua chuyện đưa ý kiến với nhà cầm quyền, nhất là nhà cầm quyền Cộng Sản hiện nay."

Về ý kiến thứ 2 là nội dung lời kêu gọi của Hòa Thượng Thích Quảng Độ thì LM Lợi nói tiếp: "Về lời kêu gọi này ta thấy có 3 điểm. Đó là lời kêu gọi rất đúng lúc. Thứ 2, lời kêu gọi rất hợp lòng người, thuận lòng trời. Và thứ 3 là lời kêu gọi mang đầy tính nhân đạo, nhân bản. Lời kêu gọi đó đúng lúc là bởi vì đất nước lúc nầy hơn bao giờ hết cần có dân chủ đa nguyên, đa đảng để có thể hội nhập vào cộng đồng thế giới, để có thể đi vào trào lưu dân chủ tiến bộ của khắp hoàn vũ, để có thể tham gia những tổ chức quốc tế như là Tổ chức Thương mại quốc tế chẳng hạn như vậy. Chính vì thấy thái độ, lập trường độc đảng, chính sách độc tài đã làm cho đất nước ra tụt hậu. Vì vậy mà lời kêu gọi của Hòa Thượng rất đúng lúc. Lời kêu gọi đó rất hợp lòng người và thuận lòng trời, bởi vì nhân dân Việt Nam đã quá chán ngán, đã quá phẫn nộ khi thấy tình trạng đất nước bây giờ, đặc biệt sau 30 năm mà đảng Cộng Sản không làm được một cái gì gọi là tiến bộ ích lợi thực sự về mặt tinh thần, về mặt kinh tế, về mặt giáo dục cho đất nước Việt Nam. Mọi sự như lời Hòa Thượng nói trong lời kêu gọi của Ngài đều đi xuống dốc, biến nước Việt Nam chúng ta đang ở trong một thời kỳ đen tối và sa sút nhất trong lịch sử của dân tộc. Vì vậy mà toàn dân đều mong muốn phải có một sự thay đổi tận căn, phải dẹp bỏ chế độ độc tài toàn trị nầy. Tất cả mọi người đều mong muốn như vậy, mặc dù số người lên tiếng không phải là nhiều nhưng chắc chắn đó là lòng trời và lòng người đều cùng chung một nhịp là mong muốn đất nước phải có dân chủ đa nguyên, đa đảng. Lời kêu gọi đó mang một đặc tính thứ 3 là mang tính nhân đạo. Hòa Thuợng đã lấy từ tâm bi của một vị chân tu để mời gọi người Cộng Sản, chính quyền Cộng Sản phải làm theo đạo lý trường cửu của dân tộc là nước nâng thuyền chứ đừng để nước lật thuyền. Nước tức là dân. Phải để cho dân ủng hộ mình, để cho dân thực sự tin vào mình. Và muốn như vậy thì chỉ có thể xảy ra trong một cuộc bầu cử tự do đa đảng. Muốn cho dân tín nhiệm thì người dân phải có tự do để chọn lựa những người tài đức, những đảng nào có đường lối đứng đắn. Hòa Thượng không muốn đất nước chúng ta có những cuộc đảo chính đổ máu. Hòa Thượng nói với người Cộng Sản rằng, "đừng tuởng có công an cho nhiều, súng ống cho nhiều, nhà tù cho nhiều thì sẽ giữ được đất nước". Đó là hoàn toàn sai lầm, chỉ có một điều giữ được đất nước và làm cho đất nước tiến lên là lòng dân mà thôi. Phải có một thế trận nhưng thế trận đây không phải là thế trận của công an, của quân đội, của Mặt trận luôn bao vây người ta, nhưng mà thế trận lòng dân, phải làm cho lòng dân thật sự yêu mến nhà cầm quyền. Cho nên đó là lời kêu gọi mà Hòa Thượng đã nói lên cái gì mà tất cả chúng ta đều ao ước. Và cuối cùng, tôi thấy ngài Hòa Thượng Thích Quảng Độ thật là một tấm gương cho tất cả mọi nhà lãnh đạo tinh thần, nhất là các nhà lãnh đạo tinh thần tại Việt Nam. Lãnh đạo tinh thần chính là hướng dẫn cái tâm tư, tình cảm của người dân đi theo lẽ phải, nói lên sự thật, đòi hỏi công lý bằng tiếng nói can đảm của mình, thái độ bất khuất của mình. Hòa Thuợng Thích Quảng Độ thật sự là một tấm gương mà đáng cho tất cả mọi vị lãnh đạo tinh thần phải noi theo. Tôi cũng nguyện noi theo tấm gương của Hòa Thượng Thích Quảng Độ,...".

Theo Karl Mark cho là tôn giáo là thuốc phiện, nên tôn giáo cần phải loại trừ. Nếu CS cố tình làm nhục nhà tu hành thì ý dồ đó không xa quan niệm của Karl Mark. LM Phan Văn Lợi, BS Nguyễn Đan Quế và BS Phạm Hồng Sơn đã cho nhận xét về ngài Thích Quảng Độ. Họ nói tiếng nói chung là sức mạnh của nhân dân. Cuối cùng rồi ước muốn Tự Do-Dân Chủ và Nhân quyền sẽ vượt qua nạn độc tài toàn trị. Trên khắp đất nước Việt Nam ngày hôm nay đã xuất hiện rất nhiều những phản kháng, những chống đối của các giới từ trí thức đến người công nhân, nông dân, họ muốn có Tự Do-Dân Chủ và Nhân Quyền, những quyền mà lý ra là đặc miễn bẫm sinh tự nhiên của Trời đất, chứ không phải van xin, van nài mới có được. Một khi người dân đứng lên như từ Ba Lan, Lổ Ma Ni hay Miến Điện thì chế độ cầm quyền sẽ khốn đốn. Cuộc cách mạng dân chủ thường thử thách sự quyết tâm thay đổi và sự hy sinh đến cùng vì những uất ức, những phẩn nộ của người dân. Nếu vượt qua nỗi sợ hãi, những người dân hiền bị áp bức, những người dân lành khốn khổ có thể tràn xuống đường, để đòi hỏi quyền làm người, quyền đạt được hạnh phúc dân sinh, quyền được sống trong một thể chế tự do, dân chủ và công bằng. Luật công bằng của Trời đất xác định người dân phải làm chủ đất nước, đất dai của mình và nếu nhà cầm lạm dụng quyền hành thì chính họ tự đào mồ chôn mình. Nhân dân chính là người làm nên lịch sử của đất nước. Tại Miến Điện, bà Aung San Suu Kyi với nhân dáng mảnh mai và nét mặt trông rất nhân hậu yếu đuối, nhưng vũ khí chiến lược chính của bà là tình yêu thương quê hương, đất nước. Bà Aung San Suu Kyi lãnh giải Nhân Quyền Rafto 2007 và cũng như Hòa thượng Thích Quảng Độ đã nhận giải thưởng này 2006. Họ yêu quê hương và dũng cảm đấu tranh bất bạo động cho quyền làm người. Bà San Kyi là tác giả của tác phẩm "Tự do khỏi nỗi khiếp sợ" bà viết: "Không phải quyền lực làm cho tha hóa, mà chính là sự khiếp sợ. Sự khiếp sợ đánh mất quyền lực làm tha hóa những kẻ đang nắm trong tay quyền lực và sự khiếp sợ bị quyền lực trừng phạt làm tha hóa những người đang nằm dưới tay quyền lực".

Trong khi Hòa Thượng Thích Quảng Ðộ nhắn nhũ người dân:

“Thế giới mênh mông, địa ngục cũng mênh mông. Ở đâu có khổ đau, ở đấy có địa ngục; ở đâu có ác tâm, ở đấy có địa ngục; ở đâu có đàn áp nhục hình, ở đấy có địa ngục; ở đâu ý chí và ngưỡng vọng con người bị vùi dập, ở đấy có địa ngục". Ngài chấp nhận chia sẻ những khổ đau với chúng sinh như lý tưởng xả thân của ngài.

Trong tác phẩm mà tôi đã xem về đề tài "Chiến tranh và bất bạo động", mang tên Anh ngữ là "Cuộc khủng hoảng hiện tại", tác giả là S. Radhankrishnan, chuyển ngữ do Hòa thượng Thích Quảng Độ. Bài viết nói rằng chúng ta hiện đang ở trong một giai đoạn quyết liệt nhất của đời sống nhân loại: "Chưa bao giờ trong lịch sử loài người lại có quá nhiều người phải mang những gánh nặng đau đớn dày vò tâm can đến như thế. Chúng ta đang sống trong một thế giới mà những thảm trạng đã trở thành phổ biến. Mọi truyền thống và tập tục đang bị lung lay tận gốc rể. Những tư tưởng cho đến hôm qua vẫn còn là “khuôn vàng thước ngọc”, đã có thể hướng dẫn và quy định hành vi con người hàng bao nhiêu thế kỷ, thì hôm nay đã bị quét sạch... Muốn cứu một nền văn minh khập khễnh bằng bất cứ giá nào, tất cả những thứ đó đang thức tỉnh một tinh thần, mà bản chất là cách mạng, trên khắp hoàn cầu. Danh từ “cách mạng” không phải luôn luôn chỉ các cuộc bạo động của quần chúng và tàn sát giai cấp thống trị. Bất cứ sự đòi hỏi cấp bách nào về sự thay đổi triệt để nền tảng của đời sống văn minh đều là đòi hỏi cách mạng. Tiếng cách mạng dùng theo hai nghĩa: Một là sự nổi dậy đột nhiên và bạo động, kết quả đưa đến một cuộc chính biến, chẳng hạn như cuộc Cách Mạng Pháp, cuộc Cách Mạng Nga. Và hai là sự chuyển tiếp dần dần qua một thời kỳ từ một chế độ xã hội này qua một chế độ xã hội khác, chẳng hạn như cuộc Cách Mạng Kỷ Nghệ Anh.".

Trong bối cảnh của Việt Nam ngày hôm nay thì yếu tố thích hợp là một cuộc cách mạng nông thôn hay cuộc cách mạng vì lòng dân oán ghét sự đè nén, bất mãn sự áp bức quá độ, và kinh tởm chế độ CS đến tận cùng, mà hai yếu tố Dân oan và Tôn giáo cũng đã đóng góp như thực thể chính trong diễn trình giải thể chế độ độc tài toàn trị tại Việt Nam. Hình ảnh Hòa thượng Thích Quảng Độ đến với người Dân oan khiếu kiện cho thấy một thái độ bất khuất và dứt khoát, hay một ý chí thẳng thắn không van xin, cương quyết không cúi đầu trước bạo quyền. Tôi yêu quý và kính trọng cái ý chí đó, bởi vì nó chính là cái "Dũng" của thánh hiền vậy.

Trần Việt Hải (Los Angeles)
17-10-2007

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Tôi Thấy và Nghe Được Gì ở Sài Gòn và Miền Nam VN
Sau 32 Năm Dưới Chế Độ CS?


Nguyễn văn Trấn
Ðây không phải là một phóng sự hay một bài nghiên cứu xã hội với những phương pháp khoa học của nó - mà chỉ là những điều vụn vặt mắt thấy tận nơi, tai nghe tận chỗ - ghi lại một cách trung thực.

Tôi thấy bộ mặt Sàigòn đổi mới với : Những khách sạn 5 sao, 4 sao lộng lẫy. Ðổi mới với những nhà hàng "vĩ đại" trên các tuyến đường du lịch. Với những trung tâm "thư giãn" sang trọng, quý phái cỡ câu lạc bộ Lan Anh. Với những vũ trường cực kỳ tráng lệ như vũ trường New Century Hànội. Với những trường Trung học tư thục mang tên Mỹ, giáo sư Mỹ, chương trình học của Mỹ, giảng dạy bằng tiếng Mỹ- học sinh phải trả học phí bằng tiền Mỹ - 600US$ đến 1000US$ /tháng. (Giai cấp nào đủ sức trả học phí nầy cho con? )
Image Tôi cũng hiểu rằng các nơi nầy là nơi ăn chơi của vương tôn công tử "đỏ", các nhà giàu mới - thân nhân các quyền lực đỏ đứng đàng sau, các quan chức đỏ đô la đầy túi. Họ đến đây để "thư giãn", uống rượu, đánh bạc, cá độ và tìm gái. Uống chơi vài chai rượu ngoại VSOP, XO là chuyện thường. Mỗi đêm có thể tiêu hàng ngàn đô la Mỹ cũng không phải là điều lạ. Trong khi lương tháng của một thầy giáo Trung học trường công không đủ để trả một chai rượu XO. Vụ MPU.18 cá độ hàng triệu US $ đã bị phanh phui..là một thí dụ cụ thể.Vũ trường New Century bị Công an đến giải tán vì các công tử và tiểu thư con các quan chức lớn nhảy đã rồi... " lắc" suốt đêm. Vài hôm sau - đâu cũng vào đó... Tôi cũng thấy Sàigòn- người, xe và phố xá dầy đặc, nghẹt thở - vài tòa cao ốc mọc lên vô trật tự - ở xa xa, có cái trông giống như chiếc hộp quẹt.. nhà cửa mặt tiền hầu hết đều lên lầu nhiều tầng. Kiến trúc hiện đại.Vật liệu nhập cảng đắc tiền. Nhà trong hẻm - phần lớn cũng lên nhiều tầng cao nghệu.Có nhiều khu xây cất bừa bãi, nhô ra thụt vào như những chiếc răng lòi xỉ vô duyên , lấn chiếm ngang ngược đất công hoặc lề đường...
Image Tôi thấy Sàigòn bị ô nhiễm trầm trọng với hằng triệu tiếng động cơ, ngày đêm đinh tai nhức óc và 3.000.000 chiếc Honda - phun khói mịt mù - chưa kể đến xe hơi..Và hệ thống cống rãnh lạc hậu.. mỗi khi trời mưa lớn - nước rút không kịp, ứ đọng tràn ngập nhà cửa. Hệ thống đổ rác còn lạc hậu.. không đáp ứng nổi nhu cầu thải rác của 8.000.000 dân nhung nhúc như kiến.. Sàigòn đầy dẫy những hàng ngoại do công ty ngoại quốc sản xuất tại chỗ..hàng lậu của Trung quốc tràn vào vô số kể.. Máu kinh tế Việt Nam bị loãng ra. Nhưng chế độ xã nghĩa im thin thít chịu trận, không dám một lời phản kháng. Một chiếc xe Honda nhãn hiệu Trung quốc giá khoảng chừng 1000 đô la Mỹ..chưa kể hàng Trung quốc lậu thuế, rẻ mạt.. Thuốc lá và bia - bia nội, bia ngoại - có đủ.. Nhậu và hút là 2 cái mốt bình dân thời thượng nhứt ở Sàigòn. Ðảng viên, cán bộ - giai cấp thống trị - nhậu.. Già nhậu, trẻ nhậu... con nít cũng tập tành nhậu. Hút thì khỏi nói.. Giai cấp cán bộ răng đen mã tấu bây giờ là giai cấp nắm thống trị - đã lột xác - không còn quấn thuốc rê, bập bập phà khói mịt mù nữa - mà lúc nào cũng lấp ló một gói 3 con 5, Craven A, trong túi. Lãnh đạo hút, cán bộ hút, dân chúng hút - thậm chí con nít 9, 10 tuổi ở đồng quê cũng phì phà điếu thuốc một cách khoái trá.. Các hãng bia và thuốc lá ngoại quốc đã tìm được một thị trường tiêu thụ béo bở. Cán bộ lớn cũng âu phục cà vạt hẳn hoi, xe hơi bóng loáng.. nhưng bộ răng hô, mái tóc bạc thếch, và nước da mốc mốc.. cũng không dấu được nét thô kệch của một anh nhà quê lên Tỉnh.

