Góc nhỏ của anh 3 Giang

Tung cánh chim tìm về mái trường xưa. Mong tìm bạn học cũ, nay ở đâu xin nhắn đôi lời!!!

Moderator: CNN

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

NUÔI CU



Trương Minh Hòa


Cu là một tên gọi của người Việt Nam dành cho loài chim bồ câu, ở vùng nông thôn Việt Nam có giống chim bồ câu màu xám, đi từng bầy, hay phá lúa, gọi là Cu Đất. Do đặc tính ấy nên người dân vùng quê nghĩ ra cách bắt cu đất vừa có thịt và vừa bớt bị phá lúa: trước hết nuôi cho được một con cu con, khi lớn nó cũng khôn, đặt trong lồng, cu mồi cất tiếng kêu, như lời ru ngọt ngào, có khả năng mời gọi đàn cu hoang cùng chui vào vào bẩy. Bắt Cu cực nhọc, phải kiên trì rình mò, đôi khi bị kiến vàng cắn mà không dám động đậy, nên trong ca dao có câu:

"Ở đời có bốn cái ngu.
Làm mai, lãnh nợ, gác Cu, cầm chầu"

Con Cu Đất dính liền với sinh hoạt của người dân nông thôn, Cu xuất hiện là lúa sắp chín, nên người dân miền quê cũng có câu:

"Cu kêu ba tiếng cu kêu.
Mong cho tới Tết, dựng niêu ăn chè"

Cu ăn ngũ cốc, hay tề tựu thành đàn, cũng được dân chúng đặt thành câu tục ngữ:" lúa thóc đâu, bồ câu đó". Trong thời Cộng Sản xâm nhập từ miền Bắc và tay sai Việt Cộng đánh phá sự an bình của dân chúng miền Nam, một nhạc sĩ trong rừng cũng có bài hát về Chim, mở đầu là:" Cúc cu, Cúc Cu....chim rừng nghe thánh thoát...", như vậy, đây đúng là CON CU chớ còn gì nữa?. "Thiếu tướng" Không Quân nhưng" thiếu nhân cách", từng một thời" cỡi lưng heo nái, bắn nạn dàn thung" bò lên tới chức uy quyền nhất nước Việt Nam Cộng Hòa là Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương, sau làm phó tổng thống, di tản sang Hoa Kỳ tháng 4 năm 1975 sau những lời tuyên bố quyết tâm ở lại tử thủ hào nhoáng đầy tính" phổi bò" anh hùng rơm. "Tưởng người lặn lâu, nay bổng trở cờ, người trở cờ theo Cộng Sản, thật u mê...", từ 2004, ông ta trở thành Việt gian:" từ khi anh theo Giặc, từ khi anh theo đảng gian manh.." thế là con chim sắt đầu đàn oai hùng ngày nào, giờ thay đổi lập trường, biến thành con Cu Mồi, rụng hết hai cánh, nhục nhả chui vào hang Pác Pó, cùng cái lổ lù với Cáo Hồ năm xưa, như bài hát của Việt Cộng tựa là Tự Nguyện, sửa lại chút ít cho phù hợp:" Nếu là Chim, tôi sẽ là loài CHIM KHÔNG CÁNH". Tại các vùng đất phù sa tân bồi như ở vùng Bạc Liêu, Cà Mau, khi đào đất sâu chừng một thướt, nơi đó có một giống sinh vật rất kỳ lạ, lớn bằng ngón tay cái, dài chừng một tấc, màu trắng đụt, nhìn sơ y hệch như là" vũ khí ta mang đâu phải là tên lửa" mà chủ tịch Hồ Chí Minh từng tiến quân trên đường dài" đại thắng nhiều phụ nữ đa sắc tộc" ở khắp năm châu như bài ca của nhạc nô Huy Du: "qua gối qua chăn, Bác đè em xuống" vậy. Con vật mềm mềm, khi vò trong lòng bàn tay độ vài giây là nó bắt đầu cứng, giống như lúc người đàn ông bắt đầu hát" bài ca sung trận" hay như lúc chủ tịch Hồ Chí Minh chuẩn bị tư tưởng để hát bài:" như có Bác Hồ tuột quần cô Hộ Lý..". Khi con vật đạt tới" chất lượng công tác cực kỳ khẩn trương, nghiêm túc, thời thượng" và" mục đích yêu cầu bức thiết" để giải phóng những bức xúc bị" tồn tại não" thì nơi đầu nó bắn ra một tia nước, chẳng khác nào" thời kỳ cao trào cách mạng", nên người dân vùng quê đặt cho nó quí danh là CON CẶC ĐẤT. Tuy nhiên cái tên nầy không được giới phụ nữ tâm đắc vì mắc cỡ, hay Việt Cộng cho là" thiếu văn hóa" thuộc nền văn minh miệt vườn" với đỉnh cao trí tuệ loài người là:" ỉa đồng, đái gốc cây, sáng tạo đồ bịt háng thành khẩu trang..". Cũng có thể giới phụ nữ sợ bị" phạm húy" khi nhắc đến một" lãnh tụ vĩ đại vô vàn kính yêu" thường hay có" âm mưu diễn biến hòa bình", từng làm bạt vía kinh hồn biết bao giới" quần Hồng" khắp năm châu từ xưa đến nay, nên tên thứ hai có vẻ văn hóa một chút là CON CU ĐẤT, đây cũng là " loài chim không cánh".

Cu cũng có nghĩa khác, dành cho những phụ nữ nào lỡ dại trao thân nhằm gã Sở Khanh, với nghiệp chuyên là: núp vái đàn bà để sống phủ phê mà không biết nhục; có nhiều tên họ Sở tỏ ra rất đắc ý, coi chuyện lừa đảo tình lẫn tiền là" nghiệp chuyên", họ hý hững, tự hào thành tích lừa bịp qua tâm niệm:" núp vái phụ nữ, suốt đời không bị thất bại". Tội nghiệp cho những phụ nữ nhẹ dạ, vì tin tưởng hoàn toàn vào người mình thương, nên nay lưng ra làm để giữ mối tình" mãi mãi sinh tươi, đời đời bền vững" như tình" hữu nghị Việt-Trung như răng với môi", chứ không như câu tục ngữ mang đầy tính mơ mộng" sân khấu cải lương" của đôi tình nhân mới bắt đầu yêu nhau mà cùng hứa hẹn thủy chung:" một mái nhà tranh với hai quả tim vàng"; thực tế, hai người không thể uống nước lã mà hát bài" khi anh với em vừa biết đam mê". Như vậy thì lấy tiền đâu lo ăn uống, trả đủ thứ Bill ( nếu ở hải ngoại). Người phụ nữ chung tình nầy tưởng đâu chàng trọn nghĩa đá vàng, và người bạn tình rất" hồ hởi phấn khởi" chấp nhận cuộc sống sung sướng trong cái" tình huống cực kỳ chất lượng thời thượng" là" Cơm No bò cỡi". Nhưng nào ngờ đâu, tên điếm thúi nầy chỉ đóng màng kịch tình cảm lãng mạn để rút ruột người tình chung một cách có khoa học kỷ thuật cao, gã âm thầm móc nối trong tinh thần " hòa hợp hòa giải" qua quan hệ" hữu cơ" với một hay nhiều phụ nữ trẻ, đẹp khác; tệ nhất là dùng tiền của vợ nhà để cung phụng cho nhân tình khác. Người phụ nữ vì quá tin tưởng người" má tựa vai kề" nên trao hết cả thể xác lẫn tâm hồn và của cải vật chất (đa số là tiền) cho gã họ Sở. Nhưng cây kim để trọc bọc lâu ngày cũng phải lòi ra, sau cùng khi khám phá ra sự thật, người phụ nữ đau khổ ấy phản ứng mạnh, thông thường lá tống cổ tên điếm thúi ra khỏi nhà, thu hồi tất cả những của cải vật chất....nhưng người đời cho đó là" LỠ DẠI NUÔI CU".

Người Việt Nam từng lỡ dại" Nuôi Cu" đảng Cộng Sản Việt Nam và con Cu đầu đàn Hồ Chí Minh từ khi hắn thành lập đảng ngày 3-2-1930. CU CỘNG núp dưới danh nghĩa kháng chiến đánh Tây giành độc lập để móc hết ruột gan của dân tộc, từ năm 1945 qua tuần lễ vàng, đưa phụ nữ trẻ đẹp ( không từ chối gái vị thành niên) để phục vụ cho đoàn quân của tướng Tàu Lư Hán sang giải giới Nhật để kiếm vũ khí nhằm củng cố đảng thêm mạnh....Cu Cộng lừa đảo quá nhiều gia đình điền chủ, trí thức, tư sản, bần cố nông.... đóng góp cho đảng được vững mạnh, để rồi sau khi cấu kết với thực dân Pháp ký hiệp định Geneve ngày 20-7-1954, thì Cu Cộng hiện nguyên hình là loài Kên Kên, ăn thịt những ai từng nuôi Cu Cộng trong những thời kỳ khó khăn. Ở miền Nam thời trước 1975, một số người dân sống ở vùng nông thôn, ngây thơ ở thành thị, tưởng con Cu đầu đàn Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản là thứ Cu hiền, nên đóng góp tài chánh, nhân mạng...nhiều người trở thành liệt sĩ, bà mẹ chiến sĩ. Sau khi chiếm được miền Nam ngày 30-4-1975, đàn CU CỘNG lộ nguyên hình là bầy kên kên, nên trong số hàng chục ngàn dân đi khiếu kiện oan ức vì bị kên kên rỉa hết đất, tài sản có mặt của nhiều bà mẹ chiến sĩ, gia đình có công với cách mạng. Đảng Cộng Sản là một lũ ăn cháo đá bát tệ hại, những ai từng lầm lỡ đi theo, ủng hộ, sau nầy mới biết đó là những người" ăn trái giết kẻ trồng cây" lấy ơn báo oán thì thù không bao giờ sạch, chỉ khi nào những kẻ phản gian bị trừng trị theo luật nhân quả tức là làm tội phải lãnh án tù hay đền tội theo luật pháp.

Từ khi Cộng Sản chiếm miền Nam, hàng triệu người bỏ nước ra đi tìm tự do, định cư tại các cường quốc hiện đại. Ban đầu, con kên kên hung hăng, tung lời thóa mạ:" bọn đĩ điếm du côn", rồi khi thấy túi tiền của" bọn phản động nước ngoài" quá ư là" chất lượng cao" nên xếp cánh, thu nanh vuốt, giả thành con Cu mồi hiền hòa" khúc ruột nghìn dậm nối liền". Người Việt hải ngoại vì tình cảm gia đình, mang tiền về giúp gia đình, thì Cu Cộng cũng được nuôi luôn, con số từ vài trăm triệu lúc còn bị Hoa Kỳ cấm vận tăng dần, sau khi xã vận từ năm 1994 lên đến hàng tỷ Mỹ Kim hàng năm, con số nầy chắc chắn gia tăng theo nhịp độ về thăm quê hương, du lịch, du hý, du dâm.... đầu tư, mua nhà, cất cơ ngơi. Sau khi con kên kên đầu đàn Liên Sô bị ngã gục trên đường" tiến tới thiên đàng Cộng Sản" thì con kên kên Cộng Sản Việt Nam càng dấu nanh vuốt rất kỷ để tồn tại, chúng trở thành loài" cúc cu, cúc cu..." hót những tình khúc lâm ly: hòa hợp hòa giải, cùng nhau đóng góp công sức, tài năng để xây dựng đất nước, xóa bỏ hận thù, hảy quên quá khứ để tiến tới tương lai.... được những con CU MỒI đón gió trở cờ" hải ngoại phụ họa" cây đa bến cũ, quê hương là chùm khế ngọt". Nhờ những kẻ dại dột hăng hái nuôi kên kên mà tưởng là nuôi cu, đóng góp một phần vào" gia tài của đảng", nên đám kên kên bỗng chốc trở thành tỷ, triệu phú Đô La mà không cần lao động vinh quang; đương nhiên là đám tỷ phú Bắc Bộ Phủ không được các cơ quan thống kê quốc tế ghi danh vào danh sách tỷ phú thế giới, vì gia tài kếch xù của họ không phải do làm ăn, kinh doanh mà có, tất cả đều là tiền bất chánh, của phi nghĩa, rút bòn từ máu, mồ hôi của hàng triệu dân Việt Nam.

Khai thác lòng nhân ái sẵn có trong mỗi con người Việt Nam, trong số những tổ chức từ thiện thật sự, thì đảng Cộng Sản qua sự tiếp tay của tay sai, không loại trừ cả bọn gián điệp nằm vùng, cũng phát động lạc quyên, được thực hiện qua ý nghĩa" tấm lòng vàng, bàn tay đỏ" lẫn lộn, nếu không nhận xét kỷ thì dể" trao tiền nuôi kẻ cướp". Tình trạng nuôi cu Cộng núp dưới bình phong nhân đạo trở thành phong trào rần rộ qua các tổ chức, cá nhân có lòng từ thiện, nên rất nhiều tổ chức nuôi cu ra đời dưới mọi hình thức và" tình huống" từ ngoài đời, cộng đồng, đến tôn giáo, cá nhân... thực hiện việc gom góp tiền ở hải ngoại để mang về nước nuôi cu Cộng, phổ biến với" ăn cơm nhà hàng" là lối lạc quyên được biết nhiều nhất từ các châu lục. Chưa bao giờ người Việt hải ngoại có tấm lòng" Bồ Tác" như thế, nên Cộng Sản vui mừng lắm; đây cũng có thể hiểu ngầm là hình thức đóng thuế cho đảng, được ngụy trang dưới danh nghĩa làm phước. Một số tổ chức từ thiện có vẻ như khinh thường những người hảo tâm, trong phần kêu gọi đóng góp, họ thường có quảng cáo thêm các món ăn" chất lượng cao" trong buổi gây quỷ, khiến nhiều người không vui nhưng cũng hoan hỷ bỏ chín làm mười, mang tiền đến nạp mà lòng phơi phới, tin là mình vừa làm được một việc thiện. Nhưng có ai ngờ là có khi những đồng tiền" tình sâu nghĩa nặng, ta lại nhớ người" lọt vào tay đảng Kên Kên, để họ dùng mua thêm còng tay, trang bị vũ khí, chiêu mộ thêm Cộng An để mạnh tay đàn áp dân và biết đâu trong những số tiền đóng góp, được đảng dùng để tài trợ cho các đoàn văn công sang đánh phá sự yên bình ở hải ngoại. Điều dễ nhận ra là những tổ chức từ thiện nào được ra vào Việt Nam thoải mái để cứu tế thì đây mới là thứ dỏm; trong khi những tổ chức nào bị làm khó dể, bị tịch thu lúc cứu trợ, người làm việc thiện bị bắt bớ mới là thứ thiệt, không nên nhầm lẫn mà trao tiền nhằm kẻ gian:

"Người người từ thiện.
Tổ chức từ thiện.
Cộng Sản giàu thêm.
Hải ngoại cháy túi"

Mỗi khi có THIÊN TAI trong nước là đảng viên Cộng Sản trở thành THIÊN TÀI, họ mong càng nhiều thiên tai càng tốt để được bọn" tư bản phản động", trong đó có đế quốc Mỹ, bọn đĩ điếm du côn mang về dâng cho kên kên. Mức độ" nhiễu điều phủ lấy giá gương" tăng dần, nếu không có thiên tai thì kiếm cách thu tiền qua nhiều" sự cố thời thượng" như: xây dựng mái trường xưa, sửa đường, làm cây cầu, đào cái giếng nước, cung cấp học bổng cho học sinh nghèo do giáo viên của đảng là những" kỷ sư tâm hồn" giáo dục để những những học sinh được cấp học bổng biết căm thù, chửi bới những kẻ cấp học bổng; làm theo lời dạy của Hồ Chủ Tịch" mười năm trồng cây, trăm năm trồng người, thật là nhịp nhàng như câu" nuôi ong tay áo, nuôi khỉ dòm nhà". Những MẦM NON nầy được đảng đào luyện theo tư tưởng Hồ Chủ Tịch, sau nầy thời gian MÒN NĂM, trở thành hạt giống đỏ, tiếp tục đi theo con đường BÁC ĐI, nên đất nước càng BI ĐÁT dài dài. Nào là mổ mắt cườm được hướng dẫn bởi cán bộ địa phương đến tận những nơi xa xôi hẻo lánh; giúp trẻ bụi đời, giúp cho những nạn nhân chiến tranh, tức là giúp phế binh hai phía, thật là nhân đạo hơn cả tổ chức Liên Hiệp Quốc. Ngay cả một số ca sĩ" nghiệp dư" hay mượn làn sóng của các đài phát thanh sắc tộc để vừa giới thiệu DVD mới thực hiện và cũng có câu thòng là:"tất cả tiền bán DVD sẽ được mang về Việt Nam để giúp trẻ em nghèo, tổ chức từ thiện, Chùa...". Từ ngày đảng mở cửa, đổi mới, người Việt sinh sống nước ngoài trở nên cần kiệm hơn, họ ít dám tiêu xài, dành tiền để giúp người khốn khó trong nước, dễ trở thành nạn nhân của những tổ chức từ thiện theo định hướng xã hội chủ nghĩa và cũng vừa để dành tiền để về thăm quê hương hàng năm, một mình lo bảy lo ba, vất vả vô cùng. Người Việt hải ngoại dưới nhản quan màu Hồng của người Cộng Sản, thì đây là đàn bò sửa" chất lượng cao" và rất dể xúc động khi có ai đánh đúng tâm lý nên dễ" tiết ra nhiều sửa", dể trở thành mồi ngon cho những kẻ bất lương, giả danh từ thiện để móc túi:" bò trắng, bò đen, bò vàng...không thành vấn đề, miễn là có người biết vắt sửa cho nhuyển tay, là đạt mục đích yêu cầu". Cho nên người ta không ngạc nhiên khi thấy cả tên đệ tam tham vụ Ngoại Giao tên là Phạm Hùng Tâm ở Tân Tây Lan, cùng với Chủ Tịch Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam phát động tổ chức" quỷ vì người nghèo tại Việt Nam" vào tháng 7 năm 2004.

