Quán Vắng không Người ...3
Moderator: khieulong
Người anh hùng muôn thuở của sinh viên Paris
Ngày 8/1/1987, người thanh niên với trái tim nồng nàn tình quê hương dân tộc, và cũng là cựu chủ tịch Tổng Hội Sinh Viên Paris tên Trần Văn Bá (TVB) đã hiên ngang ngẩng cao đầu thà bị bạo quyền Cộng Sản Việt Nam (CSVN) hành quyết trước tiền đình quốc hội Việt Nam còn hơn là ký tên nhận tội để được ân xá. Một Nguyễn Thái Học của thế kỷ 21 vừa bước vào sử xanh hiện đại. Gương hy sinh cao cả của vị anh hùng liệt sĩ Trần Văn Bá và hai bạn đồng đội của anh đã làm xúc động toàn thể đồng bào hải ngoại, đặc biệt là giới trẻ Việt Nam thời đó.
Sự hy sinh oanh liệt này không phải chỉ được ghi chép trên trang sử hùng Việt Nam không thôi. Hai mươi hai năm sau ngày anh TVB đền nợ nước, Sáng hội Tượng đài Nạn nhân Cộng sản (Victims of Communism Memorial Foundation) vào tối 15/11/2007 tại Tòa Đại Sứ Hung Gia Lợi ở Washington, đã tổ chức lễ trao tặng huy chương Truman-Reagan Freedom 2007 cho anh hùng Trần Văn Bá, cựu chủ tịch của THSVVNParis, người đã bị Việt cộng hành quyết ngày 8/1/1985 sau khi anh bị bắt ở làng Minh Hải, Cà Mau. Tiến sĩ Lee Edwards chủ tịch sáng hội nói "Sau khi tham khảo ý kiến đồng sự, sáng hội đồng ý chọn anh TVB là biểu tượng cho cuộc đấu tranh đòi tự do". Theo ông, lý tưởng anh Bá ấp ủ việc trở về quê hương để rồi bị bắt và xử tử, nói lên hành động bất khuất của một con người chỉ muốn mưu cầu tự do công bằng trên quê hương đang bị Cộng sản đàn áp. Huy chương Truman Reagan Tự Do là huy chương cao quý mang tên hai vị tổng thống Truman và Reagan nổi tiếng chống cộng của Hoa Kỳ đã từng được trao tặng cho những nhà tranh đấu chống cộng sản nổi tiếng trên thế giới như Lech Walesa, Vaclav Havel, Đức Giáo Hoàng John Paul II, TNS Joe Lieberman, William Buckley Jr., Elena Bonner.
Ngày 15/11/2007 hôm nay, trong khi thế giới đang vinh danh anh, ngồi thu mình trong một căn phòng nhỏ bé tôi ngậm ngùi viết lại những dòng kỷ niệm về anh. Những kỷ niệm để đời về một người bạn, một người đàn anh mà vợ chồng tôi và các anh chị em trong Tổng Hội Sinh Viên Paris (THSVP) đã cùng chung vai sát cánh bên anh chia sẻ những ngọt bùi trong suốt hàng chục năm sinh hoạt trong THSVP tranh đấu cho tự do dân chủ VN. Hôm nay tôi muốn ghi lại một phần nhỏ bé về con người thật của anh mà tôi khám phá được nơi anh .
Trước tiên, cách hành xử bình dân, khiêm nhường và xuề xòa của anh đã thu phục nhân tâm rất nhiều người, nên ai cũng gọi anh thân mật bằng cái tên "Bá đầu đỏ" vì anh có một cái bớt màu đỏ nơi trán phiá trái. Chính nhờ cách hành xử bình dị như thế mà ở Paris chỉ có anh là người duy nhất có thể nói chuyện được với tất cả mọi thành phần người Việt quốc gia tại Paris. Từ những tay anh chị cho đến nhà khoa bảng trí thức cũng đều vui vẻ qúy mến giúp anh khi anh cần đến họ. Đây là điểm son của anh Bá. Cũng vì thế mà ở những hội chợ Tết của THSVP chỉ có anh Bá là người có thể huy động được tất cả những môn phái võ đến giữ an ninh cho gần 4000 đồng hương tới tham dự hội Tết THSVP. Nhờ có sự bảo vệ của khoảng 200 võ sinh và nhiều võ sư mấy đẳng bao quanh khu vực hội trường Maubert Matualité, đứng canh cửa trạm metro và xe bus, trong hội trường mà nhóm thân cộng Việt Kiều Yêu Nước và toà đại sứ CSVN (sau 1975) đã không thể nào phá được đêm Tết của THSVP.
Anh Bá sống rất có tình nghiã với anh chị em. Sau ngày 30/4/1975, khi cư xá sinh viên đã bị trao trả cho CSVN, các sinh viên bị đuổi nhà bơ vơ không biết nương tựa vào đâu. Anh Bá đã mời những ai không có nhà về ở chung với anh. Anh thuê 1 appartment rộng để cho mọi người về đó ăn ở miễn phí, chia sẻ ngọt bùi với nhau. Bao nhiêu tiền lương kiếm được thay vì mua nhà cho mình hay may sắm chưng diện anh đã dùng cho những chi tiêu đấu tranh và giúp đỡ bạn bè. Tinh thần đùm bọc nọ đã biến nơi cư ngụ của anh thành một gia đình mà chúng tôi gọi là gia đình Bá đầu đỏ.
Sự hãnh diện của các anh chị em gia đình Bá đầu đỏ tự nó nói lên một điều là qua cách hành xử yêu thương như anh em ruột thịt một nhà của anh Bá đối với họ nên không ai có mặc cảm mang nợ anh Bá và họ rất hãnh diện được là đàn em của anh Bá là vì thế.
Anh Bá là một người can đảm có tư cách của một bậc đàn anh lãnh đạo quả cảm. Khi hay tin thủ tướng Phạm Văn Đồng công du Pháp, anh Bá đã đứng ra tổ chức cuộc biểu tình để tố cáo tội ác CSVN và đòi dân chủ cho VN. Anh chị em THSVP chúng tôi dành dụm tiền in truyền đơn, hăng say đi phát ở những cư xá sinh viên, khu đại học mời mọi người đi tham dự biểu tình. Toà đại sứ CSVN tức điên ruột, sai đàn em điện thoại hăm dọa chúng tôi nếu không ngưng phát truyền đơn ở cư xá ăn Cité Universitaire thì chúng sẽ cho người đánh. Thứ bảy tuần cuối trước khi Phạm Văn Đồng sang Pháp, anh Bá cùng anh chị em THSVP và nhiều võ sư nhất quyết đến cư xá Cité Universitaire phát truyền đơn. Lúc đó CSVN trốn đằng sau đám tây đen thân cộng đứng hàng đầu bảo vệ cho họ. Trước một đám đông gần một trăm tên tây đen vạm vỡ cao từ 1.80m trở lên, mặt mày dữ tợn đằng đằng sát khí tay cầm gậy sắt dài gần 2 thước, anh Bá đã ra lệnh cho tất cả các cô phát truyền đơn hãy rút lui và chỉ có con trai xông vào mà thôi. Riêng anh Bá trên tay không có gậy gộc mà chỉ cầm sấp truyền đơn tiên phong bước tới. Thế là bọn tây đen gào thét man rợ nhào vào cầm gậy sắt đánh chúng tôi. Một bạn sinh viên bị chúng đánh té xuống và thằng tây đen cứ tiếp tục dùng gậy sắt dập lên đầu anh ta một cách dã man nên đã được cảnh sát mang vào nhà thương. Đây là tổn thất về phiá sinh viên quốc gia. Nhưng về mặt chính trị thì đây lại là một thắng lợi lớn cho người Việt quốc gia và là sự thiệt hại lớn cho uy tín của CSVN bởi vì ngày hôm sau truyền thông Pháp đã lên tiếng kết án CSVN dã man đàn áp quyền tự do phát biểu của người dân. Tôi không bao giờ quên được quang cảnh man rợ ngày hôm nọ. Khi viết những dòng này tôi vẫn còn nghe trong tai tôi những tiếng hò hét rợn tóc gáy của đoàn quân tây đen hung tợn. Và tôi cũng không bao giờ quên được hình ảnh rất anh hùng và ánh mắt cương quyết của anh Bá quay lại nói với anh chị em SV trước khi tiến quân, những câu nói chứa chan sự bảo bọc của một bậc đàn anh dũng cảm : " Các cô hãy rút lui hết, các bạn nào không có võ nên tránh xa". Tuy nhiên các anh chị em chúng tôi vẫn quyết sống chết có nhau nên vẫn quyết tâm tiến lên cùng với anh Bá. Vào những ngày cuối tình hình còn căng thẳng hơn nữa. Bọn tay sai CSVN đứng rình nơi cột đèn ở dưới nhà chờ anh Bá xuống để đánh. Trong khi đó dẫu bị cảnh sát Pháp gọi lên đe dọa sẽ đưa anh ra đảo Corse nếu THSVP không hủy bỏ ý định tổ chức biểu tình, nhưng anh Bá vẫn quyết tâm đi tới cùng. Anh có dặn anh chị em rằng nếu anh có bị cảnh sát hốt đi giờ chót thì anh chị em cứ tiếp tục đi tới. Và sau cùng cuộc biểu tình đã diễn ra thành công chưa từng thấy tại công trường Trocadero với số người tham dự lên đến vài ngàn người. Đây là cuộc biểu tình đầu tiên ở hải ngoại với rừng cờ vàng, tràn ngập biểu ngữ tố cáo tội ác CSVN và rừng người hó hét phản đối chế độ quyết liệt đòi tự do dân chủ cho VN. Và đây cũng là cái bạt tai đầu tiên của tuổi trẻ Việt Nam và đồng bào VN ở Pháp dành cho lãnh đạo CSVN, mở đầu cho những bạt tai tiếp nối của đồng bào tỵ nạn ta trên toàn thế giới cho tới ngày hôm nay.
Anh Bá là một người có tấm lòng nhân bản và tinh thần trách nhiệm cao. Thanh niên thiếu nữ nào mà chả biết rung động thương yêu. Anh Bá cũng không thoát khỏi quy luật đó. Anh em THSVP chúng tôi đều biết anh có cảm tình đặc biệt với một cô, và chị này cũng qúy mến kính trọng anh. Đã có những lúc chúng tôi đùa nói Bá đầu đỏ phải lên xe hoa về nhà nàng . Anh đã bén lẽn nói "yêu làm chi cho mệt óc chỉ làm quẩn chân con đường mình đi mà thôi". Dẫu qua lời nói nửa đùa nửa thật ở trên nhưng sao tôi vẫn cảm nhận được nơi ánh mắt anh một nỗi luyến tiếc nào đó, một sự giằng co trong con tim TVB là có nên yêu hay không. Một sự mâu thuẫn tình cảm mà lúc đó tôi không thể nào hiểu được. Cho nên tôi lại nói đùa tiếp để thử tìm ra sự thật: "Nàng cũng đấu tranh như anh, như vậy thì lý tưởng nhất rồi còn gì". Anh cũng lại nửa đùa nửa thật bảo là cô nào lấy anh làm vợ chỉ khổ cho đời cô ta mà thôi và sau đó anh nói lãng sang chuyện khác. Vài năm sau, khi hay tin anh Bá bị xử tử hình tôi mới hiểu tại sao anh nói những điều trên. Là một người mẹ một người vợ ngày hôm nay ngẫm lại câu nói xưa tôi lại càng kính phục anh hơn. Anh thương qúy một người con gái. Anh cũng biết rằng tình yêu đã mở rộng đón anh. Nhưng anh đã chạy trốn chối bỏ nó vì lòng anh không nỡ để người anh qúy thương phải sống những chuỗi đời còn lại trong góa bụa u sầu vì anh biết rằng cái chết có thể đến với anh bất cứ lúc nào trên con đường trở về với quê hương dân tộc mà anh đã quyết tâm chọn lựa. Đây là một quan niệm về tình yêu chân thật mà tôi nghĩ là đẹp và cao thượng nhất của thời đại yêu cuồng sống vội ngày hôm nay.
Những tiện nghi vật chất xa hoa ở đời đã không cầm được chân Trần Văn Bá. Anh đã âm thầm trở về nước. Bỏ lại sau lưng thành phố hoa lệ Paris đầy quyến rũ và những thành công cá nhân . Bỏ lại sau lưng những con đường Paris đầy kỷ niệm với gia đình Trần Văn Bá và anh chị em THSVP. Bỏ lại sau lưng hạnh phúc lứa đôi. Và anh đã trở về quê hương những mong vá lại mảnh cơ đồ mục nát. Trở về tranh đấu cho công bằng lẽ phải và tình người sớm được hồi phục trên quê hương.
Đau đớn thay! Định mệnh oan nghiệt đã phủ lên đầu chàng trai nước Việt với bản án tử hình ngày 8/1/1985. Khi nghe tin trên đài truyền hình Úc, nhìn tấm hình anh trong chiếc áo tù bị công an bịt miệng tôi đã trào lệ uất ức. Khuôn mặt anh tóp lại hằn những dấu vết bị tra tấn làm anh già đi hàng chục tuổi. Cái bớt đỏ trên trán anh vẫn còn đó. Ánh mắt quật cường của buổi anh chỉ huy đàn em THSVP ra quân ở Cité Universitaire năm nào vẫn còn kia. Vẫn hiên ngang tự tại không chịu khuất phục đầu hàng bạo lực. Không bán rẻ lý tưởng ký vào bản tự thú để được khoan hồng. Cũng anh hùng đâu khác chi Nguyễn Thái Học, ngày hành quyết anh đòi không bịt mặt đế chứng kiến lần cuối trong đời cảnh bạo quyền kết liễu đời mình. Một giòng máu đỏ tươi từ trái tim người con Việt hào hùng Trần Văn Bá đã phọt bắn tóe ra khắp nơi. Giòng máu kiêu hùng quyết liệt đối đầu với bạo quyền đã vượt không gian hoà tan trong huyết quản tuổi trẻ VN hải ngoại làm sôi sục ý chí quật cường vùng lên. Và tuổi trẻ VN hải ngoại đã theo bước chân anh lên đường thề quyết tâm không đầu hàng bạo lực. Cái chết của Trần Văn Bá đã mở đường cho phong trào tuổi trẻ đấu tranh ngày càng lan rộng khắp năm châu.
Ngày hôm nay nhìn lại con đường trên 30 năm mà mình đã đi qua, mái tóc giờ đã bạc theo mầu thời gian mà vận nuớc vẫn ngày càng đen tối. Bản chất độc tài của CS vẫn còn đó. Duy chỉ có mỗi cái vỏ bề ngoài thay đổi mà thôi. Con cắc kè CS đỏ đã đổi màu biến thái thành kỳ nhông tư bản đỏ, ngày hôm nay vẫn tiếp tục dùng bạo lực trấn áp tất cả những ai nghĩ khác nó dù kẻ đó đấu tranh trong ôn hoà hay bất bạo động.
Đêm đã về khuya. Nước mắt tôi nhạt nhoà hình ảnh cuối cùng của một Trần Văn Bá bị bịt miệng ở tòa. Tôi xin hẹn sẽ có một ngày tìm về nơi mộ phần cô quạnh, đốt nén hương lòng kể cho anh nghe về những cuộc đấu tranh quyết liệt của đồng bào ta không hề ngưng nghỉ. Hãy ngủ yên anh nhé. Đừng bận tâm nuối tiếc cõi trần vì tôi tin rằng tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại ngày hôm nay dư thừa sáng suốt để nhận ra đâu là con đường đấu tranh đúng đắn hữu ích cho dân tộc. Tuổi trẻ hải ngoại sẽ không rơi vào những cái bẫy đấu tranh ỡm ờ theo kiểu xin / cho vì họ thừa biết rằng CS biến thái sẵn sàng bạo động dùng bạo lực để trấn áp tất cả những ai nghĩ khác họ cho dù người đó có đấu tranh ôn hoà bất bạo động. Và tuổi trẻ Việt nam hải ngoại cũng sẽ chả dại gì mất tiền của hy sinh đời mình trở về xây dựng xã hội dân sự nuôi dân nghèo dùm cho chế độ, là một hình thức thực hành nghị quyết 36 mà thôi.
Xin vĩnh biệt anh, người anh hùng muôn thuở của Tổng Hội Sinh Viên Paris.
Nam Dao (Adelaide)
15/11/2007
Ngày 8/1/1987, người thanh niên với trái tim nồng nàn tình quê hương dân tộc, và cũng là cựu chủ tịch Tổng Hội Sinh Viên Paris tên Trần Văn Bá (TVB) đã hiên ngang ngẩng cao đầu thà bị bạo quyền Cộng Sản Việt Nam (CSVN) hành quyết trước tiền đình quốc hội Việt Nam còn hơn là ký tên nhận tội để được ân xá. Một Nguyễn Thái Học của thế kỷ 21 vừa bước vào sử xanh hiện đại. Gương hy sinh cao cả của vị anh hùng liệt sĩ Trần Văn Bá và hai bạn đồng đội của anh đã làm xúc động toàn thể đồng bào hải ngoại, đặc biệt là giới trẻ Việt Nam thời đó.
Sự hy sinh oanh liệt này không phải chỉ được ghi chép trên trang sử hùng Việt Nam không thôi. Hai mươi hai năm sau ngày anh TVB đền nợ nước, Sáng hội Tượng đài Nạn nhân Cộng sản (Victims of Communism Memorial Foundation) vào tối 15/11/2007 tại Tòa Đại Sứ Hung Gia Lợi ở Washington, đã tổ chức lễ trao tặng huy chương Truman-Reagan Freedom 2007 cho anh hùng Trần Văn Bá, cựu chủ tịch của THSVVNParis, người đã bị Việt cộng hành quyết ngày 8/1/1985 sau khi anh bị bắt ở làng Minh Hải, Cà Mau. Tiến sĩ Lee Edwards chủ tịch sáng hội nói "Sau khi tham khảo ý kiến đồng sự, sáng hội đồng ý chọn anh TVB là biểu tượng cho cuộc đấu tranh đòi tự do". Theo ông, lý tưởng anh Bá ấp ủ việc trở về quê hương để rồi bị bắt và xử tử, nói lên hành động bất khuất của một con người chỉ muốn mưu cầu tự do công bằng trên quê hương đang bị Cộng sản đàn áp. Huy chương Truman Reagan Tự Do là huy chương cao quý mang tên hai vị tổng thống Truman và Reagan nổi tiếng chống cộng của Hoa Kỳ đã từng được trao tặng cho những nhà tranh đấu chống cộng sản nổi tiếng trên thế giới như Lech Walesa, Vaclav Havel, Đức Giáo Hoàng John Paul II, TNS Joe Lieberman, William Buckley Jr., Elena Bonner.
Ngày 15/11/2007 hôm nay, trong khi thế giới đang vinh danh anh, ngồi thu mình trong một căn phòng nhỏ bé tôi ngậm ngùi viết lại những dòng kỷ niệm về anh. Những kỷ niệm để đời về một người bạn, một người đàn anh mà vợ chồng tôi và các anh chị em trong Tổng Hội Sinh Viên Paris (THSVP) đã cùng chung vai sát cánh bên anh chia sẻ những ngọt bùi trong suốt hàng chục năm sinh hoạt trong THSVP tranh đấu cho tự do dân chủ VN. Hôm nay tôi muốn ghi lại một phần nhỏ bé về con người thật của anh mà tôi khám phá được nơi anh .
Trước tiên, cách hành xử bình dân, khiêm nhường và xuề xòa của anh đã thu phục nhân tâm rất nhiều người, nên ai cũng gọi anh thân mật bằng cái tên "Bá đầu đỏ" vì anh có một cái bớt màu đỏ nơi trán phiá trái. Chính nhờ cách hành xử bình dị như thế mà ở Paris chỉ có anh là người duy nhất có thể nói chuyện được với tất cả mọi thành phần người Việt quốc gia tại Paris. Từ những tay anh chị cho đến nhà khoa bảng trí thức cũng đều vui vẻ qúy mến giúp anh khi anh cần đến họ. Đây là điểm son của anh Bá. Cũng vì thế mà ở những hội chợ Tết của THSVP chỉ có anh Bá là người có thể huy động được tất cả những môn phái võ đến giữ an ninh cho gần 4000 đồng hương tới tham dự hội Tết THSVP. Nhờ có sự bảo vệ của khoảng 200 võ sinh và nhiều võ sư mấy đẳng bao quanh khu vực hội trường Maubert Matualité, đứng canh cửa trạm metro và xe bus, trong hội trường mà nhóm thân cộng Việt Kiều Yêu Nước và toà đại sứ CSVN (sau 1975) đã không thể nào phá được đêm Tết của THSVP.
Anh Bá sống rất có tình nghiã với anh chị em. Sau ngày 30/4/1975, khi cư xá sinh viên đã bị trao trả cho CSVN, các sinh viên bị đuổi nhà bơ vơ không biết nương tựa vào đâu. Anh Bá đã mời những ai không có nhà về ở chung với anh. Anh thuê 1 appartment rộng để cho mọi người về đó ăn ở miễn phí, chia sẻ ngọt bùi với nhau. Bao nhiêu tiền lương kiếm được thay vì mua nhà cho mình hay may sắm chưng diện anh đã dùng cho những chi tiêu đấu tranh và giúp đỡ bạn bè. Tinh thần đùm bọc nọ đã biến nơi cư ngụ của anh thành một gia đình mà chúng tôi gọi là gia đình Bá đầu đỏ.
Sự hãnh diện của các anh chị em gia đình Bá đầu đỏ tự nó nói lên một điều là qua cách hành xử yêu thương như anh em ruột thịt một nhà của anh Bá đối với họ nên không ai có mặc cảm mang nợ anh Bá và họ rất hãnh diện được là đàn em của anh Bá là vì thế.
Anh Bá là một người can đảm có tư cách của một bậc đàn anh lãnh đạo quả cảm. Khi hay tin thủ tướng Phạm Văn Đồng công du Pháp, anh Bá đã đứng ra tổ chức cuộc biểu tình để tố cáo tội ác CSVN và đòi dân chủ cho VN. Anh chị em THSVP chúng tôi dành dụm tiền in truyền đơn, hăng say đi phát ở những cư xá sinh viên, khu đại học mời mọi người đi tham dự biểu tình. Toà đại sứ CSVN tức điên ruột, sai đàn em điện thoại hăm dọa chúng tôi nếu không ngưng phát truyền đơn ở cư xá ăn Cité Universitaire thì chúng sẽ cho người đánh. Thứ bảy tuần cuối trước khi Phạm Văn Đồng sang Pháp, anh Bá cùng anh chị em THSVP và nhiều võ sư nhất quyết đến cư xá Cité Universitaire phát truyền đơn. Lúc đó CSVN trốn đằng sau đám tây đen thân cộng đứng hàng đầu bảo vệ cho họ. Trước một đám đông gần một trăm tên tây đen vạm vỡ cao từ 1.80m trở lên, mặt mày dữ tợn đằng đằng sát khí tay cầm gậy sắt dài gần 2 thước, anh Bá đã ra lệnh cho tất cả các cô phát truyền đơn hãy rút lui và chỉ có con trai xông vào mà thôi. Riêng anh Bá trên tay không có gậy gộc mà chỉ cầm sấp truyền đơn tiên phong bước tới. Thế là bọn tây đen gào thét man rợ nhào vào cầm gậy sắt đánh chúng tôi. Một bạn sinh viên bị chúng đánh té xuống và thằng tây đen cứ tiếp tục dùng gậy sắt dập lên đầu anh ta một cách dã man nên đã được cảnh sát mang vào nhà thương. Đây là tổn thất về phiá sinh viên quốc gia. Nhưng về mặt chính trị thì đây lại là một thắng lợi lớn cho người Việt quốc gia và là sự thiệt hại lớn cho uy tín của CSVN bởi vì ngày hôm sau truyền thông Pháp đã lên tiếng kết án CSVN dã man đàn áp quyền tự do phát biểu của người dân. Tôi không bao giờ quên được quang cảnh man rợ ngày hôm nọ. Khi viết những dòng này tôi vẫn còn nghe trong tai tôi những tiếng hò hét rợn tóc gáy của đoàn quân tây đen hung tợn. Và tôi cũng không bao giờ quên được hình ảnh rất anh hùng và ánh mắt cương quyết của anh Bá quay lại nói với anh chị em SV trước khi tiến quân, những câu nói chứa chan sự bảo bọc của một bậc đàn anh dũng cảm : " Các cô hãy rút lui hết, các bạn nào không có võ nên tránh xa". Tuy nhiên các anh chị em chúng tôi vẫn quyết sống chết có nhau nên vẫn quyết tâm tiến lên cùng với anh Bá. Vào những ngày cuối tình hình còn căng thẳng hơn nữa. Bọn tay sai CSVN đứng rình nơi cột đèn ở dưới nhà chờ anh Bá xuống để đánh. Trong khi đó dẫu bị cảnh sát Pháp gọi lên đe dọa sẽ đưa anh ra đảo Corse nếu THSVP không hủy bỏ ý định tổ chức biểu tình, nhưng anh Bá vẫn quyết tâm đi tới cùng. Anh có dặn anh chị em rằng nếu anh có bị cảnh sát hốt đi giờ chót thì anh chị em cứ tiếp tục đi tới. Và sau cùng cuộc biểu tình đã diễn ra thành công chưa từng thấy tại công trường Trocadero với số người tham dự lên đến vài ngàn người. Đây là cuộc biểu tình đầu tiên ở hải ngoại với rừng cờ vàng, tràn ngập biểu ngữ tố cáo tội ác CSVN và rừng người hó hét phản đối chế độ quyết liệt đòi tự do dân chủ cho VN. Và đây cũng là cái bạt tai đầu tiên của tuổi trẻ Việt Nam và đồng bào VN ở Pháp dành cho lãnh đạo CSVN, mở đầu cho những bạt tai tiếp nối của đồng bào tỵ nạn ta trên toàn thế giới cho tới ngày hôm nay.
Anh Bá là một người có tấm lòng nhân bản và tinh thần trách nhiệm cao. Thanh niên thiếu nữ nào mà chả biết rung động thương yêu. Anh Bá cũng không thoát khỏi quy luật đó. Anh em THSVP chúng tôi đều biết anh có cảm tình đặc biệt với một cô, và chị này cũng qúy mến kính trọng anh. Đã có những lúc chúng tôi đùa nói Bá đầu đỏ phải lên xe hoa về nhà nàng . Anh đã bén lẽn nói "yêu làm chi cho mệt óc chỉ làm quẩn chân con đường mình đi mà thôi". Dẫu qua lời nói nửa đùa nửa thật ở trên nhưng sao tôi vẫn cảm nhận được nơi ánh mắt anh một nỗi luyến tiếc nào đó, một sự giằng co trong con tim TVB là có nên yêu hay không. Một sự mâu thuẫn tình cảm mà lúc đó tôi không thể nào hiểu được. Cho nên tôi lại nói đùa tiếp để thử tìm ra sự thật: "Nàng cũng đấu tranh như anh, như vậy thì lý tưởng nhất rồi còn gì". Anh cũng lại nửa đùa nửa thật bảo là cô nào lấy anh làm vợ chỉ khổ cho đời cô ta mà thôi và sau đó anh nói lãng sang chuyện khác. Vài năm sau, khi hay tin anh Bá bị xử tử hình tôi mới hiểu tại sao anh nói những điều trên. Là một người mẹ một người vợ ngày hôm nay ngẫm lại câu nói xưa tôi lại càng kính phục anh hơn. Anh thương qúy một người con gái. Anh cũng biết rằng tình yêu đã mở rộng đón anh. Nhưng anh đã chạy trốn chối bỏ nó vì lòng anh không nỡ để người anh qúy thương phải sống những chuỗi đời còn lại trong góa bụa u sầu vì anh biết rằng cái chết có thể đến với anh bất cứ lúc nào trên con đường trở về với quê hương dân tộc mà anh đã quyết tâm chọn lựa. Đây là một quan niệm về tình yêu chân thật mà tôi nghĩ là đẹp và cao thượng nhất của thời đại yêu cuồng sống vội ngày hôm nay.
Những tiện nghi vật chất xa hoa ở đời đã không cầm được chân Trần Văn Bá. Anh đã âm thầm trở về nước. Bỏ lại sau lưng thành phố hoa lệ Paris đầy quyến rũ và những thành công cá nhân . Bỏ lại sau lưng những con đường Paris đầy kỷ niệm với gia đình Trần Văn Bá và anh chị em THSVP. Bỏ lại sau lưng hạnh phúc lứa đôi. Và anh đã trở về quê hương những mong vá lại mảnh cơ đồ mục nát. Trở về tranh đấu cho công bằng lẽ phải và tình người sớm được hồi phục trên quê hương.