Tôi còn thấy Sàigòn với hiện tượng " tiếm công vi tư" lộng hành, ngang ngược của Công an đến độ dân chúng quen thuộc, xem là một chuyện đương nhiên như chuyện hối lộ đã trở thành cái lệ... bất thành văn trong chế độ xã nghĩa. Chiếm đoạt một nửa công viên, xây nhà gạch dùng làm quán cà phê.. Chưa thỏa mãn - ban đêm còn dọn thêm bàn ghế trên sân cỏ của phần công viên còn lại và thắp đèn màu trên mấy chậu kiểng cho thêm thơ mộng.. Ông chủ bự nầy chắc chắc không phải là dân thường. Ông lớn nầy xem công viên như đất nhà của ông vậy.Ai có dịp đi ngang qua mũi tàu - nơi gặp gỡ của 2 đường Nguyễn Trãi và Lê Lai cũ, ngang hông nhà thờ Huyện Sĩ - thì rõ.

Còn nhiều.. rất nhiều chuyện lộng hành chiếm đất công, lấn lề đường nhan nhản ở khắp Saigòn. Chỉ đưa ra vài thí dụ cụ thể : Một công thự tại vườn Tao đàn ( có lẽ là nhà cấp cho viên Giám đốc Công viên Tao đàn) - mặt tiền ngó vào trong - mặt hậu nhìn ra phía đường Nguyễn Du (Taberd cũ ) - bèn có màn trổ cửa mặt sau nhà, xây thêm phía sau thành 2 căn phố thương mãi mặt tiền ngó ra đường Nguyễn Du, trị giá mỗi căn, nhiều trăm ngàn mỹ kim - ngon ơ! Tương tự như vậy - ở góc đường Thành Thái và Cộng Hòa cũ... trước sân nhà của ông Hiệu Trưởng trường Quốc gia Sư Phạm trước 75 - phố thương mãi, quán xá la liệt chiếm mất mặt tiền. Ngang ngược và lộng hành nhứt là 2 căn phố thương mãi bên hông trường Trương minh Ký, đường Trần hưng Ðạo, chễm chệ xây lên ngay bên góc phải sân trường như thách đố dân chúng..Còn trên lề đường khá rộng trước câu lạc bộ CSS cũ, bây giờ là câu lạc bộ Lao động - nhiều gian hàng thương mãi bán quần áo, giày vớ thể thao.. buôn bán ầm ĩ, náo nhiệt suốt ngày. Image Công an chiếm đất công, xây nhà tư. Công viên, lề đường trước nhà dân là đất riêng của Công An. Công an sử dụng làm chỗ gửi xe, bịt kín cả lối đi vào nhà. Không ai dám hó hé. Im lặng là an toàn.Thưa gửi là dại dột. Mà thưa với ai?Tất nhiên là phải thưa với công an.Không lẽ công an xử công an? Tướng CS Trần Ðộ phản ảnh còn rõ rệt hơn : "... Xã hội Việt Nam ngày nay là một xã hội vô pháp luật mà phần đầu tiên gây ra là Ðảng. Không thể nào chống tham nhũng được vì nếu Ðảng chống tham nhũng thì Ðảng chống lại Ðảng sao?"("Nhật ký Rồng rắn" của Trần Ðộ ).

Nón cối, nón tai bèo, dép râu, áo chemise xùng xình bỏ ngoài chiếc quần màu *** ngựa của người cán bộ CS ngơ ngác khi mới vào Sàigòn - đã biến mất.. Cũng không còn thấy những chiếc áo dài tha thướt của những cô gái đi dạo phố ngày cuối tuần trên các đại lộ Lê Lợi, Lê thánh Tôn, Tự do những ngày trước 75 nữa. Thay vào đó là một đội ngũ phụ nữ - mũi và miệng bịt kín bằng "khẩu trang", găng tay dài đến cùi chỏ, cỡi Honda chạy như bay.. trên đường phố.
Image Tôi còn thấy những người nghèo khổ chở trên chiếc xe thồ, những thùng carton và bao túi nylon, chồng chất lên nhau cao ngất như sắp đổ xuống...những bà cụ già, những cậu bé tuổi đáng được ngồi ở ghế nhà trường.. những anh phế binh cụt tay, cụt chưn, lê lết trên một miếng ván gỗ... đi bán vé số (một cách ăn xin trá hình )... những em bé mặt mũi lem luốc đang bươi những đống rác để lượm các bao nylon, lon coca, chai bia đem về bán.. hay những em bé rách rưới lang thang trước những tiệm ăn.. chờ khách ăn xong nhào vô bưng tô súp cặn húp vội đỡ lòng..còn những trẻ khác - mắt láo liên trông chừng công an, tay chìa chiếc hộp, làm dấu mời khách đánh giày -..những em bé gái đang hì hục đẩy khách lên đồi cát bằng miếng ván có gắn bánh xe ở "Ðồi cát bay" Phan Thiết. Hỏi "sao em không đi học"? - trả lời : "Nhà không đủ cơm ăn, con làm cái nầy để kiếm thêm cơm ăn.".. Nhiều bà mẹ nhăn nhó ôm thằng bé mặt mày xanh lét, không còn chút máu, chờ suốt buổi sáng.. trước tiếng quát tháo ầm ĩ.. vẫn chưa tới phiên mình vào bệnh viện chữa trị cho con.. Nghe nói mấy năm trước đây có nhiều bà mẹ đứng trước bệnh viện Chợ Rẩy chờ bán máu mình để qua cơn đói khổ ngặt nghèo như nhà văn Trần trung Ðạo đã mô tả..Lại nghe một bệnh nhân dứng cạnh đó, cũng chờ đến lượt mình, than thở : " Ở đây là vậy đó ông ơi! Chửa bệnh phải có tiền - trước nhứt phải qua cửa - lọt qua cửa thì còn nhiều khâu - khâu nào cũng phải chìa tiền. Muốn sống - phải có tiền.Chết cũng phải có tiền.

Bộ mặt Sàigòn "đổi mới" bằng những khách sạn lộng lẫy, những câu lạc bộ thời thượng, những phố xá thương mãi sang trọng, những hiệu kim hoàn lóng lánh kim cương, những nhà hàng ăn vĩ đại, những vũ trường cực kỳ tráng lệ, những biệt thự đồ sộ nguy nga mới xây bằng vật liệu ngoại đắt tiền.. trang trí cây cảnh như một mảng vườn Thượng uyển của vua chúa ngày xưa.. những xe hơi bóng loáng nhởn nhơ trên đường phố - nhiều người chóa mắt.. choáng váng, cho là "Việt Nam bây giờ tiến bộ quá". Riêng Phó thường dân tôi tự nghĩ : Như vậy có phải là tiến bộ không? Sự tiến bộ của một nước cần phải nhìn về nhiều mặt : Mặt y tế và giáo dục, mặt đời sống vật chất và tinh thần của dân chúng.. Lợi tức đầu người của Việt Nam - theo thống kê của báo The Economist - bằng : 555 US $ năm 2007 ( Hà Nội bốc lên 730 US $ )chỉ hơn Lào và Cambodia chút đỉnh. So với các nước láng giềng : Thái Lan : 2550 US $ - Phi luật Tân : 1040US$ - Nam Dương : 1160US$.Tân gia Ba 24840US$.( The Economist World, năm 2007 - p.158, 176, 238 ) - Việt Nam còn lẹt đẹt đàng sau rất xa. Và trước bộ mặt thay đổi choáng ngợp nầy - nếu đặt câu hỏi : Ai là chủ nhân của những xe hơi, khách sạn- vũ trường, những thương hiệu lớn, những biệt thự lộng lẫy kia? - thì câu trả lời không sợ sai lầm là của cán bộ đảng viên (tại chức hoặc giải ngũ) hoặc con cháu thân nhân của họ. Và ở thôn quê - giai cấp giàu có bây giờ là ai? giai cấp địa chủ là ai? Có phải do của cải của ông cha để lại hay do sự kinh doanh tự do, mua bán làm ăn mà có ?
Image HIỆN TƯỢNG NGƯƠI BẮC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
CHIẾM HỮU TOÀN BỘ PHỐ XÁ THƯƠNG MAI QUAN TRỌNG Ở SÀIGÒN -
KHỐNG CHẾ MỌI LÃNH VỰC TRỌNG YẾU Ở MIỀN NAM ..


Cho dù núp dưới cái hào quang chiến thắng "đánh Tây, đuổi Mỹ" - cho dù che giấu, lấp liếm, giải thích thế nào chăng nữa - thì dân miền Nam ( gồm cả Nam lẫn Bắc theo chế độ Tự Do ) vẫn thấy một sự thật. Sự thật đó là người Bắc XHCN tràn ngập, chiếm hữu toàn bộ phố xá thương mãi trọng yếu của Sàgòn. Làm sao nói khác được khi đi một vòng quanh Sàigòn.. và các khu phố sầm uất nhứt.. vào những hiệu buôn lớn để mua hàng hay hỏi han chuyện trò thì thấy toàn là người Bắc Cộng sản - từ cô bán hàng đến bà chủ ngồi phía trong - cũng toàn là người của xã hội chủ nghĩa miền Bắc. Các tiệm buôn lớn trước 75- như các tiệm vàng Nguyễn thế Tài, Nguyễn thế Năng, Pharmacie Trang Hai, tiệm Émile Bodin của bầu Yên, nhà hàng Bồng Lai, Thanh Thế, Nguyễn văn Ðắc, Phạm thị Trước.. hiện nay, một số đã đổi bảng hiệu hoặc xây cất lại..nhưng đều do người miền Bắc XHCN làm chủ. Các cơ sở khác như nhà hàng ăn lớn, tiệm phở, công ty thương nghiệp, dịch vụ lớn, những tiệm buôn bán dồ nhập cảng v.v.. cũng đều do người Bắc XHCN chiếm giữ..

Tuy không có con số thống kê chính xác nhưng tự mình đi đếm hàng trăm tiệm buôn sang trọng quanh các khu phố lớn ở Sàigòn.. thì khám phá ra được chủ nhân là người Bắc XHCN. (Tất nhiên là vợ con, thân nhân cán bộ lớn ).Những gái Bắc XHCN bán hàng là con cháu của chủ nhân người Bắc CS ( do các cô tự nói ra ). Các cô chiêu đãi viên trên phi cơ VNHK đều là người Bắc thân nhân hay con cháu cán bộ - dĩ nhiên - vẻ mặt lạnh lùng, hách dịch với người Việt Nam và khúm núm lịch sự với khách ngoại quốc..Cán bộ, công nhân viên trọng yếu - cũng đều là người Bắc - trừ một số cán bộ gốc miền Nam tập kết - theo đoàn quân viễn chinh vào đánh chiếm miền Nam - thì cũng kể họ là người XHCN miền Bắc. Hệ thống quyền lực từ trên đến dưới - từ Trung ương đến địa phương - từ Tỉnh thành đến quận lỵ, thị trấn, làng xã gần - đều do đảng viên người miền Bắc XHCN - nắm giữ.Những công Ty dịch vụ có tầm cỡ, những công Ty thương mãi sản xuất lớn - điển hình là một công Ty vận tải và du lịch có đến 6000 xe hơi đủ loại..chủ nhân cũng là người Bắc XHCN.Từ chính trị đến văn hóa, từ giáo dục đến truyền thông, từ nhà cầm quyền cai trị đến chủ nhân cơ sở thương mãi, sản xuất - cũng do người miền Bắc XHCN nắm giữ.

