Chiến Sĩ QLVNCH

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

Bảo tàng THUYỀN NHÂN VNCH

Image

Vào cuối tuần qua , 25 tháng 8 . Tại Bắc Cali - San Jose đã có buổi lễ khánh thành bảo tàng Thuyền Nhân và Việt nam Cộng Hòa . Bảo tàng này là nơi để những chiến tích về Thuyền Nhân khi ra đi Vượt Biên cùng các chiến tích về QLVNCH = Người sáng lập ra Bảo tàng Thuyền nhân này là cựu Đại tá Giao Chỉ Vũ văn Lộc . Khoảng 500 đồng hương và quan khách Mỹ đã tham dự buổi lễ khánh thành .

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Một ngày của tổng trừ bị Mũ Xanh
Chủ nhật vừa qua, buổi trưa ở nhà hàng Sam Kee tại San Jose người ta thấy có nhiều bóng dáng quân phục một thời đứng bên nhau.

Trở đi trở lại toàn là các anh em đã từng sinh hoạt suốt bao năm qua. Nhảy dù, Biệt động quân, Lực lượng đặc biệt, Thủy quân lục chiến, Thủ đức, Nữ quân nhân ...

Trên sân khấu, một tấm bảng giăng ngang che cả rồng phượng của nhà hàng mừng đám cưới. Trên nền xanh có hàng chữ trắng. Sinh Nhật Thủy Quân Lục Chiến. Mũ xanh ra đời 53 năm về trước. Đại tá Ngô Văn Định lữ đoàn trưởng là một trong những người hạ thành Quảng Trị đứng lên nói đôi lời. Bên dưới cử tọa còn lao xao. Từ trên bục nhà hàng cơm Tàu, người chỉ huy lữ đoàn đã từng đội mũ xanh suốt 53 năm nhìn xuống. Ông chợt thấy mắt mờ đi, đâu đây là hình ảnh những người lính cũ đã hy sinh. Hai mươi mốt năm đi lính, Ngô Văn Định chỉ biết có binh chủng mũ xanh. Tuổi lính của người trai Hà Nội là tuổi đời của Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam. Bốn lần bị thương, 21 ngành dương liễu, đệ tam đẳng bảo quốc huân chương, 4 lần đặc cách mặt trận. Ba mươi hai năm di tản lưu vong, 22 năm làm điện tử. Còn lại 10 năm về hưu nuôi vợ ngày đêm. Người em gái hậu phương ngày xưa nay chỉ còn xác phàm ở lại mà hồn xuân đã bao năm lãng đãng chân trời.
Image Ngày xưa mũ xanh Ngô văn Định từ Trung Đội Trưởng lên Đại Đội Trưởng qua Tiểu Đoàn Trưởng Trâu Điên rồi đến lúc chỉ huy các lữ đoàn, bao nhiêu là chiến binh thuộc quyền đã hy sinh. Hơn 30 năm trước, chiến tranh chính trị Việt Nam Cộng Hòa đã làm con tính cộng. Theo đài Cộng sản Hà Nội phóng đại con số Nhảy Dù và Thủy Quân Lục Chiến bị hy sinh cộng lại thì bên ta chết hết 10 sư đoàn mũ đỏ và 10 sư đoàn mũ xanh.

Nhưng tại sao mà hai sư đoàn tổng trừ bị của Miền Nam vẫn còn đầy đủ và luôn luôn có mặt khắp các chiến trường từ Nam ra Bắc.

Trên thực tế phòng nhì Tổng Tham Mưu của ta thống kê cứ mỗi người lính tổng trừ bị hy sinh thì phía chính quy Miền Bắc tổn thất bốn lần nhiều hơn.

Phòng nhất Tổng Tham Mưu ước tính suốt 20 năm chinh chiến từ 1954 đến 1974 hai sư đoàn Tổng Trừ Bị thay quân 3 lần. Số tổn thất của Dù và Thủy Quân Lục Chiến cao hơn tất cả các binh chủng. Số thương vong của Mũ Xanh và Mũ Đỏ trong chiến tranh Việt Nam tương đương với 6 sư đoàn chia đều cho hai binh chủng trong một phần tư thế kỷ chiến tranh. Và như thế hàng chục ngàn thanh niên mũ đỏ mũ xanh đã ra đi.

Vào trưa chủ nhật cuối tháng 9, ông lính già mũ xanh nhìn xuống anh em, chỉ còn lại một số chiến binh may mắn chưa chết thuộc thành phần sau cùng của sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến. Người trẻ nhất trên 50 tuổi, người cao niên đã tới bát tuần. Phải mà cuộc chiến tiếp tục thì chắc hẳn những người này cũng sẽ không có mặt tại nhà hàng hôm nay.

Vì vậy nên ông đơn vị trưởng lữ đoàn đã nghẹn ngào nói chẳng nên lời. Ông đứng đó mà hồn bay về với hàng ngàn chiến binh mũ xanh đã ngã xuống bên cổ thành Đinh Công Tráng tại Quảng Trị. Anh em ta còn ngồi ở đây, sau cùng cũng chỉ là những người lính chưa chết.

Những vì sao, ai còn ai mất
Chúng tôi ngồi dự Sinh Nhật Thủy Quân Lục Chiến bên cạnh tướng Nguyễn Khắc Bình. Có danh sách gần 200 tướng lãnh Việt Nam Cộng Hòa trong tay. Chúng tôi điểm qua xem ai còn ai mất! Đây là tài liệu dành cho Bảo Tàng Viện của Việt Nam Cộng Hòa tại San Jose .

Trải qua 21 năm Miền Nam xây dựng hai nền Cộng Hòa, tướng lãnh trở thành một giai cấp tiêu biểu cho thành phần lãnh đạo quốc gia trong chiến tranh. Vừa chiến đấu vừa xây dựng, cả nước mặc áo lính. Đêm đêm nghe tiếng đại bác. Khắp quê hương hỏa châu thắp sáng chân trời. Ở đâu cũng toàn là chinh phu và chinh phụ. Lính chết mà dân cũng chết. Đi lại thì chết vì mìn, sống trong nhà thì chết vì pháo kích.

Tướng lãnh là giới chức cao niên và thâm niên trong quân đội cũng lần lượt hy sinh. Cũng xếp hàng vào tù cải tạo. Cũng lưu vong trong tủi nhục.

Tôi hỏi anh Bùi Đức Lạc. Lạc nói chỗ này ghi sai. Bên nhảy dù trung tướng Dư Quốc Đống người Rạch Giá còn sống, thiếu tướng Lê Quang Lưỡng là tư lệnh cuối cùng mới chết. Các trung tướng gốc nhẩy dù đã ra đi là ông Trưởng, ông Thi. Ông đại tướng Viên vẫn còn ở lại.

Ngô Văn Định bên thủy Quân Lục Chiến còn nhớ khá nhiều về các cấp chỉ huy. Anh nói ông Lê Nguyên Khang thì đi rồi, nhưng ông Bùi Thế Lân vẫn điện thoại với tôi, chưa đi đâu, còn lâu!

Có chỗ danh sách ghi tên vị tướng lãnh mà sao không ai nghe nói. Đó là các vị đại tá chết trước 1975 đã được truy thăng nên không có nhiều tin tức phổ biến.

Đọc tên các niên trưởng tướng lãnh thấy cả một chân trời chiến tranh đầy kỷ niệm trở về. Mỗi cấp chỉ huy là một huyền thoại. Từ đơn vị cho đến chiến trường. Từ thời binh lửa cho đến giai đoạn lao tù rồi di tản, HO hay đoàn tụ. Hào hùng, đắng cay và nhục nhã. Xấu và tốt. Lúc tốt lúc xấu. Có ông trước sau như một. Có ông tiền hậu bất nhất. Ai thì cũng là con người. Con người thuộc vào một thế hệ lạ lùng. Quả thực không có thế hệ thanh niên nào trải qua một thời kỳ thử lửa tàn khốc như người Việt hậu bán thế kỷ 20.

Anh cả Trường Sơn
Sau khi dự Sinh Nhật của Thủy quân lục chiến về nhà, mở máy điện toán để vào Thế Giới Ảo đọc truyện anh em. Chợt có tin báo trung tướng Vĩnh Lộc qua đời ở Texas tuổi thọ đã ngoài 80. Khi một vì sao đã lên đến bát tuần đại khánh thì chuyện ra đi cũng không phải là điều bất ngờ. Tuy nhiên, sân khấu của anh em cựu chiến binh càng về khuya tình nghĩa lại càng rạt rào.

Cánh nhà binh xôn xao hỏi thăm nhau để viết lời ai điếu kèm theo đôi hàng tiểu sử. Đặc biệt phe sân khấu văn học nghệ thuật lại có vẻ chú trọng khác thường. Hóa ra anh chị em nhớ đến danh ca Minh Hiếu, vốn là cô hạ sĩ danh dự một thời của người anh cả Trường Sơn. Ca sĩ Minh Hiếu hiện nay là phu nhân của Tướng Vĩnh Lộc. Giới ca nhạc sĩ của cộng đồng Việt Nam hải ngoại là một thành phần đông đảo nên chắc chắn sự chia buồn cũng sẽ vang dội khắp bốn vùng chiến thuật.

Tuy nhiên, bạn Hà Mai Việt thiết giáp đã phối kiểm nguồn tin với Minh Hiếu và cho biết tướng Vĩnh Lộc dù trên 83 tuổi nhưng vẫn an nhiên tự tại. Hiện nay ông không có đau ốm hay ra vào bệnh viện gì cả.

Và như vậy, vị tư lệnh quân khu Cao Nguyên cùng thời với khói lửa Pleime trở thành một trong số người hiếm hoi còn sống được đọc tin mình đã ra đi.
Nhạc sĩ Trần thiện Thanh ngày xưa viết lời ca cho chiến trường Tây Nguyên, dù nay đã ra đi vẫn để lại di ngôn bất hủ "Anh không chết đâu em".

Thế giới ảo của các bản tin trên Internet bây giờ cải chính rối rít.

Tin tức trên thế giới ảo này đi quá nhanh. Quả thực đúng là điện báo.

"Rằng nhanh thì thực là nhanh,
Xem ra có lúc quá nhanh, lại phiền"

Tuy nhiên các niên trưởng tướng lãnh bây giờ đã đạt cả rồi.

Chuyện tử sinh là lẽ thường của trời đất. Chúa gọi thì về. Trời kêu ai nấy dạ. Sớm muộn cũng lên phiên, chấp gì ba cái lẻ tẻ. Sự ra đi mà làm thành một chuyện thời sự như ngọn sóng lăn tăn trên mặt hồ, âu cũng xong một kiếp người. Danh sách trong Viện Bảo Tàng chúng tôi sẽ theo dõi để ghi cho chính xác.

Một chút thú vị là chú em nhà binh báo tin vội vàng về người đã ra đi. Sau khi xem lại bèn sửa chữa cáo lỗi rằng đây là tin vịt trời "Người vẫn chưa chết" (Nguyên Văn). Chữ nghĩa đến thế thì thôi. Thôi thì vì tình Huynh Đệ Chi Binh, xin tư lệnh bỏ qua cho bọn nhỏ. Cũng may mà các chú chưa đưa tên anh vào cái danh sách vội vàng để chia buồn cùng vị niên trưởng vẫn còn ở lại với anh em.

Và tử thần kính cẩn đứng ghi tên
Nhà cách mạng Nguyễn Ngọc Huy khi ra đi để lại khá nhiều bài lập thuyết về chính trị, sao tôi chẳng nhớ được câu nào. Nhưng bên trong con người của ông có một chàng thi sĩ viết những lời thơ sao mà mênh mông bát ngát. Tôi nhớ mãi suốt 60 năm dài. Viết về Trịnh Nguyễn phân tranh, ông mở đầu.

"Đây Sông Gianh, đây biên cương thống khổ.
Đây sa trường đây nấm mộ trời Nam".

Viết về vụ Pháp xử tử 13 liệt sĩ Quốc Dân Đảng, ông kết luận:

"Và tử thần kính cẩn đứng ghi tên
Những liệt sĩ vào bia người tuẫn quốc"

Anh em ta đã là lính Việt Nam Cộng Hòa, trẻ hay già, dù chết trước hay chết sau, tôi vẫn ước mong có một ông thần chết hiền lành đứng nghiêm chào kính để ghi tên các chiến sĩ chúng ta vào bia người tuẫn quốc.

Năm 2004, chúng tôi là những ông già 70 tuổi họp mặt, đề tài 50 năm ghi dấu quân trường. Giao Chỉ đã viết đôi lời như sau, xin dùng làm kết luận cho chuyện tử sinh.

Hôm nay...
"Chúng tôi về đây dành lại một ngày
Cho 50 năm họp khóa ngậm ngùi
Để đếm đầu người, xem ai còn ai mất
300 chàng trai đất Bắc, giờ đây còn lại 70 vị cao niên
Già thật là già, lão ơi là lão
Nước mắt đã khô rồi, gặp nhau chỉ cười thôi
Chẳng phải lần đầu, nhưng biết đâu đây sẽ là lần cuối
Sợ thì ông đếch sợ, nhưng buồn thật là buồn".

Giao Chỉ San Jose

User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Chân dung Người Lính Việt Nam Cộng Hòa

Phạm Bá Hoa

Thưa quí vị,
Người Lính Việt Nam Cộng Hòa thi hành bổn phận công dân, từ vĩ tuyến 17 xuống tận Mũi Cà Mau, từ duyên hải quanh năm sóng vỗ đến rừng già heo hút đội sương, từ Cao Nguyên rậm rạp xuống đồng bằng sông rạch Cửu Long, xin mời quí vị lần theo dấu chân để đến, và nhận ra chân dung Những Người Lính ấy.

Xin bắt đầu với Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Cơ quan đầu não của quân đội thành lập ngày 1 tháng 5 năm 1952, có nhiệm vụ tổ chức, trang bị, huấn luyện, nuôi dưỡng, hoạch định, và điều khiễn quân đội thi hành nhiệm vụ bảo vệ quốc gia dân tộc. Đứng đầu quân lực là Tổng Tham Mưu Trưởng. Vị Tổng Tham Mưu Trưởng đầu tiên là Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hinh, lần lượt là Đại Tướng Lê Văn Tỵ, Trung Tướng Trần Văn Đôn, Đại Tướng Trần Thiện Khiêm, Đại Tướng Nguyễn Khánh, Trung Tướng Trần Văn Minh, Trung Tướng Nguyễn Hữu Có, Đại Tướng Cao Văn Viên, và sau cùng là Trung Tướng Vĩnh Lộc. Thời gian giữ chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng lâu nhất là Đại Tướng Cao Văn Viên 9 năm rưỡi, và vị có thời gian ngắn nhất là Trung Tướng Vĩnh Lộc chỉ 18 tiếng đồng hồ!

Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa với 1.100.000 quân, gồm ba quân chủng Hải Quân, Lục Quân, và Không Quân. Trong Lục quân có đầy đủ các binh chủng cho nhu cầu tác chiến và yểm trợ tác chiến, và các binh sở yểm trợ từ hành chánh nhân viên, hành chánh tài chánh, đến hành chánh tiếp vận. Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa trải qua 4 giai đoạn:

- Giai đoạn hình thành từ năm 1952 đến 1954.
- Giai đoạn phát triển lần 1 từ năm 1955 đến 1967.
- Giai đoạn phát triển lần 2 từ năm 1968 đến 1972.
- Giai đoạn phát triển lần 3 là năm 1973.


Vào thời gian cuối cùng, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa có:

Lục quân, với:
- 4 Quân Đoàn trách nhiệm các Quân Khu, bao gồm các đơn vị và đại đơn vị trực thuộc: 11 Sư Đoàn Bộ Binh + hơn 20 Liên Đoàn Biệt Động Quân + 4 Lữ Đoàn Kỵ Binh Thiết Giáp + 4 Liên Đoàn Công Binh Chiến Đấu.
- 1 Sư Đoàn Biệt Động Quân thành lập vào những ngày cuối tháng 4 năm 1975.
- Các tiểu đoàn Pháo Binh biệt lập, và một hệ thống Pháo Binh diện địa tại 48 Tiểu Khu, Đặc Khu, Biệt Khu.
- Địa Phương Quân, Nghĩa Quân.
- Lực lượng tổng trừ bị trực thuộc Bộ Tổng Tham Mưu, có: 1 Sư Đoàn Nhẩy Dù + 1 Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến + 1 Liên Đoàn Biệt Động Quân + Liên Đoàn Biệt Cách Dù.

Không quân, với:
- 5 Sư Đoàn tác chiến.
- 1 Sư Đoàn vận tải.
- Những Phi Đoàn đặc nhiệm.

Hải quân, với:
- Lực lượng Hải lực.
- Lực lượng Giang lực.
- Lực lượng Đặc nhiệm.

Về "binh sở yểm trợ". Trong Lục Quân có "Tổng Cục Tiếp Vận" với 8 ngành chuyên môn, có khả năng sửa chữa và tân trang toàn bộ quân dụng sử dụng chung trong các quân chủng, và khả năng xây dựng cơ sở thông thường lẫn kiến trúc đặc biệt. Không Quân có "Không Đoàn Tân Trang & Chế Tạo". Hải Quân có "Hải Quân Công Xưỡng".

Về trang bị. Khối lượng dụng cụ chiến tranh trang bị cho quân lực, gồm: 2.000.000 vũ khí cá nhân và cộng đồng. Hơn 1.000 khẩu đại bác từ 105 ly và 155 ly xe kéo, đến 175 ly cơ động, và đại bác phòng không. 1.200 xe chạy xích kể cả chiến xa M48. Hơn 1.600 chiến hạm chiến đỉnh, hoạt động trên sông, trên biển, và dọc duyên hải. Hơn 2.000 phi cơ các loại, từ tác chiến, yểm trợ tác chiến, yểm trợ tình báo kỹ thuật điện tử, đến liên lạc, và vận tải. Từ phi cơ cánh quạt, phi cơ phản lực, đến phi cơ trực thăng. Nói chung, khối dụng cụ chiến tranh trang bị cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, tính đến năm 1973 trị giá khoảng 7 tỷ mỹ kim.

Về huấn luyện. Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, có một hệ thống quân trường, đào tạo từ người chiến binh đến chỉ huy cấp bộ đại đơn vị, đào tạo sĩ quan và chuyên viên cho các quân chủng, binh chủng, binh sở.