Đau đớn thay! Định mệnh oan nghiệt đã phủ lên đầu chàng trai nước Việt với bản án tử hình ngày 8/1/1985. Khi nghe tin trên đài truyền hình Úc, nhìn tấm hình anh trong chiếc áo tù bị công an bịt miệng tôi đã trào lệ uất ức. Khuôn mặt anh tóp lại hằn những dấu vết bị tra tấn làm anh già đi hàng chục tuổi. Cái bớt đỏ trên trán anh vẫn còn đó. Ánh mắt quật cường của buổi anh chỉ huy đàn em THSVP ra quân ở Cité Universitaire năm nào vẫn còn kia. Vẫn hiên ngang tự tại không chịu khuất phục đầu hàng bạo lực. Không bán rẻ lý tưởng ký vào bản tự thú để được khoan hồng. Cũng anh hùng đâu khác chi Nguyễn Thái Học, ngày hành quyết anh đòi không bịt mặt đế chứng kiến lần cuối trong đời cảnh bạo quyền kết liễu đời mình. Một giòng máu đỏ tươi từ trái tim người con Việt hào hùng Trần Văn Bá đã phọt bắn tóe ra khắp nơi. Giòng máu kiêu hùng quyết liệt đối đầu với bạo quyền đã vượt không gian hoà tan trong huyết quản tuổi trẻ VN hải ngoại làm sôi sục ý chí quật cường vùng lên. Và tuổi trẻ VN hải ngoại đã theo bước chân anh lên đường thề quyết tâm không đầu hàng bạo lực. Cái chết của Trần Văn Bá đã mở đường cho phong trào tuổi trẻ đấu tranh ngày càng lan rộng khắp năm châu.
Ngày hôm nay nhìn lại con đường trên 30 năm mà mình đã đi qua, mái tóc giờ đã bạc theo mầu thời gian mà vận nuớc vẫn ngày càng đen tối. Bản chất độc tài của CS vẫn còn đó. Duy chỉ có mỗi cái vỏ bề ngoài thay đổi mà thôi. Con cắc kè CS đỏ đã đổi màu biến thái thành kỳ nhông tư bản đỏ, ngày hôm nay vẫn tiếp tục dùng bạo lực trấn áp tất cả những ai nghĩ khác nó dù kẻ đó đấu tranh trong ôn hoà hay bất bạo động.
Đêm đã về khuya. Nước mắt tôi nhạt nhoà hình ảnh cuối cùng của một Trần Văn Bá bị bịt miệng ở tòa. Tôi xin hẹn sẽ có một ngày tìm về nơi mộ phần cô quạnh, đốt nén hương lòng kể cho anh nghe về những cuộc đấu tranh quyết liệt của đồng bào ta không hề ngưng nghỉ. Hãy ngủ yên anh nhé. Đừng bận tâm nuối tiếc cõi trần vì tôi tin rằng tuổi trẻ Việt Nam hải ngoại ngày hôm nay dư thừa sáng suốt để nhận ra đâu là con đường đấu tranh đúng đắn hữu ích cho dân tộc. Tuổi trẻ hải ngoại sẽ không rơi vào những cái bẫy đấu tranh ỡm ờ theo kiểu xin / cho vì họ thừa biết rằng CS biến thái sẵn sàng bạo động dùng bạo lực để trấn áp tất cả những ai nghĩ khác họ cho dù người đó có đấu tranh ôn hoà bất bạo động. Và tuổi trẻ Việt nam hải ngoại cũng sẽ chả dại gì mất tiền của hy sinh đời mình trở về xây dựng xã hội dân sự nuôi dân nghèo dùm cho chế độ, là một hình thức thực hành nghị quyết 36 mà thôi.
Xin vĩnh biệt anh, người anh hùng muôn thuở của Tổng Hội Sinh Viên Paris.
Nam Dao (Adelaide)
15/11/2007
Hạnh Phúc Nhỏ Nhoi
Yến Tuyết
Cô bạn gái của tôi,
Cho dù ở Orange County vẫn còn những ngày có khí hậu đến 75 độ đi nữa, buổi sáng thức dậy hay buổi tối ở đâu đó ngoài đường, bạn có lẽ cũng như tôi, phải khoác lên người cái áo len hay cái khăn quàng cổ. Thời tiết Cali tuy không thay đổi một cách khác biệt như ở miền Ðông Hoa Kỳ nhưng chúng ta vẫn có một ít hơi hám của Mùa Thu và Mùa Ðông với khí trời lành lạnh, với màn sương mỏng, với một ít lá vàng tìm thấy đâu đó trong thành phố bạn nhỉ.
Tôi vừa từ miền Bắc Cali trở về. Ðược sống với đứa con gái lớn gần biển hồ xinh đẹp ở Lake Tahoe một vài ngày để thở hít không khí trong lành của thiên nhiên và để mẹ con có thời gian riêng tư bên nhau sau những tháng ngày xa cách.
Lake Tahoe có hai vùng Nam và Bắc. Phía Nam giáp ranh với tiểu bang Nevada nơi có các sòng bài như Las Vegas. Còn phía Bắc là khu vực dành cho những người thích thể thao như trượt tuyết, chèo thuyền hay leo núi. Thế vận hội Olympic cũng đã từng chọn Lake Tahoe làm nơi tổ chức các cuộc thi thể thao Mùa Ðông vào thập niên 1960.
Chúng tôi ở phía Bắc Lake Tahoe nhưng mùa này vì chưa lạnh lắm để tuyết rơi nên vắng người du lịch. Chỉ thấy một số gia đình có con nhỏ, những cặp vợ chồng già, vài đôi tình nhân trẻ và mẹ con chúng tôi.
Buổi sáng ở phòng khách sạn nhìn ra rừng thông dày đặc có những con sóc chuyền cành để thấy lòng thư thả, hay nằm trên giường ôm con như những ngày con còn thơ ấu để tâm sự từ chuyện tình duyên, gia đạo đến chuyện thời trang và công ăn việc làm. Tự dưng có lúc tôi muốn khóc mà không biết tại sao? Có thể đó là xúc động tình cảm, lẫn lộn giữa niềm vui vì thấy con khôn lớn và chín chắn và giữa tiếc nuối vì chỉ được gần con rất ngắn, rồi con lại ra đi.
Ban ngày, mẹ con đi bộ trên những con đường ngoằn ngoèo dẫn xuống một bãi cát mịn yên lặng và nước hồ trong xanh. Buổi tối ngồi trong phòng khách chung có cây Noel và bếp lửa hồng ấm cúng, lắng nghe nhóm nghệ sĩ hát những bài ca Giáng Sinh vui tươi hay êm đềm. Cũng trong không khí nhàn rỗi đó, hai mẹ con ngồi chơi cờ, đấu trí với nhau như những ngày con còn ở nhà. Hạnh phúc đôi khi chỉ là những giây phút bình yên ấy.
Hôm Thứ Ba đầu tuần đi làm trở lại, tôi được tin hai người đồng nghiệp vừa bị sở cho nghỉ việc vì ngân sách cắt giảm. Buồn cho người mà thấy may cho mình vì vẫn còn công việc. Dĩ nhiên, cũng chỉ biết đến đâu hay đến đó vì làm việc cho những tổ chức tư nhân vô vụ lợi thường bấp bênh hơn, không biết tương lai của mình ra sao vì ngân khoản điều hành của họ tùy thuộc vào sự tài trợ của chính phủ hay một số mạnh thường quân. Năm ngoái tăng, năm nay giảm bớt. Thế nhưng bây giờ tôi không còn lo lắng như hồi các con tôi còn nhỏ nữa vì chỉ còn hai vợ chồng già, tiêu xài đã bớt tốn kém đi rất nhiều. Tôi đã có đôi chút kinh nghiệm của nhiều loại công việc khác nhau, từ lao động chân tay đến trí óc, lại không hề sợ cực khổ thì rồi sẽ kiếm được công việc khác thôi nếu bị mất việc. Hạnh phúc vì vẫn còn có việc làm, bạn ạ.
Thật khó có thể định nghĩa được hạnh phúc. Tôi cho rằng hạnh phúc không cần phải do tiền bạc đem lại mà đôi khi chỉ là những điều thật nhỏ nhoi và chỉ xảy ra ở một giây phút nào đó trong đời sống. Ðó có thể là một buổi tối đi làm về còn nhìn thấy mặt vợ hay chồng trong căn nhà nhỏ. Là cái cầm tay hay ôm vai rất nhẹ. Ðó là lời thăm hỏi của người bạn. Ðó có thể là cái email của đứa con ở xa. Là nụ cười và câu hỏi thơ ngây của đứa cháu...
Tôi thì cảm thấy hạnh phúc vì được viết thư và vẫn có người đọc. Bạn đã nói cho tôi lời hỗ trợ khi gặp mặt, đã gởi cho tôi ý kiến khen, chê về những lá thư mà bạn cho rằng chủ quan hay tương hợp. Và tôi cảm ơn bạn.
Ở một vị trí khiêm nhường của đời sống, tôi cũng chỉ là một phụ nữ bình thường, đã nổi trôi trong dòng đời với những gian nan và hạnh phúc như một vài người đọc LTBG dù với cảnh ngộ khác nhau. Lá thư của tôi, biết đâu, sẽ tiếp tục mang đến cho bạn một chút êm đềm nào đó trong một ngày bận rộn với những lo toan và căng thẳng. Nếu nó có thể được bạn gọi là hạnh phúc nhỏ nhoi dù chỉ bằng những suy nghĩ rất giản dị mà cần thiết, thì đó là điều mơ ước của tôi.
“Hạnh phúc tôi, hạnh phúc tôi. Từ ngày con nước về.
Ngoài trời mưa mau, ngoài trời mưa mau, tay vuốt mặt không ngừng...” (TCP)
Hẹn bạn thư sau nhé. (YT)
Yến Tuyết
Cô bạn gái của tôi,
Cho dù ở Orange County vẫn còn những ngày có khí hậu đến 75 độ đi nữa, buổi sáng thức dậy hay buổi tối ở đâu đó ngoài đường, bạn có lẽ cũng như tôi, phải khoác lên người cái áo len hay cái khăn quàng cổ. Thời tiết Cali tuy không thay đổi một cách khác biệt như ở miền Ðông Hoa Kỳ nhưng chúng ta vẫn có một ít hơi hám của Mùa Thu và Mùa Ðông với khí trời lành lạnh, với màn sương mỏng, với một ít lá vàng tìm thấy đâu đó trong thành phố bạn nhỉ.
Tôi vừa từ miền Bắc Cali trở về. Ðược sống với đứa con gái lớn gần biển hồ xinh đẹp ở Lake Tahoe một vài ngày để thở hít không khí trong lành của thiên nhiên và để mẹ con có thời gian riêng tư bên nhau sau những tháng ngày xa cách.
Lake Tahoe có hai vùng Nam và Bắc. Phía Nam giáp ranh với tiểu bang Nevada nơi có các sòng bài như Las Vegas. Còn phía Bắc là khu vực dành cho những người thích thể thao như trượt tuyết, chèo thuyền hay leo núi. Thế vận hội Olympic cũng đã từng chọn Lake Tahoe làm nơi tổ chức các cuộc thi thể thao Mùa Ðông vào thập niên 1960.
Chúng tôi ở phía Bắc Lake Tahoe nhưng mùa này vì chưa lạnh lắm để tuyết rơi nên vắng người du lịch. Chỉ thấy một số gia đình có con nhỏ, những cặp vợ chồng già, vài đôi tình nhân trẻ và mẹ con chúng tôi.
Buổi sáng ở phòng khách sạn nhìn ra rừng thông dày đặc có những con sóc chuyền cành để thấy lòng thư thả, hay nằm trên giường ôm con như những ngày con còn thơ ấu để tâm sự từ chuyện tình duyên, gia đạo đến chuyện thời trang và công ăn việc làm. Tự dưng có lúc tôi muốn khóc mà không biết tại sao? Có thể đó là xúc động tình cảm, lẫn lộn giữa niềm vui vì thấy con khôn lớn và chín chắn và giữa tiếc nuối vì chỉ được gần con rất ngắn, rồi con lại ra đi.
Ban ngày, mẹ con đi bộ trên những con đường ngoằn ngoèo dẫn xuống một bãi cát mịn yên lặng và nước hồ trong xanh. Buổi tối ngồi trong phòng khách chung có cây Noel và bếp lửa hồng ấm cúng, lắng nghe nhóm nghệ sĩ hát những bài ca Giáng Sinh vui tươi hay êm đềm. Cũng trong không khí nhàn rỗi đó, hai mẹ con ngồi chơi cờ, đấu trí với nhau như những ngày con còn ở nhà. Hạnh phúc đôi khi chỉ là những giây phút bình yên ấy.
Hôm Thứ Ba đầu tuần đi làm trở lại, tôi được tin hai người đồng nghiệp vừa bị sở cho nghỉ việc vì ngân sách cắt giảm. Buồn cho người mà thấy may cho mình vì vẫn còn công việc. Dĩ nhiên, cũng chỉ biết đến đâu hay đến đó vì làm việc cho những tổ chức tư nhân vô vụ lợi thường bấp bênh hơn, không biết tương lai của mình ra sao vì ngân khoản điều hành của họ tùy thuộc vào sự tài trợ của chính phủ hay một số mạnh thường quân. Năm ngoái tăng, năm nay giảm bớt. Thế nhưng bây giờ tôi không còn lo lắng như hồi các con tôi còn nhỏ nữa vì chỉ còn hai vợ chồng già, tiêu xài đã bớt tốn kém đi rất nhiều. Tôi đã có đôi chút kinh nghiệm của nhiều loại công việc khác nhau, từ lao động chân tay đến trí óc, lại không hề sợ cực khổ thì rồi sẽ kiếm được công việc khác thôi nếu bị mất việc. Hạnh phúc vì vẫn còn có việc làm, bạn ạ.
Thật khó có thể định nghĩa được hạnh phúc. Tôi cho rằng hạnh phúc không cần phải do tiền bạc đem lại mà đôi khi chỉ là những điều thật nhỏ nhoi và chỉ xảy ra ở một giây phút nào đó trong đời sống. Ðó có thể là một buổi tối đi làm về còn nhìn thấy mặt vợ hay chồng trong căn nhà nhỏ. Là cái cầm tay hay ôm vai rất nhẹ. Ðó là lời thăm hỏi của người bạn. Ðó có thể là cái email của đứa con ở xa. Là nụ cười và câu hỏi thơ ngây của đứa cháu...
Tôi thì cảm thấy hạnh phúc vì được viết thư và vẫn có người đọc. Bạn đã nói cho tôi lời hỗ trợ khi gặp mặt, đã gởi cho tôi ý kiến khen, chê về những lá thư mà bạn cho rằng chủ quan hay tương hợp. Và tôi cảm ơn bạn.
Ở một vị trí khiêm nhường của đời sống, tôi cũng chỉ là một phụ nữ bình thường, đã nổi trôi trong dòng đời với những gian nan và hạnh phúc như một vài người đọc LTBG dù với cảnh ngộ khác nhau. Lá thư của tôi, biết đâu, sẽ tiếp tục mang đến cho bạn một chút êm đềm nào đó trong một ngày bận rộn với những lo toan và căng thẳng. Nếu nó có thể được bạn gọi là hạnh phúc nhỏ nhoi dù chỉ bằng những suy nghĩ rất giản dị mà cần thiết, thì đó là điều mơ ước của tôi.
“Hạnh phúc tôi, hạnh phúc tôi. Từ ngày con nước về.
Ngoài trời mưa mau, ngoài trời mưa mau, tay vuốt mặt không ngừng...” (TCP)
Hẹn bạn thư sau nhé. (YT)
“Dấu Binh Lửa” và Phan Nhật Nam, một thời chinh chiến
Nguyễn Mạnh Trinh Những năm của thập niên 70, có lẽ là những năm đẹp nhất của cuộc đời tôi. Ở tuổi mới lớn, nhìn mọi sự việc đơn giản, cái lãng mạn của tuổi trẻ đã mang sự suy nghĩ đi xa hôn thực tế cuộc sống. Lúc ấy, chiến tranh bắt đầu tàn khốc. Những người bạn cùng lớp, có đứa đã mặc quần áo lính và cũng có đứa đã nằm xuống với lá cờ vàng ba sọc dỏ trên mộ và hàng chữ tổ quốc ghi ơn. Vào giảng đường học đại học, thi rớt một năm là vào quân trường ngay. Trong cái không khí ấy, chúng tôi đã đọc những trang bút ký chiến tranh của những người đi lính trước, để tưởng tượng ra những khổ nhọc mà sau này, khi đã bắt đầu đoạn đường chiến binh sẽ hiểu thấu. Có những bài viết, làm xúc động sâu xa. Có những câu thơ mang đến sự chia sẻ tột cùng.
Chúng tôi đọc Nguyễn Bắc Sơn. Chúng tôi đọc Phan Nhật Nam. Thấy “Chiến tranh Việt Nam và tôi”. Thấy “Dấu Binh Lửa”. Thấy “Mùa Hè Đỏ Lửa”. Thấy những người chết và những người đang lầm lũi trong khói lửa chiến tranh.
Như Đỗ Quý Toàn đã đọc “Ngày mưa đọc lại Dấu Binh Lửa”, với những cảm giác bàng hoàng, của những thiên nah hùng ca tàn khốc, vỡ vụn:
“ngày mưa đọc lại Phan Nhật Nam
trời bỗng xầm đen tóe sấm sát
mặt đất ào ào trận pháo tuôn
trong thành phố tử thần co quắp
viên đạn cuối cùng đã bắn đi
người chết giữa trời trên đồng cháy
hồn anh thảng thút bay lên không
suốt dọc Trường Sơn đất run rẩy
mặt trời chưa thấy đêm dài ôi
từng khối lờn mênh mang đặc cứng
qua khe nhìn lại đồi C2
nhớ lại anh em ta nằm xuống…”
Chiến tranh, là những điều quái gở, là chuỗi dài chém giết cả mấy chục năm, như Nguyễn Bắc Sơn thổ lộ :
”Kẻ thù ta ơi những đứa xâm mình
Aên muối đá mà điên say chiến đấu
Ta vốn hiền khô ta là lính cậu
Đi hành quân rượu đế vẫn mang theo
Mang trong đầu những ý nghĩ trong veo
Xem cuộc chiến như tai trời ách nước
Ta bắn trúng ngươi vì ngươi bạc phước
Vì căn phần ngươi xui khiến đó thôi
Chiến tranh này cũng chỉ một trò chơi
Suy nghĩ làm gì lao tâm khổ trí
Lũ chúng ta sống một đời vô vị
Nên chọn rừng sâu núi cả đánh nhau
Mượn trời đất làm nơi đốt hỏa châu
Những cột khói giả rồng thiêng uốn khúc
Mang bom đạn chơi trò chơi pháo tết
Và máu xương làm phân bón rừng hoang.”
Những bài hát, có hình dáng chiến tranh, có khăn tang cô phụ, có hình tượng của một thời núi xương sông máu, dù phản chiến hay cổ võ chiến đấu, với lời ca từ làm nhỏ lệ chúng tôi. Thân phận con người trong cơn bão lốc như chẳng còn chút giá trị. Viết về một thời đại ấy, là kể lại những kỳ tích mà mấy chục năm sau, lớp tuổi trẻ tiếp theo lớn lên khó tưởng tượng nồi. Dù rằng, những tác phẩm ấy chỉ nói lên một phần không toàn diện cuộc chiến.
Một nửa, là dòng chữ Phan Nhật Nam, một nửa là câu văn Bảo Ninh. (Tôi chỉ nói Bảo Ninh của Nỗi Buồn Chiến Tranh thôi,Còn Bảo Ninh bây giờ của “Tản mạn trên đường bị kẹt xe: thì hiện nguyên hình là một … văn nô có đẳng cấp). Chiến tuyến phân đôi khiến hai bên chỉ nhìn thấy ở phận mình. Nỗi niềm riêng, của những người bắt buộc lao vào cuộc chiến.Bao nhiêu năm qua, thống hận đã hết nhưng đau xót vẫn còn. Những vết thương vẫn chưa lành miệng…
Nhưng, có người nói bây giờ mà đọc bút ký chiến tranh của thời xa xưa ấythì hơi … chậm tiến. Chiến tranh đã qua lâu lắm rồi đã hàng nửa thế kỷ,bây giờ nhắc lại có ích gì, như hành động cứ moi mãi vào vết thương tâm của cả một dân tộc.
Viết bút ký chiến tranh, là phản ánh lập trường chính trị một cách chủ quan, chỉ là một cách nhìn của một phía và chỉ soi rọi đến mõt nửa chân lý mà thôi. Đọc những trang sách viết về chiến tranh, chúng ta có thể rõ ràng mường tượng vị trí chính trị. Từ Phan Nhật Nam đến Bảo Ninh, từ Trần Hoài Thư đến Trần Mạnh Hảo... dù thời điểm sáng tác có khác, dù hoàn cảnh, môi trường có khác, chiến tuyến có khác nhưng những giòng chữ viết của họ phần nào nói lên được tâm cảm của người lính trong bão lốc chiến tranh…
Nhưng, trên phương diện văn học sử, những tác phẩm như Dấu Binh Lửa, như Nỗi Buồn Chiến Tranh,.. chính là những ghi chép lại của tâm tư một thời, những ngày khốc liệt nhất của lịch sử. Khác với vai trò của một văn công tuyên truyền, họ mang cái lửa của những người tuổi trẻ sống trong một thời kỳ không thể có một quyết định nào khác hơn là cầm súng.Những người không thích chém giết mà vẫn phải lao mình vào lửa đạn.
Tôi đọc Phan Nhật Nam trong tâm cảm ấy. Dấu Binh Lửa, Dọc Đường Số 1, Mùa hè Đỏ Lửa, là những bút ký ghi lại một thời mà chúng ta đều gắng quên mà phải nhớ. Một thời kỳ mà những suy tư đã dằn vặt lên những “con người“ biết nghĩ đến phát điên lên được. Thực tế lịch sử đã tròng tréo lên nhau hết mắc míu này đến liên hệ kia. Những thế lực ngoại quốc chi phối, những tâm cảm bức bối nhược tiểu, những con đường đi ít có ánh sáng mặt trời. Tuổi trẻ bị đẩy vào mê cung và quanh quẩn lồng lộn trong những chấn song giới hạn như trong một bẫy rập.
Hình như, bút ký chiến tranh Dấu Binh Lửa đã gây nên rất nhiều phản ứng trong giới cầm bút. Nhà thơ Đỗ Quý Toàn đã cho rằng đây là một kiệt tác viết về chiến tranh. Nhà báo Chu Tử cũng phát biểu như thế. Những dòng chữ, viết bằng máu và mồ hôi của một chiến trận có thực và những phẫn nộ có thực đã thuyết phục được người đọc. Đến nỗi, những người cầm bút phía đối nghịch bên kia như Tô Hoài và Nguyễn Tuân cũng phải nhận rằng quả thực Phan Nhật Nam đã viết tác phẩm của mình bằng máu, nhưng là một loại máu bị nhiễm độc. Và, khi chấm dứt chiến tranh, Phan Nhật Nam đã nếm biết bao nhiêu đòn thù, với những ngày biệt giam dài dằng dặc.
Dù ở bất cứ một nhãn quan chính trị nào, ở những kết luận, đều chung một nhận định, chữ viết của Dấu Binh Lửa, Mùa Hè Đỏ Lửa là những dòng chữ của văn chương mang nỗi niềm của tuổi trẻ một thời đại rất là đặc biệt Việt Nam.
Trước khi là lính, Phan Nhật Nam là một sinh viên sĩ quan trường Võ Bị Đà Lạt. Tôi để ý thấy ông ít tôn sùng một thần tượng nào, nhưng khi nhắc về Trường Mẹ của mình, ông đã viết với sự tôn trọng. Hơn nữa, với cả một tâm tình đằm thắm mà ông đã có từ thuở hoa niên. Những người, mà ông gọi là thầy, là niên trưởng, hay niên đệ, trong văn chương ông, đều có nét chung mang nhân bản, của những mẫu người yêu đất nước và mong muốn hòa bình dù phải bắt buộc cầm súng. Những lời ông ngỏ, như những tâm sự gửi đến, để chia sẻ:
“… Tôi ở lính tám năm, năm nay 26 đi lính năm 18 suốt tám năm của một thời lớn lên tôi đem tặng hết cho quân đội, không phải đến bây giờ tôi thất vọng chán nản vì công danh không toại ý, cuộc sống bị ép buộc không đúng như mơ ước nên cay cú hằn học với nhà binh. Không như vậy, tôi đi lính năm 18 tuổi vào học trường tình nguyện ra làm ông Quan một. Chẳng có ai lôi kéo tôi vào trường ấy, tôi tự động hăng hái hãnh diện để trở thành một Sinh Viên Sĩ Quan với ý nghĩ đã chọn đúng cho mình một hướng đi, một chỗ đứng dưới ánh mặt trời mọc. Tôi có những rung động thật thành thực khi đi trong rừngthông hương nhựa thông tỏa đặc cả một vùng đồi, sung sướng vì thấy đã đưa tuổi trẻ vào trong một thế giới có đủ mơ mộng và cứng rắn, một thế giới pha trộn những ước mơ lãng mạn hào hùng.. Chuyển quân trong sương đêm, trong mây mù, ánh lửa mục tiêu của một đêm đông, trong hốc núi hoang vắng, thế giới mạo hiểm giang hồ của Jack London phảng phất đâu đây...
Tôi say mê và thích thú với những khám phá mới mẻ đó. Nắng cao nguyên trong những ngày cuối năm vàng tươi rực rỡ, đứng ở đồi nhìn xuống hồ suối Vàng trong vắt yên lặng, người như muốn tan vỡ thành muôn ngàn mảnh nhỏ theo cơn gió bay chập chờn qua vùng đồi trùng điệp và tan đi trong nước hồ xanh ngắt…,”
Không phải cảm giác và tâm tưởng ấy là của riêng tác giả Dấu Binh Lửa. Mà hình như của chung những chàng lính” sữa “quân trường. Huấn nhục không làm vơi chất lãng mạn mà còn tạo thành một truyền thống để những cực nhọc thăng hoa thành những kỷ niệm đẹp một thời.
Đà Lạt, phong cảnh hữu tình, người cũng đẹp và trời đất bốn mùa cũng có nét đẹp cách riêng. Sống ở trong môi trường ấy, óc tưởng tượng đã phát triển để thấy được cái lồng lộng vô biên của cuộc nhân sinh. Thực tế cũng có nhiều trắc trở, ngày tháng rồi sẽ kéo dài những mệt mỏi, nhưng trong rực rỡ những hy vọng vẫn là những bản hoan ca của một tuổi trẻ thanh xuân. Không phải là những bài hát mị lính rẻ tiền kiểu “anh tiên tuyến em hậu phương” mà là những tâm tư chất ngất hùng tráng của những câu thơ hào hùng thuở nào nhắc đến một htời trăng treo vó ngựa. Phan Nhật Nam viết về những ngày ở Trường Mẹ:
“... Phải nói thật những ngày ở lính đầu tiên của tôi đầy trong sáng và đẹp đẽ. Trong sáng như giấc mơ của số tuổi 19, giấc mơ mù mờ có cánh chim trắng bay chậm rãi qua rừng thông….nhưng đời sống nhà binh không hẳn là vậy, nó còn có sĩ quan cán bộ, có nghi lễ, có đủ những phiền toái hỗn độn mà đời sống dân sự không ai nghĩ ra được… Nên khung trời đầy sương mù bí mật ngoài khung cửa sổ hiện ra như một thách thức đối với đời sống kìm kẹp của tôi hiện tại.
Đây cũng là một thời gian thật khủng hoảng, mỗi đêm nhìn về phía thành phố đầy ánh đèn tôi không ngủ được, tưởng như có một tiếng gọi của đời sống ở bên ngoài quân ngũ đang nhắc nhở thúc gịuc, một đời sống thực sự tôi không có. Từ khung cửa sổ nhìn xuống những dàn đồi im lặng chạy dài trong sương mù và đằng xa ánh đèn xanh của vườn Bích Câu ma quái diễm ảo, tôi thấy rõ trong tôi có một nỗi cô đơn khủng khiếp hiện hình sừng sững. Những lúc ấy tôi thấy được con người thực của mình, một gã trai trẻ viển vông, thấy rõ những cười đùa ban ngày, những buổi học, bữa ăn tập thể không ảnh hưởng gì đến con người trong tôi.không thể có được một ý niệm về chuyên môn quân sự mà bằng tất cả mọi cách nhà trường cố nhét vào trong đầu óc.
