Tạp Ghi , Chuyện Phiếm , Chuyện Vui Hàng Ngày

Cho đuổi mèo, mèo rượt chuột, chuột sa chỉnh gạo, gạo tải vô xe... thế rồi... xe cán chó!!!

Moderators: CNN, khieulong

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

NHỮNG NGƯỜI MUÔN NĂM CŨ

Huy Phương
Những lúc mệt mỏi, buồn phiền thay vì nghe một bản nhạc hay đi ra ngoài hít thở không khí, tôi thường đến bên bàn thờ gia đình, thắp hay không thắp một nén hương, đứng lặng một phút nhìn vào từng khuôn mặt của những người quá vãng qua khung ảnh. Sau phút đó, dù không giải thích được, tôi thấy lòng mình ấm áp và yên tĩnh trở lại.

Ðây là hình ảnh của cha tôi. Ngày xưa tôi thường oán trách ông vì cuộc sống đa thê và hoàn cảnh khó khăn của gia đình đã đem lại cho anh em tôi những nỗi phiền muộn và nhọc nhằn của tuổi ấu thơ. Nhưng khi tôi khôn lớn, và ông đã về già, không sống bên ông, tôi lại thương ông hơn. Sau khi miền Nam bị sụp đổ, ông sống những ngày cuối cùng trong nỗi cô đơn vì con cái, đứa thì trôi giạt nước ngoài, đứa thì lâm vòng tù tội. Ông nằm xuống vào một ngày tháng năm, khi tôi còn lặn lội trong những cánh rừng Việt Bắc. Nghe tin ông mất, tôi đã khóc, bao nhiêu nỗi trách móc, oán hờn ngày xưa đã trôi đi mất. Tôi nghĩ tôi chưa hoàn thành bổn phận của một đứa con, tôi lấy gì để trách về cuộc sống của cha tôi.

Này là mẹ tôi. Trên khung ảnh, tôi thấy hình như bà đang mỉm cười, dù suốt tuổi thanh xuân, cuộc đời bà quá là bất hạnh. Bà về "làm hầu" cha tôi từ năm mười bảy tuổi và cuộc đời bà cho đến lúc chúng tôi lớn thành người, là một chuỗi ngày đầy nước mắt. Lúc nào bà cũng coi tôi như đứa trẻ trong cánh tay bà ngày nào, trong khi lớn lên, tôi bay nhảy đó đây, nhiều lúc tôi đã không còn nhớ đến bà. Bây giờ về già tôi mới thấy mình là một đứa con bất hiếu, nhưng tôi làm được gì nữa. Tôi còn cái cảm nhận bằng khứu giác với bát cháo hành những ngày đau ốm và mùi rơm rạ khi mẹ tôi ngồi trong bếp lửa đun nồi cơm cho cả đại gia đình trong những ngày tôi còn thơ ấu.

Ðây là hình ảnh của ông bà nhạc gia, những người không hiện diện trong tuổi ấu thơ của tôi, nhưng khi đến tuổi trưởng thành, cuộc đời đã kết hợp để từ đó sinh ra một đại gia đình để các con có bên nội bên ngoại. Nhưng rồi theo quy luật của thời gian, khi trẻ con lớn lên, người lớn già đi, như những ngọn lá vàng rơi xuống, ủ ấm mặt đất để cho những mần non nhú lên như vòng quay của cuộc sống. Và nội, ngoại là những nhân vật sẽ không còn tồn tại trên thực tế, nhưng sẽ còn mãi trong tâm thức ấu thơ của mỗi một người.

Ðây là ảnh người anh trai. Mặc dầu là anh em cùng cha khác mẹ, ông đã hết lòng thương yêu tôi. Những ngày tháng trong chiến tranh ở thôn quê, gia đình túng quẫn, cả gia đình phải khoai sắn qua bữa, riêng phần anh tôi vì phải đi dạy học xa, mỗi sáng ông được bới một "mo" cơm trắng và muối mè mang theo đến trường. Biết em mình thiếu ăn và thèm cơm, buổi sáng trước khi đi, ông thường lấy con dao nhỏ cắt bốn cái "rìa" cơm để lại cho tôi. Khi lớn lên, khi còn độc thân, có thời gian tôi sống chung với gia đình ông, trong một lần bất bình, tôi bỏ nhà ông ra đi. Không giải quyết được gì, ông chỉ biết khóc vì không biết rồi ra sẽ nói với cha tôi ra sao!

Này là cô con gái của tôi. Tuổi thơ của miền Nam sau Tháng Tư năm 1975 không còn là tuổi thần tiên nữa khi phải sống với một bầu không khí xa lạ, kỳ thị và với cảnh nhà khó khăn trong khi cháu muốn được học hành và được đối xử tử tế. Con đường vượt thoát qua biển khơi nghìn trùng đã là câu chuyện ly biệt mà mỗi lần nhìn hình ảnh cháu chúng tôi không khỏi bùi ngùi, thương xót. Dù cuộc sống hôm nay có tốt đẹp, no ấm bao nhiêu đi nữa, thì sự mất mát này rất khó bù đắp được. Trong niềm tan vỡ chia ly của hàng chục nghìn gia đình Việt Nam, sự vắng mặt của con gái tôi hôm nay luôn luôn nhắc nhở cho tôi đến một giai đoạn đen tối nhất của đất nước mà riêng tôi khó lòng quên được.

Trong mỗi gia đình Việt Nam bàn thờ là nơi, không phải có sự sum họp của những người đã khuất mà là nơi sum họp của những người đang sống. Những ngày lễ Tết hay giỗ kỵ, gia đình quây quần, thắp nén hương lên bàn thờ để tưởng nhớ những người đã khuất, chúng ta không khỏi không nghĩ đến những ngày đã qua, quãng đời thơ ấu, trưởng thành với biết bao nhiêu kỷ niệm khó quên của từng mỗi một gia đình. Dưới những mái từ đường ngày xưa, nhiều thế hệ hiện diện trên bàn thờ tổ tiên, trong một bầu không khí khá âm u, nhiều khi mang vẻ linh thiêng, huyền bí. Ngày nay, bàn thờ gia đình thường ở chỗ sáng sủa, gần gũi với những thành viên của gia đình hơn, để con cháu mỗi ngày có thể nhìn thấy hình ảnh ông bà, cha mẹ, cùng với những người trong gia đình đã khuất.

Theo thói quen của nhiều người lớn tuổi, ngày trước đã quen biết với gia đình, sau nhiều năm xa cách, trong dịp trở lại thăm viếng, họ đã đến bên bàn thờ kính cẩn thắp một nén hương, như một lời chào hỏi người lớn tuổi. Thói quen đó, ngày nay nhiều người vẫn còn giữ như một nền nếp rất Á Ðông. Những ngày thơ ấu, vào những ngày đầu năm Tết Âm lịch, tôi vẫn thường được cha tôi dẫn đi thăm viếng, lễ bái từ chính căn nhà của ông bà nội tôi, sáng đến nhà ông chú, ông bác, đến nhà thờ họ, nhà thờ chi, tổng kết gần năm chục cái bàn thờ có mang khung ảnh tổ tiên, ông bà đã khuất, mỗi nơi bốn lạy, ba vái. Vì sao vào những ngày cuối năm, chúng ta lại có thói quen quét dọn bàn thờ, lau chùi lại bộ đồ đồng, bát nhang hay bộ đèn và bàn thờ tổ tiên là nơi quan trọng, thiêng liêng nhất của ba ngày Tết. Cũng nhờ những ngày lễ giỗ, bà con dòng họ đều biết nhau, "ba đời chưa rời cánh tay", không như bây giờ anh em họ ra đường không biết mặt nhau.

Một gia đình không có bàn thờ tổ tiên như một đời người không có quá khứ. Chúng ta có cảm tưởng như cha mẹ vẫn còn đó, hàng ngày đang chứng kiến những nỗi vui buồn và sinh hoạt của con cháu. Hình như trên bàn thờ gia đình, người chết vẫn luôn luôn hiện diện bên người sống, và mỗi lần nhang khói lại đem thêm lại niềm ấm áp cho tất cả mọi người.

Rồi đây: "Này chồng này mẹ này cha, này là em ruột, này là em dâu" tất cả đều trở thành cát bụi, và gian nhà thờ là nơi dĩ vãng thường sống dậy trong những ngày giỗ kỵ hay lễ Tết của gia đình của những thế hệ nối tiếp.

Huy Phương

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Làm Tình Trên Không Gian (?)

Ngày 09 tháng 02, 2007 trên tờ National Post có một bài báo có tên là The 62-mile high club (Câu lạc bộ 62 dặm cao) và kèm thêm một câu hỏi khá ngộ nghĩnh: Phi hành gia có sex trên không gian không? Bạn đã nghĩ về việc này. Nhìn nhận đi! (Do astronauts have sex in space? Admit it: You''ve thought about it Trước khi lược dịch bài trên để giới thiệu với quý vị một vấn đề mới của thời đại chúng ta, chúng tôi xin nói qua về câu lạc bộ có tên Mỹ là The 62-mile high club.

Làm tình trong không gian có nghĩa là làm tình trong khoảng ngoại tầng khí quyển. Chữ không gian hay space được đạo luật của Mỹ có tên là National Aeronautics and Space Act, đạo luật thiết lập cơ quan hàng không NASA, đã định nghĩa là ngoài tầng khí quyển (outside Earth''s atmosphere) hay nói rõ hơn là trong khoảng thái không cách trái đất nhiều trăm dặm nơi mà phi thuyền hay Trạm Không gian Quốc tế ( International Space Station) di chuyển trên quỹ đạo xoay chung quanh trái đất.

Như thế sao lại có một câu lạc bộ có cái tên là The 62-mile high club? Thực ra 62 dặm hay 100 km là một giới hạn cổ điển tròn trặn. Giới hạn này có từ giữa thập niên 1950 do nhà nghiên cứu không gian người Hung là Theodore Von Karman đề nghị và được nhiều cơ quan hàng không quốc tế chấp nhận, nên còn gọi là Karman Line.

Ngày nay người ta vẫn dùng nó để chỉ kỷ lục về vận tốc khi một phi thuyền bắt đầu vượt khỏi biên giới không gian chính thức 62 dặm. Như thế The 62-mile high club chỉ là tên gọi khác của câu lạc bộ thái không.

Tại sao hiện giờ lại đặt vấn đề làm tình trên thượng tầng không khí? Có nguyên nhân. Nguyên nhân xa là trong tương lai kỹ nghệ du lịch không gian rộng mở, thế nào chẳng có kẻ đa tình chơi ngông muốn lấy không gian làm giường hay bầu bạn với Hằng Nga cô độc như Tản Đà từng viết:

Đêm thu buồn lắm Chị Hằng ơi!
Trần thế em nay chán nửa rồi!
Cung quế có ai ngồi đó chửa
Cành đa xin chị nhắc lên chơi!

Còn nguyên nhân gần, đó chính là bắt nguồn từ câu chuyện một nữ hành gia ghen tuông và bị truy tố về tội toan mưu sát.

