Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày

Cho đuổi mèo, mèo rượt chuột, chuột sa chỉnh gạo, gạo tải vô xe... thế rồi... xe cán chó!!!

Moderators: CNN, khieulong

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Paris By Night 90 “Chân Dung Người Phụ Nữ Việt Nam”

Việt Báo Thứ Sáu, 9/7/2007



Long Beach Convention Center, 300 East Ocean Blvd, Long Beach, CA 90802.

Thứ Bảy 15-9-07

Cũng vẫn với sự điều khiển của MC Nguyễn Ngọc Ngạn và Nguyễn Cao Kỳ Duyên, cũng vẫn có sự góp mặt của các tài danh: Khánh Lý, Khánh Hà, Hoàng Oanh, Họa Mi, Ý Lan, Lưu Bích, Minh Tuyết, Trần Thu Hà, Loan Châu, Thanh Trúc, Hương Thủy, Hồ Lệ Thu, Tú Quyên, Bảo Hân, Tâm Đoan, Như Loan, Ngọc Liên, Mai Thiên Vân, Quỳnh Vi, Hương Giang, Quỳnh Dung, Nguyễn Hưng, Thế Sơn, Bằng Kiều, Quang Lê, Trần Thái Hòa, Trịnh Lam, MạnhQuỳnh, Lương Tùng Quang, Dương Triệu Vũ, Tiến Dũng, Mai Quốc Huy, Ngọc Đan Thanh, Kiều Oanh, Kiều Linh, Lê Tín…nhưng Chương Trình Paris By Night 90 lần này hết sức đặc sắc vì mang nội dung “Chân Dung Người Phụ Nữ Việt Nam,” đặc biệt trong mùa Vu Lan năm nay.

Nói đến người phụ nữ VN là nói đến cái đẹp, cái duyên dáng, nết đằm thắm, thùy mị, đoan trang, cả sự hy sinh, lo toan trải qua nhiều thế hệ. “Chân Dung Người Phụ Nữ Việt Nam” lần này qui tụ các tài danh lớn ở Quận Cam sẽ trình diễn những ca khúc làm nức lòng khán giả bằng cách khai thác kho tàng vô giá về những nét đẹp của người phụ nữ VN. Không chỉ thế, Chương Trình Paris By Night 90 còn đề cập tới một chân dung người phụ nữ mới trong thế giới văn minh của thời đại, thể hiện qua bài báo “Người Phụ Nữ Độc Lập” của tác giả Bùi Bích Hà như sau:

…Những người phụ nữ VN xuất ngoại để gặp lại hay để theo chồng con họ, hy vọng vào một cuộc sống tốt đẹp hơn. Cũng có những chị ra đi một mình để thoát khỏi sự đè nén, áp bức từ chế độ hay hủ tục xã hội. Nơi xứ người, phần đông các chị cố gắng duy trì các giá trị truyền thống mang đi từ quê hương trong lúc con gái của các chị thấy chúng phải đối phó với quá nhiều khó khăn nhằm dung hòa hai nguồn tác động Âu Á hàng ngày chi phối chúng. Làm sao có thể vừa hội nhập lối sống của người bản địa vừa gắn mình vào nề nếp gia phong cũ? Các cô “quậy” vì bản thân chúng không biết lựa chọn thế nào. Nhờ vào trình độ học vấn cao hơn, các cô có khả năng tài chánh đủ mạnh để khó mà quay lại nếp sống lệ thuộc trước đây, sau ngưỡng cửa gia đình. Lịch sử di dân của cộng đồng Việt nam khắc họa trong lòng mọi người nỗi đau bị dằng xé giữa gốc gác, nguồn cội và những điều họ phải làm để sinh tồn. Có cách nào tôn trọng, gìn giữ được nề nếp gia phong ngay giữa một xã hội tuyệt đối đề cao chủ nghĩa cá nhân và mọi thể hiện nhằm biểu lộ chính cá nhân ấy?

* Hôn Nhân: trói buộc hay giải phóng?

Cho dầu giờ đây không ai còn nói đến hôn nhân ép buộc nữa nhưng các cô thiếu nữ Việt Nam vẫn ở trong một tình huống tâm lý giao động. Tình trạng các cô phải ở độc thân cho tới khi kết hôn là một vấn đề tế nhị của cộng đồng. Con gái các gia đình di dân cố gắng hết sức họ để không làm trái lại các nguyên tắc có tính văn hóa dân tộc nhưng đồng thời cũng lại muốn hưởng thụ đời sống hệt như các bạn gái Âu Mỹ của họ. Một số cô nhìn thấy trong hôn nhân sự thoát ly êm đẹp khỏi gông cùm của cha mẹ. Trường hợp này, tất nhiên, cuộc hôn nhân phải tuân thủ nề nếp gia đình, chú rể phải đáp ứng các tiêu chuẩn của cha mẹ vợ. Nói như vậy, có nghĩa là ngày càng ít đi những cô dâu trẻ chọn lựa giải pháp này bởi vì không có gì nguy hiểm hơn là tránh đi sự kềm kẹp này lại rơi ngay vào sự kềm kẹp khác. Từng lớn lên trong một gia đình công nhận vai trò rất quyền uy của người cha, các cô hiểu rõ rằng họ sẽ phải đối đầu gay gắt với người phối ngẫu trong tương lai. Tuy nhiên, xã hội mới cho họ nhiều phong cách sống mới, nhiều cái nhìn mới đưa đến cách đánh giá mới sự việc quanh họ, ít khắc nghiệt hơn trong quan hệ trai gái và ngay cả kinh nghiệm gối chăn trong quan hệ này. Từ đây, người ta ghi nhận một bước lùi thật xa về tuổi kết hôn của các cô gái cùng lúc với trình độ học vấn cao hơn nơi họ. Có kiến thức và độc lập, nữ giới thấy họ có điều kiện lựa chọn hôn nhân theo ý muốn với người bạn trăm năm như họ mong đợi, đánh đổ thành kiến “ế ẩm” đã hoàn toàn lỗi thời.

* Học Vấn, động lực chính đưa tới độc lập

Học vấn làm thay đổi mơ ước thăng tiến của người phụ nữ bất luận xuất xứ họ từ đâu tới. Học vấn đại học mở ra trước mắt họ những chân trời xa và nhu cầu vượt lên. Quan niệm của họ về gia đình không còn giống với thế hệ cha mẹ. Tỷ lệ nghịch với con số sinh sản giảm đi, con số phụ nữ theo đuổi kinh doanh gia tăng. Trong cương vị các nhà buôn lớn nhỏ, giám đốc các cơ xưởng kỹ nghệ hoặc dịch vụ, các nhà khoa học, nữ giới Việt Nam chói lòa trên nhiều bình diện xã hội. Kết quả cuộc nghiên cứu của Fonds d’Action Sociale (Âu châu) cho thấy, phụ nữ di dân hướng hoạt động của họ vào mục đích đạt tới một vị thế xã hội hơn là chuyên chú làm giàu. Họ muốn chứng tỏ tư cách độc lập hơn là chỉ có danh hiệu “tư bản.”

Sự độc lập bằng con đường tri thức chính là lý do khiến đông đảo các thiếu nữ của cộng đồng Việt nam lao vào các trường học và làm việc hăng say. Vấn đề còn lại là liệu thế hệ phụ nữ này, tới lượt họ, sẽ dạy dỗ con cái thuộc thế hệ thứ ba thế nào một khi vẫn biết độc lập thì rất qúy đấy song cái giá phải trả cho nó có nên là sự chối bỏ toàn diện các giá trị văn hoá căn bản của dân tộc chăng?

Chắc hẳn là tất cả chúng ta chưa ai thôi tự đặt cho mình những câu hỏi chưa có lời giải đáp dứt khoát này…




----
band4 3G McKeno

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Mặt Trận Miền Tây Vẫn Chưa Yên Tỉnh
Nguyễn Ngọc Bích

Kính nhờ quý Báo Chí và quý Văn Thi Hữu
tiếp tay phổ biến bài và phần tài liệu bên dưới
vừa cập nhật hóa xong [9.9.2007-2 giờ chiều]
về chuyện “Lá cờ của chúng ta”
Đa tạ



Xa lộ 22 nối liền thành phố Calgary với thị xã Sundre nằm về phía bắc khoảng 130 km. Con đường nầy tôi đã đi lại lắm lần nhưng lần nầy tự nhiên tôi thấy lạ: hôm nay tôi đi … tranh đấu cho lá cờ vàng ba sọc đỏ thân yêu!



Tôi mượn lời của Thanh Tịnh để mở đầu cho câu chuyện mới vừa xảy ra tại một thị xã nhỏ bé ở tỉnh Alberta , Canada . Trận chiến cờ vàng ở nơi đây kéo dài 105 ngày tuy không sôi động như trận chiến cờ máu 52 ngày đêm ở Little Saigon vào năm 1999 nhưng không kém phần hồi hộp vì cộng đồng người Việt khắp nơi trên thế giới đã cùng anh chị em chúng tôi tại Alberta tham gia trong mặt trận miền Tây nầy.


Sundre là một thị xã nhỏ bé với dân số khoảng 2500 người sống bằng nông nghiệp, chăn nuôi, lâm sản và khai thác dầu hỏa và khí đốt. Vào đầu thập niên 80, anh Trần Nam từ trại tị nạn đến đây lập nghiệp dưới sự bảo trợ của gia đình Ed Morgan. Anh sống bằng nghề sửa xe hơi ở đây trên dưới 7 năm và sau đó dọn hẳn về Calgary cho đến ngày nay. Hiện giờ chỉ có một vài người Việt sống tại thị xã nầy.


Image

Vào năm 1984, anh Nam có sáng kiến mua lại một trong số 11 cột cờ quốc tế tại công viên ở lối vào thị xã bên cạnh dòng sông Red Deer thơ mộng với giá 125 dollars Canada, một số tiền đáng kể so với lợi tức của gia đình anh thời bấy giờ. Anh Trần Nam quả là một người Việt đặc biệt. Anh là người Việt duy nhất trên thế giới làm chủ một cột cờ nơi công cộng. Tôi không hình dung được phản ứng của vợ anh, chị Kim, khi anh cho hay là nhân dịp sinh nhật của chị (hay anniversary) "thay vì mua nhẫn hột xoàn quá tầm thường, anh tặng em nguyên cả một cột cờ cao chót vót".


Lá cờ Việt Nam Cộng Hòa anh tặng cho thị xã Sundre vào năm 1984 là lá cờ vàng được treo nơi công cộng đầu tiên trên thế giới từ sau năm 1975. Anh Trần Nam và thị xã Sundre đã làm nên lịch sử trong mặt trận cờ vàng. Mãi đến cuối thập niên 90 ta mới thấy cờ vàng bắt đầu tung bay ngạo nghễ trên 11 tiểu bang và trên 100 thành phố và quận hạt ở Hoa Kỳ và nhiều nơi trên thế giới, trước sự căm tức điên cuồng của các tòa đại sứ cộng sản. Riêng tại Calgary , lá cờ vàng cũng được góp mặt với các lá cờ quốc tế, vài năm sau Sundre tại khu vực thương mại chính của người Việt trên đại lộ International Avenue ( 17th Ave. SE ). Có lẽ người dân Canada gốc Việt tại đây có phần khiêm tốn không quảng cáo nhiều về thành tích giương cờ vàng nầy cho bà con thế giới biết. Nhưng bây giờ thì ai cũng biết, nhất là Sứ Quán Việt Nam và bọn tay sai nằm vùng.


Với thời tiết khắc nghiệt mùa đông có khi xuống dưới trừ 40 độ Celsius, lá cờ vàng bị hư hại ít nhiều được anh Nam thay mới hàng năm. Vào ngày quốc khánh Canada (July 1), nhiều đồng bào ở Calgary lái xe lên tận Sundre cùng anh Nam hát quốc ca Canada và Việt Nam Cộng Hòa và kéo lá cờ mới lên trong không khí rất cảm động và hãnh diện của người Việt quốc gia tự do. Sau khi anh Nam về Calgary lập nghiệp, việc kéo là cờ mới hàng năm đươc trao lại cho cộng đồng người Việt và vẫn được duy trì với sự tham dự đều đặn và liên tục của anh Nam .


Cách thị xã Sundre vài chục km là nhà máy lọc gas (gas plant) của công ty Shell Canada ở làng Caroline. Với tư cách là kỹ sư trưởng về rỉ sét (head corrosion engineer), từ năm 1993 đến 1999, mỗi tuần một lần, tôi lái xe từ Calgary xuyên qua Sundre để đến nhà máy làm việc với nhân viên ờ đây suốt ngày. Tôi dừng lại ở Sundre để mua cà phê hay thức ăn trưa. Khi nhìn thấy lá cờ vàng tung bay ở Sundre, tôi thấy lòng mình ấm lên vì tìm lại được một chút hương vị của quê hương ở nơi xứ lạ. Ở Calgary, trừ anh Trần Nam và gia đình là cựu "thổ công Sundre" có lẽ tôi là người được nhìn thấy lá cờ vàng nầy nhiều nhất.


Ngày 1 tại mặt trận miền Tây:


Mặt trận miền Tây quá yên tĩnh cho đến tháng 5 năm 2007, “đặc công cộng sản” đột kích vào thành trì của chúng ta. Theo một nguồn tin riêng, có một kẻ nằm vùng tại Calgary, ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản, đã rỉ tai với một ông nghị viên thị xã rằng, cờ vàng tung bay trên bầu trời Sundre 24 năm qua là cờ của một quốc gia không còn hiện hữu nữa. Hội đồng thị xã tá hỏa tam tinh, truy hết Websites nầy, Encyclopedia nọ không thấy dấu vết của cờ vàng đâu cả nên đành phải ra quyết định kéo cờ vàng xuống trong phiên họp ngày 14 tháng 5, 2007 và cũng để gỡ gạc chút ít, sẽ cho cờ vàng vào an trí vĩnh viễn tại viện bảo tàng thị xã.

Hay được tin không lành nầy, Hội Người Việt tại Calgary cấp tốc họp cùng nhiều hội đoàn và các thiện nguyện viên để thành lập một binh đoàn "tái chiếm" ngọn cờ mới bị mất. Cựu "thổ công [địa] Trần Nam lãnh vai "trinh sát", liên lạc với dân địa phương để tìm sự ủng hộ, sắp xếp gặp gỡ với Hội đồng thị xã. Tôi được giao trọng trách dùng ba tấc lưỡi Tô Tần trình bày trước Hội đồng thị xã nguyện vọng của cộng đồng người Việt muốn thấy lá cờ vàng thân yêu góp mặt với cờ các nước khác trên nền trời Sundre mãi mãi. Cách đây 2 năm, chúng tôi đã phải phản đối việc diễn hành Stampede Parade với cờ máu của cộng sản (kết quả là họ phải bãi bỏ việc giương cờ máu và cả cờ của 200 quốc gia khác giống như UTA – University of Texas at Arlington năm vừa qua). Với “kinh nghiệm chiến trường” đó, tôi không thể nào từ chối được phần đóng góp của mình trong trận chiến quyết liệt nầy.


Trận đánh nầy không những có mặt anh em “bộ binh và biệt động quân” ở Calgary và Edmonton mà còn được “pháo binh và các phi vụ không quân” trên khắp thế giới yểm trợ. Từ Bác Nguyễn Hữu Phú 85 tuổi, cựu chủ tịch Hội NgườI Việt Calgary, đã trên 80 tuổi, cùng với đông đủ con cháu đến các bác tài lái xe, các chị (không thễ kể hết tên) lo ăn uống tham gia rất nhiệt tình. Các phái đoàn từ Edmonton không ngại đường xa, lái xe xuống Sundre để nhập trận. Liên Hội Người Việt Canada tại Ottawa, qua anh Lê Duy Cấn đã phổ biến tin tức, soạn các thư mẫu, kiến nghị lấy chữ ký, kêu gọi người Việt trên toàn thế giới gởi e-mail, Fax về Sundre, v.v. Hàng trăm e-mail đã gởi về, ngoại trừ thư của tòa đại sứ Việt Nam ở Ottawa, tất cả đều yêu cầu cho treo lại lá cờ vàng tự do.


Khi nhận trọng trách do cộng đồng giao phó, phái đoàn Calgary tìm hiểu những thuận lợi và khó khăn trong trận đánh nầy. Đã có nhiều tiền lệ cho cờ vàng không cần phải dựa vào "diplomatic protocols" thí dụ như cuộc diễn hành văn hóa hàng năm tại thành phố New York do Liên Hiệp Quốc tổ chức từ nhiều năm nay trong đó cờ vàng được nhìn nhận là cờ đại diện cho cộng người Việt gốc Mỹ dù cho Hà Nội phản đội dữ dội một cách vô ích. Chưa kể 11 tiểu bang và trên 100 thành phố lớn nhỏ kể cả San Francisco nơi mà cộng sản đặt tòa tổng lãnh sự. Nghị sĩ kiêm Bộ Trưởng liên bang Canada Jason Kenny tuyên bố vấn đề treo cờ là quyết định của địa phương; chánh phủ trung ương không can thiệp.


Điều bất lợi là trước đây thành phố Toronto đã hạ cờ vàng xuống; Hội Người Việt có thưa kiện ra trước tòa án nhưng bị xử thua phải trả án phí khá nặng. Khác với nhiều cộng đồng người Việt ở Mỹ, tại Sundre chỉ có vài ba người gốc Việt chưa đủ đông để các nghị viên chú ý về mặt thế lực chính trị. Anh Trần Nam có vận động được số dân địa phương ra trình bày trước thành phố, chúng tôi rất cảm kích tình cảm các vị nầy đã dành cho người Việt quốc gia.

Ngày 63 tại mặt trận miền Tây:

Ngày 16-7 là ngày chúng tôi thuyết trình trước Hội đồng thị xã lần đầu. Cả phái đoàn Calgary trên dưới 40 người ngồi đầy phòng họp, không đủ chỗ phải đứng ra ngoài hành lang (Thông thường trong những phiên họp như thế nầy chỉ có một phóng viên tờ báo địa phương và một, hai người khách có mặt). Tôi trình bày đầu tiên, cám ơn thị xã đã treo cờ suốt 24 năm qua, nói ý nghĩa của lá cờ vàng đối với người Việt, kể tên một vài nơi đã cho phép treo cờ vàng trong số 11 tiểu bang và trên 100 thành phố ở Mỹ, nhất là cuộc diễn hành văn hóa hàng năm ở New York, v.v. và sau cùng xin thị xã cho treo cờ trở lại. Tiếp theo là ông Gus Baron, từ Calgary và bà Esther Morgan, ở Sundre, trình bày ý kiến ủng hộ đề nghị của cộng đồng người Việt.

Sau khi lắng nghe, Ông Thị trưởng Roy Cummings cho biết đây là những dữ kiện mới mà thị xã chưa có trong kỳ họp trước và hứa là sẽ thảo luận trong nội bộ. Chúng tôi ra về, lòng phấn khởi đầy hi vọng tuy vẫn còn e ngại những đòn ma giáo mà bọn nằm vùng có thể tung ra.


Ngày 70 tại mặt trận miền Tây:

Hay tin sơ khởi về buổi họp nầy, Anh Lê Duy Cấn của Liên Hội Người Việt Canada cấp tốc ra thông báo ủng hộ, thảo bản kiến nghị lấy chữ ký, e-mail, Fax mẫu để đồng bào trên toàn thế giới tham gia mặt trận Miền Tây nầy. Dù thời gian cấp bách nhưng chúng tôi cũng thu được vài trăm chữ ký kịp cho buổi họp ngày 23-7. “Viện binh” đã lần lượt kéo về Sundre qua hàng trăm e-mail tới tấp bay về thị xã, tất cả đều ủng hộ cờ vàng. Đây là “pháo binh”, là ‘trận địa pháo”, là các “phi vụ oanh kích” làm cho hàng ngũ địch phải rúng động.



Kỳ ra quân thứ 2 nầy, phái đoàn chúng tôi cũng đông vào khoảng 40 người như lần trước. Tôi trình bày trước Hội đồng thị xã với một vũ khí mới có sức mạnh không thua gì cả phi đội pháo đài bay B-52, theo ý kiến riêng. Đó là bức hình "Vá Cờ" của nhiếp ảnh gia Nguyễn Ngọc Hạnh vào năm 1969. Trong trận đánh tại Phú Vân Lâu gần Huế, Việt Cộng phải rút lui sau nhiều ngày bao vây Tổng hành dinh một Sư Đoàn VNCH. Ngọn cờ vàng chiến thắng rách nát đã được vợ một người lính vô danh vá lại trước khi ngạo nghễ tung bay trên nền trời tự do. Khi ở lại với chồng, bà đã liều mạng sống để cùng người thân yêu bảo vệ Tổng hành dinh. Bà có thể chết tức tưởi nếu trúng đạn rơi như mưa và sẽ không ai biết đến chuyện nầy. Thi sĩ Nguyễn Thị Xuân Lộc đã diễn tả được hình ảnh tuyệt đẹp đó qua 2 câu thơ:

“Anh hy sinh, lá cờ in vết đạn
Em vá cờ, em vá mảnh giang san”


Hình ảnh người đàn bà giản dị và vô danh kia nhắn nhủ tôi vì sao chúng ta phải trân trọng lá cờ vàng: bên cạnh mỗi người chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã ngã gục hay vẫn còn đứng vững có biết bao nhiêu thường dân, nhất là phụ nữ, đã hy sinh mạng sống của mình cho lá cờ và cho nền tự do của đất nước. Đó là lý do mà tôi phải bảo vệ lá cờ nầy với tất cả trái tim tôi để xứng đáng với sự hy sinh của người đàn bà khả kính nầy.