Về quản trị. Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, được quản trị bởi:
- “Cơ Quan Điện Toán" Tổng Nha Tài Chánh & Thanh Tra Quân Phí thuộc Bộ Quốc Phòng, quản trị toàn bộ quân phí.
- “Trung Tâm Điện Toán Nhân Viên" thuộc Phòng Tổng Quản Trị/Bộ Tổng Tham Mưu, quản trị toàn bộ nhân viên.
- “Trung Tâm Điện Toán Tiếp Vận" thuộc Tổng Cục Tiếp Vận/Tổng Tham Mưu, quản trị toàn bộ quân trang quân dụng chung, từ tiếp liệu, tồn trữ, cấp phát, vận chuyển, đến bảo trì, tân trang, tổn thất, và phế thải.
- Quân chủng Không Quân, Hải Quân, có cơ quan điện toán quản trị quân dụng riêng của quân chủng.
Trong hơn 20 năm chiến đấu dũng cảm chống lại cuộc xâm lăng của nước cộng sản Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã tạo nhiều chiến tích vẻ vang. Có thể nhận định mà không sợ sai lầm rằng, thế giới chỉ biết thành tích của chúng ta qua hai trận chiến điển hình, là cuộc phản công toàn diện trong cuộc “tổng công kích” của quân cộng sản hồi Tết Mậu Thân đầu năm 1968, và cuộc phản công đánh bại 3 trục tấn công do lãnh đạo nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa từ Hà Nội, xua quân chính qui vượt vĩ tuyến 17 trực diện tấn công Việt Nam Cộng Hòa vào mùa hè 1972. Chớ họ không thể hiểu được những chiến thắng với biết bao trận chiến đơn lẻ xảy ra hằng ngày hằng đêm, đánh nhau từng người, từng tổ, từng tiểu đội, trung đội, của Địa Phương Quân, Nghĩa Quân trong nội địa lãnh thổ, những chiến thắng của "lực lượng Dân Sự Chiến Đấu", của "Lực Lượng Đặc Biệt", của những "Toán Lôi Hổ", của "Liên Đoàn Biệt Cách Dù", ..v..v.. trong những cánh rừng già hoang dã dọc biên giới Việt Nam-Cam Bốt. Nơi mà quân chính qui cộng sản từ miền bắc, theo hành lang biên giới mà chúng gọi là "đường Trường Sơn", xâm nhập lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa.
Image
Họ cũng không thể hiểu sâu những trận chiến thầm lặng với sắc thái du kích mà Người Lính Việt Nam Cộng Hòa phải đối phó. Phải rình mò tìm địch mà đánh. Bất ngờ gặp nhau là đánh. Đánh nhau bất luận bao nhiêu tay súng, bất kể ngày đêm, bất cứ nơi nào. Chiến trường không chỉ là trận tuyến trong chiến tranh qui ước, mà chiến trường diễn ra ngay trong nhà, ngoài ngõ, chiến trường là bụi chuối trong vườn, là đám bắp trong rẫy, là ruộng lúa đồng sâu. Chiến trường cũng là góc núi, bụi cây, là rừng rậm cao nguyên, là bãi lầy đất Mũi (Cà Mau), là "biển cạn" Tháp Mười. Từng góc phố, căn nhà, từng con đường trong thành phố, từng bến đậu phi cơ hay nơi tàu cặp bến, đâu đâu cũng là chiến trường của quân cộng sản trong mục đích xâm lăng Việt Nam Cộng Hòa.

Nói chung là người ngoại quốc, cho dù là những phóng viên hay những nhà lãnh đạo chính trị, họ không thể nào hiểu được những chiến thuật trên chiến trường Việt Nam và cách vận dụng chiến thuật đó của "Người Lính Việt Nam Cộng Hòa", trong khi 500.000 quân Đồng Minh rất khó thích ứng với cuộc chiến mà bản chất của nó là "chiến tranh tổng thể" trên chiến trường Việt Nam chúng ta, trong khi chiến lược chiến thuật của quân bạn chỉ trông vào bom đạn.

Vậy, “Người Lính Việt Nam Cộng Hòa là ai?” “Họ”, là những nông dân chất phác hiền hòa, là những ngư dân miền duyên hải quanh năm sóng vỗ, là những công nhân nơi thành phố, là những học sinh tốt nghiệp trung học, là những sinh viên hay đã tốt nghiệp đại học, là những viên chức cán bộ đam mê đời sống quân ngũ, là những người chuyên môn trong các ngành nghề tự do. “Họ”, theo tiếng gọi quốc gia, tình nguyện vào các trường quân sự. "Họ", tuân lệnh chánh phủ, trình diện các trường quân sự. "Họ", là quân nhân hiện dịch, là quân nhân trừ bị, là quân nhân đồng hoá, là những nữ quân nhân. "Họ", là những chuyên viên, những chiến binh, những hạ sĩ quan, sĩ quan, tướng lãnh. "Họ" có mặt trong các quân chủng, binh chủng, binh sở, các cơ quan tham mưu, quân trường. Khi tổ quốc lâm nguy, "Họ" phụng sự tổ quốc, phục vụ dân tộc. Tất cả được gọi một cách thân thương trìu mến là "Người Lính Việt Nam Cộng Hòa", những người lính trong một hệ thống tổ chức chặt chẻ, kỷ luật nghiêm minh là Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Người Lính Việt Nam Cộng Hòa: Là Người Lính Địa Phương Quân, Nghĩa Quân, ngày đêm quanh năm suốt tháng hơn 20 năm ròng rã, âm thầm, lặng lẽ, trấn giữ hệ thống giao thông và bảo vệ hạ tầng cơ sở. Là Người Lính Lực Lượng Đặc Biệt, Biệt Cách Dù, lặn lội vùng biên giới hoang vu để ngăn chận quân thù. Là lực lượng Giang Lực, canh giữ trên khắp miền sông rạch. Là Người Lính Không Quân, từ trên không đánh xuống. Là Người Lính Nhẩy Dù, từ trên không xuống đánh. Là Người Lính Hải Quân, từ ngoài biển đánh vào. Là Người Lính Thủy Quân Lục Chiến, từ ngoài biển vào đánh. Là Người Lính Bộ Binh, Người Lính Biệt Động Quân, đánh địch ngay trên bờ nam Bến Hải trong tầm đạn quân thù. Đánh địch dọc biên giới Tây Nguyên núi rừng rậm rạp. Đánh địch trên chót Mũi Cà Mau quanh năm ngập nước, trên biển cạn Tháp Mười, trong Rừng Sát sình lầy gai gốc, giữa đồng bằng trù phú Cửu Long. Đánh địch để giành lại từng góc phố của thủ đô, từng ngôi nhà giữa cố đô cổ kính, từng bờ tường của cổ thành Quảng Trị. "Họ" miệt mài với chiến trận, và mệt nhoài sau chiến trận. "Họ" đã đánh địch đến giây phút cuối cùng! Và "Họ", xứng danh là "Người Lính Việt Nam Cộng Hòa".
Image
Người lính Việt Nam Cộng Hòa, đã anh dũng hi sinh nhưng không được yên bình vĩnh cữu trong các nghĩa trang mà tổ quốc ghi công, vì quân cộng sản đào mồ cuốc mả. Là những chiến sĩ đã để lại một phần thân thể góp phần gìn giữ giang sơn, nhưng bị kẻ thù nhục mạ đọa đày. Là những quân nhân có vầng trán nhăn nheo với mái tóc già nua trước tuổi. Là những người tù chính trị bị cộng sản lưu đày trong các trại tập trung nghiệt ngã trên khắp miền quê hương đất nước, gánh phân người làm phân bón rau xanh, khiêng nước tiểu tưới lên hoa màu, nhưng "Họ" chỉ được ăn những cọng rau do phân và nước tiểu của "Họ" mà vươn lên. Để rồi nhiều người trong số "Họ", đã chết trong đau thương, đói khổ, nhọc nhằn!

Người Lính Việt Nam Cộng Hòa, khi rời đất nước lưu vong với hai bàn tay trắng, chỉ còn lại tình thương của vợ của con, của đồng hương đồng đội, che chở cho nhau nơi xứ người xa lạ.

Đó, là "chân dung Người Lính Việt Nam Cộng Hòa", mà người phương Tây chưa thể nào nhận ra được. Bởi, họ chưa hiểu được chiều sâu của lịch sử và văn hoá Việt Nam, họ chưa hiểu được chiều sâu tính chất tráo trở lật lọng với bản chất độc tài tàn bạo của cộng sản Việt Nam, họ cũng chưa hiểu được chiều sâu của cuộc chiến tranh tự vệ về phía chúng ta. Do vậy mà người phương Tây chưa thể đánh giá được chiều sâu của cuộc chiến trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa. Một cuộc chiến mà trong đó, nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa xua quân vượt biên giới xâm lăng nước Việt Nam Cộng Hòa. Không thể nói khác được, dù cùng chủng tộc, nhưng hai quốc gia đều được thế giới công nhận với những tòa đại sứ thiết lập trên mỗi quốc gia. Quân của quốc gia này sang đánh chiếm quốc gia kia, ngoài chữ "xâm lăng" ra, không có chữ nào khác để chỉ hành động đó cả.
"Chân Dung Người Lính Việt Nam Cộng Hòa", hình thành "Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa". Một quân lực hình thành trong chinh chiến, rèn luyện trong chiến chinh, nhanh chóng trưởng thành trong chiến trận. Và từ trong chiến trận, đã tạo nên những chiến tích vang danh, những anh hùng được toàn dân ngưỡng mộ. Vào giờ thứ 25 của một giai đoạn chiến đấu, vẫn tạo thêm những anh hùng cho lịch sử đương đại của tổ quốc, “thành mất chết theo thành”. Vì vậy:

''Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa rất xứng đáng được vinh danh, dù ngày 30 tháng 4 năm 1975 đã bị bức tử sau hơn 20 năm dũng cảm chiến đấu tự vệ, nhưng đã thể hiện cao nhất về khả năng và tinh thần chiến đấu nối tiếp dòng lịch sử vẻ vang của tổ quốc, thể hiện vẹn tròn đạo nghĩa và truyền thống bất khuất kiêu hùng của dân tộc Việt Nam”.



Houston, tháng 4 năm 2005
Bổ túc tháng 8 năm 2006

Phạm Bá Hoa

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

Kỷ niệm 25 năm Bức Tường Đá Đen

Tin Hoa kỳ . Tại Thủ đô Washington DC Trong tuần lễ này , từ 7 tháng 11 đến ngày 11 /11.Sẽ có lễ kỷ niệm 25 năm Bức Tường Đá Đen nơi ghi danh 58.000 Quân nhân Hoa Kỳ Tử nạn khi tham chiến ở Việt nam .
Bắt đầu từ chiều thứ Tư 7 tháng 11 sẽ có buổi lễ xướng danh tên 58.000 Quân nhận Hoa Kỳ .Bắt đầu từ 4 giờ chiều cho đến nửa Đêm . Sau đó tiếp tục trong các ngày 8 - 9 và 10 /11. Đã có 2000 Tình nguyện viên tham gia việc xướng danh .
Cựu Đại Tướng Colin Power đã từng tham chiến ở VN sẽ tham dự buổi lễ Ngày cựu Chiến binh 11 / 11/2007 tại Bức Tường Đá Đen .
Nhân tuần lễ tưởng niệm Bức Tường Đá Đen sẽ có nhiều phái đoàn Cựu Chiến Binh QLVNCH sẽ viếng thăm Bức Tường Đá Đen và tham dự cuộc Diễn Hành .

Đặc biệt vào tối thứ Ba 6 tháng 11 sẽ có Đêm Thơ được tổ chức ngay T5ai Bức Tường Đá Đen ,gồm những bài Thơ được sáng tác từ nguồn cảm hứng của các tác giả khi viếng thăm Bức Tường Đá Đen .

User avatar
tieuvuvi
Posts: 2912
Joined: Sun Nov 26, 2006 1:29 pm
Been thanked: 3 times
Contact:

Post by tieuvuvi »

Truyện Người Lính Nhỏ
Mà Chính Khí Lớn Vũ Tiến Quang

TRẦN ÐẠI SỸ
(Trích Trong Bộ Lịch Sử Thiếu Sinh Quân Việt Nam)



Image


Vũ Tiến Quang sinh ngày 30 tháng 9 năm 1956 tại Kiên Hưng, tỉnh Chương Thiện. Thân phụ là Hạ Sĩ Ðịa Phương Quân Vũ Tiến Ðức. Ngày 20 tháng 3 năm 1961, trong một cuộc hành quân an ninh của quận, Hạ Sĩ Ðức bị trúng đạn tử thương khi tuổi vừa mới 25. Ông để lại bà vợ trẻ với 2 con. Con trai lớn, Vũ Tiến Quang, 5 tuổi. Con gái tên Vũ thị Quỳnh Chi mới tròn một năm. Vì có học, lại là quả phụ tử sĩ, bà Ðức được thu dụng làm việc tại Chương Thiện, với nhiệm vụ khiêm tốn là thư ký tòa hành chánh. Nhờ đồng lương thư ký, thêm vào tiền tử tuất cô nhi, quả phụ, nên đời sống của bà với hai con không đến nỗi thiếu thốn.

Quang học tại trường tiểu học trong tỉnh. Tuy rất thông minh, nhưng Quang chỉ thích đá banh, thể thao hơn là học. Thành ra Quang là một học sinh trung bình trong lớp. Cuối năm 1967, Quang đỗ tiểu học. Nhân đọc báo Chiến Sĩ Cộng Hòa có đăng bài: "Ngôi Sao Sa Trường, Thượng Sĩ Sữa: Trần Minh - Thiên Thần U Minh Hạ".

Bài báo thuật lại: Minh xuất thân từ trường Thiếu Sinh Quân Việt Nam. Sau khi ra trường Minh về phục vụ tại Tiểu Ðoàn Ngạc Thần (tức Tiểu Ðoàn 2, Trung Ðoàn 31, Sư Ðoàn 21 Bộ Binh). Mà Tiểu đoàn đang đồn trú tại Chương Thiện. Quang nẩy ra ý đi tìm người hùng bằng xương bằng thịt. Chú bé lóc cóc 12 tuổi, được Trần Minh ôm hôn, dẫn đi ăn phở, bánh cuốn, rồi thuật cho nghe về cuộc sống vui vẻ tại trường Thiếu Sinh Quân. Quang suýt xoa, ước mơ được vào học trường này. Qua cuộc giao tiếp ban đầu, Minh là một mẫu người anh hùng trong ước mơ của Quang. Quang nghĩ: "Mình phải như anh Minh".

Chiều hôm đó Quang thuật cho mẹ nghe cuộc gặp gỡ Trần Minh, rồi xin mẹ nộp đơn cho mình nhập học trường Thiếu Sinh Quân. Bà mẹ Quang không mấy vui vẻ vì Quang là con một, mà nhập học Thiếu Sinh Quân rồi sau này trở thành anh hùng như Trần Minh thì ... nguy lắm! Bà không đồng ý. Hôm sau bà gặp riêng Trần Minh, khóc thảm thiết xin Minh nói dối Quang rằng muốn nhập học trường Thiếu Sinh Quân thì cha phải thuộc chủ lực quân, còn cha Quang là Ðịa Phương Quân thì không được. Minh từ chối:

- Em không muốn nói dối cháu. Cháu là Quốc Gia Nghĩa Tử thì ưu tiên nhập học. Em nghĩ chị nên cho cháu vào trường Thiếu Sinh Quân thì tương lai của cháu sẽ tốt đẹp hơn ở với gia đình, trong khuôn khổ nhỏ hẹp.

Chiều hôm ấy Quang tìm đến Minh để nghe nói về đời sống trong trường Thiếu Sinh Quân. Ðã không giúp bà Ðức thì chớ, Minh còn đi cùng Quang tới nhà bà, hướng dẫn bà thủ tục xin cho Quang nhập trường. Thế rồi bà Ðức đành phải chiều con. Bà đến phòng 3 Tiểu Khu Chương Thiện, có Trung Sĩ Nhất Cao Năng Hải, cũng là cựu Thiếu Sinh Quân. Hải lo làm tất cả mọi thủ tục giúp bà. Sợ bà đổi ý thì mình sẽ mất thằng em dễ thương. Hải lên gặp Thiếu Tá Lê Minh Ðảo, Tiểu Khu Trưởng trình bầy trường hợp của Quang. Thiếu Tá Ðảo soạn một văn thư, đính kèm đơn của bà Ðức, xin Bộ Tổng Tham Mưu dành ưu tiên cho Quang. (Ghi chú: Thiếu Tá Lê Minh Ðảo hồi 1974 được thăng Thiếu Tướng, giữ chức Tư Lệnh Sư Ðoàn 18 Bộ Binh. Sau biến cố 1975, ông bị tù một thời gian dài. Hiện ông định cư tại Hoa Kỳ. Năm 1966, Thiếu Tá Ðảo giữ chức Giám Ðốc Trung Tâm Hành Quân Quân Ðoàn 4 và Vùng 4 chiến thuật. Bấy giờ tôi có dịp thăm Cần Thơ, được ông tiếp tại căn nhà tranh nổi bên sông, rồi ông đánh đàn cho nghe. Tôi mắc nợ ông món nợ văn nghệ từ hồi đó đến giờ mà chưa trả được. Nếu tính cả lời, chồng chất lên, e không trả nổi).

Tháng 8 năm 1968, Quang được giấy gọi nhập học trường Thiếu Sinh Quân mà không phải thi. Bà Ðức thân dẫn con đi Vũng Tầu trình diện. Ngày 2 tháng 9 năm 1969, Quang trở thành một Thiếu Sinh Quân Việt Nam.

Quả thực trường Thiếu Sinh Quân là thiên đường của Quang. Quang có nhiều bạn cùng lứa tuổi, dư thừa chân khí, chạy nhẩy vui đùa suốt ngày. Quang thích nhất những giờ huấn luyện tinh thần, những giờ học quân sự. Còn học văn hóa thì Quang lười, học sao cho đủ trả nợ thầy, không bị phạt là tốt rồi. Quang thích đá banh và học Anh Văn. Trong lớp, môn Anh Văn, Quang luôn đứng đầu. Chỉ mới học hết Ðệ Lục mà Quang đã có thể đọc sách báo bằng tiếng Anh, nói chuyện lưu loát với cố vấn Mỹ.