Phi hành gia Mỹ Lisa Nowalk, 43. đại úy hải quân và chuyên viên về robotics của NASA, vào đầu tháng 02, 2007 bị truy tố về tội mưu sát sau khi lái xe vượt 1000 dặm đường hay khoảng 1600 km từ nhà ở Houston, Tex. tới phi trường quốc tế Orlando, Florida để đánh ghen. Người hùng Mỹ trong chuyến bay lên trạm không gian tháng 07 năm ngoái, không hề ngừng một giây trong cuộc hành trình dài thăm thẳm, với mục tiêu gặp Colleen Shipman, 30, kẻ mà cô ngờ đã cướp sống người yêu của mình là một phi hành gia khác có tên là Bill Oefelein. Nowalk tiết lộ cô ta và Oefelein có mối ràng buộc đậm đà hơn giao tình giữa đồng nghiệp nhưng chưa ngọt ngào bằng liên hệ ái tình. Khoan đã, như thế giữa họ từng có có liên hệ xác thịt trên không gian? Không, hoàn toàn không vì Nowak và Oefelein chưa từng cùng bay trong một nhiệm vụ nên họ có thể chưa tham gia vào Câu lạc bộ 62 dặm trên cao.

Nowak và Oefelein có thể ân ái nơi trần tục và chưa hưởng vị cõi thiên tiên. Nhưng một vài phi hành gia khác đã từng lên đó có thể đã nếm mùi ân ái ngoài địa cầu?

Tại sao? Ai đã đọc cuốn The Right Stuff của Tom Wolfe hay xem cuốn phim dựa vào câu chuyện này đều thấy các phi hành gia chịu nhiều áp lực ghê gớm lên thân tâm khi chuẩn bị các chuyến phi hành nên có thể cần tìm cơ hội giải tỏa?

Các cựu phi hành gia và những người đang hiện dịch không thích đề cập tới chuyện làm tình trên phi thuyền con thoi và NASA cho biết nếu có xảy ra chuyện này thì cơ quan cũng không thể biết được chuyện mèo ăn vụng. Một phát ngôn viên của cơ quan không gian tiết lộ, NASA chưa hề chính thức làm thí nghiệm súc vật làm việc truyền chủng ra sao trên phi thuyền.

Tuy nhiên, nếu các nam phi hành gia muốn giở chuyện trên giường với đồng nghiệp nữ ngay trên phi thuyền thì không phải không gặp khó khăn.

Trước hết, trên đó khó tìm ra khoảng kín riêng tư. Một phi thuyền bình thường chỉ rộng bằng chiếc 737 và hai khu vực chính khoang lái và khoang giữa, mỗi nơi chỉ có kích thước bằng một văn phòng nhỏ. Phòng tắm chỉ gồm có chỗ ngồi và màn che và khó tìm ra chỗ riêng nào để đôi kẻ khát tình có thể có nơi tạm nghỉ và giải tỏa căng thẳng.

Còn trạm không gian (International Space Station) thì sao?
Trạm không gian chẳng rộng rãi gì hơn. Ba điều hành viên của trạm phải chia nhau ra nghỉ ngơi. Hai người trong bọn họ ngủ trong hai ca-bin nhỏ xíu ởû cuối trạm. Còn người thứ ba có thể nằm trong túi ngủ ở đầu phía kia, cách nhau khoảng 200 bộ. Đừng nên quên những cái gọi là giường ngủ trên trạm hay trên phi thuyền có cả một mớ dây cột kẻ nằm lại nên chẳng thuận lợi cho việc ân ái trong vòng trói chân, trói tay. Các phi hành gia lại có việc khẩn thiết phải làm theo thời khóa biểu có sẵn nên không có thì giờ để hao phí năng lực và làm chuyện gió trăng.

Tuy nhiên, cũng có lúc họ rảnh rỗi và giải trí. Vào cuối tuần họ có thì giờ nghỉ ngơi, có thể xem phim, đọc sách chơi game và cũng có thể giải buồn cách khác nữa. Giải buồn bằng cách nào?

Dư luận nói đến sex và kẻ tò mò xem lại các chuyến thám hiểm không gian gần đây xem có gì khả nghi hay không.

Trong sứ mạng thứ nhất, phi hành đoàn gồm cả nam lẫn nữ được phóng lên không gian vào 1982. Nhưng trong chuyến bay lần này, phi hành gia Svetlana Saviskaya nổi tiếng là cứng rắn, ấy là không kể tới tình trạng đã có gia đình nên dư luận có lăng nhăng bị dập tắt ngay.

Cặp vợ chồng đầu tiên lên không gian vào năm 1991 là cặp Jan Davis và Mark Lee nhờ họ yêu nhau từ lúc còn trong trại luyện tập. NASA bình thường có chính sách không cho cặp vợ chồng cùng bay lên không gian trong một chuyến, không phải sợ rằng họ làm ái tình ngoài trái đất mà e rằng nếu việc này xảy ra, sẽ làm mất tinh thần đồng đội vì trong đó có các phi hành gia cô đơn khác. Tuy nhiên, NASA đã phá lệ cho Davis và Lee bay chung vì đôi này lấy nhau vào lúc quá kề cận giờ đăng trình của phi thuyền nên NASA không thể đổi nhân sự được. Mới đây, cả hai đều từ chối trả lời câu hỏi họ đã có liên hệ ra sao khi ở trong vũ trụ bao la.

Trong thập niên 1990 dư luận bàn tán về thái độ thân mật của hai phi hành gia Elena Kondakova và Valery Polyakov khi họ thực hiện chung sứ mệnh trên phi thuyền Mir, nhất là lúc xem video người ta thấy có cảnh đang khi bay Valery nghịch ngợm té nước vào Elena.

Vấn đề làm tình trên không gian ít nhất được nhắc tới một lần trong một cuốn sách có tên là The Last Mission (Nhiệm vụ cuối cùng) dù sau đó mới biết tác giả chỉ tung tin vịt. Trong cuốn trên, tác giả người Pháp Pierre Kohler cho rằng NASA đã mở một cuộc nghiên cứu cách thức làm tình trên vùng ngoài trái đất xem cách nào có hiệu quả nhất. Ông ta dẫn chứng một tài liệu không có mấy căn cứ và cho biết rằng những người trong nhóm nghiên cứu đã thực hiện 10 kiểu làm tình khác nhau. Đặc biệt sáu trong những kiểu này đòi hỏi cần có dây đàn hồi ràng buộc đôi lứa (chắc hẳn không phải là dây tơ hồng) hay đôi lứa phải chui vào trong một ống co giãn để giữ họ có thể áp sát vào nhau ở nơi vô trọng lực (zero gravity.)

Nhưng giả thuyết trên khó thuyết phục mọi người vì có vấn đề. Làm tình trong không gian có lợi hay không? Các nghiên cứu mới đây cho biết việc này nếu xảy ra thực không thích đáng. Trước hết trong tình trạng vô trọng lực người ta có thể buồn nôn và làm ăn trong tình trạng trên, hẳn thú ái ân không còn hấp dẫn nữa.

Hơn nữa, bay trên mây mà nhuốm mùi tục lụy, các phi hành gia có thể đổ mồ hôi nhiều hơn. Trong điều kiện vô trọng lực thân hiệt gia tăng và sức nóng làm mồ hôi nhỏ ra từng giọt gây ẩm ướt, một tình trạng vô cùng nguy hại cho phi hành gia. Ngoài ra, khi vào không gian, áp huyết con người có chiều hướng giảm, có nghĩa là tình trạng huyết lưu thông chậm lại. Chắc hẳn mọi người nghĩ tới nguy cơ thượng mã phong cho kẻ dám liều mạng!

Thu Nguyên

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Sự sợ hãi

Huy Phương

Năm ngoái trong khi thực hiện loạt bài “Chân Dung Một H.O.”, tôi có tìm cách phỏng vấn một vị Cựu Ðại Tá, cựu tù nhân chính trị. Sau khi tra hỏi nhiệm vụ và gốc gác tôi, ông vào đề:

- “Tôi sợ anh là người của Việt Cộng gài vô để hỏi tôi”.

Tôi thưa với ông, có lẽ cũng khá vô lễ:

- Thưa anh, anh đã ở tù Cộng Sản 13 năm, anh đã làm “lý lịch trích ngang”, bản tự khai hằng trăm lần, xin lỗi anh, lý lịch anh đã như cái xơ mướp, có gì nữa mà phải giấu!

Gần đây, có một cựu cán bộ XDNT có gởi cho tôi một cái CD có mấy bản nhạc thu trong buổi trình diễn ở trại huấn luyện Vũng Tàu giữa năm 1969. Vì không gặp mặt trực tiếp, người này gởi CD này cho tôi ở “front desk” khách sạn và nhắn cho tôi qua điện thoại:

- “Anh đến lấy gấp, đừng để cái CD này vào tay Cộng Sản thì phiền lắm”.

Có nhiều trường hợp tôi có hẹn với một vài vị cựu tù nhân hay cựu quân nhân để thăm hỏi và đưa ra những trường hợp điển hình cũng như những gương hy sinh đặc biệt hy vọng để lại một tấm gương cho con em. Nhưng phút chót (khi nào cũng phút chót) tôi nhận được một vài lời nhắn gởi:

- “Thôi anh thông cảm, tôi còn hai đứa con gái ở Việt Nam, tôi không muốn chúng nó phải gặp phiền phức”, hay:

- “Tôi thì không về đâu, nhưng vợ tôi thường đi Việt Nam lắm, xin hẹn anh dịp khác!”

Tôi biết sẽ không bao giờ có dịp khác, vì mỗi năm ông bạn này càng già, càng gần với cái chết, đáng lý ra bớt sợ hơn, ông lại càng ngày càng sợ.

Nhiều người không đi biểu tình chống Cộng vì sợ Cộng Sản quay phim chụp hình. Nhiều người không dám tham gia hội đoàn hải ngoại vì mỗi năm còn phải đi Việt Nam một lần.

Ngay đối diện với kẻ thù, trong các trại tù tập trung, cũng có người cởi áo, phanh ngực nói với bọn cai tù:

- “Mày bắn tao đi!”

Hay phát biểu sau giờ “học tập”:

-“Tôi xác định không bao giờ tôi tin tưởng vào đường lối khoan hồng, nhân đạo gì của Cách Mạng!”

Có tù nhân chính trị đã bạt tai vệ binh. Bao nhiêu người đã bị nhốt vào cũi sắt, xà lim, bỏ đói hay bị đem ra bắn vẫn hiên ngang trước mặt kẻ thù, ngay trong cảnh “chim lồng cá chậu” và chắc chắn sẽ nhận lãnh việc trả thù tức khắc của Cộng Sản.

Thật ra người ở lại, nhất là anh em cựu chiến binh và thương binh, trong hoàn cảnh nghèo đói và áp bức, họ cũng hy vọng vào những người anh em chiến hữu đã có cơ hội may mắn ra đi làm được một điều gì, nói được một điều gì cho đồng bào trong nước. Nhưng cuối cùng họ chỉ thấy những “Việt kiều áo gấm về làng” vung vít, đãi đằng, khoe khoang, hợm hĩnh về những điều may mắn mà có của mình. Không những sợ hãi mà một số người còn tiếp tay tuyên truyền cho chính quyền Cộng Sản bằng những cái nhìn và nhận xét hời hợt về cảnh tượng nhà cao cửa rộng, nhà hàng khách sạn, “thú ăn chơi mỗi vẻ mỗi hay”.