Image

Tôi vừa trình bày vừa đưa bức hình (re-print) nầy cho hội trường xem với đầy cảm xúc nghẹn ngào xuất phát từ đáy lòng mình. Hình như trong phòng họp có vài phụ nữ Việt Nam cảm động và "mít ướt" hơn tôi. Các nghị viên thị xã cũng có vẻ cảm kích và hiểu được tại sao người Việt chúng ta có rất nhiều tình cảm gắn bó với lá cờ vàng.

Có 2 người dân Sundre phát biểu ý kiến ủng hộ chúng tôi. Ông Thị trưởng cho biết là sẽ có quyết định trong kỳ họp ngày 7-8-2007. Chúng tôi ra về với niềm hy vọng tràn trề.

Vài ngày sau đó Ông Thị Trưởng Roy Cummings tuyên bố ủng hộ việc treo lại lá cờ vàng vì lý do lịch sử và ý nghĩa tình cảm của lá cờ gắn liền với người dân đã từng cư ngụ nơi đây. Ông nói “It’s the right thing to do”!


Ngày 85 tại mặt trận miền Tây:

Chúng tôi đang nôn nóng chờ đợi thì được tin Hội đồng thị xã hoãn lại việc bỏ phiếu vì Ông nghị viên đề xuất việc hạ cờ trước đây đi vắng nên họ sẽ chờ ông về để biểu quyết cho đúng phép lịch sự. Chúng tôi vẫn còn lo Sứ quán Việt Nam và bọn tay sai nằm vùng có thể “phản pháo” vào giờ chót.


Ngày 105 tại mặt trận miền Tây: 27-8-2007


Vì bận đi xa nên tôi không có mặt tại Sundre trong ngày lịch sử 27-8-2007. Kỳ nầy có sự tăng viện của Hội Người Việt, Hội Cựu Quân Nhân và Hội Cao Niên Edmonton đã đi/về hơn 400 km đến với chúng tôi. Có người từ Airdrie và nơi khác nữa cũng đến đây yễm trợ. Xin cám ơn tất cả hơn 50 người đã có mặt tại đây kể cả bác Nguyễn Hữu Phú đã có chủ định tuyệt thực nếu lá cờ thân yêu không được phép tung bay trở lại!

Giờ phút mà ai nấy hồi hộp mong chờ suốt 105 ngày qua đã đến: Hội đồng thị xã quyết định với số phiếu 5 thuận, 1 chống. Theo lời thuật lại của những người có mặt tại phòng họp ngày hôm đó, mọi người vỗ tay hoan hô quyết định sáng suốt nầy. Tất cả kéo nhau ra trước sân văn phòng thị xã cùng hát quốc ca Canada và VNCH rồi chụp vô số hình lưu niệm bên lá cờ vàng ba sọc đỏ thân yêu. Không ai muốn ra về ngay vì quá đỗi mừng vui, sung sướng và cảm động không có bút mực nào có thể diễn tả hết được.


Image

Đến ngày 30-8-2007 thì ngọn cờ vàng đã lại tung bay trên trụ cờ quen thuộc tại Sundre. Anh Trần Nam , chị Kim cùng một số thân hữu lên tận nơi chụp hình lá cờ vàng bay phất phới và những hình nầy đã xuất hiện tức khắc trên Internet. Dĩ nhiên là Sứ Quán Việt Cộng điên tiết lên và phản đối ầm ĩ với giọng điệu tuyên truyền láo xược và dối trá thường lệ nhưng chẳng hề đe dọa được ai.

Trong niềm vui chiến thắng sau 105 ngày tranh đấu với sự đóng góp của rất nhiều bạn bè thân hữu khắp nơi, tôi bồi hồi nhớ lại từng ngày đã qua. Chúng ta vừa thắng thêm trận nầy nhưng cuộc chiến cho tự do và nhân quyền chưa chấm dứt. Ngày nào còn cộng sản độc tài hà hiếp dân lành trong nước, là sẽ còn những Sundre khác, sẽ có những mặt trận "không cờ" có khi còn ác liệt hơn. Cầu mong các chiến hữu khắp nơi của chúng tôi cũng sẽ luôn được yễm trợ toàn diện như đồng bào Calgary tại mặt trận miền Tây chưa yên tĩnh nầy.

Calgary ngày 6-9-2007

Nguyễn Ngọc Bích

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Những Cây Bút Giết Người

CHIÊU DƯƠNG .
Đao, thương, kiếm, kích, súng đạn...dĩ nhiên là dụng cụ dùng để giết người. Còn ngòi bút của văn nhân, ký giả có thể giết người không? Chắc không phải ngẫu nhiên mà người Mỹ thường nói, "mỗi tờ báo có sức mạnh bằng cả một sư đoàn"?

Nhiều người trong chúng ta chắc đã từng đọc truyện "BÚT MÁU" của nhà văn Vũ Hạnh, xin phép tóm tắt như sau:

Có một danh sĩ giàu có tên Lương Sinh, người Mãn châu, mà danh tài thi phú nổi tiếng khắp vùng, ai ai cũng biết. Nhân một chuyến ngao du sơn thủy, Sinh tình cờ tới một miền đất tiêu điều, dân cư thưa thớt. Quan Tổng trấn vùng nầy vốn là một tham quan tàn ác, đã hà hiếp, bóc lột dân lành, tạo nên biết bao oan khiên cao ngất. Nhưng Tổng trấn lại có một cô con gái xinh đẹp sắc sảo mà vừa thoáng thấy lòng Sinh đã ngất ngây, say đắm. Quan Tổng trấn vốn đã nghe danh tài tuấn của Sinh từ lâu nên ân cần mời mọc vào dinh, tiếp đãi hết sức nồng hậu với đủ thứ rượu nồng thịt béo. Quan tỏ vẻ đặc biệt kính trọng tài năng của Sinh. Hôm sau, quan còn tổ chức cuộc du xuân, đưa Sinh đi xem cảnh trí trong vùng. Nơi nào quan cũng cho thấy kỳ công của quan tạo lập cho dân: kia là dòng suối quanh co quan đã khai thông để dân lấy nước cày cấy; nọ là đồng ruộng bao la trước kia toàn là rừng rậm hoang vu quan đã tốn công khai phá cho dân trồng trọt.

Ngồi trên kiệu cao, Sinh nhìn theo ngón tay quan trỏ phía xa xa, mơ hồ thấy suối, thấy đồng nhiều vẻ khác màu (không giống như Sinh đã thấy trước đó không lâu), miệng không ngừng tán tụng. Hơi men nồng nàn, lòng Sinh chứa chan nhiệt tình đối với những bậc "dân chi phụ mẫu" mà xưa nay Sinh thường tỏ ý rẻ khinh. Đến đâu quan cũng xin Sinh lưu bút để cho khắc vào bia đá, cột đồng. Sinh phóng bút thao thao bất tuyệt. Mực thơm bút quý, lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu. Trước khi giả từ, Sinh còn lưu lại bài tán tổng kết công đức của quan để khắc vào chốn công đường, và bài minh, ký để ghi tạc vào mấy cổ hồng chung tại các tháp đền quy mô trong hạt. Quan còn tặng chàng một con ngựa bạch và mấy nén vàng...

Giữa mùa xuân ấy Sinh lâm bệnh nặng, nằm liệt suốt một tháng...Một sớm đang nằm, nghe tiếng chim hoàng oanh hót ngoài vườn vụt tắt, thấy một tia nắng lọt qua khe cửa chợt tàn...Sinh gọi đem nghiên bút và tập hoa tiên. Vừa cầm bút lên, sinh bỗng kinh ngạc. Nghiên mực đỏ tươi sắc máu. Thử chấm bút vào, lăn tròn ngọn bút đưa lên, bỗng thấy nhỏ xuống từng giọt, từng giọt máu thắm hồng như rỉ chảy từ tim. Khiếp đãm, sinh ngồi sửng sờ, tâm thần thác loạn. Cố viết đôi chữ lên giấy, nét chữ quánh lại, lợn cợn như giọt huyết khô trên cát. Sinh vội buông bút, tưởng chừng bàn tay cũng thấm đầy máu. Đưa lên ngang mũi, mùi tanh khủng khiếp. Quệt tay vào áo, đau nhói trong người. Sinh nằm vật xuống, mê mang bất tỉnh...

Người cậu của Sinh từ lâu đã vào trong núi Hoa Dương ở với đạo sĩ họ Trình, một hôm tạt về thăm nhà thấy cháu suy nhược, rất là lo lắng. Sau khi nghe sinh thuật hết những điều quái dị vừa qua, ông suy nghĩ hồi lâu rồi nói:

- Ta từng bảo cháu ngòi bút không phải không có oan khiên. Lưỡi gươm tuy ác mà có trách nhiệm rõ ràng, lỗi lầm tác hại cũng trong giới hạn. Mượn sự huyển hoặc của văn chương mà gây điều thiệt hại cho con người, tội ác của kẻ cầm bút xưa nay kể biết là bao, nhưng chẳng qua vì mờ mịt hư ảo mà không thấy rõ hay không muốn rõ mà thôi...Hãy xem có lỡ hứng bút đi lệch đường chăng? Soát lại cho mau, soát lại cho mau, chớ để chậm thêm ngày nào!

"Lương Sinh nghe xong bồi hồi tấc dạ, trí tuệ xem như minh mẫn hơn nhiều, cơn bệnh do đó lui được khá xa. Sinh đem mấy tập thi tuyển của mỉnh đọc lại từng câu, dò lại từng chữ....Bỗng sực nhớ đến những lời phóng bút viết cho quan Tổng trấn...Sinh quyết định trở lại chốn cũ để tìm hiểu sự thật. Sinh đến chốn cũ vào một buổi chiều nắng vàng thê lương phủ trên cảnh vật tiêu điều xơ xác. Qua khỏi dòng suối cạn, Sinh bước vào một thôn trang vắng vẻ, thưa thớt những mái tranh nghèo, không một bóng người. Đến một gò cỏ úa héo chợt thấy một người nông phu ủ rủ trước nấm mộ mới hiu hiu mấy nén hương tàn, Sinh dừng bước, lại gần ngồi một bên khẻ hỏi thăm cớ sự....

Người nông phu bỗng long lanh đôi mắt như không dằn được tấm lòng dồn nén bật lên những tiếng căm hờn:

- ...Đã bao năm rồi, sống dưới nanh vuốt của tên Tổng trấn họ Lý độc dữ hơn hùm beo, đồng ruộng gầy khô, dân lành đói rách. Đầu xuân nầy có khâm sai đi về, cụ thôn trưởng chúng tôi, mặc dù già yếu cũng quyết vì dân làm bản trần tình, cản đầu ngựa, níu bánh xe mà tỏ bày sự thật. Thế nhưng khâm sai đi khắp mọi nơi, chỗ nào cũng thấy bia đá cột đồng đầy lời hoa mỹ tán dương công đức Tổng trấn của thằng danh sĩ đốn mạt nào đó nên ném bản trần tình, không xét, bảo rằng:"Muôn ngàn lời nói của lũ dân đen vô học đâu bằng mấy vần từ điệu cao xa của kẻ danh nho. Danh sĩ bao giờ cũng biết tự trọng. Tổng trấn được hạng ấy tôn xưng, hẳn không phải bất tài". Thế đã thôi đâu, khâm sai đi rồi, Tổng trấn phái sai nha về tróc nã những người đã đầu đơn tố cáo nó. Bao người phải chết vì nổi cực hình thảm khốc, vợ góa con côi, một trời nước mắt, ruộng đồng từ nay đành để nuôi loài cỏ dại mà thôi!

Sinh chết điếng cả người, giây lát mới gượng gạo hỏi:

- Chẳng hay bác có biết...danh sĩ ấy tên gì không?

Người nông phu trợn trừng cặp mắt, gào lên:

- Làm gì mà biết! mà biết làm gì? Những hạng hiếu lợi hiếu danh, trốn trong từ chương để tiếp sức cho kẻ ác mà cứ tưởng mình thanh cao, hạng ấy thì đâu chẳng có! Dân làng đây ai cũng nguyền rủa hắn mà hắn có biết đâu! Nghĩ thương cho cụ trưởng tôi mấy lần đứng ra chịu nhận tội để cứu bao người mà chúng chẳng chịu tha, cứ việc tàn sát thẳng tay, lôi đi lớp người nầy rồi đến lớp người khác, nên khi bị dẫn qua đây cụ tự móc họng cho trào máu ra mà chết để khỏi bị đày đọa...

Người nông phu dừng lại nghẹn ngào rồi tiếp:

- Nhưng bao nhiêu người khổ ở đây, bao kẻ chết nơi kia còn đáng thương xót gấp trăm ngàn lần!

Đoạn cụ gục đầu trước mồ khóc than thảm thiết. Sinh cũng gục xuống hòa tiếng khóc theo...

Kể sơ lược câu chuyện trên đây, thầy Chơn Quang, trong cuốn "Luận Về Nhân Quả", đã nhận xét như sau:

Đời nay cũng vậy, nhiều kẻ trí thức cũng vì không nhận định kỹ đúng sai thiện ác, rồi vì sự mua chuộc bởi tình, tiền và địa vị đã dùng ngòi bút để gieo rắc sai lầm cho nhiều thế hệ mai sau. Những ngòi bút của họ đã là giông bão quay cuồng, thúc giục chiến tranh thù hận, đã là thuốc độc ghê gớm giết chết nghĩa nhân thiện lạc (...).Người cầm bút phải thấy trách nhiệm nặng như núi của mình, trước hết phải tâm nguyện đem ánh sáng của tình thương và chân lý thắp sáng giữa nhân sinh, quyết không vì tiền bạc địa vị mà nói sai lẽ phải...

Thiết tưởng không cần có thêm một lời bình nào nữa, bởi vì câu chuyện tự nó đã nói lên đầy đủ quá rồi. Ghi lại chuyện nầy, tôi chỉ tha thiết cầu mong những ai, vì lý do nào đó, đang sử dụng ngòi bút quý giá của mình để đổi trắng thay đen, tán dương "công đức" của một kẻ lưu manh chánh trị, tôn xưng hắn như thần thánh, như minh quân, ngang hàng vua Nghiêu, vua Thuấn, hãy mau mau dừng tay lại trước khi quá muộn. Dầu nay hắn đã thành một xác chết chưa chôn, linh hồn hắn chưa thể nào siêu thoát, đến nỗi con cháu hắn phải đưa hắn vô chùa, đặt bên Đức Phật từ bi để cho hắn ngày ngày được nghe tiếng kệ câu kinh mà ăn năn sám hối, nhưng hàng vạn oan hồn trong cải cách ruộng đất, trong Tết Mậu Thân, trong Mùa hè đỏ lửa, trên Đại lộ kinh hoàng...vẫn đang chờ đợi hắn ở thế giới bên kia. Hắn đã thoát khỏi công lý của thế gian, nhưng không thể nào thoát khỏi công lý của Trời. Tiếp tục ngợi ca tội ác là đồng lõa với tội ác, là gián tiếp giết người bằng chính ngòi bút cong quẹo của mình. Xin đừng tiếp tay với bọn cầm quyền lang sói để chúng tiếp tục chà đạp quyền sống, quyền làm người của 80 triệu đồng bào ruột thịt đáng thương xót của chúng ta.

Hãy biết bắt chước Lương Sinh, đưa ngòi bút lên mũi ngửi, để thấy mùi tanh của máu mà kinh sợ, và gục đầu nhỏ giọt lệ ăn năn...

CHIÊU DƯƠNG

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

NÚP BÓNG TỪ BI, MẠO DANH THIÊN CHÚA, PHỤC VỤ BÚA LIỀM

TRƯƠNG MINH HÒA.

Không cần phải dùng kiếng chiếu yêu hay" đêm giữa ban ngày", chỉ trừ những Tam Tạng thời đại hay những người mù, mất trí nhớ hoàn toàn mới không nhìn thấy và biết hiện tượng ma quái xâm nhập vào các tôn giáo ngày nay:

" Công đức tu hành, sư gốc Vẹm.
Hồng ân linh mục, chức đảng phong".

Tín ngưỡng là chỗ dựa vững chắc trong đời sống tâm linh của loài người, là sinh hoạt không thể thiếu, ảnh hưởng sâu rộng vào đời sống xã hội, chính trị, kinh tế, quan niệm sống, suy tư, phong tục tập quán...đối với hầu hết mọi dân tộc trên thế giới. Thời Bộ lạc, thần linh là chỗ dựa quyền lực toàn năng của các tù trưởng qua đại diện các thầy Mo, phù thủy trong việc cai trị người trong bộ tộc. Thời phong kiến, vua dựa vào tín ngưỡng là thượng đế, tự xưng là con trời sai xuống trần gian để cai trị dân, duy trì đế chế.

Tiêu biểu của tín ngưỡng là tôn giáo, được loài người sớm tiếp nhận, là quyền tự do tự nhiên thiêng liêng đã có, mặc nhiên công nhận từ thời ăn lông ở lổ cho đến ngày nay. Trong lịch sử nhân loại, chỉ có vài nơi xâm phạm tự do tín ngưỡng, như tại Việt Nam dưới thời Triều đình Huế, với chính sách bế quan tỏa cảng của một triều đình thiển cận qua việc cấm các nền đạo lạ vào nước Việt Nam truyền bá, đưa đến việc tàn sát các giáo sĩ Tây Phương và người địa phương theo đạo; nhưng đây chỉ là việc cấm đạo hạn chế, mang tính cách kỳ thị tôn giáo, chỉ áp dụng vào đạo Thiên Chúa mà thôi, còn Phật Giáo, Lão Giáo, Khổng Giáo, ngay cả thấy pháp, thầy bùa, thầy cúng...cũng được tự do hành đạo. Tuy nhiên, trên hành tinh nầy, chỉ có chế độ Cộng Sản là đàn áp tất cả các tôn giáo mà thôi, nhóm thiểu số vô thần nầy luôn coi tôn giáo là kẻ tử thù không đội trời chung như Karl Marx chủ trương:" tôn giáo là thuốc phiện", nên nước nào bị Cộng Sản cai trị đều có những chính sách tiêu diệt tôn giáo khắc nghiệt, tàn độc như nhau.

Tất cả các nước đều có sự hiện diện tôn giáo: Người Do Thái có Do Thái Giáo, các nước Âu, Mỹ có đa số theo đạo Thiên Chúa, Tin Lành, các nước Trung Đông theo Hồi Giáo, nhiều nước Á Châu như Trung Hoa, Thái Lan, Việt Nam, Nhật... theo Phật Giáo, Ấn Độ có Ấn Độ Giáo....do sự cần thiết trong sinh hoạt tâm linh, và tùy theo niềm tin, sự nhận thức của mỗi người, nên nhiều nước có nhiều tôn giáo hiện hữu, là tự do tín ngưỡng, sống hài hòa trong xã hội, thể hiện tinh thần" hòa đồng tôn giáo", vì tất cả các nền đạo đều luôn hướng dẫn con người làm điều thiện, tránh điều ác; ngay cả các nước bị Cộng Sản chiếm cũng còn tôn giáo hoạt động, nhưng bị trù dập, triệt hạ bằng những thủ đoạn tinh vi hầu tiêu diệt hết các hệ tư tưởng hữu thần, thay vào đó là tư tưởng vô thần với quỷ kinh Cộng Sản và những quỷ vương, quỷ sứ lãnh tụ như Hồ Chí Minh, Mao Trạch Đông, Kim Nhật Thành, Fidel Castro....trở thành Phật, thánh, thần Cộng Sản; họ được tôn thờ khắp nơi trong nước qua hình tượng, chân dung, và lời nói của những tên quỷ vương nầy được đồng đảng cho là chân lý, khuôn vàng thướt ngọc hơn cả lời Phật, Chúa, thánh hiền, được đảng Cộng Sản nhồi nhét vào đầu óc dân qua hệ thống truyền thông dối trá; đây là thứ thần thánh do đảng quỷ vô thần" tấn phong" với cái công đức" vô lượng" để thành thánh, thần được kết tụ từ những tội ác tày trời, chống lại nhân loại, các thánh thần nầy đã tiêu diệt hơn 100 triệu mạng người và ngày nay dù tà kinh Karl Marx đã bị nhân loại vứt vào sọt rác lịch sử sau khi đế quốc Đỏ Liên Sô, thánh địa của người Cộng Sản sụp đổ vào năm 1991, nhưng tàn dư vẫn còn tồn tại, hiện nay tiếp tục tước quyền tự do, quyền sống của hơn 1 tỷ người với 5 nước: Trung Cộng, Việt Nam, Bắc Hàn, Cu Ba, Lào. Do sự quan trọng của tín ngưỡng đối với con người, quốc gia, xã hội, nên đức thầy Huỳnh Phú Sổ, vị sáng lập Phật Giáo Hòa Hảo nhắc nhở qua hai câu thơ:

" Đời không đạo, đời vô liêm sĩ.
Đạo không đời, đạo biết dạy ai?"