Giáo Sư Việt Văn của Quang là Phạm Văn Viết, người mà Quang mượn bóng dáng để thay thế người cha. Có lần thầy Viết giảng đến câu:

"Nhân sinh tư cổ thùy vô tư,
Lưu thủy đan tâm chiếu hàn thanh."

(Người ta sinh ra, ai mà không chết.
Cần phải lưu chút lòng son vào thanh sử.)

Quang thích hai câu này lắm, luôn miệng ngâm nga, rồi lại viết vào cuốn sổ tay.

Trong giờ học sử, cũng như giờ huấn luyện tinh thần, Quang được giảng chi tiết về các anh hùng: Hoài Văn Vương Trần Quốc Toản, Thánh Tổ của Thiếu Sinh Quân, giết tươi Toa Ðô trong trận Hàm Tử. Quang cực kỳ sùng kính Báo Nghĩa Vương Trần Bình Trọng, từ chối công danh, chịu chết cho toàn chính khí. Quang cũng khâm phục Nguyễn Biểu khi đối diện với quân thù, không sợ hãi, lại còn tỏ ra khinh thường chúng. Ba nhân vật này ảnh hưởng vào Quang rất sâu đậm.

Suốt các niên học từ 1969 - 1974, mỗi kỳ hè được phép hai tháng rưỡi về thăm nhà, cậu bé Thiếu Sinh Quân Vũ Tiến Quang tìm đến các đàn anh trấn đóng tại Chương Thiện để trình diện. Quang được các cựu Thiếu Sinh Quân dẫn đi chơi, cho ăn quà, kể chuyện chiến trường cho nghe. Một số ông anh uống thuốc liều, cho Quang theo ra trận. Quang chiến đấu như một con sư tử. Không ngờ mấy ông anh cưng cậu em út quá, mà gây ra một chuyện động trời, đến nỗi Bộ Tổng Tham Mưu Việt Nam, Bộ Tư Lệnh MACV cũng phải rởn da gà! Sau trở thành huyền thoại. Câu truyện như thế này:



Hè 1972, mà quân sử Việt Nam gọi là Mùa Hè Ðỏ Lửa, giữa lúc chiến trường toàn quốc sôi động. Bấy giờ Quang đã đỗ chứng chỉ 1 Bộ Binh. Ðược phép về thăm nhà, được các đàn anh cho ăn, và giảng những kinh nghiệm chiến trường, kinh nghiệm đời. Quang xin các anh cho theo ra trận. Mấy ông cựu Thiếu Sinh Quân, trăm ông như một, ông nào gan cũng to, mật cũng lớn, coi trời bằng vung. Yêu cậu em ngoan ngoãn, các ông chiều... cho Quang ra trận. Cuộc hành quân nào các ông cũng dẫn Quang theo.

Trong một cuộc hành quân cấp sư đoàn, đánh vào vùng Hộ Phòng, thuộc Cà Mau. Ðơn vị Quang theo là Trung Ðội Trinh Sát của Trung Ðoàn 31. Trung Ðội Trưởng là một Thiếu Úy cựu Thiếu Sinh Quân. Hôm ấy thông dịch viên cho cố vấn bị bệnh, Quang lại giỏi tiếng Anh, nên Thiếu Úy Trung Ðội Trưởng biệt phái Quang làm thông dịch viên cho cố vấn là Thiếu Úy Hummer. Trực thăng vừa đổ quân xuống thì hiệu thính viên của Hummer trúng đạn chết ngay. Lập tức Quang thay thế anh ta. Nghĩa là mọi liên lạc vô tuyến, Hummer ra lệnh cho Quang, rồi Quang nói lại trong máy.

Trung Ðội tiến vào trong làng thì lọt trận địa phục kích của Trung Ðoàn chủ lực miền, tên Trung Ðoàn U Minh. Trung Ðội bị một Tiểu Ðoàn địch bao vây. Vừa giao tranh được 10 phút thì Hummer bị thương. Là người can đảm, Hummer bảo Quang đừng báo cáo về Trung Tâm Hành Quân. Trận chiến kéo dài sang giờ thứ hai thì Hummer lại trúng đạn nữa, anh tử trận, thành ra không có ai liên lạc chỉ huy trực thăng võ trang yểm trợ. Kệ, Quang thay Hummer chỉ huy trực thăng võ trang. Vì được học địa hình, đọc bản đồ rất giỏi, Quang cứ tiếp tục ra lệnh cho trực thăng võ trang nả vào phòng tuyến địch, coi như Hummer còn sống. Bấy giờ quân hai bên gần như lẫn vào nhau, chỉ còn khoảng cách 20-30 thước.

Thông thường tại các quân trường Hoa Kỳ cũng như Việt Nam, dạy rằng khi gọi pháo binh, không quân yểm trợ thì chỉ xin bắn vào trận địa địch với khoảng cách quân mình 70 đến 100 thước. Nhưng thời điểm 1965-1975, các cựu Thiếu Sinh Quân trong khu 42 chiến thuật khi họp nhau để ăn uống, siết chặt tình thân hữu, đã đưa ra phương pháp táo bạo là xin bắn vào phòng tuyến địch, dù cách mình 20 thước. Quang đã được học những phương pháp đó. Quang chỉ huy trực thăng võ trang nả vào trận địch, nhiều rockets (hỏa tiễn nhỏ), đạn 155 ly nổ sát quân mình, làm những binh sĩ non gan kinh hoảng. Nhờ vậy mà trận địch bị tê liệt.

Sau khi được giải vây, mọi người khám phá ra Quang lĩnh tới 7 viên đạn mà không chết: trên mũ sắt có 4 vết đạn bắn hõm vào; hai viên khác trúng ngực, may nhờ có áo giáp, bằng không Quang đã ô hô ai tai rồi. Viên thứ bẩy trúng hạ thể.


Image
Trung Tá J. F. Corter, Cố Vấn Trưởng Trung Ðoàn được Trung Ðội Trưởng Trinh Sát báo cáo Hummer tử trận lúc 11 giờ 15. Ông ngạc nhiên hỏi:

- Hummer chết lúc 11:15 giờ mà tại sao tôi vẫn thấy y chỉ huy trực thăng, báo cáo đến lúc 17 giờ?

Vì được học kỹ về tinh thần trách nhiệm, Quang nói rằng mình là người lạm quyền, giả lệnh Hummer chỉ huy. Quang xin lỗi Corter. Trung Tá J. F. Corter tưởng Quang là lính người lớn, đề nghị gắn huy chương Hoa Kỳ cho Quang. Bấy giờ mới lòi đuôi chuột ra rằng các ông cựu Thiếu Sinh Quân đã uống thuốc liều, cho thằng em sữa ra trận.

Ðúng ra theo quân luật, mấy ông anh bị phạt nặng, Quang bị đưa ra tòa vì "Không có tư cách mà lại chỉ huy." Nhưng các vị sĩ quan trong Sư Ðoàn 21, Trung Ðoàn 31 cũng như cố vấn đều là những người của chiến trường, tính tình phóng khoáng nên câu truyện bỏ qua. Quang không được gắn huy chương, mà mấy ông anh cũng không bị phạt. Hết hè, Quang trở về trường mang theo kỷ niệm chiến đấu cực đẹp trong đời cậu bé, mà cũng là kỷ niệm đẹp vô cùng của Thiếu Sinh Quân Việt Nam. câu truyện này trở thành huyền thoại. Huyền thoại này lan truyền mau lẹ khắp năm tỉnh của khu 42 chiến thuật, Cần Thơ, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau, Chương Thiện. Quang trở thành người hùng lý tưởng của những thiếu nữ tuổi 15-17!

Năm 1974, sau khi đỗ chứng chỉ 2 Bộ Binh, Quang ra trường mang cấp bậc Trung Sĩ. Quang nộp đơn xin về Sư Ðoàn 21 Bộ Binh. Quang được toại nguyện. Sư đoàn phân phối Quang về Tiểu Ðoàn Ngạc Thần, tức Tiểu Ðoàn 2, Trung Ðoàn 31, Tiểu Ðoàn của Trần Minh sáu năm trước. Thế là giấc mơ 6 năm trước của Quang đã thành sự thật.

Trung Ðoàn 31 Bộ Binh đóng tại Chương Thiện. Bấy giờ Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Chương Thiện là Ðại Tá Hồ Ngọc Cẩn, Tham Mưu Trưởng Tiểu Khu là Thiếu Tá Nguyễn Văn Thời. Cả hai đều là cựu Thiếu Sinh Quân cao niên nhất vùng Chương Thiện bấy giờ (36 tuổi) . Các cựu Thiếu Sinh Quân trong Tiểu Ðoàn 2 - 31 dẫn Quang đến trình diện Anh Hai Cẩn. Sau khi anh em gặp nhau. Cẩn đuổi tất cả tùy tùng ra ngoài để anh em tự do xả xú bắp.

Cẩn bẹo tai Quang một cái, Quang đau quá nhăn mặt. Cẩn hỏi:

- Ê! Quang, nghe nói mày lĩnh bẩy viên đạn mà không chết, thì mày thuộc loại mình đồng da sắt. Thế sao tao bẹo tai mày, mà mày cũng đau à?

- Dạ, đạn Việt Cộng thì không đau. Nhưng vuốt anh cấu thì đau.

- Móng tay tao, đâu phải vuốt?

- Dạ, người ta nói anh là cọp U Minh Thượng... thì vuốt của anh phải sắc lắm!

- Hồi đó suýt chết, thế bi giờ mày ra trận có sợ không?

- Nếu khi ra trận, anh sợ thì em mới sợ. Cái lò Thiếu Sinh Quân có bao giờ nặn ra một thằng nhát gan đâu?

- Thằng này được. Thế mày đã trình diện anh Thời chưa?

- Dạ, anh Thời Thẹo không có nhà.

Thiếu Tá Nguyễn Văn Thời, Tham Mưu Trưởng Tiểu Khu, uy quyền biết mấy, thế mà một Trung Sĩ 18 tuổi dám gọi cái tên húy thời thơ ấu ra, thì quả là một sự phạm thượng ghê gớm. Nhưng cả Thời lẫn Quang cùng là cựu Thiếu Sinh Quân thì lại là một sự thân mật. Sau đó anh em kéo nhau đi ăn trưa. Lớn, bé cười nói ồn ào như không biết tới những người chung quanh. (Ghi chú: Thiếu Tá Thời, cựu Thiếu Sinh Quân, gốc người Huế, tính tình ôn nhu văn nhã, nhưng rất can đảm, hiện ông định cư tại Boston, Hoa Kỳ) .

Bấy giờ tin Trần Minh đã đền nợ nước tại giới tuyến miền Trung. Sự ra đi của người đàn anh, của người hùng lý tưởng làm Quang buồn không ít. Nhưng huyền thoại về Trần Minh lưu truyền, càng làm chính khí trong người Quang bừng bừng bốc lên.

Tại Sư Ðoàn 21 Bộ Binh, tất cả các hạ sĩ quan cũng như các Thiếu Sinh Quân mới ra trường, thường chỉ được theo hành quân như một khinh binh. Ðợi một vài tháng đã quen với chiến trường, rồi mới được chỉ định làm Tiểu Ðội Trưởng. Nhưng vừa trình diện, Quang được cử làm Trung Ðội Phó ngay, dù hầu hết cả Tiểu Ðội Trưởng đều ở cấp Trung Sĩ, Trung Sĩ Nhất, mà những người này đều vui lòng tuân lệnh Quang răm rắp!

Sáu tháng sau, đầu năm 1975 nhờ chiến công, Quang được thăng Trung Sĩ Nhất, nhưng chưa đủ một năm thâm niên, nên chưa được gửi đi học sĩ quan. Quang trở thành nổi tiếng trong trận đánh ngày 1-2-1975, tại Thới Lai, Cờ Ðỏ. trong ngày hôm ấy, đơn vị của Quang chạm phải Tiểu Ðoàn Tây Ðô. Ðây là một Tiểu Ðoàn được thành lập từ năm 1945, do các sĩ quan Nhật Bản không muốn về nước, trốn lại Việt Nam... huấn luyện. Quang đã được Ðại Tá Hồ Ngọc Cẩn giảng về kinh nghiệm chiến trường:

"Tây Ðô là Tiểu Ðoàn cơ động của tỉnh cần Thơ. Tiểu Ðoàn có truyền thống lâu đời, rất thiện chiến. Khi tác chiến cấp Ðại Ðội, Tiểu Ðoàn chúng không hơn các đơn vị khác là bao. Nhưng tác chiến cấp Trung Ðội, chúng rất giỏi. Chiến thuật thông thường, chúng dàn ba Tiểu Ðội ra, chỉ Tiểu Ðội ở giữa là nổ súng. Nếu thắng thế, thì chúng bắn xối xả để uy hiếp tinh thần ta, rồi hai Tiểu Ðội hai bên xung phong. Nếu yếu thế thì chúng lui. Ta không biết đuổi theo thì sẽ dẵm phải mìn, rồi bị hai Tiểu Ðội hai bên đánh ép. Vì vậy khi đối trận với chúng, phải im lặng không bắn trả, để chúng tưởng ta tê liệt. Khi chúng bắt đầu xung phong thì dùng vũ khí cộng đồng nả vào giữa, cũng như hai bên. Thấy chúng chạy thì tấn công hai bên, chứ đừng đuổi theo. Còn như chúng tiếp tục xung phong ta phải đợi chúng tới gần rồi mới phản công."

Bây giờ Quang có dịp áp dụng. Sau khi trực thăng vận đổ quân xuống. Cả Ðại Ðội của Quang bị địch pháo chụp lên đầu, đại liên bắn xối xả. Không một ai ngóc đầu dậy được. Nhờ pháo binh, trực thăng can thiệp, sau 15 phút Ðại Ðội đã tấn công vào trong làng. Vừa tới bìa làng, Thiếu Úy Trung Ðội Trưởng của Quang bị trúng đạn lật ngược. Quang thay thế chỉ huy Trung Ðội. Trung Ðội dàn ra thành một tuyến dài đến gần trăm mét. Ðến đây thì phi pháo không can thiệp được nữa, vì quân hai bên chỉ cách nhau có 100 mét, gần như lẫn vào nhau. Nhớ lại lời giảng của Cẩn, Quang ra lệnh im lặng, chỉ nổ súng khi thấy địch. Ngược lại ngay trước mặt Quang, khoảng 200 thước là một cái hầm lớn, ngay trước hầm hai khẩu đại liên không ngừng nhả đạn. Quang ghi nhận vị trí hai khẩu đại liên với hai khẩu B40 ra lệnh:

"Lát nữa khi chúng xung phong thì dùng M79 diệt hai khẩu đại liên, B40, rồi hãy bắn trả."

Sau gần 20 phút, thình lình địch xả súng bắn xối xả như mưa, như gió, rồi tiếng hô xung phong phát ra. Chỉ chờ có thế, M79 của Quang khai pháo. Ðại liên, B40 bị bắn tung lên, trong khi địch đang xung phong. Bấy giờ Trung Ðội của Quang mới bắn trả. Chỉ một loat đạn, toàn bộ pòng tuyến địch bị cắt. Quang ra lệnh xung phong. Tới căn hầm, binh sĩ không dám lại gần, vì bị lựu đạn từ trong ném ra. Quang ra lệnh cho hai khẩu đại liên bắn yểm trợ, rồi cho một khinh binh bò lại gần, tung vào trong một quả lựu đạn cay. Trong khi Quang hô:

- Ra khỏi hầm, dơ tay lên đầu! bằng không lựu đạn sẽ ném vào trong!

Cánh cửa hầm mở ra, mười tám người, nam có, nữ có, tay dơ trên đầu, ra khỏi hầm, lựu đạn cay làm nước mắt dàn dụa.

Ðến đây trận chiến chấm dứt.

Thì ra 18 người đó là Ðảng Bộ và Ủy Ban Nhân Dân của Huyện Châu Thành Cần Thơ. Trong đó có viên Huyện Ủy và viên Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Huyện.

Sau trận này Quang được tuyên dương công trạng trước quân đội, được gắn huy chương Anh Dũng Bội Tinh với Nhành Dương Liễu. Trong lễ chiến thắng giản dị, Quang được một nữ sinh trường Ðoàn Thị Ðiểm quàng vòng hoa. Nữ sinh đó là Nguyễn Hoàng Châu, 15 tuổi, học lớp Ðệ Ngũ. Cho hay, anh hùng với giai nhân xưa nay thường dễ cảm nhau. Quang, Châu yêu nhau từ đấy. Họ viết thư cho nhau hàng ngày. Khi có dịp theo quân qua Cần Thơ, thế nào Quang cũng gặp Châu. Ðôi khi Châu táo bạo, xuống Chương Thiện thăm Quang. Mẹ Quang biết chuyện, bà lên Cần Thơ gặp cha mẹ Châu. Hai gia đình đính ước với nhau. Họ cùng đồng ý: Ðợi năm tới, Quang xin học khóa sĩ quan đặc biệt, Châu 17 tuổi thì cho cưới nhau.


Nhưng mối tình đó đã đi vào lịch sử...


Tình hình toàn quốc trong tháng 3, tháng 4 năm 1975 biến chuyển mau lẹ. Ban Mê Thuột bị mất. Quân Ðoàn 2 rút lui khỏi cao nguyên, Quân Ðoàn 1 bỏ mất lãnh thổ. Rồi các sĩ quan Bộ Tổng Tham Mưu được Hoa Kỳ bốc đi. Ngày 29 tháng 4, trung Ðội của Quang chỉ còn 10 người. Tiểu Ðoàn Trưởng, Ðại Ðội Trưởng bỏ ngũ về lo di tản gia đình. Quang vào bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Chương Thiện trình diện Ðại Tá Hồ Ngọc Cẩn. Cẩn an ủi:

- Em đem mấy người thuộc quyền vào đây ở với anh.

