Quán Vắng không Người ...3
Moderator: khieulong
“TÔI BIẾT THẾ NÀO ANH CŨNG ĐẾN!”
HUY PHƯƠNG “Trong một trận chiến xẩy ra vào thời Đệ I Thế Chiến, một chiến binh bị thương nặng không rút theo đơn vị mình về lại phòng tuyến được, phải nằm lại một vùng đất không người đầy bom đạn. Một đồng đội của anh, vì tình chiến hữu, muốn xin phép viên chỉ huy rời hầm chiến đấu để phóng người ra chỗ nguy hiểm dìu bạn mình về, nhưng người chỉ huy từ chối lời thỉnh cầu đó vì lý do họ đang ở trong một tình trạng rất nguy hiểm mà người lính trẻ đi cứu bạn có thể mất mạng. Thừa lúc cấp chỉ huy không để ý, người lính rời chỗ ẩn nấp, chạy băng qua phòng tuyến không người, đến nơi người bạn bị thương. Mặc dầu dưới hỏa lực dầy đặc, anh cũng đã đến nơi người bạn bị thương nằm và tìm cách dìu bạn về phòng tuyến của mình. Trên đường trở lại, anh kéo người bạn bị thương đằng sau anh và đã bị trúng một phát đạn vào người. Dùng hết sức lực trong nỗi đau đớn tận cùng, anh vừa bò vừa kéo theo người bạn về phòng tuyến mình. Khi cả hai cùng rơi xuống giao thông hào, anh quay lại định nói với bạn điều gì đó và kinh hãi nhận ra bạn mình đã chết từ lúc nào.
Viên chỉ huy giận dữ nói: -“Tôi đã bảo anh đừng liều mạng làm một việc điên rồ như vậy, anh thấy không? Giờ anh bị thương mà bạn anh cũng đã chết. Anh đã làm một việc vô ích!”.
Người lính trẻ bị thương thều thào đáp: -“Thưa Trung Úy, việc ấy đáng làm lắm chứ! Khi tôi đến thì anh ta chưa chết và anh đã nói với tôi:- Jim, tôi biết thế nào anh cũng đến!”
-“Tôi biết thế nào anh cũng đến!” Câu nói ngắn gọn nhưng đầy ý nghĩa. Tình chiến hữu đẹp đẽ biết bao! Người lính tên Jim đã bất tuân lệnh cấp chỉ huy để lăn mình đi cứu bạn. Anh biết bạn mình đang chờ và sự chờ đợi ấy sẽ kinh khủng như thế nào khi người lính bị thương ấy biết mình đang bị bỏ rơi giữa một “vùng đất không người”. Jim có thể hy sinh tính mạng của mình để chứng tỏ cho một chiến hữu biết không hề bị đồng đội bỏ rơi”.
Đây câu chuyện của ông Robert L. Funseth, Thứ Trưởng Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, thương thuyết gia của chính phủ Hoa kỳ trong việc giúp hàng nghìn cựu tù nhân chính trị được đến định cư tại Hoa Kỳ, trong bài nói chuyện với gia đình tù nhân chính trị Việt Nam vào tối ngày 28 tháng 7 năm 1990 tại Virginia, tại bữa cơm “Đồng Tâm và Hội Ngộ” chào đón những người tù “cải tạo” đầu tiên đặt chân đến Mỹ. Từ câu chuyện của người lính tên Jim, ông Funseth đã tỏ sự hối tiếc do sự chậm trễ của chính phủ Hoa Kỳ trong việc thương thảo khó khăn với chính phủ CSVN đã kéo dài 8 năm, nhiều tù nhân đã chết trong trại tập trung của Cộng Sản hoặc sau khi ra tù. Nhưng với những việc làm của ông, ông Funseth tin rằng, trước khi gục ngã, nhiều người tù “cải tạo” đã tin rằng họ đã không bị bỏ rơi, và chương trình nhân đạo này đã dìu dược bao nhiêu người tuyệt vọng giữa “vùng đất không người” về được một nơi chốn an toàn.
Thật ra điều kinh khủng ở trong các trại tù không phải là bị bỏ đói, lao động khổ sai hay bị hành hạ mà chính là thấy tháng ngày vô vọng, và nỗi đau đớn thấy mình bị bỏ quên, mất hết lòng tin về những chiến hữu hay những đồng minh đã kề vai sát cánh cùng nhau ngày trước. Chúng ta cũng biết chính sách của nhà tù Cộng Sản là cô lập người tù với thế giới bên ngoài để họ không còn trông mong, hy vọng gì nữa. Bà Ginetta Sagan, một tù nhân của Phát Xít Đức đã nói rằng chế độ lao tù Cộng Sản đối với tù binh miền Nam không khác gì Phát Xít. Khi phỏng vấn hằng nghìn cựu tù nhân “cải tạo” để làm một bản tường trình về chế độ lao tù Cộng Sản, bà đã kinh hãi nhận ra rằng nỗi khổ của những người tù trong các trại tập trung này không phải là bị đối xử khắc nghiệt mà vì hoàn toàn bị cô lập, cắt đứt với thế giới bên ngoài, để họ không còn hy vọng, không còn niềm tin gì nữa.
Hiện nay nỗi khổ đau của hàng chục nghìn thương phế binh VNCH không phải chỉ do sự đói nghèo, tủi nhục mà do cái cảm tưởng mình đã bị bỏ quên. Biết bao nhiêu tướng lãnh, cấp chỉ huy và đồng đội ngày trước đã làm được gì cho những người bất hạnh ở lại để họ có thể nói như người lính bị thương kẹt lại giữ chiến trường, nói với người bạn tên Jim trong câu chuyện trên: “Tôi biết thế nào anh cũng đến!”
Cũng nhờ trong chúng ta có những người đã có lòng và biết nói lời “Cám ơn anh, người thương binh VNCH” mà có những người bạn thương binh của chúng ta, trước khi qua đời đã có đôi chút hạnh phúc khi nghĩ rằng mình chưa bị bỏ quên.
Hải ngoại hiện nay không quên những người dân thấp cổ bé miệng đang bị bóc lột và đàn áp đến tận cùng ở quê nhà, những người đang cần đến tự do, dân chủ và nhân quyền. Chúng ta cầu mong sao, một này nào đó, những người này có thể nói một lời như trong câu chuyện người lính trẻ cứu bạn-“Tôi biết thế nào anh cũng đến!”
Huy Phương
HUY PHƯƠNG “Trong một trận chiến xẩy ra vào thời Đệ I Thế Chiến, một chiến binh bị thương nặng không rút theo đơn vị mình về lại phòng tuyến được, phải nằm lại một vùng đất không người đầy bom đạn. Một đồng đội của anh, vì tình chiến hữu, muốn xin phép viên chỉ huy rời hầm chiến đấu để phóng người ra chỗ nguy hiểm dìu bạn mình về, nhưng người chỉ huy từ chối lời thỉnh cầu đó vì lý do họ đang ở trong một tình trạng rất nguy hiểm mà người lính trẻ đi cứu bạn có thể mất mạng. Thừa lúc cấp chỉ huy không để ý, người lính rời chỗ ẩn nấp, chạy băng qua phòng tuyến không người, đến nơi người bạn bị thương. Mặc dầu dưới hỏa lực dầy đặc, anh cũng đã đến nơi người bạn bị thương nằm và tìm cách dìu bạn về phòng tuyến của mình. Trên đường trở lại, anh kéo người bạn bị thương đằng sau anh và đã bị trúng một phát đạn vào người. Dùng hết sức lực trong nỗi đau đớn tận cùng, anh vừa bò vừa kéo theo người bạn về phòng tuyến mình. Khi cả hai cùng rơi xuống giao thông hào, anh quay lại định nói với bạn điều gì đó và kinh hãi nhận ra bạn mình đã chết từ lúc nào.
Viên chỉ huy giận dữ nói: -“Tôi đã bảo anh đừng liều mạng làm một việc điên rồ như vậy, anh thấy không? Giờ anh bị thương mà bạn anh cũng đã chết. Anh đã làm một việc vô ích!”.
Người lính trẻ bị thương thều thào đáp: -“Thưa Trung Úy, việc ấy đáng làm lắm chứ! Khi tôi đến thì anh ta chưa chết và anh đã nói với tôi:- Jim, tôi biết thế nào anh cũng đến!”
-“Tôi biết thế nào anh cũng đến!” Câu nói ngắn gọn nhưng đầy ý nghĩa. Tình chiến hữu đẹp đẽ biết bao! Người lính tên Jim đã bất tuân lệnh cấp chỉ huy để lăn mình đi cứu bạn. Anh biết bạn mình đang chờ và sự chờ đợi ấy sẽ kinh khủng như thế nào khi người lính bị thương ấy biết mình đang bị bỏ rơi giữa một “vùng đất không người”. Jim có thể hy sinh tính mạng của mình để chứng tỏ cho một chiến hữu biết không hề bị đồng đội bỏ rơi”.
Đây câu chuyện của ông Robert L. Funseth, Thứ Trưởng Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, thương thuyết gia của chính phủ Hoa kỳ trong việc giúp hàng nghìn cựu tù nhân chính trị được đến định cư tại Hoa Kỳ, trong bài nói chuyện với gia đình tù nhân chính trị Việt Nam vào tối ngày 28 tháng 7 năm 1990 tại Virginia, tại bữa cơm “Đồng Tâm và Hội Ngộ” chào đón những người tù “cải tạo” đầu tiên đặt chân đến Mỹ. Từ câu chuyện của người lính tên Jim, ông Funseth đã tỏ sự hối tiếc do sự chậm trễ của chính phủ Hoa Kỳ trong việc thương thảo khó khăn với chính phủ CSVN đã kéo dài 8 năm, nhiều tù nhân đã chết trong trại tập trung của Cộng Sản hoặc sau khi ra tù. Nhưng với những việc làm của ông, ông Funseth tin rằng, trước khi gục ngã, nhiều người tù “cải tạo” đã tin rằng họ đã không bị bỏ rơi, và chương trình nhân đạo này đã dìu dược bao nhiêu người tuyệt vọng giữa “vùng đất không người” về được một nơi chốn an toàn.
Thật ra điều kinh khủng ở trong các trại tù không phải là bị bỏ đói, lao động khổ sai hay bị hành hạ mà chính là thấy tháng ngày vô vọng, và nỗi đau đớn thấy mình bị bỏ quên, mất hết lòng tin về những chiến hữu hay những đồng minh đã kề vai sát cánh cùng nhau ngày trước. Chúng ta cũng biết chính sách của nhà tù Cộng Sản là cô lập người tù với thế giới bên ngoài để họ không còn trông mong, hy vọng gì nữa. Bà Ginetta Sagan, một tù nhân của Phát Xít Đức đã nói rằng chế độ lao tù Cộng Sản đối với tù binh miền Nam không khác gì Phát Xít. Khi phỏng vấn hằng nghìn cựu tù nhân “cải tạo” để làm một bản tường trình về chế độ lao tù Cộng Sản, bà đã kinh hãi nhận ra rằng nỗi khổ của những người tù trong các trại tập trung này không phải là bị đối xử khắc nghiệt mà vì hoàn toàn bị cô lập, cắt đứt với thế giới bên ngoài, để họ không còn hy vọng, không còn niềm tin gì nữa.
Hiện nay nỗi khổ đau của hàng chục nghìn thương phế binh VNCH không phải chỉ do sự đói nghèo, tủi nhục mà do cái cảm tưởng mình đã bị bỏ quên. Biết bao nhiêu tướng lãnh, cấp chỉ huy và đồng đội ngày trước đã làm được gì cho những người bất hạnh ở lại để họ có thể nói như người lính bị thương kẹt lại giữ chiến trường, nói với người bạn tên Jim trong câu chuyện trên: “Tôi biết thế nào anh cũng đến!”