Không phải tự nhiên được" bọn đế quốc phản động" nhét tiền đô đầy hầu bao, từ không đến có...nhưng họ phải làm việc cực nhọc" với sức người, mồ hôi biến thành tiền đô", thế mà bị lợi dụng nuôi cu Cộng từ nhiều năm qua mà không biết, giống như những phụ nữ lỡ tin vào tên điếm thúi, Sở Khanh, nuôi Cu lâu nay mà không hay biết gì. CU CỘNG biến những tấm lòng nhân ái thành CÔNG CỤ, là thế lực phản động nhưng có khả năng làm thay cho đảng và nhà nước trong công việc xoa dịu cho đời sống cơ cực của dân chúng, ngoài ra còn có các cơ quan cấp viện quốc tế và những người tỵ nạn hảo tâm lo dùm; đảng Cộng Sản chỉ ngồi rung đùi mà tiền vô như nước, không cần làm gì cả, thiên hạ mang tới dâng, nộp, cứ thế phát huy. Chủ Nghĩa Xã Hội được coi là CHỦ NGHĨA XÌ HƠI, tức là các bong bóng" đảng và nhà nước" co giản tùy theo" tình huống", sau thời gian căng phồng, sợ bể nên họ xì hơi chút ít, khiến cho thế giới lầm mà cho là:" Việt Nam có cải thiện tình trạng nhân quyền" và dân chúng trong nước cảm thấy hơi dễ chịu một chút, nên họ không đứng dậy lật đổ bạo quyền; nhờ những tấm lòng BÁC ÁI ngây thơ, mà không nhìn thấy bàn tay lông lá và những mưu đồ đen tối của đảng Cộng Sản để BÁI ÁC sớm, tránh rơi vào cạm bẩy; được hiểu là giúp đảng xì hơi dài dài, nên chế độ Cộng Sản chưa lật nhào, dù điều kiện ắt có và đủ để" trở thành Đông Âu tại Á Châu" đã có sẳn từ lâu. Những món tiền tình nghĩa, vật cứu trợ...nếu muốn được cứu người lâm nạn, thương người như thể thương thân... đều phải được đảng Cộng Sản thông qua với công thức" theo định hướng xã hội chủ nghĩa" nếu muốn làm lành. Người từ tâm, tổ chức nhân đạo làm việc rất tích cực, được một số người cho là làm phước để kiếp sau hưởng....cứ thế mà:" móc túi, móc túi, đại móc túi- Giàu to, giàu to, đảng giàu to". Đảng khai thác tối đa trong việc" biến của người thành của mình" như câu" cách mạng đi từ không đến có"; họ phái những tu sĩ từ trong nước đến các nơi có" bọn phản động nước ngoài" để lạc quyên dưới chiêu bài cứu tế, xây dựng nhà thờ, chùa..... đúng như câu:

"Mỗi người làm phước bằng hai.
Để cho cán bộ kinh tài vô ra.
Mỗi người từ thiện bằng ba.
Để cho đảng Cộng đô la càng nhiều
Thi đua móc túi Việt Kiều.
Để cho đảng mạnh, là điều ĐẦU TIÊN"

Ngày nay, đảng Cộng Sản đang ở vào thời kỳ" đại thoái trào cách mạng" nên nanh vuốt kên kên dấu rất kỷ, ngụy trang thành Cu, khiến cả thế giới, các cường quốc như Hoa Kỳ còn nhìn lầm, họ cần phải đeo thêm kín cận thị để nhận ra con quái vật Cộng Sản, chớ nhìn bề ngoài, hay vì chút quyền lợi giao thương mà cho là" Việt Nam có tiến bộ, hoặc có cải thiện về mặt nhân quyền, tự do tôn giáo" và họ cứ tiếp tục nuôi cu Cộng là sẽ hối hận. Bài học Trung Cộng còn đó, từ thời Nixon 1972, vì nhu cầu chiến lược trong giai đoạn đó nên Hoa Kỳ đã giúp cho con kên kên Trung Cộng thoát khỏi vòng kim cô cấm vận, từ đó thì con kên kên nầy biết người biết ta, khai thác tâm lý" không có bạn, thù vĩnh viễn, mà chỉ có quyền lợi" nên Độc Cô Cầu Bại để lộ ra những bíp kíp" khoa học kỷ thuật" để con kên kên Trung Cộng thu hết. Nay thì Độc Cô Cầu Bại đang lo ngại sẽ bị bại dưới tay đại ma đầu Bắc Kinh vào một ngày không xa.

Con kên kên Cộng Sản Việt Nam ngày nay cố ngụy trang để trở thành con Cu hiền hòa, miệng luôn kêu gọi hòa hợp hòa giải, nhưng móng vuốt của loài kên kên luôn rình rập, chờ thời cờ để ăn tươi, xé xác những kẻ ngây thơ, mau quên và ham vui nhan nhản trong cộng đồng người Việt tỵ nạn.

Loài kên kên là thế, xin đừng lầm lẫn lần nữa.

TRƯƠNG MINH HÒA
band4 3G McKeno

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Kính chúc toàn thể quí vị một năm mới nhiều may mắn


Image


3G McKeno
band4 3G McKeno

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

BÀI GIẢNG TRONG THÁNH LỄ AN TÁNG ALPHONGSÔ HOÀNG QUÝ
Lm. Joseph Nguyễn Thái



Kính thưa Đức Ông, Quý Cha, Quý Nam Nữ tu Sĩ,
Kính thưa Tang Quyến và quý vị thân hữu,



Chúng ta đang sống trong những ngày trước Tết, chuẩn bị đón Xuân Mậu Tí.

-Những tờ báo Xuân đã được phát hành
- Những tấm thiệp đã được bày bán
- Các bài hát Xuân đang rộn ràng trên các đài phát thanh:

“Xuân đến rồi đây nào ai biết không?
Mang những hoài mong đi vào ngày tháng
Bao nhiêu mơ ước đến khi mùa Xuân sang.”

(Cánh Thiệp Đầu Xuân)

Hôm nay chúng ta lại cũng tụ họp nhau đây trong tình nghĩa gia đình, tình bạn hữu, tình đồng đội, tình đoàn thể, cộng đoàn, cộng đồng…đứng trước một con người cũng đã từng:

- Phát hành những tờ báo Xuân
- Viết những tấm thiệp Xuân
- Hát lên những ước mơ, những hy vọng, những hoài mong, những trông chờ: cho chính mình, cho gia đình, cho Giáo Hội, và cho Quê Hương Việt Nam .

Nhưng Xuân ở đây, theo Ông Alphongso Hoàng Kim Quý:

- Không phải Xuân của những tiết trời thiên nhiên với bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông cứ mỗi năm lại xoay quanh một lần.

- Không phải Xuân của thời gian:

“Bốn Mùa Xuân lại Thu qua,
Đời người thấm thoát như là con thoi.”

Mà là Mùa Xuân Vĩnh Cửu, Mùa Xuân của Nước Trời.

Vì tất cả những mùa xuân trần gian đều dẫn đến sự chết. Trừ sự PHỤC SINH của Chúa Giêsu Kitô. Trừ Mùa Xuân Vĩnh Cửu của nơi chính Chúa Giêsu Kitô là Đấng đã đi trước để dọn chỗ cho các môn đệ của Ngài. Đấng đã phán: «THẦY LÀ ĐƯỜNG, là SỰ THẬT, và là SỰ SỐNG» mà suốt đời Ông Alphongsô Hoàng Quý đã dong duổi BƯỚC THEO THẦY.

Chuyện nhà Phật có kể câu chuyện này: Vào một ngày Xuân, có một thiền khách đến hỏi thiền sư Chân Không:

- “Thưa Thầy, khi xác thân bại hoại thì đón xuân thế nào?”

Ngài đáp:

“Xuân đến, Xuân đi, ngỡ Xuân hết!
Hoa nở, hoa tàn, chỉ là Xuân.”

Câu trả lời thật tuyệt vời với hai câu thơ vô cùng sâu sắc!

a/ “Xuân đến, Xuân đi, ngỡ Xuân hết” Đây chính là Xuân của thời tiết: Xuân, Hạ, Thu, Đông. Đây là Xuân của thời gian: lúc non trẻ, lúc thanh xuân, lúc già nua. Đây là Xuân của xác thân bại hoại Ông Hoàng Quý đang nằm đó. Ai cũng sẽ nghĩ rằng: Sinh ra, sống, rồi chết. Thế là hết: “Ngỡ Xuân hết!”

b/ “Hoa nở, hoa tàn, chỉ là Xuân.”

- Hoa nở: Sinh ra làm người.

- Hoa tàn: đến lúc bệnh, lão, rồi tử - như Ông Anphongso đây!

- Nhưng linh hồn của ông vẫn mãi mãi “chỉ là Xuân.”

- Con người Anphonsô Hoàng Quý với đời sống TÂM LINH luôn hướng về THIÊN CHÚA là Mùa Xuân Vĩnh Cửu thì mãi mãi “chỉ là Xuân.” Cho dù thân xác có bại hoại, cuộc đời có thăng trầm. Cho dù nắm giữ bất cứ vai trò nào trong xã hội, giàu hay nghèo, sang hay hèn, giáo sĩ hay giáo dân. Tất cả những điều đó không làm mất đi cái tính vĩnh cửu của con người: “chỉ là Xuân.”

Hay quá!

“Xuân đến, Xuân đi, ngỡ Xuân hết.
Hoa nở, hoa tàn, chỉ là Xuân.”

Đây chính là KHÁT VỌNG mà suốt đời Ông Alphonsô Hoàng Quý đã cưu mang “Khát Vọng Vĩnh Cửu.” Hôm nay Mùa Xuân đã tới. Vui Xuân, không chỉ là niềm vui của người còn sống. Tôi tin rằng Mùa Xuân của người đã yên nghỉ trong NHÀ CHA mới là Mùa Xuân Vĩnh Cửu. MÙA XUÂN MIÊN VIỄN mới là niềm vui đáng ước mong!

Quả đúng như vậy, văn hào Pascal đã nói với nhân loại thế này: “Chúng ta được tạo dựng có một tâm hồn với một khoảng trống to lớn bằng Thiên Chúa. Và chỉ có một mình Thiên Chúa mới khoả lấp được nỗi trống vắng to lớn này mà thôi.” Đó là khát vọng vĩnh cửu.

Cả cuộc đời của Ông Alphongsô Hoàng Quý là những nỗ lực khoả lấp khát vọng vĩnh cửu, khoả lấp cái khoảng trống mà Pascal đã diễn tả, là những bôn ba tìm kiếm chân lý và sự thật, là những bước chân gian nan, dong duổi, bước theo Đấng đã phán: “Thầy là ĐƯỜNG, là SỰ THẬT, và là SỰ SỐNG.”

Thật vậy, Ông là cựu chủng sinh của Giáo Hoàng Học Viện Piô X Đà lạt: nơi đào tạo các linh mục lý tưởng của toàn thể Giáo Hội Việt Nam . Học viện dạy bằng tiếng Pháp. Những chủng sinh được gửi về học là những thành phần ưu tuyển từ các địa phận. Mỗi địa phận chỉ có được hai người. Họ sẽ là những chủ chăn then chốt lãnh đạo Giáo Hội Việt Nam .

Ông Hoàng Quý chỉ còn những năm cuối và còn một bước rất ngắn để lãnh nhận chức Linh Mục. Nhưng càng đến gần thì Ông càng run sợ. Run sợ vì thấy mình nhỏ bé như đứng trước một bầu trời bao la của chân lý. Ông run sợ trước vai trò và trách nhiệm của một ngôn sứ phải có!

Bởi thế Ông đã rút lui. Nhưng Ông càng rút lui thì KHÁT VỌNG vĩnh cửu, chân lý và sự thật càng đeo đuổi Ông, làm Ông càng băn khoăn, thao thức, trăn trở. Ông không dám nhận lấy vai trò sứ ngôn trong Thiên Chức Linh Mục, nhưng lại được mời gọi chu toàn vai trò ngôn sứ của một người tín hữu, cho dù vai trò đó vất vả hơn, gian nan hơn, và chịu nhiều đắng cay hơn.

Cách đây mấy tuần, tôi vừa đi Paris về. Ở Paris tôi có dịp đến bảo tàng viện vĩ đại LOUVRE, mà trong đó có bức tranh nổi tiếng của họa sĩ LEONARDO DA VINCI (1503-1506) là MONA LISA (LA JOCONDE). Lúc nào cũng có một đám đông du khách quốc tế đến xem và chụp hình. Bức tranh không lớn lắm, một chiều là 77 cm và chiều kia 53 cm, vẽ nét mặt của một người phụ nữ Tây phương với một nụ cười mỉm chi rất là huyền bí. Nụ cười này đã làm tốn biết bao giấy mực để diễn tả nó. Khi vui thì nhìn thấy vui, khi buồn thì nhìn thấy nỗi buồn theo.

Có một câu chuyện đã xảy ra ở đàng sau bức tranh này là vào tháng 8 năm 1911, bức tranh này đang được treo ở bảo tàng viện Louvre Paris, thì bị mất cắp do kẻ trộm đến gỡ đi mất. Nó bị mất tích trong hai năm. Một điều kỳ lạ là khi nó mất tích rồi, thì số người xếp hàng vào Bảo Tàng Viện để xem nó trong hai năm mất tích đông hơn là tổng số người đã vào xem bức tranh khi nó còn treo ở đó trong 12 năm trước đây cộng lại.

Họ vào xem gì? Thưa xem cái “blank space,” cái “khoảng trống” của bức tranh đã bị đánh cắp! Vì bức tranh quá quý giá. Bây giờ mất rồi! Tiếc quá! Vì sự nuối tiếc, họ chỉ cần nhìn cái “khoảng trống” nơi bức tranh đã bị lấy đi, để nhớ về bức tranh!

Có thể so sánh cái “khoảng trống” của bức tranh đã mất với khoảng trống tâm linh nơi mỗi người mà Pascal đã diễn tả, so sánh cái khoảng trống của bức tranh đã mất với chính cái khoảng trống khát vọng lý tưởng, chân lý và sự thật của Ông Hoàng Quý khi Ông quyết định mang lấy vai trò sứ ngôn của một người giáo dân! Và cũng phát xuất từ “khoảng trống” khát vọng vĩnh cửu đó mà suốt đời Ông đã cầm bút, sáng tác, dịch thuật, làm nhạc, và viết báo. Ông đã lập ra hai nhà xuất bản Thăng Tiến và Phụng Sự, hoàn tất 22 tác phẩm dịch thuật, điều hành tờ Hiệp Nhất, khai sinh tờ Diễn Đàn Giáo Dân và website Tiếng Nói Giáo Dân.

KHÁT VỌNG CHÂN LÝ, SỰ THẬT thúc đẩy Ông hăng say và nhiệt tình trong vai trò ngôn sứ của mình.

Trong một điện thư gửi thăm Chị Thanh Hiền và các cháu, trong tư cách là các bạn hữu của anh ở Việt Nam cùng viết và ký tên của Linh mục Lê Quang Uy, CSsR, Ông Nguyễn Đình Lộc; Linh mục Nguyễn Hải Minh, OFM ; Linh mục Nguyễn Thái Hợp, OP ; Ông Trần Duy Nhiên và Ông Vương Đình Chữ, trong đó có đoạn viết: “Chúng tôi rất quý mến thiện ý và sự hăng say của anh khi anh dâng hiến những tháng ngày cuối đời mình để gửi gấm một sứ điệp cho Chủ Chăn và cho cộng đồng dân Chúa. Sứ điệp ấy có người hăm hở đón nhận, có người dè dặt, thậm chí có người phản đối, nhưng tấm lòng của anh thì chúng tôi biết là chân tình. Những anh em nào đã gặp gỡ và trao đổi với anh ngoài đời đều nhận ra điều đó. Và chắc chắn Thiên Chúa đã nhìn rõ lòng anh.”

Phải, tất cả những lời nhận xét từ các bạn bè, trong đó có 3 linh mục bạn thân ở Việt Nam đều rất đúng. Con người ông rất thẳng thắn, chân thật, và nhiệt tình, nhưng gặp nhiều phản đối!

Khi còn sống, chính Ông cũng đã biết đến và xác nhận với tôi qua những lần gặp gỡ và chia sẻ. Có một lần, với nhiệt tình tông đồ hăng say, ông đến tặng tôi mấy cuốn sách, trong đó có cuốn “Prayer That Brings Revival” và “The Cardijn Story” viết về đời sống của Hồng Y Joseph Cardijn, vị Sáng Lập Phong Trào Thanh Sinh Công. Ông giới thiệu với tôi về phong trào Thanh Sinh Công. Tôi ở lớp đàn em, không biết gì về phong trào Thanh Sinh Công. Trong lần viếng thăm này, mặc dù lúc ấy sức khoẻ Ông đã yếu lắm, vậy mà Ông còn ngỏ ý rằng nếu tôi cần giúp đỡ gì về mục vụ theo phương pháp của Thanh Sinh Công, Ông sẵn sàng đóng góp. Hôm đó, chỉ cách đây có mấy tháng sau lần gặp gỡ và cùng đi hành hương Đền Thánh Giuse ở Canada với Ông vào tháng 5 năm 2007 do Ông Đinh Lưu Nhã tổ chức.

Sau khi nghe Ông chia sẻ, tôi nói: “Cám ơn anh Hoàng Quý, không phải chỉ vì những chia sẻ của anh, hay những quyển sách của anh đã tặng tôi hôm nay, nhưng tôi đặc biệt cám ơn anh vì 2 quyển sách “Cảm Nghiệm Sống Lời Chúa.” Câu chuyện xảy ra cho tôi vào năm 1993, khi tôi quyết định trở lại chủng viện để học Thần Học ở Chicago . Tình cờ tôi đọc được 2 cuốn sách này. Quả thực, những điều anh chia sẻ đã ảnh hưởng rất lớn đến ơn gọi của tôi, đã giúp tôi cảm nghiệm về những ơn Chúa ban, những Lời Chúa phán, bằng chính kinh nghiệm riêng tư và cá biệt của cuộc đời mình trước khi được chia sẻ và rao giảng với tư cách là một linh mục. Có nghĩa là người ngôn sứ phải cảm nghiệm, phải sống, và phải hành động chính những điều mình đang rao giảng!

Nghe những lời cám ơn, Ông khiêm tốn gập người xuống, tôi nhìn thấy đôi vai Ông đã oằn cong vì bệnh ung thư máu, vì những năm tháng tù tội ở Việt Nam, vì những gian nan thử thách của vai trò ngôn sứ! Nhưng trên môi Ông vẫn nở ra một nụ cười rất tuơi và mãn nguyện! Tôi thiết nghĩ, đấy đã là phần thưởng của Ông giữa bao điều eo sèo nhân thế!

Làm người, không có bất cứ công việc nào hay sứ mạng nào là lại không gây đau đớn! Có những bất hạnh, những mất mát có sức mạnh làm tan nát cõi lòng, làm cho người trong cuộc như không còn sức sống. Những lúc như thế, rất cần một điểm tựa để níu kéo ơn bình an và sức mạnh. Điểm tựa đó, đối với Ông Hoàng Quý, đó là cây viết với niềm tín thác nơi Thiên Chúa.

Nhà thơ Phùng Quán có lần tâm sự rằng: “Có những giây phút ngã lòng, tôi đã vịn câu thơ mà đứng dậy.” Còn Ông Alphonsô Hoàng Quý, Ông bắt chước Mẹ Têrêsa Calcutta, đã vịn vào cây bút chì trong tay Thiên Chúa mà đứng dậy.

- Để tiếp tục kiên trì sống ơn gọi sứ ngôn của mình,

- Để tiếp tục dùng ngòi bút giúp cho mọi người: “Hãy hướng nhìn về CHÚA và thế giới, chứ đừng nhìn về mình.”

Kính thưa tang quyến và thân hữu,

Những lời Ông viết trên đây vào dịp “Kỷ Niệm Đệ Nhất Chu Niên Tiếng Nói Giáo Dân” năm 2005:

1/ Chính vào ngày Lễ Tro 2004, khởi đầu Mùa Chay, Mùa Sám Hối. Ông đã chọn đó là ngày sinh nhật của TNGD.

2/ Ông cũng tự nhận: “Chúng tôi là những giáo dân tội lỗi, do đó chúng tôi chọn ngày sám hối là sinh nhật cho Trang Nhà, khởi hành con đường dong duổi đầy gian nan.”

3/ Ông đã kêu gọi mọi người: “Hướng nhìn về CHÚA và thế giới, chứ đừng nhìn về mình.”

Hôm nay tang lễ của Ông cũng diễn ra chỉ vài ngày trước LỄ TRO 2008:

- Ngày Lễ Tro 2004 là Ngày Sinh Nhật của TNDG đã thực sự mang tính cách tiên tri - của ngôn sứ.

- Và Lễ Tro 2008: Ngày Sinh Nhật của Người Sáng Lập TNGD bước vào cuộc sống mới với Mùa Xuân Miên Viễn.

Hôm nay, trong buổi tang lễ của Ông, Ông cũng kêu gọi chúng ta: “Hãy nhìn về CHÚA” là ĐẤNG TỪ BI, NHÂN HẬU, YÊU THƯƠNG và THA THỨ. Ông cũng xin với chúng ta: “Đừng nhìn về mình.” “Đừng nhìn về Ông”

- Để không còn bất đồng mà hậm hực, khó chịu với nhau nữa!