Thật vậy, tôn giáo luôn gắng liền với sự tồn vong của đất nước, dân tộc, trong lịch sử chống ngoại xâm phương Bắc, Phật Giáo đóng góp nhiều công sức, như trường hợp đại sư Thượng Sĩ đời nhà Trần, khi giặc Nguyên sang xâm chiếm, Ngài cỡi áo cà sa, khoát chiến bào, sát cánh cùng toàn dân đánh giặc, xông pha chiến trường chẳng thau gì một chiến sĩ dũng cảm, đến khi giặc tan, trở về tu hành như cũ, điều mà Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ nhắn nhủ:" đất nước bình thân ta mới yên, bờ cõi lặn thân ta mới ấm" và Ngài có nhiều câu thơ như:

" Rứt áo cà sa khoát chiến bào.
Cũng vì đất nước quá thương đau"

Hay là:

" Tăng sĩ quyết chùa am bế cửa.
Tuốt gươm vàng lên ngựa xong pha.
Đền xong nợ nước thù nhà.
Thiền môn trở gót, Phật Đà Nam Mô"

Từ ngày có chủ thuyết Cộng Sản trên hành tình nầy, mà đại diện là các đảng Cộng Sản, khi họ nằm chính quyền, tất cả các tôn giáo đều" ĐỒNG QUI" một điểm là bị cùng chung số phận" ĐÀN ÁP". Bản chất của người theo tà thuyết vô thần Cộng Sản luôn thù ghét tôn giáo, nên họ áp dụng nhiều thủ đoạn thâm độc, vận dụng nhiều sách lược từ bạo lực, khủng bố đến xâm nhập, đánh phá, khuynh đảo với" mục đích yêu cầu sau cùng" là: xóa bỏ tất cả các tôn giáo, biến TÍN NGƯỠNG CỦA LOÀI NGƯỜI THÀNH LÒNG TIN TUYỆT ĐỐI VÀO ĐẢNG CỘNG SẢN; đó là lý do mà người Cộng Sản luôn gắng liền cái đuôi" chủ nghĩa Marx Lenin" vào tôn giáo, như" Phật, Công Giáo, Hòa Hảo, Cao Đài, Tin Lành... gắng liền với chủ nghĩa Marx Lenin" như" tình yêu nước gắng liền với xã hội chủ nghĩa"....Sau bao năm đàn áp, lũng đoạn, khuynh đảo các tôn giáo trong nước, khiến tín ngưỡng của dân tộc lâm vào cảnh khốn cùng, chưa từng thấy trong lịch sử, có khả năng tiêu diệt các tôn giáo khi người đi tu bị nhiều áp lực, điều kiện do đảng và nhà nước đề ra qua cánh tay nối dài Mặt Trận Tổ Quốc; theo thượng tọa Thích Thiện Minh, người tù lương thức tôn giáo cho biết là ngày nay bất ai muốn đi tu cũng phải được nhà nước chấp thuận, chứng nhận qua những điều kiện như: phải đi nghĩa vụ, làm công an 2 năm...nếu không, đi tu bị coi là bất hợp pháp, nên có cái gọi là" TU CHUI", một từ ngữ chưa bao giờ nghe ở bất cứ nơi nào trên thế giới, ngoại trừ các nước Cộng Sản.

Tu là việc cao quí, xuất phát từ tâm thức, lòng giác ngộ, chứ không phải là một nghề nghiệp, nhưng đảng Cộng Sản" cải tạo" coi việc tu hành giống như nghề như thợ mộc, thợ hồ, buôn bán, công nhân viên, công an, bộ đội....nhằm làm giảm giá trị, nhân cách, lý tưởng của giới tu sĩ, sau đó tiến đến" chủ yếu" là đánh tan những giá trị triết lý các tôn giáo đã có từ hàng ngàn năm qua. Trong một xã hội Cộng Sản với đầy dẫy tham ô, cửa quyền từ ngoài đời đến tôn giáo qua việc bổ nhiệm các vị trụ trì, linh mục trưởng giáo sứ do nhà nước quyết định, chưa bao giờ tôn giáo tại Việt Nam bị xuống cấp tàn tệ như thế: kẻ buôn bán lậu muốn thoát khỏi vòng luật pháp, thì phải lo lót tiền cho công an; còn tu sĩ tu chui muốn được an thân tu học, cũng phải biết điều lo lót tiền với các viên chức địa phương trong Mặt Trận Tổ Quốc khi họ đến" tham quan" với mục đích kiểm soát hay" hội ý" với những vị tu sĩ do nhà nước bổ nhiệm.

Một điều vô cùng nguy hiểm là trường đại học Công An, nơi đào tạo những tên ác ôn nghiệp chuyên khủng bố, có môn tôn giáo học, đào tạo và cung cấp những cán bộ công an tôn giáo, thông làu kinh kệ, lễ lạc, nghi thức và nhất là được trang bị tư tưởng ưu tiên hàng đầu chống tôn giáo là chủ nghĩa Marx Lenin để hành đạo theo" định hướng xã hội chủ nghĩa"; những cán bộ công an ngành tôn giáo được đảng đề cử, bổ nhiệm vào trụ trì các chùa do nhà nước quản lý sau khi đuổi những tu sĩ chân chính hay bắt bớ, giam cầm quản chế những vị lãnh đạo tinh thần có uy tín; do dó tại các tự viện thuộc giáo hội Phật Giáo Nhà Nước quản lý chặc chẻ, các trụ trì đúng là những" sư bí thư" hợp tác cùng với các bậc CHÂN TU nay thành CHÁN TU, lập lờ mượn Phật làm bình phong và bên trong thờ Bác, có nhiều thế lực, được đảng và nhà nước tin dùng; các nhà thờ do giáo hội Công Giáo quốc doanh thuộc các linh mục"chánh ủy" như Huỳnh Công Minh, Phan Khắc Từ, Trương Bá Cần...và những vị LINH MỌP ngả nghiêng vì lợi lộc cá nhân hơn vì đạo, vì Chúa; đó là những Juda thời đại, phản Chúa, hại giáo dân nhan nhản trong các nhà thờ hiện nay tại Việt Nam và xuất hiện tại các cộng đồng người Việt tỵ nạn hải ngoại với mục vụ lạc quyên rần rộ từ lâu với bộ áo nhà dòng.

Không ai có thể ngờ được một tôn giáo có qui cũ, hệ thống toàn cầu với tòa thánh La Mã, giáo luật chặc chẻ, đào tạo kỷ lưỡng tu sĩ như Công Giáo lại có một số linh mục phục và theo đảng như thế, như vậy cũng đủ thấy các tôn giáo trong nước bị đánh phá khủng khiếp đến mức độ báo động đỏ. Tà đạo có quyền thế, tài chánh dồi dào có khả năng lấn lướt, khuynh đảo chánh đạo.

" Trần Bá Cương, tức Trương Bá Cần.
Đã dạo thánh lễ , đạo giả nhân.
Dù tông đồ Chúa, dòng tu phá.
Vần thô kinh giảng, nịnh Vô Thần.
Đảng thương, ân huệ, lòng đương thản.
Láo đội" quỷ ma" lối đạo bần.
Lội lát ngược dòng, tu lạc lối.
Tân ước không tròn, Chúa tước ân".

Đánh phá, tiêu diệt tôn giáo, một kẻ thù không đội Trời chung với nhóm người Cộng Sản vô thần không phải là việc làm dễ dàng, đơn giản dù trong tay có chính quyền, bạo lực, công an, bộ đội, nhà tù.... Tôn giáo đã có mặt từ khi con người có nhận thức biết mình là sinh vật thượng đẳng trên trái đất, tức là con người không phải là thú vật, không phải là loài khỉ như người Cộng Sản tin tưởng theo lý thuyết duy vật Marx, được chứng minh dựa vào thuyết tiến hóa của nhà khoa học Darwin. Trên thế giới, có hàng trăm loài khỉ ở trong rừng, sở thú...nhưng có thấy loài khỉ nào rụng lông, hóa thành con người bao giờ?

Đó là cái không duy vật chút nào của triết học duy vật. Tôn giáo là kẻ thù thầm lặng, nhưng có sức mạnh vô lượng, khắp nơi, nên người Cộng Sản luôn đề cao cảnh giác, đồng thời tung nhiều thủ đoạn đánh phá; có thể nói là ngày nào còn tôn giáo là người Cộng Sản ăn ngũ không yên, họ có thể thành công trong việc dùng bạo lực đối với các thành phần" trí, phú, địa, hào" nhưng đối với tôn giáo, bạo lực không thể thắng, chẳng khác nào dùng gươm chém vào dòng nước. Sau nhiều năm áp dụng chính sách tiêu diệt tận gốc tôn giáo, vào thập niên 1990, đảng Cộng Sản Việt Nam bàng hoàng khi nhìn thấy đảng Cộng Sản Liên Sô, cái nôi của Cộng Sản Quốc Tế bị sụp đổ chỉ trong vòng 3 ngày; sau hơn 70 năm đàn áp tôn giáo dã man, sau cùng tôn giáo vẫn tồn tại, tức là càng bị đàn áp, con người càng tin vào tôn giáo mảnh liệt hơn, là chỗ dựa vững chắc mà dân Nga tồn tại trước bạo lực trong suốt thời gian dài bị thống trị.

Đảng Cộng Sản có thể tịch thu nhà thờ, chùa.... đập phá tượng Phật, giựt sập thánh giá và " hồ hởi phấn khởi" cho là: tôn giáo bị tiêu diệt toàn bộ. Tuy nhiên điều nầy hoàn toàn phản tác dụng, kết quả đi ngược lại. Vả lại làm như thế là gây chấn động, căm thù, chế độ khó tồn tại, nhất là thế giới lên án, các quốc gia có cùng một tôn giáo không thể án binh bất động khi nhìn thấy những giá trị thiêng liêng của họ bị đập phá; là điều vô cùng bất lợi cho đảng Cộng Sản trên chính trường, thương trường quốc tế. Thay vào đó là việc áp dụng những chính sách nhằm kiểm soát, thuần hóa các tôn giáo theo đảng, dần dần trở thành công cụ phục vụ cho đảng, là thượng sách trong" tương kế tựu kế" mà người Cộng Sản Việt Nam đã từng áp dụng trước đây: lợi dụng sức mạnh của các chánh đảng, lòng yêu nước của dân để phát động hai cuộc chiến: đánh Tây giành độc lập và đánh Mỹ cứu nước và sau cùng gom tất cả vào một mối.

Trong bất cứ xã hội nào cũng có kẻ xấu người tốt, ngay cả thượng giới cũng có câu" tiên mắc đọa" mà nhân vật tiêu biểu là Thiên Bồng Ngươn Soái Trư Bát Giới trong chuyện thần thoại Tây Du ký là một thí dụ điển hình; Thượng giới là nơi khó vào, được" thanh lọc" kỷ lưỡng về lý lịch, nhiều kiếp người, trải qua nhiều thử thách gian nan về đức hạnh, thế mà vẫn có những kẻ không hội đủ tiêu chuẩn lọt vào, nên câu" nhân vô thập toàn" là điều đương nhiên. Tu sĩ không phải là thần thánh, họ cũng có đời sống bình thường, chỉ khác qua lối ăn mặc và có một số qui luật sống, sinh hoạt, nên cũng có những sai phạm nhưng không nhiều, do đó nền đạo vẫn duy trì và phát triển mà nhiều người tin tưởng là: đạo luôn đúng, chỉ có người hành đạo làm sai mà thôi. Ngày nay, sau bao năm đất nước bị Cộng Sản cai trị, chưa bao giờ các tôn giáo có nhiều vị tu sĩ phá đạo, bê bối, hạnh kiểm không tốt như thế, nên bị mang tiếng quá nhiều; vì những kẻ xấu trà trộn, công an xâm nhập giả làm tu sĩ, họ thi nhau vơ vét tiền đóng góp của bá tánh, lợi dụng tín ngưỡng để thủ lợi cá nhân và phục vụ cho đảng trong việc tiêu diệt tôn giáo.

" Đời tận thế không lo chụp giựt.
Tu làm chi cho cực tấm thân.
Mai kia Chúa Phật ra đời.
Những thằng chụp giựt có phần ưu tiên"

( Những câu vè được phổ biến trong dân chúng từ thời miền Nam còn tự do trước 1975, chắc có lẽ do người ta đã nhìn thấy các sư, linh mục làm nhiều điều trái tai gai mắt nhằm thủ lợi cá nhân hay làm lợi cho giặc Cộng)

Ngày nay, những tu sĩ theo thời, gốc đảng là những kẻ" chụp giựt" như cán bộ, đảng viên nên được hưởng nhiều quyền lợi từ nơi tu hành đến ăn ở, đi đứng với xe cộ, xuất ngoại làm công tác với bình phong từ thiện, truyền đạo, hoằng pháp... Trước 1975 ở miền Nam, tôn giáo được tự do, nhưng đảng Cộng Sản đánh phá, làm ung thối ngay trong thành phần lãnh đạo tinh thần: Phật Giáo có khối Ấn Quang gây nhiều rối loạn từ đệ nhất sang đệ nhị Cộng Hòa, quậy phá cả hải ngoại với sư Nhất Hạnh trong phong trào phản chiến quốc tế. Công Giáo có nhóm linh mục Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan, Phan Khắc Từ....lập ra Ủy Ban Cải Thiện Chế Độ Lao Tù, hổ trợ bọn khủng bố Việt Cộng sa cơ sau khi thi hành tội ác giết người hàng loạt như Al Qaeda ngày nay.

Những hoạt động của các tu sĩ nầy đã đóng góp công sức cho Cộng Sản chiến thắng ngày 30-4-1975, khiến người có suy nghĩ chán ngán, từ đó họ không còn tôn kính các vị lãnh đạo tinh thần, có ảnh hưởng đến những vị tu hành chân chính khác, là sự kiện khó tránh khỏi qua câu tục ngữ:" con sâu làm sầu nồi canh". Âm mưu thâm độc trong việc triệt hạ các tôn giáo một cách thâm độc và có sách lược: Phật, Chúa, thì không thể đụng vào, nếu đụng vào là những tín đồ sẵn sàng đứng lên" tử vì đạo" đưa đến cuộc thánh chiến, có khả năng giựt sập chế độ một cách bất ngờ. Một điều quan trọng là các tu sĩ, giới được hầu hết các tín đồ tin tưởng, thương mến, họ được coi là những người thâm hiểu kinh điển, đại diện cho Phật, Chúa truyền bá đức tin, hoằng hóa đạo pháp, là những người gương mẫu, đạo đức hơn người khác và tín đồ, Phật Tử tin tưởng là sau khi chết được các vị đọc kinh cầu nguyện, cầu siêu là vong linh được siêu thoát" về với nước Chúa, hay tiêu diêu nơi miền Cực Lạc".

Từ đó các tín đồ có tập quán máy móc:" trọng Phật kính tăng, thương cha mến Chúa", tu sĩ là người hướng dẫn tâm linh từ lúc sống đến qua đời. Cộng Sản thừa biết lối suy nghĩ nầy, nên tìm cách triệt hạ các tu sĩ, đó là những thần tượng, lãnh đạo tinh thần, là đầu tàu hướng dẫn tôn giáo; mục đích của đảng Cộng Sản mong muốn kiểm soát, quản lý những đầu tàu nầy được" định hướng theo xã hội chủ nghĩa" dắt cả tín đồ, con chiên đi theo tấm bản chỉ đường" chủ nghĩa Marx Lenin". Tu sĩ là giới được đảng nhắm vào, là mục tiêu hàng đầu: nếu không thay thế bằng người của họ thì việc triệt hạ" uy tín, đạo đức" là thượng sách như kế" cầm tặc cầm vương".

Như thế, mục tiêu nhắm vào đạo đức cá nhân của các tu sĩ cũng nằm trong sách lược triệt hạ tôn giáo, khi tín đồ nhìn thấy các tu sĩ có đời sống bê bối thì lòng tin không còn nữa, đôi khi đưa đến sự khinh bỉ, chống đối, chế nhạo. Trong một tôn giáo nào có nhiều vị tu sĩ lãnh đạo tinh thần có đời sống không lành mạnh thì tôn giáo ấy đi dần đến chỗ suy vong là điều khó tránh khỏi. Hảy xem cuốn phim thần thoại Liên Sô được đảng Cộng Sản Việt Nam cho chiếu khắp nơi, kể cả trong các trai tù cải tạo về câu chuyện của một tên Lùn có nhiều bùa phép nhờ bộ râu dài; sau khi bị cắt đứt bộ râu dài, tên lùn mất hết phép thuật và trở thành vô dụng, nhưng không bị giết, được sử dụng như anh hề làm trò cười cho thiên hạ.

Cuốn phim nằm trong chính sách tuyên truyền triệt hạ tôn giáo, biến những" biểu tượng" là các tu sĩ thành những anh hề, làm trò tiêu khiển cho đời mà thôi. Ngoài ra các tu sĩ chân chính như huề thượng Thích Quảng Độ, Huyền Quang..., có nhiều uy tín từ quốc nội đến quốc tế, đảng không thể khuất phục đi theo, nên tìm cách bôi nhọ, vu khống bằng những chuyện bịa đặt trên hệ thống truyền thông, nhất là báo chí, đài phát thanh, nhằm đánh đổ uy tín của các vị tu sĩ nầy.

Triệt hạ" biểu tượng" tôn giáo là các tu sĩ, là mục tiêu hàng đầu, được thực hiện: đảng tìm mọi cách đưa ra cho công chúng biết những hình ảnh xấu của các tu sĩ như dâm dục, tham lam, bê bối, rượu chè....có thể được các cơ quan truyền thông của đảng như báo chí đưa lên, cũng có thể do cán bộ rỉ tai....sau 1975, một số tu sĩ" áo vàng đầu đỏ" nằm vùng thuộc khối Ấn Quang và các linh mục có công với" cách mạng" xuất hiện nơi trang đầu có các tờ báo đảng như: Nhân Dân, Saigon Giải Phóng, Tia Sáng ( của Ngô Công Đức), đưa hình ảnh của các linh mục Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan, Phan Khắc Từ...thượng tọa Thích Thiện Hào.....với bộ áo tu sĩ sang trọng, sạch sẽ, lại được trang bị thêm kiếng mát đeo mắt, nhởn nhơ đi " tham quan" Hà Nội, các thành phố vừa mới tiếp quản, sát cánh với những cán bộ cao cấp đi làm công tác; trong khi hàng triệu người dân miền Nam bị trù dập, cướp của, thân nhân đi tù cải tạo, bị đuổi về vùng kinh tế mới, cơm không đủ ăn, phải dùng khoai, sắn độn; áo không có mặc cho ấm, lành, con cháu bị bắt nghĩa vụ sang đất Miên để chết.....thì hình ảnh của các vị tu sĩ nầy thật là chướng mắt, nên các tín đồ thay đổi suy nghĩ, từ tôn kính đến khinh bỉ, từ thương yêu đến ghét, là bước đầu mà đảng Cộng Sản thành công trong sách lược tiêu diệt tôn giáo.

Ngoài ra tại nhiều nơi, một số thầy, cha đi xe du lịch rong chơi cùng với cán bộ địa phương đầy quyền lực, có khi lận cả súng lục K45 dưới lớp áo tu sĩ, có vị cố tình cho tín đồ nhìn thấy để thị huy...những thứ ấy làm cho nhiều tín đồ nghi ngờ, chán ngán và từ đó ngại đi chùa, nhà thờ, nên sau 1975 phát sinh ra giới" tu tại gia", được coi là những ngươi luôn có tấm lòng thành với Trời, Phật, Chúa, nhưng" ly khai" với các tu sĩ thân" cách mạng" để bảo vệ đức tin, tín ngưỡng. Đương nhiên là tín đồ, Phật Tự không dám nói năng, tâm sự điều gì với những vị thầy, cha, là thói quen trước đây, mỗi khi có vấn đề nan giải trước đây, tức là lòng tin tưởng vào các vị lãnh đạo tinh thần không còn nữa, thay vào đó là sự nghi ngờ là tai mắt của đảng và nhà nước, giống như công an mặc áo nhà tu hành vậy.

Những hình ảnh khó chấp nhận ấy được đảng cố tình khai thác cho dân biết, ngầm khuyến khích, tạo điều kiện cho một số linh mục, sư không tuân theo lề lối, giáo luật qua quan hệ tình cảm với người khác phái, ăn nhậu công khai, khách đến bày bia ra nhậu, nói năng bằng những từ ngữ thô tục như giới du đảng, du côn ngay trong các cơ sở tôn giáo; giới hạn giờ mở cửa các tự viện, nhà thờ như cơ quan nhà nước, biến cơ sở tôn giáo thành trung tâm du lịch, nhiều nơi chung quanh chùa, nhà thờ là những quán ăn nhậu ồn ào... gây khó chịu cho nhiều người, có thái độ khinh khi khách thập phương....do đó, giới tu sĩ ngày nay đã bị mất uy tín quá nhiều, là một thắng lợi bước đầu trong việc triệt hạ các tôn giáo. Sau thời gian dài qua nhiều thế hệ tín đồ, tu sĩ bị khinh khi qua lối sống không khác gì người thường, lại bị Cộng Sản khuynh đảo cài công an, cán bộ tôn giáo, biến các tự viện, nhà thờ thành nơi hổn tạp như cơ quan nhà nước, các tu sĩ lãnh đạo do đảng bổ nhiệm, phong chức, lãnh lương và có quyền hành, là những" công an, mật vụ" mặc áo cà sa, áo nhà dòng như linh mục Stanislaw.w. Wielgus ở Ba Lan, khiến giáo dân, tín đồ sợ, giảm dần sự quan hệ, biểu tượng đại diện cho tín ngưỡng bị đe dọa và mất dần chỗ đứng trong lòng mọi người; cuối cùng sau khi các tôn giáo hoàn toàn bị khống chế, tín đồ không tin vào tu sĩ nữa, là thời điểm thuận lợi cho đảng, họ sẽ ra tay tập trung cải tạo các tôn giáo, giựt sập hay xóa bỏ các cơ sở, là giai đoạn cuối để ăn mừng chiến thắng" giải phóng toàn bộ tôn giáo duy tâm siêu hình". Tức là tại Việt Nam, không còn bất cứ tôn giáo nào tồn tại, chỉ có Đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh là thứ tôn giáo vô thần duy nhất, phát huy nhờ bạo lực kiềm chế dân chúng. Trong tinh thần cảnh tỉnh, người viết xin có bài thơ sau đây:

"Pháo giật lòng ai?. PHẬT GIÁO say.
Thức nhóng chờ tin THỐNG NHẤT hoài
Tiền thu lắm kẻ tu thiền dạy.
Niết Bàn, địa ngục, nàng biết ngay.

Cao giống đạo Trời, CÔNG GIÁO đây.
Đức cha, học rộng, đa chức, tài.
THIÊN CHÚA quyết không hề thua chiến.
Thường đánh tà ma, thánh đường hay..