Chỉ nói những chuyện gần đây thôi, nếu sợ hãi thì đất nước không thể nào có những Nguyễn Văn Ðài, Lê Thị Công Nhân hay Trần Khải Thanh Thủy. Còn sợ hãi thì mãi chúng ta sẽ còn đứng trước những tên công an lạnh lùng, dúi tờ giấy 5 đô la, cười giả lả, “giả dại qua ải” cho xong một kiếp người.

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Diễn văn đọc vào bọng cây


Nhạc sĩ Tuấn Khanh
Rồi mai đây, chúng ta sẽ làm một tấm bia tưởng niệm cho lòng nhân ái của con người, lòng kính trọng cho nền giáo dục. Tấm bia có thể sẽ được dựng ở quảng trường thành phố, khắc ghi với dòng chữ “ở đất nước này, nơi đây, đã từng có một giai đoạn, con người đối xử với nhau như dã thú. Công an đã nhét súng vào họng thường dân để tra khảo. Thầy cô đã giao học trò mình cho những người có vũ trang đánh đập. Người cùng màu da đã nhục hình trẻ con 10 năm. Thế hệ trẻ đã hận thù nhà trường, căm hận xã hội và cười chê, phỉ nhổ vào nền đạo đức giáo khoa... và tất cả những điều đó, điều đã bị lãng quên trong sự vô và cố tình của của nhiều tầng lớp con người, kể cả quan chức có trách nhiệm”.

Khi nào chúng ta có thể lập tấm bia đó? Ở thời điểm nào mà chúng ta có thể tự cam đoan với nhau rằng những điều thương tâm đó chỉ còn là quá khứ? Khi nào chính quyền có thể mạnh mẽ lên tiếng rằng xã hội đã thật sự có bình an. Và khi nào pháp luật sẽ nghiêm minh và quyền con người đã đủ để công an không còn tụ họp nhau đánh thường dân, không còn vô cớ tát tai người đi đường, dân quân không lấy nhục hình ở trẻ em làm niềm vui cho mình?

Những điều dị thường đó, xảy ra hàng ngày, khiến những giọt nước mắt khóc thương cho bé trai 13 tuổi tự tử vì danh dự 47,000 đồng đã rơi ít đi, niềm vui cho bé gái bị nhà trường tra khảo đến phát điên vì 47,800 đồng oan, nay đã nói lại được cũng lặng lẽ hơn. Xã hội đã chai lì, con người đã làm quen với những điều bất khả mà nay quá thường nhật: như con thú ăn cỏ sau khi làm quen uống máu đồng loại đã biến thái vô luân.

Thật độc đáo, như một gánh xiếc thương tâm. Mỗi ngày trên đất nước Việt Nam, chúng ta lại có thêm một câu chuyện quái gở và phi nhân, thường nhật như mỗi sáng ta phải ăn sáng trong máu và gặm rỉa những điều nhức nhối của dân tộc mình như loài quái điểu. Không ai nói, và cũng không ai biết vì sao những điều điên loạn đó không ngừng lại. Một xã hội tự hào với 4,000 năm Văn Hiến đột nhiên lại vật vã thiếu văn minh nhưng thừa thãi các quan chức tập thắt cà-vạt kiểu Anh và tập bước xuống đúng thế từ những chiếc xe hơi bóng lộn.

Chúng ta sẽ làm sao? Hay chúng ta rồi sẽ ra sao?

Sự phẫn nộ là đám mây đen đang che phủ. Các nhà lãnh đạo có thể kiêu ngạo và chỉ nhìn thấy sự im lặng của dân chúng trước những điều xảy ra, nhưng với đám đông, ai đứng trong đó cũng cảm nhận thấy rằng đó là sự bùng nổ đang đợi giờ chín muồi. Cái gì sẽ xảy ra? Không ai biết và cũng không ai có thể tưởng tượng đúng được những điều sẽ đến. Chỉ mơ hồ biết là đau khổ rồi sẽ chồng chất khổ đau.

Những dòng tin gọi là “công lý” được đưa ra từ báo chí Việt Nam, bỗng vang lên như tiếng cười tràn đầy nước mắt của những ai có lương tâm. 25 triệu đồng bồi thường cho bé gái bị câm do tra khảo. Một cuộc đời phía trước sẽ bị lãng quên với cái giá rẻ mạt như vậy. 4 dân quân thích hành hạ trẻ em bị đưa ra khỏi lực lượng tự vệ như một cách làm yên lòng dân. Công an đánh dân được đổi đi làm việc nơi khác để trấn an lương tâm xã hội, kẻ quyền chức làm sai được thuyên chuyển công tác, đôi khi là bí mật nhậm chức cao hơn... Nhân tâm Việt Nam bị thách thức, đạo lý và tri thức Việt Nam bị sỉ nhục trước thói quen coi thường nhân dân của một hệ thống quan quyền nghĩ mình có thể làm tất cả, thậm chí bóp méo lương tri, sự thật... của dân tộc mình. Ai sẽ trả lại cho niềm tin xã hội đã bị tước đoạt? Ai sẽ đem lại một đời sống trong lành và công bằng giữa một thế giới nhiều ngụy biện và ác độc của loài ma sói?

Bọng cây không trả lời tôi.

Tất cả những câu hỏi của tôi cũng như những lời kêu gào đòi lại nhân ái và công bằng bên ngoài kia cuộc đời cũng rơi vào bọng cây, im lặng và vô vọng.

Tôi không thích tên của đất nước mình nằm trên bảng đồ thăng tiến rực rỡ khi bên trong đó, ngày ngày những bản biến tấu của uất hận và nước mắt cứ vang lên. Tôi không mong tên đất nước mình đứng nhất nhì thế giới về xuất khẩu gạo nhưng Mùa Xuân đến vẫn có hàng triệu người dân tôi đói thấp thỏm. Tôi cũng không mong quốc gia mình có quân lực nhất nhì Châu Á để thừa thãi súng để kê vào miệng thanh niên nhưng im lặng nhìn khi kẻ thù phía Bắc bức hiếp dân mình trên biển.

Những thằng trí thức - như tôi - chỉ là đồ tồi.

Ví chúng chỉ có chữ nghĩa và sự bất lực đồng hành, viết lên mấy câu và làm một điều gì đó chẳng đáng gì với thế giới sống của nó.

Tôi mượn bọng cây để phỉ nhổ vào mặt mình, và xin lỗi bọng cây vì tôi đã lợi dụng nó. Tôi tệ đến mức chẳng còn biết lợi dụng ai, ngoài cái bọng cây.

Bọng cây biết cách im lặng, cho qua mọi thứ tôi đã đọc vào. Nhưng tôi tệ hơn một cái bọng cây, vẫn ôm những thứ đó, thậm chí biết rằng mình mang theo những nỗi buồn, đến chết cũng không thể nào quên được.

Nguồn: Blog nhạc sĩ Tuấn Khanh

Nguyễn_Sydney
Posts: 2581
Joined: Mon Dec 06, 2004 5:03 am
Been thanked: 1 time

Post by Nguyễn_Sydney »

khieulong wrote:Diễn văn đọc vào bọng cây


Nhạc sĩ Tuấn Khanh
Rồi mai đây, chúng ta sẽ làm một tấm bia tưởng niệm cho lòng nhân ái của con người, lòng kính trọng cho nền giáo dục. Tấm bia có thể sẽ được dựng ở quảng trường thành phố, khắc ghi với dòng chữ “ở đất nước này, nơi đây, đã từng có một giai đoạn, con người đối xử với nhau như dã thú. Công an đã nhét súng vào họng thường dân để tra khảo. Thầy cô đã giao học trò mình cho những người có vũ trang đánh đập. Người cùng màu da đã nhục hình trẻ con 10 năm. Thế hệ trẻ đã hận thù nhà trường, căm hận xã hội và cười chê, phỉ nhổ vào nền đạo đức giáo khoa... và tất cả những điều đó, điều đã bị lãng quên trong sự vô và cố tình của của nhiều tầng lớp con người, kể cả quan chức có trách nhiệm”.

Khi nào chúng ta có thể lập tấm bia đó? Ở thời điểm nào mà chúng ta có thể tự cam đoan với nhau rằng những điều thương tâm đó chỉ còn là quá khứ? Khi nào chính quyền có thể mạnh mẽ lên tiếng rằng xã hội đã thật sự có bình an. Và khi nào pháp luật sẽ nghiêm minh và quyền con người đã đủ để công an không còn tụ họp nhau đánh thường dân, không còn vô cớ tát tai người đi đường, dân quân không lấy nhục hình ở trẻ em làm niềm vui cho mình?

Những điều dị thường đó, xảy ra hàng ngày, khiến những giọt nước mắt khóc thương cho bé trai 13 tuổi tự tử vì danh dự 47,000 đồng đã rơi ít đi, niềm vui cho bé gái bị nhà trường tra khảo đến phát điên vì 47,800 đồng oan, nay đã nói lại được cũng lặng lẽ hơn. Xã hội đã chai lì, con người đã làm quen với những điều bất khả mà nay quá thường nhật: như con thú ăn cỏ sau khi làm quen uống máu đồng loại đã biến thái vô luân.

Thật độc đáo, như một gánh xiếc thương tâm. Mỗi ngày trên đất nước Việt Nam, chúng ta lại có thêm một câu chuyện quái gở và phi nhân, thường nhật như mỗi sáng ta phải ăn sáng trong máu và gặm rỉa những điều nhức nhối của dân tộc mình như loài quái điểu. Không ai nói, và cũng không ai biết vì sao những điều điên loạn đó không ngừng lại. Một xã hội tự hào với 4,000 năm Văn Hiến đột nhiên lại vật vã thiếu văn minh nhưng thừa thãi các quan chức tập thắt cà-vạt kiểu Anh và tập bước xuống đúng thế từ những chiếc xe hơi bóng lộn.

Chúng ta sẽ làm sao? Hay chúng ta rồi sẽ ra sao?

Sự phẫn nộ là đám mây đen đang che phủ. Các nhà lãnh đạo có thể kiêu ngạo và chỉ nhìn thấy sự im lặng của dân chúng trước những điều xảy ra, nhưng với đám đông, ai đứng trong đó cũng cảm nhận thấy rằng đó là sự bùng nổ đang đợi giờ chín muồi. Cái gì sẽ xảy ra? Không ai biết và cũng không ai có thể tưởng tượng đúng được những điều sẽ đến. Chỉ mơ hồ biết là đau khổ rồi sẽ chồng chất khổ đau.