- Để biết rằng chúng ta đều là những người tội lỗi, cần đến LÒNG THƯƠNG XÓT của CHÚA!

Khi kêu gọi “Hãy hướng nhìn về CHÚA” Ông đã dùng Lời Thánh Phaolô khuyên dạy các tín hữu trong thư gửi tín hữu Dt 12, 2: “Hãy nhìn vào Chúa Giêsu là nguồn gốc và là phần thưởng của đức tin. Người đã từ bỏ hạnh phúc sẵn có để nhận lấy thập giá và không xem sao đến sỉ nhục. Từ nay, Người ngự bên hữu toà Thiên Chúa.”

- “Hãy nhìn về Chúa”: và chỉ ở nơi Chúa, Ông đã có thể học được nghệ thuật chịu đau khổ cho nên. Dù bệnh tật đau đớn thế nào Ông cũng không kêu ca than vãn mà chỉ luôn nở nụ cười.

- “Hãy nhìn về Chúa”: đã chịu chết trên Thánh giá, coi thường tủi nhục, nên Ông chấp nhận bị chống đối!

Trong câu chuyện về đời sống của Nữ Chân Phước Magarita Maria có kể rằng: “Có một lần, Chúa Giêsu hiện đến bên tôi, một tay cầm bức tranh diễn tả đời sống sung sướng nhất mà người ta có thể tưởng tượng: được bình yên, được an ủi bên trong và bên ngoài, được sức khoẻ dồi dào, được mọi người mến chuộng, được mọi sự thoải mái dễ chịu…Tay kia, Người cầm bức tranh tả một đời sống nghèo hèn, nhục nhã, luôn bị đóng đinh, bị tủi nhục, bị khinh bỉ chống đối, bị đau khổ thân xác và trong tâm hồn… Cho tôi xem hai bức tranh đó, rồi Chúa nói: “Hỡi con, hãy chọn bức tranh nào vừa ý con nhất. Cha sẽ cho con những ân sủng quý nhất cả trong hai trường hợp.”Tôi đã quỳ xuống chân Người để thờ lạy và thưa rằng: “Ôi lạy Chúa, con không muốn gì ngoài Chúa và sự lựa chọn của Chúa cho con!” Và sau khi Chúa thúc giục tôi chọn, tôi nói: “Lạy Chúa, Chúa đã đủ cho con rồi. Xin Chúa hãy làm cho con điều gì làm vinh danh Chúa nhất, và xin Chúa đừng đếm xỉa đến quyền lợi của con. Như thế là đủ cho con rồi.” Sau đó Chúa đã đưa cho thánh nữ bức tranh về cuộc tử nạn Thánh Giá, rồi nói: “Đây là điều Cha chọn cho con và vừa ý Cha nhất, để thực hiện chương trình của cha, và cũng để cho con nên giống Cha.”

Kính thưa tang quyến và thân hữu,

Con đường của thánh nữ Magarita cũng là con đường Ông Anphongsô Hoàng Quý đã chọn lựa. Đường về TRỜI chỉ có một, không có hai: Con đường thập giá và từ bỏ mình! Ai tìm được là sống. Ai lạc đường sẽ mất sự sống. Đức Kitô đã phán: “Thầy là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống.” Chúng ta phải đội ơn Chúa vô cùng vì đã cho chúng ta, đã cho Ông Alphongsô Hoàng Quý gặp được Đức Kitô, là gặp được con đường dẫn tới SỰ SỐNG. Chúng ta hãy cám ơn Chúa cho Ông Alphongsô đây, trong suốt 68 năm đã kiên trì theo con đường Chúa đã chọn cho Ông. Và, theo tầm nhìn của chúng ta, chúng ta có quyền hy vọng Ông đã tới đích, tới chỗ chính Chúa Giêsu đã đi trước để dọn chỗ cho Ông, để “Thầy ở đâu, thì các con cũng ở đó.”


Amen!●


---
band4 3G McKeno

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Phút Chiều Tà
Lm. Joseph Nguyễn Thanh Sơn, DCCT




21.- LUI VỀ ĐẤT BỤI

“Người bắt phàm nhân lui về đất bụi, và Người phán: ‘Về đi hỡi con cái Ađam.’” (Tv 90: 3)

Tác giả Thánh Vịnh nói tới uy quyền tối thượng của Đấng Tạo Hóa “bắt phàm nhân lui về đất bụi!”

Vâng, mọi phàm nhân phải cúi đầu chấp nhận định luật bất di bất dịch ấy của Người, vì nó là “con cái Ađam.” Vì tội bất tùng lệnh ngăn cấm của Đức Chúa Trời trong vườn địa đàng mà tổ tiên của loài người đã phải chết, rồi lưu truyền số phận phải chết đó cho con cái cháu chắt mình…

Hôm nay họa sĩ Thái Tuấn đã “lui về đất bụi” tại thành phố Sài Gòn, Việt Nam, sau những ngày mang bệnh tật, hưởng thọ 90 tuổi. Ông là một danh họa miền Nam trước 1975. Ông được xem là chân dung hội họa lớn của Việt Nam thế kỷ 20, và là họa sĩ hiếm hoi của các thế hệ trường Mỹ thuật Đông Dương còn sáng tác trong thế kỷ 21. Họa sĩ quá cố thể hiện nét tài hoa hiếm có trong thể loại tranh sơn dầu. Chủ đề thành công nhất của ông là nét đẹp của phụ nữ Việt Nam. Triển lãm lần cuối cùng vào năm 88 tuổi, ông cho biết chưa bao giờ thấy mệt mỏi trên hành trình thưởng ngoạn, ghi dấu vẻ đẹp tao nhã, thanh lịch của con người, cảnh vật Việt Nam, nhất là Hà Nội. (Việt Báo Online)

Cùng ngày hôm nay vào lúc sáng sớm, cầu Cần Thơ xây bắc ngang hai bên bờ sông Hậu Giang, đã bị sập trong vòng 30 giây đồng hồ, khiến trên 100 công nhân bị rớt xuống đất. Chỉ trong một nửa phút mà 57 con người đã “lui về đất bụi,” ngàn thu vĩnh biệt trần gian vô thường.

Tác giả thư Do Thái đã nhận định rằng thân phận con người chỉ là “những khách ngoại kiều, là những lữ khách trên mặt đất.” Lữ khách là lữ hành, kẻ đi trong cuộc đời.

Chính vì thân phận hữu thể (human being) bi đát là như thế, chúng ta phải lo chuẩn bị cho sự “ra đi” của mình!

22.- NHÀ CHA

“Trong nhà Cha của Thầy có nhiều chỗ ở.” (Gio 14: 2)

Trước khi ra đi, rời bỏ trần gian để về cùng Cha, Chúa Cứu Thế Giêsu đã hoan hỉ tuyên bố với các môn đồ của Ngài rằng, “Trong nhà Cha của Thầy có nhiều chỗ ở.”

Hẳn rằng Nước Thiên đàng thì rộng lớn mênh mông bát ngát, dư thừa đủ chỗ cho mọi người được cứu rỗi, sau cuộc phán xét chung thẩm vào ngày tận thế. (x. Mt 25:31-46)

Trong khi đó ở dưới trần gian, kiếm được một phòng ngủ tại Paris vào tháng 9 này là một chuyện khó khăn vô cùng, theo nhật báo Le Parisien. Gọi điện thoại cho 10 khách sạn, bạn sẽ thấy rằng chuyện đó không phải là nói ngoa. Mission impossible! Không có gì phải ngạc nhiên: Hằng trăm ngàn người tranh nhau 151,680 phòng dành cho du khách tại thủ đô. Không riêng gì giải bóng tròn thế giới Rugby World Cup 2007 mà còn thêm nhiều cuộc triển lãm, trưng bày, hội chợ… tất cả như là chờ đợi vào Hè để ra mắt tại kinh thành ánh sáng. “Désolé, nous sommes complet” hay đơn giản hơn: “Complet” (Hết chỗ rồi), đó là những tấm bảng treo hay viết trước cửa khách sạn từ 1 đến 3, 4 sao. Hotel ở Goussainville 300 Eu một đêm hay Sofitel ở Champs Elysées 300 Eu đều không còn phòng trống, dù chỉ một đêm. Khách sạn nằm trong vòng 10 cây số đường kính quanh Paris không còn phòng. (Từ Nguyên; Người Việt)

Nhà Cha trên thiên quốc không thiếu chỗ ở, nhưng không phải mọi con cái loài người đều có chỗ cho mình ở trên ấy! Chúa Giêsu đã đưa ra điều kiện quyết liệt: “Hãy chiến đấu để qua được cửa hẹp mà vào, vì Thầy nói cho anh em biết: có nhiều người sẽ tìm cách vào mà không thể được,” (Lc 13:24) nói cách khác, nếu không đi vào cửa hẹp, thì chúng ta không thể có một chỗ trong Nhà Cha.

23.- CỦA CẢI VẬT CHẤT

“Hãy coi chừng! hãy lo giữ mình tránh mọi thứ tham lam, vì không phải ai được sung túc là đời sống người ấy được chắc chắn nhờ nơi của cải.” (Lc 12: 15)

Chúa Cứu Thế khuyên dạy chúng ta hãy “giữ mình khỏi mọi thứ tham lam”, nhất là tham lam tiền của vật chất! Tiền của sung túc của một người không đảm bảo được đời sống hạnh phúc của người ấy ở bên kia bờ bến trần gian này.

Trong giờ nguyện kinh Truyền Tin vào trưa Chúa nhật mồng 5-8-2007, tại dinh thự mùa hè Castel Gandolfo, ĐGH Benedictô XVI đã kêu gọi các tín hữu Chúa Kitô đừng quá gắn bó với của cải vật chất, trái lại hãy hướng tâm hồn lên cao. Ngài nói:

“Lời Chúa kích thích chúng ta suy tư về quan hệ của chúng ta với các của cải vật chất phải như thế nào. Sự giầu sang, tuy tự nó là một thiện ích, nhưng không được coi như một thiện ích tuyệt đối. Nhất là nó không bảo đảm phần rỗi, trái lại nó có thể làm thương tổn trầm trọng cho phần rỗi. Chính Chúa Giêsu đã cảnh giác các môn đệ về nguy cơ đó. Thật là điều khôn ngoan và nhân đức nếu ta không để cho tâm hồn bám chặt vào của cải trần thế này, vì tất cả đều sẽ qua đi, tất cả có thể chấm dứt một cách đột ngột. Kho tang đích thực mà chúng ta phải không ngừng tìm kiếm đối với các tín hữu Kitô chúng ta, chính là kho tàng ‘ở nơi những sự trên cao, nơi có Chúa Kitô ngự bên hữu Chúa Cha.’”

Thánh Têrêsa Avila, còn gọi là Têrêsa Cả, đã suy tư: “Mọi sự qua đi, chỉ mình Thiên Chúa không thay đổi.”

Quả thực, mọi sự và mọi người sẽ qua đi, “nơi nó mọc không còn mang vết tích”: vào chiều cùng ngày Chúa nhật mồng 5-8, HY Jean Marie Lustiger, nguyên TGM của Paris, Pháp, đã từ trần vì bệnh ung thư, hưởng thọ 81 tuổi.

24.- HÃY LAN TỎA HÒA BÌNH

“Phúc thay ai xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.” (Mt 5: 9)

Chúa Cứu Thế đã tuyên mối phúc thật thứ bảy cho “ai xây dựng hòa bình”, hay “ai tác tạo hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.” Dưới cái nhìn của lòng tin, còn vai trò nào lớn lao hơn là vai trò làm con Thiên Chúa?

Hòa bình (Peace) là khao khát chính đáng của loài người ở mọi thời. Vậy mà con ma chiến tranh luôn luôn xuất hiện trên mảnh địa cầu này, đã cướp đi mạng sống của bao nhiêu người cùng tiêu diệt bao nhiêu tài sản của họ.

Ngày 26-9-2007, Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert Gates đã yêu cầu Quốc Hội HK chấp thuận gần 190 tỉ Mỹ kim để chi tiêu cho các cuộc chiến tranh ở Iraq và Afghanistan trong năm 2008. Nghị sĩ Robert Byrd, chủ tịch ủy ban chuẩn chi Thượng Viện, đã hỏi ông Gates là liệu nước Mỹ có an toàn hơn nhờ vụ đầu tư khổng lồ này không. Rồi ông Byrd nói: “Tôi tin rằng câu trả lời thật rõ ràng. Chúng ta không an toàn hơn!” Tính cho đến nay, Quốc Hội đã chuẩn chi khoảng 450 tỉ Mỹ kim cho cuộc chiến tranh tại Iraq, và 127 tỉ Mỹ kim cho Afghanistan. (Người Việt Online)

Trong buổi nguyện kinh Truyền Tin trưa Chúa Nhật 22-7-2007, ĐGH Benedictô 16 đã tha thiết, khẩn khoản kêu gọi mọi người chấm dứt các cuộc chiến tranh. Ngài nói: “Nếu loài người sống hòa bình với Thiên Chúa và với nhau, thì trái đất sẽ thật sự giống như một vườn địa đàng!”

Mẹ Têrêsa Chân Phước Calcutta viết: “Chúng ta không cần súng ống và bom đạn để mang lại hòa bình, mà chúng ta cần tình thương yêu và lòng từ bi. Nào, chúng ta hãy lan tỏa hòa bình của Thiên Chúa, và như thế hãy thắp lên ánh sáng của Ngài, và dập tắt mọi thù hận cùng lòng yêu mến quyền lực trên thế giới và trong trái tim mọi người.”

25.- CHA XÓT THƯƠNG

“Cha đầy tình xót thương và là Thiên Chúa mọi niềm an ủi, Đấng an ủi ta trong mọi nỗi gian truân.” (2Cor 1: 3-4)

Thánh Phaolô nói lên niềm xác tín của ngài về Thiên Chúa chúng ta là “Cha đầy tình xót thương” và là “Đấng an ủi” chúng ta “trong mọi nỗi gian truân”, khốn khó, khổ đau của thân phận làm người.

Tôi nhận được thư của một Nữ tu thuộc Tỉnh Dòng Đức Mẹ Mân Côi ở Louisiana, HK, chia sẻ với tôi về một tình cảnh gian truân của người thân tại quê nhà: “Cháu của con đi lễ lúc 5 giờ sáng, rồi ra chợ cho người ta thuê đi làm mướn. 6 giờ sáng người ta thuê cháu ra đồng ruộng làm việc tới 5 giờ chiều, họ không cho nghỉ ăn trưa, họ nói mất thì giờ. Cháu chỉ đeo theo bầu nước để khi đói khát thì uống mà thôi, cho đến 5 giờ chiều họ trả cho cháu của con được 10 ngàn cụ Hồ trị giá bằng 80 xu ở Mỹ này.

Thế mà may mắn lắm thì cháu được làm 3 ngày/một tuần, có tuần cháu chỉ có được thuê một ngày đi làm! Tội cháu con quá…” Cha trên trời xót thương người con này của Ngài biết bao! Lạy Cha, con chẳng thể nào tưởng tượng ra nổi một người phải làm việc đồng áng chân lấm tay bùn vất vả khổ cực suốt cả ngày dài đằng đẳng, mà chỉ lãnh công chưa được tới một mỹ kim.

Cha thương xót và an ủi các con cái lầm than khốn khổ của Người lại qua chính chúng ta, những người được diễm phúc ấm no đầy đủ hơn. Điều này có nghĩa là chúng ta sẽ đến với anh chị em bất hạnh thân thương của mình, bằng sự giúp đỡ từ trái tim đến bàn tay chia sẻ. Sự cảm thông chia sẻ sẽ đem lại cho chúng ta hạnh phúc thật sự.

“Hạnh phúc là một loại hương vị của linh hồn, là hòa âm của một trái tim ca hát, mà âm nhạc hay nhất của linh hồn là sự từ bi.” (Ẩn danh)

26.- BÔNG HỒNG NHỎ

“Chúa Giêsu ôm lấy các trẻ em và đặt tay chúc lành cho các em.” (Mc 10: 16)

Chúa Giêsu yêu thương các trẻ em biết bao, vì tâm hồn hoàn toàn đơn sơ, trong trắng, ngây thơ của các em!

Mùa Hè 1961, chúng tôi học xong lớp đệ thất tại trường trung học Vũ Ngọc Hoàn do Dòng Mẹ Mân Côi Chí Hòa điều hành. Mãn năm học ấy, chúng tôi vinh dự được giải nhất về môn Việt Văn, và nhà trường đã trao tặng chúng tôi một phần thưởng. Chúng tôi ôm quà tặng ấy về nhà, hồi hộp mở ra thì thấy duy một cuốn sách khá dày mang tựa đề “Truyện Một Tâm Hồn”. Đó là nhật ký tâm linh của Nữ Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu. Không hiểu vì sức hút nào, chúng tôi đã “chui” vào mùng, vì nhà nghèo có lắm muỗi, và lần giở từng trang, từng trang, hết trang này sang trang tiếp, say sưa đọc một hơi trong hai ngày hết tác phẩm.

Chúng tôi đã hiểu và yêu mến Nữ Thánh Têrêsa Hài Đồng kể từ ngày đó. Và cũng trong mùa Hè này, chúng tôi trúng tuyển cuộc thi tuyển vào Đệ tử viện DCCT, rồi chúng tôi vui mừng khởi sự cuộc đời “tu thân tích đức” của mình.

Chúng tôi vẫn tin tưởng rằng chính Bông Hồng Nhỏ thành Lisieux đã đưa dẫn mình đi tu, và lãnh nhận tác vụ linh mục vào 24 năm sau. Chúng tôi luôn luôn cầu nguyện cùng Nữ Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu, và trong thời gian qua, khi sống trên đất khách quê người, chúng tôi đã được hai dịp hồng ân đến Lisieux, miền bắc nước Pháp, để viếng thăm nơi chốn Chị Thánh đã ra đời và tu hành, rồi nên thánh. Chúng tôi đã được dâng thánh lễ tại Vương Cung Thánh Đường tôn kính Vị Nữ Thánh Tiến Sĩ của Giáo Hội.

Hôm nay, GHCG hoàn vũ hân hoan mừng lễ Thánh Têrêsa Hài Đồng, chúng ta hãy cầu xin Chị hướng dẫn mình nên thánh bằng/qua con đường nhỏ, đường ấu thơ.

27.- CÁI ÁC TRONG TÂM

“Họ kéo Ngài lên tận đỉnh núi, để xô Ngài xuống vực.” (Luca 4: 29)

Chúa Giêsu đã bị đồng hương đối xử tàn ác như thế! Họ có ý định giết Ngài bằng cách “xô Ngài xuống vực.”

Ở thời nào cũng vậy, ngay từ gia đình tổ tiên loài người Ađam & Evà của chúng ta với vụ “Cain giết Abel, em mình” (x. Kn 4:8), cái ác đã nằm sẵn trong tâm con người!

Chuyện 1: Ngày 14-8-2007, ông Stanley Reimer, 51 tuổi người Mỹ, dìu vợ mình đang bị lâm trọng bệnh thần kinh và ung thư dạ con, ra ban-công căn chung cư, hôn vợ, rồi xô vợ xuống đất chết ngay tức thì. Ông khai báo với nhà chức trách, “ông đã hành động như thế vì không có tiền để trả chi phí y khoa cho vợ!”