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, Dương Văn Minh phát thanh bản văn ra lệnh cho quân đội Việt Nam Cộng Hòa buông súng đầu hàng. Các đơn vị quân đội Miền Nam tuân lệnh, cởi bỏ chiến bào, về sống với gia đình. Một vài đơn vị lẻ tẻ còn cầm cự. Tiếng súng kháng cự của các đơn vị Dù tại Sàigòn ngừng lúc 9 giờ 7 phút.

Ðúng lúc đó tại Chương Thiện, Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng là Ðại Tá Hồ Ngọc Cẩn, ông đang chỉ huy các đơn vị thuộc quyền chống lại cuộc tấn công của cộng quân. Phần thắng đã nằm trong tay ông. Lệnh của Dương Văn Minh truyền đến. Các Quận Trưởng chán nản ra lệnh buông súng. Chỉ còn tỉnh lỵ là vẫn chiến đấu. Ðại Tá Hồ Ngọc Cẩn ra lệnh

"Dương Văn Minh lên làm Tổng Thống trái với hiến pháp. Ông ta không có tư cách của vị Tổng Tư Lệnh. Hãy tiếp tục chiến
đấu."


Nhưng đến 12 giờ trưa, các đơn vị dần dần bị tràn ngập, vì quân ít, vì hết đạn, vì mất tinh thần. Chỉ còn lại Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu. Trong Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu, có một Ðại Ðội Ðịa Phương Quân cùng nhân viên Bộ Tham Mưu. Ðến 13 giờ, đạn M79 hết. Tới 14 giờ 45, thì đạn hết, làm sóng cộng quân tràn vào trong Bộ Chỉ Huy. Cuối cùng chỉ còn một ổ kháng cự từ trong hầm chiến đấu, nơi đó có khẩu đại liên. Một quả lựu đạn cay ném vào trong hầm, tiếng súng im bặt. Quân Cộng Sản vào hầm lôi ra hai người. Một là Ðại Tá Hồ Ngọc Cẩn, Tỉnh Trưởng, kiêm Tiểu Khu Trưởng và một Trung Sĩ mới 19 tuổi. Trung Sĩ đó tên là Vũ Tiến Quang.

Bấy giờ đúng 15 giờ.

Kẻ chiến thắng trói người chiến bại lại. Viên Ðại Tá Chính Ủy của đơn vị có nhiệm vụ đánh tỉnh Chương Thiện hỏi:

- Ð.M. Tại sao có lệnh đầu hàng, mà chúng mày không chịu tuân lệnh?

Ðại Tá Cẩn trả lời bằng nụ cười nhạt.

Trung Sĩ Quang chỉ Ðại Tá Cẩn:

- Thưa Ðại Tá, tôi không biết có lệnh đầu hàng. Ví dù tôi biết, tôi cũng vẫn chiến đấu. Vì anh ấy là cấp chỉ huy trực tiếp của tôi. Anh ra lệnh chiến đấu thì tôi không thể cãi lệnh.

Cộng quân thu nhặt xác chết trong, ngoài Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu. Viên Chính Ủy chỉ những xác chết nói với Ðại Tá Cẩn:

- Chúng mày là hai tên ngụy ác ôn nhất. Ð.M, chúng mày sẽ phải đền tội.

Ðại Tá Cẩn vẫn không trả lời, vẫn cười nhạt. Trung Sĩ Quang ngang tàng:

- Ðại Tá có lý tưởng của Ðại Tá. Tôi có lý tưởng của tôi. Ðại Tá theo Karl Marx, theo Lenin; còn tôi, tôi theo vua Hùng, vua Trưng. Tôi tuy bại trận, nhưng tôi vẫn giữ lý tưởng của tôi... Tôi không gọi Ðại Tá là tên Việt Cộng. Tại sao Ðại Tá lại mày tao, văng tục với chúng tôi như bọn ăn cắp gà, phường trộm trâu vậy? Phải chăng đó ngôn ngữ của Ðảng Cộng Sản?

Viên Ðại Tá rút súng kê vào đầu Quang:

- Ð.M. Tao hỏi mày, bây giờ thì mày có chính nghĩa hay tao có chính nghĩa?

- Xưa nay súng đạn trong tay ai thì người đó có lý. Nhưng đối với tôi, tôi học trường Thiếu Sinh Quân, súng đạn là đồ chơi của tôi từ bé. Tôi không sợ súng đâu. Ðại Tá đừng dọa tôi vô ích. Tôi vẫn thấy tôi có chính nghĩa, còn đại Tá không có chính nghĩa. Tôi là con cháu Hoài Văn Vương Trần Quốc Toản mà.

- Ð.M. Mày có chịu nhận mày là tên Ngụy không?

- Tôi có chính nghĩa thì tôi không thể là Ngụy. Còn Cộng quân dùng súng giết dân mới là Ngụy, là giặc cướp. Tôi nhất quyết giữ chính khí của tôi như Bảo Nghĩa Vương Trần Bình Trọng, như Nguyễn Biểu.

Quang cười ngạo nghễ:

- Nếu Ðại Tá có chính nghĩa tại sao Ðại Tá lại dùng lời nói thô tục với tôi? Ừ! Muốn mày tao thì mày tao. Ð.M. tên Cộng Sản ác ôn! Nếu tao thắng, tao dí súng vào thái dương mày rồi hỏi: Ð.M. mày có nhận mày là tên Việt Cộng không? Thì mày trả lời sao?

Một tiếng nổ nhỏ, Quang ngã bật ngửa, óc phọt ra khỏi đầu, nhưng trên môi người thiếu niên còn nở nụ cười. Tôi không có mặt tại chỗ thành ra không mường tượng ý nghĩa nụ cười đó là nụ cười gì? Ðộc giả của tôi vốn thông minh, thử đoán xem nụ cười đó mang ý nghĩa nào? Nụ cười hối hận? Nụ cười ngạo nghễ? Nụ cười khinh bỉ? Hay nụ cười thỏa mãn? (Ghi chú: Nhân chứng quan trọng nhất chứng kiến tận mắt cái chết của Vũ Tiến Quang thuật cho tác giả nghe là cô Vũ Thị Quỳnh Chi. Cô là em ruột của Quang, nhỏ hơn Quang 4 tuổi. Lúc anh cô bị giết, cô mới 15 tuổi (cô sinh năm 1960). Năm 1999, cô là phu nhân Bác Sĩ Jean Marc Bodoret, học trò của tôi, cư trú tại Marseille.)

Cái lúc mà Quang ngã xuống thì trong đám đông dân chúng tò mò đứng xem có tiếng một thiếu nữ thét lên như xé không gian, rồi cô rẽ những người xung quanh tiến ra ôm lấy xác Quang. Thiếu nữ đó là Nguyễn Hoàng Châu. Em gái Quang là Vũ Thị Quỳnh Chi đã thuê được chiếc xe ba bánh. Cô cùng Nguyễn Hoàng Châu ôm xác Quang bỏ lên xe, rồi bọc xác Quang bằng cái Poncho, đem chôn.

Chôn Quang xong, Châu từ biệt Quỳnh Chi trở về Cần Thơ. Nhưng ba ngày sau, vào một buổi sáng sớm, Quỳnh Chi đem vàng hương, thực phẩm ra cúng mộ anh thì thấy Châu trong bộ y phục trắng của nữ sinh, chết gục bên cạnh. Mặt Châu vẫn tươi, vẫn đẹp như lúc sống. Ðích thân Quỳnh Chi dùng mai, đào hố chôn Châu cạnh mộ Quang.

Năm 1998, tôi có dịp đi công tác y khoa trong đoàn Liên Hiệp Các Viện Bào Chế Châu Âu (CEP - Coopérative Européenne Parmaceutique). Tôi đem J. M. Bodoret cùng đi. Quỳnh Chi xin được tháp tùng chồng. Lợi dụng thời gian nghỉ công tác 4 ngày, từ Sàigòn, chúng tôi thuê xe đi Chương Thiện, tìm lại ngôi mộ Quang-Châu. Ngôi mộ thuộc loại vùi nông một nấm dãi dầu nắng mưa, cỏ hoa trải 22 năm, rất khó mà biết đó là ngôi mộ. Nhưng Quỳnh Chi có trí nhớ tốt. Cô đã tìm ra. Cô khóc như mưa, như gió, khóc đến sưng mắt. Quỳnh Chi xin phép cải táng, nhưng bị từ chối. Tuy nhiên, cuối cùng có tiền thi mua tiên cũng được. Giấy phép có, Quỳnh Chi cải táng mộ Quang-Châu đem về Kiến Hưng, chôn cạnh mộ của ông Vũ Tiến Ðức. Quỳnh Chi muốn bỏ hài cốt Quang-Châu vào hai cái tiểu khác nhau. Tôi là người lãng mạng. Tôi đề nghị xếp hai bộ xương chung với nhau vào trong một cái hòm. Bodoret hoan hô ý kiến của sư phụ.

Ngôi mộ của ông Ðức, của Quang-Châu xây xong. Tôi cho khắc trên miếng đồng hàng chữ:
"Nơi đây AET Vũ Tiến Quang, 19 tuổi.
An giấc ngàn thu cùng
Vợ là Nguyễn Hoàng Châu, 15 tuổi
Nở nụ cười thỏa mãn vì thực hiện được giấc mộng"
Giấc mộng của Quang mà tôi muốn nói, là được nhập học trường Thiếu Sinh Quân, rồi trở thành anh hùng. Giấc mộng của Châu là được chết, được chôn chung với người yêu. Nhưng người ta có thể hiểu rằng: Quang thỏa mãn nở nụ cười vì mối tình trọn vẹn.¨
Image
Image

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

Tin tức mới nhất về Nghĩa Trang Quân đội Biên Hoà .

Tin Sàigon .
Theo tin của nhật báo Sàigon Giải phóng ngày 4/ 12
cho biết Chủ tịch Uỷ ban Nhân Dân tỉnh Bình Dương Khẳng Định không có chuyện giao cho Cá nhân hay Tổ chức khác đứng ra Tu sửa Nghĩa trang Quân đội Biên Hoà

Chủ tịch UBND Tỉnh Dương đã quyết định đổi tên Nghĩa trang Quân đội Biên Hoà thành Nghĩa trang Nhân Dân xã Bình Thắng đồng thời giao trách nhiệm chăm nom khu đất trên cho UBND Huyện Dĩ An .
Hiện tại UBND Huyện Dĩ An đang lập dự án chỉnh trang toàn bộ khu đất 58 ha này trong đó có việc Tu sửa Chỉnh trang và xây dựng Nghĩa trang hiện hữu rộng 29 ha .Ngoài Nghĩa trang , các phần đất trống còn lại sẽ xây dựng Trường học và. An Sinh xã hội .

Theo chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương đã có nhiều Cá nhân ở Hải ngoại cũng như đoàn thể đã làm đơn xin Tự nguyện Chăm Sóc Chỉnh trang Nghĩa trang Quân đội Biên Hoà nhưng UBND đã từ chối .Vì hiện giờ Uỷ ban Xã Bình thắng đã Tu sửa và chăm sóc các Ngôi mộ vô chủ .

User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Image

Biệt Hải trên vùng biển bão tố

Phạm Phong Dinh



Sau khi hay tin 15 Biệt Hải thuộc Tuần Dương Hạm HQ 16 Lý Thường Kiệt được một ngư thuyền cứu vớt tại eo biển Qui Nhơn, cách đảo Cù Lao Xanh (hay còn gọi là Mũi Yến) 55 cây số về phía Đông và vẫn còn ở ngoài hải phận quốc tế, nhiều phóng viên quân đội đã chạy đôn chạy đáo tìm mọi cách để đến gặp và nhìn tận mắt những người lính biển đầu tiên đã viết những dòng hải sử chiến đấu chống quân Trung cộng, kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Việt Nam. Chỉ với 15 người lính, các anh đã phải đối đầu với một lực lượng hung hãn địch gấp gần 20 lần hơn trên đảo Vĩnh Lạc. Trong lúc những chiến hạm của Hải Quân Việt Nam còn đang giáp chiến với hải quân Trung cộng, tiếng đại bác của hai bên nổ rền mặt đại dương, thì 15 chiến sĩ Biệt Hải đã kiệt liệt đối súng với hàng trăm lính bộ chiến của Trung cộng trên hòn đảo nhỏ này. Giữa cơn lửa đạn mù rời, toán Biệt Hải nhận được lệnh rút bỏ Vĩnh Lạc, vì cấp chỉ huy mặt trận Hoàng Sa không thể hy sinh oan uổng những đoàn viên ưu tú nhất của quân chủng. Không có một chiếc tàu nào đến đón, vì lúc đó 14 tàu chiến Trung cộng đang vây đánh Tuần Dương Hạm HQ 16 Lý Thường Kiệt, Tuần Dương Hạm HQ 5 Trần Bình Trọng, Hộ Tống Hạm Nhật Tảo HQ 10 và Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư HQ 4. Chiếc xuồng đổ bộ giờ đây đã trở thành chiếc phao cứu sinh duy nhất của toán chiến sĩ lạc loài này. Cuộc hành trình vượt chết trên vùng biển bão tố bắt đầu.



Một toán thám sát Biệt Hải được chiếc HQ 16 Lý Thường Kiệt thả xuống gần đảo Vĩnh Lạc, rồi các anh dùng thuyền nhỏ chèo vào và đổ bộ lên bờ biển. Đảo Vĩnh Lạc (còn gọi là đảo Quang Ảnh hay Money) thuộc chủ quyền Việt Nam từ thời triều đình nhà Nguyễn, nhưng đã bị hải quân Đài Loan lợi dụng lúc ra giải giới quân Nhật khi Nhật đầu hàng quân Đồng Minh ngày 21.8.1945, đã ngang ngược chiếm lấy và tuyên bố chủ quyền từ năm 1946. Đến lượt Trung cộng đoạt lấy đảo Vĩnh Lạc cuối năm 1949, sau khi đánh bại quân Quốc Dân Đảng Trung Hoa ở lục địa. Đảo Vĩnh Lạc, cũng như hầu hết các đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa (còn gọi là Paracel) có cấu tạo san hô rất kiên cố, nên địa thế rất khó khăn cho tàu bè cặp bến. Đây là đảo có nhiều cây cối và là nơi chim biển đến sinh sống nhiều nhất. Số phân phosphate từ phân chim ước lượng phải gần 1,200,000 tấn. Đó là một trong những lý do tại sao thu hút lòng tham lam bất chính của cả Đài Loan và Trung cộng.



Trung Úy Lâm Trí Liêm, Trưởng Toán Biệt Hải, khi anh dẫn 15 chiến sĩ đổ bộ lên Vĩnh Lạc, đã khám phá bốn ngôi mộ với bốn cái bia đá do Trung cộng dựng nên để xác nhận chủ quyền của chúng. Những ngôi mộ chẳng biết có bộ xương nào ở dưới hay không, nhưng những tấm bia chỉ là biểu trưng của sự giả trá quỉ quái của bọn cộng sản, với dụng ý chứng tỏ đã có dấu chân của chúng từ lâu. Trung Úy Liêm ra lệnh cho đoàn viên Biệt Hải nhổ những tấm bia đá này chuyển xuống HQ 16 để chuyên viên của ta dịch sang Việt ngữ xem chúng khắc cái quái gì trên đó, rồi đem về Sài Gòn. Ngoài nhiệm vụ phá hủy những di chứng giả tạo của Trung cộng, Toán Biệt Hải còn có công tác cắm cờ Việt Nam và bảo vệ cờ để xác nhận chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa.



Khi Trung Úy Liêm cùng chiến sĩ Biệt Hải của anh đặt chân lên đảo Vĩnh Lạc, hòn đảo hoàn toàn hoang vắng không một bóng người, chỉ có mỗi bốn nấm mộ nằm chơ vơ giữa vùng trời nước. Quân ta nằm bố trí trên đảo chờ chuyến tiếp tế, nhưng vì các chiến hạm còn đang theo dõi thám sát những hành động của tàu Trung cộng, nên mãi đến chiều ngày 17.1.1974 mới có tàu đến đổ xuống một khối lượng lương khô cho 93 ngày, có nghĩa là Bộ Tư Lệnh Mặt Trận Hoàng Sa của Hải Quân Đại Tá Hà Văn Ngạc đã dự định phải giữ đảo ít nhất là ba tháng. Tiếng súng hải chiến bắt đầu nổ trên vùng biển Hoàng Sa ngày 19.1.1974. Lúc đó là 10 giờ 25 sáng. Lúc 10 giờ 22 phút, một hộ tống hạm Trung cộng loại Kronstadt đã hướng mũi tàu đâm thẳng vào Khu Trục Hạm HQ 4 Trần Khánh Dư đang giữ chặt đảo Quang Hòa. HQ 4 nhận được lệnh khai hỏa từ Bộ Tư Lệnh Hải Quân ở Sài Gòn, quả đại bác đầu tiên được bắn ra sau nhiều ngày sẵn sàng tác chiến đã trúng ngay chiếc tàu giặc. Chiếc Kronstadt bị chìm xuống đáy biển. Chiếc HQ 4 bị hư hại nhẹ. Với chiến thắng nức lòng đó, những HQ 5, HQ 10 và HQ16 tuần hành chung quan các đảo Quang Hòa và Duy Mộng đồng nổ súng đánh đuổi địch. Cả một vùng Hoàng Sa ầm tiếng sấm phẫn nộ của người nước Nam. Hộ Tống Hạm Nhật Tảo HQ 10 trúng một chiếc hỏa tiễn Styx từ chiến hạm Trung cộng bị hư hại rất nặng và chìm dần. Hải Quân Trung Tá Ngụy Văn Thà trúng đạn giặc ở cầu thang chỉ huy, đã anh dũng hy sinh, 32 chiến sĩ trên tàu bị mất liên lạc. Những thủy thủ của HQ 10 bềnh bồng giữa đại dương đến 6 giờ 30 chiều ngày 22.1.1974 thì được thương thuyền Hòa Lan KOPIONELLA vớt được 23 người, cách phía Đông Đà Nẵng 287 cây số. Sáng hôm sau, chiến hạm Việt Nam đến tiếp nhận số chiến sĩ lưu lạc này, trong số đó có thân xác của Hải Quân Đại Úy Nguyễn Mạnh Trí, Hạm Phó HQ 10, đã chết và 2 chiến sĩ bị thương.