Ðó là sự thật trước mắt ai cũng thấy. Còn những vàng bạc, kim cương, đô la, tài sản tịch thu, chiếm đoạt được trong các cuộc đánh tư sản, cải tạo công thương nghiệp - nhà cửa của tù cải tạo, của dân bị đuổi đi kinh tế mới, những tấn vàng của VNCH để lại những lượng vàng thu được từ những người vượt biên bán chánh thức - tài sản những người thuộc diện tư sản - toàn bộ tài sản nầy từ Saigòn đến các Tỉnh miền Trung, miền Nam - được đem đi đâu? - Không ai biết.
Image Thông thường - những của cải nầy phải được sung vào công quỹ - để làm việc công ích như các ông cộng sản thường rêu rao bằng những mỹ từ đẹp đẽ.. Thế nhưng - sự thật trước nhứt - là các ông đem chia chác nhau. Chia nhau một cách hợp hiến và hợp pháp theo Luật pháp XHCN ( Ðọc Ðất đai-Nguồn sống và Hiểm Họa của Tiến sĩ Nguyễn thanh Giang). Ông lớn lấy tài sản lớn. Ông nhỏ - nhà cửa nhỏ. Có ông cán bộ trung cấp chiếm hữu đến 4, 5 căn nhà. Ở không hết... đem cho công Ty ngoại quốc thuê. Ðiều phổ biến nhứt là các ông cán bộ nầy - vì lo sợ cái gì đó - bèn đem " bán non" những căn nhà đó lấy tiền bỏ túi trước. Một căn nhà của một viên chức tù cải tạo đã sang tay đến 3 đời chủ. Nhà cửa thuộc diện tù cải tạo là dứt khoát phải tịch thu - không ngoại lệ. Những trường hợp con ruột có hộ khẩu chánh thức còn được phép ở lại - là những biện pháp vá víu.Chủ quyền căn nhà nầy là Nhà nước XHCN.

Không chỉ có những người thuộc diện cải tạo công thương nghiệp, tù cải tạo, vượt biên mà người dân thường có nhà cửa phố xá..đều bị "û giải phóng" ra khỏi nhà bằng nhiều chánh sách : Ðuổi đi kinh tế mới, dụ vào hợp tác xả tiểu công nghiệp, mượn nhà làm trụ sở, cho cán bộ vào ở chung( chủ nhà chịu không nổi... phải bỏ đi ), đổi tiền để vô sản hóa người dân, khiến họ bắt buộc phải bán tất cả những gì có thể bán để mua gạo ăn, cuối cùng chịu không nổi, phải bán nhà với giá rẻ bỏ..để vô hẻm ở, ra ngoại ô hoặc về quê... Cán bộ hoặc thân nhân cán bộ miền Bắc XHCN tràn vào "mua" nhà Saigòn với giá gần như cho không...và bây giờ là chủ những căn nhà mặt tiền ở Saigòn.

Mang xe tăng T.54, cà nông Liên xô, AK Trung cộng, đẩy hàng hàng lớp lớp thiếu niên "xẻ dọc Trường Sơn" bằng máu, nước mắt và xác chết... vào xâm chiếm miền Nam . Chiêu bài là "giải phóng" nhân dân miền Nam - nhưng sự thật khó chối cãi được - là vào để chiếm đoạt tài sản, đất đai, của cải, đuổi dân Saigòn ( gồm cả người Nam lẫn Bắc theo chế độ Tự Do ) ra khỏi Thủ Ðô bằng nhiều chánh sách khác nhau - để bây giờ chính các ông đã trở thành những nhà tư bản đỏ triệu phú, tỉ phú đô la, vàng bạc kim cương đầy túi - những ông chủ công Ty có tầm vóc, những địa chủ đầy quyền lực.. Trương mục ở nước ngoài đầy nhóc đô la. Con cái du học ngoại quốc.( Trường hợp con Thủ Tướng CS Nguyễn tấn Dũng đang du học Mỹ là trường hợp điển hình). Như vậy hành vi nầy gọi là gì?Trong những lúc canh tàn rượu tỉnh - một mình đối diện với lương tâm thuần lương của mình - các ông tự gọi mình đi.

Ðến thời "mở cửa" - cơ hội hốt tiền còn nhiều hơn..gấp bội. Tư bản ngoại quốc ồ ạt đầu tư, khai thác dầu khí, thâu đô la Việt kiều về thăm quê hương - đô la khách du lịch ngoại quốc, bán đất cho Công Ty ngoại quốc xây cất cơ xưởng, cấp giấy phép các công Ty ngoại quốc, các dịch vụ đấu thầu xây cất cầu cống, làm đường sá, xây cất đại công tác. Những món nợ kếch xù từ Ngân hàng thế giới, từ quỹ tiền tệ quốc tế - những món nợ trả đến mấy đời con cháu cũng chưa dứt.. Những đại công tác nầy mặc sức mà ăn.. no bóc ké.. Nhiều công trình vừa xây cất xong..đã muốn sụp xuống vì nạn ăn bớt vật liệu. Một thí dụ diễn hình : Một bệnh viện gần chợ "û cua" Long Hồ - quê hương của Phạm Hùng - nước vôi còn chưa ráo.. đã muốn sụp. Hiện đóng cửa không sử dụng được.

Hiện tượng người Bắc XHCN khống chế toàn bộ, làm chủ nhân ông mọi lãnh vực, chiếm hữu nhà cửa, phố xá thương mãi ở những khu thương mãi quan trọng nhứt - là một sự thật không thể chối bỏ. Cán bộ lớn đã trở thành những nhà tài phiệt đầy quyền lực - những ông chủ lớn giàu có nhứt lịch sử. Trong khi dân chúng miền quê - nhứt là miền Nam - ngày càng nghèo khổ, thất nghiệp kinh niên.. Khoảng cách giàu nghèo càng lớn - đời sống cán bộ và dân chúng càng ngày cách biệt..Giàu thì giàu quá sức. Nghèo thì nghèo cùng cực.

Nhà văn - bác sĩ Hoàng Chính - gọi thời kỳ sau 75 là thời "Bắc thuộc" - "Năm Bắc thuộc thứ 2 : Lưu vong tại quê nhà trong cái đói lạnh. - Năm Bắc thuộc thứ 6 : Cầu cho em nhỏ 10 tuổi đầu đủ cơm ăn giữa bầy thú hát điên cuồng chuyện thù oán. - Năm Bắc thuộc thứ 12 : Trong ngục thất quê hương ấy, có những bộ xương thôi tập khóc cười.."

Miền Bắc XHCN đem quân xâm chiếm miền Nam để khống chế nơi đó bằng sự đô hộ hà khắc và tinh vi.

BỘ MẶT THÔN QUÊ MIỀN NAM


Có nhìn tận mắt, nghe tận nơi, mới hình dung được khuôn mặt miền Nam sau 32 năm dưới chế độ cọng sản. Ðể được trung thực - người viết ghi những điều thấy và nghe - không bình luận - tại những nơi đã đi qua. Thôn quê miền Nam - những làng xóm gần tỉnh lỵ quận lỵ đã có điện. Những làng xã xa xôi hẻo lánh vẫn còn sống trong sự tăm tối. Ðường sá có tu sửa phần nào..Ðường mòn đi sâu vào thôn xóm được lót bằng những tấm dalle lớn (đường xóm Cái nứa, Cái chuối xã Long Mỹ VL), xe Honda và xe đạp chạy qua được. "Cầu tre lắt lẻo", cầu khỉ được thay thế bằng cầu ván, cầu đúc (vật liệu nhẹ). Cầu tiêu công cộng trên sông các chợ quận (Cái bè, Cái răng ) nay không còn thấy nữa. Nhà cửa dọc theo bờ sông Cần Thơ - chen vào những nhà gạch ngói, nhà tôn - còn nhiều nhà lá nghèo nàn. Tương tự như vậy - dọc theo bờ sông Long hồ - một số nhà gạch nhỏ mới cất..xen kẻ những mái lá bạc màu. Vùng Trà ốp, Trà cú (Vĩnh Bình), chợ Thầy Phó (Vĩnh Long ) nhiều nhà gạch mới xây nhưng vẫn không thiếu nhà lá, nhà tôn. Ðường mòn chạy sâu vào thôn xóm vẫn còn đường đất lầy lội vào mùa mưa nước nổi..

Hai bên đường xe chạy từ Mỹ Tho, Cao Lãnh, Châu Ðốc, Hà Tiên, Rạch Giá, Cần Thơ. Nhìn chung - có một sự thay đổi rõ rệt. Nhà cửa, hàng quán dầy đặc, động cơ ồn ào, người ta chen chúc.. Cảm giác chung là ngột ngạt, khó thở. Những vườn cây xanh um bên đường đã biến mất..hoặc thụt sâu vào trong, không còn thấy nữa.Không còn vẻ đẹp thiên nhiên ngày nào của vườn xoài cát sai oằn, mát mắt vùng Cái Bè, An Hữu, vườn mận Hồng Ðào chạy dài hàng mấy cây số ở Trung Lương..

Dưới sông - từ kinh Vĩnh Tế chảy dài ra sông Tiền Giang - hai bên bờ toàn là nhà sàn, phía sau chống đỡ sơ sài bằng những trụ cây tràm. Mỗi nhà hoặc 2, 3 nhà đều có cầu tiêu tiểu bắc phía sau. Tắm rửa giặt giũ, múc nước lên uống, phóng uế - cũng cùng trên một dòng sông. Không có gì thay đổi. Làng Chàm còn gọi là chà Châu Giang cũng còn đó. Cũng nghèo như trước. Những chiếc ghe vừa dùng làm nhà ở, vừa là hồ nuôi cá.. Basa, cá điêu hồng v.v.. ở dọc bờ sông khá dài..Dường như ngành nầy hoạt động khá mạnh. Dọc trên những nhánh phụ lưu của 2 con sông Tiền và sông Hậu - người ta không còn thấy bóng dáng của những cô gái thướt tha trong chiếc áo bà ba và chiếc quần lãnh Mỹ A, chèo ghe tam bản, bơi xuồng như thời trước 75 nữa.. Hỏi một ông già tên Ph. tại Cái Răng, được trả lời : "û Ði lấy Ðại Hàn, Ðài Loan hết rồi ông ơi!" Tôi hỏi thêm : "Các cô gái có nghe nhiều người bị gạt bán vào ổ mãi dâm, nhiều cô gái bị chồng bắt làm lao động khổ sai, bị ngược đãi, đánh đập.. các cô gái nầy không sợ sao ông? - "û Biết hết - mấy cổ biết hết, báo Tuổi trẻ đăng hàng ngày. Nhưng cũng có những cô có chồng Ðại Hàn, cho tiền cha mẹ xây nhà gạch. Cô khác thấy vậy ham. Phần nghèo, phần không có việc làm kinh niên. Họ liều đó ông.Biết đâu gặp may." Câu chuyện gái Việt lấy chồng Ðại Hàn, Ðài Loan hiện không ai là không biết.

Tờ Tuổi trẻ - số ra ngày mùng 1 Tết năm Ðinh Hợi - trong bài : "Nỗi đau từ những con số"- có nói đến số phận của 65000 phụ nữ đang làm vợ những ông chồng Ðài Loan già, tàn tật đui mù, làm vợ tập thể cho cả gia đình cha lẫn con.Cũng do tờ báo nầy : "Tại một tổ chức kết hôn lậu, hàng chục cô gái đang "bày hàng" để 2 ông Hàn quốc tuyển chọn làm vợ và 118 cô gái khác đang nằm, ngồi, lố nhố chờ đến lượt mình " Và cũng do tờ Tuổi Trẻ số phát hành ngày 25-04-2007, viết : "Hơn 60 cô gái, tuổi từ 18 đến 20 từ miền Tây Nam bộ lên Saigòn để dự tuyển.Các chàng rể Hàn Quốc được quyền soi xem kỷ, chú ý đến cả từng vết thẹo trên thân thể cô gái.Dịch vụ môi giới hôn nhân lậu có chiều hướng gia tăng.Chỉ trong vòng nửa tháng mà Công An đã phát hiện 3 vụ môi giới hôn nhân trái phép ở quận 6, 10 và Tân Bình với gần 400 lượt cô gái hiện diện.Thậm chí - những cô gái được xe ôm chở tới địa điểm dồn dập gây náo loạn cả xóm".

Người viết có lần lang thang trên đường Nguyễn tri Phương tìm quán ăn cơm trưa, có chứng kiến tại chỗ :Từng cặp trai gái lố nhố xếp hàng đôi trước cửa một trường học, để lần lượt vào trong. Hỏi một người trung niên lái xe Honda ôm, được anh trả lời : "Ðó là những người con gái đi lấy chồng Ðài Loan và Ðại Hàn. Hàng bên trong là những đang làm thủ tục xuất ngoại theo chồng. Hàng bên ngoài là những người đang vào ký giấy hôn thú sau khi đã qua các cửa ải môi giới và thủ tục tuyển lựa". Tôi nhìn kỹ các cô gái nầy tuổi rất trẻ.. khoảng chừng 18 đến 20..đứng cặp với những anh Tàu già sồn sồn- có một người tàn tật. Không thấy có thanh niên trẻ. Nhìn cách ăn mặc và nghe họ nói chuyện - tôi đoán chừng họ đến từ miền Tây Nam Bộ. Ðây là tổ chức môi giới chánh thức có giấy phép hành nghề.

Song song với tổ chức chánh thức, còn có một tổ chức "môi giới hôn nhân lậu"- sự thật là một tổ chức buôn người, chuyên đi dụ dỗ trẻ em và gái, nói gạt là đi bán hàng hay đi làm việc tại các cơ xưởng ngoại quốc nhưng là để bán thẳng vào các ổ mãi dâm ở Kampuchia, Thái Lan, Ma cau.. để nơi đây huấn luyện trẻ em làm nô lệ tình dục..các cô gái làm điếm.. hoặc bán cho người Tàu bỏ tiền ra mua nô lệ.. Tất nhiên là phải có sự tiếp tay che chở ăn chia của Công An. Nói là lậu nhưng thật ra là nhan nhản xảy ra hằng tuần-thậm chí hằng ngày trước mặt dân chúng tại các quận Bình Thạnh, quận 11..Sàigòn.