Những dòng tin gọi là “công lý” được đưa ra từ báo chí Việt Nam, bỗng vang lên như tiếng cười tràn đầy nước mắt của những ai có lương tâm. 25 triệu đồng bồi thường cho bé gái bị câm do tra khảo. Một cuộc đời phía trước sẽ bị lãng quên với cái giá rẻ mạt như vậy. 4 dân quân thích hành hạ trẻ em bị đưa ra khỏi lực lượng tự vệ như một cách làm yên lòng dân. Công an đánh dân được đổi đi làm việc nơi khác để trấn an lương tâm xã hội, kẻ quyền chức làm sai được thuyên chuyển công tác, đôi khi là bí mật nhậm chức cao hơn... Nhân tâm Việt Nam bị thách thức, đạo lý và tri thức Việt Nam bị sỉ nhục trước thói quen coi thường nhân dân của một hệ thống quan quyền nghĩ mình có thể làm tất cả, thậm chí bóp méo lương tri, sự thật... của dân tộc mình. Ai sẽ trả lại cho niềm tin xã hội đã bị tước đoạt? Ai sẽ đem lại một đời sống trong lành và công bằng giữa một thế giới nhiều ngụy biện và ác độc của loài ma sói?

Bọng cây không trả lời tôi.

Tất cả những câu hỏi của tôi cũng như những lời kêu gào đòi lại nhân ái và công bằng bên ngoài kia cuộc đời cũng rơi vào bọng cây, im lặng và vô vọng.

Tôi không thích tên của đất nước mình nằm trên bảng đồ thăng tiến rực rỡ khi bên trong đó, ngày ngày những bản biến tấu của uất hận và nước mắt cứ vang lên. Tôi không mong tên đất nước mình đứng nhất nhì thế giới về xuất khẩu gạo nhưng Mùa Xuân đến vẫn có hàng triệu người dân tôi đói thấp thỏm. Tôi cũng không mong quốc gia mình có quân lực nhất nhì Châu Á để thừa thãi súng để kê vào miệng thanh niên nhưng im lặng nhìn khi kẻ thù phía Bắc bức hiếp dân mình trên biển.

Những thằng trí thức - như tôi - chỉ là đồ tồi.

Ví chúng chỉ có chữ nghĩa và sự bất lực đồng hành, viết lên mấy câu và làm một điều gì đó chẳng đáng gì với thế giới sống của nó.

Tôi mượn bọng cây để phỉ nhổ vào mặt mình, và xin lỗi bọng cây vì tôi đã lợi dụng nó. Tôi tệ đến mức chẳng còn biết lợi dụng ai, ngoài cái bọng cây.

Bọng cây biết cách im lặng, cho qua mọi thứ tôi đã đọc vào. Nhưng tôi tệ hơn một cái bọng cây, vẫn ôm những thứ đó, thậm chí biết rằng mình mang theo những nỗi buồn, đến chết cũng không thể nào quên được.

Nguồn: Blog nhạc sĩ Tuấn Khanh

Người viết bài này là Nhạc sĩ Tuấn Khanh ở VN tác giả nhạc " Trả nợ tình xa " chứ không phải nhạc sĩ Tuấn Khanh tác giả nhạc phẩm " Chiếc lá cuối cùng "

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

ĐẠI HÁN, ĐẠI GIAN
(Nhân vụ Trung Cộng sát nhập Tam Sa thành một huyện, trực thuộc tỉnh Hải Nam tháng 12-2007)

HUY PHƯƠNG
Thời Xuân Thu bên Tàu, nước Việt bị nước Ngô đánh bại, vua nước Việt là Câu Tiễn bị vua nước Ngô là Ngô Phù Sai bắt làm tù binh, dẫn về Ngô, nhận đủ mọi sự nhục nhã. Trong thời gian này Câu Tiễn nằm gai nếm mật không quên ý chí trả thù, chịu nhục để lấy lòng vua Ngô, nếm phân để chẩn bệnh khi vua Ngô lâm trọng bệnh. Sau ba năm “cải tạo”, Câu Tiễn được phóng thích cho về nước. Ông cùng với Phạm Lãi nuôi ý chí trả thù, dùng mỹ nhân kế dâng Tây Thi cho Ngô Phù Sai, giả vờ kêu mất mùa mượn thóc lúa của nước Ngô.

Năm sau, Phạm Lãi cho lệnh chọn mua thóc tốt để hoàn trả cho nước Ngô, nhưng trước khi trả, ngầm đem luộc tất cả mấy trăm nghìn hộc thóc này. Vua Ngô trúng kế, thấy thóc quá tốt đem cất vào kho. Năm ấy, lại chịu cảnh mất mùa, Ngô ra lệnh cho đem thóc tốt của nước Việt trả ra gieo. Kết quả là nước Ngô bị đói thê thảm, quân lính cũng như dân không có gạo mà ăn, trong khi Ngô Phù Sai đắm mê tửu sắc, nhờ đó, Câu Tiễn nước Việt, trả được mối thù xưa, đã đánh bại nước Ngô.

Tất cả công lao này đều do Phạm Lãi, một mưu sĩ lừng danh lập kế cứu nước Việt. Vào thời Tề - Sở phân tranh thì có Tướng quốc Quản Trọng dùng mưu mà đánh bại nước Sở.

Nguyên Tề Hoàn Công xưng bá Trung Nguyên, muốn chinh phục nước Sở. Quản Trọng hiến kế giúp vua Tề, sang Sở đi đâu cũng loan tin vua Tề rất quí hươu, đắt bao nhiêu cũng mua. Vua quan nước Sở lấy làm mừng vì cách đó mười năm, Vệ Ý Công vì yêu quý hạc cảnh mà mất nước, nay Tề Hoàn Công mê hươu tất phải đi theo vết xe đổ. Thương nhân nước Sở thấy lợi, nô nức đi buôn hươu, giá hươu từ ba đồng lên đến năm đồng một con, vài tháng sau lên đến bốn mươi đồng. Người nước Sở thấy giá hươu tương đương với nghìn cân thóc, vứt bỏ nông cụ, vào sâu trong rừng săn hươu.

Binh lính, sĩ quan nước Sở cũng bỏ huấn luyện, lén đổi vũ khí lấy dụng cụ để tìm săn hươu đem bán cho Tề. Năm ấy, Sở mất mùa nhưng tiền chất như núi. Quản Trọng phát lệnh cấm các nước chư hầu bán lương thực cho Sở. Quân dân nước Sở thiếu lương thực, người ngựa không còn đủ sức chiến đấu. Thấy thời cơ đã đến, Quản Trọng bèn cất quân đánh Sở. Đương nhiên Sở phải thua.

Xem chuyện Tàu, thấy Tàu có rất nhiều mưu sĩ, có mưu thâm độc, nhiều khi không tốn một mũi tên mà phá được thành, thôn tính được cả một nước. Trong lịch sử, ngay cả sau khi thắng Tàu, Việt Nam cũng phải cầu hòa, thần phục để giữ yên bờ cõi.

Ngày nay, Việt Nam sống sát nách anh Tàu, một anh đàn anh dân đông, nước lớn, mưu kế thâm sâu, độc địa không bao giờ muốn cho em út ngẩng đầu lên hay tiến nhanh bằng mình và tìm mọi cách để chèn ép. Khi em út yếu thế, có thể đem quân cụ, lương thực và kể cả quan binh giúp đỡ, nhưng khi thấy đàn em xấc láo, trở mặt không ngần ngại mà cho nó một bài học như vụ CSVN tiến quân qua Kampuchia đánh Khờ Me đỏ. Sống với một anh Đại Hán, mưu sâu, gian ác, hiểm độc, theo như truyền thống của nước Tàu, Việt Nam vừa run mà vừa sợ, chưa bao giờ dám mạnh miệng lếu láo hoặc khoa trương thế lực. Nông Đức Mạnh ngày nay muốn chơi với Mỹ, nhưng vẫn lấm lét sợ anh Tàu một mực. Còn anh Tàu thì luôn luôn tìm cách “chơi” em út sát ván, không chơi chuyện lớn được thì chơi chuyện nhỏ, rất tiểu nhân, không bao giờ có trò quân tử, nếu có thì nhân gian ta đã không gọi là “quân tử Tàu”.

Trước hiệp định Genève và cả “đêm trước” trận Điện Biên Phủ, cố vấn, quân cụ, hàng hóa, thuốc men và cả hàng hóa tiêu dùng của Tàu đã đổ vào miền Bắc ồ ạt. Chuyên viên, công nhân, thương gia Tàu vào thời đó đã vào miền Bắc lên tới cả trăm nghìn người, vẫn được CSVN hô hào là độc lập tự do, trên đất nước không có bóng người ngoại bang. Rồi văn hóa, chữ nghĩa “các chú” tràn ngập, người Việt lệ thuộc vào Tàu một cách quái đản, như ngày nay còn rơi rớt lại với những danh từ trong thời đó, “rèn cán chỉnh cơ”, “tọa đàm”, “tự kiểm”, “phản tỉnh”, “nhất trí”, ”nghiêm túc”...

Đau đớn nhất cho dân tộc Việt Nam là vụ đấu tố địa chủ do cố vấn Tàu chủ trương, phát động, chỉ đạo, theo dõi, kiểm tra đã giết chết hàng nghìn nông dân vô tội, trong khi hoàn cảnh của miền Bắc Việt Nam hoàn toàn khác xa với Tàu Cộng. Ngay Hồ Chí Minh cũng biết sai lầm mà không dám hé răng vì tình hình Bắc Việt lúc bấy giờ đã hoàn toàn lệ thuộc phương Bắc từ miếng cơm, manh áo đến súng đạn. Tàu Cộng với CSBV tuy gọi là huynh đệ nhưng vẫn “chơi cha”, ngay cả khi chiếm được miền Bắc, Bộ Chính Trị CS vẫn sang chầu Thiên Quốc mỗi năm, nhưng chẳng có ông lớn nào của Trung Quốc bước chân qua thăm đàn em.

Ở Kampuchia, thời CSVN, chiếm đóng, cố vấn mưu sĩ Tàu lại chơi đòn ly gián cho “ta” và “bạn” giết nhau, để Hà Nội thịt rất nhiều người của Hunsen cho bõ ghét. Sau vụ này, Lê Đức Anh sang chầu, chỉ được tiếp kiến ở một tỉnh nhỏ mà không cho tới Bắc Kinh, làm cho đàn em bỉ mặt để trả thù ...

Noi gương thời Xuân Thu, theo gương gian ác của ông cha trong vụ mua hươu và luộc lúa, mấy năm gần đây CSVN đã thôn tính miền Nam, Tàu Cộng cũng làm cho đàn em thất điên bát đảo, mắc mưu và chịu nhiều đòn khá đau.

Trận chiến “ốc bưu vàng” là một thí dụ. Tàu tung tin ốc bưu vàng là thứ ốc quí, chẳng những nhậu ngon mà còn bổ dưỡng, nếu biết kinh doanh nuôi loại ốc này thì chẳng mấy chốc mà giàu có. Lẽ cố nhiên Tàu cũng chuồi qua đường biên giới loại ốc quí này cho nhân dân anh em làm vốn.

Cách đây khoảng mười năm quả nhiên ốc vàng sản xuất có lời, nhiều người trở nên giàu to và loại ốc này sinh sản quá nhanh, chẳng mấy chốc mà tràn lan khắp ruộng đồng, nhậu không làm sao hết, nhưng chính ốc vàng lại có khả năng “nhậu” lúa, làm tan hoang mùa màng. Những người có trách nhiệm về nông nghiệp không có đầu óc nhìn xa thấy rộng, bị đàn anh lừa mà không biết.