Cũng nhờ trong chúng ta có những người đã có lòng và biết nói lời “Cám ơn anh, người thương binh VNCH” mà có những người bạn thương binh của chúng ta, trước khi qua đời đã có đôi chút hạnh phúc khi nghĩ rằng mình chưa bị bỏ quên.
Hải ngoại hiện nay không quên những người dân thấp cổ bé miệng đang bị bóc lột và đàn áp đến tận cùng ở quê nhà, những người đang cần đến tự do, dân chủ và nhân quyền. Chúng ta cầu mong sao, một này nào đó, những người này có thể nói một lời như trong câu chuyện người lính trẻ cứu bạn-“Tôi biết thế nào anh cũng đến!”
Huy Phương

Lễ trao huy chương Tự Do Truman-Reagan 2007 cho Trần Văn Bá
Tuyết Mai &Trịnh quốc Thiên Hoa Thịnh Đốn.- Victims Of Communism Memorial Foundation đã tổ chức lễ trao tặng huy chương Truman-Reagan Freedom 2007 cho Anh hùng Trần Văn Bá, người đã bị VC hành quyết ngày 8 Tháng Giêng, 1985 sau khi anh bị bắt ở làng Minh Hải, Cà Mau. Buổi lễ trao huy chương được tổ chức vào lúc 7 giờ tối ngày 15 Tháng 11, 2007 tại Tòa Đại Sứ Hung Gia Lợi ở Washington, D.C.
Victims Of Comunist Memorial Foundation (VOCMF) đã vừa được đặt tượng đài tưởng niệm hằng triệu nạn nhân Cộng Sản ở Washignton, D.C. vào Tháng Sáu, 2007.
Cô Lữ Anh Thư một thành viên trong Hội Đồng Quản Trị của VOCMF cho biết, hằng năm VOCMF họp để đưa ra đề nghị tên một người có công rất nhiều trong cuộc đấu tranh chống CS, không phải chỉ căn cứ trên sự hy sinh, sự đấu tranh kiên cường của họ, mà nhờ sự đấu tranh của họ đưa đến một sự thay đổi nào đó trong công cuộc chống CS để dành lại tự do, độc lập cho Quốc Gia họ hay chống lại ý thức hệ Cộng Sản trên thế giới.
Hội đồng này có nhiều người Đông Âu, người Nga, Mỹ, và Cô Lữ Anh Thư là người đại diện cho Á Đông. Cô Lữ anh Thư đã đề nghị tên một người Việt Nam, đó là Ông Trần Văn Bá, và Ông Bá đã được hội đồng chấp thuận. Hơn hai mươi hai năm sau ngày đền nợ nước Anh Trần Văn Bá (lúc đó 40 tuổi) đã được một huy chương tự do cao quý mang tên của hai vị Tổng Thống nổi tiếng chống Cộng của Hoa Kỳ, đó là Tổng Thồng Truman và Tổng Thống Reagan.
Huy chương này từng được trao tặng cho những nhà tranh đấu chống Cộng trên thế giới. Cùng trong buổi lễ trao tặng cho anh hùng TrầnVăn Bá VOCMF cũng trao tặng huy chương cho Tiến Sĩ János Horváth, Dân biểu Qyuốc Hội Hung Gia Lợi và Dân biểu Dana Rohrabacher of California.
Trong buổi lễ này có khoảng một trăm năm mươi người tham dự. Trong phần vinh danh trao tặng huy chương cho Anh hùng TrầnVăn Bá, Ông Lee Edwards đã trân trọng giới thiệu tiểu sử Ông Trần Văn bá. Ông Bá là thứ nam của Cố Dân Biểu Trần Văn Văn, đã bị CS ám sát năm 1966. Ông Trần Văn Bá trước là Chủ Tịch của Tổng Hội Sinh Viên Việt Nam ở Paris trong thập niên 1970. Trong những ngày tháng đầu năm 1975 Ông TrầnVăn Bá đã tổ chức nhiều cuộc biểu tình tuần hành qua các đường phố ở Paris để kêu gọi hỗ trợ cuộc chiến đấu của dân quân Miền Nam VN chống lại cuộc xâm lăng của CS. Ông Bá đã có công lớn ngăn chận buổi nói chuyện của Phạm Văn Đống tại Paris năm 1978.
Năm 1980, sau nhiều năm chuẫn bị Ông Trần Văn Bá đã âm thầm tìm về hoạt động trong nước, cùng toàn dân đứng lên tranh đấu dành lại tự do . Sau nhiều lần xâm nhập VN, năm 1984 Ông Trần Văn Bá cùng một số phục quốc quân đã bị bắt tại làng Minh Hải, Cà Mau. Tháng 12, 1984, trong một phiên tòa trá hình do CS dàn dựng, anh đã hiên ngang từ chối ký tên nhận tội để được ân xá, ông đã bị kết án tử hình. Ngày 8 Tháng Giếng 1985, Trần Văn Bá đã bị VC hành quyết.
Ông Lee Edwards nói ông rất hãnh diện đại diện VOCMF trao tặng huy chương Tự Do Truman Reagan 2007 cho Anh Hùng Trần Văn Bá, giữa tiếng vỗ tay ngưỡng mộ vang dội cả hội trường.
Sau đó Ông TrầnVăn Tòng, anh của Ông Trần Văn Bá đại diện cho gia đình lên nhận lãnh huy chương cao quý này. Trong phần phát biểu, Ông Tòng
đã nhắc lại năm 1966 Ông Trần Văn Bá, lúc 21 tuổi đã chứng kiến cảnh CS ám sát cha của ông, sau đó ông Bá đi du học ở Pháp nhưng trong tâm tư lúc nào ông cũng là một người yêu nước thiết tha. Ông luôn tin tưởng vào chính nghĩa của Miền Nam và rất lo ngại Miền Nam sẽ rơi vào tay CS. Mặc dầu HK đã hy sinh 58 ngàn chiến sĩ để bảo vệ Miền Nam VN, tuy nhiên Ông Bá không chủ trương trông cậy vào sự trợ giúp của các cường quốc.
Ông Bá tin tưởng với chính nghĩa Miền Nam sẽ đứng vững, ông đã dấn thân vào cuộc tranh đấu và sẳn sàng hy sinh mạng sống để nêu cao chính nghĩa, giương cao ngọn cơ vàng. Và ông đã trả giá sự dấn thân đó bằng sự hy sinh mạng sống của mình, bị CS hành quyết ngày 8 Tháng Giêng, 1985.
Ông Tòng nói , hôm nay là một vinh dự cho gia đình ông được đến đây để nhận huy chương cao quý này. Điều này nhắc nhở lại cuộc chiến đấu của ngừơi Hung Gia Lợi chống CS năm 1956. Người Hung Gia Lợi đã thất bại, hằng trăm ngàn người đã bị tàn sát và bị bỏ tù. Người Việt Nam cũng đã thất bại nhưng chúng tôi không bao giờ đầu hàng CS, chúng tôi luôn nêu cao chính nghĩa tự do và chúng tôi luôn bảo vệ Miền Nam khỏi sự xâm lăng của CS.
Trong cuộc phỏng vấn riêng của chúng tôi, Ông Trần Văn Tòng nói, trong buổi trao tặng huy chương này có hai điểm đáng nhấn mạnh , thứ nhất là huy chương này đã đem vấn đề Việt Nam trở thành vấn đề thời sự trong địa hạt tranh đấu cho tự do và tưởng nhớ về những nạn nhân của CS.
Điểm thứ hai là hiện giờ ở VN vẫn có nhiều ngừơi tiếp tục tranh đấu cho Việt Nam trong những điều kiện cực kỳ khó khăn , vì vậy ông muốn chia sẻ sự vinh dự của huy chương tới tất cả những người còn tiếp tục tranh đấu cho tự do.
Ông Trần Tử Thanh, Bí Thư Thành Đảng Bộ Việt Nam Quồc Dân Đảng là người rất thân với Ông Bá và gia đình Ông Bá cho biết, trong thời gian Ông Bá bị hành quyết thì ông Thanh cũng đang bị ở tù CS. Ông Thanh kể lại ngay sau khi Ông Bá bị hành quyết thì một Cán Bộ CS tên là Tư Chiến đã đến cho ông hay bằng một câu hềt sức ngắn gọn là :” Chiến hữu TrầnVăn Bá của các anh đã bị chúng tôi tử hình”. Ông Thanh nói, ông không hiểu cái gì thúc đẩy mà tự nhiên ông la lên thật to:” Đả đảo CS, Liệt sĩ TrầnVăn Bá muôn năm”. Sau đó ông bị cùm chân nhiều tháng để lấy cung trong phòng tối .
Ông Thanh nói tiếp, một tên công an CS có tham dự cuộc xử bắn Trần Văn Bá kể lại là Trần Văn Bá là một người rất dũng cảm chưa từng thấy. Trần văn Bá đã yêu cầu không bịt mắt ông. Nhưng CS đã bị mắt và nhét một quả chanh vào trong miệng ông. Và khi bắn thì một viên đạn trúng tim, máu từ trong tim Trần Văn Bá phun tung tóe ra ngoài và tên trưởng toán hành quyết đã phải bắn hai phát ân huệ cho Trần Văn Bá.
Trong thư phúc đáp gởi Tiến Sĩ Lee Edwards, Chủ Tịch VOCMF về quyết định trao giải thưởng cho Ông Trần Văn Bá, Ông Trần Văn Tòng, anh của ông Bá đã viết, Ông cảm nhận là huy chương này không chỉ để vinh danh, tưởng niệm một người đã nhiệt thành đặt niềm tin vào lý tưởng Tự Do và đã hiến dâng cả cuộc đời mình cho lý tưởng, mà còn nhằm vinh danh tất cả những ai, dù đến từ phương trời nào, đã tranh đấu cho Tự Do và Dân Chủ ở Việt Nam.
Hơn thế nữa huy chương cũng biểu hiện một ý chí yểm trợ mạnh mẽ những người hiện vẫn tiếp tục tranh dấu cho Tự Do và Sự Thật ở VN . Họ là những người sẳn sàng hiến dâng không nuối tiếc mạng sống của mình cho lý tưởng . “ Họ chính là những người đáng được yểm trợ cho dù họ ở bất cứ nơi nào”. Và đó cũng là mục tiêu mà VOCMF đã theo đuổi một cách đáng phục trong mấy năm qua.
Được biết Ủy ban Quồc Tế Trần Văn Bá được sáng lập năm 1985 tại Paris, Thủ Đô Pháp Quốc, sau khi Ông TrầnVăn Bá bị CSVN hành quyết. Ủy ban này được thành lập với sứ mạng nối tiếp cuộc đấu tranh chống mọi chế độ chuyên chế, đặc biệt là chế độ CS bạo tàn ở bất cứ nơi nào. Ủy ban được sự hậu thuẫn và tham gia của nhiều nhân vật chính trị tên tuổi trên thế giới của Mỹ cũng như Âu Châu, như Cố Giám Đốc Trung Ương Tình Báo HK Wìliam Colby; Thành viên Hội Đồng A Ninh Quốc Gia HK Blair Dorminey…
Có một số người Việt Nam tham dự buổi lễ trao huy chương cho Ông Trần Văn Bá, trong đó có Ông Trần Tử Thanh, Việt Nam Quồc Dân Đảng, Ông Huỳnh Văn Hiệp, Phật Giáo Hòa Hảo, và nhiều phóng viên Việt Nam…
Tài phiệt và lái súng-- Không đáng sợ bằng nghị sĩ và dân biểu Hoa Kỳ...