THIÊN NHẢN vập vùi, thản nhiên ai?
Cài đau xót dạ, đạo CAO ĐÀI
Tạo điên, Cộng Sản bôi tiên đạo.
ĐẠI ĐẠO TAM KỲ, đạo đại đây.

Đầy thức lòng ai, có Đức Thầy.
Đạp pháo công pha, đạo pháp xây.
Thôn miền an lạc, thiền môn ấm.
TỔ ĐÌNH vây bủa, tỉnh đồ nay?.

Sau hơn 20 năm cai trị miền Bắc và hơn 30 năm miền Nam, các tôn giáo bị trù dập tả tơi, nên tín đồ, Phật Tử, dân chúng khó phân biệt được tu sĩ nào chân chính hay cán bộ, công an giả dạng qua lớp áo, thật là vàng thau lẫn lộn. Tuy nhiên, đối với những người có chút nhận xét, không có lối tin máy móc, dễ nhận dạng ra những" ma quái" giả dạng nầy trong các giáo hội do nhà nước cho phép hoạt động. Trong khi các tu sĩ chân chính bị đàn áp như huề thượng Quảng Độ, Huyền Quang...linh mục Nguyễn Văn Lý.

Thì ở hải ngoại, từ nhiều năm qua, sư, linh mục rần rộ xuất ngoại, đến các cộng đồng người Việt tỵ nạn" rao giảng, hoằng pháp" qua hình thức thông thường, cũng là bình phong che đậy những mục tiêu thầm kín, dù họ không bao giờ nói ra nhưng mưu đồ ấy không nằm ngoài các mục đích yêu cầu" khẩn trương thời thượng" của đảng Cộng Sản Việt Nam trong công tác kiểm soát cả người Việt hải ngoại từ hành chánh với quỷ kế miễn Visa vào Việt Nam, đến thu tiền qua chính sách Kiều Vận và" quản lý" luôn phần tâm linh là chính sách tôn giáo vận; đây là mặt trận thầm lặng, ít được lưu ý nhưng" cực kỳ nguy hiểm" đã mở mặt trận tấn kích người Việt hải ngoại từ lâu, nay đang được chú ý và cảnh tỉnh.

Một điều dễ nhận ra là: trong thời buổi nguy nan hiện nay, tôn giáo bị đàn áp, hàng chục triệu tín đồ, Phật Tử trong nước rất cần các vị lãnh đạo tinh thần sát cánh cùng nhau chống lại quỷ đỏ vô thần; còn người Việt tỵ nạn hải ngoại đã có tự do tôn giáo, nên không cần sự hiện diện của các tu sĩ trong nước sang làm gì. Chẳng lẽ các nhà thờ, chùa...không có ai đủ khả năng, đức hạnh để giảng đạo, hoằng pháp hay sao? Tuy nhiên sự có mặt của các tu sĩ từ Việt Nam sang không nằm ngoài những" mục đích yêu cầu" mà đảng Cộng Sản luôn mong muốn trong việc kiểm soát người tỵ nạn bằng hình thức tôn giáo, tức là nắm phần tâm linh qua các công tác dễ nhận ra như:

1.- Phân Hoá các tôn giáo

-Tạo sự phân hóa trong hàng ngũ các tôn giáo: các tu sĩ trong nước ảnh hưởng đến các tín đồ hải ngoại sau những lần thăm viếng, có những người ý thức lên tiếng phản đối, vạch trần âm mưu tôn giáo vận, thì có những tín đồ, Phật Tử ủng hộ, trọng thầy, kính cha, gây nên tình trạng mất đoàn kết, tranh cải nhau. Thông thường các tu sĩ xuất ngoại là những người được đảng tin cậy, nên có thế lực trong bộ máy đảng, nhà nước, trở thành đồng chí, đại biểu quốc hội, thông thường cũng nằm trong Mặt Trận Tổ Quốc, thân với chính quyền....sẵn sàng giúp đỡ rất nhiều cho các tín đồ nào khi về Việt Nam thăm quê hương, làm ăn, mua nhà...chính những điều kiện nầy tạo sự ràng buộc và ảnh hưởng từ các tu sĩ trong nước, tác động vào tôn giáo hải ngoại với các tín đồ nào có nhu cầu cá nhân và gia đình quan hệ với Việt Nam. Điển hình như Huề thượng Thích Thanh Từ sang Úc, được một số gia đình thương gia QUY Y, đóng mỗi người một số tiền khoản 300 Úc Kim, vì những thương gia nầy cần về nước làm ăn, quan hệ xuất cảng hàng hóa... Một số đệ tử của Thanh Từ về Việt Nam muốn gặp thầy cũng phải qua 3, 4 lớp cửa như gặp giới chức quan trọng vậy. Do đó, người ta không ngạc nhiên khi thấy một số người có quan hệ làm ăn với Việt Nam tỏ ra ngoan đạo hay Phật tử thuần thành, đón rước ân cần những tu sĩ từ Việt Nam sang" tham quan".

-Giải độc cho đảng: thông thường, mỗi khi tôn giáo bị đàn áp qua những cao điểm chiến dịch, thì tu sĩ lại xuất ngoại nhiều hơn, khiến nhiều người hiểu lầm là trong nước có tự do tôn giáo nên các thầy, cha mới tự do đi ra nước ngoài và các nước cấp viện tin tưởng là" Việt Nam có tiến bộ trong việc cải thiện nhân quyền, tự do tôn giáo", bọn gián điệp nằm vùng, kẻ đón gió có lý do để nói là nước Cộng Hòa xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam có tự do tôn giáo, nên không cần phải đấu tranh làm gì.

Lộng hành đến độ đáng sợ: một linh mục tên Châu Ngọc Tri từ trong nước sang, mở tiệc gây quỷ lạc quyên" trước ăn cơm sau làm nghĩa", có mặt của một số linh mục hải ngoại như Mai Thanh Lương, Mai Khải Hoàn tại nhà hàng Seafood world ở thành phố Westminster. Khi một giáo dân cao tuổi là ông Lý Văn Hợp, 77 tuổi, chỉ hỏi ở Việt Nam có tự do tôn giáo hay không? Thế mà bị một số la ó, áp tải ra ngoài, giống như công an trong nước hành động với cha Lý. Hình ảnh không đẹp nầy khiến người ta có cảm tưởng như đảng Cộng Sản đã thành công trong việc áp dụng" công an trị" vào các cơ sở tôn giáo hải ngoại; sau vụ nầy, người ta đặt nghi vấn: có phải những người áp tải ông Hợp là công an của Việt Cộng tháp tùng với linh mục Châu Ngọc Tri?,

Hay nhân viên an ninh được mướn, hoặc là những tên Việt Cộng nằm vùng xuất hiện hổ trợ? (điển hình như huề thượng Thích Thanh Từ sang Úc Châu vào năm 2003, tháp tùng có 8 công an gồm 4 nam và 4 nữ, mặc thường phục, luôn vây quanh hắn để bảo vệ). Đau lòng nhất là một vị linh mục từ Việt Nam, vốn quen xài từ của Đảng Cộng Sản, gọi con chiên là NGỤY, khiến những người nghe và đóng góp tiền lạc quyên buồn và suy nghĩ.

Được biết, ngay cả tên đại quốc tặc Hồ Chí Minh cũng còn phải kính nể quân lực Việt Nam Cộng Hòa, không dám gọi là Ngụy, khi hắn còn sống đã từng nói:" Mỹ thua về Mỹ, anh em binh sĩ về đâu?", câu hù dọa nầy sai bét, Mỹ về Mỹ thì anh em Binh sĩ cũng đi Mỹ gần hết từ di tản, vượt biên đến H.O, khiến đám cán ngố giựt mình, bon chen đưa con cháu đi Mỹ học và tìm cách ở lại luôn. Như vậy, vị linh mục đó chưa nắm vững chính sách và cần phải" học tập cho kỷ tư tưởng Hồ Chí Minh" để có lời nói lịch sự hơn đối với những anh hùng dân tộc, trong đó có cả những con chiên của mình và nhất là không bị ló đuôi là công cụ của đảng, gian mà không ngoan đấy!.

2.- Moi tiền

-Moi tiền bằng mọi cách qua danh nghĩa từ thiện, giúp người nghèo, tàn tật, xây nhà thờ....như linh mục Nguyễn Đức Quỳnh, dùng giấy phép giả để làm công tác và bị khám phá. Trong nước Cộng Sản bịt miệng linh mục Nguyễn Văn Lý, nhưng đảng không bao giờ bịt miệng những vị linh mục nào xuất ngoại để hô hào lạc quyên, ru ngủ, kêu gọi hòa hợp hòa giải, xóa bỏ tội ác của đảng.

3.- Tạo cơ sở tôn giáo quốc doanh

-Tạo sơ sở tôn giáo thân nhà nước để khống chế, kiểm soát giáo dân, tín đồ, Phật Tử ở hải ngoại: Không loại trừ cán bộ, công an, gián điệp...mặc áo tu sĩ, lợi dụng tôn giáo, tình đồng đạo của các vị lãnh đạo tinh thần hải ngoại để cấy người; đặt những cơ sở nằm vùng công khai tại các chùa, nhà thờ, khống chế mọi sinh hoạt của các tổ chức đấu tranh vì tự do. Có khi lợi dụng bình phong tôn giáo để đánh phá rất tinh vi như tổ chức ngày lễ, lạc quyên, cầu nguyện hòa bình, cầu siêu cho quốc thái dân an, học hạ, tịnh tâm, hợp mặt, thuyết pháp, giảng kinh....trùng ngay vào những ngày Cộng Đồng Người Việt Tự Do tổ chức biểu tình ngày quốc hận 30-4, chống văn hóa vận..v...v.. để làm giảm số người tham dự. Hiện tượng nầy đã xảy ra tạo nhiều nơi, nên các tổ chức cần quan tâm kẻo bị đâm sau lưng mà không hay.

4.- Công tác tình báo

-Có thể những tu sĩ do đảng đưa ra hải ngoại nhằm làm công tác tình báo, lấy tin tức, thăm dò và sau đó" báo cáo" với đảng qua cục Tình Báo Hải Ngoại để đối phó. Đây là những kẻ thù nguy hiểm, ngang nhiên đi vào các tổ chức, tôn giáo, sinh hoạt cộng đồng, được tiếp đón một cách tôn kính như thượng khách với danh hiệu" lãnh đạo tinh thần". Các tổ chức thường hay có thói quen mời các vị lãnh đạo tinh thần, không phân biệt từ Việt Nam qua hay ở hải ngoại để tham dự các buỗi lễ, sinh hoạt, thật là tai hại. Nhất là các vị lãnh đạo tinh thần ở các nhà thờ, chùa...là những người giới thiệu những tu sĩ trong nước đến các sinh hoạt của cộng đồng, các tổ chức đấu tranh.

5.- Cổ động Hoà hợp-Hoà giải

-Lợi dụng triết lý của các tôn giáo về hòa bình, từ bi, bác ái.... để cổ động chính sách" hòa hợp hòa giải", xóa bỏ tội ác của đảng và chấp nhận sự cai trị của đảng độc tài.

6.- Ru ngủ tín đồ

-Ru ngủ con tín đồ, chấp nhận, hợp tác chế độ Cộng Sản để bảo vệ đạo pháp, mà các giáo hội do nhà nước dựng lên, họ cho là làm như vậy để cho đạo tồn tại, vượt qua bao sóng gió; tức là tạo cho giáo dân tinh thần cầu an, tiêu cực.

Những thủ đoạn của đảng Cộng Sản đã áp dụng từ lâu, lòn qua cửa chùa, nhà thờ, là công tác tôn giáo vận tác động vào các cộng đồng tỵ nạn như những cơn mưa dầm, làm ướt đất, để chuẩn bị gieo hạt giống đỏ. Chắc chắn là các tu sĩ do đảng gởi ra hải ngoại là" thành phần nồng cốt" nên không thể coi thường, biết đâu là những cán bộ, công an mặc áo tu sĩ, thò bàn tay lông lá có móng nhọn từ sau tượng Phật, thánh giá để thu tiền với danh nghĩa vì Phật Chúa, từ thiện cao đẹp, đưa những đôi mắt cú vọ lấy tin tức cho đảng trong công tác tình báo, gây phân hóa, phá hoại công cuộc đấu tranh chung...

Một điều rõ ràng là các tu sĩ đâu có làm gì để có một số tiền lớn xuất ngoại, tốn kém vé phi cơ khứ hồi, ăn ở, đủ thứ, đi ra một tất đường là tốn kém lắm. Trong khi người dân trong nước sống cơ cực, lợi tức mỗi đầu người hàng năm khoản 500 Mỹ Kim; ngay cả những người Việt tỵ nạn thuộc thành phần lao công ở các nước tự do, hay có lợi tức trung bình, muốn đi Holiday một nơi nào đó, cũng phải dành dụm một thời gian mới có.

Mặt khác, việc gởi tiền về cứu giúp, từ thiện....không cần phải có mặt của các tu sĩ trong nước ra hải ngoại thêm nhiều tốn kém, thay vì tiền chi phí di chuyển được dùng để làm nhiều việc hữu ích; ngày nay việc gởi tiền dễ dàng, chỉ cần gởi qua hệ thống ngân hàng, chuyển tiền cũng tới tay người nhận nhanh chóng. Những tu sĩ lạc quyên, chưa chắc gì họ dùng tiền đúng như lời nói, chiêu bài kêu gọi. Việc giúp đỡ dân oan khiếu kiện, những nhà đấu tranh rất cần phương tiện để đòi dân chủ là cấp bách, cần thiết.

Tuy nhiên, từ thiện do những tổ chức không rõ nguồn gốc, nhất là các tu sĩ trong nước đến, không thể tin được. Góp tiền từ thiện không thể giải quyết vần đề tận gốc rể, tức là càng đóng góp tiền từ thiện, đảng càng vững chắc, cán bộ giàu thêm. Nhưng đóng tiền giúp các tổ chức, cá nhân đấu tranh thật sự, thì đảng mới sụp đổ, là mục tiêu hàng đầu của dân tộc Việt Nam là ở chỗ đó.

"Càng từ thiện, đảng càng giàu.
Chiêu bài nhân đạo: móc hầu bao.
Bầu bí cùng giàng, tuy khác giống.
Lá lành đùm bọc nghĩa đồng bào.
Cúi đầu khuất phục, Cộng cỡi cổ.
Đứng lên đồng loạt, Cộng lật nhào.
Dân oan, lương thức tù đáng giúp.
Trong ngoài một dạ, Cộng sụp mau."

Tôn giáo là tín ngưỡng, chứ chẳng phải mê tín, tuy nhiên có thể các tu sĩ thiếu đạo đức cố tình lái sang mê tín để thu tiền: họ cho là đóng tiền càng nhiều là vung bồi công đức, làm lành chẳng khác nào bỏ tiền vào ngân hàng sinh lời, là" đầu tư công đức cho kiếp sau"....trong tương lai, những người có lòng tốt do đóng tiền nhiều, sẽ được Phật, Trời, Chúa...trả công, đền đáp nhản tiền hay kiếp sau.

Hay những ai không tôn kính chư tôn, cha xứ ( dù các vị nầy có đời sống bê bối, vô đạo hay Cộng Sản trá hình) thẳng thắng đưa ra những điều tai nghe mắt thấy... thì bị Phật, Trời, Chúa trừng phạt, tạo cho giới tu sĩ một thứ vỏ bọc" linh thiêng" bất khả xâm phạm, thật là tai hại vô cùng. Chính những thứ hù dọa ấy trở thành chiêu bài của những người tu gian, đưa những người có óc mê tín, thủ lợi thành nạn nhân đóng góp, im lặng trước những việc làm sai trái, tiếp tay cho giặc Cộng vô thần đánh phá, tiêu diệt đạo, là đồng lõa với bọn quỷ đỏ vô thần.

Tam Tạng mà không có Tôn Hành Giả đánh bọn ma quái để bảo vệ thầy, thì làm gì còn sống để sang tận Tây Phương Cực Lạc thỉnh kinh và thành chánh quả....Cộng Sản lợi dụng bình phong của tôn giáo để núp bóng hoạt động, lúc bị động hay bị phát giác thì có những tín đồ, Phật Tử mù quáng binh vực, bao che bảo vệ. Do đó những người đưa ra những trường hợp mà một số tu sĩ lợi dụng tôn giáo, thường bị một số người nặng óc mê tín ghét, tạo sự mất đoàn kết trong gia đình, tập thể, vô tình làm đạo suy, tạo điều kiện tốt cho quỷ đỏ lộng hành, khuynh đảo. Một số người có tinh thần thụ động cho là: ai làm sai có Trời, Phật, Chúa...biết và trừng phạt sau nầy, nên có thái độ im lặng, vô tình tạo môi trường dung dưỡng cho những tu sĩ bất chính, gian sư" mượn đạo tạo đời" và nếu là công an mặc áo nhà tu thì" mượn đạo tạo đảng".

Ngày nay, vài tôn giáo có còn hiện tượng" KIÊU TU" như loạn KIÊU BINH thời vua Lê chúa Trịnh vậy, thật là khó coi, có thể do kết quả của nhiều thập niên đánh phá tôn giáo thâm độc của quỷ đỏ mà nên thế sự nầy. Chắc có lẽ những tu sĩ do đảng Cộng Sản bổ nhiệm hợp với đám tu sĩ đón gió là những Linh Mọp, kẻ Chán Tu...xem việc cúng dường, đóng góp là" chủ yếu", chuyên lo" gây quỷ" hơn việc bảo vệ và duy trì giềng mối đạo gây ra, dần dần tạo thành thông lệ trong các tôn giáo: tu sĩ chỉ trọng tiền hơn đạo đức, lòng thành; tu để hưởng lợi hơn là giải thoát khỏi kiếp trầm luân.

Nhất là trong các chùa, nới có thể có nhiều khả năng phát triển tệ nạn" KIÊU TĂNG" với các tăng sĩ không được đào tạo đúng mức, hay công an cài vào... có cơ hội và chiều hướng phát huy" mặt mạnh" nầy là điều có thể nhận ra. Hiện tượng có thể có vài sư sải tỏ ra khinh miệt những Phật Tử nghèo, ít cúng dường, hay cúng dường không nhiều do hoàn cảnh gia đình. Trái lại những nhà giàu cúng dường CỘM được các thầy" hoan hỷ" ân cần tiếp đãi, phân biệt đối xử, thật là khó coi, làm đau lòng những vị tu sĩ chân chính, coi cõi đời là cõi tạm, vật chất là phù du, chúng sinh đều bình đẳng như nhau; hay theo quan điểm của nhà truyền giáo thời Trung Cổ Constantine Augustine:" người giàu lên thiêng đàng như con lạc đà chui qua ống chỉ". Nạn Kiêu Tăng cũng làm cho Phật Tử nản lòng, mất dần lòng tin; tuy nhiên vẫn còn một số"

Tam Tạng thời đại" mù quáng tôn thầy hơn thân nhân, bạn bè và lý tưởng, lẽ phải nên các Kiêu Tăng mới có môi trường và điều kiện hoạt động. Một số Kiêu Tăng còn kêu ngạo, tự cho mình là cao siêu, là sắp thành Phật qua câu" qui y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng", nên có qui định lấy tiền cho các lễ cầu siêu, đám tang cao, từ chối những gia đình nghèo, các sư tự cho mình cái" hào quang", có khả năng đọc kinh cầu siêu giỏi, mới có kết quả đưa linh hồn người quá cố về miền Cực Lạc; như vậy thì chẳng lẽ chỉ có người giàu có, quyền thế, được các" kiêu tăng" đọc kinh cầu siêu cho hay thì mới được giải thoát hay sao?.

Theo đó, bọn gian thương, hay những tên Cộng Sản ác ôn, gây biết bao nợ máu, thành tích giết người, cướp của....sau khi giả từ gác trọ, được thân nhân chi tiền nhiều cho các" kiêu tăng" giỏi đọc kinh cầu siêu nhiều ngày đêm, thì được lên Niết Bàn cả?. Đây là sự phá sản của Phật Giáo nếu các thế hệ sư, ni hành đạo theo lối nầy, đương nhiên là đảng Cộng Sản rất tâm đắc, vì chính các vị lãnh đạo tinh thần tự hủy diệt tôn giáo của mình như triết học Marx cho là" mâu thuẫn nội tại". Tôn giáo không phải là mê tín, càng không phải là thương nghiệp ( Buisness) như một số tự viện có khuynh hướng biến nơi thờ Phật thành" nghĩa địa bỏ túi" để thu tiền những bình đựng tro hài cốt từ thân nhân với giá qui định cao, mà nhiều người tin tưởng rằng: tro người chết được để trong chùa, được gần tăng đọc kinh, Phật...cũng sẽ tiêu diêu nơi miền Cực Lạc thôi.

Tôn giáo không thể và không bao giờ bị bạo lực tiêu diệt, bằng chứng các tôn giáo vẫn tồn tại khi các chế độ chính trị lần lượt bị đào thải theo thời gian. Tại các nước Cộng Sản Đông Âu, trong đó có Nga Sô dưới thời Cộng Sản thịnh hành, ngoài một số tu sĩ theo đảng, cũng còn có nhiều tu sĩ chân chính, sẵn sàng tử vì đạo, nhiều vị đã gục ngã trong các trại tù lao cải, nên tôn giáo ở các nước nầy vẫn tồn tại.

Tuy nhiên, khi biểu tượng tôn giáo qua hình ảnh của các tu sĩ bị sụp đổ, tức tôn giáo cũng khó tránh khỏi ảnh hưởng nặng nề, có khả năng đưa đến suy tàn theo thời gian, muốn phục hưng cũng phải mất rất nhiều thế hệ. Từ sau ngày 30-4-1975 đến nay, tôn giáo bị đánh phá, lũng đoạn, khuynh đảo, đảng Cộng Sản đã dùng kế" du lươn hoán trụ" thay đổi dần các vị lãnh đạo tinh thần khả kính bằng những tu sĩ theo đảng, cài công an vào. Những tu sĩ nầy là lực lượng" đặc công tôn giáo" xâm nhập vào.