Cho dù chánh thức hay lậu.. hậu quả cũng gần giống nhau. Chánh thức thì có giấy phép, có công an làm thủ tục, chánh phủ thu tiền lệ phí. Lậu thì lén lút với sự che chở của Công An. Hậu quả gần giống nhau. Nhiều cô gái về làm vợ mấy tên Ðài Loan, Ðại Hàn bị ngược đãi, đánh đập tàn nhẫn - ban ngày làm nô dịch.. ban đêm phục vụ tình dục.. rồi bán vào động mãi dâm lấy tiền gở vốn lại..( Trại cứu giúp nạn nhân của cha Hùng ở Ðài Bắc là một bằng chứng ) Còn lậu thì.. bán thẳng vào ổ điếm. Biết bao nhiêu thảm cảnh.. biết bao nhiêu bi kịch thương tâm làm rúng động lương tâm nhân loại.Cựu Quốc Trưởng Sihanouk không giấu được nỗi xót xa trước thảm cảnh người phụ nữ Miên làm vợ mấy thằng Tàu..lên tiếng kêu gọi họ trở về nước. Không thấy Việt Nam nói nửa lời! Những cô gái nầy có biết những thảm kịch đau thương, những sự hành hạ, ngược đãi, đánh đập.. nầy khi lấy chồng Ðài Loan, Ðại Hàn không? Có bị cưỡng bức, bị dụ dỗ hay tự nguyện? Cha mẹ có đồng ý hay cản trở? Nguyên nhân nào đã thúc đẩy họ dấn thân vào con đường hiểm nguy, tương lai mù mịt..?

Trừ những trường hợp bị dụ dỗ qua đường dây buôn người - những người con gái này thật sự là họ TỰ NGUYỆN. Họ còn phải vay tiền mua sắm, ăn diện, hối lộ để được giới thiệu. Nhưng nguyên nhân nào thúc đẩy họ đi lấy chồng Ðài Loan, Ðại Hàn?

Có thể có nhiều nguyên nhân phức tạp. Phó thường dân tôi chỉ đưa ra vài nhận định thiển cận như sau : Quá nhiều chương trình ngăn chống lũ lụt, chương trình công nghiệp hóa, đô thị hóa..vừa bãi, không được nghiên cứu cẩn trọng.. đất đai canh tác bị thu hẹp. Dân số gia tăng..Khối lượng đông đảo người miền Trung, Bắc XHCN tràn vào.. Nông dân miền Nam thiếu đất canh tác.. Các cô gái miền Tây.. quẫn bách vì không có việc làm kinh niên - cuộc sống vô vọng mịt mờ - có nhiều trường hợp bị thúc đẩy vì cha mẹ mắng nhiếc, đay nghiến..khi so sánh con gái mình với cô con gái làng bên có chồng Ðại Hàn mang tiền về xây nhà gạch cho cha mẹ.Và cũng vì hấp thụ một nền giáo dục của chế độ CS ( sinh sau 75 ) - những người trẻ tuổi không có ý niệm về luân lý đạo đức cũ.. thang giá trị bị đảo lộn.. nên họ không đặt nặng danh dự, sĩ diện như thời trước.. Do vậy - khi bị dồn vào đường cùng.. họ đành đánh liều nhắm mắt đưa chưn.. Nhưng động lực chánh là nghèo..
Image NGHÈO...


Là nguyên nhân chánh đưa đẩy các cô gái miền Tây Nam Bộ đi lấy chồng Ðại Hàn và Ðài Loan... để hy vọng thoát khỏi cảnh đời cơ cực, vô vọng không lối thoát.. Thế nhưng tại sao đồng bằng sông Cửu Long (ÐBSCL) - vựa lúa nuôi sống cả nước - sau 32 năm dưới chế độ CS lại trở nên nghèo như vậy - nghèo hơn cả đồng bằng sông Hồng (ÐBSH)? Theo tiêu chuẩn nghèo từng vùng của Tổng cục thống kê Việt Nam - thì tỷ lệ ÐBSCL năm 1998 : ÐBSC : 37%. ÐBSH : 29%. Năm 2002 : ÐBSCL : 13 %. ÐBSH : 9%.(Nhà x.b Thống kê - Hànội, trang 13 - LVB trích
dẫn ).
Image Dù theo tiêu chuẩn nào : tiền tệ ( tính bắng tiền hay bằng gạo) - mức sống ( bao gồm lương thực, nhà ờ, mức sống văn hóa ) - ÐBSCL vẫn nghèo hơn ÐBSH - bởi lẽ khi nghèo về lương thực - thì khó có thể giàu về nhà ở và đời sống văn hóa.

Ðó là cái nghèo mà anh Lâm văn Bé đã nhìn qua những con số có giá trị của những chương trình nghiên cứu thống kê khoa học. Và sau đây là cái nghèo miền Nam qua cái nhìn tận mắt, nghe tận nơi của người viết : Cái nghèo ở Việt Nam bao gồm cả thành thị lẫn thôn quê là cái nghèo thiếu trước hụt sau, ăn bữa sáng lo bữa chiều - cái nghèo của một nông dân, nhà dột nát.. khi trời mưa lúc ban đêm..không có chỗ để nằm phải tìm một góc nhà, phủ cái mền rách lên người ngồi run cằm cặp.. trước từng cơn gió lạnh buốt lùa vào căn nhà trống hốc... Cái nghèo của một người đi mượn tiền, mượn gạo.. tới ngày hẹn không tiền trả.. Cái nghèo của một thanh niên thất nghiệp.. cha bị lao phổi không tiền mua thuốc nằm ho sù sụ..mẹ bơi xuồng đi bán bắp nấu không đủ gạo cho một đàn con 4 đứa, mũi dãi lòng thòng đang bốc đất cát chơi ngoài sân.

Tục ngữ bình dân có câu : Ít ai giàu 3 họ, khó 3 đời.- Có. Tôi quen biết ông Sáu S. làm nghề chài lưới.. ở sông Long Hồ. Ðời con là anh Tư Te tiếp nối nghề nầy : nghề đi nhủi tép.. Và trên bờ sông Long Hồ năm nay ( 2007 ) tôi thấy vợ chồng một cậu thanh niên tên M. vừa cặp xuồng vào bến, đem miệng nhủi còn dính đầy rong rêu phơi trên mái nhà lá đã nhuộm màu thời gian bạc thếch.. Hỏi thăm thì té ra là con của Tư Te.Ðời ông nội - nghèo! Ðời cha nghèo! Ðời cháu cũng nghèo! Khó 3 đời đó. Cọng Sản đổi đời cho người giàu thành nghèo - không đổi đời cho người nghèo thành giàu.Người nghèo vẫn tiếp tục nghèo.

Nói chung thì nông dân Việt Nam chiếm 85% dân số mà đất không đủ để canh tác - còn công nghiệp không có khả năng biến nông dân thành thợ thuyền..trong khi dân số lại gia tăng quá tải. Cho nên thất nghiệp không thể tránh. Nghèo là hiện thực. Tiến sĩ Lê đăng Doanh trong một bài phổ biến trên mạng, viết : "Nông dân đã nghèo, đất đã kém đi, nhưng mỗi năm thêm 1 triệu miệng ăn, lấy đâu ra mà ăn. Lao động vất vả mỗi ngày trên 8m2 đất thì lấy gì mà giàu có được? "

MIỀN NAM - 32 NĂM DƯỚI CHẾ ÐÔ C.S.

Kinh tế Việt Nam - trong đó có miền Nam - có chút tiến bộ - so từ thời kỳ bao cấp đến thời kỳ mở cửa. Nhưng chỉ là tiến bộ với chính mình. Ðối với các nước khác trong vùng thì còn lẹt đẹt.. cầm lồng đèn đỏ... Và điều quan trọng là sự phát triển nầy có đem lại phúc lợi cho dân chúng qua sự tái phân lợi tức quốc gia, để tài trợ các chương trình y tế, giáo dục - các chương trình tạo công ăn việc làm, phát triển nông nghiệp, xây dựng hạ tầng cơ sở hay không? Hay là phát triển bằng những con số báo cáo rỗng tuếch? Lợi tức tạo được đã bị cả hệ thống của những con virus tham nhũng đục nát cơ thể.. Và hiện tại - muốn phát triển công nghiệp - nhà cầm quyền địa phương - theo lệnh Ðảng - mở rộng khu công nghiệp, khu du lịch, đã quy hoạch lấy đất, phá mồ phá mả, chiếm nhà dân một cách bạo ngược.. Lòng dân phẫn uất, kêu la than khóc.. Oán hận ngút trời xanh! ( 19 Tỉnh miền Nam biểu tình khiếu kiện trước trụ sở quốc hội 2 Sàgòn ). Như vậy có gọi là phát triển không?

KẾT LUẬN

- 32 năm nhìn lại : Người ta thấy miền Bắc đã "giải phóng" dân Sàigòn ra khỏi đất đai, nhà cửa của họ. Họ phải rút vô hẻm, ra ngoại ô hay về quê bằng nhiều chánh sách khác nhau. "Giải phóng" miền ÐBSCL ra khỏi sự trù phú do thiên nhiên ưu đãi từ nhiều thế kỷ."Giải phóng"quân nhân, viên chức chế độ cũ ra khỏi nhà, để đưa họ vào các trại tù cải tạo hoặc đẩy họ ra biển..."Ư Giải phóng" phụ nữ miền Tây, để họ được tự do đi làm "vợ nô lệ", đi làm điếm ở Kampuchia, TháiLan..

- 32 năm nhìn lại : Người ta thấy Việt Nam trở lại thời kỳ mua bán nô lệ như thời Trung cổ.Phụ nữ Việt Nam bị bán đấu giá trên E-bay Taiwan website(2003) - bị trưng bày trong lồng kính, cũng để bán đấu giá như một con súc vật ở Singapour (2005). Chỉ trong năm 2005 - có khoản 400.000 phụ nữ và trẻ em bị bán ra ngoại quốc. (Theo UNI CEF - LHQ và Bộ Tư Pháp Việt Nam )

- 32 năm nhìn lại : Mượn lời nhà báo Claude Allegre, báo L''expresse ngày 29-8-2002: "Người ta không thể cho qua một cách im lặng những Khơ me đỏ, những trại tập trung ở Cambodia và những cuộc tàn sát man rợ ở đó. Và Việt Nam không được biết đến như là một chế độ nhân đạo hơn. Dưới cái cớ là dân tộc can đảm nầy đã chiến thắng các siêu cường quốc - người ta đi đến chỗ quên đi một nền độc tài đẫm máu đang thực thi trên xứ sở đó "

- 32 năm nhìn lại : Miền Bắc XHCN rõ ràng đã thiết lập một nền đô hộ miền Nam - khắc nghiệt, tinh vi hơn cả thời Pháp thuộc.

Và điều quan trọng trên hết là Việt Nam đang đứng trước hiểm họa mất nước. Một đảng viên kỳ cựu của chế độ Cộng sản lên tiếng cảnh cáo: "Việt Nam đang đứng trước hiểm họa mất nước. Mất cả đất đai, sông núi và dân tộc.Việt Nam sẽ trở thành một tỉnh lẻ của Tàu".

Nguyễn văn Trấn

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Hỏa ngục tại Nam Cali: 1,300 căn nhà bị cháy, 1 triệu cư dân phải di tản, 68 ngàn căn nhà bị đe dọa, TT Bush ban bố tình trạng khẩn cấp
Trần Vũ theo AP , Oct 23, 2007

Cali Today News - Thứ ba 23/10 lại có thêm nhiều ngàn người được lệnh phải di tản tránh các trận hỏa hoạn tàn khốc ở vùng nam California, khiến con số người phải ra đi lên tới ít nhất 1 triệu người.

Tới ngày thứ ba thì hỏa hoạn đã thiêu hủy 1,300 căn nhà và cơ sở thương mại, đốt cháy 600 dặm vuông đất. Thứ ba tình hình sẽ còn tệ hại hơn vì người ta tiên đoán ngọn gió Santa Ana vẫn còn hoạt động với cường độ dữ dội.

Các nhân viên cứu hỏa sững sờ trước sức tấn công nhanh và vũ bão cũa thần hỏa. Ngay cả các khách sạn vừa mới nhận lệnh sửa soạn đón nhận làn sóng người di tản thì chính các khách sạn này cũng phảy di tản chạy trốn lửa tràn tới.

Khi lửa tràn lên, các đám cháy nhỏ đã họp nhau lại hòa với các trận cháy lớn khiến việc chữa cháy thêm khó khăn. Lệnh di tản ban hành từ quận hạt này sang quận hạt khác, khi gió Santa Ana lên đến 70 dặm/giờ đã làm đám cháy tràn đi thật nhanh.

Chỉ tính riêng cho quận hạt San Diego thì con số di tản đã là 300,000 người và người ta e là sẽ còn nhiều người nữa phải ra đi vì các đám cháy thành hình biển lửa tiến vào các khu vực dân cư.

TT Bush đã tuyên bố tình trạnh khẩn cấp tiểu bang cho 7 quận hạt và điều động sự trợ giúp từ chính phủ liên bang. Các viên chức trợ cấp liên bang đã lên dường đi California. TT Bush chưa có kế hoạch đi thăm vùng hỏa hoạn vì ông ngại sự có mặt của ông có thể làm cản trở các cố gắng chữa cháy hiện nay.