Nguyễn Xuân Nghĩa
Người đầu tiên báo động dân Mỹ về sự toa rập của giới kỹ nghệ và quân sự Hoa Kỳ là một ông tướng. Nhân vật đó còn có thẩm quyền hơn vậy vì sau khi rời quân ngũ lại làm tổng thống Mỹ, trong hai nhiệm kỳ. Ðó là Dwight D. Eisenhower.
Nhưng lời báo động của ông lại bị hiểu sai, trở thành huyền thoại - sự đồn đãi về một điều không có! Ðó là “tập đoàn kỹ nghệ chiến tranh”, military-industrial complex, mà Eiseinhower nói tới trong bài diễn văn giã từ quốc dân.
Trong bài diễn văn đọc ngày 17 Tháng Giêng năm 1961, Eisenhower cảnh báo về hai hiện tượng mới trong xã hội Hoa Kỳ. Một là một quân lực vĩ đại, sức mạnh bảo vệ hòa bình cho nước Mỹ. Hai là sự hiện hữu của một kỹ nghệ quân sự lớn lao. Ảnh hưởng của chúng, về kinh tế, chính trị và cả tâm linh có thể được thấy trong từng thành phố, tiểu bang và từng cơ quan liên bang. Nhưng, Eisenhower nói tiếp, chúng ta không thể không thấy ra hậu quả của tình trạng ấy.
Hậu quả mà vị tổng thống đáng kính trọng này nhắc nhở quốc dân là sự cấu kết của tập đoàn kỹ nghệ chiến tranh trong bộ máy chính quyền để ảnh hưởng tới thủ tục ngân sách của quốc gia. Ông báo động rằng thủ tục ngân sách trong Quốc Hội có thể bị các thế lực này vô tình hay cố ý chi phối và công dân cần ý thức được điều ấy để bảo vệ các quyền tự do, và tiến trình dân chủ.
Nói cho dễ hiểu, Eisenhower báo động về việc xào nấu luật lệ trong Quốc Hội do ảnh hưởng của kỹ nghệ quốc phòng cấu kết với các chính trị gia từ địa phương tới liên bang.
Trước Eisenhower rất lâu và sau đó cũng rất lâu, ta đã nghe nói đến thế lực của “bọn tài phiệt” trong hậu trường chính trị Hoa Kỳ, khiến Mỹ ưa gây chiến trên thế giới để doanh nghiệp Mỹ có cơ hội làm ăn. Thí dụ nóng bỏng là mối quan hệ giữa Tổng Thống George W. Bush và Phó Tổng Thống Dick Cheney với kỹ nghệ dầu hỏa, khiến chính quyền Bush đã tấn công Iraq.
Ðấy là kết quả của sự lười biếng suy nghĩ của nhiều người Mỹ và sự mẫn cán tuyên truyền của những người chống Mỹ, hay chống Bush!
Trước khi nhận lời ra tranh cử cùng Thống Ðốc Bush, ông Cheney là tổng quản trị của tập đoàn Halliburton chuyên về dịch vụ dầu khí. Khi làm CEO của Haliburton, Cheney đã vận động rất mạnh để Quốc Hội bãi bỏ lệnh cấm vận kinh tế với Iran vì Halliburton muốn vào xứ đó làm ăn. Người ta đã quên chuyện ấy, và ngày nay chỉ đả kích Cheney là một trong những kẻ chủ xướng việc tấn công Iran. Ở vào mỗi vị trí, người ta lại có một mục tiêu và trách nhiệm khác.
Và nói đến việc tấn công Iraq vì dầu khí thì hai ông Bush-Cheney thật chẳng đáng mặt tài phiệt. Dầu khí Iraq chưa đủ tài trợ việc tái thiết mà giá dầu thô lại mấp mé 100 đồng!
Vả lại, dại gì mà đi xa như vậy khi Venezuela ở trong tầm tay, lại có mối quan hệ lâu đời với kỹ nghệ dầu khí Hoa Kỳ, có một tổng thống nổi danh chống Mỹ và gây rất nhiều vấn đề cho quyền lợi Hoa Kỳ, kể cả các tập đoàn dầu khí Hoa Kỳ! Sao không “giải phóng” Venezuela mà sa đà vào Irap làm chi để gặp loại vấn đề mà một tổng trưởng Quốc Phòng Mỹ báo trước từ 1991: lật đổ Saddam Hussein là sẽ vất vả làm thợ hàn để ráp lại nhiều mảnh vụn sắc tộc và tôn giáo không muốn sống với nhau, và gây bất ổn cho toàn khu vực!
Người báo trước việc đó là Dick Cheney, khi còn điều khiển Ngũ Giác Ðài cho chính quyền George H. Bush trong chiến dịch Bão Sa Mạc năm 1991! Hoa Kỳ đánh tan quân đội Iraq để giải phóng Kuweit rồi rút về chứ không vào Baghdad.
Cho hay, mỗi thời lại mỗi khác...
Nhưng vì sao thế giới vẫn loan truyền lý luận về sự toa rập của tài phiệt và chính giới để Hoa Kỳ gây chiến khắp nơi?
Trước tiên, đó là công lao của Mác và Lenin, một kinh tế gia khá tồi và một chiến lược gia thượng thặng!
Tư bản cần chiến tranh để tồn tại và bành trướng. Lồng bên dưới là một lý luận... chửi cha kinh tế học. Khi có sự hủy diệt - do hay nhờ chiến tranh chẳng hạn - người ta có nhu cầu tái thiết và việc tái thiết ấy giúp cho tăng trưởng kinh tế. Lý luận ấy sai về kinh tế học vì chỉ tính ra những khoản lợi lộc thu lượm được do việc đầu tư và tái thiết mà không nhìn thấy những mất mát ở nơi khác. Ngay tại miền Nam California, sau khi xảy ra trận bão lửa Tháng Mười, tờ Los Angeles Times cũng mau mắn loan tải lý luận của nhiều nhà kinh tế Mỹ, rằng vụ cháy nhà sẽ giúp cho thị trường gia cư sớm hồi phục vì dân mất nhà sẽ cần nhà mới và cần tranh bị lại, v.v... nên sẽ kích thích sản xuất.
Người ta quên là khi bị hỏa hoạn, các nạn nhân đều bị thiệt hại và vì vậy sẽ tiết giảm chi tiêu trong lãnh vực khác. Cái mất đó thì ít ai tính ra. Cái được thì có một chuỗi mẹ cha xí phần, trong đó có giới chính trị!
Cũng lý luận kinh tế một mắt ấy mới giải thích vì sao việc phá hủy cầu đường để tái thiết có khi lại là chánh sách sáng giá của kinh tế học kiểu bao cấp xuất phát từ John Maynard Keynes. Và “tiêu thổ kháng chiến” mới dẫn tới phép lạ tái thiết huy hoàng nhất! Hãy nhìn vào Việt Nam ngày nay thì rõ - miễn là đừng so sánh với các xứ khác!
Hiểu lầm kinh tế ấy vô tình lại ăn khớp với lý luận Cộng Sản, thân Cộng, và trí thức thiên tả thời Sài Gòn 60. Mỹ phải gây chiến để xài cho hết đạn dược đã sản xuất hầu tạo thêm việc làm cho kỹ nghệ quốc phòng, cho bọn lái súng. Khi lại bập bõm nghe rằng chính Tổng Thống Eisenhower đã báo động về việc đó thì làm sao sai được. Một chính trị gia từng là thống tướng năm sao thì quả là người nằm trong chăn, nên biết chăn có rận!
Lý luận ấy tiếp tục được loan truyền trong thành phần trí thức và nghệ sĩ thiên tả hay phản chiến của Hoa Kỳ ngày nay, mà chính quyền Bush không giải thích nổi cho rõ ràng.
Trong khi ấy, người ta quên mất nội dung cảnh báo của Eisenhower.
Tuần qua, hai viện trên dưới của Quốc Hội Hoa Kỳ đã xào nấu một dự luật có triển vọng vượt qua quyền phủ quyết của Tổng Thống Bush. Kế hoạch xào nấu này của đảng Dân Chủ có mục tiêu tăng chi cho một số chương trình tào lao chỉ có lợi cho giới dân cử ở địa phương. Ðể dự luật có thể trót lọt, họ lồng vào đó một số mục quân phí kể cả các khoản chi cho các cựu chiến binh.
Gần tới kỳ tái tranh cử rồi, các chính trị gia đều muốn lập thành tích với địa phương của mình và ráp nối một dự luật có giàng bên trong những khoản chi vớ vẩn, mà ăn phiếu, với các khoản quân phí cho chiến trường Iraq và gia tăng trợ cấp cho cựu chiến binh. Cận ngày Cựu Chiến Binh Hoa Kỳ thì có cho ăn kẹo, đảng Cộng Hòa cũng không dám bác và dự luật có hy vọng huy động đủ túc số để đánh bại quyền phủ quyết của Hành Pháp.
Ðiều họ không ngờ là bên Cộng Hòa không chết nhát bọc xuôi theo trò phù thủy ngân sách ấy mà đòi tách riêng từng khoản cho phân minh. Và dự luật rơi xuống nước! Ðề nghị của Thượng Viện không đủ túc số để vượt quyền phủ quyết của ông Bush.
Nhìn từ bên ngoài, ít ai hiểu ra những trò ma mãnh ấy.
Ðơn giản nhất thì cứ nuốt cả chì lẫn chài lý luận theo đó, Hoa Kỳ ưa gây chiến vì áp lực của kỹ nghệ chiến tranh! Nền dân chủ có thể là chế độ móc tiền thuế của người dân để nuôi các chính khách và khi hữu sự thì đổ lỗi cho ai khác có những âm mưu mờ ám.
Bọn tài phiệt và lái súng đứng đầu danh trạng! Và chiến binh là những kẻ bị lợi dụng. Còn cử tri thiếu hiểu biết là những người vỗ tay ca ngợi nghệ thuật móc túi.
Nguyễn Xuân Nghĩa
Người đầu tiên báo động dân Mỹ về sự toa rập của giới kỹ nghệ và quân sự Hoa Kỳ là một ông tướng. Nhân vật đó còn có thẩm quyền hơn vậy vì sau khi rời quân ngũ lại làm tổng thống Mỹ, trong hai nhiệm kỳ. Ðó là Dwight D. Eisenhower.
Nhưng lời báo động của ông lại bị hiểu sai, trở thành huyền thoại - sự đồn đãi về một điều không có! Ðó là “tập đoàn kỹ nghệ chiến tranh”, military-industrial complex, mà Eiseinhower nói tới trong bài diễn văn giã từ quốc dân.
Trong bài diễn văn đọc ngày 17 Tháng Giêng năm 1961, Eisenhower cảnh báo về hai hiện tượng mới trong xã hội Hoa Kỳ. Một là một quân lực vĩ đại, sức mạnh bảo vệ hòa bình cho nước Mỹ. Hai là sự hiện hữu của một kỹ nghệ quân sự lớn lao. Ảnh hưởng của chúng, về kinh tế, chính trị và cả tâm linh có thể được thấy trong từng thành phố, tiểu bang và từng cơ quan liên bang. Nhưng, Eisenhower nói tiếp, chúng ta không thể không thấy ra hậu quả của tình trạng ấy.