Các sơ sở tôn giáo như Tự viện, nhà thờ, thánh thất, giảng đường....là những pháo đài vững chắc bảo vệ, phát huy đạo; những vị lãnh đạo tinh thần là những" cấp chỉ huy" tài ba, có khả năng, đạo hạnh cao. Nhưng khi các cấp chỉ huy bị thay thế hay làm nội ứng cho giặc, thì coi như pháo đài bị bỏ ngõ, tan vở từng mảnh. Tại Việt Nam, nhiều cơ sở tôn giáo bị thuần hóa nên linh mục Nguyễn Văn Lý bị trấn áp dã man, bị miệng, hay cái chết mờ ám của đức Tổng Giám Mục Nguyễn Kim Điền làm chấn động giáo dân..thế mà các cơ sở, giáo hội, bề trên án binh bất động, là đồng lõa với đảng vô thần. Huề thượng Quảng Độ, Huyền Quang...bị bắt bớ, quảng chế, thậm chí đi chửa bịnh, thăm viếng nhau cũng bị ngăn chận; thế mà các tự viện im lặng là vàng.

Người Việt hải ngoại thành công trong công cuộc đấu tranh bảo vệ lý tưởng tự do, cờ vàng....nhưng mặt trận tôn giáo là chưa đề cao cảnh giác đúng mức. Người Cộng Sản không ghê gớm như một số người bi quan, chủ bại suy nghĩ; Cộng Sản thành công là nhờ vào sự thiếu cảnh giác, lười biếng suy luận của chúng ra nên lọt vào quỷ kế, mánh mun láo cá vật mà thôi. Hảy thức tỉnh là vừa, nếu không thì người Việt hải ngoại lại bị" quản lý" gián tiếp" bởi những cán bộ, công an mặc áo tu sĩ từ trong nước gởi ra bằng mọi hình thức, chiêu bài, lý do... Họ không thể dùng bạo lực để bắt ép chúng ta làm theo lịnh của đảng, nhưng triết lý đạo giáo bị bóp méo nhằm phục vụ cho đảng và vơ vét túi tiền một cách tinh vi, có lý do chánh đáng là từ thiện, vì lòng từ bi của đức Phật và bác ái của Thiên Chúa. Vì đây là một vấn đề tế nhị, không khéo ắt gây ra ngộ nhận, có khi bị những người chưa nhìn thấy vần đề mà qui chụp là" đánh phá tôn giáo", đả phá tín ngưỡng. Mụt ghẻ nên được chửa trị hơn là dấu kín, ắt gây nhiều nguy hại sau nầy. Tạm kết, người viết xin mượn câu vọng cỗ trong bài" Tôn Tẩn giả điên" do Út Trà Ôn ca, có đoạn là:'" biết đâu những kẻ lừa thầy phản bạn, thường hay giả dạng kẻ nhân từ"./.



--------------
band4 3G McKeno

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Những nghịch lý cuộc đời


Giọng thằng Toàn đọc thư oang oang:
- “Thưa mợ, nếu không có gì thay đổi, đầu tháng sau, ba con cháu sẽ hành hương về nguồn gặp người xưa, cảnh cũ, thăm lại đền Hùng Vưng, dấu ấn của nền văn minh sông Hồng và thủ đô Hà Nội... sẽ nhờ mợ và các em dẫn đi thăm Bảo tàng lịch sử, Bảo tàng Cách mạng -
cuốn sách giáo khoa ngắn gọn, đầy sức thuyết phục đồng thời là niềm tự hào của đồng bào xa Tổ quốc. Thăm lại Văn miếu - trường Đại học đầu tiên của Vịêt Nam hàng ngàn năm về trước. Mợ ơi! Chỉ kịp nghĩ đến đây thôi cháu đã muốn bay về với mợ ngay rồi.
Xa tổ quốc, ba cháu vẫn nhớ mùi vị quê hương, từ bát canh rau muống nấu tương gừng, món phở tái lăn, phở xào bốc hơi nghi ngút thơm lừng mùi hành lá, món nem chua, chả quế với đầy đủ gia vị và thứ nước chấm pha cà cuống nổi tiếng không nơi nào trên thế giới có được... Mợ ơi, cháu tin với tài nội trợ của mợ, hẳn sẽ làm ba cháu vừa ý...”
- Giời ơi là giời...mẹ tôi quay đi, thiếu mức oà khóc.
Thằng Toàn buông rơi lá thư, quay sang tôi, nhấm nháy:
- Mẹ lại nhớ bố rồi...
- Không phải, tôi bảo, “giọng thẳng ruột ngựa”: Tính mẹ tằn tiện, ngại tốn. Một bữa cơm người mất mười bữa cơm nhà... Cơm bác - cơm ngoại quốc... mẹ sợ...
Bỏ qua những lời dạy bảo của tôi, nó toe toét.
- Em sẽ xin phép mẹ ra sân bay đón bác.
- Mẹ chẳng đi đâu cả, mất buổi chợ lại ba xuất ô tô sang bên ấy hơn mấy chục nghìn cả đi lẫn về, đừng hòng... rồi mày xem.

***

Nhân bảo như thần bảo. Ngồi xếp bằng bên mâm cơm - bác giang tay sởi lởi:
- Mợ thấy tôi tài không? Xuống máy bay, ngơ ngác như con bò lạc... thế mà ba mươi lăm năm nay rồi hoá ra tôi vẫn còn nhớ cái phố Phan Thanh Giản này để tìm về đấy nhớ.
Giọng mẹ tôi buồn rầu:
- Vâng, bây giờ được đổi thành phố Nguyễn Hữu Huân bác ạ.
Nhìn một lượt khắp trong nhà, ngoài sân bác ngơ ngác:
- Thế chú ấy đâu?
Mẹ trả lời như máy:
- Nhà em mất lâu rồi, bác không nhìn ảnh trên bàn thờ sao?
Mắt bác loang loáng ướt - đôi đồng tử nở xoè như chiếc cúc áo.
- Mất ư? Hả? Sao mợ không báo cho tôi biết... Trời ơi, xuống sân bay không thấy ai ra đón, tôi nghĩ chú vẫn còn giận tôi. Mang tiếng là anh em thật, nhưng lại theo đuổi chí hướng khác nhau. Năm 1954, trước ngày tôi vào Nam. Hai anh em cãi nhau một trận chí chết. Chú tuyên bố “từ tôi”... ai ngờ...
Thái độ chân thành của bác khiến mẹ tôi cảm động, rơm rớm nước mắt.
- Em cũng biết... xa cách ngoài 30 năm, anh em nhớ nhau lắm... nhưng xa quá. Đánh điện bác cũng không về được, mà thư từ đi lại tốn kém ra... Từ ngày nghỉ hưu em đi chợ chỉ mong kiếm cho các cháu cân gạo, thư sang Tư bản cho bác dễ đến ba bốn ngày chợ của em.
- Sao nghỉ hưu mợ còn phải đi làm? Giọng bác ngơ ngác hơn cả tin bố tôi mất.
- Lương hưu không đủ nuôi các cháu bác ạ.
- Nhà nước phải đảm bảo cơ mà?
- Vâng. Mẹ trả lời lấp lửng, nước đôi - cũng hy vọng thế, nhưng chỉ thế hệ sau này bác ạ. Còn bây giờ “độc lập, tự lo, hạnh phúc”.
Ngập ngừng một lúc, bác lại hỏi:
- Thế tiền tôi gửi dạo chú ốm. Mợ nhận được không?
Mẹ tôi hồ hởi.
- Được ạ. Một France đổi thành 1,1 đồng Việt Nam... ba trăm France của bác, em gom góp tằn tiện nuôi dưỡng thuốc thang cho nhà em, còn vài chục lẻ nữa tranh thủ mua cái xe tòng tọc cho cháu đi học. Khỏi sợ mất.
- Đâu rồi? Bác hỏi. Đôi tròng mắt đảo liên tục như đảo lạc rang trên cho nóng.
Mẹ tôi cười vẻ biết lỗi.
- Từ ngày nhà em mất... cứ như là “vận áo xám”, ba mẹ con đau ốm triền miên. Đi chợ buổi đực buổi cái. Bao vốn liếng theo nhau trèo qua cửa sổ hết cả... cũng may nhận được thư bác, cháu lớn cũng vừa tốt nghiệp xong, chẳng cần đi đâu, nhà lại chật, em bán béng đi thêm tiền mua thức đãi bác.
Mắt bác loang loáng nước, nét mặt bần thần, ngơ ngác, không khí trong nhà ắng lặng... định thần lại bác hỏi:
- Số quần áo cũ còn tốt, tôi gửi về ba bốn lần mợ nhận được chứ.
Vâng. Mẹ mệt mỏi thanh minh.
- Hàng Tư bản bị nâng cao để đánh thuế 50 - 70%. Em giữ cho mỗi cháu một bộ mặc còn bao nhiêu phải bán đi để đập vào cước nhận hàng, coi như hoà bác ạ.
Giọng bác tôi trùng hẳn xuống, khác hẳn không khí hồ hởi ban đầu.
- Chờ mãi không nhận được thư mợ báo. Tôi chán quá chẳng muốn gửi về nữa.
- Vâng. Mẹ đáp, giọng có phần nao núng - Biết bác quan tâm tới em, tới cháu, mà... hoàn cảnh của bác cũng chỉ là hoạ sĩ nghèo, hưởng lương thất nghiệp lại “cha già con cọc”... em cũng không dám quấy, để bác sống.
Ba anh em tôi ngồi như ba ông bụt mọc, vẻ nôn nóng sốt ruột... nhất là anh Quý, con trai bác, 25 tuổi trông như một ông “tây ngố”. Cặp mắt cứ lơ láo hết các xó xỉnh trong nhà đến mâm cơm nguội lạnh rồi ngắm hai khuôn mặt, một lạ, một quen đầy chán ngán.
Cuối cùng bác cũng nhớ ra, xoa hai bàn tay vào nhau, bác lấy lại giọng kể cả, thân mật:
- Thôi nào... xem mợ định đãi bố con tôi món gì nào? á à... nem rán hả, chả xương sông, gà luộc, nem chua... toàn những món ngon và bổ, lại nhiều loại dinh dưỡng tổng hợp lắm, ở nhà mợ cũng tích cực làm cho hai cháu ăn đấy chứ?
- Vâng. Mẹ tôi cười, nét mặt ủ dột trở dại... tết nào em cũng cố làm.
Gắp miếng to nhất bỏ vào bát mẹ, rồi lần lượt chia cho mọi người, bác bùi ngùi:
- Con cái nhà này xanh xao quá. Ngoài 18, 20 cả rồi mà còi cọc lẻo khẻo như trẻ con bên kia lên 8, lên 9 ấy. Xem thằng Quý nhà tôi đây này. Cảnh gà trống nuôi con mà khoẻ hơn bọn Pháp chính gốc nhé.
Trả lại miếng nem bác vừa gắp vào đĩa, mẹ tôi thật thà đáp:
- Nhờ trời mấy năm nay thóc cao, gạo kém thật, nhưng chúng chưa bị ăn độn hoặc bỏ đói bữa nào đâu bác ạ.
- Hả? Bác tròn xoe mắt sau cặp kính lão
- Ăn độn? Như thời đói bốn lăm ấy à?
- Không. Giọng mẹ buồn bã xa xót, sắn khoai ngô cũng nuôi nổi con người bác ạ, chỉ sợ trí tuệ nghèo nàn không làm lên sự nghiệp thôi.
- Hả. Câu chuyện lại nhảy cóc... mặc ba anh em tôi thi nhau gắp, anh Quý là “khách Tây” ăn uống có vẻ rụt rè hơn, vừa ăn vừa thưởng thức “hương vị quê nhà” nem chua, chả quế, nước chấm với đầy đủ hương vị pha chế tinh tế tuyệt vời...
Sao hai đứa nhà này không đứa nào vào đại học? Bác hỏi.
Mẹ chống đũa, nhìn bác, giọng phân trần, trách móc.
- Không đủ tiền đóng góp bác ạ. Với lại biết có ăn giải gì không hay lại... chỉ có dại mà học. 55 tuổi đầu rồi, nào em đã nhìn thấy mả của người chết dốt đâu. Toàn mả chết đói, chết khổ đấy chứ.
Bữa ăn trị giá gấp... vài chục lần bữa ăn đạm bạc của mẹ con tôi, xem chừng uể oải trở lại, buông bát đũa xuống mâm, tôi đưa anh Quý đi dạo phố. Thằng Toàn tự nguyện ở nhà làm “điếu đóm” cho mẹ và bác.
Hà Nội đẹp quá, nắng đầu mùa chiếu lấp lánh trên những mái nhà cổ kính gợi nên một vẻ đẹp thấp thoáng của nền văn hoá cổ. Vừa đi tôi vừa kể cho anh nghe về chùa Ngọc Sơn. Sự tích của rùa vàng, gươm báu... Bỗng mắt anh lạc đi, giật mạnh tay tôi, hỏi:
- Cái gì kia?
Theo tay anh chỉ. Tôi ngẩn người trả lời như máy
- Ô tô
- Lạ nhỉ? Anh cười, giảng giải... là vì họ thiết kế giống cái hòm di động quá? Không sơn, không cửa sổ, cửa kính, cứ lù lù chạy.
- Tôi cãi - Lúc mới xuất xưởng, hoặc vừa nhập ở nước ngoài về nó cũng đầy đủ bóng lộn sáng choang lên đấy chứ. Bây giờ chạy đường dài, lại quá tải; nắng mưa bão táp, cùng hàng ngàn người đu bám, làm gì chẳng giống cái hòm.
Nhìn lom lom vào cái xe như nhìn vật thể lạ, bỏ qua mọi lời giải thích của tôi, anh lẩm nhẩm:
- Sao mọi người không chịu ngồi, lại cứ đứng lố nhố cả lên thế nhỉ? Lại còn cả trên nóc nữa. Họ định làm xiếc để quảng cáo cái gì à?
Tôi bật cười:
- Quảng cáo gì: Ăn còn chả đủ, có... khoe cái thân còm và ba sáu cái xương sườn thì có... chẳng qua nhà xe tham tiền chở quá tải, không đủ ghế ngồi thì mọi người phải đứng hoặc trèo cả lên nóc xe chứ biết làm sao.
Ơ! Gỗ và giấy giả da thiếu gì? Anh thắc mắc.
Nhưng... tôi ấp úng... cố gắng giải thích theo quan điểm và hoàn cảnh cụ thể ở Việt Nam.
- Việt Nam còn nghèo, số lượng xe nhập ít, nhu cầu đi lại của người dân đông, nên xe ca Việt Nam không cần đủ ghế, vé vẫn bán chạy như thường. Người Việt Nam ta chịu khổ quen rồi. Mua được vé để lên xe là tốt chán rồi, cần gì đến gỗ và giấy giả da để làm ghế cho lãng phí đi.
Nói đến thế anh vẫn không chịu hiểu, cứ áp dụng lối nhìn thật thà, thiển cận của các nước Tư bản “giãy chết” vào:
- Đã gọi là xe ca, phục vụ hành khách thì phải có sơn, và cửa kính đoàng hoàng, lịch sự chứ.
- Khổ lắm! Tôi phát cáu. Một miếng kính bằng bàn tay cũng năm bảy ngàn đồng ấy, huống hồ cả cái xe ca to tổ bố như thế... đào đâu ra? Tốt hơn hết đã vỡ rồi là thôi, hoặc cẩn trọng hơn, vừa được xuất khỏi xưởng, bác tài tháo hết kính cất đi, thay miếng gỗ dán, gỗ thông vào... thành hòm.
- Bậy nào. Anh phản đối đầy từng trải, hiểu biết.
- Việt Nam có bờ biển dài nhiều cát, nước ngoài phải tìm đến mua cát để chế tác các loại kính và gương soi trong nước cơ mà?
Không lẽ tôi bắt anh ra... bờ biển mà hỏi cát? Nguyên liệu đầy sao vẫn thiếu sản phẩm ứng dụng? Trình độ người Việt Nam trong thời kỳ quá độ “đóng cửa bảo nhau” chỉ có thế, có cái hòm di động mà chạy đường dài là tốt rồi... sao anh “cầu toàn” quá.
Chán với vai trò người phiên dịch... tiếng Việt ra tiếng Việt, tôi tạm thời “cắt băng”, đi bên anh như một cái bóng, mặc anh ngáo ngơ đôi mắt con mắt khắp dòng người, xe cộ, phố phường, nhà cửa... Một chiếc xích lô chợt đỗ xịch trước mặt, người chủ xe trẻ, khoẻ, xì xồ một tràng tiếng “bồi”, vui vẻ mời.
Nhìn vẻ mặt tương đối lịch sự của anh ta, lại thấy mỏi chân, tôi giật vội tay áo anh:
- Anh Quý ơi! Đi nhớ, cái này ngắm cảnh tiện lắm. Xích lô đấy.
Ngẩn tò te anh nhìn lom lom vào cỗ xe cổ lỗ xấu xí, chợt hiểu ra, anh gạt phắt:
- Không. Đi tắc xi hơn. Cái này chật và bẩn lắm... mấy lại chúng ta cũng đều lớn rồi, sao bắt họ đạp...
Tôi chưa kịp phản ứng gì, thằng oắt con đã gạt đi, sau khi tương bãi nước bọt vào giữa mặt:
- ối...
- Sao thế? Tú... anh Quý hốt hoảng.
- Mẹ nó chứ. Nó mời mình không đi, nó tức...
- Ơ mình có lỗi gì. Hà Nội nhiều xe mà... Hình như họ tức giận bố mẹ họ ở nhà thì phải, họ chửi tục lắm.
Giời ạ. Thà làm thằng đầy tớ cho người Việt còn hơn làm “phiên dịch” cho ông tây ngố như anh tôi.
Tiếng xe điện leng keng chạy tới, tôi giật vội tay anh nhảy dạt khỏi đường tàu, suýt nữa thì làm mồi cho cái hòm gỗ đỏ chậm chạp biết đi.
Không thèm mảy may nghĩ tới cảnh nguy hiểm vừa xảy ra, anh kéo tay tôi hỏi:
- Xe gì đấy Tú?
- Tàu chạy bằng điện nên gọi là... tàu điện, hiểu chưa?
- à... anh ngẩn ra, cười chữa thẹn... mình không biết thật mà. Hà Nội còn bảo tồn được những cỗ xe cổ lỗ đến nỗi chỉ còn thấy trong các viện bảo tàng của Pháp từ thế kỷ 17, 18.
Hai anh em tôi phì cười, phút lơ đãng kinh người đã tạo điều kiện cho đối tượng làm việc... vài trăm France cùng khăn mùi xoa, ví, vida không cánh mà bay.
Nhìn nét mặt nghền nghệt, tiếc rẻ của tôi, anh kéo tay giục.
- Đi, đi đến công an... họ là người “bảo hộ” mà...
Vốn hiểu rõ điều kiện, hoàn cảnh Việt Nam. Tôi chần chừ:
- Trộm nhảy qua rào rồi, họ chẳng tìm đâu... mấy lại ở Việt Nam ấy à, thân ai người ấy lo, làm gì có ai bảo hộ ai cái gì. Mình có tiền đâu mà “chi, thuê” để họ tìm hộ... với lại mọi người ai cũng sợ mất chỗ đội nón lắm chẳng ai muốn bảo đâu.
- Kìa, ba mình vẫn dạy khẩu hiệu từ thời xưa của Việt Nam mà: “cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư”.
-Trời ơi! Tôi giở giọng cùn cằn cố tình lấy thái độ “cố cùng liều thân”, may ra thì anh hiểu:
Đấy là “ngày xưa”, lúc này cần thì kiếm, liếm là chính thì có ấy. Chỉ vô tư với cái gọi là của công, cha chung không ai khóc, không móc máy xỏ mũi được thôi.
Anh nheo mắt sau cặp kính cận, tỏ ý không hài lòng.
- Khó hiểu quá nhỉ!
Ngang qua khu vực Văn Miếu, trường Đại học đầu tiên ở Việt Nam từ vài ngàn năm, tôi hồ hởi.
- Anh Quý, Văn Miếu đây này, vào đi.
Chỉ tay vào tấm biển đầu tiên đập vào mắt, anh hỏi:
- Sao cái gì kia, biển hướng dẫn à?
- Vâng, tôi chun mũi ậm ừ, vì mùi khai khẳm xông lên.
- Biển... cấm đái đấy!
Anh quay đầu nghiêng nghé:
- Cấm à? Nhìn kìa... họ làm gì đấy? Sao cấm mà vẫn còn nhiều người đứng “đái”. ở Việt Nam mình thiếu nhà vệ sinh công cộng thật à?
Không lẽ lại bảo “thiếu ý thức tôn trọng vệ sinh thì có”, tôi thay đổi giọng điệu để tự trấn an mình.
- Người Việt Nam ưa cởi mở lắm. Biển cấm nhưng chỗ này thâm nghiêm u tối, vắng vẻ nên họ càng thích “cởi, mở” hơn, vừa tiện lợi, lại thoải mái, kín đáo. Mùi khai này mới chỉ là “cởi, mở” một phần sự thật thôi. Ban ngày mà, tối đến họ còn tiến hành “cởi mở toàn diện”, “nhìn thẳng vào toàn bộ sự thật” để tranh thủ “việc cần làm ngay” cơ. Đổi mới mà.
Thật khó lòng giúp anh hiểu “giai đoạn” quá độ này, dù đôi mắt anh cứ dướn mãi sau cặp kính cận không chịu sập xuống, tôi đành hậm hực bỏ đi.
Ngó nghiêng trước mậu dịch cửa Nam, anh rủ tôi:
- Vào đây đi... cửa hàng đăng ký kiểu mẫu mà.
Nhớ đến mấy thứ đồ đạc đã mất, tôi gạt đi.
- Thôi, thôi... cửa hàng Nhà nước, càu nhàu như mắm tôm ấy, có gì mà vào.
Anh ngạc nhiên:
- Sao lại thế, mình là khách, mua hàng giúp họ thì họ phải là người phục vụ mình chứ.
- Khổ quá. Tôi lại gắt. Phân phối XHCN chứ có phải cạnh tranh thiếu lành mạnh như cơ chế thị trường, con buôn chốn tư bản đâu? Hàng hoá ít, nhu cầu cung thấp so với cầu, mạng lưới phục vụ eo hẹp...
- Nhưng anh băn khoăn - Nếu phục vụ không tốt, họ không sợ chúng ta bỏ đi à?
Vận dụng hết sự hiểu biết của mình về nền thương nghiệp XHCN, tôi giải thích:
- Họ ăn lương nhà nước. Hàng bao cấp, khan hiếm. Người này không mua, đã có người khác mua, có ế ẩm bao giờ mà sợ. Vì vậy mới đẻ ra tình trạng người phải phục vụ thì không chịu phục vụ còn càu cạu, phách lối. Còn người được phục vụ dù có tức anh ách cũng chỉ biết... đấm ngực mình rồi... cút xéo. Quái thai mà, đăng ký kiểu mẫu thì cứ việc đăng ký, còn họ phục vụ chất lượng thế nào thì ai theo dõi mà biết.
Đến lượt anh uể oải lắc đầu, đi theo tôi như một cái bóng. Lúc đi hăm hở bao nhiêu thì khi về... tiu ngiủ như mèo bị cắt đuôi. Hà Nội tràn ngập xe đạp rởm, xích lô cổ, ô tô đường dài... Thập kỷ 80 này, đào đâu ra tắc-xi mà anh ngó nghiêng chờ đợi. Hai anh em tôi cứ xoạc cẳng đo đường phố, về nhà, dài lưng đo nỗi chán chường. Tôi mệt mỏi ngủ thiếp đi, còn anh kêu đau người, nhức mỏi... 25 năm chưa biết thế nào là chiếu thủng, giường tre, đã không đệm, lại không điều hoà, thiếu cả ti vi, tủ lạnh, toa lét... công cộng, làm sao ông anh quý hoá của tôi hình dung, thích nghi nổi?