Chuyện 2: Một phụ nữ trẻ 23 tuổi da đen, ở thành phố Charleston, West Virginia, đã bị 6 người da trắng tấn công tình dục, đánh đập và làm nhục, trong khi bị giam giữ trong một ngôi nhà ít nhất là một tuần lễ vào thượng tuần tháng 9, 2007. Ngoài việc bị tấn công tình dục, nạn nhân còn bị đâm 4 lần vào chân trái và bị đánh đập. Cả hai con mắt của nạn nhân bị tím bầm. Trong thời gian bị giam giữ, nạn nhân đã bị buộc ăn phân chuột và phân chó, uống nước từ trong cầu tiêu. Nạn nhân cũng bị siết cổ bằng dây điện và bị xén tóc. Nạn nhân còn bị đổ nước nóng vào người trong khi bị tấn công tình dục. Nạn nhân bị hành hạ chỉ vì màu da của cô. Đây là một vụ có tính cách thù hằn chủng tộc. “Những điều đã xảy ra cho người phụ nữ này thật là không thể nào diễn tả nổi,” Trung sĩ Sonya Porter thuộc sở cảnh sát Logan cho hay như vậy. (Người Việt Online)

Chúng ta hãy ý thức rằng, cái ác ngự trị trong đáy sâu lòng mình, vì thế chúng ta phải ý thức “diệt trừ nó đi mỗi ngày.” Chớ để nó lớn lên, triển nở, và bùng phát!

28.- CÁI THIỆN TRONG TÂM

“Rút thưa với bà Noêmi, mẹ chồng: ‘Mẹ đừng giục con bỏ mẹ, vì mẹ đi đâu, con sẽ đi đó! Mẹ chết ở đâu, con cũng chết ở đó!’” (Rut 1: 15-16)

Cái thiện đã ngự trị trong lòng của người con dâu Rút đáng yêu chừng nào! Nàng được người ta ngợi khen, ca tụng muôn đời, nhờ cái tâm thiện của mình.

Chuyện 1: A Trâm, học sinh lớp 5G trường tiểu học Ya Chim 1, xã Ya Chim, thị xã Kon Tum, tỉnh Kon Tum, bị bệnh do dị chứng chất độc da cam. Dù tật nguyền, khi di chuyển phải bằng hai đầu gối, nhưng 5 năm liền A Trâm đều là học sinh tiên tiến, luôn được thầy yêu bạn mến. Thấy bạn bất hạnh, A Byưh, người cùng làng với A Trâm – làng Klâu Ngoh Zố, xã Ya Chim, thị xã Kon Tum, đã tự nguyện cõng bạn đến trường gần 5 năm qua. (Báo Tuổi Trẻ)

Chuyện 2: Con chó của tôi nhốt ở sân sau, đã phóng rào đi ra ngoài. Khi đi làm về tôi thấy cái “note” dán ngoài cửa, có số phone trên đó. Khi tôi gọi số phone thì mới biết con chó của tôi được một cô gái bắt lại, cho uống nước và cô đã tìm cách lần ra ngôi nhà của tôi để nhắn lại cái “note”.

Chỉ một cử chỉ đẹp đã cho tôi thêm niềm tin về cái thiện của con người, nhất là đồng hương mình với nhau.

Cái thiện thể hiện từ những thái độ, cử chỉ đẹp mà người ta trao cho nhau xuất phát từ tấm lòng, không vì xã giao bề ngoài hay vì sự “ban phát” để có cảm giác “hơn người”. (T. Nguyễn, NV Online Sept. 7, 2007)

Thế giới này có rất nhiều người tốt, rất nhiều điều hay, chuyện đẹp. Nếu chúng ta để tâm thanh thản và thật lòng tìm những điều tốt, hay, đẹp, chúng ta sẽ thấy rất nhiều những điều đó. (NV Online)

29.- KHÍ CỤ AN BÌNH

“Vào bất cứ nhà nào, trước hết anh em hãy nói, ‘an bình cho nhà này.’” (Lc 10: 5)

Chúa Giêsu đưa ra huấn thị cốt yếu trên cho các môn đồ của Ngài. Kể từ đó các môn đồ, qua hàng hàng lớp lớp các thế hệ tiếp nối, thi hành sứ vụ chính yếu của mình là đem an bình của Chúa Kitô cho thế gian, cho loài người.

Hôm nay Giáo Hội dâng lễ kính Thánh Phanxicô Assisi. Nghĩ đến Vị Thánh đặc biệt này là tức khắc chúng ta nghĩ đến hai chữ “Hòa Bình”. Và nghĩ đến hai chữ “Hòa Bình” là tức thì chúng ta nghĩ đến Kinh Hòa Bình sâu thẳm của ngài. Mẹ Têrêsa Chân Phước Calcutta yêu mến kinh nguyện này và đọc hằng ngày. Thiết tưởng các tín hữu cũng hãy làm như Mẹ, hầu biến mình thành khí cụ hòa bình:

“Lạy Chúa,
xin giúp con trở nên khí cụ an bình của Chúa,
để nơi thù hận, con đem đến tình yêu,
nơi xúc phạm, con đem đến tinh thần tha thứ,
nơi nghi kỵ, con đem đến niềm tin,
nơi bất hòa, con đem đến sự hòa hợp,
nơi thất vọng, con đem đến hy vọng,
nơi bóng tối, con đem đến sự sáng,
nơi buồn sầu, con đem đến niềm vui.
Lạy Chúa, xin hãy dạy con:
tìm an ủi người hơn được người ủi an,
tìm hiểu biết người hơn được người hiểu biết,
tìm yêu mến người hơn được người mến yêu.
Vì chính khi thứ tha là khi được tha thứ,
chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân,
chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời.”

30.- HÒA BÌNH

“Phúc thay ai xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.” (Mt 5: 9)

Chúa Giêsu đã tuyên bố mối phúc thật thứ 7 dành cho những người thiện chí dấn thân “xây dựng hòa bình,” hay “tác tạo hòa bình.” Họ được phúc hạnh thật sự, vì được Thiên Chúa gọi là “con”! Ai được Thiên Chúa gọi là “con” mà lại không lấy làm vinh dự và sung sướng trong lòng?

Hôm nay – lễ kính Phanxicô Assisi, Vị Thánh Hòa Bình – là ngày lịch sử cho bán đảo Triều Tiên, vì các nhà lãnh đạo hai nước Bắc và Nam đã ký một tuyên bố chung kêu gọi thiết lập hòa ước vĩnh viễn. T.T Hàn Quốc Roh Moo-hyun và Chủ Tịch Hàn Kim Jong-Il đã ra tuyên bố chung này sau ba ngày hội đàm tại thủ đô Bình Nhưỡng. Họ kêu gọi quốc tế họp bàn để đưa ra hòa ước thay thế cho lệnh đình chiến chấm dứt cuộc chiến liên Triều 1950-1953.

Hai ông Roh và Kim bắt tay nhau và uống một ly rượu mừng sau khi ký tuyên bố chung gồm 8 điểm. Tuyên bố này viết: “Hai miền Bắc Nam chia sẻ quan điểm rằng cần thay thế lệnh đình chiến hiện nay, và thiết lập một hệ thống hòa bình vĩnh viễn.”

Hai bên cũng thống nhất nối lại đường xe lửa chở hang qua khu vực biên giới, lần đầu tiên trong hơn năm thập niên. Một số các lãnh vực đạt được thỏa thuận khác là thành lập khu vực đánh cá chung tại vùng biển tranh chấp, và mở hội đàm cấp cao thường xuyên. Các gia đình bị chia rẽ khi hai miền phân cách cũng sẽ có điều kiện đoàn tụ nhiều hơn.

Trung Quốc ca ngợi thành quả đạt được qua cuộc gặp gỡ thượng đỉnh lần thứ nhì giữa hai nhà lãnh đạo. Thủ Tướng Nhật Bản cho rằng việc Bắc Hàn đồng ý đóng cửa cơ sở hạch nhân Yongbyong là bước tiến tích cực.

Lm. Joseph Nguyễn Thanh Sơn, DCCT



3G McKeno luợm-lặt trên Net
band4 3G McKeno

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Nguyễn Xuân Ngãi, chổ dựa chính về thế lực và tài chánh của Madison để ả đánh phá Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn CS.


Tài liệu dẩn chứng sau đây mà tôi được cung cấp khá chính xác, nếu không chính xác 100% thì cũng đúng đến 70%, 80% mà các Bác Sĩ VN đã tốt nghiệp trường Y Khoa Sài Gòn cuối năm 1974 có thể minh chứng chi tiết nầy.

Muốn biết rỏ mục đích tại sao Nguyễn Xuân Ngãi và bè phái phải yểm trợ Madison hết mình; chúng ta cần phải truy nguyên nguồn gốc xuất phát ra những biến động ở San Jose trong những ngày qua và vẩn còn tiếp diển mà Ngãi là nhân tố chính đã và đang điều động chiến dịch Madison ở hậu trường.

Để theo đuổi sự kiện Madison dai dẳng nầy thì cần phải có tiền, Tiền mua chuộc đám truyền thông bất lương sủa bậy, tiền trà cho bọn cò mồi đánh thuê, tiền dùng lobby, đủ thứ tiền phải chi ra như banners, flyers v.v…!

Ai chi ra số tiền kếch sù nầy đây?

Cá nhân Ngãi?
Cá nhân Madison?

Vậy thì phải kể đến cái trọng điểm là sự kết hợp và quan hệ giửa Nguyễn Xuân Ngãi và Phan Thanh Hải.

Bác Sĩ Phan Thanh Hải, Giám Đốc TRUNG TÂM Y KHOA MEDIC, 254 Hòa Hảo, Q.10, TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam, Hải và Ngãi, học cùng lớp Y, trường Đại Học Y Khoa Saigon, ra trường vào cuối năm 1974.

Đã là bạn học lại cùng nghề nghiệp nên sự liên hệ giữa 2 bên chỉ là biểu hiện của tình bằng hữu thân thiết là nghĩa đồng liêu khắn khít; có ai dám đặt câu hỏi khác về cặp bài trùng Hải-Ngãi.

Phan Thanh Hải núp bóng trong Trung tâm chẩn đoán Hòa Hảo, một cơ sở liên lạc Trí vận Hải Ngoại và kinh tài với chức vụ
Giám Đốc để tiện bề hành động.

Còn Nguyễn Xuân Ngãi ở Hải Ngoại, lợi dụng danh nghĩa "Từ Thiện" đi xin xỏ dụng cụ Y Khoa thải hồi, cũ mà các bệnh viện Mỹ hiến tặng cho các bệnh viện ở VN và dược phẩm của các cơ quan từ thiện Hoa kỳ mang về VN, thay vì phân phối tất cả đến các bệnh viện VN ở các tỉnh nghèo và xa xôi, Nguyễn Xuân Ngãi lại giao hết cho Hải buôn bán thâu lợi để phát triển cơ sở, từ một Trung tâm chẩn đoán Hòa Hảo nhỏ nay đã nở to thành Trung Tâm Y Khoa Medic kếch xù.

Xin xem website. http://www.medic.com.vn để thấy bề thế cơ ngơi của nó.

(Medic.vn )


Và chính Hải, cái chìa khóa then chốt của Cơ Quan Phản Gián Bắc Bộ Phủ, kẻ đã dàn dựng lên con cờ Nguyễn Xuân Ngãi.

Hải là nhân tố quan trọng trong gạch nối, phác họa, điều hành và ráp nối các kế hoạch của Nguyễn Xuân Ngãi tại Hoa Kỳ.

Thoạt kỳ thủy, dàn dụng sự kiện "ở tù cuội 3 ngày" để Ngãi có cái mác "Chộng Cộng", trong 3 ngày đó Hải dẩn Ngãi đi ăn chơi khắp cả Saigon ChợLớn, và đồng thời hoạch định việc đưa Hoàng Minh Chính qua Mỹ lấy cớ chửa bịnh nhưng thực chất bên trong là tiến hành kế hoạch Tiểu Diên Hồng (một hình thức trá hình, bịp bợm của chiêu bài "Hòa Hợp Hòa Giải" thi hành Nghị Quyết 39/CP", kế hoạch Hoàng Minh Chính đọc tham luận tại Ủy Ban Đối Ngoại Hạ Viện Mỹ và Trường Đại Học Harvard cố tạo một sự kiện nổi bật và dương cao chính nghĩa để tuyên truyền lừa phỉnh, lôi cuốn nhũng kẻ nhẹ dạ và bọn "lựa gió phất cờ" điếu đóm. Do đó, nhóm Ngãi phải tuân thủ mệnh lệnh được giao phó, có trách nhiệm đánh phá Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn CS với sự tiếp tay, hổ trợ của các tổ chức ngoại vi của một Đảng phái chống CS cuội mà tôi chưa tiện nêu lên vì nhiều lý do; kiểm điểm và điều nghiên mọi sinh hoạt để phân tích các diển tiến hành động cũa nhóm Nguyễn Xuân Ngãi, từ việc vận động vào tòa Bạch Ốc, xin tiếp kiến Phó Tổng Thống Dich Cheney đến việc điều trần tại Quốc Hội Hoa Kỳ để khoa trương thanh thế hầu dể lừa bịp Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn CS; từ nhân vật Hoàng Minh Chính đến các Sinh Viên Nguyễn Tiến Trung - Hoàng Lan (theo LS Đinh Thạch Bích, Nguyên Thứ Trưởng Bộ Chiêu Hồi VNCH, một Chiến Sĩ Cao Đài trong Bộ Tham Mưu của Tướng Trình Minh Thế, Nguyễn Tiến Trung là con của Phạm Gia Khiêm (??), Phó Thủ Tướng kiêm Ngoại Trưởng của Hà Nội) cho đến việc dàn dựng Madison Nguyễn làm con rối ở San Jose thì chúng ta có thể xác định để đưa ra một kết luận khá chính xác về bọn Việt Gian CS nầy.

TRUNG TÂM Y KHOA MEDIC, một cơ sở kinh tài có tầm cỡ mà đã có chi nhánh tại California có tên là CAREMEDIC VN, 2053 Grant Rd., Ste 499, Los Altos - CA. 94024 – USA, Tel:(650) 949-0548, nơi kinh tài và rửa tiền mà cũng là nơi cung cấp tài chánh cho bọn tay sai Việt Gian Cộng Sản dùng để mua chuộc, đánh phá cộng đồng người Việt Tỵ nạn CS và lobby các giới chức Lập pháp, Hành pháp và những cơ quan truyền thông Hoa Kỳ.

(Xin tham khảo Website http://www.medic.com.vn, xem phần Hợp tác Quốc Tế).

Medic.vn

Vậy, việc chúng ta cần làm ngay là phải vạch mặt chỉ trán bọn Việt Gian CS nầy ra trước công luận để Người Việt Tỵ Nạn CS trên khắp thế Giới hiểu rỏ mặt trái của chúng mà tẩy chay và xa lánh chúng càng xa càng tốt.



Xin quí vị hãy phổ biến tài liệu nầy cho thân hữu của mình càng nhiều càng hay.



Võ Phước Hùng
band4 3G McKeno

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

NGÀN NĂM BIA MIỆNG

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất



Nghe đâu ở nam Cali , mợ xướng ca Khánh Ly và một nhóm trẻ nào đó đang sắp sửa làm lễ giỗ cho Trịnh Công Sơn (TCS). Buổi lễ là một nhạc hội hát nhạc của họ Trịnh. Có bán vé thu tiền. Nếu TCS dưới âm phủ còn sáng tác, chắc anh ta sẽ cao hứng để viết vào bản nhạc của mình “Bài Ca Dành Cho Những Xác Người” thêm những lời lâm ly bi đát sau đây: “Chiều đi qua Quận Cam, hát trên thân xác mình. Ta đã thúi, ta đã thúi, sao bây giờ người ta còn u mê mù quáng? Chiều đi qua Quận Cam hát trên thân xác mình, ta đã thúi, ta đã thúi, ta bây chừ thân chương xình như xác Minh râu …”

Từ nhiều sự kiện xẩy ra cùng một lúc hiện nay, chúng ta mới nhận ra rằng chuyện có nhiều gia đình đem thân làm tôi mọi cho CS là một hiện tượng di truyền từ đời nọ sang đời kia, chứ chẳng phải là ngẫu nhiên. Miền nam Cali , người chủ xướng tôn vinh TCS nghe đâu là con trai của Trịnh Cung (?). Còn ở bắc Cali , tên quậy giấu mặt vụ Little Saigon là chồng của Madison Nguyễn. Tên này là con trai của Đoàn Văn Toại. Đoàn Văn Toại và Trịnh Cung là ai thì dân tỵ nạn hẳn không ai mà không biết. Các trường hợp bố con Nguyễn Cao Kỳ và Phạm Duy không là những yếu tố chứng minh giả thuyết di truyền kia đó sao? Bố là Việt gian, muốn xem con có là Việt gian không thì dễ thôi. Thử DNA là xong ngay. Giá có nhà khoa học nào bỏ công ra nghiên cứu, biết đâu chẳng tìm ra được loại Gene Việt Gian này để từ đó tìm ra phương pháp phát giác và phòng ngừa Việt gian trong cộng đồng thì may cho người tỵ nạn mình biết mấy. Nhưng cũng còn phải nhờ vào hồng phúc của tổ tiên và các đấng anh hùng liệt nữ.

Về cái anh chàng nhạc sĩ họ Trịnh, tôi đã viết rồi, cách đây cũng khá lâu. Nay muốn viết thêm chút nữa nhân cái biến cố đang gây sóng gió này.TCS, người nhạc sĩ có chút ít tài năng, chết cách đây đã 7 năm. Người ta cứ tưởng rằng anh ta chết cũng giống như chó chết là hết chuyện. Nhưng không, bọn phỉ quyền Hànội, kẻ đã lợi dụng tối đa cái tài mọn của Sơn lúc anh ta còn sống, lại manh tâm dựng dậy cái xác chết của anh ta để quậy phá, khuấy đảo sự an bình của cộng đồng những người Việt Nam tỵ nạn chúng ta, mặc dầu anh ta chết, và đã chết 7 năm nay rồi. Kẻ có công với bọn Việt gian CS, chúng nhớ ơn, tưởng niệm theo cái lý ăn-quả-nhớ-kẻ-trồng-cây là điều bình thường. Người tỵ nạn không ke (care). Nhưng những nạn nhân của sự phản bội, những kẻ tự xưng là tỵ nạn CS dựng dậy cái thây ma của kẻ đã đâm sau lưng mình để vinh danh, để nhớ ơn mới là điều thật khó hiểu, và cũng khó chịu nữa. Có phải tất cả chúng ta sắp trở thành những kẻ “người chết 2 lần” (lời TCS trong bài Đại Bác Ru Đêm) bởi những thứ “Mỵ Châu” thời đại đang lẩn quất trong hàng ngũ chúng ta?

Người ta tổ chức giỗ chạp để tưởng nhớ người chết trong phạm vi gia đình, giữa những người thân thuộc hay bè bạn. Người còn sống thường chỉ vinh danh hay ca tụng một người đã chết một cách công khai ngoài xã hội khi người này: một là sau khi từ giã cõi đời, đã để lại công lao to lớn đối với một dân tộc, hay cho cả nhân loại; hai là đã nêu gương sáng chói về nhân cách hay đạo đức, xứng đáng cho người đời sau bắt chước và noi theo; và ba là có để lại một công trình nào đó về văn học, nghệ thuật, hay khoa học đem lại lợi ích cho xã hội. Nếu người thân hay bạn bè làm giỗ TCS trong phạm vi gia đình thì chẳng nói làm gì. Nhưng người ta làm công khai và lôi kéo cộng đồng tham dự là chuyện cần phải lên tiếng. Xét trên cả ba tiêu chuẩn, Trịnh Công Sơn có cái gì để lại đáng cho người Việt Nam tỵ nạn CS phải vinh danh và ca tụng một cách công khai và rình rang như thế?