Hậu quả mà vị tổng thống đáng kính trọng này nhắc nhở quốc dân là sự cấu kết của tập đoàn kỹ nghệ chiến tranh trong bộ máy chính quyền để ảnh hưởng tới thủ tục ngân sách của quốc gia. Ông báo động rằng thủ tục ngân sách trong Quốc Hội có thể bị các thế lực này vô tình hay cố ý chi phối và công dân cần ý thức được điều ấy để bảo vệ các quyền tự do, và tiến trình dân chủ.
Nói cho dễ hiểu, Eisenhower báo động về việc xào nấu luật lệ trong Quốc Hội do ảnh hưởng của kỹ nghệ quốc phòng cấu kết với các chính trị gia từ địa phương tới liên bang.
Trước Eisenhower rất lâu và sau đó cũng rất lâu, ta đã nghe nói đến thế lực của “bọn tài phiệt” trong hậu trường chính trị Hoa Kỳ, khiến Mỹ ưa gây chiến trên thế giới để doanh nghiệp Mỹ có cơ hội làm ăn. Thí dụ nóng bỏng là mối quan hệ giữa Tổng Thống George W. Bush và Phó Tổng Thống Dick Cheney với kỹ nghệ dầu hỏa, khiến chính quyền Bush đã tấn công Iraq.
Ðấy là kết quả của sự lười biếng suy nghĩ của nhiều người Mỹ và sự mẫn cán tuyên truyền của những người chống Mỹ, hay chống Bush!
Trước khi nhận lời ra tranh cử cùng Thống Ðốc Bush, ông Cheney là tổng quản trị của tập đoàn Halliburton chuyên về dịch vụ dầu khí. Khi làm CEO của Haliburton, Cheney đã vận động rất mạnh để Quốc Hội bãi bỏ lệnh cấm vận kinh tế với Iran vì Halliburton muốn vào xứ đó làm ăn. Người ta đã quên chuyện ấy, và ngày nay chỉ đả kích Cheney là một trong những kẻ chủ xướng việc tấn công Iran. Ở vào mỗi vị trí, người ta lại có một mục tiêu và trách nhiệm khác.
Và nói đến việc tấn công Iraq vì dầu khí thì hai ông Bush-Cheney thật chẳng đáng mặt tài phiệt. Dầu khí Iraq chưa đủ tài trợ việc tái thiết mà giá dầu thô lại mấp mé 100 đồng!
Vả lại, dại gì mà đi xa như vậy khi Venezuela ở trong tầm tay, lại có mối quan hệ lâu đời với kỹ nghệ dầu khí Hoa Kỳ, có một tổng thống nổi danh chống Mỹ và gây rất nhiều vấn đề cho quyền lợi Hoa Kỳ, kể cả các tập đoàn dầu khí Hoa Kỳ! Sao không “giải phóng” Venezuela mà sa đà vào Irap làm chi để gặp loại vấn đề mà một tổng trưởng Quốc Phòng Mỹ báo trước từ 1991: lật đổ Saddam Hussein là sẽ vất vả làm thợ hàn để ráp lại nhiều mảnh vụn sắc tộc và tôn giáo không muốn sống với nhau, và gây bất ổn cho toàn khu vực!
Người báo trước việc đó là Dick Cheney, khi còn điều khiển Ngũ Giác Ðài cho chính quyền George H. Bush trong chiến dịch Bão Sa Mạc năm 1991! Hoa Kỳ đánh tan quân đội Iraq để giải phóng Kuweit rồi rút về chứ không vào Baghdad.
Cho hay, mỗi thời lại mỗi khác...
Nhưng vì sao thế giới vẫn loan truyền lý luận về sự toa rập của tài phiệt và chính giới để Hoa Kỳ gây chiến khắp nơi?
Trước tiên, đó là công lao của Mác và Lenin, một kinh tế gia khá tồi và một chiến lược gia thượng thặng!
Tư bản cần chiến tranh để tồn tại và bành trướng. Lồng bên dưới là một lý luận... chửi cha kinh tế học. Khi có sự hủy diệt - do hay nhờ chiến tranh chẳng hạn - người ta có nhu cầu tái thiết và việc tái thiết ấy giúp cho tăng trưởng kinh tế. Lý luận ấy sai về kinh tế học vì chỉ tính ra những khoản lợi lộc thu lượm được do việc đầu tư và tái thiết mà không nhìn thấy những mất mát ở nơi khác. Ngay tại miền Nam California, sau khi xảy ra trận bão lửa Tháng Mười, tờ Los Angeles Times cũng mau mắn loan tải lý luận của nhiều nhà kinh tế Mỹ, rằng vụ cháy nhà sẽ giúp cho thị trường gia cư sớm hồi phục vì dân mất nhà sẽ cần nhà mới và cần tranh bị lại, v.v... nên sẽ kích thích sản xuất.
Người ta quên là khi bị hỏa hoạn, các nạn nhân đều bị thiệt hại và vì vậy sẽ tiết giảm chi tiêu trong lãnh vực khác. Cái mất đó thì ít ai tính ra. Cái được thì có một chuỗi mẹ cha xí phần, trong đó có giới chính trị!
Cũng lý luận kinh tế một mắt ấy mới giải thích vì sao việc phá hủy cầu đường để tái thiết có khi lại là chánh sách sáng giá của kinh tế học kiểu bao cấp xuất phát từ John Maynard Keynes. Và “tiêu thổ kháng chiến” mới dẫn tới phép lạ tái thiết huy hoàng nhất! Hãy nhìn vào Việt Nam ngày nay thì rõ - miễn là đừng so sánh với các xứ khác!
Hiểu lầm kinh tế ấy vô tình lại ăn khớp với lý luận Cộng Sản, thân Cộng, và trí thức thiên tả thời Sài Gòn 60. Mỹ phải gây chiến để xài cho hết đạn dược đã sản xuất hầu tạo thêm việc làm cho kỹ nghệ quốc phòng, cho bọn lái súng. Khi lại bập bõm nghe rằng chính Tổng Thống Eisenhower đã báo động về việc đó thì làm sao sai được. Một chính trị gia từng là thống tướng năm sao thì quả là người nằm trong chăn, nên biết chăn có rận!
Lý luận ấy tiếp tục được loan truyền trong thành phần trí thức và nghệ sĩ thiên tả hay phản chiến của Hoa Kỳ ngày nay, mà chính quyền Bush không giải thích nổi cho rõ ràng.
Trong khi ấy, người ta quên mất nội dung cảnh báo của Eisenhower.
Tuần qua, hai viện trên dưới của Quốc Hội Hoa Kỳ đã xào nấu một dự luật có triển vọng vượt qua quyền phủ quyết của Tổng Thống Bush. Kế hoạch xào nấu này của đảng Dân Chủ có mục tiêu tăng chi cho một số chương trình tào lao chỉ có lợi cho giới dân cử ở địa phương. Ðể dự luật có thể trót lọt, họ lồng vào đó một số mục quân phí kể cả các khoản chi cho các cựu chiến binh.
Gần tới kỳ tái tranh cử rồi, các chính trị gia đều muốn lập thành tích với địa phương của mình và ráp nối một dự luật có giàng bên trong những khoản chi vớ vẩn, mà ăn phiếu, với các khoản quân phí cho chiến trường Iraq và gia tăng trợ cấp cho cựu chiến binh. Cận ngày Cựu Chiến Binh Hoa Kỳ thì có cho ăn kẹo, đảng Cộng Hòa cũng không dám bác và dự luật có hy vọng huy động đủ túc số để đánh bại quyền phủ quyết của Hành Pháp.
Ðiều họ không ngờ là bên Cộng Hòa không chết nhát bọc xuôi theo trò phù thủy ngân sách ấy mà đòi tách riêng từng khoản cho phân minh. Và dự luật rơi xuống nước! Ðề nghị của Thượng Viện không đủ túc số để vượt quyền phủ quyết của ông Bush.
Nhìn từ bên ngoài, ít ai hiểu ra những trò ma mãnh ấy.
Ðơn giản nhất thì cứ nuốt cả chì lẫn chài lý luận theo đó, Hoa Kỳ ưa gây chiến vì áp lực của kỹ nghệ chiến tranh! Nền dân chủ có thể là chế độ móc tiền thuế của người dân để nuôi các chính khách và khi hữu sự thì đổ lỗi cho ai khác có những âm mưu mờ ám.
Bọn tài phiệt và lái súng đứng đầu danh trạng! Và chiến binh là những kẻ bị lợi dụng. Còn cử tri thiếu hiểu biết là những người vỗ tay ca ngợi nghệ thuật móc túi.

Hẹn Hò
Tiếng Hát : Ngọc Hạ
Nhạc & Lời: Phạm Duy
Một người ngồi bên kia sông
im nghe nước chảy về đâu
Một người ngồi đây
trông hoa trôi theo nước chảy phương nào
Trời thì mưa rơi
mưa rơi không ngưng suối tuôn niềm đau
Người thì hẹn nhau sang sông
mong cho chóng tạnh mùa Ngâu
Cuộc đời làm cho đôi bên yêu nhau
cách một biển sâu
hẹn hò tàn thu sang xuân bên nhau
biết thuở ban đầu
dù tình không nguôi
đôi ta xin cho hứa vui về sau
trời còn làm cho mưa rơi mưa rơi
cách biệt dài lâu...
Nước vẫn trôi mau
mắt vẫn hoen sầu
đành để hồn theo nước trôi không màu
Số kiếp hay sao?
không cho bắc cầu
thì xin sông nước sẽ cho gần nhau..
Một người bèn ra ven sông
buông theo nước cuồn cuộn mau
Một người chìm sâu
trong khi mưa Ngâu bỗng ngừng ngang đầu
Cuộc tình thương đau
êm êm trôi theo nước xuôi về đâu?
Hẹn hò gặp nhau thiên thu cho phong phú đời người sau ...
-
Nguyễn_Sydney
- Posts: 2581
- Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
- Been thanked: 1 time
Trâu Già Gặm Cỏ Non !
(Tâm sự con trâu già)
Kathy Trần
Trái đất luôn chia ra bốn mùa xuân, hạ, thu, đông.
Mùa xuân cỏ cây mơn mởn, nẩy lộc, trổ mầm, rần rần sức sống.
Sinh vật trổi dậy sau mùa đông dài lạnh lẽo, dồi dào sinh lực đòi hỏi chia xẻ, kiếm bạn chung tình.
Con người thì không được cái hạnh phúc thay da, đổi thịt tới 4 mùa trong năm nhưng đời người cũng chia ra 4 giai đoạn: Xuân, hạ, thu, đông.
Mùa xuân cuộc đời cũng bừng bừng phát triển, tràn trề sức sống và hăng hái đi tìm người bạn chia xẻ sinh lực, tình yêu cũng như tương lai của mình.
Mùa hè sang, sức lực, tinh thần tiếp tục phát triển nhưng không còn hăng hái, vô tận như tuổi thanh niên, người ta dành sức lực để xây dựng con người và gia đình cho vững chắc.
Mùa thu tới, dở dở thì trở thành “Thu vàng” để người ta chán nản: “Nhớ, nhớ buồn, buồn với chán chường”.
Nếu khéo giữ gìn, các ông bà sẽ trở thành “thu quyến rũ” và để người khác đợi chờ, mơ mộng và than thở một mình: “Mùa thu quyến rũ anh rồi!”
Mùa thu thường qua nhanh trên con dốc xuống!
Và mùa đông sớm trở về!
Mùa đông của con người là tuổi già!
Tuổi già, dĩ nhiên, chẳng mấy ai ham. Người ta lờ đi, ráng làm như mình vẫn...như ngày nào.
Người “tri thiên mệnh” thản nhiên nhìn cuộc đời trôi chờ... hư vô tới.