Những Đội hình tác chiến, cung cách chỉ huy, chi tiết kỹ thuật về vũ khí trôi qua trí não mơ hồ như một cơn gió nhẹ. Hai năm sống ở mái trường đó như một cơn gió phiếm du. Những giây phút thực nhất là phiên gác nửa đêm về sáng dưới ánh đèn pha của vọng gác kho đạn tôi khám phá được một thế giới của cây cỏ đang thở, đang lớn lên, những giây phút khoảng năm giờ sáng, sau phiên gác nhìn xuống phòng sĩ quan trực, người lính kèn im lặng đưa lên môi thổi bài kèn báo thức. Và giây phút thực nhất không gì hơn suốt ngày chủ nhật một mình một ngựa chạy như bay vào hướng đồn Daksard. Con đường đỏ còn ướt sương đêm, trời chưa tan hẳn mù, ngựa phi như gió cuốn, ngựa đi vào trong một vùng mù đặc, rừng thông chuyển động ào ào, cả trời cao nguyên tan biến chập chờn theo vó ngựa.Kết quả sau hai năm ăn nhờ chánh phủ tôi được biến thnah ông quan Một ra trường đi binh chủng hung hãn nhất…”
Vào lửa đạn, đi qua từ những chiến trường này đến trận chiến nọ, trải qua bao nhiêu thăng trầm binh nghiệp, bao nhiêu lần thương tích, bao nhiêu lần thấy cái lý tưởng thời xưa bị vầy đạp, vẫn thấy, sáng ngời những ngày tháng quân trường, vẫn thấy, niềm hãnh diện xuất thân từ ngôi Trường Mẹ vẫn chưa nhạt phai.
”... Tôi ra trường năm 1963, thời gian chiến tranh bắt đầu nặng và hỗn loạn không phải chỉ thuần túy ở sự kiện chiến tranh nhưng đã bắt đầu gây mầm bùng nổ ở lòng người. Lẽ tất nhiên là sĩ quan nhà nghề, xuất thân từ quân trường mà quyền hành của khóa đàn anh không phải chỉ để thi hành kỷ luật nhưng là một ám ảnh khủng khiếp cho khóa dưới. Chỉ một cái quắc mắt của Nguyễn Xuân Phúc (khóa 16) khi bước lên bục gỗ, hai trăm người của khóa tôi co rúm tê liệt như con nai chết trước nhãn quan khủng khiếp của con hổ. Một sinh viên sĩ quan khóa 19 vì quá sợ niên trưởng nên dù trái lựu đạn đã bật kíp nhưng cũng không dám ném đi vì chưa nhận được lệnh (trong bài học ném lựu đạn tất cả các động tác đều theo lệnh) nên hậu quả trái đạn nổ trên tay….
Tôi biến thành một người lính thực thụ, trận lớn, trận nhỏ, chiến dịch hai tháng, ba tháng, dài ngắn, từ Sài Gòn trở ra Bến Hải, tôi đi đủ. Những địa danh xa xôi bất kỳ một xó xỉnh hiểm hóc nào của miền Nam này tôi cũng có thể biết rõ một cách tường tận. Từ những miền quá nổi tiếng như khe Sanh, Cồn Tiên đến những làng nhỏ từ cửa Việt đi ra : Diêm hà Trung, Diêm Hà Nam, cái làng nhỏ cuối thung lũng sông Kim Sơn, làng Hà Tây, đèo ông Hổ đổ xuống Phù Củ ra Phù Ly, Phù Cát thẳng đến biển là núi Lồi, đầm Trà Ổ, xuống phía Nam là đầm Nước Ngọt. Lên đến Pleiku, trực thăng vận xuống phía Nam Biên giới Lào Việt đầu ngọn sông Ia-Drang…Đâu đâu tôi cũng đến. Năm thứ nhất, năm thứ hai, thứ ba tôi sống thoải mái, vì đã đi đủ, nhìn đủ. Tôi cũng chấp nhận cho sự góp mặt ở chiến cuộc; góp mặt để chấm dứt chiến tranh. Thắng bại không kể, nhưng cốt yếu là không ở ngoài, không chạy trốn trong khi bạn bè những người cùng trang lứa đang tham dự đang ngã chết. Dù bên này hay bên kia, chết trong thù hận…Những người đang đi tìm cái chết để biện giải cho đời sống….”
Chỉ có người ở trong cuộc mới hiểu được nỗi nhọc nhằn của một cuộc chiến phi lý. Ngoài tiền tuyến hy sinh, trong khi hậu phương thì bị phá nát bởi những tên vô trách nhiệm không một chút ý thức nào về dân tộc và quốc gia. Có những người trước khi vào lính là những sinh viên hay biểu tình tranh đấu nhưng khi gia nhập quân ngũ lại cảm thấy giận dữ khi máu xương và mồ hôi của mình và đồng ngũ mình bị phí phạm một cách cực kỳ vô ích. Cũng như, có những người lính, sau nhiệm vụ của mình, đã cầm bút như một cách thế để nói lên nỗi niềm tâm sự của mình. Thú thực tôi cũng không tâm đắc mấy với những ngôn từ như nhà thơ lính, nhà văn lính.Ở một thời kỳ mà tất cả sinh lực, tất cả những tinh hoa của đất nước đều dồn hết vào quân đội thì chữ lính đi sau có phải là thừa thãi không ? Nhà văn, nhà thơ là đủ rồi, hà tất còn phải thêm chữ lính làm gì? Đâu có phải đó là dấu mộc của tấm giấy chứng nhận tại ngũ để trình cho cảnh sát đứng gác đường xét hỏi… thời chiến tranh, mọi người phải hoàn tất nhiệm vụ của mình với đất nước, với xã hội mình đang sống…
Tôi nghĩ đến cái mộng ước của đại tá Trần Ngọc Huyến, chỉ huy trưởng trường Võ Bị Đà Lạt một thời. Ông muốn hình thành một lớp quý tộc mặc quân phục với tiêu chuẩn văn võ toàn tài. Từ bước đầu rèn luyện ở quân trường, không phải chỉ là những kiến thức về quân sự về chuyên môn, mà còn cả những phương cách để học làm người nữa. Một mẫu người kiểu mẫu cho một thời đại. Bằng mọi cách, với tất cả nỗ lực ông kiến tạo một tiêu chuẩn mẫu mực mới cho phong cách và chân dung một sĩ quan hiện dịch. Tiếc là thời gian đã không đủ để có một trắc nghiệm chính xác. Nhưng, từ những người con xuất thân từ Trường mẹ, họ đã không làm phụ lòng những mộng ước mong mỏi trên.Địa linh thì có nhân kiệt. Đỉnh Lâm Viên vòi vọi cao nhưng không phải là chẳng thể vượt qua.
Bây giờ, đọc những trang sách, lại thấy phảng phất đâu đây mùi nhựa thông buổi sáng hay mầu hoa quì vàng làm ngây ngất lòng người.cái sương mù bây giờ ở xứ người có làm nhớ đến màn sương mù đặc của Phan Nhật Nam thuở trước ? ai làm người lính gác đêm, nhìn thành phố mờ tỏ ánh đèn có thấy xao xuyến nỗi nhớ mong nào đó? Kỷ niệm sẽ rất đẹp, khi lúc ta đang tuổi xuân, lòng bừng bừng men rượu của cuộc sống sắp đến. Đà Lạt, nơi có những người lính alpha đỏ trên vai, và những cô gái nữ sinh Bùi Thị Xuân, Couvent,.. đầy e ấp. Ơû đó có những mối tình đẹp nhưng cũng có những chia tay buồn bã. Hoa mimosa, hoa anh đào, hoa quì có một buổi nào nở rộ? Những người lính, lên đường mang giấc mộng của mình đi đến chiến trường, nơi trăng treo vó ngựa, nơi sinh tử mịt mù?
Và với Phan nhật Nam, trong câu chuyện kể hoài không đủ, viết ngàn chương thiếu một tờ, biết đâu, về sau, những lớp con trẻ lớn lên đã thấy được những cảnh ngộ của cha ông trong một thời lịch sử qúa nhiều phức tạp…
Với tôi, có một kỷ niệm nhỏ và một bài thơ. Bình sinh tôi rất yêu mến những người lính nhảy dù. Ở đó tôi nhìn thấy họ qua những sự hy sinh những gian khổ vô bờ và cả những chiến tích hiển hách. Tôi có nhiều đứa bạn, đã hãnh diện vì mầu nón đỏ trên đấu và ra đi rất sớm trong chiến trận. Những năm của thập niên 80, khi Phan Nhật Nam còn bị dập vùi trong lao ngục tôi giở cuốn sách tái bản ở hải ngoại “Mùa hè Đỏ lửa” và tự nhiên nhớ lại một thời chinh chiến đã qua. Tôi viết một mạch với cảm lhái bừng bừng của một người sống lại những ngày dĩ vãng:
Đọc Mùa Hè Đủ Lửa, nhớ tới Phan Nhật Nam.
Mùa hạ gió bạt đồi Quảng Trị
Cát bay con chốt mịt mù trời
Trang sách máu loang dòng bi ký
Ngôn ngữ tan tành miểng đạn rơi
Đếm thử bao nhiêu năm binh lửa
Bao nhiêu cái chết tựa trò chơi
Bão cát trăng treo rưng vó ngựa
Trường hành thảng thốt ánh sao khơi
Dựng một lá cờ trên cõi chết
Mặt trời phải mọc sáng hôm nay
Cổ thành thi gan với nhật nguyệt
Nhìn lên bờ tường buốt ngón tay
Mùa hạ không bình yên An Lộc
Giàn hàng ngang đại đội xung phong
Da thịt nổi gai miền tan 2khốc
Nhịp tim nhảy bước chiều mênh mông
Vào Xa Cam bắt tay thằng 8
Sương xuống hay là khói cơm chiều
Ngồi hố cá nhân chiều ảm đạm
chiều hoang cháy xém nỗi đìu hiu
nón sắt còn đây đâu người lính
giầy trận bước lầy nẻo máu xương
địa ngục thiên đàng trời sẵn định
đỏ thẫm máu loang những tấc đường
mùa hạ nắng hờn chiều biên trấn
Charlie có phải pháo đang gào
Sườn đá lở lói núi tự vẫn
Bè bạn anh em ở chốn nào?
Một trăm ngày kéo dài chiến trận
Đứt hơi người chết trẻ như mơ
Đen tỏa khói un vào vô tận
Sự sống như cành cây chết lhô
Sau lưng C bốc lửa ngọn
Xuống mãi, xuống hoài ngút vực sâu
Đêm vỡ vụn những hồi chấn động
Mặt trời, mặt trời ở chỗ nào?
Tân Cảnh, Đồi Gió, bờ Thạch Hãn
Đất quằn quại hai tiếng Việt Nam
Cỏ lá ít hơn miểng bom đạn
máu chảy sôi bờ ngực bàng hoàng
tuẫn quốc vong thân người vắng mặt
đêm nay gió chướng rủ nhau về
lòng tạnh không sao có nước mắt
bút mực nào thê thiết cơn mê
nhìn bạn hữu anh em trang sách
tưởng tháng ngày bão lửa chưa quên
vết seo cũ còn nguyên dấu rạch
da thịt nào trời đất ngả nghiêng
Ơi Phan Nhật Nam dòng chữ viết
Đỏ hồng ngôn ngữ máu còn tươi
Đầy đọa ngục tù đâu làm chết
Màu xanh lịch sử vẫn tinh khôi.
Bìa thơ tôi viết vào tháng 5 năm 1989, khi ở hải ngoại đang trong những ngày tưởng nhớ về một thảm nạn lịch sử của dân tộc. Đến nay, gần hai chục năm, Phan Nhật Nam đã sang định cư tại Hoa kỳ và vẫn tiếp tục công việc của một người lính dù bây giờ không còn gươm súng. Cuộc chiến đã tàn nhưng ảnh hưởng vẫn còn và vẫn là niềm đau xót từ một cuộc nội chiến xen vào chiến tranh ủy nhiệm của các đại cường. …
Nguyễn Mạnh Trinh
Nguyễn Mạnh Trinh Những năm của thập niên 70, có lẽ là những năm đẹp nhất của cuộc đời tôi. Ở tuổi mới lớn, nhìn mọi sự việc đơn giản, cái lãng mạn của tuổi trẻ đã mang sự suy nghĩ đi xa hôn thực tế cuộc sống. Lúc ấy, chiến tranh bắt đầu tàn khốc. Những người bạn cùng lớp, có đứa đã mặc quần áo lính và cũng có đứa đã nằm xuống với lá cờ vàng ba sọc dỏ trên mộ và hàng chữ tổ quốc ghi ơn. Vào giảng đường học đại học, thi rớt một năm là vào quân trường ngay. Trong cái không khí ấy, chúng tôi đã đọc những trang bút ký chiến tranh của những người đi lính trước, để tưởng tượng ra những khổ nhọc mà sau này, khi đã bắt đầu đoạn đường chiến binh sẽ hiểu thấu. Có những bài viết, làm xúc động sâu xa. Có những câu thơ mang đến sự chia sẻ tột cùng.
Chúng tôi đọc Nguyễn Bắc Sơn. Chúng tôi đọc Phan Nhật Nam. Thấy “Chiến tranh Việt Nam và tôi”. Thấy “Dấu Binh Lửa”. Thấy “Mùa Hè Đỏ Lửa”. Thấy những người chết và những người đang lầm lũi trong khói lửa chiến tranh.
Như Đỗ Quý Toàn đã đọc “Ngày mưa đọc lại Dấu Binh Lửa”, với những cảm giác bàng hoàng, của những thiên nah hùng ca tàn khốc, vỡ vụn:
“ngày mưa đọc lại Phan Nhật Nam
trời bỗng xầm đen tóe sấm sát
mặt đất ào ào trận pháo tuôn
trong thành phố tử thần co quắp
viên đạn cuối cùng đã bắn đi
người chết giữa trời trên đồng cháy
hồn anh thảng thút bay lên không
suốt dọc Trường Sơn đất run rẩy
mặt trời chưa thấy đêm dài ôi
từng khối lờn mênh mang đặc cứng
qua khe nhìn lại đồi C2
nhớ lại anh em ta nằm xuống…”
Chiến tranh, là những điều quái gở, là chuỗi dài chém giết cả mấy chục năm, như Nguyễn Bắc Sơn thổ lộ :
”Kẻ thù ta ơi những đứa xâm mình
Aên muối đá mà điên say chiến đấu
Ta vốn hiền khô ta là lính cậu
Đi hành quân rượu đế vẫn mang theo
Mang trong đầu những ý nghĩ trong veo
Xem cuộc chiến như tai trời ách nước
Ta bắn trúng ngươi vì ngươi bạc phước
Vì căn phần ngươi xui khiến đó thôi
Chiến tranh này cũng chỉ một trò chơi
Suy nghĩ làm gì lao tâm khổ trí
Lũ chúng ta sống một đời vô vị
Nên chọn rừng sâu núi cả đánh nhau
Mượn trời đất làm nơi đốt hỏa châu
Những cột khói giả rồng thiêng uốn khúc
Mang bom đạn chơi trò chơi pháo tết
Và máu xương làm phân bón rừng hoang.”
Những bài hát, có hình dáng chiến tranh, có khăn tang cô phụ, có hình tượng của một thời núi xương sông máu, dù phản chiến hay cổ võ chiến đấu, với lời ca từ làm nhỏ lệ chúng tôi. Thân phận con người trong cơn bão lốc như chẳng còn chút giá trị. Viết về một thời đại ấy, là kể lại những kỳ tích mà mấy chục năm sau, lớp tuổi trẻ tiếp theo lớn lên khó tưởng tượng nồi. Dù rằng, những tác phẩm ấy chỉ nói lên một phần không toàn diện cuộc chiến.
Một nửa, là dòng chữ Phan Nhật Nam, một nửa là câu văn Bảo Ninh. (Tôi chỉ nói Bảo Ninh của Nỗi Buồn Chiến Tranh thôi,Còn Bảo Ninh bây giờ của “Tản mạn trên đường bị kẹt xe: thì hiện nguyên hình là một … văn nô có đẳng cấp). Chiến tuyến phân đôi khiến hai bên chỉ nhìn thấy ở phận mình. Nỗi niềm riêng, của những người bắt buộc lao vào cuộc chiến.Bao nhiêu năm qua, thống hận đã hết nhưng đau xót vẫn còn. Những vết thương vẫn chưa lành miệng…
Nhưng, có người nói bây giờ mà đọc bút ký chiến tranh của thời xa xưa ấythì hơi … chậm tiến. Chiến tranh đã qua lâu lắm rồi đã hàng nửa thế kỷ,bây giờ nhắc lại có ích gì, như hành động cứ moi mãi vào vết thương tâm của cả một dân tộc.
Viết bút ký chiến tranh, là phản ánh lập trường chính trị một cách chủ quan, chỉ là một cách nhìn của một phía và chỉ soi rọi đến mõt nửa chân lý mà thôi. Đọc những trang sách viết về chiến tranh, chúng ta có thể rõ ràng mường tượng vị trí chính trị. Từ Phan Nhật Nam đến Bảo Ninh, từ Trần Hoài Thư đến Trần Mạnh Hảo... dù thời điểm sáng tác có khác, dù hoàn cảnh, môi trường có khác, chiến tuyến có khác nhưng những giòng chữ viết của họ phần nào nói lên được tâm cảm của người lính trong bão lốc chiến tranh…
Nhưng, trên phương diện văn học sử, những tác phẩm như Dấu Binh Lửa, như Nỗi Buồn Chiến Tranh,.. chính là những ghi chép lại của tâm tư một thời, những ngày khốc liệt nhất của lịch sử. Khác với vai trò của một văn công tuyên truyền, họ mang cái lửa của những người tuổi trẻ sống trong một thời kỳ không thể có một quyết định nào khác hơn là cầm súng.Những người không thích chém giết mà vẫn phải lao mình vào lửa đạn.
Tôi đọc Phan Nhật Nam trong tâm cảm ấy. Dấu Binh Lửa, Dọc Đường Số 1, Mùa hè Đỏ Lửa, là những bút ký ghi lại một thời mà chúng ta đều gắng quên mà phải nhớ. Một thời kỳ mà những suy tư đã dằn vặt lên những “con người“ biết nghĩ đến phát điên lên được. Thực tế lịch sử đã tròng tréo lên nhau hết mắc míu này đến liên hệ kia. Những thế lực ngoại quốc chi phối, những tâm cảm bức bối nhược tiểu, những con đường đi ít có ánh sáng mặt trời. Tuổi trẻ bị đẩy vào mê cung và quanh quẩn lồng lộn trong những chấn song giới hạn như trong một bẫy rập.
Hình như, bút ký chiến tranh Dấu Binh Lửa đã gây nên rất nhiều phản ứng trong giới cầm bút. Nhà thơ Đỗ Quý Toàn đã cho rằng đây là một kiệt tác viết về chiến tranh. Nhà báo Chu Tử cũng phát biểu như thế. Những dòng chữ, viết bằng máu và mồ hôi của một chiến trận có thực và những phẫn nộ có thực đã thuyết phục được người đọc. Đến nỗi, những người cầm bút phía đối nghịch bên kia như Tô Hoài và Nguyễn Tuân cũng phải nhận rằng quả thực Phan Nhật Nam đã viết tác phẩm của mình bằng máu, nhưng là một loại máu bị nhiễm độc. Và, khi chấm dứt chiến tranh, Phan Nhật Nam đã nếm biết bao nhiêu đòn thù, với những ngày biệt giam dài dằng dặc.
Dù ở bất cứ một nhãn quan chính trị nào, ở những kết luận, đều chung một nhận định, chữ viết của Dấu Binh Lửa, Mùa Hè Đỏ Lửa là những dòng chữ của văn chương mang nỗi niềm của tuổi trẻ một thời đại rất là đặc biệt Việt Nam.
Trước khi là lính, Phan Nhật Nam là một sinh viên sĩ quan trường Võ Bị Đà Lạt. Tôi để ý thấy ông ít tôn sùng một thần tượng nào, nhưng khi nhắc về Trường Mẹ của mình, ông đã viết với sự tôn trọng. Hơn nữa, với cả một tâm tình đằm thắm mà ông đã có từ thuở hoa niên. Những người, mà ông gọi là thầy, là niên trưởng, hay niên đệ, trong văn chương ông, đều có nét chung mang nhân bản, của những mẫu người yêu đất nước và mong muốn hòa bình dù phải bắt buộc cầm súng. Những lời ông ngỏ, như những tâm sự gửi đến, để chia sẻ:
“… Tôi ở lính tám năm, năm nay 26 đi lính năm 18 suốt tám năm của một thời lớn lên tôi đem tặng hết cho quân đội, không phải đến bây giờ tôi thất vọng chán nản vì công danh không toại ý, cuộc sống bị ép buộc không đúng như mơ ước nên cay cú hằn học với nhà binh. Không như vậy, tôi đi lính năm 18 tuổi vào học trường tình nguyện ra làm ông Quan một. Chẳng có ai lôi kéo tôi vào trường ấy, tôi tự động hăng hái hãnh diện để trở thành một Sinh Viên Sĩ Quan với ý nghĩ đã chọn đúng cho mình một hướng đi, một chỗ đứng dưới ánh mặt trời mọc. Tôi có những rung động thật thành thực khi đi trong rừngthông hương nhựa thông tỏa đặc cả một vùng đồi, sung sướng vì thấy đã đưa tuổi trẻ vào trong một thế giới có đủ mơ mộng và cứng rắn, một thế giới pha trộn những ước mơ lãng mạn hào hùng.. Chuyển quân trong sương đêm, trong mây mù, ánh lửa mục tiêu của một đêm đông, trong hốc núi hoang vắng, thế giới mạo hiểm giang hồ của Jack London phảng phất đâu đây...
Tôi say mê và thích thú với những khám phá mới mẻ đó. Nắng cao nguyên trong những ngày cuối năm vàng tươi rực rỡ, đứng ở đồi nhìn xuống hồ suối Vàng trong vắt yên lặng, người như muốn tan vỡ thành muôn ngàn mảnh nhỏ theo cơn gió bay chập chờn qua vùng đồi trùng điệp và tan đi trong nước hồ xanh ngắt…,”
Không phải cảm giác và tâm tưởng ấy là của riêng tác giả Dấu Binh Lửa. Mà hình như của chung những chàng lính” sữa “quân trường. Huấn nhục không làm vơi chất lãng mạn mà còn tạo thành một truyền thống để những cực nhọc thăng hoa thành những kỷ niệm đẹp một thời.
Đà Lạt, phong cảnh hữu tình, người cũng đẹp và trời đất bốn mùa cũng có nét đẹp cách riêng. Sống ở trong môi trường ấy, óc tưởng tượng đã phát triển để thấy được cái lồng lộng vô biên của cuộc nhân sinh. Thực tế cũng có nhiều trắc trở, ngày tháng rồi sẽ kéo dài những mệt mỏi, nhưng trong rực rỡ những hy vọng vẫn là những bản hoan ca của một tuổi trẻ thanh xuân. Không phải là những bài hát mị lính rẻ tiền kiểu “anh tiên tuyến em hậu phương” mà là những tâm tư chất ngất hùng tráng của những câu thơ hào hùng thuở nào nhắc đến một htời trăng treo vó ngựa. Phan Nhật Nam viết về những ngày ở Trường Mẹ:
“... Phải nói thật những ngày ở lính đầu tiên của tôi đầy trong sáng và đẹp đẽ. Trong sáng như giấc mơ của số tuổi 19, giấc mơ mù mờ có cánh chim trắng bay chậm rãi qua rừng thông….nhưng đời sống nhà binh không hẳn là vậy, nó còn có sĩ quan cán bộ, có nghi lễ, có đủ những phiền toái hỗn độn mà đời sống dân sự không ai nghĩ ra được… Nên khung trời đầy sương mù bí mật ngoài khung cửa sổ hiện ra như một thách thức đối với đời sống kìm kẹp của tôi hiện tại.
Đây cũng là một thời gian thật khủng hoảng, mỗi đêm nhìn về phía thành phố đầy ánh đèn tôi không ngủ được, tưởng như có một tiếng gọi của đời sống ở bên ngoài quân ngũ đang nhắc nhở thúc gịuc, một đời sống thực sự tôi không có. Từ khung cửa sổ nhìn xuống những dàn đồi im lặng chạy dài trong sương mù và đằng xa ánh đèn xanh của vườn Bích Câu ma quái diễm ảo, tôi thấy rõ trong tôi có một nỗi cô đơn khủng khiếp hiện hình sừng sững. Những lúc ấy tôi thấy được con người thực của mình, một gã trai trẻ viển vông, thấy rõ những cười đùa ban ngày, những buổi học, bữa ăn tập thể không ảnh hưởng gì đến con người trong tôi.không thể có được một ý niệm về chuyên môn quân sự mà bằng tất cả mọi cách nhà trường cố nhét vào trong đầu óc.
Những Đội hình tác chiến, cung cách chỉ huy, chi tiết kỹ thuật về vũ khí trôi qua trí não mơ hồ như một cơn gió nhẹ. Hai năm sống ở mái trường đó như một cơn gió phiếm du. Những giây phút thực nhất là phiên gác nửa đêm về sáng dưới ánh đèn pha của vọng gác kho đạn tôi khám phá được một thế giới của cây cỏ đang thở, đang lớn lên, những giây phút khoảng năm giờ sáng, sau phiên gác nhìn xuống phòng sĩ quan trực, người lính kèn im lặng đưa lên môi thổi bài kèn báo thức. Và giây phút thực nhất không gì hơn suốt ngày chủ nhật một mình một ngựa chạy như bay vào hướng đồn Daksard. Con đường đỏ còn ướt sương đêm, trời chưa tan hẳn mù, ngựa phi như gió cuốn, ngựa đi vào trong một vùng mù đặc, rừng thông chuyển động ào ào, cả trời cao nguyên tan biến chập chờn theo vó ngựa.Kết quả sau hai năm ăn nhờ chánh phủ tôi được biến thnah ông quan Một ra trường đi binh chủng hung hãn nhất…”
Vào lửa đạn, đi qua từ những chiến trường này đến trận chiến nọ, trải qua bao nhiêu thăng trầm binh nghiệp, bao nhiêu lần thương tích, bao nhiêu lần thấy cái lý tưởng thời xưa bị vầy đạp, vẫn thấy, sáng ngời những ngày tháng quân trường, vẫn thấy, niềm hãnh diện xuất thân từ ngôi Trường Mẹ vẫn chưa nhạt phai.
”... Tôi ra trường năm 1963, thời gian chiến tranh bắt đầu nặng và hỗn loạn không phải chỉ thuần túy ở sự kiện chiến tranh nhưng đã bắt đầu gây mầm bùng nổ ở lòng người. Lẽ tất nhiên là sĩ quan nhà nghề, xuất thân từ quân trường mà quyền hành của khóa đàn anh không phải chỉ để thi hành kỷ luật nhưng là một ám ảnh khủng khiếp cho khóa dưới. Chỉ một cái quắc mắt của Nguyễn Xuân Phúc (khóa 16) khi bước lên bục gỗ, hai trăm người của khóa tôi co rúm tê liệt như con nai chết trước nhãn quan khủng khiếp của con hổ. Một sinh viên sĩ quan khóa 19 vì quá sợ niên trưởng nên dù trái lựu đạn đã bật kíp nhưng cũng không dám ném đi vì chưa nhận được lệnh (trong bài học ném lựu đạn tất cả các động tác đều theo lệnh) nên hậu quả trái đạn nổ trên tay….
Tôi biến thành một người lính thực thụ, trận lớn, trận nhỏ, chiến dịch hai tháng, ba tháng, dài ngắn, từ Sài Gòn trở ra Bến Hải, tôi đi đủ. Những địa danh xa xôi bất kỳ một xó xỉnh hiểm hóc nào của miền Nam này tôi cũng có thể biết rõ một cách tường tận. Từ những miền quá nổi tiếng như khe Sanh, Cồn Tiên đến những làng nhỏ từ cửa Việt đi ra : Diêm hà Trung, Diêm Hà Nam, cái làng nhỏ cuối thung lũng sông Kim Sơn, làng Hà Tây, đèo ông Hổ đổ xuống Phù Củ ra Phù Ly, Phù Cát thẳng đến biển là núi Lồi, đầm Trà Ổ, xuống phía Nam là đầm Nước Ngọt. Lên đến Pleiku, trực thăng vận xuống phía Nam Biên giới Lào Việt đầu ngọn sông Ia-Drang…Đâu đâu tôi cũng đến. Năm thứ nhất, năm thứ hai, thứ ba tôi sống thoải mái, vì đã đi đủ, nhìn đủ. Tôi cũng chấp nhận cho sự góp mặt ở chiến cuộc; góp mặt để chấm dứt chiến tranh. Thắng bại không kể, nhưng cốt yếu là không ở ngoài, không chạy trốn trong khi bạn bè những người cùng trang lứa đang tham dự đang ngã chết. Dù bên này hay bên kia, chết trong thù hận…Những người đang đi tìm cái chết để biện giải cho đời sống….”