Không phải bây giờ, mà ngay khi TCS vừa chết, cái chết của anh ta làm nổi lên không biết bao nhiêu dư luận khen chê. Lời khen không phải không có, mà tiếng chê lại càng không ít. Người chê lên án TCS là một tên phản bội, một tay CS nằm vùng, một con người tham sinh úy tử, ích kỷ, và hèn nhát. Có người cho rằng cái chết của TCS là một sự đền tội xứng đáng. Có người khác còn tiên đoán, TCS chết, nhạc của anh ta cũng sẽ chết theo. Còn những người khen đánh giá TCS là một nhạc sĩ thiên tài. Anh ta là một người yêu nước. Người khen, để biện hộ cho những cáo buộc của dư luận, cho rằng TCS đã phải đi giữa hai lằn đạn, ý nói anh ta là nạn nhân của cả hai phe Quốc cộng. Nhận định này đưa ra luận chứng rằng TCS cũng đã từng bị đầy ải tại các công, nông trường của CS.

Dư luận chê TCS nhận định và đánh giá anh ta như nói trên không sai. TCS là một thanh niên trốn lính ai cũng biết. Hành vi đó cho thấy anh ta là một con người hèn nhát, ích kỷ, và vô trách nhiệm. Trong lúc trốn lính, TCS còn dựa vào sự bao che của một vài giới chức quen biết có thẩm quyền trong quân đội để viết nhạc, rong ruổi đây đó, tụ tập giới trẻ hát hò chống chiến tranh, xuyên tạc và chống báng công cuộc chiến đấu tự vệ của quân dân miền Nam, ca tụng và cổ võ bọn xâm lược miền Bắc. Đó là một hành vi phản bội. Như thế, TCS bị kết án là phản bội thì cũng đúng thôi. Nếu anh ta không núp dưới sự che chở của người khác mà hành động đi ngược lại quyền lợi của Tổ Quốc thì tư cách của anh ta còn có thể biện minh được. Như thế có thể coi anh ta là một con người có lập trường và có bản lãnh. Nhưng đáng tiếc bản chất con người TCS tự nó đã là hèn nhát và phản bội rồi.

Có nhiều tác giả không nhận định và đánh gía TCS trên bình diện văn học thuần tuý, mà chỉ phê phán dưới khía cạnh chính trị qua cuộc sống và các ca khúc anh ta viết về cuộc chiến. Có nghĩa là những người đó chỉ cân nhắc và đánh giá TCS có công hay có tội đối với Quốc Gia, Dân Tộc, mà không phê bình về mặt nghệ thuật. Cái đó là một thiếu sót, bởi vì những người không biết gì về âm nhạc sẽ tưởng rằng tính tình TCS có chút nên chê trách thôi, nhưng anh ta là một thiên tài âm nhạc thật. Sự phê phán có phiến diện thật đấy, nhưng cũng dễ hiểu thôi, vì nhạc của TCS thật sự cũng chẳng có gì đáng giá lắm để nói tới. Nó phần lớn khởi hứng từ chiến tranh, gắn liền với cuộc chiến, và đã gây ảnh hưởng không nhỏ vào việc làm sụp đổ chế độ của miền Nam. Có thể nói một cách không sai là nếu không có chiến tranh thì đã không có nhạc TCS. Và ngược lại, TCS cũng đã không được nổi tiếng nếu không có chiến tranh. Điều mà dư luận phê phán mạnh mẽ nhất vẫn là TCS là một nhạc sĩ phản chiến. Từ phản chiến đi đến phản bội.

Trong sáng tác, TCS đã viết ra rất nhiều lời ca có tính cách kết án chiến tranh một chiều. Ta hãy nghe TCS hát : "Đại bác qua đây đánh thức mẹ dậy, đại bác qua đây con thơ buồn tủi........Từng chuyến bay dêm con thơ dật mình, hầm trú tan hoang, ôi da thịt vàng từng đêm soi sáng lạ mắt quê hương. Hàng vạn tấn bom trút xuống đầu làng, hàng vạn tấn bom trút xuống ruộng đồng, cửa nhà Việt Nam cháy đỏ cuối thôn...."(bài Đại Bác Ru Đêm). Đây rõ ràng là những lời kết án nhắm vào Chính Quyền VNCH và đồng minh Mỹ. Đại bác qua đây. Từ đâu qua? Hàng vạn tấn bom trút xuống. Từ đâu trút xuống? Chính câu hỏi đã là một sự trả lời rồi. Sao không thấy TCS than khóc những cái chết do đạn pháo từ rừng bay đến, hoặc do những trái mìn của những kẻ từ bưng biền ôm ra? Còn nhiều và rất nhiều những câu hát như thế rải rác trong hàng trăm ca khúc mà TCS đã viết ra. Trong khi TCS khóc "từng vùng thịt xương có mẹ có em" (bài Đại Bác Ru Đêm), và tủi phận cho những "người già co ro buồn nghe tiếng nổ, em bé lõa lồ khóc tuổi thơ đi" (bài Người Già Em Bé), thì anh ta lại bỏ quên, không nhỏ được lấy một giọt nước mắt nào cho hàng ngàn nạn nhân vô tội bị CS giết hại tại Huế, nơi quê hương của chính anh ta.

Từ chỗ chống chiến tranh một chiều như thế, TCS đã trở thành một con người phản bội. Anh ta đã phản bội lại máu xương của những người đã gục ngã, hy sinh để bảo vệ cho mảnh đất mà anh đang sống, và được sống an bình. TCS có phải là VC hay không thì chuyện này chưa có bằng chứng xác đáng để kết luận. Thiển nghĩ, có lẽ TCS không phải là một dảng viên CS. Nhưng một điều có thể khẳng định, TCS là một công cụ phục vụ cho bọn xâm lược miền Bắc, và tự nguyện để cho VGCS lợi dụng.

Có người cho rằng Cái chết của TCS là một sự đền tội xứng đáng. Chúng ta nên thông cảm cho những nạn nhân của CS mà sự uất hận đã lên đến cực điểm. Chẳng nên bắt lỗi hoặc trách cứ họ. Tuy nhiên phải nhìn nhận rằng sự kết án đó có phần hơi hồ đồ. Cho rằng TCS đã gây tội ác đối với chúng ta, và anh ta chết là xứng đáng để đền tội. Vậy chúng ta những nạn nhân của tội ác kia, mai kia chúng ta chết, không lẽ chúng ta cũng phải đền tội sao? Không được. Chết là một định luật chung cho mọi ngườị Ai cũng phải chết, và loài nào rồi cũng đi đến cái chết. Do đó không thể nói cái chết của TCS là sự đền tội. Sự đền tội của TCS là sự khinh bỉ của dư luận khi anh ta chết.

Còn về những lời khen? Lời khen ngợi lớn nhất cho TCS là lời mợ Khánh Ly ngôn rằng TCS là một người yêu nước. Chữ NƯỚC ở dây không hiểu là thứ nước nào, mợ KL không cho biết, Nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa hay là nước Việt Nam Cộng Hòa? Nếu mợ KL cho rằng TCS yêu nước VN xã hội chủ nghĩa, chúng ta khen mợ KL nói đúng. Còn nếu bảo rằng TCS yêu nước VNCH thì chuyện này cần phải làm cho sáng tỏ. Sự thực là như thế nào cũng dễ tìm ra thôi. Chúng ta hãy nghe mợ KL hát: "Hãy sống dùm tôi, hãy nói dùm tôi, hãy thở dùm tôị Thịt da này dành cho thù hận, cho bạo cường, cho tham vọng của một lũ điên..."(bài Hãy Sống Dùm Tôi). Xin thử hỏi cái lũ điên tham vọng đây là ai, bọn phỉ quyền Hanoi hay Chính Quyền VNCH? Nếu lũ điên thù hận, bạo cường, và tham vọng kia là bọn phỉ quyền Hanoi, thì tại sao ngày 30-4-75, TCS lại lên đài phát thanh SG hát đón bọn này vào thành phố? Không lẽ TCS ngu đến độ vui mừng và hãnh diện đi đón lũ liên vào Saigon . Như vậy lũ điên tham vọng, thù hận, và bạo cường kia tất nhiên phải là Chính Quyền VNCH. Thật là oan nghiệt, kẻ xâm lược thì được TCS hân hoan đón chào là người "anh em ta về" (bài Chờ Nhìn Quê Hương Sáng Chói), còn những người chiến đấu để tự vệ lại bị TCS gọi là lũ điên tham vọng, bạo cường, và thù hận. Mợ Khánh Ly cũng nên hiểu như thế chứ. Qua bài hát này, TCS đã nặng nề kết án cả chính thể VNCH của miền Nam , nơi anh ta trú thân an toàn để đi ca hát. Mợ KL tôn vinh TCS là một người yêu nước thì phải hiểu rằng nước đây chính là nươc VN xã hội chủ nghĩa thì mới là chính xác. Với sự tôn vinh này, người tỵ nạn CS Khánh Ly đã nhục mạ cả Chính Quyền và tập thể QLVNCH. Còn gì đau đớn và mỉa mai hơn, bởi vì miền Nam là nơi mợ KL sinh ra, lớn lên, được hưởng giáo dục đầy đủ, và đưa mợ lên đài vinh quang trong nghề hát xướng. Lại nữa, nếu TCS yêu nước VNCH, thì tại sao ngày 30-4-75 anh ta lên đài phát thanh reo hò ca hát: mặt đất bao la anh em ta về gặp nhau mừng như bão cát quay cuồng chơi rồng bàn tay ta nắm nối chờ một ngày VN (bài Nối Vòng Tay Lớn). Anh em với TCS về Saigon vào ngày 30-4-75 là ai mà làm cho anh ta vui mừng đến thế. Và, những người anh em này từ đâu về? Hỏi tức là trả lời rồi vậy. Mợ KL ca tụng TCS là người yêu nước. Nước ở đây như thế phải hiểu là nước VNCS. Không thể hiểu khác được. Mợ KL là một người tỵ nạn CS lại ca tụng tên phản quốc, công cụ tuyên truyền cho VGCS, là người yêu nước. Nước đó là nước Việt Nam CS. Sự thật đã được chứng minh. Vậy thì mợ KL thật ra là ai đây?

Cho rằng TCS trong cuộc chiến đã phải đi giữa hai lằn đạn cũng chỉ là lời biện hộ láo khoét. Thật vậy, chỉ nguyên một việc TCS lên đài SG hát nối-vòng-tay-lớn để mừng chiến thắng của VC và đón chúng vào thành như đã nói trên đã quá đủ để nói lên đường đi, chỗ đứng của TCS rồi. Không cần thiết phải dài dòng thêm. TCS rõ ràng đã đứng hẳn về một một bên, bên VGCS, chứ chẳng phải anh ta đứng ở giữa để bị lãnh đạn của cả hai bên. Miền Nam trước 30-4-75, có ai dám cho TCS ăn đạn không? Chắc chắn không. Hơn thế nữa, anh ta không phải là đã nhận được biết bao nhiêu ân huê và ưu đãi của người miền Nam đấy sao? Việc chọn cho mình một chỗ đứng và những sáng tác của TCS đã làm cho anh ta trở thành người có công lớn đối với CS. Sự đãi ngộ cuả CS đối với TCS khi anh ta chết đã nói lên điều đó. Thiếu gì người đã từng lập công hãn mã đối với CS, khi chết đi đâu có được cái phước đức như TCS. Sự thật đã qúa rõ ràng. Tất cả mọi lời lẽ được tung ra để biện hộ và chạy tội cho TCS đều là giả trá, hoặc là vì thiếu hiểu biết, hoặc là có dụng ý.

Cũng trong luận điệu chống đỡ cho TCS, có người nói rằng đã một thời TCS bị CS đầy đi nông trường. Nói như vậy tỏ ra họ chẳng hiểu biết một tý gì về CS. Dưới chế dộ CS, nhất là vào thời Lê Duẫn, để tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, tất cả mọi người (dĩ nhiên trừ bọn đầu sỏ ở Hanoi) đều phải tham gia vào sản xuất. Các văn nghệ sĩ được điều động đến các công nông trường tập thể vừa để thực tế (tiếng của VC) lao động, vừa để sáng tác hầu thúc đẩy tăng năng xuất. TCS có đi công, nông trường không phải là một biệt lệ, càng không phải là một sự đầy ải. Người nhạc sĩ sáng tác bản Tiếng Chầy Trên Sóc Bambo đã phải nằm ở một sóc thượng hơn nửa năm trời để viết ra bài hát. Và người viết ra bài “Tiếng Đàn Tà Lư” cũng phải vậy nữa.

TCS sống tại miền Nam, làm việc (dậy học) trong chế độ Cộng Hòa, được nhiều người nắm giữ quyền hành lúc đó che chở để khỏi phải ra trận, tức là đã hưởng những ơn huệ hơn người. Nhưng anh ta vẫn đi theo CS, và cuối cùng hoan hô, đón rưóc bọn xâm lược vào Saigon . Như thế TCS đã hiển nhiên là một tên phản bội người Việt Nam Quốc Gia. Thế thì tại sao những kẻ đã bị TCS phản bội, hiện nay lại muốn vinh danh cho TCS? Lý do gì? Xét cho cùng thì cái lý do duy nhất chỉ là để thi hành Nghị Quết 36/CP của bọn VGCS mà thôi. Bọn phỉ quyền Hànội tung ra NQ36 một cách công khai, không hề úp mở. Thi hành ở đâu trong những lãnh vực sinh hoạt nào, chúng đã ra chỉ thị rõ ràng cho các cơ quan thừa hành của chúng. Tài trợ bao nhiêu, chúng cũng không thèm giấu đút. Chỉ có kẻ đứng ra công khai thi hành Nghị Quyết tại các môi trường sinh hoạt thì chúng không tiết lộ. Vấn đề này, những người có kinh nghiệm về CS, các sĩ quan cảnh sát đặc biệt, và sĩ quan quân đội làm trong ngành tình báo hoặc phản gián của QLVNCH thì biết rành và biết rõ. Cho nên, chẳng hạn như những người đi nghe ca sĩ trong nước ra ngoài này hát rồi lên giọng “có thấy tuyên truyền gì đâu” thì thật là ngây thơ và ngu xuẩn. Nên biết rằng VGCS không bao giờ triển khai và thi hành NQ36 tại hải ngoại dưới bảng hiệu công sản, mà luôn luôn bọc nó bằng cái vỏ Quốc Gia, hay ít nữa là một cái gì đó vô thưởng vô phạt để dễ qua mặt người tỵ nạn.

Thực ra, VGCS chọn chủ đề vinh danh TCS xem ra cũng là chuyện bất đắc dĩ, bởi vì ở hải ngoại này, TCS, về mặt nhân cách và đạo đức, đã là một người mất hết cảm tình của người đồng hương rồi. Hơn nữa, nhạc của anh ta cũng chẳng còn mấy ăn khách và đang đi vào quên lãng. Nói thế không phải là cố tình hạ giá nhạc TCS. Người miền Nam rất bao dung, cỏi mở, và ít có câu nệ, cả về lối sống lẫn trong thưởng thức văn nghệ. Vì những đức tính này, ngay trong thời chiến tranh, người ta có thể khá dễ dàng tìm đọc những thông tin của phía CS, hát và trình diễn công khai những bản nhạc của Văn Cao, Đoàn Chuẩn, Đặng Thế Phong … đọc thơ của Lưu Trọng Lư, Trần Dân, và ngay cả Tố Hữu, Chế Lan Viên …Ở hải ngoại, trừ ra những thứ nhạc, sách báo tuyên truyền bị gạt bỏ, còn những cái hay, cái đẹp nói chung trong sáng tác vẫn được đón nhận một cách niềm nở. Như thế mới thấy rằng nhạc TCS bị đào thải ở hải ngoại không phải hoàn toàn vì vấn đề đạo đức cá nhân của anh ta, mà vì chính tự bản thân những bản nhạc.

Những sáng tác của TCS xin tạm phân chia làm hai loại: nhạc phản chiến và nhạc tình cảm. Khoảng trên 50% hoặc hơn các sáng tác của Sơn là nhạc phản chiến. Sở dĩ tên tuổi TCS được bốc lên là do loại nhạc này. Loại nhạc phản chiến của TCS đều là dân ca, rất đơn điệu (monotone) và cũng tầm thường thôi. Trong thời còn chiến tranh và ngay tại miền Nam, từ thành thị tới thôn quê, trong khắp hang cùng ngõ hẻm, đâu đâu cũng vang tiếng nhạc phản chiến của TCS. Đáng tiếc là loại nhạc dùng để tuyên truyền này được viết để phục vụ cho cuộc xâm lược của CS, nên nó cũng buộc phải chết theo ngay khi nạn nhân của xâm lược (VNCH) đã chết. Điều đáng buồn cho TCS là những sáng tác loại này của anh ta bị cấm hát thời còn chiến tranh ngay trong những khu vực do VC kiểm soát. Nếu TCS không phải là CS, và nếu anh ta còn là một con người có liêm sỉ và biết tự ái thì anh ta đã phải nhận ra cái thân phận nô lệ của mình ngay từ ngày đó.

Còn lại trong số các tác phẩm của TCS là nhạc tình cảm. Đem nhạc tình cảm của TCS so sánh với các nhạc phẩm của các tác giả khác, ta có thể đánh giá giá trị nghệ thuật của anh ta chính xác hơn. Nhạc TCS, lãng mạn không thể bằng cái lãng mạn của Thiên Thai, thơ mộng không qua mặt được Trăng Mờ Bên Suối, gợi cảm không so sánh được với Dư Âm, tình tứ còn thua xa Tiếng Thời Gian, hồn nhiên sao bằng được Sơn Nữ Ca, tha thiết còn dưới bậc của Giọt Mưa Thu, hay Con Thuyền Không Bến, quyến rũ làm sao bằng Ai Về Sông Tương hoặc Thu Quyến Rũ, du dương nhất định phải nhường bước Tiếng Sao Thiên Thai, ray rứt không thể bằng Nhớ Về Hànội, êm đềm dưới hạng của Làng Tôi hoặc Tình Quê Hương. Vân vân và vân vân. Hơn nữa, trong nhạc TCS, người ta không tìm được cái không khí của một gia đình ấm cúng, những hình ảnh quyến luyến như trong Tình Quê Hương hoặc Về Dưới Mái Nhà.

Nhạc TCS còn thua kém nhiều nhạc phẩm khác như thế, vậy mà có kẻ cho rằng TCS là một nhạc sĩ thiên tài. Thật đúng là nói láo. Người đó hoặc không biết gì về âm nhạc, hoặc không biết thưởng thức môn nghệ thật này. Vậy thì người ta vinh danh TCS là vinh danh cái gì? Thật khó mà tìm ra được câu trả lời.