Tình non đã già mà không có phương tiện thì đành chấp nhận hiện tại là mình ... già. Người còn tham luyến cụôc đời thì vội vàng hưởng thụ vì “Em em ơi, tình non đã già rồi!”. Có cơ hội và lòng còn thèm thuồng, ham muốn chưa thỏa thì... Tại sao mình lại không hưởng thụ nhỉ?
Cuộc đổi đời 1975 làm người ta cuống cuồng chạy trốn cơn cuồng lưu màu đỏ máu, chỉ mong được sống còn với một chút tự do.
Tự do rồi, ta tha hồ xây dựng tình yêu, tương lai và sự nghiệp.
Tuổi già tới, nếu thành công, người ta có thể có tất cả. Vừa vừa thì người ta cũng dư sức sống trên cái xứ lo lắng cho người già thực tế và tử tế gần như con cái. Có gần hết, ngoại trừ... tình yêu giờ đã hơi ...thu, hơi già, hơi cũ.
Cái “tình yêu” già nhiều khi nó khó chịu quá, thực tế quá, chẳng còn gì là lãng mạn, là thơ mộng.
Ta tìm về “quê hương là chùm khế ngọt” lủng lẳng trên cành và ta cũng lủng lẳng trên người máy quay phim, máy chụp hình. Phone cầm tay, giấy thông hành cất cẩn thận trong “dạ dầy” trước bụng. Ngon lành tấm bằng quốc tịch người nước ngòai, rủng rỉnh đô-la, lủng củng tiếng Mỹ, tiếng Tây, ta về quê hương, tìm lại kỷ niệm thời thơ dại, tìm người yêu măng măng như thuở yêu đầu.
Dân trong nước, trừ những đảng viên, chức sắc, buôn bán, ô, dù, cò kèo vv... đa số còn nghèo đói nên ta trở thành những thằng chột trong xứ mù.
Con gái trong nước bây giờ lớp thì nghèo, lớp thì không có căn bản đạo đức (ai dậy đạo đức mà học?) đi bán thân cho Hàn, cho Tàu, cho Phi, cho ... đủ xứ quá nhiều may rủi, nhọc nhằn. Ta nói tiếng Việt trơn tru, ta không đến nỗi bệnh hoạn thể xác hay tâm thần, ta dư sức làm ...Hoàng tử của lòng em!
Ta sẽ về để cứu vớt những mảnh đời, những cô gái trẻ, nghèo bất hạnh trên quê hương. Hay ta ra tay cứu vớt những cô gái trẻ dại nhưng già đời càng tốt.
Để các “em” hư hỏng, tội nghiệp biết mấy lại có hại cho tương lai giòng giống Việt.
Tội nghiệp! Ta sẽ ra tay cứu độ những mảnh đời!
Ta sẽ cứu lấy tương lai đất nước!
Trên quê hương yêu dấu, riêng ta lại được làm “Trâu già gặm cỏ non!”
Chà, tiếng đời mỉa mai sao mà vô lý, vô duyên, dại dột!
Trâu già, gối mỏi, chân chồn, cặp hàm đã mỏi. Cỏ già gặm mỏi hàm mà chẳng thấu, cỏ non mơn mởn đưa tới tận miệng, không gặm thì điên chăng?
Ta tiện tặn tiền già, ta rủng rỉnh tiền đô, ta dư sức tặng “em” vài tháng sống thoải mái trên quê hương nghèo khó của em và sau cùngchiếc vé ra khỏi đất nước nghèo nàn, bạc đãi những người lương thiện, nghèo khó. Ta tặng cho em tương lai nhàn hạ xứ người; tặng cho em tấm thân ta có đầy đủ tiền hưu, tiền già, medical, medicare.
Ta lại có cả “tình yêu” để tặng em trong những ngày cuối đời.
Gừng càng già, càng cay, huống chi ta có Medical cho mua Viagra, Levitra...
Ta lại được hưởng những đêm ngà ngọc, những ngày huyền ảo với các em măng măng như mớ cỏ non tươi trẻ y hệt như lũ con cháu ta trên nước người.
Trời, quê hương sao mà dễ thương đến thế!
Quê hương yêu dấu đã cưu mang ta ngày xưa và ưu đãi ta bây giờ nhờ ta may mắn nhanh chân thoát khỏi quê hương và mang theo tấm giấy chứng minh rằng mình không còn là người Việt!
Ta là ông vua không ngai cho bõ những ngày cầy bừa vất vả nuôi con hay tranh đấu chống Cộng mỏi ...miệng trên xứ người.
Mấy mụ già giết giặc nơi xứ người cỡ... vợ ta dữ như chằng!
Mụ không hiểu rằng mụ hết thời rồi mà còn cứ đòi hỏi ta này nọ?
Tuổi đã già thì người thêm xấu, tính tình ngày càng khó chịu, lại còn đòi hỏi những nam nữ bình quyền, những bổn phận làm chồng, làm cha, nghe mà phát mệt.
Mớ cỏ già bắt nhai đi nhai lại, ngán ngẩm biết bao?
Rủi có chút tiền bạc, tài sản thì khi ly dị mụ nghe lời xúi bẩy của mấy thằng luật sư, bắt chia từ đầu đến đuôi, lột ta sạch trơn cho bõ ghét.
Kinh hoàng thật!
Số tiền khiêm nhường của ta, ở xứ Mỹ, như muối bỏ bể.
Về “quê hương”, ta tiêu pha, chẳng dám so với cán bộ, nhà buôn, cò kèo thì ít ra cũng hơn... 75 triệu người dân khác.
Em cỏ non mơn mởn, nhai tới đâu, cặp hàm ta ... đã đời tới đó.
Em lại còn đủ món ăn chơi, chiều chuộng mà mấy mụ già nhà quê, giết giặc chỉ biết lo cho chồng con nào biết tí gì.
- Ta có nghĩ tới những người bỏ thân hy sinh cho ta chạy thoát không à?
Đừng nhắc nhở quá khứ, lão Kỳ cục cũng quá tuổi “cổ lai hy”, làm tới chức phó vương mà còn mặt trơ, trán bóng về nịnh bợ kẻ thù để có rượu thịt đổ cho đầy chiếc giá áo túi cơm. Lão Minh cồ có tấm thân to như voi và cái óc của con chim sẻ, còn nịnh hót để về làm “công dân XHCH” thì ta, phó thường dân có trở về ăn chơi chút đỉnh trong những ngày cuối đời cũng chẳng có chi quá đáng.
- Ta có nghĩ tới những người dân nghèo khổ, khốn nạn vì bọn ngu đang cai trị quê hương không à?
Có chứ sao không? Ta đang về xây dựng đất nước. Ta cứu vớt đời hoa... trẻ, ta ôm... bó cỏ non sang xứ người chăm bẵm, nâng niu.
Phật dậy rằng: “Dù xây chín bậc phù đồ, Sao bằng làm phúc cứu cho một người”. Ta đã hy sinh tấm thân già ra sức cứu “em” ra khỏi trầm luân thì công đức ta to lắm chứ.
- Ta có nghĩ tới tương lai sau khi... em khôn lớn thêm nơi xứ người?
Bó cỏ non đã... cứng, chim có lông, có cánh thì chim bay là điều dĩ nhiên, có gì ngạc nhiên? Ta đã qua mùa thu cuộc đời, làm gì ngây thơ tin tưởng tình yêu của những con chim măng măng đó. Hai năm, ba năm em cho ta được gặm cỏ non là đủ... vốn, đủ lời. Em bỏ ta cũng chẳng sao, tới lúc đó, cỏ có còn mơn mởn thì ta cũng chẳng đủ sức nhai, huống chi càng ngày càng cứng, càng khôn, càng... già!
May ra, ta còn sức thì lại làm một chuyến về quê ...bứt thêm mớ cỏ non!
- Ta có sợ em tặng cho vài con vi trùng ét iếc không?
Sợ làm gì? Có ăn, có chịu. Nhẹ thì medical chăm sóc cho ta. Nặng thì đi chuyến tàu suốt. Ở đời, ai không chết? Tuổi ta lúc nào thần chết cũng lấp ló hẹn hò, được chết bên người vợ cỏ non chẳng khoái hơn à?
- Chuyện độc nhất ta thấy những ông bạn vàng bị kẹt nặng là chuyện... con thơ!
Trời! tuổi các cụ làm gì còn sức có con thế mà với những mớ cỏ tuy non nhưng lão luyện, chúng nó cho các cụ hãnh diện được làm “lão bạng sinh châu” dễ ợt! bởi vì:
"Chồng già, em dễ chơi ngang,
Đẻ ra, con thiếp, con chàng, con ai!"
Đẻ ra, con thiếp, con chàng, con ai!"
Có con! Rủi con ai thì cũng đành chặc lưỡi mà ẵm cho rồi, nói năng lằng nhằng, nó lại thưa cảnh sát về tội “Abuse”, hành hạ thì càng khổ thân già.
Ngày xưa, có con là hạnh phúc tuy cũng vất vả dậy dỗ học hành. Bây giờ, tuổi già lụm cụm mà tối phải dậy thay tã, pha sữa, bế con, cho ăn, cho tắm thì đến khổ. Tay chân lọng cọng, mắt kém, lưng đau mà không lo cho con thì khó mà sống sót nổi với mẹ nó, con ranh con ăn chưa no, lo chưa tới này. Chúng nó khỏe sức cứ chửi mắng như tát nước, có khi nó còn tát vào mặt các cụ mà các cụ im thin thít chẳng dám hé răng.
Chúng nó còn trẻ nên tàn nhẫn và... mất dậy nhiều lắm vì con nhà tử tế mấy ai chịu lấy ông lão già nên thôi thì... tránh voi chẳng xấu mặt nào, các cụ cứ câm như thóc, cứ mũ ni che tai, cứ tự an ủi:
- Chấp làm gì với con ranh con!
Gặm mớ cỏ non, có lúc cụ nghĩ cũng thương bà vợ già, giá ngày ấy bà ấy đừng găng quá với cụ, chịu khó nín nhịn, ...chiều chuộng cụ một tí thì bây giờ gia đình đề huề và tấm thân cụ đâu đến nỗi... “truân chuyên”!
Lão bạn già của ta một lần phân tích:
“Các ông gẫy cò, sứt gọng, nghèo nghèo hay gân vừa vừa như ...ông mới dám về “quê hương là chùm khế ngọt” để gặm cỏ non. Mấy thằng hơi ngon ngon, có chút tài sản, công vịêc vững chắc thì chẳng dại gì về ôm mấy em nhí qua làm vợ. Có tiền, khi ly dị, nó kiện, nó lột cho bằng hết rồi nó còn bắt đóng hụi chết nuôi con cho tới năm 18 tuổi; nuôi vợ cả đời vì vợ nó đâu dại gì lấy chồng khác để mất phần hụi mình đóng hàng tháng! Thế là mình cứ còng lưng đi làm lo cho con vợ... khốn nạn chỉ vì tội ham chanh cốm! Than ơi!”
- Chà, cái lưng ta dạo này cứ đau mãi, chả hiểu đau vì gai xương sống hay đau vì... tửu sắc quá độ?
Oan cho ta! Ta có bao lăm hơi sức mà tửu sắc cơ chứ! Nhiều đêm dậy cho con ăn mà chỉ ao ước ngày nào mình được về ... với ông bà cho xong nợ vợ con!
Kathy Trần
---
(Tâm sự con trâu già)
Kathy Trần
Trái đất luôn chia ra bốn mùa xuân, hạ, thu, đông.
Mùa xuân cỏ cây mơn mởn, nẩy lộc, trổ mầm, rần rần sức sống.