TT Bush tuyên bố: “Tất cả chúng ta đều lấy làm lo lắng cho các gia đình đã mất nhà cửa của họ và rất nhiều gia đình đang phải di tản. Chúng tôi đang gửi cứu trợ từ liên bang tới.”

Cho đến nay chỉ có 1 người chết đã được nhận diện, đó là ông Thomas Varshock, 52 tuổi, cư dân Tecate, một thị trấn nhỏ nằm sát biên giới với Mexico về hướng đông nam. Con số người chết ít ỏi cũng làm nhân viên cứu hỏa bất ngờ. Có 42 người bị thương, trong số này có 16 người là nhân viên cứu hỏa.

Trần Vũ theo AP

Một Vài Hình Ảnh Cháy Cali Liên Tục Mấy Hôm Nay

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

Image

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Gió Lửa

Ngô Nhân Dụng

Gió thổi lửa lên mặt người. Hơi nóng hừng hực như từ trong lò luyện thép phóng ra. Cát bụi khô rang điên cuồng chạy qua vừa trùm lên ngộp thở, vừa cứa những đường rãnh li ti như mạng lưới đan chéo trên da thịt con người. Nhà cửa, rừng, đồi bốc cháy. Lửa đỏ ngoi lên quằn quại thè lưỡi trên những bức trường thành khói đen mù mịt. Khói lửa từ từ tiến tới, gặm nhấm những sườn đồi như tầm ăn dâu, quét qua hốt sạch những mảnh rừng cây, những bãi cỏ khô Mùa Thu. Ðám cháy ứa tuôn ra như những mảng dung nham từ miệng núi lửa chảy xuống các thung lũng miền Nam California, chảy dần dần về phía mặt trời lặn đỏ lừ.

Những nơi may mắn không phải chạy bão lửa, người ta đóng kín cửa ngồi trong nhà để tránh hơi nóng, tránh cát, bụi và mùi khói khét. Nhìn ra ngoài, gió Santa Ana vẫn phả từng trận bão khô như đàn ngựa vô hình trong không khí từ sa mạc phi nước đại chạy ào ào ra phía bờ biển. Gió hú rống trên không trung; gió quất doi lên những cành cây, xé rách những chiếc lá còn xanh vứt tả tơi lá vụn đầy mặt đất; gió uốn cong những ngọn dừa và cả những vòm cây cổ thụ, bật lên rồi dìm trĩu xuống vật vã suốt mấy ngày không ngừng nghỉ. Loài người chìm ngập trong lòng một trận đại hồng thủy khô và nóng rát tai.

Chúng ta vẫn cảm ơn trời đất vì trận hỏa hoạn đã diễn ra từ từ, chậm chạp, tiến từng bước, ngày nọ sang ngày kia qua các khu dân cư, để loài người có thời gian loan tin, báo động, chuẩn bị chạy, và tiếp cứu lẫn nhau. Trong lúc cùng phải đối phó với thiên nhiên, con người sẵn lòng thương yêu, đùm bọc nhau hơn.

Loài người tự coi là tiến bộ khi sáng chế những máy móc để nhân sức mạnh của mình lên hàng ngàn, hàng triệu lần. Con người hãnh diện vì đã vượt thắng thiên nhiên! Năm 2000, một tờ tạp chí phỏng vấn các nhân vật danh tiếng xem phát minh nào là quan trọng nhất trong một ngàn năm trước. Ông Lý Quang Diệu trả lời: Máy lạnh là phát minh quan trọng nhất. Không có máy lạnh, sức làm việc của người ta không thể cao như họ đã đạt được (nhất là những người ở xứ nóng như hòn đảo Singapore của ông).

Nhưng máy lạnh cũng tập cho con người sống trong một bầu không khí giả, tập thói quên lãng, quên mình sống giữa một thiên nhiên như thế nào.

Từ khi loài người bắt đầu sống trong những phòng có máy lạnh, bước ra đường lại leo lên xe gắn máy lạnh, chúng ta có lúc đã quên có thiên nhiên ở bên mình. Dễ quên rằng mình đang tạm trú trên tấm vỏ mỏng của một hành tinh, cả lớp sinh quyển bao quanh hành tinh cũng mong manh. Chúng ta ở tầng dưới cùng sát mặt đất, trong một bầu khí quyển luôn luôn chuyển động. Bầu khí quyển chỉ cao gần 100 cây số, con người bây giờ có thể ngồi trong hỏa tiễn phóng lên mươi phút đã vượt ra ngoài. Cầm một quả cam lên nhìn kỹ, chúng ta ý thức được là lớp vỏ trái đất còn mỏng manh hơn nhiều.

Gió, lửa, hỏa hoạn suốt mấy ngày ở miền Nam California nhắc nhở chúng ta biết mình chỉ là một sinh vật yếu ớt sống tạm giữa một thiên nhiên rộng lớn bao la và dũng mãnh. Sống trong máy lạnh, ở một vùng có nhiệt độ ôn hòa, chúng ta dễ quên rằng mình cư ngụ trong một cõi thiên nhiên mênh mông, hùng mạnh, và khi nổi giận sẽ vô tình, tàn bạo như thế nào.

Những dân tộc sống ở miền băng giá hay trong những vùng sa mạc bao la thì có dịp tiếp xúc với thiên nhiên thường xuyên hơn. Mỗi lần bão cát trong sa mạc hay bão tuyết đổ về miền núi cao, con người lại chứng kiến cảnh thiên nhiên gầm rống, đe dọa. Họ có dịp ý thức thường xuyên về sự nhỏ bé của mình, ý thức hơn về cái chết, cung kính hơn trước sự sống. Và cũng khiêm tốn hơn, bao dung hơn trong cách đối xử với đồng loại. Cơn bão nóng Santa Ana là một dịp để chúng ta cùng suy nghiệm. Những người có tôn giáo sẽ thấy đây là một cơ hội trở về với cội nguồn. Tất cả mọi người có cơ hội ngẫm nghĩ lại cách sống của loài người nói chung. Trong một thời đại kỹ thuật tiến bộ giúp con người vượt nhiều trở ngại tự nhiên, chúng ta không thể quên là mình vẫn sống trên mảng vỏ trái đất quay quanh mặt trời, trong vũ trụ bao la.

Từ 2,500 năm trước, người Trung Hoa đã kể câu chuyện một ông già từ chối không dùng thứ “máy múc nước giếng” mới được phát minh ở làng bên. Ông từ chối không dùng máy, vì lo “cơ khí sinh ra cơ tâm, cơ tâm đưa tới cơ sự.” Nhà hiền triết đã thấy mối họa “cơ tâm” (tấm lòng như máy móc) và cơ sự (tôn thờ máy móc). Nhưng ông không thể đoán trước được cái cơ tâm ở loài người đã tác hại khủng khiếp như thế nào. Tại sao Stalin ra lệnh tập thể hóa nông nghiệp làm chết hàng chục triệu người, lập ra những trại tập trung giết dần mòn hàng chục triệu người khác? Tại sao Mao Trạch Ðông bắt toàn dân thực hiện “bước nhảy vọt” và “Cách Mạng Văn Hóa” giết chết mấy chục triệu người Trung Hoa? Họ không chủ ý giết người. Nhưng họ muốn “cải tạo cả thế giới” theo những ý kiến máy móc nảy ra trong đầu họ. Họ tin vào một chủ nghĩa, chủ nghĩa đó vẽ ra hình ảnh lịch sử loài người chạy như một bộ máy đồng hồ. Họ bấm nút để điều chỉnh bộ máy, máy chạy rồi, sinh mạng hàng triệu con người không còn đáng kể nữa.

Có lẽ lịch sử những cuộc chiến tranh sẽ khác đi nếu những người quyết định gây chiến không ngồi trong phòng có máy lạnh. Nếu họ sống ở giữa thiên nhiên, da thịt tiếp xúc với gió, với mưa nắng, bão tuyết, họ có thể sẽ cảm thấy trước được cảnh những người lính ngoài mặt trận sẽ sống, sẽ ăn sẽ ngủ, sẽ đi sẽ chạy, sẽ bắn súng như thế nào. Lev Tolstoi đã viết tiểu thuyết để cho mọi người thấy các cuộc chiến tranh không phải do những “anh hùng” như Ðại Ðế Napoleon hay Thống Chế Kutuzov quyết định. Chính những người lính đi bì bõm trong tuyết quyết định bên nào thắng, bên nào bại. Hai thế hệ sau Tolstoi, Boris Pasternàk đi xa hơn nữa. Nhà văn sống dưới thời Stalin viết, “Người ta không thấy lịch sử chuyển động, cũng như không ai nhìn thấy cỏ mọc.” Ðó là một tuyên ngôn kêu gọi mọi người hãy phá bỏ lối nhìn lịch sử như một cái máy nổ, hãy tự giải thoát, không để cho cơ tâm chế ngự. Nhà văn chỉ dùng trực giác, đả đề nghị vượt ra khỏi mô hình máy móc để tiến tới mô hình sinh học. Nhưng loài người còn phải đi xa hơn thế nữa.

Những cơn bão lửa tràn vào miền Nam California là một cơ hội để chúng ta nhớ lại loài người phải sống hòa hợp với thiên nhiên. Ngay trong công việc chế ngự thiên nhiên, không thể quên những hậu quả lâu dài, vì thiên nhiên thường vô tình không biết, không theo đúng kế hoạch của loài người!

Một thí dụ trước mắt là những con đập ngăn dòng sông Mekong ở thượng nguồn bên Trung Quốc đang thay đổi môi trường sống của hàng triệu con người và các sinh vật ở Lào, Campuchia và Ðồng Bằng Sông Cửu Long, Việt Nam. Các thế hệ tương lai sẽ phải trả giá cho những công trình xây dựng trong thế hệ này.

Một hành động đang lo có quả báo nhãn tiền là việc xây đập Tam Hạp (cũng đọc là Tam Giáp, Three Gorges) ngăn dòng Trường Giang bên Trung Quốc. Chính phủ Bắc Kinh đã chính thức báo động và thú nhận có sai lầm trong việc hoạch định con đập lớn nhất thế giới này. Ít khi một chính quyền độc tài lại thú nhận họ sai lầm, ngay trên các tờ báo chính thức của họ. Ông Vương Tiểu Phong (Wang Xiaofeng), giám đốc Ủy Ban Nhà Nước Xây Dựng Ðập Tam Hạp, sau khi đã xây cất suốt 15 năm, đã cảnh báo các nguy cơ vì nạn đất bồi cũng như đất lở ở dòng sông phía trên con đập không đúng như dự tính. Dòng sông 600 cây số phía trên con đập chảy chậm hơn nhiều khiến cho đất phù sa đọng lại, việc giao thông sẽ khó khăn hơn. Trong khi việc mở mang đường giao thông dễ dàng từ Vũ Hán lên Trùng Khánh là một mục tiêu quan trọng của công trình xây đập, ngoài mục tiêu thủy điện lực. Hai bên bờ đập các giống rong rêu sinh ra nhiều vì nước chảy chậm hơn, rong rêu đã hút bớt dưỡng khí, vô tình giết chết nhiều loài thủy tộc. Ðó là chưa kẻ đến những nhà máy dựng lên trong thời gian xây đập thải chất độc xuống dòng sông.

Ðập Tam Hạp được thúc đẩy xây cho thành mặc dù rất nhiều nhà khoa học Trung Hoa và quốc tế kêu gọi phải nghiên cứu kỹ lưỡng hơn. Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Trung Quốc trong thời gian đó gồm rất nhiều người vốn nghề kỹ sư, không biết nghề nghiệp của họ có tạo mối cơ tâm hay không. Người làm thủ tướng lúc đó là Lý Bằng, một kỹ sư, muốn đẩy mạnh việc xây đập cho kinh tế Trung Quốc tiến nhanh hơn, và cũng để lại một di tích cho hậu thế nhớ đến mình. Thiên nhiên đã bắt đầu lên tiếng. Người Trung Hoa trong các thế hệ sắp tới sẽ phải lo “sửa sai!”

Năm nay giải Nobel Hòa Bình được trao cho những người và tổ chức quốc tế đang hô hào hoặc đã hành động để bảo vệ môi trường sống của loài người trên mặt đất. Chúng ta biết trong lúc loài người dùng kỹ thuật ngày càng tiến bộ để “chế ngự” thiên nhiên, chúng ta cũng bắt đầu tàn phá thiên nhiên, mà hậu quả là chính mình, hay các thế kệ con cháu mình sau này, sẽ bị thiên nhiên “trừng phạt.” Bảo vệ môi trường sống, sinh môi, là một vấn đề lớn và dài hạn. Một điều chúng ta có thể rút kinh nghiệm khi đối đầu với thiên nhiên, là con người phải biết thuận theo thiên nhiên mà sống chứ không phải chỉ nhăm nhắm khai thác, tận dụng thiên nhiên một cách máy móc. Ngay cả khi muốn chế ngự thiên nhiên, người ta cũng phải tìm hiểu thực sự đất đá, cỏ cây, mưa gió xoay vần như thế nào, để thuận theo mà hợp tác với trời, với đất.

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Tôi thấy và nghe được gì ở Sài Gòn
và miền Nam VN sau 32 năm dưới chế độ CS ?