*
* *

Chuông gọi cửa réo vang, bác tôi bật dạy như chiếc lò so cực nhạy... cửa bật mở toang, người đàn ông gày gò chống ba toong bước vào.
- Anh Tạo... Tôi chờ anh suốt ngày hôm qua... bác tôi lên tiếng trách.
- Ôi, xin lỗi, tắc cầu. Người đàn ông thanh minh giọng tỉnh khô.
- Sao? Hậu quả chiến tranh à? Bác hỏi tôi.
- Không, một chiếc xe lăn đường bỗng dưng đứt xích nằm chềnh ềnh ra giữa cầu. Cả một ngày trời, người ngợm xe cộ ùn ùn tắc nghẽn lại, rồng rắn nối đuôi nhau. Người về Sầm Sơn, Đồ Sơn tắm biển, nghỉ mát được một phen nghỉ... nắng, nóng giữa cầu. Tôi hẹn anh sang đây hóng gió hồ Tây. Cũng được dịp “hóng gió” chân cầu. Cán bộ, bộ đội, thủ trưởng đi họp, công tác đột xuất, gấp gáp... được dịp khoanh tay ngồi... cười... nhăn nhó như khỉ ăn gừng cả lượt. Cánh ngoại quốc chạy đi chạy lại xì xồ chán... tiu ngiủ như mèo... bị chẹt đuôi.
- Thật thế à? Ngành chủ quản đâu? Các nhà chức trách đâu? Dùng cần cẩu cẩu lên mà thông cầu chứ.
- Hôm qua là ngày chủ nhật. Họ nghỉ cả, nếu không cơ quan đóng tít tận... đẩu đâu ấy, ai để ý, có đến cũng phớt ăng lê... “mắc kê nô” hết... Cánh nhỡ việc chúng tôi phát huy tinh thần làm chủ tập thể, động viên nhau chờ đợi, bàn bạc cả buổi chiều mà không có cách nào khác, đành rủ nhau quay lại nơi xuất phát ban đầu.
- Thế... tù chứ?
- Ai?
- Thằng lái xe lăn đường ấy.
- à nó biết tội lỗi của nó cũng tự cầm tù gần một ngày giời ở quán thịt chó bên kia cầu.
- Một ngày thôi à? Ba bốn năm là ít chứ. Gây ách tắc giao thông, gây thiệt hại lớn về thời gian và tiền của của hàng vạn con người như thế...
- ờ, thì còn làm cái nghề này, nó còn phải tự cầm tù mình nhiều. Bác già “nói kháy”
Bác tôi hồn nhiên. Phạt bao nhiêu?
- Mươi, mười lăm nghìn.
- Thế thôi à? Tôi ấy à. Phải phạt nặng gấp năm bảy lần mới xứng, tội ấy quá tội ăn cắp tài sản xã hội chủ nghĩa còn gì.
- Vâng, nhưng ở Việt Nam ta, nhất là trong thời điểm “quá độ” này - Bác già giải thích - ăn cắp mà lại là tài sản XHCN thì không ai coi là ăn cắp cả, nếu không 1/3 số dân- từ trưởng phó phòng đến các vị lãnh đạo cơ quan đi tù ráo... có điều cái thằng ấy nghe đâu cũng là người tử tế sau khi bị bà chủ quán rượu thịt chó phạt mươi mười lăm nghìn rồi mà thấy cầu vẫn tắc, xe chưa thông, nó lại tự giác sát phạt thêm 100.000 nữa.
- Có thế chứ... Bác tôi gật gù vẻ am hiểu, đồng tình.
Bác già ngáp dài.
- Anh làm tôi buồn ngủ và mệt mỏi hơn hôm qua ngồi đợi cầu thông. Thôi, bây giờ thế này. Anh xin phép mợ và các cháu ra ngoài kia, đền tôi một chầu bia cỏ.
- Bia... cỏ?
- Vâng...
- Trời đất cha mẹ ơi...
- Bia CO2.... Khổ lắm, bác già cười ngặt nghẽo, cách quảng cáo siêu đẳng của Việt Nam đấy, có điều cái số 2 nó lại nằm thượng lên trên như cái dấu hỏi cơ, thành ra ai chả nhầm...
- Thế hả? Bác tôi sốt sắng. “Moa” chờ “toa” thắng bộ nhé.
- Khỏi cần, bác già giơ ba toong chỉ - Tôi dẫn anh ra vỉa hè ngồi.
- Chết, chết, mắt bác hấp háy - trông “toa” thế này mà “moa” định...
- Việt Nam ta bây giờ là thế. Bác già cắt ngang, toàn dân làm thương nghiệp, cả nước lao vào dịch vụ kiếm tiền. Đồ ăn thức nhắm... bày kín các vỉa hè, rẻ ngon hơn hẳn cửa hàng nhà nước.
- Bậy nào, đã gọi là nhà hàng thì phải lịch sự rồi, lại nhà hàng Nhà nước mới rẻ ngon và phục vụ chu đáo chứ, ông mất quan điểm, lập trường. Bác tôi trách.
- Tôi có kinh nghiệm rồi. Bác già bảo thủ. Hàng ngoài chật chội, kém kín đáo, vệ sinh nhưng mà đông, mà vui. Ai đi qua “trượt chân ngã” vào cũng được... nhà hàng mậu dịch ấy mà. Rộng rãi, thoáng mát nhưng mà vắng ngắt như chùa bà Đanh. Uống bia bắt kèm... tí lòng lợn, chút lạc rang, vài miếng thịt bò xào, hai miếng đậu rán toen hoẻn... thôi thế là mất mẹ nửa tháng lương hưu của tôi rồi...
Nhập nhoạng tối, hai ông bạn già mới khập khiễng chống ba toong ra về, tiễn bạn ra tận cổng, bác tôi còn dặn với theo:
- Nhớ vài hôm nữa anh đưa tôi và các cháu đi thăm thú cảnh xưa, người cũ, đền đài lăng tẩm đấy nhé. Tôi về dối già chuyến này chỉ có chút việc thú vị ấy thôi.
Bác già chống ba toong lắc lắc:
- Thôi được, tôi cố chiều anh, cũng xin thông báo trước để anh đừng thất vọng là tiêu điều, xơ xác lắm rồi đấy... cái bị tàn phá, cái bỏ hoang, cái được lấn chiếm thành kho công cộng... Tượng phật, nhà thờ bị mất cắp, bị chặt đầu, mổ ruột moi gan để... tìm vàng, rồi quăng quật đầu cổ... mỗi nơi một thứ.
- Ô. Ngành chủ quản đâu. Bộ văn hoá đâu?
- Ngành chủ... quan trực thuộc Bộ văn hoá, nếu có biết tìm đến thì ôi thôi... Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.
Như con chim bị đạn bác đứng như trời trồng, mắt loang loáng ướt... chứng kiến cảnh ấy bác già vội chống chế.
- Thôi, bù lại tôi sẽ đưa anh đến đám bạn cũ, đồng ý không?
- Chúng nó còn ở đây cả sao? Bác tôi bối rối. ở Pari tôi cũng gặp dăm bảy đứa đến tìm, xin tiền, nhờ mấy việc... ờ trước nó chửi tôi là bám đít đế quốc ghê lắm. Tuyên bố “từ mặt” tôi...
- ấy đấy, cũng nhờ có xuất ăn theo con cái mà bây giờ đỏ da thắm thịt thế, hàng hoá gửi về ùn ùn... Hai mươi thằng cùng lứa, lập trường quan điểm vững như tôi thì... anh thấy đấy... vẫn ăn được mà có được ăn đâu? Xã hội mình không có xuất ăn theo anh ạ. Độc lập - tự lo - hạnh phúc mà.
- Bậy nào. Bác phản đối. Việt Nam ta nổi tiếng là nhiều món ăn ngon và bổ. Cách dùng gia vị và pha chế nước chấm tinh tế tuyệt vời... Tôi đã đi nhiều: Đức, Anh, Mỹ... chưa nơi đâu có được.
- Vâng. Bác già ngoan cố. Nhưng phải độc lập, tự lo, mà tôi ngoài 70 rồi... mấy mà thành xương khô trong mả đâu. Còn lo nổi cái gì?

*
* *
Dễ đến nửa năm sau, từ Sài Gòn bác đưa anh ra để quay lại Pháp. Anh tôi hồ hởi:
- Sài Gòn đẹp thật. Đúng là hòn ngọc của Viễn Đông. Ba mình bảo do Mỹ đầu tư xây dựng nên, hoá ra nhiều cái ta cũng phải dựa vào đế quốc mới có được.
Tôi bật cười, cảm thông, tha thứ cho quan điểm vô chính trị của anh. Sắp xa anh tôi không buồn tranh cãi, chỉ muốn hỏi bác sao lại từ bỏ ý định dối già ở quê hương đất nước. Bác cười, mắt ngấn lệ bảo:
- Tôi biết tất cả rồi. Ở nước ngoài nghe về Việt Nam thấy hấp dẫn ngon lành như cái bánh ấy. Về nhà, bóc ra ăn mới biết cái nhân bánh bé xíu như cái lưỡi mèo ý. Chỉ toàn lá độn bao bên ngoài thôi. Người Việt Kiều chúng tôi từ khi bỏ đi đã không thích uống cà phê pha đường...

Trần Khải Thanh Thủy

CNN
Posts: 1017
Joined: Wed Dec 01, 2004 8:18 am

Post by CNN »

Khi Làm Việc Bố Thí, Chớ Nên ...
Bạn có tin rằng một người giàu nứt thố đổ vách, quanh năm suốt tháng mặc toàn lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đình, lại có thể nhẫn tâm làm ngơ, dửng dưng … đến độ để cho một người hành khất mụn nhọt đầy mình, nằm trước cổng [nhà mình] … chết vì … thèm được [ăn] những thứ trên bàn ăn của [mình] rớt xuống … không?

Tại sao ông nhà giàu này lại có thể cư xử tệ bạc và dã man với một người đồng loại mà ông biết tên, biết mặt như vậy được cơ chứ? Tôi không tin như vậy! Chắc chắn là có những lý do bí ẩn nào đó khiến cho ông phú hộ này trở thành một người keo kiệt, lãnh cảm và dửng dưng như vậy! Bạn có biết những lý do đó hay không? Tôi và chắc chắn cả bạn nữa, chúng mình không thể nào biết được những lý do bí ẩn ấy. Thế nhưng dựa trên những kinh nghiệm của bản thân và qua những sự kiện đã và đang xảy ra trong xã hội, mà tôi nghe và biết, tôi nghĩ … rất có thể ông phú hộ đã lạnh lùng, khép kín trái tim từ tâm và trở thành kẻ keo kiệt là vì ba lý do này: một là vì SỢ HÃI, hai là vì SO ĐO, TÍNH TOÁN, và ba là vì hay LÝ LUẬN.

• Ông phú hộ có thể đã có những nỗi lo sợ! Sợ lỡ cho anh La-da-rô ăn những thức ăn thừa trên bàn rồi sau đó anh ta bị đau bụng, bị trúng độc rồi … lăn ra đó ăn vạ thì sao? Phải ra tòa và phải bồi thường, mất tiền, mất bạc và bị phá sản như chơi! Chắc ăn không bằng ăn chắc, không cho anh ta ăn uống những thứ thừa thãi là an toàn trên xa lộ Đại Hàn! Khoẻ!

• Ông nhà giàu này cũng có thể đã so đo, tính toán rất ư là chi li và kỹ lưỡng. Đồ ăn thừa thì không cho được, bây giờ chỉ có nước cho ăn đồ ăn còn nóng hổi, còn nguyên si, chưa ai đụng đũa … Nhưng mà, lỡ ăn xong rồi anh ta phải mùi rồi chùi không ra, không chịu đi làm ăn mà cứ ngồi ì ra đó, rồi mình cứ phải tiếp tế hàng ngày suốt đời như vậy mãi sao? Đó là chưa kể bọn ăn mày, đám bạn bè ăn xin của anh ta nghe tin có ăn free liền kéo đến đầy nhà của mình, ăn dầm nằm dề ở đó thì mình sẽ phải xử sự làm sao đây? Thôi thì đành nhắm mắt làm ngơ vậy, tránh được bao nhiêu là những phiền toái có thể xảy ra.

• Ông phú hộ này cũng có thể đã có cái tính hay lý luận. Mình làm ăn, có đóng thuế cho chính quyền đàng hoàng, chuyện dân chúng nghèo đói là chuyện của nhà nước, để cho họ lo, không phải chuyện của mình, lo chi cho mệt xác vậy? Vả lại mình không cho anh ta ăn thì cũng có người khác cho, làm sao anh ta chết được cơ chứ? Anh ta ngồi ở ngoài đó, không được gì cả, rồi mấy con chó cứ đến liếm ghẻ như vậy thì vài bữa nữa nó sẽ chán rồi phải đi chỗ khác chứ sức mấy mà ngồi ở đó hoài như vậy!


Vì sợ hãi, so đo tính toán thiệt hơn, và vì hay lý luận như vậy cho nên hai cánh cửa của trái tim nhân ái của ông đã từ từ khép lại và bị khóa hồi nào ông cũng không hay không biết, chứ bình thường mà nói, ông ta không đến độ cold blood và nhẫn tâm đến độ không ngó ngàng, đếm xỉa và không mảy may nghĩ đến hoàn cảnh của anh hành khất La-da-rô đâu!

Ngày xưa ông phú hộ SỢ HÃI-SO ĐO TÍNH TOÁN và LÝ LUẬN như thế nào thì ngày hôm nay, cũng có rất nhiều người, trong đó có tôi là kẻ đứng đầu danh sách, cũng đang bắt chước ông và hành xử y chang như ông ngày xưa vậy! Tôi hay sợ, hay so đo, và hay lý luận khi làm việc thiện, khi có cơ hội làm việc bác ái lắm! Thật đấy!

• Có một lần, trên một chuyến xe điện ở New York City, một người thanh niên với bộ quần áo dơ dáy, và nặng mùi thuốc lá đến trước mặt, xè tay xin tôi một vài đồng lẻ để ăn mua thức ăn. Trong túi tôi có tiền nhưng tôi suy luận lẹ lắm: “Có chắc là anh ta xin tiền đi mua đồ ăn hay là anh ta đi mua thuốc lá hút? Cho anh ta tiền để anh ta hút hay tệ hơn nữa đi chích choác hay mua bia mua rượu uống say sưa thì cho làm gì? Chỉ tổ làm hại người ta.”

• Một linh mục, cha H. lặn lội từ một miền quê nghèo xa xôi lên tới thành phố Sài Gòn rồi chạy vạy mãi mới qua được tới Hoa Kỳ, đến một giáo xứ X. nọ xin được giúp đỡ tài chánh để về cất một mái nhà thờ để … Chúa khỏi bị ướt mỗi khi mưa. Lễ xong, một thừa tác viên giúp đếm tiền, thấy một phong bì không có tiền nhưng có một tờ giấy viết ngoáy vội vã: “Nếu cha để dành cái số tiền mua vé máy bay từ Việt Nam qua Mỹ, rồi từ tiểu bang này qua tiểu bang nọ, từ thành phố này qua thành phố khác … thì cha dư sức cất một mái nhà thờ, cha khỏi cần phải vất vả,ở nhà chăm sóc con chiên, khỏi mất thời giờ qua Mỹ xin xỏ như vậy!”

• Bà Y. khi nhận được thư của một nhà dòng Mỹ xin bà giúp đỡ tài chánh cho ơn thiên triệu, bà liền nói với chồng: “Mình là người Việt, mình phải giúp cho ơn gọi Việt Nam mới phải, tại sao lại phải giúp cho người Mỹ như vậy chứ?”

• Ông Z. bộc bạch và thanh minh cho việc tại sao ông đã làm ngơ không giúp đỡ cho một chương trình từ thiện: “Ối giời ơi! Cho tiền mấy ổng, chẳng biết có tới tay người nghèo hay về xây cất được cái gì hay không, em sợ là mình lại tiếp tay cho cộng sản thì toi! Em nghe nói là phải chia chác với cộng sản ¼ cho nên chúng nó mới dễ dãi cho các cụ đi Mỹ như cơm bữa, chứ nếu không thì làm sao mà các cụ đi được, bác thấy em nói có lý không?”


… Còn nhiều chuyện tương tự như vậy lắm thưa bạn! Khi có dịp làm việc thiện và những việc bác ái thì tôi, một giáo dân của xứ X., bà Y, ông Z … và có thể có cả bạn trong đó nữa, lại cứ sợ hãi, cứ so đo, tính toán, và cứ lý luận lung tung mới là khổ. Mà khổ một nỗi, hễ càng sợ, càng so đo, càng tính toán thiệt hơn, và càng lý luận nhiều bao nhiêu thì cái hầu bao của chúng mình nó cứ rút chặt lại bấy nhiêu mới chết chứ lại. Chúng mình cứ tính đi tính lại, suy luận tới suy luận lui rồi cuối cùng mình chẳng cho ai xu teng nào cả! Đó mới là nguy hiểm.

Bạn thân mến, nếu trước đây, khi có dịp làm việc thiện, khi có cơ hội làm việc bố thí, khi rộng tay làm phúc … mà bạn đã sợ hãi, so đo tính toán và hay lý luận thì xin bạn hãy suy nghĩ lại đi! Khi làm việc từ thiện và bác ái, chúng mình không mất gì cả đâu, nhưng mà lúc ấy chúng mình đang tích trữ cho chính chúng mình đấy! Bạn không tin thì mở sách Tobia ra mà đọc.

Chính nhờ những công việc bác ái, bố thí và làm phúc của ông Tô-bít mà hai cha con ông và cả cô con dâu đã được tai qua nạn khỏi, được trở nên giàu có và hưởng muôn vàn phúc lộc của Chúa. Chính thiên sứ Ra-pha-en đã nói: “Hãy làm điều lành thì cha con ông sẽ không gặp điều dữ. Cầu nguyện kèm theo đời sống chân thật, bố thí đi đôi với đời sống công chính, thì tốt hơn có của mà ở bất công; làm phúc bố thí thì đẹp hơn là tích trữ vàng bạc. Việc bố thí cứu cho khỏi chết và tẩy sạch mọi tội lỗi. Những người làm phúc bố thí sẽ được sống lâu” (Tb 12:7-9).

“Ai gieo giống nào thì sẽ gặt giống ấy … mỗi lần các ngươi làm [một việc bác ái] cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta."(Gal 6:7; Mt 25:40).


Gieo hạt giống bác ái và từ thiện thì sẽ gặt hái những hoa trái của bình an và thiện hảo. Lời van xin của ông nhà giàu bị chối từ là bởi vì ông đã từng từ chối La-da-rô. Bạn có muốn bị xử như ông nhà giàu không? Nếu không thì hãy mau mau quan tâm, giúp đỡ tha nhân đi! Thì trong ngày ta gặp hoạn nạn, cùng khốn, tha nhân và chính Chúa sẽ giúp đỡ và phù hộ ta. Bạn tin không? Nếu tin thì bạn đừng có sợ, đừng có so đo tính toán và đừng có lý luận lung tung khi có cơ hội làm việc bố thí và bác ái nữa! Just do it!


phamtinh@yahoo.com
Lm Ansgar Phạm Tĩnh
Source: http://www.vietcatholic.net/News/Html/47603.htm

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Quanh chuyến công du Ba Lan của Nguyễn Tấn Dũng



Từ lâu, báo giới Việt Nam vẫn bị đánh giá là một chiều, không trung thực, bưng bít sự thật theo chỉ đạo của nhà cầm quyền chứ không đứng về phía độc giả và giới doanh nhân tức những người trả tiền nuôi báo.