Sinh vật trổi dậy sau mùa đông dài lạnh lẽo, dồi dào sinh lực đòi hỏi chia xẻ, kiếm bạn chung tình.
Con người thì không được cái hạnh phúc thay da, đổi thịt tới 4 mùa trong năm nhưng đời người cũng chia ra 4 giai đoạn: Xuân, hạ, thu, đông.
Mùa xuân cuộc đời cũng bừng bừng phát triển, tràn trề sức sống và hăng hái đi tìm người bạn chia xẻ sinh lực, tình yêu cũng như tương lai của mình.
Mùa hè sang, sức lực, tinh thần tiếp tục phát triển nhưng không còn hăng hái, vô tận như tuổi thanh niên, người ta dành sức lực để xây dựng con người và gia đình cho vững chắc.
Mùa thu tới, dở dở thì trở thành “Thu vàng” để người ta chán nản: “Nhớ, nhớ buồn, buồn với chán chường”.
Nếu khéo giữ gìn, các ông bà sẽ trở thành “thu quyến rũ” và để người khác đợi chờ, mơ mộng và than thở một mình: “Mùa thu quyến rũ anh rồi!”
Mùa thu thường qua nhanh trên con dốc xuống!
Và mùa đông sớm trở về!
Mùa đông của con người là tuổi già!
Tuổi già, dĩ nhiên, chẳng mấy ai ham. Người ta lờ đi, ráng làm như mình vẫn...như ngày nào.
Người “tri thiên mệnh” thản nhiên nhìn cuộc đời trôi chờ... hư vô tới.
Tình non đã già mà không có phương tiện thì đành chấp nhận hiện tại là mình ... già. Người còn tham luyến cụôc đời thì vội vàng hưởng thụ vì “Em em ơi, tình non đã già rồi!”. Có cơ hội và lòng còn thèm thuồng, ham muốn chưa thỏa thì... Tại sao mình lại không hưởng thụ nhỉ?
Cuộc đổi đời 1975 làm người ta cuống cuồng chạy trốn cơn cuồng lưu màu đỏ máu, chỉ mong được sống còn với một chút tự do.
Tự do rồi, ta tha hồ xây dựng tình yêu, tương lai và sự nghiệp.
Tuổi già tới, nếu thành công, người ta có thể có tất cả. Vừa vừa thì người ta cũng dư sức sống trên cái xứ lo lắng cho người già thực tế và tử tế gần như con cái. Có gần hết, ngoại trừ... tình yêu giờ đã hơi ...thu, hơi già, hơi cũ.
Cái “tình yêu” già nhiều khi nó khó chịu quá, thực tế quá, chẳng còn gì là lãng mạn, là thơ mộng.
Ta tìm về “quê hương là chùm khế ngọt” lủng lẳng trên cành và ta cũng lủng lẳng trên người máy quay phim, máy chụp hình. Phone cầm tay, giấy thông hành cất cẩn thận trong “dạ dầy” trước bụng. Ngon lành tấm bằng quốc tịch người nước ngòai, rủng rỉnh đô-la, lủng củng tiếng Mỹ, tiếng Tây, ta về quê hương, tìm lại kỷ niệm thời thơ dại, tìm người yêu măng măng như thuở yêu đầu.
Dân trong nước, trừ những đảng viên, chức sắc, buôn bán, ô, dù, cò kèo vv... đa số còn nghèo đói nên ta trở thành những thằng chột trong xứ mù.
Con gái trong nước bây giờ lớp thì nghèo, lớp thì không có căn bản đạo đức (ai dậy đạo đức mà học?) đi bán thân cho Hàn, cho Tàu, cho Phi, cho ... đủ xứ quá nhiều may rủi, nhọc nhằn. Ta nói tiếng Việt trơn tru, ta không đến nỗi bệnh hoạn thể xác hay tâm thần, ta dư sức làm ...Hoàng tử của lòng em!
Ta sẽ về để cứu vớt những mảnh đời, những cô gái trẻ, nghèo bất hạnh trên quê hương. Hay ta ra tay cứu vớt những cô gái trẻ dại nhưng già đời càng tốt.
Để các “em” hư hỏng, tội nghiệp biết mấy lại có hại cho tương lai giòng giống Việt.
Tội nghiệp! Ta sẽ ra tay cứu độ những mảnh đời!
Ta sẽ cứu lấy tương lai đất nước!
Trên quê hương yêu dấu, riêng ta lại được làm “Trâu già gặm cỏ non!”
Chà, tiếng đời mỉa mai sao mà vô lý, vô duyên, dại dột!
Trâu già, gối mỏi, chân chồn, cặp hàm đã mỏi. Cỏ già gặm mỏi hàm mà chẳng thấu, cỏ non mơn mởn đưa tới tận miệng, không gặm thì điên chăng?
Ta tiện tặn tiền già, ta rủng rỉnh tiền đô, ta dư sức tặng “em” vài tháng sống thoải mái trên quê hương nghèo khó của em và sau cùngchiếc vé ra khỏi đất nước nghèo nàn, bạc đãi những người lương thiện, nghèo khó. Ta tặng cho em tương lai nhàn hạ xứ người; tặng cho em tấm thân ta có đầy đủ tiền hưu, tiền già, medical, medicare.
Ta lại có cả “tình yêu” để tặng em trong những ngày cuối đời.
Gừng càng già, càng cay, huống chi ta có Medical cho mua Viagra, Levitra...
Ta lại được hưởng những đêm ngà ngọc, những ngày huyền ảo với các em măng măng như mớ cỏ non tươi trẻ y hệt như lũ con cháu ta trên nước người.
Trời, quê hương sao mà dễ thương đến thế!
Quê hương yêu dấu đã cưu mang ta ngày xưa và ưu đãi ta bây giờ nhờ ta may mắn nhanh chân thoát khỏi quê hương và mang theo tấm giấy chứng minh rằng mình không còn là người Việt!
Ta là ông vua không ngai cho bõ những ngày cầy bừa vất vả nuôi con hay tranh đấu chống Cộng mỏi ...miệng trên xứ người.
Mấy mụ già giết giặc nơi xứ người cỡ... vợ ta dữ như chằng!
Mụ không hiểu rằng mụ hết thời rồi mà còn cứ đòi hỏi ta này nọ?
Tuổi đã già thì người thêm xấu, tính tình ngày càng khó chịu, lại còn đòi hỏi những nam nữ bình quyền, những bổn phận làm chồng, làm cha, nghe mà phát mệt.
Mớ cỏ già bắt nhai đi nhai lại, ngán ngẩm biết bao?
Rủi có chút tiền bạc, tài sản thì khi ly dị mụ nghe lời xúi bẩy của mấy thằng luật sư, bắt chia từ đầu đến đuôi, lột ta sạch trơn cho bõ ghét.
Kinh hoàng thật!
Số tiền khiêm nhường của ta, ở xứ Mỹ, như muối bỏ bể.
Về “quê hương”, ta tiêu pha, chẳng dám so với cán bộ, nhà buôn, cò kèo thì ít ra cũng hơn... 75 triệu người dân khác.
Em cỏ non mơn mởn, nhai tới đâu, cặp hàm ta ... đã đời tới đó.
Em lại còn đủ món ăn chơi, chiều chuộng mà mấy mụ già nhà quê, giết giặc chỉ biết lo cho chồng con nào biết tí gì.
- Ta có nghĩ tới những người bỏ thân hy sinh cho ta chạy thoát không à?
Đừng nhắc nhở quá khứ, lão Kỳ cục cũng quá tuổi “cổ lai hy”, làm tới chức phó vương mà còn mặt trơ, trán bóng về nịnh bợ kẻ thù để có rượu thịt đổ cho đầy chiếc giá áo túi cơm. Lão Minh cồ có tấm thân to như voi và cái óc của con chim sẻ, còn nịnh hót để về làm “công dân XHCH” thì ta, phó thường dân có trở về ăn chơi chút đỉnh trong những ngày cuối đời cũng chẳng có chi quá đáng.
- Ta có nghĩ tới những người dân nghèo khổ, khốn nạn vì bọn ngu đang cai trị quê hương không à?
Có chứ sao không? Ta đang về xây dựng đất nước. Ta cứu vớt đời hoa... trẻ, ta ôm... bó cỏ non sang xứ người chăm bẵm, nâng niu.
Phật dậy rằng: “Dù xây chín bậc phù đồ, Sao bằng làm phúc cứu cho một người”. Ta đã hy sinh tấm thân già ra sức cứu “em” ra khỏi trầm luân thì công đức ta to lắm chứ.
- Ta có nghĩ tới tương lai sau khi... em khôn lớn thêm nơi xứ người?
Bó cỏ non đã... cứng, chim có lông, có cánh thì chim bay là điều dĩ nhiên, có gì ngạc nhiên? Ta đã qua mùa thu cuộc đời, làm gì ngây thơ tin tưởng tình yêu của những con chim măng măng đó. Hai năm, ba năm em cho ta được gặm cỏ non là đủ... vốn, đủ lời. Em bỏ ta cũng chẳng sao, tới lúc đó, cỏ có còn mơn mởn thì ta cũng chẳng đủ sức nhai, huống chi càng ngày càng cứng, càng khôn, càng... già!
May ra, ta còn sức thì lại làm một chuyến về quê ...bứt thêm mớ cỏ non!
- Ta có sợ em tặng cho vài con vi trùng ét iếc không?
Sợ làm gì? Có ăn, có chịu. Nhẹ thì medical chăm sóc cho ta. Nặng thì đi chuyến tàu suốt. Ở đời, ai không chết? Tuổi ta lúc nào thần chết cũng lấp ló hẹn hò, được chết bên người vợ cỏ non chẳng khoái hơn à?
- Chuyện độc nhất ta thấy những ông bạn vàng bị kẹt nặng là chuyện... con thơ!
Trời! tuổi các cụ làm gì còn sức có con thế mà với những mớ cỏ tuy non nhưng lão luyện, chúng nó cho các cụ hãnh diện được làm “lão bạng sinh châu” dễ ợt! bởi vì:
"Chồng già, em dễ chơi ngang,
Đẻ ra, con thiếp, con chàng, con ai!"
Đẻ ra, con thiếp, con chàng, con ai!"
Có con! Rủi con ai thì cũng đành chặc lưỡi mà ẵm cho rồi, nói năng lằng nhằng, nó lại thưa cảnh sát về tội “Abuse”, hành hạ thì càng khổ thân già.
Ngày xưa, có con là hạnh phúc tuy cũng vất vả dậy dỗ học hành. Bây giờ, tuổi già lụm cụm mà tối phải dậy thay tã, pha sữa, bế con, cho ăn, cho tắm thì đến khổ. Tay chân lọng cọng, mắt kém, lưng đau mà không lo cho con thì khó mà sống sót nổi với mẹ nó, con ranh con ăn chưa no, lo chưa tới này. Chúng nó khỏe sức cứ chửi mắng như tát nước, có khi nó còn tát vào mặt các cụ mà các cụ im thin thít chẳng dám hé răng.
Chúng nó còn trẻ nên tàn nhẫn và... mất dậy nhiều lắm vì con nhà tử tế mấy ai chịu lấy ông lão già nên thôi thì... tránh voi chẳng xấu mặt nào, các cụ cứ câm như thóc, cứ mũ ni che tai, cứ tự an ủi:
- Chấp làm gì với con ranh con!
Gặm mớ cỏ non, có lúc cụ nghĩ cũng thương bà vợ già, giá ngày ấy bà ấy đừng găng quá với cụ, chịu khó nín nhịn, ...chiều chuộng cụ một tí thì bây giờ gia đình đề huề và tấm thân cụ đâu đến nỗi... “truân chuyên”!