Chỉ có người ở trong cuộc mới hiểu được nỗi nhọc nhằn của một cuộc chiến phi lý. Ngoài tiền tuyến hy sinh, trong khi hậu phương thì bị phá nát bởi những tên vô trách nhiệm không một chút ý thức nào về dân tộc và quốc gia. Có những người trước khi vào lính là những sinh viên hay biểu tình tranh đấu nhưng khi gia nhập quân ngũ lại cảm thấy giận dữ khi máu xương và mồ hôi của mình và đồng ngũ mình bị phí phạm một cách cực kỳ vô ích. Cũng như, có những người lính, sau nhiệm vụ của mình, đã cầm bút như một cách thế để nói lên nỗi niềm tâm sự của mình. Thú thực tôi cũng không tâm đắc mấy với những ngôn từ như nhà thơ lính, nhà văn lính.Ở một thời kỳ mà tất cả sinh lực, tất cả những tinh hoa của đất nước đều dồn hết vào quân đội thì chữ lính đi sau có phải là thừa thãi không ? Nhà văn, nhà thơ là đủ rồi, hà tất còn phải thêm chữ lính làm gì? Đâu có phải đó là dấu mộc của tấm giấy chứng nhận tại ngũ để trình cho cảnh sát đứng gác đường xét hỏi… thời chiến tranh, mọi người phải hoàn tất nhiệm vụ của mình với đất nước, với xã hội mình đang sống…
Tôi nghĩ đến cái mộng ước của đại tá Trần Ngọc Huyến, chỉ huy trưởng trường Võ Bị Đà Lạt một thời. Ông muốn hình thành một lớp quý tộc mặc quân phục với tiêu chuẩn văn võ toàn tài. Từ bước đầu rèn luyện ở quân trường, không phải chỉ là những kiến thức về quân sự về chuyên môn, mà còn cả những phương cách để học làm người nữa. Một mẫu người kiểu mẫu cho một thời đại. Bằng mọi cách, với tất cả nỗ lực ông kiến tạo một tiêu chuẩn mẫu mực mới cho phong cách và chân dung một sĩ quan hiện dịch. Tiếc là thời gian đã không đủ để có một trắc nghiệm chính xác. Nhưng, từ những người con xuất thân từ Trường mẹ, họ đã không làm phụ lòng những mộng ước mong mỏi trên.Địa linh thì có nhân kiệt. Đỉnh Lâm Viên vòi vọi cao nhưng không phải là chẳng thể vượt qua.
Bây giờ, đọc những trang sách, lại thấy phảng phất đâu đây mùi nhựa thông buổi sáng hay mầu hoa quì vàng làm ngây ngất lòng người.cái sương mù bây giờ ở xứ người có làm nhớ đến màn sương mù đặc của Phan Nhật Nam thuở trước ? ai làm người lính gác đêm, nhìn thành phố mờ tỏ ánh đèn có thấy xao xuyến nỗi nhớ mong nào đó? Kỷ niệm sẽ rất đẹp, khi lúc ta đang tuổi xuân, lòng bừng bừng men rượu của cuộc sống sắp đến. Đà Lạt, nơi có những người lính alpha đỏ trên vai, và những cô gái nữ sinh Bùi Thị Xuân, Couvent,.. đầy e ấp. Ơû đó có những mối tình đẹp nhưng cũng có những chia tay buồn bã. Hoa mimosa, hoa anh đào, hoa quì có một buổi nào nở rộ? Những người lính, lên đường mang giấc mộng của mình đi đến chiến trường, nơi trăng treo vó ngựa, nơi sinh tử mịt mù?
Và với Phan nhật Nam, trong câu chuyện kể hoài không đủ, viết ngàn chương thiếu một tờ, biết đâu, về sau, những lớp con trẻ lớn lên đã thấy được những cảnh ngộ của cha ông trong một thời lịch sử qúa nhiều phức tạp…
Với tôi, có một kỷ niệm nhỏ và một bài thơ. Bình sinh tôi rất yêu mến những người lính nhảy dù. Ở đó tôi nhìn thấy họ qua những sự hy sinh những gian khổ vô bờ và cả những chiến tích hiển hách. Tôi có nhiều đứa bạn, đã hãnh diện vì mầu nón đỏ trên đấu và ra đi rất sớm trong chiến trận. Những năm của thập niên 80, khi Phan Nhật Nam còn bị dập vùi trong lao ngục tôi giở cuốn sách tái bản ở hải ngoại “Mùa hè Đỏ lửa” và tự nhiên nhớ lại một thời chinh chiến đã qua. Tôi viết một mạch với cảm lhái bừng bừng của một người sống lại những ngày dĩ vãng:
Đọc Mùa Hè Đủ Lửa, nhớ tới Phan Nhật Nam.
Mùa hạ gió bạt đồi Quảng Trị
Cát bay con chốt mịt mù trời
Trang sách máu loang dòng bi ký
Ngôn ngữ tan tành miểng đạn rơi
Đếm thử bao nhiêu năm binh lửa
Bao nhiêu cái chết tựa trò chơi
Bão cát trăng treo rưng vó ngựa
Trường hành thảng thốt ánh sao khơi
Dựng một lá cờ trên cõi chết
Mặt trời phải mọc sáng hôm nay
Cổ thành thi gan với nhật nguyệt
Nhìn lên bờ tường buốt ngón tay
Mùa hạ không bình yên An Lộc
Giàn hàng ngang đại đội xung phong
Da thịt nổi gai miền tan 2khốc
Nhịp tim nhảy bước chiều mênh mông
Vào Xa Cam bắt tay thằng 8
Sương xuống hay là khói cơm chiều
Ngồi hố cá nhân chiều ảm đạm
chiều hoang cháy xém nỗi đìu hiu
nón sắt còn đây đâu người lính
giầy trận bước lầy nẻo máu xương
địa ngục thiên đàng trời sẵn định
đỏ thẫm máu loang những tấc đường
mùa hạ nắng hờn chiều biên trấn
Charlie có phải pháo đang gào
Sườn đá lở lói núi tự vẫn
Bè bạn anh em ở chốn nào?
Một trăm ngày kéo dài chiến trận
Đứt hơi người chết trẻ như mơ
Đen tỏa khói un vào vô tận
Sự sống như cành cây chết lhô
Sau lưng C bốc lửa ngọn
Xuống mãi, xuống hoài ngút vực sâu
Đêm vỡ vụn những hồi chấn động
Mặt trời, mặt trời ở chỗ nào?
Tân Cảnh, Đồi Gió, bờ Thạch Hãn
Đất quằn quại hai tiếng Việt Nam
Cỏ lá ít hơn miểng bom đạn
máu chảy sôi bờ ngực bàng hoàng
tuẫn quốc vong thân người vắng mặt
đêm nay gió chướng rủ nhau về
lòng tạnh không sao có nước mắt
bút mực nào thê thiết cơn mê
nhìn bạn hữu anh em trang sách
tưởng tháng ngày bão lửa chưa quên
vết seo cũ còn nguyên dấu rạch
da thịt nào trời đất ngả nghiêng
Ơi Phan Nhật Nam dòng chữ viết
Đỏ hồng ngôn ngữ máu còn tươi
Đầy đọa ngục tù đâu làm chết
Màu xanh lịch sử vẫn tinh khôi.
Bìa thơ tôi viết vào tháng 5 năm 1989, khi ở hải ngoại đang trong những ngày tưởng nhớ về một thảm nạn lịch sử của dân tộc. Đến nay, gần hai chục năm, Phan Nhật Nam đã sang định cư tại Hoa kỳ và vẫn tiếp tục công việc của một người lính dù bây giờ không còn gươm súng. Cuộc chiến đã tàn nhưng ảnh hưởng vẫn còn và vẫn là niềm đau xót từ một cuộc nội chiến xen vào chiến tranh ủy nhiệm của các đại cường. …
Nguyễn Mạnh Trinh
-
Nguyễn_Sydney
- Posts: 2581
- Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
- Been thanked: 1 time
-
Nguyễn_Sydney
- Posts: 2581
- Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
- Been thanked: 1 time
Phát Minh mới của Khoa học gia Dương Nguyệt Ánh

Tin Hoa Kỳ . Trước đây nữ Khoa học gia Dương Nguyệt Ánh
đã phát minh ra Bom Áp Nhiệt trong vòng 67 ngày để tiêu diệt Quân địch trốn sâu trong các hang động địa đạo .Năm nay nhân dịp Lễ Giáng sinh , nữ khoa học gia Dương Nguyệt Ánh đã phát minh ra loại " Phương Tiện Nhận Dạng Quân Khủng Bố " như vậy quân khủng bố nguỵ trang bất cứ hình thức nào cũng bị nhận diện để bắt hoặc tiêu trừ .

Tin Hoa Kỳ . Trước đây nữ Khoa học gia Dương Nguyệt Ánh
đã phát minh ra Bom Áp Nhiệt trong vòng 67 ngày để tiêu diệt Quân địch trốn sâu trong các hang động địa đạo .Năm nay nhân dịp Lễ Giáng sinh , nữ khoa học gia Dương Nguyệt Ánh đã phát minh ra loại " Phương Tiện Nhận Dạng Quân Khủng Bố " như vậy quân khủng bố nguỵ trang bất cứ hình thức nào cũng bị nhận diện để bắt hoặc tiêu trừ .
Cám ơn anh Năng đăng tin quá lẹ, mời quý vị xem tiếp bài dịch từ VietLandNguyễn_Sydney wrote:Phát Minh mới của Khoa học gia Dương Nguyệt Ánh
Tin Hoa Kỳ . Trước đây nữ Khoa học gia Dương Nguyệt Ánh
đã phát minh ra Bom Áp Nhiệt trong vòng 67 ngày để tiêu diệt Quân địch trốn sâu trong các hang động địa đạo .Năm nay nhân dịp Lễ Giáng sinh , nữ khoa học gia Dương Nguyệt Ánh đã phát minh ra loại " Phương Tiện Nhận Dạng Quân Khủng Bố " như vậy quân khủng bố nguỵ trang bất cứ hình thức nào cũng bị nhận diện để bắt hoặc tiêu trừ .
------------------------------
Thúc Đẩy Bởi Lòng Biết Ơn, "Bomb Lady" Lại Chế Tạo Vũ Khí Tối Tân Hơn Cho Hoa Kỳ.
Người Viết : Laura Blumenfeld, The Washington Post.
Vào những đêm xưa khi đạn pháo kích không rơi, Dương Nguyệt Ánh lại lắng nghe tiếng dế kêu. Cô bé thường nằm cạnh cửa sổ, mái tóc ướt dính sát vào hai bên má, khi ánh hoả châu loé sáng từ phía ngọn cây mận rồi tự hỏi không biết khi nào hoả tiễn của VC sẽ rớt trúng nhà mình!? Ánh nhớ câu cô vẫn hỏi thầm "Sao mấy ông cứ muốn bắn bừa vào thường dân như thế?"
Bây giờ, ở vào tuổi 47 và dù đang sống ở Maryland, cô cũng vẫn còn phải vật lộn với câu hỏi đó, khi cố gắng áp dụng bài học trước giờ đi ngủ ở VN vào cuộc chiến tại Afghanistan và Iraq. Ánh được mọi người biết đến với danh hiệu "the Bomb Lady" tại Pentagon (Ngũ Giác Đài) và là một kỹ sư đứng đằng sau trái bom áp nhiệt đầu tiên của Hoa Kỳ với tác dụng bộc phá các hầm trú ẩn dưới lòng đất. Là người phụ nữ cao chỉ 5 feet 1, người mẹ của 4 đứa trẻ, Ánh đã trở thành -theo lời của giám đốc cơ quan Điều Tra Hình Sự Hải Quân Thomas A Betro- "Một trong những người chế tạo vũ khí quan trọng nhất của kỷ nguyên hiện đại"
Với Ánh, người mới đây được vinh danh là một trong những nhân viên hàng đầu của ngành dân chính liên bang, việc chế tạo dụng cụ cho binh sĩ Hoa Kỳ đã trở thành lẽ sống thường ngày của cô. Sau nhiều năm đi tiên phong trong ngành chất nổ của Hải Quân, giờ đây cô lại sáng lập ra hệ thống giúp nhận diện khủng bố.
Ánh tuyên bố như sau tại Pentagon, nơi cô hiện đang làm việc với tư cách cố vấn trong những vấn đề liên quan đến khủng bố " Tôi không muốn có một Mỹ Lai tại Iraq nữa. Vấn đề khó khăn nhất trong trận chiến toàn cầu chống khủng bố --y như ở VN-- là phải biết những kẻ xấu là ai. Làm sao để biết chắc là mình không giết người vô tội?"
Sáng kiến mới nhất của Ánh chính là dự án "The Joint Expeditionay Forensic Facilities (JEFF)" còn gọi là "Phòng thí nghiệm trong hộp" là nơi dùng để phân tích về Sinh Trắc Học (Biometry*). Binh chủng Hải Quân cho biết phòng thí nghiệm này sẽ được chuyển giao cho Iraq vào khoảng đầu năm 2008, nhằm phân biệt quân phiến loạn với thường dân. Ánh cho rằng "Vũ khí tốt nhất cũng trở thành vô dụng nếu quý vị không biết dùng để bắn ai!"
Betro nói quân đội hiện đang xử dụng phương pháp dò tròng mắt và lấy dấu tay của người Iraq sau đó đưa vào 1 data base về sinh trắc ở West Virginia. Cho tới nay 1 vài phòng lab đặc biệt như thế đã xúc tiến việc phân tích 85 ngàn mẫu vật chứng được thu thập từ những kho vũ khí hoặc những chốt mở đạn nhặt ở ven đường. Phòng lab pháp y di động của Ánh, với ngân quỹ ban đầu là 34 triệu đô la sẽ được dàn trải khắp Iraq.
Với tên gọi đùa theo chữ VN có nghĩa là "cù lần" và là người thích sơn móng tay màu hồng pha bạc, bất chấp sự phản đối của cô con gái tuổi vị thành niên của mình (mẹ ơi, nhìn ghê quá), Ánh là người cai quản kế hoạch "phòng thí nghiệm trong hộp" này.
Mỗi một "hộp" ( đơn vị) màu cát ,có diện tích 20 feet x 20 feet, có thể sụp vào trong, mỗi hộp đều có máy phát điện riêng và được nối liền với hệ thống vệ tinh nhân tạo. Nếu mọi việc tiến hành như dự tính thì data (dữ liệu) sẽ được phóng về Trung Tâm Phối Hợp Sinh Trắc (Biometric Fusion Center *) để đối chiếu với hơn 1 triệu dấu tay của người Iraq. Hàng trăm lính Thuỷ Quân Lục Chiến Hoa Kỳ hiện đang được tập huấn về cách xúc tiến việc giảo nghiệm tại nơi xảy ra tội phạm. Ông Betro gọi đó là "một chiến thuật chưa từng thấy bao giờ...(một việc làm ngon ơ )như búng tay có đeo bao tay vậy "
Theo lời Ánh :"Giai đoạn kế là việc thu nhỏ, tạo ra một "ba-lô thí nghiệm" để khi có binh sĩ nào đụng độ một nghi can cũng có thể biết được là tên kẻ đó có nằm trong danh sách khủng bố đang bị theo dõi chỉ trong vài phút đồng hồ! Một chiến binh cần phải biết một trong ba điều : Có nên thả (nghi can) này ? Giữ lại? Hay bắn ngay tại chỗ. Ở VN chúng tôi đã không có dụng cụ này"
Nhớ lại những ngày còn ở VN, gia đình Ánh đã quen biết những người lính Hoa Kỳ phục vụ ở 1 căn cứ gần nhà cô. Ngày Sài gòn rơi (vào tay cs) anh cô, một phi công thuộc binh chủng không quân VNCH đã chất hết thân nhân của mình lên một chiếc trực thăng . Lúc đó Ánh mới 15 tuổi " Tôi còn nhớ mình đã ôm chặt cái túi trong có đựng đầy hình ảnh của thày cô, bạn bè, của con chó con mèo mà tôi đã phải lìa bỏ, vài bộ quần áo mà khóc mãi" Ánh đã thổ lộ như thế trong buổi nói chuyện tại Surface Warfare Center của Hải Quân (**) ở Indian Head, nơi cô làm việc trước khi di chuyển về Pentagon.
Cuối cùng thì Ánh và gia đình được di chuyển sang một chiếc ghe VN, sau đó được cặp sát tàu chiến hải quân Hoa Kỳ ,từng người một nhảy lên tàu.
Ánh kể "Mỗi người phải chờ đúng thời điểm, khoảng thời gian ngắn khi đợt sóng nâng chiếc ghe lên sát thành tàu rồi nhảy. Tôi lúc đó đang đứng chờ đến phiên mình nhảy thì người anh họ đứng trước mặt tôi nhảy sai thời điểm. Đến giờ tôi còn nhớ mãi hình ảnh anh ấy tuột xuống sườn tàu tron gkhi mọi người ở phía bên kia cố gắng níu lấy tay anh ấy...trong tiếng khóc thét của cô tôi.
Anh họ của cô bị treo lủng lẳng, bàn chân gần như bị dập nát (vì bị kẹp) giữa hai sườn tàu. " Rồi bỗng có người hét vào tai tôi, bảo nhảy. Chỉ sau khi lên tàu lớn rồi, và tìm thấy cha tôi, tôi mới oà lên khóc"
Ánh đến quận Montgomery năm 1975 theo làn sóng người tị nạn từ trại Philippines và từ Pennsylvania, Nhà thờ Tin Lành Baptist của Washington là bảo trợ cho gia đình cô. Tu Lệnh Hải Quân Donald C. Winter đã nói -trong một cuộc phỏng vấn- về cô như sau " Câu chuyện về cuộc đời mình chính là trọng tâm của sự tận tuỵ đóng góp của cô" Mùa thu vừa qua ông đã trao tặng huy chương An Ninh Quốc Phòng Hoa Kỳ do tổ chức bất vụ lợi Partnership for Public Service (PPS) tổ chức. Ngồi bên dưới sàn sân khấu, nghe Ánh kể chuyện trốn thoát của mình, ông Winter đã hít một hơi thật dài rồi nói " Tôi nghĩ thế này, geez whiz (eo ơi) sao tôi có thể làm được như thế (kể chuyện) mà không bị nghẹn giọng?"
Chủ tịch hội PPS Max Stier sau đó phát biểu " Đôi khi chính những người Mỹ quên đi cái vai trò quan trọng của một người đầy tớ công chúng, nhưng ngững người di dân thì không"
Dĩ nhiên với Ánh thì không thể (quên) rồi. "Đời tôi là để trả ơn. Tôi mang ơn những người lính và dân chúng Hoa Kỳ. Tôi đã căm phẫn khi thấy Hollywood phác hoạ những anh hùng và bạn bè Mỹ của tôi như những người giất đàn bà và trẻ em. Tại sao họ lại dám làm thế? Khi còn ở tuổi vị thành niên, Ánh từng đi xem cuốn phim "The Deer Hunter" (Thợ Săn Nai) và cô đã bỏ về giữa lúc phim còn đang trình chiếu.
Hiện tại Ánh vẫn còn tức giận nhưng không cảm thấy bất lực nhu trước nữa. "Tôi đến đây vì ở VN trước đây chúng tôi đã hết đạn dược. Tôi không bao giờ muốn phải lâm vào tình cảnh đó nữa. Bằng cách chế bom, những tên kia sẽ nhận thức được rằng họ không thể giỡn mặt với chúng ta. Nều anh có súng ngắn thì tôi có súng bazooka. Nếu anh có lựu đạn thì thử đoán đi, tôi có bom!"
Theo tổ chức PPS tại Indian Head vào thập niên 1990 Ánh đã dẫn đầu trong việc phát triển và biến chuyển 10 poại chất nổ sang 18 loại hoả tiễn, bom, ngư lôi và đạn pháo, một kỷ lục trong lãnh vực này. Năm 2001, Ánh lại hướng dẫn 100 khoa học gia tại Indian Head trong việc chế tạo loại bom áp nhiệt , cực mạnh đến nỗi những người chỉ trích đã gọi đó là bom "Ác- nhiệt" Loại này được chế tạo đẩ xử dụng ở Afghanistan trong trận Operation Enduring Freedom để xuyên thủng những hang động của phe địch. Nhóm khoa học gia của cô đã dồn công sức của bao năm làm việc để hoàn tất chỉ trong 67 ngày.
Đồng nghiệp của Ánh, cô Karen Burrows, một chuyên gia ngành Fusion (phối hợp) kể lại câu chuyện cô và trưởng nhóm Hoá Học Pam Carpenter ngồi tại một buổi họp chung với Dương N Ánh để tính toán sức nóng và áp suất lý tưởng cần cho việc tuôn vào các ngõ ngách và xuyên thủng các đường hầm. Những đồng nghiệp nam giới đã gọi các cô - tất cả đều có con nhỏ- là "câu lạc bộ đan móc". Cô Burrows còn kể lại "Mỗi thứ bảy, khi tôi đi làm về mệt mỏi và phải đi giặt đồ" cô kể cho con trai 4 tuổi của mình " Mẹ đang chế bom để thả Bin Laden" thế là cậu bé kể lại cho bạn bè rằng "Mẹ tôi chế bom đấy"
Các con của Ánh hồi đó tuổi từ 5-11 đều bị cấm không cho chơi súng. Chúng chẳng cả được đọc sách Harry Potter -vì quá bạo động- Ngay cả phim của Disney cũng bị kiểm duyệt. Con gái Cynthia của Ánh khoe rằng "Những đoạn đánh nhau trong phim Pocahontas của tụi cháu cũng bị cắt xén hết"
Dù Ánh và phu quân -anh Thọ- một kỹ sư phần mềm đều muốn thấy việc xây dựng lên một kho vũ khí hùng mạnh của Hoa Kỳ, nhưng cả hai đều chống đối chiến tranh 1 cách mạnh mẽ- như lời Ánh kể - Cô nói chỉ chế tạo vũ khí để ngăn ngừa mà thôi. Tuy nhiên, nếu bị khiêu khích, Hoa Kỳ nên xử dụng (vũ khí này) Khi được hỏi cô có lo ngại nếu bom của cô bị xử dụng một cách sai trái. cô trả lời "Qúy vị cần có niềm tin vào lãnh đạo của mình"
Gần đây Ánh mới trở lại thăm Indian Head. Cô nhìn thấy Doug Elstrodt người phụ trách việc pha trộn và đổ khuôn những vật liệu chế bom áp nhiệt. Đứng trên cái chén thép khổng lồ 420 gallon dùng để pha trộn bằng những thanh khuấy dài 3 feet, Elstrodt nói " Nó giống như việc nướng bánh vậy, quý vị luôn bắt đầu với chất lỏng, sau đó mới đổ chất đặc vào"
Ánh nhớ lại trước đây mỗi khi cô đi làm về và nấu ăn -không có mục nướng brownies hoặc bánh đâu nhé- "Tôi đã nướng cả ngày rồi mà" Cô cũng nhớ lại chính cô đã hồi hộp ra sao lúc mới thử nghiệm hỗn hợp áp nhiệt tại Nevada. Một tấm hình của Bin Laden được dán vào mảnh bê tông rồi đặt bên trong một đuờng hầm. Ánh nói rằng tim cô đập mạnh khi nghe tiếng nổ vang lên từ trong hang động.
Ngày nay, Ánh đứng bên trong 1 phòng (thí nghiệm) chất nổ của Hải Quân ám khói đen và lỗ chỗ dấu đạn, hít vào làn khí có tác dụng bào mòn của nó, mà cảm thấy "y như ở nhà vậy", giọng cô vang vang giữa những bức tường kim loại.
Khi còn là một cô bé ở Sài gòn, Ánh thường đứng cạnh cổng căn cứ không quân của anh mình để chờ anh về. Cô vẫn giả đò là một cô tiên để "ban cho anh tôi thắng trận, có vũ khí tốt nhất , và trở về an toàn"
Bây giờ, để đánh bại khủng bố, Ánh nói " Chúng ta cần có 1 vũ khí mở mang trí óc. Đó là vũ khí tốt nhất để làm đổi ý khủng bố" Từ khi là một cô bá cô đã đăt vũ khí đó vào tay mình, chỉ vào mục tiêu khi chờ anh về.
Bằng giọng nói êm nhẹ, Ánh nói "Vũ khí đầu tiên của tôi đó, 1 chiếc đũa thần!"
(*) http://sphericalcube.com/biometrics/biometrics.php
(**) http://www.ih.navy.mil/
Spurred by Gratitude, 'Bomb Lady' Develops Better Weapons for U.S.
By Laura Blumenfeld
Washington Post Staff Writer
Saturday, December 1, 2007; Page A03
Bản tiếng Anh từ Washington Post

Hồ Dzếnh, thơ văn là lệ hạt kết tinh…
Nguyễn Mạnh Trinh Có một nhà thơ tài hoa, một nhà văn viết được nhửng áng văn xuôi tuyệt tác mà đành lòng trong xã hội mới phải đi làm công nhân để kiếm sống và những tác phẩm để lại cho hậu thế chính lại là những tác phẩm ông viết khi bắt đầu cầm bút, lúc còn chế độ thực dân Pháp, của thời tiền chiến. Đó là nhà thô Hồ Dzếnh và hai tác phẩm Quê Ngoaiï và Chân Trời Cũ.
Trong lời giới thiệu của Tuyển Tập Hồ Dzếnh – Tác Phẩm Chọn Lọc do nhà xuất bản Văn Học năm 1988 có đoạn nhận xét: “Tác phẩm của Hồ Dzếnh không nhiều, lại không tập trung ở một tờ báo hay đặc san nào. Với bản chất trầm lắng, ông luôn luôn khiêm tốn tự cho mình là người mới bắt đầu vào nghề viết. Tuy nhiên với hia tập văn thơ Chân trời Cũ và Quê Ngọai, Hồ Dzếnh được biết đến như một nhà thơ có chân tài...”
Trong tập Chân Dung Văn Học, của Hoài Anh do nhà xuất bản Hội Nhà văn năm 2001 cũng có đoạn; “Phần đóng góp quan trọng nhất cho văn học Việt Nam của anh là tập Chân Trời Cũ, thể hiện nếp sinh hoạt, tính cách, tình cảm, tâm lý của bà con Việt gốc Hoa trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Hồ Dzếnh chỉ kể chuyện về người cha mình, các anh chị em mình, con ngựa của cha mình… mà làm cho người đọc Việt Nam rung động tận đáy lòng.”
Thực ra, trong một chế độ úy kị với trí thức tiểu tư sản, thì việc bắt một nhà văn nhà thơ đi thực tế sản xuất làm thợ đúc thép và sửa chữa cơ khí ở nhà máy xe lửa Gia Lâm mà không cho chuyên nghề sáng tác là một chuyện bình thường. và, do sự kiện ấy, những tác phẩm độc đáo xuất sắc lại là những tác phẩm từ thời tiền chiến...
Năm 1943, vào lúc thịnh thời của thơ mới, nhà xuất bản Á Châu cho ra đời một tập thơ khá lạ: Tập thơ Quê ngoại của Hồ Dzếnh với lời giới thiệu: “Lần đầu tiên thi ca Việt Nam được tô điểm một cách trau chuốt bằng ngọn bút linh diệu của một nhà thơ ngoại quốc...” Thực ra, nói nhà thơ ngoại quốc là chưa chính xác lắm, nhà thơ Hồ Dzếnh tên thật là Hà Triệu Anh (phát âm theo giọng Quảng Đông là Hồi-Tsìu-Ding), một người có cha Tàu mẹ Việt. Ông viết về đất nươc quê hương của mẹ : Quê Ngoại. Cha ông tên là Hà Kiến Huân, gốc người Quang Đông, Trung Hoa di cư sang Việt Nam vào những năm cuôùi của thế kỷ 19 gặp mẹ ông là bà Đặng Thị Vân, một cô gái chở đò trên sông Ghép, Thanh Hóa. Hia người lập gia đình và sinh sống bằng cách buôn bán và đổi chác hàng hòa trên một con đò dọc nhỏ xuôi theo các bến chợ ven sông.
Tập thơ ra đời đã là một viên châu ngọc của thi ca Việt Nam. Nhiều bài thơ, đã trở thành bất tử và ngôn ngữ ấy đã biểu hiện được tâm tình một thời của dân tộc Việt Nam. Tạp chí Tri Tân đã có nhận xét : Tên tuổi của người Minh Hương ấy, văn học quốc ngữ không nề hà gì mà chẳng đón tiếp như đã đón tiếp bao nhiêu những nhà văn hữu tài khác...