Sự thật, TCS không phải là một nhạc sĩ tài ba như người ta tưởng, mà đúng ra anh ta là một tay phù thủy ngôn ngữ. TCS chỉ giỏi viết lời trong ca nhạc, tức là lời ca mà thôi. Công tâm mà nói, khó có thể phủ nhận TCS là người có tài về nghệ thuật “chế tạo” ngôn từ. Các bài hát của TCS nếu bỏ đi phần lời ca thì bản nhạc sẽ trở thành rẻ tiền ngay. Cho nên nhạc TCS nếu có được coi là hay thì nó hay ở phần lời ca chứ không phải hay vì âm điệu. Chẳng hạn để mô tả về thân phận nhược tiểu của người VN yêu nước, TCS viết: Người con gái VN da vàng, yêu quê hương như yêu đồng lúa chín. Muốn tố cáo Mỹ xâm lược, TCS nhẹ nhàng than thở: Người con gái VN da vàng, yêu quê hương nay đã không còn (bài Ca Dao Mẹ). TCS lên án chiến tranh hủy hoại tương lai dân tộc, anh ta viết: Khi chiến tranh về đốt lửa quê hương … bom đạn về đêm đêm đốt cháy tương lai (bài Đại Bác Ru Đêm). TCS nằm tưởng tượng ngày mai của anh ta ra sao rồi lớn tiếng thúc dục bộ đội VC và bọn phản chiến trong thành phố: Ta đã thấy gì trong đêm nay, đèn soi trăm ngọn đèn soi. Mặt đất rung rinh muôn triệu người phá ngục tù đi dựng ngày mới. Rạng đông soi sáng tương lai. Dòng máu anh em đã nhuộm mặt trời cùng xương khô lên tiếng nói, đời sống ấm êm nhân danh con người (bài Ta Đã Thấy Gì Đêm Nay). TCS trong khi ăn cơn Quốc Gia, uống nước Quốc Gia, hít thở không khí Quốc Gia, thế mà vẫn mong chờ, chờ cho được cái mơ ước: VN thống nhất với những tình thương vô bờ (bài Chờ Nhìn Quê Hương Sáng Chói). Ôi cái tình thương vô bờ của CS mà TCS mơ tưởng nó đẹp làm sao như ta đang thấy ngày nay!

Trong những dòng nhạc phản chiến, TCS sử dụng chữ nghĩa thật tài tình. Một câu hát của TCS có thể làm cho một binh sĩ phải buông súng, một em học sinh sẵn sàng xuống đường đốt cờ Mỹ, một cụ già muốn xét lại thái độ chính trị của mình: tại sao phải chống lại những người đi giải phóng quê hương, tại sao lại cam tâm làm nô lệ cho Mỹ v.v. và không thiếu học sinh sinh viên cảm thấy cuộc chiến là phi lý! Lời ca trong dòng nhạc phản chiến của TCS thật dễ sợ.

TCS cũng vẫn tỏ ra là một tay phù thủy chế tạo ngôn ngữ trong những sáng tác tình cảm của anh ta. Những chữ, những lời anh ta sử dụng rất tầm thường, bình dân, tự nhiên, không gò bó, nhưng lại tượng hình, giầu âm thanh và nhạc điệu, và cũng không thiếu cả ánh sáng, hơn nữa rất hàm xúc, mỗi chữ mỗi câu đều hàm chứa ý nghĩa của nó. Chẳng hạn câu: Trên bước chân em âm thầm lá đổ ….. Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau (bài Diễm Xưa), hoặc: Mẹ ngồi ru con đong đưa võng buồn, đong đưa võng buồn …. Mẹ ngồi ru con tiếng hát lênh đênh (bài Ca Dao Mẹ). Hầu như tất cả mọi lời ca trong nhạc TCS đều sản phẩm phù thủy cả. Tuy nhiên cũng có những câu, hát nhiều lần, hát mãi, người ta vẫn chẳng hiểu gì. Thí dụ: Mưa vẫn mưa bay trên hàng lá nhỏ, dài tay em mấy thuở mắt xanh xao. Tuy không hiểu nhưng người ta vẫn phải nhìn nhận cái hay vô hình ẩn hiện trong câu hát. Một lần nữa xin được nhấn mạnh, đó là tính chất phù thủy trong phần lớn các bản nhạc của TCS. Nói tóm lại, nhạc của TCS dù nhạc phản chiến hay nhạc tình cảm đều chỉ nặng giá trị ở lời ca, nhưng không mấy xuất sắc về âm điệu. Một nhạc sĩ có tài là một nhạc sĩ biết dùng âm thanh để nói lên tư tưởng của mình. Dùng lời để nói điều mình muốn nói như TCS sao gọi được là nhạc sĩ tài. Như vậy mà thổi TCS lên thành thiên tài âm nhạc liệu có quá đáng không? Xếp TCS ngồi chung chiếu với những Beethoven, Chopin, Mozart v.v., cái thế giới âm nhạc này sẽ nghĩ như thế nào?

Khi TCS chết, có một số văn nghệ sĩ bạn bè hoặc quen biết với Sơn ở hải ngoại đến nhang khói trước di ảnh của anh ta. Nhiều người bầy tỏ tiếc thương và thổi anh ta lên đến tận tầng mây xanh. Đó là thói quen mặc áo thụng vái nhau của một số văn nghệ sĩ của ta. Nhưng khi thấy VGCS tổ chức ma chay linh đình, và đồng bào tỵ nạn mạnh mẽ lên án anh ta, những người này từ đó tắt tiếng. Việc thương tiếc và trả nghĩa bạn bè là điều nên làm, nhưng không nên vì cảm tình riêng tư mà phủ lên quan tài người chết những tấm áo mà người chết đã không sắm nổi lúc sinh thời. Ngày nay, bọn người rắp tâm vực dậy cái thây ma TCS đã rữa, không phải vì tình cảm liên hệ với TCS, cũng chẳng phải vái cái thây ma TCS để mình được sáng giá lây, mà chỉ là để thi hành NQ36 của VGCS. Chuyện này VGCS không dám ra mặt làm. Chúng mượn tay thế hệ con cháu của những tên tay sai mang gene di truyền làm thay. Điều đó không có gì lạ. Chỉ là kẻ có công, người có của, ai cũng đều lợi cả. Muốn người đời sau nhớ đến TCS, người ta cần gì phải lập bia khắc chữ, nhạc hội nhạc hè chi cho phí công tốn sức. Nhân dân VN sẽ không bao giờ quên được TCS, sẽ luôn luôn nhớ đến và nói cho nhau nghe cái tên của kẻ nổi tiếng là hèn nhát và phản bội này. Nhân dân VN đã lập bia từ lâu rồi, đây gọi là bia miệng. Bia miệng mới là thứ công cụ ghi nhớ đời đời bền vững của loài người trên mặt đất.



Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất
---
band4 3G McKeno

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

3G McKeno về thăm bạn bè Hồ Ngoc Cẩn 58-65 tại Viet Nam, March 2008


Image
Chào Nguyen Manh Trưu


Image
Chào Nguyễn Mạnh Trưu


Image
Chào Nguyễn Mạnh Trưu


Image
Đặc biệt có sự hiện diện của Trần Nguyễn Triết Hồng và Trần Kim Khánh


Image
Đứng: Kiều, Ph.Chung, Ẩn, vợ Giang, vợ Trưu
Ngồi: Thịnh, Khánh,Giang, Tôn, Thái, K. Chung, Hùng, Minh



Image
Đứng: Trần văn Ẩn - Nguyễn Duy Tiến
Ngồi: Như trên



Image
Đặc biệt có sự hiện diện của Trần Nguyễn Triết Hồng và Trần Kim Khánh


Image
Đặc biệt có sự hiện diện của Trần Nguyễn Triết Hồng và Trần Kim Khánh


Image

Tiến, Khánh, Triết Hồng, Giang và Tôn


Image
Đặc biệt có sự hiện diện của Trần Nguyễn Triết Hồng và Trần Kim Khánh

Cameraman: 3G McKeno-0-
Last edited by linhgia on Thu Apr 24, 2008 6:07 am, edited 5 times in total.
band4 3G McKeno

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Việt Kiều


Source: http://www.vnfa.com/anews/0712_031.html


Nguyên Dân


Việt Kiều Giàu, Việt Kiều Đẹp, Việt Kiều Sang So với thế giới, so với các nước bên ngoài, thì Việt Nam ta là một đất nước chưa được phát triển, còn nghèo, và thậm chí có nơi còn lạc hậu. Dù có nói gì, có thổi phòng sự việc (như được bưng bít tuyên truyền), có lẽ cũng phải nhìn một sự thật là như vậy.


Một đất nước có phát triển, một dân tộc có thịnh vượng, không thể nhìn vào một vài phát triển nơi đô thị, lối sống ăn chơi xa xỉ cuồng loạn của lớp trẻ, cũng như không thể nhìn vào sự giàu sang, mức sống hưởng thụ xa hoa của một thiểu số cầm quyền, mà phải nhìn vào đời sống của đại đa số người dân. Lợi tức bình quân đầu người vượt mức nghèo là phải trên 850 đô la/ năm, mà VN thì còn khá xa chưa đạt tới.


Giàu có hay sang cả mà chỉ ở hình thức, chỉ được phô diễn có một phần, người ta cho là phồn vinh giả tạo.


Xã hội miền Nam VN trước 1975 cũng bị cho là phồn vinh giả tạo (không như miền Bắc), và vì thế mà có cuộc giải phóng hoàn toàn để có được phồn vinh thật sự hơn.


Từ sau khi địa chủ và tư bản - một tầng lớp giàu sang bốt lột — đã bị diệt trừ tận gốc - một tầng lớp trở nên giàu có là cán bộ đảng CSVN, tầng lớp này nghe nới hiện tại là phồn vinh thật sự, có cuộc sống thật là sung túc, có nhà to, có xe đẹp (loại đời mới đắt tiền), có của, có tiền nhiều và cuộc sống vinh sang. Lớp này là lớp người ăn trên ngồi trước, cả nước không ai bằng. Họ cũng là từ tầng lớp nghèo hèn mặt rệp trước đây, nhờ CM thành công mà có cuộc đổi đời.


Lớp người thứ 2, vinh sang không kém, là những Việt Kiều. Khi về quê hương (VN), Việt Kiều rất được nở mày nở mặt, bà con ai nấy đều kính nể, tiếp đón nồng nhiệt.


“Bĩ cực rồi thới lai”, trước kia VK đa số đều khốn khổ, ngoại trừ một số ít có điều kiện ra nước ngoài trước - những người này là may mắn trọn đời. Họ đã phải khốn khổ vì trải qua biến cố, bị CS áp bức, hành hạ, hãm hại, vì cuộc sống quá khốn khổ phải liều thân bỏ nước ra đi (tìm nơi lánh nạn). Họ đã trải qua bao khổ ải, trải qua bao gian truân, cũng may mà không bỏ thây nơi biển cả, bỏ xác chốn rừng sâu, và cũng may không bị chết thảm chốn lao tù. Tất cả là những người đi tị nạn được các nước (không CS) cưu mang giúp đở để cuộc đời có được đổi thay.


Tại các nước (đang dịnh cư), VK đã ăn nên làm ra, được thành danh hiển đạt, được sang giàu — có lẽ cũng chỉ là việc bình thường, vì sống tại các nước này ai cũng được giàu sang sung túc. Nhưng mà, một khi về quê hương VN thì lại khác, hơn hẵn mọi người ( bây giờ thì có lẽ nên trừ cán bộ CS, không hơn họ được).


Mang bộ mặt “áo gấm về làng”, tha hồ mà vinh sang võng lọng. Hồi nào thì không biết, bây giờ VK là nhất, tha hồ vi vít, tha hồ hưởng thụ, tha hồ lên mặt để ai ai cũng nể nang mình. Và trong số này không ít — tha hồ thổi phồng đời sống vinh sang, tha hồ “nổ”, nổ thả cửa, nổ thả giàn, nổ tứ tung, để người ta càng thêm nể phục mình.


“Việt Kiều giàu, Việt Kiều đẹp, Việt Kiều sang”, câu nói này có lẽ cũng chẳng là ngoa.


Kẻ viết bài nầy cũng là một “Việt Kiều”, không biết có nên chăng để mà ké hùng, hãnh diện qua lời nói ấy?


VIỆT KIỀU GIÀU: Giàu thật. Đất nước VN từ bao năm khốn khổ, đã hòa bình, đã hết chiến tranh, giặc giã rồi, mấy mươi năm làm ăn đầu tắt mặt tối mà vẫn chẳng đủ ăn, thì khi nhìn thấy Việt Kiều, không cho là giàu sao được — quá là giàu. Kẻ nghèo nhất ở Mỹ, một khi về VN cũng trở nên là người giàu. 100 đô la Mỹ đổi ra tiền VN: trên 1 triệu rưỡi, người ta thấy mà tít mắt, huống hồ mỗi lần về VN, VK tiêu pha vung vít (không biết ngán) cả 5-10 ngàn đô.


VIỆT KIỀU ĐẸP: Đẹp là cái chắc, điều này khỏi phải bàn. “Lúa tốt nhờ phân, người đẹp nhờ lụa”. Tại hải ngoại tiền của dồi dào (so với VN), lụa là, son phấn, mỹ phẩm, lại thêm kỹ thuật thẩm mỹ tiên tiến, một bà lục tuần vẫn có thể được làm trẻ đẹp 3-4 mươi cái xuân xanh.


VIỆT KIỀU SANG: Không ai sang bằng VK, nhất là người VN khi về lại quê hương mình. Bao nhiêu băng Video quay cảnh VK về quê hương ăn chơi hưởng thụ, về quê hương tiêu xài, ăn Tết ... đủ để chứng minh VK quá là sang.


Nhờ có được bao nhiêu yếu tố đầy đủ, lại có phần vượt trội, đã tạo nên cho VK thêm có giá. Một cái giá để người Việt khi về nước thêm hãnh diện, tự hào. Tự hào rồi cao ngạo, để có khi lại coi thường, khinh miệt những gì mình tự thấy là thấp kém chung quanh.


Ở Mỹ đầy đủ quá, cái gì cũng có, về VN thiếu thốn nhiều thứ, tôi có một chị bạn không ngớt than phiền: VN bây giờ dơ bẩn quá, đi đâu cũng bụi bặm, mất vệ sinh, cuộc sống bẩn thỉu, dơ dáy, rác rưởi, đái ỉa tùm lum ngoài đường... người ta gì đâu mà chen lấn như ăn cướp, không lịch sự lịch sàng, không trật tự, thứ lớp gì cả ... Đại khái, bà than phiền cho một xã hội kém văn minh, chưa phát triển - một nơi mà trước đây, bà cũng đã từng chung đụng trong mọi sinh hoạt hằng ngày.

Về quê hương để hưởng thụ:


Tôi có mấy người bạn, bạn cũng khá thân, bạn cùng đơn vị chiến đấu trong quân ngũ. Người lính ngày trước đã khổ, sau 1975 lại càng khổ hơn, khổ thậm tệ, bị tù đày, bị nhục hình, bị đối xữ chẳng khác nào là một con vật.


Qua Mỹ cuộc đời thay đổi, cuộc sống lên hương. Bây giờ có cơ hội về VN để hưởng thụ bù trừ. VN bây giờ là nơi để ăn chơi hưởng thụ, nếu ta có tiền.


- Khổ đã quá nhiều, cuộc đời bây giờ không còn bao lâu nữa, đã trên 60 bó, không hưởng thụ là phí bỏ cuộc đời. Một anh bạn già của tôi đã nói như vậy, và anh quyết tâm về lại quê hương để ... ăn chơi.


“Quê hương là chùm khế ngọt”, thật sự quê hương VN bây giờ quá đỗi ngọt ngào.


Dành dụm với số tiền trợ cấp SSI, vài năm anh về một chuyến, lần nào cũng được kẻ đón người đưa. Trước đây, tụi VC coi rẻ xem thường, bây giờ chúng săn đón. Mấy tên địa phương hồi trước, khó khăn, hạch sách, gây phiền phức ... coi thằng nào có uy, có thế, tọng cho vài đứa (mỗi đứa 100 đô), và rủ cả đám cùng nhậu (anh bao), chúng chìu chuộng hết lòng, dễ dãi mọi thứ.


Anh không yêu thích gì bọn nó, thù là đằng khác, nhưng muốn hưởng thụ, vui chơi thì phải cho chúng nó một ít vào mồm. Anh bắt chước tướng đại ca “Kỳ”, vị tướng “chịu chơi” ngày xưa, nhưng không thỏa hiệp và qùy lụy như vị tướng này.


Anh đi khắp nơi, anh đi nhiều chỗ. Nơi nào có mồi ngon anh đến, có gái đẹp anh vào, anh có một số “tà lọt”. Hồi đó, anh là cấp chỉ huy, đi đâu cũng có tà lọt, bây giờ tà lọt lúc nào cũng bên cạnh, chúng sẵn sàng săn đuổi tìm “vật ngon của lạ” cho anh.


Gái VN bây giờ quá ư là tiến bộ, 15 tuổi đã lão luyện phục vụ tình dục, phục vụ đủ chiêu, đủ kiểu. Một số tiền bỏ ra, tụi nó phục vụ đến nơi đến chốn. Tụi nó phục vụ anh chứ anh không còn sức (khỏe) để phục vụ tụi nó.


Gái VN, anh nhìn thấy thương và tội nghiệp. Một đất nước còn nghèo, người dân còn khổ, nhất là mấy cô gái mới lớn lên, không tiền bạc, không kiến thức (vì không được học hành), không nghề nghiệp, muốn có tiền, muốn có cuộc sống khá hơn, chỉ còn cách đem thân xác mình làm vật hy sinh — hy sinh cho cá nhân, hy sinh cho gia đình để bớt phải thiếu thốn. Anh không lợi dụng, anh không gạt gẫm. Anh vui chơi và cho tiền sòng phẳng, có phần hào phóng nữa. Hơn hẳn những tên lường gạt, những tên ma cô, hơn hẳn cả những tên tự hào là đạo đức (đạo đức CM) mà lòng dạ sói lang, hơn hẳn những tên già yếu, bệnh tật của Đài Loan, của Nam Triều Tiên ...


Nói đến việc ăn chơi hưởng thụ của anh, cũng xin nói qua cuộc đời anh một chút — anh bạn của tôi.


Anh cũng có lòng yêu nước, anh chống Cộng hết mình. Trước ngày 30/4/1975, anh là một người lính chiến đấu — đúng hơn là một SQ chỉ huy — anh xông xáo vào lửa đạn, anh lập khá nhiều thành tích chiến công, thành tích diệt địch.


Trước ngày QĐVNCH tan rã, anh còn chỉ huy một đơn vị hành quân vào vùng địch. Nghe theo lời kêu gọi cấp chỉ huy, quyết chiến đấu, không lùi bước trưóc địch quân. Ngày 30/4/75 anh và một số đồng đội còn ở trong rừng. Sau cùng thì mới biết là đơn vị bị bỏ rơi, có lệnh đầu hàng mà anh không biết. Cấp chỉ huy đã bỏ chạy anh vẫn không hay, anh cứ chiến đấu để rồi bị bắt. Anh bị tù, bị tra tấn dã man, mấy lần suýt chết.


Ngày anh ra tù, trở về quê làng chỉ còn là một thân trơ trọi. Vợ đã bỏ, và 1 đứa con yêu dấu cũng theo mẹ dắt đi. Anh như người mất trí, một thân xác bệnh hoạn rã rời. Anh đau lòng, anh uất hận, anh căm thù. Cuộc đời là “chó đẻ”, và từ đó anh có lối sống “bất cần đời”.


Qua Mỹ - 3 lần vượt biên anh mới đến được Mỹ - cố gắng làm mọi công việc, cố gắng chịu cực chịu khó, chỉ mong làm lại cuộc đời.


Anh cũng có nhập vào hàng ngũ chống Cộng nơi hải ngoại — anh căm thù CS. Anh chống Cộng tích cực, tích cực nhưng không tuyên bố là “quyết tâm chống Cộng đến giọt máu cuối cùng”, vì anh đã thoát chết nhiều lần, bây giờ anh sợ chết, hy vọng giữ chút thân tàn để làm lại cuộc đời.

Mấy năm sau, cuộc sống khá hơn, có tiền dành dụm dồi dào, nhưng sức khỏe thì mỗi ngày một yếu. Anh bớt chống Cộng và hướng về hưởng thụ ăn chơi, mong hưởng một chút nào trước khi cuộc đời chấm dứt.