Những chiến sĩ Biệt Hải nằm trên đảo Vĩnh Lạc nhìn về hướng Duy Mộng và Quang Hòa cách đảo chừng 34 cây số đã thấy những đốm lửa sáng lóe lên. Đoàn viên truyền tin liên lạc với Đài Khí Tượng thì được biết một tàu Trung cộng đã bị quân ta bắn trúng đang từ từ chìm xuống biển cả. Những người lính Biệt Hải reo hò vang dậy chào mừng chiến công của đồng đội. Dẫu biết rằng Hải Quân Việt Nam ở thế hạ phong về tàu chiến và vũ khí, nhưng ngay phát súng đầu, HQ 4 Trần Khánh Dư đã nhắc cho giặc Bắc nhớ lại trận hải chiến kinh hoàng ở cửa biển Vân Đồn năm 1287, Tướng Quân Trần Khánh Dư đã đánh chìm hàng trăm chiến thuyền của tướng Ô Mã Nhi và tên hải tặc Trương Văn Hổ, mà đã đẩy đạo quân 20 vạn của Thoát Hoan trên bộ vào thảm cảnh chết đói và hoàn toàn chiến bại. Giao chiến bằng tàu thường không thắng nỗi bốn chiếc HQ thời Đệ Nhị Thế Chiến của ta, Trung cộng phải hối hả điều thêm những chiến hạm tối tân Komar trang bị hỏa tiễn tầm xạ Dù vậy, các HQ của Hải Quân Việt Nam cũng đã hủy diệt thêm một tàu và làm hư hại hai chiếc khác, trước khi nhận được lệnh rút ra khỏi quần đảo Hoàng Sa sau hai giờ pháo chiến. Một kế hoạch đánh tập kích lực lượng địch vài ngày sau đó của Bộ Tư Lệnh Hải Quân Việt Nam được phác họa, nhưng đã không được thực hiện vì nhiều lý do khác nhau.

Image


Cuộc hải hành bằng xuồng cao su trên đại dương



Ba ngày trấn giữ Vĩnh Lạc không thấy có Toán Thám Sát nào đến thay thế, hướng Hoàng Sa đã im tiếng súng mà trên không luôn có nhiều phi cơ rất lạ bay lượn vòng vòng, Trung Úy Liêm nhận định rằng tình hình ngày càng rất bất lợi cho đảo Vĩnh Lạc, với một nhúm chiến sĩ ít ỏi như thế này. Có tin Trung cộng đã điều chiến hạm đến tấn công Cam Tuyền và Vĩnh Lạc. Từng đợt hải pháo của tàu giặc dội ì đùng xuống một diện tích nhỏ bé của hòn đảo, rồi bốn chiếc Mig 21 và Mig 23 xuất phát từ đảo Hải Nam bay đến oanh kích dọn bãi để lính địch đổ bộ. Con số chiến hạm Trung cộng tham chiến đã lên đến 40 chiếc. Trung Úy Liêm quyết định chờ đêm tối dùng xuồng cao su thoát ra khỏi Vĩnh Lạc. Thật không may mắn cho những người lính cô đơn này, chiếc xuồng cao su lại bị lủng một lỗ nơi miệng cao su lót đáy, không biết có phải là do bởi mảnh pháo địch, nước biển tràn vào, các Biệt Hải xé vải nhét lại. Tình thế thật bi đát. Các chiến sĩ phải ngồi rải chung quanh thành ca nô, tránh ngồi tập trung ở giữa tránh tình trạng quá nặng. Trong khi quân ta âm thầm chèo ra ngoài khơi thì bỗng có quang hiệu của tàu Trung cộng gọi trở lại, nhưng Trung Úy Liêm ra lệnh cho các chiến sĩ tiếp tục hướng mũi ra biển. Thà chết vinh giữa biển cả, còn hơn là sống nhục trong lao tù cộng sản.



Chiếc xuống tiếp tục di chuyển về hướng Tây Nam. Sáu mái chèo thay nhau quạt nước. Một cái mền được dùng làm buồm căng trên một cái cột buồm bằng một cành tre tìm thấy trên đảo. Sức gió đã đẩy chiếc xuồng ọp ẹp đó xa dần đảo Vĩnh Lạc. Thêm một mảnh đất của Việt Nam đã lọt vào tay giặc. Tình hình ngày càng tồi tệ, khi lương thực đem theo đã dần cạn, quân ta phải hạn chế ăn uống, bi đát đến nỗi mỗi người chỉ có 6 muỗng nước mỗi ngày. Đến ngày thứ ba, số nước dự trữ chỉ còn có 30 lít, nhưng vì bị sóng nhồi nên đã bị đổ mất 10 lít, nên đành phải chịu giới hạn đến tối đa. Đến ngày thứ năm cuộc hành trình, chỉ uống nước mà không còn thức ăn, chiếc xuồng cao su nhấp nhô trên vùng biển động cấp 5, 6 chỗ bị lủng vẫn luôn luôn là mối đe dọa chết chóc của 15 người lính đã rất yếu sức. Ngày nắng như nung, lượng nước trong cơ thể bốc hơi nhanh chóng tạo ra hiện tượng mất nước (dehydration)., đêm thì lạnh buốt đến tận xương tủy. Chỉ có sức chịu đựng phi thường của những người lính cứng như thép Biệt Hải mới có thể sống sót qua thử thách này.



Ở giữa trùng khơi mênh mông không thấy đâu là bến bờ, dưới những cơn thịnh nộ của thủy thần đại dương, con người bé nhỏ chỉ có thể nguyện cầu xin được che chở. Thật mầu nhiệm, lời cầu nguyện đó của 15 Biệt Hải dường nhưng đã được nghe nhận từ cõi thiêng liêng. Theo lời kể của Trung Sĩ Nguyễn Trọng Tuấn, nhân viên điện tử, lúc đặt chân xuống thuyền, nhiều Biệt Hài đã khấn nguyện xin cho được an lành trở về với đất liền, với đồng bào và với quân đội để tiếp tục chiến đấu. Phép huyền diệu đó đã bắt đầu hiện ra từ ngày thứ sáu, mà tất cả chiến sĩ trên ca nô đều nhận biết như nhau.



Theo Trung Sĩ Tuấn, khi đến vùng biển động, sóng lượn theo chiều ngang rất nguy hiểm. Kinh nghiệm hải hành cho thấy rằng tàu nào gặp những con sóng ngang kiểu này cũng đều lắc lư rất dễ sợ. Nhưng có một điều kỳ dị rất khó giải thích là chiếc xuống lại lướt rất nhẹ nhàng một cách rất bình thản trên đầu ngọn sóng chết người đó. Hơn thế, nó còn chạy vo vo một mạch với tốc độ 40 cây số / giờ. Lợi dụng hiện tượng quái lạ này, anh em Biệt Hải gác mái chèo nghỉ xả hơi. Đặc biệt khi gặp sóng cao thì một lực nào đó giúp hóa giải sức giật ngaỵ Trung Sĩ Tuấn và nhiều Biệt Hải đã thấy một cái gì đó không phải thuyền chài, mà nó gần giống như cái kỳ cá nhú lên khỏi mặt biển, mà họ tin là cá voi, hay cá ông, những vị thần cứu mạng trong huyền thoại trên biển Nam Hải của giới thuyền bè qua lại trên vùng biển này. Có những con cá voi bị bão tấp vào bờ chết, đã được dân chài vùng biển chôn và lập đền thờ để nhớ ơn chúng đã cứu giúp ghe thuyền lúc hoạn nạn. Nhiều lúc các chiến sĩ nghe thấy nhiều tiếng lục cục dưới đáy chiếc xuồng ca nô, mái chèo thấy nhẹ hổng. Có lẽ một chú cá voi lạc loài nào đó tránh sóng bão đã tựa lưng vào cùng tồn tại với con người, mà nhờ sức mạnh thần kỳ của nó đã đưa chiếc xuồng vượt qua những con sóng chết. Hay đó có phải là phép nhiệm mầu của tạo hóa xót thương những người lính chân chính của một dân tộc tang thương vì nạn xâm lược của loài ác quỷ cộng sản. Không ai có thể giải thích được sự kiện nàỵ Nhưng sáu mái chèo kiệt lực không thể nào đưa chiếc xuống đi phom phom 40 cây số giờ như vậy được.



Giữa cơn bão giật, nhóm chiến sĩ Biệt Hải dường như trông thấy hình dáng một chiếc thuyền, quân ta vui mừng khấn nguyện cho nó tiến đến gần hơn, thì thình lình nó quày đầu chạy ngược trở lại. Vài chiến sĩ quá nóng lòng bèn bắn vài phát súng báo động. Nhưng càng nghe tiếng súng thì chiếc thuyền đó càng phóng dữ. Chẳng mấy chốc nó đã biến mất giữa những con sóng. Nhìn lại đã thấy một dải đất mờ, đối chiếu với hải đồ, thì có lẽ chiếc xuống đã dạt về đến vùng biển Mũi Cù Lao Ré ngoài hải phận Quảng Nam. Nhưng lưỡi hái của thủy thần vẫn còn treo đung đưa trên đầu, thấy đất liền đó mà sóng vẫn kéo chiếc xuồng ra xa dần ngoài khơi, không chèo vào được. Chiến sĩ trên xuồng chắc lưỡi tiếc hùi hụi, nếu đừng bắn súng cho cá ông sợ chạy mất, thì biết đâu ngài đã đưa anh em vào gần bờ hơn. Như vậy, Toán Biệt Hải đã được cá ông đưa vào hướng Đà Nẵng trọn một đêm dài, nhưng định mệnh vẫn còn thử thách chí quật cường của những người lính Hải Quân. Cuộc hành trình về với tổ quốc tiếp diễn.



Chiếc xuống càng lúc càng đến gần hải phận Việt Nam Cộng Hòa hơn. Qua đến ngày thứ bảy, các chiến sĩ Biệt Hải trông thấy nhiều ghe thuyền xuôi ngược liền bắn súng xin tiếp cứu, nhưng những chiếc tàu này hoặc là không nghe được tiếng nổ, hoặc là do một lý do nào khác đã chạy lảng ra xa. Tình trạng sức khỏe của những Biệt Hải trên ca nô đã trở nên rất tồi tệ, các anh như những cái xác còn cử động là nhờ ở ý chí tìm sống, nước uống trên xuồng đã hết sạch từ lâu. Qua đến ngày thứ chín cuộc hải hành chiến sĩ Biệt Hải đã phải uống nước tiểu của mình. Có lúc xuồng chỉ còn cách bờ biển Sa Huỳnh thuộc tỉnh Quảng Ngãi chừng 100 hải lý, nhưng không thể nào chèo vào được, ca nô vẫn bị cuốn trở ra ngoài khơi. Chiếc buồm được điều chỉnh về hướng Đông Bắc để gió có thể thổi tạt các anh về hướng Tây Nam, hy vọng tấp vào được gần bờ hơn. Mỗi đêm các chiến sĩ Biệt Hải có trông thấy nhiều máy bay lượn vòng thật cao, có lẽ đang hoạt động không ảnh, vì ánh sáng cứ lóe lên từng hồi chiếu xuống mặt biển. Mặc dù không biết những phi cơ này thuộc quốc tịch nào, nhưng quân ta vẫn bám víu vào một hy vọng mỏng manh, nên đã bắn lên nhiều hỏa hiệu để đánh dấu mục tiêu cùng điểm đứng của chiếc ca nô. Nhưng tất cả đều vô hiệu, có lẽ vì phi cơ bay với vận tốc nhanh và quá cao nên không thể thấy rõ những trái sáng.



Sự cố gắng đó cuối cùng rồi cũng được đền bù, ngày thứ mười, chiếc xuống đã giạt vào hải phận tỉnh Bình Định, cách đảo Cù Lao Xanh thuộc xã Phước Ninh, quận Nhơn Bình chừng 30 hải lý. Với khoảng cách này cái sống đã hiện ra rõ nét, nhưng chiếc xuồng vẫn còn nằm ngoài hải phận quốc tế. Trung Úy Lâm Trí Liêm, Trưởng Toán Biệt Hải, là người còn có thể đứng vững trong tình thế tuyệt vọng nhất, anh thật xứng đáng là một cấp chỉ huy tài ba, mà đã cứu được mạng sống của tất cả đoàn viên. Anh đã trông thấy có ba chiếc ghe đánh cá đang hoạt động gần đó, mừng quá anh bắn mấy phát súng cầu cứu. Hai chiếc ghe đầu tiên hoảng sợ bỏ chạy mất, nhưng chiếc ghe thứ ba, trời ơi, nó đã lừng lững tiến đến. Các chiến sĩ Biệt Hải đã có thể trông thấy những khuôn mặt Việt Nam đen rám vì nắng gió biển khơi, những ánh mắt xúc cảm và những nụ cười quá thánh thiện. Toán ngư phủ trên ghe vội vã ném dây cột chiếc xuồng cao su kéo về Qui Nhơn. Lúc đó là khoảng 12 giờ 30 trưa ngày 21.1.1974. Những người lính Biệt Hải sẽ nhớ mãi cái ngày hồi sinh này.



Trong lúc kéo xuồng cao su trở vào hải cảng Qui Nhơn, thì các ngư phủ đã giúp chừng phân nửa số chiến sĩ leo lên thuyền của họ, số còn lại quá mệt mỏi đành phải nằm nghỉ dưới xuồng. Hạ Sĩ Nhứt Nguyễn Văn Duyên, nhân viên Quản Kho hoàn toàn kiệt sức vì hiện tượng mất nước và thiếu ăn, anh đã từ từ chìm vào cơn kích sốc, khi được đưa lên thuyền đánh cá, thì anh đã nhắm mắt ra đi.



Điều dưỡng tại Quân Y Viện Qui Nhơn



Hải Quân Trung Tá Nguyễn Ngọc Tĩnh, Chỉ Huy Trưởng Căn Cứ Hải Quân Qui Nhơn khi hay tin một chiếc ghe đánh cá đã vào gần đến hải cảng Qui Nhơn với 15 chiến sĩ Biệt Hải, đã lập tức cho tàu ra đón tại ngọn hải đăng đưa vào Căn Cứ và chờ phương tiện chở các anh về Quân Y Viện Qui Nhơn. Toán Biệt Hải đã được chở vào và được nằm điều dưỡng trong Trại Nội Thương 9. Bây giờ, các Biệt Hải đã đi đến cuối cuộc hành trình của mình sau hơn mười một ngày đêm tham dự cuộc hải chiến Hoàng Sa lịch sử. Nhiều chiến sĩ mê man nằm thiêm thiếp, mặc dù đã được các nhân viên Quân Y truyền cho loại huyết tương màu vàng để bổ sung nguồn protein, khoáng và nước bị mất. Các anh đã được bón cho những loại thức ăn nhẹ. Nửa căn phòng của Trại Nội Thương 9 đã được dành riêng cho nhóm 14 chiến sĩ Biệt Hải, dưới sự chăm sóc tận tụy của Quân Y và đồng đội thuộc Căn Cứ Hải Quân Qui Nhơn.



Y Sĩ Trung Tá Nguyễn Xuân Cẩm, Chỉ Huy Trưởng Quân Y Viện Qui Nhơn đích thân ra lệnh cho nhân viên Quân Y dành cho các Biệt Hải sự chăm sóc đặc biệt, vì các anh xứng đáng được đối xử như vậy. Mỗi ngày, mỗi chiến sĩ được truyền một chai huyết tương, uống sữa trứng gà ngày hai lần, cam vắt hai lần, uống nước súp xương thịt. Cuộc điều trị sang đến ngày 1.2.1974 thì các Biệt Hải được ăn cháo nấu với tim và cật, tình trạng sức khỏe của các anh đã rất khả quan. Những con người thép mà đã từng vượt qua chương trình huấn luyện “địa ngục” của Người Nhái, chẳng mấy chốc đã có thể ngồi dậy nói chuyện thoải mái và vui vẻ với tất cả những phái đoàn quân và dân tấp nập kéo nhau vào thăm hỏi, tặng quà khích lệ. Đặc biệt, các chiến sĩ Biệt Hải luôn nhớ ơn Bác Sĩ Cẩm Chỉ Huy Trưởng đã túc trực ngày đêm săn sóc các anh.



Phái đoàn đầu tiên đến thăm các chiến sĩ Vĩnh Lạc, Hoàng Sa, do Hải Quân Đại Tá Trịnh Quan Xuân, Tư Lệnh Vùng II Duyên Hải, đã dùng trực thăng đến an ủi và ủy lạo các anh với nhiều tặng vật trong ngày 31.1.1974. Đến 4 giờ chiều cùng ngày, Đại Tá Hoàng Đình Thọ, Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Bình Định hướng dẫn một phái đoàn khác vào thăm. Sang ngày 1.2.1974, đến lượt Hải Quân Đại Tá Nguyễn Đức Vân, Trưởng Phòng Kế Hoạch Bộ Tư Lệnh Hải Quân, đại diện Đề Đốc Trần Văn Chơn, Tư Lệnh Hải Quân, đã đến thăm hỏi chiến sĩ trong buổi chiều và trao tặng mỗi anh số tiền 5,000 đồng. Món tiền tuy nhỏ nhưng nói lên cái tình giữa chiến hữu huynh đệ với nhau, và nó còn bày tỏ lòng tri ân của người hậu phương dành cho những chiến sĩ ở mãi tận ngoài đại dương.