Trong tập thơ ấy, người yêu thơ đã tìm ra được rất nhiều những bài thơ tuyệt tác. Có những bài thơ được phổ nhạc và trở thành quen thuộc đến nỗi như là một ngôn ngữ thường hằng và sống động.
Những câu thơ thật quen thuộc và hình như lúc nào cũng tiềm tàng những cuộc sống riêng, những tâm tư riêng nên đã thành những ấn tượng không thể phai nhòa trong cảm quan người nhận.
Như trong “Cảm xúc”:
“Cô gái Việt Nam ơi!
Nếu chữ hy sinh có ở đời
Tôi muốn nạm vàng muôn khổ cực
Cho lòng cô gái Việt Nam tươi”
Câu thơ ấy, hình như có nhiều người nói và viết, đến nỗi tưởng như là của chung và có nhiều người không biết mình đã nói hoặc viết của Hồ Dzếnh.
Hay những câu thơ được phổ nhạc. Tuyệt vời !
Như trong “Ngập ngừng”:
“Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé
để lòng buồn tôi dạo khắp trong sân
ngó trên tay, thuốc lá cháy rụi dần..
Tôi nói khẽ: Gớm làm sao nhớ thế…
… Tôi sẽ trách- cố nhiên ! – nhưng rất nhẹ
nếu trót đi, em hãy gắng quay về
tình mất vui khi đã vẹn câu thề
đời chỉ đẹp những khi còn dang dở
thư viết đừng xong thuyền trôi chớ đỗ
cho nghìn sau.. lơ lửng với nghìn xưa...”
Hay trong “Mùa thu năm ngoái“:
“Trời không nắng cũng không mưa
chỉ riu riu rét cho vừa nhớ nhung
chiều buồn như mối sầu chung
lòng im nghe thoảng tơ chùng chốn xa
đâu hình tàu chậm quên ga
bâng khuâng gió nhớ về qua lá dày..”
hoặc “Màu cây trong khói”:
“trên đường về nhớ đầy
chiều chậm đưa chân ngày
tiếng buồn vang trong mây
chim rừng quên cất cánh
gió say tình ngây ngây
có phải sầu vạn cổ
chất trong hồn chiều nay?
Tôi là người lữ khách
màu chiều khó làm khuây
Ngỡ lòng mình là rừng
Ngỡ hồn mình là mây
Nhớ nhà châm điếu thuốc
Khói huyền bay lên cây”
Những câu thơ đã được nhạc tháp cánh và gây được xao động cho người đọc, người nghe. Những bản nhạc tới bây giờ nghe lại trải ra một không gian bàng bạc thương nhớ. Mà tình cảm thương nhớ thì ở bất cứ thời gian không gian nào cũng giống nhau cho nên cảm xúc cũng vẫn y nguyên không vì thời gian mà phai phôi. Hồ Dzếnh vẽ tranh, không bằng đường nét, không bằng màu sắc hiện thực mà chính bằng cái tâm cảm của một nỗi buồn mà hiện hữu có lẽ từ rất lâu, từ lúc mà con người còn thuở sơ khai hoang dã…
Trong “Việt Nam Thi Nhân Tiền Chiến”, tác giả Nguyễn Tấn Long đã trích dẫn nhận xét của nhà văn Mai Thảo, một lời khen tặng nồng nhiệt và đầy cảm tính:
“Trong cái thế giới ngột ngạt bít bưng tức thở ra của những tháp ngà tiền chiến như những phần mộ lạnh buốt, thơ Hồ Dzếnh hơn cả Xuân Diệu, và theo tôi, hơn cả Nguyễn Bính đầu mùa, là những xâu chuỗi lanh lảnh nhạc vàng gõ vui từng nhịp nắng trên mênh mang đài trán thnah niên. Tôi nhớ mãi cái cảm giác của tôi, 20 tuổi, tiếp nhận một tập thơ cốm mới đậm đà, một tập thơ mười tám cái xuân đầy, đọc mỗi câu tưởng tưởng như có mật có đường ngọt trong cổ. Thơ Hồ Dzếnh tiền chiến là cái trạng thái ngu ngơ trong suốt nhất của một tiếng thơ mà chủ đề là tình yêu và ánh sáng. Ngó thật kỹ, Quê Ngoại không hằn một vết nhăn. Với tôi, một tập thơ đầu tay phải như thế. Phải có cái khí thế vạm vỡ của sống như một lao vào, cái vóc dáng của yêu như một kín trùm dào dạt...”
Thơ Hồ Dzếnh là của niềm tâm cảm gờn gợn trong lòng, của nỗi nhớ mong về những cảnh thổ cũ, quê quán xưa. Không gian ấy rất mơ hồ, những nét phác họa đôi khi chỉ dệt bằng cảm giác, bằng những nét bút vờn của ảo ảnh tạo thành. Cảnh vật cũng bình thường, không có gì khác lạ nhưng khi đã chuyên chở những tâm ý thì lại khác hẳn, nó vời vợi chiều sâu và hun hút độ dày. Trời không nắng cũng không mưa / chỉ riu riu rét cho vừa nhớ nhung/.. Có một chút gì không tròn vẹn. Không mưa, không nắng, nhưng lại có nỗi lạnh lẽo của nhớ nhung. Hình như người và cảnh cùng thở chung với nhau một nhịp tim, của những lỡ làng lửng lơ lơ lửng…
Năm 1942, Hồ Dzếnh in “Chân trời cũ”. Một gia đình dòng tộc người Minh Hương được phác thảo lại trong những thiên truyện ngắn rất gần với những trang tự thuật. Nhân vật xưng tôi, có khi là chính bóng dáng của tác giả, tuy được phác họa trong sự cố ý làm mờ nhạt đi để những nhân vật khác nổi bật lên. Một người cha người Hán giang hồ đi sang xứ người lập nghiệp gặp người mẹ người Việt và thành một tiểu gia đình mà số phận họ buộc trói theo dòng đời trôi nổi. Người mẹ Việt, là hình bóng muôn đời của sự hy sinh, là gà mẹ xòe cánh ra ấp ủ đàn con giữa những đe dọa của cuộc đời. Rồi những người thân của nhân vật xưng tôi: chú Nhì, người anh cả, đứa cháu đích tôn, cô em Dìn, chị đỏ Đương, người chị dâu Trung Hoa, ông anh hai trụy lạc,… tất cả sống trong một xã hội mà những lề thói, những phong tục là những sợi dây buộc chặt vào một đời sống mà sự thiếu thốn và nghèo khổ luôn luôn lai vãng…
Trong “Chân trời cũ” chúng ta thấy một đời sống cũ đã qua nay trở lại từ cái tâm hoài cổ, từ những suy tư bắt nguồn từ sự nâng niu những kỷ niệm khó quên của một đời người. Và, vì sống ở xứ sở bên mẹ nên quê ngoại lại gần gũi hơn và chan chứa tình cảm.
Nhà văn Thạch Lam trong đề tựa của “Chân Trời Cũ” đã viết những dòng giới thiệu mà về sau này Hồ Dzếnh đã coi như người tri kỷ, hiểu được cả những góc cạnh thâm cảm của ông :
“... Tác giả đã đau khổ trong cuộc sống; và chúng ta nhận thấy ông ưa thích quay về dĩ vãng, để lại khiến những đau khổ cũ trở dậy và thêm sắc mắc hơn nữa. Cho nên những truyện ông kể cho chúng ta nghe đều có một mầu sắc riêng, đều nhuộm một tiếc hận thấm thía. Ông chỉ kể những chuyện ấy thôi, nhưng mà đủ có mực thước để khỏi thành ra phô phang, và cũng đủ rung động để độc giả cảm thấy sự thành thực, sự “đã sống” của những chuyện đó.
Những nhân vật mà ông trình bày đều linh động cả. Mỗi người đều có bản ngã riêng, và chúng ta nhận thấy-tình cờ hay là số mệnh?- người nào cũng mang một tâm hồn đau khổ. Người mẹ, người con cả, người con thứ cho đến cô Yên, cái cô gái nuôi đặc biệt Việt Nam, vẫn sống trong một gia đình không phải của mình, để mà chịu đựng bao nhiêu vất vả và bất công, tuy có được người mẹ nuôi biết thương đến. Cái đời sống tối tăm và lặng lẽ ấy không đi đến đâu cả, và tác giả để chúng ta thấy thương qua số phận một dân số nghèo khó ở các tỉnh đông đúc hay nghèo nàn, cuộc sinh hoạt khó khăn trên những đồng ruộng bạc màu…”
Cái chung nhất của thơ và văn Hồ Dzếnh chính là nỗi đau đớn của kiếp người. Trong bài thơ lục bát “Tặng vợ tôi khi còn sống” có câu thơ viết trong buồn khổ tận cùng: ”mùa đời rụng hết vàng xanh/nỗi đau thương cũ nay thành máu thơ...” “Máu thơ”, của những mảnh đời lận đận, của những lời thống thiết khi một người chồng vừa mất vợ bồng bế đứa con mới sinh còn đỏ hỏn đi xin sữa để nuôi con. “Máu thơ”, của người bị lôi cuốn vào trong tâm bão thời cuộc, có tâm hồn nghệ sĩ, muốn mang tâm não và tài sức vào bút mực để lại cho đời nhưng không toại chí. Mỗi ngày làm anh thợ đúc thép, đạp xe tư øHà Nội qua cầu Long Biên tới Gia Lâm, nhà văn ấy, nhà thơ ấy có nhớ lại một thời tung hoành trường văn trận bút trong nỗi chạnh lòng…
Năm 1993, ở hải ngoại, nhà xuất bản Thanh Vân lại in tập hồi ký“Quyển truyện không tên” và tập thơ “Quê Ngoại II”. Tập hồi ký ấy khá ngắn nhưng chất chứa cả một biển khơi tâm tư của người viết. Hồ Dzếnh mượn lời của đứa con vừa bốn tháng rưỡi tuổi vừa mất mẹ để nói lên cái tâm cảm và hoàn cảnh của mình. Thời gian mà ông kể lại trong khoảng năm 1947-1950 và không gian là vùng khu tư Thanh hóa, nơi cả gia đình bé nhỏ vì không sống nổi ở vùng đồng bằng phải đi lên vùng ngược mưu sinh nhưng rốt cuộc nghèo khó và bệnh tật đã đẩy họ trở về.
Đọc những trang hồi ký, độc giả có nhiều lúc rơi nước mắt. Tình cảnh như thế là tận cùng. Hãy thử tưởng tượng chỉ trong vòng vài tháng, người thơ phải gạt nước mắt đau đớn chôn đưa con trai đầu lòng và người vợ bất hạnh. Chôn đứa con trai, với tất cả gia sản nghèo nàn: ”con búp bê đất mất đầu, hai đôi tất bằng vải, cái kèn tu huýt, đôi dép cao su mòn đế và hai bộ quần áo đã sờn rách...” và khi tống táng vợ : ”Đây không phải là một buổi liệm. Bởi nếu là liệm thì phải tắm rửa thay quần áo mới. Mẹ tôi không có một mảnh vải nào cả. Để cho người chết đỡ tủi – người chết có tủi không?- cha tôi cổi chiếc áo cánh ướt trên người, đắp lên vợ...”
“Quyển truyện không tên “kể toàn là những chuyện đau lòng. Người mẹ cho con bú mà không đủ sữa vì thiếu dinh dưỡng, đứa con nhay đến nỗi có một chút máu vương ở miệng đứa bé hoặc cảnh đứa bé húc mãi vào vú mẹ để bú mà không được. Hoặc là tình cảm thê thảm, người cha bồng đứa con vừa bốn tháng rưỡi đi xin sữa sau khi người mẹ đã chết vì thiếu thuốc thang. Tất cả, những thảm kịch được kể lại với gờn gợn một chút gì phẫn hận. Lúc chiến tranh, có khi còn có nhiều thảm cảnh khác, nhưng tác giả có khi đi sâu vào suy tư để thấy được những nguyên do của thảm kịch. Thời thế đảo điên, văn chương cũng chẳng hứa hẹn điều gì tốt đẹp tươi sáng.
“... Chiến cuộc chỉ mới bước vào năm thứ hai. Còn lâu, còn gian nan, còn gay go mới đến ngày đoàn tụ. Sinh kế đã cảm thấy khắc khổ ở mọi lớp người, trước viễn tượng chiến tranh gần như vô cùng tận. Gánh gia đình, từ ngày có thêm tôi, mới bắt đầu nặng nhọc.Nếu đời là một thiên lệ sử, thì ngay buổi tôi sinh ra, những dòng chữ khắc khổ đã thành hình.
Tôi sinh ra giữa một kỷ nguyên khác lạ, kỷ nguyên của những con đường thênh thnag bị phá vỡ, cầu đổ sụp, nhà cửa tiêu tan, xe cộ mất lối. Người đô thị tản mạn lên rừng xanh, những cô gái xinh tươi của cuộc đời nhung lụa biến thành những cô hàng nước, những bèo bọt phong trần.Cuộc đổi đời đó thật là vĩ đại và kinh khủng, lay chuyển hết mọi tầng lớp, giai cấp, san phẳng hết mọi chênh lệch vì sang giàu. Nếu chỉ có một trạng thái biến đổi đó thôi thì chưa đến nỗi gay gắt. Đằng này, buồn thế hệ gặm nhấm vào từng lòng người, cái phẫn uất cay chua nhào thành một loại cảm giác kỳ dị, gán lên cuộc sống một hình thức sượng sần khó tả. Cái gì dở, trái, đều được văn chương mới mạng danh bằng những tiếng kêu ròn: tiểu tư sản, phong kiến. Muốn vào trong cái thế giới vừa tân tạo hôm qua, con người bắt buộc phải qua một lớp lột xác, hay ít nhất, cũng phải có ý thức lột xác. Thành ra có nhiều lúc con người băn khoăn tự hỏi mình sao lại phải điêu đứng như vậy, và nếu mình cứ giữ thành phần của mình thì đã sao chưa?
Nhưng tiểu tư sản lại là một chất nhựa- độc vì người ta bảo thế- đã nuôi lớn một lớp sống trước để cho lớp sống sau này lên án. Sau này món ăn đã khác, tư tưởng đã thay, loạt nhân sinh như tằm ăn lên, đã gặp đúng hoàn cảnh đón tiếp. Còn cái loạt trước, mới đến rầy rà. Máu là máu cũ, ngũ tạng đều thấm lớp men chua, lời nói, tâm tình sặc sụa những lãng mạn.
Cha tôi rơi đúng vào cái ngã ba đó. Tôi cũng sinh nhằm vào thời đó. Một cái cũ đã chắt chiu ôm ấp một cái mới, trong khi cái mới xung quanh vẫn tìm cách đào thải những nếp sống trái ngược, tôi thấy là cả một chuyện kỳ.”
Tô Hoài trong hồi ký “Chiều chiều” cũng phân bua về trường hợp Hồ Dzếnh bị từ chối không được nhận việc làm gần gũi với văn chương mà phải qua Gia Lâm làm thợ, cam chịu số phận của một công nhân:
“…. Hồ Dzếnh đã dịch và in một tiểu thuyết nhật cho nhà xuất bản Thanh Niên. Nhà xuất bản muốn nhận Hồ Dzếnh vào làm. Những cơ quan có trách nhiệm xem xét thấy có thời gian Hồ Dzếnh làm đại diện bên Nhật của báo Thần Chung ở Sài Gòn. Mọi việc báo và xuất bản của các cơ quan khác, chẳng mảy may bàn đến hội, nhưng đến lúc có trắc trở thì bù nhìn chúng tôi được khiêng ra trả lời. Tôi có đọc một bài báo Trần Thanh Địch viết về Hồ Dzếnh có câu trách hội cái sự này. Và Hồ Dzếnh sau đó, đi đường gặp tôi, coi như không nhìn thấy…”
và một đoạn khác cũng Tô Hoài:
“Rồi chuyện tập kết giữa hai miền. Trong số người miền Nam ra miền Bắc, hoặc miền Bắc vào miền Nam có những anh em văn nghệ sĩ. những văn nghệ sĩ ở miền Bắc thường tập trung ở Hà Nội, đã vào Sài Gòn với con số không ít. Trong số đông này không có Hồ Dzếnh. Không chỉ thế, Dzếnh còn là một trong số những anh em văn nghệ đi tuyên truyền giải thích, bằng nhiều hình thức, đối với anh em đồng nghiệp đang hoang mang giuã đi hay ở-để giữ chân họ lại. Và sau năm 1954 trong Đại Hội Văn Nghệ toàn quốc, việc anh được bầu vào ban chấp hành Hội Văn Học Nghệ Thuật trong khóa đầu tiên là chuyện không lạ.
Đầu năm 1956 tôi ở trong đoàn văn công Cải Cách ruộng đất liên khu Tư ra Hà Nội, chuyển công tác sang nhà xuất bản Thanh niên. Cơ quan này đang thiếu một cán bộ biên tập có tay nghề nhờ tôi tìm một người. Tôi nghĩ đến hồ Dzếnh. Và giới thiệu qua đôi nét về khả năng anh. Đồng thời, tôi đến nói chuyện với Dzếnh thì anh rất vui. Đôi cía giấy tờ thủ tục làm xong ngay đó. Một cán bộ trong nhà xuất bản liền sang hội Nhà Văn hỏi sơ qua một lời về Hồ Dzếnh cho tròn trách nhiệm. Nhưng một vị ở đây đã tỏ vẻ ngập ngừng. Vị ấy bảo rằng “hãy thong thả chút đã “và thế là xong. Nghĩa là không xuôi. Một lời nói. Không có công văn. Không có chữ ký. Không có khuôn dấu.
Tôi đến tìm Hồ Dzếnhvà nói lại mọi sự việc. Anh có hơi đổi sắc mặt một tí tẹo, nhưng miệng vẫn cười. Một cái cười cam chịu nhẫn nhục. Xem như đây chỉ là chút “không may” được nhích thêm vào chuỗi dài không may trong đời mình.
Thế là cuối cùng. Dzếnh trở thành một công nhân. Thực thụ là người thợ cầm búa qua nhiều năm tháng…
Nhưng có người lại nghĩ khác đi. Hồ Dzếnh bị trù úm vì đã viêt bài thơ “Nhớ Nguyễn Sơn”, một tướng tư lệnh liên khu Tư rất có cảm tình và giúp đỡ văn nghệ sĩ rất nhiều.Nhóm Nhân văn Giai Phẩm khi tướng này mất cũng viết nhiều bài Khóc Nguyễn Sơn và cùng đăng vơi 1 bài của Hồ Dzếnh. Lữ Giang viết : ”anh có nhiều cảm tình với tướng Nguyễn Sơn nhà quân sự rất yêu văn nghệ sĩ nên bài báo Nhớ Nguyễn Sơn của anh cũng được chú ý.” Và vì “được chú ý” nên muôn năm vẫn phải lao động chân tay, quai tay búa để thay cho cầm bút, như thế còn lòng dạ nào để sáng tác nữa?
Quyển truyện Không Tên mang rất nhiều tâm tư của Hồ Dzếnh. Mảnh đời đau thương biểu lộ, ngoài tấn thảm kịch còn lồng trong những suy tư về văn nghệ, về thế thái nhân tình, về cái buộc trói của chính trị vào văn hóa. Có lúc, ông cũng muốn cầm bút như kiểu theo dòng của cung cách “quốc doanh”. Nhưng những bài thơ ấy, chỉ là những âm vang mất biệt không dấu tích. Như bài thơ “Bến nước Thanh Trì”, “Khúc hát cầu phao”, “Ngày ấy xuân về “… Dù cố gắng đi theo “Cách mạng”, nhưng ông viết khó khăn và hầu như bỏ bút để kiếm sống. Ông chua chát:” Con mắt thời đại đã khác. Nó sắc và to, không có rèm mi nào dịu. Tôi, tôi ưa nhìn thực tại với chút bóng dịu dàng dẫu là chút bóng mơ mộng..”Chán nản cực độ hơn: ”Nào hành lý vợ con, nào áo quần tư tưởng. Mắt ta đã mù. Lưng ta đã mỏi.. Con người văn nghệ ngậm kín nỗi đau lòng…” Kỳ quặc thay là cái chế độ mà “tác phẩm của một cá nhân tuy được mang tên mình, phải có xen vào công trình tập thể.”
Có lúc, nhà thơ bi quan như muốn quyên sinh. “Nằm đây tưởng chuyện ngàn sau/ lung linh nến cháy hai đầu áo quan/ gió lìa cành lá không vang/ tin ta vĩnh quyết trần gian hững hờ”. Đời sống toàn bi thảm, những đoạn đường trần chông gai bít lối, nên cái đau đớn, cáo nỗi niềm như cũng bị khâm lịệm theo. Người nằm trong ba tấc đất nhưng vẫn còn đó nỗi đau nhân sinh :
“ngậm ngùi nhớ trắng rừng mai
cảm thương sông nước ghi bài điếu tang
ngựa gầy bóng gió mênh mang
cờ đen lối cũ, cây vàng nẻo xa
ta nằm trong ván trông ra
tủi thân vì thấy người hoa vẫn cười
ta toan … giận dỗi xa đời
chợt hay: khăn liệm quanh người vẫn thơm
nát thân không nát nổi hồn
lẩn trong cái chết vẫn còn cái đau.”
Ở hải ngoại, nhà xuất bản Thanh Vân in tập thơ Quê Ngoại II – Tiếng hát thiên nga. So với tập thơ đầu thì tập này chỉ có giá trị từ những kỷ niệm đời của Hồ Dzếnh, in thơ lại như một cách thế để tưởng niệm. Phần nhiều những bài thơ là để tăng riêng cho hai bà vợ : b à Hồng Phúc và bà Hồng Nhật. Có nhiều bài thật cảm đông như bài tặng bà Nguyễn Thị Hồng Nhật:
“Mình vừa là chị là em
tấm lòng người mẹ trái tim bạn đời
mai này tới phút chia đôi
hai ta ai sẽ là người tiễn nhau?
Xót mình đã lắm thương đau
Tôi xin làm kẻ đi sau dỡ mình
Cuộc đời đâu phải phù sinh
Nước non chna chứa nghĩa tình mình ơi!”
Viết về bài thơ này, Mai Quốc Liên đã bình như sau:
”... Thật là cổ kim chưa có một bài thơ nào lớn như vậy. Tôi có dẫn lời ông Viên Mai bình một bài thơ hay ngày xưa, nói rằng “lời tuy giản dị nhưng đọc lên làm người nghe biến cả thần sắc và dù cho Đỗ Phủ, Lý Bạch sống dậy cũng phải cúi đầu.
Thật vậy bài thơ này là kết tinh tình cảm giữa anh chị trong mấy chục năm chia sẻû, gắn bó, thăng trầm và là lời nói sau cùng vĩnh biệt người bạn đời. Nó là viên ngọc của văn chương Lời giản dị mà thốt tự đáy lòng làm người đọc ứa nước mắt.
Hôm tôi đọc xong thì liền có mấy nữ sinh viên Đại Học Y Khoa dự ở đó mượn để chép lại Đặc biệt câu cuối của bài thơ thật là một triết lý phù sinh rất lớn lao:” Cuộc đời đâu phải phù sinh/ nước non chan chứa nghĩa tình mình ơi!”
C ó một người bạn trẻ tri kỷ được Hồ Dzếnh làm thơ tặng. Đó là nhà văn Nguyễn Minh Châu người đã viết “AI điếu cho một giai đoạn văn học minh họa”. Một bài “Cầu Giát “viết bên giường bệnh bạn và bài “Cỏ lau “viết nhân ngày giỗ đầu bạn. Trong “Cầu Giát” có những câu : ”cái đẹp thiêng liêng đích thưc/nỗi đau truyền kiếp văn chương? Anh bnạ đi tìm chân mỹ/bao giờ tới đích hành hương...” Và trong “Cỏ lau”: “giã từ nhé, Nguyễn Minh Châu/trang văn tâm huyết chiều sâu ân tình...”
Phần đông những bài thơ trong Quê Ngoại II đều tăng bà Hồng Phúc, có bài chân thành cảm động, như bài Gỉan dị :
Em ăn, em nói, em cười
Kiếp này không có hai người như em
Kinh thành quần nhiễu, hàng len
Em tôi áo trắng, quần đen sơ sài
Ai mà để ý vào ai
Quần đen lẩn bóng áo gai lẩn mầu
trên đời hai đứa yêu nhau
quần đen hóa đẹp, áo sầu hóa vui
Tình là hạnh phúc chia đôi
Hương lan kẽ đá trăng soi dậm trường
Đừng mong ước cả thiên đường
Hãy xin lấy nửa tấc vươờn vắng hoa.”
Khi cuối đới Hồ Dzếnh dự trù sẽ viết “Chân trời Mới” về xã hội hiện tại để đối chiếu với “Chân trời Cũ” thuở xa xưa. Nhưng, dự định vẫn chỉ là dự định. Có lý do sức khỏe nhưng cũng có lý do là với tâm thức như thế khó lòng mà viết được một chân trời sáng lạn...
Từ những tác phẩm đã in cũng như những di cảo được phổ biến, thơ và văn Hồ Dzếnh như những tiếng than tận trong phế phủ, bị trầm uất và nén tới tân đáy lòng. Đau đớn đã hòa vào trong máu huyết để mỗi câu văn, mỗi lời thơ là những giọt máu hồng thành mực cho ngòi bút...
Nguyễn Mạnh Trinh
Đọc hồi ký Đọan Trường Bất Khuất của người tù Phạm Trần Anh
Sau hồi ký 26 Năm Lưu Đày của TT. Thích Thiện Minh, hơn nửa năm sau, một thiên hồi ký tù nữa mới vừa ra đời đó là cuốn Đọan Trường Bất Khuất của Phạm Trần Anh. Sách dày 402 trang do Việt Nam Ngày Nay ấn hành, bao gồm hai phần: Phần hồi ký và phần thơ. Rải rác trong đó là một số bài thơ phổ nhạc của tác giả, vài tấm hình chụp chung với Tú Kếu, Tô Kiều Ngân, nhạc sĩ Châu Kỳ và hai tấm hình do người em lén chụp được khi thân mẫu thăm tác giả tại trại tù trước khi cụ đi Mỹ định cư, hình tác giả sinh họat với Tổng Hội Cựu TNTC/VN v.v..
Phần hồi ký gồm109 trang (từ trang 43 tới 151) và phần thơ 228 trang (từ trang 152 tới trang 380) bao gồm thơ của một số người tù nổi tiếng như: HT. Thích Quảng Độ, TT. Thích Thiện Minh, HT. Thích Đức Nhuận, LM Nguyễn Luân, Tú Kếu, Trần Thúc Vũ (đã mất), Phùng Quán (Nhân Văn Giai Phẩm), Nguyễn Chí Thiện, Đòan Thanh Liêm, Đòan Viết Họat, Hà Sĩ Phu, Trần Khuê, Phan Nhật Nam và một số bạn tù đã từng ở chung trại với tác giả, người còn, người mất, người hiện đang phiêu bạt xứ người như: Song Nhị (Trại Lý Bá Sơ, Thanh Hóa), Lê Duy (Trại Bù Gia Mập, Phước Long), Phạm Văn Thành (A20 Xuân Phước) Hướng Dương Vũ Đình Thụy (Trại A20 Phú Yên), Vũ Bình Nam (A20 Xuân Phước), Phan Tứ (Trại Đầm Đùn), Quốc Hòa (Trại T5 Đầm Đùn), Phượng Tường (Trại T5 Phú Yên), Hùng Phong (Trại A20 Phú Yên), Nguyễn Sông Côn (Trại 3 Z.30 Xuân Lộc), Thạch Khê (Trại A20 Phú Yên), Bảo Giang (Trại A20 Phú Yên), Sĩ Anh Linh (Trại A20 Phú Yên), Lê Thụ (Trại A20 Phú Yên), Kiều Đình Thanh (Tử hình tại Đà Nẵng ngày 16-12-1985), Nguyễn Tú (Trại Tù Đại Bình) và một số bài thơ phúng điếu khi mẹ tác giả qua đời trong đó có Lý Thụy Ý.
Khi đưa thơ của người khác vào tác phẩm của mình như vậy, theo tôi, có thể tác giả vì lòng ngưỡng mộ hoặc đây là một thình thức tri ân, hòai niệm các bạn tù. Dù sao các di sản văn hóa này cũng là những chứng tích hùng hồn nhất nói về trại tù cải tạo và về một giai đọan bi thảm nhất của lịch sử Việt Nam.