Thấy đàn em còn khả năng xuất cảng gạo lúa (mặc dầu dân đang còn thiếu gạo ăn), nghe đâu đứng hạng nhì, hạng ba thế giới, Tàu Cộng mở chiến dịch ăn thịt mèo và thịt rắn nhập cảng từ Việt Nam qua với giá cao. Đây không phải là chiến dịch “mèo trắng, mèo đen mèo nào cũng là mèo” trong thời mở cửa thị trường của Đặng Tiểu Bình, mà là chiến dịch tiêu diệt mèo, diệt rắn để cho chuột lộng hành, phá hại mùa màng của Việt Nam.

Dân ta lại mắc mưu - kiểu bỏ tay cầy tay cấy đi bắt hươu thời Xuân Thu - đem mèo, đem rắn xuất cảng sang Trung Cộng để kiếm đồng tiền tốt, tưởng rằng các ông anh thích nhậu rắn, nhậu mèo, trong khi chuột lại hoành hành phá hại ruộng vườn của nông gia. Tàu Cộng một khi đã ra chiêu thì đàn em Việt Nam không làm sao đỡ nỗi, nói gì việc dùng mưu mà chọi lại.

Tàu Cộng trong mấy năm gần đây lại cho nhập cảng đủ loại hàng giả sang Việt Nam, từ các loại băng dĩa cho đến các thiết bị máy móc, hàng hóa tiêu dùng rẻ và tốt hơn hàng Việt Nam làm cho nền công nghiệp VN đi xuống thê thảm.

Ở Việt Nam hiện nay mưa acid mỗi ngày một nhiều và nồng độ acid mỗi ngày một cao hơn, đến độ có thể làm chết cá ở ao hồ. Bà Nguyễn Kim Lan, Trung Tâm Khí Tượng Phía Nam VN đã nói rằng hiện tượng này phần lớn là do khí thải của các nhà máy lân bang (lân bang này có ai khác hơn là ông anh vĩ đại thân yêu ngày trước), và Việt Nam trở thành cái hố rác chứa chất thải, khí độc của Tàu.

CSVN chưa bao giờ độc lập với đàn anh Trung Quốc, khi vui thì nói rằng thế đoàn kết keo sơn, núi liền núi, sông liền sông, thế gắn bó như răng với miệng, nhưng lúc khác cũng coi nhau như thù địch là chuyện thường tình. Các nhà ly khai trong nước đã tố cáo ngày 14-9-1958, Phạm Văn Đồng ký thảo ước dâng hai đảo Trường Sa và Hoàng Sa cho Trung Cộng, đến nay nước Việt bị đoạt ít nhất là 11 nghìn cây số vuông đất biên giới, hải đảo.

Tình “huynh đệ như thủ túc” trong xã hội CS không ngang bằng mà lúc nào đàn anh cũng nắm phần hơn. Đàn anh Tàu Cộng hiếp đáp CSVN ra sao, thì CSVN đối với đàn em Kampuchia cũng như thế, đòi sang giải phóng con người ta rồi ở lại luôn nhà người suốt mười năm, với vai trò trịch thượng.

Anh Tàu vốn “đa mưu túc kế” hay tìm mưu mô làm hại, hay làm nhục người ta nhưng vừa rồi cũng bị cao thủ Nhật Bản chơi lại một vố đau khôn tả. Đó là một nhóm người Nhật lên đến vài trăm người sắp xếp một chuyến du lịch sex với một công ty du lịch sang Trung Cộng, được cung cấp đầy đủ món hàng son phấn, mà cả chính quyền nước chủ nhà không hay biết gì cả, mồm vẫn bô bô là nước mình không có nạn mãi dâm. Trong khi Tàu chưa trả được mối nhục Nhật chiếm đóng và bắt gái Tàu phục vụ, thì con cháu thời nay của quân phiệt Nhật đã lanh chân trở lại làm nhục Tàu thêm lần nữa. Thôi thì “cao nhân tất hữu cao nhân trị”, quí vị Đại Hán tiên sinh chẳng đã nói như thế sao?

(trích “Đi Lấy Chồng Xa” tạp ghi của Huy Phương -2006)

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Lý Sự

Ninh Hạ
1.
Người quen kẻ biết, ai cũng thừa nhận Tư Vấn là một người tốt bụng. Nhưng ít ai chơi thân và gần gũi được với ông. Chỉ vì ông vừa mâu thuẫn, lại vừa cực đoan một chiều.

Ông tuyên bố và ông đã làm thật. Vợ chồng ông thà làm những nơi không có người Việt, dù lương tiền có thấp hơn, dù công việc có vất vả hơn. Không biết căn cứ vào đâu, ông nói. Khác với người Tàu, người Ấn, người Phi, người mình đã không giúp đỡ nhau thì thôi, lại còn kèn cựa, chèn ép, khó khăn ích kỷ, thượng đội hạ đạp.

Về nơi ở. Ông tìm nơi xa cộng đồng. Ông cằn nhằn, càng đông càng xô bồ, lắm chuyện. Ở xa thì thôi, ghé về khu người mình thì nghe đủ mọi thứ chuyện, không lợi cho thằng tây đen nào mà chỉ thấy bực mình.

Thế nhưng. Bất kể Xuân Hạ đẹp trời hay Thu Ðông lạnh tuyết, chiều chiều đi làm về ông phải lái xe vòng qua khu chợ Việt Nam. Nhìn qua nhìn lại hàng quán cửa tiệm bên đường, những bảng hiệu chữ vàng chữ đỏ luộm thuộm. Nhìn những người nhàn du tản bộ hay kẻ vội vàng mua sắm.

Chúa nhật hay Thứ bảy thì chắc chắn không thể nào vắng được. Ðưa vợ con đi chợ, ông tấp vào một quán cà phê. Chọn một chỗ ngồi cạnh khung cửa kính, nhìn mông lung ra đường, hoặc nhìn người qua kẻ lại. Trong khói thuốc mơ màng, tựa như ông đang ngồi ở nhà hàng Kim Sơn, Thanh Thế... của Saigon xa xưa.

Mở miệng ra là ông chê người Việt mình đủ thứ. Cứ như ông là dân Tây dân Tàu. Nhưng bất cứ ai, người lạ hay quen, bạn bè hay cả con cháu trong nhà, hễ ai có lời nào đụng chạm đến đồng bào đất nước ruột thịt của ông, cứ như không phải của ai khác được, là... bỏ mạng. Bất cần có lý hay không. Nói đùa chơi hay nói thật. Ông đùng đùng nổi máu lôi đình bênh cho bằng được. Không nể nang hay sợ mất lòng mất bề gì cả. Giống như mấy đấng cha mẹ, con mình hư thân mất nết rõ ràng, nhưng chỉ mình mới được mắng nhiếc xỉ vả. Cô chú dì bác có ai mở mìệng chê là sinh chuyện ngay.

2.
Qua Mỹ đã lâu, ông ít chơi thân với ai. Hay nói cho đúng hơn, không ai dám chơi thân với ông. Ông thề không về Việt Nam và chửi ráo ai về đó.

Nhân ngày giỗ mẹ, vợ chồng ông mời mấy cặp vợ chồng đến ăn uống.

Những người này. Có người là đồng hương cùng làng cùng xóm thường chia sẻ cho nhau những kỷ niệm quanh lũy tre xanh và cây đa đầu làng. Có người là bạn cùng học chung trường chung lớp, thỉnh thoảng vui thú nhắc lại những buổi cùng nhau trốn học đi đánh bậy ở trường bên hay đi tán gái. Có người là bạn đồng ngũ, từng vào sinh ra tử hay từng chia nhau những chén rượu nồng trong những bữa nhậu tưng bừng bạt mạng đời lính... Tất cả đều là bạn bè của một Tư Vấn một thời rất dễ thương và chịu chơi, trước khi bị hội chứng tị nạn tẩu hỏa nhập ma.

Sau mấy lon bia, anh bạn thân cùng học trường tây, nói rằng:

“Phở Cali bây giờ ngon hơn phở Pasteur Saigon thuở trước rất nhiều.”

Thế là Tư Vấn nổi chứng bất tử, mắng xối xả:

“Ðồ lai căng mất gốc. Phở hay bất cứ thức ăn Việt Nam nào ở Mỹ không thể nào ngon bằng, chứ đừng nói ngon hơn, ở quê nhà. Bên mình ăn gì cũng ngon. Từ đĩa cơm tấm, gói xôi, tô bún riêu... đầu hẻm; cho đến tô phở Hiền Vương, Công lý, hủ tiếu Thanh Xuân, chả giò Thanh Bạch, bún suông Thanh Thế... cái gì cũng tuyệt vời.”

Ông vừa nói vừa nuốt nước miếng ừng ực, thèm thuồng thật sự.

Ông bạn tức quá không kềm được cãi rằng:

“Mấy tay nấu phở trứ danh ở Saigon thuở trước thì nay đã qua Mỹ tiếp tục nấu phở. Ở đây, thịt bò xương bò đầy đủ chẳng cần bột ngọt bột nêm; đồ màu gia vị nước mắm hảo hạng, rau húng rau quế rau mùi, giá sống ớt xanh ớt đỏ... không thiếu thứ gì, tô phở tất phải ngon hơn chứ!”

Nói gì thì nói, Tư Vấn không chấp nhận.

Giận quá ông đứng dậy hét lớn:

“Mày nói cái gì cũng có, nhưng cái không có được là... là... là mùi quê hương”.

Tức quá làm ông nói cà lăm. Còn mùi quê hương là mùi gì thì... bố ai mà biết được !

Thế là đám tiệc thành ra đám cãi lộn. Mọi người đứng dậy rút lui. Vợ Tư Vấn níu kéo không được, theo khách ra tận cầu thang năn nỉ phân trần xin lỗi. Hai ông bạn thân giận nhau đến hai năm. Rồi thì cũng xí xóa bỏ qua vui vẻ cả làng. Nghĩ cho cùng cũng tội nghiệp cho ông. Ông biết lỗi mình nhưng không sửa được. Muốn chữa ông lành bệnh thì cũng không khó, chỉ cần... trục xuất ông về Việt Nam !

3.
Năm nay lại đúng ngày giỗ mẹ.

Cũng từng ấy cặp vợ chồng được mời. Bữa tiệc vui vẻ.

Thức ăn ngon, rượu ngon, trời đẹp, nhà đẹp. Khách, chủ biết ý và giữ ý. Rượu uống tùy sức không ai ép ai. “Bi nhiêu thì bi”. Không có cái cảnh... “Chăm phần chăm.” Dô!... Rồi ra !!!. Hay“Rượu bất khả ép. Ép bất khả từ!”. Không từ rượu ép thì từ vợ bỏ con. Từ bỏ cuộc đời, vì... đụng xe. Xe ở Mỹ chạy vù vù, uống cà phê đậm ngắt, mắt sáng đầu óc tỉnh táo mà còn đụng như điên, huống hồ nửa say nửa tỉnh. Bây giờ mới đúng câu “Một giọt rượu một giọt máu”, như phe ta thường lý sự.

Rượu vào thì lời ra.