Người việt hải ngoại - Nguyễn văn Trấn


Lời người viết : Ðây không phải là một phóng sự hay một bài nghiên cứu xã hội với những phương pháp khoa học của nó - mà chỉ là những điều vụn vặt mắt thấy tận nơi, tai nghe tận chỗ - ghi lại một cách trung thực.
Tôi thấy bộ mặt Sàigòn đổi mới với : Những khách sạn 5 sao, 4 sao lộng lẫy. Ðổi mới với những nhà hàng "vĩ đại" trên các tuyến đường du lịch. Với những trung tâm "thư giãn" sang trọng, quý phái cỡ câu lạc bộ Lan Anh.Với những vũ trường cực kỳ tráng lệ như vũ trường New Century Hànội. Với những trường Trung học tư thục mang tên Mỹ, giáo sư Mỹ, chương trình học của Mỹ, giảng dạy bằng tiếng Mỹ- học sinh phải trả học phí bằng tiền Mỹ - 600US$ đến 1000US$ /tháng. (Giai cấp nào đủ sức trả học phí nầy cho con? )

Tôi cũng hiểu rằng các nơi nầy là nơi ăn chơi của vương tôn công tử "đỏ", các nhà giàu mới - thân nhân các quyền lực đỏ đứng đàng sau, các quan chức đỏ đô la đầy túi. Họ đến đây để "thư giãn", uống rượu, đánh bạc, cá độ và tìm gái. Uống chơi vài chai rượu ngoại VSOP, XO là chuyện thường. Mỗi đêm có thể tiêu hàng ngàn đô la Mỹ cũng không phải là điều lạ. Trong khi lương tháng của một thầy giáo Trung học trường công không đủ để trả một chai rượu XO. Vụ MPU.18 cá độ hàng triệu US$ đã bị phanh phui..là một thí dụ cụ thể.Vũ trường New Century bị Công an đến giải tán vì các công tử và tiểu thư con các quan chức lớn nhảy đã rồi... " lắc" suốt đêm. Vài hôm sau - đâu cũng vào đó... Tôi cũng thấy Sàigòn- người, xe và phố xá dầy đặc, nghẹt thở - vài tòa cao ốc mọc lên vô trật tự - ở xa xa, có cái trông giống như chiếc hộp quẹt.. nhà cửa mặt tiền hầu hết đều lên lầu nhiều tầng. Kiến trúc hiện đại.Vật liệu nhập cảng đắc tiền. Nhà trong hẻm - phần lớn cũng lên nhiều tầng cao nghệu.Có nhiều khu xây cất bừa bãi, nhô ra thụt vào như những chiếc răng lòi xỉ vô duyên.. , lấn chiếm ngang ngược đất công hoặc lề đường...

Tôi thấy Sàigòn bị ô nhiễm trầm trọng với hằng triệu tiếng động cơ, ngày đêm đinh tai nhức óc và 3.000.000 chiếc Honda - phun khói mịt mù - chưa kể đến xe hơi..Và hệ thống cống rãnh lạc hậu.. mỗi khi trời mưa lớn - nước rút không kịp, ứ đọng tràn ngập nhà cửa. Hệ thống đổ rác còn lạc hậu.. không đáp ứng nổi nhu cầu thải rác của 8.000.000 dân nhung nhúc như kiến.. Sàigòn đầy dẫy những hàng ngoại do công ty ngoại quốc sản xuất tại chỗ..hàng lậu của Trung quốc tràn vào vô số kể.. Máu kinh tế Việt Nam bị loãng ra. Nhưng chế độ xã nghĩa im thin thít chịu trận, không dám một lời phản kháng. Một chiếc xe Honda nhãn hiệu Trung quốc giá khoảng chừng 1000 đô la Mỹ..chưa kể hàng Trung quốc lậu thuế, rẻ mạt.. Thuốc lá và bia - bia nội, bia ngoại - có đủ.. Nhậu và hút là 2 cái mốt bình dân thời thượng nhứt ở Sàigòn. Ðảng viên, cán bộ - giai cấp thống trị - nhậu.. Già nhậu, trẻ nhậu... con nít cũng tập tành nhậu. Hút thì khỏi nói.. Giai cấp cán bộ răng đen mã tấu bây giờ là giai cấp nắm thống trị - đã lột xác - không còn quấn thuốc rê, bập bập phà khói mịt mù nữa - mà lúc nào cũng lấp ló một gói 3 con 5, Craven A, trong túi. Lãnh đạo hút, cán bộ hút, dân chúng hút - thậm chí con nít 9, 10 tuổi ở đồng quê cũng phì phà điếu thuốc một cách khoái trá.. Các hãng bia và thuốc lá ngoại quốc đã tìm được một thị trường tiêu thụ béo bở. Cán bộ lớn cũng âu phục cà vạt hẳn hoi, xe hơi bóng loáng.. nhưng bộ răng hô, mái tóc bạc thếch, và nước da mốc mốc.. cũng không dấu được nét thô kệch của một anh nhà quê lên Tỉnh.

Tôi còn thấy Sàigòn với hiện tượng " tiếm công vi tư" lộng hành, ngang ngược của Công an đến độ dân chúng quen thuộc, xem là một chuyện đương nhiên như chuyện hối lộ đã trở thành cái lệ.. bất thành văn trong chế độ xã nghĩa. Chiếm đoạt một nửa công viên, xây nhà gạch dùng làm quán cà phê.. Chưa thỏa mãn - ban đêm còn dọn thêm bàn ghế trên sân cỏ của phần công viên còn lại và thắp đèn màu trên mấy chậu kiểng cho thêm thơ mộng.. Ông chủ bự nầy chắc chắc không phải là dân thường.Ông lớn nầy xem công viên như đất nhà của ông vậy.Ai có dịp đi ngang qua mũi tàu - nơi gặp gỡ của 2 đường Nguyễn Trãi và Lê Lai cũ, ngang hông nhà thờ Huyện Sĩ - thì rõ.

Còn nhiều.. rất nhiều chuyện lộng hành chiếm đất công, lấn lề đường nhan nhản ở khắp Saigòn. Chỉ đưa ra vài thí dụ cụ thể : Một công thự tại vườn Tao đàn ( có lẽ là nhà cấp cho viên Giám đốc Công viên Tao đàn) - mặt tiền ngó vào trong - mặt hậu nhìn ra phía đường Nguyễn Du (Taberd cũ ) - bèn có màn trổ cửa mặt sau nhà, xây thêm phía sau thành 2 căn phố thương mãi mặt tiền ngó ra đường Nguyễn Du, trị giá mỗi căn, nhiều trăm ngàn mỹ kim - ngon ơ! Tương tự như vậy - ở góc đường Thành Thái và Cộng Hòa cũ.. trước sân nhà của ông Hiệu Trưởng trường Quốc gia Sư Phạm trước 75 - phố thương mãi, quán xá la liệt chiếm mất mặt tiền. Ngang ngược và lộng hành nhứt là 2 căn phố thương mãi bên hông trường Trương minh Ký, đường Trần hưng Ðạo, chễm chệ xây lên ngay bên góc phải sân trường như thách đố dân chúng..Còn trên lề đường khá rộng trước câu lạc bộ CSS cũ, bây giờ là câu lạc bộ Lao động - nhiều gian hàng thương mãi bán quần áo, giày vớ thể thao.. buôn bán ầm ĩ, náo nhiệt suốt ngày.

Công an chiếm đất công, xây nhà tư. Công viên, lề đường trước nhà dân là đất riêng của Công An. Công an sử dụng làm chỗ gửi xe, bịt kín cả lối đi vào nhà. Không ai dám hó hé. Im lặng là an toàn.Thưa gửi là dại dột. Mà thưa với ai?Tất nhiên là phải thưa với công an.Không lẽ công an xử công an? Tướng CS Trần Ðộ phản ảnh còn rõ rệt hơn : "... Xã hội Việt Nam ngày nay là một xã hội vô pháp luật mà phần đầu tiên gây ra là Ðảng. Không thể nào chống tham nhũng được vì nếu Ðảng chống tham nhũng thì Ðảng chống lại Ðảng sao?"("Nhật ký Rồng rắn" của Trần Ðộ ).

Nón cối, nón tai bèo, dép râu, áo chemise xùng xình bỏ ngoài chiếc quần màu cứt ngựa của người cán bộ CS ngơ ngác khi mới vào Sàigòn - đã biến mất.. Cũng không còn thấy những chiếc áo dài tha thướt của những cô gái đi dạo phố ngày cuối tuần trên các đại lộ Lê Lợi, Lê thánh Tôn, Tự do những ngày trước 75 nữa. Thay vào đó là một đội ngũ phụ nữ - mũi và miệng bịt kín bằng "khẩu trang", găng tay dài đến cùi chỏ, cỡi Honda chạy như bay.. trên đường phố.

Tôi còn thấy những người nghèo khổ chở trên chiếc xe thồ, những thùng carton và bao túi nylon, chồng chất lên nhau cao ngất như sắp đổ xuống...những bà cụ già, những cậu bé tuổi đáng được ngồi ở ghế nhà trường.. những anh phế binh cụt tay, cụt chưn, lê lết trên một miếng ván gỗ... đi bán vé số (một cách ăn xin trá hình )... những em bé mặt mũi lem luốc đang bươi những đống rác để lượm các bao nylon, lon coca, chai bia đem về bán.. hay những em bé rách rưới lang thang trước những tiệm ăn.. chờ khách ăn xong nhào vô bưng tô súp cặn húp vội đỡ lòng..còn những trẻ khác - mắt láo liên trông chừng công an, tay chìa chiếc hộp, làm dấu mời khách đánh giày -..những em bé gái đang hì hục đẩy khách lên đồi cát bằng miếng ván có gắn bánh xe ở "Ðồi cát bay" Phan Thiết. Hỏi "sao em không đi học"? - trả lời : "Nhà không đủ cơm ăn, con làm cái nầy để kiếm thêm cơm ăn.".. Nhiều bà mẹ nhăn nhó ôm thằng bé mặt mày xanh lét, không còn chút máu, chờ suốt buổi sáng.. trước tiếng quát tháo ầm ĩ.. vẫn chưa tới phiên mình vào bệnh viện chữa trị cho con.. Nghe nói mấy năm trước đây có nhiều bà mẹ đứng trước bệnh viện Chợ Rẩy chờ bán máu mình để qua cơn đói khổ ngặt nghèo như nhà văn Trần trung Ðạo đã mô tả..Lại nghe một bệnh nhân dứng cạnh đó, cũng chờ đến lượt mình, than thở : " Ở đây là vậy đó ông ơi! Chửa bệnh phải có tiền - trước nhứt phải qua cửa - lọt qua cửa thì còn nhiều khâu - khâu nào cũng phải chìa tiền. Muốn sống - phải có tiền.Chết cũng phải có tiền.

Bộ mặt Sàigòn "đổi mới" bằng những khách sạn lộng lẫy, những câu lạc bộ thời thượng, những phố xá thương mãi sang trọng, những hiệu kim hoàn lóng lánh kim cương, những nhà hàng ăn vĩ đại, những vũ trường cực kỳ tráng lệ, những biệt thự đồ sộ nguy nga mới xây bằng vật liệu ngoại đắt tiền.. trang trí cây cảnh như một mảng vườn Thượng uyển của vua chúa ngày xưa.. những xe hơi bóng loáng nhởn nhơ trên đường phố - nhiều người chóa mắt.. choáng váng, cho là "Việt Nam bây giờ tiến bộ quá". Riêng Phó thường dân tôi tự nghĩ : Như vậy có phải là tiến bộ không? Sự tiến bộ của một nước cần phải nhìn về nhiều mặt : Mặt y tế và giáo dục, mặt đời sống vật chất và tinh thần của dân chúng.. Lợi tức đầu người của Việt Nam - theo thống kê của báo The Economist - bằng : 555 US$ năm 2007 ( Hà Nội bốc lên 730 US $ )chỉ hơn Lào và Cambodia chút đỉnh. So với các nước láng giềng : Thái Lan : 2550 US$ - Phi luật Tân : 1040US$ - Nam Dương : 1160US$.Tân gia Ba 24840US$.( The Economist World, năm 2007 - p.158, 176, 238 ) - Việt Nam còn lẹt đẹt đàng sau rất xa. Và trước bộ mặt thay đổi choáng ngợp nầy - nếu đặt câu hỏi : Ai là chủ nhân của những xe hơi, khách sạn- vũ trường, những thương hiệu lớn, những biệt thự lộng lẫy kia? - thì câu trả lời không sợ sai lầm là của cán bộ đảng viên (tại chức hoặc giải ngũ) hoặc con cháu thân nhân của họ. Và ở thôn quê - giai cấp giàu có bây giờ là ai? giai cấp địa chủ là ai? Có phải do của cải của ông cha để lại hay do sự kinh doanh tự do, mua bán làm ăn mà có ?

HIỆN TƯỢNG NGƯƠI BẮC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA CHIẾM HỮU TOÀN BỘ PHỐ XÁ THƯƠNG MAI QUAN TRỌNG Ở SÀIGÒN - KHỐNG CHẾ MỌI LÃNH VỰC TRỌNG YẾU Ở MIỀN NAM..