Lão bạn già của ta một lần phân tích:
“Các ông gẫy cò, sứt gọng, nghèo nghèo hay gân vừa vừa như ...ông mới dám về “quê hương là chùm khế ngọt” để gặm cỏ non. Mấy thằng hơi ngon ngon, có chút tài sản, công vịêc vững chắc thì chẳng dại gì về ôm mấy em nhí qua làm vợ. Có tiền, khi ly dị, nó kiện, nó lột cho bằng hết rồi nó còn bắt đóng hụi chết nuôi con cho tới năm 18 tuổi; nuôi vợ cả đời vì vợ nó đâu dại gì lấy chồng khác để mất phần hụi mình đóng hàng tháng! Thế là mình cứ còng lưng đi làm lo cho con vợ... khốn nạn chỉ vì tội ham chanh cốm! Than ơi!”
- Chà, cái lưng ta dạo này cứ đau mãi, chả hiểu đau vì gai xương sống hay đau vì... tửu sắc quá độ?
Oan cho ta! Ta có bao lăm hơi sức mà tửu sắc cơ chứ! Nhiều đêm dậy cho con ăn mà chỉ ao ước ngày nào mình được về ... với ông bà cho xong nợ vợ con!
Kathy Trần
---

Nguồn Gốc Lễ Tạ Ơn Thấm thoát mà chúng ta đã bước vào những tháng cuối cùng của một năm, với những ngày lễ đặc biệt. Tháng Mười Một chúng ta có Lễ Tạ Ơn và tháng Mười Hai là lễ Giáng Sinh, kỷ niệm ngày Chúa Cứu Thế Giê-xu xuống trần. Hoa Kỳ là quốc gia của những người di dân, là tập họp của nhiều sắc dân từ các nước trên thế giới. Lễ Tạ Ơn là ngày lễ của những người từ một đất nước khác di dân đến Hoa Kỳ, để cảm tạ Ðức Chúa Trời về sự dẫn dắt và hồng ân Chúa ban cho trên vùng đất mới. Chúng ta cũng là những người di dân, vì thế lễ Tạ Ơn cũng là lễ của người Việt chúng ta và có một ý nghĩa đặc biệt đối với chúng ta.
Lễ Tạ Ơn đầu tiên được tổ chức vào năm 1621. Sau khi gặt hái được vụ mùa đầu tiên, nhóm người di dân đầu tiên từ Anh Quốc đã tổ chức một buổi lễ để cảm tạ Ðức Chúa Trời đã dẫn dắt họ đến bến bờ tự do, gìn giữ họ khỏi những hiểm nguy trên vùng đất xa lạ và ban cho họ sản vật trong mùa gặt đầu tiên. Những nhóm người di dân khác đến đất nước này về sau cũng tiếp tục giữ ngày lễ Tạ Ơn để dâng lên Thiên Chúa lời cảm tạ và lòng biết ơn. Người Việt chúng ta luôn luôn đề cao lòng biết ơn nên chắc chắn chúng ta không thể không cảm ơn Ông Trời hay Ðức Chúa Trời, Ðấng đã đưa dẫn chúng ta đến đất nước này và đã ban cho chúng ta biết bao nhiêu ơn lành, từ vật chất đến tinh thần và tâm linh.
Lễ Tạ Ơn đầu tiên được tổ chức vào năm 1621, nhưng đến hơn hai trăm năm sau, tức là vào năm 1863, dưới thời Tổng Thống Abraham Lincoln, lễ này mới chính thức trở thành một quốc lễ, là ngày lễ cho cả nước. Lúc đó Hoa Kỳ đang ở trong cuộc nội chiến Nam-Bắc, tình hình khó khăn, tương lai mờ mịt, nhưng Tổng Thống Lincoln đã kêu gọi dân chúng dành một ngày đặc biệt để dâng lời cảm tạ Ðức Chúa Trời về những ơn lành Ngài ban. Hôm nay chúng ta cũng ở trong hoàn cảnh bi đát tương tự: Ðời sống bất an, khủng bố đe dọa hằng ngày, kinh tế suy sụp, chiến tranh ở Iraq không biết bao giờ chấm dứt. Thêm vào đó là những thiên tai bão lụt, gió lốc, cháy rừng, cháy nhà ... Làm sao có thể dâng lời cảm tạ Chúa? Chúng ta có ơn phước gì để mà cảm tạ Chúa đâu. Ðể tìm câu trả lời, chúng ta hãy cùng nhìn lại xem tại sao trong hoàn cảnh đen tối của năm 1863 mà Tổng Thống Abraham Lincoln lại tuyên bố chọn một ngày làm ngày lễ Tạ Ơn Thiên Chúa cho toàn dân. Ông đã nêu những lý do gì để kêu gọi dân chúng dành riêng một ngày để tạ ơn Ðức Chúa Trời?
Chúng tôi xin trích lại dưới đây một phần trong bài diễn văn của Tổng thống Lincoln, tuyên bố chọn ngày Thứ Năm cuối tháng Mười Một hằng năm làm ngày Lễ Cảm Tạ. Ông nói với dân chúng Hoa Kỳ những lời như sau:
Một năm nữa lại sắp chấm dứt. Chúng ta đi vào những ngày tháng cuối của năm nay với tràn đầy phước lành, với hoa quả của đồng ruộng và bầu trời an lành. Ngoài những phước lành đó, chúng ta còn được nhiều phước lành khác, những phước lành lạ thường. Những phước lành lớn lao có thể thâm nhập hay đi thấu vào những tấm lòng vốn thờ ơ trước sự quan phòng và dẫn đắt kỳ diệu của Ðức Chúa Trời Toàn Năng, và khiến những tấm lòng thờ ơ đó phải mềm đi. Trong hoàn cảnh chiến tranh, trước những đổ nát điêu tàn kinh khủng và lớn lao chưa từng có, trật tự đã được vãn hồi, mọi người đều tôn trọng và tuân giữ luật lệ; hòa bình và sự hài hòa đã chiếm ngự khắp nơi, ngoại trừ trên chiến trường, giữa đám quân lính. Dù nhà nông đã phải chia xẻ của cải, vật thực và nhân lực cho việc phòng thủ quốc gia; cày bừa, xe cộ, tàu bè vẫn được sử dụng và hoạt động bình thường chứ không bị ngưng trệ. Dân số trong nước tiếp tục gia tăng, và đất nước ngày càng được hưởng tự do nhiều hơn, rộng rãi hơn.
Tất cả những điều tốt đẹp chúng ta có ngày nay không phải do một người nào trên đời hướng dẫn hay do bàn tay của con người làm thành. Tất cả những điều đó là những món quà quý giá, đặc biệt mà Ðức Chúa Trời Toàn Năng đã ban cho chúng ta. Trong khi nghiêm khắc sửa dạy lầm lỗi của chúng ta, Chúa vẫn nhớ đến đức nhân từ của Ngài. Tôi nhận thấy rằng, chúng ta cần nghĩ đến những phước lành Chúa ban với lòng cung kính, khiêm cung và biết ơn. Dân chúng Hoa Kỳ cần có đồng một lòng, một tiếng nói, dâng lên Ðức Chúa Trời lòng biết ơn. Vì thế tôi xin trân trọng gọi mời tất cả quốc dân Hoa Kỳ, từ các thành phố, làng mạc, các phần của đất nước, luôn cả những người đang đi trên biển hay đang sống ở nước ngoài, hãy dành ngày Thứ Năm cuối cùng của tháng Mười Một sắp đến đây, làm ngày để cảm tạ và tôn cao Cha của chúng ta, là Ðấng cai quản trên các từng trời. Tôi cũng kêu gọi đồng bào hãy quan tâm chăm sóc cứu giúp những người đã trở thành góa bụa, mồ côi, những người đang than khóc và đau khổ vì ảnh hưởng của chiến tranh. Những đau thương này chúng ta không tránh được. Xin đồng bào hết lòng khẩn cầu Ðức Chúa Trời Toàn Năng chữa lành những thương đau của đất nước và phục hồi đất nước chúng ta, theo ý định tốt đẹp của Ngài, để chúng ta sớm được hưởng trọn vẹn bình an, hài hòa, yên lành và hiệp một.
Viết tại Washington, ngày 3 tháng 10 năm 1863, năm của Chúa chúng ta.
Ký tên: Abraham Lincoln.
Biết về nguồn gốc của lễ Tạ Ơn sẽ giúp chúng ta thấy được ý nghĩa của ngày lễ một cách rõ ràng hơn. Dù đã gần một trăm năm mươi năm kể từ ngày Ngày Lễ Tạ Ơn được thiết lập và dù có biết bao nhiêu thay đổi trong cách sinh hoạt và làm việc của mọi người trong xã hội, chúng ta vẫn tiếp tục nhận ơn lành của Ðức Chúa Trời, vì thế chúng ta vẫn cần dâng lời cảm tạ Ngài. Là cha mẹ, điều làm chúng ta sung sướng hơn cả là con cái có lòng biết ơn. Nếu chúng ta hy sinh cho con, cố gắng làm lụng vất vả để cho đời sống con được đầy đủ, sung sướng mà các con không biết nói một lời cảm ơn, không có một cử chỉ, một hành động nói lên lòng biết ơn, hoặc đi bày tỏ lòng biết ơn với người khác, chúng ta thật đau lòng. Thế nhưng có thể lắm đó là cách chúng ta đang làm đối với Ðức Chúa Trời, Người Cha yêu thương, Ðấng đã ban cho chúng ta sự sống cùng bao nhiêu ơn lành khác. Ðời sống hiện tại có nhiều khó khăn và thách thức thật, nhưng so với những người tại quê nhà, với người ở các nơi khác trên thế giới, chúng ta vẫn có nhiều điều để cảm tạ Chúa. Có một bài thơ nói lên những điều bình thường trong đời sống mà chúng ta thường phàn nàn nhưng thật ra đó là những phước lành Chúa ban mà chúng ta cần dâng lời cảm tạ Chúa. Chúng tôi xin phỏng dịch lại như sau:
Hãy cảm tạ Chúa khi quần áo bạn bị chật, vì điều đó chứng tỏ bạn không thiếu ăn.
Hãy cảm tạ Chúa khi bạn phải vất vả thu dọn sau một bữa tiệc, vì điều đó cho thấy bạn còn có bạn bè và người thân ở bên mình.
Hãy cảm tạ về số tiền thuế bạn phải đóng hằng tháng, vì chứng tỏ bạn không thất nghiệp.
Hãy cảm tạ khi bạn phải làm vườn, cắt cỏ, vì như thế là bạn đang sở hữu ngôi nhà mình ở.
Hãy cảm tạ khi bạn phải trả tiền sưởi trong mùa đông vì chứng tỏ bạn đã được sưởi ấm.
Hãy biết ơn Chúa khi bạn phải giặt giũ quần áo, vì như thế là bạn có dư quần áo để mặc.
Hãy cảm tạ Chúa khi bạn tìm được một chỗ đậu ở cuối bãi đậu xe, vì bạn còn có sức khỏe, có thể bước đi trên đôi chân của mình.
Hãy cảm tạ Chúa khi trong nhà thờ có người hát lạc giọng, vì nó cho thấy tai bạn vẫn còn bén nhạy.
Hãy cảm tạ Chúa khi có người phê phán phàn nàn chính quyền, vì chứng tỏ bạn đang được sống trong một xứ tự do, bạn có thể nói lên ý kiến của mình mà không sợ gì cả.