Nhận định này đã nhiều lần được chứng minh qua thực tiễn như cách báo chí Việt Nam ém nhẹm hình ảnh Linh mục Thadeous Nguyễn Văn Lý bị bịt miệng công khai trước tòa, việc hơn 1500 người dân Việt Nam tham gia biểu tình vì bị cưỡng đoạt đất đai và đã bị đàn áp cả công khai lẫn lén lút. Bên cạnh đó, các tòa báo quốc doanh còn ngang nhiên giả mạo, thêm bớt nội dung phỏng vấn của hãng thông tấn CNN với đương kim chủ tịch nhà nước Việt Nam Nguyễn Minh Triết. Báo chí cũng nhấn chìm xuồng câu nói vô lương tâm, vô trách nhiệm của đương kim Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng giáo dục Việt Nam Nguyễn Thiện Nhân. Lại cũng chính báo chí dựng chuyện, bôi nhọ hình ảnh của một cao tăng là thượng tọa Thích Quảng Độ.


Tất cả những điều trên và nhiều điều khác nữa mà khuôn khổ của bài báo này không thể liệt kê hết đã chứng minh một cách hùng hồn và rõ ràng rằng tại Việt Nam, báo chí chỉ là một công cụ phục vụ cho công tác ngu dân của nhà cầm quyền chứ không phục vụ cho lợi ích xã hội. Khi môn học "Đạo đức báo chí" bị xóa sổ ở các trường đào tạo báo chí và thay bằng môn "Chính trị học" và "Tư tưởng HCM", chúng ta biết rằng đạo đức và lương tâm nghề nghiệp của những người làm báo Việt Nam đã không còn tồn tại.



Chuyến công du của Thủ tướng Việt Nam, Nguyễn Tấn Dũng, sang Ba Lan nhằm để đạt 2 mục đích: (1) Xin viện trợ và (2) Vận động Ba Lan ủng hộ Việt Nam vào ghế Thành viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc. Mong muốn này của phía Việt Nam, dù đạt được, đã vấp phải một số vấn đề mà hơn 600 tờ báo chính quy tại Việt Nam đã không hề nhắc đến. Nói cách khác, họ đã biết rằng không nên chạm đến những vấn đề này nếu không muốn chiếc gậy của chính quyền chuyển hướng vào tòa báo của họ như đã từng xảy ra quanh sự kiện tiền Polymer kém chất lượng.

Câu chuyện thứ nhất: Đuổi cổ nhà báo

Cô Tôn Vân Anh, phóng viên của Đài phát thanh Á Châu Tự Do (RFA), Hoa Kỳ, theo lệnh của tòa soạn đã ghi danh tham gia buổi họp báo chính thức của thủ tướng Ba Lan và Việt Nam ngay sau buổi hội đàm giữa hai ông kết thúc. Thật bất ngờ, phía Việt Nam đã yêu cầu nhân viên an ninh của Ba Lan "mời cô ra khỏi cuộc họp báo" khi cuộc họp báo còn chưa bắt đầu. Sự việc này, với Việt Nam mà nói chỉ là việc nhỏ bởi Việt Nam xưa nay đã nổi tiếng với việc kiểm soát báo chí theo hướng có lợi cho mình. Báo chí tại Việt Nam chỉ được quyền biết và nói những gì Hà Nội muốn báo chí biết và nói.

Nhưng, tại một đất nước giương cao ngọn cờ Tự do và Dân chủ như Ba Lan thì đây quả là một sự kiện gây chấn động. Sự kiện chấn động đến mức chính thủ tướng Ba Lan, ông Jaroslaw Kaczynski, đã phải xác nhận rằng trong suốt thời gian làm thủ tướng ông chưa hề nghe đến một chuyện như vậy và ông hứa sẽ làm rõ việc này. Trả lời chất vấn của truyền thông Ba Lan về sự việc, thay vì "nhận bớt trách nhiệm một cách ngoại giao", ông Nguyễn Tấn Dũng đã phát biểu một câu mà theo đánh giá của giới quan sát là "quăng búa" và "đổ thêm dầu vào lửa". Ông Dũng nói rằng ông "Không hề biết gì về việc đó (Việc phóng viên Vân Anh bị trục xuất khỏi buổi họp báo - NV) và nếu có vệc đó thì chắc nó phù hợp với luật pháp Ba Lan".


Chính từ những phản ứng này của hai ông thủ tướng, cô Vân Anh cho biết cô có thể sẽ khởi kiện. Nếu việc đó xảy ra, nó sẽ trở thành một đề tài căng thẳng giữa Việt Nam, Ba Lan và Hoa Kỳ khi sắp tới đây Hoa Kỳ sẽ triển khai hệ thống hỏa tiển phòng thủ tại Ba Lan và Ba Lan luôn khẳng định tôn trọng tất cả các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và Việt Nam vẫn đang cần Ba Lan viện trợ, hợp tác kinh tế dù hạng ngạch hợp tác kinh tế giữa Việt Nam - Ba Lan chỉ dừng ở mức dưới 500 triệu USD.

Cũng cần phải nói thêm rằng không chỉ cô Vân Anh bị mời khỏi buổi họp báo mà một nhà báo Ba Lan chứng kiến sự việc đã chụp lại hình ảnh này và cũng đã bị mời ra ngoài. Sự kiện ầm ĩ giới truyền thông Ba Lan. Tại Việt Nam đã không có một dòng tin nào dù chỉ vài mươi chữ.

Một ngày ngay sau sự kiện, đích thân thủ tướng Ba Lan đã mời cô Vân Anh đến dinh thủ tướng, lâu đài Belweder, để xin lỗi cô và dành cho cô buổi phỏng vấn riêng, độc quyền. Động thái này của thủ tướng Kaczynski được xem là đầy thiện chí, thể hiện thái độ tôn trọng các quyền hợp pháp của một nhà báo. Còn ông Nguyễn Tấn Dũng, bởi "không biết gì về sự việc" nên đã ung dung ra về với các hợp đồng kinh tế đã được ký ghi nhớ và lời hứa của Ba Lan sẽ ủng hộ Việt Nam vào chiếc ghế Thành viên không thường trực Hội đồng Bảo an UN.

Câu chuyện thứ hai: Tù nhân chính trị Lê Thị Công Nhân

Chắc quý độc giả còn nhớ câu chuyện của luật sư Lê Thị Công Nhân - tù nhân chính trị tai Việt Nam. Mới đây cô đã bị từ chối thư mời luật sư bào chữa chỉ vì "tội" ghi trong thư rằng mình là tù nhân chính trị.

Trong buổi gặp gỡ giữa thủ tướng Dũng và Chủ tịch thượng viện Ba Lan, ông Bogdan Borusewicz, ông Borusewicz đã hỏi thẳng ông Dũng rằng khi nào Việt Nam mới chịu thả tù nhân chính trị Lê Thị Công Nhân và những tù nhân chính trị khác đang bị giam cầm tại Việt Nam? Để trả lời, ông Dũng hỏi ngược lại Borusewicz rằng Ba Lan có chịu nhận cô Lê Thị Công Nhân không? Nếu Ba Lan chịu nhận thì Việt Nam sẽ thả. Ngay lập tức, ông Borusewicz tuyên bố sẽ nhận ngay cô Nhân. Ông Dũng im lặng.

Trả lời Chứng nhân Lịch sử, các nhà quan sát tình hình Việt Nam nhấn mạnh rằng ngay cả trong trường hợp Hà Nội thả cô Lê Thị Công Nhân thì cô cũng sẽ không chịu rời khỏi Việt Nam bởi như cô từng khẳng định rằng cô sẽ ở bên cạnh những người dân khốn khó tại Việt Nam để tranh đấu, bảo vệ quyền lợi cho họ. Trong trường hợp đó, cách duy nhất mà Hà Nội có thể áp dụng là áp tải cô sang Ba Lan như đã từng áp tải thượng tọa Thích Không Tánh, cô Lê Thị Kim Thu rời khỏi Hà Nội.

Trả lời báo chí, chủ tịch thượng viện Borusewicz bày tỏ rằng ông từng là một tù nhân chính trị và ông không chấp nhận việc một đất nước, dù dưới thể chế chính trị nào, lại giam giữ những người bất đồng chính kiến, xâm phạm đến những quyền tự do căn bản của một con người. Ông nhấn mạnh rằng hợp tác kinh tế chỉ có thể xúc tiến trên cơ sở quyền lợi của người dân được bảo đảm tuyệt đối. Khi quyền lợi của người dân không được bảo đảm, thể chế xã hội đó không hề có dân chủ và việc hợp tác kinh tế với một quốc gia phi dân chủ là điều hoàn toàn không nên.

Tất nhiên, những vụ biểu tình chống Việt Nam của công đồng người Việt tại Ba Lan cũng không hề được báo chí trong nước nhắc đến.


Người Việt tại Ba Lan hầu hết là di dân miền Bắc theo diện hợp tác lao động trong thời kỳ Chiến tranh lạnh. Ba Lan nguyên là một quốc gia, nói như lời của ông Borusewicz, đã từng chịu nạn Cộng sản, cũng là quốc gia bắt nguồn cho sự sụp đổ của thể chế Cộng sản khu vực Đông Âu.

Trích Blog Chứng Nhân Lịch Sử

User avatar
lynhcao
Posts: 883
Joined: Sat Apr 30, 2005 10:46 pm

Post by lynhcao »

Làm Tình Trên Không Gian (?)

Ngày 09 tháng 02, 2007 trên tờ National Post có một bài báo có tên là The 62-mile high club (Câu lạc bộ 62 dặm cao) và kèm thêm một câu hỏi khá ngộ nghĩnh: Phi hành gia có sex trên không gian không? Bạn đã nghĩ về việc này. Nhìn nhận đi! (Do astronauts have sex in space? Admit it: You''ve thought about it Trước khi lược dịch bài trên để giới thiệu với quý vị một vấn đề mới của thời đại chúng ta, chúng tôi xin nói qua về câu lạc bộ có tên Mỹ là The 62-mile high club.

Làm tình trong không gian có nghĩa là làm tình trong khoảng ngoại tầng khí quyển. Chữ không gian hay space được đạo luật của Mỹ có tên là National Aeronautics and Space Act, đạo luật thiết lập cơ quan hàng không NASA, đã định nghĩa là ngoài tầng khí quyển (outside Earth''s atmosphere) hay nói rõ hơn là trong khoảng thái không cách trái đất nhiều trăm dặm nơi mà phi thuyền hay Trạm Không gian Quốc tế ( International Space Station) di chuyển trên quỹ đạo xoay chung quanh trái đất.

Như thế sao lại có một câu lạc bộ có cái tên là The 62-mile high club? Thực ra 62 dặm hay 100 km là một giới hạn cổ điển tròn trặn. Giới hạn này có từ giữa thập niên 1950 do nhà nghiên cứu không gian người Hung là Theodore Von Karman đề nghị và được nhiều cơ quan hàng không quốc tế chấp nhận, nên còn gọi là Karman Line.

Ngày nay người ta vẫn dùng nó để chỉ kỷ lục về vận tốc khi một phi thuyền bắt đầu vượt khỏi biên giới không gian chính thức 62 dặm. Như thế The 62-mile high club chỉ là tên gọi khác của câu lạc bộ thái không.

Tại sao hiện giờ lại đặt vấn đề làm tình trên thượng tầng không khí? Có nguyên nhân. Nguyên nhân xa là trong tương lai kỹ nghệ du lịch không gian rộng mở, thế nào chẳng có kẻ đa tình chơi ngông muốn lấy không gian làm giường hay bầu bạn với Hằng Nga cô độc như Tản Đà từng viết:

Đêm thu buồn lắm Chị Hằng ơi!
Trần thế em nay chán nửa rồi!
Cung quế có ai ngồi đó chửa
Cành đa xin chị nhắc lên chơi!

Còn nguyên nhân gần, đó chính là bắt nguồn từ câu chuyện một nữ hành gia ghen tuông và bị truy tố về tội toan mưu sát.

Phi hành gia Mỹ Lisa Nowalk, 43. đại úy hải quân và chuyên viên về robotics của NASA, vào đầu tháng 02, 2007 bị truy tố về tội mưu sát sau khi lái xe vượt 1000 dặm đường hay khoảng 1600 km từ nhà ở Houston, Tex. tới phi trường quốc tế Orlando, Florida để đánh ghen. Người hùng Mỹ trong chuyến bay lên trạm không gian tháng 07 năm ngoái, không hề ngừng một giây trong cuộc hành trình dài thăm thẳm, với mục tiêu gặp Colleen Shipman, 30, kẻ mà cô ngờ đã cướp sống người yêu của mình là một phi hành gia khác có tên là Bill Oefelein. Nowalk tiết lộ cô ta và Oefelein có mối ràng buộc đậm đà hơn giao tình giữa đồng nghiệp nhưng chưa ngọt ngào bằng liên hệ ái tình. Khoan đã, như thế giữa họ từng có có liên hệ xác thịt trên không gian? Không, hoàn toàn không vì Nowak và Oefelein chưa từng cùng bay trong một nhiệm vụ nên họ có thể chưa tham gia vào Câu lạc bộ 62 dặm trên cao.

Nowak và Oefelein có thể ân ái nơi trần tục và chưa hưởng vị cõi thiên tiên. Nhưng một vài phi hành gia khác đã từng lên đó có thể đã nếm mùi ân ái ngoài địa cầu?

Tại sao? Ai đã đọc cuốn The Right Stuff của Tom Wolfe hay xem cuốn phim dựa vào câu chuyện này đều thấy các phi hành gia chịu nhiều áp lực ghê gớm lên thân tâm khi chuẩn bị các chuyến phi hành nên có thể cần tìm cơ hội giải tỏa?

Các cựu phi hành gia và những người đang hiện dịch không thích đề cập tới chuyện làm tình trên phi thuyền con thoi và NASA cho biết nếu có xảy ra chuyện này thì cơ quan cũng không thể biết được chuyện mèo ăn vụng. Một phát ngôn viên của cơ quan không gian tiết lộ, NASA chưa hề chính thức làm thí nghiệm súc vật làm việc truyền chủng ra sao trên phi thuyền.

Tuy nhiên, nếu các nam phi hành gia muốn giở chuyện trên giường với đồng nghiệp nữ ngay trên phi thuyền thì không phải không gặp khó khăn.

Trước hết, trên đó khó tìm ra khoảng kín riêng tư. Một phi thuyền bình thường chỉ rộng bằng chiếc 737 và hai khu vực chính khoang lái và khoang giữa, mỗi nơi chỉ có kích thước bằng một văn phòng nhỏ. Phòng tắm chỉ gồm có chỗ ngồi và màn che và khó tìm ra chỗ riêng nào để đôi kẻ khát tình có thể có nơi tạm nghỉ và giải tỏa căng thẳng.

Còn trạm không gian (International Space Station) thì sao?
Trạm không gian chẳng rộng rãi gì hơn. Ba điều hành viên của trạm phải chia nhau ra nghỉ ngơi. Hai người trong bọn họ ngủ trong hai ca-bin nhỏ xíu ởû cuối trạm. Còn người thứ ba có thể nằm trong túi ngủ ở đầu phía kia, cách nhau khoảng 200 bộ. Đừng nên quên những cái gọi là giường ngủ trên trạm hay trên phi thuyền có cả một mớ dây cột kẻ nằm lại nên chẳng thuận lợi cho việc ân ái trong vòng trói chân, trói tay. Các phi hành gia lại có việc khẩn thiết phải làm theo thời khóa biểu có sẵn nên không có thì giờ để hao phí năng lực và làm chuyện gió trăng.

Tuy nhiên, cũng có lúc họ rảnh rỗi và giải trí. Vào cuối tuần họ có thì giờ nghỉ ngơi, có thể xem phim, đọc sách chơi game và cũng có thể giải buồn cách khác nữa. Giải buồn bằng cách nào?

Dư luận nói đến sex và kẻ tò mò xem lại các chuyến thám hiểm không gian gần đây xem có gì khả nghi hay không.

Trong sứ mạng thứ nhất, phi hành đoàn gồm cả nam lẫn nữ được phóng lên không gian vào 1982. Nhưng trong chuyến bay lần này, phi hành gia Svetlana Saviskaya nổi tiếng là cứng rắn, ấy là không kể tới tình trạng đã có gia đình nên dư luận có lăng nhăng bị dập tắt ngay.

Cặp vợ chồng đầu tiên lên không gian vào năm 1991 là cặp Jan Davis và Mark Lee nhờ họ yêu nhau từ lúc còn trong trại luyện tập. NASA bình thường có chính sách không cho cặp vợ chồng cùng bay lên không gian trong một chuyến, không phải sợ rằng họ làm ái tình ngoài trái đất mà e rằng nếu việc này xảy ra, sẽ làm mất tinh thần đồng đội vì trong đó có các phi hành gia cô đơn khác. Tuy nhiên, NASA đã phá lệ cho Davis và Lee bay chung vì đôi này lấy nhau vào lúc quá kề cận giờ đăng trình của phi thuyền nên NASA không thể đổi nhân sự được. Mới đây, cả hai đều từ chối trả lời câu hỏi họ đã có liên hệ ra sao khi ở trong vũ trụ bao la.

Trong thập niên 1990 dư luận bàn tán về thái độ thân mật của hai phi hành gia Elena Kondakova và Valery Polyakov khi họ thực hiện chung sứ mệnh trên phi thuyền Mir, nhất là lúc xem video người ta thấy có cảnh đang khi bay Valery nghịch ngợm té nước vào Elena.

Vấn đề làm tình trên không gian ít nhất được nhắc tới một lần trong một cuốn sách có tên là The Last Mission (Nhiệm vụ cuối cùng) dù sau đó mới biết tác giả chỉ tung tin vịt. Trong cuốn trên, tác giả người Pháp Pierre Kohler cho rằng NASA đã mở một cuộc nghiên cứu cách thức làm tình trên vùng ngoài trái đất xem cách nào có hiệu quả nhất. Ông ta dẫn chứng một tài liệu không có mấy căn cứ và cho biết rằng những người trong nhóm nghiên cứu đã thực hiện 10 kiểu làm tình khác nhau. Đặc biệt sáu trong những kiểu này đòi hỏi cần có dây đàn hồi ràng buộc đôi lứa (chắc hẳn không phải là dây tơ hồng) hay đôi lứa phải chui vào trong một ống co giãn để giữ họ có thể áp sát vào nhau ở nơi vô trọng lực (zero gravity.)

Nhưng giả thuyết trên khó thuyết phục mọi người vì có vấn đề. Làm tình trong không gian có lợi hay không? Các nghiên cứu mới đây cho biết việc này nếu xảy ra thực không thích đáng. Trước hết trong tình trạng vô trọng lực người ta có thể buồn nôn và làm ăn trong tình trạng trên, hẳn thú ái ân không còn hấp dẫn nữa.

Hơn nữa, bay trên mây mà nhuốm mùi tục lụy, các phi hành gia có thể đổ mồ hôi nhiều hơn. Trong điều kiện vô trọng lực thân hiệt gia tăng và sức nóng làm mồ hôi nhỏ ra từng giọt gây ẩm ướt, một tình trạng vô cùng nguy hại cho phi hành gia. Ngoài ra, khi vào không gian, áp huyết con người có chiều hướng giảm, có nghĩa là tình trạng huyết lưu thông chậm lại. Chắc hẳn mọi người nghĩ tới nguy cơ thượng mã phong cho kẻ dám liều mạng!

Thu Nguyên

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

VIỆT KIỀU VỀ THĂM QUÊ
Chung Mốc
Tác giả Chung Mốc hiện đang cư trú tại Thủ Đức, Việt Nam, gửi bài qua một thân hữu chuyển đến. Trước 1975, tại miền Nam, ông là một nhà giáo, một huynh trưởng sáng giá. Bài viết của ông, như tựa đề, viết theo cách nhìn của bà con quê nhà nhìn những Việt kiều Mỹ khi họ về thăm lại quê quán.


Tháng Năm, nóng toé khói.

Ai đã từng đi xa quê hương đều ước mong có dịp trở về, hoài niệm làm người ta xao xuyến đến cháy lòng. Tìm về từ vật chất đến tinh thần, để thấy những cái tưởng mất đi vĩnh viễn nay lại tìm gặp, cái xưa tầm thường nay trở nên quí giá.

Tôi may mắn thường có dịp đón tiếp thân nhân cùng bạn bè về thăm nhà, nhận thấy song song với nỗi vui mừng khi tái ngộ, còn có vài điều tưởng giữa chúng ta, TA và TÂY tự điều chỉnh, để ngày xum họp niềm vui thêm trọn vẹn.

Tôi nhận thấy có mấy dạng Việt Kiều:

- Người giàu (Có lẽ là giàu thật) quan niệm đi 5 về 10, xênh xang áo gấm về làng, họ hàng cũng được thơm lây. Hàng xóm có lòng đố kỵ cho là nổ: Hồi xưa nghèo không có đôi dép mà đi, giờ thì đi đâu cũng kè kè chai nước lọc, vô nhà ai cũng không dám uống nước dù là nước trà; nước giếng, nước mưa thì chê hôi. Họ đâu còn nhớ tới những ngày kinh tế mới, những ngày đi đào kinh thuỷ lợi nghiêng nón múc một ít nước đục ngàu mà uống. Bây giờ cứ đòi vào nhà hàng máy lạnh sang thiệt là sang để ăn uống cho an toàn khỏi sợ đau bụng, nhưng nếu họ chịu quá bộ ra chỗ đang rửa chén tô, nơi nhà bếp đang lặt rau, làm cá băm thịt, thì tưởng chưa có nơi nào mất vệ sinh hơn thế nữa!