Phạm Trần Anh, một người tù chung thân giảm án còn 20 năm, trong đó 7 năm bị tù biệt giam trong phòng tối, bị đánh gẫy hai hàm răng, hai mắt gần như mù lòa và phải thay bằng hai thủy tinh thể giả, sau đó còn tiếp tục bị quản chế, khủng bố, theo dõi và đì chín năm, không cho anh định cư dù cả gia đình ở Mỹ đã bảo lãnh. Với quá trình tù tội và cuộc sống căng thẳng như thế mà anh vẫn còn đủ nhiệt huyết để trình làng thiên hồi ký này…thì chắc chắn anh phải có một cái gì đó để trang trải với đời.
Dĩ nhiên chúng ta không thể đòi hỏi giá trị văn chương trong một hồi ký tù. Tuy nhiên do máu văn nghệ có sẵn trong người Phạm Trần Anh ngay từ thời còn học ở Trường Quốc Gia Hành Chánh, cho nên thiên hồi ký nhiều đọan mang mầu sắc văn chương, điểm chút khôi hài. Theo thông lệ, tôi sẽ không làm nhiệm vụ phê bình tác phẩm mà chỉ giới thiệu và sau đó là một vài cảm nghĩ riêng của mình.
1) Phần hồi ký:
Tác giả đã khởi đầu phần hồi ký bằng câu chuyện tình buồn. Vào năm thứ ba, anh được phép viết thư về nhà. Giống như hằng ngàn chàng trai cải tạo khác, khi nghĩ tới người vợ trẻ đang phải bương chải trong cuộc đổi đời tàn bạo “ Nhà tôi có chút nhan sắc lại duyên dáng điểm xuyết thêm tâm hồn văn nghệ, nàng theo học Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Huế…” (tr. 45) Lời thư tựa như máu ứa ra từ tim như môt bản tuyệt tình ca“Không biết bao giờ anh trở về thôi thì, nếu em cảm thấy cuộc đời cần bước đi bước nữa thì cứ thanh thản ra đi vui sống, đừng bận tâm điều gì cả miễn là em cố gắng nuôi năm đứa con của chúng ta nên người thì dù anh có chết, anh cũng vui lòng. Anh viết cho em những dòng này với tầt cả tình yêu và sự suy nghĩ chin chắn nên không ai, kể cả gia đình mẹ anh và các cô chú có thể nghĩ không đúng về em, em ạ!” (tr.45) Và hơn sáu tháng sau, anh nhận được thư hồi đáp “ Anh biết không, nhận được thư anh em cảm thấy buồn bực, ngỡ ngàng, buồn vì chồng còn nghi ngờ không hiểu mình - nên đang học xuất sắc tụt xuống hạng tồi. Anh làm khổ em nhiêu đó chưa đủ sao anh yêu !?” (tr. 46) Thế nhưng:
Đời như gió gào
Từng ngày người quên hết lời
Một ngày người đi mất rồi
Mà người chẳng biết giã từ
(Bài thơ Tuyệt Tình Ca trong tập thơ tù Tổ Ấm Cuối Cùng của Đào Văn Bình xb năm 1987)
Nàng Tô Thị của Phạm Trần Anh đã ôm cầm sang thuyền khác để lại trong anh một vết thương lòng không thể nguôi ngoai “ Tôi vẫn yêu nàng thơ xứ Huế của tôi.” (tr. 47) Thế rồi khi Phạm Trần Anh ra tù, nàng vẫn thường đến thăm, ngày cưới của con gái Quỳnh Trâm “Nàng đã lên ngâm bài thơ Đôi Bờ của Quang Dũng. Nàng quá xúc động nên đang ngâm thơ bỗng dưng nghẹn ngào không ngâm được nữa. Nàng bỏ lại tất cả quan khách còn đang ngỡ ngàng, vội vã ra đi che dấu những dòng nước mắt nghẹn ngào…” (Tr.46)
Trong khỏang thời gian bị cùm biệt giam, Phạm Trần Anh suy nghĩ về cuộc đời của Cụ Nguyễn Du, Cụ Nguyễn Công Trứ mà tứ thơ dào dạt. “Sau bảy năm bị cùm ngửa chỉ mơ có một giấc ngủ được nằm nghiêng, Máu anh hùng nổi lên thách thức ngạo nghễ”: (*)
Chân cùm tay xích đầu sao xích?
Xích sẽ có ngày xích phải tung
Tư tưởng tinh thần làm sao xích?
A ha! A ha!
Xích sẽ có ngày xích phải tung. (Tr. 61&62)
Sau đó Phạm Trần Anh lại đưa chúng ta về “ Những giờ phút Sài Gòn hấp hối” (*). Anh quyết định ở lại với đất nước dù tất cả gia đình, cha mẹ đã xuống tàu. Rồi dùng lý lịch giả “gia đình cách mạng” cùng Tú Kếu thành lập Mặt Trận Người Việt Tự Do Phục Quốc Diệt Cộng. Nhưng do kết nạp vội vã, thiếu cảnh giác đã bị công an gài người vào theo dõi khiến chiến hữu Nguyễn Văn Thầm thấy bị lộ phải uống dầu máy tự sát, tránh không cho cộng sản khai thác. Anh mô tả lại cảnh công an bắt anh tại nhà như sau “Một trung đội công an súng ống tận răng , thằng nào thằng nấy hùng hổ đầy vẻ căm thù tràn vào nhà, đè ngửa tôi ra rồi còng tay trước sự kinh hòang của vợ và các con tôi.” Trước tình thế đó “Tôi hiểu rõ mọi việc xem như đã thua rồi nên thản nhiên nói ‘các anh muốn gì? ‘thì một tên công an nhào tới tát vào mặt tôi một cái như trời giáng rồi hằn học nói ‘Mày phản động, dám chống lại chúng ông mà còn lý sự hả?” (tr. 75) Rồi anh bị dẫn vào trại giam. “Vừa bị đẩy vào phòng thì nghe tiếng quát giọng Bắc Kỳ đặc sệt “ Địt mẹ mày, giờ này mà còn phản động…để tao xem gan mày to bao nhiêu mà dám chống lại chúng ông, úp mặt vào tường, khẩn trương lên! Bất thình lình một bang súng như trời giáng vào lưng đau nhói tá hỏa tam tinh…chưa kịp hòan hồn thì những cú đấm cú đá dồn dập, tôi lảo đảo té xấp vào tường không biết gì nữa..” (tr. 75)
Sau khi tuyên án, anh được di chuyển tới Trại Tù Đại Bình (có lẽ thuộc tỉnh Lâm Đồng). Tại nơi đây tù kiên giam bị nhốt vào dãy xà-lim mới xây hết sức kiên cố mà anh em gọi đùa là “Tứ Giác Đài”. Tiêu chuẩn ăn của tù “mỗi tháng 7 kilô thực phẩm bao gồm gạo mốc mủn lẫn khoai lang, bắp, khoai mì (sắn) mốc meo lên màu chạy chỉ đen có, xanh có xen lẫn vàng khè…” Cho nên tù biệt giam sống sót nhờ cái hộp đựng phân do Cụ Phạm Xuân Thái đặc trách vệ sinh đem vào. Vì đồ ăn quá ít cho nên gần như tiêu hóa hết, cứ hai tuần mới đi tiêu mà anh em gọi đùa là đi “Tham quan lăng Bác”. Một cái hộp vuông mỗi bề 25cm bên trong đựng mạt cưa để tù “thăm lăng Bác”. Cụ Thái đã bỏ vào đó một khúc khoai mì dài khỏang 10-15 cm. Khi cán bộ trực trại đi rồi thì anh em “ bới lớp mạt cưa lẫn phân, chia nhau mỗi người một miếng rồi ăn tươi nuốt sống, bất kể ..” (tr. 80) Trong thời gian này anh cùng một số anh em người Thượng chuẩn bị một chuyến vượt ngục nhưng vì có lệnh chuyển qua Trại Xuân Lộc cho nên thóat chết. Cuộc vượt ngục bất thành do anh em yếu quá không đủ sức băng rừng. Một số bị bắt lại, một số bị bắn chết thật thê thảm.
Vào khỏang Tháng 8,1980 trại tù đã xảy ra một cuộc thảm sát do tổ chức đánh cai tù để vượt ngục bất thành, khiến sáu anh em tù bị bắn chết, xác nằm ngổn ngang mà nhà thơ Tú Kếu đã diễn tả qua bài thơ Vô Đề. Đây chính là bản cáo trạng về chế độ cộng sản bạo tàn:
Chính đêm ấy, mảnh trăng liềm đẫm máu
Tưởng chừng như thân thể bạn bè tôi
Uốn cong lên khi bị bắn tơi người
Miệng nguyền rủa nhưng không còn tiếng nói
Môi mấp máy, đúng môi còn mấp máy
Như muốn tuôn dòng thác đổ căm hờn
Như muốn gào to. Không thể dã man hơn!
Không thể dã man hơn. Quân khốn kiếp!
Có lần anh đưa cho LM Trần Thế Phiệt tài liệu “Đường Hướng Cách Mạng Hóa, Hiện Đại Hóa Việt Nam” giấu trong cuốn giấy vệ sinh nhưng chắng may bị an ninh trại khám thấy. May nhờ một mực khai đó chỉ là bản chép lại chủ trương của thủ tướng Jamaica có đăng trên báo Nhân Dân cho nên cả hai thóat án tử hình. Theo Phạm Trần Anh, trong các trại tù cộng sản có lẽ tên cai tù Phi Sơn là một tên khát máu nhất mà theo nhà phạm tội học Lombroso thì Phi Sơn quả là lọai người “sát nhân bẩm sinh” (*)” Không rõ tên thật y là gì, chỉ biết y mang bí danh này từ lúc còn là trưởng ban ám sát Tỉnh Lâm Đồng. Một tay y đã giết bao nhiêu quân nhân viên chức VNCH và cả đồng chí của y nữa. Dáng người dị dạng cao lều khều, lúc đi lưng hơi còng, cặp mắt đỏ ngầu sâu hoắm, đôi long mày rậm và gò má nhô lên, mặt lạnh như tiền, hai hàm răng lúc nói chuyện san sát như nghiến lại nên dường như tù nhân nào cũng không dám nhìn thẳng vào mặt y. Trong lúc uống rượu cao hứng y say sưa kể chính tay y đã giết không biết bao nhiêu là người. Nghe nói có lần y bắt được viên đại úy ở Chi Khu Đơn Dương, Lâm Đồng. Sau
khi đánh đập, tra tấn không khai thác được gì, y trói hai tay nạn nhân vào một gốc cây rồi khóet hai mắt cho máu chảy ra để kiến bu lại. Đến khi quân ta tìm được thì xác đã thối rữa, dòi bọ bò lổn ngổn, ruồi kiến bu quanh…” (tr.89). Hành vi tàn ác của Phi Sơn có thể sánh với Nguyễn Ngọc Cơ tự Sáu Búa – Viện Trưởng Viện Kiểm Sát Nhân Dân Bặc Liêu trong cuốn hồi ký 26 Năm Lưu Đày của TT. Thích Thiện Minh.
Trong một lần thăm nuôi bất ngờ do Tú Kếu - được thả trước - có lòng tới thăm anh em, tác giả may mắn gặp một số khuôn mặt như Dõan Quốc Sĩ, Hoàng Hải Thủy, Trí Siêu Lê Mạnh Thát và Tiến Sĩ Kinh Tế Mã Thành Công. Riêng đối với nhà văn Dõan Quốc Sĩ tác giả tỏ lòng kính trọng đặc biệt “Tôi thường gần gũi để học thêm, lãnh hội thêm những cao kiến cùng đức tính nhiệt tình và chân thật của bậc thức giả này. (tr.97)
Rồi trong một buổi học tập dàn dựng để bầu “Hội Đồng Tự Quản” hầu qua mặt các phái đòan quốc tế tới thăm trại, Phạm Trần Anh được anh em đề cử ra tranh chức đội trưởng để đối đầu với ứng viên cò mồi do cai tù đề cử. Sau khi đảm nhiệm “chức đội trưởng” trong biên bản bàn giao anh yêu cầu phải chứng minh rõ số lúa tồn kho thì được đội trưởng cũ cho biết khỏang hai tấn lúa do anh em tù sản xuất đã được dùng để biếu cai tù, quản giáo, trực trại và giám thị…trong khi đó anh em tù nào đói quá lấy trộm một hai chén thóc là bị cùm kỷ luật cả tuần lễ. Nhận được biên bản này, bọn cai tù và giám thị ngậm đắng nuốt cay không thể nói gì nhưng tìm cách trả thù. Nhân dịp giỗ bố, Phạm Trần Anh có mời mấy thầy bên Dòng Đồng Công, TT. Trí Siêu (Lê Mạnh Thát), TT. Thích Thiện Minh và nhà văn Dõan Quốc Sĩ. Thế là trực trại ùa vào lập biên bản, sáng sau có lệnh cùm kỷ luật Phạm Trần Anh vô thời hạn. Tuy nhiên chỉ mấy tuần sau thôi cai tù phải thả anh ra vì cả trại xôn xao khi TT. Thích Thiện Minh tuyên bố tuyệt thực vô thời hạn nếu không thả Phạm Trần Anh ra.
Cũng trong khoảng thời gian này (tác giả không ghi rõ năm), tù cải tạo gốc quân-cán-chính VNCH từ ngòai Bắc chuyển về rất đông cho nên tác giả có dịp gặp gỡ một số khuôn mặt như Đại Tá Nguyễn Văn Lương (CTCT), Đại Tá Vũ Thế Quang, Đại Tá Huy, Đại Tá Không Quân Phùng Ngọc Ấn và Trung Tá Nhảy Dù Bùi Quyền v.v.. Anh em gặp nhau mừng mừng tủi tủi và đã tổ chức hát quốc ca, Tù Ca với bản nhạc nổi tiếng Đôi Giày Dũng Sĩ. Sau một vụ xô xát giữa tù nhân và vũ trang cảnh vệ, tác giả tâm tình là trong hàng ngũ công an cai tù vẫn có người ngấm ngầm chống cộng và âm thầm giúp đỡ anh em. Có một đại úy công an nói rằng “Nếu phục quốc đến đây thì tôi là người đầu tiên bắn hết chúng nó. “ (*) Chúng nó đây là công an VC.
Từ trang 105 tới trang 144 tác giả nói về Thung Lũng Tử Thần tức Trại Tù Xuân Phước nằm dưới một thung lũng có tám ngọn núi bao quanh thuộc rừng núi Tỉnh Phú Yên giáp biên giới Lào-Việt mà người tù Vũ Đình Thụy đã mô tả như sau:
Ai đã đến để một đời nhớ mãi
Ai đã qua nơi địa ngục trần gian
Ai đã sống những tháng ngày khốn khó
Thần chết rập rình, địa ngục đâu đây! (tr.106)
Tại nơi đây đã có ít ra năm linh mục đã chết trong biệt giam và cả ngàn ngôi mộ của anh em tù nhân. Nơi mà:
Trông thấy người khác chết
Trong lòng rất xót xa
Nủa thương xót kẻ chết
Nửa nghĩ tới thân ta ( Vũ Đình Thụy tr.107)
Trong thời gian này tác giả chung sống với TT. Thích Thiện Minh gọi thân mật là Thày Ba. Cả hai sau đó lần lượt vào nhà cùm kỷ luật. Để trấn áp tù nhân, nhà cùm chưa đủ, cai tù còn dùng roi điện bắt tù nhân nằm xuống đánh ngay trước cổng trại. Có điều trớ trêu là cùng linh mục nhưng có linh mục “con mồ côi “ không ai thăm nuôi sống đói khổ, lao động cực nhọc. Trong khi đó những linh mục khác có xóm đạo dư dả thăm nuôi ăn không hết nên thức ăn ngon, vật dụng đẹp, thuốc bổ đều mời cán bộ sơi dùm cả…và hầu như không chia xẻ với các linh mục khác chút gì gọi là bác ái cả!” (tr.114 &115). Theo người tù Nguyễn Quang thì nhiều người mong lập thành tích đái công chuộc tội trong đó có Thày Phạm Hồng Quang, LM Đinh Xuân Thụy “ông này không những cầm sổ kẹp nách, vừa ghi chép, vừa chạy giữa trưa nắng thật buồn cười, tay kia cầm gậy thọt thọt khắp nơi trong trại và cả chiều tối xem có tù nhân nào đào vách khóet tường không..” (tr.115). Thế nhưng theo Phạm Trần Anh, “ bên cạnh những con sâu làm rầu nồi canh, có một số linh mục đáng kính hy sinh tại Thung Lũng Tử Thần” như: LM Nguyễn Huy Chương bị kiên giam cho đến chết, LM Nguyễn Luân bị kiên giam, trước khi chết vẫn còn dặn dò mọi người hãy vì con người đấu tranh cho quyền làm người, LM Nguyễn Văn Vàng kiệt sức chết trong xà-lim, LM Phong kiệt sức chết khi lao động, LM Nguyễn Quang Minh (Vụ Án Vinh Sơn) bị đánh dập lá lách, trào máu họng chết.
Điều làm tôi ngạc nhiên nhất trong một trại tù kìm kẹp khốc liệt như thế mà lại có tài liệu học tập chống cộng gọi là “Báo Chui” do một số tay gan lì như Vũ Ánh, Phạm Chí Thành, Nguyễn Xuân Nghĩa, Thiếu Tá TQLC Võ Đằng Phương chủ trương rồi bị bắt giải về Phan Đăng Lưu để điều tra nhưng không tìm ra manh mối cho nên đem trở lại trại, nhốt vào xà-lim cho đến khi Ân Xá Quốc Tế can thiệp. Rồi lại có các tù nhân trẻ như Trần Minh Tuấn quê ở Bình Định dám rải truyền đơn ngay trong trại tù và Phạm Văn Thành, Nguyễn Văn Trung. Chính mấy anh em này đã làm Cuộc Nổi Dậy tại Xuân Phước ngày 28-10-1994.
Thung Lũng Tử Thần Xuân Phước cũng còn là “nơi dừng chân” (*) của các người tù như LS Trần Danh San, LS Nguyễn Chuyên, LS Lý Văn Hiệp và anh Nguyễn Chí Thịêp cựu Phó Tỉnh Trưởng Quảng Nam. Ngòai ra lại có cựu SV/QGHC Cao Văn Bình ra tòa thách thức quan tòa VC tuyên án tử hình. Thế nhưng tên chánh án thâm độc này tức tối nói rằng ” Mày muốn làm anh hùng hả? Tao chỉ cho mày một bản án chung thân, nghĩa là tù rục xương để mày chết lần chết mòn trong bốn bức tường đá, chứ dại gì cho mày chết ngay!” (tr.123). Anh Cao Văn Bình sau ba lần tự sát mới thành công để được thóat kiếp đọa đày. Lần cuối cùng anh nhảy vào chảo nước sôi kết liễu đời mình.
Vào năm 1991 tác giả có một chuyện vui khi bà cụ đến thăm trước khi đi Mỹ, có cho tác giả 800,000 (tiền VC). Anh đã dùng tiền này để nhờ giám thị trại mua một máy truyền hình để anh em coi cho đỡ buồn, nuôi hai con heo, khỏang 200 con gà và mấy chục kílô cá rô, cá trắm cỏ để “bồi dưỡng”cho anh em. Bọn cai tù mừng húm và hứa sẽ đề nghị giảm án xuống cho anh còn 20 năm. Bà cụ thấy con mình tù tội đã 16 năm cho nên nước mắt dưng dưng năn nỉ con viết đơn xin giảm án. Anh đã khóc vì tình thương của mẹ nhưng cảm khái nói “Mẹ đừng nói nữa. Con không bao giờ làm đâu. Con cam tội bất hiếu với mẹ còn hơn là nghe lời mẹ ký vào đơn xin giảm án..!!!” (tr.140) Phạm Trần Anh khác với Từ Thứ năm xưa vì mẹ mà về hàng Tào Tháo. Ngày nay Phạm Trần Anh thà chịu tội bất hiếu với mẹ chứ không bao giờ đầu hàng cộng sản và phản bội anh em. Đó chính là tinh thần Bất Khuất của thiên hồi ký này.
Trong những trang cuối cùng của phần hồi ký khi đã định cư tại Thành Phố San Diego, California, anh tâm tình lý do tại sao anh cho ra đời cuốn sách: “Trong Bữa Cơm Cay Đắng của Tổng Hội Cựu Sinh Viên QGHC tổ chức để ôn lại kỷ niệm và đọc thơ tù cho anh em, tôi không đến được cho nên viết những tản mạn tâm tình Đọan Trường Bất Khuất như để tạ lỗi cùng anh em.” (tr.142)
2) Phần thơ:
Như đã giới thiệu ở trên, trong phần thơ, ngòai khỏang 50 bài thơ của chính anh, Phạm Trần Anh đã đưa vào một số thơ tù không thể liệt kê hết ở đây mà chỉ lựớt qua một số như : Bài thơ Ác Mộng và Nói Chuyện Với Tử Thần của HT. Thích Quảng Độ, Ngày Quốc Nạn của TT. Thích Thiện Minh, Vô Đề dài 139 câu của Tú Kếu (Trần Đức Uyển) nay xin trích ra vài câu:
Chúng nó tới như một bày thú dữ
Mang tai ương tới từng nụ hoa non
Đá chảy mồ hôi, gạch đá cũng đau buồn
Bao nhiêu máu đã chan hòa mặt đất
Bao nhiêu ngày từng đó biến thành đêm
Bao nhiêu người, khi cờ đỏ treo lên
Trong lòng sáng, chợt bốn mùa ngục tối (Vô Đề, tr. 202)
Và đây là khí phách của người tù Tú Kếu:
Chín năm lăn lóc ở trong tù
Chưa một lời buồn tôi thốt ra
( Vô Đề tr. 206)
Đặc biệt anh đưa vào chín bài thơ tù của Trần Thúc Vũ - tên thật Bùi Kim Đính, Phi Đòan Không Thám 219, sau 17 năm tù, định cư vào Hoa Kỳ mất năm 2005 - mà bài thơ tôi thích nhất có tên Huyền Hoặc. Lời thơ có phong độ Đường Thi, nhưng trầm mặc an tĩnh như tâm hồn của một thiền sư. Nay xin giới thiệu ở đây:
Nhánh sông đời hệ lụy
Ta trôi theo từng ngày
Suối tuôn dòng chẳng nghỉ
Nước hồn nhiên vơi đầy
Bạc đầu cơn gió cuốn
Bao nhiêu rừng cây già
Nhấp nhô triền sóng cuộn
Nở bừng muôn đóa hoa…
Xế bao chiều nắng đục
Tóc vương hồn cỏ cây
Phất phơ sương khói nhạt
Mắt phai miền gió lay
Thân ta thêm từng ngày
Biển thêm cuồn cuộn sóng
Đất trời thêm từng giây
Võ vàng cơn ác mộng
Mai này đời im lặng
Đáy hồ thêm huyền hoặc
Lắng nghe lời vào đêm
Có còn không tiếng vạc ?
Mai này chân cỏ vàng
Khói sương chiều quạnh vắng
Ta từng dòng quẩn quanh
Thẫn thờ cơn nuớc lặng
Nước vẫn dòng khổ đau
Trái tim còn nghiệp chướng
Em nào hay biết đâu
Cõi lòng ta phiền muộn
Núi rừng ta trở về
Mưa nguồn thân lá mục
Xin vì nhau lắng nghe
Thì thầm cơn nước rút
Chỉ còn riêng đáy khe
Mảnh trăng khuya huyền hoặc.
(tr.167 &168)
Sau hết điều làm tôi vô cùng ngạc nhiên nữa là Phạm Trần Anh đã đưa vào một bài thơ của Hà Sĩ Phu một nhà tranh đấu đang là biểu tượng của giới sĩ phu Bắc Hà bây giờ. Đó là bài Lời Phật. Lời thơ không kêu gọi lật đổ, không hận thù mà thác lời dạy con để dùng trí tuệ (đuốc tuệ) tu thân dưỡng tánh. Khi mình tu thân dưỡng tánh rồi thì mình sẽ là người quân tử (Tu, Tề, Trị, Bình). Khi đã nhìn thấu lẽ Cùng- Thông của tạo hóa hoặc chỉ cần tu một tâm Từ Bi thôi, thì sẽ không còn làm khổ đời nữa. Bài thơ lục bát đơn sơ như sau:
Cho con trải một lần tù
Để con tròn một kiếp tu với đời
Kiếp người đau thế con ơi
Mỗi dòng con viết lệ rơi mấy lần?
Viết đi cho sạch nợ trần
Lâng lâng Đuốc Tuệ soi chân con về
(Trại Tù B14, Hà Nội Tháng 7,1996)
Nhân bài thơ của Hà Sĩ Phu tôi xin phép bàn rộng thêm. Giả sử sau này khi quý Ô. Nông Đức Mạnh, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Phú Trọng, Lê Hồng Anh…vào tù khi chế độ cộng sản xụp đổ. Các giám thị cải huấn có thể biếu quý ông mỗi người một cuốn Kinh Thánh hoặc vài cuốn Kinh Phật như Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh, Kinh Kim Cang v.v..tôi bảo đảm quý ông này, sau khi được thả ra, sẽ hiền khô, sẽ biết thương ngươi, vì quý ông đã thấy xác thân này chỉ tồn tại như một ánh chớp ngang trời, cuộc đời này, quyền thế, thịnh suy tựa như giọt sương mai trên đầu ngọn cỏ:
Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.
(Kệ tụng của Thiền Sư Vạn Hạnh)
Lời kết:
Trong phần giới thiệu cuốn sách, TT. Thích Thiện Minh viết “Hội đang sưu tầm danh sách hằng ngàn tù nhân chính trị bị nhà cầm quyền CSVN xử tử hình và xuất bản. Trong ý hướng đó chúng tôi xin mời quí đồng bào đọc những vần thơ của anh em tù nhân chính trị viết từ đáy địa ngục trần gian…” (tr.
Còn nhà thơ Phổ Đức (hiện đang còn ở trong nước) đã giới thiệu tập hồi ký như sau: ”Đọc thơ Phạm Trần Anh, những ai có một khối tình lớn của Tản Đà, một chút u hòai sẽ tâm đắc và cảm nhận như chính nỗi lòng của mình.” (tr.31)
Riêng tôi, tôi xin dùng bài thơ sau đây của Phạm Trần Anh để kết thúc bài giới thiệu. Đó là bài thơ thất ngôn tứ tuyệt nhan đề Sơn Hà Thệ. Đó cũng là bài thơ để kính tặng sư phụ của anh là Hòa Thượng Thích Đức Nhuận đã viên tịch.
Nhất nhật tại tù nhất nhật âu
Kỷ niên vong quốc kỷ niên sầu
Nam nhi tâm huyết sơn hà thệ
Ái quốc ưu dân chí bạch đầu
Dịch nôm:
Thề cùng sông núi
Mỗi ngày tù tội một lo âu
Bao năm mất nước bấy năm sầu
Một lòng thệ nguyện cùng sông núi
Yêu nước thương dân tới bạc đầu
Tâm tình của Phạm Trần Anh ngày nay cũng là tâm tình của bao nhiêu tù nhân chính trị, bao nhiêu nhà tranh đấu đang trực diện với bạo quyền từng giờ từng phút. Động lực tranh đấu ngày hôm nay chính là lòng ái quốc và lòng thương dân. Xin mấy ông cộng sản đừng vu vạ cho họ là phản động, là bị ngọai bang xúi giục. Bây giờ chẳng có ngọai bang nào thèm dòm ngó tới Việt Nam cả, ngọai trừ Trung Cộng.
Đào Văn Bình
(Califrornia ngày 4-10-07)
Cước chú: Dấu (*) là lời trích dẫn từ tác phẩm
Tác phẩm sẽ được ra mắt lần đầu tiên tại San Jose, California vào ngày 28-10-2007
Quý vị nào ở Hoa Kỳ muốn có sách xin gửi 20 đồng (kể cả cước phỉ gửi) về địa chỉ:
Anh Phạm
10095 Larson
Garden Grove,CA 92384
Tl: (714) 723-2798
Đào Văn Bình
Phần hồi ký gồm109 trang (từ trang 43 tới 151) và phần thơ 228 trang (từ trang 152 tới trang 380) bao gồm thơ của một số người tù nổi tiếng như: HT. Thích Quảng Độ, TT. Thích Thiện Minh, HT. Thích Đức Nhuận, LM Nguyễn Luân, Tú Kếu, Trần Thúc Vũ (đã mất), Phùng Quán (Nhân Văn Giai Phẩm), Nguyễn Chí Thiện, Đòan Thanh Liêm, Đòan Viết Họat, Hà Sĩ Phu, Trần Khuê, Phan Nhật Nam và một số bạn tù đã từng ở chung trại với tác giả, người còn, người mất, người hiện đang phiêu bạt xứ người như: Song Nhị (Trại Lý Bá Sơ, Thanh Hóa), Lê Duy (Trại Bù Gia Mập, Phước Long), Phạm Văn Thành (A20 Xuân Phước) Hướng Dương Vũ Đình Thụy (Trại A20 Phú Yên), Vũ Bình Nam (A20 Xuân Phước), Phan Tứ (Trại Đầm Đùn), Quốc Hòa (Trại T5 Đầm Đùn), Phượng Tường (Trại T5 Phú Yên), Hùng Phong (Trại A20 Phú Yên), Nguyễn Sông Côn (Trại 3 Z.30 Xuân Lộc), Thạch Khê (Trại A20 Phú Yên), Bảo Giang (Trại A20 Phú Yên), Sĩ Anh Linh (Trại A20 Phú Yên), Lê Thụ (Trại A20 Phú Yên), Kiều Đình Thanh (Tử hình tại Đà Nẵng ngày 16-12-1985), Nguyễn Tú (Trại Tù Đại Bình) và một số bài thơ phúng điếu khi mẹ tác giả qua đời trong đó có Lý Thụy Ý.