Cho dù núp dưới cái hào quang chiến thắng "đánh Tây, đuổi Mỹ" - cho dù che giấu, lấp liếm, giải thích thế nào chăng nữa - thì dân miền Nam ( gồm cả Nam lẫn Bắc theo chế độ Tự Do ) vẫn thấy một sự thật. Sự thật đó là người Bắc XHCN tràn ngập, chiếm hữu toàn bộ phố xá thương mãi trọng yếu của Sàgòn. Làm sao nói khác được khi đi một vòng quanh Sàigòn.. và các khu phố sầm uất nhứt.. vào những hiệu buôn lớn để mua hàng hay hỏi han chuyện trò thì thấy toàn là người Bắc Cộng sản - từ cô bán hàng đến bà chủ ngồi phía trong - cũng toàn là người của xã hội chủ nghĩa miền Bắc. Các tiệm buôn lớn trước 75- như các tiệm vàng Nguyễn thế Tài, Nguyễn thế Năng, Pharmacie Trang Hai, tiệm Émile Bodin của bầu Yên, nhà hàng Bồng Lai, Thanh Thế, Nguyễn văn Ðắc, Phạm thị Trước.. hiện nay, một số đã đổi bảng hiệu hoặc xây cất lại..nhưng đều do người miền Bắc XHCN làm chủ. Các cơ sở khác như nhà hàng ăn lớn, tiệm phở, công ty thương nghiệp, dịch vụ lớn, những tiệm buôn bán dồ nhập cảng v.v.. cũng đều do người Bắc XHCN chiếm giữ.. Tuy không có con số thống kê chính xác nhưng tự mình đi đếm hàng trăm tiệm buôn sang trọng quanh các khu phố lớn ở Sàigòn.. thì khám phá ra được chủ nhân là người Bắc XHCN. (Tất nhiên là vợ con, thân nhân cán bộ lớn ).Những gái Bắc XHCN bán hàng là con cháu của chủ nhân người Bắc CS ( do các cô tự nói ra ). Các cô chiêu đãi viên trên phi cơ VNHK đều là người Bắc thân nhân hay con cháu cán bộ - dĩ nhiên - vẻ mặt lạnh lùng, hách dịch với người Việt Nam và khúm núm lịch sự với khách ngoại quốc..Cán bộ, công nhân viên trọng yếu - cũng đều là người Bắc - trừ một số cán bộ gốc miền Nam tập kết - theo đoàn quân viễn chinh vào đánh chiếm miền Nam - thì cũng kể họ là người XHCN miền Bắc. Hệ thống quyền lực từ trên đến dưới - từ Trung ương đến địa phương - từ Tỉnh thành đến quận lỵ, thị trấn, làng xã gần - đều do đảng viên người miền Bắc XHCN - nắm giữ.Những công Ty dịch vụ có tầm cỡ, những công Ty thương mãi sản xuất lớn - điển hình là một công Ty vận tải và du lịch có đến 6000 xe hơi đủ loại..chủ nhân cũng là người Bắc XHCN.Từ chính trị đến văn hóa, từ giáo dục đến truyền thông, từ nhà cầm quyền cai trị đến chủ nhân cơ sở thương mãi, sản xuất - cũng do người miền Bắc XHCN nắm giữ.

Ðó là sự thật trước mắt ai cũng thấy. Còn những vàng bạc, kim cương, đô la, tài sản tịch thu, chiếm đoạt được trong các cuộc đánh tư sản, cải tạo công thương nghiệp - nhà cửa của tù cải tạo, của dân bị đuổi đi kinh tế mới, những tấn vàng của VNCH để lại những lượng vàng thu được từ những người vượt biên bán chánh thức - tài sản những người thuộc diện tư sản - toàn bộ tài sản nầy từ Saigòn đến các Tỉnh miền Trung, miền Nam - được đem đi đâu? - Không ai biết.

Thông thường - những của cải nầy phải được sung vào công quỹ - để làm việc công ích như các ông cộng sản thường rêu rao bằng những mỹ từ đẹp đẽ.. Thế nhưng - sự thật trước nhứt - là các ông đem chia chác nhau. Chia nhau một cách hợp hiến và hợp pháp theo Luật pháp XHCN ( Ðọc Ðất đai-Nguồn sống và Hiểm Họa của Tiến sĩ Nguyễn thanh Giang).Ông lớn lấy tài sản lớn.Ông nhỏ - nhà cửa nhỏ. Có ông cán bộ trung cấp chiếm hữu đến 4, 5 căn nhà. Ở không hết... đem cho công Ty ngoại quốc thuê. Ðiều phổ biến nhứt là các ông cán bộ nầy - vì lo sợ cái gì đó - bèn đem "û bán non" những căn nhà đó lấy tiền bỏ túi trước. Một căn nhà của một viên chức tù cải tạo đã sang tay đến 3 đời chủ. Nhà cửa thuộc diện tù cải tạo là dứt khoát phải tịch thu - không ngoại lệ.Những trường hợp con ruột có hộ khẩu chánh thức còn được phép ở lại - là những biện pháp vá víu.Chủ quyền căn nhà nầy là Nhà nước XHCN.

Không chỉ có những người thuộc diện cải tạo công thương nghiệp, tù cải tạo, vượt biên mà người dân thường có nhà cửa phố xá..đều bị "û giải phóng" ra khỏi nhà bằng nhiều chánh sách : Ðuổi đi kinh tế mới, dụ vào hợp tác xả tiểu công nghiệp, mượn nhà làm trụ sở, cho cán bộ vào ở chung( chủ nhà chịu không nổi... phải bỏ đi ), đổi tiền để vô sản hóa người dân, khiến họ bắt buộc phải bán tất cả những gì có thể bán để mua gạo ăn, cuối cùng chịu không nổi, phải bán nhà với giá rẻ bỏ..để vô hẻm ở, ra ngoại ô hoặc về quê... Cán bộ hoặc thân nhân cán bộ miền Bắc XHCN tràn vào "mua" nhà Saigòn với giá gần như cho không...và bây giờ là chủ những căn nhà mặt tiền ở Saigòn.

Mang xe tăng T.54, cà nông Liên xô, AK Trung cộng, đẩy hàng hàng lớp lớp thiếu niên "xẻ dọc Trường Sơn" bằng máu, nước mắt và xác chết... vào xâm chiếm miền Nam. Chiêu bài là "giải phóng" nhân dân miền Nam - nhưng sự thật khó chối cãi được - là vào để chiếm đoạt tài sản, đất đai, của cải, đuổi dân Saigòn ( gồm cả người Nam lẫn Bắc theo chế độ Tự Do ) ra khỏi Thủ Ðô bằng nhiều chánh sách khác nhau - để bây giờ chính các ông đã trở thành những nhà tư bản đỏ triệu phú, tỉ phú đô la, vàng bạc kim cương đầy túi - những ông chủ công Ty có tầm vóc, những địa chủ đầy quyền lực.. Trương mục ở nước ngoài đầy nhóc đô la. Con cái du học ngoại quốc.( Trường hợp con Thủ Tướng CS Nguyễn tấn Dũng đang du học Mỹ là trường hợp điển hình). Như vậy hành vi nầy gọi là gì?Trong những lúc canh tàn rượu tỉnh - một mình đối diện với lương tâm thuần lương của mình - các ông tự gọi mình đi.

Ðến thời "mở cửa" - cơ hội hốt tiền còn nhiều hơn..gấp bội. Tư bản ngoại quốc ồ ạt đầu tư, khai thác dầu khí, thâu đô la Việt kiều về thăm quê hương - đô la khách du lịch ngoại quốc, bán đất cho Công Ty ngoại quốc xây cất cơ xưởng, cấp giấy phép các công Ty ngoại quốc, các dịch vụ đấu thầu xây cất cầu cống, làm đường sá, xây cất đại công tác. Những món nợ kếch xù từ Ngân hàng thế giới, từ quỹ tiền tệ quốc tế - những món nợ trả đến mấy đời con cháu cũng chưa dứt.. Những đại công tác nầy mặc sức mà ăn.. no bóc ké.. Nhiều công trình vừa xây cất xong..đã muốn sụp xuống vì nạn ăn bớt vật liệu. Một thí dụ diễn hình : Một bệnh viện gần chợ "û cua" Long Hồ - quê hương của Phạm Hùng - nước vôi còn chưa ráo.. đã muốn sụp. Hiện đóng cửa không sử dụng được.

Hiện tượng người Bắc XHCN khống chế toàn bộ, làm chủ nhân ông mọi lãnh vực, chiếm hữu nhà cửa, phố xá thương mãi ở những khu thương mãi quan trọng nhứt - là một sự thật không thể chối bỏ. Cán bộ lớn đã trở thành những nhà tài phiệt đầy quyền lực - những ông chủ lớn giàu có nhứt lịch sử. Trong khi dân chúng miền quê - nhứt là miền Nam - ngày càng nghèo khổ, thất nghiệp kinh niên.. Khoảng cách giàu nghèo càng lớn - đời sống cán bộ và dân chúng càng ngày cách biệt..Giàu thì giàu quá sức. Nghèo thì nghèo cùng cực.

Nhà văn - bác sĩ Hoàng Chính - gọi thời kỳ sau 75 là thời "Bắc thuộc" - "Năm Bắc thuộc thứ 2 : Lưu vong tại quê nhà trong cái đói lạnh. - Năm Bắc thuộc thứ 6 : Cầu cho em nhỏ 10 tuổi đầu đủ cơm ăn giữa bầy thú hát điên cuồng chuyện thù oán. - Năm Bắc thuộc thứ 12 : Trong ngục thất quê hương ấy, có những bộ xương thôi tập khóc cười.."

Miền Bắc XHCN đem quân xâm chiếm miền Nam để khống chế nơi đó bằng sự đô hộ hà khắc và tinh vi.

BỘ MẶT THÔN QUÊ MIỀN NAM

Có nhìn tận mắt, nghe tận nơi, mới hình dung được khuôn mặt miền Nam sau 32 năm dưới chế độ cọng sản. Ðể được trung thực - người viết ghi những điều thấy và nghe - không bình luận - tại những nơi đã đi qua. Thôn quê miền Nam - những làng xóm gần tỉnh lỵ quận lỵ đã có điện. Những làng xã xa xôi hẻo lánh vẫn còn sống trong sự tăm tối. Ðường sá có tu sửa phần nào..Ðường mòn đi sâu vào thôn xóm được lót bằng những tấm dalle lớn (đường xóm Cái nứa, Cái chuối xã Long Mỹ VL), xe Honda và xe đạp chạy qua được. "Cầu tre lắt lẻo", cầu khỉ được thay thế bằng cầu ván, cầu đúc (vật liệu nhẹ). Cầu tiêu công cộng trên sông các chợ quận (Cái bè, Cái răng ) nay không còn thấy nữa. Nhà cửa dọc theo bờ sông Cần Thơ - chen vào những nhà gạch ngói, nhà tôn - còn nhiều nhà lá nghèo nàn. Tương tự như vậy - dọc theo bờ sông Long hồ - một số nhà gạch nhỏ mới cất..xen kẻ những mái lá bạc màu. Vùng Trà ốp, Trà cú (Vĩnh Bình), chợ Thầy Phó (Vĩnh Long ) nhiều nhà gạch mới xây nhưng vẫn không thiếu nhà lá, nhà tôn. Ðường mòn chạy sâu vào thôn xóm vẫn còn đường đất lầy lội vào mùa mưa nước nổi..

Hai bên đường xe chạy từ Mỹ Tho, Cao Lãnh, Châu Ðốc, Hà Tiên, Rạch Giá, Cần Thơ. Nhìn chung - có một sự thay đổi rõ rệt. Nhà cửa, hàng quán dầy đặc, động cơ ồn ào, người ta chen chúc.. Cảm giác chung là ngột ngạt, khó thở. Những vườn cây xanh um bên đường đã biến mất..hoặc thụt sâu vào trong, không còn thấy nữa.Không còn vẻ đẹp thiên nhiên ngày nào của vườn xoài cát sai oằn, mát mắt vùng Cái Bè, An Hữu, vườn mận Hồng Ðào chạy dài hàng mấy cây số ở Trung Lương..

Dưới sông - từ kinh Vĩnh Tế chảy dài ra sông Tiền Giang - hai bên bờ toàn là nhà sàn, phía sau chống đỡ sơ sài bằng những trụ cây tràm. Mỗi nhà hoặc 2, 3 nhà đều có cầu tiêu tiểu bắc phía sau. Tắm rửa giặt giũ, múc nước lên uống, phóng uế - cũng cùng trên một dòng sông. Không có gì thay đổi. Làng Chàm còn gọi là chà Châu Giang cũng còn đó. Cũng nghèo như trước. Những chiếc ghe vừa dùng làm nhà ở, vừa là hồ nuôi cá.. Basa, cá điêu hồng v.v.. ở dọc bờ sông khá dài..Dường như ngành nầy hoạt động khá mạnh. Dọc trên những nhánh phụ lưu của 2 con sông Tiền và sông Hậu - người ta không còn thấy bóng dáng của những cô gái thướt tha trong chiếc áo bà ba và chiếc quần lãnh Mỹ A, chèo ghe tam bản, bơi xuồng như thời trước 75 nữa.. Hỏi một ông già tên Ph. tại Cái Răng, được trả lời : "û Ði lấy Ðại Hàn, Ðài Loan hết rồi ông ơi!" Tôi hỏi thêm : "Các cô gái có nghe nhiều người bị gạt bán vào ổ mãi dâm, nhiều cô gái bị chồng bắt làm lao động khổ sai, bị ngược đãi, đánh đập.. các cô gái nầy không sợ sao ông? - "û Biết hết - mấy cổ biết hết, báo Tuổi trẻ đăng hàng ngày. Nhưng cũng có những cô có chồng Ðại Hàn, cho tiền cha mẹ xây nhà gạch. Cô khác thấy vậy ham. Phần nghèo, phần không có việc làm kinh niên. Họ liều đó ông.Biết đâu gặp may." Câu chuyện gái Việt lấy chồng Ðại Hàn, Ðài Loan hiện không ai là không biết.

Tờ Tuổi trẻ - số ra ngày mùng 1 Tết năm Ðinh Hợi - trong bài : "Nỗi đau từ những con số"- có nói đến số phận của 65000 phụ nữ đang làm vợ những ông chồng Ðài Loan già, tàn tật đui mù, làm vợ tập thể cho cả gia đình cha lẫn con.Cũng do tờ báo nầy : "Tại một tổ chức kết hôn lậu, hàng chục cô gái đang "bày hàng" để 2 ông Hàn quốc tuyển chọn làm vợ và 118 cô gái khác đang nằm, ngồi, lố nhố chờ đến lượt mình " Và cũng do tờ Tuổi Trẻ số phát hành ngày 25-04-2007, viết : "Hơn 60 cô gái, tuổi từ 18 đến 20 từ miền Tây Nam bộ lên Saigòn để dự tuyển.Các chàng rể Hàn Quốc được quyền soi xem kỷ, chú ý đến cả từng vết thẹo trên thân thể cô gái.Dịch vụ môi giới hôn nhân lậu có chiều hướng gia tăng.Chỉ trong vòng nửa tháng mà Công An đã phát hiện 3 vụ môi giới hôn nhân trái phép ở quận 6, 10 và Tân Bình với gần 400 lượt cô gái hiện diện.Thậm chí - những cô gái được xe ôm chở tới địa điểm dồn dập gây náo loạn cả xóm".