Chân lý này bên ta, bên Tàu hay bên Mỹ đều đúng. Dân nhậu mà ngồi với nhau thì có trăm thứ chuyện để nói. Thiếu gì người để móc ra chửi, chán gì chuyện để moi ra chê. Thời giờ qua nhanh như chớp. Vợ chờ chồng ở nhà thắc mắc không thể hiểu được. “Ông có đi đâu nữa khai ra! Nhậu gì mà từ ba giờ chiều đến một hai giờ khuya?” Ðem vợ đi theo cho vui vẻ cả nhà. Mấy bà ngồi nghe các đấng con trời đấu láo trên trời dưới đất phát mệt. Nháy mắt, khều tay níu kéo đòi về. Nhậu cũng mất hứng!

Một ông bạn đồng hương nãy giờ im thin thít bỗng phọt miệng lên tiếng:

“Tại sao người Việt mình cái gì cũng chia rẽ. Nếu có một hội đoàn thì thế nào cũng đẻ ra hai. Mấy người cũng lập ra một hội, nhưng không lâu chắc chắn sẽ chẻ làm đôi. Chia ra không phải để phân công, phối hợp nhau mà làm. Trước lo cho đồng hương ở đây, bao chuyện khó khăn, tiếng Mỹ tiếng mẽo không rành, luật pháp chằng chịt như thiên la địa võng. Xa hơn, góp tay cho đồng bào trong nước hạ bệ một oan nghiệt lịch sử dành lấy tự do dân chủ. Họ chia ra để mà chống nhau, chửi nhau. Không chịu tìm ra cái chung để thương nhau gần nhau. Vạch lá tìm sâu, cố moi cho bằng được cái khác để chống nhau, để xa nhau. Như mặt trăng mặt trời. Có đằng ấy thì không có đằng này. Không thể ngồi chung cùng mâm, cùng chiếu được!”

Một bà ngứa miệng chọt một câu:

“Mặt trăng mặt trời có khi vẫn gặp nhau chứ.”

Ông kia phản pháo:

“Ðúng! đúng! Có khi mặt trăng mặt trời gặp nhau. Ðó là khi nhật thực, mặt trời đớp mặt trăng; hay là khi nguyệt thực, mặt trăng xơi tái mặt trời; hay là khi toàn thực, trăng trời cắn nhau tưng bừng loạn xạ, đến nỗi thế gian tối mịt. Mặt nào mặt nấy đen thùi lùi !”

Ông nói thêm:

“Cộng đồng thì đâu có đông đúc gì cho lắm. Ngày tết, ngày Trung thu, ngày Quốc hận, ngày Quốc tổ... đủ thứ ngày để kỷ niệm, để tưởng nhớ. Nhưng lại không muốn nhớ muốn kỷ niệm cùng một lúc, mà phải chia làm hai mới được. Có khi cùng ngày, cùng giờ, địa điểm chỉ cách nhau mấy bước. Tại sao không gom lại làm một, thay phiên nhau mà làm. Cậu làm thì tớ ủng hộ, tớ làm thì cậu góp một tay. Trước là để vong hồn tổ tiên, chiến sĩ, đồng bào tử nạn khỏi đau lòng; để cựu lính gặp nhau mừng rỡ, tù cũ thấy mặt vui vẻ hân hoan. Sau là để tránh làm trò cười cho đám trẻ. Thực tế hơn là tránh cho bà con khỏi bận lòng. Bỏ thương vương... bực mình, không biết đi bên nào. Chi bằng ở nhà là thượng sách. Những người có lòng, có tâm huyết gắn bó, càng ngày càng chán nản tránh xa. Nghe tới sinh hoạt cộng đồng là rùng mình ớn lạnh.”

Bởi vì ông bạn này chỉ nêu thắc mắc, lời nói lại nhỏ nhẹ lịch sự, nói với tất cả tấm lòng của mình không cay cú bênh ai bỏ ai, nên Tư Vấn không có lý do để nổi nóng. Nhưng cứ động đến người Việt nắm ruột của ông là ông bênh.

Ông lên giọng:

“Nếu bảo các tổ chức hội đoàn người Việt chia hai là chia rẽ thì thật là nông cạn, không biết gì hết trọi. Chỉ nhìn vào hiện tượng mà không thấy rõ bản chất. (Câu này ông học được trong trại cải tạo). Tôi rất lạc quan và tự hào về người Việt hải ngoại chúng ta. Chúng ta là những người dẫu xa quê hương vẫn luôn nhớ nguồn gốc và luôn làm theo truyền thống tổ tiên.”

Mọi người há mồm, chẳng hiểu ông ấy muốn nói gì. Không ăn nhập đâu vào đâu cả.

Tư Vấn biết, cười nhẹ rồi nói tiếp:

“Có phải tổ tiên ta Lạc Long Quân và Âu Cơ đẻ ra trăm trứng, nở trăm con không nào? Hai ông bà chia hai chẵn chòi mỗi bên năm chục.”

Ông đằn hắn lấy giọng:

“Sâu sắc ở chỗ không phải là năm mươi, gồm hai lăm trai hai lăm gái. Mà, phe ông thì rặt con trai, phe bà thì rặt con gái. Bên âm bên dương khác biệt như đêm và ngày, như mặt trăng mặt trời. Gái theo mẹ lên núi, trai theo cha xuống biển. Cách xa nhau mịt mù.

Mới đây mấy thằng cộng sản mất dạy nó đổi ngược. Ðày mấy ông lên núi... cải tạo, đẩy mấy bà xuống biển... vượt biên. Riêng cái tội làm ngược ý tổ tiên này không thôi cũng đủ cho Việt công tiêu tùng.”

Không có ai dám lên tiếng để hỏi Tư Vấn.

“Nếu là trai rặt, gái rặt thì ai sinh ra ông bà cố tổ cao tằng để giờ đây ông đứng đó lên lớp và bạn bè ông ngồi nhậu ở đây???”

Ông say sưa lên bổng xuống trầm như đọc Quốc văn Giáo khoa thư:

“Bởi theo truyền thống huyền thoại đó, lịch sử ta lấy chia hai làm gốc. Có vua Lê tất có chúa Trịnh. Có chúa Nguyễn phải có Tây Sơn. Có quốc gia thì có cộng sản... Sông Gianh, sông Bến Hải chặt hai đất nước. Tôn giáo chia hai, Phật giáo Ấn Quang, Việt Nam Quốc Tự. Ðảng phái chia hai. Ðoàn thể chia hai. Người Việt cũng chia hai, người Việt trong nước người Việt hải ngoại. Chia hai, chia hai, chia hai... Người Việt chúng ta ở hải ngoại, mất nước xa quê hương, cái gì cũng chia hai là để gìn giữ cái truyền thống của ông cha chúng ta vậy!”

“Trời ơi là trời!”

Một ông không nén được, đứng phắt dậy, la lên:

“Mấy lần toàn dân một lòng đánh đuổi ngoại xâm giữ nước. Mấy triều đại Lê Lý Trần... Vua dân trên dưới một lòng dựng nước thì sao?”

Tư Vấn phát một câu xanh rờn:

“Lúc đó không cùng nhau đánh thì.. bỏ mẹ, chết cả đám. Nhưng khi nguy biến qua rồi, nhất là khi có tí danh tí lợi, thì tức khắc trở lại truyền thống... chia hai. Triều đình chia làm hai. Phủ bộ cũng chia hai.”

Mọi người tưởng ông ta nói đùa xả óa cho qua chuyện, nhưng thấy mặt ông rất nghiêm trang trịnh trọng, vả lại ông không hay biết nói đùa.

Ông thủng thỉnh nói tiếp:

“Rành rành trước mắt đó. Cộng sản hô hào, đoàn kết đoàn kết đại đoàn kết đánh Mỹ. Giờ cắn xé nhau và quay về truyền thống chia hai, phe đổi mới, phe níu cũ. Gần đây nhất, còn nóng hổi là Giáo Hội Phật Giáo Hải Ngoại và Hải... Nội. Gà nhà bôi mặt chặt nhau!”

Ông xuống giọng, thầm thì như chỉ nói với riêng mình:

“Phước lớn cho nòi giống. Giá thử đẻ ra một trăm lẻ một vị là... xong om! Có một vị sẽ bị cân đo đong đếm chặt đôi. Rồi thì ông, bà? Ai chịu phần đầu. Ai lấy phần đuôi? Và giờ đây con cháu theo truyền thống đó, không phải chia hai, mà đè cổ nhau ra chặt làm đôi thì... Hú vía!”

4.
Một bà xưa nay chẳng dây dưa gì đến cộng đồng. Bà cấm luôn không cho chồng dính dáng đến hội này đoàn nọ. Lý luận của bà đơn giản và thực tế. Bà nói. Làm cho lắm vào, mười chuyện mà chín chuyện làm tốt chỉ một chuyện không vừa lòng là người ta vin vào đó mà chửi. Người xưa có câu “Giao du nhiều thì dễ mang tiếng thị phi”. Tội đếch gì mang cái bực vào thân. Ở nhà lo vợ lo con là chắc ăn, chẳng ai đụng đến mình.

Bà ít nói, ít khi chen vào chuyện của ai sợ mang vạ. Nay nghe Tư Vấn lý sự cùn, kềm không được vọt miệng:

“Thế nhiều tổ chức không dừng ở hai mà còn chia bốn, chia tám theo cấp số nhân, thì sao? Có một trăm cách chống cộng, nên có hàng trăm hội đoàn chống cộng và chống các người khác không chống cộng như mình. Phần sau xem chừng quan trọng hơn phần trước! Ðiều này đã khó hiểu. Trường hợp các nhà khoa học trí thức khoa bảng, chuyên gia kỹ thuật hàng đầu, họ cùng hiểu chung Cl là cờlo, ốcxy là O, nitơ là N. Cùng dùng chung hệ thống đo lường, kilôgam, mét... Số lượng họ không nhiều mà cũng có đến năm, sáu hội. Thế thế họ theo truyền thống nào hở ông?”

Tư Vấn không hề lúng túng, nghĩa là nắm rất vững lập trường và vấn đề.

Ông dắn từng chữ:

“Lai... Tàu! Lai... Tàu! Lai Tàu!”

“Cái gì?”

Mọi người đồng hét lên.

Tư Vấn cười tươi:

“Tôi nói những người này lai Tàu.”

Thấy bạn bè của mình tối tăm chậm hiểu, ông hét lớn:

“Họ bị nhiễm nặng dịch lý Trung Hoa... Thái cực sinh Lưỡng nghi. Lưỡng nghi sinh tứ tượng. Tứ tượng sinh bát quái. Bát quái sinh???”

Ninh Hạ

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

CÂU CHUYỆN GIÁNG SINH
HUY PHƯƠNG
Buổi tối trước đêm Giáng Sinh, cũng như mọi năm gần đây, cả gia đình con cháu một ông già H.O. họ Phan tụ tập sum họp nơi căn nhà nhỏ của ông tại thành phố Westminster. Sau bữa ăn tối thịnh soạn, già trẻ, lớn bé quây quần lại xung quanh cây Giáng Sinh để mở quà. Những hộp quà lớn nhỏ, bọc giấy màu sặc sỡ với những chiếc nơ xinh xắn được vội vã xé ra, bày ra những món quà tặng. Bọn trẻ reo cười trong khi người lớn vui vẻ trong không khí vui tươi, đầm ấm của một ngày lễ thiêng liêng.