Khi đưa thơ của người khác vào tác phẩm của mình như vậy, theo tôi, có thể tác giả vì lòng ngưỡng mộ hoặc đây là một thình thức tri ân, hòai niệm các bạn tù. Dù sao các di sản văn hóa này cũng là những chứng tích hùng hồn nhất nói về trại tù cải tạo và về một giai đọan bi thảm nhất của lịch sử Việt Nam.
Phạm Trần Anh, một người tù chung thân giảm án còn 20 năm, trong đó 7 năm bị tù biệt giam trong phòng tối, bị đánh gẫy hai hàm răng, hai mắt gần như mù lòa và phải thay bằng hai thủy tinh thể giả, sau đó còn tiếp tục bị quản chế, khủng bố, theo dõi và đì chín năm, không cho anh định cư dù cả gia đình ở Mỹ đã bảo lãnh. Với quá trình tù tội và cuộc sống căng thẳng như thế mà anh vẫn còn đủ nhiệt huyết để trình làng thiên hồi ký này…thì chắc chắn anh phải có một cái gì đó để trang trải với đời.
Dĩ nhiên chúng ta không thể đòi hỏi giá trị văn chương trong một hồi ký tù. Tuy nhiên do máu văn nghệ có sẵn trong người Phạm Trần Anh ngay từ thời còn học ở Trường Quốc Gia Hành Chánh, cho nên thiên hồi ký nhiều đọan mang mầu sắc văn chương, điểm chút khôi hài. Theo thông lệ, tôi sẽ không làm nhiệm vụ phê bình tác phẩm mà chỉ giới thiệu và sau đó là một vài cảm nghĩ riêng của mình.
1) Phần hồi ký:
Tác giả đã khởi đầu phần hồi ký bằng câu chuyện tình buồn. Vào năm thứ ba, anh được phép viết thư về nhà. Giống như hằng ngàn chàng trai cải tạo khác, khi nghĩ tới người vợ trẻ đang phải bương chải trong cuộc đổi đời tàn bạo “ Nhà tôi có chút nhan sắc lại duyên dáng điểm xuyết thêm tâm hồn văn nghệ, nàng theo học Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Huế…” (tr. 45) Lời thư tựa như máu ứa ra từ tim như môt bản tuyệt tình ca“Không biết bao giờ anh trở về thôi thì, nếu em cảm thấy cuộc đời cần bước đi bước nữa thì cứ thanh thản ra đi vui sống, đừng bận tâm điều gì cả miễn là em cố gắng nuôi năm đứa con của chúng ta nên người thì dù anh có chết, anh cũng vui lòng. Anh viết cho em những dòng này với tầt cả tình yêu và sự suy nghĩ chin chắn nên không ai, kể cả gia đình mẹ anh và các cô chú có thể nghĩ không đúng về em, em ạ!” (tr.45) Và hơn sáu tháng sau, anh nhận được thư hồi đáp “ Anh biết không, nhận được thư anh em cảm thấy buồn bực, ngỡ ngàng, buồn vì chồng còn nghi ngờ không hiểu mình - nên đang học xuất sắc tụt xuống hạng tồi. Anh làm khổ em nhiêu đó chưa đủ sao anh yêu !?” (tr. 46) Thế nhưng:
Đời như gió gào
Từng ngày người quên hết lời
Một ngày người đi mất rồi
Mà người chẳng biết giã từ
(Bài thơ Tuyệt Tình Ca trong tập thơ tù Tổ Ấm Cuối Cùng của Đào Văn Bình xb năm 1987)
Nàng Tô Thị của Phạm Trần Anh đã ôm cầm sang thuyền khác để lại trong anh một vết thương lòng không thể nguôi ngoai “ Tôi vẫn yêu nàng thơ xứ Huế của tôi.” (tr. 47) Thế rồi khi Phạm Trần Anh ra tù, nàng vẫn thường đến thăm, ngày cưới của con gái Quỳnh Trâm “Nàng đã lên ngâm bài thơ Đôi Bờ của Quang Dũng. Nàng quá xúc động nên đang ngâm thơ bỗng dưng nghẹn ngào không ngâm được nữa. Nàng bỏ lại tất cả quan khách còn đang ngỡ ngàng, vội vã ra đi che dấu những dòng nước mắt nghẹn ngào…” (Tr.46)
Trong khỏang thời gian bị cùm biệt giam, Phạm Trần Anh suy nghĩ về cuộc đời của Cụ Nguyễn Du, Cụ Nguyễn Công Trứ mà tứ thơ dào dạt. “Sau bảy năm bị cùm ngửa chỉ mơ có một giấc ngủ được nằm nghiêng, Máu anh hùng nổi lên thách thức ngạo nghễ”: (*)
Chân cùm tay xích đầu sao xích?
Xích sẽ có ngày xích phải tung
Tư tưởng tinh thần làm sao xích?
A ha! A ha!
Xích sẽ có ngày xích phải tung. (Tr. 61&62)
Sau đó Phạm Trần Anh lại đưa chúng ta về “ Những giờ phút Sài Gòn hấp hối” (*). Anh quyết định ở lại với đất nước dù tất cả gia đình, cha mẹ đã xuống tàu. Rồi dùng lý lịch giả “gia đình cách mạng” cùng Tú Kếu thành lập Mặt Trận Người Việt Tự Do Phục Quốc Diệt Cộng. Nhưng do kết nạp vội vã, thiếu cảnh giác đã bị công an gài người vào theo dõi khiến chiến hữu Nguyễn Văn Thầm thấy bị lộ phải uống dầu máy tự sát, tránh không cho cộng sản khai thác. Anh mô tả lại cảnh công an bắt anh tại nhà như sau “Một trung đội công an súng ống tận răng , thằng nào thằng nấy hùng hổ đầy vẻ căm thù tràn vào nhà, đè ngửa tôi ra rồi còng tay trước sự kinh hòang của vợ và các con tôi.” Trước tình thế đó “Tôi hiểu rõ mọi việc xem như đã thua rồi nên thản nhiên nói ‘các anh muốn gì? ‘thì một tên công an nhào tới tát vào mặt tôi một cái như trời giáng rồi hằn học nói ‘Mày phản động, dám chống lại chúng ông mà còn lý sự hả?” (tr. 75) Rồi anh bị dẫn vào trại giam. “Vừa bị đẩy vào phòng thì nghe tiếng quát giọng Bắc Kỳ đặc sệt “ Địt mẹ mày, giờ này mà còn phản động…để tao xem gan mày to bao nhiêu mà dám chống lại chúng ông, úp mặt vào tường, khẩn trương lên! Bất thình lình một bang súng như trời giáng vào lưng đau nhói tá hỏa tam tinh…chưa kịp hòan hồn thì những cú đấm cú đá dồn dập, tôi lảo đảo té xấp vào tường không biết gì nữa..” (tr. 75)
Sau khi tuyên án, anh được di chuyển tới Trại Tù Đại Bình (có lẽ thuộc tỉnh Lâm Đồng). Tại nơi đây tù kiên giam bị nhốt vào dãy xà-lim mới xây hết sức kiên cố mà anh em gọi đùa là “Tứ Giác Đài”. Tiêu chuẩn ăn của tù “mỗi tháng 7 kilô thực phẩm bao gồm gạo mốc mủn lẫn khoai lang, bắp, khoai mì (sắn) mốc meo lên màu chạy chỉ đen có, xanh có xen lẫn vàng khè…” Cho nên tù biệt giam sống sót nhờ cái hộp đựng phân do Cụ Phạm Xuân Thái đặc trách vệ sinh đem vào. Vì đồ ăn quá ít cho nên gần như tiêu hóa hết, cứ hai tuần mới đi tiêu mà anh em gọi đùa là đi “Tham quan lăng Bác”. Một cái hộp vuông mỗi bề 25cm bên trong đựng mạt cưa để tù “thăm lăng Bác”. Cụ Thái đã bỏ vào đó một khúc khoai mì dài khỏang 10-15 cm. Khi cán bộ trực trại đi rồi thì anh em “ bới lớp mạt cưa lẫn phân, chia nhau mỗi người một miếng rồi ăn tươi nuốt sống, bất kể ..” (tr. 80) Trong thời gian này anh cùng một số anh em người Thượng chuẩn bị một chuyến vượt ngục nhưng vì có lệnh chuyển qua Trại Xuân Lộc cho nên thóat chết. Cuộc vượt ngục bất thành do anh em yếu quá không đủ sức băng rừng. Một số bị bắt lại, một số bị bắn chết thật thê thảm.
Vào khỏang Tháng 8,1980 trại tù đã xảy ra một cuộc thảm sát do tổ chức đánh cai tù để vượt ngục bất thành, khiến sáu anh em tù bị bắn chết, xác nằm ngổn ngang mà nhà thơ Tú Kếu đã diễn tả qua bài thơ Vô Đề. Đây chính là bản cáo trạng về chế độ cộng sản bạo tàn:
Chính đêm ấy, mảnh trăng liềm đẫm máu
Tưởng chừng như thân thể bạn bè tôi
Uốn cong lên khi bị bắn tơi người
Miệng nguyền rủa nhưng không còn tiếng nói
Môi mấp máy, đúng môi còn mấp máy
Như muốn tuôn dòng thác đổ căm hờn
Như muốn gào to. Không thể dã man hơn!
Không thể dã man hơn. Quân khốn kiếp!
Có lần anh đưa cho LM Trần Thế Phiệt tài liệu “Đường Hướng Cách Mạng Hóa, Hiện Đại Hóa Việt Nam” giấu trong cuốn giấy vệ sinh nhưng chắng may bị an ninh trại khám thấy. May nhờ một mực khai đó chỉ là bản chép lại chủ trương của thủ tướng Jamaica có đăng trên báo Nhân Dân cho nên cả hai thóat án tử hình. Theo Phạm Trần Anh, trong các trại tù cộng sản có lẽ tên cai tù Phi Sơn là một tên khát máu nhất mà theo nhà phạm tội học Lombroso thì Phi Sơn quả là lọai người “sát nhân bẩm sinh” (*)” Không rõ tên thật y là gì, chỉ biết y mang bí danh này từ lúc còn là trưởng ban ám sát Tỉnh Lâm Đồng. Một tay y đã giết bao nhiêu quân nhân viên chức VNCH và cả đồng chí của y nữa. Dáng người dị dạng cao lều khều, lúc đi lưng hơi còng, cặp mắt đỏ ngầu sâu hoắm, đôi long mày rậm và gò má nhô lên, mặt lạnh như tiền, hai hàm răng lúc nói chuyện san sát như nghiến lại nên dường như tù nhân nào cũng không dám nhìn thẳng vào mặt y. Trong lúc uống rượu cao hứng y say sưa kể chính tay y đã giết không biết bao nhiêu là người. Nghe nói có lần y bắt được viên đại úy ở Chi Khu Đơn Dương, Lâm Đồng. Sau
khi đánh đập, tra tấn không khai thác được gì, y trói hai tay nạn nhân vào một gốc cây rồi khóet hai mắt cho máu chảy ra để kiến bu lại. Đến khi quân ta tìm được thì xác đã thối rữa, dòi bọ bò lổn ngổn, ruồi kiến bu quanh…” (tr.89). Hành vi tàn ác của Phi Sơn có thể sánh với Nguyễn Ngọc Cơ tự Sáu Búa – Viện Trưởng Viện Kiểm Sát Nhân Dân Bặc Liêu trong cuốn hồi ký 26 Năm Lưu Đày của TT. Thích Thiện Minh.
Trong một lần thăm nuôi bất ngờ do Tú Kếu - được thả trước - có lòng tới thăm anh em, tác giả may mắn gặp một số khuôn mặt như Dõan Quốc Sĩ, Hoàng Hải Thủy, Trí Siêu Lê Mạnh Thát và Tiến Sĩ Kinh Tế Mã Thành Công. Riêng đối với nhà văn Dõan Quốc Sĩ tác giả tỏ lòng kính trọng đặc biệt “Tôi thường gần gũi để học thêm, lãnh hội thêm những cao kiến cùng đức tính nhiệt tình và chân thật của bậc thức giả này. (tr.97)
Rồi trong một buổi học tập dàn dựng để bầu “Hội Đồng Tự Quản” hầu qua mặt các phái đòan quốc tế tới thăm trại, Phạm Trần Anh được anh em đề cử ra tranh chức đội trưởng để đối đầu với ứng viên cò mồi do cai tù đề cử. Sau khi đảm nhiệm “chức đội trưởng” trong biên bản bàn giao anh yêu cầu phải chứng minh rõ số lúa tồn kho thì được đội trưởng cũ cho biết khỏang hai tấn lúa do anh em tù sản xuất đã được dùng để biếu cai tù, quản giáo, trực trại và giám thị…trong khi đó anh em tù nào đói quá lấy trộm một hai chén thóc là bị cùm kỷ luật cả tuần lễ. Nhận được biên bản này, bọn cai tù và giám thị ngậm đắng nuốt cay không thể nói gì nhưng tìm cách trả thù. Nhân dịp giỗ bố, Phạm Trần Anh có mời mấy thầy bên Dòng Đồng Công, TT. Trí Siêu (Lê Mạnh Thát), TT. Thích Thiện Minh và nhà văn Dõan Quốc Sĩ. Thế là trực trại ùa vào lập biên bản, sáng sau có lệnh cùm kỷ luật Phạm Trần Anh vô thời hạn. Tuy nhiên chỉ mấy tuần sau thôi cai tù phải thả anh ra vì cả trại xôn xao khi TT. Thích Thiện Minh tuyên bố tuyệt thực vô thời hạn nếu không thả Phạm Trần Anh ra.
Cũng trong khoảng thời gian này (tác giả không ghi rõ năm), tù cải tạo gốc quân-cán-chính VNCH từ ngòai Bắc chuyển về rất đông cho nên tác giả có dịp gặp gỡ một số khuôn mặt như Đại Tá Nguyễn Văn Lương (CTCT), Đại Tá Vũ Thế Quang, Đại Tá Huy, Đại Tá Không Quân Phùng Ngọc Ấn và Trung Tá Nhảy Dù Bùi Quyền v.v.. Anh em gặp nhau mừng mừng tủi tủi và đã tổ chức hát quốc ca, Tù Ca với bản nhạc nổi tiếng Đôi Giày Dũng Sĩ. Sau một vụ xô xát giữa tù nhân và vũ trang cảnh vệ, tác giả tâm tình là trong hàng ngũ công an cai tù vẫn có người ngấm ngầm chống cộng và âm thầm giúp đỡ anh em. Có một đại úy công an nói rằng “Nếu phục quốc đến đây thì tôi là người đầu tiên bắn hết chúng nó. “ (*) Chúng nó đây là công an VC.
Từ trang 105 tới trang 144 tác giả nói về Thung Lũng Tử Thần tức Trại Tù Xuân Phước nằm dưới một thung lũng có tám ngọn núi bao quanh thuộc rừng núi Tỉnh Phú Yên giáp biên giới Lào-Việt mà người tù Vũ Đình Thụy đã mô tả như sau:
Ai đã đến để một đời nhớ mãi
Ai đã qua nơi địa ngục trần gian
Ai đã sống những tháng ngày khốn khó
Thần chết rập rình, địa ngục đâu đây! (tr.106)
Tại nơi đây đã có ít ra năm linh mục đã chết trong biệt giam và cả ngàn ngôi mộ của anh em tù nhân. Nơi mà:
Trông thấy người khác chết
Trong lòng rất xót xa
Nủa thương xót kẻ chết
Nửa nghĩ tới thân ta ( Vũ Đình Thụy tr.107)
Trong thời gian này tác giả chung sống với TT. Thích Thiện Minh gọi thân mật là Thày Ba. Cả hai sau đó lần lượt vào nhà cùm kỷ luật. Để trấn áp tù nhân, nhà cùm chưa đủ, cai tù còn dùng roi điện bắt tù nhân nằm xuống đánh ngay trước cổng trại. Có điều trớ trêu là cùng linh mục nhưng có linh mục “con mồ côi “ không ai thăm nuôi sống đói khổ, lao động cực nhọc. Trong khi đó những linh mục khác có xóm đạo dư dả thăm nuôi ăn không hết nên thức ăn ngon, vật dụng đẹp, thuốc bổ đều mời cán bộ sơi dùm cả…và hầu như không chia xẻ với các linh mục khác chút gì gọi là bác ái cả!” (tr.114 &115). Theo người tù Nguyễn Quang thì nhiều người mong lập thành tích đái công chuộc tội trong đó có Thày Phạm Hồng Quang, LM Đinh Xuân Thụy “ông này không những cầm sổ kẹp nách, vừa ghi chép, vừa chạy giữa trưa nắng thật buồn cười, tay kia cầm gậy thọt thọt khắp nơi trong trại và cả chiều tối xem có tù nhân nào đào vách khóet tường không..” (tr.115). Thế nhưng theo Phạm Trần Anh, “ bên cạnh những con sâu làm rầu nồi canh, có một số linh mục đáng kính hy sinh tại Thung Lũng Tử Thần” như: LM Nguyễn Huy Chương bị kiên giam cho đến chết, LM Nguyễn Luân bị kiên giam, trước khi chết vẫn còn dặn dò mọi người hãy vì con người đấu tranh cho quyền làm người, LM Nguyễn Văn Vàng kiệt sức chết trong xà-lim, LM Phong kiệt sức chết khi lao động, LM Nguyễn Quang Minh (Vụ Án Vinh Sơn) bị đánh dập lá lách, trào máu họng chết.
Điều làm tôi ngạc nhiên nhất trong một trại tù kìm kẹp khốc liệt như thế mà lại có tài liệu học tập chống cộng gọi là “Báo Chui” do một số tay gan lì như Vũ Ánh, Phạm Chí Thành, Nguyễn Xuân Nghĩa, Thiếu Tá TQLC Võ Đằng Phương chủ trương rồi bị bắt giải về Phan Đăng Lưu để điều tra nhưng không tìm ra manh mối cho nên đem trở lại trại, nhốt vào xà-lim cho đến khi Ân Xá Quốc Tế can thiệp. Rồi lại có các tù nhân trẻ như Trần Minh Tuấn quê ở Bình Định dám rải truyền đơn ngay trong trại tù và Phạm Văn Thành, Nguyễn Văn Trung. Chính mấy anh em này đã làm Cuộc Nổi Dậy tại Xuân Phước ngày 28-10-1994.
Thung Lũng Tử Thần Xuân Phước cũng còn là “nơi dừng chân” (*) của các người tù như LS Trần Danh San, LS Nguyễn Chuyên, LS Lý Văn Hiệp và anh Nguyễn Chí Thịêp cựu Phó Tỉnh Trưởng Quảng Nam. Ngòai ra lại có cựu SV/QGHC Cao Văn Bình ra tòa thách thức quan tòa VC tuyên án tử hình. Thế nhưng tên chánh án thâm độc này tức tối nói rằng ” Mày muốn làm anh hùng hả? Tao chỉ cho mày một bản án chung thân, nghĩa là tù rục xương để mày chết lần chết mòn trong bốn bức tường đá, chứ dại gì cho mày chết ngay!” (tr.123). Anh Cao Văn Bình sau ba lần tự sát mới thành công để được thóat kiếp đọa đày. Lần cuối cùng anh nhảy vào chảo nước sôi kết liễu đời mình.
Vào năm 1991 tác giả có một chuyện vui khi bà cụ đến thăm trước khi đi Mỹ, có cho tác giả 800,000 (tiền VC). Anh đã dùng tiền này để nhờ giám thị trại mua một máy truyền hình để anh em coi cho đỡ buồn, nuôi hai con heo, khỏang 200 con gà và mấy chục kílô cá rô, cá trắm cỏ để “bồi dưỡng”cho anh em. Bọn cai tù mừng húm và hứa sẽ đề nghị giảm án xuống cho anh còn 20 năm. Bà cụ thấy con mình tù tội đã 16 năm cho nên nước mắt dưng dưng năn nỉ con viết đơn xin giảm án. Anh đã khóc vì tình thương của mẹ nhưng cảm khái nói “Mẹ đừng nói nữa. Con không bao giờ làm đâu. Con cam tội bất hiếu với mẹ còn hơn là nghe lời mẹ ký vào đơn xin giảm án..!!!” (tr.140) Phạm Trần Anh khác với Từ Thứ năm xưa vì mẹ mà về hàng Tào Tháo. Ngày nay Phạm Trần Anh thà chịu tội bất hiếu với mẹ chứ không bao giờ đầu hàng cộng sản và phản bội anh em. Đó chính là tinh thần Bất Khuất của thiên hồi ký này.
Trong những trang cuối cùng của phần hồi ký khi đã định cư tại Thành Phố San Diego, California, anh tâm tình lý do tại sao anh cho ra đời cuốn sách: “Trong Bữa Cơm Cay Đắng của Tổng Hội Cựu Sinh Viên QGHC tổ chức để ôn lại kỷ niệm và đọc thơ tù cho anh em, tôi không đến được cho nên viết những tản mạn tâm tình Đọan Trường Bất Khuất như để tạ lỗi cùng anh em.” (tr.142)
2) Phần thơ:
Như đã giới thiệu ở trên, trong phần thơ, ngòai khỏang 50 bài thơ của chính anh, Phạm Trần Anh đã đưa vào một số thơ tù không thể liệt kê hết ở đây mà chỉ lựớt qua một số như : Bài thơ Ác Mộng và Nói Chuyện Với Tử Thần của HT. Thích Quảng Độ, Ngày Quốc Nạn của TT. Thích Thiện Minh, Vô Đề dài 139 câu của Tú Kếu (Trần Đức Uyển) nay xin trích ra vài câu:
Chúng nó tới như một bày thú dữ
Mang tai ương tới từng nụ hoa non
Đá chảy mồ hôi, gạch đá cũng đau buồn
Bao nhiêu máu đã chan hòa mặt đất
Bao nhiêu ngày từng đó biến thành đêm
Bao nhiêu người, khi cờ đỏ treo lên
Trong lòng sáng, chợt bốn mùa ngục tối (Vô Đề, tr. 202)
Và đây là khí phách của người tù Tú Kếu:
Chín năm lăn lóc ở trong tù
Chưa một lời buồn tôi thốt ra
( Vô Đề tr. 206)
Đặc biệt anh đưa vào chín bài thơ tù của Trần Thúc Vũ - tên thật Bùi Kim Đính, Phi Đòan Không Thám 219, sau 17 năm tù, định cư vào Hoa Kỳ mất năm 2005 - mà bài thơ tôi thích nhất có tên Huyền Hoặc. Lời thơ có phong độ Đường Thi, nhưng trầm mặc an tĩnh như tâm hồn của một thiền sư. Nay xin giới thiệu ở đây:
Nhánh sông đời hệ lụy
Ta trôi theo từng ngày
Suối tuôn dòng chẳng nghỉ
Nước hồn nhiên vơi đầy
Bạc đầu cơn gió cuốn
Bao nhiêu rừng cây già
Nhấp nhô triền sóng cuộn
Nở bừng muôn đóa hoa…
Xế bao chiều nắng đục
Tóc vương hồn cỏ cây
Phất phơ sương khói nhạt
Mắt phai miền gió lay
Thân ta thêm từng ngày
Biển thêm cuồn cuộn sóng
Đất trời thêm từng giây
Võ vàng cơn ác mộng
Mai này đời im lặng
Đáy hồ thêm huyền hoặc
Lắng nghe lời vào đêm
Có còn không tiếng vạc ?
Mai này chân cỏ vàng
Khói sương chiều quạnh vắng
Ta từng dòng quẩn quanh
Thẫn thờ cơn nuớc lặng
Nước vẫn dòng khổ đau
Trái tim còn nghiệp chướng
Em nào hay biết đâu
Cõi lòng ta phiền muộn
Núi rừng ta trở về
Mưa nguồn thân lá mục
Xin vì nhau lắng nghe
Thì thầm cơn nước rút
Chỉ còn riêng đáy khe
Mảnh trăng khuya huyền hoặc.
(tr.167 &168)
Sau hết điều làm tôi vô cùng ngạc nhiên nữa là Phạm Trần Anh đã đưa vào một bài thơ của Hà Sĩ Phu một nhà tranh đấu đang là biểu tượng của giới sĩ phu Bắc Hà bây giờ. Đó là bài Lời Phật. Lời thơ không kêu gọi lật đổ, không hận thù mà thác lời dạy con để dùng trí tuệ (đuốc tuệ) tu thân dưỡng tánh. Khi mình tu thân dưỡng tánh rồi thì mình sẽ là người quân tử (Tu, Tề, Trị, Bình). Khi đã nhìn thấu lẽ Cùng- Thông của tạo hóa hoặc chỉ cần tu một tâm Từ Bi thôi, thì sẽ không còn làm khổ đời nữa. Bài thơ lục bát đơn sơ như sau:
Cho con trải một lần tù
Để con tròn một kiếp tu với đời
Kiếp người đau thế con ơi
Mỗi dòng con viết lệ rơi mấy lần?
Viết đi cho sạch nợ trần
Lâng lâng Đuốc Tuệ soi chân con về
(Trại Tù B14, Hà Nội Tháng 7,1996)
Nhân bài thơ của Hà Sĩ Phu tôi xin phép bàn rộng thêm. Giả sử sau này khi quý Ô. Nông Đức Mạnh, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Phú Trọng, Lê Hồng Anh…vào tù khi chế độ cộng sản xụp đổ. Các giám thị cải huấn có thể biếu quý ông mỗi người một cuốn Kinh Thánh hoặc vài cuốn Kinh Phật như Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh, Kinh Kim Cang v.v..tôi bảo đảm quý ông này, sau khi được thả ra, sẽ hiền khô, sẽ biết thương ngươi, vì quý ông đã thấy xác thân này chỉ tồn tại như một ánh chớp ngang trời, cuộc đời này, quyền thế, thịnh suy tựa như giọt sương mai trên đầu ngọn cỏ:
Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.
(Kệ tụng của Thiền Sư Vạn Hạnh)
Lời kết:
Trong phần giới thiệu cuốn sách, TT. Thích Thiện Minh viết “Hội đang sưu tầm danh sách hằng ngàn tù nhân chính trị bị nhà cầm quyền CSVN xử tử hình và xuất bản. Trong ý hướng đó chúng tôi xin mời quí đồng bào đọc những vần thơ của anh em tù nhân chính trị viết từ đáy địa ngục trần gian…” (tr.
Còn nhà thơ Phổ Đức (hiện đang còn ở trong nước) đã giới thiệu tập hồi ký như sau: ”Đọc thơ Phạm Trần Anh, những ai có một khối tình lớn của Tản Đà, một chút u hòai sẽ tâm đắc và cảm nhận như chính nỗi lòng của mình.” (tr.31)
Riêng tôi, tôi xin dùng bài thơ sau đây của Phạm Trần Anh để kết thúc bài giới thiệu. Đó là bài thơ thất ngôn tứ tuyệt nhan đề Sơn Hà Thệ. Đó cũng là bài thơ để kính tặng sư phụ của anh là Hòa Thượng Thích Đức Nhuận đã viên tịch.
Nhất nhật tại tù nhất nhật âu
Kỷ niên vong quốc kỷ niên sầu
Nam nhi tâm huyết sơn hà thệ
Ái quốc ưu dân chí bạch đầu
Dịch nôm:
Thề cùng sông núi
Mỗi ngày tù tội một lo âu
Bao năm mất nước bấy năm sầu
Một lòng thệ nguyện cùng sông núi
Yêu nước thương dân tới bạc đầu
Tâm tình của Phạm Trần Anh ngày nay cũng là tâm tình của bao nhiêu tù nhân chính trị, bao nhiêu nhà tranh đấu đang trực diện với bạo quyền từng giờ từng phút. Động lực tranh đấu ngày hôm nay chính là lòng ái quốc và lòng thương dân. Xin mấy ông cộng sản đừng vu vạ cho họ là phản động, là bị ngọai bang xúi giục. Bây giờ chẳng có ngọai bang nào thèm dòm ngó tới Việt Nam cả, ngọai trừ Trung Cộng.