Anh tốt với bạn bè, với anh em, nêu cao tình chiến hữu, nhất là đồng đội còn kẹt lại ở VN, anh thường gửi tiền giúp đỡ.


Những ngày về VN, anh tìm lại anh em, thăm bạn đồng đội và hết lòng chi giúp họ - những “thằng em” đã từng chiến đấu cùng anh.


Tôi thương anh, cả bạn bè cũng mến thương anh. Hôm nay xin dược viết kể về anh để mọi người thấu hiểu — anh bạn VK.


Một bà chị quen, bà xã của một anh bạn ở trong trường hợp “ông ăn chả bà ăn nem”. Chồng chị “ăn chả” từ trước đây, trên 30 năm, bây giờ bà “đáp trả” lại. Vợ chồng trả thù 30 năm chưa muộn. Hồi thời anh còn vàng son vung vít, anh là chỉ huy trưởng của một TTHL đơn vị, có chức, có quyền, phong độ dồi dào, anh tha hồ đàng điếm, vợ đôi vợ ba. Bà ghen, ghen quá muốn điên nhưng chẳng làm sao được. Ông vẫn “hào hoa phong nhã” không quan tâm đếm xỉa gì đến ngưòi vợ không bao giờ dám xa bỏ mình.


Lúc sa cơ thất thế, lúc ông bị bọn CS bắt đi tù, đây là cơ hội để có thể “trả thù”, xa người chồng bạc tình bạc nghĩa, nhưng bà với “tinh thần mã thượng”, vẫn một lòng chung thủy chịu khó nuôi chồng.


Một thời gian qua Mỹ và sống trên đất Mỹ, bổ dưỡng đầy đủ, sung sức, và cũng là lúc đang tuổi hồi xuân. Ông chồng thì sức mỏn hơi mòn, không còn làm nên cơm cháo. Bà bắt đầu hành động, bà cần lo cho cuộc sống riêng bà, bà nuối tiếc tuổi xuân, tuổi xuân bà chịu nhiều thua thiệt. Bà không bỏ ông — ông có “nursing home” lo — bà cần phải được bù trừ cho những ngày hưởng lạc. Bà là một VK tuổi đã về chiều (trên 60) nhưng dáng dấp còn phong, nhan sắc còn mặn. Khoa học thẩm mỹ Hoa Kỳ đã chấp cánh cho bà - chấp đôi cánh thiên thần để trở thành là một bà tiên.


Ở Mỹ, bà giao thiệp rộng, họp hành nhiều tổ chức, đoàn thể, đi đứng nhiều và cặp bồ với mấy lão tướng sức vóc còn sung. Bà vẫn chưa vừa lòng toại ý, về Việt Nam tìm các trai tơ đẹp đẽ, phong độ hơn. Bà ngụp lặn trong hạnh phúc - hạnh phúc tuổi già. Ai dám bảo “trâu già gặm cỏ non” chỉ ở cánh đàn ông. Các ông già VK về quê hương du dương cùng gái. Bà cũng có những búp non mơn mởn, những chàng trai trẻ, sức vóc đưa bà lên đỉnh vu sơn. Bà là VK có tiền và cũng còn có sắc, nhất là tiền, bà muốn gì cũng có, không cần hậu quả, không kể dư luận đạo đức. Các con đã lớn tuổi, đã đỗ đạt thành danh. Thời gian còn lại ở tuổi hồi xuân, thời gian hưởng thụ của bà.


Mỗi người mỗi cách, mỗi người có cuộc sống riêng tư, xã hội văn minh tây phương, một xã hội đầy thực dụng. Luân thường đạo lý của một nền văn hoá VN cổ xưa nay đã lỗi thời. Ở VN còn lạc hậu lỗi thời huống gì là ở Mỹ.


Cuộc sống thay vợ đổi chồng như thay khăn đổi áo. Tình nghĩa đươc vun đắp bằng tiền. Khoa học văn minh ngày nay tiến bộ vượt bực. Thay đổi giới tính, thay đổi trẻ già không khó, miễn có tiền. Càng giàu càng trở nên đẹp, càng có tiền càng trở nên sang, và tiền ... muốn gì cũng có.


Trước viển ảnh ngày càng sa đọa, con người ngày càng mất gốc, quên mất văn hóa cội nguồn, một số người VN có tâm huyết hải ngoại cảm thấy lo âu, lo con cháu sau này không còn giữ gìn truyền thống. Truyền thống của một dân tộc lưu giữ từ bao nghìn năm là nét tự hào đang dần dà mai một.

Truyền thống văn hóa, ở hải ngoại giữ vững đã khó, bây giờ nơi quốc nội giữ gìn cũng không là dễ dưới một chế độ CS hiện giờ. Một thứ đạo đức mới, đạo đức CM đã và đang ngự trị, một thứ đạo đức không còn chữ “tín” (nhân nghĩa trí dũng liêm), thiếu lễ độ, mất lòng tin, chuyên dối trá, lừa gạt, bịp bợm. Một thứ đạo đức con tố cha, vợ tố chồng, chủ xuống làm tớ và đầy tớ lên làm ông chủ. Luân thường đạo lý đảo lộn hoàn toàn.


VK về nước, với mục đích là thăm quê hương, thăm làng mạc bà con... đơn thuần như vậy hầu như rất hiếm, mà chủ yếu là về nước để tìm vui, để ăn chơi, hưởng thụ, để phô trương, khoe khoang sự thành đạt, sang giàu, mang ý tưởng hẹp hòi, cá nhân ích kỷ. Và càng vị kỷ và lố lăng chăng khi có sự tô vẽ thổi phồng một cách quá đáng cái “tôi” của mình? Một anh làm nhà hàng, làm chợ hoặc đi bỏ báo, đi cắt cỏ... về VN khoe khoang là kỹ sư, bác sĩ, là giám đốc v.v. tha hồ “nổ” để bịp bợm, láo lếu, để phô trương. Và cao ngạo hơn nữa, tỏ ra là quí phái, sang cả, chê bai, khinh thị lối sống, nếp ăn, nếp ở của đồng bào mình. Thật tội nghiệp quá đi, hồi nào mình cũng là kẻ khốn khổ, đói rách, bẩn thỉu, bây giờ có được một chút vinh sang nhờ vào bên ngoài (thân chùm gửi trên tàng cổ thụ) lại chê bai, khinh rẻ chính những cái, những nơi mà mình đã từng ngụp lặn trong tanh tưởi trước đây.


Sợ rằng lớp trẻ hải ngoại, các thế hệ sau này lai căng mất gốc, quên cội quên nguồn. Ai dám yên chí, ai dám tự hào (là người lớn, là kẻ già, may mắn được hưởng chút vinh hoa ở nước ngoài, khi về lại quê hương, khoác lác, kiêu ngạo, khinh thị mọi thứ ...) không là lai căng, mất gốc ?


VK được giàu có, VK được vinh sang, được ăn nên làm ra, được thành danh đỗ đạt. Điều này thật đáng mừng và lấy làm hãnh diện - một sự bù đắp qua bao nổi khổ đau. Nhưng rồi nghĩ về đất nước, quê hương, dân tộc mình tại quê nhà - một đất nước còn nghèo, cả một dân tộc còn khốn khổ, (lang thang, rách rưới, bẩn thỉu ...) nỗi bất hạnh, xấu xa này không phải là tự họ. Đồng bào ruột thịt của ta, lạc hậu, kém văn minh, dơ dáy, bẩn chật, xấu xa, hay gì gì đi nữa ... cũng là trong hoàn cảnh, vì tình thế. Đồng bào thật sự tội nghiệp, thật sự đáng thương, thật sự rất cần sự cảm thông và giúp đỡ, không thể chê bai khinh rẻ, dù chỉ một lời. Có đáng trách, đáng chê, đáng nguyền rủa, là những kẻ đã tạo nên bao nghiệt ngã, bao khổ đau ...


Và cúi xin, những ai có can đảm, có tấm lòng, có đức độ ... trong cái xa hoa hưởng thụ, nên dành một phần (tình cảm lẫn vật chất) nghĩ đến nổi khổ đồng bào mình còn đang khấn chịu nơi quê nhà.



Nguyên Dân


-0-

Source: http://www.vnfa.com/anews/0712_031.html
band4 3G McKeno

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Lại nói chuyện hòa hợp mí lị... hòa giải!



Nguyễn Thanh Ty, USA (khoá 25SQTĐ)

Source: http://tvvn.org/tvvn/index.php?category ... ticleid=65

Thời gian gần đây, Đảng và nhà nước ta đang ráo riết ngày đêm ra sức bơm căng cái Nghị quyết 36 lên thành “cao trào tận đỉnh” để “ăn sâu, luồn xa” vào tận “quần chúng” ở hải ngoại, nhất là ở các nước “tư bản bóc lột” như Mỹ, Anh, Pháp, Úc v.v.. nơi có nhiều người Việt tị nạn định cư.

Cái sự “ăn sâu luồn xa” của cái Nghị Quyết 36 đó đã lộ hình ngày càng rõ nét qua mấy ông “trí ngủ” mau quên, qua các con buôn chỉ cần lợi nhuận và nhất là qua mấy ông “văn nghệ sĩ lem nhem” chưa biết đến mùi vị Cộng Sản cay đắng ngọt bùi như thế nào.

Đám người này một khi đã bị cái Nghị Quyết số 36 nó “cấy sinh tử phù” vào người rồi thì:

- Mấy ông văn nghệ, báo chí cứ úp úp, mở mở nói đến giao lưu văn hóa qua những bài báo nói xa, nói gần ca tụng chế độ CS, tung hê lãnh tụ HCM và chê bai, miệt thị CĐHN thế này, thế nọ. Có một số đã lén lén về nước “ca bài ca con cá nó sống vì nước” lạy lục xin Đảng ta cho in sách, in truyện của mình. Và họ đã được Đảng bố thí ơn mưa móc ấy.

Và dĩ nhiên đổi lại, họ phải cúc cung làm thân khuyển mã văn nô để đền ơn Đảng và để khỏi bị cái bùa “sinh tử” nó hành đớn đau, khổ sở mỗi khi đến ngày hành... kinh.

- Mấy ông trí ngủ mau quên thì thậm thò, thậm thụt hội thảo, tọa đàm, diễn đàn... bàn về hòa hợp, hòa giải (cũng dám đi tới hòa tan lắm!) dân tộc, bắt tay (người anh em đỏ đít) để cùng xây dựng đất nước tiến mau, tiến mạnh ...

- Mấy con buôn thì khỏi nói. Bất chấp luồn cúi hay ô nhục miễn có tiền chảy vào túi là được, sá gì hai chữ tị nạn với tự do. Hai chữ đó không đẻ ra tiền. Tiền không phân biệt độc tài, độc trị với tự do, dân chủ.

Nhà nước ta đã đổi mới, mở rộng cửa cho Việt kiều ôm đô la về nước buôn bán là nhất rồi. Cùng nhau giao thương và gian thương thoải mái. Dẹp cái chính chị, chính em qua một bên.

Vì sao mà Đảng và nhà nước ta phải quan tâm đến “khúc ruột ngàn dặm” đến nổi cả một Bộ Chính Trị phải lo nghĩ ngày đêm đến bạc cả tóc mới đẻ ra được cái “Nghị quyết 36 tuyệt cú mèo” này?

Và cái Nghị Quyết 36 là cái quái chiêu gì vậy?

Cái “ NQ 36 thập thành” này viết con cò, con cuốc dài dòng lắm, tựu chung chỉ là Đảng ta quan tâm, lo lắng cho “khúc ruột ngàn dặm”, “đàn con xa xứ” đang sống khổ sở bên ngoài, không được bàn tay Đảng bảo vệ, nên thường bị bọn “ngoại bang” hiếp đáp, bóc lột, nên Đảng kêu gọi hãy mau mau về với quê hương “chùm khế ngọt”, và Nghị Quyết có câu thòng rất cảm động “nhớ mang túi đô la về” vì Đảng “chỉ đánh kẻ chạy đi chớ không đánh kẻ chạy lại”. (Cái này thì xin lỗi, Đảng ta nói phét: Kẻ chạy đi rồi thì còn đánh cái mốc xì, chỉ có kẻ chạy lại mới giơ đầu chịu báng”.)

Tóm gọn lại NQ 36 chỉ có 4 chữ: Hòa hợp – Hòa giải.

Hòa hợp, hòa giải là gì?

Bốn chữ này dân Việt Nam học rồi mà vẫn chưa thuộc, vẫn chưa hiểu ý nghĩa và vẫn cái tính mau quên.

Từ thập niên 50, Đảng CS ta đã dạy cho nhân dân một lần rồi. Đảng CS “hợp” các đảng phái yêu nước trên toàn quốc lại thành một, để “hòa”.

Sau đó Đảng “giải” tất cả xuống sông cho đi mò tôm luôn.

Cuối cùng còn mỗi một đảng Cộng Sản duy nhất để “độc trị”.

Trước khi chiếm miền Nam, tháng 4 năm 1975, Đảng cũng đưa chiêu bài “hòa hợp hòa giải” cho mấy “anh chị cả đẫn” có tên cúng cơm là “Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam” xâm nhập vô cái đám sinh viên học đòi thời thượng và cái đám “trí thức, trí ngủ” sống trong “tháp ngà lý tưởng” ở miền Nam để rỉ tai tuyên truyền cho Đảng ta, rằng thì là ...

Kết quả ra sao sau ngày “phỏng d...” thì ai nấy đều trắng mắt ra rồi.

Khi đã cướp trọn miền Nam xong, Đảng CS lập tức “đá phăng teo” cả bọn “MTGPMN”, đám sinh viên học đòi và đám trí ngủ ra rìa không một chút tiếc rẻ. Cả bọn “ăn cơm Quốc Gia thờ ma CS” này đều chung số phận “đi té re” trên sông Bạch Đằng",“ri vi e xăng rờ tua”.

Đừng mất công ngồi tra cứu tự điển Tàu, tự điển Tây bốn chữ hòa hợp, hòa giải làm chi cho tốn hơi, tốn sức. Nó sai bét, sai nhè với thực tế.

Cứ ngẫm lại giai đoạn lịch sử trải qua hai thời kỳ 1945 và 1975 thì khắc biết cái nghĩa “nội hàm” của Đảng ta.

Cái dzụ năm 1945 thì đã nói ở trên rồi, khỏi lặp lại.

Còn cái dzụ năm 1975, khi cưỡng chiếm được miền Nam, Đảng ta thi hành chính sách hòa hợp, hòa giải với quân dân miền Nam ra sao?

Cũng chẳng cần phải kể lể khúc nôi làm chi cho thêm cay đắng. Chỉ gạch đầu dòng mấy hàng để nhắc nhở “ba hạng người ăn cháo lú” ở trên, có cơ nhớ lại “tiền kiếp”:

- Đảng kêu gọi Quân, Cán, Chính Việt Nam Cộng Hòa đem mười ngày lương thực để học tập chánh sách hòa hợp, hòa giải dân tộc trong chủ trương khoan hồng độ lượng của Nhà nước. Thế rồi Đảng ta nhốt và hành hạ mọi người mút chỉ cần câu, hơn một ngàn lần cái “mười ngày” đã hứa.

- Đánh tư sản mại bản, cải tạo công thương nghiệp, để hốt trọn tài sản của giới thương gia.

- Đuổi người dân thành phố lên vùng “kinh tế mới” để cán bộ trắng trợn cướp đất, cướp nhà chia nhau

- Lùa dân ra biển, xúi vượt biên, để lấy vàng.

...
Nhắc sơ vài thủ đoạn của cái gọi là “hòa hợp, hòa giải dân tộc” để cho thấy rằng chủ trương của Đảng ta “trước sau như một”.

Riêng cái dzụ gọi là vượt biên thì chia làm hai loại.

Ai nộp cho Đảng ba “cây” vàng thì gọi là “di tản có phép”.

Ai không nộp vàng thì gọi là “vượt biên trái phép”.

Cái loại “vượt biên trái phép” Đảng ta gọi là bọn đĩ điếm, lưu manh, trây lười lao động, phản quốc ôm chân đế quốc, v.v... đáng bị phỉ nhổ và trừng phạt, Đảng ta không thể khoan dung.

Bẵng đi một thời gian hơn hai mươi năm, Đảng ta mặc sức tung hoành, một mình một cõi tha hồ hô mưa gọi gió, múa gậy vườn hoang, y như cái thời mang dép râu, đội nón cối, miệng ngậm B.40, xẻ dọc Trường Sơn đi ... đánh Mỹ, để thực hiện lời “Bác Hồ muôn vàn kính yêu” rằng thì là... “ đánh Mỹ xong, ta xây dựng tổ quốc bằng năm, bằng mười khi xưa”.

Ai dè, một buổi sáng thức dậy, nghe tin cả cái thành trì chủ nghĩa CS là Liên xô vĩ đại đã “đổ nhào” kéo theo cả Khối XHCN Đông Âu rơi xuống hố thẳm, Đảng ta hoảng hốt bừng tỉnh, nhìn lại thấy cái chủ nghĩa CS mình đang đeo ở cổ, đã kéo cả nước trở về thời đồ đá, nhân dân đang sống lầm than, khổ sở y như thời ăn lông ở lỗ.

Bấy giờ Đảng ta quýnh quáng lên như con cà cuống sắp chết đến nơi, mới kêu réo ỏm tỏi lên rằng “đổi mới hay là chết” để cùng “túm tóc” kéo nhau lên khỏi vũng lầy nghèo đói và lạc hậu.

Đang trong tình trạng khốn đốn nguy ngập ấy, Đảng ta sực nhớ tới “cái bọn đĩ điếm, lưu manh, phản quốc” năm xưa mà mình đã “đuổi tận, diệt tuyệt”, giờ đây chúng đang ăn nên, làm ra ở những xứ “đế quốc”. Bọn chúng đứa nào trong túi cũng rủng rỉnh đô la.

Đảng ta mau chóng nhận ra rằng phải lẹ lẹ cầu cứu cái bọn này mới có cơ thực hiện được khẩu hiệu “đổi mới hay là ngủm”.

Nhưng nghĩ lại những hành vi trả thù ác độc, cướp bóc bạo tàn mà Đảng ta đã trút lên đầu bọn họ, giờ đây chúng có quên cho chăng? Hay là hận thù trong lòng bọn họ hãy còn đang chất ngất?

Cho nên muốn cầu cứu bọn nó giúp cho, chỉ còn cách dùng lại cái tuồng cũ (cứ vẫn ăn khách vì dân miền Nam có tính mau quên) là kêu gọi bọn nó “hòa hợp hòa giải” với Đảng ta.

Đó là lý do Đảng ta quay cái lưỡi gỗ 180 độ gọi cái đám trên là “khúc ruột ngàn dặm”, “máu là máu của mẹ Việt Nam”.
Sao mà thân thương quá đỗi?

Kể từ năm 1975 đến năm 2000, hai mươi lăm năm đâu phải là một thời gian một sớm, một chiều mà Đảng ta dễ gì chịu bỏ đao đồ tể xuống, hồi tâm thương cho “đàn con của mẹ Việt Nam lưu lạc”.

Cũng xin nhớ rằng Đảng ta chỉ kêu gọi hòa hợp, hòa giải với “khúc ruột ngàn dặm” ở Mỹ, Úc, Canada, Pháp thôi, chớ cái “khúc ruột” ở Cam Pu Chia, ở Lào... chỉ có mấy trăm cây số, chưa tới ngàn dặm, thì chỉ là “khúc ruột thừa”, Đảng ta chẳng cần.