Huy chương trao tặng cho những ân nhân



Một trong những cuộc viếng thăm có ý nghĩa nhất do Phó Đề Đốc Tư Lệnh Phó Hải Quân, hướng dẫn buổi sáng ngày 1.2.1974. Tư Lệnh Phó đã đại diện Tư Lệnh Hải Quân đến thăm hỏi, khích lệ và ủy lạo 14 chiến sĩ Biệt Hải. Tất cả các Biệt Hải đều vinh dự được tuyên dương công trạng, hãnh diện nhận mỗi người một huy chương cao quí Anh Dũng Bội Tinh. Phòng Tổng Quản Trị Hải Quân cũng trình Bộ Tư Lệnh Hải Quân đề nghị Bộ Tổng Tham Mưu thăng cấp đặc cách cho tất cả 14 Biệt Hải. Không quên những người ngư phủ đã cứu sống chiến sĩ Hoàng Sa, phái đoàn của Tư Lệnh Phó dùng tàu nhỏ di chuyển sang Căn Cứ Hải Quân Qui Nhơn để thay mặt chính quyền và Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa bày tỏ lòng tri ân với năm công dân Việt Nam Cộng Hòa. Năm vị ân nhân này đã cảm xúc nhận năm chiếc huy chương cao quí của Hải Quân là Hải Vụ Bội Tinh. Buổi lễ tri ân được tổ chức đơn giản nhưng trang trọng. Có thể là năm người ngư dân bình thường và vô danh này nghĩ rằng việc cứu sống những người lính Việt Nam Cộng Hòa là một việc bình thường trên biển cả với nhau. Nhưng chính là ở nghĩa cử này đã nói lên được một ý nghĩa cao cả, thắm thiết từ tận đáy lòng của họ. Đó là Tình Quân Dân gắn bó mà người lính gian nan của chúng ta qua những năm tháng phơi xương trải thịt chiến đấu bảo vệ đất nước và dân tộc đã chiếm được mối tình cảm của đồng bào ở hậu phương. Hải Vụ Bội Tinh vẫn chưa thấy đủ lòng tri ân, Hải Quân Trung Tá Lê Văn Thì, Trưởng Phòng Tổng Quản Trị, Bộ Tư Lệnh Hải Quân, đã làm tờ trình xin Bộ Tổng Tham Mưu ân thưởng cho ông Dư Thanh Long, chủ nhân chiếc thuyền đánh cá mang số 3874, huy chương Nhân Dũng Bội Tinh. Cuộc trao gắn chiếc Bội Tinh sẽ được tổ chức ngay sau khi nhận được Quyết Định của Bộ Tổng Tham Mưu. Ngoài ông Long là chủ nhân chiếc thuyền, còn lại là những thủy thủ Dư Thanh Dũng, Nguyễn Tâm, Nguyễn Ngọc, Lý Luông, tất cả đều cảm thấy sung sướng khi chính các anh đã cứu vớt kịp thời các chiến sĩ Biệt Hải. Câu chuyện tàu 3874 tìm thấy chiếc xuồng ca nô mà trên đó 14 chiến sĩ của chúng ta đã gần như kiệt lực đã do chính ông chủ tàu kể lại như sau.



Ông Dư Thanh Long đang lái chiếc thuyền đánh cá ngoài khơi Qui Nhơn, lúc đó khoảng 12 giờ 30 trưa. Ông Long chợt nhìn thấy một điểm đen ngoài xa, cách chiếc thuyền đánh cá của ông độ hai cây số. Lúc đầu ông Long tưởng là dân chài đánh cá gặp tai nạn nên dùng thúng chai chèo vào đảo Cù Lao Xanh, nhưng khi đến gần ông nhận thấy không phải, nên đã gọi những thủy thủ thức dậy để sẵn sàng cứu người, vì lúc đó anh em đang ngủ. Chiếc tàu đánh cá càng đến gần, thì nhóm ông Long đã có thể thấy rõ nhiều người ăn mặc rất lôi thôi, nếu không muốn nói là tơi tả, nhiều cánh tay đưa cao lên những khẩu súng. Là một người đánh cá từng trải và gan dạ, ông Long cẩn thận cho tàu của mình cặp sát vào chiếc xuồng cao su, ông đã nhận thấy trong số người lạ mặt này những bộ quân phục quen thuộc, nhưng tất cả kiệt sức nằm rũ riệt trong xuồng. Ông Long nghiêng mình hỏi vói xuống, rằng lại sao lại đến nông nỗi như thế. Trung Úy Liêm còn tỉnh nhất đã gào to lên:


- Tụi tôi đánh Hoàng Sa thoát về đây, xin cứu nhanh và đưa về Căn Cứ Hải Quân.



Ông Long phái mấy thủy thủ khỏe mạnh nhất nhảy xuống chiếc ca nô bồng lên từng người, những chiến sĩ nào còn có thể leo được thì tự leo lấy, nhưng phần lớn các anh đều phải nhờ sự giúp sức của các ngư dân. Khi đã leo lên được hết trên tàu, các Biệt Hải chỉ còn có thể nằm sải tay ra thở dốc và đòi nước như điên. Nhân có ấm nước đang sôi, anh em thuyền chài thi nhau thổi cho nguội bớt và trao cho các Biệt Hải nhấp từng ngụm cầm chừng. Đồng thời, các thủy thủ cũng dùng số thuốc cấp cứu mang theo trên tàu để cho các chiến sĩ dùng tạm. Nhận thấy tình trạng các Biệt Hải quá yếu, ông Long gọi bốn thủy thủ đem nồi cháo hồ đổ cho mỗi người nửa chén. Được một lúc, thấy những người lính có vẻ tươi tỉnh hơn, ông lại cho người đổ cháo tiếp, cứ mỗi nửa giờ đút cháo một lần. Tình hình sức khỏe các anh đã khả quan rất nhiều, trong lúc chiếc thuyền chỉ còn cách hải cảng Qui Nhơn chừng mười cây số. Ông Long đã rất lấy làm xót xa là đã không cứu được Biệt Hải Nguyễn Văn Duyên, vì khi anh được khiêng lên tàu, thì thân thể của anh đã bị tê liệt, anh đang thở những hơi cuối cùng. Chiếc ghe đánh cá đã xả hết tốc lực phóng vào bờ, với một hy vọng mỏng manh chạy đua với thời gian và thần chết, nhưng đã không còn kịp nữa rồi. Biệt Hải Nguyễn Văn Duyên đã anh dũng đền nợ nước. Chắc anh linh của anh cũng đã thanh thản bốc lên trên khoảng trời trong xanh và trên mặt sóng của quê hương. Anh đã về đến hải phận Việt Nam và đã ra đi trong những giọt nước mắt nghẹn ngào của anh em.



Một vài khoảnh khắc sau, một chiếc giang đỉnh của Căn Cứ Hải Quân Qui Nhơn đi tuần đã bắt gặp chiếc thuyền, được biết tự sự, đã khẩn cấp gọi về Bộ Chỉ Huy để chuẩn bị phương tiện cấp cứu. Nhiều chiến đỉnh xuôi ra khơi để hộ tống chiếc tàu đánh cá tiến vào Căn Cứ. Cuộc hành trình của 15 Biệt Hải vượt thoát từ mặt trận Hoàng Sa đã chấm dứt. Tuy rằng các anh và những chiến hạm HQ 4 Trần Khánh Dư, HQ 5 Trần Bình Trọng, HQ 10 Nhật Tảo và HQ 16 Lý Thường Kiệt đã phải đớn đau rút bỏ Hoàng Sa, nhưng ít nhất Hải Quân Trung cộng đã kinh hãi khi phải đối đầu với cơn phẫn nộ của hậu duệ Ngô Vương Quyền, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, dù chúng có tạm thời chiếm được Hoàng Sa nhưng cũng đã phải trả cái giá rất đắt. Hai chiến hạm bị chìm và hai chiến hạm bị hư hại.



Lịch sử bốn ngàn năm chống giặc ngoại xâm phương Bắc của dân tộc Việt Nam đã chứng minh rằng, chưa từng có đế quốc Hán tộc nào có thể hùng cứ lâu dài trên mảnh đất Hoa Lục mà không bị sụp đổ. Trung cộng không ra ngoài định lý ấy. Nền kinh tế của nó hiện nay đang phụ thuộc rất nặng nề vào tư bản Hoa Kỳ, đó là cái tiền đề để dẫn đến một cuộc sụp đổ không tốn một giọt máu kiểu Liên Sô năm 1989. Trung cộng đang giẫm vào vết xe đổ của Liên Sô qua những cuộc chạy đua võ trang và không gian với người Mỹ, ấy vậy mà bọn chúng đang rất kiêu hãnh đẩy mạnh tốc độ cuộc thi tài. Cũng tốt cho nhân loại. Càng chạy nhanh thì cái hố địa ngục càng đến gần hơn. Rồi cũng có một ngày quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa sẽ trở về với dân tộc Việt Nam. Đến lúc đó, thế hệ con cháu Việt Nam sẽ giở lại những trang sử hào hùng của cuộc hải chiến Hoàng Sa ngày 19.1.1974, và sẽ thêm một lần cúi đầu ngợi ca ông cha của mình đã đánh giặc phương Bắc kiệt liệt đến như thế nào.



Phạm Phong Dinh

------------------------------

User avatar
VuPhong
Posts: 2926
Joined: Wed Dec 01, 2004 4:28 pm

Post by VuPhong »

Image

Tang lễ Cựu Đại Tướng Cao Văn Viên

Tuyết Mai


Virginia.- Cựu Đại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng, Tổng Tham Mưu Quân Lực VNCH đã ra đi lúc 6:15 sáng ngày 22 Tháng Giêng , 2008 tại Virginia. Tang lễ được Cử hành vô cùng trọng thể theo lễ nghi quân cách trong ba ngày. Lễ phủ kỳ được tổ chức vào lúc 4:30 chiều ngày 25 Tháng Giêng 2008. Ngày 26/1 thăm viếng. Nghi lễ tiễn biệt, Xếp Kỳ và lễ hoả táng sẽ được tổ chức vào lúc 12:30 trưa ngày 27 Tháng Giêng, 2008.



Có nhiều cựu quân nhân thuộc các quân binh chủng trong QLVNCH đến tham dự tang lễ Cựu Đại Tướng Viên, trong đó có Bác sĩ Nguyễn Lưu Viên, Phó Thủ Tướng; Đại Sứ Bùi Diễm, Trung tướng Lữ Lan, Trung Tướng Tôn Thất Đính, Trung Tướng Đồng Văn Khuyên, Phó Đề Đốc Đinh Mạnh Hùng, Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại, Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai, Thiếu Tướng Trần Đình Thọ, Thiếu Tướng Phan Hòa Hiệp, Trung Tướng Phạm Quốc Thuần, Phó Đề Đốc Diệp Quang Thủy, Ông Bùi Cữu Viên, Bộ Trưởng Phủ Thủ Tướng; Thiếu Tướng Lê Minh Đảo, Ông Lê Tùy Đại Diện Thượng Nghị Sĩ Quốc Hội HK Jim Webb…



Trong ngày đầu, mở đầu là lễ chào Quốc Quân Kỳ trước quan tài, toán quốc quân kỳ gồm có năm người, một người cầm Quốc Kỳ, một người cầm cờ Tổng tham Mưu và một người cầm cờ Đại Tướng, bốn sao, hai người đi hai bên cầm súng. Sau đó là lễ phủ cờ, trước sự hiện diện của các đại diện Quân Binh Chủng Hải, Lục, Không Quân, Sư Đoàn Dù, Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến, Địa Phương Nghĩa Quân, Trường Võ Bị Quồc Gia Đà Lạt, Trường Bộ Binh Thủ Đức, Thiếu Sinh Quân… Toán phủ kỳ gồm có chín cựu quân nhân thuộc Sư Đoàn TQLC, Sư Đoàn Nhảy Dù, Hải Quân và Không quân…



Phía sau quan tài có rất nhiều cờ, gồm có quốc kỳ Mỹ, Việt, cờ của bốn Quân Đoàn I, II, III và IV, cờ các quân binh chủng như Hải Quân, Không Quân, Dù, TQLC, và cờ của các Sư Đoàn SĐ5, SĐ25, SĐ 18 …Thêm vào đó gần bốn mươi vòng hoa tươi thật đẹp của các đoàn thể phúng điếu đã trang hoàng cho căn phòng có thật nhiều màu sắc.



Trong ngày thứ hai, thăm viếng tang lễ có Cựu Thiếu Tướng Lê Minh Đảo. Ông nói, Đại Tướng Viên là người lãnh đạo toàn thể Quân Lực VNCH cho nên sự ra đi của Đại Tướng đã làm cho anh em trong Quân Đội cảm thấy một sự mất mát lớn lao . Ông Đảo nhắc lại, khi ông được anh em quân nhân giao phó cho việc thành lập Đại Hội Toàn Quân 2003, thì ông đến viếng Cựu Đại Tướng Viên đầu tiên, chính Đại Tướng Viên cho ông lời khuyên và nhắn nhũ nên làm việc gì. Đại Tướng Viên đã viết một lá thư cho toàn thể anh em, thư đó đã được Thiếu Tướng Bùi Đình Đạm đọc cho toàn thể anh em trong Đại Hội Toàn Quân đó. Chính lá thư đó đã động viên tinh thần

anh em rất mạnh để tất cả đã ngồi lại và cảm thấy rằng mình vẫn còn có một vị chỉ huy, một con chim đầu đàn trong Quân Đội.



Nhận định của ông đối với vị chỉ huy cao cấp, Thiếu Tướng Lê Minh Đảo nói, theo Ông Đại Tướng Cao Văn Viên là một vị tướng không có liên quan về chính trị. Có thể nói ông là một vị tướng trung thành, chẳng hạn trong cuộc đảo chánh của các vị tướng lãnh Đệ Nhất Cộng Hòa, Đại Tướng vẫn trung thành với Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Sau đó ông chỉ đặc trách chỉ huy quân đội mà thôi.



Sau này Đại Tướng Viên có viết sách về chiến tranh Việt Nam, đó là một tài liệu quý giá. Mặc dầu sống cuộc đời ẫn dật, nhưng đại tướng lúc nào cũng ưu tư, nghĩ tới anh em, chứng tỏ cái tiềt tháo của một vị tướng lãnh của quân lực VNCH. Đại Tướng Cao Văn Viên đã để lại trong lòng anh em trong Quân Đội một điều, có thể nói là một điều rất đặc biệt về tấm gương, về trách nhiệm của thượng cấp đối với tất cả binh sĩ .



Trong ngày thứ ba, sau nghi lễ tôn giáo do Thầy Thích Trí Tuệ và ban hộ niệm tụng niệm, Cựu Trung Tướng Lữ Lan đã đọc điếu văn. Ông nói, để tiễn đưa một vị đại tướng, người anh cả của mọi binh chủng VNCH, giờ phút chia tay với chúng ta để hội nhập cùng anh hồn muôn vàng tử sĩ vị quốc vong thân, hôm nay chúng ta không có quân lệnh đại bác dàn chào , không có phi đoàn phản lực cơ phi diễn qua lễ đài, nhưng sự hy sinh cao cả của đại tướng trước đây cùng với sự hy sinh trời biển của bao thế hệ chiến sĩ quốc gia, đều được khắc ghi để lưu danh muôn thuở.



Cựu Trung Tướng Lữ Lan nhắc lại hình ảnh Cố Đại Tướng Viên, dáng oai nghiêm mà bình dị, thường lái trực thăng bay trong vùng lửa đạn để có mặt bên cạnh anh em chiến sĩ trong giờ phút một mất, một còn với quân thù. Với kiến thức và trình độ văn hóa ưu hạng, Đại Tướng từng đảm trách một cách đắc lực chức vụ Biệt Bộ Tham mưu trưởng cho Cố Tổng Thông Ngô Đình Diệm, kế đến tám năm dài giữ chức Tham Mưu Trưởng QLVNCH. Vào thời kỳ giao tranh khốc liệt nhất, vừa Nhảy Dù, vừa lái trực thăng, Đại Tướng Vien có mặt khắp các chiến trường. Kể sao cho xiết dòng quân sử Bình Giả, Kontum, An Lộc, Cam Lộ , Đông Hà…từ thời muôn ngàn liên quân đồng minh đến từ Hoa Kỳ , Âu, Á, Úc Châu…cho đến những năm tháng VNCH cô đơn chiến đấu , đối đầu với giặc Cộng lẫn Nga Tàu, mặc dầu thế giới phủ phàng làm ngơ…



Cựu Trung Tướng Lữ Lan nhắc lại những kỷ niệm với Đại Tướng Cao VănViên trong Quân Đội. Hai mươi năm sau, niềm hy vọng bất khuất của chúng ta còn tiếp diễn trên đường lưu vong tại Thủ Đô HTĐ với sự ra đời của Hội Cựu Chiến Binh VNCH và Đại Tướng vẫn là người lãnh đạo. Sau bao nhiêu năm dài Đại Tướng vẫn quan tâm đến hiện tình đất nước, luôn theo dõi mọi sinh hoạt của Tập Thể Cựu Quân Nhân. Người đã ra đi, để lại cho toàn quân gương sáng về tinh thần bất khuất của một quân nhân thuần túy, không bị cám dỗ bởi những tham vọng chính trị, bè phái, tạo cho đối phương, bạn cũng như thù có cơ hội thao túng. Giờ đây, chúng ta hãy cùng nhau kính cẫn nghiên mình tiễn chào người chiến hữu đàn anh và cầu nguyện cho hương hồn Đại Tướng an giấc ngàn thu…và xin ơn trên phù hộ cho Việt Nam trên đường tiến đến tự do, dân chủ.



Kế đến Cựu Đại Tá Hoang Ngọc Lung , Nguyên Trưởng Phòng 2 Tổng Tham Mưu, nói lời tiễn biệt. Ông nhắc lại những diễn tiến chính trị quân sự trước ngày mất nước. Cố Đại Tướng thấy không thể hành xử chức vụ của ông được nữa nên đã xin từ chức và được Tổng Thống Trần Văn Hương chấp thuận ngày 27/4/1975. Cựu Đại Tá Lung nói thêm một chi tiết có lẽ ít người được biết đó là Tân Chính Phủ của Đại Tướng Dương văn Minh, dưới áp lực chính trị mới, đã có kế hoạch bắt giữ năm nhân vật đầu não của Bộ Tổng Tham Mưu và đứng đầu danh sách là Cố Đại Tướng Cao Văn Viên. Kính cẫn, chân thành cầu chúc hương linh cố Đại Tướng sớm tiêu diêu miền cực lạc…



Theo sau là lễ di quan, Toán thu kỳ gồm chín cựu quân nhân thuộc Hải, Lục Không Quân, Dù, TQLC…tiến vào vị trí hành lễ. Các cựu quân nhân toán thu kỳ đi song song hai bên quan tài. Tới địa điểm rộng hơn ở phòng ngoài, quan tài được để dừng lại. Tại đây cờ các quân binh chủng được giương cao, vài chục quân nhân thuộc các quân binh chủng trong quân phục đứng chung quanh quan tài nghiêm chào.