Đào Văn Bình
(Califrornia ngày 4-10-07)
Cước chú: Dấu (*) là lời trích dẫn từ tác phẩm
Tác phẩm sẽ được ra mắt lần đầu tiên tại San Jose, California vào ngày 28-10-2007
Quý vị nào ở Hoa Kỳ muốn có sách xin gửi 20 đồng (kể cả cước phỉ gửi) về địa chỉ:
Anh Phạm
10095 Larson
Garden Grove,CA 92384
Tl: (714) 723-2798
Đào Văn Bình
Một bước đầu xin chuộc tội
Ngô Nhân Dụng Trong Bình Ngô Ðại Cáo do Nguyễn Trãi viết (Lê Thái Tổ ban bố, 1428) có câu “Vân Nam binh vị ngã quân sở ách ư Lê Hoa.” Bản dịch quen thuộc trong Việt Nam Sử Lược viết, “Binh Vân Nam nghẽn ở Lê Hoa” - tiếp, “sợ mà mất mật; Quân Mộc Thạnh tan chưng Cần Trạm, chạy để thoát thân!”
Lê Hoa là cửa ải thuộc nước ta vào thế kỷ 15. Ðại Việt Thông Sử của Lê Quý Ðôn chép, khi nhà Minh sai Mộc Thạnh đem quân từ Vân Nam sang tiếp viện cho quân Trung Quốc bị vây ở Ðông Quan (Hà Nội) thì Bình Ðịnh Vương Lê Lợi điều động Phạm Văn Xảo và Trịnh Khả đem quân lên Ải Lê Hoa ngăn chặn. Sau khi Liễu Thăng chết ở Chi Lăng, quân Mộc Thạnh tự rút, bị quân ta đuổi đánh tan tác ở Lê Hoa.
Có ai biết Ải Lê Hoa hiện nay ở đâu? Nếu coi bản đồ Trung Quốc bây giờ, chúng ta sẽ thấy tên Lê Hoa nằm trong tỉnh Vân Nam. Chắc các sử gia sau này có thể tìm hiểu nguyên do vì sao một cửa ải của nước Việt Nam, địa danh ghi trong Bình Ngô Ðại Cáo, lại chạy sang bên Tầu! Người Trung Quốc đã chiếm cửa ải đó từ bao giờ?
Cũng vậy, trong cuốn “Nhật Ký Trên Biên Giới Việt Trung” của bác sĩ người Pháp P. Neis có ghi chép và chụp hình các địa điểm ở vùng Ải Nam Quan, khi phái đoàn Pháp, đi thương thuyết với chính quyền nhà Thanh Trung Quốc về biên giới, trong những năm 1885-1887 (lúc đó Pháp đang đô hộ nước ta). Nhiều địa điểm ghi trong cuốn sách trên bây giờ cũng thuộc khu tự trị Quảng Tây, Trung Quốc.
Nước mạnh nuốt nước yếu, hàng xóm lớn ép nhỏ, gậm nhấm từng miếng đất một, thế kỷ này qua thế kỷ khác.
Nhưng chưa bao giờ nước Việt Nam lại để mất những vùng hải đảo rộng lớn, bị cướp ngay trước mắt, và do một chính quyền người Việt đang cai trị một nửa nước Việt tình nguyện hiến dâng. Ðó là chủ quyền trên những hòn đảo ở Trường Sa và Hoàng Sa đã bị Trung Quốc cướp.
Người Việt sẽ không bao giờ công nhận việc Trung Quốc chiếm đóng các hòn đảo mà tổ tiên đã khai phá, sử dụng, gìn giữ từ nhiều thế kỷ trước. Hiện nay chúng ta không thể đưa vụ cướp đất này ra Tòa Án La Haye vì tòa án quốc tế chỉ xét xử các vụ tranh chấp khi nào chính phủ 2 quốc gia liên hệ đồng ý ra tòa. Chính phủ cộng sản ở Việt Nam chưa bao giờ tỏ ý muốn nhờ tòa án quốc tế xử vụ này, mà chính phủ Cộng Sản Trung Quốc thì chắc chắn không muốn. Họ đã chiếm các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, không muốn ai đụng tới. Việt Nam hiện nay cũng không đủ binh lực để đánh bại Trung Quốc ở Hoàng Sa, Trường Sa, cho nên không ai bàn tới một kế hoạch tái chiếm. Chỉ có một cách là đồng bào ta ở khắp nơi phải biểu tình phản đối và hô hào cả thế giới tẩy chay Trung Quốc về mọi phương diện, bất cứ ở chỗ nào, như người dân Tây Tạng vẫn làm. Người Tây Tạng đã tranh đấu như vậy từ nửa thế kỷ nay không nghỉ, họ chưa đạt được kết quả cụ thể nào, nhưng họ không bao giờ để cho chính quyền Cộng Sản Trung Quốc được yên thân khi còn tiếp tục chiếm đóng đất nước của họ.
Nhưng chính quyền cộng sản Việt Nam phải chịu trách nhiệm về việc để mất các hòn đảo ở Hoàng Sa, Trường Sa. Nếu có can đảm, các người lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam phải đứng ra công khai phản đối chính quyền Trung Quốc và dùng các biện pháp cứng rắn hơn trong các mối liên hệ giữa hai nước, từ các việc hợp tác kinh tế đến trao đổi thương mại. Trung Quốc hiện đang cần thị trường và nguyên liệu của Ðông Nam Á, để bành trường ảnh hưởng kinh tế. Việt Nam là nước đông dân nhất trong khối ASEAN, nếu chính quyền Việt Nam dám phản đối Trung Quốc thì các nước Ðông Nam Á sẽ phải ủng hộ. Phải tạo áp lực hết năm này sang năm khác, như người Tây Tạng lưu vong vẫn đang làm!
Nhưng điều đầu tiên mà chính quyền Cộng Sản Việt Nam phải làm là chính thức phủ nhận lá thư của ông Phạm Văn Ðồng gửi ông Chu Ân Lai vào năm 1958, trong đó ông Ðồng nhân danh thủ tướng nước Việt Nam tỏ ý tán thành bản tuyên bố về lãnh hải của Trung Quốc. Bộ Ngoại Giao Trung Quốc luôn luôn luôn vin vào lá thư này để biện minh với dư luận thế giới về chủ quyền của họ trên Hoàng Sa và Trường Sa.
Trong mạng lưới của Bộ Ngoại Giao Trung Quốc, như vào ngày 17 Tháng Mười Một năm 2000, họ nêu lên những chứng cớ về chủ quyền của họ trên các quần đảo này (www.fmprc.gov.cn/eng/). Ngoài việc viễn dẫn các lời tuyên bố của các chính khách Anh, Nhật Bản, các văn bản sai lầm của Pháp, tài liệu của Bộ Ngoại Giao Trung Quốc dành một đoạn dài nêu lên các bằng cớ do Cộng Sản Việt Nam tạo ra cho họ.
Chứng cớ đầu tiên là vào Tháng Sáu năm 1956, Thứ Trưởng Ngoại Giao Việt Nam (Hà Nội) Ung Văn Khiêm đã nói với người xử lý thường vụ Tòa Ðại Sứ Trung Quốc ở Hà Nội, Li Zhimin, rằng, “theo các tài liệu của Việt Nam thì các quần đảo Tây Sa (ta gọi là Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa) theo lịch sử là thuộc lãnh thổ Trung Quốc.” Ông Lê Ðốc, đứng đầu phân vụ Á Châu của Bộ Ngoại Giao Hà Nội có mặt lúc đó còn nói thêm rằng theo lịch sử các đảo trên đã thuộc Trung Quốc “từ đời nhà Tống” (Thế kỷ 10 tới 13)!
Chứng cớ hiển nhiên hơn, theo Bộ Ngoại Giao Trung Quốc, là tờ nhật báo Nhân Dân ở Hà Nội, ngày 6 Tháng Chín năm 1956 đã đăng một bài đầy đủ chi tiết cả bản tuyên bố của chính phủ Trung Quốc phát hành 2 ngày trước đó. Khi cơ quan chính thức của đảng Cộng Sản Việt Nam đăng bài này, tức là họ đã công nhận các ý kiến của Trung Quốc. Lúc đó Hà Nội đang lo dập tắt các nhóm trí thức và văn nghệ đòi tự do ngôn luận Nhân Văn Giai Phẩm, đang chịu đựng các hậu quả thảm khốc của vụ Cải Cách Ruộng Ðất, và chuẩn bị việc xâm lăng miền Nam. Bản tuyên bố được báo Nhân Dân đăng lên nói rõ ràng là lãnh hải Trung Quốc bao gồm cả các quần đảo trong biển Nam Hải. Thời gian này cũng là lúc Trung Quốc đang gây căng thẳng ở vùng eo biển Ðài Loan (nhưng không bao giờ họ tiến quân đánh Ðài Loan). Ngày 14 Tháng Chín ông Phạm Văn Ðồng gửi lá thư chính thức “tán thành” quan điểm của Trung Quốc về lãnh hải.
Bằng cớ thứ ba mà Bộ Ngoại Giao Trung Quốc nêu lên là các sách giáo khoa môn Ðịa Lý do nhà nước Cộng Sản Việt Nam in năm 1974, viết rằng các “hòn đảo từ quần đảo Nam Sa, Tây Sa, qua Hải Nam, Ðài Loan, là một bức trường thành bảo vệ Trung Quốc.”
Những điều trên viết trên mạng lưới của Bộ Ngoại Giao Trung Quốc chỉ lập lại những điều đã được đăng trong Bắc Kinh Chu Báo (China Review) ra ngày 18 Tháng Hai năm 1980, trong đó còn nhiều chi tiết khác kể cả hình lá thư ô nhục của Phạm Văn Ðồng.
Trong tuần báo Far Eastern Economic Review xuất bản ở Hồng Kông ngày 16 Tháng Ba năm 1979, ông Lý Tiên Niệm, phó thủ tướng Trung Quốc đã khẳng định rằng các người lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam đã nhường các quần đảo cho Trung Quốc. Lúc đó Trung Quốc mới đem quân san thành bình địa các thành phố Việt Nam ở biên giới. Một điều đáng chú ý là cũng trong thời gian này, chính phủ Trung Quốc tỏ ra thân thiện với Mã Lai Á và Phi Luật Tân. Trung Quốc cho biết họ sẵn sàng thảo luận với hai quốc gia này về các vụ tranh chấp chủ quyền trong các đảo Hoàng Sa và Trường Sa; nhưng Bắc Kinh tuyệt đối không nhắc nhở gì tới Việt Nam!
Một ký giả báo Far Eastern Economic Review, ông Frank Ching viết trên báo này, ngày 10 Tháng Hai năm 1994 một bài kiểm điểm lại vụ Hoàng Sa và Trường Sa. Ông Chinh mỉa mai rằng Hồ Chí Minh và Cộng Sản Việt Nam đã “bán” (sell trong nguyên văn) các hòn đảo này cho Cộng Sản Trung Quốc vì họ cần Trung Quốc giúp trong việc xâm chiếm miền Nam. Frank Ching viết, “Vì nóng lòng muốn gây ra một cuộc chiến tranh tàn hại cả hai miền Nam, Bắc; và muốn đóng góp vào sự nghiệp cộng sản quốc tế, Hồ Chí Minh đã hứa hẹn, một cách mất phẩm giá (did promise, without dignity) cho Trung Quốc chiếm lấy một phần đất trong tương lai, trong lúc chưa biết rằng có nuốt được miền Nam hay không!” Trong bài báo năm 1994, Frank Ching cũng nhắc lại việc hải quân Việt Nam Cộng Hòa đã tử chiến bảo vệ Hoàng Sa năm 1974; và mỉa mai rằng trong thời chiến tranh Cộng Sản miền Bắc luôn miệng chỉ trích các chính phủ miền Nam là tay sai Mỹ, bán nước. “Bây giờ, 20 năm sau, chúng ta thấy rõ trong lúc đó chính quyền Sài Gòn đứng lên bảo vệ quyền lợi nước Việt Nam một cách mạnh mẽ hơn chính quyền ở Hà Nội!”
Về phía Cộng Sản Việt Nam, vào năm 1979 sau khi bị Trung Quốc “dậy một bài học” Phạm Văn Ðồng đã lên tiếng biện hộ cho mình, nói rằng lá thư “tán thành” của ông được ký trong lúc đang chiến tranh, “Hai nước Việt Trung rất thân thiết và tin tưởng nhau. Trung Quốc đang giúp Việt Nam hết sức. Trong hoàn cảnh đó, lãnh đạo Việt Nam ủng hộ lập trường Trung Quốc là điều cần thiết.” Ông Ðồng còn nói rằng việc ông tán thành lập trường Trung Quốc là “để chiến đấu cho độc lập và tự do của tổ quốc(!)”(Far Eastern Economic Review, 16 March 1979). Ông Nguyễn Mạnh Cầm, ngoại trưởng Việt Nam cũng lập lại lý luận của Phạm Văn Ðồng, rằng việc công nhận quan điểm của Trung Quốc là do tình thế bắt buộc! Nói như vậy bịp được dân trong nước, nhưng không thể dùng trong việc bang giao được!
Người Việt chúng ta biết, Cộng Sản ký các hiệp định quốc tế, ở Genève (1954), ở Paris 1972, trong lúc đặt bút ký đã tính mưu sau này sẽ xóa bỏ chữ ký. Nhưng chữ ký của Phạm Văn Ðồng gửi cho Chu Ân Lai còn dính mãi, không xóa được! Frank Ching, trong bài báo nêu trên, viết “một lá thư ngoại giao... không dễ đem tẩy xóa, khi một nước nhỏ như Việt Nam lại tính bầy trò lừa bịp (một nước lớn như) Trung Quốc.”
Cộng Sản Việt Nam đã bán các hòn đảo của tổ tiên để đổi lấy súng đạn đi giết đồng bào miền Nam, lấy cớ đuổi Mỹ nhưng nay lại bám lấy tư bản Mỹ để tự biến mình thành tư bản. Hãy can đảm xóa bỏ lỗi lầm cũ bằng cách phủ nhận lá thư của Phạm Văn Ðồng. Hãy lý luận rằng trong thời gian 1956 các đảo ở Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, vì nằm dưới vĩ tuyến 17, không thuộc thế giới cộng sản. Cho nên lá thư của ông Phạm Văn Ðồng viết đã nhường một phần đất ngoài thẩm quyền của ông ta! Các ông Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Phạm Văn Ðồng đã bán những thứ không thuộc quyền của mình, hệ quả là những lời nói và chữ ký đó không có giá trị nào cả! Ðây là một bước đầu để xin chuộc tội với dân tộc!
Ngô Nhân Dụng
Ngô Nhân Dụng Trong Bình Ngô Ðại Cáo do Nguyễn Trãi viết (Lê Thái Tổ ban bố, 1428) có câu “Vân Nam binh vị ngã quân sở ách ư Lê Hoa.” Bản dịch quen thuộc trong Việt Nam Sử Lược viết, “Binh Vân Nam nghẽn ở Lê Hoa” - tiếp, “sợ mà mất mật; Quân Mộc Thạnh tan chưng Cần Trạm, chạy để thoát thân!”
Lê Hoa là cửa ải thuộc nước ta vào thế kỷ 15. Ðại Việt Thông Sử của Lê Quý Ðôn chép, khi nhà Minh sai Mộc Thạnh đem quân từ Vân Nam sang tiếp viện cho quân Trung Quốc bị vây ở Ðông Quan (Hà Nội) thì Bình Ðịnh Vương Lê Lợi điều động Phạm Văn Xảo và Trịnh Khả đem quân lên Ải Lê Hoa ngăn chặn. Sau khi Liễu Thăng chết ở Chi Lăng, quân Mộc Thạnh tự rút, bị quân ta đuổi đánh tan tác ở Lê Hoa.
Có ai biết Ải Lê Hoa hiện nay ở đâu? Nếu coi bản đồ Trung Quốc bây giờ, chúng ta sẽ thấy tên Lê Hoa nằm trong tỉnh Vân Nam. Chắc các sử gia sau này có thể tìm hiểu nguyên do vì sao một cửa ải của nước Việt Nam, địa danh ghi trong Bình Ngô Ðại Cáo, lại chạy sang bên Tầu! Người Trung Quốc đã chiếm cửa ải đó từ bao giờ?
Cũng vậy, trong cuốn “Nhật Ký Trên Biên Giới Việt Trung” của bác sĩ người Pháp P. Neis có ghi chép và chụp hình các địa điểm ở vùng Ải Nam Quan, khi phái đoàn Pháp, đi thương thuyết với chính quyền nhà Thanh Trung Quốc về biên giới, trong những năm 1885-1887 (lúc đó Pháp đang đô hộ nước ta). Nhiều địa điểm ghi trong cuốn sách trên bây giờ cũng thuộc khu tự trị Quảng Tây, Trung Quốc.
Nước mạnh nuốt nước yếu, hàng xóm lớn ép nhỏ, gậm nhấm từng miếng đất một, thế kỷ này qua thế kỷ khác.
Nhưng chưa bao giờ nước Việt Nam lại để mất những vùng hải đảo rộng lớn, bị cướp ngay trước mắt, và do một chính quyền người Việt đang cai trị một nửa nước Việt tình nguyện hiến dâng. Ðó là chủ quyền trên những hòn đảo ở Trường Sa và Hoàng Sa đã bị Trung Quốc cướp.
Người Việt sẽ không bao giờ công nhận việc Trung Quốc chiếm đóng các hòn đảo mà tổ tiên đã khai phá, sử dụng, gìn giữ từ nhiều thế kỷ trước. Hiện nay chúng ta không thể đưa vụ cướp đất này ra Tòa Án La Haye vì tòa án quốc tế chỉ xét xử các vụ tranh chấp khi nào chính phủ 2 quốc gia liên hệ đồng ý ra tòa. Chính phủ cộng sản ở Việt Nam chưa bao giờ tỏ ý muốn nhờ tòa án quốc tế xử vụ này, mà chính phủ Cộng Sản Trung Quốc thì chắc chắn không muốn. Họ đã chiếm các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, không muốn ai đụng tới. Việt Nam hiện nay cũng không đủ binh lực để đánh bại Trung Quốc ở Hoàng Sa, Trường Sa, cho nên không ai bàn tới một kế hoạch tái chiếm. Chỉ có một cách là đồng bào ta ở khắp nơi phải biểu tình phản đối và hô hào cả thế giới tẩy chay Trung Quốc về mọi phương diện, bất cứ ở chỗ nào, như người dân Tây Tạng vẫn làm. Người Tây Tạng đã tranh đấu như vậy từ nửa thế kỷ nay không nghỉ, họ chưa đạt được kết quả cụ thể nào, nhưng họ không bao giờ để cho chính quyền Cộng Sản Trung Quốc được yên thân khi còn tiếp tục chiếm đóng đất nước của họ.
Nhưng chính quyền cộng sản Việt Nam phải chịu trách nhiệm về việc để mất các hòn đảo ở Hoàng Sa, Trường Sa. Nếu có can đảm, các người lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam phải đứng ra công khai phản đối chính quyền Trung Quốc và dùng các biện pháp cứng rắn hơn trong các mối liên hệ giữa hai nước, từ các việc hợp tác kinh tế đến trao đổi thương mại. Trung Quốc hiện đang cần thị trường và nguyên liệu của Ðông Nam Á, để bành trường ảnh hưởng kinh tế. Việt Nam là nước đông dân nhất trong khối ASEAN, nếu chính quyền Việt Nam dám phản đối Trung Quốc thì các nước Ðông Nam Á sẽ phải ủng hộ. Phải tạo áp lực hết năm này sang năm khác, như người Tây Tạng lưu vong vẫn đang làm!
Nhưng điều đầu tiên mà chính quyền Cộng Sản Việt Nam phải làm là chính thức phủ nhận lá thư của ông Phạm Văn Ðồng gửi ông Chu Ân Lai vào năm 1958, trong đó ông Ðồng nhân danh thủ tướng nước Việt Nam tỏ ý tán thành bản tuyên bố về lãnh hải của Trung Quốc. Bộ Ngoại Giao Trung Quốc luôn luôn luôn vin vào lá thư này để biện minh với dư luận thế giới về chủ quyền của họ trên Hoàng Sa và Trường Sa.
Trong mạng lưới của Bộ Ngoại Giao Trung Quốc, như vào ngày 17 Tháng Mười Một năm 2000, họ nêu lên những chứng cớ về chủ quyền của họ trên các quần đảo này (www.fmprc.gov.cn/eng/). Ngoài việc viễn dẫn các lời tuyên bố của các chính khách Anh, Nhật Bản, các văn bản sai lầm của Pháp, tài liệu của Bộ Ngoại Giao Trung Quốc dành một đoạn dài nêu lên các bằng cớ do Cộng Sản Việt Nam tạo ra cho họ.
Chứng cớ đầu tiên là vào Tháng Sáu năm 1956, Thứ Trưởng Ngoại Giao Việt Nam (Hà Nội) Ung Văn Khiêm đã nói với người xử lý thường vụ Tòa Ðại Sứ Trung Quốc ở Hà Nội, Li Zhimin, rằng, “theo các tài liệu của Việt Nam thì các quần đảo Tây Sa (ta gọi là Hoàng Sa) và Nam Sa (Trường Sa) theo lịch sử là thuộc lãnh thổ Trung Quốc.” Ông Lê Ðốc, đứng đầu phân vụ Á Châu của Bộ Ngoại Giao Hà Nội có mặt lúc đó còn nói thêm rằng theo lịch sử các đảo trên đã thuộc Trung Quốc “từ đời nhà Tống” (Thế kỷ 10 tới 13)!
Chứng cớ hiển nhiên hơn, theo Bộ Ngoại Giao Trung Quốc, là tờ nhật báo Nhân Dân ở Hà Nội, ngày 6 Tháng Chín năm 1956 đã đăng một bài đầy đủ chi tiết cả bản tuyên bố của chính phủ Trung Quốc phát hành 2 ngày trước đó. Khi cơ quan chính thức của đảng Cộng Sản Việt Nam đăng bài này, tức là họ đã công nhận các ý kiến của Trung Quốc. Lúc đó Hà Nội đang lo dập tắt các nhóm trí thức và văn nghệ đòi tự do ngôn luận Nhân Văn Giai Phẩm, đang chịu đựng các hậu quả thảm khốc của vụ Cải Cách Ruộng Ðất, và chuẩn bị việc xâm lăng miền Nam. Bản tuyên bố được báo Nhân Dân đăng lên nói rõ ràng là lãnh hải Trung Quốc bao gồm cả các quần đảo trong biển Nam Hải. Thời gian này cũng là lúc Trung Quốc đang gây căng thẳng ở vùng eo biển Ðài Loan (nhưng không bao giờ họ tiến quân đánh Ðài Loan). Ngày 14 Tháng Chín ông Phạm Văn Ðồng gửi lá thư chính thức “tán thành” quan điểm của Trung Quốc về lãnh hải.
Bằng cớ thứ ba mà Bộ Ngoại Giao Trung Quốc nêu lên là các sách giáo khoa môn Ðịa Lý do nhà nước Cộng Sản Việt Nam in năm 1974, viết rằng các “hòn đảo từ quần đảo Nam Sa, Tây Sa, qua Hải Nam, Ðài Loan, là một bức trường thành bảo vệ Trung Quốc.”
Những điều trên viết trên mạng lưới của Bộ Ngoại Giao Trung Quốc chỉ lập lại những điều đã được đăng trong Bắc Kinh Chu Báo (China Review) ra ngày 18 Tháng Hai năm 1980, trong đó còn nhiều chi tiết khác kể cả hình lá thư ô nhục của Phạm Văn Ðồng.
Trong tuần báo Far Eastern Economic Review xuất bản ở Hồng Kông ngày 16 Tháng Ba năm 1979, ông Lý Tiên Niệm, phó thủ tướng Trung Quốc đã khẳng định rằng các người lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam đã nhường các quần đảo cho Trung Quốc. Lúc đó Trung Quốc mới đem quân san thành bình địa các thành phố Việt Nam ở biên giới. Một điều đáng chú ý là cũng trong thời gian này, chính phủ Trung Quốc tỏ ra thân thiện với Mã Lai Á và Phi Luật Tân. Trung Quốc cho biết họ sẵn sàng thảo luận với hai quốc gia này về các vụ tranh chấp chủ quyền trong các đảo Hoàng Sa và Trường Sa; nhưng Bắc Kinh tuyệt đối không nhắc nhở gì tới Việt Nam!
Một ký giả báo Far Eastern Economic Review, ông Frank Ching viết trên báo này, ngày 10 Tháng Hai năm 1994 một bài kiểm điểm lại vụ Hoàng Sa và Trường Sa. Ông Chinh mỉa mai rằng Hồ Chí Minh và Cộng Sản Việt Nam đã “bán” (sell trong nguyên văn) các hòn đảo này cho Cộng Sản Trung Quốc vì họ cần Trung Quốc giúp trong việc xâm chiếm miền Nam. Frank Ching viết, “Vì nóng lòng muốn gây ra một cuộc chiến tranh tàn hại cả hai miền Nam, Bắc; và muốn đóng góp vào sự nghiệp cộng sản quốc tế, Hồ Chí Minh đã hứa hẹn, một cách mất phẩm giá (did promise, without dignity) cho Trung Quốc chiếm lấy một phần đất trong tương lai, trong lúc chưa biết rằng có nuốt được miền Nam hay không!” Trong bài báo năm 1994, Frank Ching cũng nhắc lại việc hải quân Việt Nam Cộng Hòa đã tử chiến bảo vệ Hoàng Sa năm 1974; và mỉa mai rằng trong thời chiến tranh Cộng Sản miền Bắc luôn miệng chỉ trích các chính phủ miền Nam là tay sai Mỹ, bán nước. “Bây giờ, 20 năm sau, chúng ta thấy rõ trong lúc đó chính quyền Sài Gòn đứng lên bảo vệ quyền lợi nước Việt Nam một cách mạnh mẽ hơn chính quyền ở Hà Nội!”
Về phía Cộng Sản Việt Nam, vào năm 1979 sau khi bị Trung Quốc “dậy một bài học” Phạm Văn Ðồng đã lên tiếng biện hộ cho mình, nói rằng lá thư “tán thành” của ông được ký trong lúc đang chiến tranh, “Hai nước Việt Trung rất thân thiết và tin tưởng nhau. Trung Quốc đang giúp Việt Nam hết sức. Trong hoàn cảnh đó, lãnh đạo Việt Nam ủng hộ lập trường Trung Quốc là điều cần thiết.” Ông Ðồng còn nói rằng việc ông tán thành lập trường Trung Quốc là “để chiến đấu cho độc lập và tự do của tổ quốc(!)”(Far Eastern Economic Review, 16 March 1979). Ông Nguyễn Mạnh Cầm, ngoại trưởng Việt Nam cũng lập lại lý luận của Phạm Văn Ðồng, rằng việc công nhận quan điểm của Trung Quốc là do tình thế bắt buộc! Nói như vậy bịp được dân trong nước, nhưng không thể dùng trong việc bang giao được!
Người Việt chúng ta biết, Cộng Sản ký các hiệp định quốc tế, ở Genève (1954), ở Paris 1972, trong lúc đặt bút ký đã tính mưu sau này sẽ xóa bỏ chữ ký. Nhưng chữ ký của Phạm Văn Ðồng gửi cho Chu Ân Lai còn dính mãi, không xóa được! Frank Ching, trong bài báo nêu trên, viết “một lá thư ngoại giao... không dễ đem tẩy xóa, khi một nước nhỏ như Việt Nam lại tính bầy trò lừa bịp (một nước lớn như) Trung Quốc.”
Cộng Sản Việt Nam đã bán các hòn đảo của tổ tiên để đổi lấy súng đạn đi giết đồng bào miền Nam, lấy cớ đuổi Mỹ nhưng nay lại bám lấy tư bản Mỹ để tự biến mình thành tư bản. Hãy can đảm xóa bỏ lỗi lầm cũ bằng cách phủ nhận lá thư của Phạm Văn Ðồng. Hãy lý luận rằng trong thời gian 1956 các đảo ở Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, vì nằm dưới vĩ tuyến 17, không thuộc thế giới cộng sản. Cho nên lá thư của ông Phạm Văn Ðồng viết đã nhường một phần đất ngoài thẩm quyền của ông ta! Các ông Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Phạm Văn Ðồng đã bán những thứ không thuộc quyền của mình, hệ quả là những lời nói và chữ ký đó không có giá trị nào cả! Ðây là một bước đầu để xin chuộc tội với dân tộc!
Ngô Nhân Dụng