Để cho “ba cái hạng người” được liệt kê từ đầu bài và một số người ở hải ngoại hiện nay vẫn còn mơ ngủ về thủ đoạn của Đảng ta về cái gọi là “hòa hợp, hòa giải dân tộc”, nói riêng, và Nghị quyết 36 nói chung người viết xin lược trích bài viết “...Vấn đề hòa giải – hòa hợp dân tộc hiện nay” của hai tác giả Nguyễn Huệ Chi và Nguyễn Xuân Lộc. Bài viết ở trong nước, đăng ở trang mạng Talawas.

....

Vì sao đến thập niên 90, Đảng ta bắt buộc phải đặt lại vấn đề hòa hợp hòa giải?

“ Sau năm 1975, Đảng Cộng Sản Việt Nam, đã kinh qua bao nhiêu sai lầm và thất bại trong quá trình gọi là “hòa giải – hòa hợp” các thành phần dân tộc đối kháng để cùng nhau xây dựng lại đất nước, cho đến thập niên 90 thế kỷ trước, khi Liên Xô và khối XHCN Đông Âu lần lượt sụp đổ, thì bắt buộc phải đặt lại vấn đề “hòa giải – hòa hợp” với khối người Việt di tản hiện sống bên ngoài Tổ quốc cốt để nhận viện trợ và vay tiền khối G7, và nhất là nhận hàng tỷ đô-la kiều hối từ bên ngoài gửi về giúp gia đình.

Thế những trở ngại chính cho vấn đề hòa giải hòa hợp dân tộc trong bối cảnh hiện tại của nước CHXHCN Việt Nam với nền “kinh tế thị trường định hướng XHCN” là những cái gì? Chướng ngại vật cơ bản ở đây là tính “ngã chấp độc tôn - độc tài”, vốn là khuynh hướng bảo thủ lì lợm luôn bám chặt vào cái “ngã” hẹp hòi và khép kín của “Đảng và phe phái” để cùng sở hữu toàn đất nước.

... “Ngã chấp độc tôn - độc tài” tất yếu sinh ra loại trừ, phân ly, chia rẽ đối lập để độc chiếm “mọi thứ của dân tộc cho riêng mình, và là nguồn gốc bấy lâu nay của những xung đột, đau khổ và tội ác trong xã hội Việt Nam. (Nguyễn Xuân Lộc)

Cái gọi là “ngã chấp độc tôn” ông NXL viết văn huê, hoa hoè hoa sói chơi cho vui, chớ nói trắng phớ ra là Đảng ta chỉ là bọn “Mafia bố già”, một mình, một chợ với dao găm, súng A.K hè nhau, mạnh ai nấy tự tung, tự tác cướp bóc tài sản của dân chúng miền Nam cho đầy túi tham, để rồi đất nước sa vào thảm cảnh đói nghèo, tụt hậu, Đảng không phương cứu vãn nổi, Đảng ta đành bắt buộc phải kêu gọi cái đám “khúc ruột ngàn dặm” đem hầu bao về cứu Đảng.

Chớ Đảng nào có yêu thương gì cho cam mà nói đến hai chữ hòa hợp, hòa giải!

Ông Nguyễn Huệ Chi, viện trưởng Viện Nghiên Cứu Mác Lê, Hà Nội (người từng được Nguyễn Bá Chung ở trường U.Mass Boston, cõng sang để “viết lại căn cước người tị nạn”) nói tách bạch vấn đề “hòa hợp hòa giải” hơn:

... một trở lực xã hội, một quan niệm tư tưởng từ lâu đã được vật chất hóa: Đó là đầu óc “duy ngã độc tôn” của những tổ chức nhân danh giai cấp và nhân dân để điều hành dân tộc, nhưng xét kỹ ra cũng chỉ nhằm bảo vệ cái ghế và cái lợi của phe phái cũng như cháu con chứ đâu còn là lý tưởng chuyên chính vô sản viễn kiến thời ông Mác - bước trước của nhà nước tự tiêu vong và con người thật sự tự do. Cho nên, chỗ cần quan tâm chưa phải là biện pháp triển khai khẩu hiệu hòa giải – hòa hợp dân tộc ... mà là trước hết phải cố thuyết phục nhau cho ra lẽ cái “khối quan niệm” đã trở nên một sức ỳ ghê gớm đó. Cứ khư khư ôm giữ độc tài toàn trị như chủ trương bất biến lâu nay – mà đàng sau là hai thế lực hùng hậu ngày càng được trang bị đến tận răng nhằm canh giữ cho chủ trương bất biến đó khỏi lay chuyển: Công an và bộ đội – thì tôi e không đời nào có hòa giải – hòa hợp dân tộc thực sự hết, muôn đời không.

Bên cạnh chủ trương hòa giải, hòa hợp dân tộc ngụy tạo dối trá, Đảng ta còn “bán kèm” bài ca “chính sách khoan hồng độ lượng” một cách trịch thượng.

Chuyện đời ngược ngạo, kẻ cướp xông vào nhà, cướp hết tài sản của gia chủ, đánh đuổi gia chủ ra sống ở rừng, ở núi, bây giờ lại ngồi chểm chệ ghế cao, ban phát ân huệ cho gia chủ như kẻ dưới, bảo gia chủ trở về xây lại ngôi nhà mà kẻ cướp đã tàn phá tan hoang.

Chuyện đâu có chuyện lạ đời!

Ông Nguyễn Huệ Chi cũng phải bất bình với thái độ kẻ cả của Đảng của mình mà chỉ ra rằng:

Còn nói “khoan dung” thì nên nói trong tư cách bình đẳng giữa ta với người sao cứ phải nói trong tư thế của người chỉ biết đứng ở bậc trên, ở kẻ thắng, mà với tay xuống ban phát món quà độ lương ấy?...

Cứ tính sổ mà xem, tạm giới hạn trong vòng một năm nay thôi, chúng ta đã thực hiện “khoan” và “dung” được như thế nào? Với các vụ án Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân... là chuyện của luật pháp, thôi không bàn làm gì, nhưng về những lời lẽ đánh giá ông Thích Quảng Độ - một hòa thượng khác chính kiến - gọi việc ông ấy cứu trợ cho dân bị lũ lụt và dân oan từ 1994 đến nay là hành động “gây rối an ninh trật tự” của “một tên chủ mưu kích động”, một “kẻ lộ rõ bản chất chính trị phản động” đấy là khoan dung ư ? Hoặc với ông Nguyễn Hữu Đang, một trí thức hoạt động cứu nước từ trước năm 1945, dốc sức lãnh đạo truyền bá quốc ngữ và tổ chức dựng kỳ đài Độc Lập, cho đến khi ông nằm trong quan tài rồi mà đọc điếu văn vẫn không quên đay nghiến, thế là khoan dung sao?

Để rồi ông Huệ Chi phải thở dài, cay đắng công nhận rằng Đảng ta:

... chưa thấy một hiện tượng nào chứng tỏ trên đất nước ta đã và đang thực thi cái chủ trương “khoan dung” cao đẹp kia làm cho ai nấy đều tâm phục. Vì thế, tôi là người tuy rất hồ hởi với hòa hợp hòa giải – mà ai lại không hồ hởi cơ chứ? Cứ thử xem không khí hòa hợp của những ngày đầu Cách mạng tháng Tám, thiêng liêng biết ngần nào! – Nhưng quả thật không dám đặt cược niềm tin vào cái cách hòa giải – hòa hợp mang tính... diễn đàn hiện tại.

Phải gọi cho đúng đó là ngón võ sở trường (nói một cách mỹ miều hơn là một “chiến thuật”) rất có nghiệp vụ và dày kinh nghiệm từ ngót 100 năm nay của ... “phe ta” đấy. Tài tình quá! Sống chung với nó từ hơn sáu mươi năm nay hẳn nhiều bậc thức giả phải biết tỏ tường. (Nguyễn Huệ Chi)

Xin nhắc lại một lần nữa, hai tác giả của bài báo “...Vấn đề hòa giải hòa hợp dân tộc hiện nay” là hai đảng viên gộc đã một đời theo Đảng, biết rõ Đảng hơn ai hết và vẫn còn đang hưởng ơn mưa móc của Đảng.

Người xưa nói “Có đắp chăn mới biết trong chăn có rận”, có những kẻ chưa từng đắp chăn Cộng Sản ngày nào, nghe Đảng ta ru ngủ bằng cái Nghị Quyết 36 với những lời ca dao “quê hương là chùm khế ngọt” mí lị “khúc ruột ngàn dặm”... đã bùi tai, nhắm mắt hát theo, giống như con gà trống và con cáo trong chuyện ngụ ngôn, trong thời gian qua thì trước sau gì cũng bị con cáo nhảy lên ngoạm cổ.

Mới đây có vài nhóm thuộc loại “đàn bò vào thành phố” của TCS, mặc áo tị nạn, đã “hồ hởi phấn khởi” công khai lộ mặt ca tụng “đức lớn công to”của lãnh tụ vĩ đại HCM, một người có tội to với dân tộc đã mang chủ thuyết ngoại lai về giết dân mình, mà không hề đỏ mặt ngượng ngùng rồi cũng sẽ đi vào mạt lộ mà Đảng ta đã từng dành cho những đồng chí trung kiên của mình như Trần Độ, Nguyễn Hữu Đang...

Cỡ như tướng Võ Nguyên Giáp, một hãn mã công thần, mà Đảng ta còn cho đi “cầm quần chị em” thì sá gì cái bọn nhãi nhép ở hải ngoại, theo đít voi hít bã mía, để kiếm chút danh lợi sau này. Đừng hòng!

Đừng quên những cái gương trước mắt như NCK, PD, Trịnh Vĩnh Bình, Trần Trường... và cả cái đám ca nhạc sĩ về nước hợp tác ca múa, mua nhà ở làng nghệ sĩ... Đảng ta đã đối xử ra sao, vẫn còn sờ sờ ra đấy!


Nguyễn Thanh Ty, USA (khoá 25SQTĐ)

Source: http://tvvn.org/tvvn/index.php?category ... ticleid=65
band4 3G McKeno

User avatar
linhgia
Posts: 1308
Joined: Fri Dec 03, 2004 9:30 am

Post by linhgia »

Nói chuyện với bác Tú Gàn




So với bác Tú Gàn thì ngòi bút phân tích chính trị của đệ chỉ thuộc vào hàng con cháu. Thứ nhất là vì đệ không phải là ngòi bút chuyên nghiệp, thứ nhì là đệ không chuyên về chính trị và thứ ba, tuổi cầm bút của đệ cũng trẻ hơn bác Tú xa.

Song diễn đàn là nơi chúng ta tự do đưa ra suy nghĩ và nhận định, nếu có được phê bình đóng góp thì cũng âu cũng là học hỏi thêm. Theo ý tiểu đệ, qua câu chuyện các đảng viên VT bị bắt vào cuối năm 2007, khi viết "Việt Cộng trúng kế Việt Tân", bác Tú Gàn đã đánh giá VT hơi cao và VC hơi thấp.

Lý do VC bắt ai, thả ai

Khi anh Trần văn Bá về VN, bị bắt, anh bị xử bắn. Khi cố đề đốc Hoàng cơ Minh về VN, ông bị phục kích và bị giết. VC là một tổ chức chính trị cấp quốc gia, có thể kém về kiến thức kinh tế, tài chánh, điều hành quốc gia, song chắc chắn không kém về mưu chước chính trị. Khi họ bắt ai, giết ai, và thả ai, họ đều có nghiên cứu, tính toán kỹ lưỡng.

Nếu đệ là VC, đệ sẽ giết, hay cầm tù rất lâu, những người nào mà đệ nghĩ rằng có hại cho đệ, hay ít nhất, cũng phải làm cho họ im mồm, hết hoạt động. Do đó, anh Bá và bác Minh bị giết, bác Tôn bị giam rất lâu. Một nhân vật đối kháng trong nước mà đệ rất thích, dù chỉ đọc một bài viết của anh ta, là Lê Chí Quang, thì đã bị bịt miệng. Nếu đệ là VC, đệ chỉ thả những người không có khả năng phản kháng, hoặc là cò mồi của đệ, hoặc thả ra thì trăm lợi mà một hại. Điều này có lẽ ai cũng thấy và đồng ý.


Đệ xét tầm cỡ của những nhân vật đối kháng VC không chỉ qua những điều họ nói, họ làm, mà còn qua cách VC đối xử với họ (có lẽ đây mới là điểm quan trọng). Những người có hại thật sự cho VC sẽ bị chúng dập hết ga, như cha Lý. Còn những nhân vật như kiến càng Đỗ Nam Hải, ra vô công an như cơm bữa, rảnh rảnh thì re-enact để chụp hình, hay Hoàng Minh Chính, Nguyễn Tiến Trung chống đảng độc tài mà được đi ngoại quốc hò lơ ì xèo, thì ai muốn tin họ thì tin chứ đệ không đặt lòng tin vào được. Chẳng phải đệ muốn các nhà đấu tranh phải ở tù, phải chết mới được, nhưng vì không ở trong ruột của họ, chỉ có cách xem VC đối xử với họ ra sao thì mới phân biệt vàng và thau.


Tóm lại, tại sao VC đối xử với người này khác người khác?

Chỉ có một câu trả lời, bởi vì chúng sẽ nặng tay với ai hại chúng, nhẹ tay với ai có lợi cho chúng và "bơm" những ai là người của chúng.

VC thua VT hay bơm VT?

Trở lại câu chuyện của các đảng viên VT bị bắt thì ta hãy tự hỏi, nếu các đảng viên này thực sự nguy hiểm cho VC thì VC có cách gì khác để VC vu oan họ, từ đó "ban" cho một bản án nặng nề không? Có lẽ ai cũng đồng ý rằng VC không từ bỏ thủ đoạn nào, nếu xét thấy cần, thí dụ như nhét vài chục ký chất nổ vào nhà của họ, vừa vu oan cho các đảng viên mà vừa bôi nhọ luôn cả đảng VT.

Nhưng VC đã không làm như vậy. Sau khi bắt họ với tội danh khủng bố, VC đã thả họ. Đảng viên VT thì được thả, nhưng Lê Thị Công Nhân, Lê văn Đài, Nguyễn văn Lý thì vẫn rục xương, còn Đỗ Nam Hải, thì phây phây đóng phim.


Người ta có thể lập luận rằng vì áp lực quốc tế nên các VC phải thả đảng viên VT. Thưa, nếu áp lực quốc tế có thể dùng để tái lập công bằng ở VN thì VN đâu còn bất công. Ngay cả những chính khách quốc tế cũng chẳng phải là thiên thần thánh thiện gì, họ cũng chỉ vì quyền lợi cá nhân và quyền lợi quốc gia của họ mà hành xử. Họ cũng có thể là những kịch sĩ trong vở kịch mà các quốc gia, trong đó có VC, biên soạn và đạo diễn.

Lịch sử cho thấy thái độ của thế giới chỉ là màn kịch. Mỹ đánh Iraq, dù Iraq không có vũ khí mass destruction, quốc tế la ó cái miệng, nhưng rốt cuộc Mỹ vẫn đánh, vẫn dùng vũ lực. Trung Cộng đàn áp Tây Tạng, quốc tế la ó, nhưng rốt cuộc Trung Cộng vẫn làm việc Trung Cộng làm. VC dù có giam các tay đảng viên VT 10 năm đi nữa, chấp quốc tế la ó, VC vẫn làm. Có vì VC giam mấy đảng viên VT mà Mỹ cấm vận, mà Úc không buôn bán với VC không? Chắc ngây thơ lắm mới tin rằng Úc hay Mỹ vì ba anh đảng viên cắc ké nay mà bỏ quyền lợi của quốc gia mình. VC tha cho các đảng viên VT không phải vì sợ VT, sợ áp lực quốc tế, mà vì việc tha này có cái lợi khác cho chúng.

(Theo đệ biết, những ai chưa nộp đơn chính thức từ bỏ quốc tịch VN thì vẫn bị VC đối xử như là công dân VN, nên trừ phi các đảng viên VT đã chính thức khước từ Việt tịch, việc mang quốc tịch ngoại quốc của họ ra mà biện luận không đứng vững)

Tha các đảng viên VT sau khi đã kết án "khủng bố" là một hành động mất mặt cho VC, mất mặt mà vẫn làm, ắt có hậu ý. Qua câu chuyện VC gán tội danh khủng bố bằng giấy (truyền đơn) cho đảng viên VT, bắt rồi, cho VT la làng, rồi thả, người ta có thể có nhiều cách lập luận.

Lập luận thứ nhất là cho rằng VC sợ thế giới, nể VT, cho rằng VC nghe theo lẽ phải, nên phải thả đảng viên VT.

Lập luận thứ nhì là VT là con bài của VC, và VC đang ra sức đánh bóng, vỗ béo VT trong mắt quốc tế và người dân VN trong và ngoài nước, để VT chóng trở nên một chú Cuội đối lập trong cung Ba Đình, khi mà VC bị buộc phải bỏ cái nhãn độc tài.

Ấn tượng qua bài của Bác Tú Gàn

Ai muốn tin sao thì tin, nhưng còn bài viết của bác Tú Gàn, với những câu như:

(trích)

- Nếu cơ quan công an có óc tình báo nhạy bén, họ sẽ nhận ra ngay đây chì là trò chơi trẻ con của Việt Tân, chỉ cần bắt giữ vài hôm để lấy lý lịch, sau đó đưa ra phi trường tống xuất, thế là xong. Đàng này họ đã làm lớn chuyện nên trúng kế Việt Tân.

- Trong thực tế, hệ thống phèng la đã được đánh một cách rất rầm rộ và liên tục khiến Bộ Công An lung túng. Cuốn cùng, họ đã phải đưa ra một bản án khôi hài như đã nói trên. Trong vụ này Việt Cộng đã thua Việt Tân!

(hết trích)

Đọc xong rồi, độc giả sẽ có ấn tượng là VT vô cùng lợi hại, xỏ mũi VC rẹt rẹt. Thoạt đọc qua chuyện "chia ghế", đọc qua cái tựa "Biểu dương lực lượng" mà bác Tú Gàn viết, người ta có cảm giác bác đang châm biếm VT, nhưng đệ không có ấn tượng này. Đệ có cảm giác bác đưa VT lên cao hơn VC một chút.

Đệ không đi guốc trong bụng của bác Tú Gàn, đệ chỉ đánh giá bác qua bài viết như mọi độc giả khác. Cảm giác của đệ khi đọc qua bài của bác Tú Gàn là thấy bài viết này được dùng thủ thuật tương tự như VC, thoạt nhìn thì như lên án, nhưng bên trong thì hì hục... bơm. Câu cuối cùng bác viết:

(trích)

- Chúng tôi biết đa số các lãnh tụ Việt Tân đều trên 6 bó, họ không muốn chờ lâu như thế. Họ phải "chớp thời cơ". Nhưng chuyện đó không thành đâu.

(hết trích)

Ai trên 6 bó? Hoàng Tứ Duy, Đỗ Hoàng Điềm, Đặng Thanh Chi, Lý Thái Hùng, Nguyễn Đỗ Thanh Phong hay Nguyễn Hoàng Thanh Tâm? À, thì ra là vậy, các nhà lãnh đạo trẻ của VT thì không có trong những người bị châm biếm.

Theo nguồn tin bên trong, do một cựu đảng viên VT tiết lộ, thì hiện nay cánh trẻ của VT đã lấn cánh già. Việt Tân trẻ quả thật giỏi (hay quá giàu), không phải vì VT trẻ qua mặt được VC mà là vì đã mua được nhiều ngòi bút. Ngòi bút của bác Tú ngày nay vẫn khá bén, nhưng còn ngay hay đã cong cong chệch chệch, xin mời quý độc giả tự nhận xét.

Xanh vỏ, đỏ lòng, đó là ấn tượng của đệ sau khi đọc qua bài của bác Tú Gàn.

Hoàng Nguyên
band4 3G McKeno

Post Reply