Khi món quà cuối cùng của đứa cháu lớn nhất được mở ra, ông Phan đem ra một chiếc hộp nhỏ, kiểu những chiếc hộp người ta thường bưng đi để quyên tiền vào những dịp cứu trợ lụt bão, người cùi ngoài phố. Ông kêu gọi bầy con cháu khoảng trên hai mươi người im lặng chú ý vì ông sắp nói chuyện. Tôn trọng lời cha, mấy người con ra dấu bảo đàn con yên lặng và nhìn về phía ông nội ông ngoại. Ông hỏi đứa cháu ngoại năm nay đã vào Middle School:

- Cháu là người gì?

- Cháu là người Việt Nam.

- Sao cháu lại có mặt ở Mỹ?

- Cháu không biết nhưng cháu biết mẹ cháu đi theo ông ngoại qua Mỹ, và cháu sinh ra tại Mỹ này.

Ông già H.O. quay sang hỏi mẹ thằng nhỏ, năm nay khoảng bốn mươi tuổi:

- Còn con.

- Đương nhiên là con đi theo Ba qua Mỹ theo diện H.O. rồi.

- Trước khi được đi Mỹ con làm nghề gì ở Việt Nam?

Đứa con gái không biết ông già sắp làm cái gì cắc cớ đây, nhưng nó cũng nói, có vẻ ngượng nghịu với mấy đứa em và mấy đứa cháu vây quanh.

- Thì Ba cũng biết rồi, con phải bán rau muống ngoài chợ Vĩnh Long.

Hai thằng em nhìn nhau, nó không muốn khai trước mặt vợ chúng nó là một đứa ngoài giờ học phải đi hốt mạt cưa ở hãng cưa gần bến bắc về nấu cơm, đứa kia lớn hơn thì phụ giữ xe đạp cho người ta ở rạp hát trước khi theo ông già leo lên máy bay sang Mỹ, bây giờ một thằng là kỹ sư, một thằng ra accouting mở văn phòng khai thuế.

Ông già Phan nói tiếp trong khi bọn trẻ bắt đầu ồn ào vì không hiểu ông nội, ông ngoại nói gì có vẻ khó hiểu đối với tuổi chúng:

- Tụi con hay nói là rất cám ơn nước Mỹ, có đứa rành hơn lại nói là mang ơn bà Khúc Minh Thơ đã vận động cho những người như ông già này được đi định cư ở Mỹ. Nhưng cám ơn, mang ơn rồi không làm gì cả. Đây là cái thùng, Ba cần các con bỏ vào đây tùy lòng một số tiền nhỏ để mình có thể giúp cho một hai người thương phế binh ở bên nhà.

Tụi nhỏ chưa quen với công việc này, nhưng chúng cũng góp nhau cho vào thùng một ít tiền lẻ. Người lớn có mười, hai chục đồng, lũ cháu bỏ vào đó một vài tờ bạc $1.00. Cô con dâu phụ trách việc khui thùng và đếm tiền, được $193.00. Ông Phan móc túi bỏ vào cho đủ $200.00.

Chỉ trong mấy phút ông đã kiếm đượcc $200.00 để giúp cho hai người bạn thương phế binh. Ngày mai ông sẽ đi gặp bà Hạnh Nhơn ở Hội HO Cứu TRợ TPB- QP.VNCH để xin hai hồ sơ, địa phương nào hay thương tật ra sao là tùy ông lựa chọn. Ông sẽ đi gởi cho hai người thương binh này trước Tết Dương Lịch, ông chắc những thương binh sẽ rất vui mà lòng ông cũng cảm thấy vui vui. Lâu này ông hay một mình bỏ chút ít tiền ra hằng tháng giúp đỡ cho thương binh qua Hội mà chưa bao giờ nhắc nhở gì với con cháu. Có lẽ đó là một điều thiếu sót. Đêm Giáng Sinh này, ông thử làm một việc nhỏ, nhưng kết quả khá tốt, và ông hy vọng trong gia đình vào những ngày Lễ Tết, Sinh Nhật của con cháu, ông sẽ quyên góp chút đỉnh để đem lại nguồn vui cho một hai gia đình thương binh bất hạnh ở quê nhà.

Ông có nghĩ là, ông sẽ dặn con cái khi ông hay bà mất đi, cứ nhận tiền phúng điếu của bà con, nhưng gởi trọn số tiền đó để giúp anh em Thương Phế Binh, còn hơn là mua một vòng hoa bình thường cũng tốn $100.00, bỏ ngoài mộ hay gần lò thiêu cũng phí.

Sáng ngày mai, ông Phan thấy thằng cháu nội lui cui lượm mấy đồng cắc của ba nó đi làm về bỏ trên bàn computer, ông nói:

- Sao con lượm tiền cắc của ba con chi vậy?

Nó cười ranh mảnh:

- Con đâu có lấy cho con. Con bỏ heo để giúp cho mấy người bạn cụt giò hay mù mắt của ông nội bên Việt Nam.

Ôm thằng cháu vào lòng, ông Phan nói:

- Ông rất hãnh diện về cháu!

Thằng bé giương đôi mắt nhìn ông nội, trong trí não nửa Mỹ, nửa Việt của nó, cuốn tự điển Việt Nam mới chỉ có hơn nghìn chữ, nó không hiểu hai chữ “hãnh diện” là gì.

Huy Phương

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Câu Chuyện Gia Đình: Tại sao chúng ta nên dạy con cái sự khiêm tốn? Marisa Cohen, cây bút chuyên về giaó dục của nguyệt san Parents, kể lại kinh nghiệm của vợ chồng chị với cháu Bellamy như sau: “Chúng tôi hay nói là cháu xinh đẹp và thông minh nhất, khi cháu bắt đầu chơi piano thì lập tức “ô, con tài ba quá”. Cho đến một ngày kia khi từ trường về, cháu hớn hở khoe: “Con là tiếng hát hay nhất trường đấy, thật mà!” Có thể những lời khen tai hại của chúng tôi đã biến cháu thành một người tự kiêu ngất tr ơøi rồi!”

Cha mẹ Mỹ có thể dạy con cái mang tư tưởng mình là Siêu Nhân, là Đại Anh Hùng, nhưng chẳng thấy ai quan tâm dạy con phải hạ mình khiêm tốn cả. Nhưng chính sự giáo dục này mới làm đứa trẻ tốt đẹp hơn và hạnh phúc hơn sau này.

Nếu bạn cứ nói con mình là “xuất sắc”là “thông minh’ là “thần đồng’ thì thằng bé cứ… tưởng thiệt như thế và thế là nó sẽ phát triển một thứ “ego” rất xấu, nó không còn nhận ra cảm giác và tư tưởng của kẻ khác đối với nó và cũng không muốn chia xẻ sự đồng cảm hay tình thương cho kẻ khác.

Cần dạy con biết giới hạn của nó và chấp nhận, tán thưởng các thành tích của người khác. Nó sẽ biết giá trị của tình đồng đội và kết bạn dễ dàng. Robin Goodman, tiến sĩ tâm lý ở New York, cho biết: “Trẻ con nào biết chính xác mức độ tài ba của nó thì sẽ vượt qua các khó khăn dễ dàng mà nó gặp trong trường và sau này trong cuộc đời.”

Khi con cái mới 2 hay 3 tuổi, chúng chưa nhận ra bản chất riêng biệt của cá nhân, nên các lời khen của cha mẹ ít có tác dụng “làm hư hỏng” chúng sau này. Nhưng tiến sĩ Vicki Panaccione ở Florida khuyên các bà mẹ là ’hễ bạn muốn khen cậu bé 3 tuổi của bạn chuyện gì thì phải khen cho chính xác.”

Điều này có nghĩa chúng ta nên tập trung khen cố gắng của con cái, chứ không phải thành quả nó đạt được và nên tránh những kiểu ‘nói chung chung’ (generalizations) như ‘Con gái của mẹ ngoan quá!”

Thay vì nói như thế bạn nên nói: “con đã không chiụ thua khi tòa nhà bằng giấy sụp đổ, con cố gắng dựng lại là chuyện làm đáng khen đấy!” Thường thường trẻ con khi nghe như thế sẽ hiểu chinh xác nó đã ‘đáng khen’ ở chỗ nào.

Khi bắt đầu 5 tuổi trở lên, trẻ tiếp xúc với bạn bè và ghi nhận nhiều hơn và ‘tính ganh tị về vật chất’ cũng có thể nảy nở. tốt nhất là tìm dịp nào cho con thấy “cái nó đang có là may mắn so với nhiều đứa bé bất hạnh khác” Tập cho con công tác từ thiện ngay từ tuổi này cũng có tác dụng tốt.

Bạn hãy coi chừng ngôn ngữ của mình trước mặt con cái ở độ tuổi này. Nếu bạn nói là ‘có cái TV màn ảnh mỏng là hết xẩy so với cái TV cũ mèm đã bỏ” thì con bạn sẽ đinh ninh Mom nó vừa nói ra “một chân lý”và nó cứ tưởng mua đồ mới bỏ đồ cũ là chuyện…đương nhiên trên cõi đời này và ý hướng thích vật chất sẽ nảy nở theo thời gian!

Khi con cái lên trung học, một trong các điểm bạn có thễ ân cần dạy con là ’con đừng nói về mình nhiều quá, hãy thật sự chăm chú lắng nghe người khác, vì nếu không, chuyện đầu tiên con sẽ thấy là rất có ít bạn muốn kết thân với con, nếu con là kẻ ba hoa khoát lác!”

Nếu bạn bắt gặp con nói như thế này: “Billy dở lắm mẹ, nó học anh văn gì cứ điểm C hoài, con được điểm A tháng rồi đó’, bạn nên trả lời: “Billy đang cố gắng mà, con đừng quên Billy giỏi toán hơn con đấy, phải không?”

Đừng tập con “ăn thua đủ về điểm, được và thua” trong học hỏi và thành tích so với bạn bè. hãy hướng con bạn về một phát triển toàn bộ và cân bằng hơn, như các lớp học nhạc, vẽ, học võ hay thậm chí Yoga. có nhiều phụ huynh dùng các lớp hướng dẫn tôn giáo cho con được khám phá điều tốt đẹp tâm hồn hơn.

Một trong các bài học lớn của tính khiêm cung là làm sao biết giới hạn của mình. Nếu con thất bại, đừng an ủi theo kiểu ‘con như thế là giỏi rồi”, mà hãy để nó suy nghiệm ra các bài học của thất bại đó cho bản thân. Nhưng nếu con bạn thật sự giỏi về cái gì đó, nếu là bậc cha mẹ khéo léo, bạn không khen nó mù quáng, mà sẽ tìm cách nhẹ nhàng cho nó hiểu…có người giỏi hơn và nó nên cố gắng tiếp!

Khiêm cung là tính cách của bậc vua chúa đích thật ngày xưa!