Tôi lấy làm ngạc nhiên và hãnh diện khi người mình mới qua tới xứ người, người lâu thì vài ba chục năm, người mới thì chỉ năm hay mười năm mà nay ai cũng là bác sĩ kỹ sư, chủ hãng chủ tiệm, tiếng Tây tiếng Mỹ phun phèo phèo, mà hình như không có ai làm thợ hết cả (?).

Nếu quả thực như thế thì Mỹ trắng Mỹ đen quá kém, nay họ lại phải xin đi làm công cho người mình nhiều quá, chứ như ở VN mà mấy anh Campuchia qua đây lập nghiệp, không chịu làm cu ly khuân vác từ đời cha tới đời con thì cũng còn khuya mới ngóc đầu lên nổi.

Có người qua Mỹ đã lâu nhưng còn e ngại vì tài chánh eo hẹp chưa muốn về thăm quê, vì ngoài tiền vé máy bay ra, còn tiền quà cáp, xe cộ tiêu xài. Nhưng họ đâu biết rằng có tiền cho thân nhân đã quí, nhưng gặp lại người thân sau bao nhiêu năm xa cách còn quí hơn nhiều lắm.

Vẫn biết rằng trong đám thân nhân "yêu vấu" kia thế nào cũng có người nói xấu sau lưng: "Việt Kiều về quê mà Trùm Sò thế thì về làm quái gì". Cũng may số người này không nhiều.

- Người nghèo (Có thể là nghèo giả) than van quá trời vì sợ người nhà vòi tiền, mà có người vòi tiền thật, mè nheo đủ thứ. Họ không chờ cho đến khi gặp mặt mà thư, điện tới tấp khiến mẹ cha, anh em con cái phát chán, vì người ta biết tiền gửi về sẽ bị tiêu pha một cách lãng nhách bởi những người chuyên vô công rỗi nghề, từ sáng tới tối xách xe chạy vòng vòng.

Thái độ và cử chỉ bên TÂY thì lịch sự nhã nhặn, cưng chiều vợ con hết mức (theo kiểu nịnh nghề bà lắm nạc) khiến phe TA ở quê nhà xốn con mắt lắm. Nhưng khốn nỗi TA lại cộc cằn thô lỗ, gia trưởng y như xưa, y như cách đây hàng thế kỷ. Hôm nay nhà có cơm khách, khách hỏi:

- Còn các cháu đâu, không ra dùng cơm luôn thể?

- Các bác cứ xơi tự nhiên, các cháu đã có rồi.

Các bác đang xơi, các cháu thập thò ở cửa, Bố quát:

- Xuống bếp ăn với mẹ!

Đứa con giơ tay lên trời:

- Xin thề là dưới bếp hết cả nước lẫn cái rồi bố ạ!!!

*

Bên TÂY gặp nhau ôm hôn chùn chụt, bên TA mà làm thế có ngày chả còn răng ăn cháo. Hôm anh tôi về, thấy mấy trự Việt Kiều gặp người đi đón ở phi trường, lợi dụng cơ hội ôm hôn tùm lum, ảnh nói có nhiều người làm trò khỉ quá.

Rồi sau đó ít hôm ảnh lại nói sao Việt Kiều về cứ phải chứng tỏ mình là Việt Kiều cho oai, lúc nào cũng thấy đeo cái túi mề gà trước bụng, đàn ông lại còn mang quần có dây đeo vai cứ như mấy anh bồi nhà hàng. Họ nói chuyện với nhau hay với con cái cứ xổ tiếng Mỹ làm người nhà phải nghệt mặt ra. Mà làm như thế nghĩ cũng chả ích lợi gì, chỉ tổ cho nhà hàng chém thẳng tay.

Việt Kiều thường phê bình người trong nước đổ đốn, không chịu làm gì cả chỉ ăn nhậu. Nói của đáng tội, cái đó cũng có nhưng vì họ chưa có cơ hội tiếp xúc với những Giám Đốc trẻ không rượu bia thuốc lá; có trách nhiệm, năng lực và lòng tự trọng; những người thợ quần quật với công việc nặng nề; những nông dân chân lấm tay bùn đã làm nên những thay đổi và ấm no hơn những ngày cũ.

*

Việt kiều lớn đã thế còn Việt Kiều con, tụi nhỏ về đây gặp khí hậu, thời tiết khác lạ, ăn ngủ trái múi giờ dễ sinh ra dị ứng ốm đau, làm ông bà cha mẹ lo sốt vó.

Thái độ tụi nó cũng kỳ dị lắm, hình như nó không thích được nâng niu âu yếm, đụng vào người là nó co rúm lại, mà người mình có thương thì mới rờ rẫm bóp mông, bóp đít khen nó mập, trắng hồng coi dễ thương hết sức. Ban đầu tôi tưởng tụi nó chê mình ở bẩn, nhưng sau này mới biết là làm vậy không nên, nếu là ở Mỹ có thể bị kết tội child abuse gì đó. Tụi nhỏ nói tiếng Việt không rành, nó ú ớ bảo là đau bụng, đưa thuốc cho uống cả tiếng sau mới nói là nó "wrong", nó bị đau cổ họng cơ. Có nhiều đứa lý sự và phá trời thần, trẻ con VN mà nói tay đôi với người lớn thế thì có mà nát đít, còn trẻ Việt Kiều nó được tự do tranh luận nếu nó nhận thấy người lớn nói sai. Về VN mà nó làm cứ như ở nhà nó, cái máy quay phim, dàn máy hát ở quê nhà quí lắm, dành dụm biết bao lâu mới mua được, nhưng con cháu Việt Kiều về xài rồi nó quăng vất tứ tung, chọc ghẹo nhau chạy tới chạy lui làm đổ dàn am-pli, cả nhà thấy xót quá mà không ai dám nói gì!

Nói sang cái ăn mới ngộ, đãi Việt Kiều ở nhà hàng, TA ép TÂY ăn thịt.

TÂY than thở: "Tại sao lại ép chúng tôi những thứ mà hàng ngày phải ăn mấy chục năm nay?"

Không lẽ kêu măng luộc, rau đay cua rốc, cà pháo mắm tôm, rau muống xào đập tỏi v v... Những thứ đó quê tôi có đầy ra, bước ra đàng sau vườn loáng một cái có cả rổ, bây giờ thường để cho heo ăn mà thôi, ai nỡ lòng nào đem ra đãi Việt Kiều.

Việt Kiều con thì khác hẳn, vào bàn nó ngồi im như tượng, mặt buồn như Đức Mẹ Sầu Bi ngồi dưới chân thánh giá, hỏi ăn gì thì chỉ lắc đầu. Thấy mấy ông kêu đồ nhậu rắn rùa, chim chuột. .. đặc sản, nó chỉ con thạch sùng (thằn lằn) trên tường mà hỏi: "Con đó có ăn không ?"

Người lớn thích ăn tiết canh, mua con heo con vịt về cắt tiết hay thọc huyết, nhìn thấy cảnh đó nó kinh hãi ôm nhau khóc thét lên. Còn về thịt cầy, nó dặn là đừng bao giờ đánh lừa nó ăn một miếng, bởi vì ăn thịt chó, tim sẽ đau đớn như phạm tội vậy.

Về tới SG thả tụi nó vào khu siêu thị thì như cá gặp nước, tụi nó hoạt bát hẳn lên, nói líu lo vì trong đó có bán đồ ăn khoái khẩu của nó. Ở quê tôi còn có một thứ mà mỗi nhà có Việt Kiều về thăm thì phải lo trước, đó là cái bàn cầu ngồi theo lối Mỹ, nhà cầu kiểu cũ trẻ con ngồi không quen cứ ngã bổ chửng ra. Nhớ hồi cách đây hơn 10 năm, cầu cá dồ chưa bị cấm, có ông Việt Kiều đang ngồi thì bị cầu xập, ông đứng giữa đìa khóc ầm lên kêu

Trời kêu Phật, kêu cả thánh quan thầy. Một cái đáng sợ nữa cho Việt Kiều là muỗi. Xưa kia muỗi chỉ có mùa, bây giờ nhờ kinh tế thị trường nên có quanh năm, nó lại theo trào lưu khủng bố của thế giới nên không kêu vo ve nữa mà chuyên âm thầm đánh du kích, cắn xong một phát là chỗ đó ngứa không chịu nổi. Đối với người trong nước không hiểu vì đã chịu muỗi chích hoài nên cơ thể quen nọc ngứa, hay là tại vì thịt Việt Kiều thơm (tắm bằng xà bông Dove), hay tại muỗi vẫn còn thù dai đối với Đế Quốc, mà cho dù là ban ngày sáng sủa đàn muỗi không cắn ai, lại cứ xà quần bên Việt Kiều như đàn trực thăng sắp đổ quân vậy.

Đối với Việt Kiều nhí thì thật là thê thảm, cho dù bôi thuốc chống muỗi rồi đó, nhưng dính mũi nào là làm độc mũi đó, có khi mưng mủ xưng to như trái chùm ruột. Tôi có đứa cháu kiên nhẫn ngồi đếm được 108 mụn trên một cái chân nhỏ bé!!!

Còn trục trặc ngôn ngữ Việt giữa người trong và ngoài nước nữa chứ. Có nhiều Việt Kiều nghe không hiểu được những từ ngữ "mới". Hồi sau 75 tôi có dịp tiếp xúc với cán bộ hay người miền Bắc mới vô, nghe họ nói tôi buồn cười lắm mà không dám cười, sau đó nhái chơi, rồi dần dần nó ngấm vào giọng nói lúc nào không hay, bây giờ có những chữ mà loay hoay mãi không nhớ ra chữ cũ để thay thế.

Thí dụ: Hôm nay tôi tranh thủ đến thăm anh (cố gắng). TV hôm nay bị sự cố kỹ thuật (trục trặc ). Nhưng đến câu "Họ có mặt bằng cho thuê" thì tôi đành chịu không tìm ra chữ nào để thay.

Có anh về nước cầm máy chụp hình hay quay phim thì thấy cái gì hơi lạ là bấm máy liên hồi, thấy người ta nói đi xe khách chất lượng cao (hi quality); xe tham quan (tourist); cửa hàng chuyên bán ổn áp (survolter) là cười khinh khỉnh, nhưng chúng tôi thấy họ nói pha tiếng Mỹ lại càng kỳ quái hơn: Đem cái xe tới tiệm để estimate, anh thợ sửa xe dốt nát đâu biết tiếng Tây tiếng U gì đâu, nghe vậy bèn tháo tung chiếc xe ra; bảo tun-ấp thì nghe giống như "ốc" nên lấy đồ nghề ra xiết tất cả những con ốc lại. Đàn bà con gái gì mà nói giữa chốn đông người "Tôi không có khe" (care); "Vẫn còn ở chỗ cũ đấy, chứ tôi đâu có mu (move)".

Cười, bởi vì khe và mu là những chữ dùng để chỉ cơ quan sinh dục của đàn bà.

Có lần được tháp tùng về thăm quê cũ của mẹ tôi ngoài Bắc, gặp đứa em họ đang phụ trách một đoàn thể trong xứ đạo, nó hỏi xin cái máy kích. Tôi hỏi cần đẩy hay kéo cái gì, nó giải thích thì giời ơi! đó là cái am-pli và cặp loa để phát thanh, ở ngoài Bắc gọi là cái máy kích âm!!! Bây giờ họ còn hay nói tắt. Hỏi gia đình thế nào? Trả lời dạo này gia đình chúng em VẤT lắm (vất vả); Món này ăn ngon CỰC (cực kỳ); Thợ xây quát phu hồ: "Lấy cho tao bao XI (xi măng)!!!

Chữ "bị" ở thế thụ động (passive voice) lại được nói: "Ông ta hơi bị giỏi đấy" ; Món này ăn hơi bị ngon v v... Ban đầu tôi tưởng chỉ là cách dùng chữ cho khôi hài, không ngờ có những nhà văn lớn dùng trong văn chương nghiêm túc nữa đấy. Thật quái đản!!!

Hôm xem lậu cuốn băng Thuý Nga, thấy ông Nguyễn Ngọc Ngạn nói xỏ người ở nước ngoài hay nói chữ là, thay vì nói "Rất đẹp" thì lại nói "Rất là đẹp". Tôi thì tiếng Anh dốt nát, đành dịch ra là "Very is beautiful"! Ngày xưa còn đi học mà làm luận văn xài chữ: thì, là, mà, bị v v... lung tung như kiểu này chắc thầy vã cho rách mép.

Ở VN bây giờ từ quan cho tới anh cùng đinh khố rách đều nghiện chữ "Nói chung" cũng như mấy anh Việt Kiều hay dùng chữ "You know" vậy.

Hỏi thăm gia đình khoẻ không thì được trả lời: "Nói chung cũng tốt. Mẹ tôi còn đang nằm bệnh viện còn vợ tôi thì mới chết tuần rồi". Hãy nghe đài BBC phỏng vấn mấy quan chức, hay đọc trong bản báo cáo của mỗi cơ quan, đoàn thể, mỗi ngành không bao giờ thiếu chữ "Nói chung": -Tình hình chỗ nào cũng vậy, nói chung là tốt, nhưng trong đó còn có một vài bộ phận yếu kém tồn tại. ...

Tôi tới thăm gia đình người bạn mới từ nước ngoài về, bố bảo con gọi mẹ ra đây. Thằng con chạy vào trong hét toáng lên: "Momy, dady muốn momy bây giờ". Hồi lâu sau nó lại chạy ra bảo: "Momy đang rửa he". Tôi ngạc nhiên ngẫm nghĩ mãi mới hiểu là má nó đang gội đầu (hair). Tháng rồi có mấy đứa cháu từ Úc về chơi, tôi dẫn đi ăn nghêu ở Ngã Sáu, trong dĩa nghêu luộc chín há vỏ ra, có con thịt rớt ra ngoài chỉ còn cái vỏ không, đứa bé cầm cái vỏ ngắm nghía một hồi rồi tặc lưỡi: "Không có ai". Ôi ngôn ngữ Việt của Việt Ta và Việt Tây sao mà rắc rối, biến hoá làm vậy! Ngày vui qua mau rồi cũng đến ngày tiễn đưa người nhà ra phi trường. Người còn ở VN khoái tiễn đưa lắm, lý do là lúc đó người đi rất ngậm ngùi, còn bao nhiêu tiền trong túi cũng móc ra cho hết, thương lắm cơ.

Việt Kiều con ra tới phi trường thì mừng lắm, chúng nhảy cỡn lên múa máy tay chân rồi la to: -Thoát khỏi Việt Nam rồi! Thoát Việt Nam rồi!

Vậy thì tôi còn mong gì khi chúng lớn lên, học hành thành tài rồi về giúp đỡ quê hương?.

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Vài Điều Về Trái Chuối

CHU TẤT TIẾN .


Theo một giáo sư đại học, chuối là một trái cây mang lại nhiều ích lợi nhất trong các loại trái cây. Chuối chứa ba thứ đường (sucrose, fructose, glucose) phối hợp với chất sơ. Quả chuối đem lại năng lượng tức thì và lâu dài. Một tài liệu nghiên cứu cho thấy chỉ hai quả chuối là đủ cho một lần tập luyện 90 phút. Đó là nguyên nhân tại sao các nhà thể thao thường hay dùng chuối. Nhưng năng lượng đến từ chuối không phải là điều duy nhất mà người ta quan tâm. Chuối còn chữa được nhiều thứ bệnh nữa.

-Bệnh căng thẳng: Theo một nghiên cứu gần đây giữa những người bị bệnh căng thẳng, rất nhiều người cảm thấy thư giãn sau khi ăn chuối. Điều đó xẩy ra là vì chuối có chất "trytophan", một loại "prôtêin" mà cơ thể sẽ chuyển sang dạng "serotonin", có tính chất làm cho người ta thư giãn, tăng cường sự hưng phấn, và thường làm cho người ta cảm thấy hạnh phúc.

Ngoài ra, sinh tố B trong chuối sẽ điều hòa lượng đường trong máu, làm cho ta khoan khoái hơn.

-Bệnh thiếu máu: Có nhiều chất sắt, chuối có thể kích thích tăng cường huyết cầu trong máu và giúp trị bệnh thiếu máu.

-Bệnh cao huyết áp: Loại trái cây nhiệt đới này lại rất cao trong "potassium" trong khi lại thấp chất muối, cho nên thành ra thuốc trị bện cao huyết áp rất tốt. Cơ quan quản trị Thực Phẩm và Thuốc Hoa Kỳ đã cho phép kỹ nghệ chuối được chính thức loan báo điều này cho những người mắc bệnh cao máu.

-Sức mạnh Trí não: 200 học sinh tại trường Twickenham (Middlesex) được thử nghiệm cho ăn chuối vào buổi sáng và buổi trưa để kích thích hoạt động não bộ. Kết quả cho thấy chuối đã giúp học sinh tỉnh táo hơn.

-Bệnh táo bón: Giầu chất sơ, nên nếu cho chuối vào trong thực phẩm ăn kiêng có thể khôi phục lại hoạt động của ruột già, giúp vượt qua cơn bệnh táo bón mà không cần đến thuốc xổ.

-Nhức đầu, chóng mặt vì uống nhiều ruợu: Một trong những phương pháp trị cơn nhức đầu, chóng mặt vì ruợu là làm một ly kem chuối, sữa "xóc" (xay) và mật ong. Chuối sẽ làm cho dịu bao tử, và với sự trợ giúp của mật ong, sẽ tạo nên một lượng đường tan trong máu, trong khi sữa vừa làm dịu cơn đau vừa tái tạo nước trong cơ thể.

-Đau bao tử: Chuối có tác dụng chống acít một cách tự nhiên trong cơ thể, nên nếu bạn bị lên cơn đau, cố ăn thêm chuối để dịu đau.

-"Sốt ban sáng": Ăn chuối giữa các bữa ăn giúp lượng đường trong máu tăng lên, tránh được các cơn "sốt ban sáng" (khó chịu, bần thần vào buổi sáng).

-Muỗi cắn: Trước khi tìm thuốc bôi muỗi cắn, thử chà nhẹ phần trong của vỏ chuối vào chỗ muỗi cắn. Nhiều người tìm thấy công hiệu lạ lùng từ phần trong vỏ chuối này.

-Thần kinh yếu: Chuối có nhiều Sinh tố B nên có thể giúp tăng cường cho hệ thần kinh.

-Bệnh mập phì tại sở làm: Khảo cứu tứ Viện Tâm Lý học tại Úc cho thấy rằng áp lực tại công việc thường dẫn tới sự ăn nhiều nhất là Chôcôlate và bánh. Theo dõi hơn 5000 bệnh nhân ở bệnh viện, các chuyên gia thấy rằng đa số bị mập phì vì sức ép của công việc. Khảo cứu cũng cho thấy rằng để tránh việc quá lo lắng mà trở thành ăn nhiều, người ta phải kiểm soát độ đường trong máu bằng cách ăn những thức ăn có nhiều chất carbohydrate (có nhiều trong chuối) mỗi hai giờ để cân bằng lượng đường trong máu.

-Loét bao tử: Chuối được dùng như là một thực phẩm ăn kiêng chống lại sự bất bình thường của cơ quan tiêu hóa vì chất sơ và sự mềm mại của chuối. Đó là một món ăn sống duy nhất có thể ăn mà không gây căng thẳng cho các vết loét. Chuối cũng cân bằng sự tiết quá nhiều acid đồng thời làm giảm sự kích thích phía trong bao tử bằng một lớp bao lại.

-Kiểm soát nhiệt độ: Nhiều nền văn hóa cho rằng chuối là một loại trái cây có thể làm giảm bớt nhiệt độ và sự căng thẳng của người đang chuẩn bị làm mẹ. Ở Thái Lan, người ta cho người mang thai ăn nhiều chuối để giảm nhiệt độ của đứa nhỏ.

-Những căn bệnh về thời tiết thay đổi: Chuối có thể giảm những căn bệnh này bởi vì chuối có chứa chất làm tăng cường khả năng tự chữa bệnh.

-Cai thuốc lá: Chuối có thể giúp người cai thuốc là. Sinh tố B 6, B 12 trong chuối cũng như chất potassium và magnesium giúp cho cơ thể hồi phục sau những phản ứng của sự thiếu nicotine.

-Căng thẳng: Potassium là một sinh tố khoáng, giúp thăng bằng nhịp tim, gửi Oxygen lên óc và điều hành lượng nước trong cơ thể. Khi chúng ta bị stress, độ metabolic tăng lên, làm giảm đi lượng potassium. Do đó, chất potassium trong chuối sẽ làm quân bằng lại sự thiếu thốn đó.

-Xuất huyết não (Stroke): Theo nghiên cứu của tập san The New England Journal of Medicine, ăn nhiều chuối sẽ giảm được 40% số tử vong vì xuất huyết não.

-Mụn cóc: Đắp vỏ chuối lên chỗ mụn cóc, rồi dán lại bằng băng keo trong một thời gian sẽ làm mất mụn cóc!

Cho nên, chuối là một thứ thuốc công hiệu cho nhiều loại bệnh. Nếu so sánh với táo, chuối có 4 lần protêin cao hơn, 2 lần carbohydrate, 3 lần phosphorus, 5 lần sinh tố A và sắt, 2 lần các sinh tố và khoáng khác. Chuối cũng giầu Potassium và là một trong những trái cây tốt nhất cho con người.

Vậy, ta có thể nói: Ăn một trái chuối một ngày, sẽ không cần thăm bác sĩ. (A Banana a day, keeps the doctor away!)

(Lời người dịch: Dù cho kết quả thế nào chăng nữa, chuối vừa rẻ vừa ngon, có lười đến mấy cũng chỉ cần giơ tay, bóc một cái, là trái chuối hấp dẫn hiện ra liền, tại sao không ăn?)

Phỏng dịch

Post Reply