Trong tiếng kèn mặc niệm rất cảm động, các cựu quân nhân trong toán thu cờ nâng lá cờ lên khỏi quan tài, kéo thẳng ra, rồi xếp lá cờ làm ba theo chiều dọc rồi xếp hình tam giác nhỏ theo lễ nghi quân cách xếp cờ. Lá cờ được trao cho trưởng toán thu cờ là Cựu Đại Uý Nguyễn Văn Mùi, Chi Hội Trưởng Dù vùng Hoa Thịnh Đốn. Sau đó Đại Uý Mùi trao cờ cho Cựu Đại Tá NguyễnVăn Tường, Chủ Tịch BCH Trung Ương Dù và Cựu Đại Tá Tường đã trao cờ lại cho Cô Cao Phương Lan là trưởng nữ của Cố Đại Tướng CaoVăn Viên. Trong lúc trao cờ , Cựu Đại Tá Tường nói :” Kính thưa tang quyến, đây là hồn thiêng sông núi, gói ghém tất cả tinh thần của người quốc gia đã hy sinh vì tự do và dân tộc, trong suốt cuộc đời binh nghiệp của Đại Tướng, Đại Tướng đã tôn thờ và phục vụ dưới quốc kỳ này. Hôm nay tôi xin được trao lại lá cờ linh thiêng này cho trường nữ của Đại Tướng Cao Văn Viên là Cao Phương Lan”.



Sau đó quan tài được đưa đến phòng hỏa táng, trên đường đi hai bên có các quân nhân các quân binh chủng đứng dàn chào rất trang nghiêm. Nhiều người cùng cầu nguyện Đức Phật A Di Đà tiếp dẫn hưong linh Có Đại Tướng về cõi Phật.



Gia đình cho biết, Cựu Đại Tướng Cao Văn Viên sinh ngày 11 Tháng 12, 1921 tại Vientiane (Lào).

Ông xuất thân Khóa Sĩ Quan Trường Bộ Binh Cap Saint Jacques với cấp bực Thiếu úy (1949).

Ông tốt nghiệp khóa đào tạo cấp Chỉ Huy Tiểu Đoàn tại Trung Tâm Huấn Luyện Cao Đẳng Chiến Thuật tại Hà Nội (Bắc Việt ) 1952.

Tốt nghiệp Trường Chỉ Huy Tham Mưu U.S. Army Command and General Staff College, Ft.Leavenworth, Hoa Kỳ (1956-1957).

Tốt nghiệp Khóa Nhảy Dù Cao Cấp (1960). Bằng Phi Công Trực Thăng (1966)

Bằng Cử Nhân Văn Khoa, Đại Học Saigon.



1951 Trưởng Phòng Báo Chí và Thông Tin , Bộ Quốc Phòng.

1958-1960 Tham Mưu Trưởng Biệt Bộ, Phủ Tổng Thống (Chánh Phủ Ngo Đình Diệm)

1960-1964 Tư Lệnh Lữ Đoàn Dù.

Tháng ba , 1964 Ông bị thương nặng trong cuộc hành quân tấn công vào mật khu của VC thuộc biên giới Việt Miên và được thăng cấp Thiếu Tướng. Sau đó ông rời Binh chủng Dù và giữ chức vụ Tham Mưu Trưởng Liên Quân (1964)

1964-1965 Tư Lệnh Quân Đoàn 3 Vùng 3 ChiếnThuật (gồm SĐ5, SĐ 18, SĐ 25 Bộ Binh)

1967 Tổng Tham Mưu Trưởng , Bộ Tổng Tham Mưu, QLVNCH

1967 Tổng Ủy Viên Chiến Tranh.

1967-1975 Tổng Tham Mưu Trưởng, Bộ Tỏng Tham Mưu QLVNCH

27/4/1975 giải ngũ do sắc lệnh của Tỏng Thống TrầnVăn Hương.



Cựu Đại Tướng Cao VănViên được 16 huy chương và Tưởng Lục, trong đó có US Silver Star, 3 huy chương của Hàn Quốc, 1 huy chương của Cộng Hòa Phi Luật Tân, 2 huy chương của Vương Quốc Thái Lan, 2 huy chương của Trung Hoa Dân Quốc.



Ông có viết hai quyển sách“The Final Collapse” và “Leadership” do Centre of Millitary History, U.S. Army Washington, D.C. xuất bản năm 1983.

Tang lễ được chấm dứt l úc 1:30Pm

VIDEO BINH NGHIỆP







TANG LỄ (NGHI L Ễ THU CỜ)


User avatar
khieulong
Posts: 6816
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image


Tết Mậu Thân - TQLC, Sư Đoàn Thiện Chiến…

TUYẾT MAI
Cách đây bốn mươi năm, vào Tết Mậu Thân 1968, trong lúc người dân Miền Nam đang vui Xuân đón Tết, tối 29 Tháng 1, Giao Thừa Mậu Thân, bất ngờ VC đã điều động khoảng một trăm tiểu đoàn, đồng loạt tấn công 28 tỉnh và thị trấn.

Mặc dầu ở thời điểm này VC không có vũ khí nặng như xe tăng đại bác,

họ chỉ có vũ khí cá nhân, nhưng rất tối tân như AK-47, B-40, B-41.Giao Thừa 29/1 rạng 30/1/1968, VC đồng loạt pháo kích tấn công 6 tỉnh và thị xã Vùng 1 và 2. Tại vùng 1 VC pháo kích phi trường Đà Nẳng, đặc công đột nhập Bộ Tư Lệnh QDD 1 và Thị xã Hội An . Tại vùng 2, Thị Xã Nha Trang bị tấn công nửa đêm mùng 1 Tết (30/1). Lần lượt Ban Mê Thuột, Kontum, Pleiku, Tuy Hòa, Qui Nhơn… bị tấn công trong đêm đó. Khi VC tấn công các tỉnh Cao nguyên và duyên hải, Quân Khu 1 đã ban lệnh hủy bỏ hưu chiến từ sáng 1 Tết, nhưng v ẫn không ngăn được bộ đội CS tiến vào Huế.

Trong trận Tổng công kích Mậu Thân, Vùng I bị tấn công sớm nhất, đúng Giao Thừa. VC thành công mặt trận Huế hơn ở các tỉnh khác, địch chiếm ưu thế về quân sự trong bốn năm ngày đầu, nhưng từ ngày mùng 8 trở đi cường độ trận chiến giảm xuống.

Mặt trận Bắc Huế: Đặc công phá cổng phía Tây cho một tiểu đoàn chính qui CS vào Thành Nội đêm mùng Một Tết. Tại khu vực An Hòa một tiểu đoàn địch tấn công . Tại Đồn Mang Cá Tiểu Đoàn Dù được điều động về giải tỏa. Khu Đại Nội bị VC chiếm, VC treo cờ trên kỳ đài cho tới 24/2/1968.

Quân Đội VNCH đã bắt đầu phản công từ mùng 3 Tết. Tại tả ngạn chiến đoàn Dù và Thiết Giáp tăng cường tiến về Huế, địch rút vào Thành Nội.

Mùng 5 Tết Dù giải tỏa phi trường Tây Lộc, tái chiếm An Hòa. Trận chiến kéo dài 3 –4 ngày không tiến triển, VC phá cầu Trường Tiền và bắt đầu hết đạn dược. Từ mùng 5 Tết TQLC Mỹ cũng tham chiến và TQLC của VNCH hành quân cùng với Mỹ.

Ngày 19/2, hai tiểu đoàn VC tấn công một tiểu đoàn TQLC VNCH. VC và TQLC tranh nhau từng cao điểm, trận đánh vô cùng khốc liệt. Từ 22/2 các cấp chỉ huy CS bắt đầu rời Thành Nội.

Quân Đoàn 1 cho lệnh tổng phản công tái chiếm, hai tiểu đoàn BDDQ được tăng cường, TQLC chiếm cửa hữu, tiến đánh Nam Đài. Đến 26/2 những tên cán binh CS cuối cùng rời Huế. Trận chiến Huế thê thảm và tàn khốc nhất trong cuộc Tổng công kích, tổn thất tại đây cao nhất vì bị địch chiếm gần một tháng. VC tàn sát, chôn sống rất nhiều tù binh gồm quân nhân, công chức và người tình nghi trên đường rút lui.

Trong trận Tết Mậu Thân tất cả các Tiểu Đoàn của TQLC đều lập nhiều chiến công. Mặt trận Saigon từ mùng 2 Tết đến mùng 9 Tết, VC tấn công Dinh Dộc Lập, Tòa Đại Sứ Mỹ, Đài phát thanh, Bộ Tổng Tham Mưu, Phi trường Tân Sơn Nhất…với các đơn vị chủ lực, tổng cộng là 14 trung đoàn. Phía QLVNCH, bảo vệ Thủ Đô có quân nhân các Binh chủng Dù, TQLC, SDD 25, SDD 5, SDD 18, Địa Phương Quân, Cảnh Sát…VC tấn công Trường Bộ Binh Thủ Đức, Hàng Xanh…TQLC ở Cai Lậy kéo về, VC thảm bại. Quân Đội VNCH và Cảnh Sát đã chận đứng các cuộc tấn công tự sát của địch. Không quân đã yểm trợ hữu hiệu, từ mùng 3 Tết, VC bắt đầu nao núng, đặc công bị tiêu diệt gần hết.

TDD 6 TQLC đã đánh tan đơn v ị VC xâm nhập vào khu vực Bình Hòa, bắt sống nhiều tù binh và thu nhiều vũ khí. Tiểu Đoàn 2 TQLC được tăng phái cho Biệt khu Thủ Đô, Tổng Nha Cảnh Sát QG. Bộ Tư lệnh Lữ Đoàn TQLC trực tiếp chỉ huy. TDD2 tiêu diệt hầu hết những đơn vị đã xâm nhập vào những nơi trọng yếu mà TDD 2 trách nhiệm trong Thủ Đô như Trường Tổng Quản Trị Bộ Tổng Tham Mưu, Cầu Chữ Y, Đài Phát Thanh Saigon, Chùa Ấn Quang, Trường Đua Phú Thọ. Tiểu Đoàn 2 chận đứng và tiêu diệt các đơn vị vào Saigon theo ngả Phú Lâm, Cầu Thị nghè, Cầu Xa Lộ.

Nói về mặt quân sự, VNCH thắng VC ngay từ tuần lễ đầu, mặc dầu Hà Nội tung vào mặt trận tới 84 ngàn quân , nhưng từ mùng 5 trở đi VC bị dồn vào thế bị động, phải rút lui và chịu thiệt hại nhiều về nhân mạng.

Nhân dịp tưởng niệm Tết Mậu Thân 40 năm, chúng ta cũng nên tìm hiểu về tinh thần chiến đấu anh dũng của các chiến sĩ Mũ Xanh và Binh chủng TQLC, một trong những binh chủng thiện chiến nhất của QLVNCH.

Được biết binh chủng TQLC là một lực lượng Tổng Trừ Bị của QLVNCH, được chính thức thành lập ngày 1 Tháng 10, năm 1954. Tuy nhiên vào Tháng 8, 1954 Tiểu Đoàn 1 Quái Điểu, con cọp biển đầu đàn được thành hình ở Nha Trang. Bộ Tư Lệnh TQLC đặt tại đường Lê Thánh Tôn, Saigon.

Qua năm 1955 Tiểu Đoàn 2 “Trâu Điên” ra đời tại Rạch Dừa, sau di chuyển về Cam Ranh, Khánh Hòa. Song song với đà phát triển của QLVNCH, từ năm 1958 Tiểu đoàn 3 “Sói Biển” ra dời. Kế đến Tiểu Đoàn 4 “Kình Ngư” được thành lập năm 1960. TQLC được cải tiến thành Lữ Đoàn năm 1961.

Để yểm trợ đặc biệt cho những cuộc hành quân thủy bộ, Đại Đội Yểm Trợ Thủy Bộ, Đại Đội Vận Tải, ĐDD Truyền tin, ĐDD Quân Y…kế tiếp nhau ra đời. Năm 1962 Tiểu Đoàn 1 Pháo Binh thành hình. Năm 1963 TQLC được tách rời khỏi sự yểm trợ tiếp vận của Bộ Tư Lệnh Hải Quân, trực thuộc thẳng Bộ Tổng Tham Mưu, QLVNCH về chỉ huy, điều động tác chiến và yểm trợ tiếp vận. Tiểu Đoàn 5 Hắc Long ra đời năm 1964, rồi năm 1966 Tiểu Đoàn 6 Thần Ưng, kế đến 1969 Tiểu Đoàn 7 Hùm Xám được thành hình.

Ngày 1 Tháng 10 1968 TQLC được cải danh thành cấp Sư Đoàn. Trung Tướng Lê Nguyên Khang là Tư Lệnh đầu tiên và là vị Tư lệnh lâu nhất. Ngày 3 Tháng 5, 1972, Trung Tuớng Lê Nguyên Khang bàn giao cho Thiếu Tướng Bùi Thế Lân là vị Tư Lệnh cuối cùng. Hai Bộ Chỉ Huy Chiến đoàn A và B được chuyển thành hai Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn 147 và 258. Với thời gian binh chủng TQLC phát triển, gồm có 12 Tiểu đoàn tác chiến, trực thuộc bốn Lữ đoàn. Để yểm trợ hữu hiệu, TQLC có một Tiểu đoàn Tổng Hành Dinh, ba Tiểu Đoàn pháo binh và bốn đơn vị yểm trợ là Tiểu đoàn Truyền tin, Tiểu đoàn Quân y, Tiểu đoàn Công binh và Tiểu đoàn Yểm Trợ Thủy Bộ.

Đại đội Huấn Luyện trở thành Trung Tâm Huấn Luyện Sư Đoàn, cung cấp hằng ngàn tân binh cho các Tiểu Đoàn. Các cấp chỉ huy của TQLC thường xuất thân từ hai trường Sĩ Quan Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt hay Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, 80% các vị chỉ huy đã tốt nghiệp các khóa Căn bản, Trung Cấp hoặc Chỉ Huy Tham Mưu Cao Cấp Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ. ( ở Quantico, Virginia).

Từ năm 1960 , các đơn vị TQLC đều đồn trú tại khu rừng cấm phía Tây Bắc Thị Xã Thủ Đức, giáp ranh quận Dĩ An, Biên Hòa. Ngoại trừ Tiểu Đoàn 4 tại Thị Xã Vũng Tàu, Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn cùng một vài đơn vị yểm trợ ở Thị Nghè và Saigon.

Là lực lượng Tổng Trừ Bị, TQLC luôn được tăng phái riêng rẻ từng Lữ Đoàn đến các Quân đoàn, Vùng Chiến Thuật để hành quân tác chiến theo nhu cầu từng chiến dịch.

Những chiến tích vẻ vang của TQLC nổi bật là Đầm Dơi (10/9/1963), Tiểu Đoàn 2 “Trâu Điên” đã đánh tan Tiểu Đoàn U Minh của VC. Chiến thắng Bình Giả ngày 31/12/1964 là một huyền thoại của Tiểu đoàn 4 “Kình Ngư”, đã thư hùng với cả một trung đoàn chính quy Bắc Việt. Bên cạnh là những chiến tích lẫy lừng khác như Phụng Dư (8/4/1965) đánh tan một Trung Đoàn của SDD 3 Sao Vàng của CS và nhiều chiến công oai hùng khác như Cái Nước, Đức Cơ…

Nói đến tinh thần chiến đấu anh dũng, quyết một lòng hy sinh bảo vệ từng tấc đầt quê hương của các anh hùng TQLC, người dân Miền Nam còn nhớ rất rõ chiến thắng Mùa Xuân Mậu Thân 1968. Tất cả các Tiểu Đoàn TQLC đều lập nhiều chiến công trong trận Tết Mậu Thân.

Và người dân Miền Nam vẫn còn khắc ghi sâu đậm hình ảnh dựng cờ trên Cổ thành Đinh Công Tráng, Quảng Trị. Trận chiến mùa Hè 1972 là trận chiến đầu tiên với quân Bắc Việt có chiến xa trên chiến trường Quân Khu I.

Cuộc hành quân tái chiếm Quảng Trị bắt đầu ngày 28 Tháng 6, 1972, do Tư Lệnh Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến trực tiếp chỉ huy. Ngay khi Tiểu Đoàn 1 TQLC nhảy xuống Triệu Phong, Tỉnh Quảng Trị ngày 11/7/1972, Tư lệnh Sư Đoàn TQLC ra lệnh trong 48 tiếng đồng hồ TDD2 TQLC phải tiến quân thần tốc bằng mọi giá để bắt tay với TDD1 TQLC đang bị địch bao vây.

Mặc dầu dưới hoả lực yểm trợ dữ dội của ta, địch vẫn ngoan cố dàn hàng ngang nấp sẳn trong bụi cây nằm chờ. Những con trâu điên đã nhanh chóng tràn qua từng thửa ruộng, và xe tăng địch nhào ra khai hỏa tối đa vào đoàn Cọp biển. Những con trâu điên của T Đ4 và T Đ5 thi nhau thổi hỏa tiễn 66 ly M 72 vào chiến xa địch, xe tăng địch thi nhau bốc cháy và xác địch cùng cháy thê thảm. Trận chiến vô cùng khốc liệt. Xương máu và xác của anh em đã tăng theo từng tấc đất chiếm lại, từng tấc đất đã thấm đẩm dòng máu hùng anh của các anh em TQLC. Biết bao nhiêu xương máu của anh em TQLC đã đổ ra để dựng lại ngọn cờ vàng trên Cổ thành Quảng Trị, biết bao nhiêu xương máu của anh em TQLC đổ ra để đánh bật VC ra khỏi Thành Nội Huế. TQLC đã quét sạch CS Bắc Việt ra khỏi Cổ Thành Đinh Công Tráng vào l úc 17 giờ ngày 15 Tháng 9.

Cuối cùng ngọn cờ vàng ba sọc đỏ đã giương lên, ngạo nghễ tung bay trên bầu trời Cố đô Huế.

Với lòng yêu nước thiết tha, không để một tấc đất lọt về tay địch quân , những chàng trai kiêu hùng của nướcViệt đã hiên ngang chiến đấu, sẳn sàng đem xương máu mình, sinh mạng mình ra để bảo vệ Tổ Quốc, quê hương.