Hồng Quang theo Parents

User avatar
khieulong
Posts: 6817
Joined: Wed Dec 01, 2004 9:09 pm
Been thanked: 1 time

Post by khieulong »

Image

Mùa Xuân Nói Chuyện Hoa Mai

Tuyệt Mai

Hoa mai là loại hoa nở đầu tiên trong mùa Xuân. Nói đến mùa Xuân người ta liên nghỉ đến hoa mai, nói đến hoa mai người ta liên nghỉ đến mùa Xuân. Hoa mai là một trong những loài hoa được ưa chuộng nhất từ trước đến nay. Có nhiều loại hoa mai, hầu hết các loại mai đều có năm cánh, hay tám cánh, có loại có nhiều tầng nên có rất nhiều cánh. Nhưng hai loại phổ thông, được nhiều người biết đến là hoa mai vàng (huỳnh hoa) và mai trắng (bạch mai). Mai vàng là hoa mai người ta thường nói tới, nở rộ vào mùa Xuân từ miền Trung vào Miền Nam. Màu vàng tượng trưng cho sự cao thượng, cao sang, màu của vua chúa. Vào khoảng Tết ta, ra khỏi ngoại ô Saigon, đi về hướng Lái Thiêu, Bình Dương, dọc đường nhà nào cũng có một cội mai già, hoa đua nở đầy cành, vàng rực, đẹp không thể diễn tả.

Loại hoa mai thứ hai là "bạch mai", có màu trắng, cũng có năm cánh hay tám cánh như huỳnh mai, nhưng mai trắng rất hiếm quý và có hương thơm dìu dịu, thanh khiết. Có người gọi mai trắng là "Tuyết Mai", vì tuyết có màu trắng.

Hoa mai không có hương sắc quyến rũ như hoa hồng, cũng không sực nức hương thơm như dạ lý, nhưng hoa mai mỏng mãnh, đính trên cành, trên thân cây gầy guộc, cằn cỗi tạo một nét đẹp tương phản, thật duyên dáng, độc đáo.

Tại Việt Nam có một loại hoa mai gọi là "mai tứ quý". Hoa cũng có năm cánh vàng như huỳnh mai, khi hoa tàn thì năm cánh rụng, năm đài hoa đổi thành màu đỏ, úp lại, ôm lấy nhụy là hạt màu xanh. Hạt lớn dần đẩy năm đài hoa bung ra giống như hoa mai đỏ. Vì vậy mai tứ quý được gọi là "Nhị Độ Mai" tức là hoa mai nở hai lần, lần đầu cánh hoa có màu vàng, lần sau cánh hoa có màu đỏ. Loại hoa này nở quanh năm.

Ngoài hương sắc và duyên dáng, hoa mai được các nhà Nho và các bậc Thiền sư coi là một biểu tượng của hai đức tính "Nhẫn" và "Dũng". Chịu đựng thời tiết khắc nghiệt lạnh lẽo mùa Đông, hoa vẫn kết nụ để là đóa hoa đầu tiên chào đón Chúa Xuân. Cảm cáí đức hạnh thủy chung, cái khí tiết nhẫn nhục và kiêu dũng đó, Chúa Xuân phong cho hoa mai là vua của tất cả các loài hoa khác, có tên là "Đông Quân". Nhiều nữ sĩ có tên "Mai" lấy bút hiệu là "Đông Quân" cũng từ điễn tích này.

Từ nét duyên dáng, thuần khiết bên ngoài cho đến tính khí đức hạnh, kiêu dũng bên trong, hoa mai được người Trung Hoa tôn vinh là "quốc hoa". Các nhà Nho và các Thiền sư Trung Hoa cũng như Việt Nam luôn coi hoa mai là một tấm gương, một biểu tượng của vẽ đẹp vẹn toàn, "bách hoa khôi". Họ đem ghép hoa mai với "tùng" và "trúc" thành một bộ ba "Tam Hữu". Cây tùng tượng trưng cho trượng phu, cứng cõi, ngay thẳng; cây trúc tượng trưng cho sự kiên nhẫn, rộng lượng và hoa mai được gọi là "ngự sử mai" tượng trưng cho sự hiểu biết và nét đẹp vẹn toàn. Người xưa rất quý "tam hữu".

Trong Hội Thơ Tao Đàn, Vua Lê Thánh Tôn có bài thơ "Mai Thụ" (Cây mai) như sau:

"Trội cành nam chiếm một chồi

Tin Xuân mãi mãi điểm cây mai

Tinh thân sáng, thuở trăng tĩnh

Cốt cách Đông khi gió thôi (ngừng)

Tiết cứng trượng phu, thông (tùng) ấy bạn

Nết trong quân tử, trúc là đôi (sánh đôi)

Nhà truyền (thống) thanh bạch dăng từng khối

Phỉ xứng danh thơm đệ nhất thời!"

Ngoài ra hoa mai cũng được ghép với lan, cúc, trúc, thành bộ "tứ quý", tức là bốn loại hoa, kiểng quý, tượng trưng của bốn mùa Xuân, Hạ Thu, Đông.

Cụ Chu Thần, Cao Bá Quát là một nho sĩ kiệt liệt, một tài năng văn chương lỗi lạc, một đại anh hùng thế thiên hành đạo, suốt quảng đời bôn ba khắp chốn cầu cổ kiếm để xây dựng sự nghiệp bá vương, cụ không gặp bậc chính nhân quân tử nào có cốt cách như "mai ngự sử", vì vậy cụ đã làm hai câu thơ:

"Thập tải luân giao cầu cổ kiếm

Nhất sinh đê thủ bái hoa mai"

Có nghĩa là:

"Mười năm xuôi ngược giao du cốt tìm thanh kiếm cổ

Một đời chỉ cúi đầu vái lạy trước hoa mai".

Cụ Chu Thần , Cao bá Quát đã hết lời xưng tụng "bách hoa khôi". Cụ cũng có bốn câu thơ "Trồng mai" được dịch ra như sau:

"Đầu non nắm hạt mai gieo

Giống thanh gửi chốn núi đèo xanh tươi

Nữa mai xuân điểm bầu trời

Bức tranh tuyệt tác cho đời ngắm chung".

Được bái lạy như vậy, hoa mai quả là một loài hoa rất quý?

Hoa mai đã gợi nhiều cảm hứng cho thi nhân, nên ảnh hưởng rất lớn trong văn hóa Trung Hoa và Việt Nam. Lý Bạch làm thơ:

"Ngồi trên lầu Hoàng Hạc, nghe tiếng sáo thổi

Giữa tháng năm, chợt vang khúc "hoa mai rơi" ở chốn Giang thành"

Nguyễn Trãi, vị khai quốc công thần nhà Hậu Lê yêu hoa mai vì:

"Yêu mai, yêu tuyết bởi vì đâu?

Vì tuyết trắng, mai thơ và tinh khiết"

Trong chuyện Kiều, Cụ Nguyễn Du có rất nhiều câu thơ nói về hoa mai.

"Thướt tha vóc liễu Xuân đầy

Cành mai xa bẻ ngất ngây ý sầu

Biết chàng lòng có thương sâu

Chúa Xuân ngán nỗi chờ lâu mỏi mòn"

Nhiều Thiền sư Trung Hoa và Việt Nam đã dùng hoa mai làm ẩn dụ cho sự hạnh phúc, niềm vui giác ngộ trong những bài kệ để truyền dạy Phật pháp cho phật tử, cho hậu thế. Bài kệ về "Mùa Xuân Hoa Mai"của Thiền Sư Thích Mãn Giác được phổ biến rộng rãi trong giới phật tử:

"Xuân đi trăm hoa rụng

Xuân đến trăm hoa cười

Trước mắt việc đi mãi

Trên đầu già đến rồi

Đừng tưởng Xuân tàn hoa rụng hết

Đêm qua sân trước một cành mai"

Bài thơ có nghĩa là, cuộc đời là một dòng sinh diệt, vô thường, biến chuyển theo thời gian và không gian. Xuân đến rồi Xuân đi, hoa cười rồi hoa rụng…là lẽ đương nhiên của vũ trụ, hể có sinh thì có diệt. Nhưng trong sự sinh diệt của vũ trụ vẫn còn có một cái không sinh diệt đó là Phật tánh, là chân tâm, chân như. Nếu chúng ta luôn tu tập, Phật tánh đó giúp ta có được cuộc sống an lành, hạnh phúc. Tâm an bình gọi là Tâm Xuân, trong tâm Xuân, cành mai (biểu tượng của hạnh phúc) sẽ còn mãi mãi, không tàn, không rụng. Cần gì phải chờ đến mùa Xuân mới có hoa mai? Hoa nở rồi hoa cũng tàn. Chỉ có cành mai trong tâm Xuân là tồn tại mãi mãi, ngoài dòng sinh diệt, vô thường, bể dâu của vũ trụ.

Từ ngày lưu lạc tha hương, những thi sĩ hải ngoại luôn mang theo trong tâm tưởng những hoài niệm dấu yêu về một mùa Xuân êm đềm nơi quê cũ. Nhà thơ Nguyễn Vô Cùng thương xót cội mai già:

"Xót cội mai khô , bình rạn vỡ

Thương cành Xuân héo, dạ đầy vơi

Khói hương tàn lạnh từ Xuân ấy

Mà quyện tim ai mãi cuối đời"

Trong mãnh vườn hoài niệm đó có tang tóc, đổ vỡ, chia ly, bom đạn…Nhà thơ NguyễnVô Cùng viết:

"Mùa Xuân này em có về quê mẹ

Thăm dùm anh vườn cũ có còn xanh

Tới gốc mai từng trúng đạn bao lần

Xem có nở nụ hoa nào kịp Tết"

Nhà thơ Đăng Nguyên diễn tả mùa Xuân ở Huế tuyệt đẹp với mai vàng, mai trắng:

"Xuân nào đẹp hơn Xuân Huế

Mai vàng, mai trắng hương xưa

Em cười tươi như hoa ngọc

Thơ ơi! Thương mấy cho vừa

Bao giờ mùa Xuân trở lại

Bao giờ non nước đơm hoa!"

(Nhung nhớ vườn Xuân)

Làm thân viễn khách trên miền đất lạ, Nhà thơ Phan Khâm luôn thiết tha nhớ về cố quận, hồi tưởng lại cảnh mai vàng nở rộ trên đường quê:

"Mùa Xuân nào mình về thăm Cam Lộ

Ghé chợ Phiên đầy bắp đậu sắn khoai

Đường nhà em còn hoa vàng nở rộ

Mít ổi trong vườn chính cho ai?"

Một lần nữa Xuân lại về trên đất khách, nếu chúng ta may mắn có được một cành mai để chưng trong nhà ngày Tết thì nét diễm kiều thanh tú của hoa mai cũng không đem lại cho chúng ta niềm vui Xuân rội rã như những mùa Xuân kỷ niệm êm đẹp quê nhà. Xuân đến rồi xuân cũng đi, mai nở rồi mai cũng tàn, thôi thì chúng ta hãy vun xới mãnh vườn tâm trong ta, biến vườn tâm thành vuờn Xuân tuyệt đẹp của thế gian. Trong Tâm Xuân luôn có những cành mai.


TUYẾT MAI

Post Reply