Hãy cảm tạ Chúa khi bạn bị đồng hồ đánh thức mỗi sáng, vì điều đó chứng tỏ là bạn vẫn còn sống.
Cầu xin Chúa giúp chúng ta nhìn thấy những phước lành Chúa đang tuôn tràn trên cuộc đời chúng ta, để chúng ta có thể dâng lên Chúa lời tạ ơn với lòng biết ơn Ngài sâu xa.
Minh Nguyên
HÌNH ẢNH LŨ TÀN PHÁ MIỀN TRUNG - 2007
Lũ Về Khu Đông Mặc dù chưa phải là vùng trọng điểm lũ lụt miền Trung, nhưng trong những ngày qua Bình Định đã hứng chịu những trận mưa lớn, nước các sông dâng cao, nhiều vùng quê đã ngập chìm trong lũ lụt. Về rốn lũ vùng đông huyện Tuy Phước, phóng viên đã ghi lại những hình ảnh trong thời điểm những cơn lũ đầu mùa đang tràn về trên những nẻo đường quê.
















Lũ Về Khu Đông Mặc dù chưa phải là vùng trọng điểm lũ lụt miền Trung, nhưng trong những ngày qua Bình Định đã hứng chịu những trận mưa lớn, nước các sông dâng cao, nhiều vùng quê đã ngập chìm trong lũ lụt. Về rốn lũ vùng đông huyện Tuy Phước, phóng viên đã ghi lại những hình ảnh trong thời điểm những cơn lũ đầu mùa đang tràn về trên những nẻo đường quê.
















-
Nguyễn_Sydney
- Posts: 2581
- Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
- Been thanked: 1 time
Nhạc sĩ Nam Lộc được Vinh danh
Ngày thứ ba 20 tháng 11 vừa qua , toàn thể 5 vị Giám sát viên thuộc Hội đồng Giám sát Quận Cam ( Orange County Board Supervisors) đều đồng thuận Nghị Quyết Vinh Danh những hoạt động của nhạc sĩ Nam Lộc trong lãnh vực Trợ giúp và tranh đấu cho quyền lợi của những người Di Dân và Tị nạn trong suốt 32 năm qua .
Buổi lễ Vinh danh sẽ được tổ chức vào ngày 4 tháng 12 / 2007 tại Quận Cam Nam Cali .
Ngày thứ ba 20 tháng 11 vừa qua , toàn thể 5 vị Giám sát viên thuộc Hội đồng Giám sát Quận Cam ( Orange County Board Supervisors) đều đồng thuận Nghị Quyết Vinh Danh những hoạt động của nhạc sĩ Nam Lộc trong lãnh vực Trợ giúp và tranh đấu cho quyền lợi của những người Di Dân và Tị nạn trong suốt 32 năm qua .
Buổi lễ Vinh danh sẽ được tổ chức vào ngày 4 tháng 12 / 2007 tại Quận Cam Nam Cali .

GIỌT LỆ TRI ÂN
HUY PHƯƠNG Trước đây chúng ta đã biết đến việc anh Nguyễn Hùng Cường, sau 22 năm đặt chân đến đất Mỹ đã đi tìm lại vị thuyền trưởng Nam Hàn ngày xưa đã vớt ông và 96 thuyền nhân khác trên biển Thái Bình Dương trước giờ con tàu mỏng manh sắp gặp cơn bão lớn. Cuộc trùng phùng đầy tình nghĩa và đẫm nước mắt này đã làm xúc động cả hai dân tộc Việt Hàn tại Nam California, báo chí đã viết về biến cố này và cho rằng lòng biết ơn là một đức tính của người Việt chúng ta.
Cũng vào năm 1981, một con thuyền vượt biển nhỏ khác chở 38 người đã bị hải tặc tấn công hai lần, cuối cùng tàu chết máy và trôi giạt theo sóng biển trong nhiều ngày với một tình trạng truyệt vọng. Nhiều con tàu đã nhận được tín hiệu cấp cứu nhưng đều quay mặt, cuối cùng là chiến hạm USS Lange của hải quân Hoa Kỳ đã dừng lại và cứu những người trên con tàu tả tơi này. Gia đình ông Châu, một cựu sĩ quan hải quân gồm một vợ và ba con nhỏ, đã giữ những giấy tờ và hình ảnh của con tàu cứu nạn, khi định cư yên ổn ở Hoa Kỳ, ông đã trao lại cho những đứa con và căn dặn “đừng quên những kẻ đã cứu mạng sống của mình”.
Hai mươi sáu năm sau, ngày 18 tháng 8 vừa qua, trong một cuộc hội ngộ giữa những cựu sĩ quan của con tàu năm xưa và các thuyền nhân tại nhà hàng Yellowfin, thành phố Edge Water, Maryland, cô Lena, ngày được tàu USS Lange vớt chỉ mới lên năm, nay đã trưởng thành đã cùng mẹ từ Texas đến đây để chỉ nói một lời cám ơn trong buổi hội ngộ với các cựu sĩ quan hải quân của con tàu cứu tử ngày nào. Buổi gặp mặt này đã gây xúc động cho người tham dự, trong đó có những binh sĩ trẻ trung trên chiến hạm xưa kia đã không ngăn được những dòng nước mắt.
Một người có mặt trên chiến hạm lúc dừng lại để vớt 38 thuyền nhân bỏ nước ra đi đã nói rằng:“Tôi cũng khóc. Tôi thấy tấm ảnh cũ và nhớ họ liền. Lúc đó cả gia đình sợ hãi, đói khát, có người bị bệnh nặng và cơ thể mất nước”. Ông Calvin Aitch, một sĩ quan trên chiến hạm Hoa Kỳ nay đã về hưu tại San Diego cho rằng: “bạn bè phiêu bạt khắp bốn phương trời, nhưng tôi không tưởng tượng là có ngày có thể gặp lại các thuyền nhân Việt Nam mà mình đã cứu vớt ngày xưa!”
Đầu tháng 9 vừa qua, một cuộc gặp gỡ khác diễn ra tại thành phố Westminster giữa bà Khúc Minh Thơ đến từ Washington DC và các anh em cựu tù nhân chính trị là một cuộc hội ngộ tri ân đầy xúc động. Nếu không có sự vận động của “Hội Gia Đình Tù Nhân Chính Trị Việt Nam” với các cơ quan dân cử, hành pháp và đến cả Tổng Thống Ronald W. Reagan, đưa đến bản thỏa hiệp ngày 31 tháng 7-1989 thì hôm nay chắc chắn 300, 000 người tù “cải tạo” và gia đình đã không không có mặt tại Hoa Kỳ và có thể chết dần chết mòn trong những vùng kinh tế mới và trong nhà tù lớn XHCN Việt Nam. Nơi gặp gỡ đã không đủ chỗ cho những anh em H.O. đến chậm, nhiều người đã nói với ban tổ chức rằng: “Hãy cho tôi vào gặp mặt bà Khúc Minh Thơ, dù đứng cũng được”. Một người vợ tù đến từ San Diego sau gần hai giờ lái xe , đã nói với người ân nhân của những người tù “cải tạo”: “Xin chị cho tôi ôm chị vào lòng một tí. Từ lâu tôi vẫn ngưỡng mộ và khát khao được gặp chị”. Mọi người đều không ngăn được nước mắt. Cuộc đời đẹp vì đã có những tấm lòng biết ơn và người ta cư xử với nhau có chung có thủy. Vì biết ơn, nên những người Việt Nam bỏ nước ra đi đã nhiều năm nay vẫn canh cánh bên lòng những điều ân nghĩa phải đền đáp. Người ta đã nghĩ đến cha mẹ già, anh em phải bỏ lại. Người ta nghĩ các thương phế binh đã hy sinh một phần thân thể cho đất nước để chúng ta được ra đi. Chúng ta nghĩ đến bà con hàng xóm láng giềng những ngày cơ cực, nghèo đói để ngày nay còn có cơ hội đền đáp. Cuộc đời chúng ta thế nào cũng có một lần mang ơn ai đó để rồi không bao giờ quên và trong chúng ta ai cũng mang trong lòng hình ảnh một người ân. Ngoài các bậc sinh thành ra, ân nhân chúng ta có thể là một cô giáo, một người bạn, một người láng giềng hay một người qua đường nào đó.
Việc cử hành lễ Thanksgiving tại Hoa Kỳ có lẽ là một truyền thống văn hóa tốt đẹp nhất về lòng tri ân ở xứ sở này. Vì chưa hề vong ân nên chúng ta ở hải ngoại thường có ngay tri ân phụ mẫu, vinh danh cô thầy giáo trong những lần họp mặt trường cũ. Cứ nghĩ đến ngày lễ Trung Thu, tiệm bánh đầy người ra vào, không phải chúng ta mua bánh về nhà để thưởng trăng mà hầu hết mua làm quà biếu cho những người mà chúng ta nghĩ là đã có lần giúp đỡ chúng ta. Đối với người Việt chúng ta, những món quà này vừa mang tình cảm tri ân, vừa mang điều lễ nghĩa, như đối với ông bà nhạc gia, người chủ hãng, ông bác sĩ gia đình hay người chủ căn nhà cho mình thuê. Đối với những người sau, chúng ta sống không bao giờ nghĩ chuyện sòng phằng tiền bạc trong lúc giao tiếp, mà nghĩ rằng trong đó còn chút tình cảm qua lại.
Quà Trung Thu phần lớn chúng ta dành cho những người có vai vế lớn, trái lại món quà Giáng Sinh để dành cho người mình thương yêu, những bạn bè thân thuộc và cả những người thường tiếp xúc quen biết hằng ngày. Tất cả đều mang ý nghiã tri ân, dù đó là tình yêu hay trên công việc. Do đó chúng ta thường có quà Giáng Sinh cho người yêu, cho bằng hữu, nhưng cũng không quên người đưa thư, người làm vườn hay người giúp việc nhà.
Gần đây trên các chương trình ca nhạc của hải ngoại, chúng ta thấy có phần vinh danh các nhân vật phục vụ cộng đồng, các văn nghệ sĩ đã cống hiến cho đất nước những tác phẩm văn hóa để đời, cũng như những nhà tranh đấu cho tự do trong gông cùm. Đó chính là những hành động tri ân của những con người có lòng, tử tế, không bao giờ quên điều ân nghĩa. Chúng ta cố gắng để đừng bao giờ hối hận vì đã bỏ qua một cơ hội bày tỏ điều ân nghĩa với ai đó. Người nhận thì luôn cảm thấy ấm áp trong cõi lòng, vì biết rằng trên đời này có những người còn nhớ đến mình.
Biết bao giờ tôi mới có dịp trở lại cái xã Cẩm Nhân, một làng cận sơn tỉnh Yên Báy, Hoàng Liên Sơn, để thăm lại ông cụ già người dân tộc Tày, ở ngôi nhà sàn cạnh trại tù, đã vứt ra đường mấy củ sắn còn nóng cho chúng tôi khi chúng tôi đi qua, hay gặp lại người đàn bà ở bên con đường đất đỏ đã cho tôi nắm ớt hiểm cho ấm lòng một ngày mùa đông giá buốt. Những người này không biết tôi là ai, tôi cũng không biết đến tên tuổi những người này. Không chắc gì tôi tìm gặp lại họ được, thời gian ba mươi hai năm có thể đã đưa họ vào thiên cổ.
Ngấn lệ tri ân đã làm đẹp thêm cuộc đời này dù cuộc sống vẫn có nhiều gian trá, bội ân và quên lãng.
Huy Phương