Chiến công lẫy lừng này nay vẫn còn được khắc ghi sâu đậm trong tâm khảm người dân Miền Nam, và “Cờ Bay” là một nhạc phẩm bất hủ, nói lên tinh thần chiến đấu anh dũng, bất khuất của người chiến binh TQLC nói riêng và của các quân binh chủng trong QLVNCH tham dự trong trận chiến này nói chung.

Trong tinh thần quả cảm, với châm ngôn nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, trở lực nào cũng vượt qua, chiến trường nào cũng thích hợp, người lính TQLC không quản ngại gian nan, hiểm nguy đã hiên ngang vác ba lô hành quân khắp bốn vùng chiến thuật, đã làm rạng danh TQLC, một trong những binh chủng thiện chiến nhất của QLVNCH. Người lính TQLC rất tự hào là những “Cọp Biển” kiên cường, những đứa con yêu của Tổ Quốc, đã đem xương máu mình ra tô thắm màu cờ và viết nên những trang sử oai hùng của dân tộc Việt.

Mặc dầu cuộc chiến đã chấm dứt hơn ba mươi năm nhưng người lính TQLC luôn giữ tình huynh đệ chi binh, cứ mỗi hai năm thì các anh em tổ chức một Đại Hội Toàn Quốc, địa điểm được thay đổi. Trong dịp này các cựu quân nhân TQLC nhiều nơi trên thế giới về gặp lại nhau, thắm thiết trong tình chiến hữu, hồi tưởng lại những ngày kiêu hùng, dọc ngang trên khắp bốn vùng chiến thuật.

Hiện nay hội trưởng của TQLC vùng Hoa Thịnh Đốn là Ông Nguyễn Trấn Quốc. Trong ngày Thánh tổ Trần Hưng Đạo, cũng là Thánh Tổ của Hải Quân, các anh em TQLC ở HTDD đã phối hợp với các chiến hữu Hải Quân tổ chức lễ húy nhật Thánh Tổ vô cùng trang trọng. Ngưng cầm súng không có nghĩa là ngưng chiến đấu, ngưng tranh đấu, nhiều cá nhân TQLC ở HTDD vẫn tiếp tục hăng hái tham gia sinh hoạt chính trị trong cộng đồng để tranh đấu Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền cho đồng bào và tích cực giúp đỡ anh em thương phế binh ở quê nhà.
HÌNH ẢNH NGUỜI CHIẾN SĨ MŨ XANH


User avatar
phu_de
Posts: 2917
Joined: Sun Nov 28, 2004 10:57 pm
Has thanked: 7 times

Post by phu_de »

Hồi ký này đã được đăng trong đặc san Lướt Sóng số đặc biệt "Chiến Thắng Hoàng-Sa" do BTL/HQ/VNCH phát hành vào khoảng tháng 2 năm 1974.



ImageImage

ĐÊM XUÂN TRÊN VÙNG BIỂN CHẾT


Thanh Chương

Trong trận hải chiến lịch sử bảo vệ chủ quyền lãnh hải Việt Nam Cộng Hòa tại quần đảo Hoàng-Sa hôm 19-01-1974, Hộ Tống Hạm NHỰT-TẢO đã bị trúng đạn địch. Hạm trưởng đã ở lại hy sinh theo chiến hạm; Hạm phó cùng một số ít nhân viên đã phải đào thoát trên 4 chiếc bè cấp cứu và lênh đênh đói khát 4 ngày 3 đêm trên biển, trước khi được một thương thuyền Hòa Lan cứu vớt tại 150 hải lý Đông Đà Nẵng vào đêm giao thừa. Dưới đây là những cảm nghĩ thật nhất, chưa hề được tiết lộ của những người thoát hiểm.

Bóng tối mỗi lúc một như thêm đặc lại. Hoàng hôn đã tàn. Biển càng lúc càng âm u hơn. Tôi muốn cử động, nhưng chân tay sao cứ rã rời tê dại. Súng thôi nổ, trận hải chiến đã kết thúc tự bao giờ. Giặc Tàu đền tội xâm lăng, xác chìm dưới biển, thây phơi như rơm rạ trên boong. Tiếng quân ta reo hò tựa hồ như còn âm hưởng đâu đây... Tôi cố nhớ lại loạt đạn thù nào đã hủy hoại một phần thân thể cho tôi đau xót hờn căm, nhưng sao mỏi mê cứ đầm đầm trên da thịt, trên đầu tôi băng cứng.

Thời gian đã không còn là một ý niệm nơi đây. Tôi không còn nhận thức được ngày nào đêm mấy nữa. Những ngày lênh đênh trên biển là những ngày dài thê thảm và đêm ở biển là đêm của hư vô, dật dờ, lạnh lẽo. Đêm như im sửng lạ lùng. Tôi tưởng nhớ đến chiến hạm già nua cũ kỹ, nhưng đã mang tôi lênh đênh mười bốn tháng thân yêu, giờ này tàu tôi đang ở đâu? Đang trơ vơ với vết đạn thù hoang lở, đang nằm sâu dưới lòng biển lạnh muôn trùng? Hộ tống hạm mang tên giòng sông lịch sử ghi dấu chiến thắng lẫy lừng của tiền nhân đó, đã xa tôi thật rồi sao? Bạn bè mấy kẻ ra đi, mấy người ở lại?......

Trên chiếc bè cấp cứu, chiếc bè đào thoát mà tôi tưởng chẳng bao giờ dùng tới, tôi đã cảm thấy đuối sức thật sự, hơi thở tôi hụt hẳn, lạnh băng vì xác thân tôi phải đẫm ướt luôn luôn và hai tay phải hoài giữ chặt giây lưới trong bè để khỏi rơi xuống biển. Bây giờ tôi không còn trực nhật, không còn đi 'quart' hải hành giữa vùng biển nước thêng thang xa vắng này nữa rồi. Sáu người chúng tôi chỉ còn biết bấu víu hy vọng mong manh vào chiếc bè thôi. Trước đó, 4 bè cấp cứu được buộc vào nhau với 23 người hợp đoàn, nhưng không biết bao lâu trôi dạt, các mối giây tự nhiên tuột đứt trong lúc chúng tôi không còn hơi sức để nối lại nữa.

Tôi nghĩ rằng giữa hai phần sinh tử, thì phần tử đã chiếm 90%, chỉ còn 10% là niềm hy vọng con tàu nào đó, trên thủy trình từ Bắc vào Nam hay từ Nam ra Bắc, thấy và vớt chúng tôi ... Hy vọng vươn lên khi mặt trời rạng rỗ ban ngày, nhưng cũng lụn tàn khi màn đêm rũ xuống! Kinh nghiệm hải hành ban đêm cho tôi biết rất khó phát hiện vật trôi trên vùng biển sương mù, nhất là vật nhỏ và thấp như 'bè cấp cứu' của chúng tôi. Trên Rada thường hiện lên những ' Echo giả', người ta sẽ lầm chúng tôi với những ' echo giả , đó chăng? Các bạn tôi cũng dõi mắt tuyệt vọng mong tìm một ánh đèn hải hành ' hữu xanh tả đỏ' trên bất cứ chiếc tàu nào, nhưng có thấy gì ngoài những đợt sóng nhấp nhô ma quái thấp thoáng trên mặt nước mênh mang...

Image
Hạm Phó HQ10


Một Hạ sĩ chợt kêu thảng thốt vào tai tôi: "Trung úy ơi! Hạm phó chết...rồi!"
Một thoáng xót xa cho tim tôi quặn thắt, một nỗi buồn vời vợi xâm chiếm trong tôi! Đành vậy, biết sao bây giờ! Người đã bị thương nhiều nhưng quyết ở lại cùng Hạm trưởng, cùng chiến hạm dấu yêu đang ngụt sôi lửa hận trong vùng biển quê hương! Hạm trưởng thật là một MAGISTER POST DEUM, là quyền uy thứ hai sau trời! Hạm trưởng đã ở lại, còn Người sao không nghĩ đến ngày mai rửa hận? Một nhân viên đã phải vực Người nhẩy xuống cùng bè với tôi, bè cấp cứu sau cùng rời chiến hạm. Khắp thân Người nhầy nhụa máu. Máu truyền thống, máu bất khuất muôn đời.
"Một giọt máu đào, hơn một rừng châu báu". Người đã đổ hết những giọt châu báu của mình để bảo vệ gấm vóc quê hương, bảo vệ vẹn toàn lãnh thổ. Anh hùng cao cả thay cho chí khí của Người đã chọn Đại Dương làm Mẹ lúc vừa khoát lên mình mầu áo xanh quân chủng. Giờ thì Người đã về với Mẹ, về với Tổ Quốc Đại Dương. Chỉ còn chờ lễ thủy táng theo tục lệ mà thôi! ......

Ý nghĩ chết chóc mãi lẩn quất trong đầu óc tôi. Rồi chừng nào đến lượt mình đây?... Khuôn mặt của Mẹ Cha khắc khổ, của em thơ ngây dại, của người yêu bé bỏng lần lượt hiện ra ... Không, không thể được. Tôi phải sống. Tôi còn nhiều bổn phận. Tôi không thể chết khi ngựa hồng tôi chưa mỏi vó! Hy vọng duy nhất của tôi là được gặp một chiếc tàu. Bất cứ tàu nào!

Ngước trông bầu trời đầy sao lấp lánh, tôi vẫn mòn hơi chờ nhìn thấy một vì sao đổi ngôi để cầu xin điều ước vọng đó. Chòm sao ORION với dãy LES MAGES làm tôi quất quay nhung nhớ người yêu. Sao SIRIUS, vì sao sáng nhất trên trời mà tôi vẫn thường ví màu xanh đẹp như màu xanh mắt nàng. Tôi cũng thường kể nàng nghe chuyện thần thoại La Hy với 7 nàng công chúa kiều diễn con thần JUPITER, hiện thân của chòm "sao mão" PLEIADES, đi chơi trong rừng lạc lối, gặp thợ săn ORION vì quá ngưỡng mộ đuổi theo hoài mà không bắp kịp ... Bây giờ tất cả đã chia xa. Những vì sao muôn đời vẫn còn đó nhưng có giúp tôi được những gì, ngoài sự nhận ra phương hướng Đông, Tây, Nam, Bắc từ chòm ORION kia. Nhưng nào có ích chi, khi chúng tôi không còn khả năng vận chuyển nữa, dù rằng vận chuyển chiếc bè nhỏ bé này. Thôi thì phó mặc cho giòng nước đẩy đưa. Đêm ở biển lạnh tái tê, gió rít từng hơi trên mặt sóng, chúng tôi ngồi sát gần nhau, san sẻ với nhau những nỗi kinh hoàng, những niềm bất hạnh lo âu.

"Đêm nay là đêm Giao Thừa!". Anh Hạ sĩ ngồi gần nói với tôi như thế.

Đêm xuân hẳn rộn ràng trên vùng phố thị có người em yêu tuyệt vời của tôi. Còn nơi đây có gì ngoài một vùng biển nước không bờ không bến ngút mù sương. Ba đêm ngày không miếng ăn thức uống, sống thoi thóp lo sợ những đàn cá mập rập rình theo dõi, toàn thân luôn ướt đẫm. Nước biển mặn xót đau trên từng vết thương đã khô rồi giòng máu thắm. Những giòng máu đã chảy ra cho quê hương nước Việt mến yêu.

Bổng, "Có tàu Trung úy ơi!". Tiếng reo vui của anh Hạ sĩ làm tất cả chúng tôi chợt tỉnh táo tinh thân lên với niềm hy vọng ở chiếc tàu cứu tinh kia. Hẳn suốt đời không bao giờ quên những ân nhân đó. Tuy khác màu da, không cùng ngôn ngữ Mẹ, nhưng sao tình thân thiết lạ lùng! Một vệt sáng đèn pha lướt qua phía trên đầu chúng tôi. Sức mạnh thiêng liêng nào đã làm tất cả như chồm lên vẫy tay ra dấu. Chúng tôi lại có thêm nỗi lo âu mới là những người trên tàu đó không thấy được chúng tôi và bỏ đi. Trên vùng biển mờ sương, tất cả những lạnh lẽo, đau đớn, mòn hơi, kiệt sức đã nhường chỗ cho sự háo hức, rạo rực trong chúng tôi. Nỗi vui mừng bao xiết khi chiếc xuồng cấp cứu (youyou) với đèn pha chiếu thật sáng tiến gần chúng tôi. Thế là thoát chết! Đa tạ ơn trên! Từng người từng người được xốc lên, xuồng cấp cứu quay về chiếc tàu buôn to cở tàu SEALAND mà tôi thường gặp trong sông Sàigòn. Chiếc tàu không một chút bồng bềnh vì to quá và vì biển êm nữa. Cả xuồng cấp cứu và chúng tôi trên đó, được trục vớt của tàu móc lên một cách nhẹ nhàng êm ái ... Tôi dần dần tỉnh hơn, nhãn lực và tinh thần đã có nhưng chưa hoạt động gì được ...

Thuyền trưởng bảo rằng: "... you're very lucky" và cho biết chúng tôi là nhóm cuối cùng thật may mắn được vớt lúc 23 giờ 30 và chiếc xuồng cấp cứu đó là của tàu thả xuống, với vị Thuyền phó đích thân đi tìm trên biển lạnh lùng từng chiếc bè cho đến nhóm cuối cùng là đến bè chúng tôi. Nghĩa là các bạn tôi đều được cứu vớt. Còn nỗi mừng nào hơn? Còn lòng thán phục nào bằng cho nghĩa cử cao đẹp, tình đồng loại của những người trên tàu đều tận tâm lo phục hồi sinh lực chúng tôi sau khi biết chúng tôi bị nạn vì trận hải chiến với quân Trung-Cộng xâm lăng. Tôi hỏi tên chiếc tàu cứu nạn và nhờ họ viết lên tờ giấy bạc 20 đồng của tôi để ghi nhớ, kỷ niệm. Được biết đây là tàu chở dầu thuộc công ty SHELL, tên SKOPIONELLA, quốc tịch Hòa Lan, vừa đại kỳ xong và đang trên đường đi SINGAPORE. Họ đã biết sơ về trận hải chiến lịch sử của Hải quân Việt Nam anh hùng nhờ theo dõi tin tức của hệ thống truyền thanh, truyền hình ở Hồng-Kông. Chúng tôi dùng tiếng Anh để cảm thông với họ ...

Suốt đêm Giao Thừa, họ phải ngưng máy, thả trôi, để lo săn sóc 22 người chúng tôi. Xúc động nhất trong đêm đó và có lẽ một đời tôi không quên được lòng tận tụy của hai phu nhân vị Thuyền trưởng và Thuyền phó tàu dầu SKOPIONELLA này. Với robes trắng, gương mặt thật đẹp, thật tươi của tuổi ngoài hai mươi, màu mắt xanh thật quý phái, phu nhân Thuyền trưởng và Thuyền phó đã như hai bà tiên phúc hậu săn sóc tôi và các bạn một cách tận tâm chưa từng thấy. Những thắp sáng có một chưa hai nơi con người, nơi tình tự dân tộc Hòa Lan và Việt Nam. Như những bà Sơ thật hiền lành, chỉ biết cười và nói những lời ngọt như trái chín, hai phu nhân đã lột trần chúng tôi rửa bằng nước ấm, lau bằng khăn lông, làm ấm dần cơ thể tưởng như hóa đá lâu ngày. Họ tự nhiên, thân thiện như một hiền phụ chăm sóc cho chồng đi chinh chiến chốn sa trường chẳng may "ngựa hồng ngã vó". Như Mẹ Việt Nam hiền hòa muôn thuở, họ đã rửa từng vết thương, cho uống từng ngụm sữa, và ngồi trông chừng chúng tôi suốt đêm không mảy may tiếc nuối giấc nồng. Tác động tâm lý đó làm chúng tôi chóng bình phục hơn mọi thứ thuốc men nào! ...

Rồi cũng qua đi thời gian hạnh phúc ngắn ngủi trên tàu Hòa Lan với những ưu ái của Thuyền trưởng cùng tất cả thủy thủ đoàn, nhất là hai vị phu nhân Thuyền trưởng Thuyền phó! Tôi ngùi ngùi nuối tiếc những giây phút huyền dịu đó, khi được chuyển sang một chiến đĩnh của Hải Đôi I Duyên Phòng. Tôi cảm thấy như đánh mất một cái gì quý giá mà mãi mãi không làm sao tìm được. Họ gởi cho chúng tôi những thùng khăn lông, xà bông; tôi nghĩ đó là kỷ niệm gói ghém tấm lòng bác ái, cảm thông giữa những người cùng yêu nghiệp biển nói chung và giữa thủy thủ đoàn thương thuyền SKOPIONELLA với chúng tôi, những người chiến sĩ HQVN lâm nạn, nói riêng.

Thế rồi chúng tôi đã được chuyển từ chiến đĩnh sang Tuần Dương Hạm TRẦN-QUỐC-TOẢN đưa về điều trị tại Bệnh viện Hải Quân Đà Nẵng. Nơi đây, chúng tôi lại được những an ủi vô cùng trong đời hải nghiệp, đó là những cuộc thăm viếng ủy lạo của vị Anh cả Hải Quân Việt Nam cùng các Sĩ quan cao cấp Hải Quân, các đoàn thể, tôn giáo ...v.v...

Khung cảnh ấm êm hạnh phúc nơi này dành cho 21 người chúng tôi đã khiến cho tôi bùi ngùi nhớ thương những bạn bè đã ở lại chiến hạm quyết tử chiến với địch thù xâm lược, những bạn đã phải hy sinh trên đường trôi dạt dai dẳng mấy ngày qua. Những người đó mới chính là những liệt sĩ anh hùng làm rạng danh quân chủng Hải Quân Việt Nam vậy.

Đã qua rồi đêm xuân hãi hùng trên vùng biển chết đó, mà sao tiềm thức tôi cứ mãi vật vờ những ý tưởng mông lung... Tôi được sống lại đây bởi phép nhiệm mầu hay bởi bàn tay hiền dịu của phu nhân thuyền trưởng khả ái trên thương thuyền Hòa Lan gặp gỡ giữa đêm Giao Thừa Xuân Giáp Dần 1974.

Thanh Chương (07-02-1974)


Xin mời nghe chuyện đọc
ĐÊM XUÂN TRÊN VÙNG BIỂN CHẾT

Post Reply