Người viết có lần lang thang trên đường Nguyễn tri Phương tìm quán ăn cơm trưa, có chứng kiến tại chỗ :Từng cặp trai gái lố nhố xếp hàng đôi trước cửa một trường học, để lần lượt vào trong. Hỏi một người trung niên lái xe Honda ôm, được anh trả lời : "Ðó là những người con gái đi lấy chồng Ðài Loan và Ðại Hàn. Hàng bên trong là những đang làm thủ tục xuất ngoại theo chồng. Hàng bên ngoài là những người đang vào ký giấy hôn thú sau khi đã qua các cửa ải môi giới và thủ tục tuyển lựa". Tôi nhìn kỹ các cô gái nầy tuổi rất trẻ.. khoảng chừng 18 đến 20..đứng cặp với những anh Tàu già sồn sồn- có một người tàn tật. Không thấy có thanh niên trẻ. Nhìn cách ăn mặc và nghe họ nói chuyện - tôi đoán chừng họ đến từ miền Tây Nam Bộ. Ðây là tổ chức môi giới chánh thức có giấy phép hành nghề.

Song song với tổ chức chánh thức, còn có một tổ chức "môi giới hôn nhân lậu"- sự thật là một tổ chức buôn người, chuyên đi dụ dỗ trẻ em và gái, nói gạt là đi bán hàng hay đi làm việc tại các cơ xưởng ngoại quốc nhưng là để bán thẳng vào các ổ mãi dâm ở Kampuchia, Thái Lan, Ma cau.. để nơi đây huấn luyện trẻ em làm nô lệ tình dục..các cô gái làm điếm.. hoặc bán cho người Tàu bỏ tiền ra mua nô lệ.. Tất nhiên là phải có sự tiếp tay che chở ăn chia của Công An. Nói là lậu nhưng thật ra là nhan nhản xảy ra hằng tuần-thậm chí hằng ngày trước mặt dân chúng tại các quận Bình Thạnh, quận 11..Sàigòn.

Cho dù chánh thức hay lậu.. hậu quả cũng gần giống nhau. Chánh thức thì có giấy phép, có công an làm thủ tục, chánh phủ thu tiền lệ phí. Lậu thì lén lút với sự che chở của Công An. Hậu quả gần giống nhau. Nhiều cô gái về làm vợ mấy tên Ðài Loan, Ðại Hàn bị ngược đãi, đánh đập tàn nhẫn - ban ngày làm nô dịch.. ban đêm phục vụ tình dục.. rồi bán vào động mãi dâm lấy tiền gở vốn lại..( Trại cứu giúp nạn nhân của cha Hùng ở Ðài Bắc là một bằng chứng ) Còn lậu thì.. bán thẳng vào ổ điếm. Biết bao nhiêu thảm cảnh.. biết bao nhiêu bi kịch thương tâm làm rúng động lương tâm nhân loại.Cựu Quốc Trưởng Sihanouk không giấu được nỗi xót xa trước thảm cảnh người phụ nữ Miên làm vợ mấy thằng Tàu..lên tiếng kêu gọi họ trở về nước. Không thấy Việt Nam nói nửa lời! Những cô gái nầy có biết những thảm kịch đau thương, những sự hành hạ, ngược đãi, đánh đập.. nầy khi lấy chồng Ðài Loan, Ðại Hàn không? Có bị cưỡng bức, bị dụ dỗ hay tự nguyện? Cha mẹ có đồng ý hay cản trở? Nguyên nhân nào đã thúc đẩy họ dấn thân vào con đường hiểm nguy, tương lai mù mịt..?

Trừ những trường hợp bị dụ dỗ qua đường dây buôn người - những người con gái này thật sự là họ TỰ NGUYỆN. Họ còn phải vay tiền mua sắm, ăn diện, hối lộ để được giới thiệu. Nhưng nguyên nhân nào thúc đẩy họ đi lấy chồng Ðài Loan, Ðại Hàn?

Có thể có nhiều nguyên nhân phức tạp. Phó thường dân tôi chỉ đưa ra vài nhận định thiển cận như sau : Quá nhiều chương trình ngăn chống lũ lụt, chương trình công nghiệp hóa, đô thị hóa..vừa bãi, không được nghiên cứu cẩn trọng.. đất đai canh tác bị thu hẹp. Dân số gia tăng..Khối lượng đông đảo người miền Trung, Bắc XHCN tràn vào.. Nông dân miền Nam thiếu đất canh tác.. Các cô gái miền Tây.. quẫn bách vì không có việc làm kinh niên - cuộc sống vô vọng mịt mờ - có nhiều trường hợp bị thúc đẩy vì cha mẹ mắng nhiếc, đay nghiến..khi so sánh con gái mình với cô con gái làng bên có chồng Ðại Hàn mang tiền về xây nhà gạch cho cha mẹ.Và cũng vì hấp thụ một nền giáo dục của chế độ CS ( sinh sau 75 ) - những người trẻ tuổi không có ý niệm về luân lý đạo đức cũ.. thang giá trị bị đảo lộn.. nên họ không đặt nặng danh dự, sĩ diện như thời trước.. Do vậy - khi bị dồn vào đường cùng.. họ đành đánh liều nhắm mắt đưa chưn.. Nhưng động lực chánh là nghèo..

NGHÈO...

Là nguyên nhân chánh đưa đẩy các cô gái miền Tây Nam Bộ đi lấy chồng Ðại Hàn và Ðài Loan... để hy vọng thoát khỏi cảnh đời cơ cực, vô vọng không lối thoát.. Thế nhưng tại sao đồng bằng sông Cửu Long (ÐBSCL) - vựa lúa nuôi sống cả nước - sau 32 năm dưới chế độ CS lại trở nên nghèo như vậy - nghèo hơn cả đồng bằng sông Hồng (ÐBSH)? Theo tiêu chuẩn nghèo từng vùng của Tổng cục thống kê Việt Nam - thì tỷ lệ ÐBSCL năm 1998 : ÐBSC : 37%. ÐBSH : 29%. Năm 2002 : ÐBSCL : 13 %. ÐBSH : 9%.(Nhà x.b Thống kê - Hànội, trang 13 - LVB trích
dẫn ).

Dù theo tiêu chuẩn nào : tiền tệ ( tính bắng tiền hay bằng gạo) - mức sống ( bao gồm lương thực, nhà ờ, mức sống văn hóa ) - ÐBSCL vẫn nghèo hơn ÐBSH - bởi lẽ khi nghèo về lương thực - thì khó có thể giàu về nhà ở và đời sống văn hóa.

Ðó là cái nghèo mà anh Lâm văn Bé đã nhìn qua những con số có giá trị của những chương trình nghiên cứu thống kê khoa học. Và sau đây là cái nghèo miền Nam qua cái nhìn tận mắt, nghe tận nơi của người viết : Cái nghèo ở Việt Nam bao gồm cả thành thị lẫn thôn quê là cái nghèo thiếu trước hụt sau, ăn bữa sáng lo bữa chiều - cái nghèo của một nông dân, nhà dột nát.. khi trời mưa lúc ban đêm..không có chỗ để nằm phải tìm một góc nhà, phủ cái mền rách lên người ngồi run cằm cặp.. trước từng cơn gió lạnh buốt lùa vào căn nhà trống hốc... Cái nghèo của một người đi mượn tiền, mượn gạo.. tới ngày hẹn không tiền trả.. Cái nghèo của một thanh niên thất nghiệp.. cha bị lao phổi không tiền mua thuốc nằm ho sù sụ..mẹ bơi xuồng đi bán bắp nấu không đủ gạo cho một đàn con 4 đứa, mũi dãi lòng thòng đang bốc đất cát chơi ngoài sân.

Tục ngữ bình dân có câu : Ít ai giàu 3 họ, khó 3 đời.- Có. Tôi quen biết ông Sáu S. làm nghề chài lưới.. ở sông Long Hồ. Ðời con là anh Tư Te tiếp nối nghề nầy : nghề đi nhủi tép.. Và trên bờ sông Long Hồ năm nay ( 2007 ) tôi thấy vợ chồng một cậu thanh niên tên M. vừa cặp xuồng vào bến, đem miệng nhủi còn dính đầy rong rêu phơi trên mái nhà lá đã nhuộm màu thời gian bạc thếch.. Hỏi thăm thì té ra là con của Tư Te.Ðời ông nội - nghèo! Ðời cha nghèo! Ðời cháu cũng nghèo! Khó 3 đời đó. Cọng Sản đổi đời cho người giàu thành nghèo - không đổi đời cho người nghèo thành giàu.Người nghèo vẫn tiếp tục nghèo. Nói chung thì nông dân Việt Nam chiếm 85% dân số mà đất không đủ để canh tác - còn công nghiệp không có khả năng biến nông dân thành thợ thuyền..trong khi dân số lại gia tăng quá tải. Cho nên thất nghiệp không thể tránh. Nghèo là hiện thực. Tiến sĩ Lê đăng Doanh trong một bài phổ biến trên mạng, viết : "Nông dân đã nghèo, đất đã kém đi, nhưng mỗi năm thêm 1 triệu miệng ăn, lấy đâu ra mà ăn. Lao động vất vả mỗi ngày trên 8m2 đất thì lấy gì mà giàu có được? "

MIỀN NAM - 32 NĂM DƯỚI CHẾ ÐÔ C.S.

Kinh tế Việt Nam - trong đó có miền Nam - có chút tiến bộ - so từ thời kỳ bao cấp đến thời kỳ mở cửa. Nhưng chỉ là tiến bộ với chính mình. Ðối với các nước khác trong vùng thì còn lẹt đẹt.. cầm lồng đèn đỏ... Và điều quan trọng là sự phát triển nầy có đem lại phúc lợi cho dân chúng qua sự tái phân lợi tức quốc gia, để tài trợ các chương trình y tế, giáo dục - các chương trình tạo công ăn việc làm, phát triển nông nghiệp, xây dựng hạ tầng cơ sở hay không? Hay là phát triển bằng những con số báo cáo rỗng tuếch? Lợi tức tạo được đã bị cả hệ thống của những con virus tham nhũng đục nát cơ thể.. Và hiện tại - muốn phát triển công nghiệp - nhà cầm quyền địa phương - theo lệnh Ðảng - mở rộng khu công nghiệp, khu du lịch, đã quy hoạch lấy đất, phá mồ phá mả, chiếm nhà dân một cách bạo ngược.. Lòng dân phẫn uất, kêu la than khóc.. Oán hận ngút trời xanh! ( 19 Tỉnh miền Nam biểu tình khiếu kiện trước trụ sở quốc hội 2 Sàgòn ). Như vậy có gọi là phát triển không?

KẾT LUẬN

- 32 năm nhìn lại :Người ta thấy miền Bắc đã "giải phóng" dân Sàigòn ra khỏi đất đai, nhà cửa của họ. Họ phải rút vô hẻm, ra ngoại ô hay về quê bằng nhiều chánh sách khác nhau. "Giải phóng" miền ÐBSCL ra khỏi sự trù phú do thiên nhiên ưu đãi từ nhiều thế kỷ."Giải phóng"quân nhân, viên chức chế độ cũ ra khỏi nhà, để đưa họ vào các trại tù cải tạo hoặc đẩy họ ra biển..."Ư Giải phóng" phụ nữ miền Tây, để họ được tự do đi làm "vợ nô lệ", đi làm điếm ở Kampuchia, TháiLan..

- 32 năm nhìn lại : Người ta thấy Việt Nam trở lại thời kỳ mua bán nô lệ như thời Trung cổ.Phụ nữ Việt Nam bị bán đấu giá trên E-bay Taiwan website(2003) - bị trưng bày trong lồng kính, cũng để bán đấu giá như một con súc vật ở Singapour (2005). Chỉ trong năm 2005 - có khoản 400.000 phụ nữ và trẻ em bị bán ra ngoại quốc. (Theo UNI CEF - LHQ và Bộ Tư Pháp Việt Nam )

- 32 năm nhìn lại : Mượn lời nhà báo Claude Allegre, báo L'expresse ngày 29-8-2002 :"Người ta không thể cho qua một cách im lặng những Khơ me đỏ, những trại tập trung ở Cambodia và những cuộc tàn sát man rợ ở đó. Và Việt Nam không được biết đến như là một chế độ nhân đạo hơn.Dưới cái cớ là dân tộc can đảm nầy đã chiến thắng các siêu cường quốc - người ta đi đến chỗ quên đi một nền độc tài đẫm máu đang thực thi trên xứ sở đó "

- 32 năm nhìn lại : Miền Bắc XHCN rõ ràng đã thiết lập một nền đô hộ miền Nam - khắc nghiệt, tinh vi hơn cả thời Pháp thuộc.

Và điều quan trọng trên hết là Việt Nam đang đứng trước hiểm họa mất nước.Một đảng viên kỳ cựu của chế độ Cộng sản lên tiếng cảnh cáo :"Việt Nam đang đứng trước hiểm họa mất nước.Mất cả đất đai, sông núi và dân tộc.Việt Nam sẽ trở thành một tỉnh lẻ của Tàu".

Người việt hải ngoại - Nguyễn văn Trấn

Post Reply